Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Đêm nhạc thính phòng Trần Duy Đức và bằng hữu

Băng Huyền/Viễn Đông

Image
Nhạc sĩ Trần Duy Đức cùng phu nhân Nguyệt Hạnh (đứng cạnh) và các ca, nhạc sĩ
trong đêm nhạc gửi lời tạ ơn khán giả và bằng hữu của ông - ảnh: Băng Huyền/Viễn Đông

“Đêm nhạc thính phòng Trần Duy Đức và bằng hữu”. Đêm của giao hòa và đồng điệu giữa cõi nhạc - cõi thơ, của nghệ sĩ và khách tri âm, của những miền miên man, sâu lắng. Vừa thâm trầm, nhẹ nhàng mà siêu thực. Vừa gợi nhớ xa xôi của những hoài niệm một thời.

Là đêm của nỗi buồn trong cõi nhạc Trần Duy Đức - cứa vào tim người nghe như muôn lời nói giản dị. Nhưng sức lay động, lan tỏa đến thổn thức, tha thiết khôn cùng.

Đêm kỷ niệm 27 năm ngày cưới của đôi uyên ương Trần Duy Đức - Nguyệt Hạnh - bản tình ca ngọt ngào yêu thương trong sự chúc phúc của nhiều người.

Đã có một “Đêm nhạc thính phòng Trần Duy Đức và bằng hữu” thân mật, cảm động và tuyệt vời như thế, vào tối Chủ Nhật, ngày 28-8-2011 tuần qua, tại nhà hàng Emerald Bay, do Hội Ái Hữu Phố Núi Pleiku tổ chức. Mà theo lời chị Phạm Thu Đào, “Bởi nợ duyên gì, mà Hội Ái Hữu Phố Núi Pleiku tổ chức và bảo trợ đêm nhạc cho anh Duy Đức, là vì anh Đức là người Pleiku năm cũ, anh cũng từng trú đóng tại Sư Đoàn 6 Không Quân Pleiku [Anh phục vụ tại Không Đoàn 60 Bảo Trì và Tiếp Liệu thuộc Sư Đoàn 6 Không Quân (SD6KQ) đồn trú trong phi trường Cù Hanh, Pleiku, trong thời điểm từ 1971 cho đến ngày tàn chiến cuộc, đã trải qua những tháng năm trong lao tù cộng sản]. Hơn nữa, chúng tôi có cùng chung cảm nhận với quý vị. ‘Nếu có yêu tôi’ [nhạc khúc cùng tên được Trần Duy Đức phổ thơ của Ngô Tịnh Yên], thì hãy yêu thương ngay bây giờ, đừng để ngày mai, ôi muộn màng làm sao…”.

* Tiếng lòng của Trần Duy Đức, và cõi tương phùng giữa nhạc hòa thơ

Hơn 2 giờ đồng hồ, 24 ca khúc, cùng những giọng hát giàu cảm xúc của Khánh Ly, Vũ Thành An, Như Mai, Ninh Cát Loan Châu, Hương Thơ, Anh Dũng, Trần Thái Hòa, 3 MC Phan Dụy, Như Hảo, Việt Dzũng, ban nhạc Lê Ngọc đảm trách (Guitar: Lê Ngọc, keyboard: Trúc Sinh, bass: Minh Kiệt, drums: Huỳnh Doanh), đã thay nhạc sĩ Trần Duy Đức và phu nhân Nguyệt Hạnh, gửi lời tri ân chân thành, ngọt ngào trước sự hiện diện của hơn 300 đồng hương Pleiku, khán giả, thân hữu, văn nhân, thi hữu nổi tiếng trong vùng trong đêm nhạc.

Ngoài những sáng tác của bạn hữu Trần Duy Đức, được nhạc sĩ đưa vào đêm nhạc như “Cung chiều” (Hoàng Khai Nhan và Đắc Trung - do Hương Thơ hát), “Em yêu dấu” (Hoàng Khai Nhan - Hương Thơ ca), “Đời đá vàng” (Vũ Thành An, do chính Vũ Thành An thể hiện)…

Ca khúc “Khúc mưa sầu” - một sáng tác với cả phần nhạc và phần lời của Trần Duy Đức (vào năm 1972 tại Pleiku), đẹp và buồn đến nao lòng người nghe, từng được ví như một “khúc cổ cầm”. “Anh đã ngủ yên trên quê hương” [“Trần Duy Đức sáng tác vào năm 1976, sau khi được thả ra từ trại tù cải tạo, ông quá giang xe lam về đến Biên Hòa thì xe bị chết máy đang lúc trời vừa đổ mưa. Ông vô trú mưa trong nghĩa trang quân đội Biên Hòa… và ông đã khóc khi nhìn thấy tượng lính “Thương Tiếc” bị giựt sập, nằm dưới đất].

Thì hầu hết những ca khúc trong chương trình đều được Trần Duy Đức thăng hoa cảm tác khi ông lạc vào cõi thơ của Du Tử Lê, Phạm Vũ, Nguyễn Nam An, Nguyễn Dũng Tiến, Hà Nguyên Du, Thơ Giang, Cẩm Vân, Ngô Tịnh Yên… những vần thơ triết lý, giàu hình tượng, nhạc điệu đã đồng cảm với nỗi niềm của nhạc sĩ Trần Duy Đức, đã tạo cảm hứng sáng tác cho những giai điệu nhiều thổn thức, rất riêng của Trần Duy Đức.

Giai điệu âm nhạc của Trần Duy Đức khi thì chậm buồn, vang vọng, lúc thật da diết, dần buông chút bâng khuâng lay lắt hồn người của âm điệu huyền ảo, lắng đọng trong “Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời” (thơ Du Tử Lê - Hương Thơ hát), “Santa Ana bài gửi lại” (thơ Nguyễn Nam An - Trần Thái Hòa ca), “Trong tay thánh nữ có đời tôi” (Thơ Du Tử Lê - Ninh Cát Loan Châu thể hiện), “Em có về như những cơn mưa” (Thơ: Hà Nguyên Du - Như Mai hát), “Em hiểu vì đâu chim gọi nhau” (Thơ: Du Tử Lê, Anh Dũng ca)….

Với khúc nhạc gieo vần mới lạ trong “Hoa ơi có biết lòng ta nhớ người” (thơ Nguyễn Dũng Tiến - Ninh Cát Loan Châu hát):

Đêm trăng trong, lòng nhớ mong
Lanh quanh tình cũ long đong muộn phiền
Hương hoa ngâu, người ở đâu?
Em khoan trở giấc bể dâu ngậm ngùi
Ôm đóa quỳnh, buồn một mình
Lơi lơi hơi thở chùng chình trái tim
Người dẫu xa, tình thiết tha
Hoa ơi có biết lòng ta nhớ người

Giai điệu chất chứa nỗi niềm khắc khoải, day dứt, xót xa, với “Anh đã ngủ yên trên quê hương” (nhạc và lời: Trần Duy Đức, Anh Dũng hát), “Cố quận” (Thơ Phạm Vũ, Anh Dũng thể hiện)…

Những hoài niệm rạo rực màu yêu, đủ sức thắp lên ngọn lửa ấm lòng người, dành tặng cho người bạn đời Nguyệt Hạnh trước ngày cưới với “Khi bắt đầu của những năm 30” (thơ Du Tử Lê, nhạc Trần Duy Đức - Trần Thái Hòa hát), là tình yêu mãnh liệt và mênh mông như đại dương, như miên man dâng trào chưa từng mỏi mệt.

Và không gì chính xác hơn để cảm nhận sự hòa điệu ngọt ngào của cõi thơ các thi sĩ vào cõi nhạc Trần Duy Đức, khi mọi người cùng lắng lòng nghe nhạc và đọc những dòng nhận xét của nhà thơ Du Từ Lê. Là người bạn tri kỷ của nhạc sĩ Trần Duy Đức, cũng là tác giả có rất nhiều bài thơ được Trần Duy Đức cảm tác thành nhạc, trích đăng trong tuyển tập “50 tình khúc Trần Duy Đức”, đã viết: “… Với tôi, Trần Duy Đức là một trong rất ít nhạc sĩ, ăn ở được với thơ. Đầy đặn, thủy chung. Hơn thế, anh còn cho thấy tấm lòng trân trọng của anh với thi ca. Qua nỗ lực giữ lại nguyên văn từng chữ của bài thơ. Điều không phải nhạc sĩ nào cũng có thể làm được. Tôi trân trọng cõi giới âm nhạc của Trần Duy Đức, vì thế…”. Không chỉ thi sĩ, mà ca sĩ, khán giả càng trân trọng Trần Duy Đức thêm, bởi tài hoa ông “gắn nốt nhạc cho những vần thơ” khi hát lên không bị vỡ nhòa câu chữ.
Image
Khán giả thăng hoa cùng ca sĩ trong đêm nhạc Trần Duy Đức - ảnh: Băng Huyền/Viễn Đông

* Lay động lòng người với những tiếng hát

Ngoài ca sĩ Hương Thơ thể hiện ca khúc chưa hoàn hảo, còn lại những ca sĩ Khánh Ly, Như Mai, Anh Dũng, Trần Thái Hòa, Ninh Cát Loan Châu… đã chuyên chở thật trọn vẹn những thổn thức của cõi nhạc Trần Duy Đức đến với mọi người, dẫu chính các ca sĩ cũng chia sẻ những khó khăn khi thể hiện ca khúc của Trần Duy Đức, bởi ca từ được phổ nhạc quá triết lý, khó hiểu, khó nhớ, giai điệu rất khó hát… và nhiều người phải vượt qua những hồi hộp, bởi lần đầu thể hiện ca khúc này. Nhưng không phụ lòng tin, yêu của nhạc sĩ, họ đã làm tròn vai trò của mình thật tuyệt vời, dẫn dắt người nghe về với biết bao kỷ niệm của những ngày tháng cũ, với tiếng hát nồng ấm, tràn đầy tình yêu.

Đan xen giữa các tiếng hát là những lời dẫn dắt duyên dáng, sâu sắc của MC Phan Dụy, Như Hảo, Việt Dzũng, về người nhạc sĩ Trần Duy Đức, về những mối lương duyên gắn kết với các bài thơ của các thi sĩ, mối tình nhiều cảm xúc của vợ chồng Trần Duy Đức và Nguyệt Hạnh, lời tâm tình dí dỏm của ca sĩ Khánh Ly, lời chia sẻ của nhạc sĩ Vũ Thành An, lời tâm sự của ca sĩ Lê Uyên kể về kỷ niệm khi Trần Duy Đức vừa viết xong ca khúc “Nhớ Lại Trong Đêm Nay” năm 1987, chị đã hát vài câu trong bản nhạc tặng mọi người không cần nhạc đệm... và lời cảm tạ mộc mạc của đôi uyên ương Trần Duy Đức - Nguyệt Hạnh với bằng hữu, khán giả.
Image
Tuyển tập nhạc của Trần Duy Đức “Nếu có yêu tôi” - ảnh: Băng Huyền/Viễn Đông
* Tuyển tập nhạc “Nếu có yêu tôi”

Khép lại những giai điệu lãng đãng như những khúc tâm tình của Trần Duy Đức đến với khách tri âm, ca sĩ Khánh Ly qua ca khúc “Nếu có yêu tôi” (thơ Ngô Tịnh Yên, nhạc Trần Duy Đức) đã đong đầy cảm xúc trong tim người nghe và các bằng hữu trong đêm nhạc.

Nếu có yêu tôi. Thì hãy yêu tôi bây giờ / Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi qua đời… / Cát bụi làm sao mà biết lụy người…. Rộn ràng một nỗi đau. Nghẹn ngào một nỗi vui. Dịu dàng một nỗi đau / Ngậm ngùi một nỗi vui…”.

Nếu có yêu tôi - câu hỏi ấy chảy dài như vô tận cho đến khi nào “người yêu” biết đến mới thôi, như một chân lý sống ở đời, là ca khúc đã được hát nhiều nhất trong những buổi gây quỹ từ thiện, là ca khúc quen thuộc với khán giả hải ngoại, Việt Nam, gắn liền thành công với nhiều ca sĩ: Khánh Ly, Thế Sơn, Khánh Hà, Elvis Phương...

“Nếu có yêu tôi” cũng là tên gọi của tuyển tập 50 tình khúc Trần Duy Đức. Tuyển tập hiện bán với giá 20 Mỹ kim cho ấn phí (ngoài Hoa Kỳ, xin thêm 3 Mỹ kim cho cước phí hạng nhất) và tập nhạc có kèm theo CD nhạc 15 tình khúc chọn lọc của Trần Duy Đức, trong đó hát bởi những giọng ca nổi tiếng như Khánh Ly, Lệ Thu, Lê Uyên, Trần Thái Hòa, Ý Lan, Như Mai, Anh Ngọc, Ngọc Lan và một bản không lời do Duy Cường hòa âm.

Quý vị nào muốn lưu giữ tuyển tập giá trị này, và đã quý yêu dòng nhạc Trần Duy Đức, xin đừng đợi ngày mai, mà hãy liên lạc ngay với Lê Nguyệt Hạnh, 5105 W. Roberts Dr., Santa Ana, CA 92704. Địa chỉ email: hanhle20@yahoo.com, để ủng hộ cho tuyển tập nhạc nhiều tâm sức của hơn 40 năm sáng tác của nhạc sĩ Trần Duy Đức - người nhạc sĩ sống như thế. Yêu như thế. Viết như thế và chăm chút âm nhạc như thế, quả rất ít người! -

Băng Huyền/Viễn Đông

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image

Những cách thưởng thức cafe trên thế giới
Ban đầu cà phê rất đắt, vì thế chỉ có tầng lớp quý tộc hoặc những người giàu có mới được thưởng thức thứ đồ uống thơm ngon này.

Honoré de Balzac thường uống loại cà phê rất đặc để có thể thức làm việc. Ông thường làm việc tới 12 tiếng một ngày. Ludwig van Beethoven có thói quen lựa chọn đủ 60 hạt cà phê để pha một tách Mokka. Johann Wolfgang von Goethe thì có ý tưởng chưng cất cà phê. Về sau nhà hoá học Friedlieb Ferdinand Runge đã chuyển hoá ý tưởng này thành hiện thực, nhờ vậy mà ông tìm ra caffein.

Vào những thời kỳ khủng hoảng, người nghèo không có đủ tiền mua cà phê, họ phải uống các loại đồ uống giả cà phê để thay thế.

Ngày nay, ở một số nước người ta coi việc uống cà phê như một thức uống phổ thông (cà phê thường có hàm lượng Cafein thấp) và ăn kèm bánh trái hoặc hoa quả.

Ở Việt Nam cà phê là một thức uống được ưa chuộng, đặc biệt vào buổi sáng (nhưng hàm lượng cafein rất cao chỉ thích hợp với những người quen dùng hoặc nghiện cà phê). Các quán giải khát (trừ các “bar”) thường gọi là “quán cà phê”, mặc dù cũng phục vụ những thức uống khác.

Ý

- Caffè latte – kiểu cà phê sữa của Ý, một phần sữa nóng, một phần espresso.
- Cappuccino – một phần ba là espresso, một phần ba là sữa nóng và một phần ba sữa đánh bông, thêm bột cacao hoặc bột quế.
- Cappuccino con panna – cappuccino dùng kem sữa đánh đặc thay vì sữa sủi bọt.
- Chocolaccino – cappuccino thêm sôcôla nghiền.
- Coretto – cà phê espresso với rượu mạnh, ví dụ như Coretto con Grappa, Coretto con Fernet …
- Doppio – hai phần espresso.
- Espresso – cà phê cực đặc không có sữa hay đường, pha bằng cách cho nước dưới áp suất cao (9 đến 15 bar) đi qua bột cà phê xay cực mịn. Một tách (một phần) espresso khoảng 25 ml.
- Lungo – espresso với lượng nước nhiều gấp đôi.
- Latte Macchiato – sữa ấm sủi bọt và rót cẩn thận espesso lungo vào.
- Mischio – cà phê pha với cacao và kem sữa đánh đặc.
- Ristretto – espresso với lượng nước rất ít (15-20 ml thay vì 25 ml).

Đức

– Eiskaffee – cà phê nguội thêm kem vani.
- Cà phê Ireland – mokka với whisky, kem sữa và đường.
- Kaffee Hag® – cà phê không chứa caffein (Hag là một nhãn hiệu).
- Milchkaffee – cà phê pha qua giấy lọc, một nửa sữa, một nửa cà phê
- Mokka – một loại cà phê đặc.
- Pharisäer – cà phê đen với rượu rum, đường và kem sữa đánh đặc.
- Rüdesheimer Kaffee – cà phê pha với rượu brandy, kem sữa đánh đặc, đường vani, thêm vụn sôcôla.
- Schwaten hay Schwatten – cà phê loãng, cho thêm đường và 2 cl rượu mạnh làm từ ngũ cốc mỗi tách (đặc sản miền bắc Đức).
- Kaffee kiểu Thổ – cà phê đặc để trong ấm nhỏ, kèm cả bã.

Áo

– Almkaffee – cà phê dùng với lòng đỏ trứng, rượu hoa quả và kem sữa.
- Biedermeier kiểu Áo – thêm rượu mơ và kem sữa.
- Großer Brauner – hai phần espresso với sữa, dùng tách lớn.
- Kleiner Brauner – một phần espresso với sữa, dùng tách nhỏ.
- Doppelmokka – hai phần cà phê đặc dùng với tách lớn chuyên để uống mokka.
- Einspänner – mokka đựng trong cốc có quai, thêm kem (có quai để người đánh xe ngựa vừa cầm roi vừa có thê uống được).
- Eiskaffee kiểu Anh – một phần ba cà phê, một phần ba kem, một phần ba kem sữa.
- Eiskaffee kiểu Áo – loại cà phê đặc bao gồm lòng đỏ trứng, cà phê và kem sữa đánh đặc.
- Fiaker – một cốc cà phê đen với nhiều đường, thêm một lượng rượu Slibowitz (rượu mạnh làm từ quả mận tía vùng Balkan) hoặc rum.
- Franziskaner – cà phê sữa loãng với kem sữa và sôcôla.
- Gebirgskaffee – cà phê với lòng đỏ trứng, rượu hoa quả mạnh và kem sữa.
- Gespritzter – cà phê đen với rum.
- Granita di Caffé – kem xay nhuyễn rồi rót cà phê đen có đường lên trên.
- Intermezzo – một lượng mokka nhỏ, thêm sôcôla nóng và “Creme de cacao”, khuấy lên rồi thêm kem sữa đánh bông cùng vài miếng sôcôla.
- Kaffee Kirsch – cà phê với nước anh đào.
- Kaffee Obermeier – cà phê với màng sữa.
- Kaffee Verkehrt – 2 phần sữa, một phần cà phê.
- Kaisermelange – mokka với lòng đỏ trứng, thêm mật ong hoặc Cognac.
- Kapuziner – cà phê đen với một lượng nhỏ sữa.
- Katerkaffee – cà phê đen đặc, thêm đường, có mùi chanh.
- Konsul – cà phê đen thêm một ít kem sữa đánh đặc.
- Kosakenkaffee – một lượng nhỏ mokka với rượu vang đỏ, wodka và nước đường.
- Maria Theresia – mokka với một lượng nhỏ rượu cam.
- Marghiloman – mokka với Cognac.
- Mazagran – cà phê lạnh, ngọt, thêm vài mẩu kem, rượu Maraschino hoặc Cognac.
- Melange – nửa cà phê, nửa sữa.
- Mokka gespritzt – mokka với cognac và rum.
- Piccolo – một lượng nhỏ cà phê đen, lắc đều.
- Großer Schwarzer (hay großer mokka) – kiểu Áo – hai phần espresso ko có sữa, dùng tách lớn.
- Kleiner Schwarzer (hay kleiner mokka) – kiểu Áo – một phần espresso ko có sữa, dùng tách nhỏ.
- Othello – sôcôla nóng với espresso.
- Sanca® – cà phê không có caffein (Sanca là một nhãn hiệu).
- Schale(rl) Braun – nửa cà phê, nửa sữa.
- Schale(rl) Gold – cà phê sữa, loãng hơn Schale(rl) Braun.
- Separee – Cà phê và sữa được dùng riêng.
- Sperbertürke – kiểu cà phê Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng nặng gấp đôi, thêm đường.
- Türkischer Kaffee passiert – cà phê Thổ Nhĩ Kỳ, để nguyên bã.
- Überstürzte Neumann – kem sữa đặc được phết lên bề mặt một cái bát, được “hỗ trợ” thêm cà phê nóng.
- Kaffee kiểu Hungary – cà phê đặc có đường, thêm đá, sau đó thêm kem sữa lạnh và dùng trong ly.
- Verlängerter – một lượng nhỏ cà phê đen pha thêm nhiều nước hoặc espresso thêm nhiều nước.
- Weißer mit Haut – cà phê sữa loãng thêm sữa nóng.
- Zarenkaffee – espresso đặc, phía trên là lòng đỏ trứng đánh bông, thêm đường (loại cà phê yêu thích của các sa hoàng).

Thụy Sĩ

– Canard – cà phê với Marc (rượu mạnh làm từ nho): cho vào miệng một viên đường nhúng rượu, sau đó nhấp tách cà phê pha rượu và kem sữa.
- Kaffee crème – cà phê với kem sữa.
- Kaffee Melange – cà phê với kem sữa đánh đặc, thường thì kem sữa được phục vụ riêng trong một tách nhỏ.
- Luzerner Kafi – cà phê loãng có màu trà, pha thêm Träsch (một loại rượu mạnh của Thuỵ Sĩ, làm từ quả lê, thỉnh thoảng có thêm táo).
- Schale – cà phê sữa.

Pháp

– Café au lait – một loại cappucino đặc với một ít bọt sữa.
- Café Brulot – Cognac pha đường và cà phê.
- Café Crème – cà phê với kem sữa hoặc sữa đánh bông.
- Café Filtre – cà phê pha phin, loãng hơn espresso đôi chút.
- Café natur – cà phê đen.
- Café Royal – giống Café Brulot.

Tây Ban Nha

Từ “cà phê” ở Tây Ban Nha thường dùng để chỉ loại cà phê espresso.
- Café solo – đen.
- Cortado – thêm sữa đặc có đường (señorita) và một lượng nhỏ sữa hay bọt sữa, thường dùng tách, thỉnh thoảng dùng ly.
- Café con leche – cà phê sữa, một nửa cà phê, một nửa sữa (thường được đánh bông).
- Café americano – cà phê phin, cũng để chỉ loại café solo pha loãng.
- Café con hielo – một ly đựng đá viên, sau đó thêm đường, cuối cùng là. rót cà phê vào.
- Carajillo – thêm một ít rượu mùi, brandy hay rum. Cách làm: Đường được khuấy trong một ly với rượu, sau đó đốt lên rồi rót cà phê pha đậm (cà phê espresso) vào. Hạt cà phê và một miếng vỏ chanh được cho vào ly để trang trí.

Bồ Đào Nha

– Bica – cà phê đen, đặc, dùng tách nhỏ.
- Pingo (Bica Pingada) – Bica thêm một ít sữa.
- Galão – cà phê sữa Bồ Đào Nha, dùng ly.

Hy Lạp

– Griechischer Kaffee – cà phê đặc được nấu 2 hoặc 3 lần, giống như loại cà phê Thổ Nhĩ Kỳ.
- Café frappé – cà phê tan, thêm đá.
Mỹ
– Iced coffee – cà phê đặc, nóng, thêm đường được rót vào một ly đựng đá.
Nam Mỹ
– Caffè Americano – espresso thêm nước nóng và spirituose (tên chung của các loại rượu trên 20% cồn như vodka, gin, rum, tequila, cachaca..).

Việt Nam

- Cà phê đen nóng: Bỏ cà phê xay vào fin cà phê, nêm chặt cà phê, rồi chế nước sôi lên. Hứng cà phê rỉ ra từ dưới fin. Có hoặc không thêm đường tùy “gu”. Fin thường làm bằng nhôm, nhưng ngày nay do nhu cầu cao của cuộc sống ,dịch bệnh lan tràn các loại phin nhôm dần được thay thế bằng loại phin giấy sử dụng một lần – ưu điểm của loại phin giấy này là đáp ứng đầy đủ yếu tố của phin cà phê truyền thống.
- Cà phê sữa nóng: dưới đáy ly/cốc có để sẳn sữa đặc (nhiều ít tùy ý), cà phê nóng rơi xuống từ fin, quấy đều. Theo thói quen, cà phê nóng và cà phê sữa nóng thường uống vào buổi sáng sớm trong/trước bữa ăn sáng. Nhiều người uống cà phê nóng/ cà phê sữa nóng mà không cần ăn sáng.
- Cà phê đá, như cà phê nóng, nhưng cà phê pha đặc (nhiều bột cà phê), rồi thêm đá lạnh, có người thích bỏ đường, có người không, tùy “gu”.
- Cà phê sữa đá: Như cà phê sữa nóng, nhưng pha thật đặc (nhiều cà phê, nhiều sữa), rồi cho thêm đá lạnh, quấy đều.
- Bạc xỉu (không rõ nguồn gốc từ này, chỉ phổ biến ở miền Nam): Như cà phê sữa, nhưng lượng sữa nhiều hơn, và ít cà phê hơn, thích hợp cho nữ giới; có thể thay sữa đặc bằng sữa tươi. Có hai loại, bạc sỉu nóng và bạc xỉu đá.
- Cà phê trứng – có hai loại:
Đập một quả trứng sống vào một tách cà phê nóng, thêm đường, có hoặc không có sữa.
Lòng đỏ trứng được đánh bông thành kem, phía dưới có một lượng nhỏ cà phê đen.
- Cà phê chồn (hay gọi theo tiếng Indonesia là Kopi Luwak) từng có mặt ở Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ 20 và mất đi cùng với việc loài chồn (đúng ra là cầy) hay ăn hạt cà phê ở Tây Nguyên gần như tuyệt chủng do bị săn bắt tràn lan.
Cà phê tại Việt Nam thường được thưởng thức qua các phin cà phê. Hạt cà phê thường được xay nhỏ, nén vào trong các phin và nước sôi được đổ lên trên để được lọc vào một ly, hay tách, tại bên dưới của phin. Có nhiều loại phin cà phê mà hai loại thông dụng nhất được làm bằng nhôm hay inox, ngoài ra còn có phin tiện dụng bằng giấy chỉ sử dụng một lần.

Sưu tầm

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Vì sao bạn lại không cười ?
Nụ cười bồi dưỡng kẻ mệt nhọc, nó là hình ảnh bình minh cho kẻ ngã lòng, là nắng xuân cho kẻ buồn rầu và là thuốc mầu nhiệm nhất của tạo hóa để chữa lo âu.

Nụ cười không thể mua được, không thể xin như khất thực được, không mượn được, mà cũng không thể ăn cắp được. Vì ta khư khư giữ nó thì nó chẳng có giá trị gì, nhưng nếu ta dùng nó một cách rộng rãi thì giá trị nó vô cùng.

Nếu không tìm cách chiến thắng nỗi buồn, cứ để nó gặm nhấm rồi buông xuôi tất cả, bạn sẽ gánh chịu thiệt hại về mặt tinh thần. Vậy sao bạn không nở nụ cười?
1. Các nhà nghiên cứu thần kinh học khẳng định: "Nụ cười khiến vòng tuần hoàn máu, nhịp thở và quá trình trao đổi oxy diễn ra mạnh hơn".
2. Khi bạn cất tiếng cười, cơ thể sẽ tiết ra chất endorphine. Đây là loại thần dược giảm đau tự nhiên và ảnh hưởng rất lớn tới trạng thái tinh thần.
3. Nụ cười còn làm giảm quá trình tiết ra những hormone gây stress trong cơ thể. Đồng thời, điều hoà trạng thái tình cảm, giúp bạn trấn tĩnh trước lo âu, hoảng loạn. Lúc này, mọi lo toan đều trở nên vụn vặt.
4. Cười trong 1 phút tương đương với 10 phút tập thể dục với máy. Còn nếu bạn cười trong 10 phút, cơ thể sẽ giảm 10-20 mm áp lực máu.
5. Khi bạn cười, các cơ trên mặt đều được căng giãn, thúc đẩy mạch máu hoạt động, khiến khuôn mặt trở nên hồng hào, rạng rỡ, đáng yêu. Đây cũng là bài tập thể dục đơn giản dành cho khuôn mặt.
6. Bắt đầu một ngày mới với tiếng cười có nghĩa là bạn đã khơi mở cho bao niềm vui khác. Mỗi khi mỉm cười tức là bạn đang nhắc nhở mình sống với niềm vui, vì thế cần trân trọng gìn giữ niềm vui ấy.
7. Nhoẻn miệng cười, kèm theo ánh mắt tươi vui chào mời, đấy chính là lúc bạn biểu lộ sự thân thiện, muốn được làm quen với một ai đó.
8. Cười nhẹ, khoé môi hơi nhếch lên, ánh mắt lơ đễnh, không tập trung vào bất kỳ điểm nào là nụ cười thể hiện chủ nhân không hài lòng, nhưng lại chẳng muốn nói ra để khỏi mất lòng đối phương.
9. Miệng cười, đầu lại giả vờ quay đi chỗ khác, mắt thoáng liếc nhanh đối tượng theo kiểu con mắt có đuôi, sẽ để lại trong lòng người khác ấn tượng khó phai.
10. Khi phạm phải một lỗi lầm tệ hại, bạn hãy nở nụ cười với đôi môi mím lại, hai khoé môi hơi cong lên để bày tỏ thiện chí sửa chữa lỗi lầm và ngay sau đó làm một hành động cụ thể.
11. Kiểu cười môi dưới hơi trễ ra, khi cười kèm theo tiếng "hừ" nhẹ, chứng tỏ người cười đang ấm ức, tức tối điều gì đó. Nếu người ta dành nụ cười ấy cho bạn, hãy xem lại bản thân.
12. Cuối cùng, một nụ cười tự nhiên phải thật sự xuất phát từ nội tâm

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Thăm những pho tượng lớn nhất Việt Nam
Dù được tạc bằng đá, đúc bằng đồng hay bê tông, những pho tượng này vẫn tạo nên ấn tượng khó quên cho du khách.

Pho tượng nằm dài nhất

Image Với chiều cao 13m, dài 49m, tượng Phật Thích ca nhập niết bàn với thế nằm nghiêng gối đầu lên tay, mặt quay về hướng Nam, toạ lạc trên đỉnh núi Tà Cú là bức tượng phật nằm dài nhất Việt Nam và Đông Nam Á. Tượng do kiến trúc sư Trương Đình Ý xây dựng từ năm 1959 và hoàn thành năm 1962.

Có hai cách để lên đỉnh núi chiêm bái tượng là đi bộ hoặc cáp treo. Mỗi cách sẽ mang lại cho bạn một ấn tượng, song nếu có thể nên kết hợp là đi lên bằng cáp, đi xuống bằng bậc thang. Ngoài tượng Phật nằm, du khách còn có thể chiêm bái các bức tượng khác thuộc ngôi cổ tự Linh Sơn Trường Thọ (cũng trên đỉnh núi), hay trải nghiệm chuyến khám phá các truyền thuyết kì bí của hang Tổ.

Pho tượng bằng đồng nặng nhất

Image Danh hiệu này thuộc về pho tượng Thích Ca Mâu Ni bằng đồng nguyên khối dát vàng, cao 10m, nặng 100 tấn ở chùa Bái Đính, xã Gia Sinh, Gia Viễn - Ninh Bình, và đã được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận kỷ lục “Pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng cao và nặng nhất Việt Nam”.

Pho tượng này do các nghệ nhân đúc đồng thôn Thượng Đồng, xã Yên Tiến, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định đúc, được đỡ bởi khung bê tông cốt thép giả gỗ cao đến nóc gần 30 m, dài 44,7 m, rộng 43,3m.

Ngoài kỷ lục nói trên, trung tâm này cũng xác nhận nhận hàng loạt các danh hiệu kỷ lục khác cho chùa Bái Đính như Bức tượng Phật Di Lặc bằng đồng lớn nhất, bộ tượng A Nan - Ca Diếp bằng đồng lớn nhất (mỗi tượng nặng 30 tấn, cao 9m, đặt tại điện thờ Giáo chủ Thích ca Mâu ni), chuông đồng lớn nhất (nặng 30 tấn), giếng Ngọc lớn nhất (đường kính 35m), tượng ông Thiện và ông Ác bằng đồng cao và nặng nhất (đặt nơi cổng tam quan chùa Bái Đính, mỗi pho nặng 20 tấn, cao 5,2m), tượng Quan Thế Âm thiên thủ thiên nhãn bằng đồng dát vàng lớn nhất (nặng 80 tấn, cao 9,57m tính cả bệ), bộ tượng Tam thế bằng đồng lớn nhất (mỗi pho nặng 50 tấn). Đây còn là ngôi chùa lớn nhất và có nhiều tượng nhất Việt Nam.

Pho tượng bằng đá lớn nhất
Image Đại Phật tượng bằng đá cao 27m, nặng 3.000 tấn đặt trên đỉnh núi đầu tiên phát tích đạo Phật ở Việt Nam (núi Phật tích, Bắc Ninh), được xem như kỳ quan mới trên quê hương của các vua Lý. Tượng được tạc dựa trên nguyên mẫu tượng A Di Đà, là một trong những bảo vật từ thời nhà Lý.

Chùa Phật Tích còn là di tích lịch sử văn hóa quốc gia và là di tích tiêu biểu nhất chứa đựng các giá trị văn hóa, mỹ thuật thời Lý. Ngoài hai bức tượng phật A Di Đà bằng đá có từ thời Lý và Đại Phật tượng mới xây dựng, đây còn là nơi lưu duy nhất lưu giữ những linh thú với 5 cặp đối xứng là sư tử, voi, ngựa, trâu, tê giác vốn là các di vật của đời Lý.

Tượng Phật bà Quan Âm cao nhất
Image Ngoài việc được biết đến như một ngôi chùa đẹp, lớn và… trẻ nhất trong 3 ngôi “Linh Ứng Tự” ở Đà Nẵng, Linh Ứng Bãi Bụt nằm ở lưng chừng núi Sơn Trà còn được biết đến với tên nơi có tượng Phật Quan Thế Âm cao nhất Việt Nam.

Pho tượng Phật bà Quan Âm ở đây cao 67m, đường kính toà sen 35m do điêu khắc gia Thụy Lam và điêu khắc gia Châu Viết Thạnh thi công trong 5 năm.

Tượng đứng tựa lưng vào núi, hướng ra biển, một tay bắt ấn tam muội, tay kia cầm bình nước cam lồ như rưới an bình cho những ngư dân đang lênh đênh trên biển kiếm sống.

Trên mũ tượng Quan Âm có tượng Phật Tổ cao 2m. Trong lòng tượng có 17 tầng, mỗi tầng đều có bệ thờ tổng cộng 21 bức tượng Phật với hình dáng, vẻ mặt, tư thế khác nhau, gọi là “Phật trung hữu Phật”.

Đến đây, ngoài chiêm bái công trình, từ vị trí của tượng, du khách còn chiêm ngưỡng vẻ đẹp khác của Đà Nẵng, với phía trước là vịnh Đà Nẵng đẹp như tranh, bên phải là một phần bán đảo Sơn Trà trầm mặc, xa xa là Ngũ Hành Sơn, Cù Lao Chàm bềnh bồng trong mây. Bạn cũng có thể tham gia khám phá núi rừng nguyên sinh của Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà phía sau chùa.

Tượng chúa Giê Su lớn nhất
Image
Được xem là một phiên bản của bức tượng Đức Chúa dang tay tại thành phố Rio de Janeiro, với chiều cao 32m, sải tay 18,3m, tượng Chúa Giê Su trên đỉnh Núi Nhỏ (Vũng Tàu) được đánh giá là bức tượng chúa lớn nhất Việt Nam và thế giới.

Tượng Chúa cao 176m so với mực nước biển và đặt trên một bệ bê-tông có bốn góc tạo hình cánh cung cao 10m. Mặt trước bệ được trang trí bằng bức phù điêu phỏng theo tác phẩm nổi tiếng của danh họa Ý Leonardo da Vinci “Bữa tiệc ly”. Mặt sau là bức tranh “Chúa trao chìa khóa cho thánh Phêrô”.

Bên trong tượng có cầu thang xoắn ốc đi từ chân tượng lên tới đỉnh. Lòng tượng được chiếu sáng nhờ hệ thống cửa sổ hình chữ “Thọ” trang trí trên áo. Một cầu thang gồm 133 bậc tam cấp trong lòng tượng dẫn du khách lên tận cánh tay của tượng Chúa. Hai bên vai và tay áo tượng được thiết kế như hai ban công với sức chứa khoảng 6 du khách mỗi bên. Đứng tại đây, du khách có thể ngắm bờ biển Vũng Tàu xanh ngát hay tận hưởng những ngọn gió biển mát rượi. Hai bàn tay tượng Chúa Kitô dài tới 2,2m, ngón giữa dài 1,1m có 9 tia hào quang làm bằng kim loại vừa trang trí vừa có tác dụng thu lôi.

Tượng gà lớn nhất Việt Nam

Image Với những chỉ số ấn tượng, bức tượng gà trống bằng bê tông đang vươn cổ gáy cao 3,2m, nặng khoảng 8 tấn giữa làng K’Long, thôn Darahoa, xã Hiệp An, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng được xem là pho tượng con vật lớn nhất Việt Nam

Bức tượng khổng lồ này được thiết kế và xây dựng từ năm 1978 đến năm 1979 do kiến trúc sư Lữ Trúc Phương thiết kế, nhà điêu khắc Thụy Lam tạc tượng, Sở Thủy lợi Lâm Đồng thi công. Ý tưởng xây tượng con gà xuất phát từ đề tài cấp nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số.


Huỳnh Hằng
Ảnh: An Huỳnh, Huy Vũ, Ái Vân

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Thái Thanh, tiếng hát lên trời

Thụy Khuê


Trong những phút giây thiếu vắng trống trải nhất hay những nhớ nhung tha thiết nhất của cuộc đời, mọi hiện diện hữu hình đều vô nghĩa; ta chờ đợi một đổi trao, khát khao một giao cảm thì bỗng đâu, một hiện diện vô hình lóe lên tựa nguồn sáng, tựa tri âm: sự hiện diện của tiếng hát. Thái Thanh

Nếu thơ là một ngôn ngữ riêng trong ngôn ngữ chung, theo Valéry, hay thi ca là tiếng nói của nội tâm không giống một thứ tiếng nói nào của con người, theo Croce, thì âm nhạc hẳn là tiếng nói của những trạng thái tâm hồn và nhạc công hay ca sĩ là nguồn chuyển tiếp, truyền đạt những rung động từ hồn nhạc sĩ đến tâm người nghe.

Thị giác giúp chúng ta đọc một bài văn, nghiền ngẫm một bài thơ, nhưng chẳng mấy ai có thể thưởng thức một bản nhạc bằng thị quan của riêng mình mà phải nhờ đến người trình diễn, đến ca công, ca kỹ. Ngàn xưa nếu người kỹ nữ bến Tầm Dương chẳng gieo "tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây" chắc gì ngàn sau còn lưu dấu vết Tỳ Bà Hành?

Sự biểu đạt tác phẩm nghệ thuật hay sự truyền thông cảm xúc từ nhạc bản đến thính giả, nơi một vài nghệ sĩ kỳ tài, không chỉ ngưng ở mực độ trình diễn mà còn đi xa hơn nữa, cao hơn nữa, tới một tầm mức nào đó, ca nhân đã sáng tạo, đã đi vào lãnh vực nghệ thuật: nghệ thuật vô hình của sự truyền cảm, nghệ thuật huyền diệu sai khiến con người tìm nhau trong bom lửa, tìm nhau trong mưa bão, nghệ thuật dị kỳ tái tạo bối cảnh quê hương đã nghìn trùng xa cách, nghệ thuật mời gọi những tâm hồn đơn lạc xích lại gần nhau dìu nhau đưa nhau vào ngàn thu, nghệ thuật không tưởng đừng cho không gian đụng thời gian khi ca nương cất tiếng hát, tiếng hát của bầu trời, giao hưởng niềm đau và hạnh phúc: Thái Thanh.

*

Người ta nói nhiều đến sự nhạy cảm của phụ nữ, đến một thứ giác quan nào đó ngoại tầm nam giới. Những người đàn bà phi thường như Callas, Piaf, Thái Thanh,... đã tận dụng đến cùng cảm quan bén nhạy của mình để sai khiến, xao động, chuyển hóa ngôn ngữ, âm thanh của bài hát thành nội cảm cầm ca, cấu tạo nên một vũ trụ thứ hai, đắm đuối, cuồng say, trong lòng người:

Trời trong em, đồi choáng váng
Rồi run lên cùng gió bốn miền

Tiếng hát Thái Thanh đến với chúng ta bằng rung động trực giác rồi tan loãng trong suy tư, xoáy vào những hố sâu, những đỉnh cao, vào tiềm lực của sự sống. Trong nghệ thuật hội họa, Van Gogh dùng sắc độ chói rạng để diễn tả những cuồng nhiệt, những trận bão trong tâm hồn. Trong nghệ thuật trình diễn, Thái Thanh vận dụng tiết tấu âm thanh, tạo nên sức cuốn hút mãnh liệt giữa con người, tình yêu và vũ trụ:

Ngày đó có bơ vơ lạc về trời
Tìm trên mây xa khơi có áo dài khăn cưới
Ngày đó có kêu lên gọi hồn người
Trùng Dương ơi! Có xót xa cũng hoài mà thôi!

Vẽ lên hình ảnh người nữ ca sĩ dưới ánh đèn sân khấu, Hoàng Trúc Ly đã có câu thơ thật hay:

Vì em tiếng hát lên trời
Tay xao dòng tóc, tay mời âm thanh

Câu này, trái với vài truyền thuyết, không nhắm vào một danh ca nào nhất định, chỉ gợi lên không khí các phòng trà ca nhạc Sàigòn khoảng 1960. Nhưng tiếng hát lên trời là một hình ảnh có lẽ hợp với giọng ca Thái Thanh nhất, giữa những tiếng hát thời qua và thời nay. Thái Thanh là một danh hiệu, nhưng như có ý nghĩa tiền định: bầu-trời-xanh-tiếng-hát. Hay tiếng hát xanh thắm màu trời. Tiếng hát long lanh đáy nước trong thơ Nguyễn Du, lơ lửng trời xanh ngắt trong vòm thu Yên Ðổ, tiếng hát sâu chót vót dưới đáy Tràng Giang Huy Cận, hay đẫm sương trăng, ngừng lưng trời trong không gian Xuân Diệu, tiếng hát cao như thông vút, buồn như liễu đến từ cõi thiên thai nào đó trong mộng tưởng Thế Lữ.


Ngày nay, những khi tìm lại giọng ca huyền ảo của Thái Thanh trong tiện nghi, ấm cúng, ít ai còn nhớ đến định mệnh gian truân của một tiếng hát, những bước gập ghềnh khúc khuỷu, chênh vênh, trôi nổi, theo vận nước lênh đênh. Tiếng nhạc Phạm Duy gắn bó với tiếng hát Thái Thanh thành tiếng của định mệnh, chứng nhân của nửa thế kỷ tang thương, chia lìa trên đất nước. Tiếng Thái Thanh là tiếng nước tôi, là tiếng nước ta, là tiếng chúng ta, là tiếng tình yêu, là tiếng hy vọng, là tiếng chia ly, oan khổ...

Tiếng hát Thái Thanh vang vọng những đớn đau riêng của phận đàn bà, mà người xưa đã nhiều lần nhắc đến bằng những công thức: hồng nhan đa truân, tài mệnh tương đố, tạo vật đố hồng nhan. Giọng hát Thái Thanh dịu dàng đằm thắm nhưng vẫn có chất gì đắm đuối và khốc liệt. Thái Thanh tình tự những khát vọng và những đau thương của hàng chục triệu phụ nữ Việt Nam, những thế hệ đàn bà bị dập vùi trong cuộc chiến kéo dài hằng nửa thế kỷ, kèm theo những giằng co tranh chấp, những băng hoại của một xã hội bất an. Nạn nhân âm thầm, vô danh là những người tình, những người vợ, những người mẹ đã có dịp nức nở với tiếng hát Thái Thanh: từ o nghèo thở dài một đêm thanh vắng đến nàng gánh lúa cho anh đi diệt thù, đến lúc anh trở về bại tướng cụt chân, đến nhiều, rất nhiều bà mẹ Việt Nam, từ Cai Kinh ngang tàng đến Gio Linh Ðồng Tháp suốt đời cuốc đất trồng khoai... Tiếng hát Thái Thanh là tiếng vọng khuya khoắt của những cơn bão lịch sử.
Image
Ban hợp ca Thăng Long thời đầy đủ nhất (giữa thập niên 1950):
Hàng sau, từ trái, theo chiều kim đồng hồ: Phạm Duy,
Phạm Đình Chương (Hoài Bắc), Hoài Trung, Thái Thanh,
Khánh Ngọc, Thái Hằng.

Và Thái Thanh đã sống lăn lóc giữa cơn lốc đó. Từ tuổi mười lăm, mười bảy, cô Băng Thanh -tên thật Thái Thanh- đã mang ba-lô theo kháng chiến chống Pháp: Hà Nội, khu III, khu IV, chợ Sim, chợ Ðại, chợ Neo, Trung Ðoàn 9. Về thành, cô đã góp công, tích cực và hiệu lực vào việc củng cố, phát triển nền tân nhạc phôi thai với ban hợp ca Thăng Long, sau đó là kiếp ca nhi phòng trà những nơi gọi là "Sài Thành hoa lệ", những đêm màu hồng, chiều màu tím.

Trong mười năm sa mạc, Bầu trời xanh không hát, chim gìn giữ tiếng, tiếng chim Thanh như lời Phạm Duy trong một tổ khúc. Sang Hoa Kỳ, Thái Thanh hát lại, vẫn đắm say, vừa kiêu sa vừa gần gũi, đam mê và điêu luyện.

Thái Thanh tạo cho mỗi tác phẩm một sinh mệnh mới: Bài hát được "Thái Thanh hóa", như đã đạt được "đỉnh cao" của cuộc đời, từ đó khó tìm thấy ai đưa nó vượt lên cao hơn nữa. Bởi Thái Thanh, ngoài giọng hát điêu luyện phong phú mở rộng trên nhiều cung bậc, còn có nghệ thuật làm nổi bật lời ca trong nhạc khúc và tạo ra một khí hậu, một tâm cảnh chung quanh bài hát. Nghe Thái Thanh hát là thưởng thức một khúc nhạc, một bài thơ, trong một thế giới nghệ thuật trọn vẹn. Giọng hát xoắn sâu, xoáy mạnh vào tâm tư người nghe, khi lâng lâng, khi tẻ buốt, sai khiến tâm tư vươn lên, hay lắng xuống. Giọng hát Thái Thanh tha thướt và tha thiết buộc người nghe phải sống cao hơn, sâu hơn, sống nhiều hơn. Tiếng hát Thái Thanh có lúc gợi cảm, khơi tình, hổn hển như lời của nước mây như lời thơ Hàn Mặc Tử.

Khi tiếng hát cất lên, dường như mọi hữu thể làm bằng sỏi đá, sắt thép, thân xác và nước mắt phút chốc tan biến, trở nên vô hình, vô thể, hóa thân trong tiếng hát, khi trầm mặc, khi vút cao; Thái Thanh, phù thủy của âm thanh là một thứ Ðào Nương trong truyền thuyết có ma lực hú về những âm tình u khuất.

Trong những cassette giới thiệu nhạc của mình, Phạm Duy một đôi lần có lưu ý Thái Thanh thỉnh thoảng hát sai. Dĩ nhiên một tác giả có quyền đòi hỏi người khác phải trung thành với văn bản của mình; riêng trong nghề ca xướng, nghệ nhân vẫn có thông lệ đổi vài chữ cho hợp với hoàn cảnh, nhất là ở Việt Nam, nền văn nghệ trình diễn vốn dựa trên truyền thống truyền khẩu lâu đời.

Ví dụ như bài Cho Nhau, Phạm Duy viết:

Cho nhau ngòi bút cùn trơ...
Cho nhau, cho những câu thơ tàn mùa
Cho nốt đêm mơ về già

Thái Thanh hát:

Cho nhau ngòi bút còn lưa
...
Cho nối đêm mơ về già

Lưa là một chữ cổ, có nghĩa là còn sót lại, nhưng mang một âm thanh u hoài, luyến lưu, tiếc nuối. Ca dao Bình Trị Thiên có câu:

Trăm năm dù lỗi hẹn hò
Cây đa bến Cộ con đò vắng đưa
Cây đa bến Cộ còn lưa
Con đò đã thác năm xưa tê rồi.

Chính Phạm Duy cũng có lần sử dụng chữ lưa trong bài Mộng Du: Ta theo đường mộng còn lưa... Dĩ nhiên ngòi bút cùn trơ chính xác hơn, nhưng không thi vị bằng ngòi bút còn lưa.

Cho nốt đêm mơ về già, như Phạm Duy đã viết, là cho phứt đi, cho đi cho xong. Thái Thanh thay chữ nốt bằng chữ nối, tình tứ và thủy chung hơn: những giấc mơ về già chỉ là tiếp nối những giấc mơ tuổi xuân mà anh không tặng được em vì gặp em quá muộn; cho nhau chỉ còn trái đắng cuối mùa, nhựa sống trong thân cây chỉ còn dâng được cho em dư vị chua chát và cay đắng.

Phạm Duy viết:

Cho nhau thù oán hờn ghen...
Cho nhau cho cõi âm ty một miền

Thái Thanh hát:
Cho nhau cho nỗi âm ty một miền

Chữ nỗi vô tình buông ra mà hay hơn chữ cõi, vì cõi chỉ là một miền, một không gian, một ý niệm hiện hữu, có vẻ bao la nhưng thực ra hữu hạn. Chữ nỗi vô hình, nhỏ bé nhưng vô hạn, đi sâu vào tâm linh con người: với tuổi già nỗi chết nằm trong cuộc sống. Cho em nỗi chết là cho tất cả những niềm hoang mang, khắc khoải, đau thương còn lại, nghĩa là chút tình yêu còn lưa trong từng nhịp đập yếu ớt của trái tim đã cạn dần cạn mòn hết những mùa xuân.

Nói như thế, không có nghĩa là khuyến khích ca nhân đổi lời tác giả. Chính Thái Thanh nhiều khi hát sai, ví dụ như trong Về Miền Trung: Tan thân thiếu phụ, nát đầu hài nhi mà đổi ra thành Thương thân thiếu phụ, khóc đầu hài nhi là hỏng, nhưng người nghe dễ nhận ra và điều chỉnh. Nhiều chỗ sai, người nghe không để ý.

Ví dụ câu này có thể xem như là một trong những câu hay nhất của Phạm Duy và tân nhạc Việt Nam:

Về miền Trung còn chờ mong núi về đồng xanh
Một chiều nao đốt lửa rực đô thành

Thái Thanh hát một chiều mai đốt lửa... là đánh vỡ một viên ngọc quý. Chữ nao mơ hồ, phiếm định, chỉ là giấc mơ ánh sáng, màu sắc của nghệ sĩ -mà Nguyễn Tuân gọi là cơn hỏa mộng- nó chỉ là hình ảnh nghệ thuật, chứ Phạm Duy mong chi ngày đốt kinh thành Huế? Có lẽ ông còn giữ trong ký ức câu thơ của Chính Hữu (1) trong Ngày Về mà ông rất thích:

Bỏ kinh thành rừng rực cháy sau lưng

Chúng ta có nhiều nghệ sĩ sáng tác những nhạc khúc tuyệt vời với ngôn ngữ thi ca, nhưng chúng ta có ít ca sĩ thấm được hồn thơ trong nhạc bản. Ðạt tới tuyệt đỉnh trong ngành trình diễn, Thái Thanh nắm vững cả bốn vùng nghệ thuật: nghệ thuật truyền cảm, nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật thi ca và nghệ thuật phát âm tiếng Việt, giữ địa vị độc tôn trong tân nhạc Việt Nam gần nửa thế kỷ: Thái Thanh chẳng cần làm thơ cũng đã là thi sĩ.

Giữa những phôi pha của cuộc đời, tàn phai của năm tháng, giọng hát Thái Thanh vang vọng trong bầu trời thơ diễm tuyệt, ở đó đau thương và hạnh phúc quyện lẫn với nhau, người ta cho nhau cả bốn trùng dương và mặc tàn phai, mặc tháng năm, tiếng hát vẫn bay bổng ở chốn trần gian hoặc ở vô hình.

Paris, tháng 11-1990

Chú thích:
Những lời ca trích trong bài này của nhạc sĩ Phạm Duy.

(1) nói đến tâm trạng chiến sĩ Trung Ðoàn Thủ Ðô khi rời Hà Nội đầu năm 1947.

Thơ không thể dịch được, nghĩa là không thể chuyển thơ từ ngôn ngữ nước này sang ngôn ngữ nước khác mà không làm mất hồn thơ, làm mất chất thơ, nhưng có thể chuyển thơ sang hình thức nghệ thuật khác như chuyển thơ sang nhạc hay phổ nhạc những bài thơ hoặc ngược lại, đặt lời thơ cho bản nhạc.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Lượm lặt” bút tích người xưa
Chữ của nhà văn Hồ Biểu Chánh hơi nghiêng nghiêng nhưng cứng cỏi, nét chữ của Thanh Tịnh rất đẹp, chữ và bản thảo chép tay của Nguyễn Hiến Lê thì chỉn chu… mỗi nét bút đều thể hiện “nết người”.

Khác với thói quen chầu chực mong gặp được các nghệ sĩ, người nổi tiếng để xin chữ ký của nhiều bạn trẻ, những người sưu tầm bút tích, di cảo của các nhà văn ngày xưa phải tìm kiếm như những nhà “khảo cổ”, thậm chí phải bới tung những tiệm sách cũ, lục lọi ở các nhà xuất bản… để có được thủ bút của “những người muôn năm cũ” mà mình hâm mộ.

Sách cũ thì dễ nhận biết vì có năm xuất bản, số lượng phát hành, nhưng chữ viết của nhà văn thì thật khó, và không phải ai cũng có thể nhận biết một cách dễ dàng. Tìm được chữ đã khó, xác định chữ đó có phải là bút tích thật sự của nhà văn ấy hay không là chuyện còn khó hơn. Có người phải thông qua các văn bản trong thư viện, ảnh chụp kiểu chữ, hoặc tìm gặp những người họ hàng của nhà văn… để xác định.
Image
Bút tích của giáo sư Hoàng Xuân Hãn

Image
Nét chữ của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan trên tấm danh thiếp của mình

Image
Chữ ký của nhà văn Nhất Linh trên tờ Văn Hóa Ngày Nay


Người xưa có câu “nét chữ, nết người” - cái chữ thể hiện tính cách và cả cảm xúc của nhà văn lúc viết. Độc giả dù được đọc rất nhiều sách của một tác giả nào đó, nhưng nếu nhìn vào cuốn sách có lời đề tặng, hay thấy bút tích của nhà văn đề lên sẽ có cảm giác gần hơn rất nhiều.

Cũng lạ, có những thủ bút của nhà văn được tìm thấy trên một tấm bưu thiếp, một tờ giấy xé vội từ một quyển sổ, hay trên tấm danh thiếp… mà nhiều người sưu tầm sau này vô tình tìm được. Trong bộ sưu tập bút tích của các nhà văn, nhà báo ngày xưa của anh Vũ Hà Tuệ, có những bản chép tay khá đặc biệt như bản thảo của nhà văn, dịch giả Nguyễn Hiến Lê khi ông viết sách Khổng Tử, trên bản thảo còn có dòng chữ “bản này sửa kĩ rồi 11/80”, hay một bản chép tay do nhà thơ Vũ Đình Liên chép lại bài thơ Ông đồ tặng một người bạn trên một tờ giấy màu hồng, nay đã phai sắc. Trên ấn bản đặc biệt của quyển sách Một chữ tình của nhà văn Hồ Biểu Chánh còn có lời đề tặng riêng cho con trai mà anh Tuệ tình cờ tìm được trong một nhà sách cũ…

Anh Tuệ nói, thú chơi này cũng lạ lắm, nhiều khi “quý mà không hiếm”. Thủ bút của nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Tuân, Hoàng Cầm… không hiếm vì bút tích của họ còn lưu lại rất nhiều. Thủ bút của nhà văn Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Văn Vĩnh, Huỳnh Thúc Kháng… được xem là hiếm, nhưng không phải là không tìm được.

Giới sưu tầm hiện đang săn lùng chữ viết của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, Hàn Mạc Tử, nhà văn Nam Cao... Cho đến nay nét bút của họ như thế nào vẫn là câu đố mà nhiều nhà sưu tầm chưa giải được, và ai cũng ước ao sẽ tìm thấy dù một “mẩu nhỏ” chữ viết của những nhà văn, nhà thơ tài danh này.

Nguyên Trang

User avatar
saulong
Posts: 114
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:02 pm

Post by saulong »

Từ "Nhẫn cỏ cho em" đến biệt danh "Vua nhạc sến"

Vương Tâm

Thật ra từ lâu, người yêu âm nhạc cả trẻ lẫn già đều biết đến nhiều ca khúc nổi tiếng của ông. Thậm chí có tới hàng triệu người thuộc những bài hát rất tình cảm và sầu muộn về tình yêu của người nhạc sĩ ẩn dật và nghèo túng này. Đó là nhạc sĩ Vinh Sử, người một thời được gọi với biệt danh "Vua nhạc sến". Cho đến nay, dù đã trải qua hơn nửa thế kỷ, nhiều bài hát của ông vẫn ngân vang trong từng ngõ xóm lao động, qua mỗi phiên chợ quê của từng vùng miền ở khắp đất nước. Ông tự nhận mình là nhạc sĩ của những người nghèo luôn mơ mộng và kể những câu chuyện buồn...

Cách đây hơn chục năm, tôi có dịp gặp nhạc sĩ Vinh Sử tại Hà Nội, khi ông tìm đến tòa soạn báo Hà Nội mới để cảm ơn mọi người vì đã cho in bài giới thiệu ông trong chuyên mục "Những bài hát được nhiều người yêu thích", nhân kỷ niệm 300 năm thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh. Ông xuất hiện khá bất ngờ với quần bò, áo thun, đầu đội mũ phớt nom khá "ngầu"; tay cầm máy camera quay từ ngoài cửa phòng vào đến tận bàn làm việc của mọi người với mong muốn lưu giữ những giây phút gặp gỡ rất thú vị này, bởi lẽ đây là lần đầu tiên ông ra Hà Nội.

Hôm đó ông đã kể cho tôi nghe khá nhiều chuyện về những bài hát mang tiếng là "sến" được phổ biến khá rộng khắp từ những năm đầu của thập niên 60 ở Sài Gòn. Đặc biệt, vào tuổi 17, ông nổi như cồn với bài hát "Nhẫn cỏ cho em". Đó là một kỷ niệm khó quên của mối tình học trò, khi chàng trai Vinh Sử ngồi im như thóc trước mặt người bạn gái xinh đẹp học cùng lớp. Cô bé ấy hồi hộp chờ Vinh Sử nói điều gì đó rất quan trọng như lời đã hẹn cả mấy ngày trước. Ấy thế rồi một chiếc nhẫn được Vinh Sử tết bằng những cọng cỏ để trao tặng cho người mình yêu thầm nhớ trộm ngày đêm. Và, chiếc nhẫn cỏ ấy đã trở thành hình tượng cho bài hát bày tỏ tình yêu của ông. Tôi hỏi "Kết cục rồi sao"? Ông bùi ngùi nói rằng: "Thế thôi, tình yêu đâu còn có ý nghĩa gì. Bởi cô gái ấy quên bẵng mọi kỷ niệm với chiếc nhẫn cỏ và xa nhau mãi mãi. Kiếp nghèo mà".

Bài hát đã trở thành hiện tượng trong giới ca hát thời đó cùng với bài "Nhành cây trứng cá" được phát liên tục trên Đài Tiếng nói Sài Gòn. Cùng lúc, mấy bài hát được in hàng trăm ngàn bản đều bán hết. Đâu đâu cũng vang lên những lời ca: "Anh nghèo nên chẳng nhẫn kim cương/ Tặng em theo sính lễ tơ hồng/ Thì đây anh trao nhẫn cỏ…".

Từ đó trở đi, chàng trai Vinh Sử cho ra đời liên tục các bài: "Người phu kéo mo cau", "Tình chỉ đẹp", "Qua ngõ nhà em", "Gái nhà nghèo", "Người về từ nghìn trùng"…Toàn những bài thổ lộ tình yêu trong mộng tưởng, yêu một bề, hoặc yêu rồi chia xa, đều do cái nghèo cả. Có lẽ đây là thời điểm trời cho nhạc sĩ trẻ lập nghiệp khi biết bày tỏ hộ không biết bao mối tình nghèo bị tan vỡ, khổ đau. Nhạc sĩ "khoe", ngay từ đầu, chỉ với một số ca khúc được phát hành với số lượng lớn, ông đã mua được ôtô, bù đắp cho những ngày tháng chân trần lang thang trên con đường mưu sinh khốn khó.

Có thể nói, nhạc sĩ trẻ Vinh Sử ngày ấy đã tạo nên một xu thế âm nhạc bình dân, chân thật và gần gũi với những người lao động vất vả. Với những giai điệu dịu dàng, đôi khi pha chút sầu muộn, thê lương, nhiều bài hát của Vinh Sử còn chiếm lĩnh tình cảm của cả giới trí thức và học sinh, sinh viên. Bởi họ, ai cũng có những nỗi niềm khó chia sẻ trong tình yêu, hôn nhân và cuộc sống thị dân. Họ cần được chia sẻ. Nhạc sĩ Vinh Sử đã làm được điều đó.

Đặc biệt, Vinh Sử còn được trời "phù hộ" khi trong làng nhạc xuất hiện một số "giọng ca vàng" đã quan tâm đến các ca khúc đầu tiên của ông. Những giọng hát ấy đã làm mê hoặc lòng người. Nỗi buồn của bài hát được nhân lên. Niềm cay đắng của tác giả thêm một lần xót xa truyền đến người nghe như xát muối trong lòng.
Image
Nhạc sĩ Vinh Sử

Sau đó, không ít ca sĩ đã vang danh từ dòng nhạc "sến" của Vinh Sử…

Có thể nói, đã có không ít nhạc sĩ bị ảnh hưởng dòng nhạc "sến" của Vinh Sử. Họ đã sáng tác nên nhiều ca khúc hay, có sức lay động lòng người. Trong những nhạc sĩ mang hơi hướng Boléro Mineur, dịu buồn, ngậm ngùi như Hoàng Thi Thơ, Anh Bằng, Trần Thiện Thanh, Châu Kỳ, Thanh Sơn, Giao Tiên… thì Vinh Sử nổi bật với vai trò tiên phong và trọn đời sáng tác theo một phong cách. Do vậy, ông có tới 500 ca khúc thì đến non nửa đều được phổ biến sâu rộng trong thị trường âm nhạc. Hàng chục bài của ông hiện nay vẫn được nhiều hãng băng đĩa sản xuất trong nhiều album.

Cách đây ít lâu, tôi có dịp vào những xóm trọ của hàng ngàn người lao động trẻ ở các khu công nghiệp ở Bình Dương, mới hay bài hát của Vinh Sử vẫn có sức phổ biến trong cộng đồng đến kỳ lạ. Nhất là bài "Nhớ quê nhà" với những lời ca rất dễ thương vang lên đây đó: "Ở quê nhà có gì vui không em?/ Chắc hôm sau, dòng nước vẫn êm đềm/ Những con đò nằm yên phơi nắng/ Khói lam chiều cao vút cánh diều lên…".

Nỗi nhớ cơn mưa ngâu. Nhớ luống ngô, vườn nhãn, lũy tre, với bao kỷ niệm qua giai điệu ngọt ngào buồn đến tê tái lòng người trong màn đêm. Hơn nữa, những bài hát của Vinh Sử còn được những ca sĩ trẻ như Chế Thanh, Thái Dương, Hồ Quang Tám, Duy Trường, Tường Nguyên… trình diễn trong nhiều đêm nhạc ở các tỉnh miền Tây Nam bộ. Họ phục vụ cho hầu hết những người lao động xa quê, với giá vé rẻ hợp túi tiền của người nghèo.

Cuộc đời của Vinh Sử dường như được thể hiện trong hàng trăm ca khúc, theo những năm tháng lao động miệt mài trong xóm ngõ của người nghèo. Ông được sinh ra và lớn lên tại khu thợ thuyền quận 4, nổi tiếng với những nhóm người "du thủ du thực" và lao động làm thuê làm mướn qua ngày. Nhạc sĩ Vinh Sử cũng lận đận với những tình duyên dang dở. Ông có tới bốn đời vợ chính thức, nhưng rồi lại vẫn một mình, ứng với tên một ca khúc của ông: "Hai bàn tay trắng".

Hiện ông ở cùng với con cháu ở khu lao động quận 7, và sống bằng nghề làm dép lốp cao su của gia đình từ trước đó. Giờ đây, đã bước sang tuổi 68, ông vẫn đi bỏ mối hàng ở các phố chợ quận 1, quận 3. Rồi đêm đêm, đây đó lại vang lên những bài hát về xóm nghèo của ông. Nỗi niềm ngậm ngùi lại tràn về trong tâm hồn cô đơn trải qua bao gió bụi, dặm trường của người nghệ sĩ nghèo. Khán giả nghe vì được ông an ủi, nghe vì được ông vỗ về sẻ chia, trong từng nỗi buồn và sự ra đi từ nghìn trùng xa cách...

Tính đến nay, đã có bài hát của nhạc sĩ Vinh Sử tồn tại tới nửa thế kỷ. Và đặc biệt, có ca sĩ hát ca khúc của ông sớm nhất thì đến nay, con trai của ca sĩ này lại tiếp tục hát những ca khúc ấy, với những cảm xúc sầu muộn và đầy sức ám ảnh của người cha truyền lại. Nếu tính số lượng bài hát mang tên Vinh Sử được thu và phát hành trong 50 năm qua, thì phải nói, ông đạt kỷ lục và xứng với danh "Vua nhạc sến". Thật là một hiện tượng kỳ lạ. Hầu hết những nơi sản xuất băng đĩa lậu đều lấy ca khúc của ông trong nhiều album theo các chủ đề về quê hương hay tình yêu. Đó là những ca khúc có sức vượt thời gian.

Hiện tại, trong khi trào lưu nhạc trẻ đang đầy những biến động theo thị trường, lúc quậy, lúc sexy, khi lại giả nai ngô ngọng, hoặc rên rỉ la hét với tình yêu dẫn tới sự bế tắc về hướng phát triển thì dòng nhạc Vinh Sử vẫn âm thầm vang lên và bền bỉ theo thời gian, trong hang cùng ngõ hẻm, quán xá của người lao động.

Giờ đây, như người phu kéo mo cau, một trò chơi kéo thuyền chở cô bé hàng xóm ngày nào chạy khắp ngõ vườn, nhạc sĩ Vinh Sử lại tiếp tục hành trình đi bỏ "mối hàng tình yêu" và cất lời ca mơ ước về một con tàu ra khơi…

VƯƠNG TÂM

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Image
Gia đình nhà văn Doãn Quốc Sỹ tại Houston , Texas , Hoa Kỳ 2009


Bác Gái, Vợ Một Nhà Văn Yêu Nước (Doãn Quốc Sỹ)
Tùy bút Phan Ni Tấn

Cuối năm 1978 từ trong một trại tù cải tạo trên cao nguyên tôi may mắn vượt ngục về tới Sài Gòn sống đúng nghĩa của một phường trôi sông lạc chợ. Hằng ngày vào những buổi trưa tôi uống nước phông-tên ngoài công viên lấy no và ăn mì quốc doanh vào những buổi chiều tối tại nhà một người bạn để cầm cự qua ngày. Ban đêm tôi đi lang thang ngủ bờ ngủ bụi ở bất cứ chỗ nào tôi cảm thấy an toàn.

Một buổi tối, chị em cô K.O, chủ quán café Banmê bên Thị Nghè có tổ chức một buổi hát chui với một số anh em văn nghệ sĩ quen biết còn sót lại ở Sài Gòn. Khoảng 9 giờ tối quán đóng cửa không tiếp khách. Sau lưng cánh cửa khóa, chúng tôi bắt đầu hát những bài tình ca đôi lứa, tình ca quê hương và những ca khúc đấu tranh, rồi vừa thưởng thức café, uống trà nóng vừa tán dốc đủ thứ chuyện trên trời dưới đất từ chuyện tiếu lâm đến chuyện vượt biên. Chúng tôi có nhắc đến nhà văn Mai Thảo, vợ chồng Nhã Ca-Trần Dạ Từ, nhà văn Nguyễn Đình Toàn, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền... Quanh bàn tròn có mặt nhà văn Nguyễn Mộng Giác, nhạc sĩ Lê Uyên Phương, anh Thanh Tuệ (nhà xuất bản An Tiêm), nhà biên khảo Lê Huy Oanh, ba họa sĩ kiêm điêu khắc gia Phạm Văn Hạng, Trương Đình Quế, Nghiêu Đề và một số anh chị khác mà tôi không còn nhớ tên.


Nửa khuya tan tuồng, lúc chia tay ra về cô Liên, con của nhà văn Doãn Quốc Sỹ vui vẻ hỏi tôi tối nay ngủ đâu, tôi cười cười nói có thể ngủ dưới chân cầu Bông (như tôi từng ngủ ngồi ở dưới đó và nhiều nơi khác; ngủ ngồi là ngủ gà ngủ gật có cái lợi là không bị chìm sâu trong giấc ngủ, lỡ có động tịnh gì cũng dễ bề thoát thân). Vợ chồng cô Liên thấy tôi tội nghiệp bèn đưa về nhà bố mẹ cô, tức ông bà Doãn Quốc Sỹ ngủ tạm qua đêm. (Mẹ của cô Liên là ái nữ của nhà thơ Tú Mỡ Hoàng Trọng Hiếu). Lúc đó nhà văn Doãn Quốc Sỹ đang bị giam ở trại giam Phan Đăng Lưu vì tội yêu nước và bị ghép vào thành phần "những tên biệt kích văn hóa" phản động.

Đã 33 năm qua rồi tôi vẫn còn nhớ như in đêm tôi nằm co trên bộ salon màu huyết dụ trong phòng khách của Doãn gia. Trong khoảng không gian mờ tối tôi nhận ra bức tranh mộc bản Cây Tổ của họa sĩ Võ Đình khắc tặng nhà văn Doãn Quốc Sỹ treo trên vách đối diện. Bức tranh khắc cảnh con trâu bị chém treo ngành treo trên cây Tổ, bên cạnh một người dàn ông cụt chân chống nạn, con mắt long lên một ánh nhìn dữ dội. (Họa sĩ Võ Đình mất ngày 31-05-2009 tại Florida, Hoa Kỳ).


Từ ngày du thủ du thực chưa có đêm nào tôi được ngủ yên và ngon giấc như đêm dưới mái ấm Doãn gia. Chỉ một đêm thôi và suốt đời tôi sẽ chẳng bao giờ còn có thể tìm lại một đêm ấm áp tình người nào khác. Thật ra nhiều tháng trước đó, một buổi tối tôi có ghé qua Doãn gia cùng các em trong gia đình đàn hát những sáng tác vừa cũ vừa mới của tôi đến khuya mới ra về (chẳng biết về đâu). Chắc ảnh hưởng đến tiếng tăm và sĩ khí của bố Sỹ nên cả nhà từ lớn chí bé đều một lòng hào sãng, cương trực và rất có tinh thần văn nghệ.

Buổi sáng thức dậy tôi cúi đầu chào bác gái đang cùng Th. (thường gọi là chị hai) từ trên gác bước xuống. Vẻ mặt tươi tắn và ánh nhìn hiền từ của bác gái, bên cạnh dáng dấp thanh nhã, dịu dàng của Th. làm lòng tôi óng lên một niềm vui. Đúng lúc đó cái cô út ít nhỏ xíu trong nhà tự nhiên xẹt tới đứng trước mặt tôi đưa mắt nhìn một cái rồi te rẹt bước ra sau bếp, mất dạng. Cái nhìn dò hỏi đầy thơ ngây của cô út H. cho đến tận ngày nay tôi có cảm tưởng như ánh nhìn đó vẫn không chịu tắt trong tôi. Cô út dễ thương này coi bộ cũng đang cùng chàng trai tuấn tú nào đó ở đâu tuốt bên Hòa Lan nôn nả nắm tay nhau đi trên con đường tươi thắm. Sau đó chú em D.Q.Th. hoan hỉ kéo tôi ra quán cốc café ở đầu hẻm Thành Thái đãi một ly café đen đá ngon hết biết, ngon nhớ đời.

Cho tới bây giờ đã 33 năm ròng rã trôi qua lòng tôi vẫn chật ních một mái ấm của Doãn gia, của bộ salon màu huyết dụ, của những ánh nhìn trìu mến, của ly café đậm đà tình người. Và từ lâu lắm, hình như từ cái thuở tôi chào từ giã Doãn gia ra đi mà suốt đời cũng không có dịp quay lại, tôi vẫn âm thầm chịu ơn những tấm lòng nhân ái này. Chịu ơn nhưng không biết làm sao mà trả ơn, hôm nay tôi viết xuống những lời lẽ này như một cách để ghi khắc trong lòng một người vừa mới qua đời, một người đàn bà già Việt Nam đúng nghĩa mẫu mực, đôn hậu, một người mà tôi vẫn âm thầm coi bà như là Mẹ của tôi. Ngày bà mất tôi cũng khóc lên một tiếng.


Bà Doãn Quốc Sỹ, nhủ danh Hoàng Thị Thảo, pháp danh Diệu Thảo sinh ngày 05 tháng 05 năm 1925 tại Hà Nội. Thất lộc ngày 08 tháng 09 năm 2011 tại Houston, Texas, Hoa Kỳ. Hưởng thọ 86 tuổi.

Dưới đây là lời bản nhạc quen thuộc của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ phổ từ thơ của nhà sư Nhất Hạnh. Mời đoc.........
Bông hồng cài áo

Một bông Hồng cho anh
Và một bông Hồng cho những ai ...
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn
Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi
Như đóa hoa không mặt trời
Như trẻ thơ không nụ cười
Ngỡ đời mình không lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm

Mẹ, Mẹ là giòng suối dịu hiền
Mẹ, Mẹ là bài hát thần tiên
Là bóng mát trên cao
Là mắt sáng trăng sao
Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối

Mẹ, Mẹ là lọn mía ngọt ngào
Mẹ, Mẹ là nải chuối buồng cau
Là tiếng dế đêm thâu
Là nắng ấm nương dâu
Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời

Rồi một chiều nào đó anh về
Nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu
Rồi nói, nói với Mẹ rằng
"Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không ?
" Biết gì ? "Biết là, biết là con thương Mẹ không ?"

Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em
Thì xin anh, thì xin em Hãy cùng tôi vui sướng đi ........

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Image

Phỏng vấn nhà văn Văn Quang
Nhà văn Văn Quang sinh năm 1933 tại Thái Bình. Tốt nghiệp Khóa 4 Sĩ Quan trừ bị Thủ Đức, sau đó phục vụ trong ngành Tâm Lý Chiến. Đã một thời làm Quản Đốc Đài phát thanh Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà. Cấp bậc Trung Tá.
Tác phẩm đã xuất bản: Ngàn Năm Mây Bay, Những Tâm Hồn Nổi Loạn, Nét Môi Cuồng Vọng, Đời Chưa Trang Điểm, Tiếng Gọi Của Đêm Tối, Tiếng Hát Học Trò, Vì Sao Cô Độc, Người Yêu Của Lính... Các phẩm Nguyệṭ Áo Đỏ (1963). Chân Trời Tím (1964) được Liên Ảnh quay thành phim, tạo nên tên tuổi nhà văn ở Miền Nam thời bấy giờ.

Sau tháng 4 năm 1975, ông trải qua nhiều năm tù ở K 5 Vĩnh Phú và K 2 thuộc Z 30 tại Hàm Tân. Ra khỏi tù Văn Quang không tị nạn sang Hoa Kỳ theo diện HO như hầu hết các tù nhân chính trị khác. Năm 2002, ông rời bỏ Sài Gòn và dọn lên Lộc Ninh sinh sống. Ở đấy hàng tuần, Văn Quang cho ra loạt ký sự "Lẩm Cẩm Saigòn Thiên Hạ Sự", và chỉ gửi ra cho các báo Việt Nam ở hải ngoại. Loạt bài này rất được độc giả hải ngoại ưu ái đón nhận.


Lê Thị Huệ: Ông có thể mô tả cho độc giả gio-o nghe về nơi chốn ông đang làm việc. Có máy computer, có internet, có cây xanh đất đỏ mùi quê, cảm xúc cô độc và không cô độc ?
Văn Quang: Trước khi quyết định chọn một nơi nào đó làm chỗ sinh sống, chắc chắn người nào cũng phải cân nhắc xem nơi đó có những điều kiện gì, có thích hợp với cuộc sống và công việc của mình không. Tôi cũng phải làm như thế. Khi tôi đến Lộc Ninh, được dẫn vào một khu nhà vườn cách thị trấn 3 cây số, ở đây đã có điện, nước, có đường truyền internet rồi. Đó là 3 điều kiện đáp ứng được nhu cầu của tôi. Thứ đến là điều kiện an ninh như thế nào. Sau cùng là khung cảnh yên tĩnh, bởi nơi này một nửa là thôn ấp, một nửa là vùng đồi núi. Song, tất cả lại phải tùy thuộc vào giá cả. Vậy nên nó trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu. Tôi đã đi xem đất ở một số thị trấn như Long Khánh, Chơn Thành… cuối cùng kết luận là không nơi nào có giá đất vườn rẻ hơn Lộc Ninh.

Ở ngay thị trấn LN, giá đất khá cao, tôi lui vào xã Lộc Thái, một nơi “nhà không số, phố không tên”. Tuy nhiên đã có sẵn con đường làng, trải nhựa, dẫn vào tận nhà, có đèn đường, có điện, xài nước giếng khoan. Đường truyền internet hồi đó là dial up chạy tành tạch, chậm, nhưng vẫn có thể làm việc được. Cách đây một năm mới có đường dây ADSL khá nhanh, nhưng có lẽ chỉ mắc đến xã của tôi ở là xa nhất so với khu trung tâm thị trấn.

Căn nhà vườn này của người chủ cũ, trồng tiêu lâu ngày, nay con cái lớn nên muốn về Sài Gòn cho con đi học. Vả lại trồng tiêu cũng không còn có lời như xưa nữa nên họ bán lại toàn bộ diện tích nhà vườn với 5.400m2. Trong đó có sẵn một số cây ăn trái, một cái nhà gỗ, dụng cụ làm vườn, bơm nước… Nếu mua có thể ở và khai thác ngay. Giá cả lại rất rẻ. Tất cả 165 triệu đồng VN (10 ngàn USD).

Đến nay, giá đất ở thôn xã này cũng không đắt hơn bao nhiêu. Nhưng theo tôi biết, giá đất vườn ở đây rẻ hơn tất cả những nơi khác. Nếu Gio-O muốn mua, hoặc bất cứ độc giả nào muốn mua, tôi xin tìm giùm, cam đoan không biết làm “cò”, không mất hoa hồng, tôi chỉ muốn thông báo tin này và muốn có thêm hàng xóm cũng như mình. Tuy nhiên cũng cần nói thêm là nơi này chỉ thích hợp cho những vị muốn “dưỡng già”, muốn tìm một chỗ yên tĩnh, an ninh, thảnh thơi. Hầu như không thể làm ăn buôn bán gì được. Nhưng nhà vườn thì không bao giờ chết đói và cũng chẳng bao giờ giàu được. Cuộc sống thanh đạm, yên bình.

Lộc Ninh là một thị trấn bị bao vây bởi những lô cao sư từ xa xưa, hiện nay chưa phát triển được hoặc không thể phát triển được, nên cũng rất ít tệ nạn xã hội. Không thể nói không có trộm cắp, nhưng rất ít và cũng không có những vụ thanh toán ly kỳ. Hơn 2 năm nay, tôi chưa hề thấy một vụ “trấn lột” giữa đường nào như ở các thị trấn phát triển ồ ạt khác. Cứ 7 giờ tối là con đường trước mặt nhà tôi không còn ai qua lại, không một tiếng xe, không một tiếng người. Khoảng 9 giờ tối là thôn xóm vắng ngắt, mọi nhà tắt đèn ngủ sớm, cứ như khuya khoắt lắm rồi, chỉ có những ngọn đèn đường còn thức với những vườn cây, ao cá um tùm ngút ngàn.

Nghe thì có vẻ như xa lắm, nhưng thật ra Lộc Ninh cách Sài Gòn 123 cây số - vừa bằng đường ra Vũng Tàu. Nếu đường sửa xong, đi xe hơi chỉ mất khoảng 2 giờ. Hiện nay, Quốc lộ 13 đang sửa nên từ Sài Gòn đi, khoảng 3 tiếng là đến nơi.

Có 2 lý do chính tôi chọn Lộc Ninh

Thứ nhất: Ngoài yếu tố tất nhiên là giá đất rất rẻ như tôi đã nói ở trên. Với số tuổi của tôi, không còn thích hợp với đời sống ở thành phố nữa. Cái chung cư tôi ở Sài Gòn, như cái tổ chim, suốt ngày ồn ào, ngột ngạt, ô nhiễm năng nề. Làm việc chừng vài tiếng đã thấy mỏi mệt, rã rời, đầu nhức, mắt hoa. Thuốc nhức đầu, cảm cúm như cơm bữa đối với tôi. Do đó tôi quyết định phải chọn một vùng quê yên tĩnh cho cuối đời. Cái khúc quanh này trong cuộc sống quả là có khó khăn, quyết định thực hiện được với mỗi người không dễ dàng. Song tôi vẫn phải cố gắng vượt qua nó như đã từng vượt qua những khó khăn hơn thế. Lần này thì dễ dàng hơn vì nhà chỉ có 2 người, bàn bạc với nhau là xong. Tôi cũng xin nói thêm là nhờ bạn bè giúp đỡ khá nhiều, con cháu tôi cũng góp phần cho tôi có đủ điều kiện thực hiện ước muốn. “Rách” như ông Hoàng Ngọc Liên hồi đó cũng “khuyến khích” tôi bằng 1000 USD, bố con ông Tạ Quang Khôi, Vũ Đức Vinh, Hà Túc Đạo, Nhất Giang, Vi Túy, Hồ Ông, Lê Thị Kim, Bạch Quyên, Hồng Oanh cũng góp phần không nhỏ cho tôi “về nhà mới”. Hầu như tất cả những tiện nghi trong nhà tôi ở đây đều do bạn bè tặng.

Thứ hai: Tôi vẫn nghĩ: một nhà văn, nhà báo, phải biết “làm mới mình”. Ở thành phố mãi, đề tài quen thuộc sẽ cùn dần. Quay đi quay lại “nó vẫn thế”. Về nhà quê, có lẽ là cách tốt nhất để “làm mới” mình. Nơi này từ năm 1972, người dân Lộc Ninh đã sống trong vùng được gọi là “giải phóng”, nói thẳng ra là họ sống trong vùng của miền Bắc kiểm soát nhiều hơn, dưới cái tên “Mặït trận Giải Phóng miền Nam”. Bên cạnh đó là chiến trường đẫm máu An Lộc, Bình Long năm 75 và những vùng nghèo khó, giáp ranh biên giới Campuchia… Tôi có thể tìm hiểu được thực chất đời sống cùng tâm tư của họ. Người dân quê đã mất gì, được gì, từ năm 1975 đến nay? Đích thực họ nghĩ gì, làm gì, hy vọng gì? Những biến chuyển sâu sắc nhất trong từng gia đình như thế nào? Từ đó so sánh với cuộc sống ở những thành phố, từ đó tìm biết được những mảnh đời khác với những gì tôi đã biết. Từ đó cho tôi một cái nhìn sâu hơn, xa hơn, thật hơn, về toàn bộ những gì dân tộc mình qua những triều đại mà tôi đã sống.

Còn nói về sự cô đơn: Phải thú nhận rằng đôi khi cũng cảm thấy thiếu trò giải trí chứ chưa hẳn là cô đơn. Ở đây không có một thú vui nào, không có một phòng trà ca nhạc, không có một tiệm karaoke và cũng chẳng có một quán cà phê có nhiều “bóng hồng chiều chuộng”. Hàng xóm toàn là những ông già, chất phác, chân thật, năm thì mười họa mới sang nhà nhau một lần. Đôi khi gặp nhau trong một đám hiếu hỷ, chuyện trò rôm rả, nhưng toàn là thứ chuyện mình mù tịt. Ngồi im mà học cách họ chăm bón cây ăn trái, mỗi cây có một cách chăm sóc riêng. Muốn có một cây đu đủ đực thì phải làm thế nào. Muốn dừa ngọt thì phải làm gì… Đại khái như thế.

Tuy nhiên, đôi khi lại thấy thích thú vì sự cô đơn ấy. Được “tự do” suy nghĩ cả buổi mà không ai thèm nói với mình câu nào. Và để làm dịu bớt cô đơn, nhớ bạn bè hoặc có bạn bè, con cái từ nước ngoài về thăm, tặng quà cho anh em TPB VNCH thì lại lên xe đò về Sài Gòn một vài ngày, hoặc nếu muốn, có thể sáng đi chiều về cũng chẳng sao. Ở đây có loại xe đưa đón tận nhà, giá chỉ có 50 ngàn đồng VN một lượt. Hoặc ngồi buồn, gọi điện thoại qua internet nói chuyện với các ông bạn ở Mỹ, ở Canada, ở Úc… nhanh như điện thoại di động, rõ và rẻ hơn di động. 60 ngàn đồng VN, nói chuyện được 200 phút. Có khi cả tháng tôi chưa dùng hết một card điện thoại internet. Trong hơn 2 năm qua, bạn bè và con cháu tôi từ nước ngoài về VN, lên chơi Lộc Ninh cũng khá nhiều. Như thế thì không còn cô đơn nữa và luôn quyết định được thời gian của mình.

Tôi nghĩ “quỹ thời gian” của mình cũng chẳng còn nhiều. Một người bạn tôi, anh Nguyễn Đình Toàn, từ Cali về chơi, nói đùa “nhà này chỉ còn thiếu bốn chữ “Văn Quang chi mộ” nữa là hoàn hảo. Tôi nghĩ ngày đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Vui vẻ chấp nhận nó với cuộc sống hiện tại.

Lê Thị Huệ: Tại sao ông lại chọn lối viết "Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự" . Qua cách viết này, ông viết rất sung sức, rất khoẻ, rất bén nhạy. Tại sao ông không chọn lối sáng tác tiểu thuyết như trước 1975

Văn Quang: Về câu hỏi thứ hai, tôi chọn lối viết “lẩm cẩm Sài Gòn thiên hạ sự” bởi mỗi đề tài, tôi chọn một lối viết khác để độc giả dễ dàng chia sẻ những cảm xúc, những ý tưởng của mình. Trước đây tôi cũng thường viết nhiều loại. Tiểu thuyết, tiểu thuyết phóng sự, phóng sự, truyện ngắn. Tiểu thuyết để diễn tả những đề tài về nội tâm, sâu sắc hơn, về tính thời đại chứ không phải thời sự. Tính thời đại có thể nói về những sự việc, những tâm trạng, những hình ảnh cách đó 5- 10 năm. Nhưng thời sự thì chỉ diễn tả những sự kiện xảy ra gần nhất trong tuần hoặc trong tháng.

“Lẩm cẩm” là một lối viết có tính thời sự. Bởi tính cách “đặc thù” của thời hiện tại nơi tôi đang sống, nên buộc phải viết theo một cách nào đó để không bị gây phiền lụy. Tôi “xông” vào những đề tài xã hội “nóng” nhất, có tính điển hình nhất mà người dân đang chú ý. Một nhu cầu khác nữa là hướng đến độc giả hải ngoại, đang quan tâm tới điều gì? Nói cho rõ hơn, Việt kiều của chúng ta đang muốn biết điều gì đang xảy ra tại quê hương mình. Chắc ai cũng muốn có những thông tin chính xác, không bị vo tròn bóp méo bởi bất cứ lý do nào, đôi khi chỉ là sự “tam sao thất bản” nên thông tin thiếu độ trung thực. Tôi chọn lọc những sự kiện ấy, tìm kiếm thông tin chi tiết và làm thế nào càng chính xác được càng tốt. Nó không phải là một bản tin thuần túy mà đưa vào những nhận định, quan điểm của riêng mình như một lời bàn bạc, nói chuyện với độc giả một cách bình thường chứ không là lý luận. Từ đó bạn đọc có thể hiểu rõ vấn đề hơn và có thể suy luận, nhận định riêng. Do đó, người ở xa quê hương, vẫn có thể biết rõ những sự việc xảy ra tại quê nhà.

Tuy nhiên như chị đã thấy, “lẩm cẩm Sài Gòn” không chỉ là những chuyện lẩm cẩm. Nó có cả những mặt trái, mặt phải của xã hội, chuyện khôi hài và chuyện đau thương, những bản tường trình thẳng thắn vượt qua mọi áp lực. Miễn là chuyện xảy ra có thật. Cái nhìn xoáy về phía sau những sự việc đã và đang xảy ra chứ không phải chỉ có “bề mặt” sự việc, tôi nghĩ đó mới thực sự cần thiết cho bạn đọc ở nước ngoài vốn không có nhiều thì giờ theo dõi.

Tóm lại, “lẩm cẩm Sài Gòn thiên hạ sự”, nếu tổng kết lại, nó sẽ là một bức tranh toàn cảnh của xã hội tôi đang sống. Nó phản ảnh được trung thực mọi vấn đề ở bề mặt đời sống của người dân thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội. Từ một anh nông dân “lừa được cả nước” đến một đại gia lương thiện và bất luơng, từ lớp thanh niên đến các quan chức, từ cô gái tỉnh lẻ đến các cô gái chân dài thành thị. Từ nỗi đau thương cơ cực của “những người bị bỏ quên” như anh em thương phế binh VNCH đến những cảnh trác táng cùng cực, hoang phí vô cùng của lớp người ăn trên ngồi trước… Cái khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, những điều phi lý bất công, những điều cần nói mà người dân không nói được…

Tất nhiên, trong hoàn cảnh của tôi, có những hạn chế mà ai cũng hiểu được. Cho nên viết và “lách” vẫn là điều phải nghĩ tới. Tôi làm cái gì mà luật không cho phép cũng không cấm. Tôi làm với lương tâm của một người cầm bút. Dù ở đây chẳng ai công nhận, tôi vẫn là người cầm bút. Người làm báo có thẻ làm báo, nhưng tôi chẳng có gì ngoài những tìm tòi của mình, tự mình lựa chọn thông tin. Còn những “rủi ro” bao giờ tới và tới lúc nào, đành chấp nhận như một số phận an bài. Nếu cứ nghĩ tới những thứ đó thì chẳng làm được việc gì đáng làm. Tôi không tham gia bất kỳ tổ chức nào, tôi không thích “làm chính trị” như bản tính tôi từ xưa tới nay. Tôi chỉ biết cầm bút, độc lập và hành xử theo tiếng gọi của lương tri.

Mặt khác, tôi cũng không quên viết tiểu thuyết hoặc tiểu thuyết phóng sự. Tiểu thuyết tôi dành cho những đề tài thuộc về tâm tư, tình cảm sâu sắc hơn. Như “chân trời tím” trước những năm 75 và sau khi đi tù cải tạo về, tôi đã hoàn thành “Ngã tư hoàng hôn” vào năm 1990. Đó là một thời kỳ “nửa đóng nửa mở” cánh cửa sắt. Hoặc trước kia, phóng sự tiểu thuyết “những ngày hoa mộng” đăng trên báo Kịch Ảnh, “Sài Gòn tốc” đăng trên nhật báo Chính Luận những năm 60-70. Gần đây nhất là tiểu thuyết phóng sự “Lên đời” về “mặt nổi” những khung cảnh nháo nhác giữa Sài Gòn - Hà Nội của cái cảnh “đổi đời” rất đặc trưng của những nhà “tư sản mới” trong xã hội Việt Nam. Nó được hình thành như thế nào, bắt đầu từ đâu và sự cấu kết “thâm cung bí sử” cùng với cánh giang hồ khét tiếng một thời. Tôi nghĩ đó cũng là hình ảnh sống động nhất của một giai đoạn lịch sử trong xã hội Việt Nam. Đó là “thiên chức” của người cầm bút, chứ không phải viết lia viết lịa, viết “văng tê bạt mạng” mà chẳng nói được điều gì đáng nói.

Có những đề tài trong phạm vi cuộc sống tâm tư, tình cảm của những thành thị cũng như nông thôn, tôi dành để viết tiểu thuyết. Như một cô gái tỉnh lẻ trong thời đại này đã và đang sống như thế nào, ước vọng thầm kín nhất của họ là gì? Tiến tới một “xã hội công bằng giàu đẹp” như khẩu hiệu hay một cái gì khác? Lớp “đại gia” và lớp nông dân khác nhau như thế nào? Cái khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ước chừng bao xa? Nền kinh tế phát triển mang lại lợi ích thiết thực gì cho mọi con người. Cái gì đang phá sản và cái mới đang hình thành trong con người như thế nào? Trước hết phải là trong tận cùng ý thức, nó có tính quyết định cho toàn xã hội. Nếu không mọi sự chỉ là giả tạo. Vấn đề khá tế nhị và sâu sắc nên tôi viết tiểu thuyết hoặc tiểu thuyết phóng sự là thích hợp. Thật ra đề tài tôi đang hướng tới là sự tiếp nối của “lên đời”, nhưng chú trọng vào chiều sâu. Nhiều độc giả cho tôi biết “lên đời” vẫn còn thiếu một cái gì đó, chưa tròn vai. Nhận xét đó rất đúng. Đó cũng là dụng ý của tôi. Một cuốn truyện đã lên tới 100 kỳ, hơn 1500 trang A4, đã là quá dài. Đề tài sẽ tiếp tục dưới một dạng khác. Có thể ví von như “Lên Đời” chỉ là cái áo mới của cô dâu, cái “mặt nổi” của thời cuộc. Tiểu thuyết tiếp theo sau là những rung động, những biến chuyển tâm lý của sự thay đổi từ đêm tân hôn và trở thành thiếu phụ.. Nhưng quá bận rộn với những công việc khác nên chỉ có thể hoàn thành trong một vài tháng sắp tới.

Tôi hy vọng trả lời như thế cũng là tạm đầy đủ cho những điều độc giả Gio- O muốn biết về cách viết của tôi. Mỗi đề tài thích hợp với một lối diễn tả. “Lẩm Cẩm” là một tổng hợp về những tin tức thời sự “nóng”, những điều trông thấy và những dư luận cùng quan điểm của người viết. Làm thế nào để người đọc dễ dàng chia sẻ được với những gì mình muốn nói.
Lê Thị Huệ: Hình như trước 1975, ông chuyên viết "phơi tông" cho các báo Sài Gòn.

Văn Quang: Đúng là những năm trước 1975, tôi thường xuyên viết feuilleton cho các nhật báo và tuần báo ở Sài Gòn như tôi đã trả lời ở phần trên.
Lê Thị Huệ: Những tiểu thuyết của ông ngày trước có những cái tên rất lãng đãng như "Nguyệt Áo Đỏ", "Chân Trời Tím", "Tiếng Hát Học Trò", tại sao ông lại thích đặt những cái tựa như thế

Văn Quang: Những cái tên … lãng đãng như “Chân trời tím”, “Tiếng hát học trò”, “Nguyệt áo đỏ…” như chị hỏi, bởi hồi đó tôi còn trẻ, và bây giờ nhìn lại cũng thấy… hơi ngây thơ, mơ mộng nên nó “lãng đãng” như chính cái tên tiểu thuyết vậy. Mỗi lần đặt tên cho một cuốn tiểu thuyết hoặc bất kỳ một truyện nào của mình cũng không giản gị đâu. Làm sao cho “nó” thể hiện đúng đề tài mà không “khô cứng” như một cuốn lý luận, không sa đà, không gây “sốc”. Tôi chắc nhiều nhà văn cũng gặp tình cảnh này. Có khi nghĩ nát óc cũng chẳng ra, có khi bỗng dưng nó “bật” ra lúc nào không hay. Cũng như lúc này, cuốn tiểu thuyết tôi đang viết cứ “dùng dằng nửa ở nửa về” với những cái tên. Thí dụ “phá sản” thì quá “khô” và cứ như có màu sắc “chính trị chính em”, cái tên “cô gái tỉnh lẻ” lại có vẻ “lãng đãng” như chị nói và không phản ảnh được bao quát vấn đề muốn diễn tả. Tôi muốn lấy hình ảnh về những thăng trầm, biến chuyển của cuộc đời một cô gái tỉnh lẻ đến những hoạt động về nhiều mặt của nhân vật làm tượng trưng cho những vấn đề xã hội “nóng nhất” đang diễn ra công khai hoặc âm thầm. Thật ra những con người đó là đa số trong xã hội bây giờ, là hơi thở của thời đại. Tên truyện chỉ là phụ, song không kém phần quan trọng. Tìm được một cái tên truyện thật khó khăn đối với tôi. Thú thật là có khi phải tạm bằng lòng với cái tên chưa hoàn toàn thích thú.
Lê Thị Huệ: Ông bị đi tù một thời gian dài sau 1975. Ông có thể nói gì về điều này ở đây và bây giờ chăng ?

Văn Quang: Có rất nhiều điều đáng nói về những ngày tháng trong nhà tù. Và cũng đã có rất nhiều những cuốn sách viết về chuyện này rồi. Nhiều chi tiết đã được trình bày cụ thể. Vì thế, lúc này tôi nghĩ ở vào vị trí của tôi, nên chuyên tâm về những vấn đề xã hội hiện tại mà tôi đang có điều kiện tìm hiểu tường tận hơn các bạn khác. Tôi chỉ có thể nói là nhà tù vẫn là nhà tù, không có chuyện cải tạo gì ở đây. Điều này tôi cũng đã viết trong “ngã tư hoàng hôn”. Một lúc nào đó, nếu còn thì giờ, có thể tôi sẽ viết lại toàn bộ những sự thật mà tôi đã được chứng kiến.
Lê Thị Huệ: Ông từng là nhà văn quân đội ở Miền Nam, ông có so sánh nào cho nền văn chương quân đội của hai miền Nam Bắc trong thời chiến?

Văn Quang: Nói về văn chương quân đội giữa hai miền Nam Bắc có lẽ hơi quá tổng quát. Nhưng sự khác biệt căn bản vẫn là mang tính văn học nói chung. Một bên, dù anh là thành phần nào khi hoạt động văn hóa đều phải đi theo một đường lối chung, không thể khác được. Do đó người viết dù ở trong hay ngoài quân đội cũng thế thôi. Họ quan niệm văn hóa là tuyên truyền giáo dục quần chúng nhân dân (trong đó có cả quân đội) thực hiện một chủ trương chính sách trong một giai đoạn nào đó. Còn ở miền Nam thì những nhà văn quân đội không bị lệ thuộc bởi bất cứ điều gì. Tôi làm ở Tổng cục chiến tranh chính trị rất lâu, nhưng chưa hề thấy một “chỉ thị” nào cho những quân nhân viết văn. Họ được tự do sáng tác theo cảm hứng của mình về mọi mặt trong đời sống. Những nhà văn xuất thân từ quân đội hay hơn nữa là từ những chiến trường như Nguyễn Đạt Thịnh, Phan Nhật Nam, Huy Phương, Thế Hoài, Phạm Huấn… viết những gì họ đã trải qua. Hoặc như Mai Trung Tĩnh, Vương Đức Lệ, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng cứ việc làm thơ tình, lãng mạn, không cần Tây Tiến hay Nam Tiến. Cho nên so sánh hai nền văn hóa quân đội giữa hai miền như thế tôi cho là khập khiễng, nên tôi không thể so sánh được.
Lê Thị Huệ: Ông đã từng tiểu thuyết hoá dày cộm những người lính thành phố Sài Gòn trước 1975. Bây giờ nhìn lại ông có thấy là trật búa hay OK ?

Văn Quang: Tiểu thuyết hóa những người lính không phải là “thần thánh hóa” những người lính. Chị đọc lại “Chân trời tím” và “Người yêu của lính” sẽ thấy tôi tiểu thuyết hoá đời thường của họ. Người lính không đi tu, không là “người con trai khác với những người con trai không đi lính”. Ngoài cuộc sống chiến đấu, ngoài tình đồng đội, họ có cuộc sống của mình. Cũng yêu thương, ghen hờn, lãng mạn như những ghệ sĩ chính hiệu. Nói cách khác, tôi diễn tả rõ hơn, tỉ mỉ hơn về cuộc đời quân ngũ. Không phải tất cả đều tình nguyện đi lính, có những người “bị động viên” hoặc được đồng hóa. Nhưng tình đồng đội đã làm họ thay đổi quan niệm, ý chí chiến đấu đã tô đậm lý tưởng yêu nước của họ. Vì thế họ trở thành một khối vững chắc cho đến tận ngày nay. Tại sao tôi lại thấy “trật búa” được? Tôi vẫn cho là tôi đã làm đúng, làm được những gì tôi cần làm. Một điều cần nhấn mạnh, đó là xuất phát từ những rung động chân thành của tôi sau những ngày tháng làm phóng viên thời kỳ chiến tranh ác liệt đầu tiên, qua một số chiến trường thời đó, không vì một chỉ thị nào, một lý do chính trị nào.
Lê Thị Huệ: Nếu cuộc đời biến thành những chương tiểu thuyết. Hãy thử nói về cuộc đời như là những chương tiểu thuyết. Cái chết nào cũng là một cái chết. Cái chết của Miền Nam là một cái chết tức tưởi nhưng nó có cái đẹp tuyệt vời của một cái chết tức tưởi. Ông nghĩ đấy là một bất hạnh hay là một may mắn

Văn Quang: Cái chết của miền Nam, như chị nói, tôi đã có nhiều thời gian gậm nhấm nó trong tù và ngoài đời, sau khi ở nhà tù ra. Tôi thường nghĩ, chẳng ai muốn tự tử cả. Cái chết bất đắc dĩ được báo trước đó không do miền Nam tạo ra. Người bạn “đồng minh thân thiết” của chúng tôi bỏ bạn, trong khi đối phương có tới 6 nước vẫn trung thành tiếp súng đạn thì “sáu thằng đánh một chẳng chột cũng què”. Và những “panic” từ Huế đến Pleiku, Đà Nẵng, Nha Trang, Bình thuận vào đến TP. Sài Gòn đều do người bạn đồng minh của chúng tôi tạo ra. Gây hoảng loạn khắp nơi để tẩu thoát như một ván cờ thua. Điều đó rõ như ban ngày. Tôi so sánh với cuộc rút lui của quân đội Pháp sau khi ký hiệp định Geneve, dù sao thì mọi tổ chức cũng chu đáo hơn, có tình có lý hơn, nhân đạo hơn. Nếu người Mỹ vẫn tuyên truyền rằng “cộng sản chiếm được miền Nam thì Sài Gòn sẽ là một biển máu”. Vậy mà họ đã để lại chúng tôi bơi trong cái biển máu ấy, sau khi bí mật bắt tay đối phương. Có thể coi họ là đồng minh được không?

Vậy thì cái chết của miền Nam chỉ có thể coi là bất hạnh. Một kinh nghiệm cho những ai còn nuôi mộng lãnh đạo đất nước này.
Lê Thị Huệ: So sánh đời sống của ông bây giờ với đời sống trước năm 1975, ông phát biểu như thế nào. Tôi hỏi ông câu này với một thái độ rất trân trọng, vì ông là một tác giả hiếm hoi, ông sống sót và sống qua những giai đoạn khốc liệt ấy, mà vẫn viết với cái tên Văn Quang. Một Văn Quang lừng lững không thoả hiệp. Hình như ông là 1 tác giả độc nhất vô nhị viết và viết được trong cái thế sống vô cùng chênh vênh ấy

Văn Quang: Thật ra ngay từ đầu, khi trả lời lá thư của Gio-O tôi đã thành thật thưa rằng “không thích nói về mình”. Nếu cần nói thì có rất nhiều điều phải nói, phải trả lời. Một người cầm bút nên để độc giả phán xét về mình hơn là những gì mình tự nói hoặc bị kẻ thù xuyên tạc.

Xin cảm ơn về những nhận xét của Gio-O dành cho riêng tôi. Vâng, tôi sống như vậy đấy. Chẳng có gì phải che giấu, chẳng có gì phải khiếp sợ nữa. Còn gì nữa đâu mà khiếp sợ và tôi không làm điếu gì xấu, không “phá hoại”… thì cứ lừng lững mà làm. “Danh chính ngôn thuận” và “đường ta ta cứ đi”. Cái gì có thật thì tôi viết. Không bới móc lung tung, không phao tin đồn nhảm. Quyền phê phán là của người dân. Quyền bất bình cũng là của người dân về những điều có thật đã và đang xảy ra.

Cũng có một số người viết như tôi đang có mặt ở miền Nam như Nguyễn Thụy Long, Đoàn Dự, Hàm Anh… và một số người không ký tên rõ rệt như người Tân Định, Người Sài Gòn… Và còn cả những người viết không thường xuyên, thỉnh thoảng mới có một vài bài. Những anh em đó cũng là những cây bút hoàn toàn độc lập. Mỗi người có một cách viết, cách lựa chọn đền tài và mức độ khác nhau. Chúng tôi có gặp nhau như những người bạn bình thường, nhưng không thảo luận về những gì mình sẽ viết. Do đó đôi khi có những đề tài trùng hợp, song mỗi người nhìn theo quan điểm của riêng mình. Được độc giả đón nhận như thế nào lại là chuyện khác. Có cố gắng tìm cách “ngoi lên” cũng chẳng được. Cách tốt hơn hết là cứ thành thật với chính mình, cứ thảnh thơi mà làm được việc mình muốn làm. Như tôi đã nói ở trên, sẵn sàng chấp nhận điều “rủi ro” sẽ đến vào bất kỳ lúc nào. Chấp nhận cả đòn hiểm của kẻ thù, của những kẻ đố kỵ, ghen ghét sảng. Cứ lo nghĩ đến nó thì thà xếp quách computer lại hoặc chỉ để ngồi chơi games, chơi “meo” cho xong. Xin tiền con hay đi đánh vi tính, làm lay-out thuê cũng đủ sống.

Có thể nói tôi đã tập được thói quen, không còn ngồi đó tiếc nuối dĩ vãng. Thời gian không bao giờ trở lại được. Tôi bằng lòng và thích ứng với những gì tôi đang có. Trước kia sống sung sướng hay bây giờ, tôi cũng chẳng biết nữa. Một điều đáng nói là không thể quên những người bạn cũ, dù còn sống ở bên kia hay đã mất. Đôi lúc ngơ ngẩn chỉ vì những thứ đó thôi.
Lê Thị Huệ: Một cách công bằng, ông có nhận xét gì về nền sáng tác Miền Nam 1955-1975.

Văn Quang: Về những sáng tác từ ở miền Nam từ 55-đến 75, tôi cho đó là thời kỳ sung sức nhất của những sáng tác của văn học Việt Nam từ trước tới nay. Kể cả về số chất lượng cũng như chất lượng, những vị đàn anh lớn tuổi cũng như những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ… mới xuất hiện. Một số tác phẩm văn học khổng lồ đã được trình diện, một số báo chí về mọi mặt từ trình độ cao đến bình dân đua nhau tự do cạnh tranh. Một số ca khúc trở thành “bất tử” dù cho nó đã bị khai tử nhiều lần. Cho đến bây giờ ở Việt Nam, rất nhiều tác phẩm từ thời đó vẫn còn nguyên giá trị, nó xuyên suốt qua mọi thời đại. Độc giả, khán thính giả từ thành thị tới thôn quê vẫn thưởng thức những món ăn tinh thần đó, chẳng cần ai khuyến khích, khuyến mãi.

Cách công bằng nhất để nhận định thì nhãy nhìn vào thị trường, nhìn vào sự trân trọng của người dân.

Mặt khác, việc xuất bản những tác phẩm văn học nghệ thuật hồi đó hình thành một trật tự hơn bây giờ. Kể cả sách xuất bản ở nước ngoài cũng như ở trong nước. Hầu như bây giờ, một số tác phẩm không còn mang đúng giá trị đúng như văn học định nghĩa. Nó là sách lam nham, ai có tiền thì cứ in. Vàng thau lẫn lộn, trong đó có những cuốn không đáng gọi là sách, có những bài không đáng gọi là bài. Điều này rất có hại cho những người trẻ tuổi, nhất là lớp mới lớn ở nước ngoài. Nếu đọc một cuốn sách lem nhem như thế họ sẽ nghĩ gì về những tác phẩm khác của ông cha, của những người đi trước?

Vì thế nên tôi vẫn cho rằng 20 năm văn học miền Nam 55-75 có nhiều tác phẩm giá trị hơn, dù cho có những tác phẩm chỉ có giá trị trong từng thời kỳ.

Lê Thị Huệ: Nhà văn Văn Quang, Giám đốc đài phát thanh Quân Đội, viết tiểu thuyết Chân Trời Tím, đi cải tạo mút mùa lệ thủy, không đi Mỹ theo diện HO (mà những người như Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên còn không cưỡng lại sự tự do ở chân trời kia), còn Văn Quang không đi. Ở lại Việt Nam. Văn Quang là ai thế?

Văn Quang: Tôi vẫn cho rằng những người bạn tôi đi định cư hầu hết vì lo cho tương lai của con cái, cho cuộc sống gia đình hơn lo cho chính bản thân mình. Họ có lý do chính đáng để ra đi. Còn tôi, hầu như chẳng có lý do gì cả. Khi tôi ở trại tù ra, các con tôi đều đã định cư ở Mỹ, đi theo “diện vượt biên” và đi học ở Mỹ trước năm 75. Chỉ còn lại mình tôi. Đời sống kinh tế cũng lại bắt đầu ổn định, bằng việc học computer rồi ra “hành nghề” đánh vi tính thuê và làm lay-out cho các tiệm sách báo. Những nhà xuất bản tư nhân, những nhà làm quảng cáo chuyên nghiệp và cả những ông làm “báo lẻ” như Thanh Thương Hoàng, Thái Phương cũng đều thuê “công ty gia đình” của tôi làm hết. Hồi đó Sài Gòn chỉ có rất ít computer và người làm được công việc này càng hiếm. Cái may mắn của tôi là ngay khi ở trại tù ra, tôi đã tò mò đi học khóa computer đầu tiên vào những năm1989-90-91. Kể về chuyện đi học computer của tôi chẳng qua cũng là chuyện “bất đắc dĩ” và khá dài dòng, cười ra nước mắt. Tôi sẽ kể lại vào một dịp khác. Sau khi học xong vài khóa, tôi đã được các cháu ở Mỹ yểm trợ cho mấy cái computer và máy in laser để hành nghề. Công việc kiếm ăn khá phát đạt. Vì thế tôi thấy không cần phải đi đâu nữa cả. Hơn thế, bà xã của tôi và các cháu cũng đã “yên bề gia thất” nên tôi không muốn khuấy động cuộc sống của gia đình mình, gây thêm những thắc mắc vướng bận cho những người thân.

Ở đây cũng còn một số anh em sĩ quan cũ, sau khi ở tù ra rồi, cũng không đi theo diện HO. Dường như vấn đề kinh tế quyết định tất cả. Hầu hết những người ở lại đều có một cuộc sống tương đối ổn định hoặc có những trở ngại về gia đình, như con cái có vợ có chồng rồi không được đi theo… Mỗi người một hoàn cảnh.

Mặt khác, tôi nghĩ anh em ra đi nhiều rồi, tôi muốn ở lại để chứng kiến cho hết, cho đầy đủ những đổi thay. Đời sống lúc đó ở đây bấp bênh, rồi chao đảo vì Liên Xô tan rã, vì Đông Âu lập lờ… Cuộc sống “lên voi, xuống chó” quay quắt, nếu nhìn như một kẻ ngoài cuộc, nó sinh động hơn một sân khấu với đầy đủ bi hài kịch thú vị. Có quá nhiều đề tài mới lạ cho mình ghi nhận. Làm một nhân chứng sống có lẽ hay hơn. Và cũng vì sự “gậm nhấm” của tôi về “người bạn đồng minh” nên tôi quyết định ở lại.

Mãi tới sau này, một số không ít những người bạn tôi cho rằng tôi đã lựa chọn đúng. Riêng tôi, cho là một điều may mắn chứ chẳng ai tiên đoán trước được điều gì sẽ xảy ra. Nhưng nếu có sai, có bất cứ điều gì xảy ra, tôi không ân hận. Tôi hoàn toàn bằng lòng vì sự lựa chọn của mình. Và, tôi cũng vẫn cứ tiếp tục sống và viết như từ bao năm nay. Sẽ mãi mãi như thế cho đến khi bạn về đây sẽ gặp tên tôi với hai chữ “chi mộ”.

Xin cảm ơn bạn đọc đã đọc những hàng này. Đây cũng là dịp tôi có cơ hội được tâm sự với bạn đọc. Tôi cũng xin nói thêm là một tờ báo của người bạn tôi, sau khi đã có bài phỏng vấn tôi, đã gửi thêm một số câu hỏi khác đến, nhưng tôi chưa trả lời được. Tôi không viết hồi ký như một số bạn tôi thúc giục, trong một ngày gần đây, tôi sẽ dành cho tờ báo của người bạn tôi những chi tiết khác trong cuộc sống của tôi, thay cho cuốn hồi ký.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Tuổi già

Trần Mộng Tú

Bạn có bao giờ ngắm kỹ một con hạc trắng chưa? Nó trông thật mảnh mai; chân dài, người mỏng, trong một bộ lông trắng muốt. Trông nó thanh cao như một người luống tuổi mà vẫn giữ được phong cách ung dung.. Con hạc được coi là một con vật sống lâu cho nên người ta gọi tuổi của các cụ là tuổi hạc.

Ðầu tháng năm vừa qua, tôi sang chơi với vợ chồng người anh ở bên Vienna, D.C.
Ðằng sau nhà anh tôi có một con đường mòn dẫn tới một công viên. Con đường mòn vào cuối Xuân chớm Hạ thật là đẹp. suối róc rách chẩy, cây cỏ xanh mướt, những bông hoa núi nở trắng xóa. Chúng tôi mỗi buổi sáng dắt theo con chó đi bộ, vừa đi vừa trò chuyện.

Tôi bất giác hỏi:
- Sao con người không giống cây cỏ, vào mùa đông héo, úa, rụng, đến xuân,hạ lại hồi sinh nhỉ?
Anh tôi cười, nói:
- Cứ giữ mãi được Xuân, Hạ trong lòng mình là tốt rồi.

Chúng ta những người ở lứa tuổi đang bước vào tuổi già hay đã già. Tinh thần và thể xác không còn như hai mươi năm, mười năm về trước hay thậm chí như mới năm ngoái nữa.

Thông thường bất cứ người mang quốc tịch nào, sinh sống ở phần đất hay hoàn cảnh nào thì khi về già hay ngồi gặm nhấm lại quá khứ. Chúng ta là những người từ một quê hương mất mát đến ở trọ một quốc gia khác, chúng ta còn nhiều điều gặm nhấm hơn nữa.

Ở tuổi già, không có phương tiện di chuyển, bị trở ngại ngôn ngữ đã làm một số người sống một cuộc sống tẻ nhạt, từ tẻ nhạt đưa tới trầm cảm, khép kín. `
Từ đó sinh ra bao nhiêu bệnh và khi có bệnh, sự chạy chữa xem chừng không có hiệu quả lắm cho những người này.

Bác Sĩ Ornish, tác giả cuốn sách Love &Survival, nói rõ: Tách lìa tình thân gia đình và bạn bè là đầu mối cho mọi thứ bệnh từ ung thư, bệnh tim đến ung nhọt và nhiễm độc.

Tình thương và tinh thần là gốc rễ làm cho chúng ta bệnh hay khỏe.

Ba mươi năm trước mà nghe ai nói cô đơn sinh ra các chứng bệnh thì người ta sẽ chỉ cười nhẹ.. Nhưng bây giờ điều này đã được nhiều bác sĩ công nhận là đúng.
Những buổi tĩnh tâm chung, có cầu nguyện, có tịnh niệm (tùy theo tôn giáo của mỗi người) chia sẻ những buồn vui, lo lắng của mình cùng người khác cũng giúp khai thông được những tắc nghẽn của tim mạch như là ăn những thức ăn rau, đậu lành mạnh vậy.

Nếu không nói ra được những gì dồn nén bên trong thì chính là tự mình làm khổ mình. Khi nói ra, hay viết ra được những khổ tâm của mình thì hệ thống đề kháng được tăng cường, ít phải uống thuốc.

Theo Bác Sĩ Ornish, khi bị căng thẳng cơ thể sẽ tiết ra một hóa chất làm cho mọi sinh hoạt ứ đọng, ăn không ngon, đầu không suy nghĩ, mạch máu trì trệ,mất sức đề kháng, dễ cảm cúm.

Như vậy sự cô đơn cũng là chất độc như cholesterol trong những thức ăn dầu mỡ mà chỉ có tình thương mới cứu rỗi được.

Nếu bạn không mở tâm ra cho người khác thì bác sĩ bắt buộc phải mở tim bạn ra thôi.

Tuổi như thế nào thì gọi là già? Chúng ta biết khi một người qua đời ở tuổi 60 thì được gọi là 'hưởng thọ'. Vậy sau tuổi 60, mỗi ngày ta sống là một “bonus”, phần thưởng của Trời cho.

Chúng ta nên sống thế nào với những ngày 'phần thưởng' này. Lấy thí dụ một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi đến chỗ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng. Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh.

Trong Những Lời Phật Dậy có câu:

Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình.
Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng..

Chắc trong quý vị không ai muốn rơi vào hoàn cảnh này.
Gặp gỡ bè bạn thường xuyên trong những sinh hoạt thể thao là điều tốt lành nhất cho thể lý.

Ði tập thể thao như Tài Chi, Hồng Gia, nhẩy nhẹ theo nhạc, tắm hơi, bơi lội v.v... đã giúp cho người lớn tuổi giữ được thăng bằng, ít ngã, và nếu có bệnh, uống thuốc sẽ công hiệu hơn, mau lành hơn.

Gặp bạn, nói được ra những điều phiền muộn cho nhau nghe, ngồi tĩnh tâm, đến nhà thờ, chùa cầu nguyện giúp được làm chậm lại sự phát triển của bệnh.

Bác Sĩ Jeff Levin giáo sư Ðại Học North Carolina khám phá ra từ hàng trăm bệnh nhân, nếu người nào thường xuyên đến nhà nguyện họ có áp suất máu thấp hơn những người không đến nhà nguyện, ông bỏ ra hàng đêm và nhiều cuối tuần để theo dõi, tìm hiểu những kết quả cụ thể của 'Tín Ngưỡng và Sức Khỏe'.

Cuốn sách ông phát hành gần đây nhất có tên là God, Faith and Health. Trong đó ông cho biết những người có tín ngưỡng khỏe mạnh hơn, lành bệnh chóng hơn, ít bị nhồi máu cơ tim, gặp sự thăng trầm trong đời sống họ biết cách đối diện, họ luôn luôn lạc quan.

Lạc quan là một cẩm nang quý vị nên luôn luôn mang theo bên mình. Ðừng bao giờ nói, hay nghĩ là 'Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nữa' hoặc 'Tôi vụng về, ít học, chẳng làm gì được'.

Tôi xin kể câu chuyện Hai Con Ngựa của thầy phó tế George A.Haloulakos.
Cạnh nhà tôi có một cánh đồng cỏ, hàng ngày có một cặp ngựa, con nọ lớn hơn con kia một chút thong thả ăn cỏ ở đấy. Nhìn từ xa, chúng là đôi ngựa binh thường giống những con ngựa khác. Tuy nhiên, nếu bạn đến gần, bạn sẽ khám phá ra là có một con mù.

Chủ nhân của nó chắc thương nó không nỡ bỏ đi mà còn cho nó một chỗ ở an toàn. Chính điều này đã thành một câu chuyện tuyệt vời.

Ðứng bên chúng, bạn chợt nghe có tiếng chuông rung, phát ra từ cái đai nhỏ vòng quanh cổ con ngựa nhỏ hơn, chắc là một con cái. Tiếng chuông báo cho con bạn mù của nó, biết là nó đang ở đâu mà bước theo. Quan sát kỹ một chút bạn sẽ thấy cái cách con ngựa sáng chăm sóc con ngựa mù, bạn nó chu đáo như thế nào. Con ngựa mù lắng nghe tiếng leng keng mà theo bạn, nó bước chậm rãi và tin rằng bạn nó không để nó bị lạc.

Trên đường trở về chuồng mỗi chiều, con ngựa nhỏ chốc chốc lại ngoái cổ lại nhìn bạn, muốn biết chắc bạn mù của nó vẫn đi theo tiếng chuông của nó để lại đằng sau..

Cũng giống như chủ nhân của đôi ngựa có lòng nhân từ, Thượng Ðế không bao giờ vứt bỏ bạn vì bạn kiếm khuyết, hoạn nạn hay gặp khó khăn. Người luôn luôn đem đến cho chúng ta những người bạn khi chúng ta cần được giúp đỡ.

Ðôi khi chúng ta là con ngựa mù, được dẫn dắt bởi tiếng chuông mầu nhiệm mà Thượng Ðế đã nhờ ai đó rung lên cho chúng ta. Những khi khác chúng ta là con ngựa dẫn đường, giúp kẻ khác nhìn thấy.

Bạn hiền là như vậy. Không phải lúc nào ta cũng nhìn thấy họ nhưng họ thì luôn hiện diện đâu đó. Hãy lắng nghe tiếng chuông của nhau.

Hãy tử tế hết sức mình bởi vì có một người mà bạn gặp trên đời, biết đâu cũng đang ở trong một hoàn cảnh khó khăn nào đó họ phải phấn đấu để vượt qua.
Không gì hơn là tuổi già nương dựa vào nhau trong tình bạn. Luôn luôn nghĩ bao giờ mình cũng có cái cho đi mà người khác dùng được.

Trong một lần đến thăm Viện Dưỡng Lão, tôi thấy một cụ ông 70 tuổi, đút thức ăn cho một cụ bà 80 tuổi. Hỏi ra thì họ không có liên hệ gì với nhau cả.
Chỉ là một người có khả năng cho và một người vui vẻ nhận.

Tính hài hước, làm cho người khác cười cùng với mình là những liều thuốc bổ.
Thi sĩ Maya Angelou vào sinh nhật thứ 77, trong chương trình phỏng vấn của Oprah hỏi về sự thay đổi vóc dáng của tuổi già, bà nói:
'Vô số chuyện xẩy tới từng ngày... Cứ nhìn vào bộ ngực của tôi xem. Có vẻ như hai chị em nó đang tranh đua xem đứa nào chạy xuống eo trước'. Khán giả nghe bà, cười chẩy cả nước mắt.

Sinh, bệnh, lão, tử. Con đường đó ai cũng phải đi qua. Nhưng đi như thế nào thì hầu như 80% chính mình là người lựa chọn.

Những vấn đề chính ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn (qua tinh thần) là:

Sự cảm thông giữa cha mẹ và con cái, giữa ông bà với các cháu.
Tinh thần chấp nhận và lạc quan.
Nghĩ đến những điều vui nhỏ mỗi ngày.
Tham gia những sinh hoạt nào phù hợp với sức khỏe.
Làm việc thiện nguyện.
Nhóm bạn: Ðọc sách, kể chuyện, đánh cờ, chơi bài (không phải ăn thua).
Tham gia các lớp thể dục: Như Yoga, lớp dậy Hồng Gia, ngồi thiền,khí công v.v...
Và ngay cả chỉ đi bộ với nhau 30 phút mỗi ngày cũng giúp cho tinh thần sảng khoái, sức khỏe tốt hơn là ở nhà nằm quay mặt vào tường.
Hãy thỉnh thoảng đọc lên thành tiếng câu ngạn ngữ này: 'Một nét mặt vui vẻ mang hạnh phúc đến cho trái tim và một tin vui mang sức khỏe cho xương cốt.'
Chúc quý vị luôn cảm thấy vui khoẻ và trọn vẹn an lành trong tâm hồn !

Trần mộng Tú

Post Reply