Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tấm gương hy sinh của người Nhật

Trần Bình Nam

Hôm 4 tháng 7, nhân ngày lễ Ðộc Lập của Hoa Kỳ, ký giả John M. Glionna viết cho nhật báo Los Angeles Times,
tờ báo lớn thứ ba tại Hoa Kỳ tường thuật từ Tokyo một sáng kiến độc đáo của hai ông già Nhật Bản liên quan đến vụ động đất ngày 11/3,
và sự hư hỏng lò điện nguyên tử Fukushima làm rò rỉ bụi phóng xạ đang đe dọa sức khỏe của nhân dân Nhật.

Image
Nhà máy điện nguyên tử Chubu Electric Power tại Omaezaki bị đóng cửa sau trận động đất ở Nhật Bản. Hình chụp tháng 5.
(Hình: Katsumi Kasahara/AFP/Getty Images)
Thế giới đã chứng kiến sự nhẫn nhục, kỷ luật và sự chịu đựng vô bờ của công dân Nhật trước thảm họa này. Và nay -theo tường thuật của ký giả Glionna- là một tấm gương hy sinh khác.

Hai chuyên viên khoa học, ông Nobuhiro Shiotani, hóa học gia và Yasuteru Yamada, vật lý học gia năm nay đều 72 tuổi đã nghỉ hưu có sáng kiến cần phải làm một cái gì với tuổi già còn lại để giúp cho các chuyên viên và kỹ sư trẻ tuổi đang được sử dụng để sửa chữa trung tâm điện nguyên tử Fukushima.

Hai ông Shiotani và Yamada lập luận rằng các chuyên viên trẻ tuổi làm việc tại trung tâm nguyên tử hiện nay có xác suất cao sẽ bị ung thư. Tế bào người trẻ tuổi phát triển nhanh nên tác hại của bệnh ung thư sẽ rất to lớn ảnh hưởng đến thế hệ mai sau. Người già, trái lại, tế bào phát triển chậm nên ung thư vì phóng xạ sẽ phát triển chậm hơn và có nhiều cơ may sẽ chết bởi nguyên nhân tuổi tác hay bệnh tật khác trước khi bị giết bởi phóng xạ.

Do đó hai ông đưa ra kế hoạch lập một hội chuyên viên tự nguyện gọi là “Ðội Ngũ Chuyên Gia Hồi Hưu” (Skilled Veterans Corp.) vào làm việc trong khu phóng xạ thay cho các chuyên viên trẻ tuổi.

Cách đây 3 tháng, hai ông dùng điện thoại, e-mail và thư tay kêu gọi bạn bè tham gia. Trong số 2,500 người được tiếp xúc có 400 người tuổi từ 78 đến 60, gồm nam chuyên viên và phụ nữ đủ ngành nghề, trong đó có một ca sĩ, một người nấu bếp, và một tài xế xe tải đáp ứng.

Trước kế hoạch này dân chúng Nhật phản ứng khác nhau. Có người cho là anh hùng, nhưng cũng có kẻ gọi các ông già là “già gân” và “Ðội Ngũ Chuyên Gia Hồi Hưu” chẳng khác gì một “Ðội Quân Cảm Tử”.

Một số người có óc thực tế nói công ty điện nguyên tử Tokyo Electric Power Co. (Tepco) xây dựng lò điện không đúng tiêu chuẩn nên phải nhận trách nhiệm chính. Tuy nhiên “Ðội Ngũ Chuyên Gia Hồi Hưu” nói rằng các kỹ sư của công ty Tepco cũng là người Nhật và tại sao lại phung phí tài nguyên trẻ tuổi của quốc gia.

Bà Kazuko Sasaki 69 tuổi nói khi bà và chồng cho con trai biết ý định tình nguyện, con trai bà nói “tùy ý bố mẹ thôi”. Một người bạn thân khác của bà Sasaki nói với bà rằng bà chưa biết gì về sự đau đớn hành hạ cơ thể của bệnh ung thư, thì bà Sasaki nói, biết hay không biết cũng thế thôi. Có tình nguyện hay không tôi cũng có thể bị ung thư vậy.

Trong quá trình làm việc hồi trung niên trẻ trong thập niên 1960 và 1970 hai ông Yamada và Shiotani không dính líu gì đến công trình xây cất trung tâm điện nguyên tử Fukushima, nhưng vẫn cảm thấy có trách nhiệm vì sự sơ suất của thế hệ chuyên viên đồng thời. Và dù sao thế hệ của ông đã hưởng kết quả của điện nguyên tử nào là nhà cửa được sưởi ấm, đường sá được soi sáng, tàu điện được vận hành... Thế hệ của ông cũng là thế hệ từng lên tiếng ca ngợi sự mầu nhiệm của điện nguyên tử và đồng ý rằng điện nguyên tử là tương lai của nước Nhật nếu không muốn nói là tương lai của nhân loại.

Ông Shiotani khẳng định: “Lò điện nguyên tử là sản phẩm của thế hệ chúng tôi. Nếu có ‘xả rác’ thì chúng tôi có nhiệm vụ dọn dẹp cho giới trẻ”. Trên trang Web của “Ðội Ngũ Chuyên Gia Hồi Hưu” hai ông Yamada và Shiotani viết: “Những ai từng ca ngợi sự an toàn tuyệt đối của các lò điện nguyên tử phải là những ngươi đầu tiên xung phong vào hội. Ðó là nhiệm vụ của chúng ta đối với thế hệ trẻ hôm nay và các thế hệ mai sau.”

“Ðội Ngũ Chuyên Gia Hồi Hưu” đang xin phép chính quyền vào trung tâm nghiên cứu để xem họ có thể giúp được những gì. Chính phủ đang trao đổi với giới chức công ty Tepco và hứa dành mọi dễ dãi. Tuy nhiên theo lời ký giả Glionna chưa chắc chính phủ Nhật sẽ chấp thuận. Ông Yamada cam kết với chính quyền hành động của ông không phải để lấy tiếng. Ông nói thế hệ người già trên 60 tuổi tại Nhật chiếm 25% dân số. Nếu không làm gì hữu ích thì thật là một sự phí phạm nhân lực quốc gia. Còn gì tốt hơn là hy sinh cho giới trẻ.

Hội “Ðội Ngũ Chuyên Gia Hồi Hưu” được một số đông đảo đồng bào thông cảm cho rằng các thành viên của hội “Ðội Ngũ Chuyên Gia Hồi Hưu” đã triển khai một nghệ thuật sống khi về già.

Những bạn học với ông Shiotani, trong đó có giáo sư hồi hưu Theodore Rowland tại đại học Urbana-Champagne ở tiểu bang Illinois cho rằng hành động của bạn ông biểu lộ một tình yêu nước sâu sắc.

Giáo sư Rowland nói: “Tôi không nghĩ ai trên 80 tuổi cũng còn minh mẫn và sắc bén để làm việc. Nhưng một số khoa học gia trên 80 tuổi vẫn còn khả năng đóng góp ý kiến và kinh nghiệm cho giới trẻ nếu được tham khảo.”

Không phải ai cũng lạc quan như giáo sư Rowland. Ông Shiotani thuật lại rằng khi ông hỏi ý kiến mẹ ông năm nay 97 tuổi bà nghĩ gì về ý định của ông thì Mẹ ông im lặng ngoảnh mặt kéo lê đôi nạn đi nơi khác để che giấu hai giọt nước mắt tràn trên đôi mi nhăn nheo của bà. Ông biết mẹ ông đang đấu tranh giữa tình thương con và tình yêu tổ quốc.

Có vài bất đồng ý kiến giữa các thành viên của “Ðội Ngũ Chuyên Gia Hồi Hưu”. Nhiều thành viên không muốn phụ nữ gia nhập hội, ngại rằng các bà thể chất yếu đuối sẽ không giúp được gì nếu không muốn nói làm cản trở công việc của các ông. Họ cũng không muốn nhận hội viên từng sống sót vì bệnh ung thư.

Tuy nhiên bà Sasuko Sasaki 69 tuổi vẫn muốn tham gia chương trình. Bà nói: “Tôi đâu có yếu đuối. Và đâu phải tôi không sợ chết. Tôi chỉ muốn chết một cách có ý nghĩa thôi.”

Một số người Nhật nghĩ rằng chương trình này sẽ không được chính phủ cho phép trước dư luận và sức ép của giới chuyên viên trẻ tuổi dù chính phủ hứa xét một cách thuận lợi. Người trẻ nghĩ các vị cao niên đã đóng góp cho đất nước đáng được nghỉ ngơi. Lúc này là phiên của họ.

Hơn nữa người Nhật không có thói trả lời “không” một cách dứt khoát. Ngay cả khi bất bình người Nhật cũng gật gật đầu như đồng ý!

Trần Bình Nam

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Xả stress

Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức


Tiền nhân ta vẫn nói: “Ðời là bể khổ.”

Khổ là hoàn cảnh trong đó con người chịu nhiều khó khăn thiếu thốn về vật chất hoặc bị dày vò bất an về tinh thần. Như vậy thì “khổ” cũng là một trong những cái stress mà con người phải sống với. Nếu stress cứ liên tục tái diễn hoặc kéo dài sẽ đưa tới nhiều ảnh hưởng bất lợi cho sức khỏe.

Hậu quả của stress

-Trí óc sẽ bị tổn thương vì ảnh hưởng của quá nhiều các loại hormon glucocorticoid sản xuất từ nang thượng thận. Khả năng nhận xét giảm, trí nhớ rối loạn, tính tình cau có, dễ giận dữ, tâm trạng mệt mỏi, cơ thể suy nhược, có thể rơi vào vòng trầm cảm, lo lắng, hay khóc, mất ngủ, giảm khả năng làm việc, lạm dụng rượu, thuốc cấm.

-Hoạt động tim mạch rối loạn. Hormon do stress khiến cho nhịp tim nhanh, mạch máu co hẹp, huyết áp và nhịp tim thường trực lên cao khiến cho tim mệt mỏi, tính đàn hồi của mạch máu giảm đưa tới bệnh tim mạch, máu cục rồi một ngày nào đó có thể bị tai biến não.

-Stress khiến cho tình trạng bệnh hen suyễn, nghẹt phế quản trở nên trầm trọng hơn

-Tiêu hóa rối loạn, dạ dày không có đủ máu nuôi dưỡng, niêm mạc bao tử tổn thương, đưa nôn ói, khó tiêu, đau bụng, tiêu chảy, trào ngược thực quản, giảm cân rồi loét dạ dày, viêm ruột già.

-Hệ miễn dịch suy yếu, sức đề kháng với các bệnh nhiễm giảm, dễ nhiễm trùng, cảm cúm.

-Stress khiến cơ thể mập hơn vì chất béo được huy động để tăng năng lượng. Chúng sẽ tập trung nhiều hơn ở vùng bụng, vùng mông, mặc dù các vùng khác vẫn mỏng manh.

-Cơ bắp căng đau nhất là ở vùng lưng, cổ, bả vai, da đầu.

-Da khô, vẩy nến, viêm, trứng cá, lở môi, lở miệng.

-Tóc rụng nhưng may mắn là hết stress thì tóc mọc lại.

-Người bị stress, đêm nằm ngủ thường hay nghiến răng sẽ đưa tới đau nhức khớp xương hàm, không chăm sóc răng lợi chu đáo, sâu răng.

Trong trường hợp trầm trọng, nạn nhân của stress có thể rơi vào một tâm bệnh gọi là Hội Chứng Hậu Chấn Thương (Post Traumatic Stress Syndrome). Bệnh nhân sẽ sống trong tâm trạng bất ổn, có những ác mộng, những hồi tưởng lại kinh nghiệm đau thương trong quá khứ, sức khỏe tổng quát suy giảm.


Ðối phó với stress

Sống không có stress là điều khó có thể thực hiện được, nhất là trong hoàn cảnh xã hội có nhiều biến đổi, kinh tế khó khăn, đạo đức xuống dốc như hiện nay. Làm sao để đối phó với stress mới là điều cần thiết. Mỗi người có những phương cách riêng để giải quyết khó khăn của mình.

Sau đây là một vài gợi ý:

1. Tìm hiểu nguồn gốc của stress. Có thể là do gập ghềnh trong giao tế nhân sự, khó khăn trong công việc làm ăn, thất thoát tài chánh, suy yếu sức khỏe, gia đạo bất an... Biết để tìm cách xả stress.

2. Sắp đặt lại công việc hàng ngày, theo thứ tự ưu tiên, quan trọng.

3. Ðặt giới hạn cho các tham gia, cam kết với các sinh hoạt trong đời sống, tránh ôm đồm quá sức. Ðừng cố quá để rồi thành “quá cố.”

4. Ðừng coi thường sức khỏe, lắng nghe tiếng cầu cứu của một cơ thể bị lạm dụng lao động quá mức.

5. Cân bằng đời sống, chia thì giờ cho việc làm, ăn uống, ngủ nghỉ.

6. Năng vận động cơ thể. Ðang căng thẳng mà làm mươi phút đi bộ, bơi lội, hít thở thì stress cũng giảm cường độ khá nhiều.

7. Dành thì giờ để giải trí với gia đình bạn bè.

8. Áp dụng các phương pháp đối phó với stress như thư giãn thiền định, hít thở sâu, xoa bóp; tạm rời công việc để “xả xú báp” và “tái nạp bình điện”;

9. Tâm sự chia sẻ khó khăn của mình với người đáng tin cậy để nhờ góp ý.

10. Duy trì một tâm trạng hài hước. Cười là 10 thang thuốc bổ.

11. Ðề cao cảnh giác, nhận diện và chú ý tới các dấu hiệu báo động sự xuất hiện của stress và sẵn sàng giải quyết.

12. Ghi nhớ các hoàn cảnh stress xảy ra, ở đâu, vào thời điểm nào, tại sao xảy ra. Biết để tránh.

13. Tránh những stress nào có thể tránh được.

14. Giải quyết stress với các khả năng hiện có. Với những stress bướng bỉnh, không giải quyết được thì để một bên, giải quyết sau.

Kết luận

Xin ghi nhớ là những cảm giác không vui như sợ hãi, lo âu, giận dữ, bực tức phát xuất từ phản ứng của ta mà ra chứ không phải từ stress. Nếu ta kiểm soát được các phản ứng này là ta đã tạo được một tâm trạng bình an, thoải mái trong đời sống.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Cái đầu gà

Huy Phương
Tôi rất thích mấy lời hát sau đây của nhạc sĩ Trần Quang Lộc:“...Về đây nghe em, về đây nghe em- Về đây cùng khóc trên sông nước buồn- Chở lòng người trở về quê hương- Chở hồn mình vào dòng suối mát- Chở thật thà vào lòng dối trá...” Nhưng tôi cũng vừa bật cười vừa xót xa khi đọc câu chuyện sau đây xẩy ra trên quê hương: “Trong khi chuyến tàu dừng lại ga, một bà hành khách trên tàu đang trả giá mua một con gà luộc của một em bé bán hàng dưới sân ga. Cuộc ngã giá chưa xong thì tàu lại bắt đầu chuyển bánh. Cuối cùng cũng thuận mua vừa bán, khách trả tiền xong, em bé chạy theo con tàu, vội vã đưa con gà lên cho khách. Khách cầm lấy đầu con gà kéo lên, nhưng... tàu đã chạy nhanh, trong tay bà khách chỉ còn cái đầu gà, còn thân gà ở lại trên sân ga trong tay con bé bán hàng. Người đàn bà bị lừa giận dữ, chỉ còn cách kêu lên:“Tổ mẹ nó!”

Người khách ấy chửi con bé mới nứt mắt ra đã biết đi lừa thiên hạ, mấy tiếng “tổ mẹ nó” như còn âm vang trong tai của tôi, một người bàng quang không dính líu gì tới chuyện cái đầu gà, mà vẫn thấy đau. Nếu đây là một câu chửi của một du khách ngoại quốc đến du lịch Việt Nam thì câu chửi đó dành cả cho dân tộc này, nhưng đây là câu chửi của một người đàn bà bình thường đi lại trên con đường Bắc Nam, thì hẳn lời chửi này dành cho chế độ đương thời. Cái gia đình sống nhờ vào hành khách của những chuyến tàu xuyên Việt này được một ngày vui vì một con gà luộc bán được hai lần. Chuyện này cũng có thể lặp lại nhiều lần trên sân ga này mà không bị phát hiện, vì trong hàng trăm nghìn hành khách, sẽ không có ai bị lừa hai lần vì một lối lừa cũ. Người ta có thể vịn vào cái lý do nghèo, đói để gian dối, lừa bịp người khác như thế không?

Trong chế độ Cộng Sản, phải dối trá mới mong sống còn, báo cáo láo, thành tích láo, lường gạt con người, điều có thì phát ngôn viên chính phủ nói là không, điều không thì chủ tịch nước cũng có thể nói là có. Hiến pháp CSVN cũng có ghi nhận những quyền con người như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do biểu tình, tự do tôn giáo, nhưng lại có các luật lệ khác ban hành để hủy bỏ, kìm kẹp các quyền ấy. Sự dối trá của đảng cầm quyền bắt người dân phải dối trá theo. Con nít tập nói dối. Cán bộ cao cấp mang bằng cấp giả. Khẩu hiệu “mình sống vì mọi người” đổi thành “mình phải lừa dối mọi người” để sinh tồn. Năm 2008, Saigon mở cuộc thi “nói dối” cho học sinh với đề tài “Tìm hiểu tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, có 2,4 triệu bài trắc nghiệm và 80 ngàn bài viết dự thi, có nghĩa là hơn hai triệu em học sinh nhắm mắt khen bừa Hồ Chí Minh để được thành tích học tập, trong khi chúng ta biết Hồ Chí Minh chẳng đạo đức, lại là tay nói dối lừa bịp có hạng. Xin các bạn đọc kỹ câu này:''…Ðáp lại tình cảm mong muốn của đồng bào và bạn bè trên thế giới, Hồ Chủ Tịch với bút danh Trần Dân Tiên đã viết tác phẩm Những Mẩu Chuyện Về Ðời Hoạt Ðộng Của Hồ Chủ Tịch…''. ("Những Tác Phẩm Văn Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh - Hà Minh Ðức). Dối trá mà công khai, dối trá mà còn biện bạch bất chính, không hề biết ngượng.

Tin vào lời xúi dại của Đảng, năm 1956, tại một Đại hội MTTQ, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đọc một bài diễn văn ngay thẳng, đả phá những sai lầm của chuyện cải cách ruộng đất và đề nghị những phương thức sửa sai. Ông mất chức giáo sư Đại học, về vườn, bị trù dập cho đến chết, và ông đã viết: "Sự dã man quỷ quyệt mánh lới và sự bất nhân khéo che đậy của họ chưa hề thấy trong lịch sử loài người" (Kẻ Bị Khai Trừ). Bao nhiêu nhà văn, nghệ sĩ dưới chế độ Cộng Sản đã hèn, chỉ biết nói dối để sống còn, để có cơm ăn, vì nói thật thì chỉ có chết, không những chết một mình mà chết đến ba đời, không thua gì chuyện “tru di tam tộc” ngày xưa, vậy thì vì sao phải nói thật? Năm 1958, nghe theo lời đường mật, nói thật, nói hết, không bẻ cong ngòi bút, Toà án Nhân dân Hà Nội quy án, chụp mũ “gián điệp” cho Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, nhóm Nhân Văn Gia Phẩm với bản án 15 năm tù, và báo chí “hồ hởi” loan tin: “Năm tên gián điệp, phản cách mạng, phá hoại hiện hành cúi đầu nhận tội, Nguyễn Hữu Đang và Thụy An, đầu sỏ chủ mưu, bị phạt giam 15 năm và mất quyền công dân 5 năm sau khi hết hạn giam”.

Trương Như Tảng đã kể kinh nghiệm của ông về phương sách của các tầng lớp lãnh đạo cộng sản cai trị:“Người cộng sản là chuyên gia về nghệ thuật chiêu dụ và có thể làm bất cứ cách nào để dụ bạn về phe họ một khi họ chưa nắm được chính quyền. Nhưng một khi đã nắm được quyền lực lập tức họ trở thành sắt máu và tàn nhẫn”. Ông tóm tắt tình hình tại Việt Nam hiện nay, “Gia đình ly tán, đạo đức suy đồi, xã hội phân ly, ngay cả đảng cũng chia rẽ”. Bây giờ nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng cộng sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ. Trên thực tế, họ đã phản bội nhân dân Việt Nam và làm thất vọng các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới. (Đoàn Văn Toại 2/15/2009)

Ngày nay, chính Trần Quốc Thuận, Văn phòng Quốc Hội CSVN, người của chế độ, đã phát biểu: “Những cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống. Nói dối hằng ngày nên thành thói quen. Thói quen đó lặp lại nhiều lần thành "đạo đức", mà cái "đạo đức" đó là rất mất đạo đức”.

Một thế hệ gian dối, lừa đảo, bạo tàn rồi sẽ qua đi, cho những mầm non lớn lên, trong sáng, nhưng với những đứa trẻ con lang thang ngoài chợ đời, học cách mưu sinh, kiếm tiền bằng kiểu lưu manh, cướp giật như thế thì còn gì để “tổ quốc mong cho mai sau!” Chỉ tiếc là ngày nay dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam, sự dối trá đã đi vào học đường, thì lấy gì hy vọng cho tương lai đất nước khá hơn. Chính Hội Đồng GMVN đã có ý kiến đặc biệt trong lãnh vực giáo dục:"Ngày nay, một trong những điều gây nhức nhối lương tâm là sự gian dối trong nhiều lãnh vực, kể cả trong môi trường cần đến sự thật nhiều nhất là giáo dục học đường."

Một người dân đã viết thư than với Bộ Trưởng Giáo Dục rằng:"Làm sao yên lòng khi cháu tôi về kể lại rằng trước khi vào tiết thao giảng, cô giáo của cháu dặn tất cả học sinh đều phải giơ tay phát biểu khi cô hỏi, nhưng em nào biết thì đưa tay thẳng, em nào không biết thì đưa tay hơi cong cong để cô biết chừng.”(để cho thanh tra thấy rằng cô dạy giỏi, các em đều hiểu bài- Tuổi Trẻ 30/6/2006.)
Tôi cũng muốn cùng Nguyễn Quang Lộc “Chở hồn mình vào dòng suối mát- Chở thật thà vào lòng dối trá...” mà sao như vẫn còn nghe lùng bùng trong tai mấy tiếng chửi “Tổ mẹ nó!”Nhưng mà nghĩ lại, lên án đảng Cộng Sản đã lừa cả dân tộc Việt Nam, lên án chi con bé tội nghiệp chỉ lừa khách qua đường có mỗi cái đầu gà luộc. “Cách mạng” thành công, đổ bao nhiêu xương máu của người dân vô tội, chiếm được chính quyền rồi, đảng Cộng Sản cho nhân dân mút cái đầu gà, còn đùi cánh, lòng lườn, phao câu béo bở dành cho bọn băng đảng cầm quyền.
“Tổ mẹ nó!” Tôi muốn kêu lên thật lớn. Tiếng chửi này, như tôi đã thưa trước, của bà khách bị con nhỏ lừa, trả tiền nguyên một con gà mà chỉ nhận được một cái đầu gà, chứ không phải của tôi.
Bà khách đi tàu “một lần mà tởn đến già” chắc chắn sẽ không bao giờ bị lừa đến lần thứ hai, nhưng coi bộ dân tộc này, bị Cộng Sản lừa đã nhiều lần mà còn bị lừa thêm dài dài nhiều lần nữa.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Để giết một người Mỹ!

Đồng Ngọc Khanh dịch

Bạn có thể bỏ qua mẩu tin này trong hàng đống tin tức hàng ngày, nhưng hiện nay có báo cáo cho biết một người nào đó ở Pakistan đã đăng quảng cáo trên báo chí là sẽ trao một giải thưởng cho bất cứ người nào giết được một người Mỹ, bất kỳ người Mỹ nào cũng được.Vì thế nha sĩ người Úc này ngay ngày hôm sau đã viết một bản thông báo cho mọi người hiểu tường tận người Mỹ là ai, người Mỹ là thế nào, để mọi người có thể nhận diện khi gặp một người Mỹ!

Một người Mỹ có thể là một người Anh, hoặc người Pháp, người Ý, người Ái Nhĩ Lan, người Đức, người Tây Ban Nha, người Ba Lan, người Nga hoặc người Hy Lạp.

Một người Mỹ cũng có thể là một người Canada, người Mễ Tây Cơ, người từ Châu Phi, người Ấn Độ, người Trung Quốc, người Nhật, người Việt Nam, người Hàn Quốc, người H’ Mông, người Khmer, người Thái Lan, người Úc, người Mã Lai, người Iran, người Trung Đông, người Ả Rập, người Pakistan hoặc người Afghanistan.Một người Mỹ còn có thể là người Comanche, người Cherokee, người Osage, người Blackfoot, người Navaho, người Apache, người Seminole hoặc là con dân của một trong những bộ tộc thổ dân da đỏ bản địa Mỹ trước kia.

Người Mỹ có thể theo đạo Thiên Chúa giáo, đạo Tin Lành, Do Thái giáo, đạo Phật, đạo Hồi.
Sự thật là số người theo đạo Hồi ở Mỹ đông hơn là ở Afghanistan.Sự khác biệt duy nhất là ở Mỹ, người ta có thể tự do sùng bái một tín ngưỡng nào đó mà họ đã lựa chọn.

Người Mỹ cũng có thể là một người được quyền tự do không tin vào bất kỳ tín ngưỡng nào.Chính vì thế mà họ sẽ chỉ phải trả lời trước Thượng Đế, chứ không phải là trước nhà cầm quyền hoặc trước một nhóm vũ trang nào đó tự phong cho mình cái quyền phát ngôn thay cho nhà cầm quyền hay Thượng Đế.Người Mỹ sống trong một đất nước trù phú nhất thế giới.

Cội nguồn của sự trù phú này là ở Tuyên ngôn Độc Lập của họ, thừa nhận rằng Thượng Đế đã ban cho mỗi người cái quyền được tự do mưu cầu hạnh phúc.

Người Mỹ rất độ lượng.Người Mỹ đã chìa tay ra để giúp đỡ tất cả những dân tộc nào cần đến mình trên thế giới, mà chưa bao giờ đòi hỏi được trả ơn.Khi đất nước Afghanistan bị xâm chiếm bởi quân đội Soviet 20 năm trước đây, người Mỹ đã đến cùng với vũ khí và tiếp liệu giúp cho người dân xứ này đứng lên giành lại đất nước!Trước ngày 11 tháng 9 định mệnh ấy, Người Mỹ đã viện trợ cho dân nghèo Afghanistan với số lượng nhiều hơn bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới.
Image
Biểu tượng quốc gia của Mỹ.

Tượng Nữ Thần Tự Do chào mừng những người đói nghèo và kiệt sức, những người đã bị chính quê hương mình từ chối, những kẻ vô gia cư, những người bị dập vùi sau cơn bão tố!

Thế rồi, sau đó chính họ là những người đã xây dựng nên nước Mỹ của ngày hôm nay!Một số người trong số họ đang làm việc tại Tòa Tháp đôi vào buổi sáng 11 tháng 9 năm 2001, phấn đấu làm sao có được một mức sống tốt hơn cho gia đình của mình!

Thống kê cho thấy các nạn nhân ở tòa Tháp Đôi hôm ấy đã đến từ ít nhất 30 quốc gia, nền văn hóa, và ngôn ngữ ban đầu khác nhau, kể cả những kẻ trước kia đã từng giúp đỡ và ủng hộ các tên khủng bố.Vậy bạn hãy cố gắng giết một người Mỹ nếu bạn thực sự phải làm như thế!Hitler đã giết!Tướng Tojo của phát xít Nhật cũng đã giết!Stalin, Mao Tse-Tung, cùng các tên bạo chúa khát máu khác trên thế giới cũng đã giết !...Nhưng khi giết hại người Mỹ như vậy tức là bạn đã tự giết hại chính mình!Vì người Mỹ không phải là một người đặc biệt ở một nơi đặc biệt nào đó trên trái đất này. Họ là hiện thân cho tinh thần tự do của loài người!Tất cả những người cùng đề cao tinh thần tự do ấy, cho dù họ ở bất cứ nơi đâu trên thế giới này thì cũng được xem như là một người Mỹ!

Hãy để thông điệp này bay đi!Xin hãy để nó bay đi khắp thế giới!
Hãy giúp nó luân chuyển giữa tất cả các bạn bè của chúng ta.Nó sẽ nói lên tất cả, nói tiếng nói tự do chung cho tất cả chúng ta!

Xin đừng xóa mà hãy gửi nó đi!

Xin cảm ơn tất cả các bạn!

Dồng Ngọc Khanh biên dịch
(Lá thư này được viết bởi một nha sĩ người Úc. Biên dịch theo bản gốc tiếng Anh)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Trà , Rượu , Đàn Bà

Trong đời sống con người, nhất là nam giới thường mắc phải vài thói hư tật xấu. Tứ đổ tường thường dính phải một, hai. Có nhiều người còn tự hào về những thói hư tật xấu của mình.

Xin đọc câu chuyện vui sau đây:“Một người đàn ông đi làm việc về thấy một gã lạ mặt, quần áo rách rưới đứng trước sân nhà, liền hỏi:- Ông là ai mà đứng trước nhà tôi?

Gã lạ mặt trả lời:- Thưa ông, tôi lỡ đường, lại đói quá, xin ông vui lòng giúp tôi ít tiền để tôi có được buổi ăn chiều.Người đàn ông từ chối:

- Tôi có thể giúp anh nhưng tôi biết cho anh tiền anh sẽ đi uống rượu hoặc đánh bạc.

Gã lạ trả lời:

- Tôi thề với ông, đời tôi chẳng biết tứ đổ tường là gì, thì khi nào tôi lại đi uống rượu hay đánh bạc.

Mắt người đàn ông sáng lên, vui vẻ nói:

- Vậy thì mời anh bước vào nhà uống miếng nước rồi tôi giúp anh chút tiền ăn cơm chiều

Gã lạ mặt ngạc nhiên:

- Sao lại phải bước vào nhà, áo quần tôi rách rưới, dơ bẩn.

Người đàn ông nói:

- Tôi chỉ muốn vợ tôi nhìn thấy một người không có thói hư tật xấu nó như thế nào. Vậy thôi!

Như ông Tú Vị Xuyên:

“Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ. Rượu chè, trai gái đủ tam khoanh.”

Thế mà ông Tú chẳng ngại miệng đời, ngông nghênh làm thơ nói ra cho thiên hạ biết đời người có tứ khoái: Ăn, ngủ, ấy, ể.

Những cái khoái của ông Tú là:
“Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được thứ nào hay thứ nấy
Hoạ chăng chừa rượu với chừa trà.”

Vậy ta hãy tán gẫu về những thứ mà ông Tú là Vị Xuyên vướng phải cho vui:


1- MỘT TRÀ:

Chẳng được bao lâu. Một lần sau buổi cơm chiều, bà vợ đang rửa chén sau nhà thì nghe chồng gọi: “Bà nó ơi! Vào xơi chè với tôi.”

Trà là thức uống thanh nhã của người Á đông. Trà, tiếng miền Bắc gọi là chè.

Có cặp vợ chồng, chồng Bắc, vợ Nam , cưới nhau

Bà vợ ngạc nhiên la lên: “Mới ăn cơm xong no muốn chết, bụng dạ đâu ăn chè cho nổi.” Ba miền Bắc, Trung , Nam có nhiều tiếng khiến dân ba miền hiểu lầm nhau. Có lần người viết bài nầy đến thăm cô bạn gái người Huế, thuộc dạng hoàng tộc, cũng là người trong giới cầm bút. Vừa mở cổng, có hai con chó chạy ào ra sủa toáng lên làm tôi sợ hãi. Lúc đó, người bạn từ trong nhà chạy ra vừa xua đuổi hai con chó vừa trấn an tôi: “Không răng mô! Không răng mô!” Tôi vừa sợ vừa giận, nói lớn: “Chó nhà em răng chơm chởm thế kia, sao bảo không răng?”

Trở lại chuyện uống trà. Uống trà tinh thần sảng khoái, quên cả mệt nhọc.Trong trà có chất thebaine, giống như chất cafeine có tác dụng giúp cho tỉnh ngủ. Thuở xưa các dân du mục bên Tàu, mỗi lần đi săn hay chinh chiến về, thấy loài ngựa mệt nhọc, thường hay tìm một thứ lá cây để ăn. Ăn xong loài ngựa như khoẻ ra. Loài người thấy vậy bèn lấy lá nấu nước, uống thử, thấy nước có vị hơi đắng và chát nhưng hậu ngọt. Uống vào một lát sau thấy người khoẻ khoắn. Từ đó người ta tìm ra được một thức uống mới và mỗi ngày một cố gắng cải tiến để trà uống được ngon hơn.

Trà uống có nhiều cách. Có người tính tình giản dị, đun nước cho sôi, bỏ trà vào bình rồi châm nước vào đợi một lúc cho ra trà, rót vào chén lớn uống ừng ực đến đã thì thôi. Uống như vậy gọi là “ngưu ẩm.”

Có nhiều người cách uống cầu kỳ. Họ không nấu trà bằng nước mưa mà bằng nước giếng khơi ở trên núi hoặc bằng nước suối. Các cụ bảo: “Tuyền dĩ trà vi hữu.” Suối là bạn của trà. Còn nước giếng thì phải trong, ngọt và không có phèn.

Bậc vua chúa uống trà còn cầu kỳ hơn nữa. Mỗi sáng các cung phi ra vườn, hứng những giọt sương đêm đọng trên lá sen rồi đem đước đun sôi trên cái lò than nhỏ. Than phải đốt đến lúc đỏ rực để không còn khói mới bắc ấm nước lên. Nước sôi, châm nước vào cái bình bằng đất nung màu đồng vỏ cua để tráng ấm. Rồi mới châm nước vào trà. Nước đầu tiên cốt để rửa trà cho sạch, gọi là nước Khất Cái. Kế đó châm nước lần thứ hai, đậy nắp bình lại giữ nóng cho ra trà. Nước nầy gọi là nước Hoàng đế. Xong đổ ra chén tống rồi chuyển sang chén quân, mới uống.

Loại bình trà tốt có màu như gan gà. Thứ nhứt Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội thứ ba Mạnh Thần.

Uống trà phải uống thong thả để tận hưởng hương vị trà. Nhiều người chỉ uống một mình vào buổi sáng tinh mơ, vừa uống vừa suy nghĩ chuyện đời.

Uống như vậy gọi là độc ẩm. Nếu có thêm một tri kỷ ngồi uống với mình gọi là đối ẩm.

Trà có nhiều loại không sao biết hết. Loại trà Bạch Mao Hầu, trà Thiết Quan Âm, trà Trảm M. thường thấy ở Việt Nam . Vùng Thái Hồ, huyện Bích La bên Tàu có trà Bích La Xuân nước trà màu xanh biếc, rất thơm có vị đắng nhưng hậu ngọt. Vùng Vân Nam có thứ sơn trà danh tiếng được mệnh danh là Điền Trà, màu vàng sậm. đắt tiền nhất là trà Mạn Đà. Trà nầy chỉ có bậc vua chúa hoặc rất giàu có mới dùng nổi. Ngoài ra còn trà Mạn Nguyệt, trà Hồng Trang Tố Lữ, trà Thập Bát Học Sĩ có mười tám bông màu sắc đều khác nhau. Trà Phong Trấn Tam Hiệp có ba bông. Trà Nhị Kiều có hai bông và còn nhiều nữa.

Người Tàu và người Việt Nam , không ai không biết uống trà. Miếng trà đậm đà câu chuyện. Có lẽ vì vậy, mỗi lần khách đến, chủ nhà vội vàng nấu nước pha trà ngay. Có một ông khách đến thăm ngay lúc nhà bà bạn đang sửa ống nước. Ống nước chính dẫn vào nhà bị khoá. Trong nhà không còn nước để nấu trà. Bà chủ hoảng quá, chạy vội vào phòng tắm vét hết số nước còn lại trong một cái xô” đem nấu trà đãi khách. Khi khách uống, bỗng thấy ở cổ vương vướng một vật gì, cố gắng khạc ra thì là một sợi lông. Ông khách là người thiếu tế nhị, đưa sợi lông ra hỏi: “Sao trong trà lại có lông?” Bà chủ nhà đỏ mặt, ấp úng đáp: “Thưa, đó là trà Ô Long.” Ông khách thầm nghĩ Ô Long là con rồng đen đâu phải sợi lông đen nhưng ông khách im lặng. Lúc ra về ông ghé qua khắp các tiệm trà trong phố, hỏi xem thì không có loại trà nào là Ô Lông cả..

Còn một thứ trà rất rẻ tiền, người nghèo cũng có thể uống được. Hương trà rất thơm ngon, tên là trà Thái Đức. Uống vào thức đái suốt đêm.

II- MỘT RƯỢU:

Rượu chữ nho gọi là tửu. “ Nam vô tửu như kỳ vô phong.” Cờ không gặp gió, lá cờ rũ xuống, xem chẳng oai hùng chút nào đàn ông thiếu rượu, giống như lá cờ rũ, kim đồng hồ thường chỉ sáu giờ, trông phát nản.

Rượu cất bằng gạo nếp, nấu xong, dùng men ủ, vài ngày sau mới đem ra cất. Rượu ngon hay dở còn tuỳ vào bí quyết và kinh nghiệm nấu. Rượu là lộc Trời cho.

Bậc vua chúa ngày xưa, đã biết dùng rượu để di dưỡng thiên hạ, dùng vào việc tế Trời, lễ đất, cầu phúc, cầu lợi. Vô tửu bất thành lễ.

Các bậc thánh nhân ngày xưa không ai không uống rượu. Lưu Bang Hán Cao Tổ nhân lúc rượu say, cầm gươm chém rắn bạch, khởi nghĩa, lập nên cơ đồ nhà Hán. Phàn Khoái dự tiệc Hồng Môn Phàn, lấy cao cắt thịt, uống rượu, thi đua múa gươm, mưu đồ đại sự. Khổng Tử lúc hứng uống cả ngàn chung. Tử Lộ uống như hũ chìm. Lã Bạch càng uống, làm thơ càng hay. Nhiều người không quen mùi rượu, đọc xong thơ của Lã Bạch cũng lăn quay ra say khước. Một lần Kinh Kha rượu đã ngà ngà, uống thêm một chén rượu tiễn đưa, rút gươm chỉ xuống dòng sông Dịch chửi thề: - Mẹ kiếp! Chuyến nầy không thành công thì ông đíu thèm qua sông nầy nữa.

Và lần đó Kinh Kha đã hát bài nhạc Pháp “Aller Sans Retour,” mua tấm vé tàu suốt rong chơi miền tiên cảnh.

Người tài hoa phải biết đủ cầm, kỳ, thi, hoạ, nhưng chưa sành sọi về rượu thì chưa trọn vẹn. Người sành rượu không phải chỉ biết vị, biết hương của rượu mà còn phải nhập vào linh hồn của rượu nữa.

Rượu giúp con người thêm can đảm. Nếu không say rượu thì có cho kẹo, Lưu Bang cũng không khi nào dám chơi dại cầm gươm chém rắn. Chỉ nhờ lúc có rượu làm liều mà dựng nên sự nghiệp. Rượu gây thêm hào hứng cho kẻ anh hùng đàn ông có rượu vào, khí thế oai minh, thái độ hùng dũng như cờ gặp gió, như lân gặp pháo.
Thứ nhứt rượu đã ngà ngà,
Thứ nhì chàng ở phương xa mới về.

Chàng ở phương xa mới về thì phải biết đá liên tu bất tận nhưng nói nào ngay đá chẳng được bền. Còn rượu đã ngà ngà thì không thể chê vào đâu được đá mạnh, đá bền bĩ, đá đến lúc các bà ngả nón chào thua mới thôi.
Lờ rằng lờ chẳng sợ ai
Sợ thằng say rượu ấy dai đau lờ.
Đấy, thằng say rượu nó hung hăng đến như thế. Vì vậy các bà có kinh nghiệm sống lại thích có một ông chồng say.

Thấy chồng đôi ba ngày không uống rượu thì tìm cách làm thức ăn ngon bày ra trước mắt. Dân nhậu thấy thức ăn ngon thì chém chết cũng đòi rượu mà đòi rượu coi như sụp bẫy các bà.

Đốt than nướng cá cho vàng
Lấy tiền mua rượu cho chàng nhậu chơi.

Dân nhậu có tính thảo ăn. Có thức ăn ngon thì nghĩ ngay đến bạn hiền. Nếu trong lòng tâm sự đa mang, có được người bạn hiền để chén chú, chén anh, nỉ non tâm sự thì còn gì bằng:
Một ly nhâm nhi tình bạn
Hai ly uống cạn lòng sầu
Ba ly mũi chảy tới râu
Bốn ly ngồi đâu gục đó
Năm ly cho chó ăn chè
Sáu ly vợ đè cạo gió.
Giai thoại về rượu rất nhiều, không sao kể xiết. Mỗi quốc gia có vài thứ rượu đặc biệt. Rượu Pháp nổi tiếng nhất thế giới như rượu vang Champagne . Ai cũng biết Champange là loại rượu sủi bọt (Sparkling wine) thường dùng trong các cuộc vui như đám cưới, sinh nhật v...v... Napoléon, Hoàng đế nước Pháp đã nói một câu để đời về rượu Champange:

- Khi thắng trận ta uống Champange để mừng chiến thắng.

- Khi bại trận ta càng cần phải uống Champange để giải sầu.

Nho để làm rượu Champange phải là loại Chardonnay (chát trắng) và loại Pinot noir (chát đỏ) của vùng Bourgonge mới số dzách. Mở Champagne cũng là một nghệ thuật. Mở thế nào cho rượu nổ một tiếng pop khá lớn mà rượu không vọt ra ngoài do áp suất của khí carbonique trong chai. Lan man về Champange đã hơi nhiều, người viết xin nói tiếp về rượu Pháp. Ngoài Champange còn rượu khai vị như Cointreau, Grand Marnier, rượu mạnh có Martell, Hennessy, Courvoisier, Remy Martin, thứ nào cũng hết xảy nhưng phải loại XO mới tuyệt cú mèo. Đó là rượu Tây.

Người Tàu coi trọng vấn đề ăn uống. Gặp nhau câu hỏi đầu tiên là: - Lứ chía pừng b.i? hay Nị xực phàn m.? hoặc Nị sứ phán mĩ dầu? có nghĩa là Anh ăn cơm chưa? Vì quí trọng miếng ăn nên người Tàu chủ trương miếng ăn, thức uống phải ngon và bổ nên người Tàu nghĩ ra rượu thuốc như: Nhứt dạ lục giao sinh ngũ quỷ. Một đêm lâm trận với sáu bà sinh ra năm thằng quỷ sống, hoặc nhứt long quần ngũ hổ, một con rồng quần với năm chị cọp cái.

Ngoài ra còn Mai Quế Lộ, Ngũ Gia Bì. Thứ nào cũng cường dương, cũng số dzách.

Nhật bản có Sa-kê. Nga có Vodka, Việt Nam có Whiskyson. Nói lái hai âm ky-song là công xi Rượu công xi Bạc Liêu thì hết xảy. Rượu đế Phước Long rất nổi tiếng. Chất rượu trong như nước mưa, rót ra, bọt nổi vòng quanh miệng ly, uống vào nóng muốn cháy cổ. Thở ra nếu ngồi gần vách lá có thể làm cháy nhà như chơi. Ngoài ra còn rượu Bình tây, rượu nếp than. Sau năm 19 75 , Việt Cộng mang vào Nam loại rượu cà-phê, rượu chanh, uống như đồ bỏ.

Tôi có một người bạn là Công tử Bạc Liêu, tự pha chế một loại rượu thuốc và đặt tên là Phu ẩm phụ hoà hài tửu. có nghĩa là rượu chồng uống vợ khen. Nếu có văn thi hữu nào viếng nhà Công tử Bạc-liêu, nếm thử vài chung xem đức phu nhân có khen không cho biết.

Rượu ngon, thức nhấm ngon, chỗ ngồi nhậu thoải mái, lại có thêm bạn hiền thì uống ngàn chung cũng còn quá ít.
“Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua là tại không tiền không mua.”
III- MỘT ĐÀN BÀ:

Như trên đã nói, thời tiết có bốn mùa, con người có tứ khoái. Người ta thắc mắc không hiểu tại sao cái khoái thứ ba thường

làm người ta điên đảo thần hồn, khốn khổ đến chết lên chết xuống mà vẫn muốn tìm hưởng cho bằng được lại bị xếp vào hàng thứ ba, sau ăn và ngủ? Thật ra cũng chẳng khó khăn gì để thắt mắc. Ca dao có câu:
Còn ăn, còn ngủ, còn gân,
Hết ăn, hết ngủ, có mần được chi?
Ăn không được, ngủ không được làm gì có xí quách mà hưởng cái khoái thứ ba. Ăn không được thì thác, ngủ không được cũng đi đong. Không hưởng được cái khoái thứ ba tuy có buồn nhưng vẫn sống phây phây, lại không bị đau lưng nhức mỏi. Con người vốn yếu đuối, thường làm nô lệ cho thói quen. Nghiện rượu, nghiện trà muốn bỏ không phải chuyện dễ nhưng theo cụ Tú Xương nghiện rượu, trà gì cũng có thể bỏ được, còn món đàn bà thì vô phương: Hoạ chăng chừa rượu với chừa trà. Thế mới biết món đàn bà khó mà thiếu được.

Trà, rượu là sản phẩm của con người. Đàn bà là tác phẩm của Thượng Đế: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời làm cho Adam ngủ mê bèn lấy xương sườn rồi lắp thịt thế vào. Giê-hô-va Đức Chúa Trời dùng xương sườn đã lấy nơi Adam làm nên một người nữ, đưa đến cùng Adam. (Sáng Thế K. 2: 21, 22.)

Từ lúc Adam có thêm bà Eve để đêm đêm đem gà ra chọi chơi cho đỡ buồn thì bao nhiêu chuyện khốn nạn xảy ra cho Adam và cũng từ đó bọn đàn ông thất điên bát đảo luôn cho tới bây giờ. Thế mà cũng không ai tởn.
Nhìn lại đời xưa, nụ cười của Đắc Kỷ làm sụp đổ nhà Thương, Bao Tự làm tiêu tan nhà Chu , Dương Quí Phi chỉ mỉm cười cũng đủ làm Đường Huyền Tôn són đái đó là chuyện xưa.

Còn ngày nay, xếp Edward Kennedy cũng vì nàng Mary Jo mà thân bại danh liệt. Chú nhỏ Gary Hart cũng vì cái “ lima ” của chị Donna Rice mà tiêu tùng sự nghiệp. Cả đến các bậc tu hành Jim Baker, Oral Robert, Marvin Gorman và Jimmy Swaggart cũng vì “cái sự đời” mà sự nghiệp tiêu ma. Thế mới biết, cổ nhân ngày xưa đã nói: Sắc bất ba đào dị nịch nhân. Nhan sắc đàn bà không có sóng mà đánh chìm được con người.

Nhưng cứ đem đàn bà ra tố khổ là điều bất công. Đàn bà cũng trăm thứ đàn bà. Đàn bà của cụ Tú Xương thuộc loại:

“Đàn bà lặn lội bờ sông. Gánh gạo nuôi chồng, tiếng khóc nỉ non” nên Tú Xương không bỏ được, lại còn được sống trong chế độ ba nuôi:

Nhỏ cha mẹ nuôi, lớn vợ nuôi, già con nuôi.
“Nhỏ thì nhờ mẹ nhờ cha,
Lớn lên nhờ vợ về già nhờ con.”
Đàn bà như vậy ngu sao mà bỏ. Cái đau là gặp phải loại đàn bà cột tìm trâu, tối ngày mò tới đàn ông, chằn ăn, trăn quấn:
“Chữ trinh đáng giá ngàn vàng
Từ anh chồng cũ đến chàng là năm
Còn như yêu vụng nhớ thầm
Họp chợ trên bụng có trăm con người.”
Gặp loại đàn bà như vậy mà vẫn không sao bỏ được mới là tai hoạ. Đời sống tị nạn gặp phải cảnh gái thiếu trai thừa, cộng thêm cái hoạ là phong tục xứ người nữ trọng nam khinh. Lộ trình của các ông cứ dần dần đi xuống cực tiểu, trong khi lộ trình của các bà thênh thang như xa lộ không đèn.

Nếu may mắn chớp được một bà dù đẹp, dù xấu, dù hư, dù nên chắc cũng phải khư khư giữ lấy và cũng bắt chước cụ Tú Xương mà ngâm nga:

Hoạ chăng chừa rượu với chừa trà.

QUÁCH TỐ VƯƠNG

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Mất Chim Thật Rồi
Nguyễn Viết Tân
Cách đây hơn sáu năm, tôi có viết một chuyện về mất chim.

Tưởng gì, hoá ra tôi làm mất con chim trĩ Pheasant đã ướp phọt-môn treo trên tường, màu sắc rất đẹp. Tiếc thì tiếc, nhưng đâu có gì mà làm ồn.

Tháng bảy năm 2011, cả thế giới, toàn nước Mỹ, nhất là cộng đồng VN thì náo động om xòm về vụ một bà VN mới 48 tuổi, cắt chim ông chồng Mỹ mà quăng vào máy xay cho "Đáng đời ông ta".

Tờ Việt Báo chỉ loan tin này một cách bình thường nhưng một số báo khác thì khai thác kỹ hơn.

Trong mục Toà soạn & Bạn đọc trên báo Người Việt, có đăng lại lời của một độc giả ký tên là Hung Le cự nự:

- Xin đừng bịa đặt tin tức (“Phụ nữ gốc Việt cắt 'của quý' của chồng, bỏ vào máy xay,” báo Người Việt ngày 13 tháng 7.) Tôi chắc chắc tin này quý vị lấy từ báo dòng chính, mà không có nguồn nào nói bà này người Mỹ gốc Việt. Chỉ vì bà có khuôn mặt Á Ðông và tên đệm là Kieu quý vị không thể tự cho rằng bà là người Việt Nam. Làm ơn, ráng giữ đạo đức báo chí (nếu có) và chỉ tường thuật tin tức thôi, đừng phóng tác, suy diễn, hay tệ hơn nữa là bịa đặt.

Nhưng Toà soạn trả lời như sau:

- Xin cám ơn quý độc giả Hung Le đã góp ý. Tuy quý độc giả “chắc chắc tin này quý vị lấy từ báo dòng chính” nhưng thật ra không phải là vậy. Tin này báo Người Việt nhận được từ thông cáo của Biện Lý Cuộc Quận Cam, và sau đó phóng viên Hà Giang đã đến tận nơi xảy ra vụ án, phỏng vấn hàng xóm và những người quen biết hai ông bà này. Hồ sơ bà Catherine Kieu trong nhà giam Orange County Jail ghi rõ “race” của bà Catherine Kieu là “Vietnamese.”

Tờ Viễn Đông số ra ngày 7/13/2011 thì đưa thêm chi tiết:

- Người phụ nữ 48 tuổi này tới Mỹ được 7 năm và trong hồ sơ còn có tên là Trần Quế Anh.

Như vậy thì chắc chắn Kiều nhi là người Việt chúng ta rồi. Hết cãi.


Tóm gọn các tin tức thì chúng ta được biết như sau:

Vào lúc 9g tối ngày 7/11/2011 một người đàn bà gọi 911, cảnh sát tới căn nhà trên đường Flower thành phố Garden Grove thì thấy nạn nhân là một người đàn ông 51 tuổi (sau này họ xác định lại ông ta 60 tuổi) bị trói chặt vào giường, hạ bộ đẫm máu. Người đàn bà khai tên Catherine Kieu Becker nói: He's deserved it.
Bà ta bị bắt giam vì nhiều tội: Đầu độc, bạo hành, làm nguy hiểm đến tánh mạng người khác, giam giữ trái phép ...

Theo báo chí, cứ như những tội trạng nặng như vậy, bà ta có thể bị tù lên đến chung thân.

Báo chí còn cho biết, tuy bà ấy qua Mỹ đã bảy năm, nhưng họ mới lấy nhau vào ngày Dec. 29 năm 2009.

Ngay sau đó, cộng đồng người Việt tại Little Saigon ai cũng truyền tai nhau cái tin kinh khủng này. Mấy đấng trượng phu kêu than tức ngực. Hỏi ra ông nào lúc đi ngủ cũng nằm xấp. "Cho chắc ăn".

Người thì kết tội Kiều nhi, người thì đòi thay chữ Anh hùng bằng chữ Nữ hùng.

-Người bênh thì cho rằng phụ nữ phải mạnh tay như vậy mới trị được những thằng đàn ông cà chớn. Nó về VN cưới qua đây, hành hạ con người ta cho đáng đồng tiền bát gạo. Phải làm gương cho những thằng khác coi đó mà chừa.

-Người chống thì nói đàn bà gì dữ hơn cọp. Con cháu Hoạn Thư ra tay quá nặng, như thế rồi ai mà dám lấy con gái VN nữa.

Đối diện nhà anh Nam bạn tôi, có ông Mỹ goá vợ, nhìn thấy cảnh ông bạn tôi được vợ cưng quá đỗi, ông bèn nhờ anh làm mối cho một người vợ chính gốc nước mắm, nhưng chuyện kinh khủng kia xẩy ra tối thứ hai, thì sáng thứ ba ông qua gõ cửa sớm, nói thôi anh khỏi làm cái sự mai mối kia nhen, tôi hãi quá.

Bây giờ cuộc điều tra chưa xong, chưa biết người phụ nữ này sẽ bị tuyên án như thế nào, nhưng ta thử tìm hiểu xem đã có án lệ nào (cắt chim chồng) trong quá khứ hay chưa (?).

Có chứ :
- Chuyện xẩy ra năm 1993 cho John W. Bobbitt sinh năm 1967. Cô vợ là Lorena gốc người Nam Mỹ sinh năm 1970. Nhân lúc say rượu ngủ li bì, anh ta bị vợ thẻo của qúy và quăng ra ngoài đường. Cũng may hôm đó trời có tuyết nên khi anh gọi 911 thì lính cứu hoả đã tìm được nó, đem vào nhà thương khâu lại cho anh. Nếu nó không được ướp lạnh bởi tuyết thì khó lòng mà cuộc giải phẫu được thành công tốt đẹp như thế.

Khi ra toà, người vợ khai đã bị chồng hành hạ lúc ăn nằm y như kiểu hiếp dâm; khi vợ có bầu thì bắt đi phá thai. Những lời khai của cô ta đáng tin cậy vì có nhiều người làm chứng. Còn về phần ông chồng thì lời khai tiền hậu bất nhất, đến nỗi Công Tố Viện, Bồi Thẩm Đoàn và Quan Toà đều không còn tin anh ta nữa.
Toà tuyên án bà vợ phải đi giám định tâm thần trong một nhà thương 45 ngày, sau đó sẽ được tha bổng.

Sau vụ án đó, từ ngữ "hiếp dâm người phối ngẫu" mới được nhiều người nói đến.

Cô Lorena lấy lại tên họ ngày xưa là Galo và sống rất ẩn dật, nhưng anh chồng thì nổi đình đám một thời:

Anh ta lập ra một ban nhạc, hát như mèo cái hú đêm nên thất bại, quay qua đóng phim XXX.

Hồi năm đó chúng tôi có mở một tiệm cho thuê Video, có người mướn cuốn phim này về coi rồi đến tiệm chê là chẳng giống con giáp nào. Nó xù xì quăn queo trông rất gớm.

Đóng đâu được vài ba cuốn phim loại này thì hết ăn khách, chàng Bobbitt về Las Vegas làm Bartender, xoay qua làm tài xế lái Limousine, rồi lái xe Tow Truck và cuối cùng -có ai tin được không- anh ta làm Minister chuyên làm phép cưới trong nhà thờ Universal Life Church ở Las Vegas.

Anh cũng chẳng chịu yên thân núp bóng nhà thờ, nên đã bị cảnh sát bắt tới 7 lần, mà lần nặng nhất là đồng loã trong một vụ trộm áo quần trong shop thời trang giá trị lên tới 140 ngàn.

Bà vợ bị một lần suýt vướng vòng lao lý tưởng biết tu thân, ai dè cũng còn ghê gớm lắm, có lần bị cảnh sát bắt năm 1997 vì đã đấm một cú rất mạnh vào mặt bà mẹ ruột gẫy cả răng (giả).

Năm 2009 cả hai bất ngờ chạm mặt nhau trên Talk Show của Oprah, "bốn mắt nhìn nhau trào máu họng", nhưng cu cậu xin lỗi cô nàng vì những điều mình gây ra khi còn chung sống. Nàng không nhìn chàng, nhưng thú nhận là năm nào vào lễ Valentine thì đều nhận được hoa hay quà do chàng gửi tặng, chắc là chàng vẫn còn yêu mình lắm lắm.

Ngày xa xưa, sau khi tàn cuộc chiến, người ta hay cắt chim những xác chết hay tù binh, để đếm xem đã giết chết hay bắt giữ được bao nhiêu kẻ địch. Đến đời nhà Chu bên Tàu thì cắt chim là 1 trong 5 hình phạt thời đó, hèn chi lưu truyền cho mãi đến ngày hôm nay, khi báo Tàu đăng đã có đến mấy trăm bà vợ đã cắt chim chồng, vì mấy ổng lậm vào tệ nạn bài bạc, mà toà chỉ tuyên án tù dưới 3 năm. Trong năm 2008 chỉ có 50 trường hợp gắn lại được cho mấy anh Tàu này thôi.

Tuy thế mấy ảnh cũng còn may hơn đàn ông Thái Lan, chỉ từ năm 1973 cho đến 1980 mà có đến hơn 200 anh Thái bị cắt, mà hầu hết không thể khâu lại được.
Chuyện có thật xảy ra bên Nhật, về sau được đóng thành phim là vào năm 1936, cô Kichizo cắt chim chồng xong bỏ vào trong túi áo Kimono nhiều ngày sau mới trao cho cảnh sát. Nàng bị tù có 4 năm. Con chim khô này còn được ướp, rồi trưng bày trong một tiệm bách hoá ở Tokyo năm 1949.

Trở lại chuyện người phụ nữ gốc Việt trừng trị ông chồng Mỹ bằng cách cắt của quí, không hiểu bà Catherine Kieu Becker rồi sẽ lãnh bản án ra sao, nhưng khi ra toà lần đầu, bà đã luôn phải dấu mặt sau mái tóc dầy của bà. Trong khi đó thì Mr Becker tức ông Mỹ vừa bị bà Kiều biến thành "thái giám", khi được nhà báo hỏi thăm bịnh tình, thì ông ta tươi tắn (sao lạ thế nhỉ) trả lời các câu hỏi, và nói đây là chuyện cá nhân nên không cần nói nhiều.

Cũng nên biết rằng ông này sui hơn anh chàng Bobbitt nhiều, vì của qúy đã bị máy xay rác làm từa lưa ra rồi, đâu còn cứu gỡ được. Vậy mà ông ta vẫn có vẻ tươi tắn, bình tĩnh khi TV phỏng vấn. Qua hình ảnh trên TV, trên báo, thật khó biết đôi uyên ương Việt-Mỹ này ai khổ hơn ai, nhưng chắc chắn là cả hai cùng khổ.

Mang chuyện khổ của người ra mà bàn lui bàn tới e cũng bất nhẫn. Thôi thì xin chúc lành cả hai.

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

CHÚ GÀ CHỌI GIÀ VÀ TRIẾT LÝ SỐNG CỦA NÓ

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Ông Kỳ mới lại vừa nổi lên, cuốn hút dư luận như một cơn lốc xoáy. Chuyện cứ lâu lâu lại diễn ra như một cái vòng luân hồi luẩn quẩn. Ông nổi tiếng từ hồi mới tập tễnh bước vào nghề làm chính trị, lập nên cái gọi là CHÍNH PHỦ CỦA DÂN NGHÈO vào năm 1965. Dân Việt Nam nghèo thì nghèo thật, nhưng người đứng đầu cái chính phủ của đám dân này hàng ngày vẫn nốc rượu ngoại quốc loại đắt tiền, đá gà ăn thua bạc trăm thêm chữ ngàn, và thỉnh thoảng tự lái máy bay nhà nước chở bồ nhí sang tận Singapore ăn sáng. Tên tuổi ông càng bùng lên như một đám cháy rừng khi ông lôi một anh Ba Tầu giầu sụ trong Cholon ra pháp trường cát tại Saigon bắn bỏ, một thế lực mà rất ít người dám cả gan đụng tới. Người bình dân bảo là ông Kỳ mó dái ngựa.

Tột đỉnh vinh quang và lừng lẫy danh tiếng nhất là khi ông dắt vợ và đoàn tùy tùng đi phó hội Paris lúc ông đang là nhân vật số 2 của chế độ. Tuy là nhân vật số 2, nhưng thực chất ông Kỳ chỉ là một thứ phỗng đá mà người ta thường thấy trang trí tại các cửa đình, cửa chùa. Cái tài của con phỗng đá này là biết nắm lấy cơ hội trong bất cứ hoàn cảnh nào để ngoi lên khỏi những đợt sóng thời cuộc đang muốn dìm nó xuống. Tuy chẳng ưa gì ông phó của mình, nhưng khi thấy ông phó thất nghiệp lêu bêu, ông Tổng Thống cũng động lòng trắc ẩn, giao cho ông phó cái sứ mạng cao cả là sang làm cố vấn chỉ đạo cho phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa đang tham dự Hội Nghị Quốc Tế họp tại thủ đô nước Pháp bàn về thân phận Tổ Quốc mình. Ông Kỳ xem ra rất thỏa mãn với nhiệm vụ đó, và vui vẻ lên đường. Ông xuất hiện với bộ đồ bay đen trong phòng lái chiếc phản lực cơ như một phi công thần phong anh hùng của quân đội Nhật Bản thời Đệ II Thế Chiến. Một ký giả ngoại quốc nói đùa với ông: "Ngài Phó Tổng Thống thật đa năng đa tài. Ngài lái phản lực tài tình như lái con thuyền quốc gia vậy." Ông Kỳ cười hề hề và tỏ ra rất tự mãn với lời nhận xét hóm hỉnh kia.

Sang đến Paris, ông Tổng Thống Pháp không biết, hỏi Kỳ là ai. Người Pháp, kể cả ông tổng thống của họ, không biết Kỳ là ai, nhưng ông đã mau chóng thành công trong việc làm nổi lên một loạt dư luận báo chí để cho mọi người biết mình là ai. Hình ảnh một ông Phó Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa cùng vợ ăn mặc chải chuốt, dúng mốt Parisienne dẫn nhau đi trượt tuyết và shopping tại những cửa tiệm sang trọng bậc nhất của thủ đô Paris tráng lệ được in trên mặt báo chung với hình bà Nguyễn Thị Bình, trưởng đoàn thương thuyết của cái gọi là Chính Phủ của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Người đàn bà này trái lại, ăn mặc đơn sơ, có vẻ hơi nhà quê, tay cầm chiếc bình tưới đang chăm sóc mấy luống rau sau khu vườn nơi phái đoàn của bà cư ngụ. Hai hình ảnh, hai sinh hoạt của hai bên đối địch trên bàn cờ chính trị tự nó gây nên những thị phi, khen chê trong nước và trên thế giới. Dĩ nhiên là bà Bình chỉ đóng kịch, nhưng tài đóng kịch của một tay cộng sản lão luyện trong nghề bịp như bà vậy mà che được con mắt thế gian. Tấm hình bà Bình đóng kịch thu hút được cảm tình và dư luận thế giới. Trong khi hình vợ chồng ông Kỳ chỉ nhận được những cái bỉu môi khinh bỉ.

Những chuyện xem ra vụn vặt đầy tính bi hài này đã góp phần không nhỏ vào việc một đàng thì đưa đến chiến thắng vẻ vang, còn một đàng thì dẫn đến sự thảm bại của cả một chế độ, và làm điêu đứng bao nhiêu triệu con người. Cũng trong việc đi phó hội này, ông Kỳ còn muốn tỏ ra mình có năng khiếu làm chính trị và làm một cách trí thức nữa là đàng khác qua việc ông lắt léo dùng từ ngữ trong những lời tuyên bố. Không ai biết rõ ông nói năng ra làm sao, nhưng báo chí tường thuật lại rằng ông công nhận Mặt Trận Giải Phóng là một THỰC THỂ CHÍNH TRỊ tại Miền Nam. Ông cãi lại rằng ông muốn nói THỰC TẾ chứ không phải THỰC THỂ. Mấy thứ chữ nghĩa khó tiêu hóa này đã gây sóng gió không ít. Dư luận cho rằng trong một ý nghĩa nào đó, ông Kỳ đã có ý công nhận tính cách hợp pháp của Mặt Trận Giải Phóng, khiến ông phải mất công thanh minh thanh nga mãi mới yên đi được.

Trước biến cố tháng 4-1975, trong tình hình dầu sôi lửa bỏng của đất nước, ông Kỳ cũng không quên chuyện tự làm cho mình được nổi bật. Trong lúc mọi người đang bon chen để tìm đường thoát thân, ông tuyên bố nhất định ở lại, vì: "Sang Mỹ làm gì có mắm tôm, cà pháo mà ăn." Nhiều ngườu lúc đó tưởng thật và tin ông. Nhưng khi CS chưa vào đến Saigon, người ta đã thấy ông Nguyễn Cao Kỳ ung dung ngồi hưởng gío biển trên một chiến hạm Mỹ ngoài Biển Đông, bỏ lại không thương tiếc những đồng đội và những thần dân mới ngày hôm qua còn đăt hết tin tưởng nơi ông. Sang tới Mỹ, ông đã không chịu sống kiếp sống con sò, con ốc như nhiều ông tướng, hoặc chánh khách cờ đến tay không biết phất. Lâu lâu người ta lại thấy ông cố vùng vẫy ngoi lên trên mặt biển mà tự nhiên bấy lâu nó đã muốn yên lặng. Có lần ông xuất hiện trước một cử tọa gồm hầu hết là những chiến hữu hoặc bạn hữu tại một câu lạc bộ của một căn cứ không quân Mỹ tại miền Bắc California. Cuộc họp mặt không có những nhân vật tai to mặt lớn, và tuy chỉ là để ôn lại kỷ niệm và ăn nhậu, nhưng ông Kỳ đã phá rào bước qua lãnh vực chính trị và tuyên bố lung tung. Chuyện ông đề cập đến bữa đó là một vấn đề hết sức bén nhậy và tế nhị trong lúc này đối với cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại. Đó là vấn đề bang giao và cấm vận đối với phỉ quyền VGCS.

Theo nhận định chung thì hầu hết người Việt tỵ nạn đều mong muốn Hoa Kỳ duy trì cấm vận và cô lập Việt Nam về mặt chính trị. Tuy nhiên có một số rất nhỏ đã thay đổi lập trường, trong đó có ông Nguyễn Cao Kỳ. Như phần lớn các nhà tư bản Mỹ, những người này, trước hết là những con buôn chưa hề bao giờ đặt vấn đề chống cộng như là một lý tưởng. Họ chỉ có một lý tưởng duy nhất là làm giầu, cho dù có phản bội lại Tổ Quốc. Tư bản Mỹ và thành phần người Việt mất gốc này sợ chậm chân để các nước khác cướp mất phần của họ tại phần đất VN nghèo đói nhưng đầy rẫy hấp lực. Thứ đến là các chính khách tôn thờ cơ hội chủ nghĩa. Họ như những cây sậy, gío thổi chiều nào ngả theo chiều đó. Loại chánh khách này mới xuất đầu lộ diện sau một thời trùm chăn.

Từ xưa đến nay, ít người có ý nghĩ ông Kỳ là một chính khách hoạt đầu, vì tinh thần chống cộng của ông luôn luôn được nêu cao như một ngọn cờ tiên phong. Nhưng nay thì thì cảm nghĩ chung ấy không còn nữa. Ông Kỳ đã công khai bỏ rơi lập trường cũ và đứng hẳn vào hàng ngũ những người cổ võ Hoa Kỳ lập bang giao và bãi bỏ cấm vận. Có thể ông Kỳ ngày nay đã khôn lớn và đã biết nhìn xa trông rộng? Hồi giữa thập niên 60, một thuộc cấp thân tín của ông có nhận định về người chủ của mình như sau: Chỉ mười năm nữa thôi, ông ta (Kỳ) sẽ biết ăn nói chững chạc và hành động khôn ngoan như một lãnh tụ tầm vóc. Thời gian nhiều cái mười năm đã trôi qua, nhưng người ta chỉ nhìn thấy ông Kỳ vẫn là ông Kỳ của mấy chục năm về trước. Nghĩa là ông không thay đổi. Nghĩa là ông ta vẫn bốc đồng và ăn nói vung vít như xưa. Ông vẫn hành động nông nổi và thiếu cân nhắc như xưa. Người Tầu nói: giang sơn dễ đổi, bản tánh khó dời thật đúng. Nói theo kiểu bình dân ta thì trước sau ông Kỳ vẫn quen thói "chó đen giữ mực".

Đã từng ở vào cương vị lãnh đạo quốc gia, dù nước có mất, nhà có tan thì đạo lý và tập quán Việt Nam vẫn không cho phép ông Kỳ buông thả để nói và làm những điều như đã thấy. Dù sao giấy rách phải giữ lề. Cha ông ta đã dậy như thế. Việc ông Kỳ đi yết kiến Bùi Tín khi tên cuội này mới đào ngũ sang Mỹ là một hành động gây thương tổn danh dự cho hàng triệu đồng bào và đồng chí của ông, những người đã phải bỏ mình vì nước, và những người đã phải bỏ nước ra đi như ông. Chuyện ông kêu gọi hòa hợp hòa giải, quên đi qúa khứ, tái lập bang giao, bãi bbỏ cấm vận lại càng là một điều không nên. Ông ta đòi đúng những cái mà VGCS đang mơ ước và đang đòi hỏi. Trong khi đó bọn VGCS vẫn tỏ ra kiêu căng và ngoan cố trước những đòi hỏi tự do và nhân quyền ở trong nước. Hẳn ông Kỳ không đến nỗi mất trí nên không nhớ nổi rằng ngay thời ông còn nắm quyền, CS đã tung ra chiêu bài hòa giải và lợi dụng nó như thế nào. Một người làm chính trị như ông Kỳ cũng không thể không hiểu rằng chữ đoàn kết của CS có nghĩa là thần phục. Đoàn kết với VGCS tức là thần phục và làm tôi mọi cho VGCS. Có thế thôi.

Lý do ông Kỳ nêu ra để hô hào hòa giải xem ra có vẻ cao cả. Ông nhấn mạnh đến việc cứu vớt đồng bào của ông ở trong nước, phát triển kinh tế, làm cho dân giầu nước mạnh. Ai chứ đồng bào ông, những người đang tha phương cầu thực rải rác khắp năm châu bốn biển, đã biết rõ tinh thần yêu nước thương dân của ông Kỳ thế nào rồi. Từ ngày bỏ nước ra đi, người ta chưa hề thấy ông Nguyễn Cao Kỳ bỏ ra một đồng xu nhỏ nào của ông cho bất cứ ai là đồng bào của ông trong cũng như ngoài nước. Cũng không hề thấy ông tham gia bất cứ một sinh hoạt cộng đồng nào, tại bất cứ đâu. Nay bỗng dưng người ta nghe thấy ông nói đến chuyện cứu dân cứu nước. Thật là khôi hài. Nhưng chuyện tức cười là ngay trong khi hô hào việc cứu dân cứu nước, ông lại hướng các hoạt động của mình về phía người Mỹ. Tuy kiến thức không có, nhưng ông viết sách bằng tiếng Mỹ cho người Mỹ đọc. Ông thường hay xuất hiện trước cử tọa người Mỹ tuy chỉ là những người Mỹ bậc trung lưu, ở đó ông cố ý bắn tiếng bằng cách đưa ra những ý kiến hoặc những đường hướng chính trị thăm dò. Thật là trớ trêu, những ý kiến của ông thường đều rập khuôn với những đường lối và chính sách của VGCS, và cũng là những chính sách dò đường nằm trong lộ trình đối ngoại của các chánh quyền Mỹ.

Tuy nhiên trong những trường hợp như thế, ông cũng thường không quên hướng về phía cộng đồng tỵ nạn để dậy cho họ điều này điều nọ. Chẳng hạn ông dậy rằng người tỵ nạn có chính nghĩa nhưng đã để chính nghĩa đó mất vào tay công sản. Ông đổ lỗi việc làm mất chính nghĩa vu vơ cho kẻ vô danh nào đó, nhưng chắc không phải ông. Có khi ông trách người Mỹ trịch thượng và thường có thói cả vú lấp miệng em. Mỹ cá nhân nào đó cũng không thấy ông nêu tên. Ông chỉ trích những người lãnh đạo đất nước chịu cúi mình làm tay sai cho ngoại bang. Người lãnh đạo tay sai ngoại bang là ai cũng không thấy ông vạch mặt. Chắc chắn ông Kỳ muốn chừa mình ra ngoài cái tập thể lãnh đạo tay sai đốn mạt và điếm nhục này. Là người có trí khôn ai cũng hiểu ông Kỳ muốn nói như thế. Nhưng sự thể là người tỵ nạn không mấy ai không tin rằng ông Kỳ mới đích thực là loại người này.

Qua những lời tuyên bố của ông, người ta có thể nghĩ rằng ông Kỳ muốn nói xa nói gần đến việc VGCS nên mời ông ta về cộng tác với chế độ. Đã có lần ông nói huỵch toẹt rằng ông chỉ xin "đăng ký" một chức đại sứ lưu động để vận động yểm trợ đầu tư và tái thiết cho Việt Nam. Ông hay tỏ ra ta đây là một chính khách lão luyện trong chính trường nên thỉnh thoảng lại tung ra một hoạt động nào đó như một cuộc tiền vận động trước mùa bầu cử sắp đến. Xem ra thành phần cử tri ông muốn nhắm vào không phải là những người đồng bào của ông hay ai khác mà là người Mỹ, nói đúng hơn là chánh phủ Mỹ. Một thành phần cử tri đặc biệt khác nữa là bọn CS trong Bộ Chính Trị tại Hànội. Mai ngày nếu ông có tốt số được đắc cử thật thì hẳn là các thành phần cử tri đặc biệt này đã bỏ phiếu cho ông. Chắc chắn không phải đồng bào ông, vì họ đang quyết liệt đòi loại ông ra khỏi hàng ngữ của họ. Ông Nguyễn Văn Thiệu đã có thời nổi tiếng với câu "Làm chính trị là phải lỳ". Ông Kỳ không ưa ông Thiệu, nhưng xem ra ông Kỳ lại là người học trò giỏi của ông Thiệu về môn võ lỳ, sự lỳ lợm trong nghề làm chính trị. Mặc cho bất cứ ai lên tiếng chê trách ông, ông vẫn thản nhiên và ngạo mạn thực hành câu châm ngôn "Chó sủa mặc chó, đoàn lữ hành cứ đi.”

Nghe nói trong lúc chờ thời, ông làm nghề cố vấn thương mại cho một số nhà đầu tư, và sống một phần thời gian tại các nước Đông Nam Á. Kể cũng tức cười thật. Việc này nghịch lý ở chỗ một người làm thương mại dở đến độ làm gì cũng thất bại như ông Kỳ, thậm chí còn phá sản nữa, mà lại có thể làm cố vấn được cho các nhà đầu tư thế giới. Cái gì chứ cái chức cố vấn thì người Việt Nam mình đã có quá nhiều kinh nghiệm. Khi mới đoạt được chánh quyền, Hồ Chí Minh đã mời cựu hoàng Bảo Đại, rồi cả đức cha Lê Hữu Từ làm cố vấn cho hắn. Những nhà tư bản chẳng ai dại gì mua pháo mượn người đốt. Có thể họ đã ngửi thấy một cái gì đó ở nơi ông Kỳ? Ông Kỳ đã từng là một tay chính khách mại bản. Biết đâu họ đã chẳng nghĩ rằng tới một ngày nào đó, Kỳ còn có thể có một cái gì đó để đem lại lợi lộc cho họ. Họ là nhà buôn. Nhà buôn chỉ cần lời. Cũng như ông Kỳ nuôi con gà chọi để thả vào trận đấu. Nay những nhà buôn kia cũng muốn nuôi ông Kỳ như một con gà chọi để thả vào trận chọi gà tại Việt Nam? Chúng ta chờ xem con gà nòi Nguyễn Cao Kỳ sẽ làm nên thành tích gì?

Trong khi chờ đợi cuộc đấu hào hứng bắt đầu, con gà nòi Nguyễn Cao Kỳ xem ra thích rong ruổi những chốn ăn chơi vùng Đông Nam Á. Nhiều người chê trách Kỳ. Điều đó cũng chưa hẳn đúng. Người hiểu tâm tính Kỳ không ai bằng một ông phi công đàn em của bà TM, người vợ cũ của ông Kỳ. Ông này quyết đoán rằng đó là vì Kỳ rất mê tín. Cũng có lý. Thường thường những chính khách người có học thì tin vào tướng số, kẻ vô học thì tin vào thầy bói, cô đồng để chọn đất xuất thân. Ông Lã Vọng xưa đến ngồi câu bên bờ sông Vị nên đắc thời và lừng danh trong lịch sử Tầu. Biết đâu ông Kỳ chẳng có ý chọn mảnh đất bên trời Đông để mong phất cờ trở lại. Nhưng cũng lại có người bạn của ông thuở trước có ý kiến rằng sai bét hết, chẳng qua chỉ vì cái hobby cố hữu của Kỳ: Ở đấy (ý nói các nước Á Châu) được tự do đá gà, chứ ở Mỹ này làm gì có. Hội Bảo Vệ Súc Vật nó kiện chết tươi." Biết đâu đó mới chính là triết lý sống của ông Kỳ?

Việc ông Nguyễn Cao Kỳ xin được về Việt Nam ăn tết. Theo như ông Kỳ nói, và cũng theo phát ngôn của nhà nước VGCS thì ông Kỳ về quê ăn tết là chuyện riêng tư của ông. Người tỵ nạn VN trở về quê ăn tết hà rầm, chẳng ai nói ai. Nhưng có một điều không thể không nói, đó là việc ông ta về và tuyên bố rằng Việt Nam cần một chế độ độc tài để phát triển kinh tế. Nói huỵch toẹt ra là ông ta thừa nhận chế độ VGCS, và thừa nhận sự độc tài toàn trị của chế độ VGCS là cần thiết để phát triển đất nước. Người viết sẽ không đưa ra bất cứ một lý luận cao siêu nào, và cũng không trưng ra một bằng chứng xa vời nào, mà chỉ dựa vào thực tại ở Việt Nam để vạch ra sự nghịch lý trơ trẽn và bịp bợm qua câu tuyên bố của ông Nguyễn Cao Kỳ.

Năm 1985 khi Việt Nam sắp lâm vào tình trạng sụp đổ hoàn toàn thì Nguyễn Văn Linh bắt chước Liên Sô đưa ra chánh sách gọi là mở cửa hay cởi trói với khẩu hiệu “đổi mới hay là chết.” Nếu lý luận như Nguyễn Cao Kỳ, phải độc tài mới phát triển được, thì từ 1985 về trước mới là thời kỳ VN có điều kiện nhất để phát triển kinh tế, vì thời đó là thời CS thi hành chính sách độc tài triệt để nhất. Và cũng theo lý luận của ông Kỳ thì sau năm 1985 là thời kỳ VC đã nới lỏng để có một chút tự do, phải là thời kỳ kinh tế kém phát triển hơn mới đúng. Nhưng như người ta thấy, mọi sự đều trái ngược hẳn: thời kỳ độc tài khét tiếng nhất (1985 trở về trước) là thời kỳ kinh tế lụn bại nhất. Trái lại khi tự do được nới lỏng thì kinh tế phát triển hơn. Đó là thực tế hiển nhiên tại Việt Nam. Từ thực tế hiển nhiên này người ta có thể kết luận là, nếu ông Kỳ không thấy được sự thật thì ông ta là người bất trí. Còn nếu thấy rồi bất chấp để phủ nhận sự thật thì ông Kỳ là một kẻ bất nhân, vì ông ta biết mà nói láo để bợ đỡ CS.

Tếu kiểu lính tráng một tí thì giờ đây ông thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ cũng đã thuyên chuyển về Vùng 5 Chiến Thuật rồi. Người ta thường nói: cọp chết để da, người ta chết để tiếng. Phải nói thật, ông Kỳ chết lưu xú nhiều hơn là lưu danh. Nhưng lưu nào thì cũng là lưu cả. Cái danh của ông là Phó Tổng Thống VNCH, nhưng ông lại cúi đầu kính cẩn kính thưa những tên côn đồ chưa bao giờ xứng đáng xách cặp cho ông. Mức tột cùng của một con người vong thân. Một thằng cu bố đĩ nào đó bẩm thưa bọn chó nhẩy bàn độc chẳng ai nói gì. Nhưng ông Phó Tổng Thống VNCH làm thế thì không được. Tôn trọng kẻ đối thoại khác xa nịnh bợ kẻ đối thoại với mình. Mỗi thái độ biểu lộ một nhân cách. Cho dù nước đã mất, ông Nguyễn Cao Kỳ vẫn có danh phận là Phó Tổng Thống VNCH nên thân bất do kỷ. Thái độ nịnh bợ những tên côn đồ VGCS của ông Kỳ đã làm cho những nạn nhân CS bị nhục lây. Người ta hận ông và bất mãn với ông ở điểm đó. Ông đã coi thường lời dậy bảo của Tổ Tiên: giấy rách cũng phải giữ lấy lề.

Chỉ thấy có một người đàn em và cũng là bạn cố tri xông pha gỡ gạc cho cái sĩ diện của ông Nguyễn Cao Kỳ là ông Bằng Phong Đặng Văn Âu. Ông Âu cho biết ông Kỳ đã cố gắng thuyết phục bọn đầu lãnh Hànội đi theo Mỹ thì mới chống nổi Trung cộng. Do đó, ông Bằng Phong nghi ngờ rằng ông Kỳ chết là vì bị Trung cộng đầu độc. Chuyện cũng hơi tiếu lâm. Ông Tổng Thống Pháp còn phải cười khẩy hỏi “qui est-ce Kỳ”, thì không lẽ tên Hồ Cẩm Đào lại biết rành và sợ ông Kỳ đến độ đó. Cũng vẫn là chuyện tiếu lâm nếu quả đúng ông Kỳ làm thầy dùi cho Bộ Chính Trị VGCS. Như vậy thì một là ông Kỳ đã không hiểu rằng những kẻ bán nước chẳng bao giờ cần giữ nước. Và hai là, ông Kỳ ngày xưa được Mỹ giúp đỡ để giữ nước nhưng kết quả ra làm sao mà đến nay ông vẫn còn chưa tởn? Ông Kỳ không tởn nhưng bọn VGCS thì rất rành sáu câu nên dễ gì chúng nghe ông. Xưa nay ông Kỳ chẳng hiểu bọn VGCS là cái gì thế mà đã một thời ông lãnh đạo nhân dân miền Nam chống cộng. Đáng tiếc. Vì là chỗ bạn bè, có lẽ ông Bằng Phong muốn kiếm một bộ đồ hiệu mặc cho ông Kỳ để đi gặp các Vua Hùng cùng là các bậc anh hùng liệt nữ của Dân Tộc như Hai Bà Trưng, Quang Trung, Lê Lợi v.v. Nhưng rất tiếc ông Bằng Phong đã mua lộn phải bộ đồ dổm của dân bán chợ trời rồi.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Dân chủ ngồi chờ Một số người tin rằng Việt Nam chưa hội đủ điều kiện để có dân chủ. Vì vậy nếu có dân chủ ngay bây giờ thì sẽ đưa đến mất ổn định. Phải chờ đến lúc có thể có dân chủ thì mới nên có dân chủ. Do đó những người này không muốn thay đổi thể chế mà chỉ muốn Đảng Cộng Sản Việt Nam tự thay đổi để xứng đáng giữ vai trò lãnh đạo. Niềm tin của những người này có xác đáng không? Bài viết này mong muốn giải đáp vấn nạn trên và sau đó thử đề nghị một số biện pháp để dân chủ hoá Việt Nam.

Dân chủ là một phương pháp để giải quyết mâu thuẫn và đi đến thoả hiệp. Dân chủ không phải là một thời điểm để ngồi chờ. Và cũng không thể có dân chủ ở mức tuyệt đối. Dân chủ là một quá trình tranh đấu hàng ngày để có thể đạt được mức độ gần tuyệt đối nhất. Mức độ tuyệt đối của dân chủ luôn luôn thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh sống. Vì vậy bất kỳ lúc nào cũng phải tranh đấu để có dân chủ ở mức gần với tuyệt đối nhất. Bằng lòng với dân chủ đang có, có nghĩa là đang trở thành xa dần với mức độ tuyệt đối tức là xa dần dân chủ. Hãy xem các nước đang có dân chủ. Không phải tự nhiên mà các nước này có được dân chủ. Họ đã phải tranh đấu và tốn bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và máu mới có được dân chủ. Rồi lại phải tranh đấu hàng ngày để duy trì, củng cố, phát triền và kiện toàn dân chủ. Xét như vậy thì không thể có dân chủ ngồi chờ hoặc được cho.

Nhưng tranh đấu để đòi có dân chủ có đưa đến mất ổn định không? Để có câu trả lời chúng ta hãy xem dân chủ có đưa đến mất ổn định không? Một số người lấy thí dụ về những biến động ở Thái Lan trong thời gian gần đây để minh chứng cho việc mất ổn định của dân chủ. Khi xem xét kỹ nguyên uỷ của những biến động này thì những biến động ấy xảy ra là do các tướng lĩnh và một số phe phái không tuân thủ quy luật dân chủ chứ không phải là do dân chủ. Lúc nào cũng chấp hành quy luật dân chủ thì không xảy ra mất ổn định. Hãy nhìn xem các nước dân chủ tiên tiến có mất ổn định vì dân chủ không? Các nước này cứ 4 hoặc 5 năm là thay đổi người cầm quyền nhưng cũng đâu có xảy ra mất ổn định.

Có một ngộ nhận về ổn định cũng cần làm sáng tỏ. Ổn định có hai nghĩa: ổn định dân sự hay xã hội và ổn định chính trị.

Ổn định dân sự hay xã hội, nghĩa là ổn định trong cuộc sống của mỗi công dân, là đảm bảo không bị bắt bớ, tịch thu tài sản, cấm kinh doanh, không là nạn nhân của những thay đổi luật pháp đột ngột và thường xuyên, hay những quyết định tùy tiện của chính quyền. Ổn định này rất cần thiết cho phát triển kinh tế, vì có như thế người dân mới có thể yên trí để tiên liệu và hoạch định sinh hoạt của mình. Ổn định này đòi hỏi dân chủ, nhân quyền và nhà nước pháp trị.

Về ổn định chính trị cũng đừng nên lẫn lộn giữa ổn định thể chế và ổn định của tập đoàn cầm quyền.

Ổn định thể chế là một bắt buộc để đất nước ổn định và đi lên. Ổn định thể chế yêu cầu phải có một thể chế cho phép người dân được quyền tự do ứng cử để cầm quyền và thay đổi người cầm quyền có nghĩa là phải có một thể chế dân chủ, nhân quyền và nhà nước pháp trị.

Thực tế cho thấy tại các nước theo thể chế độc tài, người dân không được thay đổi những người cầm quyền mà họ chán ghét vì bất tài, tham ô, quan liêu nên thường xảy ra chồng đối đưa đến đàn áp và bắt bớ khiến xã hội mất ổn định. Trái lại trong các thể chế dân chủ vì người dân có quyền thay đổi những người cầm quyền định kỳ cho nên không có tình trạng bắt bớ và đàn áp vì chống đối những người cầm quyền để gây ra mất ổn định xã hội.

Ổn định của tập đoàn cầm quyền, hay nói khác đi là sự kéo dài của một chính quyền với những người cầm quyền của cùng một đảng hay phe nhóm. Sự kéo dài này, nếu không do bầu cử tự do mà là do một chế độ độc tài bạo ngược, còn rất mâu thuẫn với ổn định dân sự và do đó hoàn toàn mâu thuẫn với phát triển, bởi vì người dân luôn luôn phải sống trong sợ sệt, không dám và không thể lập những kế hoạch kinh doanh lâu dài.

Kinh nghiệm cho thấy ổn định dân sự và thể chế rất cần cho phát triển, trong khi ổn định của tập đoàn cầm quyền hoàn toàn không có ảnh hưởng, hoặc chỉ có ảnh hưởng xấu. Tại Nhật, từ sau Thế Chiến II tới nay, ít có chính phủ nào kéo dài được hai năm. Tại Ý, tuổi thọ trung bình của các chính phủ còn ngắn hơn nhiều. Mặc dầu vậy kinh tế của cả hai nước này đều phát triển nhanh chóng, họ đều là thành viên của nhóm bảy nước phát triển nhất. Trong khi các nước có những chính quyền kéo dài như Việt Nam, Cuba, Bắc Triều Tiên và nhiều nước thuộc châu Phi và châu Mỹ La Tinh lại rất trì trệ và lạc hậu.

Khi các tập đoàn độc tài - như ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam - nói cần phải có ổn định để phát triển, nhiều người đồng ý với họ vì hiểu đó là ổn định dân sự trong khi họ thực hiện ổn định là ổn định của tập đoàn cầm quyền. Đó là một sự gian trá cần được tố giác.

Tóm lại dân chủ không gây ra mất ổn định mà mầm mống chính của việc mất ổn định là vì không có dân chủ. Bởi vậy cứ ngồi chờ để có dân chủ sẽ càng đưa đến mất ổn định hơn. Như vậy thì không có lí do nào để trì hoãn việc dân chủ hoá đất nước. Nhất là tình hình thế giới hiện nay buộc đất nước chúng ta phải dân chủ hoá ngay để có thể phát triển ổn vững và giảu mạnh đặng bắt kịp các nước trong vùng cũng như để bảo vệ được đất nước chống hoạ xâm lăng của Trung Quốc. Chỉ có dân chủ mới tạo được đoàn kết dân tộc và huy động được toàn sức dân để xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bởi vậy không thể ngối chờ để có dân chủ. Nhưng, trước tình hình hiện nay của đất nước, phải làm gì để có dân chủ cho Việt nam?

Con đường lý tưởng và tốt nhất cho đất nước là đi đến dân chủ một cách hoà bình. Nói cách khác là diễn biến hoà bình để có dân chủ. Nhưng tại sao diễn biến hoà bình lại là con đường lí tưởng và tốt nhất? Bởi vì đặc tính quan trọng nhất của dân chủ là đối thoại, kiên trì đối thoại để thuyết phục đi đến những thoả hiệp. Cần nhấn mạnh là để đạt được các thoả hiệp chứ không phải để giành được toàn bộ thắng lợi về phần mình. Trong dân chủ và nhất là dân chủ đa nguyên thì không nên có ý nghĩ là sẽ đạt được thắng lợi toàn bộ cho mình. Ý nghĩ này sẽ dễ đưa đến độc tài. Bởi vậy để tranh đấu cho dân chủ không thể sử dụng bạo lực mà phải dùng lời nói. Phải cố gắng đối thoại, kiên trì đối thoại để thuyết phục và vận động sự đồng thuận. Mọi hình thức sử dụng bạo lực, dù là bạo lực bằng lời nói, cũng không phù hợp với dân chủ.

Ở đây cũng cần cho thấy sự gian trá của Đảng Cộng Sản Việt Nam khi nói về diễn biến hoà bình. Diễn biến hoà bình để có dân chủ là một diễn biến xây dựng dân chủ trong đó Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn có chỗ đứng và vẫn được cầm quyền nếu được dân tín nhiệm trong một cuộc bầu cử thực sự tự do có các đảng khác cùng tranh cử. Còn diễn biến hoà bình mà Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay cố ý nói là diễn biến để lật đổ và phủ định Đảng Cộng Sản Việt Nam với mục đích hù doạ các đảng viên như được viết trong Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng khóa X tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Bởi vậy chống đối diễn biến hoà bình để có dân chủ ở Việt nam mãnh liệt nhất hiện nay là Đảng Cộng Sản Việt nam.

Mặc dầu vậy chúng ta, những người mong muốn dân chủ cho đất nước, nhất quyết không lùi bước trước những chống đối diễn biến hoà bình này. Chúng ta hãy cùng nhau vận động bằng những phương thức thích hợp với khả năng để việc diễn biến hoà bình đến dân chủ nhanh chóng diễn ra. Trong cuộc vận động này chúng ta phải quyết tâm đòi hỏi cho bằng được những điểm sau đây:

- Sửa đổi Hiến pháp: Việc sửa đổi đầu tiên mà mọi người đều để tâm là hủy bỏ điều 4 của bản Hiến Pháp vì nó khẳng định tính độc quyền lãnh đạo của một đảng chính trị, vì nó lấy một chủ nghĩa (Mác-Lê) và một tư tưởng (tư tưởng Hồ Chí Minh) làm chủ đạo. Một cách gián tiếp, nó đi ngược lại một số quyền công dân được quy định ở các điều 52, 53, 63 của bản Hiến Pháp. Nhưng ngoài điều 4 ra, còn có rất nhiều điều trong bản Hiến pháp hiện nay phải cần sửa đổi, tu chỉnh hay hủy bỏ.

Hãy lấy một vài thí dụ : Đầu tiên, cụm từ “Cộng Hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” cần được loại bỏ khỏi bản Hiến pháp vì một hiến pháp tự do và dân chủ không tôn vinh một chủ nghĩa hay tư tưởng nào ; điều khoản về Mặt Trận Tổ Quốc (Điều 9) cần được hủy bỏ để không tạo điều kiện cho những lạm dụng chính trị dưới danh nghĩa “hiệp thương”; Điều 45 cần được tu chỉnh vì mục đích của lực lượng vũ trang không phải là bảo vệ một chế độ (xã hội chủ nghĩa) mà chỉ là bảo vệ an ninh trật tự, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Cuối cùng, ngay cả “Lời Nói Đầu” của bản Hiến Pháp cần phải thay đổi một cách toàn diện.

- Xây dựng bộ luật cho các đảng phái chính trị: nhìn nhận vai trò của các chính đảng, cho phép tự do lập đảng chính trị và quy định nguyên tắc sinh hoạt cũng như quyền hạn và trách nhiệm cho các đảng chính trị. Song song đó cũng cần quy định một số nguyên tắc về tài chính và kinh tài của các chính đảng. Đây là một văn kiện luật pháp tối quan trọng. Nó sẽ tạo điều kiện cho một tiến trình dân chủ trong ổn định. Nó sẽ phát huy tính chất đa nguyên chính trị và bảo đảm sự bền vững của tiến trình dân chủ hoá đất nước trong tương lai.

- Xây dựng bộ luật cho xã hội dân sự: quy định quyền hạn và trách nhiệm của các tổ chức dân sự. Bộ luật này sẽ quyết định bộ mặt của xã hội Việt Nam trong tương lai. Thật vậy, một nên dân chủ tiên tiến rất cần một xã hội dân sự đa dạng. Tính chất đa nguyên trên phương diện văn hoá và xã hội hoàn toàn lệ thuộc vào những sinh hoạt của các tổ chức dân sự có tầm vóc. Sinh hoạt của những tổ chức này có lành mạnh hay không lại lệ thuộc rất nhiều vào một đạo luật giản dị nhưng rành mạch để điều tiết xã hội dân sự và những đối tác xã hội.

- Xây dựng bộ luật hoà giải dân tộc: bởi vì muốn có dân chủ thực sự thì phải có bộ luật này, không thể nói hoà giải dân tộc một cách chung chung và chỉ là những kêu gọi trong các dịp lể để rồi không ai thực hiện; nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện cụ thể bằng việc ban hành một bộ luật về hoà giải dân tộc. Lịch sử cận đại của một số quốc gia (Chi-Li, Nam Phi) đã chứng minh một điều: Để hàn gắn những đổ vỡ, để xoá đi một quá khứ huynh đệ tương tàn, nhà nước cần đứng ra chủ đạo công cuộc hoà giải dân tộc. Và nhà nước chỉ có thể thi hành chính sách hoà giải một cách nghiêm minh và liên tục khi có được một đạo luật làm kim chỉ nam cho những cố gắng bền bỉ và lâu dài.

Nếu mỗi người trong khả năng cố gắng làm cho đất nước chuyển hoá trong hoà bình một cách nhanh chóng thành dân chủ thì đó là ơn ích và may mắn cho đất nước và các thế hệ mai sau.

Phan Bá Việt
(Hòa Lan)

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Image


Saigon uống Bia

Có 1 anh chàng về VN, đi nhậu 1 mình.

Vừa ngồi xuống bàn, chưa kịp kêu beer thì một cô tiếp thị beer Tiger xinh như mộng mặc váy khá ngắn bước đến gần nhìn anh với ánh mắt đắm đuối:

- Anh uống bia Tiger giùm em đi anh. Bia tình yêu đó!

Chàng ta :

- Tại sao lại là bia tình yêu?

- Thì anh hãy giải mã chữ Tiger đi. Tình Iêu Giết Em Rồi !

- À vậy hả? Thôi đi em! Tình yêu bạo lực quá!

Tức thì một người đẹp khác bước đến thế chỗ:

- Vậy thì anh uống bia của em đi. San Miguel dzô dzô đó. Em sẽ nhớ anh suốt đời. Khi nào quán vắng anh thì em lại thẫn thờ... Sao Anh Nhớ Mà Ít Ghé Uống, Em Lo !
- Ồ không đâu, anh chỉ là khách qua đường thôi.

Như thấy phương thức tiếp thị của hai cô kia chưa được ấn tượng, người đẹp thứ ba bước lên vừa đá lông nheo vừa thỏ thẻ:
- Anh hãy uống Carlsberg đi, bia này mới là sành điệu đó. Anh uống xong thì Cho Anh Ráng Lấy Sức Bế Em Ra Giường !

Quá kinh hãi, mồ hôi đầm đìa, nhưng chàng ta cũng trấn tĩnh lắc đầu:

- Uống xong thì anh xỉn mất tiêu rồi, còn sức đâu nữa em.

Cô tiếp thị thứ tư bèn bước lên ra chiêu cuối cùng hy vọng sẽ quật ngã được con tim sắt đá của anh chàng này :

- Vậy thì chỉ có Heineken thôi. Anh uống xuôi hay ngược gì cũng được, cũng là tình yêu trọn vẹn cả. Hôn Em Ít Nên Em Khều, Em Nhéo.... hay là ngược lại Nếu Em Khôn Em Nằm Im Em Hưởng.
Chàng ta lắc đầu quầy quậy:

- Thôi xin lỗi mấy em, tình yêu mấy em sao mà sành điệu quá, anh chỉ uống Saigon thôi!

Đến lúc này thì cả 4 cô tiếp thị đều ngạc nhiên:

- Trời! Sao anh lại uống beer đó?

- Ồ, đây mới chính là tình yêu thiêng liêng của anh đó.

Chàng ta bèn chỉ vào cái nhẫn trên tay:

-Số Anh Iêu Gái Ở Nhà!

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Bộ óc con người


Nó phát sinh ra lắm sự thèm khát, ham muốn và nhu cầu chưa bao giờ biết đủ

Nó sinh ra lắm ý nghĩ và ý tưởng cho chính nó và cho người khác

Nó tưởng tượng ra đủ điều để nó thoả mãn những ý tưởng và ý nghĩ của nó

Nó luôn tin tưởng và chấp vào ý nghĩ của nó.

Nó lại thiếu ý chí để mở ra nhiều hiểu biết cần thiết cho sự tồn tại tạm thời của cuộc sống

Nó cũng thiếu ý chí siêng năng làm việc cho đúng nghĩa một con người có lòng tự trọng

Nó cứ muốn dùng mánh khóe hay những thủ đoạn để đạt quyền, đạt lợi khi có thể,

Nó lắm điều trí trá và biết che đậy những điều xấu xa ấy bằng những hình thức mỹ miều,

Nó có muôn vàn lý do biện minh cho những hành động để thỏa mãn ham muốn của mình

Nó khôn khéo luôn kết tội người khác, còn nó là vô tội.

Cách vận hành của bộ óc như vậy

Đã gây ra bao nhiêu khổ đau cho chính mình và cho người.

Gây ra ly tán, chết chóc, máu đổ đầu rơi

Gây ra ức chế tinh thần cho kẻ khác

Gây ra bao cảnh tan thương trong gia đình

Gây ra từ trường độc ác cho xã hội loài người

Nó gây ra sự chia rẽ hận thù và khó chịu

Nó phá hủy hạnh phúc mà con người dày công vun đắp.

Hãy thức tỉnh với thói quen xấu của bộ óc của mình và của người,

Đừng tin tưởng nó.

Duy Tuệ

Post Reply