Bình Luận Thời Sự
Mới đấu xong một hiệp
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua, trận đấu về Trần Nợ đã chấm dứt, Quốc Hội Mỹ đã đồng ý cho Hành pháp vay thêm nợ. Trên nguyên tắc, cho đến ngày bầu cử năm 2012 Tổng Thống Barack Obama sẽ không cần xin nâng trần lên lần nữa.
Ông Obama có thể nói đã qua được một cửa ải. Nhưng trông mặt ông không có vẻ gì là thơ thới hân hoan cả. Vì Trần Nợ chỉ là một vấn đề nhỏ. Từ nửa thế kỷ nay, chính phủ Mỹ nào cũng yêu cầu được vay nợ thêm, và Quốc Hội thường vẫn chấp thuận. Năm nay, nhân dịp phải nâng trần nợ, một trận đấu lớn đã nổ ra khi các đại biểu Cộng Hòa muốn đặt điều kiện phải giải quyết vấn đề làm sao giảm khiếm hụt ngân sách thì mới cho nâng. Cuối cùng, có thể nói, Tổng Thống Obama đã thua trong trận đấu lớn này. Từ đầu ông vẫn nhấn mạnh muốn cắt giảm ngân sách thì phải vừa cắt các khoản chi tiêu, vừa tăng số thu nhập của chính phủ. Có lúc ông đã được chủ tịch Hạ Viện đồng ý quy tắc này. Nhưng bản Dự luật mà ông Obma phải ký để nâng trần nợ hoàn toàn chỉ có cắt chi mà không nói gì đến tăng thu, dù chỉ là một lời hứa hẹn! Trước khi ông tổng thống Mỹ đặt bút ký vào dự luật, Giáo Sư Paul Krugman, một nhà kinh tế được giải Nobel, đã viết trên Nhật báo New York Times: “Ông tổng thống đầu hàng!”
Nhưng nếu ông Obama thua, thì ai đã thắng? Ai cũng thấy, những người thắng lớn là Ðảng Tiệc Trà (Tea Party). Một số đại biểu Cộng Hòa, gần 80 người, năm ngoái đắc cử nhờ phong trào Tea Party ủng hộ, đã nhất quyết chỉ nâng trần nợ nếu cắt chi tiêu mà không tăng thuế, dù chỉ là lấp những lỗ hổng trong luật thuế khóa mà các công ty dầu khí vẫn được hưởng. Nhóm này bó tay cả ông chủ tịch Hạ Viện, cũng thuộc đảng Cộng Hòa. Thứ năm tuần trước, ông John Boehner phải rút lại không đưa ra một dự luật, chỉ vì bị Tea Pary chống đối. Ngày hôm sau ông sửa lại, cắt thêm nhiều khoản chi tiêu khác, mới được Hạ Viện thông qua. Một khoản bị cắt là 18 tỷ đô la tiền học bổng cho sinh viên (trong 10 năm). Tất cả rồi cũng chẳng đi đến đâu, vì ai cũng biết trước là dự luật đó sẽ không được Thượng Viện đem ra bàn.
Sau cùng, hai đảng đi tới thỏa hiệp, sẽ nâng trần nợ thêm 917 tỷ Mỹ kim (không đủ chi cho tới hết năm 2012), với điều kiện cắt chi tiêu 900 tỷ trong 10 năm. Một ủy ban lưỡng đảng sẽ phải quyết định cắt thêm 1500 tỷ nữa, trước Tháng Mười Một năm nay. Nếu các đề nghị của ủy ban này không được Quốc Hội đồng ý, chính phủ sẽ được phép nâng trần nợ thêm 1,200 tỷ nữa, và phải cắt 1,200 tỷ trong các khoản chi tiêu khác, trong đó có ngân sách quốc phòng và Medicare. Ðiều khoản này là một mánh khóe để bắt cả hai đảng phải tìm cách thỏa hiệp thêm. Vì đảng Cộng Hòa thường không muốn cắt các khoản chi về quốc phòng, còn đảng Dân Chủ xưa nay vẫn bảo vệ các khoản chi Medicare! Nếu trước Lễ Giáng Sinh họ vẫn còn găng nhau như trong nửa năm vừa qua, thì những khoản chi mà họ muốn giữ vẫn sẽ bị cắt!
Chứng kiến những cuộc cãi cọ giữa các nhà chính trị Mỹ trong mấy tháng qua, người ta phải thấy là chưa bao giờ họ lại xuống thấp đến như vậy. Từ ông tổng thống đến các đại biểu Quốc Hội, họ chăm chú “làm chính trị” hơn là lo lắng việc quốc gia.
Việc quốc gia lớn nhất của nước Mỹ bây giờ là kinh tế trì trệ, mặc dù cơn suy thoái bắt đầu năm 2007 đã chấm dứt từ giữa năm 2009. Tình trạng suy sụp trong ngành địa ốc vẫn kéo dài; nganh xây cất là một xương sống của kinh tế Mỹ vẫn chưa lên; người tiêu thụ càng dè dặt không chi; các công ty vẫn chưa tuyển thêm người làm. Trong lúc kinh tế suy yếu, người tiêu thụ bớt tiêu tiền thì chính phủ cần phải tăng số cầu để thúc đẩy số cung tăng theo; không chính phủ nào nên giảm bớt chi tiêu và cũng không nên tăng thuế, đây là bài học sơ đẳng về kinh tế học. Trong mấy tháng vừa qua, các nhà chính trị Mỹ hầu như không nhắc đến tình trạng số cầu khắp thế giới đang xuống và số người thất nghiệp gia tăng, mà chỉ nói tới khiếm hụt ngân sách, là một vấn đề lâu dài có thể chờ khi kinh tế phục hồi sẽ giải quyết!
Vì họ còn lo “làm chính trị.” Các đại biểu Cộng Hòa muốn nhân cơ hội đòi chính phủ giảm chi, và nhiều người thuộc nhóm Tea Party đòi cắt giảm ngay tức khắc. Các đại biểu Dân Chủ và ông tổng thống muốn nhân dịp này cắt bớt những trợ cấp cho các công ty dầu, và tăng thuế những người giầu nhất nước, lợi tức trên 250,000 đô la một năm. Họ muốn đấu lại trận đấu cuối năm 2010, mà khi đó ông Obama đã phải nhượng bộ, chịu triển hạn các đạo luật cắt thuế của cựu Tổng Thống Gorges W. Bush khiến ông bị ngay trong đảng Dân Chủ chống đối (vụ đầu hàng thứ nhất, như nhiều người đã nói).
Người chịu trách nhiệm đầu tiên là Tổng Thống Barack Obama. Ông gần như tự bỏ vai trò “lãnh đạo” mà người dân trông đợi. Ông và ông bộ trưởng Tài Chánh đã lấy nguy cơ “vỡ nợ” (default) và lấy ngày 2 Tháng Tám làm giới hạn để thúc đẩy chấm dứt cuộc tranh luận. Nhưng thật ra, chính phủ Mỹ không lo “vỡ nợ,” mà chỉ bị đe dọa sẽ phải “đóng cửa” vì không đủ tiền trả lương công chức! Trong Tháng Tám, chính phủ sẽ thu vào hơn 172 tỷ đô la, mà số tiền lãi phải trả cho các công trái cũ chỉ có 29 tỷ. Trong tài khóa 2010-11, chấm dứt cuối Tháng Chín, chính phủ sẽ thu 2,200 tỷ đô la, trong khi chỉ phải dùng 214 tỷ trả tiền lãi. Với số thu như vậy, làm sao mà chính phủ Mỹ vỡ nợ được? Thay vì hô hoán mối nguy vỡ nợ, đáng lẽ các ông Obama và Geithner phải lên tiếng trấn an cả thế giới rằng nước Mỹ sẽ nhất quyết trả tiền lãi và tiền vốn cho các nhà đầu tư vào công trái, dù có được Quốc Hội nâng trần nợ hay không! Thay vì nhắc lại việc tăng thuế những người giầu nhất nước, mà chính ông cũng đề nghị đến năm 2013 mới tăng, đáng lẽ ông Obama nên nhấn mạnh: Không tăng thuế trong lúc kinh tế còn suy yếu. Ngoài ra, chính ông Obama phải lên tiếng cam đoan sẽ cắt bớt chi tiêu của nhà nước, với những đề nghị cụ thể trong 5, 10 năm tới; mặc dù đảng Dân Chủ muốn trì hoãn vấn đề này. Nhưng thay vì lãnh đạo nước Mỹ, ông Obama lại lo “làm chính trị,” để bảo vệ lòng tín nhiệm của các cử tri cánh tả trong đảng ông.
Các đại biểu Cộng Hòa cũng lo “làm chính trị” nhiều hơn việc quốc gia; đặc biệt là những người phải chiều theo ý nhóm Tea Party đã ủng hộ họ vào năm ngoái. Họ đã đưa ra những đòi hỏi quá khích, như muốn cắt chi tiêu ngay lập tức, không cần kích thích kinh tế. Họ còn đòi muốn nâng trần nợ thì phải tu chính án Hiến Pháp buộc chính phủ giữ ngân sách cân bằng. Tu chính Hiến Pháp là một diễn trình rất phức tạp, phải có đại đa số (2 phần 3) trong mỗi viện Quốc Hội đồng ý, một điều khó đạt được trong không khí chính trị hiện nay. Sau đó, dù đã được Quốc Hội thông qua, bản tu chính lại phải được ba phần tư các tiểu bang chấp thuận! Ðem một diều kiện khó khăn cho một vấn đề lâu dài như vậy để mặc cả việc nâng trần nợ, mà chính phủ nào cũng vẫn thường làm, là một thủ đoạn bắt chẹt không đứng đắn.
Nhất là, trên thực tế, dù Quốc Hội và các tiểu bang có tu chính Hiến Pháp như Tea Party đòi hỏi, thì cũng không làm cho ngân sách nước Mỹ cân bằng được! Hiện nay hầu hết các tiểu bang của Mỹ đều ghi trong Hiến Pháp là ngân sách phải cân bằng, trong đó có tiểu bang California! Nhưng trong thực tế, các chính phủ tiểu bang vẫn chi tiêu nhiều hơn thu vào! Các nhà chính trị có đủ mọi cách để tiêu tiền, mà vẫn hợp hiến! Thí dụ, tất cả những khoản chi để làm đường sá, xây trường học, hay xây nhà tù, đều không được gọi là “chi tiêu” mà đặt dưới danh hiệu “đầu tư!”
Một lý do khiến các đại biểu Quốc Hội đã lo làm chính trị thay vì lo việc chung của nước Mỹ, là áp lực của những người quá khích trong cả hai đảng đe dọa họ sẽ không được đưa ra tranh cử trong năm tới. Hệ thống “bầu sơ bộ” ở Mỹ giúp cho những nhóm có lập trường cực đoan trong mỗi đảng nắm phần quyết định ai là người sẽ đại diện đảng ra tranh cử. Làm mất lòng những cử tri cực đoan có thể sẽ không được tranh cử nữa! Ðây là điều đã xẩy ra cho ông Bob Bennett, nghị sĩ Cộng Hòa, tiểu bang Utah, năm 2010. Ông đã bỏ phiếu ủng hộ dự án chi 700 tỷ đô la của Tổng Thống Bush để giúp các ngân hàng sắp bị phá sản; giống như các nhà lãnh đạo đảng Cộng Hòa lúc đó. Khi tranh cử sơ bộ, ông bị một ứng cử viên Tea Party đả kích, lấy vụ đó làm đề tài chứng tỏ ông tiêu phí tiền của dân đóng thuế! Cuối cùng ông không được ra tranh cử nữa! Một trường hợp khác là bà Lisa Murkowski, người bị bà Sarah Palin và Tea Party chống cho nên bị đảng Cộng Hòa ở Alaska bỏ rơi. Bà Murkowski đã tự ra tranh cử với tính cách độc lập, và vẫn đắc thắng. Các đại biểu Cộng Hòa khác phải lấy tấm gương của hai người này mà lo lắng số phận của họ trong cuộc tranh cử sơ bộ năm 2012! Họ không thể công khai đi ngược lại với những đòi hỏi của Tea Party! Chính tình trạng đó khiến cuộc tranh cãi về Trần Nợ bỗng trở nên gay go trong năm nay.
Một hậu quả của tình trạng tranh cãi trong mấy tháng qua là vai trò của ngành Lập pháp (Quốc Hội Mỹ) đã nổi lên, lấn áp vai trò của Hành pháp; ông Tổng Thống Obama đã mang hình ảnh một người rất yếu ớt. Nhưng chính ngành Lập pháp cũng cho thấy một hình ảnh không mạnh mẽ bao nhiêu, vì cả Hạ Viện bị lệ thuộc một nhóm đại biểu Tea Party! Khi dự luật của ông John Boehner bị bà sarah Palin lên tiếng chỉ trích, ông phải rút lại và đem sửa!
Nhưng cuộc tranh cãi này cũng có một tác dụng tốt, là bắt buộc hai đảng phải chú ý giải quyết một vấn đề lâu dài: Ngân sách khiếm hụt. trong mấy tháng qua! Sau khi trận đấu về Trần Nợ chấm dứt, vấn đề khiếm hụt ngân sách vẫn chưa được giải quyết. Muốn biết hai đảng sẽ tranh luận ra sao, và dân Mỹ sẽ phán đoán họ như thế nào, cuối cùng dân Mỹ lại phải xem hồi sau mới rõ! Trong năm 2012, vấn đề trên sẽ trở thành một đề tài tranh cử, trong việc bầu đại biểu Quốc Hội cũng như bầu tổng thống Mỹ. Khi đó, các câu hỏi sẽ được đặt lại: Cắt chi tiêu những khoản nào? Có tăng thuế không? Dân Mỹ sẽ được nghe đầy tai! Nhưng hy vọng họ sẽ được nghe những ý kiến “thực tế, cụ thể, chừng mực và đứng đắn” chứ không phải chỉ cốt cho các ứng cử viên “làm chính trị!”
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua, trận đấu về Trần Nợ đã chấm dứt, Quốc Hội Mỹ đã đồng ý cho Hành pháp vay thêm nợ. Trên nguyên tắc, cho đến ngày bầu cử năm 2012 Tổng Thống Barack Obama sẽ không cần xin nâng trần lên lần nữa.
Ông Obama có thể nói đã qua được một cửa ải. Nhưng trông mặt ông không có vẻ gì là thơ thới hân hoan cả. Vì Trần Nợ chỉ là một vấn đề nhỏ. Từ nửa thế kỷ nay, chính phủ Mỹ nào cũng yêu cầu được vay nợ thêm, và Quốc Hội thường vẫn chấp thuận. Năm nay, nhân dịp phải nâng trần nợ, một trận đấu lớn đã nổ ra khi các đại biểu Cộng Hòa muốn đặt điều kiện phải giải quyết vấn đề làm sao giảm khiếm hụt ngân sách thì mới cho nâng. Cuối cùng, có thể nói, Tổng Thống Obama đã thua trong trận đấu lớn này. Từ đầu ông vẫn nhấn mạnh muốn cắt giảm ngân sách thì phải vừa cắt các khoản chi tiêu, vừa tăng số thu nhập của chính phủ. Có lúc ông đã được chủ tịch Hạ Viện đồng ý quy tắc này. Nhưng bản Dự luật mà ông Obma phải ký để nâng trần nợ hoàn toàn chỉ có cắt chi mà không nói gì đến tăng thu, dù chỉ là một lời hứa hẹn! Trước khi ông tổng thống Mỹ đặt bút ký vào dự luật, Giáo Sư Paul Krugman, một nhà kinh tế được giải Nobel, đã viết trên Nhật báo New York Times: “Ông tổng thống đầu hàng!”
Nhưng nếu ông Obama thua, thì ai đã thắng? Ai cũng thấy, những người thắng lớn là Ðảng Tiệc Trà (Tea Party). Một số đại biểu Cộng Hòa, gần 80 người, năm ngoái đắc cử nhờ phong trào Tea Party ủng hộ, đã nhất quyết chỉ nâng trần nợ nếu cắt chi tiêu mà không tăng thuế, dù chỉ là lấp những lỗ hổng trong luật thuế khóa mà các công ty dầu khí vẫn được hưởng. Nhóm này bó tay cả ông chủ tịch Hạ Viện, cũng thuộc đảng Cộng Hòa. Thứ năm tuần trước, ông John Boehner phải rút lại không đưa ra một dự luật, chỉ vì bị Tea Pary chống đối. Ngày hôm sau ông sửa lại, cắt thêm nhiều khoản chi tiêu khác, mới được Hạ Viện thông qua. Một khoản bị cắt là 18 tỷ đô la tiền học bổng cho sinh viên (trong 10 năm). Tất cả rồi cũng chẳng đi đến đâu, vì ai cũng biết trước là dự luật đó sẽ không được Thượng Viện đem ra bàn.
Sau cùng, hai đảng đi tới thỏa hiệp, sẽ nâng trần nợ thêm 917 tỷ Mỹ kim (không đủ chi cho tới hết năm 2012), với điều kiện cắt chi tiêu 900 tỷ trong 10 năm. Một ủy ban lưỡng đảng sẽ phải quyết định cắt thêm 1500 tỷ nữa, trước Tháng Mười Một năm nay. Nếu các đề nghị của ủy ban này không được Quốc Hội đồng ý, chính phủ sẽ được phép nâng trần nợ thêm 1,200 tỷ nữa, và phải cắt 1,200 tỷ trong các khoản chi tiêu khác, trong đó có ngân sách quốc phòng và Medicare. Ðiều khoản này là một mánh khóe để bắt cả hai đảng phải tìm cách thỏa hiệp thêm. Vì đảng Cộng Hòa thường không muốn cắt các khoản chi về quốc phòng, còn đảng Dân Chủ xưa nay vẫn bảo vệ các khoản chi Medicare! Nếu trước Lễ Giáng Sinh họ vẫn còn găng nhau như trong nửa năm vừa qua, thì những khoản chi mà họ muốn giữ vẫn sẽ bị cắt!
Chứng kiến những cuộc cãi cọ giữa các nhà chính trị Mỹ trong mấy tháng qua, người ta phải thấy là chưa bao giờ họ lại xuống thấp đến như vậy. Từ ông tổng thống đến các đại biểu Quốc Hội, họ chăm chú “làm chính trị” hơn là lo lắng việc quốc gia.
Việc quốc gia lớn nhất của nước Mỹ bây giờ là kinh tế trì trệ, mặc dù cơn suy thoái bắt đầu năm 2007 đã chấm dứt từ giữa năm 2009. Tình trạng suy sụp trong ngành địa ốc vẫn kéo dài; nganh xây cất là một xương sống của kinh tế Mỹ vẫn chưa lên; người tiêu thụ càng dè dặt không chi; các công ty vẫn chưa tuyển thêm người làm. Trong lúc kinh tế suy yếu, người tiêu thụ bớt tiêu tiền thì chính phủ cần phải tăng số cầu để thúc đẩy số cung tăng theo; không chính phủ nào nên giảm bớt chi tiêu và cũng không nên tăng thuế, đây là bài học sơ đẳng về kinh tế học. Trong mấy tháng vừa qua, các nhà chính trị Mỹ hầu như không nhắc đến tình trạng số cầu khắp thế giới đang xuống và số người thất nghiệp gia tăng, mà chỉ nói tới khiếm hụt ngân sách, là một vấn đề lâu dài có thể chờ khi kinh tế phục hồi sẽ giải quyết!
Vì họ còn lo “làm chính trị.” Các đại biểu Cộng Hòa muốn nhân cơ hội đòi chính phủ giảm chi, và nhiều người thuộc nhóm Tea Party đòi cắt giảm ngay tức khắc. Các đại biểu Dân Chủ và ông tổng thống muốn nhân dịp này cắt bớt những trợ cấp cho các công ty dầu, và tăng thuế những người giầu nhất nước, lợi tức trên 250,000 đô la một năm. Họ muốn đấu lại trận đấu cuối năm 2010, mà khi đó ông Obama đã phải nhượng bộ, chịu triển hạn các đạo luật cắt thuế của cựu Tổng Thống Gorges W. Bush khiến ông bị ngay trong đảng Dân Chủ chống đối (vụ đầu hàng thứ nhất, như nhiều người đã nói).
Người chịu trách nhiệm đầu tiên là Tổng Thống Barack Obama. Ông gần như tự bỏ vai trò “lãnh đạo” mà người dân trông đợi. Ông và ông bộ trưởng Tài Chánh đã lấy nguy cơ “vỡ nợ” (default) và lấy ngày 2 Tháng Tám làm giới hạn để thúc đẩy chấm dứt cuộc tranh luận. Nhưng thật ra, chính phủ Mỹ không lo “vỡ nợ,” mà chỉ bị đe dọa sẽ phải “đóng cửa” vì không đủ tiền trả lương công chức! Trong Tháng Tám, chính phủ sẽ thu vào hơn 172 tỷ đô la, mà số tiền lãi phải trả cho các công trái cũ chỉ có 29 tỷ. Trong tài khóa 2010-11, chấm dứt cuối Tháng Chín, chính phủ sẽ thu 2,200 tỷ đô la, trong khi chỉ phải dùng 214 tỷ trả tiền lãi. Với số thu như vậy, làm sao mà chính phủ Mỹ vỡ nợ được? Thay vì hô hoán mối nguy vỡ nợ, đáng lẽ các ông Obama và Geithner phải lên tiếng trấn an cả thế giới rằng nước Mỹ sẽ nhất quyết trả tiền lãi và tiền vốn cho các nhà đầu tư vào công trái, dù có được Quốc Hội nâng trần nợ hay không! Thay vì nhắc lại việc tăng thuế những người giầu nhất nước, mà chính ông cũng đề nghị đến năm 2013 mới tăng, đáng lẽ ông Obama nên nhấn mạnh: Không tăng thuế trong lúc kinh tế còn suy yếu. Ngoài ra, chính ông Obama phải lên tiếng cam đoan sẽ cắt bớt chi tiêu của nhà nước, với những đề nghị cụ thể trong 5, 10 năm tới; mặc dù đảng Dân Chủ muốn trì hoãn vấn đề này. Nhưng thay vì lãnh đạo nước Mỹ, ông Obama lại lo “làm chính trị,” để bảo vệ lòng tín nhiệm của các cử tri cánh tả trong đảng ông.
Các đại biểu Cộng Hòa cũng lo “làm chính trị” nhiều hơn việc quốc gia; đặc biệt là những người phải chiều theo ý nhóm Tea Party đã ủng hộ họ vào năm ngoái. Họ đã đưa ra những đòi hỏi quá khích, như muốn cắt chi tiêu ngay lập tức, không cần kích thích kinh tế. Họ còn đòi muốn nâng trần nợ thì phải tu chính án Hiến Pháp buộc chính phủ giữ ngân sách cân bằng. Tu chính Hiến Pháp là một diễn trình rất phức tạp, phải có đại đa số (2 phần 3) trong mỗi viện Quốc Hội đồng ý, một điều khó đạt được trong không khí chính trị hiện nay. Sau đó, dù đã được Quốc Hội thông qua, bản tu chính lại phải được ba phần tư các tiểu bang chấp thuận! Ðem một diều kiện khó khăn cho một vấn đề lâu dài như vậy để mặc cả việc nâng trần nợ, mà chính phủ nào cũng vẫn thường làm, là một thủ đoạn bắt chẹt không đứng đắn.
Nhất là, trên thực tế, dù Quốc Hội và các tiểu bang có tu chính Hiến Pháp như Tea Party đòi hỏi, thì cũng không làm cho ngân sách nước Mỹ cân bằng được! Hiện nay hầu hết các tiểu bang của Mỹ đều ghi trong Hiến Pháp là ngân sách phải cân bằng, trong đó có tiểu bang California! Nhưng trong thực tế, các chính phủ tiểu bang vẫn chi tiêu nhiều hơn thu vào! Các nhà chính trị có đủ mọi cách để tiêu tiền, mà vẫn hợp hiến! Thí dụ, tất cả những khoản chi để làm đường sá, xây trường học, hay xây nhà tù, đều không được gọi là “chi tiêu” mà đặt dưới danh hiệu “đầu tư!”
Một lý do khiến các đại biểu Quốc Hội đã lo làm chính trị thay vì lo việc chung của nước Mỹ, là áp lực của những người quá khích trong cả hai đảng đe dọa họ sẽ không được đưa ra tranh cử trong năm tới. Hệ thống “bầu sơ bộ” ở Mỹ giúp cho những nhóm có lập trường cực đoan trong mỗi đảng nắm phần quyết định ai là người sẽ đại diện đảng ra tranh cử. Làm mất lòng những cử tri cực đoan có thể sẽ không được tranh cử nữa! Ðây là điều đã xẩy ra cho ông Bob Bennett, nghị sĩ Cộng Hòa, tiểu bang Utah, năm 2010. Ông đã bỏ phiếu ủng hộ dự án chi 700 tỷ đô la của Tổng Thống Bush để giúp các ngân hàng sắp bị phá sản; giống như các nhà lãnh đạo đảng Cộng Hòa lúc đó. Khi tranh cử sơ bộ, ông bị một ứng cử viên Tea Party đả kích, lấy vụ đó làm đề tài chứng tỏ ông tiêu phí tiền của dân đóng thuế! Cuối cùng ông không được ra tranh cử nữa! Một trường hợp khác là bà Lisa Murkowski, người bị bà Sarah Palin và Tea Party chống cho nên bị đảng Cộng Hòa ở Alaska bỏ rơi. Bà Murkowski đã tự ra tranh cử với tính cách độc lập, và vẫn đắc thắng. Các đại biểu Cộng Hòa khác phải lấy tấm gương của hai người này mà lo lắng số phận của họ trong cuộc tranh cử sơ bộ năm 2012! Họ không thể công khai đi ngược lại với những đòi hỏi của Tea Party! Chính tình trạng đó khiến cuộc tranh cãi về Trần Nợ bỗng trở nên gay go trong năm nay.
Một hậu quả của tình trạng tranh cãi trong mấy tháng qua là vai trò của ngành Lập pháp (Quốc Hội Mỹ) đã nổi lên, lấn áp vai trò của Hành pháp; ông Tổng Thống Obama đã mang hình ảnh một người rất yếu ớt. Nhưng chính ngành Lập pháp cũng cho thấy một hình ảnh không mạnh mẽ bao nhiêu, vì cả Hạ Viện bị lệ thuộc một nhóm đại biểu Tea Party! Khi dự luật của ông John Boehner bị bà sarah Palin lên tiếng chỉ trích, ông phải rút lại và đem sửa!
Nhưng cuộc tranh cãi này cũng có một tác dụng tốt, là bắt buộc hai đảng phải chú ý giải quyết một vấn đề lâu dài: Ngân sách khiếm hụt. trong mấy tháng qua! Sau khi trận đấu về Trần Nợ chấm dứt, vấn đề khiếm hụt ngân sách vẫn chưa được giải quyết. Muốn biết hai đảng sẽ tranh luận ra sao, và dân Mỹ sẽ phán đoán họ như thế nào, cuối cùng dân Mỹ lại phải xem hồi sau mới rõ! Trong năm 2012, vấn đề trên sẽ trở thành một đề tài tranh cử, trong việc bầu đại biểu Quốc Hội cũng như bầu tổng thống Mỹ. Khi đó, các câu hỏi sẽ được đặt lại: Cắt chi tiêu những khoản nào? Có tăng thuế không? Dân Mỹ sẽ được nghe đầy tai! Nhưng hy vọng họ sẽ được nghe những ý kiến “thực tế, cụ thể, chừng mực và đứng đắn” chứ không phải chỉ cốt cho các ứng cử viên “làm chính trị!”
Tại sao phải dùng Bạo Lực Lật Đổ chế độ Độc Tài ở Việt Nam
Hướng Dương txđ
Lịch sử những cuộc đấu tranh chống độc tài cho thấy rằng không thể dùng những phương pháp ôn hòa mà đi đến được thắng lợi. Trong bất cứ một cuộc cách mạng nào, luôn luôn phải có bạo động, phải có đổ máu, phải có hy sinh. Có đổ máu, có hy sinh nhưng bạo lực không đến nới đến chốn, không đủ cường độ để chống bạo lực đối phương thì vẫn thất bại. Hình ảnh cuộc nổi dạy của thanh niên sinh viên Trung Hoa ở Thiên An Môn năm 1989 là thí dụ điển hình. Cuộc nổi dậy chống nhà độc tài Khadafi ở Lybia là một bài học đau đớn hơn nữa. Những kẻ nổi dậy không có đủ vũ khí súng đạn – chưa kể là khộng được tổ chức đàng hoàng – nên dù có dùng đến bạo lực nhưng cuộc đấu tranh vẫn dai dẳng, vẫn chưa đưa tới thắng lợi.
Có người hỏi tại sao lại nghĩ tới chuyện lật đổ chính thể Cộng sản ở Việt Nam? Câu trả lời đơn giản là vì nếu không lật đổ thì chế độ độc tài tàn bạo này sẽ vẫn cứ tồn tại cha truyền con nối, dân tộc Việt nam sẽ tiếp tục bị hoạn nạn, nguy cơ bị xâm lăng sẽ vẫn còn đó. Nhìn lại quá khứ và hiện tại, chúng ta không thấy có lý do gì để mong muốn chế độ cộng sản độc tài tiếp tục kéo dài ở Việt Nam. Độc tài sáng suốt như ở Đại Hàn dưới tướng Park Chung Hi hay Tân Gia Ba dưới thời cầm quyền của Lý Quang Diệu thì ai không muốn? Nhưng Việt Nam không may mắn có được một chế độ độc tài sáng suốt như hai nước này.
1. Chế độ Cộng sản độc tài Việt Nam đã dùng bạo lực để cướp chính quyền kể từ những năm kháng chiến chống Pháp, phong trào Việt Minh đã thủ tiêu một cách dã man những thành phần quốc gia yêu nước không cùng đường lối Mác xít. Bọn Cộng Sản đã dùng bạo lực để dành quyền làm chủ đất nước, chúng dựa vào các nước Cộng Sản đàn anh để chống Pháp với chiêu bài chống thực dân, chiêu bài giải phóng quê hương chỉ để lừa bịp người dân và lợi dụng lòng yêu nước của toàn thể dân chúng trong cao trào chống ngoại xâm. Năm 1954, Cộng sản Việt Nam bị áp lực của Trung Cộng phải ký Hiệp Định Geneva chia cắt đất nước. Sau đó chúng có tham vọng nuốt nốt miền Nam, đưa quân vào khủng bố cắt cổ mổ bụng người dân buộc họ phải theo chúng. Việt Cộng dùng bạo lực để trả thù những người chống lại hay không theo chúng, tiêu biểu nhất là những cuộc khủng bố đặt mìn và hơn cả là cuộc tàn sát vào ngày Tết Mậu Thân 1968 ở Huế. Cộng Sản trong mọi trường hợp lấy máu để biểu tượng lòng thù hằn, lấy vũ khí súng đạn bom mìn để biểu tượng bạo lực nhằm khống chế người dân. Bằng bạo lực chúng hạch hỏi điều tra dọa nạt hành hạ tra tấn và giết chết một cách dã man hàng trăm ngàn người dân vô tội mà chúng coi như là kẻ thù, chúng nuôi hận thù và khống chế những ai chúng không tin tưởng và sẵn sàng thủ tiêu họ như trong trường hợp hàng mấy trăm ngàn quân cán chính VNCH đã bị chúng đưa đi đầy ải sau ngày chúng cướp được chính quyền ở Miền Nam để họ chết dần chết mòn trong những nhà tù mà chúng gọi là những “trại cải tạo."
2. Chế độ Cộng sản Độc tài không danh chính ngôn thuận vì không bao giờ do dân bầu lên và chưa bao giờ được dân ủng hộ. Vì bị cưỡng chế mà người dân đã phải theo Việt Minh vì bị lừa và đã phóng lao thì phải theo lao, nếu không theo thì sẽ bị thủ tiêu. Những trí thức văn nghệ sĩ thương gia lỡ ủng hộ phong trào Việt Minh rồi đành phải câm miệng nhịn nhục và tiếp tục ra vẻ ủng hộ mặc dù bên trong thì thì họ đã biết sự thật và chán ghét Việt Minh.
Năm 1954, hai triệu người đã bỏ nơi chôn nhau cắt rốn di cư vào miền Nam vì biết rõ bộ mặt thật của Cộng sản. Những người nhe dạ ở lại đã bị tịch thu tài sản, đem ra đấu tố (cải cách ruộng đất) hay bị đầy ải cho đi cải tạo (Trăm Hoa Đua Nở - Nhân văn Giai Phẩm). Sau khi đã đóng vĩ tuyến 17 vẫn còn những người liều chết bỏ trốn đi vào miền Nam bằng thuyền bè. Trong suốt thời gian có chiến tranh giữa hai miền đã có hàng ngàn binh lính Cộng Sản trở về với chính nghĩa quốc gia qua chiến sách chiêu hồi của Việt Nam Cộng Hòa. Nhiều tù binh Cộng Sản đã từ chối không chịu trở về miền Bắc trong cuôc trao đổi tù binh năm 1973 nhưng vì qui định của hiệp định ký kết tại Paris họ đã miễn cưỡng phải trở về Bắc. Họ cũng như những kẻ về hồi chánh đã quá biết bộ mặt thật của chính thể độc tài ở Miền Bắc và yêu chuộng chế độ tự do nhân bản của Miền Nam.
Năm 1975, do sự phản bội của chính phủ Hoa Kỳ - TT Thiệu nói là của Kissinger cho nhẹ lời - quân đội Mỹ rút lui, Miền Nam đã bị bỏ rơi, không còn nhận được viện trợ quân sự của Hoa Kỳ để tiếp tục chiến đấu tự bảo vệ, nên Bắc Việt với sự ủng hộ và viện trợ quân sự ồ ạt của Trung Cộng và Liên Sô, đã lợi dụng tình thế, xua quân vào cưỡng chiếm Miền Nam. Ngày 30 tháng Tư năm 1975 toàn dân Miền Nam đã đau đớn chịu mất nước, những người không may mắn nhanh chân chạy thoát đã phải đi tù, nhiều người trên chục năm trời, một số không nhỏ (hàng chục ngàn) đã bị hành hạ hay bỏ chết đói chết bệnh hay bị hãm hại trong trại giam. Hơn một triệu người đã liều mạng bỏ trốn ra nước ngoài, kẻ trên những con thuyển lênh đênh trên biển Nam Hải, kẻ thì băng đường rừng đi vượt biên giới để tìm tự do. Bao nhiêu người đã chết tức tưởi trong cuộc ra đi tìm cái sống này, con số chính xác không có, chỉ có sự ước định là vào khoảng trên 400,000 người. Chưa bao giờ Miền Nam chấp nhận Cộng Sản. Bằng bạo lực một chính thể độc tài bất nhân ác đức đã được áp đạt lên đầu những người dân miền Nam. Trước đó quân Cộng sản đi đến đâu là người dân kinh hãi bồng bế nhau đi trốn tránh, lòng người dân Miền Nam chưa bao giờ chấp nhận Công sản.
3. Và cho đến nay 36 năm sau bị Miền Nam bị cưỡng chiếm, nhân dân vẫn chưa chấp nhận chế độ Cộng Sản và chưa bao giờ ủng hộ chính thể độc tài hiện thời. Lòng dân chán ghét chế độ đến cực điểm nhưng vì Cộng sản kiểm soát người dân bằng bạo lực nên không ai dám tỏ thái độ, không ai dám lên tiếng đã đảo, chỉ vì họ sợ bị đi tù, bị hành hạ, bị tra khảo, và thủ tiêu. Đọc bài tựa đề “Một vị máu đắng miệng, một giọt lệ phẫn nộ trong mắt” mới được công bố đây của André Menras, một người Pháp trước kia đã phải đi tù dưới thời VNCH vì đã ủng hộ Việt Cộng, người ta càng ý thức việc chế độ Cộng sản độc tài hiện nay vẫn đang sử dụng bạo lực để kiểm soát và kiềm chế người dân một cách tàn bạo:
Hôm nay, ngày 18-7, lại rất đau đớn và đầy phẫn nộ! Tôi đã xem những bức ảnh – không cắt dán lắp ghép – của những công an quần áo màu lục hay màu lam, đội mũ, đi ủng, hay những công an mặc thường phục; họ xô đẩy, lôi kéo, đấm đá; họ đá cả vào mặt một thanh niên đã ngã xuống.
……….. Tôi hổ thẹn cho các ông. Tôi hổ thẹn về lòng thù hận của các ông khi hành hạ những công dân lương thiện, ôn hoà và can đảm; về sự hèn nhát của các ông trước bọn cướp trung quốc.
……….. Bằng những hành động trấn áp ngày càng bạo liệt, một số lãnh đạo của chế độ hiện đang … gây ra cùng một loại dị ứng trong dân chúng trước đám công an, chìm hay nổi, tràn ngập, ngày càng hung hãn. Họ tạo ra điều kiện cho sự sụp đổ từ bên trong rất có hại cho Việt Nam, bởi vì phong trào yêu nước, ôn hoà và dân chủ, đã hiển lộ giữa ban ngày, sẽ không dừng lại.
………. Quả là đến lúc dừng lại dùi cui, để mở mắt nhìn và để dỏng tai nghe: con đường đàn áp là bế tắc. Hỡi quý ông mang dùi cui, cái vị máu trong miệng đó, và cái nỗi thịnh nộ đó, mà mỗi ngày các phản ứng hèn hạ của quý ông mỗi làm cho thêm người cùng nếm trải, đang đưa quý ông, và gia đình, và cả đất nước này đến thảm hoạ.
Suốt hơn 60 năm vẫn một đảng độc tài sắt máu, vẫn một quốc hội bù nhìn, một đảng dân chủ cuội, người dân phải đi bầu để khỏi bị trù dập và đi bầu thì vẫn chỉ bầu cho những kẻ do Đảng chỉ định. Nhà nước nói người dân làm chủ đất nước nhưng kỳ thật đất nước nằm trong tay một số đảng viên côn đồ gộc nằm trong cái gọi là Bộ Chính Trị hay Trung Ương Đảng gì đó.
Quyền lực chính trị được chia chác giữa một số người vì nó gắn liền với quyền lợi vật chất tiền bạc, những đãng viên gộc cũng là những tư bản đỏ, tải sản lên tới bạc tỷ, lòng tham vô đáy kéo theo nhu cầu phải bảo vệ quyền lực và lòng dã thú, họ sẵn sàng dùng bạo lực để duy trì vi thế của họ. Vì thế bọn Cộng sản luôn luôn phải nuôi dưỡng một hệ thống công an mật vụ để bảo vệ cho chúng và chúng sẵn sàng áp dụng những mưu mô qủy quyệt nhất, những biện pháp tàn bạo vô nhân đạo nhất để duy trì chế độ Việt gian.
4. 36 năm sau khi đất nước được “thống nhất”, xã hội băng hoại, thối nát tham nhũng lan tràn từ trên xuống dưới, chính quyền bất tài bất lực không có khả năng phát triển đất nước, cứ trông cậy vào những nhà đầu tư ngoại quốc, những tên tư bản thực dân lỏi ở ngay trong vùng Đông Nam Á, đổ tiền vào lợi dụng nhân công rẻ rúng ở địa phương để trục lợi. Nhà nước không có chính sách bảo vệ quyền lợi quốc gia như bảo vệ tài nguyên nhiên liệu, bảo vệ sức lao động của người dân, cứ mặc nhiên để cho bọn ngoại quốc hút máu hút mủ đất nước và nhân dân ta. Lý do đơn giản là vì chỉ bằng cách để cho bọn chúng vào đầu tư thì những tên đầu sỏ trong Đảng và Nhà Nước mới chấm mút được, tiền đầu tư trực tiếp ngoại quốc (FDI – foreign direct investment) hàng mấy chục tỷ một năm có lợi cho người dân thì ít mà lợi cho bọn đầu nậu Cộng Sản và ngoại quốc thì nhiều.
Tình trạng kinh tế tài chánh luôn luôn khủng hoảng, cán cân chi thu và cán cân xuất nhập cảng luôn luôn mất cần bằng, tiền vay nợ các ngân hàng thế giới lên tới con số nhà nước không còn thanh toán nổi, ngoại tệ luôn luôn khan hiếm, lạm phát gia tăng, đồng tiền sụt giá liên tục làm cho đời sống người dân ngày càng khốn đốn, nhưng nhà nước đâu cần biết, miễn sao tiền tiếp tục vào trong túi những tên “tư bản đỏ” còn nhân dân thì sống chết mặc bay. Nhà nước cũng không chú trọng đến tương lai, không có kế họach đào tạo những lớp người có khả năng khoa học kỹ thuật chuyên môn cần thiết để phát triên đất nước. Việt Nam cần bao nhiêu chục năm nữa mới bắt được đà những nước xung quanh, đó là nỗi ưu tư của ai khác chứ những nhà lãnh đạo Cộng Sản không cần biết. Câu nói về dân tộc Việt Nam của một nhà báo Pháp - hình như là Jean Larteguy? – tuyên bố cách đây đã cả bốn năm chục năm sao bây giờ vẫn thấy thấm thía: “Một dân tộc sư tử mà lại bị những con lừa lãnh đạo (un people de lions conduit par des ânes)”.
Hai giai cấp “đi tiên phong” trong cuộc “Cách Mạng Vô Sản” là công nhân và nông dân bị lừa bịp nặng nhất: Nông dân bị chính phủ lấy đất để bán cho ngoại quốc làm sân golf hay xây dựng những nhà máy hay cơ sở thương mại, thậm chí còn bị những chính quyền địa phương thối nát ăn cướp đất làm của riêng. Công nhân thì được gửi đi “ bán sức lao động” khắp thế giới – hàng triệu thanh niên hiện đang đi làm dịch vụ nô lệ ở ngoại quốc. Ngay tại nước nhà công nhân bị các chủ xưởng hãng bóc lột sức lao động, thường xuyên đình công. Nhà nước không hề bảo vệ người công nhân với lý do đơn gian là những tay tổ trong chính quyền đã ăn chia với những tên tư bản thực dân ngoại quốc rồi. Những kẻ bị bóc lột thậm tệ đó, giai cấp công nông, sẽ là mũi dùi đi đầu trong cuộc đứng lên lật đổ chế dộ Cộng Sản. Họ “không có gì để mất ngoài những xiềng xích đang trói buộc họ” (chính lời của Marx).
5. Để bảo đảm việc giữ vững chế độ độc tài thối nát này, bọn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam sẳn sàng phản quốc phản dân tộc. Chúng dựa vào hơi hám bọn đàn anh Trung Cộng của chúng để củng cố chế độ bất lương do chúng thiết lập. Chúng thà bán nước chứ không để mất những quyền lợi béo bở mà chúng đang được hưởng. Sau những vụ cắt đất cắt biển dâng cho quan thầy của chúng, chúng câm miệng không dám ho he trước vụ xâm lăng lãnh hải của ta, giết chết đồng bào ta - những ngư phủ bị bọn Tàu phù bắt, hành hạ, và ám hại - và quan trọng hơn nữa là vụ Trung Cộng xâm chiếm hai đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nơi có những mỏ dầu hỏa, nguồn tài nguyên quí giá của đất nước ta. Bọn Cộng Sản Việt Nam giở thói côn đồ đối với những thanh niên Việt yêu nước đứng lên sôi sục biểu tình chống lại Trung Công, dùng bạo lực đánh đập chửi bới người dân làm cho những kẻ trước đây ủng hộ chúng trong cuộc xâm chiếm Miền Nam, nay cũng phải phẩn uất. André Menras trong bài được nói đến trên đây đã viết:
Bằng những hành động trấn áp ngày càng bạo liệt, một số lãnh đạo của chế độ hiện đang chui vào cùng một rọ với bọn du thủ du thực vô tổ quốc của chế độ cũ. Họ gây ra cùng một loại dị ứng trong dân chúng trước đám công an, chìm hay nổi, tràn ngập, ngày càng hung hãn. Họ tạo ra điều kiện cho sự sụp đổ từ bên trong rất có hại cho Việt Nam, bởi vì phong trào yêu nước, ôn hoà và dân chủ, đã hiển lộ giữa ban ngày, sẽ không dừng lại.
Trước làn sóng đang dâng lên, hợp pháp, lành mạnh và cứu rỗi, sự đàn áp sẽ lên đến những mức nào trong cái bẩn thỉu, sự hãi sợ, và sự ngu xuẩn? Có phải người ta sẽ mở lại các trại tập trung? Có phải người ta sẽ xử dụng xe tăng theo kiểu Thiên An Môn? Có phải người ta sẽ bắn vào quần chúng? Tra tấn? Thủ tiêu? Liệu có ai ngây thơ đến độ tin rằng nhân dân Việt Nam cũng giống như nhân dân Trung Quốc, và sẽ cúi đầu trước roi vọt? Bởi vì phong trào đã âm ỉ từ lâu như thế, và đã tiến lên như thế, sẽ không dừng lại. Đó không phải là một phong trào bột phát lửa rơm của sinh viên: nó đã tụ hợp được trên những điểm mấu chốt những trí thức có tiếng tăm, có quá khứ ái quốc đầy uy tín, được kính trọng và được lắng nghe, những quân nhân mà sự vinh quang phục vụ tổ quốc cũng như sự liêm khiết không ai có thể nghi ngờ. Nó bắt rễ rất sâu trong quá khứ yêu nước và trong văn hoá đại chúng.
Quả là đến lúc dừng lại dùi cui, để mở mắt nhìn và để dỏng tai nghe: con đường đàn áp là bế tắc. Hỡi quý ông mang dùi cui, cái vị máu trong miệng đó, và cái nỗi thịnh nộ đó, mà mỗi ngày các phản ứng hèn hạ của quý ông mỗi làm cho thêm người cùng nếm trải, đang đưa quý ông, và gia đình, và cả đất nước này đến thảm hoạ.
Kết Luận:
Chế độ Cộng Sản độc tài hiện tại là một chế độ bất lực, thối nát, phản dân hại nước, đi ngược lại với cao trào dân chủ trên toàn thế giới. Những kẻ lãnh đạo trong cái đảng “mafia” ở Hà Nội là những kẻ vô học, vô lương tâm, hám của, ham ăn chơi, ham sắc, chỉ biết nghỉ tới quyền lợi riêng tư, không màng gì đến đất nước, đến dân tộc, chúng coi thường những quyền lợi chân chính của dân ta. Đất nước bị xâm chiếm, chúng cũng làm ngơ, người dân khốn khổ không đủ cơm ăn áo mặc, chúng cũng bỏ mặc.
Để duy trì cái chế độ mang vàng bạc châu báu đến cho chúng, để giữ vững quyền lực bất chính cha truyền con nối trong tay một thiểu số những kẻ bất lương, chúng bỏ hàng tỷ ra để nuôi dưỡng một bộ máy kìm kẹp bịt miệng bịt mắt người dân bao gồm hàng triệu bọn côn đồ mật vụ và công an, sẵng sàng tuân lênh chúng, dùng bạo lực để khủng bố đe dọa, trừng phạt, bắt bớ bỏ tù, đánh đập tra khảo và thủ tiêu những ai đứng lên tố cáo chúng với thế giới, đòi quyền sống, đòi công bình, đòi dân chủ tự do… Chúng sẵng sàng dùng súng đạn xe tăng đàn áp, khủng bố những ai dám xuống đường chống lại chúng, sẵn sàng bắt chước quan thầy Trung Quốc của chúng tạo ra một “Thiên an môn”, tàn sát người dân.
Chỉ những kẻ mơ tưởng hay ngu dại mới nghĩ rằng chúng từ từ sẽ thay đổi, sẽ thực hiện dân chủ, sẽ thương nước thương dân, v…v… Đối với những kẻ đã mất lương tri như bọn cộng sản độc tài, những kẻ không bao giờ hiểu lẽ phải, không bao giờ biết công bình bác ái, thì tranh đấu ôn hòa cũng không thể đi đến đâu. Thanh niên sinh viên vừa xuống đường bầy tỏ lòng yêu nước là đã bị chúng dùng bạo lực trấn áp một cách công khai. André Menras, một tay trước đây là “đồng chí” với bọn Việt Cộng, nay đã sáng mắt nhưng vẫn còn ngây thơ tự hỏi:
Trước làn sóng đang dâng lên, hợp pháp, lành mạnh và cứu rỗi, sự đàn áp sẽ lên đến những mức nào trong cái bẩn thỉu, sự hãi sợ, và sự ngu xuẩn? Có phải người ta sẽ mở lại các trại tập trung? Có phải người ta sẽ xử dụng xe tăng theo kiểu Thiên An Môn? Có phải người ta sẽ bắn vào quần chúng? Tra tấn? Thủ tiêu?
Bọn Cộng Sản có khi nào từ bỏ đàn áp người dân, có khi nào chúng không sợ hãi người dân nổi dậy? Chúng có khi nào đóng cửa những trại tập trung? Sao chúng lại không dùng xe tăng để trấn áp những người đứng lên chống lại chúng? Bằng chính sách ngu dân, bằng những phong trào đầu độc tư tưởng, những phương pháp tẩy não, tuyên truyền, bằng những lời dối trá bịp bợm, chúng muốn ru ngủ dân ta, muốn dân ta trở thành là những con cừu, chỉ biết ngoan ngoãn tuấn lệnh, nghe theo những gì chúng nói, muốn dân ta trở thành những con vật chúng dễ sai khiến, hay những người máy chúng dễ điểu khiển. Nếu dân ta không nghe, không tuân lệnh, chúng ra tay ngay, chúng sẽ dùng bạo lực để trấn áp chúng ta.
Như vậy đối với bọn Cộng Sản độc tài, không thể có sự đấu tranh ôn hòa, không thể có một thỏa hiệp, vì một lý do đơn giản là chúng ngoan cố không bao giờ chấp nhận ai đấu tranh chống lại chúng, không bao giờ chấp nhận thỏa hiệp. Như vậy chỉ có thể một cuộc đấu tranh bằng bạo lực mới có thể chống lại sự tàn bạo của chúng, mới có thể lật đổ chế độ độc tài hiện hành. Không thể nào không có đổ máu mà cuộc nổi dậy có thể thành công. Chỉ có bạo lực mới chống lại được bạo lực. Một sự éo le khác là ngày nào Việt Cộng còn thì quan thầy Trung Cộng của chúng vẫn còn là mối đe dọa cho dân tộc, đất nước ta. Có diệt được bọn Việt cộng độc tài mới trị được bọn Trung Cộng xâm lăng. Đó lại càng là lý do chúng ta phải dùng bạo lực lật đổ chế độ Cộng Sản tay sai Đế Quốc Trung Cộng này.
Hướng Dương txđ
Tháng 7 năm 2011
http://huongduongtxd.com/latdochedodoctai.html
Hướng Dương txđ
Lịch sử những cuộc đấu tranh chống độc tài cho thấy rằng không thể dùng những phương pháp ôn hòa mà đi đến được thắng lợi. Trong bất cứ một cuộc cách mạng nào, luôn luôn phải có bạo động, phải có đổ máu, phải có hy sinh. Có đổ máu, có hy sinh nhưng bạo lực không đến nới đến chốn, không đủ cường độ để chống bạo lực đối phương thì vẫn thất bại. Hình ảnh cuộc nổi dạy của thanh niên sinh viên Trung Hoa ở Thiên An Môn năm 1989 là thí dụ điển hình. Cuộc nổi dậy chống nhà độc tài Khadafi ở Lybia là một bài học đau đớn hơn nữa. Những kẻ nổi dậy không có đủ vũ khí súng đạn – chưa kể là khộng được tổ chức đàng hoàng – nên dù có dùng đến bạo lực nhưng cuộc đấu tranh vẫn dai dẳng, vẫn chưa đưa tới thắng lợi.
Có người hỏi tại sao lại nghĩ tới chuyện lật đổ chính thể Cộng sản ở Việt Nam? Câu trả lời đơn giản là vì nếu không lật đổ thì chế độ độc tài tàn bạo này sẽ vẫn cứ tồn tại cha truyền con nối, dân tộc Việt nam sẽ tiếp tục bị hoạn nạn, nguy cơ bị xâm lăng sẽ vẫn còn đó. Nhìn lại quá khứ và hiện tại, chúng ta không thấy có lý do gì để mong muốn chế độ cộng sản độc tài tiếp tục kéo dài ở Việt Nam. Độc tài sáng suốt như ở Đại Hàn dưới tướng Park Chung Hi hay Tân Gia Ba dưới thời cầm quyền của Lý Quang Diệu thì ai không muốn? Nhưng Việt Nam không may mắn có được một chế độ độc tài sáng suốt như hai nước này.
1. Chế độ Cộng sản độc tài Việt Nam đã dùng bạo lực để cướp chính quyền kể từ những năm kháng chiến chống Pháp, phong trào Việt Minh đã thủ tiêu một cách dã man những thành phần quốc gia yêu nước không cùng đường lối Mác xít. Bọn Cộng Sản đã dùng bạo lực để dành quyền làm chủ đất nước, chúng dựa vào các nước Cộng Sản đàn anh để chống Pháp với chiêu bài chống thực dân, chiêu bài giải phóng quê hương chỉ để lừa bịp người dân và lợi dụng lòng yêu nước của toàn thể dân chúng trong cao trào chống ngoại xâm. Năm 1954, Cộng sản Việt Nam bị áp lực của Trung Cộng phải ký Hiệp Định Geneva chia cắt đất nước. Sau đó chúng có tham vọng nuốt nốt miền Nam, đưa quân vào khủng bố cắt cổ mổ bụng người dân buộc họ phải theo chúng. Việt Cộng dùng bạo lực để trả thù những người chống lại hay không theo chúng, tiêu biểu nhất là những cuộc khủng bố đặt mìn và hơn cả là cuộc tàn sát vào ngày Tết Mậu Thân 1968 ở Huế. Cộng Sản trong mọi trường hợp lấy máu để biểu tượng lòng thù hằn, lấy vũ khí súng đạn bom mìn để biểu tượng bạo lực nhằm khống chế người dân. Bằng bạo lực chúng hạch hỏi điều tra dọa nạt hành hạ tra tấn và giết chết một cách dã man hàng trăm ngàn người dân vô tội mà chúng coi như là kẻ thù, chúng nuôi hận thù và khống chế những ai chúng không tin tưởng và sẵn sàng thủ tiêu họ như trong trường hợp hàng mấy trăm ngàn quân cán chính VNCH đã bị chúng đưa đi đầy ải sau ngày chúng cướp được chính quyền ở Miền Nam để họ chết dần chết mòn trong những nhà tù mà chúng gọi là những “trại cải tạo."
2. Chế độ Cộng sản Độc tài không danh chính ngôn thuận vì không bao giờ do dân bầu lên và chưa bao giờ được dân ủng hộ. Vì bị cưỡng chế mà người dân đã phải theo Việt Minh vì bị lừa và đã phóng lao thì phải theo lao, nếu không theo thì sẽ bị thủ tiêu. Những trí thức văn nghệ sĩ thương gia lỡ ủng hộ phong trào Việt Minh rồi đành phải câm miệng nhịn nhục và tiếp tục ra vẻ ủng hộ mặc dù bên trong thì thì họ đã biết sự thật và chán ghét Việt Minh.
Năm 1954, hai triệu người đã bỏ nơi chôn nhau cắt rốn di cư vào miền Nam vì biết rõ bộ mặt thật của Cộng sản. Những người nhe dạ ở lại đã bị tịch thu tài sản, đem ra đấu tố (cải cách ruộng đất) hay bị đầy ải cho đi cải tạo (Trăm Hoa Đua Nở - Nhân văn Giai Phẩm). Sau khi đã đóng vĩ tuyến 17 vẫn còn những người liều chết bỏ trốn đi vào miền Nam bằng thuyền bè. Trong suốt thời gian có chiến tranh giữa hai miền đã có hàng ngàn binh lính Cộng Sản trở về với chính nghĩa quốc gia qua chiến sách chiêu hồi của Việt Nam Cộng Hòa. Nhiều tù binh Cộng Sản đã từ chối không chịu trở về miền Bắc trong cuôc trao đổi tù binh năm 1973 nhưng vì qui định của hiệp định ký kết tại Paris họ đã miễn cưỡng phải trở về Bắc. Họ cũng như những kẻ về hồi chánh đã quá biết bộ mặt thật của chính thể độc tài ở Miền Bắc và yêu chuộng chế độ tự do nhân bản của Miền Nam.
Năm 1975, do sự phản bội của chính phủ Hoa Kỳ - TT Thiệu nói là của Kissinger cho nhẹ lời - quân đội Mỹ rút lui, Miền Nam đã bị bỏ rơi, không còn nhận được viện trợ quân sự của Hoa Kỳ để tiếp tục chiến đấu tự bảo vệ, nên Bắc Việt với sự ủng hộ và viện trợ quân sự ồ ạt của Trung Cộng và Liên Sô, đã lợi dụng tình thế, xua quân vào cưỡng chiếm Miền Nam. Ngày 30 tháng Tư năm 1975 toàn dân Miền Nam đã đau đớn chịu mất nước, những người không may mắn nhanh chân chạy thoát đã phải đi tù, nhiều người trên chục năm trời, một số không nhỏ (hàng chục ngàn) đã bị hành hạ hay bỏ chết đói chết bệnh hay bị hãm hại trong trại giam. Hơn một triệu người đã liều mạng bỏ trốn ra nước ngoài, kẻ trên những con thuyển lênh đênh trên biển Nam Hải, kẻ thì băng đường rừng đi vượt biên giới để tìm tự do. Bao nhiêu người đã chết tức tưởi trong cuộc ra đi tìm cái sống này, con số chính xác không có, chỉ có sự ước định là vào khoảng trên 400,000 người. Chưa bao giờ Miền Nam chấp nhận Cộng Sản. Bằng bạo lực một chính thể độc tài bất nhân ác đức đã được áp đạt lên đầu những người dân miền Nam. Trước đó quân Cộng sản đi đến đâu là người dân kinh hãi bồng bế nhau đi trốn tránh, lòng người dân Miền Nam chưa bao giờ chấp nhận Công sản.
3. Và cho đến nay 36 năm sau bị Miền Nam bị cưỡng chiếm, nhân dân vẫn chưa chấp nhận chế độ Cộng Sản và chưa bao giờ ủng hộ chính thể độc tài hiện thời. Lòng dân chán ghét chế độ đến cực điểm nhưng vì Cộng sản kiểm soát người dân bằng bạo lực nên không ai dám tỏ thái độ, không ai dám lên tiếng đã đảo, chỉ vì họ sợ bị đi tù, bị hành hạ, bị tra khảo, và thủ tiêu. Đọc bài tựa đề “Một vị máu đắng miệng, một giọt lệ phẫn nộ trong mắt” mới được công bố đây của André Menras, một người Pháp trước kia đã phải đi tù dưới thời VNCH vì đã ủng hộ Việt Cộng, người ta càng ý thức việc chế độ Cộng sản độc tài hiện nay vẫn đang sử dụng bạo lực để kiểm soát và kiềm chế người dân một cách tàn bạo:
Hôm nay, ngày 18-7, lại rất đau đớn và đầy phẫn nộ! Tôi đã xem những bức ảnh – không cắt dán lắp ghép – của những công an quần áo màu lục hay màu lam, đội mũ, đi ủng, hay những công an mặc thường phục; họ xô đẩy, lôi kéo, đấm đá; họ đá cả vào mặt một thanh niên đã ngã xuống.
……….. Tôi hổ thẹn cho các ông. Tôi hổ thẹn về lòng thù hận của các ông khi hành hạ những công dân lương thiện, ôn hoà và can đảm; về sự hèn nhát của các ông trước bọn cướp trung quốc.
……….. Bằng những hành động trấn áp ngày càng bạo liệt, một số lãnh đạo của chế độ hiện đang … gây ra cùng một loại dị ứng trong dân chúng trước đám công an, chìm hay nổi, tràn ngập, ngày càng hung hãn. Họ tạo ra điều kiện cho sự sụp đổ từ bên trong rất có hại cho Việt Nam, bởi vì phong trào yêu nước, ôn hoà và dân chủ, đã hiển lộ giữa ban ngày, sẽ không dừng lại.
………. Quả là đến lúc dừng lại dùi cui, để mở mắt nhìn và để dỏng tai nghe: con đường đàn áp là bế tắc. Hỡi quý ông mang dùi cui, cái vị máu trong miệng đó, và cái nỗi thịnh nộ đó, mà mỗi ngày các phản ứng hèn hạ của quý ông mỗi làm cho thêm người cùng nếm trải, đang đưa quý ông, và gia đình, và cả đất nước này đến thảm hoạ.
Suốt hơn 60 năm vẫn một đảng độc tài sắt máu, vẫn một quốc hội bù nhìn, một đảng dân chủ cuội, người dân phải đi bầu để khỏi bị trù dập và đi bầu thì vẫn chỉ bầu cho những kẻ do Đảng chỉ định. Nhà nước nói người dân làm chủ đất nước nhưng kỳ thật đất nước nằm trong tay một số đảng viên côn đồ gộc nằm trong cái gọi là Bộ Chính Trị hay Trung Ương Đảng gì đó.
Quyền lực chính trị được chia chác giữa một số người vì nó gắn liền với quyền lợi vật chất tiền bạc, những đãng viên gộc cũng là những tư bản đỏ, tải sản lên tới bạc tỷ, lòng tham vô đáy kéo theo nhu cầu phải bảo vệ quyền lực và lòng dã thú, họ sẵn sàng dùng bạo lực để duy trì vi thế của họ. Vì thế bọn Cộng sản luôn luôn phải nuôi dưỡng một hệ thống công an mật vụ để bảo vệ cho chúng và chúng sẵn sàng áp dụng những mưu mô qủy quyệt nhất, những biện pháp tàn bạo vô nhân đạo nhất để duy trì chế độ Việt gian.
4. 36 năm sau khi đất nước được “thống nhất”, xã hội băng hoại, thối nát tham nhũng lan tràn từ trên xuống dưới, chính quyền bất tài bất lực không có khả năng phát triển đất nước, cứ trông cậy vào những nhà đầu tư ngoại quốc, những tên tư bản thực dân lỏi ở ngay trong vùng Đông Nam Á, đổ tiền vào lợi dụng nhân công rẻ rúng ở địa phương để trục lợi. Nhà nước không có chính sách bảo vệ quyền lợi quốc gia như bảo vệ tài nguyên nhiên liệu, bảo vệ sức lao động của người dân, cứ mặc nhiên để cho bọn ngoại quốc hút máu hút mủ đất nước và nhân dân ta. Lý do đơn giản là vì chỉ bằng cách để cho bọn chúng vào đầu tư thì những tên đầu sỏ trong Đảng và Nhà Nước mới chấm mút được, tiền đầu tư trực tiếp ngoại quốc (FDI – foreign direct investment) hàng mấy chục tỷ một năm có lợi cho người dân thì ít mà lợi cho bọn đầu nậu Cộng Sản và ngoại quốc thì nhiều.
Tình trạng kinh tế tài chánh luôn luôn khủng hoảng, cán cân chi thu và cán cân xuất nhập cảng luôn luôn mất cần bằng, tiền vay nợ các ngân hàng thế giới lên tới con số nhà nước không còn thanh toán nổi, ngoại tệ luôn luôn khan hiếm, lạm phát gia tăng, đồng tiền sụt giá liên tục làm cho đời sống người dân ngày càng khốn đốn, nhưng nhà nước đâu cần biết, miễn sao tiền tiếp tục vào trong túi những tên “tư bản đỏ” còn nhân dân thì sống chết mặc bay. Nhà nước cũng không chú trọng đến tương lai, không có kế họach đào tạo những lớp người có khả năng khoa học kỹ thuật chuyên môn cần thiết để phát triên đất nước. Việt Nam cần bao nhiêu chục năm nữa mới bắt được đà những nước xung quanh, đó là nỗi ưu tư của ai khác chứ những nhà lãnh đạo Cộng Sản không cần biết. Câu nói về dân tộc Việt Nam của một nhà báo Pháp - hình như là Jean Larteguy? – tuyên bố cách đây đã cả bốn năm chục năm sao bây giờ vẫn thấy thấm thía: “Một dân tộc sư tử mà lại bị những con lừa lãnh đạo (un people de lions conduit par des ânes)”.
Hai giai cấp “đi tiên phong” trong cuộc “Cách Mạng Vô Sản” là công nhân và nông dân bị lừa bịp nặng nhất: Nông dân bị chính phủ lấy đất để bán cho ngoại quốc làm sân golf hay xây dựng những nhà máy hay cơ sở thương mại, thậm chí còn bị những chính quyền địa phương thối nát ăn cướp đất làm của riêng. Công nhân thì được gửi đi “ bán sức lao động” khắp thế giới – hàng triệu thanh niên hiện đang đi làm dịch vụ nô lệ ở ngoại quốc. Ngay tại nước nhà công nhân bị các chủ xưởng hãng bóc lột sức lao động, thường xuyên đình công. Nhà nước không hề bảo vệ người công nhân với lý do đơn gian là những tay tổ trong chính quyền đã ăn chia với những tên tư bản thực dân ngoại quốc rồi. Những kẻ bị bóc lột thậm tệ đó, giai cấp công nông, sẽ là mũi dùi đi đầu trong cuộc đứng lên lật đổ chế dộ Cộng Sản. Họ “không có gì để mất ngoài những xiềng xích đang trói buộc họ” (chính lời của Marx).
5. Để bảo đảm việc giữ vững chế độ độc tài thối nát này, bọn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam sẳn sàng phản quốc phản dân tộc. Chúng dựa vào hơi hám bọn đàn anh Trung Cộng của chúng để củng cố chế độ bất lương do chúng thiết lập. Chúng thà bán nước chứ không để mất những quyền lợi béo bở mà chúng đang được hưởng. Sau những vụ cắt đất cắt biển dâng cho quan thầy của chúng, chúng câm miệng không dám ho he trước vụ xâm lăng lãnh hải của ta, giết chết đồng bào ta - những ngư phủ bị bọn Tàu phù bắt, hành hạ, và ám hại - và quan trọng hơn nữa là vụ Trung Cộng xâm chiếm hai đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nơi có những mỏ dầu hỏa, nguồn tài nguyên quí giá của đất nước ta. Bọn Cộng Sản Việt Nam giở thói côn đồ đối với những thanh niên Việt yêu nước đứng lên sôi sục biểu tình chống lại Trung Công, dùng bạo lực đánh đập chửi bới người dân làm cho những kẻ trước đây ủng hộ chúng trong cuộc xâm chiếm Miền Nam, nay cũng phải phẩn uất. André Menras trong bài được nói đến trên đây đã viết:
Bằng những hành động trấn áp ngày càng bạo liệt, một số lãnh đạo của chế độ hiện đang chui vào cùng một rọ với bọn du thủ du thực vô tổ quốc của chế độ cũ. Họ gây ra cùng một loại dị ứng trong dân chúng trước đám công an, chìm hay nổi, tràn ngập, ngày càng hung hãn. Họ tạo ra điều kiện cho sự sụp đổ từ bên trong rất có hại cho Việt Nam, bởi vì phong trào yêu nước, ôn hoà và dân chủ, đã hiển lộ giữa ban ngày, sẽ không dừng lại.
Trước làn sóng đang dâng lên, hợp pháp, lành mạnh và cứu rỗi, sự đàn áp sẽ lên đến những mức nào trong cái bẩn thỉu, sự hãi sợ, và sự ngu xuẩn? Có phải người ta sẽ mở lại các trại tập trung? Có phải người ta sẽ xử dụng xe tăng theo kiểu Thiên An Môn? Có phải người ta sẽ bắn vào quần chúng? Tra tấn? Thủ tiêu? Liệu có ai ngây thơ đến độ tin rằng nhân dân Việt Nam cũng giống như nhân dân Trung Quốc, và sẽ cúi đầu trước roi vọt? Bởi vì phong trào đã âm ỉ từ lâu như thế, và đã tiến lên như thế, sẽ không dừng lại. Đó không phải là một phong trào bột phát lửa rơm của sinh viên: nó đã tụ hợp được trên những điểm mấu chốt những trí thức có tiếng tăm, có quá khứ ái quốc đầy uy tín, được kính trọng và được lắng nghe, những quân nhân mà sự vinh quang phục vụ tổ quốc cũng như sự liêm khiết không ai có thể nghi ngờ. Nó bắt rễ rất sâu trong quá khứ yêu nước và trong văn hoá đại chúng.
Quả là đến lúc dừng lại dùi cui, để mở mắt nhìn và để dỏng tai nghe: con đường đàn áp là bế tắc. Hỡi quý ông mang dùi cui, cái vị máu trong miệng đó, và cái nỗi thịnh nộ đó, mà mỗi ngày các phản ứng hèn hạ của quý ông mỗi làm cho thêm người cùng nếm trải, đang đưa quý ông, và gia đình, và cả đất nước này đến thảm hoạ.
Kết Luận:
Chế độ Cộng Sản độc tài hiện tại là một chế độ bất lực, thối nát, phản dân hại nước, đi ngược lại với cao trào dân chủ trên toàn thế giới. Những kẻ lãnh đạo trong cái đảng “mafia” ở Hà Nội là những kẻ vô học, vô lương tâm, hám của, ham ăn chơi, ham sắc, chỉ biết nghỉ tới quyền lợi riêng tư, không màng gì đến đất nước, đến dân tộc, chúng coi thường những quyền lợi chân chính của dân ta. Đất nước bị xâm chiếm, chúng cũng làm ngơ, người dân khốn khổ không đủ cơm ăn áo mặc, chúng cũng bỏ mặc.
Để duy trì cái chế độ mang vàng bạc châu báu đến cho chúng, để giữ vững quyền lực bất chính cha truyền con nối trong tay một thiểu số những kẻ bất lương, chúng bỏ hàng tỷ ra để nuôi dưỡng một bộ máy kìm kẹp bịt miệng bịt mắt người dân bao gồm hàng triệu bọn côn đồ mật vụ và công an, sẵng sàng tuân lênh chúng, dùng bạo lực để khủng bố đe dọa, trừng phạt, bắt bớ bỏ tù, đánh đập tra khảo và thủ tiêu những ai đứng lên tố cáo chúng với thế giới, đòi quyền sống, đòi công bình, đòi dân chủ tự do… Chúng sẵng sàng dùng súng đạn xe tăng đàn áp, khủng bố những ai dám xuống đường chống lại chúng, sẵn sàng bắt chước quan thầy Trung Quốc của chúng tạo ra một “Thiên an môn”, tàn sát người dân.
Chỉ những kẻ mơ tưởng hay ngu dại mới nghĩ rằng chúng từ từ sẽ thay đổi, sẽ thực hiện dân chủ, sẽ thương nước thương dân, v…v… Đối với những kẻ đã mất lương tri như bọn cộng sản độc tài, những kẻ không bao giờ hiểu lẽ phải, không bao giờ biết công bình bác ái, thì tranh đấu ôn hòa cũng không thể đi đến đâu. Thanh niên sinh viên vừa xuống đường bầy tỏ lòng yêu nước là đã bị chúng dùng bạo lực trấn áp một cách công khai. André Menras, một tay trước đây là “đồng chí” với bọn Việt Cộng, nay đã sáng mắt nhưng vẫn còn ngây thơ tự hỏi:
Trước làn sóng đang dâng lên, hợp pháp, lành mạnh và cứu rỗi, sự đàn áp sẽ lên đến những mức nào trong cái bẩn thỉu, sự hãi sợ, và sự ngu xuẩn? Có phải người ta sẽ mở lại các trại tập trung? Có phải người ta sẽ xử dụng xe tăng theo kiểu Thiên An Môn? Có phải người ta sẽ bắn vào quần chúng? Tra tấn? Thủ tiêu?
Bọn Cộng Sản có khi nào từ bỏ đàn áp người dân, có khi nào chúng không sợ hãi người dân nổi dậy? Chúng có khi nào đóng cửa những trại tập trung? Sao chúng lại không dùng xe tăng để trấn áp những người đứng lên chống lại chúng? Bằng chính sách ngu dân, bằng những phong trào đầu độc tư tưởng, những phương pháp tẩy não, tuyên truyền, bằng những lời dối trá bịp bợm, chúng muốn ru ngủ dân ta, muốn dân ta trở thành là những con cừu, chỉ biết ngoan ngoãn tuấn lệnh, nghe theo những gì chúng nói, muốn dân ta trở thành những con vật chúng dễ sai khiến, hay những người máy chúng dễ điểu khiển. Nếu dân ta không nghe, không tuân lệnh, chúng ra tay ngay, chúng sẽ dùng bạo lực để trấn áp chúng ta.
Như vậy đối với bọn Cộng Sản độc tài, không thể có sự đấu tranh ôn hòa, không thể có một thỏa hiệp, vì một lý do đơn giản là chúng ngoan cố không bao giờ chấp nhận ai đấu tranh chống lại chúng, không bao giờ chấp nhận thỏa hiệp. Như vậy chỉ có thể một cuộc đấu tranh bằng bạo lực mới có thể chống lại sự tàn bạo của chúng, mới có thể lật đổ chế độ độc tài hiện hành. Không thể nào không có đổ máu mà cuộc nổi dậy có thể thành công. Chỉ có bạo lực mới chống lại được bạo lực. Một sự éo le khác là ngày nào Việt Cộng còn thì quan thầy Trung Cộng của chúng vẫn còn là mối đe dọa cho dân tộc, đất nước ta. Có diệt được bọn Việt cộng độc tài mới trị được bọn Trung Cộng xâm lăng. Đó lại càng là lý do chúng ta phải dùng bạo lực lật đổ chế độ Cộng Sản tay sai Đế Quốc Trung Cộng này.
Hướng Dương txđ
Tháng 7 năm 2011
http://huongduongtxd.com/latdochedodoctai.html
Báo động kinh tế suy thoái lần nữa
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua, thị trường chứng khoán New York cho thấy tất cả cuộc tranh luận về Trần Nợ ở Mỹ là phù phiếm, các nhà chính trị không quan tâm đến cứu chữa nền kinh tế mà chỉ lo làm chính trị để giành lá phiếu trong cuộc bầu cử sang năm.
Chỉ số Dow Jones Industrial Average tụt 4.3% và thị trường Nasdaq tụt hơn 5% cho thấy mối lo kinh tế Mỹ sẽ suy thoái thêm lần nữa đã tăng lên. Trong 10 ngày qua, DJIA đã mất mất 10%,
Thị trường xuống không phải vì một nguyên nhân duy nhất là các nhà chính trị cãi nhau về những vấn đề xa vời trong khi không quan tâm đến tình trạng kinh tế trì trệ. Có nhiều yếu tố khác khiến thị trường tụt giảm trên 500 điểm ngày hôm qua; sau khi các thị trường khác trên thế giới cũng xuống. Nhưng cuộc tranh luận vô bổ tại Quốc hội làm cho các nhà đầu tư cảm thấy giới lãnh đạo đã quên nhiệm vụ chính của họ là thúc đẩy cho kinh tế lên mạnh hơn.
Khi kinh tế suy thoái, có hai loại biện pháp để thúc lên. Một là chính phủ phải chi tiêu nhiều hơn, giúp cho tổng số cầu gia tăng trong lúc người tiêu thụ thắt chặt túi tiền, từ đó sẽ kích thích các nhà sản xuất bớt sa thải hoặc thu dụng thêm người làm việc. Bên cạnh đó, Ngân hàng Trung ương phải bơm thêm tiền vào nền kinh tế bằng các chính sách tiền tệ dễ dãi. Từ năm 2008 đến nay, cả hai phía chính phủ và Hệ thống Dự trữ Liên bang Mỹ đã làm công việc đó. Kinh tế đã hết suy thoái từ giữa năm 2009; nhưng tốc độ tiến rất chậm chạp. Ðây là hậu quả tự nhiên của mọi cuộc suy thoái do hệ thống ngân hàng gây ra, điều này ai cũng biết trước. Cơn suy thoái từ năm 2007 bắt nguồn từ sự sụp đổ của thị trường địa ốc, mà đến nay thị trường nhà cửa còn chưa hoàn hồn.
Biết nỗi khó khăn đặc biệt của cuộc suy thoái lần này, Ngân hàng Trung ương Mỹ đã hạ lãi suất xuống tới số không; sau đó lại thi hành hai đợt bơm tiền vào hệ thống ngân hàng gọi là Quantitative Easing (QE). Kế hoạch Kích thích của chính phủ Mỹ đã bắt đầu từ năm 2009 nhưng còn chưa đủ để gia tăng số cầu. Hiện nay, kế hoạch này sắp chấm dứt, sắp sử dụng hết số tiền được Quốc hội cho phép; nhưng không khí chính trị khiến cho không ai tin Quốc hội sẽ chấp thuận cho chính phủ chi tiêu thêm nữa. Người ta chỉ còn chờ đợi Ngân hàng Trung ương Mỹ sẽ đưa ra một chương trình QE 3 trong cuộc họp vào cuối tháng 8 này! Trong khi đó, số cầu trong dân chúng có thể lại bị giảm vì đạo luật tăng thêm thời gian lãnh trợ cấp thất nghiệp tới tháng 12 này cũng hết hạn; nếu không được Quốc hội cho kéo dài thêm.
Ðiểm lạc quan duy nhất trong nền kinh tế Mỹ hiện nay là các xí nghiệp lớn vẫn đạt được mức lời cao kỷ lục (nhờ trong thời gian qua đã sa thải bớt nhân viên và tăng xuất cảng). Nhưng các xí nghiệp có thể ngồi trên đống tiền mà không bỏ thêm đồng nào mua máy móc thiết bị mới khi họ thấy số cầu chưa tăng mà có thể còn giảm. Trong tháng 6, tổng số tiêu thụ của dân Mỹ đã xuống; trong tháng 7 Chỉ số Tin tưởng của người tiêu thụ lại giảm, và số đơn đặt hàng cho các xí nghiệp cũng giảm theo. Trước tương lai bất định, không có gì chắc chắn đó, các xí nghiệp không thể đầu tư thêm mà cũng không muốn tuyển dụng thêm người. Cuộc tranh luận quanh quẩn và vô ích ở Quốc hội về Trần nợ chỉ làm cho thị trường lo ngại thêm; khi họ thấy các nhà chính trị không tìm cách kích thích kinh tế mà chỉ bàn những chuyện xa xôi.
Trần nợ chỉ là một vấn đề giả. Chính phủ Mỹ thế nào cũng phải vay thêm nợ, vì tất cả các món chi tiêu đều đã được chính Quốc hội quyết định từ trước, từ ngân sách nhiều năm trước. Không thể nào giảm bớt khiếm hụt ngân sách nếu chỉ giảm chi mà không tăng thâu. Một số người trong xã hội sẽ phải đóng thuế nhiều hơn vì những khoản miễn trừ cho họ phải chấm dứt. Ðây là một sự thật mà nhiều chính trị gia đã nhắm mắt không chấp nhận.
Từ nay đến cuối năm, một ủy ban lưỡng đảng ở Quốc hội sẽ đề nghị các bước mới trong việc giảm thiếu hụt ngân sách; nhưng không có gì bảo đảm họ sẽ thỏa hiệp được với nhau. Các đại biểu thuộc nhóm Tea Party đã thành công trong việc bắt ép cả Quốc hội và chính phủ phải dùng thời giờ suốt mấy tháng bàn chuyện cắt giảm chi tiêu của chính phủ ngay lập tức; và không cho ai được bàn biện pháp cân bằng ngân sách bằng cách lấp các lỗ hổng thuế khóa mà các đại công ty và quản đốc các quỹ đầu tư đang được hưởng. Những lời báo động rằng chính phủ có thể vỡ nợ, điểm tín dụng của nước Mỹ sẽ bị hạ thấp khiến vay nợ khó hơn vì lãi suất sẽ tăng, kinh tế sẽ bị ảnh hưởng, đều không được những đại biểu này quan tâm. Và sau cùng cả Quốc hội lẫn ông tổng thống phải theo ý kiến của nhóm Tea Party. Họ đã thành công; và từ nay cho đến năm 2012 sẽ khó lòng ngăn được họ không tiếp tục chiến thuật bắt chẹt chính trị đó. Thị trường có lý do để lo lắng trước một tương lai như vậy.
Ðáng lẽ ra Quốc hội Mỹ phải nhấn mạnh đến việc chính phủ cần chi tiêu thêm trong ngắn hạn để nhiều người có công việc làm, kích thích số cầu; trong đó có những món chi tu bổ và xây dựng hạ tầng cơ sở, cho phép ngay các xí nghiệp được tiếp tục hưởng những khoản miễn giảm thuế trong chương trình kích thích kinh tế năm ngoái; trong khi Quốc hội cũng đưa ra những biện pháp giảm bớt khiếm hụt ngân sách sẽ thi hành trong 3 năm đến 10 năm tới để trấn an thị trường là chính phủ Mỹ sẽ không chi tiêu quá sức mình. Chính phủ và Quốc hội phải xác định rằng việc cắt giảm chi tiêu sẽ làm nhiều người bị thiệt hại, trong đó có những người đang hay sắp về hưu; đồng thời phải đặt ra ngay những định hướng để tăng số thu qua việc cải tổ cả hệ thống thuế khóa cho giản dị, công bằng và hợp lý hơn.
Trong mấy tháng qua, Quốc hội Mỹ đã là ngược lại. Họ không quan tâm đến việc tiếp tục kích thích kinh tế, cũng không giải quyết vấn đề ngân sách khiếm hụt trong dài hạn. Những quyết định khó khăn, vì có thể làm mất lá phiếu của những cử tri sẽ bị mất quyền lợi, đều được các đại biểu Quốc hội lảng tránh. Họ đặt ra một ủy ban để thảo luận thêm từ nay cho đến cuối năm. Tất cả mọi người từ dân tiêu thụ đến các xí nghiệp lại bị đặt trước một tương lai bất định vì không biết trong 5 tháng nữa các nhà chính trị có khá hơn hay không! Có ai muốn xây thêm một nhà máy, tuyển dụng thêm người khi không biết tương lai tài chánh quốc gia sẽ ra sao?
Trong tình trạng mù mờ đó, hiện nay người ta chỉ hy vọng Hệ thống Dự trữ Liên bang sẽ đưa ra một kế hoạch QE 3 trong phiên họp tới ở Jackson Hole. Nhưng ai cũng biết, hiệu quả của các biện pháp tiền tệ sẽ tới rất chậm. Bơm tiền vào hệ thống ngân hàng để họ có thể cho vay nhiều hơn là cần thiết, cho giới tiêu thụ và các nhà sản xuất dễ thở. Nhưng trong lúc này các ngân hàng Mỹ không thiếu tiền mà sở dĩ họ chưa cho vay nhiều hơn là vì rất nhiều con nợ mua nhà vẫn chưa biết có tiền thanh toán các món nợ cũ hay không; các ngân hàng lo sợ có thể phạm các sai lầm cho vay bừa bãi trong những năm 2003 đến 2007 bây giờ trở nên dè dặt hơn thường lệ. Cho nên, dù Ngân hàng Trung ương Mỹ có bơm thêm hàng trăm tỷ đô la cho các ngân hàng thương mại thì hiệu quả cũng không còn lớn như trước nữa. Chỉ có một giải pháp là chính phủ Mỹ phải chi tiêu thêm để chuyển tiền vào túi của người tiêu thụ, nhất là những người nghèo nhất trong xã hội. Bởi vì chỉ những người nghèo mới đem tiền ra chi tiêu ngay; gia tăng số cầu nhanh chóng nhất.
Như trên đã nói, có nhiều nguyên nhân khác khiến thị trường chứng khoán New York tụt giảm mạnh ngày hôm qua. Tình hình kinh tế các nước Âu Châu không sáng sủa. Chỉ số thị trường của khu vực đồng Euro đã tụt giảm 17% kể từ tháng 2 năm nay vì mối lo các nước phía Nam có thể vỡ nợ, các nhà đầu tư đều dè dặt. Ngày hôm qua ông Silvio Berlusconi, thủ tướng Ý, đã tuyên bố trước Quốc hội rằng hệ thống ngân hàng và kinh tế nước Ý rất vững chắc; nhưng thị trường chứng khoán Ý vẫn tụt giảm hơn 3% ngay trong ngày. Thị trường Ý đã mất 24% giá trị từ đầu năm tới nay.
Một lý do khiến kinh tế thế giới lo lắng là giá dầu lửa và các nguyên liệu đều lên cao. Giá dầu lửa hiện nay vẫn cao 25% hơn giá cuối năm 2010. Giá xăng ở Mỹ tuy gần đây đã giảm nhưng trung bình vẫn cao gấp đôi năm 2008.
Bình thường khi kinh tế suy yếu thì giá nguyên liệu và dầu lửa sẽ xuống thấp. Tuy nhiên, hiện nay các nước đang phát triển (Trung Quốc, Ấn Ðộ, Brazil, vân vân) là khách tiêu thụ nguyên liệu và xăng dầu chính (40% tổng số) cho khi nên nhu cầu của họ tăng thì giá vẫn tăng lên mặc dù nhu cầu ở Âu Châu và Mỹ có giảm. Kinh nghiệm cho thấy giá nguyên liệu tăng sẽ khiến thị trường chứng khoán xuống, và khi giảm sẽ khiến thị trường lên.
Và thị trường chứng khoán thường là chỉ dấu báo trước tình trạng kinh tế một nước. Khi thị trường xuống liên tiếp và xuống nhiều thì cả nền kinh tế thường sẽ xuống theo, trong khoảng thời gian 6 tháng đến một năm. Mùa Hè năm ngoái, thị trường New York đã hạ thấp 17%; và trong 6 tháng vừa qua kinh tế Mỹ tăng chưa được 1%, không đủ để hồi phục hẳn. Trong một tháng nữa, nếu thị trường tiếp tục xuống thì có đủ lý do để lo ngại sang năm 2012 kinh tế Mỹ sẽ suy thoái lần nữa. Hiện nay nhiều người đã cho xác suất 50% có thể xẩy ra cuộc suy thoái thứ nhì này; tức là tổng số sản xuất xuống rồi có lên, nhưng lại xuống nữa, theo hình ảnh chữ W.
Theo Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER), thì từ năm 1854 đến nay nước Mỹ đã trải qua 33 chu kỳ suy thoái kinh tế, trong đó có ba lần theo hình chữ W (double-dip recession) vào những năm 1913, 1920 và 1981. Theo định nghĩa trong kinh tế học thì chỉ gọi là double-dip recession, xuống hai lần liền, nếu kinh tế suy thoái trở lại trong vòng 12 tháng sau khi chấm dứt cơn suy thoái trước. Nếu cuối năm nay kinh tế Mỹ lại xuống thì cũng quá thời hạn 12 tháng rồi. Nhưng đối với người dân bình thường thì một chu kỳ suy thoái hình chữ W, dù trễ hơn 12 tháng cũng là một tai họa! Năm 2012 sẽ là một năm tranh cử. Nếu kinh tế theo hình chữ W lần nữa thì nhiều nhà chính trị Mỹ có thể là những nạn nhân đầu tiên. Dân sẽ không tín nhiệm họ nữa. Ðó chính là một cơ năng tự nhiên trong chế độ dân chủ. Lâu lâu dân sẽ trừng phạt, để tẩy rửa bộ máy, bắt các nhà chính trị, ngoài công việc tranh cử, không được quên nhiệm vụ chính của họ là lo cho đại cuộc quốc gia!
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua, thị trường chứng khoán New York cho thấy tất cả cuộc tranh luận về Trần Nợ ở Mỹ là phù phiếm, các nhà chính trị không quan tâm đến cứu chữa nền kinh tế mà chỉ lo làm chính trị để giành lá phiếu trong cuộc bầu cử sang năm.
Chỉ số Dow Jones Industrial Average tụt 4.3% và thị trường Nasdaq tụt hơn 5% cho thấy mối lo kinh tế Mỹ sẽ suy thoái thêm lần nữa đã tăng lên. Trong 10 ngày qua, DJIA đã mất mất 10%,
Thị trường xuống không phải vì một nguyên nhân duy nhất là các nhà chính trị cãi nhau về những vấn đề xa vời trong khi không quan tâm đến tình trạng kinh tế trì trệ. Có nhiều yếu tố khác khiến thị trường tụt giảm trên 500 điểm ngày hôm qua; sau khi các thị trường khác trên thế giới cũng xuống. Nhưng cuộc tranh luận vô bổ tại Quốc hội làm cho các nhà đầu tư cảm thấy giới lãnh đạo đã quên nhiệm vụ chính của họ là thúc đẩy cho kinh tế lên mạnh hơn.
Khi kinh tế suy thoái, có hai loại biện pháp để thúc lên. Một là chính phủ phải chi tiêu nhiều hơn, giúp cho tổng số cầu gia tăng trong lúc người tiêu thụ thắt chặt túi tiền, từ đó sẽ kích thích các nhà sản xuất bớt sa thải hoặc thu dụng thêm người làm việc. Bên cạnh đó, Ngân hàng Trung ương phải bơm thêm tiền vào nền kinh tế bằng các chính sách tiền tệ dễ dãi. Từ năm 2008 đến nay, cả hai phía chính phủ và Hệ thống Dự trữ Liên bang Mỹ đã làm công việc đó. Kinh tế đã hết suy thoái từ giữa năm 2009; nhưng tốc độ tiến rất chậm chạp. Ðây là hậu quả tự nhiên của mọi cuộc suy thoái do hệ thống ngân hàng gây ra, điều này ai cũng biết trước. Cơn suy thoái từ năm 2007 bắt nguồn từ sự sụp đổ của thị trường địa ốc, mà đến nay thị trường nhà cửa còn chưa hoàn hồn.
Biết nỗi khó khăn đặc biệt của cuộc suy thoái lần này, Ngân hàng Trung ương Mỹ đã hạ lãi suất xuống tới số không; sau đó lại thi hành hai đợt bơm tiền vào hệ thống ngân hàng gọi là Quantitative Easing (QE). Kế hoạch Kích thích của chính phủ Mỹ đã bắt đầu từ năm 2009 nhưng còn chưa đủ để gia tăng số cầu. Hiện nay, kế hoạch này sắp chấm dứt, sắp sử dụng hết số tiền được Quốc hội cho phép; nhưng không khí chính trị khiến cho không ai tin Quốc hội sẽ chấp thuận cho chính phủ chi tiêu thêm nữa. Người ta chỉ còn chờ đợi Ngân hàng Trung ương Mỹ sẽ đưa ra một chương trình QE 3 trong cuộc họp vào cuối tháng 8 này! Trong khi đó, số cầu trong dân chúng có thể lại bị giảm vì đạo luật tăng thêm thời gian lãnh trợ cấp thất nghiệp tới tháng 12 này cũng hết hạn; nếu không được Quốc hội cho kéo dài thêm.
Ðiểm lạc quan duy nhất trong nền kinh tế Mỹ hiện nay là các xí nghiệp lớn vẫn đạt được mức lời cao kỷ lục (nhờ trong thời gian qua đã sa thải bớt nhân viên và tăng xuất cảng). Nhưng các xí nghiệp có thể ngồi trên đống tiền mà không bỏ thêm đồng nào mua máy móc thiết bị mới khi họ thấy số cầu chưa tăng mà có thể còn giảm. Trong tháng 6, tổng số tiêu thụ của dân Mỹ đã xuống; trong tháng 7 Chỉ số Tin tưởng của người tiêu thụ lại giảm, và số đơn đặt hàng cho các xí nghiệp cũng giảm theo. Trước tương lai bất định, không có gì chắc chắn đó, các xí nghiệp không thể đầu tư thêm mà cũng không muốn tuyển dụng thêm người. Cuộc tranh luận quanh quẩn và vô ích ở Quốc hội về Trần nợ chỉ làm cho thị trường lo ngại thêm; khi họ thấy các nhà chính trị không tìm cách kích thích kinh tế mà chỉ bàn những chuyện xa xôi.
Trần nợ chỉ là một vấn đề giả. Chính phủ Mỹ thế nào cũng phải vay thêm nợ, vì tất cả các món chi tiêu đều đã được chính Quốc hội quyết định từ trước, từ ngân sách nhiều năm trước. Không thể nào giảm bớt khiếm hụt ngân sách nếu chỉ giảm chi mà không tăng thâu. Một số người trong xã hội sẽ phải đóng thuế nhiều hơn vì những khoản miễn trừ cho họ phải chấm dứt. Ðây là một sự thật mà nhiều chính trị gia đã nhắm mắt không chấp nhận.
Từ nay đến cuối năm, một ủy ban lưỡng đảng ở Quốc hội sẽ đề nghị các bước mới trong việc giảm thiếu hụt ngân sách; nhưng không có gì bảo đảm họ sẽ thỏa hiệp được với nhau. Các đại biểu thuộc nhóm Tea Party đã thành công trong việc bắt ép cả Quốc hội và chính phủ phải dùng thời giờ suốt mấy tháng bàn chuyện cắt giảm chi tiêu của chính phủ ngay lập tức; và không cho ai được bàn biện pháp cân bằng ngân sách bằng cách lấp các lỗ hổng thuế khóa mà các đại công ty và quản đốc các quỹ đầu tư đang được hưởng. Những lời báo động rằng chính phủ có thể vỡ nợ, điểm tín dụng của nước Mỹ sẽ bị hạ thấp khiến vay nợ khó hơn vì lãi suất sẽ tăng, kinh tế sẽ bị ảnh hưởng, đều không được những đại biểu này quan tâm. Và sau cùng cả Quốc hội lẫn ông tổng thống phải theo ý kiến của nhóm Tea Party. Họ đã thành công; và từ nay cho đến năm 2012 sẽ khó lòng ngăn được họ không tiếp tục chiến thuật bắt chẹt chính trị đó. Thị trường có lý do để lo lắng trước một tương lai như vậy.
Ðáng lẽ ra Quốc hội Mỹ phải nhấn mạnh đến việc chính phủ cần chi tiêu thêm trong ngắn hạn để nhiều người có công việc làm, kích thích số cầu; trong đó có những món chi tu bổ và xây dựng hạ tầng cơ sở, cho phép ngay các xí nghiệp được tiếp tục hưởng những khoản miễn giảm thuế trong chương trình kích thích kinh tế năm ngoái; trong khi Quốc hội cũng đưa ra những biện pháp giảm bớt khiếm hụt ngân sách sẽ thi hành trong 3 năm đến 10 năm tới để trấn an thị trường là chính phủ Mỹ sẽ không chi tiêu quá sức mình. Chính phủ và Quốc hội phải xác định rằng việc cắt giảm chi tiêu sẽ làm nhiều người bị thiệt hại, trong đó có những người đang hay sắp về hưu; đồng thời phải đặt ra ngay những định hướng để tăng số thu qua việc cải tổ cả hệ thống thuế khóa cho giản dị, công bằng và hợp lý hơn.
Trong mấy tháng qua, Quốc hội Mỹ đã là ngược lại. Họ không quan tâm đến việc tiếp tục kích thích kinh tế, cũng không giải quyết vấn đề ngân sách khiếm hụt trong dài hạn. Những quyết định khó khăn, vì có thể làm mất lá phiếu của những cử tri sẽ bị mất quyền lợi, đều được các đại biểu Quốc hội lảng tránh. Họ đặt ra một ủy ban để thảo luận thêm từ nay cho đến cuối năm. Tất cả mọi người từ dân tiêu thụ đến các xí nghiệp lại bị đặt trước một tương lai bất định vì không biết trong 5 tháng nữa các nhà chính trị có khá hơn hay không! Có ai muốn xây thêm một nhà máy, tuyển dụng thêm người khi không biết tương lai tài chánh quốc gia sẽ ra sao?
Trong tình trạng mù mờ đó, hiện nay người ta chỉ hy vọng Hệ thống Dự trữ Liên bang sẽ đưa ra một kế hoạch QE 3 trong phiên họp tới ở Jackson Hole. Nhưng ai cũng biết, hiệu quả của các biện pháp tiền tệ sẽ tới rất chậm. Bơm tiền vào hệ thống ngân hàng để họ có thể cho vay nhiều hơn là cần thiết, cho giới tiêu thụ và các nhà sản xuất dễ thở. Nhưng trong lúc này các ngân hàng Mỹ không thiếu tiền mà sở dĩ họ chưa cho vay nhiều hơn là vì rất nhiều con nợ mua nhà vẫn chưa biết có tiền thanh toán các món nợ cũ hay không; các ngân hàng lo sợ có thể phạm các sai lầm cho vay bừa bãi trong những năm 2003 đến 2007 bây giờ trở nên dè dặt hơn thường lệ. Cho nên, dù Ngân hàng Trung ương Mỹ có bơm thêm hàng trăm tỷ đô la cho các ngân hàng thương mại thì hiệu quả cũng không còn lớn như trước nữa. Chỉ có một giải pháp là chính phủ Mỹ phải chi tiêu thêm để chuyển tiền vào túi của người tiêu thụ, nhất là những người nghèo nhất trong xã hội. Bởi vì chỉ những người nghèo mới đem tiền ra chi tiêu ngay; gia tăng số cầu nhanh chóng nhất.
Như trên đã nói, có nhiều nguyên nhân khác khiến thị trường chứng khoán New York tụt giảm mạnh ngày hôm qua. Tình hình kinh tế các nước Âu Châu không sáng sủa. Chỉ số thị trường của khu vực đồng Euro đã tụt giảm 17% kể từ tháng 2 năm nay vì mối lo các nước phía Nam có thể vỡ nợ, các nhà đầu tư đều dè dặt. Ngày hôm qua ông Silvio Berlusconi, thủ tướng Ý, đã tuyên bố trước Quốc hội rằng hệ thống ngân hàng và kinh tế nước Ý rất vững chắc; nhưng thị trường chứng khoán Ý vẫn tụt giảm hơn 3% ngay trong ngày. Thị trường Ý đã mất 24% giá trị từ đầu năm tới nay.
Một lý do khiến kinh tế thế giới lo lắng là giá dầu lửa và các nguyên liệu đều lên cao. Giá dầu lửa hiện nay vẫn cao 25% hơn giá cuối năm 2010. Giá xăng ở Mỹ tuy gần đây đã giảm nhưng trung bình vẫn cao gấp đôi năm 2008.
Bình thường khi kinh tế suy yếu thì giá nguyên liệu và dầu lửa sẽ xuống thấp. Tuy nhiên, hiện nay các nước đang phát triển (Trung Quốc, Ấn Ðộ, Brazil, vân vân) là khách tiêu thụ nguyên liệu và xăng dầu chính (40% tổng số) cho khi nên nhu cầu của họ tăng thì giá vẫn tăng lên mặc dù nhu cầu ở Âu Châu và Mỹ có giảm. Kinh nghiệm cho thấy giá nguyên liệu tăng sẽ khiến thị trường chứng khoán xuống, và khi giảm sẽ khiến thị trường lên.
Và thị trường chứng khoán thường là chỉ dấu báo trước tình trạng kinh tế một nước. Khi thị trường xuống liên tiếp và xuống nhiều thì cả nền kinh tế thường sẽ xuống theo, trong khoảng thời gian 6 tháng đến một năm. Mùa Hè năm ngoái, thị trường New York đã hạ thấp 17%; và trong 6 tháng vừa qua kinh tế Mỹ tăng chưa được 1%, không đủ để hồi phục hẳn. Trong một tháng nữa, nếu thị trường tiếp tục xuống thì có đủ lý do để lo ngại sang năm 2012 kinh tế Mỹ sẽ suy thoái lần nữa. Hiện nay nhiều người đã cho xác suất 50% có thể xẩy ra cuộc suy thoái thứ nhì này; tức là tổng số sản xuất xuống rồi có lên, nhưng lại xuống nữa, theo hình ảnh chữ W.
Theo Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER), thì từ năm 1854 đến nay nước Mỹ đã trải qua 33 chu kỳ suy thoái kinh tế, trong đó có ba lần theo hình chữ W (double-dip recession) vào những năm 1913, 1920 và 1981. Theo định nghĩa trong kinh tế học thì chỉ gọi là double-dip recession, xuống hai lần liền, nếu kinh tế suy thoái trở lại trong vòng 12 tháng sau khi chấm dứt cơn suy thoái trước. Nếu cuối năm nay kinh tế Mỹ lại xuống thì cũng quá thời hạn 12 tháng rồi. Nhưng đối với người dân bình thường thì một chu kỳ suy thoái hình chữ W, dù trễ hơn 12 tháng cũng là một tai họa! Năm 2012 sẽ là một năm tranh cử. Nếu kinh tế theo hình chữ W lần nữa thì nhiều nhà chính trị Mỹ có thể là những nạn nhân đầu tiên. Dân sẽ không tín nhiệm họ nữa. Ðó chính là một cơ năng tự nhiên trong chế độ dân chủ. Lâu lâu dân sẽ trừng phạt, để tẩy rửa bộ máy, bắt các nhà chính trị, ngoài công việc tranh cử, không được quên nhiệm vụ chính của họ là lo cho đại cuộc quốc gia!
-
nguyennam619
- Posts: 238
- Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am
Người quyền lực nhất thế giới bước vào tuổi 50
50 là trẻ hay già? Điều đó còn tùy từng cá nhân, nhưng trên chính trường Washington, 50 là số tuổi còn trẻ măng so với đa số những nhân vật có tiếng tăm trong chính phủ, quốc hội và trong ngành tư pháp. Câu Chuyện Nước Mỹ tuần này mời quí thính giả theo dõi những chi tiết liên quan đến tổng thống Barack Obama, được coi là một trong những người trẻ trung trong lịch sử Hoa Kỳ ngồi vào địa vị hàng đầu của quốc gia, và theo một nghĩa nào đó, hàng đầu của thế giới, nhân dịp sinh nhật thứ 50 của ông. Lan Phương gửi đến quí vị những chi tiết sau đây qua gợi ý từ báo chí Mỹ và cuộc nói chuyện với ông Ngô Nhân Dụng, chuyên gia về tài chính học đồng thời là cây bút bình luận của nhật báo Người Việt tại California.
Lan Phương | VOA

Tổng thống Obama (phải) cùng với Ðại tá Rizer quay lại để nghe giới truyền thông và phi hành đoàn hát bài chúc mừng sinh nhật 'Happy Birthday' khi ông đến Chicago Tổng thống Barack Obama ra đời ngày 4 tháng 8 năm 1961, vào ngày 4 tháng 8 năm nay ông vừa chẵn 50. Theo tờ Bloomberg số ra ngày 3 tháng Tám, khi ra tranh cử lần đầu, ông là ứng cử viên tổng thống trẻ trung nhất trong số những ứng cử viên lúc đó. Sang đến kỳ tranh cử vào năm 2012, có lẽ ông cũng sẽ là ứng cử viên tổng thống trẻ tuổi nhất khi xét tới sự kiện những ứng cử viên đảng Cộng Hòa đã tuyên bố ra tranh sự đề cử của đảng đều lớn tuổi hơn ông Obama.
Ông là 1 trong 3 vị tổng thống Mỹ bước vào tuổi 50 khi đang tại chức, sau tổng thống Theodore Roosevelt và tổng thống Bill Clinton.
Nét trẻ trung của ông chắc chắn được coi là một lợi điểm trong cuộc tranh cử năm 2008. Sự trẻ trung giúp ông dễ dàng cảm thông với giới cử tri trẻ tuổi. Ông cũng là người thuộc thế hệ mà công nghệ cao phát triển mạnh, được giới trẻ sử dụng thành thạo. Ông đã sử dụng những phương tiện đó để tiếp cận rộng rãi với cử tri, và ông đã vận động được sự ủng hộ của họ cả bằng lá phiếu lẫn bằng đóng góp tài chính, hơn nữa cử tri muốn thấy một sự thay đổi, một sức sống trẻ trung mà những đối thủ của ông không có.
Tuy nhiên trong cuộc tranh cử sơ bộ năm đó, ông bị đối thủ “nặng ký” là Thượng nghị sỹ Hillary Clinton xoáy vào nét trẻ trung của ông để đồng hóa ông với điều mà bà gọi là thiếu kinh nghiệm chính trường. Thực vậy, trước khi ra tranh cử tổng thống, ông là một nhà làm luật chỉ mới bước vào con đường chính trị có một thời gian ngắn và không được nhiều người biết đến. Nhưng như đã nói trên, sự trẻ trung của ông cùng với hiểu biết về công nghệ cao và của ban tham mưu đã giúp ông đánh bại bà Clinton để được đảng Dân chủ đề cử và rồi đã thắng đối thủ đảng Cộng Hòa để nắm giữ chiếc ghế tổng thống của một cường quốc hàng đầu.
Nhân dịp bước vào tuổi 50 năm nay, ông Obama cử hành sinh nhật bằng một buổi gây quĩ lớn được tổ chức tại Chicago (vào tối 3 tháng
, để chuẩn bị cho cuộc tái tranh cử vào năm tới. Trong kỳ tranh cử sắp tới, chắc chắn khó có đối thủ nào của ông có thể chỉ trích ông thiếu kinh nghiệm được nữa.
Hơn 2 năm của nhiệm kỳ tổng thống, ông Obama đã thu thập được những kinh nghiệm gì? Về mặt kinh tế, chuyên gia tài chính học đồng thời là cây bút bình luận của nhật báo Người Việt tại California nhận xét:
Ngô Nhân Dụng: Hai năm trong cuộc đời một người thường thì nó cũng không dài lắm, không đủ để cho người ta nói rằng “ồ tôi đã khôn hơn trước hay tôi đã kinh nghiệm hơn trước”. Nhưng bất cứ người nào làm đến chức tổng thống của nước Mỹ thì hai năm đủ khiến cho người đó bạc đầu rồi. Điều “may mắn” cho ông Obama là hai năm đầu tiên khi ông làm tổng thống là những năm rất là khó khăn cho nước Mỹ vì nước Mỹ bị rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng nhất kể từ năm 1930. Riêng chuyện đối phó với cuộc khủng hoảng đó cũng đủ để cho người ngồi vào ghế tổng thống học được rất nhiều kinh nghiệm về cách vận hành của nền kinh tế quốc gia và làm sao để đối phó với những khó khăn. Chúng ta biết rằng cuộc khủng hoảng kinh tế lần này khác với những lần trước đây bởi vì nó không bắt đầu từ trong lãnh vực sản xuất và tiêu thụ mà nó lại bắt đầu từ lãnh vực tín dụng. Theo kinh nghiệm trong lịch sử kinh tế, cuộc khủng hoảng nào bắt đầu từ hệ thống ngân hàng, hệ thống tín dụng, thì bao giờ nó cũng trầm trọng hơn là những cuộc khủng hoảng bắt đầu trong lãnh vực sản xuất, bởi vì trong lãnh vực sản xuất, người tiêu thụ cũng như người sản xuất có thể chuyển đổi rất nhanh, còn trong lãnh vực ngân hàng, tín dụng, sự thay đổi rất chậm.
Ông Ngô Nhân dụng giải thích là khi hàng triệu người không có tiền trả nợ thì tất cả các ngân hàng phải thay đổi chính sách, thắt chặt lại không cho vay nợ một cách bừa bãi. Và khi các ngân hàng đã sợ hãi như vậy rồi thì làm sao để họ thay đổi thái độ và dễ dãi hơn, nới lỏng một chút cho khách hàng vay nợ thì thời gian để cho ngân hàng suy nghĩ, tính toán và canh chừng kéo dài rất lâu. Trong lúc các ngân hàng ngần ngại không dám cho vay nhiều thì những món nợ mà ngân hàng cho vay trước đây vẫn tiếp tục gây tai họa vì số người mua nhà không trả được nợ mỗi năm cứ tăng lên. Chuyên gia tài chính Ngô Nhân Dụng giải thích: trong một nền kinh tế mà đồng tiền không lưu chuyển thì toàn thể nền kinh tế phải chịu ảnh hưởng.
Trong trường hợp ông Obama, ông đã gặp một cuộc khủng hoảng khó khăn nhất kể từ 80 năm qua. Mặc dù kinh tế có hồi phục, như các hãng xe hơi của Mỹ đã lấy lại phong độ và nhiều ngân hàng lẽ ra đã vỡ nợ nhưng đã đứng vững và hoạt động trở lại, nhưng còn phải mất một thời gian dài để kinh tế tăng trưởng nhanh hơn và giải quyết nạn thất nghiệp hiện còn cao.
Chuyển sang lãnh vực ngoại giao, nhà bình luận Ngô Nhân Dụng nêu lên những thành quả mà ông Obama đã đạt được từ khi ông ngồi vào tòa Bạch Ốc:
Ngô Nhân Dụng: Từ khi làm tổng thống, ông Obama đã chiếm được cảm tình của rất nhiều chính phủ và nhiều người trên thế giới. Ông đã đi đến những nước nghèo như Ai Cập chẳng hạn, người dân ở đó nhiệt liệt hoan nghênh ông. Ông sang Pháp, sang Anh cũng được hoan nghênh. Ngay nữ hoàng Elizabeth (đệ nhị) rất quyền quí và có thể coi là lạnh lùng, khi gặp vợ chồng ông Obama lại bày tỏ những thiện cảm làm mọi người ngạc nhiên.
Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng cũng ghi nhận một thay đổi quan trọng trong chính sách của Tổng thống Obama mà người Việt rất chú ý:
Ngô Nhân Dụng: Về mặt ngoại giao, có lẽ một trong những điều mà người Việt Nam chúng ta chú ý nhất là chính phủ Obama bắt đầu quay trở lại vùng Á đông. Có thể nói trước đó chính phủ Mỹ không quan tâm đến vùng này, vì họ chú ý quá nhiều đến phong trào khủng bố, chính phủ Obama đã chuyển hướng. Riêng tại vùng Á đông, chính quyền Obama, từ ông bộ trưởng Quốc phòng đến bà bộ trưởng Ngoại giao, người nào cũng đề cao quyền lợi của nước Mỹ cần được bảo vệ trong vùng này. Chúng ta còn nhớ sự có mặt của bà Clinton và ông Gates ở hội nghị Singapore, những chuyến viếng thăm của họ qua Việt Nam hay qua Trung Quốc đã làm cho tất cả mọi người trong vùng đông nam Á thấy là nước Mỹ vẫn quan tâm bảo vệ an ninh của vùng này để cho việc thông thương dễ dàng, và đó chính là quyền lợi cơ bản của nước Mỹ chứ không phải là một chuyện xa xôi không dính líu gì đến nước Mỹ. Và đây có thể coi là một kinh nghiệm về ngoại giao để ông có thể nói với dân chúng Mỹ là: một ông tổng thống phải nhìn toàn diện cục bộ thế giới, chứ không nên để bị ám ảnh riêng về một cục bộ nào. Đấy là một thành công của ông.
Kể từ khi còn vận động tranh cử tổng thống, ông Obama đã hứa sẽ rút quân khỏi Iraq và Afghanistan. Ông đã thực hiện việc rút lực lượng chiến đấu khỏi Iraq và sẽ từ từ rút quân khỏi Afghanistan trong năm nay. Trong địa vị tổng tư lệnh quân đội, ông Obama đã nhìn thấy sự khác biệt giữa một trận đánh và một cuộc chiến. Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng giải thích thêm:
Ngô Nhân Dụng: Có thể nói nước Mỹ là một nước có trách nhiệm toàn cầu, thì những cuộc chiến tranh như ở Iraq hay Afghanistan cũng có thể coi như những trận đánh ở địa phương trong toàn thể những cuộc chiến mà nước Mỹ phải đối phó ở khắp thế giới. Tôi nhớ là hồi ông Obama đang tranh cử năm 2008, ông đã gặp tướng Petraeus là người chỉ huy quân đội Mỹ ở chiến trường Iraq, ông Petraeus có than phiền với ứng cử viên Obama là tại sao ông cứ nói đến chuyện rút quân như vậy làm cho tôi gặp khó khăn trong việc điều khiển chiến tranh ở đây, ông Obama trả lời rằng “tôi thông cảm với những khó khăn của ông và những mối lo lắng của ông, nhưng nếu tôi làm tổng thống thì một vị tổng thống không chỉ chú ý đến một cuộc chiến tranh ở Iraq mà thôi, mà phải nhìn thấy tất cả những ưu tiên của nước Mỹ trong vấn đề quốc phòng, và có thể trong tất cả những vấn đề mà nước Mỹ phải đối phó thì chiến trường Iraq không phải là chiến trường duy nhất và không phải là chiến trường quan trọng nhất, và với thứ tự ưu tiên thì tôi thấy việc rút quân khỏi Iraq là ý kiến mà tôi cho là tốt.” Ngay từ lúc ông (Obama) còn đang ứng cử, ông đã đặt mình vào địa vị của một ông tổng thống, để mà nhìn thấy việc giữ địa vị của nước Mỹ trên thế giới, để thấy nơi nào là quan trọng cần phải chú ý, và nơi nào quan trọng hơn nơi khác. Ông đã học được kinh nghiệm trong hai năm qua, với những quyết định như là rút quân khỏi Iraq và sau này sẽ rút quân khỏi Afghanistan, trong khi vẫn giữ được vai trò của nước Mỹ ở những nơi khác.
Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng còn nhắc tới sự kiện lực lượng đặc biệt Mỹ dưới quyền ông Obama, Tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ, đã diệt trừ được thủ lãnh al-Qaida trong một chiến dịch hết sức ly kỳ như một điểm son trong lãnh vực quân sự.
Trong quá khứ, chúng ta đã thấy các tổng thống như Bill Clinton, George W. Bush đã già đi rất nhanh trong khoảng thời gian từ lúc bắt đầu cầm quyền cho đến khi kết thúc nhiệm kỳ. Với trách nhiệm đối nội, đối ngoại đè nặng lên vai trong tình thế hết sức khó khăn từ kinh tế, chính trị, quân sự cho đến ngoại giao kể từ khi lên nhậm chức đến nay, người ta thấy trong hơn hai năm qua vị tổng thống trẻ trung Barack Obama cũng không tránh khỏi thông lệ đó. Mặc dù đến nay ông vẫn giữ được thân hình thon gọn và sức khỏe tốt, mái tóc ông đã điểm bạc và gương mặt đã hằn sâu thêm nhiều nếp nhăn khi ông bước sang tuổi 50.
Lan Phương | VOA

Tổng thống Obama (phải) cùng với Ðại tá Rizer quay lại để nghe giới truyền thông và phi hành đoàn hát bài chúc mừng sinh nhật 'Happy Birthday' khi ông đến Chicago Tổng thống Barack Obama ra đời ngày 4 tháng 8 năm 1961, vào ngày 4 tháng 8 năm nay ông vừa chẵn 50. Theo tờ Bloomberg số ra ngày 3 tháng Tám, khi ra tranh cử lần đầu, ông là ứng cử viên tổng thống trẻ trung nhất trong số những ứng cử viên lúc đó. Sang đến kỳ tranh cử vào năm 2012, có lẽ ông cũng sẽ là ứng cử viên tổng thống trẻ tuổi nhất khi xét tới sự kiện những ứng cử viên đảng Cộng Hòa đã tuyên bố ra tranh sự đề cử của đảng đều lớn tuổi hơn ông Obama.
Ông là 1 trong 3 vị tổng thống Mỹ bước vào tuổi 50 khi đang tại chức, sau tổng thống Theodore Roosevelt và tổng thống Bill Clinton.
Nét trẻ trung của ông chắc chắn được coi là một lợi điểm trong cuộc tranh cử năm 2008. Sự trẻ trung giúp ông dễ dàng cảm thông với giới cử tri trẻ tuổi. Ông cũng là người thuộc thế hệ mà công nghệ cao phát triển mạnh, được giới trẻ sử dụng thành thạo. Ông đã sử dụng những phương tiện đó để tiếp cận rộng rãi với cử tri, và ông đã vận động được sự ủng hộ của họ cả bằng lá phiếu lẫn bằng đóng góp tài chính, hơn nữa cử tri muốn thấy một sự thay đổi, một sức sống trẻ trung mà những đối thủ của ông không có.
Tuy nhiên trong cuộc tranh cử sơ bộ năm đó, ông bị đối thủ “nặng ký” là Thượng nghị sỹ Hillary Clinton xoáy vào nét trẻ trung của ông để đồng hóa ông với điều mà bà gọi là thiếu kinh nghiệm chính trường. Thực vậy, trước khi ra tranh cử tổng thống, ông là một nhà làm luật chỉ mới bước vào con đường chính trị có một thời gian ngắn và không được nhiều người biết đến. Nhưng như đã nói trên, sự trẻ trung của ông cùng với hiểu biết về công nghệ cao và của ban tham mưu đã giúp ông đánh bại bà Clinton để được đảng Dân chủ đề cử và rồi đã thắng đối thủ đảng Cộng Hòa để nắm giữ chiếc ghế tổng thống của một cường quốc hàng đầu.
Nhân dịp bước vào tuổi 50 năm nay, ông Obama cử hành sinh nhật bằng một buổi gây quĩ lớn được tổ chức tại Chicago (vào tối 3 tháng
Hơn 2 năm của nhiệm kỳ tổng thống, ông Obama đã thu thập được những kinh nghiệm gì? Về mặt kinh tế, chuyên gia tài chính học đồng thời là cây bút bình luận của nhật báo Người Việt tại California nhận xét:
Ngô Nhân Dụng: Hai năm trong cuộc đời một người thường thì nó cũng không dài lắm, không đủ để cho người ta nói rằng “ồ tôi đã khôn hơn trước hay tôi đã kinh nghiệm hơn trước”. Nhưng bất cứ người nào làm đến chức tổng thống của nước Mỹ thì hai năm đủ khiến cho người đó bạc đầu rồi. Điều “may mắn” cho ông Obama là hai năm đầu tiên khi ông làm tổng thống là những năm rất là khó khăn cho nước Mỹ vì nước Mỹ bị rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng nhất kể từ năm 1930. Riêng chuyện đối phó với cuộc khủng hoảng đó cũng đủ để cho người ngồi vào ghế tổng thống học được rất nhiều kinh nghiệm về cách vận hành của nền kinh tế quốc gia và làm sao để đối phó với những khó khăn. Chúng ta biết rằng cuộc khủng hoảng kinh tế lần này khác với những lần trước đây bởi vì nó không bắt đầu từ trong lãnh vực sản xuất và tiêu thụ mà nó lại bắt đầu từ lãnh vực tín dụng. Theo kinh nghiệm trong lịch sử kinh tế, cuộc khủng hoảng nào bắt đầu từ hệ thống ngân hàng, hệ thống tín dụng, thì bao giờ nó cũng trầm trọng hơn là những cuộc khủng hoảng bắt đầu trong lãnh vực sản xuất, bởi vì trong lãnh vực sản xuất, người tiêu thụ cũng như người sản xuất có thể chuyển đổi rất nhanh, còn trong lãnh vực ngân hàng, tín dụng, sự thay đổi rất chậm.
Ông Ngô Nhân dụng giải thích là khi hàng triệu người không có tiền trả nợ thì tất cả các ngân hàng phải thay đổi chính sách, thắt chặt lại không cho vay nợ một cách bừa bãi. Và khi các ngân hàng đã sợ hãi như vậy rồi thì làm sao để họ thay đổi thái độ và dễ dãi hơn, nới lỏng một chút cho khách hàng vay nợ thì thời gian để cho ngân hàng suy nghĩ, tính toán và canh chừng kéo dài rất lâu. Trong lúc các ngân hàng ngần ngại không dám cho vay nhiều thì những món nợ mà ngân hàng cho vay trước đây vẫn tiếp tục gây tai họa vì số người mua nhà không trả được nợ mỗi năm cứ tăng lên. Chuyên gia tài chính Ngô Nhân Dụng giải thích: trong một nền kinh tế mà đồng tiền không lưu chuyển thì toàn thể nền kinh tế phải chịu ảnh hưởng.
Trong trường hợp ông Obama, ông đã gặp một cuộc khủng hoảng khó khăn nhất kể từ 80 năm qua. Mặc dù kinh tế có hồi phục, như các hãng xe hơi của Mỹ đã lấy lại phong độ và nhiều ngân hàng lẽ ra đã vỡ nợ nhưng đã đứng vững và hoạt động trở lại, nhưng còn phải mất một thời gian dài để kinh tế tăng trưởng nhanh hơn và giải quyết nạn thất nghiệp hiện còn cao.
Chuyển sang lãnh vực ngoại giao, nhà bình luận Ngô Nhân Dụng nêu lên những thành quả mà ông Obama đã đạt được từ khi ông ngồi vào tòa Bạch Ốc:
Ngô Nhân Dụng: Từ khi làm tổng thống, ông Obama đã chiếm được cảm tình của rất nhiều chính phủ và nhiều người trên thế giới. Ông đã đi đến những nước nghèo như Ai Cập chẳng hạn, người dân ở đó nhiệt liệt hoan nghênh ông. Ông sang Pháp, sang Anh cũng được hoan nghênh. Ngay nữ hoàng Elizabeth (đệ nhị) rất quyền quí và có thể coi là lạnh lùng, khi gặp vợ chồng ông Obama lại bày tỏ những thiện cảm làm mọi người ngạc nhiên.
Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng cũng ghi nhận một thay đổi quan trọng trong chính sách của Tổng thống Obama mà người Việt rất chú ý:
Ngô Nhân Dụng: Về mặt ngoại giao, có lẽ một trong những điều mà người Việt Nam chúng ta chú ý nhất là chính phủ Obama bắt đầu quay trở lại vùng Á đông. Có thể nói trước đó chính phủ Mỹ không quan tâm đến vùng này, vì họ chú ý quá nhiều đến phong trào khủng bố, chính phủ Obama đã chuyển hướng. Riêng tại vùng Á đông, chính quyền Obama, từ ông bộ trưởng Quốc phòng đến bà bộ trưởng Ngoại giao, người nào cũng đề cao quyền lợi của nước Mỹ cần được bảo vệ trong vùng này. Chúng ta còn nhớ sự có mặt của bà Clinton và ông Gates ở hội nghị Singapore, những chuyến viếng thăm của họ qua Việt Nam hay qua Trung Quốc đã làm cho tất cả mọi người trong vùng đông nam Á thấy là nước Mỹ vẫn quan tâm bảo vệ an ninh của vùng này để cho việc thông thương dễ dàng, và đó chính là quyền lợi cơ bản của nước Mỹ chứ không phải là một chuyện xa xôi không dính líu gì đến nước Mỹ. Và đây có thể coi là một kinh nghiệm về ngoại giao để ông có thể nói với dân chúng Mỹ là: một ông tổng thống phải nhìn toàn diện cục bộ thế giới, chứ không nên để bị ám ảnh riêng về một cục bộ nào. Đấy là một thành công của ông.
Kể từ khi còn vận động tranh cử tổng thống, ông Obama đã hứa sẽ rút quân khỏi Iraq và Afghanistan. Ông đã thực hiện việc rút lực lượng chiến đấu khỏi Iraq và sẽ từ từ rút quân khỏi Afghanistan trong năm nay. Trong địa vị tổng tư lệnh quân đội, ông Obama đã nhìn thấy sự khác biệt giữa một trận đánh và một cuộc chiến. Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng giải thích thêm:
Ngô Nhân Dụng: Có thể nói nước Mỹ là một nước có trách nhiệm toàn cầu, thì những cuộc chiến tranh như ở Iraq hay Afghanistan cũng có thể coi như những trận đánh ở địa phương trong toàn thể những cuộc chiến mà nước Mỹ phải đối phó ở khắp thế giới. Tôi nhớ là hồi ông Obama đang tranh cử năm 2008, ông đã gặp tướng Petraeus là người chỉ huy quân đội Mỹ ở chiến trường Iraq, ông Petraeus có than phiền với ứng cử viên Obama là tại sao ông cứ nói đến chuyện rút quân như vậy làm cho tôi gặp khó khăn trong việc điều khiển chiến tranh ở đây, ông Obama trả lời rằng “tôi thông cảm với những khó khăn của ông và những mối lo lắng của ông, nhưng nếu tôi làm tổng thống thì một vị tổng thống không chỉ chú ý đến một cuộc chiến tranh ở Iraq mà thôi, mà phải nhìn thấy tất cả những ưu tiên của nước Mỹ trong vấn đề quốc phòng, và có thể trong tất cả những vấn đề mà nước Mỹ phải đối phó thì chiến trường Iraq không phải là chiến trường duy nhất và không phải là chiến trường quan trọng nhất, và với thứ tự ưu tiên thì tôi thấy việc rút quân khỏi Iraq là ý kiến mà tôi cho là tốt.” Ngay từ lúc ông (Obama) còn đang ứng cử, ông đã đặt mình vào địa vị của một ông tổng thống, để mà nhìn thấy việc giữ địa vị của nước Mỹ trên thế giới, để thấy nơi nào là quan trọng cần phải chú ý, và nơi nào quan trọng hơn nơi khác. Ông đã học được kinh nghiệm trong hai năm qua, với những quyết định như là rút quân khỏi Iraq và sau này sẽ rút quân khỏi Afghanistan, trong khi vẫn giữ được vai trò của nước Mỹ ở những nơi khác.
Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng còn nhắc tới sự kiện lực lượng đặc biệt Mỹ dưới quyền ông Obama, Tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ, đã diệt trừ được thủ lãnh al-Qaida trong một chiến dịch hết sức ly kỳ như một điểm son trong lãnh vực quân sự.
Trong quá khứ, chúng ta đã thấy các tổng thống như Bill Clinton, George W. Bush đã già đi rất nhanh trong khoảng thời gian từ lúc bắt đầu cầm quyền cho đến khi kết thúc nhiệm kỳ. Với trách nhiệm đối nội, đối ngoại đè nặng lên vai trong tình thế hết sức khó khăn từ kinh tế, chính trị, quân sự cho đến ngoại giao kể từ khi lên nhậm chức đến nay, người ta thấy trong hơn hai năm qua vị tổng thống trẻ trung Barack Obama cũng không tránh khỏi thông lệ đó. Mặc dù đến nay ông vẫn giữ được thân hình thon gọn và sức khỏe tốt, mái tóc ông đã điểm bạc và gương mặt đã hằn sâu thêm nhiều nếp nhăn khi ông bước sang tuổi 50.
Con người và tư cách đáng phục
của Lm Nguyễn Văn Lý
Nguyễn Chính Kết
Lời nói đầu: Hiện nay, để thanh minh cho việc bắt Lm Nguyễn Văn Lý vào tù trở lại, nhà cầm quyền CSVN đã vu cáo ngài nhiều chuyện. Vì thế, tôi viết bài này như một lời chứng để mọi người thấy được con người và tư cách đáng phục của ngài, và đừng vội tin những lời vu cáo ngài.
***
Sau cơn lụt lớn nhất thế kỷ tại Huế cuối năm 1999, tôi đến Huế để cứu trợ lụt. Thời ấy tôi chỉ là người hoạt động tôn giáo và chỉ quan tâm tới những vấn đề tâm linh. Lần cứu trợ này, tôi đến giáo xứ Nguyệt Biều, nơi bị cơn lụt tàn phá dữ dội, cũng là nơi Lm Nguyễn Văn Lý bị quản chế từ năm 1994. Tại đây, tôi được một giáo dân trong xứ dẫn tới nơi Lm Lý đang chỉ huy làm đường cho dân tại xã Thủy Biều. Xã này gồm 4 thôn, Nguyệt Biều là xứ đạo thuộc một thôn trong xã. Lúc đó tôi chưa hề biết cha Lý là một người đấu tranh.
Ngài làm đường cho dân vì xã này bị lụt tàn phá trầm trọng và vì hệ thống đường xá trong xã rất nghèo nàn. Trong cơn lụt, hàng chục ngàn bao xi măng tại nhà máy xi măng Long Thọ trong vùng bị biến thành đá. Vì thế họ bán rẻ mỗi bao 5.000đ thay vì 50.000đ [1]. Để làm đường, cha Lý đặt mua tất cả các bao xi măng đó. Ngài biến tất cả những rãnh nước vốn rất dơ bẩn trong xã thành những con đường rộng khoảng 3 mét để xe hơi có thể đi được. Các bao xi măng bị hóa đá ngài cho xếp lên nhau làm thành hai bờ đường rồi cho dân đổ đất vào giữa. Mặt đường thường cao hơn mặt đất khoảng một mét. Ngài huy động dân trong xã cùng hợp tác làm đường với ngài.
Dân tình nguyện làm đường với ngài rất đông, ai cũng tỏ ra cảm phục, quý mến ngài. Họ hết sức cảm phục vì trong khi chính quyền không hề nghĩ đến chuyện làm đường cho dân, một yếu tố rất cần thiết để xã có thể phát triển, thì ngài, một linh mục nhỏ bé đang bị quản chế trong xã, lại nghĩ đến và ra tay làm việc ấy với số tiền ngài xin từ hải ngoại. Chính nhờ những con đường này mà sau này xã Thủy Biều phát triển mọi mặt và được nâng cấp lên thành phường.
Đối với những gia đình trong xã bị lũ cuốn mất nhà, ngài cấp tôn, cột bê-tông và huy động nhân sự để giúp họ làm lại nhà. Các nhà nghèo, ngài cho mượn vốn để nuôi heo hoặc mua xe xích-lô. Ngài cũng lập một tủ sách để thanh niên và trẻ em trong xã có thể mượn đọc, nhất là sách giáo khoa từ lớp 1 đến 12 mà các em có thể mượn về nhà cả năm, học xong thì trả lại. Ngài còn mở những lớp tin học nhằm đào tạo các thanh thiếu niên trong xã muốn theo học.
Điều tôi cảm phục ngài nhất là ngài nhận được rất nhiều tiền từ hải ngoại, vì làm những con đường như thế tốn rất nhiều tiền lẫn công sức, nhưng chính bản thân ngài lại sống hết sức kham khổ. Phòng ngài ở lúc ấy là cái chái của nhà thờ Nguyệt Biều được dùng làm phòng thánh [2], rộng 2m, dài 5m, cao khoảng 2m5, lợp tôn nên khá nóng. Như vậy diện tích nơi ngài ở chỉ khoảng 10m2, vừa đủ kê một cái bàn, một tủ áo lễ, một số đồ đạc của nhà thờ và của riêng ngài. Chỗ ngủ của ngài là một tấm ván kê cao lên dài 2m nhưng chỉ rộng 0m8, một cái chiếu gấp tư lại phủ lên trên.
Sau lần gặp đó, tôi còn gặp ngài hai lần nữa khi có dịp ra Huế, và tôi có dịp dùng bữa với ngài hai lần. Cả hai lần ấy, ngài đều dùng cơm với đậu phộng kho nước mắm và một bát canh rau. Hỏi ông từ bên cạnh nhà thờ, người phụ trách nấu cơm cho ngài, ông cho biết bữa nào ngài cũng ăn thanh đạm như vậy. Thế mà ngài vẫn rất khỏe, tươi tắn, hồng hào. Ngài cho biết ngài khỏe là nhờ ngồi thiền mỗi tối. Những lần gặp đầu tiên ấy, tôi chỉ biết ngài bị quản chế vì một vài hành động phản kháng nhà cầm quyền về tôn giáo, chứ chưa biết nhiều về ngài.
Những cuộc gặp gỡ này đã gây nơi tôi ấn tượng khá mạnh vì cách sống rất nghèo khó, thanh thoát của ngài. Người Việt hải ngoại gửi cho ngài những số tiền rất lớn để ngài cứu trợ lụt, để làm đường và các dự án khác, trong đó chắc chắn có những tiền mà người ta tặng riêng để ngài chi dùng cho bản thân, chắc chắn với những số tiền ấy, ngài có thể sống một cách đầy đủ hơn rất nhiều. Nhưng với cảnh sống hết sức thanh bạch và cách ăn uống hết sức đơn giản như vậy, thiết tưởng ngài đã dành hết số tiền người ta gửi cho ngài để lo cho dân, chứ không giữ lại phần nào để lo cho bản thân mình.
Nếu tiền bạc có thể dùng để thử lương tâm con người, thì qua sự kiện này, Lm Nguyễn Văn Lý chứng tỏ là người rất có lương tâm, là một chân tu, một linh mục siêu thoát và sống khá đúng gương nghèo khó của Đức Giêsu, vị giáo chủ mà ngài chọn làm lý tưởng để noi gương theo.
Chỉ mấy tháng sau, vào tháng 11-2000, tôi nghe tin Lm Nguyễn Văn Lý từ Nguyệt Biều lên tiếng đấu tranh cho tự do tôn giáo với khẩu hiệu “Tự do tôn giáo hay là chết”, với sự hỗ trợ đắc lực của Lm Nguyễn Hữu Giải và Lm Phan Văn Lợi.Nếu không gặp ngài và không có một ấn tượng mạnh mẽ và tốt đẹp về ngài, chắc hẳn tôi đã không đủ lý do mạnh mẽ và thuyết phục để lên tiếng ủng hộ ngài. Chính con người và tư cách của ngài khiến tôi chuyển hướng hoạt động, thay vì chỉ quan tâm hoạt động tôn giáo, nghiên cứu, viết lách về tôn giáo và mải mê con đường tâm linh, tôi bắt đầu nghĩ đến những vấn đề xã hội, những bất công, những cấm đoán, những đau thương mà các tôn giáo và toàn dân Việt đang phải chịu.
Sau mấy tháng suy nghĩ, đắn đo, cân nhắc, tôi đã chấp nhận tất cả mọi rủi ro có thể xảy đến cho tôi và gia đình, để rồi đầu tháng 2-2001, tôi bắt đầu lên tiếng ủng hộ cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo của Lm Nguyễn Văn Lý, và cùng đấu tranh với ngài. Tư cách và lòng dũng cảm của Lm Nguyễn Văn Lý đã nâng đỡ tôi rất nhiều trong cuộc đấu tranh cho dân chủ nhân quyền của tôi suốt từ đầu năm 2001 đến nay, nhất là những khi tôi gặp khó khăn, bị sách nhiễu, bị đe dọa, bị khủng bố vì đấu tranh.
Ngài thường củng cố tinh thần đấu tranh của tôi mỗi lần tôi có dịp tiếp xúc với ngài qua điện thoại hay qua skype. Niềm tin tưởng của tôi vào lương tâm, sự trong sáng của ngài trong cuộc đấu tranh này đã được củng cố thêm khi tôi nghe ngài chia sẻ khá nhiều lần về 5 điều tinh thần mà ngài áp dụng trong cuộc đấu tranh của ngài, đó là tinh thần “ngũ vô”, gồm có:
1) Vô úy: không sợ hãi, không sợ chết cũng không sợ đau khổ, dù là đau khổ tinh thần hay thể xác;
2) Vô cầu: không cầu cạnh, xin xỏ, vì cầu cạnh xin xỏ sẽ làm mình mất thế mạnh của mình, là chấp nhận một thế đứng thấp hơn đối tượng mình cầu cạnh xin xỏ; khi đấu tranh mà mình xin xỏ đối phương thì mình đã chấp nhận thua họ từ đầu rồi.
3) Vô thủ: không giữ lại cho mình điều gì, dù là tiếng thơm, danh vọng hay tiền bạc, của cải; và cũng có nghĩa là không cần phòng thủ hay đề phòng gì cả, vì mình đấu tranh công khai, quang minh chính đại, ai rình nghe cũng mặc;
4) Vô ngã: dẹp bỏ “cái tôi”, không tìm cái lợi cho riêng bản thân;
5) Vô biệt: đối xử với mọi người không phân biệt quốc gia hay cộng sản, da trắng hay da vàng, Phật giáo hay Công giáo, ai đứng về phía lẽ phải và sự thật đều là đồng minh của mình.
Và ngài cho rằng một khi mình thực hiện được tinh thần “ngũ vô” này rồi, thì tức khắc mình có thêm một “cái vô” thứ sáu, đó là “vô địch”! Theo nhận định của tôi, ngài đã sống khá tốt tinh thần “ngũ vô” này.
Chính vì con người, tư cách và tình yêu thương của cha Lý như vậy, ngài mới có thể huy động đa số giáo dân cả hai giáo xứ Nguyệt Biều và An Truyền cùng hăng hái đấu tranh và sẵn sàng sống chết với ngài.
Với tư cách một linh mục, ngài đã tỏ ra một tình yêu nồng nàn đối với Giáo Hội, một tinh thần trách nhiệm với giáo phận Huế và giáo dân của ngài. Tôi được Lm Phan Văn Lợi cho biết:
Trước khi Huế lọt vào tay cộng sản ngày 26-3-1975 thì ngài đang ở Sàigòn. Khi nghe tin cộng sản tấn công thành phố Huế và nghĩ rằng thành phố Huế có thể bị mất vào tay cộng sản, thì ngài lập tức bỏ Sàigòn để trở về Huế cho kịp trước khi Huế thất thủ. Ngài hành động như vậy, trong khi hàng chục ngàn người sẵn sàng bỏ hết của cải tại Huế để chạy vào Sàigòn theo tinh thần “bỏ của chạy lấy thân”, vì lúc ấy ai cũng nghĩ rằng Sàigòn không thể bị mất vào tay cộng sản được.
Là một linh mục thuộc giáo phận Huế, ngài sợ rằng nếu Huế và Sàigòn thuộc hai chính thể khác nhau thì nếu ngài không rời Sàigòn để về Huế lúc đó, ngài sẽ vĩnh viễn không thể về Huế để phục vụ giáo phận và giáo dân của ngài được, nên ngài đã về gấp trước khi Huế bị mất vào tay cộng sản. Nói chung, ai cũng sợ cộng sản và luôn luôn sẵn sàng chạy trốn về những nơi có tự do, vì tự do là quý hơn tất cả. Nhưng đối với ngài, dù ngài cũng quý tự do như tất cả mọi người, nhưng ngài đã đặt tình yêu đối với giáo phận và giáo dân của ngài còn quý hơn tự do của chính bản thân ngài.
Tình yêu tha thiết và tinh thần trách nhiệm cao độ của ngài không chỉ hạn hẹp trong tôn giáo hay giáo hội của ngài, mà còn rộng mở ra cho quê hương đất nước. Ngài không chỉ đấu tranh cho tự do tôn giáo, mà còn đấu tranh cho nhân quyền, cho tự do dân chủ của toàn dân tộc. Việc tham gia thành lập Khối 8406 và trở thành như linh hồn của Khối này, việc tích cực đấu tranh bảo toàn lãnh thổ, chống Trung cộng xâm phạm lãnh hải trong tình trạng bán thân bất toại vì khối u trên não… chứng tỏ tình yêu và tinh thần trách nhiệm rộng mở ấy.
Về tinh thần yêu quê hương đất nước và trách nhiệm của người công dân trong một đất nước lầm than tụt hậu vì bị cai trị bởi một chế độ độc tài phi nhân, tiếp tay cho ngoại xâm như chế độ Cộng sản Việt Nam hiện nay, sự tích cực dấn thân của ngài quả là mẫu gương sáng lạn cho nhiều người, đặc biệt cho giới trẻ hiện nay.
Houston, ngày 7-8-2011
Nguyễn Chính Kết
____________________
Phụ chú:
[1] Với thời giá lúc đó, một đôla Mỹ trị giá 15.000đ VN có thể mua được 3 bao.
[2] Phòng thánh: nơi linh mục mặc phẩm phục trước khi ra nhà thờ cử hành thánh lễ, cũng là nơi chứa những đồ đạc liên quan đến việc thờ phượng.
của Lm Nguyễn Văn Lý
Nguyễn Chính Kết
Lời nói đầu: Hiện nay, để thanh minh cho việc bắt Lm Nguyễn Văn Lý vào tù trở lại, nhà cầm quyền CSVN đã vu cáo ngài nhiều chuyện. Vì thế, tôi viết bài này như một lời chứng để mọi người thấy được con người và tư cách đáng phục của ngài, và đừng vội tin những lời vu cáo ngài.
***
Sau cơn lụt lớn nhất thế kỷ tại Huế cuối năm 1999, tôi đến Huế để cứu trợ lụt. Thời ấy tôi chỉ là người hoạt động tôn giáo và chỉ quan tâm tới những vấn đề tâm linh. Lần cứu trợ này, tôi đến giáo xứ Nguyệt Biều, nơi bị cơn lụt tàn phá dữ dội, cũng là nơi Lm Nguyễn Văn Lý bị quản chế từ năm 1994. Tại đây, tôi được một giáo dân trong xứ dẫn tới nơi Lm Lý đang chỉ huy làm đường cho dân tại xã Thủy Biều. Xã này gồm 4 thôn, Nguyệt Biều là xứ đạo thuộc một thôn trong xã. Lúc đó tôi chưa hề biết cha Lý là một người đấu tranh.
Ngài làm đường cho dân vì xã này bị lụt tàn phá trầm trọng và vì hệ thống đường xá trong xã rất nghèo nàn. Trong cơn lụt, hàng chục ngàn bao xi măng tại nhà máy xi măng Long Thọ trong vùng bị biến thành đá. Vì thế họ bán rẻ mỗi bao 5.000đ thay vì 50.000đ [1]. Để làm đường, cha Lý đặt mua tất cả các bao xi măng đó. Ngài biến tất cả những rãnh nước vốn rất dơ bẩn trong xã thành những con đường rộng khoảng 3 mét để xe hơi có thể đi được. Các bao xi măng bị hóa đá ngài cho xếp lên nhau làm thành hai bờ đường rồi cho dân đổ đất vào giữa. Mặt đường thường cao hơn mặt đất khoảng một mét. Ngài huy động dân trong xã cùng hợp tác làm đường với ngài.
Dân tình nguyện làm đường với ngài rất đông, ai cũng tỏ ra cảm phục, quý mến ngài. Họ hết sức cảm phục vì trong khi chính quyền không hề nghĩ đến chuyện làm đường cho dân, một yếu tố rất cần thiết để xã có thể phát triển, thì ngài, một linh mục nhỏ bé đang bị quản chế trong xã, lại nghĩ đến và ra tay làm việc ấy với số tiền ngài xin từ hải ngoại. Chính nhờ những con đường này mà sau này xã Thủy Biều phát triển mọi mặt và được nâng cấp lên thành phường.
Đối với những gia đình trong xã bị lũ cuốn mất nhà, ngài cấp tôn, cột bê-tông và huy động nhân sự để giúp họ làm lại nhà. Các nhà nghèo, ngài cho mượn vốn để nuôi heo hoặc mua xe xích-lô. Ngài cũng lập một tủ sách để thanh niên và trẻ em trong xã có thể mượn đọc, nhất là sách giáo khoa từ lớp 1 đến 12 mà các em có thể mượn về nhà cả năm, học xong thì trả lại. Ngài còn mở những lớp tin học nhằm đào tạo các thanh thiếu niên trong xã muốn theo học.
Điều tôi cảm phục ngài nhất là ngài nhận được rất nhiều tiền từ hải ngoại, vì làm những con đường như thế tốn rất nhiều tiền lẫn công sức, nhưng chính bản thân ngài lại sống hết sức kham khổ. Phòng ngài ở lúc ấy là cái chái của nhà thờ Nguyệt Biều được dùng làm phòng thánh [2], rộng 2m, dài 5m, cao khoảng 2m5, lợp tôn nên khá nóng. Như vậy diện tích nơi ngài ở chỉ khoảng 10m2, vừa đủ kê một cái bàn, một tủ áo lễ, một số đồ đạc của nhà thờ và của riêng ngài. Chỗ ngủ của ngài là một tấm ván kê cao lên dài 2m nhưng chỉ rộng 0m8, một cái chiếu gấp tư lại phủ lên trên.
Sau lần gặp đó, tôi còn gặp ngài hai lần nữa khi có dịp ra Huế, và tôi có dịp dùng bữa với ngài hai lần. Cả hai lần ấy, ngài đều dùng cơm với đậu phộng kho nước mắm và một bát canh rau. Hỏi ông từ bên cạnh nhà thờ, người phụ trách nấu cơm cho ngài, ông cho biết bữa nào ngài cũng ăn thanh đạm như vậy. Thế mà ngài vẫn rất khỏe, tươi tắn, hồng hào. Ngài cho biết ngài khỏe là nhờ ngồi thiền mỗi tối. Những lần gặp đầu tiên ấy, tôi chỉ biết ngài bị quản chế vì một vài hành động phản kháng nhà cầm quyền về tôn giáo, chứ chưa biết nhiều về ngài.
Những cuộc gặp gỡ này đã gây nơi tôi ấn tượng khá mạnh vì cách sống rất nghèo khó, thanh thoát của ngài. Người Việt hải ngoại gửi cho ngài những số tiền rất lớn để ngài cứu trợ lụt, để làm đường và các dự án khác, trong đó chắc chắn có những tiền mà người ta tặng riêng để ngài chi dùng cho bản thân, chắc chắn với những số tiền ấy, ngài có thể sống một cách đầy đủ hơn rất nhiều. Nhưng với cảnh sống hết sức thanh bạch và cách ăn uống hết sức đơn giản như vậy, thiết tưởng ngài đã dành hết số tiền người ta gửi cho ngài để lo cho dân, chứ không giữ lại phần nào để lo cho bản thân mình.
Nếu tiền bạc có thể dùng để thử lương tâm con người, thì qua sự kiện này, Lm Nguyễn Văn Lý chứng tỏ là người rất có lương tâm, là một chân tu, một linh mục siêu thoát và sống khá đúng gương nghèo khó của Đức Giêsu, vị giáo chủ mà ngài chọn làm lý tưởng để noi gương theo.
Chỉ mấy tháng sau, vào tháng 11-2000, tôi nghe tin Lm Nguyễn Văn Lý từ Nguyệt Biều lên tiếng đấu tranh cho tự do tôn giáo với khẩu hiệu “Tự do tôn giáo hay là chết”, với sự hỗ trợ đắc lực của Lm Nguyễn Hữu Giải và Lm Phan Văn Lợi.Nếu không gặp ngài và không có một ấn tượng mạnh mẽ và tốt đẹp về ngài, chắc hẳn tôi đã không đủ lý do mạnh mẽ và thuyết phục để lên tiếng ủng hộ ngài. Chính con người và tư cách của ngài khiến tôi chuyển hướng hoạt động, thay vì chỉ quan tâm hoạt động tôn giáo, nghiên cứu, viết lách về tôn giáo và mải mê con đường tâm linh, tôi bắt đầu nghĩ đến những vấn đề xã hội, những bất công, những cấm đoán, những đau thương mà các tôn giáo và toàn dân Việt đang phải chịu.
Sau mấy tháng suy nghĩ, đắn đo, cân nhắc, tôi đã chấp nhận tất cả mọi rủi ro có thể xảy đến cho tôi và gia đình, để rồi đầu tháng 2-2001, tôi bắt đầu lên tiếng ủng hộ cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo của Lm Nguyễn Văn Lý, và cùng đấu tranh với ngài. Tư cách và lòng dũng cảm của Lm Nguyễn Văn Lý đã nâng đỡ tôi rất nhiều trong cuộc đấu tranh cho dân chủ nhân quyền của tôi suốt từ đầu năm 2001 đến nay, nhất là những khi tôi gặp khó khăn, bị sách nhiễu, bị đe dọa, bị khủng bố vì đấu tranh.
Ngài thường củng cố tinh thần đấu tranh của tôi mỗi lần tôi có dịp tiếp xúc với ngài qua điện thoại hay qua skype. Niềm tin tưởng của tôi vào lương tâm, sự trong sáng của ngài trong cuộc đấu tranh này đã được củng cố thêm khi tôi nghe ngài chia sẻ khá nhiều lần về 5 điều tinh thần mà ngài áp dụng trong cuộc đấu tranh của ngài, đó là tinh thần “ngũ vô”, gồm có:
1) Vô úy: không sợ hãi, không sợ chết cũng không sợ đau khổ, dù là đau khổ tinh thần hay thể xác;
2) Vô cầu: không cầu cạnh, xin xỏ, vì cầu cạnh xin xỏ sẽ làm mình mất thế mạnh của mình, là chấp nhận một thế đứng thấp hơn đối tượng mình cầu cạnh xin xỏ; khi đấu tranh mà mình xin xỏ đối phương thì mình đã chấp nhận thua họ từ đầu rồi.
3) Vô thủ: không giữ lại cho mình điều gì, dù là tiếng thơm, danh vọng hay tiền bạc, của cải; và cũng có nghĩa là không cần phòng thủ hay đề phòng gì cả, vì mình đấu tranh công khai, quang minh chính đại, ai rình nghe cũng mặc;
4) Vô ngã: dẹp bỏ “cái tôi”, không tìm cái lợi cho riêng bản thân;
5) Vô biệt: đối xử với mọi người không phân biệt quốc gia hay cộng sản, da trắng hay da vàng, Phật giáo hay Công giáo, ai đứng về phía lẽ phải và sự thật đều là đồng minh của mình.
Và ngài cho rằng một khi mình thực hiện được tinh thần “ngũ vô” này rồi, thì tức khắc mình có thêm một “cái vô” thứ sáu, đó là “vô địch”! Theo nhận định của tôi, ngài đã sống khá tốt tinh thần “ngũ vô” này.
Chính vì con người, tư cách và tình yêu thương của cha Lý như vậy, ngài mới có thể huy động đa số giáo dân cả hai giáo xứ Nguyệt Biều và An Truyền cùng hăng hái đấu tranh và sẵn sàng sống chết với ngài.
Với tư cách một linh mục, ngài đã tỏ ra một tình yêu nồng nàn đối với Giáo Hội, một tinh thần trách nhiệm với giáo phận Huế và giáo dân của ngài. Tôi được Lm Phan Văn Lợi cho biết:
Trước khi Huế lọt vào tay cộng sản ngày 26-3-1975 thì ngài đang ở Sàigòn. Khi nghe tin cộng sản tấn công thành phố Huế và nghĩ rằng thành phố Huế có thể bị mất vào tay cộng sản, thì ngài lập tức bỏ Sàigòn để trở về Huế cho kịp trước khi Huế thất thủ. Ngài hành động như vậy, trong khi hàng chục ngàn người sẵn sàng bỏ hết của cải tại Huế để chạy vào Sàigòn theo tinh thần “bỏ của chạy lấy thân”, vì lúc ấy ai cũng nghĩ rằng Sàigòn không thể bị mất vào tay cộng sản được.
Là một linh mục thuộc giáo phận Huế, ngài sợ rằng nếu Huế và Sàigòn thuộc hai chính thể khác nhau thì nếu ngài không rời Sàigòn để về Huế lúc đó, ngài sẽ vĩnh viễn không thể về Huế để phục vụ giáo phận và giáo dân của ngài được, nên ngài đã về gấp trước khi Huế bị mất vào tay cộng sản. Nói chung, ai cũng sợ cộng sản và luôn luôn sẵn sàng chạy trốn về những nơi có tự do, vì tự do là quý hơn tất cả. Nhưng đối với ngài, dù ngài cũng quý tự do như tất cả mọi người, nhưng ngài đã đặt tình yêu đối với giáo phận và giáo dân của ngài còn quý hơn tự do của chính bản thân ngài.
Tình yêu tha thiết và tinh thần trách nhiệm cao độ của ngài không chỉ hạn hẹp trong tôn giáo hay giáo hội của ngài, mà còn rộng mở ra cho quê hương đất nước. Ngài không chỉ đấu tranh cho tự do tôn giáo, mà còn đấu tranh cho nhân quyền, cho tự do dân chủ của toàn dân tộc. Việc tham gia thành lập Khối 8406 và trở thành như linh hồn của Khối này, việc tích cực đấu tranh bảo toàn lãnh thổ, chống Trung cộng xâm phạm lãnh hải trong tình trạng bán thân bất toại vì khối u trên não… chứng tỏ tình yêu và tinh thần trách nhiệm rộng mở ấy.
Về tinh thần yêu quê hương đất nước và trách nhiệm của người công dân trong một đất nước lầm than tụt hậu vì bị cai trị bởi một chế độ độc tài phi nhân, tiếp tay cho ngoại xâm như chế độ Cộng sản Việt Nam hiện nay, sự tích cực dấn thân của ngài quả là mẫu gương sáng lạn cho nhiều người, đặc biệt cho giới trẻ hiện nay.
Houston, ngày 7-8-2011
Nguyễn Chính Kết
____________________
Phụ chú:
[1] Với thời giá lúc đó, một đôla Mỹ trị giá 15.000đ VN có thể mua được 3 bao.
[2] Phòng thánh: nơi linh mục mặc phẩm phục trước khi ra nhà thờ cử hành thánh lễ, cũng là nơi chứa những đồ đạc liên quan đến việc thờ phượng.
Cám ơn lòng can đảm
Vũ Ðông Hà
(Nguồn: DanlambaoVN.blogspot.com)

(Hình: Dân Làm Báo)
1. Bố mẹ chúng tôi đã đào mồ chôn sâu lòng can đảm từ Mùa Ðông Cải cách ruộng đất, từ những ngày Trần Dần đi không thấy phố thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Can đảm đã biến mất trên cuộc đời khi mảnh đất tổ tiên trở thành một phần của hợp tác xã, khi những miếng thịt không còn trong cửa hàng mậu dịch, và hơi thở tự do của Nhân Văn Giai Phẩm đã vào tù. Từ ấy, chúng tôi r... a đời. Sữa mẹ ngọt nhưng luôn có mùi sợ hãi. Sợ hãi! Gia tài lớn nhất để lại cho con. Can đảm? Làm sao chúng tôi mất đi cái chưa bao giờ có - từ thuở lọt lòng cho đến lớn khôn!?
2. 3 giờ sáng Thứ Hai sau biểu tình Chủ Nhật lần thứ 9. Bạn không ngủ được, réo vào Skype. Buồn quá! Bức xúc quá! Cả một nước bao nhiêu triệu người mà chỉ có mấy trăm mạng tuần hành biểu tình! Mấy thằng bạn của mình ở Cầu Giấy, ở Hàng Buồm, còm say sưa trên mạng. Kêu gọi, bàn mưu tính kế, nên dùng khẩu hiệu này, nên hát bài hát kia... Chống TQ không đếch đủ, phải đả đảo tụi bán nước... Kiếm địa chỉ thằng Minh đi, tao sẽ làm thịt nó... Thả truyền đơn phải làm như vậy này... 9 giờ sáng, số người tuần hành đông ra phết, mình máu lên gọi tụi nó... Không sao, ra đi! Nhắn luôn qua thôn Danlambao... Chẳng thấy đứa nào! Về nhà mới biết tụi nó bình an hoan hô và đả đảo bằng còm! Lại đọc cái còm: Hôm nay trời mát mà, sao giải tán sớm thế...!
3. Tội ác lớn nhất của một triều đại không hẳn là đốt sách, giết người hay làm cho đất nước trở nên nghèo khó, mà là làm cho cả một dân tộc trở nên hèn nhát, ích kỷ và mê muội... Tôi muốn nói với bạn về những điều đã viết nhưng cũng bằng thừa. Ðã mất mát quá nhiều để có thể bù đắp bằng lời, tự an ủi hão với nhau. Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Ðông, Biên giới Việt Bắc... Những mất mát to lớn. Nhưng thế hệ chúng tôi và thế hệ đàn anh đã mất đi nhiều thứ tủi nhục hơn mà chính những mất mát đó đã dẫn đến những mất mát được viết thành khẩu hiệu xuống đường ngày hôm nay. Chúng tôi mất đi lòng can đảm, mất tinh thần làm chủ vận mạng chính mình và vận mạng đất nước, mất đi ý chí hy sinh bình an cá nhân để đạt được những lợi ích chung. Mất hay không có? Làm sao có thể mất được những thứ mà chúng tôi không có ngay từ thuở lọt lòng!?
4. Ðã bao nhiêu năm chúng tôi đã bị bao vây, gò ép, uốn nắn như những con cá mòi trong hộp sắt với nước sốt màu đỏ để từng ngày, mỗi tháng, nhiều năm chúng tôi nghiễm nhiên trở thành những cái đinh, con ốc của guồng máy. Trong căn nhà nhỏ, bố chúng tôi bao vây chúng tôi bằng quá khứ kháng chiến, bằng thúc đẩy tương lai chúng tôi phấn đấu vào đoàn. Mẹ bao vây với lời khuyên lẫn nước mắt - thôi con! Ai sao mình vậy. Anh bao vây bằng cảnh báo - liệu hồn, đừng làm ảnh hưởng đến vị trí, công ăn việc làm của anh. Bố mẹ anh chị tự bao vây chính họ và bao vây chúng tôi. Ðó là cách sống an toàn nhất.
5. Trong ngôi nhà lớn chúng tôi bị bao vây, gò ép, uốn nắn để ngày còn bé khăn quàng đỏ xiết cổ, nằm mơ chỉ mong gặp lãnh tụ vô vàn kính yêu. Lớn lên chỉ có một đường yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa. Cuộc đời chúng tôi và đất nước này đã có đảng lãnh đạo, soi đường dẫn lối với 700 tờ báo bao vây, 300 kênh truyền thanh truyền hình bao vây, một rừng luật rừng bao vây. Chúng tôi bị bao vây bởi hào quang của những chiến thắng thần thánh, bởi lãnh tụ vĩ đại, bởi tấm bảng chỉ đường vĩ đại, bởi lừa dối từ những người bị lừa dối. Bạn bè chúng tôi bao vây lẫn nhau - đừng sống khác nhau, đừng tìm kiếm để đừng có những gì mà anh em muốn nhưng không dám có: Tự do, độc lập và can đảm. Hãy sống như nhau! Và để đảm bảo an toàn nhất, chúng tôi học cách tự bao vây chính mình. Quay lưng lại với thế kỷ trước và bước sang kỷ nguyên mới thế hệ chúng tôi mang theo một cái tên đáng nguyền rủa: Mackeno.
6. Vậy thì phải tiếp tục xuống đường! Nhìn lại quá khứ, con người, hoàn cảnh mới thấy ý nghĩa và bước ngoặc to lớn của 9 lần xuống đường yêu nước ngày hôm nay. Phải cắt bỏ cái tên Mackeno đang dính liền với thế hệ mình. Phải bước ra khỏi bóng đêm tự nguyền rủa và giỏi đổ thừa. Bạn tôi kết luận. Chúng ta xuống đường để đòi lại biển đảo, đất đai đã mất và bảo vệ những gì có thể sẽ mất. Nhưng sâu thẳm hơn, cấp kỳ hơn, quan trọng hơn chúng ta xuống đường để phá tan những vòng vây oan nghiệt, để tìm lại những gì đã bị lấy mất ngay trước khi chúng ta chào đời. Không tự tìm lại được những thứ đó cho mỗi chúng ta, và từ đó, cho cả dân tộc thì mọi thứ khác sẽ mất. Sẽ không còn gì trên một mảnh đất của những xác chết còn thở.
Bài viết này thân tặng YUNC - người bạn suốt đêm không ngủ. Xin viết với lòng biết ơn gửi đến các cụ, cô chú, anh chị và những người em thân yêu trên đường phố Yêu Nước. Những bước chân can đảm ấy sẽ giúp những bàn chân sợ hãi bước theo. Lịch sử sang trang bởi một thiểu số người dấn thân khai đường mở lối. Xin gửi niềm quý mến đến các bạn Sài Gòn lặng lẽ biểu tình ngồi - tưởng như là sợ hãi nhưng trong tôi, các bạn là những người can đảm nhất.
Vũ Ðông Hà
(Nguồn: DanlambaoVN.blogspot.com)

(Hình: Dân Làm Báo)
1. Bố mẹ chúng tôi đã đào mồ chôn sâu lòng can đảm từ Mùa Ðông Cải cách ruộng đất, từ những ngày Trần Dần đi không thấy phố thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Can đảm đã biến mất trên cuộc đời khi mảnh đất tổ tiên trở thành một phần của hợp tác xã, khi những miếng thịt không còn trong cửa hàng mậu dịch, và hơi thở tự do của Nhân Văn Giai Phẩm đã vào tù. Từ ấy, chúng tôi r... a đời. Sữa mẹ ngọt nhưng luôn có mùi sợ hãi. Sợ hãi! Gia tài lớn nhất để lại cho con. Can đảm? Làm sao chúng tôi mất đi cái chưa bao giờ có - từ thuở lọt lòng cho đến lớn khôn!?
2. 3 giờ sáng Thứ Hai sau biểu tình Chủ Nhật lần thứ 9. Bạn không ngủ được, réo vào Skype. Buồn quá! Bức xúc quá! Cả một nước bao nhiêu triệu người mà chỉ có mấy trăm mạng tuần hành biểu tình! Mấy thằng bạn của mình ở Cầu Giấy, ở Hàng Buồm, còm say sưa trên mạng. Kêu gọi, bàn mưu tính kế, nên dùng khẩu hiệu này, nên hát bài hát kia... Chống TQ không đếch đủ, phải đả đảo tụi bán nước... Kiếm địa chỉ thằng Minh đi, tao sẽ làm thịt nó... Thả truyền đơn phải làm như vậy này... 9 giờ sáng, số người tuần hành đông ra phết, mình máu lên gọi tụi nó... Không sao, ra đi! Nhắn luôn qua thôn Danlambao... Chẳng thấy đứa nào! Về nhà mới biết tụi nó bình an hoan hô và đả đảo bằng còm! Lại đọc cái còm: Hôm nay trời mát mà, sao giải tán sớm thế...!
3. Tội ác lớn nhất của một triều đại không hẳn là đốt sách, giết người hay làm cho đất nước trở nên nghèo khó, mà là làm cho cả một dân tộc trở nên hèn nhát, ích kỷ và mê muội... Tôi muốn nói với bạn về những điều đã viết nhưng cũng bằng thừa. Ðã mất mát quá nhiều để có thể bù đắp bằng lời, tự an ủi hão với nhau. Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Ðông, Biên giới Việt Bắc... Những mất mát to lớn. Nhưng thế hệ chúng tôi và thế hệ đàn anh đã mất đi nhiều thứ tủi nhục hơn mà chính những mất mát đó đã dẫn đến những mất mát được viết thành khẩu hiệu xuống đường ngày hôm nay. Chúng tôi mất đi lòng can đảm, mất tinh thần làm chủ vận mạng chính mình và vận mạng đất nước, mất đi ý chí hy sinh bình an cá nhân để đạt được những lợi ích chung. Mất hay không có? Làm sao có thể mất được những thứ mà chúng tôi không có ngay từ thuở lọt lòng!?
4. Ðã bao nhiêu năm chúng tôi đã bị bao vây, gò ép, uốn nắn như những con cá mòi trong hộp sắt với nước sốt màu đỏ để từng ngày, mỗi tháng, nhiều năm chúng tôi nghiễm nhiên trở thành những cái đinh, con ốc của guồng máy. Trong căn nhà nhỏ, bố chúng tôi bao vây chúng tôi bằng quá khứ kháng chiến, bằng thúc đẩy tương lai chúng tôi phấn đấu vào đoàn. Mẹ bao vây với lời khuyên lẫn nước mắt - thôi con! Ai sao mình vậy. Anh bao vây bằng cảnh báo - liệu hồn, đừng làm ảnh hưởng đến vị trí, công ăn việc làm của anh. Bố mẹ anh chị tự bao vây chính họ và bao vây chúng tôi. Ðó là cách sống an toàn nhất.
5. Trong ngôi nhà lớn chúng tôi bị bao vây, gò ép, uốn nắn để ngày còn bé khăn quàng đỏ xiết cổ, nằm mơ chỉ mong gặp lãnh tụ vô vàn kính yêu. Lớn lên chỉ có một đường yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa. Cuộc đời chúng tôi và đất nước này đã có đảng lãnh đạo, soi đường dẫn lối với 700 tờ báo bao vây, 300 kênh truyền thanh truyền hình bao vây, một rừng luật rừng bao vây. Chúng tôi bị bao vây bởi hào quang của những chiến thắng thần thánh, bởi lãnh tụ vĩ đại, bởi tấm bảng chỉ đường vĩ đại, bởi lừa dối từ những người bị lừa dối. Bạn bè chúng tôi bao vây lẫn nhau - đừng sống khác nhau, đừng tìm kiếm để đừng có những gì mà anh em muốn nhưng không dám có: Tự do, độc lập và can đảm. Hãy sống như nhau! Và để đảm bảo an toàn nhất, chúng tôi học cách tự bao vây chính mình. Quay lưng lại với thế kỷ trước và bước sang kỷ nguyên mới thế hệ chúng tôi mang theo một cái tên đáng nguyền rủa: Mackeno.
6. Vậy thì phải tiếp tục xuống đường! Nhìn lại quá khứ, con người, hoàn cảnh mới thấy ý nghĩa và bước ngoặc to lớn của 9 lần xuống đường yêu nước ngày hôm nay. Phải cắt bỏ cái tên Mackeno đang dính liền với thế hệ mình. Phải bước ra khỏi bóng đêm tự nguyền rủa và giỏi đổ thừa. Bạn tôi kết luận. Chúng ta xuống đường để đòi lại biển đảo, đất đai đã mất và bảo vệ những gì có thể sẽ mất. Nhưng sâu thẳm hơn, cấp kỳ hơn, quan trọng hơn chúng ta xuống đường để phá tan những vòng vây oan nghiệt, để tìm lại những gì đã bị lấy mất ngay trước khi chúng ta chào đời. Không tự tìm lại được những thứ đó cho mỗi chúng ta, và từ đó, cho cả dân tộc thì mọi thứ khác sẽ mất. Sẽ không còn gì trên một mảnh đất của những xác chết còn thở.
Bài viết này thân tặng YUNC - người bạn suốt đêm không ngủ. Xin viết với lòng biết ơn gửi đến các cụ, cô chú, anh chị và những người em thân yêu trên đường phố Yêu Nước. Những bước chân can đảm ấy sẽ giúp những bàn chân sợ hãi bước theo. Lịch sử sang trang bởi một thiểu số người dấn thân khai đường mở lối. Xin gửi niềm quý mến đến các bạn Sài Gòn lặng lẽ biểu tình ngồi - tưởng như là sợ hãi nhưng trong tôi, các bạn là những người can đảm nhất.
Nếu sử gia là một người đàn bà...
Đào Nương Hai tuần nay, chuyện ông Nguyễn Cao Kỳ qua đời đã làm tốn hao nhiều giấy mực và làm “động não” nhiều người.
Trước tiên là vấn đề tang lễ. Tin đầu tiên được loan báo là cô MC Kỳ Duyên từ Việt Nam sẽ bay sang Malaysia mang thi hài của phụ thân cô về án táng ở Việt Nam. Sau đó, tin chính thức trên cáo phó của gia đình loan báo tang lễ sẽ cử hành ở Malaysia theo nghi thức Phật giáo và hoả táng, tro tàn sẽ được thân nhân mang về Hoa Kỳ thờ phượng. Sau đó lại có tin tro cốt của ông Kỳ sẽ được mang về rãi ở Sơn Tây, nguyên quán của ông, nơi có núi Ba Vì và những đôi mắt không có gì là u uẩn vì đời luân lạc như trong thơ Quang Dũng vì ông Nguyễn Cao Kỳ rất hãnh diện về việc đã trở về Việt Nam bắt tay với Việt cộng như trong điếu văn của cô Kỳ Duyên đã viết.
Nhưng... khi viết những dòng này thì một ông nhà báo ở Bolsa gọi điện thoại cho Đào Nương tôi biết là tro tàn của ông Nguyễn Cao Kỳ đã được đưa về sống chung với cộng đồng người Việt tị nạn Cộng sản tại Hoa Kỳ mới thật là khó hiểu.
Vào 9 giờ đêm Thứ hai ngày 1 tháng 8, mấy ông Không quân thân tín của ông Kỳ trước đây và các con cuả ông đã lên phi trường Los Angeles ‘đón’ tro tàn của ông đem về đặt tại tiệm bán bàn ghế của một người con trai của ông. Cái mộng được về Sơn Tây của ông Kỳ không thành.
Không hiểu trong tang lễ ở Malaysia, ai là người quyết định phủ 1/3 quan tài ông Nguyễn Cao Kỳ bằng cờ vàng ba sọc đỏ, và 2/3 là cờ của Hoa Kỳ. Cờ vàng là ngọn cờ của bọn “đánh giặc thuê cho Mỹ” ông Kỳ đã chê từ lâu, còn cờ Hoa Kỳ thì ông Nguyễn Cao Kỳ không có quốc tịch Hoa Kỳ. Nhưng vì hai lá cờ này mà Việt cộng đã không cho tro than của ông Kỳ được mang về Việt Nam.
Cũng như trước đó, Việt cộng không cho tang lễ ông Nguyễn Cao Kỳ cử hành tại Việt Nam vì sợ đám đông hiếu kỳ, không có gì để chống đối “nhà nước ta” hơn bằng cách đi xem hay tham dự đám tang của một “thằng tướng ngụy” như trước đây, dân Saigòn đã “đi xem” đám ma của cô Thanh Nga hay 10 năm trước đây, “đi xem” đám tang của Trịnh Công Sơn.
Điều này có thể sẽ không xảy ra nhưng đối với Việt cộng thì ngừa trước thì vẫn hơn. Tóm lại, đây lại là một bài học dành cho các anh thích bắt tay với Việt cộng. Sống thì là những công dân hạng hai của chế độ, chết thì ... cũng chưa được làm công dân hạng bét.
Trước đây, nghe nói hoà thượng Thích Hạnh Đạo trụ trì chuà Phổ Đà ở Santa Ana, California đã nhận lời làm lễ cầu siêu và tro than của ông Nguyễn Cao Kỳ sẽ được an vị ở đây. Chỉ tiếc là điều này chưa thực hiện được thì ngài đã viên tịch vào ngày 28 tháng 7, 2011.
Những vị thừa kế chuà này không dám quyết định vì ngại sự chống đối của Phật tử chống cộng sẽ ảnh hưởng đến sự trang nghiêm của chuà vì uy tín đạo hạnh và quá khứ chống cộng của các vị này không thể so với hoà thượng Thích Hạnh Đạo. (Tưởng cũng nên nhắc qua về tiểu sử của hoà thượng Thích Hạnh Đạo và sự liên quan mật thiết cuả ngài trong QLVNCH.
Trích chuadonghung.com
- Năm 1964 khi ngành Tuyên Úy Phật Giáo ra đời, Ngài tham dự và tốt nghiệp Khóa I Sĩ Quan Tuyên Úy Phật Giáo trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và được cử ra Vùng I làm Phụ Tá Tuyên Úy Quân Khu.
Sau khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thành lập vào đầu năm 1964, từ năm 1964 đến năm 1967, Ngài đảm nhận chức vụ Tổng Thư Ký cho Ban Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Quảng Nam Đà Nẵng.
- Từ năm 1966 đến năm 1968, Ngài được công cử làm Trụ Trì Chùa Báo Ân kiêm Tuyên Úy Trưởng tại Tổng Y Viện Cộng Hòa tại SàiGòn.
- Từ năm 1968 đến năm 1970, Ngài được thăng cấp bậc Trung Tá và đảm nhận chức vụ Chánh Sở Tuyên Úy Phật Giáo Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, văn phòng đặt tại Tỉnh Cần Thơ.
- Năm 1970, Ngài được cử đảm nhận chức vụ Giám Đốc Cơ Quan Viện Trợ CRS, là cơ quan viện trợ nhân đạo quốc tế của Hoa Kỳ.
- Từ năm 1970 đến năm 1975, Ngài về Trụ Trì Chùa Từ Tâm trong Trung Tâm Y Tế Toàn Khoa Đà Nẵng. Trong thời gian này Ngài cũng dạy học tại Phật Học Viện Phổ Đà, giáo sư Toán trường Trung học Bồ Đề Đà Nẵng và đảm nhận chức vụ Phó Đại Diện Nội Vụ trong Ban Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Thị xã Đà Nẵng.
- Sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam, cùng chung số phận với hàng trăm ngàn quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa, Ngài bị Cộng Sản bắt bỏ tù từ năm 1975 cho đến năm 1985 mới được thả ra.
- 1995, ngài đến Hoa Kỳ trong diệân HO 19
(ngưng trích)
Qua tiểu sử trên chúng ta thấy rằng từ năm 1964 đến năm 1967, hoà thượng Thích Hạnh Đạo đảm nhận chức vụ Tổng Thư Ký cho Ban Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Quảng Nam Đà Nẵng, thời kỳ mà ông Kỳ vẫn hãnh diện về tài “dẹp loạn miền Trung”. Ngài Hạnh Đạo biết rõ vì sao các chuà ở hải ngoại không muốn nhận làm lễ cầu siêu hay tro than của ông Nguyễn Cao Kỳ.
Nhưng ngài Hạnh Đạo đã dùng tâm từ bi chánh pháp của một tu sĩ Phật giáp để làm điều này. Chỉ tiếc là ngài qua đời trước khi tro than của ông Kỳ về đến chuà Phổ Đà. Hiện nay, có tin vì các chuà Việt Nam không muốn nhận “điều lành” này nên có thể người nhà ông Nguyễn Cao Kỳ sẽ đưa ông vào chuà Tây Lai tức Hsi Lai của Phật giáo Đài Loan.
Thế mới biết định mệnh là ghê gớm thật. Thiếu tá Đăng văn Âu đã so sánh cái chết của ông Nguyễn Cao Kỳ với ông VõVăn Kiệt và cho rằng là do tình báo Trung Cộng dính dzô. Bây giờ chết tro than ông hàng ngày phải nghe kinh bằng tiếng Tàu thì thật là oan nghiệt.
*
Hai tuần qua, những ông “pro” thiếu tướng ra công bênh vực hay nhìn họ hàng với ông Nguyễn Cao Kỳ khiến người hiểu chuyện vừa thương, vừa tội nghiệp cho ông. Các ông này viết câu trên: “nghĩa tử là nghĩa tận” khuyên mọi người phải để cho người nằm xuống được yên; nhưng ngay bên dưới thì lại “phán” rằng “hãy để cho lịch sử phán xét” công và tội của ông Kỳ. Với Việt cộng, Nguyễn Cao Kỳ không thể so sánh với Võ văn Kiệt, thì với người quốc gia chống cộng, không thể so sánh Nguyễn Cao Kỳ với Nhất Linh Nguyễn Tường Tam mà dùng câu nói “hãy để cho lịch sử phán xét” này được. Bối cảnh lịch sử của nền Đệ Nhất Cộng Hoà khi ông Nguyễn Tường Tam viết câu này trước khi tự sát và bối cảnh Việt Nam ngày nay dưới chế độ cộng sản và tư cách con người của Nguyễn Cao Kỳ thì không thể dùng câu nói này được.
Bởi vì một khi sự thật trắng đen quá rõ rệt thì “lịch sử” cần gì phải đắn do khi phán xét. The facts speak for itself. Đào Nương tôi không nhớ có phải ông sử gia Tư Mã Thiên là người đã viết câu này không:
Hầu hết sử gia đều là những mụ đàn bà lắm chuyện và thiển cận. Định kiến và quyền lợi khiến họ quên rằng viết sử không phải là viết tiểu sử, thành tích, mà là ghi nhận lại sự thật của sự kiện lịch sử một cách khách quan, trung thực, có phương pháp khoa học. Nó khác hẳn việc đánh giá sự kiện, sự thật ấy như thế nào, ra sao... vì đó là chuyện của người đời sau với những cái nhìn khác biệt, trình độ trí thức hay hậu quả của sự kiện này đối với đời sau. Chỉ một chuyện Kinh Kha sang Tần mà cũng đã để lại bao nhiêu là ý kiến khác biệt. Sử sách Tàu ghi rõ Kinh Kha là một kiếm khách tầm thường mà thái tử Đan vì lòng hoài vọng phục quốc cho nước Yên, chỉ cần nghe lời đồn đại mà mang về phụng dưỡng với hy vọng sẽ hành thích được vua Tần. Hai năm trời phụng dưỡng, tốn bao nhiêu tiền của, hy sinh cả đôi bàn tay của người thiếp yêu quý nhất, hy sinh cả một tướng quân Phan ô Kỳ để rồi khi việc không thành, thái tử Đan phải tuẩn tiết, người dân nước Yên bị đày đọa tang thương nhưng sử sách chỉ ghi nhớ chuyện Kinh Kha sang sông Dịch với một sứ mạng “đội đá vá trời” trong khi ông biết rõ hơn ai hết, tài trí và khả năng sánh sao được với bà Nữ Oa? Bao nhiêu ngàn năm sau, thi sĩ Vũ Hoàng Chương còn có những vần thơ ca tụng Kinh Kha:
Một nét dao bay ngàn thuở đẹp
Dù sai hay trúng cũng là dư
Kià uy dũng kẻ sang Tần không trở lại
Đã trùm lấn Yêu Ly, hề át Chuyên Chư
Ôi Kinh Kha
Hào khí người còn sang sảng
Nước sông Dịch còn trôi hay đã cạn
Chí anh hùng vằng vặc sáng thiên thu!
Chuyện Kinh Kha hành thích vua Tần mà còn như vậy thì chuyện ông Nguyễn Cao Kỳ đâu có gì để người sau phải bàn hay luận vì nó sáng vằng vặc như ban ngày. Có ba điều chung chung mà các ông “pro thiếu tướng” thường nêu ra mà Đào Nương tôi ghi nhận được:
- Lòng Yêu Nước của ông Kỳ.
- Sự nhường nhịn của ông Kỳ khi đồng ý đứng chung liên danh với ông Nguyễn Văn Thiệu năm 1967.
- Tinh thần hoà giải dân tộc khi bắt tay với Việt cộng.
1. Về lòng yêu nước của ông Nguyễn Cao Kỳ:
Nhiều lần, các ông “pro thiếu tướng” viết về việc ông Kỳ là một người yêu nước, một nhà ái quốc. Khó có thể có một định nghĩa rõ ràng thế nào là lòng ái quốc nhưng nếu bảo rằng đó là những tình cảm dành cho quê hương thì không đủ. Vì chỉ như thế thì ai cũng có thể là “nhà ái quốc” cả. Ái quốc không phải là tình cảm thuần túy. Người ta chỉ xử dụng danh từ này khi một người có những việc làm hữu ích cho vận mệnh quốc gia và quyền lợi quốc dân. Vậy, muốn trở thành người ái quốc phải có óc hy sinh. Khi sơn hà cần đến, ta phải biết coi rẻtư lợi mà lo cho quyền lợi tổ quốc.
Đào Nương tôi ở Orange County sớm hơn nhiều người Việt tị nạn cộng sản. Hầu hết tướng lãnh của VNCH như trung tướng Ngô Quang Trưởng, trung tướng Lữ Lan, thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, những vị tướng mà Đào Nương tôi được quen biết thì không ai có được đến 50 đô la khi ra khỏi quê hương. Các vị này ai cũng phải bắt tay vào việc lao động kiếm tiền nuôi gia đình trên mảnh đất mới này và ai cũng im lặng sống đời của những vị tướng bại trận có liêm sỉ, giữ danh dự cần có của một kẻ sĩ khi phải chấp nhận đời sống lưu vong nơi xứ người.
Khi đọc điếu văn của cô MC Kỳ Duyên “ca tụng” cha cô trong sạch và vì vậy cuối đời ông không có nhiều tiền mà tôi thấy buồn cười. Sau 1975, từ những năm đầu tị nạn cộng sản, khi hầu hết mọi người tị nạn cộng sản ở Hoa Kỳ làm lương 3, 4 đô la một giờ thì ‘tướng Kỳ và phu nhân” đã là chủ nhân của một ngôi nhà to ở Huntington Beach, một tiệm liquor ở Santa Ana. Vì những mối liên hệ mà Đào Nương tôi không muốn nhắc đến, Đào Nương tôi đã được chứng kiến những tiệc to, tiệc nhỏ ở tư gia của tướng Kỳ. Chẳng phải tự nhiên mà bà Đặng Tuyết Mai nổi tiếng tại những sòng bạc ở Las Vegas. Bà Đặng Tuyết Mai còn khai trương cửa hàng bán thời trang loại sang có tên La Pasisienne trong Westminster Mall. Những chuyện làm ít, ăn nhiều, chơi nhiều của ông bà tướng tăng theo với những xì căng đan càng lúc càng nhiều không còn dấu ai được nữa khi bà tướng tự tử ở Manilla, rồi chuyện bà Marcos bị lưu vong giao nữ trang nhờ bà tướng giữ dùm rồi bà tướng bán luôn, rồi chuyện ông tướng qua Louisiana nhờ thuộc cấp giúp đỡ mở vựa bán tôm.
Mỗi nơi, mỗi thời, anh em Không Quân, những bà “nhỏ” được làm quen với bà tướng bị mất mỗi người một ít mà ai cũng phải ngậm bồ hòn với bên ngoài, chỉ nói cho nhau nghe. Nói theo lời của một học giả có họ với bà tướng thì đó là một gia đình dột từ trên nóc dột xuống, không còn gì đáng để đề cập đến nữa.
Khi ông Nguyễn Cao Kỳ bỏ bà Đặng Tuyết Mai lấy “người cũ” làm “vợ mới” thì coi như ông Kỳ không còn chỗ dung thân ở nơi này.
Ai cũng biết điều này. Do đó, nếu còn thương và nghĩ đến ông Kỳ xin các ông “pro thiếu tướng” đừng ép người khác phải khui ra những cái hủ mắm “khó ngửi” này ra nữa. Khi ôâng Kỳ song hành vừa mở đường cho vợ mới kiếm cơm ở Việt Nam, vừa mở miệng chê những chiến binh VNCH trong đó có cả ông ta là “bọn lính đánh thuê” thì không biết nhà ái quốc này còn gì để hy sinh cho tổ quốc Việt Nam? Khi không còn tất cả danh dự, tài sản, đạo đức?
Đào Nương tôi nghĩ rằng, trong 10 năm qua, nếu những đàn em KQ của ông Kỳ đừng chán chê ông ta quá, vẫn cho ông ta những chỗ đi về, và những nhà hàng ở đường Bolsa vẫn còn cho ông Kỳ một chỗ ngồi không phải trả tiền thì liệu chúng tôi có phải nghe những điều chướng tai gai mắt làm ô nhục cả một binh chủng nói riêng và cả một quân đội nói chung hay không?
Do đó, yêu nước một cách thực tế nhứt theo Đào Nương tôi nghĩ vẫn là làm những công dân tốt, những công dân chu toàn các bổn phận hàng ngày, thượng tôn pháp luật, đào luyện về thể xác, tinh thần, đạo đức, xã giao... dù ở trong hay ngoài quê hương cũng vậy. Yêu nước không phải là sống bám vào đàn em và khi không còn sống bám được nữa thì cho “chúng” đi chung một xuồng “đánh thuê cho giặc Mỹ” một cách vô liêm sỉ như vậy được.
2. Về sự nhường nhịn của ông Kỳ khi đồng ý đứng chung liên danh với ông Nguyễn Văn Thiệu năm 1967:
Sau hội nghị tại Honolulu, ông Bunker thay ông Henry Cabot Lodge làm đại sứ Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam và việc đầu tiên của ông Bunker là loại ông Kỳ trong chức vụ lãnh đạo miền Nam Việt Nam vì ông Bunker nhìn thấy khả năng cuả tướng Kỳ và sự sai lầm của tướng Westmoreland trong việc hổ trợ tướng Kỳ. Các tướng lãnh miền Nam VN không còn ai ủng hộ ông Kỳ. Con đường đứng chung liên danh với ông Thiệu là một ân huệ mà Hội Đồng Tướng Lãnh dành cho tướng Kỳ để vớt vát thể diện cho tướng Kỳ và để tránh cho các ông KQ nổi loạn chứ không phải là quyết định hay chọn lựa “giải pháp đoàn kết” của tướng Kỳ. Trước khi để “lịch sử nhận định” thì chúng ta phải ghi lại sự kiện lịch sử cho đúng đã. Đó là những sự kiện lịch sử cận đại mà nhiều nhân chứng còn sống để chúng ta kiểm chứng. Đừng lộng ngôn ca tụng những điều không phải, không đúng vì khi làm như vậy, chính các ông đã mở cửa cho những người trẻ tuổi, những sĩ quan cấp dưới làm nhục ông Kỳ thêm hơn nữa.
Trước 1975, ông Nguyễn Cao Kỳ đã từng làm tướng, làm lãnh tụ mà không bảo vệ được lãnh thổ của VNCH, cái tội đó ông chưa trả lời được. Sau 1975, làm một vị tướng lưu vong đã không biết tu thân, tề gia, cuối đời lại không biết nhục mà còn mở miệng đòi trị quốc, bình thiên hạ thì quả thật là mục hạ vô nhân. Làm một vị tướng bại trận ít ra cũng nên biết giữ gìn thể diện để còn được sự kính nể của người dân hay thuộc hạ. Vận nước Việt Nam không may, thế cờ chính trị đã đưa chúng ta đến nơi này, không ai trách gì ai cả vì tướng cũng như dân đều có tội như nhau khi để nước mất vào trong tay giặc. Sau 36 năm, sơn hà đang nằm bên bờ vực thẳm, một bọn cướp ngày đang manh tâm bán rẻ đất nước cho ngoại bang.
Năng lực người Việt hải ngoại không dồn để tiêu diệt bọn chúng mà còn bận tâm đến phường giá áo, túi cơm chạy theo bọn cướp ngày này để làm gì? Khi không còn bám vào cộng đồng người Việt tị nạn Cộng sản thì quay đầu chạy về nước lạy lục với kẻ thù để hy vọng có được một chỗ dung thân nên đến chết vẫn không được yên thì cũng là điều dễ hiểu.
3. Về tinh thần hoà giải dân tộc của ông Nguyễn Cao Kỳ khi bắt tay với Việt cộng:
Đất nước Việt Nam ngày nay đã không còn là đất nước Việt Nam của 36 năm về trước. Thế giới ngày nay cũng không còn là thế giới của 36 năm về trước.
Năm 2004, ông Nguyễn Cao Kỳ theo vợ mới về Việt Nam với một hành trang rổng không. Công việc của ông Ky,ø nếu dùng chữ nghĩa một chút, thì là người dẫn đường, nôm na hơn thì là kẻ dẫn mối cho bọn tài phiệp Mỹ về mở sân chơi golf tại Việt Nam. Hiện nay, chúng ta đã biết sự thật đàng sau những “dự án” này. Để xây dựng một sân golf thì Việt cộng đã phải giải toả biết bao nhiêu nhà, cướp biết bao nhiêu đất của dân nghèo mà dù cho có đền bù thì cũng chẳng bao giờ thỏa đáng! Bằng chứng là có biết bao nhiêu vụ khiếu kiện của dân chúng mà không hề được giải quyết.Việt Nam cần phát triển về kỷ nghệ để có công ăn, việc làm cho dân chúng chứ không cần sân golf. Trong hành trang của ông Kỳ khi dẫn Mỹ về Việt Nam có một dự án kỷ nghệ nào không? Hoàn toàn không?
Đó là về kinh tế. Về chính trị, ông Nguyễn Cao Kỳ có gì để hoà hợp “dân tộc’ với bọn Việt gian cộng sản? Cái chúng cần là uy tín, là khả năng lãnh đạo cộng đồng người Việt hải ngoại thì ông Kỳ hoàn toàn không có. Thế thì chúng, những tên tư bản đỏ, những tên tỷ phú đô la do những đồng tiền ăn cướp của dân, sẽ hoà hợp gì với một anh tướng bại trận, nghèo kiết xác?
Cờ đến tay một người không có khả năng thì không những chỉ hại cho bản thân người ấy, cho gia đình người ấy mà còn là một nguy hại dài lâu cho đất nước. Tin giờ cuối nghe được thì gia đình ông Kỳ đã để tro cốt của ông Kỳ ở nghĩa trang Rose Hills vì không biết để đâu. Nghe mà tội. Đến chết thì tướng Kỳ được nhiều người viết bài nhận là anh, là bạn, ca tụng ông là nhà ái quốc khiến những điều không hay về cá nhân ông được dịp phô bày.
Hy vọng sau bài viết này, Đào Nương tôi sẽ không phải trở lại “đề tài” này. Xin các ông hãy để cho “nhà ái quốc” của các ông được yên nghỉ. Ít ra, khi nằm xuống, ông Nguyễn Cao Kỳ nhìn sao trời, ông Kỳ sẽ có dịp ngẫm nghĩ về ba chữ tổ quốc, danh dự và trách nhiệm mà khi còn sống, ông ta đã lãng quên!
Đào Nương
Đào Nương Hai tuần nay, chuyện ông Nguyễn Cao Kỳ qua đời đã làm tốn hao nhiều giấy mực và làm “động não” nhiều người.
Trước tiên là vấn đề tang lễ. Tin đầu tiên được loan báo là cô MC Kỳ Duyên từ Việt Nam sẽ bay sang Malaysia mang thi hài của phụ thân cô về án táng ở Việt Nam. Sau đó, tin chính thức trên cáo phó của gia đình loan báo tang lễ sẽ cử hành ở Malaysia theo nghi thức Phật giáo và hoả táng, tro tàn sẽ được thân nhân mang về Hoa Kỳ thờ phượng. Sau đó lại có tin tro cốt của ông Kỳ sẽ được mang về rãi ở Sơn Tây, nguyên quán của ông, nơi có núi Ba Vì và những đôi mắt không có gì là u uẩn vì đời luân lạc như trong thơ Quang Dũng vì ông Nguyễn Cao Kỳ rất hãnh diện về việc đã trở về Việt Nam bắt tay với Việt cộng như trong điếu văn của cô Kỳ Duyên đã viết.
Nhưng... khi viết những dòng này thì một ông nhà báo ở Bolsa gọi điện thoại cho Đào Nương tôi biết là tro tàn của ông Nguyễn Cao Kỳ đã được đưa về sống chung với cộng đồng người Việt tị nạn Cộng sản tại Hoa Kỳ mới thật là khó hiểu.
Vào 9 giờ đêm Thứ hai ngày 1 tháng 8, mấy ông Không quân thân tín của ông Kỳ trước đây và các con cuả ông đã lên phi trường Los Angeles ‘đón’ tro tàn của ông đem về đặt tại tiệm bán bàn ghế của một người con trai của ông. Cái mộng được về Sơn Tây của ông Kỳ không thành.
Không hiểu trong tang lễ ở Malaysia, ai là người quyết định phủ 1/3 quan tài ông Nguyễn Cao Kỳ bằng cờ vàng ba sọc đỏ, và 2/3 là cờ của Hoa Kỳ. Cờ vàng là ngọn cờ của bọn “đánh giặc thuê cho Mỹ” ông Kỳ đã chê từ lâu, còn cờ Hoa Kỳ thì ông Nguyễn Cao Kỳ không có quốc tịch Hoa Kỳ. Nhưng vì hai lá cờ này mà Việt cộng đã không cho tro than của ông Kỳ được mang về Việt Nam.
Cũng như trước đó, Việt cộng không cho tang lễ ông Nguyễn Cao Kỳ cử hành tại Việt Nam vì sợ đám đông hiếu kỳ, không có gì để chống đối “nhà nước ta” hơn bằng cách đi xem hay tham dự đám tang của một “thằng tướng ngụy” như trước đây, dân Saigòn đã “đi xem” đám ma của cô Thanh Nga hay 10 năm trước đây, “đi xem” đám tang của Trịnh Công Sơn.
Điều này có thể sẽ không xảy ra nhưng đối với Việt cộng thì ngừa trước thì vẫn hơn. Tóm lại, đây lại là một bài học dành cho các anh thích bắt tay với Việt cộng. Sống thì là những công dân hạng hai của chế độ, chết thì ... cũng chưa được làm công dân hạng bét.
Trước đây, nghe nói hoà thượng Thích Hạnh Đạo trụ trì chuà Phổ Đà ở Santa Ana, California đã nhận lời làm lễ cầu siêu và tro than của ông Nguyễn Cao Kỳ sẽ được an vị ở đây. Chỉ tiếc là điều này chưa thực hiện được thì ngài đã viên tịch vào ngày 28 tháng 7, 2011.
Những vị thừa kế chuà này không dám quyết định vì ngại sự chống đối của Phật tử chống cộng sẽ ảnh hưởng đến sự trang nghiêm của chuà vì uy tín đạo hạnh và quá khứ chống cộng của các vị này không thể so với hoà thượng Thích Hạnh Đạo. (Tưởng cũng nên nhắc qua về tiểu sử của hoà thượng Thích Hạnh Đạo và sự liên quan mật thiết cuả ngài trong QLVNCH.
Trích chuadonghung.com
- Năm 1964 khi ngành Tuyên Úy Phật Giáo ra đời, Ngài tham dự và tốt nghiệp Khóa I Sĩ Quan Tuyên Úy Phật Giáo trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và được cử ra Vùng I làm Phụ Tá Tuyên Úy Quân Khu.
Sau khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thành lập vào đầu năm 1964, từ năm 1964 đến năm 1967, Ngài đảm nhận chức vụ Tổng Thư Ký cho Ban Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Quảng Nam Đà Nẵng.
- Từ năm 1966 đến năm 1968, Ngài được công cử làm Trụ Trì Chùa Báo Ân kiêm Tuyên Úy Trưởng tại Tổng Y Viện Cộng Hòa tại SàiGòn.
- Từ năm 1968 đến năm 1970, Ngài được thăng cấp bậc Trung Tá và đảm nhận chức vụ Chánh Sở Tuyên Úy Phật Giáo Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, văn phòng đặt tại Tỉnh Cần Thơ.
- Năm 1970, Ngài được cử đảm nhận chức vụ Giám Đốc Cơ Quan Viện Trợ CRS, là cơ quan viện trợ nhân đạo quốc tế của Hoa Kỳ.
- Từ năm 1970 đến năm 1975, Ngài về Trụ Trì Chùa Từ Tâm trong Trung Tâm Y Tế Toàn Khoa Đà Nẵng. Trong thời gian này Ngài cũng dạy học tại Phật Học Viện Phổ Đà, giáo sư Toán trường Trung học Bồ Đề Đà Nẵng và đảm nhận chức vụ Phó Đại Diện Nội Vụ trong Ban Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Thị xã Đà Nẵng.
- Sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam, cùng chung số phận với hàng trăm ngàn quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa, Ngài bị Cộng Sản bắt bỏ tù từ năm 1975 cho đến năm 1985 mới được thả ra.
- 1995, ngài đến Hoa Kỳ trong diệân HO 19
(ngưng trích)
Qua tiểu sử trên chúng ta thấy rằng từ năm 1964 đến năm 1967, hoà thượng Thích Hạnh Đạo đảm nhận chức vụ Tổng Thư Ký cho Ban Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Quảng Nam Đà Nẵng, thời kỳ mà ông Kỳ vẫn hãnh diện về tài “dẹp loạn miền Trung”. Ngài Hạnh Đạo biết rõ vì sao các chuà ở hải ngoại không muốn nhận làm lễ cầu siêu hay tro than của ông Nguyễn Cao Kỳ.
Nhưng ngài Hạnh Đạo đã dùng tâm từ bi chánh pháp của một tu sĩ Phật giáp để làm điều này. Chỉ tiếc là ngài qua đời trước khi tro than của ông Kỳ về đến chuà Phổ Đà. Hiện nay, có tin vì các chuà Việt Nam không muốn nhận “điều lành” này nên có thể người nhà ông Nguyễn Cao Kỳ sẽ đưa ông vào chuà Tây Lai tức Hsi Lai của Phật giáo Đài Loan.
Thế mới biết định mệnh là ghê gớm thật. Thiếu tá Đăng văn Âu đã so sánh cái chết của ông Nguyễn Cao Kỳ với ông VõVăn Kiệt và cho rằng là do tình báo Trung Cộng dính dzô. Bây giờ chết tro than ông hàng ngày phải nghe kinh bằng tiếng Tàu thì thật là oan nghiệt.
*
Hai tuần qua, những ông “pro” thiếu tướng ra công bênh vực hay nhìn họ hàng với ông Nguyễn Cao Kỳ khiến người hiểu chuyện vừa thương, vừa tội nghiệp cho ông. Các ông này viết câu trên: “nghĩa tử là nghĩa tận” khuyên mọi người phải để cho người nằm xuống được yên; nhưng ngay bên dưới thì lại “phán” rằng “hãy để cho lịch sử phán xét” công và tội của ông Kỳ. Với Việt cộng, Nguyễn Cao Kỳ không thể so sánh với Võ văn Kiệt, thì với người quốc gia chống cộng, không thể so sánh Nguyễn Cao Kỳ với Nhất Linh Nguyễn Tường Tam mà dùng câu nói “hãy để cho lịch sử phán xét” này được. Bối cảnh lịch sử của nền Đệ Nhất Cộng Hoà khi ông Nguyễn Tường Tam viết câu này trước khi tự sát và bối cảnh Việt Nam ngày nay dưới chế độ cộng sản và tư cách con người của Nguyễn Cao Kỳ thì không thể dùng câu nói này được.
Bởi vì một khi sự thật trắng đen quá rõ rệt thì “lịch sử” cần gì phải đắn do khi phán xét. The facts speak for itself. Đào Nương tôi không nhớ có phải ông sử gia Tư Mã Thiên là người đã viết câu này không:
Hầu hết sử gia đều là những mụ đàn bà lắm chuyện và thiển cận. Định kiến và quyền lợi khiến họ quên rằng viết sử không phải là viết tiểu sử, thành tích, mà là ghi nhận lại sự thật của sự kiện lịch sử một cách khách quan, trung thực, có phương pháp khoa học. Nó khác hẳn việc đánh giá sự kiện, sự thật ấy như thế nào, ra sao... vì đó là chuyện của người đời sau với những cái nhìn khác biệt, trình độ trí thức hay hậu quả của sự kiện này đối với đời sau. Chỉ một chuyện Kinh Kha sang Tần mà cũng đã để lại bao nhiêu là ý kiến khác biệt. Sử sách Tàu ghi rõ Kinh Kha là một kiếm khách tầm thường mà thái tử Đan vì lòng hoài vọng phục quốc cho nước Yên, chỉ cần nghe lời đồn đại mà mang về phụng dưỡng với hy vọng sẽ hành thích được vua Tần. Hai năm trời phụng dưỡng, tốn bao nhiêu tiền của, hy sinh cả đôi bàn tay của người thiếp yêu quý nhất, hy sinh cả một tướng quân Phan ô Kỳ để rồi khi việc không thành, thái tử Đan phải tuẩn tiết, người dân nước Yên bị đày đọa tang thương nhưng sử sách chỉ ghi nhớ chuyện Kinh Kha sang sông Dịch với một sứ mạng “đội đá vá trời” trong khi ông biết rõ hơn ai hết, tài trí và khả năng sánh sao được với bà Nữ Oa? Bao nhiêu ngàn năm sau, thi sĩ Vũ Hoàng Chương còn có những vần thơ ca tụng Kinh Kha:
Một nét dao bay ngàn thuở đẹp
Dù sai hay trúng cũng là dư
Kià uy dũng kẻ sang Tần không trở lại
Đã trùm lấn Yêu Ly, hề át Chuyên Chư
Ôi Kinh Kha
Hào khí người còn sang sảng
Nước sông Dịch còn trôi hay đã cạn
Chí anh hùng vằng vặc sáng thiên thu!
Chuyện Kinh Kha hành thích vua Tần mà còn như vậy thì chuyện ông Nguyễn Cao Kỳ đâu có gì để người sau phải bàn hay luận vì nó sáng vằng vặc như ban ngày. Có ba điều chung chung mà các ông “pro thiếu tướng” thường nêu ra mà Đào Nương tôi ghi nhận được:
- Lòng Yêu Nước của ông Kỳ.
- Sự nhường nhịn của ông Kỳ khi đồng ý đứng chung liên danh với ông Nguyễn Văn Thiệu năm 1967.
- Tinh thần hoà giải dân tộc khi bắt tay với Việt cộng.
1. Về lòng yêu nước của ông Nguyễn Cao Kỳ:
Nhiều lần, các ông “pro thiếu tướng” viết về việc ông Kỳ là một người yêu nước, một nhà ái quốc. Khó có thể có một định nghĩa rõ ràng thế nào là lòng ái quốc nhưng nếu bảo rằng đó là những tình cảm dành cho quê hương thì không đủ. Vì chỉ như thế thì ai cũng có thể là “nhà ái quốc” cả. Ái quốc không phải là tình cảm thuần túy. Người ta chỉ xử dụng danh từ này khi một người có những việc làm hữu ích cho vận mệnh quốc gia và quyền lợi quốc dân. Vậy, muốn trở thành người ái quốc phải có óc hy sinh. Khi sơn hà cần đến, ta phải biết coi rẻtư lợi mà lo cho quyền lợi tổ quốc.
Đào Nương tôi ở Orange County sớm hơn nhiều người Việt tị nạn cộng sản. Hầu hết tướng lãnh của VNCH như trung tướng Ngô Quang Trưởng, trung tướng Lữ Lan, thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, những vị tướng mà Đào Nương tôi được quen biết thì không ai có được đến 50 đô la khi ra khỏi quê hương. Các vị này ai cũng phải bắt tay vào việc lao động kiếm tiền nuôi gia đình trên mảnh đất mới này và ai cũng im lặng sống đời của những vị tướng bại trận có liêm sỉ, giữ danh dự cần có của một kẻ sĩ khi phải chấp nhận đời sống lưu vong nơi xứ người.
Khi đọc điếu văn của cô MC Kỳ Duyên “ca tụng” cha cô trong sạch và vì vậy cuối đời ông không có nhiều tiền mà tôi thấy buồn cười. Sau 1975, từ những năm đầu tị nạn cộng sản, khi hầu hết mọi người tị nạn cộng sản ở Hoa Kỳ làm lương 3, 4 đô la một giờ thì ‘tướng Kỳ và phu nhân” đã là chủ nhân của một ngôi nhà to ở Huntington Beach, một tiệm liquor ở Santa Ana. Vì những mối liên hệ mà Đào Nương tôi không muốn nhắc đến, Đào Nương tôi đã được chứng kiến những tiệc to, tiệc nhỏ ở tư gia của tướng Kỳ. Chẳng phải tự nhiên mà bà Đặng Tuyết Mai nổi tiếng tại những sòng bạc ở Las Vegas. Bà Đặng Tuyết Mai còn khai trương cửa hàng bán thời trang loại sang có tên La Pasisienne trong Westminster Mall. Những chuyện làm ít, ăn nhiều, chơi nhiều của ông bà tướng tăng theo với những xì căng đan càng lúc càng nhiều không còn dấu ai được nữa khi bà tướng tự tử ở Manilla, rồi chuyện bà Marcos bị lưu vong giao nữ trang nhờ bà tướng giữ dùm rồi bà tướng bán luôn, rồi chuyện ông tướng qua Louisiana nhờ thuộc cấp giúp đỡ mở vựa bán tôm.
Mỗi nơi, mỗi thời, anh em Không Quân, những bà “nhỏ” được làm quen với bà tướng bị mất mỗi người một ít mà ai cũng phải ngậm bồ hòn với bên ngoài, chỉ nói cho nhau nghe. Nói theo lời của một học giả có họ với bà tướng thì đó là một gia đình dột từ trên nóc dột xuống, không còn gì đáng để đề cập đến nữa.
Khi ông Nguyễn Cao Kỳ bỏ bà Đặng Tuyết Mai lấy “người cũ” làm “vợ mới” thì coi như ông Kỳ không còn chỗ dung thân ở nơi này.
Ai cũng biết điều này. Do đó, nếu còn thương và nghĩ đến ông Kỳ xin các ông “pro thiếu tướng” đừng ép người khác phải khui ra những cái hủ mắm “khó ngửi” này ra nữa. Khi ôâng Kỳ song hành vừa mở đường cho vợ mới kiếm cơm ở Việt Nam, vừa mở miệng chê những chiến binh VNCH trong đó có cả ông ta là “bọn lính đánh thuê” thì không biết nhà ái quốc này còn gì để hy sinh cho tổ quốc Việt Nam? Khi không còn tất cả danh dự, tài sản, đạo đức?
Đào Nương tôi nghĩ rằng, trong 10 năm qua, nếu những đàn em KQ của ông Kỳ đừng chán chê ông ta quá, vẫn cho ông ta những chỗ đi về, và những nhà hàng ở đường Bolsa vẫn còn cho ông Kỳ một chỗ ngồi không phải trả tiền thì liệu chúng tôi có phải nghe những điều chướng tai gai mắt làm ô nhục cả một binh chủng nói riêng và cả một quân đội nói chung hay không?
Do đó, yêu nước một cách thực tế nhứt theo Đào Nương tôi nghĩ vẫn là làm những công dân tốt, những công dân chu toàn các bổn phận hàng ngày, thượng tôn pháp luật, đào luyện về thể xác, tinh thần, đạo đức, xã giao... dù ở trong hay ngoài quê hương cũng vậy. Yêu nước không phải là sống bám vào đàn em và khi không còn sống bám được nữa thì cho “chúng” đi chung một xuồng “đánh thuê cho giặc Mỹ” một cách vô liêm sỉ như vậy được.
2. Về sự nhường nhịn của ông Kỳ khi đồng ý đứng chung liên danh với ông Nguyễn Văn Thiệu năm 1967:
Sau hội nghị tại Honolulu, ông Bunker thay ông Henry Cabot Lodge làm đại sứ Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam và việc đầu tiên của ông Bunker là loại ông Kỳ trong chức vụ lãnh đạo miền Nam Việt Nam vì ông Bunker nhìn thấy khả năng cuả tướng Kỳ và sự sai lầm của tướng Westmoreland trong việc hổ trợ tướng Kỳ. Các tướng lãnh miền Nam VN không còn ai ủng hộ ông Kỳ. Con đường đứng chung liên danh với ông Thiệu là một ân huệ mà Hội Đồng Tướng Lãnh dành cho tướng Kỳ để vớt vát thể diện cho tướng Kỳ và để tránh cho các ông KQ nổi loạn chứ không phải là quyết định hay chọn lựa “giải pháp đoàn kết” của tướng Kỳ. Trước khi để “lịch sử nhận định” thì chúng ta phải ghi lại sự kiện lịch sử cho đúng đã. Đó là những sự kiện lịch sử cận đại mà nhiều nhân chứng còn sống để chúng ta kiểm chứng. Đừng lộng ngôn ca tụng những điều không phải, không đúng vì khi làm như vậy, chính các ông đã mở cửa cho những người trẻ tuổi, những sĩ quan cấp dưới làm nhục ông Kỳ thêm hơn nữa.
Trước 1975, ông Nguyễn Cao Kỳ đã từng làm tướng, làm lãnh tụ mà không bảo vệ được lãnh thổ của VNCH, cái tội đó ông chưa trả lời được. Sau 1975, làm một vị tướng lưu vong đã không biết tu thân, tề gia, cuối đời lại không biết nhục mà còn mở miệng đòi trị quốc, bình thiên hạ thì quả thật là mục hạ vô nhân. Làm một vị tướng bại trận ít ra cũng nên biết giữ gìn thể diện để còn được sự kính nể của người dân hay thuộc hạ. Vận nước Việt Nam không may, thế cờ chính trị đã đưa chúng ta đến nơi này, không ai trách gì ai cả vì tướng cũng như dân đều có tội như nhau khi để nước mất vào trong tay giặc. Sau 36 năm, sơn hà đang nằm bên bờ vực thẳm, một bọn cướp ngày đang manh tâm bán rẻ đất nước cho ngoại bang.
Năng lực người Việt hải ngoại không dồn để tiêu diệt bọn chúng mà còn bận tâm đến phường giá áo, túi cơm chạy theo bọn cướp ngày này để làm gì? Khi không còn bám vào cộng đồng người Việt tị nạn Cộng sản thì quay đầu chạy về nước lạy lục với kẻ thù để hy vọng có được một chỗ dung thân nên đến chết vẫn không được yên thì cũng là điều dễ hiểu.
3. Về tinh thần hoà giải dân tộc của ông Nguyễn Cao Kỳ khi bắt tay với Việt cộng:
Đất nước Việt Nam ngày nay đã không còn là đất nước Việt Nam của 36 năm về trước. Thế giới ngày nay cũng không còn là thế giới của 36 năm về trước.
Năm 2004, ông Nguyễn Cao Kỳ theo vợ mới về Việt Nam với một hành trang rổng không. Công việc của ông Ky,ø nếu dùng chữ nghĩa một chút, thì là người dẫn đường, nôm na hơn thì là kẻ dẫn mối cho bọn tài phiệp Mỹ về mở sân chơi golf tại Việt Nam. Hiện nay, chúng ta đã biết sự thật đàng sau những “dự án” này. Để xây dựng một sân golf thì Việt cộng đã phải giải toả biết bao nhiêu nhà, cướp biết bao nhiêu đất của dân nghèo mà dù cho có đền bù thì cũng chẳng bao giờ thỏa đáng! Bằng chứng là có biết bao nhiêu vụ khiếu kiện của dân chúng mà không hề được giải quyết.Việt Nam cần phát triển về kỷ nghệ để có công ăn, việc làm cho dân chúng chứ không cần sân golf. Trong hành trang của ông Kỳ khi dẫn Mỹ về Việt Nam có một dự án kỷ nghệ nào không? Hoàn toàn không?
Đó là về kinh tế. Về chính trị, ông Nguyễn Cao Kỳ có gì để hoà hợp “dân tộc’ với bọn Việt gian cộng sản? Cái chúng cần là uy tín, là khả năng lãnh đạo cộng đồng người Việt hải ngoại thì ông Kỳ hoàn toàn không có. Thế thì chúng, những tên tư bản đỏ, những tên tỷ phú đô la do những đồng tiền ăn cướp của dân, sẽ hoà hợp gì với một anh tướng bại trận, nghèo kiết xác?
Cờ đến tay một người không có khả năng thì không những chỉ hại cho bản thân người ấy, cho gia đình người ấy mà còn là một nguy hại dài lâu cho đất nước. Tin giờ cuối nghe được thì gia đình ông Kỳ đã để tro cốt của ông Kỳ ở nghĩa trang Rose Hills vì không biết để đâu. Nghe mà tội. Đến chết thì tướng Kỳ được nhiều người viết bài nhận là anh, là bạn, ca tụng ông là nhà ái quốc khiến những điều không hay về cá nhân ông được dịp phô bày.
Hy vọng sau bài viết này, Đào Nương tôi sẽ không phải trở lại “đề tài” này. Xin các ông hãy để cho “nhà ái quốc” của các ông được yên nghỉ. Ít ra, khi nằm xuống, ông Nguyễn Cao Kỳ nhìn sao trời, ông Kỳ sẽ có dịp ngẫm nghĩ về ba chữ tổ quốc, danh dự và trách nhiệm mà khi còn sống, ông ta đã lãng quên!
Đào Nương
Trung Quốc lên lớp Mỹ
Ngô Nhân Dụng
Hậu sinh khả úy, người sinh sau có khi giỏi hơn người sinh trước. Nhưng ít chúng ta thấy một người trẻ lên tiếng dậy bảo người già giầu kinh nghiệm sống hơn mình.
Nước Mỹ đã sống trong kinh tế thị trường từ mấy thế kỷ nay; có thể nói đã từng trải với hàng trăm chu kỳ kinh tế khi lên khi xuống. Trung Quốc mới học tập làm ăn theo lối thị trường được chừng ba mươi năm, và cũng chỉ chịu học có một nửa thôi, chưa áp dụng hết bài bản. Cho nên khi chính quyền Trung Quốc có lời dạy khôn chính quyền Mỹ về tài chánh, đó là một chuyện lạ đáng chú ý.
Số là sau khi công ty thẩm lượng tín dụng S&P hạ thấp điểm của chính phủ Mỹ từ AAA xuống AA+, Tân Hoa Xã đã dẫn lời của một viên chức Trung Hoa nói rằng: “Chính quyền Mỹ nên nhận thức 'những ngày vàng son'... của họ đã chấm dứt rồi.” “Những ngày vàng son” nói đây là thời gian chính phủ Mỹ tha hồ đi vay nợ để tha hồ chi tiêu. Họ khuyên chính phủ Mỹ nên “cai bệnh ghiền nợ” và chấm dứt những cuộc cãi lộn chính trị “thiển cận.” Và họ cũng nhắc lại ý kiến mà Bắc Kinh đã nói từ năm ngoái, là thế giới cần có một đồng tiền dự trữ khác thay thế cho đô la Mỹ.
Tân Hoa Xã là một tiếng nói chính thức của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Những ý kiến họ nêu ra chắc hẳn đã được Bộ Chính Trị duyệt y. Và phải nói là họ đưa ra những điều đúng sự thật và rất đáng nghe. Một sự thật là chính phủ Mỹ, và cả dân Mỹ, đã vay nợ nhiều quá; chắc chắn nên tốp bớt lại. Nhưng Bắc Kinh còn nhân dịp này lên tiếng với tư cách một “chủ nợ” đang cầm trong tay nhiều “giấy nợ” do chính phủ Mỹ phát hành. Họ bảo: “Trung Quốc có đủ thẩm quyền để yêu cầu Hiệp Chúng Quốc giải quyết những vấn đề có tích cách cơ cấu về nợ nần của họ để bảo đảm (họ gọi là đảm bảo) những chứng khoán bằng đồng đô la Mỹ.”
Nghe đến đây, nhiều người coi là họ đang dọa dẫm. Khi một ông chủ nợ dọa con nợ, chắc chắn lời hăm dọa phải có trọng lượng. Con nợ nào cũng phải lo sợ: Lỡ ông ấy không cho mình vay tiền nữa, hoặc bắt phải trả hết nợ ngay lập tức thì sao? Ðó chính là điều chúng ta nên phân tích.
Trước hết, trong kinh tế thị trường phải phân biệt hai loại nợ nần. Một, quý vị có thể đến ngân hàng vay tiền. Họ sẽ đặt ra những điều kiện trả lãi, đáo hạn thì trả hết vốn. Ðó là việc riêng giữa người vay và nhà băng, người đi vay cứ kỳ kèo mặc cả sao cho có lợi nhất. Không trả được tiền lãi đúng hẹn thì vỡ nợ.
Còn một cách thứ hai, là dùng thị trường tài chánh. Quý vị có thể phát hành những trái phiếu, trong đó chính quý vị đặt ra những điều kiện trả lãi và trả vốn, thí dụ trả 5% mỗi năm, trong mười năm thì trả hết vốn, không bao giờ thay đổi. Khi quý vị trả lãi, trả vốn đầy đủ thì không ai làm gì được. Lãi suất cao hay thấp tùy theo mức rủi ro của người phát hành; càng nhiều rủi ro thì thị trường càng đòi mức lời cao hơn. Bình thường, khi điểm tín dụng của công ty bị hạ thấp là người cho vay sẽ đòi mức lời cao hơn, vì rủi ro hơn.
Thị trường là chỗ công cộng, ai có tiền cứ việc tham dự. Người nào mua trái phiếu, trở thành chủ nợ của người phát hành. Nhưng các chủ nợ này không giống ngân hàng. Vì ai thích thì vào mua, không có chuyện kỳ kèo mặc cả trực tiếp với con nợ. Chủ nhân một trái phiếu có thể khi cần tiền thì đem bán. Giá bán cao hay thấp hơn lúc mua tùy theo lúc bán lãi suất trên thị trường đang hạ xuống hay đang lên cao so với lãi suất khi phát hành. Khi lãi suất hạ thấp thì các trái phiếu đều lên giá, và ngược lại. Chuyện một chủ nhân trái phiếu phải bán giá thấp hơn khi mua (lỗ), hay bán được với giá cao hơn (lời), kẻ phát hành trái phiếu không cần biết đến. Nhưng một công ty phát hành trái phiếu thường phải lo bảo vệ giá trị nó, nếu công ty làm ăn kém, điểm tín dụng bị hạ thấp, thì giá trái phiếu của họ sẽ xuống giá, vì nó rủi ro hơn. Ngược lại, nếu công ty được tín nhiệm hơn, giá trái phiếu sẽ tăng vì người mua tín nhiệm đòi mức lời thấp hơn. Giá trái phiếu lên xuống ngược chiều với mức lời mà người mua đòi hỏi.
Vay trên thị trường bằng cách phát hành trái phiếu (chính phủ vay thì gọi là trái phiếu công, hay công trái, hoặc công khố phiếu) khác với cách vay ở ngân hàng là như vậy. Cho nên việc chính phủ Mỹ khác với trường hợp chính phủ Hy Lạp đang nhờ Ngân Hàng Trung Ương Aạu Châu (ECB) cứu giúp; hay việc chính phủ Nga nhờ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế cứu trước đây. Nga và Hy Lạp đều đóng vai con nợ tới ngân hàng vay tiền. Họ phải chịu nghe lời nhà băng đòi hỏi thế này, thế nọ, để bảo đảm sau sẽ trả được nợ. Còn chính phủ Mỹ chỉ đi vay trong thị trường, ai không muốn cho vay thì đừng tham dự chứ không đặt điều kiện nào cả. Miễn là người ta còn tin con nợ sẽ có tiền trả, là người ta cho vay.
Trung Quốc đang giữ trong nhà các trái phiếu của chính phủ Mỹ (công trái) trị giá hơn một tỷ đô la. Nếu muốn, họ cứ việc đem ra bán hết trên thị trường. Hoặc họ cứ chờ, mấy tháng lại nhận được tiền trả lãi, đến ngày đáo hạn thì được trả vốn. Nếu bây giờ Trung Quốc đem rất nhiều công trái chính phủ Mỹ ra bán thì sao? Tất cả các giấy nợ của chính phủ Mỹ sẽ xuống giá ngay lập tức. Hậu quả là chính Trung Quốc sẽ mất tiền. Nhưng đó không phải là phiền chính. Ðiều quan trọng hơn là sau khi bán họ sẽ mang tiền đầu tư vào đâu? Hàng chục năm nay họ cứ mua công trái của Mỹ chính vì họ không biết chỗ nào khác tốt hơn! Chính phủ Mỹ có lo vỡ nợ không? Như đã trình bày trong mục này tuần trước, họ không lo. Số tiền họ thu vào hàng tháng dư để thanh toán mọi thứ nợ nần. Nếu thiếu thì họ cắt của dân Mỹ chứ không ai dám quỵt nợ, vì điều 14 trong Hiến Pháp Mỹ đã cấm!
Cho đến năm nay cũng vậy, trên thế giới khó tìm được chỗ nào đầu tư an toàn bằng công trái của nước Mỹ vay! Ðiều này đã thấy rõ trong mấy tuần qua. Sau khi công ty S&P hạ thấp điểm tín dụng của Mỹ ngày Thứ Sáu vừa rồi, công trái Mỹ vẫn lên giá trên thị trường thế giới. Ngày Thứ Ba, 9 Tháng Tám, giá công trái 10 năm của Mỹ vẫn còn lên; chỉ đòi lợi suất có 2.32% so với mức 2.34% ngày hôm trước! Ðiều đó chứng tỏ những người (và các nước) có sẵn tiền vẫn muốn cho chính phủ Mỹ vay! Ngày hôm qua, lần đầu tiên sau khi bị S&P hạ điểm tín dụng chính phủ Mỹ phát hành công trái đi vay thêm nợ. Họ vay 32 tỷ đô la, thời hạn 3 năm. Số tiền mà người ta đem tới sẵn sàng cho vay lên tới gần 100 tỷ, cao hơn 3 lần số tiền Mỹ muốn vay. Theo thủ tục thông thường, người mua (tức các chủ nợ tương lai) phải “đấu giá” với nhau, ai đòi lợi suất thấp hơn (tức là trả giá cao hơn) thì mua được. Sau cùng, công trái đó đem bán với lợi suất chỉ có 0.50% một năm! Ðó là một lợi suất thấp kỷ lục; nước Mỹ chưa bao giờ được vay nợ với mức lời thấp như vậy! Mối lo kinh tế thế giới trì trệ làm cho thị trường các cổ phiếu tụt giảm, nhiều người có dư tiền sau khi bán cổ phiếu. Sẵn tiền, họ lại đi tìm mua công trái Mỹ, vì vẫn thấy đó là nơi đầu tư an toàn nhất. Họ có đi mua vàng thì cũng bị thiệt, vì giá vàng đang lên cao kỷ lục sẽ lên tận trời xanh! Chính phủ Trung Quốc sẽ khó tìm đâu ra nơi “gửi tiền” an toàn hơn công trái Mỹ, nhất là một khối lượng tiền lớn cỡ ngàn tỷ đô la.
Nếu chúng ta biết nguồn gốc từ đâu chính phủ Trung Quốc có hơn ba ngàn tỷ đô la dự trữ để cho chính phủ Mỹ vay bớt, thì thấy những lời tuyên bố mà Tân Hoa Xã loan báo rất buồn cười. Vì chính đảng Cộng Sản Trung Hoa đã đồng lõa và có lợi trong việc cho Mỹ vay. Họ tạo ra một tình trạng thiếu cân bằng trong kinh tế thế giới, do chính sách kinh tế thiếu cân bằng mà đảng này đang thi hành trong nước họ.
Kinh tế Trung Quốc thiếu cân bằng vì lo làm để xuất cảng, không lo cho người tiêu thụ (tức là hàng ngàn triệu người Trung Hoa) được hưởng xứng đáng với công lao của họ. Dân Trung Hoa làm việc cực nhọc, được trả lương rất thấp, để các doanh nghiệp nhà nuớc xuất cảng thu tiền vào. Dân Mỹ thì phởn phơ tiêu thụ vì hàng nhập cảng rẻ rề. Cán cân thương mại cứ nghiêng về phía Tây, tiền Mỹ chạy sang Tầu. Muốn giữ giá đồng Nguyên thấp (để dễ xuất cảng), chính phủ Tầu thu mua hết đô la Mỹ trong nước đem vào Ngân Hàng Trung Ương. Rồi chẳng biết đầu tư ở đâu, lại đem sang Mỹ cho vay, cho chính phủ Mỹ đến các ngân hàng lớn vay.
Cái vòng quay của đồng tiền này đã chạy đều đặn hàng chục năm nay không nghỉ, làm cho kinh tế thế giới cũng thiếu cân bằng! Nếu Trung Quốc không bán hàng thặng dư sang Mỹ thì không có nhiều tiền để cho vay như thế. Chính những số tiền khổng lồ do Bắc Kinh cho vay đã khiến lãi suất ở Mỹ rất thấp (nhiều người cho vay hơn thì tự nhiên lãi suất xuống). Chính Bắc Kinh đã gây ra bệnh “ghiền nợ” cho dân Mỹ! Vì các ngân hàng Mỹ đầy tiền với giá rẻ cho nên họ cho vay mua nhà bừa bãi với điều kiện thấp trong mấy năm trước năm 2007! Chính nó đã gây ra cơn khủng hoảng địa ốc làm suy sụp nền tài chánh Mỹ năm 2008, đến giờ tai họa vẫn chưa dứt!
Cả thế giới đã kêu gọi Bắc Kinh phải cải tổ cơ cấu kinh tế, chú ý hơn đến người tiêu thụ (những người Trung Hoa đổ mồ hôi ra làm hàng hóa giá rẻ bán cho dân Mỹ). Muốn vậy thì phải nâng giá đồng Nguyên của họ lên, cho dân Trung Hoa được mua hàng nhập cảng giá rẻ hơn. Nhưng đảng Cộng Sản Trung Hoa không chịu nghe. Vì các quan chức, đảng viên của họ vẫn được tiêu thụ “hàng ngoại” thoải mái, họ đâu có thiếu gì!
Cho nên, việc chính quyền Cộng Sản Trung Hoa lên lớp khuyên bảo chính phủ Mỹ nghe rất tức cười. Không hiểu ai xui khiến mà họ lại lên giọng như thế! Cũng như Thủ Tướng Nga Vladimir Putin. Ông mới gắn nhãn hiệu cho nước Mỹ là “kinh tế ký sinh,” ví như cây tầm gửi vậy. Nhưng chính nước Nga là quốc gia đã từng ngửa tay đi xin các nước khác “tha nợ” và năn nỉ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế cứu mấy lần, nước Mỹ thì chưa. Lão Tử đã nói “Tri giả bất ngôn; Ngôn giả bất tri.” Người biết thì không nói, cái anh hay nói lại không biết gì cả!
Ngô Nhân Dụng
Hậu sinh khả úy, người sinh sau có khi giỏi hơn người sinh trước. Nhưng ít chúng ta thấy một người trẻ lên tiếng dậy bảo người già giầu kinh nghiệm sống hơn mình.
Nước Mỹ đã sống trong kinh tế thị trường từ mấy thế kỷ nay; có thể nói đã từng trải với hàng trăm chu kỳ kinh tế khi lên khi xuống. Trung Quốc mới học tập làm ăn theo lối thị trường được chừng ba mươi năm, và cũng chỉ chịu học có một nửa thôi, chưa áp dụng hết bài bản. Cho nên khi chính quyền Trung Quốc có lời dạy khôn chính quyền Mỹ về tài chánh, đó là một chuyện lạ đáng chú ý.
Số là sau khi công ty thẩm lượng tín dụng S&P hạ thấp điểm của chính phủ Mỹ từ AAA xuống AA+, Tân Hoa Xã đã dẫn lời của một viên chức Trung Hoa nói rằng: “Chính quyền Mỹ nên nhận thức 'những ngày vàng son'... của họ đã chấm dứt rồi.” “Những ngày vàng son” nói đây là thời gian chính phủ Mỹ tha hồ đi vay nợ để tha hồ chi tiêu. Họ khuyên chính phủ Mỹ nên “cai bệnh ghiền nợ” và chấm dứt những cuộc cãi lộn chính trị “thiển cận.” Và họ cũng nhắc lại ý kiến mà Bắc Kinh đã nói từ năm ngoái, là thế giới cần có một đồng tiền dự trữ khác thay thế cho đô la Mỹ.
Tân Hoa Xã là một tiếng nói chính thức của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Những ý kiến họ nêu ra chắc hẳn đã được Bộ Chính Trị duyệt y. Và phải nói là họ đưa ra những điều đúng sự thật và rất đáng nghe. Một sự thật là chính phủ Mỹ, và cả dân Mỹ, đã vay nợ nhiều quá; chắc chắn nên tốp bớt lại. Nhưng Bắc Kinh còn nhân dịp này lên tiếng với tư cách một “chủ nợ” đang cầm trong tay nhiều “giấy nợ” do chính phủ Mỹ phát hành. Họ bảo: “Trung Quốc có đủ thẩm quyền để yêu cầu Hiệp Chúng Quốc giải quyết những vấn đề có tích cách cơ cấu về nợ nần của họ để bảo đảm (họ gọi là đảm bảo) những chứng khoán bằng đồng đô la Mỹ.”
Nghe đến đây, nhiều người coi là họ đang dọa dẫm. Khi một ông chủ nợ dọa con nợ, chắc chắn lời hăm dọa phải có trọng lượng. Con nợ nào cũng phải lo sợ: Lỡ ông ấy không cho mình vay tiền nữa, hoặc bắt phải trả hết nợ ngay lập tức thì sao? Ðó chính là điều chúng ta nên phân tích.
Trước hết, trong kinh tế thị trường phải phân biệt hai loại nợ nần. Một, quý vị có thể đến ngân hàng vay tiền. Họ sẽ đặt ra những điều kiện trả lãi, đáo hạn thì trả hết vốn. Ðó là việc riêng giữa người vay và nhà băng, người đi vay cứ kỳ kèo mặc cả sao cho có lợi nhất. Không trả được tiền lãi đúng hẹn thì vỡ nợ.
Còn một cách thứ hai, là dùng thị trường tài chánh. Quý vị có thể phát hành những trái phiếu, trong đó chính quý vị đặt ra những điều kiện trả lãi và trả vốn, thí dụ trả 5% mỗi năm, trong mười năm thì trả hết vốn, không bao giờ thay đổi. Khi quý vị trả lãi, trả vốn đầy đủ thì không ai làm gì được. Lãi suất cao hay thấp tùy theo mức rủi ro của người phát hành; càng nhiều rủi ro thì thị trường càng đòi mức lời cao hơn. Bình thường, khi điểm tín dụng của công ty bị hạ thấp là người cho vay sẽ đòi mức lời cao hơn, vì rủi ro hơn.
Thị trường là chỗ công cộng, ai có tiền cứ việc tham dự. Người nào mua trái phiếu, trở thành chủ nợ của người phát hành. Nhưng các chủ nợ này không giống ngân hàng. Vì ai thích thì vào mua, không có chuyện kỳ kèo mặc cả trực tiếp với con nợ. Chủ nhân một trái phiếu có thể khi cần tiền thì đem bán. Giá bán cao hay thấp hơn lúc mua tùy theo lúc bán lãi suất trên thị trường đang hạ xuống hay đang lên cao so với lãi suất khi phát hành. Khi lãi suất hạ thấp thì các trái phiếu đều lên giá, và ngược lại. Chuyện một chủ nhân trái phiếu phải bán giá thấp hơn khi mua (lỗ), hay bán được với giá cao hơn (lời), kẻ phát hành trái phiếu không cần biết đến. Nhưng một công ty phát hành trái phiếu thường phải lo bảo vệ giá trị nó, nếu công ty làm ăn kém, điểm tín dụng bị hạ thấp, thì giá trái phiếu của họ sẽ xuống giá, vì nó rủi ro hơn. Ngược lại, nếu công ty được tín nhiệm hơn, giá trái phiếu sẽ tăng vì người mua tín nhiệm đòi mức lời thấp hơn. Giá trái phiếu lên xuống ngược chiều với mức lời mà người mua đòi hỏi.
Vay trên thị trường bằng cách phát hành trái phiếu (chính phủ vay thì gọi là trái phiếu công, hay công trái, hoặc công khố phiếu) khác với cách vay ở ngân hàng là như vậy. Cho nên việc chính phủ Mỹ khác với trường hợp chính phủ Hy Lạp đang nhờ Ngân Hàng Trung Ương Aạu Châu (ECB) cứu giúp; hay việc chính phủ Nga nhờ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế cứu trước đây. Nga và Hy Lạp đều đóng vai con nợ tới ngân hàng vay tiền. Họ phải chịu nghe lời nhà băng đòi hỏi thế này, thế nọ, để bảo đảm sau sẽ trả được nợ. Còn chính phủ Mỹ chỉ đi vay trong thị trường, ai không muốn cho vay thì đừng tham dự chứ không đặt điều kiện nào cả. Miễn là người ta còn tin con nợ sẽ có tiền trả, là người ta cho vay.
Trung Quốc đang giữ trong nhà các trái phiếu của chính phủ Mỹ (công trái) trị giá hơn một tỷ đô la. Nếu muốn, họ cứ việc đem ra bán hết trên thị trường. Hoặc họ cứ chờ, mấy tháng lại nhận được tiền trả lãi, đến ngày đáo hạn thì được trả vốn. Nếu bây giờ Trung Quốc đem rất nhiều công trái chính phủ Mỹ ra bán thì sao? Tất cả các giấy nợ của chính phủ Mỹ sẽ xuống giá ngay lập tức. Hậu quả là chính Trung Quốc sẽ mất tiền. Nhưng đó không phải là phiền chính. Ðiều quan trọng hơn là sau khi bán họ sẽ mang tiền đầu tư vào đâu? Hàng chục năm nay họ cứ mua công trái của Mỹ chính vì họ không biết chỗ nào khác tốt hơn! Chính phủ Mỹ có lo vỡ nợ không? Như đã trình bày trong mục này tuần trước, họ không lo. Số tiền họ thu vào hàng tháng dư để thanh toán mọi thứ nợ nần. Nếu thiếu thì họ cắt của dân Mỹ chứ không ai dám quỵt nợ, vì điều 14 trong Hiến Pháp Mỹ đã cấm!
Cho đến năm nay cũng vậy, trên thế giới khó tìm được chỗ nào đầu tư an toàn bằng công trái của nước Mỹ vay! Ðiều này đã thấy rõ trong mấy tuần qua. Sau khi công ty S&P hạ thấp điểm tín dụng của Mỹ ngày Thứ Sáu vừa rồi, công trái Mỹ vẫn lên giá trên thị trường thế giới. Ngày Thứ Ba, 9 Tháng Tám, giá công trái 10 năm của Mỹ vẫn còn lên; chỉ đòi lợi suất có 2.32% so với mức 2.34% ngày hôm trước! Ðiều đó chứng tỏ những người (và các nước) có sẵn tiền vẫn muốn cho chính phủ Mỹ vay! Ngày hôm qua, lần đầu tiên sau khi bị S&P hạ điểm tín dụng chính phủ Mỹ phát hành công trái đi vay thêm nợ. Họ vay 32 tỷ đô la, thời hạn 3 năm. Số tiền mà người ta đem tới sẵn sàng cho vay lên tới gần 100 tỷ, cao hơn 3 lần số tiền Mỹ muốn vay. Theo thủ tục thông thường, người mua (tức các chủ nợ tương lai) phải “đấu giá” với nhau, ai đòi lợi suất thấp hơn (tức là trả giá cao hơn) thì mua được. Sau cùng, công trái đó đem bán với lợi suất chỉ có 0.50% một năm! Ðó là một lợi suất thấp kỷ lục; nước Mỹ chưa bao giờ được vay nợ với mức lời thấp như vậy! Mối lo kinh tế thế giới trì trệ làm cho thị trường các cổ phiếu tụt giảm, nhiều người có dư tiền sau khi bán cổ phiếu. Sẵn tiền, họ lại đi tìm mua công trái Mỹ, vì vẫn thấy đó là nơi đầu tư an toàn nhất. Họ có đi mua vàng thì cũng bị thiệt, vì giá vàng đang lên cao kỷ lục sẽ lên tận trời xanh! Chính phủ Trung Quốc sẽ khó tìm đâu ra nơi “gửi tiền” an toàn hơn công trái Mỹ, nhất là một khối lượng tiền lớn cỡ ngàn tỷ đô la.
Nếu chúng ta biết nguồn gốc từ đâu chính phủ Trung Quốc có hơn ba ngàn tỷ đô la dự trữ để cho chính phủ Mỹ vay bớt, thì thấy những lời tuyên bố mà Tân Hoa Xã loan báo rất buồn cười. Vì chính đảng Cộng Sản Trung Hoa đã đồng lõa và có lợi trong việc cho Mỹ vay. Họ tạo ra một tình trạng thiếu cân bằng trong kinh tế thế giới, do chính sách kinh tế thiếu cân bằng mà đảng này đang thi hành trong nước họ.
Kinh tế Trung Quốc thiếu cân bằng vì lo làm để xuất cảng, không lo cho người tiêu thụ (tức là hàng ngàn triệu người Trung Hoa) được hưởng xứng đáng với công lao của họ. Dân Trung Hoa làm việc cực nhọc, được trả lương rất thấp, để các doanh nghiệp nhà nuớc xuất cảng thu tiền vào. Dân Mỹ thì phởn phơ tiêu thụ vì hàng nhập cảng rẻ rề. Cán cân thương mại cứ nghiêng về phía Tây, tiền Mỹ chạy sang Tầu. Muốn giữ giá đồng Nguyên thấp (để dễ xuất cảng), chính phủ Tầu thu mua hết đô la Mỹ trong nước đem vào Ngân Hàng Trung Ương. Rồi chẳng biết đầu tư ở đâu, lại đem sang Mỹ cho vay, cho chính phủ Mỹ đến các ngân hàng lớn vay.
Cái vòng quay của đồng tiền này đã chạy đều đặn hàng chục năm nay không nghỉ, làm cho kinh tế thế giới cũng thiếu cân bằng! Nếu Trung Quốc không bán hàng thặng dư sang Mỹ thì không có nhiều tiền để cho vay như thế. Chính những số tiền khổng lồ do Bắc Kinh cho vay đã khiến lãi suất ở Mỹ rất thấp (nhiều người cho vay hơn thì tự nhiên lãi suất xuống). Chính Bắc Kinh đã gây ra bệnh “ghiền nợ” cho dân Mỹ! Vì các ngân hàng Mỹ đầy tiền với giá rẻ cho nên họ cho vay mua nhà bừa bãi với điều kiện thấp trong mấy năm trước năm 2007! Chính nó đã gây ra cơn khủng hoảng địa ốc làm suy sụp nền tài chánh Mỹ năm 2008, đến giờ tai họa vẫn chưa dứt!
Cả thế giới đã kêu gọi Bắc Kinh phải cải tổ cơ cấu kinh tế, chú ý hơn đến người tiêu thụ (những người Trung Hoa đổ mồ hôi ra làm hàng hóa giá rẻ bán cho dân Mỹ). Muốn vậy thì phải nâng giá đồng Nguyên của họ lên, cho dân Trung Hoa được mua hàng nhập cảng giá rẻ hơn. Nhưng đảng Cộng Sản Trung Hoa không chịu nghe. Vì các quan chức, đảng viên của họ vẫn được tiêu thụ “hàng ngoại” thoải mái, họ đâu có thiếu gì!
Cho nên, việc chính quyền Cộng Sản Trung Hoa lên lớp khuyên bảo chính phủ Mỹ nghe rất tức cười. Không hiểu ai xui khiến mà họ lại lên giọng như thế! Cũng như Thủ Tướng Nga Vladimir Putin. Ông mới gắn nhãn hiệu cho nước Mỹ là “kinh tế ký sinh,” ví như cây tầm gửi vậy. Nhưng chính nước Nga là quốc gia đã từng ngửa tay đi xin các nước khác “tha nợ” và năn nỉ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế cứu mấy lần, nước Mỹ thì chưa. Lão Tử đã nói “Tri giả bất ngôn; Ngôn giả bất tri.” Người biết thì không nói, cái anh hay nói lại không biết gì cả!
Trung Quốc lên lớp Mỹ
Ngô Nhân Dụng Hậu sinh khả úy, người sinh sau có khi giỏi hơn người sinh trước. Nhưng ít chúng ta thấy một người trẻ lên tiếng dậy bảo người già giầu kinh nghiệm sống hơn mình.
Nước Mỹ đã sống trong kinh tế thị trường từ mấy thế kỷ nay; có thể nói đã từng trải với hàng trăm chu kỳ kinh tế khi lên khi xuống. Trung Quốc mới học tập làm ăn theo lối thị trường được chừng ba mươi năm, và cũng chỉ chịu học có một nửa thôi, chưa áp dụng hết bài bản. Cho nên khi chính quyền Trung Quốc có lời dạy khôn chính quyền Mỹ về tài chánh, đó là một chuyện lạ đáng chú ý.
Số là sau khi công ty thẩm lượng tín dụng S&P hạ thấp điểm của chính phủ Mỹ từ AAA xuống AA+, Tân Hoa Xã đã dẫn lời của một viên chức Trung Hoa nói rằng: “Chính quyền Mỹ nên nhận thức 'những ngày vàng son'... của họ đã chấm dứt rồi.” “Những ngày vàng son” nói đây là thời gian chính phủ Mỹ tha hồ đi vay nợ để tha hồ chi tiêu. Họ khuyên chính phủ Mỹ nên “cai bệnh ghiền nợ” và chấm dứt những cuộc cãi lộn chính trị “thiển cận.” Và họ cũng nhắc lại ý kiến mà Bắc Kinh đã nói từ năm ngoái, là thế giới cần có một đồng tiền dự trữ khác thay thế cho đô la Mỹ.
Tân Hoa Xã là một tiếng nói chính thức của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Những ý kiến họ nêu ra chắc hẳn đã được Bộ Chính Trị duyệt y. Và phải nói là họ đưa ra những điều đúng sự thật và rất đáng nghe. Một sự thật là chính phủ Mỹ, và cả dân Mỹ, đã vay nợ nhiều quá; chắc chắn nên tốp bớt lại. Nhưng Bắc Kinh còn nhân dịp này lên tiếng với tư cách một “chủ nợ” đang cầm trong tay nhiều “giấy nợ” do chính phủ Mỹ phát hành. Họ bảo: “Trung Quốc có đủ thẩm quyền để yêu cầu Hiệp Chúng Quốc giải quyết những vấn đề có tích cách cơ cấu về nợ nần của họ để bảo đảm (họ gọi là đảm bảo) những chứng khoán bằng đồng đô la Mỹ.”
Nghe đến đây, nhiều người coi là họ đang dọa dẫm. Khi một ông chủ nợ dọa con nợ, chắc chắn lời hăm dọa phải có trọng lượng. Con nợ nào cũng phải lo sợ: Lỡ ông ấy không cho mình vay tiền nữa, hoặc bắt phải trả hết nợ ngay lập tức thì sao? Ðó chính là điều chúng ta nên phân tích.
Trước hết, trong kinh tế thị trường phải phân biệt hai loại nợ nần. Một, quý vị có thể đến ngân hàng vay tiền. Họ sẽ đặt ra những điều kiện trả lãi, đáo hạn thì trả hết vốn. Ðó là việc riêng giữa người vay và nhà băng, người đi vay cứ kỳ kèo mặc cả sao cho có lợi nhất. Không trả được tiền lãi đúng hẹn thì vỡ nợ.
Còn một cách thứ hai, là dùng thị trường tài chánh. Quý vị có thể phát hành những trái phiếu, trong đó chính quý vị đặt ra những điều kiện trả lãi và trả vốn, thí dụ trả 5% mỗi năm, trong mười năm thì trả hết vốn, không bao giờ thay đổi. Khi quý vị trả lãi, trả vốn đầy đủ thì không ai làm gì được. Lãi suất cao hay thấp tùy theo mức rủi ro của người phát hành; càng nhiều rủi ro thì thị trường càng đòi mức lời cao hơn. Bình thường, khi điểm tín dụng của công ty bị hạ thấp là người cho vay sẽ đòi mức lời cao hơn, vì rủi ro hơn.
Thị trường là chỗ công cộng, ai có tiền cứ việc tham dự. Người nào mua trái phiếu, trở thành chủ nợ của người phát hành. Nhưng các chủ nợ này không giống ngân hàng. Vì ai thích thì vào mua, không có chuyện kỳ kèo mặc cả trực tiếp với con nợ. Chủ nhân một trái phiếu có thể khi cần tiền thì đem bán. Giá bán cao hay thấp hơn lúc mua tùy theo lúc bán lãi suất trên thị trường đang hạ xuống hay đang lên cao so với lãi suất khi phát hành. Khi lãi suất hạ thấp thì các trái phiếu đều lên giá, và ngược lại. Chuyện một chủ nhân trái phiếu phải bán giá thấp hơn khi mua (lỗ), hay bán được với giá cao hơn (lời), kẻ phát hành trái phiếu không cần biết đến. Nhưng một công ty phát hành trái phiếu thường phải lo bảo vệ giá trị nó, nếu công ty làm ăn kém, điểm tín dụng bị hạ thấp, thì giá trái phiếu của họ sẽ xuống giá, vì nó rủi ro hơn. Ngược lại, nếu công ty được tín nhiệm hơn, giá trái phiếu sẽ tăng vì người mua tín nhiệm đòi mức lời thấp hơn. Giá trái phiếu lên xuống ngược chiều với mức lời mà người mua đòi hỏi.
Vay trên thị trường bằng cách phát hành trái phiếu (chính phủ vay thì gọi là trái phiếu công, hay công trái, hoặc công khố phiếu) khác với cách vay ở ngân hàng là như vậy. Cho nên việc chính phủ Mỹ khác với trường hợp chính phủ Hy Lạp đang nhờ Ngân Hàng Trung Ương Aạu Châu (ECB) cứu giúp; hay việc chính phủ Nga nhờ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế cứu trước đây. Nga và Hy Lạp đều đóng vai con nợ tới ngân hàng vay tiền. Họ phải chịu nghe lời nhà băng đòi hỏi thế này, thế nọ, để bảo đảm sau sẽ trả được nợ. Còn chính phủ Mỹ chỉ đi vay trong thị trường, ai không muốn cho vay thì đừng tham dự chứ không đặt điều kiện nào cả. Miễn là người ta còn tin con nợ sẽ có tiền trả, là người ta cho vay.
Trung Quốc đang giữ trong nhà các trái phiếu của chính phủ Mỹ (công trái) trị giá hơn một tỷ đô la. Nếu muốn, họ cứ việc đem ra bán hết trên thị trường. Hoặc họ cứ chờ, mấy tháng lại nhận được tiền trả lãi, đến ngày đáo hạn thì được trả vốn. Nếu bây giờ Trung Quốc đem rất nhiều công trái chính phủ Mỹ ra bán thì sao? Tất cả các giấy nợ của chính phủ Mỹ sẽ xuống giá ngay lập tức. Hậu quả là chính Trung Quốc sẽ mất tiền. Nhưng đó không phải là phiền chính. Ðiều quan trọng hơn là sau khi bán họ sẽ mang tiền đầu tư vào đâu? Hàng chục năm nay họ cứ mua công trái của Mỹ chính vì họ không biết chỗ nào khác tốt hơn! Chính phủ Mỹ có lo vỡ nợ không? Như đã trình bày trong mục này tuần trước, họ không lo. Số tiền họ thu vào hàng tháng dư để thanh toán mọi thứ nợ nần. Nếu thiếu thì họ cắt của dân Mỹ chứ không ai dám quỵt nợ, vì điều 14 trong Hiến Pháp Mỹ đã cấm!
Cho đến năm nay cũng vậy, trên thế giới khó tìm được chỗ nào đầu tư an toàn bằng công trái của nước Mỹ vay! Ðiều này đã thấy rõ trong mấy tuần qua. Sau khi công ty S&P hạ thấp điểm tín dụng của Mỹ ngày Thứ Sáu vừa rồi, công trái Mỹ vẫn lên giá trên thị trường thế giới. Ngày Thứ Ba, 9 Tháng Tám, giá công trái 10 năm của Mỹ vẫn còn lên; chỉ đòi lợi suất có 2.32% so với mức 2.34% ngày hôm trước! Ðiều đó chứng tỏ những người (và các nước) có sẵn tiền vẫn muốn cho chính phủ Mỹ vay! Ngày hôm qua, lần đầu tiên sau khi bị S&P hạ điểm tín dụng chính phủ Mỹ phát hành công trái đi vay thêm nợ. Họ vay 32 tỷ đô la, thời hạn 3 năm. Số tiền mà người ta đem tới sẵn sàng cho vay lên tới gần 100 tỷ, cao hơn 3 lần số tiền Mỹ muốn vay. Theo thủ tục thông thường, người mua (tức các chủ nợ tương lai) phải “đấu giá” với nhau, ai đòi lợi suất thấp hơn (tức là trả giá cao hơn) thì mua được. Sau cùng, công trái đó đem bán với lợi suất chỉ có 0.50% một năm! Ðó là một lợi suất thấp kỷ lục; nước Mỹ chưa bao giờ được vay nợ với mức lời thấp như vậy! Mối lo kinh tế thế giới trì trệ làm cho thị trường các cổ phiếu tụt giảm, nhiều người có dư tiền sau khi bán cổ phiếu. Sẵn tiền, họ lại đi tìm mua công trái Mỹ, vì vẫn thấy đó là nơi đầu tư an toàn nhất. Họ có đi mua vàng thì cũng bị thiệt, vì giá vàng đang lên cao kỷ lục sẽ lên tận trời xanh! Chính phủ Trung Quốc sẽ khó tìm đâu ra nơi “gửi tiền” an toàn hơn công trái Mỹ, nhất là một khối lượng tiền lớn cỡ ngàn tỷ đô la.
Nếu chúng ta biết nguồn gốc từ đâu chính phủ Trung Quốc có hơn ba ngàn tỷ đô la dự trữ để cho chính phủ Mỹ vay bớt, thì thấy những lời tuyên bố mà Tân Hoa Xã loan báo rất buồn cười. Vì chính đảng Cộng Sản Trung Hoa đã đồng lõa và có lợi trong việc cho Mỹ vay. Họ tạo ra một tình trạng thiếu cân bằng trong kinh tế thế giới, do chính sách kinh tế thiếu cân bằng mà đảng này đang thi hành trong nước họ.
Kinh tế Trung Quốc thiếu cân bằng vì lo làm để xuất cảng, không lo cho người tiêu thụ (tức là hàng ngàn triệu người Trung Hoa) được hưởng xứng đáng với công lao của họ. Dân Trung Hoa làm việc cực nhọc, được trả lương rất thấp, để các doanh nghiệp nhà nuớc xuất cảng thu tiền vào. Dân Mỹ thì phởn phơ tiêu thụ vì hàng nhập cảng rẻ rề. Cán cân thương mại cứ nghiêng về phía Tây, tiền Mỹ chạy sang Tầu. Muốn giữ giá đồng Nguyên thấp (để dễ xuất cảng), chính phủ Tầu thu mua hết đô la Mỹ trong nước đem vào Ngân Hàng Trung Ương. Rồi chẳng biết đầu tư ở đâu, lại đem sang Mỹ cho vay, cho chính phủ Mỹ đến các ngân hàng lớn vay.
Cái vòng quay của đồng tiền này đã chạy đều đặn hàng chục năm nay không nghỉ, làm cho kinh tế thế giới cũng thiếu cân bằng! Nếu Trung Quốc không bán hàng thặng dư sang Mỹ thì không có nhiều tiền để cho vay như thế. Chính những số tiền khổng lồ do Bắc Kinh cho vay đã khiến lãi suất ở Mỹ rất thấp (nhiều người cho vay hơn thì tự nhiên lãi suất xuống). Chính Bắc Kinh đã gây ra bệnh “ghiền nợ” cho dân Mỹ! Vì các ngân hàng Mỹ đầy tiền với giá rẻ cho nên họ cho vay mua nhà bừa bãi với điều kiện thấp trong mấy năm trước năm 2007! Chính nó đã gây ra cơn khủng hoảng địa ốc làm suy sụp nền tài chánh Mỹ năm 2008, đến giờ tai họa vẫn chưa dứt!
Cả thế giới đã kêu gọi Bắc Kinh phải cải tổ cơ cấu kinh tế, chú ý hơn đến người tiêu thụ (những người Trung Hoa đổ mồ hôi ra làm hàng hóa giá rẻ bán cho dân Mỹ). Muốn vậy thì phải nâng giá đồng Nguyên của họ lên, cho dân Trung Hoa được mua hàng nhập cảng giá rẻ hơn. Nhưng đảng Cộng Sản Trung Hoa không chịu nghe. Vì các quan chức, đảng viên của họ vẫn được tiêu thụ “hàng ngoại” thoải mái, họ đâu có thiếu gì!
Cho nên, việc chính quyền Cộng Sản Trung Hoa lên lớp khuyên bảo chính phủ Mỹ nghe rất tức cười. Không hiểu ai xui khiến mà họ lại lên giọng như thế! Cũng như Thủ Tướng Nga Vladimir Putin. Ông mới gắn nhãn hiệu cho nước Mỹ là “kinh tế ký sinh,” ví như cây tầm gửi vậy. Nhưng chính nước Nga là quốc gia đã từng ngửa tay đi xin các nước khác “tha nợ” và năn nỉ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế cứu mấy lần, nước Mỹ thì chưa. Lão Tử đã nói “Tri giả bất ngôn; Ngôn giả bất tri.” Người biết thì không nói, cái anh hay nói lại không biết gì cả!
Ngô Nhân Dụng Hậu sinh khả úy, người sinh sau có khi giỏi hơn người sinh trước. Nhưng ít chúng ta thấy một người trẻ lên tiếng dậy bảo người già giầu kinh nghiệm sống hơn mình.
Nước Mỹ đã sống trong kinh tế thị trường từ mấy thế kỷ nay; có thể nói đã từng trải với hàng trăm chu kỳ kinh tế khi lên khi xuống. Trung Quốc mới học tập làm ăn theo lối thị trường được chừng ba mươi năm, và cũng chỉ chịu học có một nửa thôi, chưa áp dụng hết bài bản. Cho nên khi chính quyền Trung Quốc có lời dạy khôn chính quyền Mỹ về tài chánh, đó là một chuyện lạ đáng chú ý.
Số là sau khi công ty thẩm lượng tín dụng S&P hạ thấp điểm của chính phủ Mỹ từ AAA xuống AA+, Tân Hoa Xã đã dẫn lời của một viên chức Trung Hoa nói rằng: “Chính quyền Mỹ nên nhận thức 'những ngày vàng son'... của họ đã chấm dứt rồi.” “Những ngày vàng son” nói đây là thời gian chính phủ Mỹ tha hồ đi vay nợ để tha hồ chi tiêu. Họ khuyên chính phủ Mỹ nên “cai bệnh ghiền nợ” và chấm dứt những cuộc cãi lộn chính trị “thiển cận.” Và họ cũng nhắc lại ý kiến mà Bắc Kinh đã nói từ năm ngoái, là thế giới cần có một đồng tiền dự trữ khác thay thế cho đô la Mỹ.
Tân Hoa Xã là một tiếng nói chính thức của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Những ý kiến họ nêu ra chắc hẳn đã được Bộ Chính Trị duyệt y. Và phải nói là họ đưa ra những điều đúng sự thật và rất đáng nghe. Một sự thật là chính phủ Mỹ, và cả dân Mỹ, đã vay nợ nhiều quá; chắc chắn nên tốp bớt lại. Nhưng Bắc Kinh còn nhân dịp này lên tiếng với tư cách một “chủ nợ” đang cầm trong tay nhiều “giấy nợ” do chính phủ Mỹ phát hành. Họ bảo: “Trung Quốc có đủ thẩm quyền để yêu cầu Hiệp Chúng Quốc giải quyết những vấn đề có tích cách cơ cấu về nợ nần của họ để bảo đảm (họ gọi là đảm bảo) những chứng khoán bằng đồng đô la Mỹ.”
Nghe đến đây, nhiều người coi là họ đang dọa dẫm. Khi một ông chủ nợ dọa con nợ, chắc chắn lời hăm dọa phải có trọng lượng. Con nợ nào cũng phải lo sợ: Lỡ ông ấy không cho mình vay tiền nữa, hoặc bắt phải trả hết nợ ngay lập tức thì sao? Ðó chính là điều chúng ta nên phân tích.
Trước hết, trong kinh tế thị trường phải phân biệt hai loại nợ nần. Một, quý vị có thể đến ngân hàng vay tiền. Họ sẽ đặt ra những điều kiện trả lãi, đáo hạn thì trả hết vốn. Ðó là việc riêng giữa người vay và nhà băng, người đi vay cứ kỳ kèo mặc cả sao cho có lợi nhất. Không trả được tiền lãi đúng hẹn thì vỡ nợ.
Còn một cách thứ hai, là dùng thị trường tài chánh. Quý vị có thể phát hành những trái phiếu, trong đó chính quý vị đặt ra những điều kiện trả lãi và trả vốn, thí dụ trả 5% mỗi năm, trong mười năm thì trả hết vốn, không bao giờ thay đổi. Khi quý vị trả lãi, trả vốn đầy đủ thì không ai làm gì được. Lãi suất cao hay thấp tùy theo mức rủi ro của người phát hành; càng nhiều rủi ro thì thị trường càng đòi mức lời cao hơn. Bình thường, khi điểm tín dụng của công ty bị hạ thấp là người cho vay sẽ đòi mức lời cao hơn, vì rủi ro hơn.
Thị trường là chỗ công cộng, ai có tiền cứ việc tham dự. Người nào mua trái phiếu, trở thành chủ nợ của người phát hành. Nhưng các chủ nợ này không giống ngân hàng. Vì ai thích thì vào mua, không có chuyện kỳ kèo mặc cả trực tiếp với con nợ. Chủ nhân một trái phiếu có thể khi cần tiền thì đem bán. Giá bán cao hay thấp hơn lúc mua tùy theo lúc bán lãi suất trên thị trường đang hạ xuống hay đang lên cao so với lãi suất khi phát hành. Khi lãi suất hạ thấp thì các trái phiếu đều lên giá, và ngược lại. Chuyện một chủ nhân trái phiếu phải bán giá thấp hơn khi mua (lỗ), hay bán được với giá cao hơn (lời), kẻ phát hành trái phiếu không cần biết đến. Nhưng một công ty phát hành trái phiếu thường phải lo bảo vệ giá trị nó, nếu công ty làm ăn kém, điểm tín dụng bị hạ thấp, thì giá trái phiếu của họ sẽ xuống giá, vì nó rủi ro hơn. Ngược lại, nếu công ty được tín nhiệm hơn, giá trái phiếu sẽ tăng vì người mua tín nhiệm đòi mức lời thấp hơn. Giá trái phiếu lên xuống ngược chiều với mức lời mà người mua đòi hỏi.
Vay trên thị trường bằng cách phát hành trái phiếu (chính phủ vay thì gọi là trái phiếu công, hay công trái, hoặc công khố phiếu) khác với cách vay ở ngân hàng là như vậy. Cho nên việc chính phủ Mỹ khác với trường hợp chính phủ Hy Lạp đang nhờ Ngân Hàng Trung Ương Aạu Châu (ECB) cứu giúp; hay việc chính phủ Nga nhờ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế cứu trước đây. Nga và Hy Lạp đều đóng vai con nợ tới ngân hàng vay tiền. Họ phải chịu nghe lời nhà băng đòi hỏi thế này, thế nọ, để bảo đảm sau sẽ trả được nợ. Còn chính phủ Mỹ chỉ đi vay trong thị trường, ai không muốn cho vay thì đừng tham dự chứ không đặt điều kiện nào cả. Miễn là người ta còn tin con nợ sẽ có tiền trả, là người ta cho vay.
Trung Quốc đang giữ trong nhà các trái phiếu của chính phủ Mỹ (công trái) trị giá hơn một tỷ đô la. Nếu muốn, họ cứ việc đem ra bán hết trên thị trường. Hoặc họ cứ chờ, mấy tháng lại nhận được tiền trả lãi, đến ngày đáo hạn thì được trả vốn. Nếu bây giờ Trung Quốc đem rất nhiều công trái chính phủ Mỹ ra bán thì sao? Tất cả các giấy nợ của chính phủ Mỹ sẽ xuống giá ngay lập tức. Hậu quả là chính Trung Quốc sẽ mất tiền. Nhưng đó không phải là phiền chính. Ðiều quan trọng hơn là sau khi bán họ sẽ mang tiền đầu tư vào đâu? Hàng chục năm nay họ cứ mua công trái của Mỹ chính vì họ không biết chỗ nào khác tốt hơn! Chính phủ Mỹ có lo vỡ nợ không? Như đã trình bày trong mục này tuần trước, họ không lo. Số tiền họ thu vào hàng tháng dư để thanh toán mọi thứ nợ nần. Nếu thiếu thì họ cắt của dân Mỹ chứ không ai dám quỵt nợ, vì điều 14 trong Hiến Pháp Mỹ đã cấm!
Cho đến năm nay cũng vậy, trên thế giới khó tìm được chỗ nào đầu tư an toàn bằng công trái của nước Mỹ vay! Ðiều này đã thấy rõ trong mấy tuần qua. Sau khi công ty S&P hạ thấp điểm tín dụng của Mỹ ngày Thứ Sáu vừa rồi, công trái Mỹ vẫn lên giá trên thị trường thế giới. Ngày Thứ Ba, 9 Tháng Tám, giá công trái 10 năm của Mỹ vẫn còn lên; chỉ đòi lợi suất có 2.32% so với mức 2.34% ngày hôm trước! Ðiều đó chứng tỏ những người (và các nước) có sẵn tiền vẫn muốn cho chính phủ Mỹ vay! Ngày hôm qua, lần đầu tiên sau khi bị S&P hạ điểm tín dụng chính phủ Mỹ phát hành công trái đi vay thêm nợ. Họ vay 32 tỷ đô la, thời hạn 3 năm. Số tiền mà người ta đem tới sẵn sàng cho vay lên tới gần 100 tỷ, cao hơn 3 lần số tiền Mỹ muốn vay. Theo thủ tục thông thường, người mua (tức các chủ nợ tương lai) phải “đấu giá” với nhau, ai đòi lợi suất thấp hơn (tức là trả giá cao hơn) thì mua được. Sau cùng, công trái đó đem bán với lợi suất chỉ có 0.50% một năm! Ðó là một lợi suất thấp kỷ lục; nước Mỹ chưa bao giờ được vay nợ với mức lời thấp như vậy! Mối lo kinh tế thế giới trì trệ làm cho thị trường các cổ phiếu tụt giảm, nhiều người có dư tiền sau khi bán cổ phiếu. Sẵn tiền, họ lại đi tìm mua công trái Mỹ, vì vẫn thấy đó là nơi đầu tư an toàn nhất. Họ có đi mua vàng thì cũng bị thiệt, vì giá vàng đang lên cao kỷ lục sẽ lên tận trời xanh! Chính phủ Trung Quốc sẽ khó tìm đâu ra nơi “gửi tiền” an toàn hơn công trái Mỹ, nhất là một khối lượng tiền lớn cỡ ngàn tỷ đô la.
Nếu chúng ta biết nguồn gốc từ đâu chính phủ Trung Quốc có hơn ba ngàn tỷ đô la dự trữ để cho chính phủ Mỹ vay bớt, thì thấy những lời tuyên bố mà Tân Hoa Xã loan báo rất buồn cười. Vì chính đảng Cộng Sản Trung Hoa đã đồng lõa và có lợi trong việc cho Mỹ vay. Họ tạo ra một tình trạng thiếu cân bằng trong kinh tế thế giới, do chính sách kinh tế thiếu cân bằng mà đảng này đang thi hành trong nước họ.
Kinh tế Trung Quốc thiếu cân bằng vì lo làm để xuất cảng, không lo cho người tiêu thụ (tức là hàng ngàn triệu người Trung Hoa) được hưởng xứng đáng với công lao của họ. Dân Trung Hoa làm việc cực nhọc, được trả lương rất thấp, để các doanh nghiệp nhà nuớc xuất cảng thu tiền vào. Dân Mỹ thì phởn phơ tiêu thụ vì hàng nhập cảng rẻ rề. Cán cân thương mại cứ nghiêng về phía Tây, tiền Mỹ chạy sang Tầu. Muốn giữ giá đồng Nguyên thấp (để dễ xuất cảng), chính phủ Tầu thu mua hết đô la Mỹ trong nước đem vào Ngân Hàng Trung Ương. Rồi chẳng biết đầu tư ở đâu, lại đem sang Mỹ cho vay, cho chính phủ Mỹ đến các ngân hàng lớn vay.
Cái vòng quay của đồng tiền này đã chạy đều đặn hàng chục năm nay không nghỉ, làm cho kinh tế thế giới cũng thiếu cân bằng! Nếu Trung Quốc không bán hàng thặng dư sang Mỹ thì không có nhiều tiền để cho vay như thế. Chính những số tiền khổng lồ do Bắc Kinh cho vay đã khiến lãi suất ở Mỹ rất thấp (nhiều người cho vay hơn thì tự nhiên lãi suất xuống). Chính Bắc Kinh đã gây ra bệnh “ghiền nợ” cho dân Mỹ! Vì các ngân hàng Mỹ đầy tiền với giá rẻ cho nên họ cho vay mua nhà bừa bãi với điều kiện thấp trong mấy năm trước năm 2007! Chính nó đã gây ra cơn khủng hoảng địa ốc làm suy sụp nền tài chánh Mỹ năm 2008, đến giờ tai họa vẫn chưa dứt!
Cả thế giới đã kêu gọi Bắc Kinh phải cải tổ cơ cấu kinh tế, chú ý hơn đến người tiêu thụ (những người Trung Hoa đổ mồ hôi ra làm hàng hóa giá rẻ bán cho dân Mỹ). Muốn vậy thì phải nâng giá đồng Nguyên của họ lên, cho dân Trung Hoa được mua hàng nhập cảng giá rẻ hơn. Nhưng đảng Cộng Sản Trung Hoa không chịu nghe. Vì các quan chức, đảng viên của họ vẫn được tiêu thụ “hàng ngoại” thoải mái, họ đâu có thiếu gì!
Cho nên, việc chính quyền Cộng Sản Trung Hoa lên lớp khuyên bảo chính phủ Mỹ nghe rất tức cười. Không hiểu ai xui khiến mà họ lại lên giọng như thế! Cũng như Thủ Tướng Nga Vladimir Putin. Ông mới gắn nhãn hiệu cho nước Mỹ là “kinh tế ký sinh,” ví như cây tầm gửi vậy. Nhưng chính nước Nga là quốc gia đã từng ngửa tay đi xin các nước khác “tha nợ” và năn nỉ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế cứu mấy lần, nước Mỹ thì chưa. Lão Tử đã nói “Tri giả bất ngôn; Ngôn giả bất tri.” Người biết thì không nói, cái anh hay nói lại không biết gì cả!
Di Sản khủng khiếp của HCM:
Xót xa người Việt xếp hàng bán thận ở Trung Quốc
Gần 2 ngày sau khi bán thận, khi tỉnh dậy, bệnh nhân được bác sĩ cho tập ăn cháo, tập đi đứng, mặc dù vết thương còn rất đau và "khi vừa đi được thì phải xuất viện về Việt Nam ngay".
Thượng tá Nguyễn Phú Thương, Phó phòng CSĐT tội phạm về TTXH (PC45) Công an TP Cần Thơ, Trưởng ban chuyên án, cho biết đối với những người vượt biên bán thận, trong lúc gây mê để lấy thận, bác sĩ bên Trung Quốc có thể cắt thêm bất cứ bộ phận nào trong nội tạng như gan, tụy... để ghép cho người khác mà nạn nhân không hề hay biết và không biết khiếu kiện với ai.
Bên cạnh đó, bất cứ việc phẫu thuật nào trong ngành y tế cũng đều có thể gặp sự cố liên quan đến tính mạng bệnh nhân. Chưa kể, việc vượt biên sang Trung Quốc để bán thận tại một bệnh viện không được phép của chính phủ nước sở tại lại càng nguy hiểm hơn.
Lúc nào cũng có cả chục người Việt Nam chờ bán thận
Sáng 11/8, PV tiếp xúc với anh Võ Văn Công (18 tuổi) và Trần Văn Đại (21 tuổi, cùng ngụ xã Đông Bình, H.Châu Thành, Hậu Giang), hai trong số 3 nạn nhân ở địa phương này vừa qua Trung Quốc bán thận trở về.
Vết mổ sau khi bán thận của anh Đại
Công và Đại cùng sinh ra và lớn lên ở vùng nông thôn nghèo, cha mẹ, anh chị em trong gia đình sống bằng nghề làm mướn. Cuối năm ngoái, có một số người từ nơi khác đến rủ sang Trung Quốc bán thận với giá 40 triệu đồng/quả.
“Họ nói mỗi người có đến 2 quả thận, mất 1 quả không ảnh hưởng gì đến sức khỏe, chi phí ăn uống, đi lại được người ta lo hết; trong khi mình vừa có món tiền lớn giúp đỡ gia đình, vừa được đi máy bay, được biết Sài Gòn, Hà Nội và cả Trung Quốc nữa, nên thích lắm” - Công nói.
Thế là Công và Đại rủ thêm Tô Văn Hải (19 tuổi, anh em bạn dì với Công) trốn nhà đi bán thận. Khi đi, họ chỉ mặc duy nhất bộ đồ trên người và trong túi của cả ba cộng lại chưa đến 200 ngàn đồng.
Họ được một người tên Văn đưa lên TP Cần Thơ nghỉ qua đêm. Sáng sớm hôm sau, ba người được đưa lên TP.HCM, sau đó bay ra Hải Phòng, rồi được một người đưa tiếp ra Móng Cái (Quảng Ninh). “Đến đây, có một phụ nữ tên Thịnh ra đón rồi dẫn xuống bến đò gần cửa khẩu. Sau đó, bà Thịnh mướn đò đưa chúng tôi sang Trung Quốc” - anh Đại nói.
Sang đến đất Trung Quốc, cả ba được một người bản địa dẫn lên xe đò, đi khoảng 1 ngày 1 đêm thì đến TP Quảng Châu. Sau đó, họ dồn cả ba vào ở trong một căn phòng rộng khoảng 20m2, trong đó có sẵn 7-8 người đến từ TP.HCM nằm chờ tới lượt bán thận. “Chúng tôi được cho nghỉ ngơi một ngày, sau đó họ đưa đến một bệnh viện (BV) lớn cách nơi ở chừng 10 phút đi xe. Tại đây, chúng tôi được các bác sĩ khám tổng quát, làm các xét nghiệm rồi được chở về nhà trọ chờ đến lượt bán thận. Trong thời gian sống tại đây, chúng tôi không được đi ra ngoài. Họ mua thực phẩm, đồ ăn để sẵn trong tủ lạnh, chúng tôi tự nấu nướng. Khoảng một tuần sau, cả ba được một người Trung Quốc chở đến một bệnh viện lớn rồi được dẫn lên tầng 21 (tầng cao nhất), sau đó được đưa vào phòng mổ gây mê, cắt mỗi người 1 quả thận” - Đại nhớ lại.
Gần 2 ngày sau, khi tỉnh dậy, bệnh nhân được bác sĩ cho tập ăn cháo, tập đi đứng, mặc dù vết thương còn rất đau và “khi vừa đi được thì phải xuất viện về Việt Nam ngay". Theo lời anh Đại, nhiều người chỉ 3-4 ngày sau khi cắt thận là bác sĩ cho thuốc giảm đau rồi xuất viện, người yếu hơn nằm viện 7-8 ngày, khi vừa mới đi đứng được cũng xuất viện để theo đường dây trở về Việt Nam ngay. Trước khi xuất viện, mỗi người được bác sĩ trao một hộp thuốc, dặn khi nào thấy đau ở vết thương thì uống vào. Do xuất viện quá sớm nên cả ba về Việt Nam mới cắt chỉ vết mổ.
Anh Đại cho biết, tại nhà trọ lúc nào cũng có sẵn gần chục người từ Việt Nam sang nằm chờ bán thận...
Trở thành gánh nặng gia đình
Rời Quảng Châu, sau một ngày đêm ngồi xe đò, cả ba về đến biên giới. Họ lại được bà Thịnh ra đón, đưa trở về Việt Nam bằng đường bộ. Khi đến lãnh thổ Việt Nam, bà Thịnh đưa tiền cho mỗi người rồi chỉ đường đi từ Móng Cái về Hà Nội. “Chúng tôi hỏi lúc đầu nói bán thận giá 40 triệu, sao chỉ đưa cho mỗi người 36 triệu thì bà Thịnh nói phải trừ mỗi người 4 triệu đồng, gồm tiền xe, vé máy bay và ăn uống trong thời gian chờ lấy thận” - anh Công kể.
Cũng theo lời anh Công, sau khi ở Hà Nội một đêm, các anh hỏi thăm đường ra sân bay Nội Bài rồi mua vé vào TP.HCM để về quê. “Khi chúng tôi về nhà nói với cha mẹ vừa sang Trung Quốc bán thận, ai nấy đều bàng hoàng. Riêng mẹ của Công hay tin đã té xỉu”- anh Đại kể.
Số tiền bán thận khi về đến quê còn chưa đầy 30 triệu đồng, Đại và Công bảo đưa hết cho gia đình để giải quyết khó khăn. “Nhưng cũng không giải quyết được gì. Trong khi đó bây giờ sức khỏe chúng tôi yếu lắm, không làm việc nặng được vì vùng thắt lưng đau ê ẩm, vết mổ hay đau buốt. Tôi ước bây giờ có tiền đi ghép thận lại để khỏe mạnh như xưa, không trở thành gánh nặng cho gia đình…” - Đại nói.
Xót xa người Việt xếp hàng bán thận ở Trung Quốc
Gần 2 ngày sau khi bán thận, khi tỉnh dậy, bệnh nhân được bác sĩ cho tập ăn cháo, tập đi đứng, mặc dù vết thương còn rất đau và "khi vừa đi được thì phải xuất viện về Việt Nam ngay".
Thượng tá Nguyễn Phú Thương, Phó phòng CSĐT tội phạm về TTXH (PC45) Công an TP Cần Thơ, Trưởng ban chuyên án, cho biết đối với những người vượt biên bán thận, trong lúc gây mê để lấy thận, bác sĩ bên Trung Quốc có thể cắt thêm bất cứ bộ phận nào trong nội tạng như gan, tụy... để ghép cho người khác mà nạn nhân không hề hay biết và không biết khiếu kiện với ai.
Bên cạnh đó, bất cứ việc phẫu thuật nào trong ngành y tế cũng đều có thể gặp sự cố liên quan đến tính mạng bệnh nhân. Chưa kể, việc vượt biên sang Trung Quốc để bán thận tại một bệnh viện không được phép của chính phủ nước sở tại lại càng nguy hiểm hơn.
Lúc nào cũng có cả chục người Việt Nam chờ bán thận
Sáng 11/8, PV tiếp xúc với anh Võ Văn Công (18 tuổi) và Trần Văn Đại (21 tuổi, cùng ngụ xã Đông Bình, H.Châu Thành, Hậu Giang), hai trong số 3 nạn nhân ở địa phương này vừa qua Trung Quốc bán thận trở về.
Vết mổ sau khi bán thận của anh Đại
Công và Đại cùng sinh ra và lớn lên ở vùng nông thôn nghèo, cha mẹ, anh chị em trong gia đình sống bằng nghề làm mướn. Cuối năm ngoái, có một số người từ nơi khác đến rủ sang Trung Quốc bán thận với giá 40 triệu đồng/quả.
“Họ nói mỗi người có đến 2 quả thận, mất 1 quả không ảnh hưởng gì đến sức khỏe, chi phí ăn uống, đi lại được người ta lo hết; trong khi mình vừa có món tiền lớn giúp đỡ gia đình, vừa được đi máy bay, được biết Sài Gòn, Hà Nội và cả Trung Quốc nữa, nên thích lắm” - Công nói.
Thế là Công và Đại rủ thêm Tô Văn Hải (19 tuổi, anh em bạn dì với Công) trốn nhà đi bán thận. Khi đi, họ chỉ mặc duy nhất bộ đồ trên người và trong túi của cả ba cộng lại chưa đến 200 ngàn đồng.
Họ được một người tên Văn đưa lên TP Cần Thơ nghỉ qua đêm. Sáng sớm hôm sau, ba người được đưa lên TP.HCM, sau đó bay ra Hải Phòng, rồi được một người đưa tiếp ra Móng Cái (Quảng Ninh). “Đến đây, có một phụ nữ tên Thịnh ra đón rồi dẫn xuống bến đò gần cửa khẩu. Sau đó, bà Thịnh mướn đò đưa chúng tôi sang Trung Quốc” - anh Đại nói.
Sang đến đất Trung Quốc, cả ba được một người bản địa dẫn lên xe đò, đi khoảng 1 ngày 1 đêm thì đến TP Quảng Châu. Sau đó, họ dồn cả ba vào ở trong một căn phòng rộng khoảng 20m2, trong đó có sẵn 7-8 người đến từ TP.HCM nằm chờ tới lượt bán thận. “Chúng tôi được cho nghỉ ngơi một ngày, sau đó họ đưa đến một bệnh viện (BV) lớn cách nơi ở chừng 10 phút đi xe. Tại đây, chúng tôi được các bác sĩ khám tổng quát, làm các xét nghiệm rồi được chở về nhà trọ chờ đến lượt bán thận. Trong thời gian sống tại đây, chúng tôi không được đi ra ngoài. Họ mua thực phẩm, đồ ăn để sẵn trong tủ lạnh, chúng tôi tự nấu nướng. Khoảng một tuần sau, cả ba được một người Trung Quốc chở đến một bệnh viện lớn rồi được dẫn lên tầng 21 (tầng cao nhất), sau đó được đưa vào phòng mổ gây mê, cắt mỗi người 1 quả thận” - Đại nhớ lại.
Gần 2 ngày sau, khi tỉnh dậy, bệnh nhân được bác sĩ cho tập ăn cháo, tập đi đứng, mặc dù vết thương còn rất đau và “khi vừa đi được thì phải xuất viện về Việt Nam ngay". Theo lời anh Đại, nhiều người chỉ 3-4 ngày sau khi cắt thận là bác sĩ cho thuốc giảm đau rồi xuất viện, người yếu hơn nằm viện 7-8 ngày, khi vừa mới đi đứng được cũng xuất viện để theo đường dây trở về Việt Nam ngay. Trước khi xuất viện, mỗi người được bác sĩ trao một hộp thuốc, dặn khi nào thấy đau ở vết thương thì uống vào. Do xuất viện quá sớm nên cả ba về Việt Nam mới cắt chỉ vết mổ.
Anh Đại cho biết, tại nhà trọ lúc nào cũng có sẵn gần chục người từ Việt Nam sang nằm chờ bán thận...
Trở thành gánh nặng gia đình
Rời Quảng Châu, sau một ngày đêm ngồi xe đò, cả ba về đến biên giới. Họ lại được bà Thịnh ra đón, đưa trở về Việt Nam bằng đường bộ. Khi đến lãnh thổ Việt Nam, bà Thịnh đưa tiền cho mỗi người rồi chỉ đường đi từ Móng Cái về Hà Nội. “Chúng tôi hỏi lúc đầu nói bán thận giá 40 triệu, sao chỉ đưa cho mỗi người 36 triệu thì bà Thịnh nói phải trừ mỗi người 4 triệu đồng, gồm tiền xe, vé máy bay và ăn uống trong thời gian chờ lấy thận” - anh Công kể.
Cũng theo lời anh Công, sau khi ở Hà Nội một đêm, các anh hỏi thăm đường ra sân bay Nội Bài rồi mua vé vào TP.HCM để về quê. “Khi chúng tôi về nhà nói với cha mẹ vừa sang Trung Quốc bán thận, ai nấy đều bàng hoàng. Riêng mẹ của Công hay tin đã té xỉu”- anh Đại kể.
Số tiền bán thận khi về đến quê còn chưa đầy 30 triệu đồng, Đại và Công bảo đưa hết cho gia đình để giải quyết khó khăn. “Nhưng cũng không giải quyết được gì. Trong khi đó bây giờ sức khỏe chúng tôi yếu lắm, không làm việc nặng được vì vùng thắt lưng đau ê ẩm, vết mổ hay đau buốt. Tôi ước bây giờ có tiền đi ghép thận lại để khỏe mạnh như xưa, không trở thành gánh nặng cho gia đình…” - Đại nói.

