Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Xin Đừng Nói Dối Mẹ Là sinh viên năm thứ ba trong ngành kỹ sư cơ khí, Bryan rất hãnh diện khi vừa đi làm vừa đi học, và tự thuê được căn phòng nhỏ xinh xắn trong khu chung cu gần truờng. Hai năm truớc, khi mới bắt đầu cuộc sống sinh viên, Bryan ở trong ký túc xá của truờng, giống nhu khung cảnh trại lính, 4 chàng sinh viên trong một phòng lớn, bàn học và giuờng ngủ riêng ở mỗi góc nhung chung nhau phòng tắm giặt, vệ sinh. Mẹ của Bryan hàng tháng phải gửi tiền để Bryan trả tiền ký túc xá và chi tiêu ăn uống.

Lên năm thứ ba, đuợc truờng giới thiệu vừa đi làm vừa học việc trong một công ty lớn chuyên đóng tầu chiến cho Bộ Quốc Phòng, Bryan báo tin vui này cho mẹ và khẳng định từ nay Bryan tự lo liệu đuợc tiền ăn ở, không xin mẹ nữa.

Bryan còn khoe với mẹ đa thuê đuợc căn chung cu hai phòng ngủ vì có nguời ở chung chia tiền thuê rẻ hon là thuê căn chung cu một phòng ngủ để ở một mình. Điều khiến cho mẹ Bryan luu tâm nhất là nguời chung tiền nhà với Bryan lại là một cô sinh viên học cùng truờng !


Để tỏ lòng hiếu thảo và biết on, Bryan mời mẹ đến căn chung cu của mình ăn bữa cơm tối cùng xem như là mừng tân gia. Không chần chờ hơn đuợc nữa, mẹ Bryan đến ngay, mà còn đến sớm gần hai tiếng đồng hồ, để phụ giúp cho Bryan và cô bạn thuê chung nhà một tay sửa soạn cho bữa cơm tối đuợc thịnh soạn và đầy đủ.

Dĩ nhiên là mẹ Bryan đến thăm con và bạn của con với rất nhiều quà cáp, thức ăn đả nấu sẵn và nhất là bó hoa lớn thật đẹp cho Jennifer, nguời bạn thuê chung nhà của Bryan.

Mẹ Bryan không thể tin đuợc ở chính đôi mắt của mình nữa, Jennifer quá đẹp, quá duyên dáng và thật là dễ thuong, lời ăn tiếng nói, cách cư xử nhẹ nhàng và lịch thiệp lắm, hết lòng chiều chuộng Bryan và mẹ Bryan.

Bữa com tối giữa ba nguời thật là thân mật, ấm cúng với các thức ăn ngon và Jennifer đa đem bộ dao muỗng nia gia bảo bằng bạc thật đẹp ra để dùng trong bữa ăn, đặc biệt là trong bộ đồ ăn này có một chiếc muỗng lớn dùng để múc nuớc sauce trạm trổ rất công phu. Jennifer hài lòng lắm khi mẹ Bryan trầm trồ và hết lời khen ngợi chiếc muỗng bạc hiếm có này.

Nhân lúc Jennifer vào phòng thay quần áo, mẹ Bryan ngỏ lời thắc mắc về sự liên hệ “trong sáng” giữa hai nguời… Bryan trấn an và trả lời ngay là mẹ đừng lo, hai nguời chì là bạn chung tiền thuê nhà thôi, phòng ai nguời ấy ở, giuờng ai nguời ấy ngủ!

Hai ngày sau bữa cơm tối, Jennifer nói với Bryan :

-Anh ơi, em không nói là mẹ anh không lấy cái muỗng bạc, em cũng không dám nói là mẹ anh lấy…nhưng thực tế là sau bữa com tối ấy, em không thấy chiếc muỗng bạc đâu nữa, em không biết phải làm sao…anh giúp em nhé…

Nghe Jennifer tâm sự “chết nguời” như thế, Bryan bần thần cả nguời và suy nghi mông lung lắm. Sau cùng, Bryan viết email đến mẹ nhu sau:

“ Mẹ yêu quí,
Cám on mẹ đa đến ăn tối với con và Jennifer.
Con cũng cám on mẹ đa xử sự lịch thiệp và thân tình với Jennifer. Con có chuyện khó nghi nên xin ý kiến của mẹ: có thể là mẹ muợn cái muổng bạc của Jennifer để làm kiểu mẫu đặt làm một cái giống nhu vậy nhung mẹ quên nói với con, cũng có thể là mẹ bỏ quên cái muỗng ở đâu đó….nhung thực tế là sau bữa cơm tối ấy, Jennifer và con không thấy cái muỗng nữa, dù chúng con đã tìm khắp nhà…”

Gửi thư xong, cả Bryan lẫn Jennifer đều thắc thỏm chờ thư trả lời. Ngay Bryan và cả Jennifer cung không thể đoán đuợc là mẹ Bryan sẽ trả lời nhu thế nào….Không ai dám nghi là mẹ Bryan lấy, nhung cái muỗng đâu thể tự nhiên biến mất đuợc.

Ngày qua rồi lại ngày qua, vẫn không có thu của mẹ, Bryan sốt ruôt quá nhung không muốn và cung không thể làm gì hon….

Chờ đúng một tuần không có thư mẹ, Bryan đanh viết thư cho mẹ lần nữa và thật vắn tắt: “Mẹ ơi, sao mẹ không trả lời thư con…?.”

Ngay tối đó, Bryan nhận đuợc email trả lời của mẹ, và cùng mở ra xem với Jennifer.

Thư mẹ Bryan viết như sau:

“ Bryan yêu quí của mẹ,

Mẹ vẫn muốn tin rằng con và Jennifer ai ngủ giuờng nấy,
mẹ vẫn không nghi là con …đôi lúc …ngủ trên giuờng của Jennifer…
Nhưng thực tế là trong suốt tuần qua nếu con ngủ trên giuờng của con thì con yêu quí của mẹ ơi, con đã thấy cái muỗng tuyệt đẹp đó rồi. Mẹ để cái muỗng ấy trên giuờng con, ngay duới cái chăn…. Con không cần phải viết thu hỏi mẹ….đến hai lần !

Mẹ của con…..”

Cung Nhật Thành luợc dịch

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Chim đã bay xa

Nguyễn Tài Ngọc


Tối Thứ Ba 12-July tôi nhận email của cô con gái lớn của chúng tôi viết một câu: “A Vietnamese woman in Garden Grove cut off her husband’s penis!” (“Một người đàn bà Việt Nam ở Garden Grove cắt của quý của ông chồng!”) và cho tôi cái link vào Internet để đọc tin.


Mấy tháng gần đây ngẫu nhiên tôi biết nhiều ông chồng Việt kiều ở hải ngoại bỏ vợ hoặc gian dối vợ về Việt Nam thăm “em”. Cách đây một năm tôi có viết bài “Cắt đứt cục tình” đăng trên mạng http://www.saigonocean.com/trangNguyenT ... angNTN.htm về mấy bà vợ Việt Nam ở hải ngoại thiến chồng vì họ đi ngủ với phụ nữ khác nên cộng hai yếu tố này với nhau, tôi nhẩy cà tửng vui mừng, đoán rằng một phụ nữ Việt Nam ở hải ngoại đã có chí quật cường, theo gương Hai Bà Trưng, bà Triệu dậy cho thằng chồng cà chớn Việt Nam mình một bài học để cả bọn đàn ông Việt Kiều phải kinh hoàng suy nghĩ chín chắn hành động của mình trước khi gian dối vợ. Thế nhưng tin vui chưa kịp hồ hởi nóng bỏng thì nó đã bị dập tắt đột ngột như bong bóng xì hơi, như xe đạp xì lốp khi tôi vào Internet đọc chi tiết: chồng bà ta là người Mỹ, không phải là người Việt Nam!

Khi nói đến các quốc gia chúng ta quyết không quên mối thù thì nào là Trung Hoa đã đô hộ chúng ta một nghìn năm, Nhật Bản dã man gây nạn nhân mãn ở nước ta thời Đệ Nhị Thế Chiến, dân Khmer cáp duồn người Việt, hải tặc Thái Lan cướp của và hà hiếp Boat People ra đại dương lánh nạn Cộng Sản, người Pháp đã cho chúng ta thấy người Tây Phương quá đẹp như Alain Delon làm cô bồ cũ chê tôi là An Nam Mít xấu, bỏ tôi một cái rụp….Trong bao quốc gia chúng ta căm thù sùi bọt mép ấy, quốc gia không có tên trong danh sách là Hoa Kỳ! Dân Mỹ là người chúng ta mang ơn con cháu mấy đời không trả hết vì họ đã quá nhân đạo mang người Việt tỵ nạn qua bên này sống cuộc đời tự do, không kèm kẹp, không nhồi sọ tuyên truyền nhảm nhí. Mình trả ơn họ bao nhiêu cũng không hết thế thì tại sao cô Việt Nam này lại trả thù dân tộc lầm người như vậy. Tại sao? Hay có thể nào cô này là điệp viên nằm vùng do bên kia gài vào nước Mỹ mấy chục năm nay, chỉ chờ đúng giây phút mật hiệu ấn định sẵn, Việt Nam xuất cảng 1000 nồi cá kho tộ sang California, rồi vùng lên giết Mỹ trả thù dân tộc?

Nếu ai chưa đọc tin giật gân này thì tôi xin kể lại sau đây, nguồn từ báo Los Angeles Times và Orange County Register:



Catherine Kieu Becker là một phụ nữ Việt Nam sang Mỹ ít nhất là tám năm nay, làm nghề buôn bán nhà cửa. Ngày 29-12-2009, cô ta lấy chồng là Becker ở Tehachapi. Hai người hiện ở với nhau ở block số 14000, Flower Street, Garden Grove. Tháng 5 năm nay chồng cô ta làm đơn ly dị viện lý do khác biệt không thể hòa giải, thế nhưng vẫn cho phép cô Kiều ở chung nhà.
Image
Catherine Kieu Baker

Tối Thứ Hai một người đàn bà gọi điện thoại khẩn cấp 911. Khi cảnh sát đến nhà thì cô Kiều gặp cảnh sát ở cửa, nói là chồng cô ta đang nằm trong phòng ngủ, và tuyên bố thêm nữa “chồng cô ta thật đáng đời”. Cảnh sát khám phá ông chồng bị trói trên giường với máu chẩy lênh láng ở ngay phần háng.


Ông chồng nói là tối hôm trước hai người cãi nhau vì cô Kiều không đồng ý việc ông mời bạn về nhà ngủ qua đêm. Buổi chiều ăn cơm tối, ông tình nghi vợ pha thuốc ngủ khi nấu cơm cho mình ăn vì sau khi ăn xong ông vào giường nằm, bất tỉnh. Khi tỉnh dậy thì ông thấy tay chân bị trói vào thành giường và cô vợ lấy con dao dài 10-inch cắt của quý của mình. Cắt xong, cô ta vất của quý vào máy nghiền rác, mở máy cho nó nghiền nát tất cả mọi sự.


Cô Kiều đang bị giam giữ ở khu nhà thương trong trại giam Orange County, không được đóng tiền tại ngoại hầu tra, và hiện đang được bác sĩ thần kinh khám nghiệm để quyết định xem đầu óc cô có bình thường hay không. Cô bị cảnh sát kết tội tra tấn người khác, cố ý đả thương tàn tật, giam giữ người bất hợp pháp, tấn công với vũ khí chết người, chuốc độc người khác, và hành hạ chồng.

Chồng cô Kiều, 60 tuổi, hiện đang nằm điều trị tại bệnh viện UCI Medical Center ở Orange, kết quả khả quan sau khi giải phẫu.

Chuyện cắt của quý ai đọc cũng kinh ngạc nhưng thật ra nó là chuyện thế gian thường tình, nghìn năm trước đã có chiêm tinh gia Huỳnh Liên ráp nối lại. Huyền thoại lịch sử Ai Cập có Osiris, Thần của Đời sống sau sự chết và Đáy Biển, yêu tha thiết em gái và cũng là vợ của mình là Isis, Thần của Ảo Thuật và Các bà mẹ. Em của Osiris là Set ghen, giết và cắt thân hình Osiris ra 14 mảnh rồi trải khắp Ai Cập. Isis đi khắp nơi tìm được chỉ có 13 miếng, thiếu mất một miếng quan trọng nhất: cái của quý. Không sờn lòng, Isis cho thợ tạc một của quý mới bằng vàng, dán lại trước khi hà hơi sống vào Osiris. Osiris sống lại, dùng của quý mới, làm tình với vợ. Isis sinh ra Horus, Thần Trời và Trả thù.

Lịch sử cận đại nổi tiếng nhất là vào năm 1993, cô Lorena Bobbitt cắt đứt của quý của chồng là John Wayne Bobbitt, vất nó dọc đường khi lái xe trên xa lộ. Vất xong, cô ta dừng xe lại gọi 911. Cảnh sát may thay tìm được nó và bác sĩ thành công nối liền châu về hiệp phố cho khổ chủ. John Bobbitt sau này đóng nhiều phim con heo XXX để chứng tỏ sự mầu nhiệm của khoa học.

Truờng hợp của ông Baker chồng cô Kiều này thì mới thật là vấn đề nan giải vì con chim đã ra đi không bao giờ trở lại. Bác sĩ phải làm lại một con chim giả, lấy da, thịt, dây thần kinh và mạch máu từ tay, lưng, bắp thịt chân để cấu tạo nó. Vấn đề là tự nó không thể nào cứng lên nên mỗi khi làm tình, anh nào giầu có như ở bên Mỹ thì tay bóp một cái bơm nó sẽ cứng lên, nhưng anh nào nghèo không đủ trả tiền như ở Việt Nam thì dùng cần câu quay nó lên từ từ. Chậm, nhưng cũng xong vì chúng ta phải luôn luôn nhớ đến câu châm ngôn thật chí lý: “Với sức người, sỏi đá cũng thành cơm”.


Hầu hết tất cả chuyện cắt đứt cục tình là vợ cắt của quý của chồng, rất hiếm khi thấy trường hợp chồng khâu âm hộ vợ như trường hợp của cô Debbie Crandall-Millar. Năm 1987, một bồi thẩm đoàn ở San Louis Obispo xử chồng cũ của cô ta, bác sĩ Glenn C. Millar và bác sĩ Robert Tetatreau đền cho cô ta sáu triệu đô-la. Ông Glenn Millar tình nghi vợ ngoại tình nên nhờ bạn giúp một tay trong việc khâu kín âm hộ của vợ mình. Cô Debbie nói là sau khi khâu xong, người chồng cũ nói là ông ta làm như vậy để cô không thể nào ngoại tình nữa được. Tuy là bây giờ đã lấy chồng mới, luật sư cô ta nói là mặc dù đã phải qua nhiều giải phẫu hoàn chỉnh âm hộ, mỗi lần làm tình bây giờ cô ta vẫn cảm thấy đau.

Tôi nghĩ cô Catherine Kieu Becker thật là điên khi cắt đứt và thú nhận là mình cắt đứt của quý của ông chồng. Mặc dù cảnh sát chưa công bố, có lẽ 99% lý do là vì cô ấy ghen khi chồng cũ mời cô gái khác về ngủ chung ngay trước mặt vợ cũ.

Trong liên hệ vợ chồng, mình chỉ yêu cuồng yêu vội đối tượng của mình nếu mình cũng được đối xử tương tự. Còn không thì đường ai nấy đi, có cả tỷ người khác để mình làm lại cuộc đời mới. Không có một lý do vô lý nào mà mình phải khổ sở đời mình vì một người khác, nhất là nếu người đó không có một nền tảng đạo đức. Người nào giận trước là người ấy thua: cô Kiều bây giờ có thể bị án tù chung thân. Người Mỹ có một câu châm ngôn rất hay: “Don’t get mad, get even” (Đừng nổi sùng, chỉ trả thù). Mặc dù Chúa dậy ta nên sống theo luật pháp của Tân Ước: “Ai tát má phải của ngươi thì hãy chìa má bên kia cho họ tát luôn” (Ma-thi-Ơ 5:39), tôi thì nghĩ trái lại: mình nên sống theo luật pháp của Cựu Ước: “Mắt đền mắt, răng đền răng” (Exodus 21:24).

Nước Mỹ là xứ luật pháp minh bạch đâu ra đấy nên mình cần có sự thông minh khi trả thù. O.J Simpson giết vợ và bạn vợ rõ ràng như 2 + 2 = 4, thế mà nhờ luật sư giỏi nên được trắng án. Mới đây nhất là trường hợp của cô Casey Anthony. Cô ta giết con gái không chạy vào đâu được nhưng vì công tố viên quá non nớt, Casey được trắng án.

Thông minh khi trả thù làm luật pháp khó bắt chúng ta, nhất là ở nước Mỹ. Hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới khi một người bị bắt giam chờ ngày đến khi ra tòa xử, tình huống của họ là: can phạm, có tội. Khi ra tòa, can phạm sẽ phải chứng minh cho bồi thẩm đoàn là mình vô tội. Trong khi ở Mỹ thì ngược lại. Khi bị bắt cho đến ngày hầu tòa, mình chỉ là kẻ tình nghi. Chính quyền có bổn phận chứng minh với bồi thẩm đoàn là mình có tội, và bồi thẩm đoàn 12 người phải đồng nhất trong sự quyết định. Chỉ cần một người không đồng ý là trắng án. Do đó, kết tội một người bên Mỹ rất khó.

Don’t get mad, get even. Nếu chồng mình gian dối, các bà nên theo chính sách 3 C của tôi: cắt, cưa, chém. Nhưng phải làm một cách tinh xảo để luật pháp không bắt mình được. Thay vì cho uống thuốc ngủ thì đến chợ Việt Nam vào hàng mắm mua mấy thứ mắm hôi khủng khiếp mà ai cũng bảo là ngon, nấu cho chồng ăn. Thế nào ông ta cũng bất tỉnh nhân sự. Sau đó, ra tiệm mua keo Crazy Glue đầy bằng một ly nước, mang găng tay, đổ vào của quý và hai hòn bi của ông chồng, nhớ đổ cả vào đầu cho nó tịt ngòi. Chỉ cần vài phút sau thôi là nó dính không có cách nào gỡ ra, chỉ có nước giải phẫu cắt. Nhớ thủ tiêu găng tay và cái ly, vất nó vào Hồ Hoàn Kiếm là thượng sách.

Chồng mình sẽ gọi 911 cứu cấp. Cảnh sát sẽ đến điều tra và tình nghi mình ngay lập tức. Nhưng không có gì phải sợ vì nhà nước phải chứng minh là mình làm, chứ không phải mình chứng minh cho nhà nước là mình vô tội. Không ai có thể kết tội mình được:

-Trong máu ông ta không có thuốc độc, chỉ có... mắm hôi.

-Không có tang chứng (găng tay, ly keo Crazy Glue).

-Ban đêm tôi ngủ không biết gì hết, có thể có người nào chồng tôi thù hận mở cửa vào nhà?

-Có thể chính chồng tôi sảng, nhậu say đổ keo lên mình?

-Mấy tháng nay chồng tôi ngoại tình, muốn diệt trừ tôi nên dàn cảnh xếp đặt như tôi là người gây tội?

Các cô hành quyết quyết liệt như thế này không những trả thù cho riêng mình mà còn giúp xã hội làm tuyệt nòi giống đàn ông xấu không còn cơ hội tạo môi trường sinh sản.

Theo báo Los Angeles Times, trong trường hợp của quý đàn ông bị hư hại trầm trọng, cơ hội gắn lại rất khó. Chỉ có một vài bác sĩ nổi tiếng trên nước Mỹ mới có cơ hội giải phẫu để làm con chim sẽ vui trở lại. Một trong những người ấy là bác sĩ David Gilbert ở Eastern Virginia Graduate School of Medicine in Norfolk, Virginia.

Ngày mai tôi phải gọi điện thoại nói chuyện làm quen với bác sĩ David Gilbert vì ai mà biết được nhỡ có ngày tôi cần bác sĩ giúp thì sao?


Nguyễn Tài Ngọc
July 2011

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Lần theo bước chân tài hoa Ðinh Hùng

Du Tử Lê

Thi sĩ Ðinh Hùng sinh ngày 3 tháng 7, 1920 tại làng Trung Phụng, ngoại ô thành Hà Nội. Ngôi làng này nằm ngay sau lưng khu phố Khâm Thiên.

Image
Nhà thơ Ðinh Hùng.


Những ai đã từng ở Hà Nội, đều biết Khâm Thiên là khu ăn chơi nổi tiếng nhất. Ðây là nơi tập trung các nàng ca kỹ tài sắc bốn phương.

Gia đình ông thuộc giai cấp trưởng giả. Thân phụ ông sinh được sáu người con, hai trai bốn gái. Ông là con út. Theo tập tục, cũng như theo tâm lý, người ta thấy hầu hết những đứa con út trong gia đình thường được nuông chìu (quan niệm giàu con út, khó con út) và sớm phát triển các tình cảm, kinh nghiệm trên nhiều mặt hơn các anh chị.

Ðinh Hùng cũng rơi vào định lệ đó. Hơn nữa, ông còn được thừa hưởng dòng máu hào hoa, nghệ sĩ của thân phụ. Thuở đó, thân phụ ông là một trong những khuôn mặt thân quen, một khách chơi thường trực của khu phố Khâm Thiên. Không chỉ thế, thân phụ ông còn đem cả cô đầu về nhà, tổ thức thù tạc với bạn hữu thâu đêm, suốt sáng. Do đó tuổi thơ của ông được nuôi dưỡng trong bầu không khí ẩm ướt tiếng ca, câu hò, tiếng sênh, tiếng phách. Trí óc non nớt của ông đã sớm in hằn thanh sắc của những nàng Kiều xóm Khâm Thiên, cùng cốt cách phong lưu tài tử của những tay ăn chơi lịch lãm. Cái cảnh trí mộng ảo quyến rũ mà thi sĩ Vũ Hoàng Chương (cũng là anh rể của ông sau này,) đã ghi lại trong bài “Nghe Hát”:
“Phách ngọt, đàn say nệm khói êm
tiếng ca buồn nổi giữa chừng đêm
canh khuya đưa khách lời reo ngọc
mơ gác tầm dương thoảng áo xiêm
dù lạ nghìn thu xa tám cõi
sen vàng như động phía chân tiên
nao nao khói biếc hài thương nữ
trở gối hoa lê rụng trắng thềm.”
Sống trong khung cảnh đó, bản chất nghệ sĩ, nòi tình nơi Ðinh Hùng như cá gặp nước, đã phát triển rất sớm.

Năm lên 6, 7 ông đã chứng tỏ có năng khiếu về hội họa. Một người anh rể của ông là Ð/U, nhiếp ảnh gia Vũ An Ðạm cho biết, ngay từ tấm bé, Ðinh Hùng đã vẽ rất đẹp.

Năm 13, 14 tuổi ông đã nghiện thuốc lào (một thứ kích thích cảm giác gấp trăm ngàn lần thuốc lá. Cái say của thuốc lào cũng ngất ngây, mê mẩn gần như thuốc phiện). Cũng tuổi này, ông mê một cô đào hát trẻ mới vào nghề, thường được thân phụ ông mời về nhà. Ta có thể coi đó là một hành vi hết sức táo bạo, liều lĩnh giữa một khung cảnh xã hội còn chịu ảnh hưởng sâu đậm đạo lý Khổng Mạnh. Giữa xã hội mà, người ta thường trực sống trong sự đề phòng miệng tiếng búa rìu. Mọi người hầu như không sống cho mình, mà sống cho cái khuôn mẫu ước lệ của xã hội ấy.

Ngay khi bước chân vào trường Bưởi, ông đã cùng một vài người nữa, làm những tờ bích báo. Hoạt động văn nghệ đó, gây tiếng vang lớn trong trường, khiến Ðinh Hùng phải bỏ học sau này.

Năm đệ tứ, Ðinh Hùng bắt đầu làm thơ. Nhưng ông giấu diếm không dám cho ai biết. Khi ấy, ông đã cảm thấy, thơ là một địa hạt của chữ nghĩa, kiến thức và kinh nghiệm. Bây giờ ông vẫn còn giữ nguyên quan niệm đó, và phủ nhận tất cả những trường hợp người ta gọi là thần đồng thi ca. Như cách đây khá lâu, ở Pháp, một thời dư luận xôn xao, bàn tán khi báo chí loan tin thần đồng thơ, cô bé Drouet 11 tuổi với những bài thơ nhỏ thật sâu sắc, trong sáng. (1)

Tới năm dọn thi tú tài phần nhất, ông mới bắt đầu để mọi người biết tư cách thi sĩ của mình. Sau khi đỗ tú tài phần nhất, một lần nữa, ông bị ban giám đốc nhà trường cảnh cáo, nếu muốn tiếp tục việc học thì hãy thôi làm văn nghệ. Ngoài ra, ông còn bị nhiếc móc về mái tóc bù rối nghệ sĩ nữa. Chạm tự ái, ông làm đơn xin thôi học.

Nhờ gia đình khá giả, ông tiếp tục sự học bằng cách tới thư viện. Nhưng cũng từ đó trở về sau, không bao giờ ông thi thêm một khóa nào khác.

Sau khi rời bỏ học đường, Ðinh Hùng chính thức hoạt động văn nghệ, và bắt liên lạc với những văn nghệ sĩ đương thời. Tác phẩm đầu tiên của ông được đăng trong giai phẩm “Mùa Gặt Mới” của ông Lê Văn Văn, giám đốc nhà xuất bản Tân Việt, ấn hành năm 1940. Tùy bút ấy sau được chọn đăng trong cuốn “Việt Nam Văn Học Bình Giảng” của Phạm Văn Diêu.

Song song với “Mùa Gặt Mới,” phê bình gia Vũ Ngọc Phan xuất bản tuần báo Hà Nội Tân Văn. Qua trung gian Nguyễn Ðức Chính, bạn học của Ðinh Hùng, ông đưa nguyên một tập thơ cho Vũ Ngọc Phan coi trước. (2) Ông Phan đồng ý nhận đăng dần dần những bài thơ có trong tập này.

Vài số sau, Vũ Ngọc Phan giao hẳn trang thơ cho Ðinh Hùng phụ trách. Ông kể, thủa đó người làm thơ không bao nhiêu! Nên chẳng có ai gửi thơ tới. Chỉ có thi sĩ Vũ Hoàng Chương, lúc đó đang in cuốn thơ “Say,” đưa bản vỗ cho ông đăng dần, với lời giới thiệu của Mạnh Phú Tư. Sau hai tháng cộng tác, được 8 số, ông chấm dứt cộng tác với Hà Nội Tân Văn.

Cũng từ đấy, ông không còn chỗ để đăng thơ. Nhưng bù lại Ðinh Hùng được quen biết nhà văn Thạch Lam.

Ông nhớ lại rằng, hồi đó Thạch Lam cho xuất bản cuốn “Hà Nội 36 phố phường,” ông viết thư cho Thạch Lam, đại ý nói là một trong những người hâm mộ Thạch Lam từ lâu, nay viết thư xin góp ý về bài “Thịt Chó.” Nhà Thạch Lam ở sâu trong xóm làng Trung Phụng, mỗi khi xuống phố đều phải đi qua nhà Ðinh Hùng. Một hôm Thạch Lam ghé vào nhà Ðinh Hùng. Ông sửng sốt, kinh ngạc... Những tưởng thư viết gửi Thạch Lam, cũng chỉ như trăm ngàn trường hợp khác. Ông nói: “Ðây là một khích lệ lớn lao đối với tôi.”

Nhờ Thạch Lam giới thiệu, Ðinh Hùng quen biết hầu hết các nhà văn trong nhóm T.L.V.Ð như Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ... Và một số văn nghệ sĩ khác nữa, như Huyền Kiêu, Nguyễn Tuân... Riêng Thạch Lam, Huyền Kiêu và Ðinh Hùng, sau này kết nghĩa anh em... Ngoài ra, ông còn kết bạn với thi sĩ Trần Dần. Cùng Trần Dần, lập một nhóm thơ, lấy tên là “Nhóm Thơ Tượng Trưng.”

Năm 1945, khi chiến tranh Việt Pháp lan tràn tới Hà Nội, theo lớp sóng tản cư, ông chạy vào Hà Ðông rồi Vân Ðình. Thời gian này ông bị V.M trưng dụng bắt làm việc cho Sở Thông Tin khu 2 (Liên khu 2).

Thời gian này, ông bị khai thác triệt để ở lãnh vực hội họa. Họ bắt ông vẽ ảnh của những người đang cộng tác với Pháp tại miền Nam, như BS Nguyễn Văn Thinh, Lê Khắc Hoạch, rồi cho in vào truyền đơn, kèm theo ít câu vè sỉ nhục...

Một trường hợp đau xót hơn cả là họ bắt ông vẽ lại chân dung nhà văn, lãnh tụ cách mạng Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, rồi cho in vào truyền đơn đem phổ biến tất cả các khu, các vùng, với những lời chửi rủa thô bỉ...

Làm việc cho thông tin khu 2 được chừng 3 năm, khi VM ngày càng siết chặt, ép văn nghệ sĩ vào con đường phục vụ chính trị, ông cảm thấy không thể kham nổi, bèn cùng thi sĩ Vũ Hoàng Chương bỏ trốn về Thái Bình. Ở Thái Bình, ông cùng thi sĩ Vũ Hoàng Chương mở ngôi trường nhỏ trong một làng tương đối còn yên ổn. Nhờ dân làng đa số trọng chữ nghĩa, ông sống êm thấm được chừng 1 năm. Tới đầu năm 1950, quân viễn chinh Pháp cùng quân đội Bảo Hoàng mở cuộc hành quân tảo thanh Thái Bình. Một số dân chúng không chạy kịp, bị lùa về vùng do quân Pháp kiểm soát. Trong số những người bị lùa, có cả thi sĩ Vũ Hoàng Chương lẫn Ðinh Hùng. Từ vùng Pháp kiểm soát, còn được gọi là vùng “tề,” ông cùng họ Vũ tìm đường trở về Hà Nội.

Với 5 năm lưu lạc gian truân, Ðinh Hùng đã sáng tác được hai tác phẩm. Thơ là tập “Tiếng Ca Bộ Lạc,” và văn là tập “Tiếng Ca Ðầu Súng,” loại bút ký.

Ở Hà Nội, Ðinh Hùng cộng tác với một số anh em có mặt trong thành như Ngọc Giao, qua giai phẩm “Lửa Cựu,” “Hoa Sen.” Riêng giai phẩm “Kinh Ðô Văn Nghệ” thì do chính ông chủ trương. Kế tiếp, ông lại cùng hai nhà văn Kỳ Văn Nguyên và Thanh Nam trông nom tờ tuần báo “Hồ Gươm.”

Năm 1951, ông lập gia đình. Các bút hiệu Thần Ðăng, Hoài Ðiệp Thứ Lang của ông ra đời trong khoảng thời gian này.

Du Tử Lê

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Image

đôi mắt

truyện ngắn Trần Trung Ðạo


Đôi mắt. Vâng, đôi mắt của người con gái đứng bên kia hàng song sắt nhìn về phía tôi. Cô gái vẫn đứng đó mỗi đêm để nghe tôi hát. Một khoảng cách không xa lắm nhưng tôi và cô như đang thuộc về hai thế giới khác nhau. Cô gái đang bị giam trong khu nữ hình sự tối tăm, và tôi ở bên ngoài, còn một chút tự do. Mấy tuần trước đó, tôi chỉ nhận ra bóng mờ của cô gái qua đôi mắt sáng. Mãi cho đến đêm trăng rằm, khi bóng một người con gái với mái tóc học trò chấm ngang vai dần dần hiện ra rõ nét, soi nghiêng nghiêng trên bờ tường vôi loang lỗ của một trường tiểu học được sửa thành trại giam thị xã, tôi mới biết cô là một cô gái còn rất trẻ. Những đêm trăng như thế, tôi thấy bóng cô gái ngã dài ra ngoài song sắt, đôi tay nhỏ vịn vào thanh sắt rỉ, khuôn mặt trái soan nhu hòa đang nhìn về phía có tiếng đàn của tôi.


Giòng sông nào đưa người tình đi biền biệt
Mùa thu nào đưa người về thăm bến xưa
Hoàng hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ
Về đồi sim, ta nhớ người vô bờ
Ta vẫn chờ em dưới gốc sim già đó
Để hái dâng người một đóa đẫm tương tư
Đêm nguyệt cầm ta gọi em trong gió
Sáng lung linh hồn ta khóc bao giờ ....



Bài Thu Hát Cho Người của Vũ Đức Sao Biển đi theo tôi từ những ngày còn ở Đà Nẵng. Thành phố đó, ngày xưa, những buổi chiều tôi thường ngồi dưới gốc đây cây đa trước sân phường Thạc Gián, bên hẻm 220 Hùng Vương và khóc tuổi thơ bay.

Khi tôi lớn lên, bài hát theo tôi vào đại học. Những đêm hè không ngủ được trong căn gác trọ trên đường Kiều Công Hai, tôi thường ôm đàn ra ngoài hiên ngâm nga Thu Hát Cho Người. Bài hát có sức thu hút đến nỗi cả phòng bọn tôi đứa nào cũng thích và tập bài hát đó. Một tên bạn cùng phòng, Trần Thanh Liêm, cũng nhờ bài Thu Hát Cho Người mà quen được cô gái cưng con ông chủ một pharmacy đầu phố đẹp tuyệt vời. Sau 1975, Liêm cưới cô ta làm vợ và đưa nhau về lại Đà Nẵng. Tôi ở lại Sài Gòn, kéo lê lết cuộc đời sinh viên trong "thiên đường xã hội chủ nghĩa" với khoai mì và bo bo cho đến 1979 thì bọn tôi bảy đứa cùng rủ nhau vượt biên qua ngã Bạc Liêu.

Dĩ nhiên như đã kể, cả bọn chúng tôi đi hụt và bị bắt một lần. Công an phường Bảy, thị xã Bạc Liêu trói cả nguyên băng đưa về trại giam thị xã, chờ làm thủ tục giải đi trại Cây Dừa. Má tôi từ Sài Gòn khó khăn và tốn kém lắm mới đến thăm được một lần. Tôi khuyên má tôi đừng xuống nữa: "Ở tù thời gian con sẽ về. Thời buổi này, vượt biên ở tù như đi chợ, chẳng phải tội trạng gì nặng nề, má đừng đi xa vất vả". Má tôi tạm yên tâm ra về. Bọn tôi bảy đứa, cùng với 40 tù nhân khác, bị giam trong một phòng học. Bọn tôi là những kẻ đến sau nên bị tên tù trưởng, tiếng lóng để gọi tên Trật Tự Phòng, xếp nằm sát thùng cầu. Mùi hôi thối bốc lên. Mấy ngày đầu không ăn được, đêm không thể nào chợp mắt được. Thông thường, sau khi làm xong thủ tục, tù vượt biên bị chuyển hết về trại Cây Dừa, một trại tù thật sự, nổi tiếng khắt khe ở miền Tây, có dạo nhốt cả chục ngàn tù vượt biên. Nghe đâu hình phạt đầu tiên trong ngày nhập trại là cạo trọc đầu. Nếu không biết cách đút lót cho đám cán bộ, công an tỉnh, mỗi tù vượt biên sẽ bị giam từ sáu tháng đến một năm trước khi được trả tự do. Nhiều tù vượt biên bị nhốt cả hai ba năm, đơn giản, vì tù quá đông nên tên trong sổ sách tù nhân nhiều khi bị thất lạc.

Không hiểu sao, lần đó, trại trưởng trại giam thị xã đổi ý giữ bọn tôi lại. Một buổi sáng, trại trưởng Nguyễn Văn Ninh tập trung bọn tôi trong sân trại, với giọng Bắc nặng chịch, lên cơn giảng huấn một hồi, đại ý: "Các anh có học và còn quá trẻ, chỉ vì nghe lời dụ dỗ và lường gạt mà cam tâm bỏ tổ quốc ra đi. Lẽ ra các anh bị đưa đi Cây Dừa giam và lao động một năm, nhưng sau khi đọc các bài tự kiểm, nhận thấy các anh có ý thức, biết việc làm sai trái của mình, chúng tôi khoan hồng và giữ các anh lại để lo công việc của trại. Các anh được ở trong căn nhà lá cuối trại, được phân công lao động và kiểm soát lẫn nhau. Sau một thời gian, ít nhất là 4 tháng, nếu các anh chứng tỏ hành vi tốt, lao động tốt, chúng tôi sẽ đề nghị lên Ủy Ban Nhân Dân Thị Xã trả tự do cho các anh". Trại trưởng Nguyễn Văn Ninh ngừng vài giây trước khi gằn giọng: "Điều quan trọng các anh phải ghi nhớ, bất cứ người nào trong số các anh trốn trại, số còn lại sẽ bị còng 3 tháng trong phòng tối và chuyển đi Cây Dừa. Nếu kẻ trốn trại mà bị bắt chúng tôi sẽ bắn bỏ ngay tại chỗ".

Thế là nhờ tài viết lách khéo mà bài tự kiểm của bọn tôi lọt được vào mắt xanh của trại trưởng. Trong trường đại học, bọn sinh viên chúng tôi là một nhóm văn nghệ, làm thơ viết lách nên nếu cần phải lách để sống còn, bọn tôi lách không đến nỗi tệ lắm. Nhớ lại, mấy tuần trước đó, bọn tôi bảy đứa bị xếp ngồi một hàng dài như thuở đi thi tú tài, trong văn phòng ban quản lý trại, vừa viết tự kiểm vừa nhìn nhau cười. Một băng bảy thằng gian mắc nạn bóp trán nghĩ ra mọi điều hợp lý và thê thảm nhất trên đời để trả lời câu hỏi số một và quyết định "động cơ nào đã làm cho anh bỏ tổ quốc ra đi". Không giống như các tội chống phá cách mạng phải biện luận quanh co, liên hệ đến người này người khác, chuyện vượt biên chỉ quanh đi quẩn lại những lý do nghèo nàn, cha mẹ già em đông, chén cơm manh áo, bị bạn bè rủ rê mà bỏ tổ quốc ra đi, bây giờ thì hối hận ơi là hối hận, chỉ mong được cách mạng khoan hồng, thề sẽ làm lại cuộc đời, tình nguyện đi thanh niên xung phong, làm thủy lợi, an phận học hành, làm đúng khẩu hiệu "góp phần xây dựng đất nước tươi đẹp hơn mười lần hôm nay", sẽ không bao giờ tái phạm, v.v...và v.v... May mắn thay, dù viết toàn là chuyện vô hại mà kết quả lại thành công ngoài sự tưởng tượng. Về sau, tôi cũng biết thêm, ngoài lý do viết lách, bọn công an còn tin tưởng rằng nếu được phân công nấu ăn, phân phối cơm nước, bọn tôi sẽ không ăn cắp thức ăn như đám tù hình sự đầu trộm đuôi cướp đói rách đã làm từ trước tới nay.

Trại giam chúng tôi ở chỉ có 3 phòng giam, một dành cho nữ và hai phòng dành cho nam. Tổng số tù nhân chỉ vào khoảng 100 người. Trại thuộc quyền quản lý của thị xã và là nơi giam các tội hình sự nhẹ như trộm cắp vặt, đĩ điếm, đánh lộn, buôn bán gian lận chợ trời, móc túi. Những tội đại hình, tội chống phá chính quyền đều bị chuyển qua các trại tù xa xôi trong vùng U Minh rừng sâu nước độc, được gọi bằng cái tên vô cùng nhân hậu là "trại cải tạo" và trực tiếp đặt dưới quyền quản lý của Bộ Nội Vụ Cộng Sản. Việc canh gác ở trại thị xã cũng không có gì gọi là quá chặt chẽ. Mỗi ngày tù nhân phải đi lao động từ sáng đến chiều. Đàn ông thì đi làm ruộng, đàn bà thì nhổ cỏ, tưới rau. Suốt hai mươi bốn giờ, công an thay phiên ngồi canh phía ngoài sân trại. Thỉnh thoảng, anh chàng đứng dậy, thả bộ dọc hành lang mỗi phòng để coi ngó đám tù. Mặc dù an ninh lỏng lẽo nhưng từ ngày trại được thành lập đến nay chưa xảy ra một vụ trốn trại nào. Lý do vì đa số tù nhân là người trong làng, trong xóm, trong thị xã. Từ công an cho đến tù nhân đều biết nhau. Nhiều khi lại còn là bà con giòng họ với nhau nên dù có trốn lên trời cũng không thoát. "Đi mô rồi cũng về Hà Tĩnh" như đám tù nhân thường nói. Hoàn cảnh bọn tôi còn tệ hơn thế. Trốn cả đám bảy thằng thì không được, trốn từng đứa thì không khó nhưng làm sao nỡ bỏ bạn bè ở lại chịu đòn. Mai mốt về Sài Gòn còn mặt mũi nào ngó nhau. Trại trưởng Nguyễn Văn Ninh đã từng cảnh cáo trước đó sao, cứ một thằng trốn được thì cả bọn còn lại mang tội thay. Không đứa nào muốn bị còng 3 tháng và đày đi Cây Dừa thêm một năm. "Phải an toàn rút về lại Sài Gòn rồi mới bày keo khác". Cả bọn đồng ý như thế và nghoé tay nhau ở lại cho đến ngày được trả tự do.

Tôi ốm yếu nhất trong bọn nên được giao cho công việc dắt người đi nhổ cỏ rau muống. Ban đêm, nếu trời không mưa, tôi thường ngồi trên bệ đá phía cuối sân trại, tay gõ muỗng, miệng ngâm nga những bài hát cũ cho đỡ buồn. Một cán bộ người miền Nam, tên Hoàng, có máu văn nghệ, nghe tôi hát, cũng tới gần nghe. Dĩ nhiên trong những lúc như thế tôi thường hát những bài dân ca hay tình ca vô tội vạ. Khi được đề nghị đóng góp một bài, anh chàng công an gốc du kích Bạch Liêu, chơi ngay bài "Đêm Buồn Tỉnh Lẻ" với gọng Chế Linh đặc sệt. Tôi buồn cười thầm nghĩ anh chàng này không biết và cũng không hiểu gì về nội dung của bài hát. Dù là du kích trở thành công an xã, anh ta sinh ra và lớn lên ở miền Nam, và đương nhiên vẫn thích hát nhạc miền Nam hơn là những giọng ca the thé miền Bắc mà chính anh cũng có lần tâm sự: "tôi không hiểu họ đang hò hét chuyện gì". Mấy ngày sau, anh chàng công an Hoàng ngứa nghề, ra xóm tìm một cây đàn guitar, đem về nhờ tôi dạy anh đàn. Cây đàn cũ, từ lâu không ai sử dụng, chủ của nó chắc đã vượt biên, đóng đầy bụi nhưng nghe cũng xốn xang trong những đêm khuya thanh vắng. Và cũng từ bệ đá đó, tôi nhận ra đôi mắt Bích Vân như hai ánh sao đêm hiện ra từ khung tối.

Đúng, tên cô gái là Bích Vân. Tôi biết tên nàng trong một buổi chiều đưa đám nữ tù đi nhổ cỏ ở bãi rau muống sau trại. Cô không đẹp như sự tưởng tượng quá sức phong phú của tôi qua ánh trăng lung linh huyền ảo đêm nào nhưng là cô gái dễ thương, đẹp nhu hòa pha một chút hồn nhiên của thời học trò chưa qua hết. Tôi không hỏi nhưng đoán chừng cô ta khoảng hai mươi tuổi. Bích Vân nhìn tôi: "Anh hát rất hay. Bích Vân nghe đến thuộc lòng nhưng không biết bài hát đó tên gì?" Tôi đáp: "Đó là bài Thu Hát Cho Người của Vũ Đức Sao Biển". Bích Vân nhỏ nhẹ: "Bài hát hay, người hát hay và tên của người viết bản nhạc cũng hay". Những người bạn tù của Bích Vân hình như đã biết chuyện cô ta thường đứng cửa sổ nghe tôi hát, nên mỉm cười nhìn chúng tôi với ánh mắt trêu chọc. Một bà đứng tuổi buột miệng: "Hèn chi mấy ngày nay cổ tình nguyện làm cả công tác đổ cầu tiêu để được ra ngoài". Bích Vân đỏ mặt cúi đầu.

Và cứ thế, mỗi chiều nhổ cỏ rau muống, trên đường đưa nhóm nữ tù về lại phòng, chúng tôi có vài phút nói chuyện với nhau. Vì sợ công an bắt gặp, chúng tôi không dám nhìn thẳng nhau lâu chứ đừng nói gì là một cái nắm tay. Hai đứa giả bộ nhìn trời và nói những câu ngắn ngủi: "Anh quê ở đâu? " Tôi đáp:" Quảng Nam Đà Nẵng". Nàng lại hỏi: "Xa quá nhỉ. Gia đình em cũng gốc miền Trung nhưng vào Nam từ khi em mới ra đời. Ba mẹ anh vẫn còn ngoài Quảng hay đã vào Sài Gòn?" Tôi lại đáp: "Sài Gòn". Cứ thế, cô ta như một cô giáo đang hỏi bài học trò. Từ chuyện gia đình cho đến chuyện trời mưa trời nắng. Bích Vân thích hỏi nhưng không thích trả lời. Cô không thích nói về mình. Nhiều khi nếu phải nói, cô ta không bao giờ khẳng định, chỉ ầm ừ cho qua chuyện.

Một buổi chiều, trong giờ giải lao, dựa lưng vào tường, Bích Vân chợt khám phá ra những dòng chữ trẻ con còn in dấu dưới hàng rêu trên bờ tường trại giam, mắt nàng chợt sáng lên một cách hồn nhiên đưa tay chỉ vào hàng chữ nguệch ngoạc đã nhạt nhòa theo năm tháng: "Anh biết không, đây là trường tiểu học cũ của em. Hàng chữ kia làm của đám bạn bè em viết hồi lớp năm". Giọng nàng trầm xuống trong cay đắng: "Trường bây giờ là nhà tù và em về ngồi trong lớp học nhưng không phải là học trò cũ mà như một tù nhân. Mỉa mai quá anh nhỉ?" Nếu đây là quán café hay trong sân trường đại học, có lẽ câu chuyện trường học biến thành nhà tù là một đầu đề để máu Quảng tôi sôi lên, thao thao bất tuyệt về cách mạng, nhân quyền, cơm áo. Nhưng trước mặt Bích Vân, tôi nghẹn lời không nói được. Trước mắt tôi không phải là một đề tài, một câu chuyện, một viễn ảnh mà là một thực tế, một con người bằng xương bằng thịt, một người con gái tuổi hai mươi đang chịu đựng nỗi bất hạnh của một giai đọan lịch sử thảm khốc. Những nạn nhân vô tội đầy thương tích đang quằn quại trong màn cuối của một vở thảm kịch quê hương. Tôi cố làm vơi bớt chút đau xót trong lòng cô bằng những triết lý vụn học được trong những quán café ngoài Thư Viện Quốc Gia ngày nào: "Không ai biết chắc những gì sẽ xảy ra cho đời mình, nhưng một điều mà anh và em có thể biết được, làm được trong hoàn cảnh này là tìm cho mình một hy vọng để sống và phải sống trọn vẹn cho hy vọng đó. Sự kỳ diệu không bao giờ đến nếu không có hy vọng". Bích Vân trả lời trong lúc vẫn nhìn đăm đăm vào hàng chữ: "Cám ơn anh, em sẽ nhớ những điều anh dặn, hãy hy vọng và rồi sự kỳ diệu sẽ đến". Tôi muốn cầm tay nàng nhưng không dám. Hai đứa đứng bên nhau dưới chân tường trại giam và cũng là trường học cũ của Bích Vân, lắng nghe tiếng vịt kêu và thầm mong những tia nắng của buổi chiều vàng thơ mộng kia đừng bao giờ tắt.

Một lần trong lúc chờ Bích Vân rửa tay sau buổi chiều nhổ cỏ: "Tại sao Bích Vân phải vào đây?" Bích Vân vẫn cặm cụi rửa tay như không nghe tôi hỏi, mãi đến khi tôi lập lại câu hỏi lần thứ hai, nàng mới đáp thật nhanh và thật nhỏ: "Em buôn thuốc tây và bị bắt". À ra thế, tôi yên tâm tự nhủ. Một người con gái nhỏ nhắn, xinh đẹp và hiền hậu như Bích Vân không thể nào đi ăn trộm ăn cướp của ai để bị bắt. Thấy tôi không nói gì thêm, nàng ngước mặt: "Anh đang suy nghĩ gì, không tin em sao?" Tôi vồn vã ra mặt: "Anh tin chứ, anh tin chứ, anh tin một người như em không thể làm chuyện gì thương luân bại lý, còn chuyện buôn thuốc tây, rủi gặp xui thì bị bắt, có gì mà ngại, ra tù đi buôn tiếp". Vai nàng chợt rung lên và hai hàng lông mày cong của nàng nhíu lại nhưng không nói gì. Chuyện ở tù của tôi, Bích Vân hình như đã biết đám sinh viên bọn tôi bị bắt vì tội vượt biên, nên nàng không hỏi lý do, thay vào đó, Bích Vân hỏi về những dự tính sau khi tôi được thả: "Ra tù, anh có tìm cách vượt biên nữa không?" Tôi chẳng chần chừ: "Đương nhiên. Anh không còn đất sống nào khác nữa. Giấy tờ bị tịch thu, hộ khẩu bị cắt. Anh không còn là dân của nước này nữa. Anh chỉ còn một con đường là đi cho đến khi nào đi được mới thôi". Bích Vân trầm ngâm không nói. Nàng ngước nhìn đám mây xanh như tên nàng đang bay vô định trên bầu trời, mãi một lúc sau mới hỏi: "Anh ước mơ gì nhất bây giờ?" Tôi suy nghĩ khá lâu rồi đáp: "Anh có quá nhiều ước mơ và tất cả gần như đồng hạng". Và tôi nhìn thẳng vào đôi mắt Bích Vân hỏi nàng một cách nghiêm trang: "Ra tù anh sẽ tìm cách để đi tiếp, Bích Vân, em có thể cùng đi với anh không?" Nàng lắc đầu, nói như vừa đủ tôi nghe: "Không, em còn mẹ và ba đứa em nhỏ. Ba em không biết sống chết nơi đâu. Em phải ở lại để lo cho mẹ và các em". Và nàng nghẹn ngào: "Anh có biết rằng anh đang tàn nhẫn một cách hồn nhiên không?" Bích Vân không chờ tôi phản ứng hay biện bạch, nàng xoay người bước đi, cố giấu hai giọt nước mắt đang lăn tròn từ đôi mắt buồn như mùa đông. Nàng vội vã bước vô phòng giam nữ như đi tìm một chỗ yên tĩnh để được khóc một mình.

Hai tháng sau, Bích Vân được thả. Trong cảnh nhộn nhịp của ngày thả tù, tôi không nói với Bích Vân được gì nhiều. Vả lại, chẳng biết gì để nói. Tôi còn không lo nổi cho tôi thì còn lo cho ai khác được. Lời hứa hẹn của một tên tù thì có gì giá trị. Hai đứa đứng trong sân trại. Bích Vân nói bâng quơ: "Anh thích được tự do không?" Tôi khẳng định: "Dĩ nhiên, anh cần ra khỏi nơi này gấp". Bích Vân lắc đầu: "Em thì khác, bỗng dưng em thích ở lại. Anh bảo em phải tìm hy vọng nhưng chẳng thấy hy vọng nào dành cho em phía bên kia hàng rào. Ít ra ở đây em còn có anh". Tôi đáp: "Em còn mẹ, còn các em, còn tương lai đang chờ Bích Vân. Em phải hy vọng và sống với hy vọng đó". Bích Vân chua chát: "Tương lai ư, em không thích chữ này, nó có thể là ngày mai và cũng có thể không bao giờ đến". Nàng nói tiếp như đang mơ: "Em thuộc lòng bài hát rồi. Mai này em sẽ tự hát lấy, không cần anh nữa". Và nàng một mình hát nhỏ: "Giòng sông nào đưa người tình đi biền biệt". Tôi nhìn Bích Vân hát và ước gì chúng tôi biến thành hai con chim họa mi, cùng bay ra khỏi nơi này mà không ai hay biết. Chúng tôi sẽ bay đi thật xa, băng qua khu rừng già, đến bên một dòng suối mát, nơi đang có đàn nai tơ đang sống hiền hòa, nơi có những đồi sim tím ngắt, không một bóng con người, nơi đó không có nhà tù, không có chém giết, không có máu chảy. Như sực nhớ ra điều gì hệ trọng, Bích Vân bước thêm một bước gần hơn và nói như dặn dò: "Em sẽ gởi cơm nước cho anh mỗi ngày". Tôi lắc đầu: "Cám ơn Bích Vân nhưng anh không thiếu lắm..". Tôi chưa nói hết câu, Bích Vân vụt quay người hôn thật nhanh vào mặt tôi và bước đi ra khỏi cổng trước khi tôi kịp nói năng gì.

Những ngày sau đó, mỗi ngày tôi đều nhận được thức ăn do một người nấu cơm tháng trong thị xã đem đến. Nhưng Bích Vân thì không. Người đàn bà đứng tuổi mang cơm cho tôi biết Bích Vân ghé tiệm cơm của bà, đặt tiền nấu cơm và đem cho tôi hàng tháng. Ngoài ra, nàng không dặn dò gì khác. Bích Vân, người con gái có đôi mắt sáng và buồn hiu hắt như hai bóng sao đêm đó đã không còn trở lại.

Từ đó tôi cũng không còn ngồi hát một mình trên bệ đá cuối trại giam. Tôi không biết đó có phải là tình yêu hay chỉ là tình người, tình thương hại. Tôi chưa bao giờ được hôn nàng, thậm chí chưa một lần cầm lấy bàn tay xinh xinh nhỏ nhắn của nàng. Nhưng lòng tôi, mỗi lúc đêm về, vẫn thấy nhớ dáng Bích Vân trong những buổi chiều, nhớ chiếc nón lá rách viền trên luống rau muống, nhớ mái tóc học trò bay trong chiều vàng, nhớ những giọt mồ hôi chạy dài trên vầng tráng rộng, và nhớ mùi hương tóc nồng nàn. Mỗi đêm, tôi vẫn thẫn thờ nhìn về phía cửa sổ trại giam như để tìm đôi mắt Bích Vân, nhưng hai ánh sao trời kia đã tắt.

Tháng sau tôi được thả. Tuần trước đó, khi vừa được công an Hoàng báo tin, tôi năn nỉ người đem cơm tìm dùm Bích Vân và báo cho nàng biết tôi sẽ chờ nàng ở quán nước của dì Năm ngoài cổng trại sau giờ thả. Người đem cơm hứa sẽ giúp tôi. Nhưng ngày tôi ra tù, Bích Vân vẫn không đến. Tôi ngồi một mình đem tâm sự trang trải cùng dì Năm. Dì Năm lắng nghe chăm chú. Bà nói với tôi bằng tất cả cảm thông và hiểu biết: "Cậu về để tìm cách mà đi. Đừng nghĩ đến cô ta nữa. Tôi cũng biết Bích Vân. Hoàn cảnh cô ấy rất đáng thương nhưng không phải cô ta vì bán thuốc Tây mà bị bắt đâu". Dì muốn nói tiếp nhưng như chợt biết mình vừa lỡ lời nên dừng lại, khoát tay: "Thôi, sắp hết xe về Sài Gòn rồi. Cậu về đi. Chúc cậu bình an trong lần đi tới. Tôi tin Bích Vân sẽ không bao giờ gặp cậu, dù cậu có ngồi đây suốt đêm nay, hay đi tìm khắp thị xã cũng thế thôi. Hai cô cậu chẳng ai có lỗi gì. Cũng vì hoàn cảnh thôi. Nếu là cậu, chắc cậu cũng không có chọn lựa nào khác. Gặp nhau để làm chi. Cậu chắc hiểu ý tôi". Tôi đứng dậy trả tiền ly nước. Dì Năm không nhận. Bà dúi tờ giấy bạc vào tay tôi, ôn tồn: "Cậu giữ để uống nước dọc đường".

Chuyến xe đò chót về Sài Gòn trong khi trời đã tối. Trên bầu trời đầy mây đen, bỗng xuất hiện lên hai ngôi sao rất xa và rất nhỏ. Vâng, đôi mắt Bích Vân, đôi mắt người con gái đáng thương, đáng yêu đang nhìn xuống tôi. Tôi mỉm cười nhìn sâu vào đôi mắt nàng và thầm hát như chỉ để mỗi nàng nghe: "Ta vẫn chờ em dưới gốc sim già đó, để hái dâng người một đóa đẫm tương tư".

Trần Trung Ðạo

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Bí ẩn trong đầu 'sát thủ máu lạnh' Na Uy


Thủ phạm duy nhất của vụ khủng bố kép ngày 22/7 Anders Behring Breivik đang được các bác sĩ đánh giá về sức khoẻ tinh thần
để kết luận có đủ điều kiện hầu toà hay không và động cơ tội ác của tên này cũng dần hé lộ.

Image
Kẻ sát nhân Anders Behring Breivik mang vẻ mặt bình thản trên đường được giải tới toà. Ảnh: Telegraph.
Theo cảnh sát Na Uy và luật sư của Breivik là Geir Lippestad, tên này thừa nhận đã một mình thực hiện vụ đánh bom ở Oslo và thảm sát trên đảo Utoeya, nhưng không chấp nhận chịu trách nhiệm hình sự. Nói cách khác, trong đầu Breivik không tin rằng anh ta phải bị trừng phạt vì các hành động tội ác gây ra chiều 22/7.

Tay súng cho rằng những hành động đẫm máu của mình là "kinh khủng nhưng cần thiết" vì anh ta muốn phá hoại cấu trúc của xã hội Na Uy. Các tài liệu và thông tin cho thấy Breivik có mối liên hệ chặt chẽ với các nhóm cực hữu ở châu Âu, mang tư tưởng bài ngoại và chống đạo Hồi.

Giáo sư bệnh học tâm thần Jeremy Coid tại trường Queen Mary thuộc Đại học London cho rằng có sự rối loạn tinh thần sâu sắc đằng sau tư tưởng cực hữu của Breivik. "Ngay bây giờ chúng ta không biết đầy đủ về các động cơ để chẩn đoán tình trạng tinh thần của anh ta. Tuy nhiên, tôi tin rằng đây nhiều khả năng là do bị một chứng rối loạn tinh thần. Anh ta đã vượt qua giới hạn của tư tưởng cực đoan, nhưng chúng ta cần hiểu thêm về các động cơ".

Các nhà điều tra Na Uy đang tìm hiểu các quan điểm cực hữu của Breivik, kẻ mới cho công bố tài liệu dài 1.500 trang giải thích về tư tưởng của mình ngay trước các vụ tấn công. Nhà tâm lý học pháp y Ian Stephen nói với BBC rằng tài liệu này đã cho thấy những chi tiết về tính cách của thủ phạm.

"Đó là một trong những tài liệu đáng sợ nhất mà tôi từng đọc. Tài liệu được viết bởi một người đã phát triển cực kỳ tỉ mỉ triết lý của mình và nghiên cứu mọi thứ. Điều này cho thấy anh ta đã có một thời gian dài đọc sách, nghiên cứu và cày xới trên Internet để trình bày kế hoạch làm thế nào để chiếm toàn bộ thế giới". tiến sĩ Stephen bình luận.

Giáo sư Anh Jeremy Coid so sánh Breivik với "kẻ đánh bom đinh" David Copeland khét tiếng đã thực hiện các vụ tấn công nhằm vào những cộng đồng đồng tính và da màu tại London năm 1999. Trước toà, tên này nói rằng anh ta là một đảng viên Quốc xã và tin vào khái niệm "dân tộc thượng đẳng".

Tình trạng tinh thân của thủ phạm 23 tuổi David Copeland khi đó được kiểm tra tại Bệnh viện Broadmoor Hospital, nơi anh ta được chẩn đoán bị mắc chứng hoang tưởng. Nhưng sau đó các công tố viên đã không chấp nhận phần bào chữa cho rằng Copeland mắc tội ngộ sát do ảnh hưởng của bệnh tâm thần.

"Vụ tấn công tại Na Uy cũng giống như vậy, nơi kẻ theo quan điểm cực hữu mắc chứng hoang tưởng hay rối loạn ảo giác. Đối với những người mắc chứng bệnh tâm lý, tất cả đều tập trung vào những niềm tin mà họ giữ", giáo sư Coid nhận định.

Các chuyên gia sẽ tìm hiểu những khía cạnh khác nhau trong nhân cách của Breivik và việc người này tự coi mình là ai. Một số bức ảnh cho thấy anh ta đeo biểu trưng của quân đội và hội Tam điểm, trong khi những bức khác cho thấy anh ta khá điển trai và ăn mặc chải chuốt.

"Anh ta nhìn rất phô trương và sự phô trương thường là đặc tính của chứng hoang tưởng", giáo sư Coid phân tích thêm. Ông cũng cho biết các chuyên gia sẽ tìm hiểu anh ta có mắc chứng yêu bản thân quá mức hay không. Một trong những thông tin để có được các chẩn đoán này là việc xác định Breivik có mối quan hệ bạn bè thân thiết nào như bạn gái hay không.

Vụ khủng bố kép ngày 22/7 tại Na Uy do Anders Behring Breivik thực hiện cũng gợi nhớ vụ tấn công ở Oklahoma City năm 1995, khi một mình Timothy McVeigh dùng chiếc xe tải chở bom làm từ phân bón và dầu diesel phá hoại toà nhà liên bang Mỹ, khiến 168 người chết.

Trong đầu thủ phạm McVeigh khi đó luôn coi chính phủ Mỹ là kẻ thù thực sự cần phải tấn công. Hơn một thập kỷ rưỡi sau, bóng ma Oklahoma City tái hiện tại Na Uy với vụ khủng bố kép do một mình Breivik thực hiện khiến 76 người chết. Nguyên nhân ban đầu được xác định của thảm kịch này cũng là do hận thù về chính trị, khi Breivik âm ỉ tức giận vì sự thay đổi trong xã hội Na Uy.

Theo những mảnh ghép thu thập được, Breivik mang tư tưởng cực hữu, bài ngoại, chống Hồi giáo và không chấp nhận một đất nước đa văn hoá ở Na Uy. Sát thủ này cho rằng một xã hội đa văn hoá đe doạ đến đặc tính sắc tộc của mình và cảm thấy bị xa lánh trong xã hội đó. Đó là lý do Breivik liên lạc với các nhóm cực đoan đang ngày càng coi đạo Hồi là kẻ thù và một mối nguy hiểm.

Từ tư tưởng ban đầu, Breivik đã xây dựng "cương lĩnh hành động" trong suốt 3 năm qua để chuẩn bị thực hiện một vụ khủng bố đẫm máu nhằm vào chính đất nước và đồng bào của mình. Cũng giống như Timothy McVeigh, Breivik nhìn nhận hệ thống chính trị ở nước mình là kẻ thù. Mục tiêu tấn công dần hình thành trong đầu người này không phải các nhóm nhập cư mà là bản thân chính phủ và những thanh niên có quan hệ chặt chẽ với đảng Lao động cầm quyền ở Na Uy có quan điểm cánh tả.

Luật sư của Breivik cho biết thêm thân chủ của ông đã "hoạt động chính trị năng nổ và tự thấy rằng không thể thành công bằng những công cụ chính trị thông thường, nên đã chuyển sang dùng bạo lực".

Trong khi đó trên khắp châu Âu hiện có mối lo ngại ngày càng tăng về tình hình nhập cư, một phần do tình trạng thất nghiệp với người bản xứ gia tăng. Vấn đề nhập cư khiến các xã hội tại châu Âu thay đổi nhanh chóng và ngày càng có nhiều sự thất vọng về điều này mà giới chức ở tầm châu lục lẫn quốc gia được cho là không lắng nghe quan điểm của cử tri.

Cùng với quá trình toàn cầu hoá thì vấn đề đặc tính dân tộc ngày càng trở nên quan trọng và kết quả là nhiều đảng theo chủ nghĩa dân tộc bắt đầu thắng thế tại một số nơi ở châu Âu. Trong khi đó theo BBC, một số nhà lãnh đạo châu Âu từ Thủ tướng Đức Angela Merkel đến Thủ tướng Anh David Cameron đều đã đặt câu hỏi về chủ nghĩa đa văn hoá. Những tuyên bố này được cho là nguy hiểm vì có thể khuyến khích chủ nghĩa cực đoan.

Động cơ hành động của sát thủ Na Uy ngày càng nghiêng về hướng chủ nghĩa cực hữu và người mắc bệnh hoang tưởng, một trong những vấn đề nhạy cảm nhất châu Âu hiện nay. Nếu điều này được chứng minh, nó sẽ làm thay đổi mạnh các cơ quan tình báo và an ninh trên khắp châu Âu, để hướng sự quan tâm tới chủ nghĩa cực hữu chống Hồi giáo, bên cạnh việc họ dành mối quan tâm quá lớn đến các tổ chức Hồi giáo cực đoan như hiện nay.

Đình Nguyễn

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

10 tấm ảnh khiến nhân loại bàng hoàng !

(VnMedia) – Người ta thường nói rằng mỗi bức ảnh có giá trị bằng hàng ngàn lời nói.
Nhưng mỗi bức ảnh dưới đây không chỉ giá trị bằng ngàn lời nói, mà chúng là cả một câu chuyện lớn lao,
một câu chuyện đủ sức mạnh để thay đổi thế giới và gây kích động mạnh trong mỗi chúng ta.Dưới đây là 10 bức ảnh từng gây sốc trên toàn thế giới:



1. Sự đau đớn của Omayra Sanchez (Frank Fourier)

Image

Nhiếp ảnh gia Frank đã bắt được khoảnh khắc bi thảm của cô bé Omayra Sanchez đang mắc kẹt trong bùn đất và đống đổ nát của các toà nhà.
Núi lửa Nevado del Ruiz của Colombia phun trào năm 1985 đã gây nên một vụ lở đất khủng khiếp. Nó tàn phá các thị trấn xung quanh và giết chết 25.000 người.
Sau 3 ngày vật lộn, Omayra chết do hạ thân nhiệt và hoại tử. Cái chết bi thảm của cô bé đã cho thấy sự thất bại của các quan chức chính quyền
trong việc cứu hộ các nạn nhân của thảm hoạ thiên nhiên tồi tệ nhất tại Colombia.
Frank Fournier chụp bức ảnh này ngay trước khi Omayra chết. Cái chết đau đớn của cô bé sau đó đã được phát trên truyền hình
tới hàng trăm triệu người trên toàn thế giới và gây nên một cuộc tranh cãi lớn.


2. “Trái tim sư tử” (Deanne Fitzmaurice)

Image
Phóng viên ảnh từng đoạt giải thưởng Pulitzer, Deanne Fitzmaurice đã khiến thế giới bị sốc vào năm 2005 với bài tiểu luận ảnh “Operation Lion Heart”.
”Operation Lion Heart” là câu chuyện về một cậu bé Iraq 9 tuổi bị thương bởi một vụ nổ của một trong những cuộc xung đột ác liệt nhất lịch sử hiện đại, đó là Chiến tranh Iraq.
Cậu bé đã được đưa đến một bệnh viện ở Oakland, CA nơi cậu phải trải qua hàng chục cuộc phẫu thuật cận kề sống chết.
Sự can đảm và tinh thần chiến đấu với cái chết của cậu đã được đặt biệt danh “Trái tim sưtử” (LionHeart)


3. Thảm hoạ khí Bhopal 1984 (Pablo Bartholomew)

Image
Pablo Bartholomew là một phóng viên ảnh nổi tiếng người Ấn Độ, người đã chụp được những tấm ảnh về Thảm hoạ khí độc Bhopal.
Đã 27 năm trôi qua kể từ thảm hoạ công nghiệp tồi tệ nhất tại Ấn Độ làm bị thương 558.125 người và giết chết khoảng 15.000 người.
Do bỏ qua các tiêu chuẩn an toàn và thủ tục bảo trì bảo dưỡng tại nhà máy thuốc trừ sâu của công ty Union Carbide India Limited tại Bhopal,
một vụ rò rit khí methyl isocyanate và hóa chất khác gây thảm họa lớn cho môi trường và con người.Nhiếp ảnh gia Pablo Bartholomew đã vội vã đến nơi xảy ra thảm hoạ.
Ông nhìn thấy một người đàn ông đang chôn một đứa trẻ. Hình ảnh này đã được cả Pablo Bartholomew và Raghu Rai, một phóng viên ảnh tên tuổi kh� �c, ghi lại.
“Hình ảnh rất thương tâm này đã nói lên toàn bộ câu chuyện về thảm hoạ”, Raghu Rai cho biết.


4. Sau trận sóng thần (Arko Datta)


Image
Một trong những hỉnh ảnh tiêu biểu và nổi bật nhất về hậu quả của thảm họa sóng thần Ấn Độ Dương đã được chụp bởi nhiếp ảnh gia Arko Datta của hãng thông tấn Reuters.
Ông đã chiến thắng cuộc thi ảnh báo chí thế giới năm 2004 với bức ảnh này. Kathy Ryan, thành viên ban giám khảo và là biên tập viên ảnh của Tạp chí New York Times,
đã miêu tả bức ảnh của Datta là “một bức ảnh lịch sử , rất sinh động và đầy cảm xúc”.
Bức ảnh miêu tả một người phụ nữ Ấn Độ nằm gục đầu dang hai tay trên cát trước xác một thành viên gia đình. Người thân của bà đã chết trong trận sóng thần Ấn Độ Dương.


5. Trung tâm Thương mại Thế giới 9/11 (Steve Ludlum)


Image
Sức mạnh của tấm ảnh mà Steve Ludlum ghi lại được đã quá rõ ràng mà không cần thêm một lời mô tả nào.
Chiếc máy bay đâm ngang toà tháp đôi WTC đã tạo nên một quả cầu lửa và cột khói khổng lồ,
báo trước sự sụp đổ của toà nhà chọc trời này cũng như sẽ tạo ra những đám mây bụi khổng lồ.


6. Sức mạnh của một người (Oded Balilty)


Image
Năm 2006, nhà chức trách Israel đã ra lệnh sơ tán những khu định cư bất hợp pháp, như Amona. Oded Balilty, một nhiếp ảnh gia Israel làm cho hãng tin AP,
đã có mặt khi cuộc sơ tán biến thành cuộc xung đột và bạo lực chưa từng có giữa những người định cư và các nhân viên cảnh sát.
Hình ảnh Oded Balilty ghi lại cho thấy một người phụ nữ dũng cảm dám một mình chống lại những nhân viên cảnh sát.
Bức ảnh sau đó đã trở thành đề tại gây tranh cãi lớn. Ynet Nili là người định cư Do Thái 16 tuổi có mặt trong bức hình trên.
Theo Ynet: Hình ảnh này là một điều đáng hổ thẹn với nhà nước Israel. Có thể bức ảnh là một tác phẩm nghệ thuật,
nhưng đó không phải là những gì đã diễn ra sau đó. Những gì đã xảy ra ở A mona hoàn toàn khác. Nili đã bị cảnh sát đánh đập rất hung bạo.


7. Sau cơn bão (Patrick Farrell)

Image
Patrick Farrell, nhiếp ảnh gia của tờ Miami Herald, đã chụp được những bức ảnh đau lòng về nạn nhân của cơn bão Haiti năm 2008.
Thảm kịch được ghi lại bằng những hình ảnh đen trắng.
Trong ảnh là một cậu bé không quần áo, người đầy bùn đất đang cố gắng cứu chiếc xe đẩy sau khi cơn bão nhiệt đới Hanna tấn công Haiti.


8. Thảm sát Thái Lan (Neil Ulevich)

Image
Neal Ulevich đoạt giải thưởng Pulitzer năm 1977 cho một “loạt các bức ảnh về tình trạng bạo động và chết chóc tại các đường phố của thủ đô Bangkok, Thái Lan”.
Vụ thảm sát Đại học Thammasat diễn ra vào ngày 6/10/1976. Đó là một cuộc tấn công rất bạo lực nhằm vào những sinh viên có hành động
chống lại Field Marshall Thanom Kittikachorn.FMT Kittikachorn là một nhà độc tài lưu vong đang lập kế hoạch để trở lại Thái Lan. Sự trở lại của nhà độc tài quân sự này
đã gây nên các cuộc biểu tình rất bạo lực. Những người biểu tình và sinh viên đã bị đánh đập, bị chém, bị bắn, bị treo cổ hoặc đốt cháy đến chết.


9. Dưới chân cuộc chiến (Carolyn Cole)

Image
Nhiếp ảnh gia Carolyn Cole của Los Angeles Times đã chụp bức ảnh này đáng sợ trong thời gian tới Liberia.
Nó cho thấy mức độ khủng khiếp của cuộc nội chiến tại Liberia. Vỏ đạn phù đầy một đường phố ở Monrovia.
Thủ đô của Liberia là khu vực bị ảnh hưởng tồi tệ nhất, bởi vì đây là nơi diễn ra cuộc chiến khốc liệt giữa quân đội chính phủ và lực lượng nổi dậy.


10. Người tị nạn Kosovo (Carol Guzy)

Image
Carol Guzy nhận giải thưởng Pulitzer vào năm 2000 với bức ảnh về người tị nạn Kosovo. Bà là người phụ nữ đầu tiên nhận giải Pulitzer cho những bức ảnh thời sự.
Bức ảnh miêu tả Agim Shala, một cậu bé hai tuổi, được đưa qua một hàng rào dây thép gai để về với gia đình cậu.
Hàng ngàn người tị nạn Kosovo đã được đoàn tụ và cắm trại tại Kukes, Albania.

Kiều Anh – (tổng hợp)

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Truyện kể của 1 người tù

Gã Ðầu Bạc
(Nguồn: Facebook)

Năm 1982 sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, tôi về lại Hà Nội nơi sinh ra và lớn lên.

Trong thời gian tim kiếm việc làm tôi vô tình được tham gia 1 chuyến đi, được tiếp xúc, được nghe kể 1 câu chuyện. Câu chuyện đó đã đọng lại trong tôi suốt năm tháng mặc dù đã gần 30 năm trôi qua song đến nay nó vẫn còn mang tính thời sự và vẫn là 1 dấu hỏi lớn cho mọi người trên đất Việt này, cũng như những người vì thời thế xô đẩy đã phải ly hương.

Số là tôi có 1 người bà con mà tôi gọi là dì. Dì Lê. (Tên địa danh kể cả tên người trong câu chuyện này tôi đều sử dụng tên thật.) Dì tôi đẹp lắm, năm đó dì chắc chỉ khoảng trên dưới 30 tuổi. Cao, trắng, khuôn mặt thanh tú, giọng nói Sài Gòn rất truyền cảm. Dì có chồng là 1 sĩ quan quân đội Cộng Hòa mà chúng ta vẫn gọi là “Ngụy quân.” Ông bị đi học tập cải tạo sau 30 tháng 4 như cả vạn người khác thời đó.

Dì ra Bắc thăm nuôi chồng. (Miền Bắc gọi là tiếp tế, tôi thấy từ thăm nuôi đúng hơn.) Dì rủ tôi đi áp tải cùng. Phần tôi, lúc đó đang thất nghiệp. Và lại tôi cũng hết sức tò mò không biết 1 sĩ quan QLSG ra sao, tôi đồng ý đi liền.

Hai dì cháu lên tàu hỏa đi suốt 1 đêm. Cái đêm hôm đó qua lời kể của dì tôi nghiệm ra 1 điều: trong cuộc chiến Bắc-Nam những người đau khổ nhất, thiệt thòi nhất là những người mẹ, những người vợ của lính. Cũng là đương nhiên những người mẹ những người vợ ở bên kia chiến tuyến, sự đau khổ và thiệt thòi “được” nhân đôi khi cuộc chiến kết thúc. Câu chuyện dì Lê kể luôn thấm đẫm nước mắt!!

Vì quá nhiều đồ thăm nuôi nên 2 dì cháu đi toa đen (tức là toa không có ghế, người và hàng hóa cùng chung sàn tàu, dân miền Bắc đều biết loại toa tàu này) và kỳ lạ thay, hành khách trên toa đa phần là dân tiểu thương buôn thúng bán mẹt. Ða phần là các mẹ, các chị tất thẩy đều lắng nghe câu chuyện của dì. Câu chuyện của vợ 1 sĩ quan “Ngụy,” với thái độ thông cảm và chia sẻ! Tôi lặng lòng. Ôi người phụ nữ Việt Nam, chẳng có từ ngữ nào có thể nói được hết những tấm lòng của họ. Họ thật vĩ đại!

5 giờ sáng, tàu đến ga Ấm Thượng 1 ga nhỏ của tỉnh Phú Thọ. 2 dì cháu khuân hết hành lý xuống 1 bến đò. Dì cho biết đường bộ không vào đến nơi chỉ có đi đò là tiện nhất.

Dì còn tranh thủ vào chợ mua 1 ít đồ tươi sống rau, củ, quả... Ðiều làm tôi ngạc nhiên là dì mua được 1 tạ gạo. Thời đó miền Bắc đang là nơi ngăn sông cấm chợ. Gạo, thực phẩm khan hiếm lắm. Sau nghe dì kể tôi mới biết dân ở đây luôn ưu tiên những người vợ lính đi thăm chồng (chỉ dân thôi nhé). Chẳng biết đường bao xa nhưng tôi đi lâu lắm. Tôi còn chập chờn ngủ được 1 giấc trên đò. Xế trưa đò cập bến. Dì thuê 1 chiếc xe bò khuân hết đồ đạc lên. 2 dì cháu đi thêm chừng 1km nữa khu trại hiện ra đó là phân trại K5. 2 dì cháu ở ngoài khu giam giữ dãy nhà đó được đặt tên là Nhà Hạnh Phúc. Tù mà hạnh phúc? Tôi thắc mắc. Dì Lê giảng giải: Ðây là khu nhà dành cho những phạm nhân có vợ lên thăm và được ở 2 ngày 1 đêm với điều kiện người tù phải cải tạo tốt.

Ðầu giờ chiều chúng tôi được gặp người nhà, đây là lần đầu tiên tôi được gặp cậu và cũng là lần đầu tiên tiếp xúc trực diện với 1 người mà bấy lâu tôi luôn được giáo huấn: Ðó là Kẻ Thù!

Cảm nhận đầu tiên của tôi, ông thật đẹp, dáng cao, da bánh mật, khuôn mặt sáng, tóc đen bóng mà xoăn từng nếp. Ðó là chân dung 1 đại úy cảnh sát đặc biệt của chế độ Sài Gòn! Ông tên là Liêm, có biệt danh là Liêm Xoăn.

Vào những năm sau 1975 có 1 cuốn sách tựa đề “Chân dung (hay khuôn mặt gì đó) của 1 số viên tướng Ngụy Sài Gòn.” Tôi đã đọc và tự mình đưa ra 1 nhận xét. Tôi nói nhận xét đó của tôi cho 1 chính trị viên đại đội (nhập ngũ năm 1963): Thưa thủ trưởng thằng cha nhà văn này nó bêu xấu quân đội ta. Ông trợn mắt rồi nói: Thằng này láo! Tôi cười rồi vội giải thích với ông: Nếu mấy cha tướng ngụy chỉ cần đúng 50% những gì kể trong cuốn sách này thì chả hóa ra quân đội ta chiến thắng 1 lũ ngu ngơ chả biết gì. Tôi chỉ là thằng lính trơn còn sôi máu huống gì các thủ trưởng? Ông nghe ra rồi hạ giọng: Cậu chỉ nói với tớ thôi nhé đừng lộng ngôn mà khổ đấy con ạ! Buồn! Có thể sau này người ta cũng biết hay sao mà cuốn sách đó tuyệt nhiên chả tìm thấy đâu nay tôi muốn tìm đọc lại cũng không có. Chung quy cũng chỉ vì nền “văn học chính trị” luôn cho mình là giỏi, là tài là đỉnh cao muôn trượng còn người khác thì vứt đi hết.

***

Tối hôm đó tôi giữ ý xin phép cho tôi được đi xem TV (tù chính trị được xem TV tập chung ở sân trại). Lúc này đang là Word Cup 1982 đài hoa sen hồi đó phát sóng trực tiếp trận Pháp với CHLB Ðức. Cậu tôi không đồng ý cho tôi đi, ông nói: Cháu ở lại đây với cậu, bởi cậu không muốn có 1 đứa con sinh trong tù. Và tôi đã ngồi lại để rồi thức trắng 1 đêm nữa nghe ông kể chuyện đời chuyện tù.

Sau ngày 30 tháng 4 ông cùng chung số phận với nhiều người. Số phận của những người thua cuộc - Mất hết! Nhưng ông biết chấp nhận chẳng cay cú chẳng hằn học. Thế nên ngay ngày đầu ra trình diện gia đình chuẩn bị cho ông đủ thứ mà 1 người sắp phải đi xa cần có! Nhưng thật bất ngờ, ban quân quản thành phố sau khi gặp gỡ khai báo đều cho tất cả mọi người về. Cứ như vậy, 3 lần tiếp theo họ đều được cho về. Và đây là 1 cú lừa, 1 cú lừa ngoạn mục! Lần thứ 5 khi gọi tập trung, hầu như không ai trong số họ chuẩn bị gì và đây là lúc họ phải ra đi! Kẻ ít 9-10 năm kẻ nhiều 15 năm và đến tận hôm nay 35 năm sau cuộc chiến không ai dám đoan chắc là tất cả đã được về!

Tất cả họ -1 bộ quần áo đang mặc, không tư trang không vật dụng cá nhân bị dồn xuống sà lan tại cảng Sài Gòn. Họ không biết bị đưa đi đâu. Sà lan là 1 khoang hầm rộng chỉ có cửa sổ trên cao. 2 người đứng trên vai nhau để nhìn ra cửa sổ và thông báo: Bên phải là biển - Bên trái là đất liền! Mọi người lúc đó mới biết họ bị đưa ra Bắc. Lênh đênh vài ngày 1 tối nọ, sà lan cập bến 1 cảng nhỏ đó là cảng Cửa Lò thuộc tỉnh Nghệ An. Khi rời sà lan lên bờ, 1 cảnh tượng kinh hoàng đập vào mắt họ, dọc con đường từ cảng ra ga tàu hàng trăm người dân đứng chờ sẵn, tay cầm đuốc miệng liên tục hô: Ðả đảo bọn Việt gian, đả đảo bọn ác ôn, đả đảo bọn bán nước... Ðó là cảnh ấn tượng nhất của họ khi đêm đầu tiên đặt chân lên miền Bắc XHCN! Kể đến đây ông trầm ngâm nước mắt ứa ra rồi nói như tự hỏi mình: Tại sao? Tại sao họ phải làm như vậy? Không thể hiểu, không thể lý giải nổi hành động của họ.

Tất cả họ được đưa lên tàu hỏa chạy thẳng lên Yên Bái, xuống phà Âu Lâu đi bộ sâu vào rừng. Tự dựng lán trại tự khai hoang... Thời gian lao động cải tạo hay được gọi dưới 1 cái tên là “Học Tập” mười mấy năm trời cũng được bắt đầu từ đấy. “Nhất nhật tại tù” những cơ cực, những khắc nghiệt mà ông và đồng đội của ông trong tù tôi xin miễn không kể lại vì rất rất nhiều người đều biết.

***

Vũng Tàu thời trước 1975 là 1 thành phố nhỏ dân không đông. Thành phố nổi tiếng vì có bãi biển đẹp. Dân Sài Gòn Thứ Bảy thường ra đây để nghỉ cuối tuần. Ðại úy cảnh sát đặc biệt Liêm Xoăn làm việc tại đó. Tôi đoán những người cùng thời với ông ở Vũng Tàu đa số đều biết ông, vì theo lời ông kể ông là 1 “dân chơi.” Ðẹp trai, ăn nói có duyên, cộng thêm bộ đồ cảnh sát trắng, mũ kê-pi, xe jeep mui trần trông oai lắm.

Nhưng ông đâu có ngờ cái mác CSÐB đã làm khổ ông 4 năm trời khi ông bị đi “Học tập.” Cảnh sát đã ghê đây lại là CSÐB!

Còn ghê hơn nữa, trong 4 năm đầu ông luôn bị coi là thành phần ngoan cố không thành khẩn khai báo. Mẫu đơn kiểm điểm của ông có 1 số gạch đầu dòng như 1 sự mặc định:

-Ðã giết bao nhiêu người.

-Mổ bụng bao nhiêu người.

-v.v...

Số giấy mà ông viết kiểm điểm trong 4 năm có thể lên tới hàng chục ký. Họ không tin ông! Ngược lại ông cũng không nhận những gì ông không tham gia, ông không làm. Sau vài năm như vậy chắc là do điều tra tận nơi người ta mới phát hiện ra rằng CSÐB thật ra là 1 thứ lính kiểng. Không biết có thật không nhưng sau này tôi được nghe rằng những nhà giàu có ở chế độ SG cũ sợ con em mình bị đi quân dịch nên đã chạy tiền cho con em đi học cảnh sát, giàu thêm chút nữa thì đút tiền để được là CSÐB. Ðơn giản chỉ có vậy. Nhưng ông còn là người may mắn, 1 số người khác cũng mang danh đặc biệt như ông còn khốn nạn hơn nhiều.

Những quy định trong trại cải tạo rất nghiêm ngặt và hà khắc nhất là với tù chính trị -Không nói chuyện với nhau bằng ngoại ngữ (100% sĩ quan QÐSG đều thành thạo Anh ngữ). Khi tiếp xúc với cán bộ phải đứng cách xa tối thiểu 2m v.v... Tuy nhiên đó là những năm đầu. Sau này tình hình được cải thiện rõ rệt hình như những cán bộ quản giáo ra tiếp xúc lâu năm nên đã hiểu rõ những con người mà lúc đầu họ cho là kẻ thù này. Theo như cậu tôi nói thì ông đã dạy tiếng Anh cho 1 vài quản giáo trẻ và họ cũng mến ông lắm.

Ðường vào trại K5 Tân Lập thời đó có 1 khúc sông không có cầu, đi lại rất khó khăn 1 tù nhân nguyên là đại tá công binh đã thiết kế 1 cây cầu, toàn bộ tù của trại Tân Lập là người thi công. Khi tôi đến cây cầu này đã làm gần xong.

Cậu tôi tư Liêm Xoăn đã được đổi tên là doctor Liêm. Ông cười khi tôi thắc mắc. Số là trong những lần đi khai thác gỗ trong rừng, được tiếp xúc với những người dân địa phương. Không ít lần ông đã chữa chạy cho họ những bệnh đơn giản như tiêu chảy, cảm cúm, nhức đầu sổ mũi... Cũng phải nói thêm là miền Bắc thời đó hệ thống y tế rất nghèo nàn, thuốc men khan hiếm quanh đi quẩn lại chỉ tetaxilin, sunfamit, croxit. Nhất là ở vùng sâu vùng xa thì càng tệ hơn nữa. Ðơn giản chỉ bị tiêu chảy cũng dẫn đến chết người nhất là trẻ em. (Cái nay tôi cũng từng chứng kiến khi đóng quân ở Lào Cai những năm chống Tàu) sẵn có chút kiến thức về y học lại có rất nhiều loại thuốc tốt của Pháp, Mỹ do gia đình cung cấp nên ông đã giúp được khá nhiều người. Cái tên doctor Liêm ra đời từ đó.

***

Ðã nghe lao xao tiếng gà gáy, ngoài kia trời đã sáng, 1 ngày mới bắt đầu. Tôi đồ rằng đây là lần đầu tiên sau 7 năm ở tù ông mới có dịp chuyện trò cởi mở về 1 quãng đời của ông với 1 người khác. Ðặc biệt người đó tuy là họ hàng nhưng cũng là người, trên lý thuyết là đối kháng với ông! Âu cũng là sự lạ.

Chúng tôi còn được ở với nhau nốt ngày hôm đó nữa. 2 cậu cháu đi bộ quanh khuôn viên của khu nhà, tôi chợt nhìn thấy 1 ông già cỡ chợt 70 ở trần quần đùi đội nón rách đang chăn mấy con bò bên ngoài. Ông ta kín đáo giơ 2 ngón tay trỏ và giữa, cậu tôi đáp lại bằng cách giơ 1 ngón cái của bàn tay (thời đó ít người ở miền bắc hiểu được ý nghĩa của những cử chỉ đó) cậu tôi bảo đó là 1 vị đại tá (tôi quên tên) và cử chỉ của ông ta có nghĩa “Chiến Thắng.” Tôi thất kinh. Chiến thắng ư? Ông mỉm cười. Nguyên do là có 1 tin đồn ngươi Mỹ sẽ bảo lãnh toàn bộ sĩ quan cùng gia đình của họ sang định cư tại Mỹ. Cái hôm tôi có mặt tại trại Tân Lập thông tin này đã được khẳng định là đúng do 1 ai đó nghe trộm được qua đài BBC. Những người tù chính trị coi nguồn tin này là một chiến thắng. Tôi tò mò hỏi ông: ở tù các ông có thành lập những hội, nhóm, hay tổ chức gì không? Cậu tôi lắc đầu: “Cháu nên biết rằng Cộng Sản là những người bậc thầy trong việc tổ chức những hội kín, họ có quá nhiều kinh nghiệm trong chuyện này cho nên những người đối kháng chỉ cần manh nha là đã bị bóp từ trong trứng!” Thời đó tôi chưa hiểu hết ý nghĩa của câu này.

Thế rồi giờ chia tay cũng đến. Dì Lê, như bao người vợ khác nước mắt lưng tròng, tôi cũng bịn rịn không kém. Cậu Liêm nắm chặt tay tôi: “Sẽ có ngày cậu cháu mình gặp lại nhau, nhưng chắc chắn không phải ở chốn này!”

Vậy mà 28 năm có dư sau lần thăm tù đầy ý nghĩa đó tôi không gặp lại cậu nữa! Tôi, một người lính vừa trở về lao vào cuộc mưu sinh, vào Nam, ra Bắc, làm đủ nghề rồi gia đình vợ con. Cuộc sống cũng chật vật cũng chẳng vẻ vang gì. Phần cậu Liêm tôi nghe nói mãi đến 86-87 gì đó cậu mãn hạn tù về SG trừng hơn năm rồi cả gia đình cậu sang Mỹ. Tôi cũng bặt tin cậu từ đó!

Vài lời nhắn gửi thay lời kết

Cậu Liêm ơi!

Bên kia bờ đại dương xa xôi, nếu vô tình cậu đọc được câu chuyện này (ở thời đại thông tin toàn cầu cháu mong việc đó xảy ra) thì cậu hãy tin rằng ở VN ngày nay đa số người dân đã hiểu về cuộc chiến ngày xưa, họ chẳng hằn thù gì. Có chăng chỉ 1 nhóm người bảo thủ và cố chấp. Cháu cũng tin rằng vài trăm người dân ngày xưa cầm đuốc, hô khẩu hiệu cũng chỉ là 1 kịch bản được soạn sẵn mà thôi. Vậy nên nếu cậu, dì còn đủ sức khỏe hãy về thăm lại quê hương, cậu cháu mình lại có dịp hàn huyên với nhau nhưng sẽ là những chuyện vui chứ chẳng phải những câu chuyện rơi nước mắt như thủa nào ở phân trại K5 Tân Lập!

Hà Nội ngày cuối năm!

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Hoa Chanh Nở Giữa Vườn Chanh

Tạp ghi Quỳnh Giao

Ngày xưa, các cụ mình đã rất tinh khi gội đầu bằng chanh.

Nói “ngày xưa” như vậy thì có vẻ xa xăm ngày cũ chứ thật ra ngày nay nhiều người vẫn dùng chanh gội đầu, ít ra là ở thôn quê. Có lẽ các cụ khám phá trước cả khoa học rằng chanh có chất át xít mà mình gọi là chua nên có công dụng khử trùng và nhất là lại cho ta một mùi thơm tinh khiết. Ði qua một vườn chanh vườn bưởi, làm sao mình quên được mùi thơm rất nhẹ mà cũng cho mình một cảm giác khoảng khoát sạch sẽ? Nó thanh khiết hơn hương thơm quá nồng nàn và quá ngọt của nhiều loài hoa khác.


Nhớ lại thì bà ngoại ngày xưa vẫn gội đầu bằng cách nấu chùm kết lấy nước để gội, sau cùng vắt một quả chanh vào nước ấm dội lần chót cho tóc bóng mượt. Bà chải tóc bằng lược bí có răng rất nhỏ, rất mịn, gợn ra nhiều tép chanh còn kẹt trong răng lược.... Mái tóc thơm tho bóng nhẫy khiến lũ trẻ cứ hít lấy hít để. Các cụ xưa hay thật. Vì đã biết chế ra loại conditioner organic từ chanh khi mình ra đến ngoài này mới thấy những sản phẩm trong chai lọ của những gian hàng bán dầu gội đầu. Nhưng conditioner của họ pha chế nhiều chất hóa học, đâu phải từ chanh thật như các cụ ta!

Ngày nay, chúng ta cũng hít lấy hít để mùi chanh, nhưng không phải là bên thùng nước ấm khi phải gội đầu. Chúng ta dùng chanh trong chai, dùng chanh như một loại dầu thơm.

Người miền Nam chúng ta mà dùng chữ “dầu thơm” này cũng tinh như các cụ mình ngày xưa vì trong chai nước hoa quả là có tinh dầu... Người ưa nghiên cứu về khoa học thì dạy chúng ta rằng chanh bưởi cam quít gì thì cũng cùng một họ, cùng một loại cây bụi hay cây mộc, lá xanh, thân có gai nhỏ, hoa thơm có múi bên trong là những tép chanh tép bưởi nhỏ xíu.

Người chuyên về thuốc thì nhắc chúng ta là trong chanh có rất nhiều sinh tố C có tác dụng bổ dưỡng và giải cảm, chống lạnh. Người háu ăn thuộc phái nam thì nhắc đến chanh khi ăn thịt gà và lời ca dao “con gà cục tác lá chanh” đề lại ngậm ngùi nhớ đến đến con chó khóc đứng khóc ngồi và củ riềng. Giờ này mà nói đến món thịt chó hay mộc tồn như các ông thì con cháu nó chạy hết qua... bót cảnh sát!

Người ham ăn, chứ không háu ăn, thuộc phái nữ thì nhớ đến chanh khi đi chợ thấy có bán ốc. Nhớ lại ở nhà là nồi nước sôi luộc ốc phải có lá chanh và nhể ốc bằng gai chanh mới là sành ăn biết điệu. Người không ăn ốc mà thích nói mò và viết tạp ghi thì nhắc đến chanh trong chai!


Ðó là trường hợp Quỳnh Giao, mà các em gái trong nhà cứ hay chọc là “bà chủ hãng nước hoa.”

Chẳng là trời sinh mỗi người lại có một số năng khiếu riêng. Có trí nhớ về thính giác và khứu giác là trường hợp ở đây, chứ trông gà hóa cuốc mới là biệt tài! Nghe một nốt nhạc thì nhớ, ngửi một mùi thơm thì khó quên nhưng lại rất kém về thị giác nên ít nhận ra ai. Chi bằng tận dụng cái nét trời cho mà sống trong âm nhạc và thấy vui với hương thơm của nước hoa.


Rồi nhớ đến hoa chanh nở giữa vườn chanh khi thấy rằng từ nhiều năm nay, mùi chanh trong kỹ nghệ dầu thơm đang trở về vị trí thời thượng, đúng mốt thời trang. Nhà Chloé đã tinh chế rất nhiều loại hoa thành nước hoa, nhưng đứng đầu và thơm nhất thì có mùi Néroli... Hình như cũng là địa danh hay tên một nàng công chúa.
Image
Chloé Eau de Parfum

Ngày xửa ngày xưa, có nàng công chúa Âu Châu tại đất Nerola của Ý thường ngắt hoa cam hoa bưởi kẹp vào trong sách, thả vô bồn tắm và ướp vào găng tay.

Nghe kể lại hay đọc thấy thì nàng đi tới đâu tỏa hương đến đó, cứ rút găng tay cho người thân là mọi người lại nhìn quanh xem hoa bưởi phảng phất ở đâu. Sau này, khi thiên hạ khôn ra thì mới biết rằng nàng công chúa tận dụng tinh chất “neroli” trong giống chanh.

Thiên hạ khôn ra thì chúng ta nhờ vì ngày nay mình có chất đó trong nước hoa, xà phòng và lạ lùng hơn nữa khi được biết bí quyết của chai Coca Cola chính là vì có mùi “neroli” đó. Hương chanh xuất phát từ đó và cho ta cả một mùa Xuân thơm phức ngay giữa mùa Ðông. Muốn có trời Xuân thăm thẳm đó, hãy thử tìm mùi Poppy Rouge thì biết. Nhưng kể ra thì hơi đắt, gần chín chục đồng một chai nhỏ xíu và không dễ kiếm bằng chai nước hoa của Chloé...

Bôi rồi một chốc lại nhìn quanh vì trong cái tinh khiết của hương chanh còn phảng phất sự nồng nàn của hoa thủy tiên.

Các bà mà đã muốn đánh lừa khứu giác của các ông thì phái mạnh cũng sẽ thấy yếu xìu!


Khi uống rượu, các ông ưa bày đặt hù dọa chúng ta rằng hương vị của rượu có ba tầng khác nhau mà chỉ người sành mới phân biệt được. Nào là “body,” vị thơm làm nền và bền nhất từ trái nho, rồi mới tới hương của các loại hoa hay gỗ ướp và ngoài cùng là cái “bouquet” tổng hợp ngần ấy thứ linh tinh! Nghe vậy thì ai mà không sợ cái lưỡi rất tinh của các ông, vì rất tinh nên nói sao nghe cũng cứ như thật...

Nhưng các bà có thể trả lời và giật lại sự thật cho mình.

Trong nước hoa, người ta cũng phân biệt loại base notes, hương thơm làm nền, rồi middle notes và ngoài cùng, thấy ngay mà cũng loãng rất nhanh là top notes. Hãy bắt mấy ông sành rượu nếm thì một chút nước hoa là cái lưỡi của các ông sẽ ngọng ngay lập tức.

Vào tiệm bán nước hoa, mình đừng dại mua ngay cái mùi thấy ưa thích khi thử trên da. Xin hãy phe phẩy cánh tay mà thong thả bước qua nơi khác. Khi ấy, chúng ta nhớ đến bài “Gió thoảng hương duyên” của Vũ Thành vì hương thơm ban đầu sẽ tỏa rất nhẹ và tan biến dần, để lại một mùi thơm khác. Mà mùi đó vẫn chưa là thật và chưa thật bền. Hãy để cho hóa chất trong nước hoa thấm đượm trên làn da của mình và gây ra một chuỗi phản ứng hóa học, rồi mùi hương nền mới tồn tại lâu bền hơn.

Khi ấy, mình sẽ thấy mùi nào là mùi thật của mình, thích hợp nhất cho mình...

Nước hoa chế cất bằng chanh bưởi có đặc tính chung thủy và lâu bền nhất vì thường vượt qua được cả ba cửa ải đó. Hương thơm từ chai “Néroli” của Annick Goutal là một thí dụ. Ðó là loại nước hoa rất Tây mà vẫn dễ tìm thấy bên Mỹ này, dù hơi đắt nếu mua tại Neiman Marcus.

Vừa xức lên da là mình thấy như bước vào một vườn chanh, đi quanh quẩn trong tiệm mà lại thấy trong chanh có cả màu xanh và tỏa ngát mùi gỗ sạch và ấm áp của mùa Xuân. Sau cùng vẫn phảng phất nét tinh khiết ban đầu, rất bền mà không hắc và nhất là không quá ngọt như nhiều mùi nước hoa của Mỹ.

Nhớ lại thì từ thời các cụ xa xưa cho đến ngày nay, chúng ta vẫn nằm trong vòng kiềm tỏa của thiên nhiên hoa cỏ. Các cụ đã sớm biết lấy hoa chanh làm thơm làm đẹp. Ngày nay mình sướng hơn các cụ là có sẵn những thức đó trong chai và mở một chai nước hoa lại nhớ đến ca dao ngày cũ thì bỗng dưng cảm động.

Khứu giác cũng có khả năng gợi nhớ có kém gì một nốt nhạc đâu? Mà không làm phiền thiên hạ bằng một chai rượu chát của các ông!

Quỳnh Giao

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

TÌM NƠI NÀO CHIẾC LÁ DIÊU BÔNG

“Em ôm ấp mối tình không dám ngỏ
Chưa gặp Diêu Bông chị đã theo chồng.

(Đặng Nguyệt Anh)
Đa số độc giả yêu mến văn chương đều biết Hoàng Cầm là một thi sĩ đa tài , đa tình, lãng mạn rất sớm. Theo dược tánh Đông Y, Hoàng Cầm cũng là tên một vị thuốc bắc rất đắng . Cái tên như là một thứ tiền định gán ghép cho thân phận, nên cuộc đời và nghiệp thơ của Hoàng Cầm oan trái, hắt hiu, chìm nổi.

Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tăng Việt, sinh năm 1922, tại thôn Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, đỗ tú tài Pháp năm 1940 tại Hà Nội, nhờ sự chắc chiu nuôi dưỡng của mẹ buôn nghề hàng xén. Cha dạy học, làm thầy lang, có lần bị Pháp bắt giam tù tại thị xã Phú Lạng Thương, vì hoat động Việt Nam Quốc Dân Đảng. Nhờ có khiếu bẩm sinh yêu thơ và thụ bẩm đặc biệt dòng máu Quan Họ của mẹ được mệnh danh môt thời là bà chúa Quan Họ Bắc Ninh. Hoàng Cầm lúc còn bé đã sớm có giọng hát và ngâm thơ hấp dẫn người nghe. Theo tập thơ “Về Kinh Bắc” viết xong năm 1940, một chiều thứ bảy đi học về, Hoàng Cầm thấy một cô gái láng giềng đang cúi xuống mua gì trong bồ hàng xén của mẹ khi ngẩng đầu lên thì cô ta là cả một thế giới lộng lẫy, mê say của Hoàng Cầm, làm cho chàng phải ngẩn ngơ, choáng váng mặt mày ! Mặc dầu lúc đó chỉ là một thằng bé nhí tám tuổi. Hoàng Cầm đã biết làm một bài thơ tình lục bát , nắn nót để em gởi "chị Vinh của em” và từ phút tình si sét đánh đó ( coup de foudre), chị đi đâu em đi đấy, mãi mãi “lẽo đẽo bụi hồng”, lúc nào cũng cách chị ba bước như hình với bóng.

Khi vào vuờn ổi
Chị xoạc cành ngang, em gốc cây
Lúc đánh bài tam cúc :
Chị gọi đôi cây, trầu cay má đỏ,
Kết xe hồng đưa chị tới quê em
Ghé coi bài, tìm hơi tóc ấm…


Tình yêu đơn phương lúc nào cũng nóng bỏng, réo gọi mãi trong tim cậu bé si tình suốt mấy năm sau.

Một chiều mùa giáng sinh năm 1934, chi thoăn thoắt chạy ra cánh đồng làng Như Thiết đã gặt xong, còn trơ những rạ. Đương nhiên thằng em chạy theo sau ngay. Chị mặc váy “mốt” Đình Bảng”, áo cánh lục mở gà, áo cánh sen xanh nhạt, ngoài chiếc “ghi lê” màu tím bó chẽn, thắt lưng hoa đào, quả thật kiêu sa, lộng lẫy như một nàng tiên ! Chị cuối xuống , loay hoay tìm…, tìm gì trong búi cỏ, lùm cây, từ bờ ruộng này sang bờ đê khác . Em trống ngực đánh thùm thụp, mê say theo dõi. Bóng hoàng hôn đã sẩm tím trên cánh đồng chiều. Chị vẫn tìm, tìm mãi. Em đánh bạo hỏi : “ Chị Vinh ơi ! Chị tìm gì thế “? Chi đứng lên tươi cười, đôi mắt lúng liếng thật tình tứ nhìn Hoàng Cầm, như vừa triểu cợt, vừa thách đố :” Ừ chị đi tìm cái lá…ấy đấy. Đưá nào tìm được cái lá….ấy, ta sẽ gọi là chồng !” chao ôi lúc ấy tim em đập mạnh như muốn vỡ toang lồng ngực, người nóng rưng rức giữa cánh đồng hiu hắc buốt lạnh.

Rồi một buổi chiều khác đi học từ thị xã Phú Lạng Thương vê muộn, nhìn chênh chếch bên kia đường, thấy ngôi nhà chị Vinh đóng kín cửa líp khác với thường lệ, Hoàng Cầm chạy vội vào nhà, chưa kịp hỏi thì bà mẹ nghẹn ngào nói :”Nó đi lấy chồng rồi con ạ!”. Trái tim như bị một cơn địa chấn mạnh, Hoàng Cầm bật khóc, gục đầu vào mẹ, choáng váng xây xẩm mặt mày… Từ đó, tình yêu đầu đời không đến bến này đã làm héo hon trái tim Hoàng Cầm, khi rộn rực thê thiết, khi nhẹ nhàng “Nhớ thương lãng đãng như trầm hương bay ”(Nguyên Thùy)” ám ảnh tội nghiệp cuộc đời Hoàng Cầm. Mãi đến Thu 1959, trong một đêm đông lạnh buốt , Hoàng Cầm cứ trăn trở, thao thức, không chợp mắt ngủ được , thì bổng nhiên có một giọng nữ đọc thì thầm bên tai Hoàng Cầm bài thơ lá Diêu Bông mà Hoàng Cầm ghi lại như viết chánh tả :

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thờ đi tìm
Đồng chiều
Cuống rạ.
Chị bảo
Đứa nào tìm được lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày em tìm thấy lá
Chi chau mày
Đâu phải lá Diêu Bông
Mùa đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu
Trông nắng vẫn bên sông
Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
Chị ba con
Em tim thấy lá
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn


Bao nhiêu lần em thấy lá, chị chau mày, chị lắc đầu, chị mỉm cười, chị không nhìn, hết thẩy chị đều không chấp nhận là thật chiếc lá em cầm trên tay, “chưa gặp Diêu Bông, chị đã theo chồng” (Đặng Nguyệt Ánh)”. Đi tìm Diêu Bông như dã tràng xe cát. Chiếc lá và người chi vương vấn mãi, thấm đậm sâu vào tận tiềm thức, vô thức sốt cuộc đời.

Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời…
…Ới Diêu Bông…!


Bài thơ lá Diêu Bông ra đời là như thế ấy , chứ kỳ thực Hoàng Cầm không thấy, không hiểu ,không biết lá Diêu Bông là gì ở trên cõi đòi này ?! Phải chăng đó là bí-tích của ngôn ngữ thi ca.

Những năm 1980, hai vai đã gánh nặng tuồi đời, Hoàng Cầm vẫn còn nhớ chị với tấm lòng tha thiết của đứa em như mười hai tuổi dạo nọ. Nhiều đêm chị hiện ra trong giấc mơ, giơ tay vẫy gọi , mê mẫn Hoàng cầm :

…Ước sao chị lim dim hát
Tay gió đàn
Lơi
Yếm trắng tinh
Ví chăng em cứ bơ vơ nhớ
Nắng lợn cồn mây
Lá hiện hình

(Ước Nguyện, Hoàng Cầm 1984)

Năm 1991, một thiếu phụ Sài Gòn, tên Đặng Nguyệt Anh “lụy “ thơ Hoàng Cầm, mở quán đạt tên Lá Diêu Bông, tỏ tình mời Hoàng Cầm từ miền Bắc vào Sài Gòn để bày tỏ niềm thương cảm :

…Quán nghèo em gọi Diêu Bông
Cũng là như có như không vậy mà…
Hoàng Cầm anh ở nơi xa
Em nhớ anh Quýnh bắc qua nhịp cầu
Gặp anh bày tỏ trước sau
Diêu Bông hư thực biết đâu mà tìm ?


Quán Diêu Bông ở trên đường Hồng Thập Tự, mé sau Dinh Độc Lập, Sài Gòn. Mấy vần thơ nhận được như liều thuốc bổ tăng sức cho Hoàng Cầm vốn đã sẳn ốm yếu do vừa mới đau dậy, nhà thơ vội vã lên đường từ Hà Nội vào Sài Gòn theo tiếng gọi lá Diêu Bông. Hai bên đã hội ngộ,, đối thoại, trao đổi những vần thơ hết sức xúc động trong mấy buổi họp mặt các bạn yêu thơ nhạc Sài Gòn (nhạc sĩ Trịnh Tiến, Trịnh Công Sơn, nhà thơ Bùi Chí Vinh, Phạm Thiên Thư…) Hoàng Cầm làm bài thơ “giọt mưa phương Nam” đọc tặng Nguyệt Anh :

“…Mưa đi về anh
Mưa thành nước mắt
Rung rinh ôm sao…
Giọt mưa phương Nam
Lệ nhoà qua mi.


Nhịp thơ khi đọc, như trận mưa rào tình cảm đổ xuống. Tiếng vỗ tay của thính giả không ngớt khi Đặng Nguyệt Anh đối ứng một bài thơ khác cũng lấy đầu đề “Giọt mưa phương Nam” đối tặng Hoàng Cầm :

“…Nghe chiếc lá rơi trên đường thanh vắng
Sông Đuống ơi ! Sông gợn nao lòng
Trời mưa phương Nam mây hồng nắng ấm
Biết tìm noi nào chiếc lá Diêu Bông
….Em người phương Nam chưa lần ra Kinh Bắc
Khắc khoải trong lòng khi đọc lá Diêu Bông
Diêu Bông hời hỡi Diêu Bông !

(Đặng Nguyệt Anh, 1991)

Sau nửa tháng có mặt tại Sài Gòn ra mắt các bạn yêu thơ và cùng với nữ sĩ Nguyệt Anh đối tặng nhau nhiều bài thơ giá trị về mặt nghệ thuật, Hoàng Cầm phải ra đi cùng với những trắc trở như trong quá khứ mà định mệnh đắng cay đã dành cho ông. Đìều thật lạ lùng khó luận giải là khuôn mặt nữ sĩ giống in người chị như hai giọt nước, và cũng mang tên la Nguyệt Anh trùng tên với Tịnh Nguyệt Anh nương bút hiệu của Tuyết Khanh vợ cũ của Hoàng Cầm và là mẹ của Kiều Loan) hiện tu thiền ở Mỹ, đã làm những bài thơ đượm màu đạo vị :

Từ Âu qua Mỹ Chẳng nề
Giấc hương quan gởi mộng về Việt Nam
Bóng chiều mờ mịt sương lam
Vườn hồng rạng rỡ thiền am độ đời


(Tịnh Nguyệt Anh)

Hoàng Cầm nói, “Ôi thôi, nếu có sự trùng lập cái tên Nguyệt Anh trong câu chuyện thì ngẫm cho cùng, nó cũng là một thứ dịnh mệnh, cái duyên số tạo hóa dành cho cuộc đời mình này mất rồi” (Bút ký”Vài chuyện làng văn Hà Nội” của Lý Kiệt Luân. Nhóm Ngàn Lan xuất bản tại San Jose, Hoa kỳ 1994).

Nói về thơ Hoàng Cầm là vấn đề khá dài dòng , khó nói vơi hết được trong mất trang của Đặc San. Điều phải nói đến là thơ ông dấy động, lên đường, kháng chiến rất sớm. “ Nhiều người tham gia kháng chiến, đến nay, vẫn còn nhớ mãi cái cảm giác hừng hừng say sưa những đêm đọc thơ Hoàng Cầm trrong các chiến khu thâm thẩm giữa núi rừng Việt Bắc” (Văn học Việt Nam dưới chế độ CS, Nguyễn Hưng Quốc, Văn Nghệ xuất bản,CA – Hoa kỳ 1991). Ông là trưởng đoàn văn công quân đội khu Việt Bắc. Bài thơ ca tụng chiến thắng sông Lô đánh Pháp được ngưòi dân yêu mến trong thời gian trai trẽ cả nước lên đường.

Sông Lô chảy xuống sông Hồng
Sông Hồng trôi xuống biển Đông xa vời
Biển Đông dội sóng vang trời
Nhắc đi bốn bể những lời sông Lô…


(Trường ca sông Lô)

người có tâm hồn nghệ sĩ phóng khoáng, luôn theo tiếng gọi của mộng mơ, của hồn thơ, không thể ngồi chung chiếu với Cộng sản được. Hoàng Cầm được gọi là con “ngựa chiến” trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Ông viết những bài thơ bút chiến vói cán bộ Cộng sản và cùng với người bạn tâm đắc là Trần Dần quyết liệt đòi văn nghệ phải được độc lập với chính trị. Hoàng Cầm có hai câu thơ tiêu biểu nhất được coi như là tuyên ngôn của phong trào :

Dù sợi tóc còn cứa vào nhân phẩm
Tôi còn thét to dù khan tiếng khàn hơi.


(Sách đã dẫn - Nguyện Hưng Quốc)

Ông là kiện tướng kich thơ một thời. Đặc biệt ông viết bài thơ “Em bé lên sáu tuổi”trong thời ky cải cách ruộng đất để tố cáo sự man rợ độc ác tận cùng của Cộng Sản…Ông bị bẻ bút bao vây kinh tế, phải bán rượu lậu bên vĩa hè để mưu sống.

Năm 1980. ông bị bắt giam tù ba năm về tội muốn chuyển tập thơ “Về Kinh Bắc” sang Canada in cho được nhanh chóng ra đời. Công an đến nhà tịch thu tất cả sách vở, bản nháp thơ chưa phổ biến. Tiếp đến là vợ tên Lê Hoàng Yến và con gái cũng đều nghệ sĩ”bị chết tức tưỏi cách nhau không xa ngày, cái chết rất mờ ám không được điều tra nguyên nhân” Ông mất vợ, mất con mất sách, mất thời gian ba năm trong nhà đá. Nhưng có một cái tồn tại lớn nhất đối với ông là THƠ. Thơ ông đã đi vào lòng người và củng như người bạn thơ nào đó, ông cũng đã nhiều lần vịn vào thơ mà đứng dậy.
Image Trở lại bài thơ LÁ DIÊU BÔNG, bài thơ chứa nhiều ẩn dụ, nên có thể được hiểu dưới nhiều góc cạnh khác nhau tùy theo tầm mắt nhận định của mỗi người yêu thơ. Người chị trong Lá Diêu Bông có thể hiểu là lý tưởng mà Hoàng Cầm đeo đuổi suốt cuộc đời, đi đầu non cuối bể, theo tiếng gọi vi vút của hồn quê và chứa chan niềm tim tưởng một ngày mai sáng tươi rực rỡ, tự do – thanh bình – no ấm sẽ trở lại thực sự trên đất Mẹ dấu yêu.

Giáo Sư Hoàng Công Duyên
Úc Châu.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image
Tặng các bạn thích uống cà phê .....

Cafe đen & Cafe sữa
Vào quán uống nước, em luôn gọi café đen. Anh luôn gọi café sữa.
Người ta mang nước ra, luôn luôn nhầm lẫn. Anh café đen. Em café sữa.

Em nhanh tay đổi 2 món. Người bồi bàn đứng ngẩn ra, mặt đầy vẻ thắc mắc. Anh cười trừ. Đợi người ta đi, anh trách: “Sao không để người ta đi rồi em hãy đổi? Làm mất mặt anh quá!!!” Em cười phá lên: “Đằng nào cũng vậy. Đâu có gì mắc cỡ!”.

Em con gái mà lại thích café đen.
Anh con trai nhưng rất thích café sữa.

Em bảo café đen nguyên chất, tuy đắng nhưng uống rồi sẽ mang lại dư vị, mà nếu pha thêm sữa thì sẽ chẳng còn cảm giác café nữa.

Anh bảo café cho thêm tí sữa sẽ đậm mùi café hơn, lại còn cảm giác ngọt ngào của sữa…
Anh và em luôn thế. Khác nhau hoàn toàn.
Anh và em không yêu nhau. Đơn giản chỉ là bạn bè. Mà không, trên bạn bè 1 chút. Gần giống như tình anh em.

Nhưng em không chịu làm em gái anh. Em bảo, em gái có vẻ phụ thuộc vào anh trai, có vẻ yếu đuối, có vẻ… hàng trăm cái “có vẻ” và em không đồng tình.
Anh cũng không muốn anh là anh trai của em. Anh trai suốt ngày phải lo cho em gái, bị nhõng nhẽo, vòi vĩnh đủ thứ. Anh không thể kiên nhẫn.
Lâu lâu em hẹn anh ra ngoài đi uống café. Em café đen, anh café sữa.

Thỉnh thoảng buồn buồn anh lôi em đi vòng vòng, rốt cuộc cũng đến quán nước. Anh café sữa. Em café đen.

Anh có bạn gái. Bạn gái anh xinh xắn, rất dịu dàng, nữ tính. Đi với anh giống như 1 con thỏ non yếu ớt. Anh tự hào bảo, cô ấy không “ba gai”, bướng bỉnh như em.

Em có bạn trai. Bạn trai em đẹp trai, galant, luôn chiều chuộng em. Đi với em, anh ấy không bao giờ khiến em tức chết. Em kiêu hãnh khoe, anh ấy thực sự là chỗ dựa vững chắc.

Hai người thỉnh thoảng gặp nhau. Em vẫn café đen. Anh luôn café sữa.

Bạn trai em nói, anh đổi ly cho em. Em không chịu, café đen là sở thích của em.
Bạn gái anh thắc mắc, anh không uống café đen như những người con trai khác. Anh nhún vai, café sữa hợp khẩu vị với anh.

Trong lúc nói chuyện, thường thường anh và em vẫn cãi nhau. Bạn trai em luôn là người hòa giải. Bạn gái anh dịu dàng nói anh phải biết nhường nhịn con gái.

Cuối cùng anh là anh. Em vẫn là em.

Anh chia tay bạn gái. Cũng có thời gian chông chênh. Nhưng anh không hối tiếc. Anh và cô căn bản không hợp nhau. Dù cô ra sức chiều chuộng anh, nhưng anh vẫn thấy thiếu thiếu cá tính gì đó. Mà cá tính thiếu ấy mới thật sự hấp dẫn anh.

Em chia tay bạn trai. Có một lúc cảm thấy trống vắng. Nhưng em không hối hận. Em và bạn trai không tìm được tiếng nói chung. Dù anh ấy không khiến em bực mình, ít khi gây sự với em. Nhưng em vẫn thấy thiếu thiếu. Mà “thiếu thiếu” ấy làm em chán nản.

Anh và em không hẹn mà gặp nhau ở quán café cũ.

Em gọi café đen.
Anh gọi café sữa.
Người bồi đã quen với 2 người. Anh ta không để nhầm chỗ nữa.

Anh yên lặng. Em cũng không nói. Đợi người bồi đi, anh kéo ly café đen về phía mình, đẩy ly café sữa về phía em.

Hôm đó 2 người uống thử “khẩu vị” của người kia.

Đêm ấy, anh nhắn tin cho em “Café đen hay thật! Anh bắt đầu thấy thích nó!”

Em nhắn tin lại cho anh “Café thêm sữa cũng rất tuyệt vời. Em sẽ uống café sữa…”

Sau đó em và anh luôn đi cùng nhau, bất luận ở đâu, em cũng luôn gọi café sữa cho em và không quên gọi café đen cho anh…

Café đen hay café sữa đều là café, phải không? Tình yêu đắng hay tình yêu ngọt đều là tình yêu… chẳng phải sao???

Tình bạn Tình yêu
Image

Giọt Cà Phê

Nhạc & Lời : Phú Quang
Tiếng hát : Bảo Yến



Từng giọt cà phê rơi
Đau lòng anh từng giọt
Mắt em màu mật ngọt
Tóc em màu cà phê

Từng giọt cà phê rơi
Trong lòng anh muộn phiền
Khẽ rơi từng kỷ niệm
Vào câu hát bồng bềnh

Tình yêu rồi sẽ qua
Với những chiều băng giá
Lòng anh chợt xót xa
Trái tim thành viên đá

Muốn hòa tan tất cả
Trong ly cà phê đen
Muốn hòa tan tất cả
Trong ly cà phê đen

Post Reply