Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 5
Người Thương Binh Việt Nam Cộng Hoà



Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 5 Video 1


Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 5 Video 2

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Ðọc lại Truyện Kiều để yêu thêm tiếng Việt

Ðàm Trung Pháp

Thi hào Nguyễn Du ra đời trong hậu bán thế kỷ 18. Tôi thường tự hỏi có phải trong thời điểm ấy Thượng Ðế đã nổi hứng rộng lượng và công bình
mà ban cho nhân loại những thiên tài văn chương xuất chúng chăng?

Image
Kiều - Tranh Mai Thứ

Như Goethe sinh năm 1749 tại Ðức Quốc, Nguyễn Du sinh năm 1765 tại đất nước chúng ta, Chateaubriand sinh năm 1768 tại Pháp Quốc, và Wordsworth sinh năm 1770 tại Anh Quốc. Goethe, đệ nhất văn hào dân tộc Ðức, năm mới 25 tuổi đã viết cuốn truyện tình bi đát mang tên Die Leiden Des Jungen Werthers (Những Nỗi Ưu Sầu của Chàng Trai Trẻ Werther) để nói về mối ưu sầu thực sự của chính ông: Goethe đã gặp và yêu say đắm trong tuyệt vọng một phụ nữ đã đính hôn với người khác. Câu chuyện lãng mạn và bi thảm ấy khiến ông lẫy lừng danh tiếng khắp Âu Châu và cũng làm cho một vài giai nhân đa sầu đa cảm đang thất tình giống người trong truyện nhảy xuống hồ tự tử mà trong tay còn nắm chặt cuốn tiểu thuyết kia! Chateaubriand có thể được coi là nhà văn tiên khởi của trào lưu văn chương lãng mạn nước Pháp qua cuốn tiểu thuyết Atala, một câu chuyện vừa buồn vừa mãnh liệt đam mê trong khung cảnh thiên nhiên rực rỡ của rừng núi Bắc Mỹ, một nơi mà Chateaubriand chưa từng thăm viếng và chỉ được làm quen với các sắc dân da đỏ qua sách vở. Và Wordsworth, đệ nhất thi nhân bên trời Anh Quốc, năm chưa đến 30 tuổi đã cùng Coleridge xuất bản tập thơ Lyrical Ballads, mở đầu cho thời đại thi ca lãng mạn trong văn học quốc gia ấy. Wordsworth say mê thiên nhiên và có biệt tài dùng ngôn ngữ bình dị dễ hiểu để diễn tả những cảm xúc tràn bờ trước vẻ đẹp của rừng, của núi, của giai nhân. Tôi nhớ mãi những câu thơ sau đây của Wordsworth để tả một kiều nữ bí mật sống giữa thiên nhiên mang tên Lucy mà thi nhân ví như một bông hoa đổng thảo:

A violet by a mossy stone
Half-hidden from the eye
Fair as a star, when only one
Is shining in the sky

Thế còn Nguyễn Du của chúng ta thì sao? Hãy nghe lời người ngoại quốc ca ngợi thi hào họ Nguyễn trước đã. Thi sĩ lẫy lừng người Ấn Ðộ chuyên làm thơ bằng tiếng Anh mang tên Rabindranath Tagore (giải Nobel Văn Chương 1913) khi viếng thăm Việt Nam năm 1929 đã coi Nguyễn Du là vị thi sĩ đứng thứ 3 trong hàng ngũ những thi sĩ muôn thuở, chỉ sau Lý Bạch và Victor Hugo (theo học giả Thái Văn Kiểm). Văn sĩ Pháp René Crayssac đã dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp và cho rằng áng văn kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh mà không sợ kém các văn chương kiệt tác, vô luận ở thời nào và ở xứ nào (theo học giả Ðào Duy Anh). Như vậy thì thiên tài thi ca họ Nguyễn của chúng ta khi đứng cạnh những đại danh văn chương của nhân loại cũng ngang ngửa với họ, cũng đều “mười phân vẹn mười” cả, nhưng riêng đối với tôi thì đọc thơ Nguyễn Du thích thú gấp bội phần đọc các tác phẩm của các vị ngoại quốc kia, vì tôi là người cùng một ngôn ngữ và văn hóa với Nguyễn Du.

Nguyễn Du (ND) sinh năm 1765 trong một danh gia vọng tộc. Cha là hoàng giáp Nguyễn Nghiễm, người Hà Tĩnh, làm thủ tướng triều Lê. Mẹ là Trần Thị Tần, người Bắc Ninh, kém chồng 32 tuổi. ND mồ côi cha năm 11 tuổi và mồ côi mẹ năm 13 tuổi. Anh cả là tiến sĩ Nguyễn Khản, thượng thư bộ Lại; anh thứ hai là Nguyễn Ðiều từng làm trấn thủ Sơn Tây. Năm 1783, lúc 18 tuổi, ND đậu tam trường (tú tài); cùng năm này, một người anh tên là Nguyễn Ðề đậu thủ khoa kỳ thi hương (cử nhân). Tình hình chính trị lúc ấy thực bất ổn. Năm 1788 Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh; Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ở Huế. Năm 1789 Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Năm 1802 Gia Long diệt Tây Sơn, bắt đầu triều Nguyễn; ND làm tri huyện Phù Dung (thuộc Hưng Yên ngày nay), mấy tháng sau thăng tri phủ Thường Tín (thuộc Hà Tây ngày nay). Năm 1809 ND làm cai bạ ở Quảng Bình. Năm 1813 ND thăng cần chánh điện học sĩ, chánh sứ sang nhà Thanh. Năm sau đi sứ về, thăng tham tri bộ Lễ. Năm 1820 Gia Long mất, Minh Mệnh nối ngôi. ND được cử chánh sứ sang Tàu báo tang và cầu phong, nhưng chưa kịp lên đường thì bị bệnh và qua đời, thọ 56 tuổi.

Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết rõ là khi nào ND viết Truyện Kiều (Ðoạn Trường Tân Thanh) trước hay sau khi đi sứ sang Trung Quốc năm 1813. Theo Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim thì Truyện Kiều (TK) bắt nguồn từ một tiểu thuyết Tàu của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân, văn chương tầm thường, về một người đàn bà tài sắc, có lòng trung, hiếu, tiết nghĩa, mà đời bị bèo giạt hoa trôi. ND bỏ bớt những chỗ rườm rà, thô lỗ, dơ bẩn. So với tiểu thuyết Tàu thì Truyện Kiều của ND thanh nhã và văn vẻ hơn nhiều. Hà Như Chi, khi so sánh Truyện Kiều với tiểu thuyết Tàu nguyên thủy, nhận định Truyện Kiều là một công trình nghệ thuật cân đối hoàn hảo, kết cấu chặt chẽ, tình ý đậm đà khéo léo, văn chương tươi đẹp, thắm đượm màu sắc Việt Nam và dẫy đầy thi vị.

Vẫn theo Hà Như Chi, một nàng Kiều tài hoa duyên dáng như thế lại là nạn nhân của một số mệnh vô cùng khắt khe đã đánh mạnh vào tâm hồn ND và thúc giục cụ viết nên Truyện Kiều để hả hê những mối cảm tình đối với một người đã được cụ xem như đồng hội đồng thuyền với mình: ND phải quên nhà Lê mà ra làm quan với nhà Nguyễn thì có khác chi, vì chữ “mệnh” oái oăm, nàng Kiều phải bỏ Kim Trọng mà chịu bước giang hồ? Ðúng là:

Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mặn mà với ai?

Nội dung Truyện Kiều gồm 3,254 câu thơ lục-bát có thể chia làm 3 phần: (1) Thúy Kiều và Kim Trọng gặp gỡ và gắn bó với nhau; (2) Những nỗi khổ của Thúy Kiều trên bước đường luân lạc; và (3) Kim-Kiều tái ngộ. Truyện Kiều còn là một tác phẩm chứng minh cho định luật “tài mệnh tương đố”: Kiều là kẻ tài hoa nên phải mệnh bạc. Trong phần kết, may thay, ND cũng cho chúng ta tin tưởng rằng thiện tâm có thể cải hóa được số mệnh:

Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

Những phân đoạn chính trong Truyện Kiều như sau: Phần (1): (a) Xác định thuyết tài mệnh tương đố, (b) Kiều gặp Kim Trọng, (c) Kiều và Kim Trọng thề thốt gắn bó. Phần (2): (a) Gia biến nàng Kiều, (b) Mã Giám Sinh mua Kiều, (c) Kiều phó thác tâm sự cho em, (d) Mắc tay Tú Bà, (e) Ði trốn với Sở Khanh, (f) Kiều tiếp khách trong lầu xanh, (g) Kiều được Thúc Sinh chuộc ra, (h) Mắc tay Hoạn Thư, (i) Ði trốn, (j) Giác Duyên sợ liên lụy, gửi Kiều cho Bạc Bà, (k) Bạc Bà lừa dối, Kiều lại bị bán vào lầu xanh, (l) Ðược Từ Hải chuộc ra, (m) Kiều báo ân báo oán, (n) Mắc mưu Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị giết, (o) Kiều nhảy xuống sông Tiền Ðường, (p) Giác Duyên vớt Kiều. Phần (3): (a) Kim Trọng trở lại vườn Thúy, (b) Lấy Thúy Vân, (c) Làm quan ở Lâm Tri, (d) Tìm Kiều ở Hàng Châu, (e) Giác Duyên đưa đến gặp Kiều, (f) Kim-Kiều xem nhau như bạn, (g) Kiều đánh đàn kết liễu đời bạc mệnh, (h) Kết thúc: Thiện tâm sửa được số mệnh.

Chúng ta đã nghe người ngoại quốc ca tụng Truyện Kiều trên đây, và bây giờ chúng ta tìm hiểu xem các nhà phê bình văn chương người Việt nghĩ gì về tuyệt tác phẩm này của Nguyễn Du. Tôi xin đóng góp trong phần này này bằng cách tóm lược một số nhận định về giá trị Truyện Kiều của các nhà phê bình tên tuổi từ trước đến nay để chúng ta có một cái nhìn bao quát.

Phạm Quỳnh: Sau khi cho rằng Truyện Kiều của ND hay hơn cả văn chương của Khuất Nguyên bên Tàu và văn chương của Racine và Bossuet bên Tây, Phạm Quỳnh trong ngày giỗ ND năm 1924 tại Hà Nội đã thề trước anh linh thi hào họ Nguyễn rằng “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin dầu lòng dốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh táo, quốc vận ngày một vẻ vang, ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây” (tạp chí Nam Phong, tháng 8, 1924). Vì những lời này mà Phạm Quỳnh bị hai cụ nghè Ngô Ðức Kế và Huỳnh Thúc Kháng xỉ vả thậm tệ (tôi sẽ nói tiếp về vụ này ở một đoạn sau).

Nguyễn Tường Tam: Nhà văn thủ lãnh của Tự Lực Văn Ðoàn viết trong tạp chí Nam Phong năm 1924: “Cái làn sóng thơ Kiều hình như lai láng khắp cõi Nam. Trừ những câu ca dao ra, thật không có quyển truyện nào phổ thông trong đám dân gian bằng Truyện Kiều. Vì văn Kiều hay quá, nên những người nhà quê không có học thức cũng thích xem và thích ngâm nga. Nhưng nói đến cái hay của văn Kiều thì chưa biết thế nào mà kể được... Tôi xin nói quyết một lời rằng MONG ÐƯỢC MỘT QUYỂN TRUYỆN NÀO HAY HƠN TRUYỆN KIỀU LÀ MỘNG TƯỞNG. Cái trình độ thơ quốc ngữ đến như thế là tuyệt đích rồi.” Nhận định về câu thơ thuộc loại văn hữu dư ba là câu “Lơ thơ tơ liễu buông mành,” Nguyễn Tường Tam thấy ba chữ “lơ thơ tơ” nghe rất êm tai, hay về phần tưởng tượng ít mà hay về phần âm điệu êm ái nhiều hơn. Và câu “Nách tường bông liễu bay ngang trước mành” ông thấy rất hay về cảnh sắc. Ông cũng thấy trong Truyện Kiều nhiều chỗ cảnh và người có liên lạc, đúng như:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Như lúc Thúc Sinh trở về với Kiều, trông ra cảnh vật cũng hình như chia vui với mình:

Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng

Và khi Kiều và Kim gặp nhau lần đầu, lúc từ giã, cô Kiều còn trông theo, nhưng nào thấy gì đâu, chỉ thấy:

Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha

Hai câu đệm ấy vào thật là tả rõ được cái buồn, cái nhớ của cô Kiều mà hình như cảnh vật cũng âu sầu!

Vũ Ðình Long: Lấy âm nhạc làm ẩn dụ để lượng giá Truyện Kiều, phê bình gia Vũ Ðình Long viết trong Tạp chí Nam Phong năm 1924 rằng “Truyện Kiều thực là một cây đàn tuyệt quý không phím không dây. Tác giả lấy đầu lưỡi mà nẩy lên tiếng, mỗi đoạn văn là một cung, mỗi câu văn là một điệu, mỗi chữ là một tay nỉ non thánh thót, réo rắt tiêu tao, đêm khuya canh tĩnh mà nghe người tốt giọng ngâm Kiều thì còn đàn nào hay bằng nữa... Cụ ND không phải là nhà thi sĩ, cụ chính là THẦN THƠ vậy!” Theo Vũ Ðình Long, những câu Kiều nói với chàng Kim thật hay thật tình, như:

Thưa rằng đừng lấy làm chơi
Rẽ cho thưa hết một lời đã nao

Chữ “rẽ” dùng có thần tình không? Ta thấy hình như nàng Kiều lấy tay gạt chàng Kim ra vậy! Năm lần láy chữ “còn” trong hai câu thơ sau đây là một tuyệt chiêu, như thể một lời thề nguyền vĩnh cửu:

Còn non, còn nước, còn dài
Còn về còn nhớ đến người hôm nay

Tình nhân tương tư nhau là những cảnh não nùng mà ND tả rất khéo. Chàng Kim nỗi lòng canh cánh luôn nghĩ đến người đẹp đã gặp trong ngày hội Ðạp Thanh:

Sầu đong càng lắc càng đầy
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê!
Ðêm không ngủ được, vẩn vơ ngọn đèn tàn:
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao
Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng

Cậu đồ đã mang nặng gánh tương tư thì còn thiết gì đến sách, đến bút, đến đàn:

Phòng văn hơi giá như đồng
Trúc xe ngọn thỏ, tơ chùng phím loan

Ngồi nghe tiếng gió đập vào mành cũng nhớ đến ai - vì nhớ nhung mà trà mất ngon, mùi hương kém ngát:

Mành tương phân phất gió đàn
Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình

Lưu Trọng Lư: Ðể đáp lễ lời cụ nghè Ngô Ðức Kế cho rằng Truyện Kiều “chỉ là một thứ văn chương ngâm vịnh chơi bời, để lúc thanh nhàn mà đọc đôi câu cho tiêu khiển, chứ không phải là một thứ văn chương chính đại theo đường chính học, mà đem ra dạy đời được đâu” (báo Hữu Thanh, tháng 9 năm 1924) và nhất là lời kết tội gay gắt của cụ nghè Huỳnh Thúc Kháng rằng “Truyện Kiều là một thứ dâm thư, rõ không ích mà có hại... Hiện xã hội ta ngày nay mà diễn ra những tuồng thương phong, bại tục kia, cái giống độc con đĩ Kiều gieo vào trong cõi tư tưởng không phải là ít...” (báo Tiếng Dân, tháng 9 năm 1930). Lưu Trọng Lư viết trong tuần báo Phụ Nữ Thời Ðàm vào cuối năm 1933: “Ai muốn làm thánh hiền thì đi đọc Ngũ Kinh, Tứ Thư. Hãy để Truyện Kiều lại cho bọn chúng tôi là hạng người trong những phút mệt nhọc, buồn rầu, chán nản, cần phải ngâm nga những câu như: Dưới cầu nước chảy trong veo/ Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”...

Ðào Duy Anh: Ðể kết luận tập “Khảo Luận về Kim Vân Kiều” xuất bản năm 1943, học giả Ðào Duy Anh khẳng định “Nguyễn Du đã gieo trong lòng ta một mối tin chắc chắn, một mối hy vọng dồi dào với tiếng nói của ta.” Cũng theo ông, ở thời Lê mạt, ta đã thấy có những tác phẩm có giá trị như Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, Phan Trần Truyện, Hoa Tiên Ký... viết bằng quốc âm, nhưng lời văn điêu trác, hay dùng điển cố, cho nên chỉ được các hạng thượng lưu trí thức thưởng lãm, mà không phổ cập trong dân gian. Duy Truyện Kiều văn chương đủ tính nghiêm trang, đường hoàng, điêu luyện, đủ khiến cho kẻ học thức phải khâm phục và yêu mến, mà lại đủ cả tính giản dị, phổ thông để khiến cho bình dân hiểu được mà thưởng thức.

Trần Trọng Kim: Trong cuốn “Truyện Thúy Kiều” do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo xuất bản năm 1925, học giả Trần Trọng Kim viết: “ND khéo dùng lối hoạt họa, chọn cái hình dáng nào rõ thật nổi, rồi tìm một vài chữ thật đúng mà tả ra, hễ đọc qua là nhận ngay được chân tướng:

Kim Trọng: Phong tư tài mạo tuyệt vời/ Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.

Mã Giám Sinh: Quá niên trạc ngoại tứ tuần/ Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao.

Tú Bà: Thoắt trông nhờn nhợt màu da/ Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao.

Sở Khanh: Một chàng vừa trạc thanh xuân/ Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng.

Từ Hải: Râu hùm hàm én mày ngài/ Vai năm tấc rộng thân mười thước cao.”

Hoài Thanh: Theo bài viết “Quyền Sống Của Con Người Trong Truyện Kiều” của nhà phê bình Hoài Thanh năm 1949, nếu nói về mức độ say Truyện Kiều thì không ai bằng ông nghè Chu Mạnh Trinh (một con người hào hoa phong nhã kiểu Kim Trọng). Nhà thơ lãng mạn này không phải chỉ say văn chương Truyện Kiều mà lại còn say luôn cả nàng Kiều như say một giai nhân có thực, đến nỗi đã nói đến những chuyện si tình như thêu tên Kiều vào tay áo, mơ tưởng dựng một ngôi nhà vàng cho Kiều ở, mượn cỏ thơm gọi hồn Kiều về, và thấy như Kiều về thật! Chuyện lạ đời này cũng có thể hiểu được, vì theo Hoài Thanh, “ND có thể dạy cho ta biết ghét, biết yêu. Ghét những cái bất lương trong xã hội. Yêu những cảnh sống đáng yêu và nhân đó tránh cuộc sống tẻ nhạt, hiu hắt, cuộc sống của cỏ cây... Những cử chỉ uể oải, những câu nói thiếu lòng tin, những cái nhìn hời hợt, những tâm tư mệt nhọc hình như đương chờ đợi một cơn gió nào... Truyện Kiều ngay giờ đây vẫn còn khả năng cải tử hoàn sinh, vẫn có thể gieo chất nồng say vào cuộc sống...”

Nguyễn Lộc: Trong cuốn sách “Văn Học Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ 18” xuất bản năm 1997 tại Hà Nội, nhà biên khảo Nguyễn Lộc có những nhận xét tinh tế về cách sử dụng ca dao, tục ngữ trong Truyện Kiều, mà tôi xin tóm lược trong những đoạn dưới đây: Có thể nói trong Truyện Kiều có hàng mấy chục câu thơ ND trực tiếp rút ra từ ca dao. Rất có thể hai câu: “Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường” là rút ra từ câu ca dao: “Tiễn đưa một chén rượu nồng/ Vầng trăng xẻ nửa tơ lòng đứt đôi”.

Ca dao trong Truyện Kiều được ND sử dụng như một thứ chất liệu nghệ thuật, chứ không như những trích dẫn. Không có câu nào ND dùng lại nguyên vẹn, mà tất cả đều nhào nặn lại cho phù hợp với phong cách chung của nhà thơ trong tác phẩm. Truyện Kiều có những câu thơ không thấy dấu vết cụ thể của ca dao, mà ai cũng nhận ra ảnh hưởng của ca dao, như:

Xót thay huyên cỗi xuân già
Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi
Chốc đà mười mấy năm trời
Còn ra khi đã da mồi tóc sương

ND cũng dùng rất nhiều tục ngữ, như:

Ra tuồng mèo mả gà đồng
Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào

Hoặc:

Bề ngoài thơn thớt nói cười
Mà trong nham hiểm giết người không dao

Ngôn ngữ Truyện Kiều vừa súc tích chính xác, đồng thời lại vừa giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu. ND có thể bằng một vài câu thơ khắc họa lên sắc nét chân dung ngoại hình của một nhân vật, hay miêu tả một biến cố, một cảnh ngộ. Một học trò giỏi đi thi bị rớt có thể tự an ủi bằng cách lấy hai câu thơ súc tích, hợp tình hợp cảnh của Truyện Kiều: Có tài mà cậy chi tài/ Chữ tài liền với chữ tai một vần. Tả một chàng đẹp trai hào hoa phong nhã thì ta có thể mượn ngay hai câu ND tả Kim Trọng: Phong tư tài mạo tuyệt vời/ Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa.

Hai câu: Gìn vàng giữ ngọc cho hay/ Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời, thực tuyệt đẹp và chí tình để một chàng trai thiết tha căn dặn người yêu khi giã từ. Và khi giấc mơ ấp ủ từ lâu nay mới thành sự thực, ta vội kêu lên: Ðến bây giờ mới thấy đây/ Mà lòng đã chắc những ngày một hai.

Qua những nhận định kể trên của các văn nhân lỗi lạc ngoại quốc và Việt Nam về tuyệt tác phẩm Truyện Kiều thì thiên tài Nguyễn Du đã chứng minh một cách hùng hồn rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ tuyệt vời cho thi ca. Chúng ta còn chờ đợi gì nữa mà không đọc lại Truyện Kiều thật kỹ càng để yêu thêm tiếng Việt của chúng ta?

Ðàm Trung Pháp
(Nguồn: Thư viện Sáng Tạo)

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Đinh Cường triển lãm tranh về thi sĩ Bùi Giáng

15 bức chân dung thi sĩ 'điên' do Đinh Cường phác họa và một bức vẽ thiếu nữ có đề hai câu thơ Bùi Giáng được trưng bày tại phòng tranh Tự Do, TP HCM.

Với loạt tranh sơn dầu có tên chung "Bùi Giáng trong mỗi sát na",
nét vẽ của Đinh Cường mang đến cho người xem một "thi sĩ điên" vừa lạ lẫm, vừa rất đỗi thân quen.

Image
"Bùi Giáng trong mỗi sát na", tranh Đinh Cường.
Họa sĩ không chỉ khắc họa nét khắc khổ, phong trần của Bùi Giáng, mà sự hồn nhiên, ngây thơ của ông trước cuộc đời cũng được thể hiện tài tình. Ngoài các bức chân dung này, có một bức tranh màu nước do Đinh Cường vẽ năm 1972 được chính Bùi Giáng viết tặng vào hai câu thơ: "Lớp phiêu bồng mọc trăng ngàn / Thành xưa phố cũ muôn vàn phía sau".

Đinh Cường cũng giới thiệu nhiều tranh chân dung, phong cảnh... mang đậm hồn sắc quê hương, đúng với phong cách giản dị của ông.

Họa sĩ Đinh Cường sinh năm 1939. Ông là gương mặt quen thuộc trong nhóm Hội họa sĩ Việt Nam vào thập niên 60 - 70 ở miền Nam. Không sinh trưởng ở Huế, nhưng do dạy đại học cũng như làm việc ở cố đô nhiều năm, Đinh Cường được người dân nơi đây xem một họa sĩ tài năng của vùng đất này.

Năm 1989, ông sang Mỹ định cư. Trong hầu hết sáng tác của Đinh Cường là hình ảnh quê hương với dòng sông, tảng đá, người thiếu nữ, bạn hữu... Tất cả được phác họa đậm đà, sắc nét.

Về nước triển lãm lần này, Đinh Cường chia sẻ: "Tôi đã vẽ trong mọi hoàn cảnh, mọi nơi chốn. Có những lúc gần như tuyệt vọng, nhưng tôi vẫn tiếp tục vẽ, tiếp tục suy nghiệm để thấy mình được cứu rỗi".

Image
Từ trái sang: họa sĩ Đinh Cường, Phạm Văn Hạng, Hoàng Trọng Bân, Thân Trọng Minh. Ảnh: S.H.
Lần triển lãm này, Đinh Cường có ba người bạn đồng hành: họa sĩ Thân Trọng Minh, Hoàng Trọng Bân và điêu khắc gia Phạm Văn Hạng.

Thân Trọng Minh sinh năm 1943 tại Huế, vốn là bác sĩ nhưng lại mê viết văn, viết kịch với bút hiệu Lữ Kiều từ 1958. Từ những năm 80, Thân Trọng Minh chuyển sang cầm cọ. Trái với vẻ nho nhã, khoan thai trong sinh hoạt hàng ngày, màu sắc trong tranh ông luôn mạnh mẽ, đối chọi dữ dội, thể hiện chất suy nghiệm và triết lý cao. Ông góp vào triển lãm 20 bức sơn dầu.

"Tôi vẽ ở tuổi 40, như một cách tự điều chỉnh mình trước cuộc sống. Giờ đây tôi nghiệm ra hội họa đem lại bao nhiêu điều tốt lành, cho mình, cho người. Chỉ làm cho người xem vui mắt thôi, cũng là một hạnh phúc", Thân Trọng Minh nói.

Hoàng Trọng Bân sinh năm 1942 ở Đà Nẵng. Ông dự triển lãm với 7 bức sơn dầu mang phong cách ấn tượng - biểu hiện, nhẹ nhàng và lãng mạn, phảng phất trào lưu văn nghệ thời tiền chiến.

"Con đường nghệ thuật là con đường không có điểm dừng. Đôi khi ta ngỡ đã sắp đến đích nhưng đích đến lại càng xa hơn. Hy vọng và thất vọng, phấn khích và chán nản cứ đan xen vào nhau trên suốt hành trình đi tìm cái đẹp. Nhưng dù sao, nó cũng làm cho tâm hồn và cuộc sống thăng hoa hơn", Hoàng Trọng Bân bày tỏ.

Tham gia triển lãm với 5 bức tượng, điêu khắc gia Phạm Văn Hạng cho biết, với ông, "sáng tạo là cuộc chơi đầy ý thức trong sự học vô cùng". Sinh năm 1942 tại Đà Nẵng, nhà điêu khắc này từng nổi tiếng với tác phẩm Chứng tích, bức tranh có gắn thịt xương người, trưng bày ở Sài Gòn năm 1970, lên án tội ác chiến tranh. Các tác phẩm Phạm Văn Hạng trưng bày lần này mang đậm thông điệp về hòa bình của thế giới.

Triển lãm chủ đề "Bốn người bạn" khai mạc sáng 14/8 tại phòng tranh số 53 Hồ Tùng Mậu, quận 1, TP HCM, kéo dài đến ngày 28/8.

Thất Sơn

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Image


China's Got Talent show 2011
12-year-old Mongolian boy singing "Mother in the Dream"


Mother in the dream

Performed by ƯuDam
Thật cảm động, cầu chúc cho những ai còn cha mẹ sẽ được ở lâu rất lâu cùng cha mẹ, những ai mất cha, mất mẹ có những tình yêu thương ấm áp và sự che chở của cha mẹ, anh em, bạn bè. chúc cháu bé Uudam được sống cuộc sống vui vẻ hạnh phúc

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Dân số Việt Nam ở Hoa Kỳ
Theo kết quả kiểm tra dân số năm 2010, thì dân số Việt Nam ở Hoa Kỳ là 1.548.449 người.

Xem email bên dưới, hoặc xem chi tiết trong file pdf kèm theo: "Vietnamese Population in the United States.pdf",

hoặc download ở link sau: http://www.vasummit2011.org/docs/resear ... 2.2011.pdf

The Vietnamese Population in the United States:

1,548,449

Top 10 States with Largest Vietnamese Population:

1) California: 581,946
2) Texas: 210,913
3) Washington: 66,575
4) Florida: 58,470
5) Virginia: 53,529
6) Georgia: 45,263
7) Massachusetts: 42,915
8 ) Pennsylvania: 39,008
9) New York: 28,764
10) Louisiana: 28,352

Top 10 U.S. Metropolitan Areas with Largest Vietnamese Population:

1) Los Angeles - Long Beach - Santa Ana, CA: 271,234
2) San Jose - Sunnyvale - Santa Clara, CA: 125,774
3) Houston - Sugar Land - Baytown, TX: 103,525
4) Dallas - Fort Worth - Arlington, TX: 71,839
5) Washington - Arlington - Alexandria, DC-VA-MD: 58,767
6) San Francisco - Oakland - Fremont, CA: 55,636
7) Seattle - Tacoma - Bellevue, WA: 55,114
8 ) San Diego - Carlsbad - San Marcos, CA: 44,202
9) Atlanta - Sandy Springs - Marietta, GA: 36,554
10) Boston - Cambridge - Quincy, MA-NH: 32,353

Top 10 Cities with Largest Vietnamese Population:

1) San Jose city, California: 100,486
2) Garden Grove city, California: 47,331
3) Westminster city, California: 36,058
4) Houston city, Texas: 34,838
5) San Diego city, California: 33,149
6) Santa Ana city, California: 23,167
7) Los Angeles city, California: 19,969
8 ) Anaheim city, California: 14,706
9) Philadelphia city, Pennsylvania: 14,431
10) New York city, New York: 13,387

Source: U.S. Census Bureau, 2010 Census

Theo kết quả kiểm tra dân số năm 2010 vừa được công bố, dân số người Việt ở Hoa Kỳ đã tăng 38% (thêm 425,921 đầu người) trong thập niên 2000-2010.

Số người Việt hiện ở Hoa Kỳ hiện nay là 1,548,449, so với 1,122,528 năm 2000, 614,547 năm 1990, và 261,729 năm 1980. Vào thời điểm của cuộc kiểm tra dân số năm 1970 thì chưa có cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

Trong 10 năm từ 2000 đến 2010, dân số người Việt ở mọi tiểu bang đều gia tăng, ngoại trừ thủ đô Hoa Thịnh Đốn thì giảm sút 18% -- vì đời sống mắc mỏ, nhiều người Việt đã phải di dời sang tiểu bang Virginia và Maryland.

Vào thời điểm năm 2010 gần ¾ dân số Việt tập trung trong mười tiểu bang: California (37.58%), Texas (13.62%), Washington (4.30%), Florida (3.78%), Virginia (3.46%), Georgia (2.92%), Massachusetts (2.77%), Pennsylvania (2.52%), New York (1.86%), và Louisiana (1.83%).

Khu vực đông dân Việt Nam nhất vẫn là vùng Los Angeles – Long Beach – Santa Ana (271,234 người). Đông thứ hai là vùng San Jose – Sunnyvale – Santa Clara (125,774). Hạng 3 -5 gồm có: Houston – Sugar Land – Baytown (103,525), Dallas – Fort Worth – Arlington (71,839), và Washington DC – Arlington – Alexandira với (58,767).

Thành phố đông dân Việt nhất là San Jose (100,486). Kế đến là Garden Grove (47,331). Tiếp theo là Westminster (36,058), Houston (34, 838) và San Diego (33,149).


Tuy nhiên, nói về tỉ lệ người Việt so với tổng số dân thì thị trấn Midway, CA đứng đầu (41.4%); tiếp theo là Westminster, CA (40.2%); Garden Grove, CA (27.7%); Fountain Valley, CA (20.7%); Morrow City, GA (20.3%).

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Nhạc sĩ Từ Công Phụng

Mặc Lâm
Từ Công Phụng là một người nhạc sĩ tài hoa, nổi tiếng rất sớm trong vùng trời âm nhạc Việt Nam khi mới vừa 17 tuổi, với nhạc phẩm “Bây giờ tháng mấy”.

Tuy không phải là người dễ dãi trong sáng tác, nhưng số lượng tác phẩm của ông được người nghe chấp nhận và cảm thụ không ít. Hơn hai trăm tác phẩm trong đó nhiều ca khúc đã nằm sâu trong ngăn trí nhớ của người nghe như: Trên ngọn tình sầu, Mắt lệ cho người tình, Kiếp dã tràng, Giọt lệ cho ngàn sau, Tuổi xa người, Bài cho em, Vào mưa, Ơn em….

Từ Công Phụng có cái nhìn tinh tế trước những vần thơ hay. Ông nắm rất nhanh cái hồn mà bài thơ ẩn chứa phía sau những con chữ bình thường. Đối với ông, cảm nhận ngữ nghĩa của bài thơ chưa đủ mà phải rung với cái thần của nó, bật ra những từ ngữ mới trong âm nhạc, làm cho nét nhạc long lanh và sâu đắm hơn.

Nhạc sĩ Từ Công Phụng nói: "Khi tôi đọc bài thơ thì tôi cảm nhận giòng nhạc cho bài thơ đó, đó là khởi đầu cho một bài hát mà tôi có thể viết dựa theo thơ. Trong một bài thơ thường thường tôi làm thì tôi phải thêm vào hay bớt đi cho phù hợp với giòng nhạc. Ca khúc là một hình thức nhẹ nhất trong cõi nhạc vì cõi nhạc thì lúc nào cũng mênh mông mà giòng nhạc lớn thì phần đông khán giả họ nghe không được, họ không hiểu thấu, cho nên phải dùng tới ca khúc, có nghĩa là dùng nhạc và lời để diễn đạt tư tưởng của mình.


Khi tôi đọc bài thơ thì tôi cảm nhận giòng nhạc cho bài thơ đó, đó là khởi đầu cho một bài hát mà tôi có thể viết dựa theo thơ.

Thơ là một lời hát có sẵn, nếu trong lời thơ nó có nhạc, tuy nhiên nếu có người nào hiểu thấu về âm nhạc thì biết là nó có những tiết tấu của nó, nó có luật riêng của nó, và cái phần cân đối của nó, giống như mình viết văn vậy thôi, thì tôi phải bắt buộc ngắt đi hoặc tôi phải thêm vào. Ít có bài thơ nào mà tôi làm hết nguyên văn, mà tôi phải sửa đi chút ít, không ít thì nhiều, thế thôi.

Bài thơ nổi tiếng nhất của Du Tử Lê là bài “Trên ngọn tình sầu”, trong đó câu đầu tiên của nó là” Hạnh phúc tôi hạnh phúc tôi từ những ngày con nước lớn". Cái dòng nhạc nó đi từ trên xuống, nó đổ xuống, tự dưng ở cuối nốt nó lại bốc lên cao thì nó không được đẹp nên bắt buộc tôi phải bỏ chữ "lớn" đi và tôi thế bằng chữ “về”, thí dụ như là "Hạnh phúc tôi hạnh phúc tôi từ những ngày con nước về" thì nó hợp lý hơn là "từ những ngày con nước lớn", chẳng hạn như thế!

Về sau này có những giòng nhạc có những câu như là "ngoài trời mưa mau, ngoài trời mưa mau tay vuốt mặt khôn cùng", nó chỉ có một câu "ngoài trời mưa mau, tay vuốt mặt khôn cùng" nhưng tôi thêm vào "ngoài trời mưa mau, ngoài trời mưa mau, tay vuốt mặt khôn cùng", và “bầy sẻ cũ hom hem chiều mái xám, trời em cao chân nhỏ cũng không về…" đó là nguyên văn, thì tôi sửa như thế này: "Bầy sẻ cũ hom hem, chiều mái xám rêu xanh", mái đã xám nhưng mà còn rêu xanh nữa, nó phủ thêm lớp rêu nữa, có nghĩa là thời gian rất là lâu, tức là nó cũ lắm… Và "trời êm cao chân nhỏ cũng không về" thì tôi thêm vào “trên giòng sông tội lỗi” cho nó đối câu trên với lại câu dưới. Thì đó là những cái sửa mà tôi cần phải sửa cho nó đẹp bài nhạc."
Trên ngọn tình sầu

Hạnh phúc tôi hạnh phúc tôi
Từ những ngày con nước về
Ngoài trời mưa mau ngoài trời mưa mau
Tay vuốt mặt không cùng

Bầy sẻ cũ hom hem
Chiều mái xám rêu xanh
Trời êm cao chân nhỏ
Cũng không về trên dòng sông tội lỗi

Tôi nghe hắt hiu từ mắt em ngắt tạnh
Môi thâm khô từ thuở định hôn người
Ngày tháng hạ khi không mà trở rét
Giọt nắng vàng như sương mờ lạnh ngắt

Sao khi không người ngoảnh mặt kiêu sa
Chiều qua đó chân ai còn ríu rít âm thưa
Lời ai ru như mơ cho trời xuống thật gần
Người trông ngóng hương đưa mùi mái tóc đêm mưa

Nhẹ theo lá oan khiên lả tả mái hiên người
Tôi nghe hắt hiu từ mắt em ngắt tạnh
Con dế buồn tự tử giữa đêm sương

Bầy sẻ cũ cũng qua đời lặng lẽ
Em ở đó bờ sông còn ẩm cát
Con sóng tình vỗ mãi một âm quên
Tình yêu là nghị lực sống
"Ca khúc gây ảnh hưởng nhiều nhất là bài “Ơn em”, tức là “Giữ đời cho nhau”, cũng là thơ Du Tử Lê, nhờ chỗ tôi ca ngợi người tình và tôi biết trân quý người đàn bà cho nên bài đó gây cho tôi nhiều rắc rối lắm, nhất là các ông cứ phải phiền trách tôi hoài, bởi vì các bà nghe cái bài ấy thích quá cho nên các ông đâm ra không được vui lắm (cười) nhưng mà đó là lối mà các ông phải hiều, phải trân quý người đàn bà, bởi vì trong đời sống của các ông mà không có các bà thì các ông chẳng làm nên được sự nghiệp gì, phải không?
Họ như một cái bóng bên cạnh chăm sóc mình, giúp đỡ mình này kia. Hồi xưa là "chồng chúa vợ tôi" nhưng từ khi bài này ra thì "chồng" không còn là "chúa" nữa, và "vợ" không phải là "tôi" nữa. Đại khái mình làm một cuộc thay đổi dựa trên bài thơ của Du Tử Lê để làm một cuộc giải phóng phụ nữ."
Ơn em

Ơn em thơ dại từ trời, theo ta xuống biển, vớt đời ta trôi
Ơn em dáng mộng mưa vời, theo ta lên núi, về đồi yêu thương
Tạ ơn em... tạ ơn em...

Ơn em ngực ngải môi trầm, cho ta cỏ mặn, trăm lần lá ngoan
Ơn em hơi thoáng chỗ nằm, giấu quanh giấu quẩn nỗi buồn một nơi
Tạ ơn em... tạ ơn em...

Ơn em tình như mù lòa, như con sâu nhỏ bò qua giấc vùi
Ơn em hồn sớm ngậm ngùi, kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau
Tạ ơn em... tạ ơn em...
Bà Từ Công Phụng chia sẻ: "Trong đời sống vợ chồng thì có một cái giao ước với nhau, cái giao ước là yêu thương nhau lúc thời trẻ, rồi chung sống với nhau, rồi có những vui buồn trong đời sống, và để đi tới mảnh đời còn lại trong tuổi già bóng xế. Và đã giao ước với nhau như thế nào? Giao ước với nhau là sẽ yêu nhau trọn đời, và khi buồn vui cũng như khi đau ốm cũng cùng chia sẻ với nhau. Thì khi mà nghe những bài như "Ơn em" mà nhà tôi đã cho, không phải cho riêng tôi mà cho những người vợ đang sống trong một đời sống của người vợ thương yêu chồng và giúp đỡ chồng, không phải chỉ khi còn trẻ mà trong những lúc tuổi già.

Có những người đàn bà suốt một đời hy sinh cho chồng, cả trong thời gian chồng vắng mặt, yêu thương chồng không kể những nếp xấu hay nếp tốt, thì cái sự "Ơn Em" là một bù đắp cho những người đàn bà đó, không phải riêng tôi. Và tôi rất là vui khi mà nhà tôi thương yêu những người đàn bà đã sống với chồng với con, với những đưa cháu ngoại cháu nội kế tiếp, và ôm ấp tất cả trong tình thương cho người chồng. Thì mong rằng mấy anh chị em, cũng giống như quý bà, nghe bài "Ơn Em" mà cảm nhận rằng tình yêu của chồng mình đối với mình rất là nồng nàn."
Có những người đàn bà suốt một đời hy sinh cho chồng, yêu thương chồng không kể những nếp xấu hay nếp tốt, thì cái sự "Ơn Em" là một bù đắp cho những người đàn bà đó, không phải riêng tôi.

Bà Từ Công Phụng
Hiền nội của nhạc sĩ Từ Công Phụng vừa chia sẻ với chúng ta về niềm kiêu hãnh thầm kín của một phụ nữ được chồng trân quý như thế nào. Trong cái tình cảm sâu nặng ấy, phải chăng người nhạc sĩ đã hòa cùng với những vần thơ mênh mông tình nghĩa để mang đến cho người trăm năm của ông những tuyệt vời được gọi là hạnh phúc!

Mấy tháng gần đây, tin dữ đã ập xuống gia đình người nhạc sĩ tài hoa này. Khi hay tin mình bị ung thư, cả nhà như hoảng loạn! Tin dữ loan truyền trên hệ thống truyền thông và hàng ngàn người hâm mộ giòng nhạc Từ Công Phụng đã bằng nhiều cách chi sẻ nỗi buồn với gia đình nhạc sĩ, còn chính ông thì sao?

Trong lần gặp mới đây nhất tại thành phố Portland (Oregon), nhạc sĩ tâm sự với chúng tôi:

"Cuộc sống của mình trôi theo dòng đời giống như dòng sông từ nguồn chảy ra biển cả vậy. Nó có những khúc quanh trong đời sống mà mình gặp phải và bắt mình suy nghĩ về đời sống, thì những bài hát về sau này có một chủ đề duy nhất là viết về tình yêu; nhưng tình yêu ở đây nó trải rộng ở chỗ thân phận làm người cũng giống như định mệnh đưa đẩy mình tới hoàn cảnh nào đó mà mình phải cố gắng gìn giữ tình yêu trong suốt cuộc đời của mình."

Và đối với người yêu mến mình thì nhạc sĩ nghĩ sao khi cuối cùng chiếc lá cũng rơi về nguồn cội? Người nhạc sĩ có một nghị lực rất mạnh mẽ này chia sẻ :
"Trong thời gian vừa rồi, lúc tôi nằm trên giường bệnh thì tôi nhận rất nhiều điện thư cũng như thư từ điện thoại gọi tới chúc lành tôi, đó là điều làm tôi rất là cảm động. Không có cái gì bù đắp được tình thương yêu mà quý khán thính giả đã dành cho tôi trong thời gian qua!

Thế mới biết rằng chính vì tình thương yêu đó mà tôi có nghị lực chống lại bệnh tật và tôi trở lại với đời sống, với quý vị khán thính giả đã từng dành cho tôi niềm ưu ái như vậy. Nói tóm lại, chính vì tình thương đó mà tôi trở lại được với đời sống ngày hôm nay.

Tôi chân thành cảm ơn tất cả những người yêu mến nhạc của tôi cũng giống như bạn bè yêu mến tôi trong hơn nửa đời người qua với những thăng trầm, những đớn đau mà mọi người đã có dịp san sẻ với tôi, chia sẻ với tôi khiến cho tôi rất lấy làm khích lệ. Cuối cùng tôi xin gửi tới quý vị khán thính giả lời cảm ơn chân tình, đã dành cho tôi một cảm tình đặc biệt trong cuộc đời của tôi. Xin cảm ơn quý vị."

Và cuối cùng xin được trở lại với buổi ban đầu khi tiếng hát trong veo của người nhạc sĩ cất lên trong khuôn viên trường đại học nhạc phẩm đưa tên tuổi của ông vào với dòng nhạc thính phòng Việt Nam và cũng là niềm hưng phấn chính cho những cảm hứng sau này: nhạc phẩm "Bây giờ tháng mấy" do Bằng Kiều & Trần Thu Hà trình bày…
Bây Giờ Tháng Mấy

Tiếng hát : Bằng Kiều & Trần Thu Hà

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
lênh đênh ngàn mây trôi êm đềm
Chiều nay nếu em đừng hờn dỗi,
trách nhau một lời thôi
Tâm hồn mình đâu lẻ đôi .

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
Anh đi tìm màu hoa em cài
Chiều nay nhớ em rồi và nhớ
áo em đẹp màu thơ,
môi tràn đầy ước mơ

Mai đây anh đưa em đi về,
mưa giăng chiều nắng tàn
cho buốt lạnh chúng mình.
Em ơi, thôi đừng hờn anh nữa,
nhìn nhau buồn vời vợi,
để mùa đông buốt giá bờ vai mềm .

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?
Anh đi tìm mùa xuân trên đời
Mùa đông chết đi rồi mùa xuân
mắt em đẹp trời sao
cho mình thương nhớ nhau

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Tìm thấy bức tranh 300 triệu USD dưới... ghế sa lông Gia đình một sĩ quan quân đội Mỹ tìm thấy bức tranh chưa hoàn thiện dưới gầm bộ ghế sa lông phòng khách. Các chuyên gia cho rằng, đây là tác phẩm của đại danh họa Michelangelo và có thể trị giá tới 300 triệu USD.

Bức tranh được tìm thấy sau 27 năm thất lạc ngay trong... phòng khách căn hộ của Trung tá không quân Mỹ Martin Kober ở Buffalo, New York (Mỹ).

Ban đầu, bức tranh được treo trên tường nhưng có lẽ vì bọn trẻ khi đó nghịch ngợm, ném quả bóng tennis làm rơi nó xuống gầm ghế mà không ai hay biết.

Sau khi tìm thấy, ông Kober đặt tên cho bức tranh vẽ Chúa Jesus và Đức mẹ Mary là "Gia đình Mike", vì cho rằng đó là một bức họa do một họa sĩ thời Phục hưng vẽ.
Image
Bức họa được cho là của Michelangelo

Do có nhiều nghi vấn về bức tranh, nên năm 2003, ông Kober đã đem bức tranh đến nhờ sự giúp đỡ của Antonio Forcellino - một chuyên viên phục chế các tác phẩm nghệ thuật của Ý.

Ông Forcellino cho rằng đây chính là nguyên bản của bức tranh Pieta - một trong những bức tranh nổi tiếng thể hiện thân thể Jesus trong lòng đức mẹ Mary sau khi bị đóng đinh lên thập tự giá, được đặt tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô ở Vatican.

Qua kiểm tra bằng tia hồng ngoại và tia X cũng cho thấy một phần vẽ bên đầu gối phải của mẹ Mary chưa được hoàn thành. Đây cũng là bằng chứng cho thấy bức tranh không phải là bản sao.

Theo những thông tin của ông Forcellino, một bức thư trong thư viện Vatican chỉ ra rằng bức tranh này là quà tặng của Michelangelo dành cho bạn gái Vittoria Colonna vào khoảng năm 1545.

Tuy nhiên, bức tranh sau đó thuộc về một nữ nam tước người Đức và nữ nam tước này đã để lại bức tranh cho người chị dâu của ông nội ông Kober, vì vậy, bức tranh đã được đưa đến Mỹ vào năm 1883.

Hiện bức tranh này đã được cất giữ tại căn hầm của một ngân hàng và sẽ sớm được đưa đi giám định.

Theo DanViet

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Ly cà phê đắng và hương vị cuộc đời
Câu nói của bạn tôi: "Trong ly cà phê có hương vị của cuộc sống" tình cờ đã dẫn dắt tôi đến với thú văn hoá ẩm thực cà phê. Từ một đệ tử của trà tôi dần dà kiêm cả đệ tử của cà phê.

Nhưng thú vị hơn thế, tôi đã được biết, và bây giờ muốn được sẻ chia cùng bạn bè, từ một vài hiểu biết về sự tinh tế của cách thức lựa chọn, xử lý, pha chế để có được chất cà phê thuần khiết đến đôi chút chất triết lý cuộc đời thú vị ẩn chứa trong một tách cà phê thơm ngon.


Chọn hạt cà phê - Chắt lọc niềm vui


Có hai loại cà phê phổ thông trên thị trường, đó là Robusta và Arabica.

Robusta được trồng ở vùng đất thấp so với mặt biển, nơi có nhiệt độ ấm áp, là những hạt cà phê có mùi đậm, hàm lượng caffeine cao nhưng không nhiều hương thơm, gọi là cà phê vị. Arabica thì mọc tốt ở nơi có địa thế cao, đất ẩm nhưng không đọng nước. Arabica vị nhạt hơn nhưng thơm hơn, được gọi là cà phê mùi.

Nhưng dù là Arabica hay Rosbuta, không phải bất kỳ hạt cà phê nào cũng đem lại một tách cà phê thơm ngon. Muốn có được loại cà phê hảo hạng thì điều đầu tiên cần chú ý là việc lựa chọn hạt cà phê. Chỉ những hạt cà phê được kỳ công lựa chọn mới mang lại cho bạn tách cà phê như ý.
Image Cũng như thế, trong quá trình sống ta luôn gặp những điều thành công và thất bại. Thất bại cho ta bài học, thành công đem lại niềm vui. Nhưng mỗi ngày qua luôn có rất nhiều sự kiện mà không phải sự kiện nào cũng cần thiết phải ghi nhớ lấy.

Muốn sống một cuộc sống tích cực và hạnh phúc, ta chỉ cần lưu lại trong ký ức mình những bài học lớn nhất và những niềm vui sâu sắc nhất. Bỏ qua những kỷ niệm đau buồn trong đời, những lỗi lầm không thể sửa đổi, dù của mình hay của ai khác.

Và đừng bao giờ xây dựng một ngày của mình bằng niềm vui có được khi khiến người khác phải đau khổ.

Đúng độ chất cà phê - chính xác buồn, vui cuộc đời

Rang hạt cà phê ở nhiệt độ thích hợp và xay chúng đúng cách cũng là bí quyết trong quá trình chế biến cà phê. Quá trình này có thể tăng hoặc thêm hương vị cho loại cà phê hảo hạng hoặc vô tình phá hủy những hạt cà phê ngon mà chúng ta đã tốn nhiều công sức chọn lựa.

Rang thiếu lửa hay xay cà phê quá thô sẽ khiến cà phê có mùi vị nhạt nhẽo, buồn tẻ, còn nếu rang quá lâu hay xay quá nhuyễn sẽ khiến bột cà phê trở nên khét đắng.

Như khi nhìn nhận một vấn đề xảy ra trong đời, dù khổ đau hay hạnh phúc, bạn hãy nhìn thẳng vào nó, đau khổ đúng như cần phải đau khổ như thế, và hạnh phúc đúng như bạn được hạnh phúc như thế.

Khi bạn biết chính xác điều gì đang xảy ra, không thậm xưng những đau đớn, không lơ đãng mà quên tận hưởng những niềm vui nhỏ…, bạn thực sự đang sống cuộc sống đẹp đẽ của mình, đi chính xác con đường của mình, nếm trải tất cả những niềm vui, nỗi buồn mà nó mang đến cho bạn, và không cần phải hối tiếc điều gì.

Giọt cà phê thanh khiết - con tim nhân ái với người

Dùng ly và phin cà phê sạch cộng với thứ nước thanh khiết nhất để pha cà phê. Chỉ có như vậy, cà phê bạn pha mới có hương vị tinh khiết, thơm ngon.

Cũng như việc mỗi ngày bạn đã trăn trở với bao suy tư, gặp gỡ bao nhiêu con người. Một ngày chỉ thật sự đẹp khi bạn đã sống với những ý nghĩ hồn nhiên, nhân hậu và đã dành cho những người bạn gặp thứ tình cảm chân thành.

Cẩn trọng trong từng lời sẽ nói, giống như lau thật khô phin pha cà phê trước khi pha, bạn sẽ mang lại cho người đối diện cảm giác được trân trọng hay ít ra không vô ý làm tổn thương ai.

Và khi thật sự trong lòng bạn là những tình cảm tốt lành, nụ cười của bạn sẽ tỏa sáng và bạn có thể mang lại điều tốt đẹp nhất cho ai đó may mắn được ở bên cạnh bạn, cũng như mang lại nỗi an lành cho chính mình.

Nóng hổi ly cà phê - nồng nhiệt với cuộc đời

Hãy thưởng thức ly cà phê ngay khi mới pha xong. Và bạn hãy nói lời cảm ơn ngay khi có ai đó làm bạn vui, tức giận ngay khi người làm bạn buồn còn đứng trước mặt bạn, nhận lỗi ngay khi làm ai đó khóc, an ủi ngay khi bạn bè gặp chuyện buồn…

Bạn cần thiết phải sống hết mình với thời gian hiện tại, bởi vì thời gian đã qua đi không bao giờ quay trở lại nữa. Điều này thật cũ kỹ nhưng sẽ không bao giờ hết ý nghĩa. Bạn hãy trân trọng ngay chính giây phút này đây, dùng thời gian hiện tại này để làm điều gì đó ý nghĩa, thay vì để tất cả trôi qua rồi dùng nốt thời gian còn lại hối tiếc về mọi điều đã không làm. Đừng lãng phí thời gian hiện tại để đắn đo quá mức hay để dằn vặt mãi về những điều đã xảy ra.

Như cần phải thưởng thức ngay ly cà phê mới pha xong để cảm nhận hương thơm và vị quyến rũ của nó, thay vì để nó trở nên chua và đắng ngắt.

Không tiếc bã cà phê - đứng thẳng lên sau nỗi buồn

Lời cuối cùng tôi muốn sẻ chia là đừng bao giờ dùng lại bã cà phê đã pha. Khi muốn có một tách cà phê mới, bạn hãy bắt đầu bằng những thìa bột cà phê mới.

Trong đời cũng thế, chiêm nghiệm về những thất bại luôn mang cho ta bài học tốt. Nhưng khi bắt đầu đứng lên, dù để làm lại điều mà bạn đã thất bại hay để bắt đầu làm điều gì đó khác, bạn hãy chuẩn bị cho mình lòng nhiệt tình và tự tin mới mẻ. Đừng lặp lại những sai lầm cũ, và cũng đừng đắng cay mãi về những đau khổ cũ, tất cả đã qua rồi.

Chia sẻ một vài hiểu biết nhỏ nhoi về nghệ thuật pha chế cà phê và triết lý cuộc đời óng ánh trong ly cà phê, người viết hy vọng mỗi ly cà phê đắng sẽ ngọt ngào thơm tho thêm và mỗi cuộc đời dù có nặng nhọc, phiền muộn... cũng sẽ nhẹ nhàng và tươi đẹp hơn.


Hoài Thu

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Image

NHẠC SĨ DƯƠNG THIỆU TƯỚC

Thưa các anh chị,
Hình như có lần ai đó noi rằng ông Duong Thieu Tuoc viet bài Ngọc Lan cho bà Minh Trang tức Ngọc Trâm,
vì chữ Trâm khó hát nen thay bằng chữ Lan, bài này lai nói là viet cho bà Vi Kim Ngọc


- Đoàn Dự ghi chép
Thưa quý bạn, đầu tháng 06/2010, bạn bè ở nước ngoài có mail cho Đoàn Dự một bài của ông Nam Minh Bách ở Virginia, cháu gọi Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước bằng bác họ. Thấy bài này có nhiều điểm đặc biệt có lẽ nhiều người chưa biết về vị Nhạc sĩ tài hoa, sáng tác những bản nhạc rất hay, bản nào cũng trở thành bất hủ nhưng rất kín tiếng đó, Đoàn Dự bèn nghiên cứu thêm rồi mạn phép ông Nam Minh Bách thuật lại để quý bạn rõ. Sau đây là lời kể của tác giả Nam Minh Bách với sự đóng góp bổ sung của Đoàn Dự. Xin mời quý bạn thưởng thức.

Dương Thiệu Tước & mối tình thời đi học

Năm 2000, tôi về thăm Hà Nội, bạn bè cho đọc một bài báo trên tờ Công An, bài này đã từng làm dư luận dân chúng Hà Nội lúc đó xôn xao. Nhân dịp năm thứ 5 kỷ niệm ngày vĩnh biệt Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, ông được ca ngợi là một Nhạc sĩ đã có công hòa hợp cổ nhạc và tân nhạc, đặt nền móng cho tân nhạc Việt Nam phát triển mạnh mẽ cho tới ngày nay. Và trong mấy dòng tiểu sử, bài báo đó có nhắc tới mối tình đầu của chàng trai "con cụ Thương tá Hưng Yên Dương Tự Nhu" và nàng con gái con cụ Tổng đốc Hưng Yên Vi Văn Định. Chàng và nàng yêu nhau thắm thiết và hai gia đình đã trao đổi trầu cau, nhưng tình duyên của họ dang dở vì có một chàng trai bằng cấp đầy mình nhào vô, loại được anh chàng Nhạc sĩ tài hoa nhưng lúc đó chưa nổi tiếng này ra khỏi vòng chiến.

Theo báo Công An, con người có diễm phúc chiếm được nàng là chàng bác sĩ tây học từ Paris trở về, họ Hồ Đắc, con của một vị đại thần lớn nhất triều đình Huế.
Sau khi tờ báo tung ra, gia đình Hồ Đắc phản ứng ngay lập tức. Bà Vi Kim Phú - tức Hồ Đắc Di phu nhân, con gái của vị cựu Tổng đốc Hưng Yên và Thái Bình Vi Văn Định ngày trước - nói rằng nhà báo nói láo ăn tiền, bà không hề có chuyện nhận trầu cau, sêu tết hay đính hôn với Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước bao giờ cả.
Báo Công An im lặng không trả lời, vì họ Hồ Đắc cả thời Pháp thuộc lẫn thời này vẫn rất mạnh, chính tờ báo này đã từng có bài đề cao Quận công Hồ Đắc Trung - Thượng thư bộ Lễ, "quốc trượng" (bố vợ) vua Khải Định, thân sinh của Bác sĩ Hồ Đắc Di - là nhà chí sĩ ái quốc. Bác sĩ Hồ Đắc Di trước đây là người sáng lập đồng thời cũng là Khoa trưởng Đại Y khoa Hà Nội. Còn "lệnh ái" Hồ Thể Lan - con gái của Bác sĩ Hồ Đắc Di - năm 2000 đang là Vụ trưởng Vụ Báo chí và cũng là vợ của Vũ Khoan, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng chính phủ CS Hà Nội.

Nhưng tờ báo không xin lỗi, cũng không đính chính, bởi vì họ chỉ lầm có... một nửa. Tổng đốc Vi Văn Định có hai người con gái. Người em là Vi Kim Phú, lấy Bác sĩ Hồ Đắc Di năm 1935 khi mới 17 tuổi. Người chị là Vi Kim Ngọc, lấy Giáo sư Nguyễn Văn Huyên, Tiến sĩ Văn chương Đại học Sorbonne, từ Pháp về, cưới vào năm 1936, khi nàng 20 tuổi. Báo Công An lầm ở chỗ người trả lại trầu cau cho Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là bà chị, vợ ông Nguyễn Văn Huyên, chứ không phải bà em, vợ Bác sĩ Hồ Đắc Di. Cả hai chị em đều đẹp lộng lẫy như nhau và đều nổi tiếng Bắc Hà về nhan sắc cũng như về gia thế. Đến năm 1944, một người cháu nội của ông Vi Văn Định tên Vi Nguyệt Hồ, 15 tuổi, được gả cho Bác sĩ Tôn Thất Tùng (sau này làm Thứ trưởng Bộ Y tế Việt Minh). Năm 1946, khi bà Vi Nguyệt Hồ sinh con trai đầu lòng ở vùng thượng du Bắc Việt, ông Hồ đến thăm và đặt tên là Tôn Thất Bách (sau này cũng là bác sĩ, mới mất tại Hà Nội cách đây hai năm).

Dân chúng Hà Nội không ai lạ gì ông Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Giáo dục 30 năm của chính phủ Phạm Văn Đồng. Hồi thập niên 30, họ gọi ông Nguyễn Văn Huyên và người bạn của ông tên Nguyễn Mạnh Tường là "Nghè Huyên" và "Nghè Tường", vì hai ông đều đậu tiến sĩ bên Pháp.

Báo Công An nói lộn về người nhận trầu cau của Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Bà Vi Kim Phú (bà em), phu nhân của cố Bác sĩ Hồ Đắc Di phản ứng. Thiên hạ bàn tán quá vì họ biết người trả trầu cau là bà Vi Kim Ngọc (bà chị), vợ của ông "Nghè Huyên" họ Nguyễn. Đến lượt con cháu họ Nguyễn ra tay. Chỉ con cháu thôi, bởi vì năm 2000 những người trong cuộc đã thành thiên cổ. Bà Nguyễn Kim Hạnh, con gái của ông bà Nguyễn Văn Huyên-Vi Kim Ngọc, xuất bản cuốn sách "Hồi ức về Nguyễn văn Huyên", trong đó có trích những đoạn nhật ký của thân mẫu, tức bà Kim Ngọc:
"Cha mẹ tôi làm đám cưới với nhau vào ngày 12/4/1936. Mẹ tôi ghi lại những ngày đầu quen biết giữa cha và mẹ trong nhật ký như sau:

"Em đi chơi cùng cha mẹ vào Huế, khắp Trung Kỳ rồi Lục tỉnh Cao Mên, Thái Lan... Nhiều khách quốc tế trầm trồ khen ngợi em là giai nhân".

"Đôi ta gặp nhau ở Huế, trong lễ hội Nam Giao. Sau đó em tiếc không từ biệt anh. Khi lên xe, cha đưa thư của anh do anh Toại trao giùm (tức bác Phan Kế Toại, chồng cô Mão là chị của cha tôi - K.Hạnh) cho em xem. Đó là thư cầu hôn giữa anh và em ".

"Sau đó bà ngoại mấy lần nhận điện từ Hà Nội gửi vào cầu hôn.Khi có thư trực tiếp của anh viết cho ông ngoại gửi lời thăm em "người đáng yêu nhất" thì em mới nhận lời cho nhà trai xuống Thái Bình cầu hôn".

Tác giả Kim Hạnh ghi tiếp:

"Mẹ tôi kể là năm mẹ tôi 16 tuổi, ông ngoại tôi nhận lời gả mẹ tôi cho người họ Dương Thiệu. Năm 19 tuổi, khi biết điều này, mẹ tôi nhất định đòi ông tôi phải trả lại sêu tết ba năm. Vì mẹ tôi không chấp nhận cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Mẹ tôi ghét cay ghét đắng chuyện năm thê bảy thiếp trong chế độ phong kiến".

"Năm 1977, sau khi cha tôi mất được 2 năm, mẹ tôi viết: "Ước mơ của em khi đôi tám xuân xanh là quyết chọn người tài đức mới trao thân. Nếu không gặp được nam nhi hào hùng đó thì ở một mình suốt đời. Thế mà em đã mãn nguyện".

Và trang sau, nhật ký nhắc tới Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước:

"Năm 1976, được tin của một người bạn cũ ở Đà Lạt nói rằng có gặp ông Dương Thiệu Tước và vợ của ông là bà Minh Trang lên chơi Đà Lạt".

Đoạn này rất sơ lược, hình như vô tình nhớ tới thì ghi nhật ký vậy thôi, không có gì quan trọng.

Trong cuốn "Hồi ức về Nguyễn văn Huyên", nói về Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, tác giả Kim Hạnh ghi: "Bác Tước là cháu nội cụ Nghè Dương Khuê, chúng tôi thường gọi là bác Cả Tước, không thể ví với người đã đậu Tiến sĩ Văn chương Đại học Sorbonne, Bộ trưởng Giáo Dục 30 năm. Năm 1954, bác di cư vào trong Nam, làm chủ sự Ban Âm nhạc Đài Phát thanh Sài Gòn, cả đời sống thanh bạch và rất lương thiện".

Rất rõ, như vậy người quen biết Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là "bà chị" Vi Kim Ngọc, vợ ông Nguyễn Văn Huyên, chứ không phải "bà em" Vi Kim Phú, vợ của Bác sĩ Hồ Đắc Di. Bây giờ chúng ta thử xem xét về vị Nhạc sĩ tác giả Đêm Tàn Bến Ngự, Ơn Nghĩa Sinh Thành..., nhất là bản Ngọc Lan được ông sáng tác với nhiều kỷ niệm. Ông thường giải thích với các ca sĩ là hai chữ Ngọc Lan viết hoa, nhưng ít người hiểu, đa số đều nghĩ rằng ông ca ngợi loài hoa ngọc lan.
Tiểu sử Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (1915-1995) quê ở làng Vân Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay là một quận của Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình Nho học truyền thống, ông là cháu nội cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, nguyên Đốc học tỉnh Nam Định, tác giả bài hát nói "Hồng Hồng Tuyết Tuyết" danh tiếng, đến nay các nghệ sĩ hát ả đào vẫn còn sử dụng. Và ông cũng là bác ruột của Nhạc sĩ Dương Thụ hiện nay.

Thuở nhỏ ông học tại Hà Nội. Trong thập niên 1930, ông gia nhập nhóm nghệ sĩ tài tử Myosotis (Hoa Lưu ly) gồm Thẩm Oánh, Lê Yên, Vũ Khánh... Dương Thiệu Tước cũng là người có sáng kiến soạn "nhạc Tây theo điệu ta". Những nhạc phẩm đầu tay của ông thường viết bằng tiếng Pháp. Mặc dầu theo học nhạc Tây, nhưng nhạc của ông vẫn thắm đượm tinh thần dân tộc. Trong một tác phẩm viết tay, ông ngỏ ý: "Theo tôi, tân nhạc Việt Nam phải thể hiện rõ cá tính Việt Nam. Để đạt được điều này, người sáng tác phải hiểu rõ nhạc Việt qua cách học nhạc cụ cổ truyền cũng như hát được các điệu hát cổ truyền".

Ông di cư vào Nam năm 1954. Tại Sài Gòn, ông làm chủ sự Phòng Văn nghệ Đài Phát thanh Sài Gòn, đồng thời được mời làm giáo sư dạy Tây Ban Cầm tại trường Quốc Gia Âm Nhạc. Sau năm 1975, nhạc của ông bị cấm và ông cũng không được dạy tại trường Quốc Gia Âm Nhạc nữa.

Vợ chính thất cũng là vợ đầu của ông là bà Lương Thị Thuần, hiện con cái đang sống tại Đức và Hoa Kỳ. Vợ sau của ông là bà Minh Trang, một ca sĩ nổi tiếng thập niên 1950, có con riêng là ca sĩ Quỳnh Giao. Đầu thập niên 1980, ông về chung sống với bà Nguyễn Thị Nga tại quận Bình Thạnh, có một con với bà này và được bà chăm sóc chu đáo.

Ông mất ngày 01 tháng 08 năm 1995 tại Sài Gòn. Gần đây, sau thời kỳ đổi mới, nhạc của ông đã được lưu hành lại trên khắp nước Việt Nam và ông rất được ca ngợi.

Các sáng tác nổi tiếng của ông gồm: Áng Mây Chiều, Bến Xuân Xanh, Bóng Chiều Xưa, Cánh Bằng Lướt Gió, Chiều (phổ thơ Hồ Dzếnh), Đêm Tàn Bến Ngự, Kiếp Hoa, Ngọc Lan, Ôi Quê Xưa, Ơn Nghĩa Sinh Thành, Thuyền Mơ, Tiếng Xưa, Ước Hẹn Chiều Thu.

Mối tình đầu

Năm đó là đầu thập niên 1930, ở tỉnh lỵ Hưng Yên, chàng 18 tuổi và nàng 17 tuổi. Chàng là con cụ Thương tá Dương Tự Nhu, sau này lên Bố chánh (coi về hành chánh; còn tổng đốc thì trông coi toàn bộ, cả dân sinh, an ninh lẫn các quan lại trong tỉnh; Bố chánh tương đương với phó tỉnh trưởng hành chánh - ĐD), và nàng là con cụ Tổng đốc Vi Văn Định. Tư dinh hai nhà gần nhau, phía trước là một chiếc hồ rộng lớn, ngăn đôi bởi một con đường nhỏ, hai bên hồ thông nhau bằng một con lạch, có một chiếc cầu gỗ vồng cao lên bắc ngang qua, sơn màu đỏ. Quang cảnh rất tĩnh mịch, rất nên thơ, nhất là khi có ánh trăng êm dịu tỏa xuống.

Chiếc cầu đỏ trên hồ là nơi trẻ con vui chơi, câu cá khi bãi trường. Chàng học ở Hà Nội. Nàng học tại tỉnh nhà. Hai dinh thự gần nhau, mỗi lần chàng về, họ gặp nhau. Nàng đang tuổi dậy thì, cực kỳ xinh đẹp, còn chàng thì khôi ngô tuấn tú, đang học trung học, cháu nội của cụ nghè Dương Khuê, sử dụng được 7 loại nhạc cụ kể cả nhạc "Tây" lẫn nhạc "ta", trong đó thông thạo nhất là Tây Ban Cầm (Guitare) và Hạ Uy Di Cầm (Guitare Hawaienne), lại hát rất hay, có tiếng ở Hà Nội.

Việc gì xảy ra là phải xảy ra, chàng và nàng yêu nhau thắm thiết với sự trong trắng và bồng bột của mối tình đầu. Họ Vi biết rõ cậu cả cháu nội cụ Dương Khuê này, gia đình quan Bố chánh Dương Tự Nhu bèn đem trầu cau sang đính ước.

Nhưng mối tình trong sáng đó có những đám mây đen kéo tới. Nhà gái dần dần biết Dương học Tú tài chỉ là phụ mà việc Dương ưa thích nhất là học âm nhạc tại trường Ecole Francaise de Musique en Extrême Orient tại Hà Nội, cùng với Nguyễn Xuân Khoát. Khoát chuyên về Dương cầm, còn Dương chuyên về Tây Ban Cầm. Đồng thời, bà mẹ vợ tương lai với trực giác nhạy cảm của phụ nữ cũng nhận ra nguy cơ cho con gái: anh chàng này đẹp trai quá, đàn hát lại hay, sẽ là một tai họa cho con mình.

Trong khi đó, trường Ecole Francaise de Musique en Extrême Orient sau ba năm hoạt động phải đóng cửa vì kinh tế khủng hoảng, Dương lâm vào cảnh dang dở. Phía bên nhà gái có những bà đã bắt đầu chê bai: "Cậu Tước mặt mày sáng rỡ, đẹp trai như Phan An Tống Ngọc mà chỉ có bằng Diplôme, thi rớt Tú tài".

Rồi họ Vi chuyển từ Hưng Yên sang làm Tổng đốc Thái Bình. Xa mặt cách lòng, đúng lúc ấy thì "nghè Huyên" có sự gặp gỡ. Và rồi, ngày 14-02-1936 nàng lên xe hoa về nhà chồng. Lúc ấy nàng 20 tuổi còn chàng 21 tuổi.

Chàng buồn, bèn đem tâm hồn mình viết thành bản nhạc "Ngọc Lan" bất hủ (xin nhắc lại: nàng tên Vi Kim Ngọc): Ngọc Lan, dòng suối tơ vương, mắt thu hồ dịu ánh vàng. Ngọc Lan, nhành liễu nghiêng nghiêng, tà mấy cánh phong, nắng thơm ngoài song... Nhưng mãi tới năm 1953 bản nhạc này mới được xuất bản và phổ biến rộng rãi với giọng ca Thái Thanh tại Hà Nội.

Nói tóm lại, chàng sinh năm 1915, yêu nhau năm 1934, tan vỡ năm 1935, nhìn người yêu đi lấy chồng năm 1936, lúc ấy chàng 21 tuổi. Còn nàng, sinh năm 1916 (kém chàng 1 tuổi), yêu nhau năm 17 tuổi và lấy chồng năm 20 tuổi.

Suy cho cùng, hôn nhân có lẽ là do duyên số nhưng một người tính tình nghệ sĩ, không coi trọng bằng cấp như Dương Thiệu Tước, giả sử nếu lọt vào làm rể gia đình ông Vi Văn Định thì cũng khó sống. Ông là người Nùng, con trai của quan Tri châu Vi Văn Lý. Đối với người dân tộc thiểu số, quan Tri châu cũng giống như "ông vua" ở vùng thượng du. Họ kính trọng ngài và tuân lời ngài răm rắp chứ không cần biết Toàn quyền Pháp hay triều đình Huế là ai cả. Ngoài ra, chức vị này có tính cha truyền con nối. Khi Vi Văn Lý qua đời, Vi Văn Định nối nghiệp và được Pháp chuẩn y cho giữ chức Tri châu. Nhưng Vi là "ông trời con", dân chúng người Tày, người Nùng cả vùng Cao Bằng, Lạng Sơn vừa sợ vừa coi ngài như ông thần. Ngài lập rất nhiều chiến công cho... thực dân Pháp: dẹp giặc nổi loạn, đánh giết nghĩa quân yêu nước chống Pháp... Công lao và uy tín mỗi ngày một lớn, người Pháp sợ nếu cứ để như thế, e rằng ngài sẽ xưng hùng xưng bá, chiếm riêng cho mình vùng thượng du hiểm trở để lập triều đình theo kiểu Nùng Trí Cao ngày trước thì rất nguy hiểm. Bởi vậy họ "điệu hổ ly sơn", thăng chức cho ngài, đưa ngài về làm tổng đốc các tỉnh đồng bằng để ngăn ngừa hậu hoạ. Bây giờ chúng ta thử xem sau khi về dưới xuôi, ngài vẫn "hét ra lửa" như thế nào và lý do tại sao sau khi Việt Minh cướp chính quyền năm 1945, các ông Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Khái Hưng, Tạ Thu Thâu v.v... đều bị giết chết, còn ngài, một tên đại Việt gian, đại tàn ác như thế mà vẫn tồn tại mãi đến năm 1975, khi ngài 96 tuổi (ngài sinh năm 1879, mất cùng năm với ông con rể lớn Nguyễn Văn Huyên).
Cụ Đặng Hữu Thụ, nguyên Chánh thẩm Tòa Thượng thẩm Sài Gòn trước năm 1975, hiện định cư tại Pháp, quê ở làng Hành Thiện, Nam Định, kể:

"Vi Văn Định là người Nùng, làm Tổng đốc Hưng Yên, sau đó làm Tổng đốc Thái Bình, nổi tiếng hống hách nên dân chúng rất sợ. Vi bắt quan lại dưới quyền phải cởi giày để ở ngoài văn phòng mỗi khi vào ra mắt Vi, phạt chánh tổng, lý trưởng phải ăn bèo tây (bèo lục bình) khi Vi ra lệnh vớt mà sai thời hạn hoặc vớt không hết, vẫn còn sót lại ở các sông ngòi (bèo lục bình phát triển rất mạnh, nhất là về mùa hè, phải vớt kẻo tắc sông ngòi - ĐD). Vi cấm các hàng rong từ 12:30 đến 14:30 là giờ của Vi ngủ trưa, không được rao hàng khi quẩy gánh hàng qua dinh Vi. Có một anh hàng phở gánh, quên mất luật lệ, khi đi qua dinh, rao lớn, bị Vi ra lệnh cho lính bắt vào, nện cho một trận rồi bắt phải gánh gánh phở đi vòng chung quanh sân dinh, rao từ trưa đến tối mới cho về.

Vi có người con trai là Vi Văn Lê, đang học Luật tại Pháp, là bạn của ông Nguyễn Thế Truyền, đảng viên đảng Việt Nam Độc Lập do ông Tạ Thu Thâu lãnh đạo. Năm 1929, Lê gia nhập đảng Việt Nam Độc Lập. Cây đắng mà sinh trái ngọt chăng?
Khi Tổng đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu hưu trí, Vi Văn Định đổi qua thay thế, trong dân gian truyền tụng câu: "Hoàng trùng đi, Vi trùng lại. Suy đi xét lại, Vi hại hơn Hoàng". Hoàng trùng ám chỉ Hoàng Trọng Phu, Vi trùng ám chỉ Vi Văn Định. Hoàng Trọng Phu là con trai Tổng đốc Hoàng Cao Khải và là con rể Tổng đốc Đỗ Hữu Phương ở Nam Kỳ, toàn những tay sai khét tiếng của Pháp cả, nhưng "Vi hại hơn Hoàng" thì chúng ta đủ hiểu Tổng đốc Vi Văn Định đáng sợ như thế nào".

Khi việc cướp chính quyền xảy ra năm 1945, Vi bị Việt Minh bắt nhưng ông Hồ chẳng những không giết mà còn cho tạm lánh trong một biệt thự ở Hà Nội, đãi ngộ như thượng khách chỉ vì Vi là một "ông vua Nùng" mà ông Hồ và đảng của ông vẫn còn cần đến. Cũng có người cho rằng sở dĩ ông Hồ tha chết cho Vi, vì Vi là nhạc phụ của hai nhà đại khoa bảng đang phục vụ trong chính phủ Việt Minh là Bác sĩ Hồ Đắc Di (được Toàn quyền Pháp ở Đông Dương Decoux phong giáo sư) và Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên. Ngoài ra, Vi còn là ông nội của tiểu thư Vi Nguyệt Hồ, vợ của Bác sĩ Tôn Thất Tùng, Thứ trưởng Y tế VM nữa. Bác sĩ Tôn Thất Tùng tốt nghiệp Y khoa tại Pháp, rất nổi tiếng về môn giải phẫu tim và gan.

Những mối tình sau

- Bà Lương Thị Thuần: Sau khi mối tình đầu tan vỡ, Dương rất buồn. Rồi phụ thân Dương Tự Nhu cũng mất sớm, gia đình có bề sa sút. Sau khi hết tang và Dương cũng tạm có công ăn việc làm tại Hà Nội (điều khiển ban nhạc trong các tiệm khiêu vũ và cộng tác với Đài Pháp Á cùng Nguyễn Xuân Khoát), gia đình bèn cưới cho ông người vợ chính thức là bà Lương Thị Thuần, nhưng người ta ít biết về bà này và cũng không hiểu nguyên nhân của sự ly tán. Hiện nay các con của bà đang sống tại Đức và Hoa Kỳ.

- Bà Minh Trang: Tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Trâm, sinh năm 1921 (kém Dương 6 tuổi) tại Huế. Thân phụ bà là ông Nguyễn Hy, một công chức cao cấp trong Bộ Lại (tương đương với Bộ Nội vụ) của triều đình Huế. Thân mẫu bà là con gái của công chúa Mỹ Lương (thường gọi là Bà Chúa Nhứt), chị cả của Vua Thành Thái.

Trong nhà Bà Chúa Nhứt có riêng một ban nhạc (loại nhạc cung đình) tới mấy chục người và một ban ca Huế. Vì thân phụ thường phải đi công cán xa trong thời gian lâu, có khi đem cả gia đình đi theo nên cô bé Ngọc Trâm thường ở nhà bà ngoại. Nhờ vậy, ảnh hưởng của ca nhạc đã thấm sâu vào tâm hồn cô bé từ thời thơ ấu. Mới bảy tuôåi cô đã thuộc lòng những đoạn ca Huế trong các tiết điệu Nam Ai, Nam Bình, Kim Tiền, Lưu Thủy...

Tuy thân phụ là người Quảng Ngãi nhưng thân mẫu là người Huế, dòng dõi hoàng tộc, nên "tính chất Huế " và "giọng nói Huế" hoàn toàn chiếm hữu con người cô bé Ngọc Trâm. (Chúng ta nên nhớ Dương Thiệu Tước là người Bắc nhưng nhiều tác phẩm của ông, như bản Đêm Tàn Bến Ngự chẳng hạn, mang đặc tính chất Huế thì đủ hiểu ông yêu "người vợ Huế" đó như thế nào).

Thuở nhỏ, Ngọc Trâm theo học tại trường Jeanne d' Arc, một trường dòng danh tiếng ở Huế và bắt đầu làm quen với những phím đàn dương cầm do các sơ dạy đồng thời cũng học hát nữa. Lên trung học, cô theo gia đình ra Hà Nội. Vào khoảng năm 1941, thân phụ trở về nhậm chức tại Bộ Lại ở Huế, cô lại theo về Huế và học tại Lycée Khải Định (sau này, từ thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, đổi tên là trường Quốc học Huế).

Tại Lycée Khải Định, cô gặp Giáo sư Ưng Quả - thầy dạy môn Văn chương Việt Nam và cũng là người dạy tiếng Việt cho Thái tử Bảo Long. Hai thầy trò tâm đầu ý hợp. Mặc dầu Giáo sư Ưng Quả là người góa vợ, đã có hai con trai, nhưng hai gia đình rất môn đăng hộ đối: cha của Giáo sư Ưng Quả là con trai của Tuy Lý Vương; cha của Ngọc Trâm là con của Diên Lộc Quận công. Hai bên tiến tới hôn nhân và sinh được hai người con, một trai, một gái. Người con trai tên Bửu Minh (vai chú của Vua Bảo Đại) người con gái tên Công tằng Tôn nữ Đoan Trang (tức ca sĩ Quỳnh Giao sau này). Bà Ngọc Trâm dùng tên hai người con ghép lại làm tên trong ngành âm nhạc của mình.

Năm 1951, Giáo sư Ưng Quả đang làm Giám đốc Nha Học chánh Trung Phần thì đột nhiên bị bệnh, qua đời. Bà Minh Trang đem hai con vào Sài Gòn sinh sống và kiếm được chân vừa làm xướng ngôn viên vừa làm biên tập viên tin tức (tiếng Pháp) trong Đài Pháp Á (France-Asie).

Sự việc sau đó bà Minh Trang trở thành ca sĩ hết sức tình cờ. Trong một chương trình ca nhạc hằng tuần của Nhạc sĩ Đức Quỳnh trên Đài Pháp Á, ca sĩ chính không đến hát được, bắt buộc Minh Trang phải "hát giùm" thế chỗ. Bà chỉ thuộc có mỗi một bản nhạc Đêm Đông của Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương là tiếng Việt, còn ngoài ra là thuộc tiếng Pháp (bà rất giỏi tiếng Pháp). Mà chương trình của Đức Quỳnh lại là tiếng Việt, vậy là Minh Trang bèn hát "Đêm Đông".

Nhờ giọng ca thiên phú và cái "duyên" bất ngờ nói trên, dần dần Minh Trang trở thành một ca sĩ chính của Đài Pháp Á (sau này là Đài Phát Thanh Quốc Gia tức Đài Sài Gòn). Từ đấy, Minh Trang còn đi hát phụ diễn trên các sân khấu, một dạng trình diễn rất thịnh hành hồi đó tại các rạp chiếu bóng trước khi cuốn phim chính được trình chiếu.

Tiếng hát của Minh Trang bay ra Hà Nội và được các Nhạc sĩ đương thời ngoài đó, như Vũ Thành, Hoàng Giác, Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Thiện Tơ v.v... yêu mến và họ thường gởi tác phẩm vào cho Minh Trang hát mặc dầu chưa biết mặt.

Trong một lần Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí tổ chức hội chợ tại Hà Nội, ông mời Minh Trang và nhiều nghệ sĩ khác ra hát với phần nhạc đệm của Ban Việt Nhạc. Người đứng đầu Ban Việt Nhạc là Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, người mà Minh Trang rất ngưỡng mộ. Họ gặp nhau và tiến tới hôn nhân.

Hai nghệ sĩ Minh Trang-Dương Thiệu Tước kết hôn năm 1951 tại Sài Gòn nhưng vẫn sống cách xa nhau cho đến năm 1954, khi ông Dương Thiệu Tước di cư vào Nam, họ sống với nhau. Họ sinh được năm người con, một trai, bốn gái: Dương Hồng Phong, Vân Quỳnh, Vân Khanh, Vân Hòa, Vân Dung. Cũng như Bửu Minh và Đoan Trang, các con của ông bà đều được theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc với sự dìu dắt của Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.

Sau này, Quỳnh Giao và Vân Quỳnh trở thành ca sĩ. Dương Hồng Phong tốt nghiệp vĩ cầm tại trường Quốc Gia Âm Nhạc còn, Bửu Minh thì du học tại Pháp năm 1961 và nay giữ địa vị pianiste chính trong ban đại hòa tấu "Staatsphihlarmonic Rheinland Plalz" của Đức.

Sau biến cố tháng 04-1975, hai cô con gái lớn đã lập gia đình thì theo gia đình nhà chồng ra đi. Ông bà Dương Thiệu Tước và hai cô nhỏ bị kẹt ở lại. Ngoài ra, người con trai duy nhất của ông bà là ông Dương Hồng Phong - được gọi đi sĩ quan Thủ Đức năm 1972 - bị bắt tại mặt trận và cũng đang kẹt trong tù tại Chu Lai. Cùng lúc đó, với số lương 64 đồng/tháng nhưng Giáo sư Dương Thiệu Tước dạy Guitare classique trong trường Âm nhạc-Kịch nghệ (trường QGAN ở đường Nguyễn Du, mới đổi tên) cũng không được dạy nữa, nhạc thì bị cấm, cuộc sống vô cùng khó khăn.

Năm 1978, Thiếu úy Dương Hồng Phong được ra tù, bà nghĩ đến việc phải rời đất nước. Tới chuyến, Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước lúc ấy đang ốm nên không thể đi. Tiền bạc có bao nhiêu thì đặt cọc hết rồi, ông đành hy sinh ở lại.
Bà Minh Trang cùng ba con đến Thái Lan vào cuối năm 1979, sau đó được định cư tại Virginia.
Hiện nay, bà và các con ở Quận Cam, riêng Bửu Minh ở Đức và Dương Hồng Phong ở New York.

Năm nay, bà đã 89 tuổi (bà sinh năm 1921) nhưng tương đối vẫn còn khỏe mạnh. Bà nói: "Tôi thích nghe nhạc và theo dõi tin tức thời sự, không cần nấu nướng gì cả, vì các con ở gần "có bát canh cần nó cũng đem cho".
Năm 1995, khi ông mất, bà và mấy người con - kể cả ca sĩ Quỳnh Giao - có về dự đám tang.

- Bà Nguyễn Thị Nga

Năm 1982, trong một cuộc nói chuyện về âm nhạc ở Sài Gòn, ông Dương Thiệu Tước gặp lại bà Nguyễn Thị Nga, một học viên cũ tại trường QGAN ngày trước, người vẫn hâm mộ và thầm yêu "thầy". Nay bà Nga đã có một cơ sở buôn bán rất tốt về các sản phẩm âm nhạc nhưng vẫn còn độc thân. Ông về sống với bà và có với nhau được một con trai.

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước mất ngày 01 tháng 08 năm 1995, tại Sài Gòn, thọ 80 tuổi. Các tác phẩm của ông vẫn còn tồn tại và sẽ mãi mãi bất hủ với thời gian, trong đó có bản Ngọc Lan.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

50 năm nhìn lại tình ca của Nhạc Sĩ Từ Công Phụng
Chương trình nhạc thính phòng 50 năm nhìn lại của Nhạc Sĩ Từ Công Phụng được tổ chức vào chiều Chủ Nhật 28/08/2011 tại hội trường Embassy Suites Portland Airport với trên 600 khán giả từ nhiều nơi về tham dự. Nhạc thính phòng Từ Công Phụng với những ca khúc nỗi tiếng từ thập niên 60 đến hôm nay được nhiều giọng ca chuyên nghiệp như Trần Thu Hà, Y Phương, Anh Tuấn và một số Ca Sĩ địa phương Ngọc Hoa, Đăng Tú, Hồng Hạnh và Hoàng An, trình diễn rất tuyệt vời, đã được nhiều tràng pháo tay tán thưởng của thính giả hâm mộ.

Trong chiều nhạc tình ca Từ Công Phụng có nhiều bằng hữu từ phương xa đến như Nhạc Sĩ Đăng Khánh, Bà Phương Hoa Giám Đốc đài phát thanh VOVN,TX, Nhạc Sĩ Nguyên Bích và phu nhân đến từ Houston Texas, Thi Sĩ Du Tử Lê, Nữ Sĩ Bích Huyền từ California, Vũ Hoàng RFA Washington DC. Đặc phái viên báo Người Việt California Nguyễn Đức Tuấn, Võ Thành Đông Chủ Nhiệm Tuần Báo Phương Đông Times và một số thân hữu từ Seattle, Wa .v.v. Ngoài ra còn có nhiều cơ quan báo chí, truyển hình địa phương tham dự. Buổi nhạc tình ca TCP khá hấp dẫn đã lôi cuốn nhiều người tham dự, cho nên có một số khách đến muộn không còn ghế ngồi.

Trong những sáng tác thành danh trước đây của NS Từ Công Phụng như “Bây Giờ Tháng Mấy” hay “Tình Tự Mùa Xuân” “Kiếp Dã Tràng” “Giọt Lệ Cho Ngàn Sau”.vv. đã được Ca Sĩ Trần Thu Hà luyến láy với chất giọng mượt mà đã cho mọi người thưởng thức một đêm tình ca trọn vẹn. Y Phương với “Tuổi Xa Người” Mùa Thu Mây Ngàn” “Mắt Lệ Cho Người” với phong cách trình diễn mới lạ gây nhiều chú ý và mến mộ của nhiều người. Nhất là trong ca khúc mới nhất của Nhạc Sĩ Từ Công Phụng “Mắt Em Buồn” phổ từ thơ Linh Vũ, đã làm nhiều người như bất ngờ rơi vào vùng trời tuyệt đẹp chỉ có tình yêu và kỷ niệm. Với giọng ca tuyệt vời của Y Phương, với sự thương mến của khán giả, Y Phương thật sự xứng đáng là một ngôi sao sáng trong vòm trời âm nhạc VN hiện nay.

Chương nhạc thính phòng 50 năm một lần nhìn lại tình ca Từ Công Phụng được nhiều người hoan nghênh nhiệt liệt. Để chào đón và nói lời cám ơn khán giả sau ngày hồi phục sức khỏe, Nhạc Sĩ Từ Công Phụng đã trình diễn liên tiếp nhiều ca khúc mới cũ của ông với giọng trầm ấm đã được nhiều tràng pháo tay tán thưởng nồng nhiệt.

Một đêm nhạc thính phòng ở thành phố Hoa Hồng thật vui tươi, đầy ý nghĩa, những ca khúc tuyệt vời đã để lại trong lòng mọi người khi ra về một chút gì nhớ thương bên kia trời kỷ niệm.
Hình ảnh 50 năm nhìn lại tình ca của Nhạc Sĩ Từ Công Phụng

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image
Nguồn: Cali Today

Post Reply