Chiến Sĩ QLVNCH

User avatar
tuyetlanh
Posts: 42
Joined: Thu Dec 02, 2004 5:06 am

Post by tuyetlanh »

.


TRẬN CHIẾN TẾT MẬU THÂN 1968 ( t t )



Việt Cộng tấn công thủ đô Saigon vào lúc 2 giờ khuya mồng một Tết Mậu Thân năm 1968. Trong khi tiếng pháo mừng Xuân vẫn còn nổ lẻ tẻ trên các hè phố đô thành, bỗng xen lẫn vào tiếng súng to nhỏ nổ vang theo từng nhịp. Người dân đô thành quen hưởng cảnh an lạc thái bình không quen phân biệt tiếng nổ, chỉ tưởng là pháo. Cũng có nhiều người biết là tiếng súng nhưng họ cũng chẳng quan tâm vì trong thời loạn ly những tiếng súng nổ đối với họ quá thường tình và họ coi như chẳng có gì quan trọng xảy ra.
Khi trời sáng rõ, người dân đô thành vẫn trong cái sinh hoạt ngày Tết ăn mặc trịnh trọng kéo nhau ra đường để tiếp tục các cuộc hành trình thăm viếng và vui chơi. Nhưng rồi những tin tức về một cuộc tấn công của Việt Cộng được đưa tới. Nhiều người vẫn hoài nghi cho rằng chỉ là một vụ đảo chánh như những vụ đảo chánh khác đã xảy ra qua tiếng súng nổ ở đô thành.
Vào 08 giờ sáng, đài phát thanh Quốc Gia đọc lời ban bổ lệnh giới nghiêm của Phó Tổng Thống. Ông Nguyễn Cao Kỳ thừa hành lệnh của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tố cáo các hành vi tấn công của Việt Cộng vi phạm lệnh hưu chiến. Người dân vẫn hoài nghị tại sao Tổng Thống Thiệu không đích thân công bố. Nhưng rồi ở giữa một thủ đô Saigon rộng lớn mà những cái ở đầu tỉnh xảy ra cuối tỉnh không hay, thì bây giờ người ta đều được biết là Việt Cộng quả thực đã tấn công vào đô thành.
Việt Cộng đã lợi dụng sự đi lại tự do suốt đêm và lệnh hưu chiến để xâm nhập vào nhiều nơi trong thủ đô. Đêm mồng Một Tết, họ đã mở nhiều cuộc công kích vào một vài địa điểm quan trọng và đầu não tại trung tâm thành phố:
• BỘ TỔNG THAM MƯU QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA (VNCH): Tại đây Việt Cộng đánh vào các cổng số 4 và số 5. Riêng tại cổng số 4, họ tràn vào được nhưng bị cầm chân tại chỗ.
• DINH ĐỘC LẬP: Việt Cộng định đột nhập do cửa sau phía đường Nguyễn Du nhưng không vào được.
• BỘ TƯ LỆNH HẢI QUÂN: Việt Cộng bị hạ toàn bộ khi vừa xông vào cửa.
• PHI TRƯỜNG TÂN SƠN NHẤT: Việt Cộng bị ngăn chận và bị thiệt hại nặng khi đang tiến vào cuối phi đạo ở gần khu Bà Quẹo.
• ĐÀI PHÁT THANH QUỐC GIA (tại đường Phan Đình Phùng): Việt Cộng đột nhập được vào lầu dưới đài phát thanh.
• TÒA ĐẠI SỨ PHI LUẬT TÂN (tại đường Phan Thanh Giản): Việt Cộng đột nhập dễ dàng. Nhưng vị đại sứ người Phi đã kịp thời chạy thoát.
Cũng trong đêm này, tại các khu vùng phụ cận thủ đô, Việt Cộng đã mở các cuộc công kích vào một vài nơi khác:
Trại Cổ Loa và trại Phù Đổng Thiên Vương của Thiết Giáp và một phần trại Cổ Loa của Pháo Binh. Căn Cứ 80 Quân Cụ và Căn Cứ 60 Truyền Tin tại Hạnh Thông Tây: Việt Cộng chỉ bắn quấy phá. Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung tại Hốc Môn: Việt Cộng bị thiệt hại nặng và bị ngăn chặn tại cổng trại.
Vào sáng mồng 2 Tết nhiều cánh quân địch xuất hiện tại đô thành và các vùng phụ cận. Tình hình địch được ghi nhận như sau:
Một cánh quân Việt Cộng xuất hiện tại khu Bà Quẹo. Họ đặt bộ chỉ huy tại hãng dệt Vinatexco để uy hiếp phi trường Tân Sơn Nhất và các khu dân cư tại đây. Một cánh quân Việt Cộng xuất hiện tại khu Gò Vấp. Họ uy hiếp và chiếm một phần trại Cổ Loa của Pháo Binh và toàn trại Phù Đổng của Thiết Giáp. Việt Cộng cũng xâm nhập các khu đông dân cư Gò Vấp, Xóm Mới, rồi lan tràn tới khu Ngã Năm Bình Hòa. Một cánh quân Việt Cộng xuất hiện tại Hàng Xanh để rồi tiến quân về Tiểu Khu Gia Định và uy hiếp khu vực Cầu Xa Lộ. Một cánh quân Việt Cộng xuất phát từ Phú Thọ và lan tràn vào các khu dân cư ở Phú Thọ, Bà Hạt và các khu kế cận. Một cánh quân Việt Cộng còn hoạt động ở xa thủ đô Saigon tại vùng Thủ Đức. Họ tấn công chi khu Thủ Đức trong đêm trước và đang uy hiếp chi khu này. Một cánh quân Việt Cộng sau chót còn hoạt động ở xa thủ đô tại vùng Hốc Môn. Họ chiếm các vùng phụ cận Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.
Việt Cộng xử dụng các toán đặc công xung kích vào các mục tiêu tại trung tâm thủ đô. Trong khi đó, các lực lượng khác ở bên ngoài đều tiến vào nội thành để hỗ trợ cho các toán xung kích ở bên trong, và đồng thời xâm nhập vào các khu dân cư.

Image

Bốn người lính Việt Nam Cộng Hòa đang kịch chiến với Cộng quân ngay giữa đường phố Saigon. Một người lính xử dụng súng phóng lựu M-79 (ngắn). Ba người lính kia đều mang súng trường M-16. Loại súng này vừa được Hoa Kỳ viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1967. Tuy nhiên, trong kỳ tổng công kích vào Tết Mậu Thân năm 1968, có nhiều lực lượng trong quân đội như Dân Vệ, Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân vẫn còn chưa được trang bị loại súng này (hình ảnh:special collection).


Sở dĩ Việt Cộng thất bại không làm chủ được tình hình vì họ dùng những lực lượng xung kích quá nhỏ để đánh vào những mục tiêu quá lớn. Các lực lượng xung kích nhỏ này không đủ khả năng mở đợt công phá dù xâm nhập được vào bên trong nhưng tiềm lực yếu cho nên họ không thể thọc sâu khai thác chiến quả. Hơn nữa, các lực lượng bên trong và bên ngoài của Việt Cộng vì hoạt động trên một địa bàn quá rộng rãi nên đã không phối hợp và hỗ trợ nhau chặt chẽ được. Tuy các cánh quân của Việt Cộng đã có mặt ở các vùng ven đô nhưng sự hoạt động của họ có vẻ rất rời rạc.
Sáng mồng 2 Tết, các đơn vị Việt Cộng mưu toan đánh úp các cơ quan đầu não của Việt Nam Cộng Hòa đã không thành công trong đêm trước. Việt Cộng không đánh vào bất cứ một cơ quan nào của Hoa Kỳ. Và với các cánh quân nói trên, họ hy vọng ở sự tiếp tay nổi dậy của dân chúng, cố gắng lan tràn vào các khu đông dân cư.
Để ngăn chặn và theo dõi các hoạ động của họ, các phi cơ chiến đấu và quan sát của Việt Nam Cộng Hòa thay nhau bay thường xuyên trên vòm trời thủ đô. Dân chúng thấy Việt Cộng đến và thấy phi cơ uy hiếp trên trời đều lũ lượt dắt díu nhau lánh cư vào trong thành phố.
Ngay trong đêm mồng 2, lực lượng phản công của chánh phủ được tung ra. Hai đại đội của Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù được đưa đến giải tỏa đài phát thanh. Nơi này được quân đội chiếm lại trước 0 giờ 30 sáng. Trong khi đó Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù chia quân làm hai cánh. Cánh thứ nhất gồm hai đại đội được phái tới giải tỏa cổng số 4 của Bộ Tổng Tham Mưu. Nhưng suốt ngày vẫn không giải quyết xong vì Việt Cộng núp trong khu nhà bằng gạch của Trường Sinh Ngữ Quân Đội và bắn ra dữ dội. Cánh thứ hai với hai đại đội còn lại tới bảo vệ đầu phi đạo Tân Sơn Nhất ở Bà Quẹo và ngăn chận Cộng quân xâm nhập khu hãng dệt Vinatexco.
Vào buổi trưa, toàn bộ Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù được đưa về phi trường Tân Sơn Nhất chờ lệnh. Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân (BDQ) với bốn tiểu đoàn (Tiểu Đoàn 30, 33, 34 và 38) đang trấn đóng vòng quanh khu bán nguyệt từ Thủ Đức, Nhà Bè, Bình Chánh đến Hốc Môn. Đêm hôm đó, Liên Đoàn 5 nhận được lệnh phải gửi ngay hai tiểu đoàn Biệt Động Quân về giải cứu thủ đô. Tiểu Đoàn 30 và 38 Biệt Động Quân lập tức ra đi và họ đã tiến vào thành phố trước khi trời sáng. Tiểu Đoàn 30 Biệt Động Quân đến khu vực Hàng Xanh Xa Lộ lúc 4 giờ sáng ngày mồng 2 Tết. Tại đây, các binh sĩ Mũ Nâu này đã chạm súng dữ dội với Việt Cộng. Trong khi đó Tiểu Đoàn 38 Biệt Động Quân xuất phát từ Nhà Bè vào 4 giờ sáng ngày mồng 2 Tết đến giải tỏa khu Phú Thọ, Trần Quốc Toản.
Vào lúc 06 giờ 30 cùng ngày Tiểu Đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) từ Vũng Tàu được không vận về Saigon mặc dù đơn vị này vừa hành quân ở Miền Trung mới về có hai ngày. Song song với Tiểu Đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến, Chiến Đoàn B gồm các Tiểu Đoàn 1 và 2 của Thủy Quân Lục Chiến đang ở Cai Lậy (thuộc tỉnh Định Tường) cũng được không vận về Saigon ngay vào gần chiều tối hôm đó.
Chiều mồng 2 Tết, người ta đã thấy những đám cháy bóc lên ngùn ngụt tại đường Nguyễn Kim gần sân vận động Cộng Hòa. Như vậy có nghĩa là cánh quân Việt Cộng phát xuất từ Phú Thọ Hòa tiến vào trung tâm thành phố đã không gặp trở ngại nào đáng kể. Khi tiến vào, Việt Cộng chỉ bắn quấy rối Chi Cảnh Sát Nguyễn Văn Thoại ở phía Nam trường đua, bắn vào trại Cảnh Sát Dã Chiến ở đường Trần Quốc Toản cùng các doanh trại của Tiểu Đoàn 10 Vận Tải và lực lượng Công Binh ở xung quanh.
Việt Cộng chiếm trường đua Phú Thọ, kiểm soát các khu vực quanh Trường Nữ Quân Nhân tại vườn Cao su cũ. Cánh quân này đã lan tràn vào khu vực đông dân cư ở khoảng đường Bà Hạt loang ra một khu rộng lớn từ chùa Từ Nghiêm đến chùa Ấn Quang có bốn đại lộ bao bọc là Nguyễn Tri Phương, Trần Quốc Toản, Lý Thái Tổ và Minh Mạng.
Đường Nguyễn Kim bị oanh kích vì Việt Cộng xuất hiện rất dông. Đám cháy này từ một điểm nhỏ lan tràn cháy cả một khu phố. Cũng vào buổi chiều mồng 2 Tết, người ta thấy Việt Cộng xuất hiện và đột nhập vào nhà thương Nhi Đồng, bắn vào hậu cứ Tiểu Đoàn 5 Quân Cảnh ở đường Lý Thái Tổ. Người ta còn thấy khoảng một trung đội Việt Cộng xuất hiện tại đường Sư Vạn Hạnh, Lý Thái Tổ và một số ít ẩn núp trong chùa Ấn Quang.
Như vậy người ta thấy rằng Việt Cộng tiến vào khu này là một khu vực đông dân cư lao động và cũng là nơi có chùa Ấn Quang từng phát xuất các đợt xuống đường chống chính phủ nhằm để nhen nhuốm lên một cuộc nổi dậy của nhân dân phát xuất từ đây lan tràn vào đô thị. Người dân đô thành trong ngày hôm ấy theo dõi từng tiếng súng nổ xa gần, từng hoạt động của các máy bay ở trên vòm trời và theo dõi tin tức trên radio.
Đài phát thanh Quốc Gia, khác với thường lệ, chỉ phổ biến những bản nhạc hùng binh, thỉnh thoảng chen vào một vài tin tức sốt dẽo. Vào buổi sáng, đài phát thanh đã truyền lệnh gọi các quân nhân nhập trại. Một vài quân nhân trên đường vào trại đã bị các phần tử Việt Cộng trà trộn trong dân chúng bắn hạ ngay ngoài đường. Tuy nhiên, một số đông quân nhân khác cũng đã vào được trại an toàn. Những quân nhân này đều được đại tướng tham mưu trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cấp tưởng lục khen ngợi.
Vào buổi chiều, đài phát thanh loan tin chiến sự tại khu Hàng Xanh cho biết quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã gặt hái được một vài thắng lợi. Một tin khác được loan đi vào hồi 17 giờ 00 yêu cầu dân chúng Bà Quẹo tránh xa khỏi hãng dệt Vinatexco, nơi Việt Cộng tập trung và đóng bộ chỉ huy để quân đội sẽ oanh tạc vào đúng 18 giờ 00. Ngoài ra, loa phóng thanh cũng được dùng để kêu gọi toàn bộ lực lượng Việt Cộng trong khu vực này ra đầu hàng. Hãng dệt Vinatexco đã bị oanh tạc thiêu rụi vào giờ ấn định trên. Trước khi oanh tạc, Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù đã dồn Việt Cộng vào khu vực này. Quyết dịnh oanh tạc được ban ra vì sợ Việt Cộng lợi dụng đêm tối sắp đến để tăng cường thêm quân đánh vào phi trường Tân Sơn Nhất.
Cũng vào gần chiều tối ngày mồng 2 Tết, trực thăng võ trang đến xạ kích vào khu vực Trường Nữ Quân Nhân. Sau đó lực lượng bộ chiến Việt Nam Cộng Hòa đến giải tỏa một khúc đường Nguyễn Văn Thoại chạy ngang khu trường đua do Việt Cộng kiểm soát.
Vào sáng mồng 3 Tết, tám tiểu đoàn tổng trừ bị đã có mặt tại đô thành. Các lực lượng này được phối trí để mở các cuộc phản kích như sau:
Tiểu Đoàn 6 và 8 Nhảy Dù giải tỏa cổng số 4 ở trại Trần Hưng Đạo. Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù bảo vệ đài phát thanh và làm lực lượng trừ bị. Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến đi giải tỏa cổng số 4 trại Trần Hưng Đạo (lúc đầu là trách nhiệm của Thủy Quân Lục Chiến, nhưng sau đó được giao lại cho Nhảy Dù), cổng xe lửa số 2 và số 4 (Gia Định). Tiểu Đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến giải tỏa trại Cổ Loa và Phù Đổng. Tiểu Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến chận đường rút lui của Việt Cộng tại trại Cổ Loa. Tiểu Đoàn 30 Biệt Động Quân giải tỏa khu Hàng Xanh Xa Lộ. Tiểu Đoàn 38 Biệt Động Quân giải tỏa khu Phú Thọ, Bà Hạt.
Trong ngày này, lực lượng Nhảy Dù đã hoàn tất nhiệm vụ giải tỏa cổng số 4 trại Trần Hưng Đạo ngay trong buổi sáng. Trực thăng võ trang đã phải oanh kích vào khu vực này gây thiệt hại về doanh trại cho Trường Sinh Ngữ Quân Đội, Trường Tổng Quản Trị, Trung Tâm Huấn Cụ và Thính Thị và một vài thiệt hại nhỏ cho các cơ sở khác kế cận. Cũng trong ngày hôm đó, các tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến chiếm lại được các trại Cổ Loa và Phù Đổng. Cả hai nơi này đều bị Việt Cộng trấn giữ từ hôm xảy ra các trận đánh.

Phạm văn Sơn

.

User avatar
tuyetlanh
Posts: 42
Joined: Thu Dec 02, 2004 5:06 am

Post by tuyetlanh »

.


VĂN TẾ THỦY QUÂN LỤC CHIẾN Image ÐÊM NAY! Ðông tàn bấc lạnh...đào hoa chớm nở chốn cũ heo may!
Mờ xa nắng Lâm viên già cỗi lặng lẻ hững hờ
Lại nhớ...lại nhớ...lại nhớ về đường xưa trường cũ chập chờn như ẩn như hiện trong mây
Nào đâu Lap B. Nord, nào đâu Lap B Sud?
Nào đâu bóng hướng dương vàng chiều tà bâng khuâng reo gió, hàng thông mơ hồ trong khói sương trùng trùng điệp điệp
Nào đâu Vũ Ðình Trường ngày nào...lập lờ ánh đuốc lung linh, trầm mặt, uy nghiêm tỉnh lặng
Lòng lại xót xa quặn đau như cắt, gan bào ruột cắt...
Lại nhớ, lại nhớ phút lâm hoành, nhớ thuở xuất chinh

“ Ðêm khuya âm u ...ai thét vang, trong gió ngàn
Thông reo vi vu ... ai khóc than, trong núi đồi
Âm vang mãi ... não nề ... về nơi đâu ... nơi chốn ...xa ... vời.
Vọng về đâu,... nghe xót xa ... lòng
Vọng về đâu ... non nước ... quê hương...”

Nương lối gió ,... âm u ... hồn tử sĩ
Dựa đường mây ... thấp thoáng ... bóng quân hành
Trăng chở gió ... cờ reo vui ... trước gió
Trống chiêng rền ... vang vọng ... tiếng quân ca

Lá nghiêng nghiêng ...rơi. Chén nghiêng nghiêng vơi ...
Chút lòng xưa ... tâm tình ... xin vắt cạn
Ơi hỡi! Bạn đời đâu ... chốn lạ, miền xa
Nhớ mình ... nhớ ta ... xin hãy về đây ...
• Ôi ... Mới ngày nào !
Tên chỉ gió, bạt bốn phương tám hướng,
Cung dâu mềm chưa thoả chí nam nhi
Khí phách anh hùng thuở mới ra đi
Tung gươm bén! Thét vang trời ... dọc ngang ...ngang dọc
Kèn thúc quân! Trống trận khua dồn dập ...
Ðã bao phen vào tử ... ra sinh
Ðụt pháo, xông tên ... phá giặc, vây thành
Xông pha trận mạc ... rong ruổi 4 vùng
Lên núi cao, vượt đèo sâu ... heo hút gió,
Xuống đồng bằng ... qua sông nước ... mênh mang
Chẳng điều chi ! Ngăn nổi bước quan san
Chẳng điểu chi ! Mềm lòng quân tử hán
• Thế mà ... Lòng Trời cay nghiệt, vận nước không lường,
Than ôi ! Phút sa cơ ...đời đành thất thế
Rượu tiễn chưa tàn, men tình chưa bén
Bỗng dưng ! Ðành dứt gánh ... ra đi
Trừng ánh mắt, ngửa mặt trông chiều tà rực lửa
Tay trong tay, còn ghìm chặt kiếm trận ... thư hùng
Ðành bỏ quê hương ... quên vòng thế tục
Bỏ lại người xưa ... bỏ bạn chung tình
• Hỡi ôi ! Một phút sa cơ ... một đời đành thất thế !
Mô đất lạ ... chôn vùi thân bách chiến
Cõi sơn hà ... lấp vội nắm xương khô
Không mộ, không bia ... không ... lấy một nấm mồ
Không danh, không phận ...đành thôi cần chi điều ấy
Danh hữu danh ... mà thân vô phận
Có phận rồi ...danh tử cũng bằng không !
Trong ánh chiều tà, giữa cõi hừng Ðông
Thân lạnh giá ... bơ vơ miền hoang dã
Ðành để người thương ... mỏi mòn thân hoá đá,
Ôm con thơ ... tuôn lệ tủi trong lòng
Ðã bao lần ... mơ ước với chờ mong
Một phút thôi ... rồi tan thành mây gió
• Thôi thì thôi ... bạn đã yên phần bạn
Vận nước suy vi ... thân phận bọt bèo
Hàng thế cô ... mỗ cùng bao cô tử
Cái chết thật dễ dàng mà sống thừa không dễ
Gác bỏ ngoài tai ... lợi danh trần thế
Gác bỏ ngoài tai ... cái nhục, cái vinh
Tội tình chi mà tắm gội bao năm
Duyên trần thế ... ba mươi rồi có lẽ
Cơm Hậu Lê mà sắn khoai Hồ Nguyễn,
Kẻ cô thần dưa muối cũng là ngon
Mượn hình hài đem trả nợ nước non
Giũ sạch mối ... thăng trầm cuộc thế
Gột rửa mãi ... chưa phai mùi tục lụy
Gột rửa mãi ... chưa lành thương thế kỷ
Cơn giông buồn, sông cách trở giòng sông
Ðược thua cỏn nương theo vận nuớc
Ðúng sai tùy lịch sử phán suy
Vết đạn trong đầu, còn bào chữa làm chi
Có danh xưng nào, đúng sai nào... là chính nghĩa
• Thôi hẳn thế ! Thời thế ... thôi đành thôi phải thế
Còn chút lương tri, thâm sâu trong tận cùng ý nghĩ
Chút tâm tình xin trang trải ... lệ vong nhân
Lấy đèn thay trăng sao, lấy tình trắng trong thay nghĩa khí ...
Chén tình ... chén Nghĩa ... chén đời anh em,
Giọt lệ muộn màng ... Ô hô! Nghĩa tình sâu nặng
Giọt vắn, giọt dài ... Nhớ các bạn tri âm
• Thôi thì ... hương hoa đạm bạc, một chút thành tâm
Miếng đỉnh chung chẳng phụ lộc trời
Cuộc thế có sao ... dẫu âm dương đôi ngã cũng là
Nhất nhật đồng môn chung sở ý
Vạn dạ chung tình tưởng cố nhân
Xưa, hỷ nộ ái ố cùng chia
Nay, cách biệt trời sầu đất thảm
• Cố nhân xưa có câu:
“Ôi nhân sinh là thế ấy.
Như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao


Ba mươi năm hưởng thụ biết nhường nào
Vừa tỉnh giấc ... nồi kê chưa chín”
• Nay những tưởng:
Ôi cuộc thế! Thường được hơn thua thiệt
Vòng hào quang thực giả không lường
Gặp vận may thì khí thế
Sa mệnh bạc đành thôi ... thôi đành thế
Ðạo thánh hiền biết đâu ứng xử
Lẽ nhân tình nay khác ngày xưa
Uống bao khổ ải cho vừa
Ăn sao qua bữa lọc lừa nợ duyên
• Thôi thì ... Thôi ta cùng ngồi xuống đây
Chén thù chén tạc cho khuây nỗi đời
Rượu ngon còn bạn để mời
Tri âm mấy thuở, khóc cười mấy khi
• Ô hô ... Ô hô! Thượng hưởng, thượng hưởng!


Ðêm 05 tháng 12 năm 1999
THY HOÀI
( khoá Huỳnh văn Thảo)

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Mặt Trận Cổ Thành Quảng Trị
Mũ Đỏ Trịnh Ân tóm lược

--------------------------------------------------------------------------------
"Đây là một đoạn được trích lại trong kế hoạch hành quân tổng phản công tái chiếm thị xã tỉnh lỵ Quảng Trị, mục tiêu trọng điểm cuối cùng của lực lượng Nhảy Dù là Cổ Thành Đinh Công Tráng. Đó là cuộc hành quân mang tên Lam Sơn 72 được khai diễn vào ngày N, giờ G (ngày 28/6/1972 vào lúc 5 giờ sáng)".

Cuộc hành quân bước qua ngày N+26, sáng ngày 24/7/1972, tại Bộ Tư Lệnh QĐI/QKI ở thành Mang Cá (Huế), Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đã có cuộc họp với các Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Sư Đoàn 1 Bộ BinhTrong cuộc họp này, Trung Tướng Trưởng đã cho biết Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu muốn cuộc hành quân Lam Sơn 72 tổng phản công tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị phải hoàn tất trong tháng 8/1972. Tướng Trưởng có cho biết là ông đã báo cáo cho Tổng Thống Thiệu là lực lượng Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến đã bao vây ba mặt thị xã tỉnh lỵ, chỉ còn phía Bắc sông Thạch Hãn. Riêng Cổ Thành, 1 Trung đoàn CSBV đang tử thủ tại đây. Lực lượng Nhảy Dù đã liên tục mở nhiều cuộc tấn công nhưng do địch kháng cự quyết liệt nên vẫn chưa tiến sát đến bờ thành.

Tính đến ngày 24/7/1972, cuộc hành quân Lam Sơn 72 đã bước vào ngày thứ 27Trong phạm vi trách nhiệm của Sư Đoàn Nhảy Dù, các cánh quân Mũ Đỏ đã kiếm soát được vòng đai thị xã tỉnh lỵ. Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù do Thiếu Tá Trần Đăng Khôi chỉ huy, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù do Thiếu tá Lê Văn Mễ chỉ huy tiếp tục truy kích Cộng quân ở quanh khu vực Thạch Hãn đến ngã ba Long Hưng và khu vực phía Tây thị xã. Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù, trung Tá Trần Hữu Phú Tiểu Đoàn Trưởng và Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhỏ Tiểu Đoàn Phó, là lực lượng ứng chiến trừ bị cũng đã kiểm soát được khu vực phía Nam thị xã. Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù do Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh Tiểu Đoàn Trưởng, Thiếu Tá Nguyễn Hữu Thành Tiểu Đoàn Phó chỉ huy đã làm chủ được chiến trường ở phòng tuyến dọc theo sông Thạch Hãn.
Sau một thời gian quần thảo với cộng quân ở vòng đai Cổ Thành, Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù đã quyết định cho tiến hành kế hoạch công thành Đinh Công Tráng bằng hai giai đoạn:

1/- Đưa toán cảm tử thám sát xâm nhập vào bờ thành, toán này sẽ cấm lá cờ VNCH trên mặt Cổ Thành và nằm lại ở đó với nhiệm vụ là toán làm đầu cầu cho cả Tiểu Đoàn tấn công. Giai đoạn này sẽ bắt đầu vào đêm 24/7/1972 và phải hoàn tất trước bình minh này 25/7/1972.
2/- Sẽ bắt đầu vào rạng sáng ngày 25/7/1972, cả Tiểu Đoàn đồng loạt tấn công vào Cổ Thành, và trong 2 ngày, phải đánh chiếm lại ít nhất là phân nửa chu vi bờ thành.

Image

Để thực hiện được kế hoạch trên, Trung Tá Hiếu đã quyết định thành lập ngay một toán "thám sát cảm tử" bằng cách tuyển chọn trong các quân nhân tình nguyện. Có rất nhiều chiến sĩ xung phong xin nhập vào toán cảm tử này nhưng chỉ có 8 quân nhân được chọn: “Trưởng toán là Hạ sĩ Trần Văn Sáu, còn chiến sĩ được giao trách nhiệm cấm cờ VNCH trên mặt bờ Cổ Thành Quảng Trị là Binh 1 Hồ Khang”.

Chiều ngày 24/7/1972, Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu cho tập hợp toán “cảm tử” như muốn để từ giã những chiến hữu thân thương quyết ra đi theo truyền thống “Nhảy Dù Cố Gắng”, dù biết quyền hạn của một Tiểu Đoàn Trưởng ông chỉ có quyền đề nghị thăng cấp mà thôi, nhưng trước chuyến đi này ít có hy vọng trở về của 8 cảm tử quân. Vị Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù đã ban quyết định thăng cấp trước cho 8 cảm tử quân mỗi người lên hai cấp. Vì tối đêm nay, toán cảm tử quân sẽ lên đường để đột kích vào Cổ Thành, trận đánh tuy không ác liệt nhưng quyết định sẽ chờ đợi những chiến sĩ "Thiên Thần Mũ Đỏ" trung kiên.

Đêm 24/7/1972, toán cảm tử quân của Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù vượt tiến xuất phát đột kích Cổ thành, toán cảm tử có 8 quân nhân tình nguyện do Hạ sĩ Trần Văn Sáu làm trưởng toán, Binh I Hồ Khang là chiến sĩ được chỉ định giữ lá cờ và sẽ cắm lá cờ VNCH đó lên trên mặt bờ Cổ ThànhTrước giờ xuất quân, Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù đã bắt tay thật chặt từng chiến hữu của mình. Vì ông biết rằng sự hiểm nguy và cái chết đang chờ toán cảm tử quân, có thể sẽ không còn một ai trở về an toàn trong cuộc đột kích quyết tử này.

Giờ G đã đến, toán cảm tử quân lao vào bóng đêm. Từ vị trí xuất phát đến mục tiêu còn khoảng cách hơn 200 mét. Trung Tá Hiếu và cả Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn ngậm ngùi nhìn theo toán quân cảm tử đi vào bóng tối và chờ đợi. Vào khoảng quá nửa đêm, toán cảm tử quân đã bò lên được trên mặt Cổ Thành. Một bóng đen nhô lên giữa bầu trời và tung bay theo chiều gió. Đó chính là lá quốc kỳ VNCH mà Binh I Hồ Khang đã được lệnh mang theo khi xuất phát. Từ xa, một chiến sĩ Nhảy Dù đứng gần Trung Tá Hiếu đã nhận ra và vui mừng la lên:

- "Lá cờ dựng được rồi...?".

Lá quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa đã tung bay trên mặt bờ Cổ Thành rồi kìa.
Đó cũng là một tín hiệu của toán cảm tử quân báo cho Trung Tá Hiếu biết là họ làm tròn nhiệm vụ và đã có mặt trên mặt bờ thành. Như thế, giai đoạn 1 đã kết thúc vào lúc 1 giờ 00 sáng ngày 25/7/1972. Vậy giai đoạn 2 sẽ bắt đầu vào rạng sáng cùng ngày.

Trong phút giây trọng đại đó, bỗng nhiên có những tiếng hô dõng dạc từ trên bờ thành vọng đến bên tai những người chiến sĩ Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù đang ghìm tay súng hướng về bờ Cổ Thành chờ đợi và trước mắt họ đã hiện rõ bóng cờ bay. Đó chính là tiếng hô to của Binh I Hồ Khang:
- "Nhảy Dù cố gắng - Nhảy Dù chiến thắng
- Việt Nam Cộng Hòa muôn năm".
Ngay sau tiếng hô lớn của người lính Mũ Đỏ Hồ Khang, Cộng quân trong Cổ Thành đã bắn ra như mưa về nơi vừa phát ra tiếng hô, màn lửa đạn lóe ra ánh sáng đủ để các chiến sĩ Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù nhìn thấy được lá cờ vàng ba sọc đỏ vừa được cắm lên trên mặt thành, đã bị rớt xuống phủ lên xác người lính “Thiên Thần Mũ Đỏ Hồ Khang”.


Binh I Hồ Khang đã vĩnh biệt chiến trường ngay trên mặt bờ Cổ Thành Đinh Công Tráng. Anh đã ngã xuống cùng các bạn đồng đội ngay khi đã dựng được lá cờ, sau khi đã hô to "Nhảy Dù cố gắng - Nhảy Dù chiến thắng - Việt Nam Cộng Hòa muôn năm". Thì một nơi xa xôi tại trại gia binh củ Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù ở Biên Hòa, có một người vợ trẻ và ba đứa con còn thơ dại chờ anh trỡ về sau cuộc hành quân. Nhưng người lính Thiên Thần Mũ Đỏ Hồ Khang đã vĩnh viễn ra đi với 5 chiến hữu, không kịp cùng các động đội Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù đánh trận quyết định ở “Giai đoạn 2 vào rạng sáng ngày 25/7/1972”.


2 ngày sau, hai chiến sĩ “cảm tử quân” còn sống đã tìm đường về lại Tiểu ĐoànHạ sĩ Sáu, Binh I Tâm kể lại:

- Chúng em chiến đấu chống trả đến hơi thở cuối cùng, hết đạn, em phá hủy máy AN/PRC25 cùng Binh I Tâm may mắn thoát khỏi trong làn mưa đạn của địch, để lại trên bờ Cổ Thành 6 chiến sĩ anh hùng hy sinh với lá cờ vàng ba sọc đỏ VNCH.

- Tụi em mò mẫm đi suốt đêm, ngoài những cánh đồng trống để tránh né pháo binh của bạn và của Cộng quân, còn ban này phải chui vào các bụi rậm nằm trốn không cho VC thấy...

Ngày N+27, sáng tinh sương, mặt trời chưa mọc, dù rất đau đớn trước sự hy sinh của các chiến hữu cảm tử quân Mũ Đỏ, nhưng Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu vẫn giữ quyết định tiến hành giai đoạn 2 của kế hoạch tấn công vào Cổ ThànhĐại Đội 51/ND do Đại úy Trương Đăng Sĩ chỉ huy là đơn vị tiên phong của Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, được lệnh vượt qua hào sâu quanh bờ thành, bằng mọi cách phải tiến chiếm cho bằng được một góc thành để tràn lên mặt thành dựng lại quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa một lần nữa.
Theo lệnh của Đại úy Trương đăng Sĩ, (hiện là gia trưởng Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam Liên Bang Úc Châu) toàn thể đại Đội 51/ND bằng mọi giá phải tràn lên, vượt qua lũy hào sâu dưới chân thành tiến đến bờ thànhĐể yểm trợ cho cuộc tấn kích này, Pháo Binh Nhảy Dù và Không Quân VNCH đã tác xạ tối đa vào các vị trí của Cộng quân cố thủ bên trong và trên mặt thành.

Khi toán quân Mũ Đỏ đầu tiên của Đại Đội 51/ND tiến lên được trên mặt Cổ Thành để dựng lại cờ, thì hai phi tuần của Không Quân Hoa Kỳ do sự lầm lẫn đã chúi xuống trút bom ngay trên đầu của Đại Đội 51/NDSự việc xảy ra trước mắt của Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu, trong khi ông cùng Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù đang theo dõi diễn tiến trận đánh quyết tử để sớm kết thúc giai đoạn 2. Trung Tá Hiếu nghe được tiếng la thất thanh của Đại úy Sĩ trên máy truyền tin, nhưng vị Tiểu Đoàn Trưởng này cũng không thể nào ngăn kịp. Muộn rồi!!! Đại đội 51/ND gần như tan nát do sự lầm lẫn tai hại này!!!?. Với những khối bom năng đã thả xuống chính xác làm cho hơn 50 chiến sĩ Mũ đỏ ưu tú của Đại Đội 51/ND bị thương vong. Tổn thất nặng nề đó đã giáng một đờn lên nỗ lực tột cùng của vị Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, trẻ tuổi có nhiều mưu lược chiến trường buộc phải cho con cái rút về vị trí xuất phát...!!!
Để yểm trợ cho trận đánh quyết tử này “Minh Hiếu” được tăng cường Đại Đội 111/ND của Tiểu Đoàn “Song Kiếm Trấn Ải” do Trung Úy Đinh Viết Trinh “ba búa” chỉ huy đánh trợ lực từ hướng Tây Bắc vượt qua cánh đồng trống, tiến dưới làn mưa pháo địch, đánh thóc vào khu nghĩa địa làng Tri Bưu, chiếm đường Duy Tân để bắt tay với Đại Đội 52/ND do đại úy Hồ Tường chỉ huy và để cùng đồng loạt tiến đánh chiếm lại Cổ Thành bằng mọi giá theo lệnhCạnh sườn phía Bắc Cổ Thành có Đại Đội 2/TSND do Trung Úy Trương Văn Út “Út Bạch Lan” chỉ huy tấn kích nghi binh trợ chiến, ngay khi Đại Đội 51/ND do Đại úy Trương Đăng Sĩ chỉ huy tiền phong đột kích lập đầu cầu trên mặt Cổ Thành. Nhưng hỡi ơi!!! Một tai nạn? oan nghiệt thay cho Đoàn Quân Mũ Đỏ!!!

Image


Mời quý vị nghe một đoạn truyện kể về Binh Nhất Hồ Khang, trích trong Chinh Chiến Điêu Linh của Kiều Mỹ Duyên

[ram]http://home.ripway.com/2005-4/292087/hokhang.ra[/ram]


.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Lễ Tưởng Niệm Anh Linh Tử Sĩ Nha Kỹ Thuật
Sunday, April 24, 2005 Nguyên Huy



Vào chiều tối hôm thứ Bẩy 23 tháng 4 vừa qua, Tổng Hội Ái Hữu Nha Kỹ Thuật đã tổ chức Lễ Tưởng Niệm Anh Linh Tử Sĩ Nha Kỹ Thuật tại Hội trường thị xã Westminster. Trên bốn trăm quan khách và gia đình chiến binh Nha Kỹ Thuật đã đến tham dự buổi lễ này.

Sau lễ Truy Ðiệu tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ vào buổi trưa cùng ngày, thì buổi tối lễ Tưởng Niệm đã diễn ra tại đây. Có thể nói đây là lần đầu tiên anh em cựu chiến binh Nha Kỹ Thuật tổ chức được một buổi lễ chang chang trọng và đầy xúc động như thế.

Trang trọng và xúc động vì đây là lần đầu tiên sau 30 năm ngày tan hàng rã ngũ, những chiến binh anh hùng vô danh đã hy sinh trong âm thầm vì tính cách bí mật quốc phòng của Nha Kỹ Thuật trong cuộc chiến VN, nay đã được anh em còn lại qui tụ trong Tổng Hội Nha Kỹ Thuật, phủ lá cờ Vàng thân yêu lên anh linh của các chiến sĩ vô danh này. Việc phủ cờ bao hàm ý nghĩa Tổ Quốc Ghi Ơn.

Cũng là lần đầu tiên, các Ðại Diện trong Ban Tổ Chức đã bạch hóa phần lớn tổ chức và hoạt động của Nha Kỹ Thuật, một tổ chức “tình báo chiến lược” của QLVNCH, thực hiện những công tác trong chiến tranh bất quy ước.

Theo những Ðại Diện này thì Nha Kỹ Thuật là một tên gọi vỏ bọc của tổ chức tình báo này. Sự phát triển của nó có thể chia thành hai giai đoạn. Ðược thành lập từ năm 1957 do từ sự bành trướng phá hoại của CSVN, với cái tên đầu tiên là Sở Khai Thác Ðịa Hình trực thuộc Phủ Tổng Thống với những Phòng 45 (P.45) sau đổi là Phòng E và Sở Bắc. Ngoài ra còn có Trung Tâm Huấn Luyện Long Thành, các chi cục Atlantic ở Huế và Pacific ở Ðà nẵng. Ðến 1963 thì trở thành Bộ Tư lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt.

Ðó là giai đoạn đầu. Ðến giai đoạn thứ hai thì Sở Bắc được đổi thành Sở Kỹ Thuật thuộc Bộ Tổng Tham Mưu và tới năm 1964 được đổi thành Nha bao gồm những Sở Liên lạc, sở Phòng Vệ Duyên Hải, sở Không Yểm, sở Tâm Lý Chiến có các Ðài Tiếng Nói Tự Do, Ðài Gươm Thiêng Ái Quốc, đài Mẹ Việt Nam.Và sau năm 1972, khi Mỹ thực hiện kế hoạch“Việt Nam hóa chiến tranh” thì những công tác tình báo, ra Bắc, thành lập các khu chiến Mặt Trận Gươm Thiêng Ái Quốc ở miền Bắc phải tạm đình lại.

Một vị Ðại Diện khác của Hội Ái Hữu Nha Kỹ Thuật cho biết chi tiết hơn về tổ chức này và phần hành công tác của họ. Tuy nhiên, vì trong một buổi sinh hoạt lễ Tưởng Niệm nên thời gian rất hạn chế cho những bài phát biểu nên công tác của Nha Kỹ Thuật cũng chỉ được trình bày một số điểm nặng về quân sự hơn là tình báo như công tác điệp viên, công tác lừa địch, công tác thả truyền đơn, thư phản gián lũng đoạn và những đợt hành quân thả quà ra Bắc v.v...

Vào lúc cử hành Lễ Tưởng Niệm thì đèn đóm trong phòng Hội tắt hết. Sáu cây đuốc thiêng được bật lên tỏa những ánh sáng lung linh soi lên bức Tượng Chiến Sĩ Vô Danh được đặt phía phải của sân khấu. Bức Tượng Người Lính trong thế chờ đợi giờ hành động mà gương mặt của Tượng được tô mờ nhạt để biểu tượng cho những người chiến binh anh hùng vô danh của Nha Kỹ Thuật khiến cho ai nấy khi nhìn lên Tượng mà Tưởng Niệm đều xúc động vô hồi. Trong khi đó thì những lời ngâm trong Bài Văn Tế càng đưa không khí Tưởng Niệm thêm phần thiêng liêng huyền bí.

Lễ Tưởng Niệm Anh Linh Chiến Sĩ Nha Kỹ Thuật chấm dứt, nhưng đó chỉ là phần đối với Người Ðã Khuất, còn người còn sống là những gia đình vợ dại con thơ của những anh hùng vô danh ấy thì sao? Anh em trong Tổng Hội Ái Hữu Nha Kỹ Thuật qua nhiều năm trời ở trong nước cũng như ra đến hải ngoại đã chia nhau tìm kiếm liên lạc lại được một số, nay đều đã có được cuộc sống tốt đẹp ở hải ngoại. Một số gia đình được mời về và đã được Ban Tổ Chức nhắc lại những chiến tích xưa của chồng, cha, anh , những kỷ niệm trong tình chiến đấu khiến nhiều bà quả phụ đã không cầm được nước mắt khi dơ tay nhận những tấm bảng Lưu Niệm.

Cựu Ðại Úy T. thuộc Sở tâm Lý Chiến NKT, nguyên Trưởng Ðài Gươm Thiêng Ái Quốc bầy tỏ: “Thật là xúc động khi anh em tổ chức Lễ Tưởng Niệm trang trọng như thế này. Có điều tôi rất băn khoăn là cái chết cũng rất anh hùng của Chánh Sở Tâm Lý Chiến, Trung Tá Ðặng Xuân Thoại khi tự sát vào sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 tại nhà thương St Paul sao không được anh em Nha Kỹ Thuật nhắc tới. Theo tôi đó là sự tuẫn tiết duy nhất xẩy ra trong Nha Kỹ Thuật vào ngày 30.4.1975.”

Cho mãi tới gần 8 giờ tối buổi Lễ mới chấm dứt và mọi người đã cùng nhau dự một bữa ăn tối nhẹ do Gia Ðình Nha Kỹ Thuật khoản đãi.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tuyến Thép Xuân Lộc
Monday, April 25, 2005 HỨA YẾN LẾN



LTS: Trận chiến Xuân Lộc trong những ngày cuối của cuộc chiến tranh VN đã là nét son trong quân sử QLVNCH và cũng là nét son cho tinh thần chiến đấu của một thế hệ thanh niên Miền Nam không chấp nhận CS. Trận chiến ấy đã được nhìn như thế nào về phiá ta và phía bạn cũng như phía địch CS.

Trang Cựu Chiến Binh QLVNCH/NV xin được trích đăng lại một phần trong tập tài liệu Tuyến Thép Xuân Lộc của cựu Đại Tá Hứa Yến Lến, Tham Mưu Trưởng Hành Quân trong trận chiến này.


Trong quyển sách vinh danh QLVNCH với tựa đề “Cái Chết của Nam Việt-Nam”, ông Phạm Kim Vinh đã chuyển ngữ lời nhận xét của 4 nhà trí thức ngoại quốc về mặt trận Xuân Lộc như sau:


A.Dawson, trưởng phòng Thông Tin của hãng UPI tại Sàigòn đã viết: “Lúc địch quân bắn 3000 quả đạn đại bác vào Xuân Lộc thì Tướng Đảo không có mặt tại đó ! Nhưng ông đã nhanh chóng đến nơi lúc binh sĩ của ông đang giao tranh tại đường phố để kiểm soát thị xã. Hỏa lực của 2 bên đều rất dữ dội. Trong vài giờ đầu, SĐ18BB phải rút bỏ 1 phần thị xã, nhưng sau đó đã phản công để chiếm lại; đến tối thì SĐ6/CSBV phải gom quân và triệt thoái để chuẩn bị cho 1 cuộc tấn công khác ! Trận đánh kéo dài từ ngày nầy qua ngày nọ và cứ thế... Tướng Đảo và binh sĩ của ông đã đánh 1 trận quyết liệt mà ít người dám nghĩ rằng họ có thể làm được ? CS tung vào Xuân Lộc 1 SĐ nữa ! SĐ18BB vẫn tiếp tục chống cự. Ngày 10/4/1975, Cộng quân lại đánh vào giữa thị xã và lại bị đẩy lui. Ngày 12/4/1975, quân CSBV vẫn không tiến thêm được chút nào ? Hai Trung Đoàn của Quân Đội Nam/Việt-Nam không những đã giữ vững được vị trí mà còn phản công dữ dội hơn ! Thêm 3000 quả đạn đại bác nữa rót vào Xuân Lộc xé nát mọi vật ! SĐ18BB vẫn đứng vững ! Tướng Đảo ở lại bên cạnh các binh sĩ của ông và tiếp tục chiến đấu !

D.Warner ký giả kỳ cựu của Úc đã viết: “Với 3 SĐ6+7+341/CSBV, Văn Tiến Dũng tin tưởng sẽ chiếm được Xuân Lộc 1 cách dễ dàng nhưng ông đã lầm ! SĐ18BB chưa bao giờ được xem là 1 SĐ thiện chiến của miền Nam/Việt-Nam, trái lại có lần SĐ nầy còn được xem là SĐ tệ nhứt ! Thế mà trong những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt-Nam, SĐ nầy đã chiến đấu 1 cách dũng cảm; không những họ đã giữ vững được trận địa mà lại còn phản công mỗi ngày ! Tuy nhiên không phải chỉ có SĐ18BB đã anh dũng chiến đấu đến giờ phút cuối cùng mà còn nhiều đơn vị khác của QLVNCH như Giáo sư người Mỹ...A.T.Bouscaren đã viết: “Mặc dầu thiếu thốn đủ mọi thứ cần thiết để chiến đấu nhưng các SĐ5+18+25/VNCH và các SĐ/ND+TQLC+BĐQ v.v... đã chiến đấu thật hay ! Tại Gò dầu Hạ, đại bác 105+155 ly của Quân Đội Nam/Việt-Nam chỉ được sử dụng vài viên cho mỗi khẩu; các chiến đấu cơ Không Quân không thể yểm trợ liên tục vì thiếu nhiên liệu; Bộ Binh do đó đã phải tự lực chiến đấu v.v...

Và,P.Darcourt (Sử gia người Pháp) đã nhận xét: “Cộng quân có đơn vị phòng không hùng mạnh trên xe kéo; các phi công Nam/Việt-Nam phải đối diện với nguy hiểm khi yểm trợ cho quân bạn dưới đất ! Tại Xuân Lộc quân bạn dưới đất đã sáp chiến với địch và PB/CSBV đã tác xạ hơn 6000 trái đạn đại bác liên tiếp trong 2 ngày vào các vị trí của SĐ18BB; liên lạc vô tuyến với BCH của Tướng Đảo lúc đầu bị gián đoạn rồi sau đó được tái lập. Quân của ông bám sát trận địa, chiến đấu cực kỳ dũng mãnh và nhứt định không lui mặc cho những trận mưa lửa cứ trút lên đầu họ !

Tướng Văn Tiến Dũng CSBV, Tư Lệnh Chiến Dịch Hồ Chí Minh đã phải ngạc nhiên viết trong cuốn “Đại Thắng Mùa Xuân” (nay đã bị CS cho thu hồi không phổ biến) khi lực lượng QĐ4/CSBV phải dừng lại mặt trận Xuân Lộc (Long Khánh) : “Kế hoạch tấn công Xuân Lộc của QĐ4/CSBV lúc đầu chưa tính hết được sự phát triển phức tạp của tình hình, chưa đánh giá hết tính chất ngoan cố của địch ! Tính chất giằng co ác liệt qua trận đánh nầy không phải chỉ trong phạm vi của Xuân Lộc nữa rồi ? Nó liên quan đến việc “mất hay còn của Ngụy quyền SÀIGÒN, đến việc “giẫy chết” của chế độ Thiệu ? Việc tổ chức, chỉ huy và tiến hành các cuộc chiến đấu của ta không thể làm như cũ được nữa ? Cách đánh cũng cần phải thay đổi cho phù hợp với tình hình lúc đó ?”

Lê Đức Thọ, trưởng ban tổ chức Bộ Chính Trị/Trung Ương Đảng CSVN cũng phải thú nhận “Sau 2 làn B2(Chiến trường miền nam) xin thêm quân thì tôi vào chiến trường gặp lúc hội nghị Miền cũng vừa kết thúc ! Tôi được nghe anh em báo cáo lại là đã bàn về việc đánh Xuân Lộc ! Tôi có tham gia với anh Dũng và các đồng chí rằng: “Vội gì mà phải đánh Xuân Lộc vào lúc nầy ?” Hiện nay ta đang điều quân và các cánh quân cũng đang trên đường hành quân gấp ! Đánh SÀIGÒN thì các nơi khác tự tan rã và tạo điều kiện rất thuận lợi cho chúng ta đánh địch ! Anh Văn Tiến Dũng nói: “Tôi cũng thấy như vậy ! Nhưng anh em đã quyết định rồi ! Tôi mới vào chưa nắm được cụ thể tình hình ! Thôi cứ để anh em đánh ! Lúc ấy tôi cũng được biết trước đó, theo chủ trương của Miền, anh em đã đánh Thủ Thừa, đường số 4, bị thiệt hại nặng không giải quyết được chiến trường ? Ngoài ra còn có bọn địch ngoan cố chống cự như trận đánh vào Đồng Dù và Nước Trong là các trận đánh ác liệt tại miền Đông, thương vong của ta không phải là ít ? Do đó tôi mới có ý toan bàn với các đồng chí ngưng đánh Xuân Lộc ? Nhưng nghe anh Dũng nói, tôi cũng nghĩ có thể mình mới vào, chưa rõ hết tình hình, cứ để các đồng chí đánh vậy ! Kết cục là anh em cũng không đánh được Xuân Lộc, bị thương vong nặng, phải rút ra ! Thực tế diễn biến chiến đấu sau đó, chứng tỏ việc đánh Xuân Lộc lúc ấy là chưa cần thiết !”

Robert D.Heinl (Ký giả người Mỹ) đã viết: “Dầu sao thì các SĐ của Nam/Việt-Nam cũng đã chiến đấu tuyệt vời năm 1972 và bị đối phương tấn công tới tấp để rồi 3 năm sau, đối phương mới đánh bại được quân của Nam/Việt-Nam. Chắc chắn là tinh thần của Quân Lực Nam/Việt-Nam suy sụp vì cái ý nghĩ bị bỏ rơi và sự sụp đổ xảy ra là vì Quân đội miền Bắc được 2 đại cường quốc CS giúp đỡ tận tình để trắng trợn xâm chiếm miền Nam/Việt-Nam !” (“All Quiet On The Eastern Front” do Devin-Aldair xuất bản năm 1977, trang 47).

Tướng Westmoreland. Trong cuốn “All Quiet On The Eastern Front” do nhà Devin-Aldair xuất bản 1977, trang 47, tác giả A.T.Bouscaren trích dẫn lời truy điệu của Tướng Westmoreland nguyên Tư lệnh các lực lượng Đồng Minh tham chiến tại Việt-Nam về cái chết của Nam/Việt-Nam như sau: “Sau những hy sinh chồng chất kéo dài suốt nhiều năm, lẽ ra Nam/Việt-Nam xứng đáng nhận được cái chết cao cả hơn thế ? Sự thất bại nầy do 1 số nguyên nhân gây ra như sau: “Thỏa hiệp ngưng bắn để mặc cho quân Bắc Việt hiện diện tại Nam/Việt-Nam; sự sa sút tinh thần của Nam/Việt-Nam khi biết rằng bị bỏ rơi trong khi quân phía Bắc Việt được tiếp tế đều đều bởi 2 cường quốc Cộng Sản ? Yếu tố then chốt là nước Mỹ không hành động gì ?”

Tướng Pháp hồi hưu “Vanuxem” Tư lệnh mặt trận Bầøn Yên Nhân (gần Hànội mùa Xuân năm 1954 đẫm máu) không đầy 6 tháng, sau khi Việt-Nam sụp đổ đã ghi rõ trong cuốn “La Deuxieme Mort du Việt-Nam” rằng: “Trong chiến tranh Việt-Nam, cứ mỗi 8 phút lại có 1 chiến sĩ Quốc Gia tử trận và sau khi “thỏa hiệp ngưng bắn Paris” ra đời (27/1/1973) Nam/Việt-Nam hoàn toàn chiến đấu một mình để mỗi tháng phải đặt mua 3000 quan tài chôn tử sĩ ? Số thương vong năm 1974 đã vượt xa số thương vong năm 1968 (Guenter Lewy” America in Viet Nam, trang 207). Sau khi nêu những con số rùng rợn trên đây. Tướng Vanuxem đặt câu hỏi: “tại sao vẫn còn những kẻ cứ nằng nặc la lối rằng Nam/Việt-Nam không chịu chiến đấu ?”

Tướng Vanuxem còn nói thêm: “Chỉ riêng cho năm 1974, Bắc Việt nhận được đồ tiếp tế trong số đó có 1500 xe tăng loại T.54+T.55+T.59+60 đại bác hạng nặng + gần 2000 phi đạn SAM + hơn 240.000 tấn đạn và 1 số tàu phóng ngữ lôi”.

Tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh QĐ4/CSBV tham chiến tại mặt trận Xuân Lộc (Long Khánh) đã thú nhận (18): “Các báo cáo cho biết các mũi tiến triển tốt, ta chiếm được nhiều mục tiêu ! Nhưng vào cuối ngày 10/4/1975 trở đi, tình hình trở nên căng thẳng ! Địch phản kích điên cuồng tuy chúng bị thiệt hại nặng ? Máy bay địch đánh phá ác liệt có tính chất hủy diệt mục tiêu chúng đã mất ? Quân Đoàn đã kêu thiếu đạn các loại nhứt là SĐ6+SD341 riêng SD7 thì thiếu quân số; tình hình rất gay go ! Các đồng chí Phạm Hùng + Văn tiến Dũng và cả anh Lê Đức Thọ, rất lo lắng khi thấy địch càng tập trung thêm lực lượng và ta có vẻ khựng lại ? Chiếm mục tiêu không nhanh gọn ? Hoặc bị đẩy lui ?”

Đại Tá William E.Le Gro, nhân chứng giờ hấp hối của Nam/Việt-Nam cuối tháng 4 năm 1975. Ông ta phục vụ tại Trung Tâm Quân Sử của Lục Quân/Mỹ đã kết luận: “Lấy từng đơn vị so với từng đơn vị; lấy từng cá nhân so với cá nhân, thì các lực lượng của Nam/Việt-Nam liên tiếp tỏ ra trên chân các lực lượng đối phương. Nhưng sự lãnh đạo Quân sự và Dân sự cấp cao nhứt của Nam/Việt-Nam không có, cũng như không có sự yểm trợ tinh thần và vật chất kiên trì của Mỹ”

Leslie Gelb, ngày 20/3/1975 trên tờ báo New York Times đã nhận định: “Người ta đồng ý rằng trong 2 năm qua, Nam/Việt-Nam đã phải chết nhiều hơn trước để bù lấp sự cắt giảm hỏa lực yểm trợ. Các cấp chỉ huy trẻ và Hạ sĩ quan chết nhiều nên đã đưa tới nạn thiếu hụt trầm trọng về cấp chỉ huy. Sự thiếu hụt ấy làm cho tinh thần binh sĩ sa sút thêm. Quân lực Nam/Việt-Nam càng ngày càng tức giận vì cái cảm tưởng bị Đồng Minh Mỹ đã bỏ rơi rồi lại còn không hề phản ứng trước các sự vi phạm trắng trợn của Hànội sau thỏa hiệp ngưng bắn 27/1/1973. Quốc hội và báo chí Mỹ gia tăng sự nhục mạ Nam/Việt-Nam khi cứ đều đều kết tội Nam/Việt-Nam là không chiến đấu, là không đáng được giúp đỡ. Tất cả những điều nầy khiến cho Nam/Việt-Nam cảm thấy bị phản bội và thấy ý chí chiến đấu suy yếu”.

Solzhenitsyn, văn hào Nga lưu vong, gởi cho thế giới tự do lời truy điệu trong cuốn sách mới nhứt của ông có tựa đề: “Lời cảnh cáo gởi Tây Phương”. Đặc biệt trong cuốn sách nầy, ông ta gay gắt lên án thế giới vì đã bất công trong sự xét đoán ý chí của Nam/Việt-Nam. Ông ta viết: “Sau sự sụp đổ của Nam/Việt-Nam năm 1975, ta thường được nghe những lời giải thích chúng ta không thể bảo vệ những kẻ không cố ý và không có khả năng tự bảo vệ với tài nguyên nhân lực của chính mình; chúng ta không nên bảo vệ những kẻ không có nền dân chủ đầy đủ”. Quả thật đó là những lời giải thích kỳ quái. Thế giới đã làm gì khi Cộng sản miền Bắc trắng trợn xâm lăng Nam/Việt-Nam.

Bùi Diễm nguyên Đại sứ lưu động của VNCH, đã ghi lại cảm nghĩ như sau: “Lực lượng Bắc Việt với số lượng quân cụ to tát của Xô Viết và Trung Hoa đã phô bày ra khi từng đoàn quân CSBV tiến theo các quốc lộ chính ! Điều kiện rất thuận lợi cho các cuộc “không tập”.

Chỉ cần sự can thiệp của Không quân Mỹ (sự can thiệp mà Nixon và Kissinger đã hết lòng hứa hẹn với “Tổng Thống THIỆU” năm 1973) để tiêu diệt các đoàn quân nầy, làm tê liệt khả năng tác chiến của CSBV trong nhiều năm ? Tại Xuân Lộc (Long Khánh) chu vi phòng thủ xa SÀIGÒN, SĐ18BB của miền Nam/Việt Nam đã đẩy lui tất cả các cuộc tấn công của địch quân !

Sự kiện xảy ra tại miền Nam/Việt-Nam, hoàn toàn tùy thuộc vào Quốc Hội sắp tái nhóm ! Một Quốc Hội quá chán ngán chiến tranh và mệt mỏi vì đã yểm trợ 1 Đồng Minh có quá nhiều khuyết điểm. Tại Hoa Thạnh Đốn, tôi cũng còn chút hy vọng mong manh có được từ phái đoàn của Tướng Weyand (đang công tác tại Việt-Nam) nhưng hy vọng trên lại vụt tắt ngay ngày 11/4/1975 (2 ngày sau khi phái đoàn Weyand trở lại My)õ, được biết “đề nghị chuẩn chi viện trợ khẩn cấp cho VNCH, bị bác bỏ !” Việc phủ quyết sau cùng đã đánh dấu việc bỏ rơi Đồng Minh của Huê Kỳ. Những binh sĩ đang chiến đấu can trường tại Xuân Lộc (Long Khánh) cũng như hàng triệu người Việt-Nam tị nạn đang trốn chạy Cộng Sản đều không biết rằng “án tử hình” của họ đã được “tuyên bố” trên đồi Capitol.



Cảm tưởng của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh mặt trận Xuân Lộc (Long Khánh) thay cho lời kết của bài viết này.

“Chiến thắng Xuân Lộc chứng tỏ cho thế giới thấy rằng Quân Lực Việt-Nam Cộng Hòa không phải là không chịu đánh mà rất chịu đánh ! Anh em chiến sĩ không bao giờ chấp nhận một sự bại trận dù trong tình thế tuyệt vọng; họ đã chứng tỏ hùng hồn cho thế giới thấy là họ đã đánh một trận “tuyệt vời” như thế nào tại Xuân Lộc !

Cuộc chiến đấu của QLVNCH là một cuộc chiến đấu quá chính đáng và cần thiết ! Chính nhờ cuộc chiến đấu nầy mà miền Nam/Việt-Nam đã được sống thanh bình, ấm no trong vòng hơn 20 năm qua, nhân phẩm cho con người được tôn trọng !

Trước hết, tôi muốn nói đến tâm hồn cao thượng của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa ! Họ hy sinh cho người khác sống ! Họ sẵn sàng hy sinh sanh mạng mà họ không oán trách, không hận thù cả địch, cả những cấp lãnh đạo chỉ huy đã không chăm sóc đúng mức !

QLVNCH cao cả lắm ! đời đời chúng ta hãy ngẩng mặt lên. Chúng ta phải thấy được sự kiêu hùng của QLVNCH !

Ở thế hệ của chúng tôi tri ân những người đã hy sinh; các em thanh niên là thế hệ kế tiếp cũng biết ơn họ; sau nầy những thế hệ con em chúng ta cũng sẽ nhớ ơn họ mãi mãi ! Đó là những người con yêu của Tổ Quốc chúng ta !

Trời VIỆT NAM, đất VIỆT NAM cũng đồng tình với chúng ta !!!


HỨA YẾN LẾN

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Image


Tháng Tư Lần Thứ Ba Mươi


Mưa rơi sao mãi chẳng ngừng
Phải chăng Trời khóc thương người lưu vong
Dòng đời ba chục năm qua
Mà sao ta vẫn ngậm ngùi Tháng Tư
Ngậm ngùi cho kẻ ra đi
Bỏ đi tất cả để tìm tự do
Ngậm ngùi cho kẻ không đi
Chuyến tàu chậm bước, thâm tình chẳng xa
Ngậm ngùi thương lính chiến trường
Đem thân hiến trọn cuối cùng được chi
Ngậm ngùi thương Tướng giữ thành
Huỷ mình tuẩn tiết bảo toàn thanh danh
Ngậm ngùi thương kẻ cô nhi
Nổi trôi tứ xứ, sống xa quê nhà
Ngậm ngùi thương kẻ mất chồng
Tuổi xanh, khăn trắng, bây giờ ra sao
Ngậm ngùi thương kẻ phế binh
Để xương, để máu điểm tô nước nhà
Bây giờ mất nước cô đơn
Sống theo ngày tháng nợ nần vợ con
Ngậm ngùi thương kẻ tội tù
Tù đày phương Bắc, gia đình nát tan
Ngậm ngùi thương bậc vợ hiền
Chồng tù, vợ cũng trăm bề đắng cay
Ngậm ngùi thương kẻ bỏ thân
Núi cao, núi thấp, rừng sâu khắp miền
Cốt hài tan rã tháng, năm
Hồn oan cô quạnh biết ai nhớ mình
Dòng đời thay đổi tháng năm
Cuộc đời lưu xứ buồn nhiều ít vui
Thoáng qua ba chục tháng Tư
Biết ai còn nhớ cái ngày tháng Tư…
Ngoài hiên mưa lất phất bay…
Làm thêm ray rứt kẻ sầu ly hương
Biết sao vơi nỗi ngậm ngùi
Âm thầm cuối mặt mỗi lần táng Tư…

TN




Tưởng Niệm Người Chiến Sĩ



Tháng Tư nước mất nhà tan
Hai mươi năm lẻ lưu vong xứ người
Lòng sầu những tưởng nhạt phai
Tháng, năm, liều thuốc không vơi nỗi sầu
Nào hay lòng vẫn khơi đầy
Tâm tư sống dậy mỗi mùa tháng Tư
Nén hương thầm kính trong lòng
Dâng cho những đấng một thời hùng anh
Yêu thương đất nước Việt Nam
Âm thầm hiến trọn đời trai sa trường
Lòng dũng cảm dạ sắt son
Giữ non giữ nước yên vui xóm làng
Dấu chân anh khắp mọi miền
Hiểm nguy không ngại chí trai phỉ nguyền
Nào hay lại có tháng Tư
Nát tan đời lính vạn người khổ đau
Tháng Tư oan nghiệt vận trời
Không đành sống nhục tử theo với thành
Bây giờ lại cũng tháng Tư
Âm thầm tôi nói muôn lời cám ơn
Dù anh ở chốn nơi nào
Mồ hoang tẻ lạnh, lạc loài khắp nơi
Bao người vẫn tạc ghi lòng
Anh hùng đất Việt ngàn đời ghi ơn.



Tuyết-Nga, Tháng Tư

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Góc Kỷ Niệm Chiến Trường: “Dặm Trường Việt Nam”

Bút Ký Ý-YÊN


Thuở ấy... đầu xuân Ất Mão... Sau 30 năm phát động hai cuộc chiến tranh xây dựng đảng, quân xâm lăng phương Bắc đã tới bên sông La Ngà trên vùng cây trái hiền hòa Miền Ðông.

Qua 20 năm kháng chiến, quân dân Miền Nam không để một khu vực đông dân cư nào lọt vô tay Bắc Cộng; đôi khi trong thế giằng co, hễ tạm mất liền được dành lại. Mỹ và đồng minh ào ào kéo đến vào năm 1965, tưởng như ăn sống nuốt tươi cộng sản Bắc Việt, nhưng chỉ hoạt động tại Miền Nam, rồi tám năm sau lẳng lặng rút đi, để lại Quân đội Việt Nam Cộng Hòa một mình gánh chịu hết sức nặng chiến tranh tự vệ trước toàn khối cộng sản quốc tế.

Người viết có mặt tại Miền Ðông qua suốt một mùa quốc nạn. Là lính chiến, nên xin ghi lại những diễn biến về mặt quân sự. Và nếu đôi khi buộc phải nêu lên những sự kiện về tình hình chính trị, đó chỉ là một đòi hỏi trong khi viết, nhưng sẽ không đưa ra những lời chỉ trích nào đối với những nhân vật chánh yếu có liên hệ trực tiếp tới ngày 30-4-1975, nói thẳng ra là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Dương Văn Minh.

Trong đêm khuya 5-4-1975, trên đỉnh Ðồi Móng Ngựa, chàng lính chiến của một tiểu đoàn bộ binh nơi chạm tuyến, nằm đu đưa trên chiếc võng hành quân mắc vô hai cây mít, chiếc radio ba băng áp sát bên tai, nghe ngóng sự đời. Ðây là tiền đồn cực bắc cuối cùng của Miền Nam đã lui hàng ngàn cây số từ kháng chiến Ðông Hà, Quảng Trị, về mãi khu vực Dốc Mơ, Gia Kiệm, hướng về phương bắc mịt mờ.

Mấy đài phát thanh nước ngoài đổi giọng phóng tin Tướng Ngô Quang Trưởng đào nhiệm, gây hoang mang cùng khắp Vùng Một giới tuyến. Tổng Thống Thiệu kêu ông vô Sài Gòn nhận lệnh “bỏ Huế”. Sau đó, ông Thiệu thay đổi ý cho giữ Huế, sau cùng lại bỏ Huế. Miền Trung di tản trong hỗn loạn kinh hoàng. Khi về gặp Tổng Thống tại Sài Gòn, Tướng Trưởng cam phận vô nằm nghỉ bệnh tại moat trailer house gần cổng chánh thuộc doanh trại Bộ Tổng Tham Mưu. Sau khi Tổng Thống Thiệu từ chức, Tướng Trưởng được tự do, nhưng trắng tay cô độc, lại mang nón sắt áo giáp túc trực tại Bộ Tổng Tham Mưu chờ lệnh chiến đấu từ một chánh quyền chuyển tiếp để tan hàng.

Một vị Tư lệnh quân đoàn khác đã phải ôm một nỗi buồn-muôn-thuở cùng Ban-Mê-Thuột. Tướng Phạm Văn Phú tâm sự với người bạn là Trung Tá Trần Thanh M., khóa 13 Ðà Lạt: Vào dịp Tết Ất Mão, Tổng Thống Thiệu ra lệnh cho ông phòng thủ Ban-Mê-Thuột, nhưng về sau lại ra phản lệnh cho ông ưu tiên phòng thủ Pleiku. Tướng mặt trận thi hành chỉ thị của nhà vua, đâu có ngờ đó là lệch lạc sai lầm về chiến lược, từ đó Ban-Mê-Thuột dễ dàng sa vô tay địch, biến cố như sức nổ dây chuyền ra tới Huế ngày 25-3-75 và liên tiếp về Miền Nam. Tướng Phú dặn Trung Tá M. chỉ nên tiết lộ sự kiện giả trá về Ban-Mê-Thuột vào thời gian thuận tiện. Ông tuẫn tiết trong Tháng Tư 1975 trước ngày mất nước.

Trong hai tháng Ba và Tư 1975, từng đoàn dân chúng lũ lượt bám sát theo các đơn vị ta trên đường triệt thoái, từ Cao Nguyên đổ xuống đồng bằng, từ Miền Trung xuôi nam. Nơi nào cộng quân kéo đến, là nơi đó người dân bỏ đi. Cảnh tượng Ðại lộ Kinh Hoàng ngoài Quảng Trị trong mùa Hạ 1972 tái diễn nhưng với mức độ khủng khiếp gấp trăm phần. Người dân thành Hạ Bì trong Tam Quốc bỏ Tào Tháo chạy theo Lưu Bị chỉ là hình ảnh mờ nhạt so với những thống khổ người dân Miền Nam phải gánh chịu trước vũ khí giết người, hỏa tiễn 122, đại pháo 130 của Liên Sô và Trung Cộng trong tay người cộng sản Việt Nam.

Trên đường tiến quân về Sài Gòn, Bắc Cộng đã chạm phải kháng tuyến Xuân Lộc. Sau 12 ngày tấn công vô vọng, quân đoàn 4 Bắc Việt đã để lại chiến địa một số tổn thất về nhân mạng và chiến cụ đủ để tổ chức và trang bị một sư đoàn mới. Nhưng Tổng Thống Thiệu, sau hai lần cho rút bỏ cao nguyên và vùng giới tuyến, thêm một lần nữa, cho di tản Xuân Lộc vào ngày 20-4-1975. Cái loa tuyên truyền “thừa thắng xông lên” của cộng sản vang rền là nhờ ăn theo những quân lệnh của Tổng Thống phủ Sài Gòn, đặc biệt là những đòn phản tuyên truyền mách nước cho Bắc Cộng của những đài nước ngoài. Còn ông Thiệu có nhận lệnh từ đâu chăng, thì không là nội dung của bài này.

Bên Cam Bốt, chánh quyền quốc gia, thân Việt Nam Cộng Hòa, cũng sụp đổ như một trùng hợp “lạ lùng” vào ngày 17 tháng Tư 1975, chỉ có 13 ngày trước giờ nguyệt thực Việt Nam Cộng Hòa. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa do đó mất hết cơ hội mượn đất bạn tiếp tục kháng cộng, khi cần đến.


Tiếng Vọng Qua 30 Mùa Xuân

Xin dành một nửa trang bài viết để nói về thế tiến thoái lưỡng nan - có thể là nỗi dằn vặt trong lương tâm - của những vị lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa trước khi dinh Ðộc Lập rơi vào tay cộng sản; đó là quý vị Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương, Dương Văn Minh, và Nguyễn Cao Kỳ. Ðây là những sự thực chưa được giải thích, do những người thân cận của các vị lãnh đạo thuật lại, xin dùng cho phần kết của bài này.

Người viết xin tôn vinh lòng yêu nước của quý vị lãnh đạo, thể hiện trước nguy cơ xâm chiếm của cộng sản Bắc Việt trong những ngày chót Việt Nam Cộng Hòa. Mặc dù bị đồng minh Hoa Kỳ bỏ rơi vì chính sách của họ, những nhà lãnh đạo Việt Nam, xin kể luôn vị Tướng tuẫn tiết Nguyễn Khoa Nam Tư lệnh Vùng Bốn Chiến Thuật, đã cương quyết không kêu gọi tới sự can thiệp của Pháp hay Trung Cộng, biết rằng điều này cũng khó xảy ra do sự canh chừng của Hoa Kỳ.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông Thiệu từng thăm An Lộc ngay khi trận chiến còn đang sôi động, từng chủ trương sử dụng tiền vay bốn ngân hàng Việt Nam để kháng chiến; đã lạy lục một cách vô vọng xin vay Mỹ vỏn vẹn ba tỉ MK có tính lời / interests, sẽ trả trong 10 năm, để kháng cộng; Tổng Thống Thiệu cũng từng xin quốc vương nước Saud Arabia giúp phương tiện để kháng chiến. Khi ông cho rút cao nguyên và giới tuyến, chắc ông đã thấy, ít ra lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa cũng còn bắt đầu lại từ vĩ chuyến 13 vùng Phú Yên xuôi về tới mũi Cà Mau. Có lẽ hy vọng cuối cùng về “một vùng trái độn giữa hai vĩ tuyến 13 - Phú Yên và 11 - Phan Thiết” đã đánh lừa ông? Niềm tin đó cứ nhỏ dần cho đến một giờ, ông lại ra lệnh di tản Xuân Lộc, trước khi đại sứ Mỹ cố vấn cho ông nên từ chức. Tuy nhiên, như có sự sắp xếp, ông Thiệu đã tránh được cuộc đầu hàng trong cương vị một Tổng Thống hợp biến... Khi sang Mỹ, trả lời phỏng vấn của BBC vào năm 1993, ông Thiệu cho biết, ông hoàn toàn tin tưởng vào thực thể toàn vẹn của Việt Nam Cộng Hòa theo công pháp quốc tế.

Tổng Thống kế nhiệm Trần Văn Hương. Một nhân sĩ tràn đầy tình yêu nước, vô cùng thanh sạch, quả cảm đã thề giữ Miền Nam như chính mạng sống mình; nhưng rồi cũng đã phải trao quyền cho ông Big Minh - và chỉ cho Big Minh mà thôi - là đòi hỏi tối hậu của phe Bắc Việt: Bất cứ người nào khác ngoài Big Minh sẽ phải trả giá bằng một Sài Gòn trong biển lửa. Cái viễn tượng khủng khiếp về hàng triệu dân lành phải hy sinh về tay Cộng sản, và một Sài Gòn tan nát, đã buộc TT Hương trao quyền cho Big Minh.

Cụ Hương ở lại Miền Nam, khảng khái từ chối 100 ký gạo hàng tháng do cộng sản đề nghị chu cấp, cụ nói, “bởi vì đàn em dưới quyền tôi đang bị đói rét trong tù”. Cụ Hương không đi bỏ phiếu bầu cử theo lối cộng sản, và cũng không làm chứng minh nhân dân trong chế độ cộng sản. Cụ Hương từ chối lời mời sang Pháp định cư. Cụ đã quá vãng tại Sài Gòn, theo đúng ý nguyện vẫn là công dân Việt Nam Cộng Hòa.

Ðại Tướng Dương Văn Minh, ông Big Minh đã ra thường dân từ 1965, không được dân bầu cử, không có tư cách chuyển quyền làm Tổng Thống như cụ Hương, vị Chủ tịch Quốc hội, hoặc Chủ tịch Giám sát viện. Ông chỉ là làm Tổng Thống trong hai ngày, theo đòi hỏi và lời hăm dọa “san bình địa Sài Gòn” của phe xâm lược Bắc Việt, và do một thiểu số dân biểu còn lại trong tình hình hỗn loạn vào hai ngày chót Việt Nam Cộng Hòa. Big Minh là Tổng Thống vi hiến đã đầu hàng với quân ngoại nhập Bắc Việt. Ông Minh nhanh trí viết cấp bậc của mình là “đại tướng” trên “lời đầu hàng”, nhưng đã bị viên Trung Tá Tùng của Bắc Cộng bắt sửa lại là “Tổng Thống”.

Vào giữa thập niên 1980, trước khi sang Pháp, Big Minh tâm sự với cựu Tướng Hữu Hạnh và một Bác sĩ tư, từng là quân y sĩ thuộc binh chủng Thiết Giáp Việt Nam Cộng Hòa: “Qua” bị lừa. Qua định xin thời hạn ba tháng để anh em quân nhân có thể di tản, nhưng cuối cùng thì lại phải đầu hàng. Nhưng theo qua biết, “chừng 20 năm sau, tình hình sẽ trở lại sáng sủa cho Miền Nam Việt Nam. (?)Phó TT Nguyễn Cao Kỳ. Tướng Kỳ rời chánh quyền và quân đội từ 1971. Tháng Ba 1975, ông Kỳ rời lâm ấp Khánh Dương, xin dẫn quân tái chiếm Ban Mê Thuột, nhưng không được TT Thiệu chấp thuận. Ðại sứ Martin và CIA cảnh cáo Tướng Kỳ không được làm đảo chánh để tiếp tục chiến đấu. TT Hương, sau hai lần từ chối, cuối cùng đã đồng ý cho Tướng Kỳ và Tướng Nguyễn Ðức Thắng trở lại quân ngũ; nhưng mấy giờ sau, TT Hương lại hủy bỏ lệnh bổ nhậm, bởi chính cụ cũng sắp rời chức vụ. Trong hai Tháng Ba và Tư 1975, Tướng Kỳ tự nguyện vùng các phi công, đánh phá ngăn chặn Bắc quân tiến về Sài Gòn. Ngày 28-4-1975, TT Hương, trước khi trao quyền cho Big Minh, điện thoại sang Bộ Tổng Tham Mưu khuyên Tướng Kỳ nên ra đi để hy vọng còn có dịp phục vụ sau này.


Sơn Tinh chiếm Dinh Ðộc Lập

Sau khi ra lệnh bỏ tuyến Xuân lộc, Tổng Thống Thiệu đột ngột từ chức vào lúc 20g30 ngày 21-4-1975, và hứa sẽ sát cánh cùng các chiến sĩ chiến đấu chống Cộng tới cùng. Nhưng ông Thiệu ra đi, được đích thân đại sứ Martin đưa tiễn, hai CIA gộc Timmes và Polgar tháp tùng ra tận thang phi cơ quân sự Mỹ. Lời tố cáo Việt Nam Cộng Hòa phải tan hàng do tệ nạn tham nhũng đã không còn giá trị, khi ông Thiệu được Hoa Kỳ bảo vệ cho ra đi an toàn.

Cũng thời gian này, phía CS Bắc Việt đem Tướng Trần Văn Trà thuộc MTGPMN sang Quân Ðoàn Bốn Bắc Việt, nhằm mục đích cô lập Trà khỏi quyền tư lệnh các lực lượng giải phóng Miền Nam, đề phòng một cuộc “hòa hợp hòa giải” bất ngờ với Việt Nam Cộng Hòa theo ý Trung Cộng. Bắc Việt đã gạt đàn em Mặt Trận Giải Phóng ra một bên, và tự đóng vai trò Sơn Tinh chiếm dinh Ðộc Lập. Chính Lê Ðức Thọ sau chuyến sang Liên Xô vào cuối Tháng Ba 1975 để nhận chỉ thị, khi trở về đã tiết lộ với đại sứ Mérillon của Pháp: Bắc Việt phải đề phòng một cuộc hòa giải không cần thiết tại Miền Nam.

Từ cuối năm 1960, mười lăm năm làm phận tôi đòi cho Bắc Việt, MTGPMN chỉ thu hoạch được một trái dừa tròn trịa như con số Không, mà cụ Hồ gửi tặng qua phái đoàn Thị Ðịnh năm nào.


Diễn tiến tình hình vào giờ chót Việt Nam Cộng Hòa.

Trong đêm 29-4-1975, Big Minh chỉ thị cho đại tá Chiêm cấm binh sĩ nổ súng, các băng đạn tháo ra hết, mở sẵn cổng dinh “để tôi đón tiếp những người anh em bên kia”. Một toán thuộc Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù hai lần tới định, ngăn cản ông Minh không được đầu hàng cộng sản.

Lúc 9g45 ngày 30-4-1975: Big Minh ra lệnh cho các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa ngưng bắn, buông súng tại chỗ để “tôi bàn giao chánh quyền cho Chánh Phủ Cộng Hòa miền Nam”. Biệt Cách Dù từ trại Trần Hưng Ðạo (Tổng Tham Mưu) tiếp tục điện thoại ngăn Minh không được đầu hàng địch.

Lúc 11g15: Toán xe tăng đầu tiên thuộc Lữ đoàn 203 tăng Bắc Việt tới cổng dinh theo đường Thống Nhứt. Một “Ve Chai” trên xe bắt lính gác khóa chặt cánh cổng dinh; anh lính chần chờ quay vô hỏi lệnh sĩ quan trực, liền bị ve chai bắn chết tại chỗ. Một ve chai khác nhảy xuống khép hai cánh cổng, lấy xích sắt vòng chặt lại. Chiếc T.54 rồ máy sấn tới xô nghiêng cánh trái cổng màu xanh, dây xích khóa bung ra; đại liên trên mấy xe tăng và lính tùng thiết đồng loạt tác xạ dữ dội vô mặt tiền dinh; chúng xuống xe, ùa vô, đến nữa sân cỏ đám lính Bắc Việt nhảy xuống, hai tên cầm cờ xanh đỏ Mặt Trận Giải Phóng (hai lá cờ cho chắc ăn), nón cối sùm sụp trên đầu, lúp xúp chạy lên thềm dinh...

Ðặt trường hợp Liên Hiệp Quốc không phải “sợ” một ai, có lòng tốt chỉ cần phải một tiểu đội mũ xanh tới, trương cờ xanh Liên Hiệp Quốc lên, ngồi phì phèo thuốc lá cà phê trên thềm dinh, thì bố bảo cả làng cộng sản cũng không dám xông vô dinh mà hô lớn, “A, ta bắt được Tổng Thống “ngụy” đây rồi!”

“Các ông chẳng còn gì để mà giao, chỉ có đầu hàng không điều kiện”, viên Trung tá Tùng thuộc đơn vị xe tăng Bắc Việt xẵng giọng với ông Minh. Hắn loay quay thảo “Lời đầu hàng” kèm theo “Bản chấp nhận đầu hàng” trên trang sổ tay, gạch xóa, nhưng chữ viết khá đẹp, lời văn gẫy gọn chứng tỏ đã được hướng dẫn rất kỹ từ trước. Ông Minh nhanh trí đòi ghi cấp “đại tướng” trên Lời Ðầu Hàng, nhưng viên chỉ huy Cộng Sản không thuận, bắt ghi đúng là “Tổng Thống” mới nghe.

Cộng Sản Bắc Việt khôn nhưng không ngoan, bởi khi họ ép ông Tổng Thống vi hiến Big Minh phải đầu hàng, là đã vô tình thừa nhận có một “thực thể quốc gia” để phải đầu hàng. Những cuộc “nội chiến” tại Cuba và Trung Hoa, làm gì có lệnh đầu hàng. Do đó, văn kiện pháp lý là Hiệp Ðịnh Ba Lê còn y nguyên tại Liên Hiệp Quốc, xác nhận Bắc Việt là bên xâm lăng, và Nam Việt là bên kháng chiến tự vệ. Những lính Bắc Việt bị dính chất da cam tại cao nguyên Miền Nam đã làm chứng cho cuộc xâm lăng của Bắc Cộng; cuộc kiểm tra dân số năm 1989 của Liên Hiệp Quốc đã phân loại những thành phần người dân tại Miền Nam trước và sau 1975, v.v...


Dinh Ðộc Lập, ngày tháng đợi chờ

Một sáng mùa Xuân 1992, trời Sài Gòn ấm áp, kẻ ngoại đạo, người lính cũ Miền Ðông mới ra tù, đạp xe quanh quẩn đi thăm thành phố thân xưa. Buổi sáng, anh ta đi gởi một tập hồ sơ tị nạn sang ODP Bangkok. Rời bưu điện, anh ta dừng xe đạp bên một con đường lớn, kêu ly nước mía. Dinh Ðộc Lập hiện ra cuối đường Lê Duẫn mới đổi lại từ tên cũ là 30-4. Nhìn kỹ, cái dinh thự xưa trông chẳng khác nào những khúc xương trắng, chính giữa là phòng khánh tiết nay để trống, vì thiếu ánh sáng nên giống như một cái miệng há ra rồi không ngậm lại được nữa.

Theo lẽ thường, vị thủ lãnh bên thắng trận sẽ chiếm ngự tòa nhà số một bên thua trận, ví dụ ông Hồ chiếm dinh thống sứ tại Hà Nội làm chủ tịch phủ, vì đó là niềm hãnh diện tự hào. Thế nhưng Cộng Sản Việt Nam đã bỏ bê cái dinh và chỉ cho sử dụng làm nơi vãng cảnh qua bao năm tháng, thu chút tiền còm. Có lời đồn đại rằng Mai Chí Thọ mê bói toán, đã chê cái dinh ở vào hãm địa, nên bỏ đi không dùng làm tòa nhà hành chánh. Nhưng CS vẫn không biến cái dinh thành một cơ sở nào khác, ví dụ những phân khoa đại học, một trung tâm thương mại kiểu mẫu.

Tòa Ðại sứ Mỹ gần đó cũng vắng hoe, để một căn buồng tối om phía lầu một làm văn phòng đại diện công ty dầu khí, ít khách khứa ra vô.

Khoảng đầu năm 1989, báo đài loan tin sẽ dựng tượng cụ Hồ trong khuôn viên dinh Ðộc Lập nhân kỷ niệm 100 năm sinh nhật cụ Hồ. Bức tượng bán thân cao 9 mét, để tượng hoa sen cao 3 mét, và cái đầu để bên cạnh cao hơn mét, đang do ông Diệp Minh Châu đẽo gọt dở dang tại một khoảng sân nhà kho bên đường Tô Hiến Thành. Chờ mãi không thấy ai rước cụ vào dinh. Dân chúng nhỏ to sầm xì, nên bảy tháng sau ngày kỷ niệm sinh nhật ông Hồ, đảng cho khiêng một tượng nhỏ thó của ông ta từ Lạng Sơn vô, đặt trước tòa đô chánh Sài Gòn xưa cho có lệ. Bức tượng bán thân cao chín mét của ông Hồ trong trại Tô Hiến Thành, đã bị lôi đi đâu mất dạng.

Vật đổi sao rời. Liên Xô đã sụp đổ, Trung Cộng không còn là người chị cả của Cộng Sản Việt Nam. Người Mỹ đã trở lại Việt-Nam. Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã làm thân với Mỹ. Cạy cục được làm quen với Mỹ, thì đương nhiên Cộng Sản Việt Nam cũng phải làm quen với những người bạn cũ của Mỹ, ví dụ Nam Hàn, Úc Châu, Thái Lan, Tân Gia Ba, thì sao lại không với một Việt Nam Cộng Hòa, cũng là bạn của Mỹ xưa?

Nước Việt Nam Cộng Hòa thành lập từ 1955, tức là 20 năm trước Hiệp Ðịnh Ba Lê, thì chẳng thể nào bị xóa tên vì một cái hiệp định do cộng sản đơn phương vi phạm. Cộng Sản Việt Nam có quanh co giải thích đến thế nào chăng nữa, thì cuộc chiến xâm lược Miền Nam do ông Hồ chủ động, cũng tương tự như cuộc xâm lăng của Bắc Hàn xuống Nam Hàn năm 1950. Nếu không thấy rõ điều này, là ta đã hợp thức hóa ngày 30-4-1975 cho Cộng Sản Bắc Việt, và vô tình thừa nhận cái trò thống nhất bịp bợm của Cộng Sản Bắc Việt. Ý tưởng này không nhằm hỗ trợ cho việc chia đôi đất nước, nhưng để liên hệ tới một cuộc tổng tuyển cử thống nhất chính thức dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc. Ít ra, người Việt yêu nước khắp nơi cũng nên nhớ rằng, mình đang là những kẻ vô gia cư trước căn nhà của mình đang bị cộng sản chiếm đoạt bằng võ lực.

Tòa đại sứ Mỹ bên đường Thống Nhứt, bỏ trống lâu năm, nay đã hoàn trả cho Caesar Mỹ, - Mỹ đi rồi Mỹ lại về. Trong khi đó, dinh Ðộc Lập vẫn chưa có chủ mới. Vào Tháng Tư năm 1991, báo chí Cộng sản đăng tin về dự án trùng tu dinh, và một Ðại tá công binh Việt Nam Cộng Hòa sẽ được mời về nhận công tác tu bổ. Chưa biết đây là sự thực hay là một trái bóng thăm dò, cũng như tuyên bố của chủ tịch thành phố Lê Thanh Hải một năm trước về việc đặt tên thành phố trở lại là Sài Gòn.


Y-YÊN “Dặm trường Việt Nam”.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Đêm Dài Nhất Của Sài-Gòn Mường Giang

Ba chục năm Quốc-Hận, nhớ lại đêm 29-4-1975, đêm dài nhất của Sài-Gòn.

"Sao quên được, tháng tư đen mất nước
máu nhuộm hồng cả sông biển xanh mơn
xương trắng phơi khắp sông núi Trường Sơn
người chết thảm, nơi bến tàu sân đợi
sau quên được những phút giờ hấp hối
trong chiến hào, giữa đồn vắng không tên
lính cô đơn, nhìn mấy trắng cô đơn
chờ pháo bạn, ngóng phi tuần trở lại..."

Ôi những lời thơ nhức nhối, khiến cho người Sài Gòn và các quân, dân, cán, chính cũng như đồng bào chiến cuộc miền Trung, đã có mặt tại thủ đô, trong đêm 29 rạng ngày 30-4-1975, làm sao quên được?. Đây là giây phút cuối cùng của cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1960-1975), những ai may mắn sống sót, sẽ không thể quên nổi, cái đêm hôm ấy là đêm gì, trong thân phận Việt Nam, mà thời gian như dài vô tận.

Đêm đó cả Sài Gòn-Chợ Lớn và Gia Định đều bị cúp điện. Nhưng trên trời cao, trong cai khoảnh không gian bao quanh Sài Gòn, lúc đó lại được soi sáng mờ mờ ảo ảo, bằng đủ các loại đèn của máy bay trực thăng, cho tới trưa ngày 30-4-1975 mới dứt. Sau này, dân đen Sài Gòn và những người di tản ra ngoại quốc, qua báo chí cùng tài liệu mật được Mỹ công bố, mới biết được: Đêm 29-4-1975, là thời gian cuối cùng của Hoa-Kỳ tại Nam VN. Cũng trong đêm đó, nhờ sự bảo vệ của các đơn vị còn lại của QLVNCH bị bỏ rơi và bán đứng, đang tử chiến với cộng sản đệ tam quốc tế ở dưới đất, nên siêu cường Mỹ, đã an toàn rời khỏi Sài Gòn, trong danh dự, bằng hằng trăm trực thăng đáp khẩn cấp, trên các mái nhà khắp đô thành, trong khuông viên cơ quan Dao và Toà Đại Sứ.

Đêm đó cũng là giờ thứ 25 của VNCH và chính tổng thống cuối cùng là Dương Văn Minh, đã ra lệnh cho quân đội miền Nam buông súng đầu hàng, cũng như ký lệnh đuổi Mỹ ra khỏi nước. Đây là hai đề tài dai dẳng và nhức nhối của những trang cận sử tháng tư đen. Chính nó, đã gây nên cuộc bút chiến, giữa các vị khoa bảng, trí thức xôi thịt của miền Nam, trong số này có rất nhiều người từng đâm sau lưng người lính trận. Đây cũng là dịp ngàn vàng hiếm hoi, để họ được sống lại cái thuở tự do báo chí của năm nào nơi quê nhà. Bởi vậy trên diễn đàn và báo chí hải ngoại, người ta lại đánh nhau bằng bọt mép và chữ nghĩa. Tóm lại suốt thời gian rất dài, không ai chịu thua ai, người nào củng cố vận dụng tất cả văn phong, dao to búa lớn, để muôn đời sống mãi với lập trường của mình. Rốt cục, nhờ ánh sáng mặt trời soi sáng gần hết những bí ẩn của cận sử, trong đó có hai vấn đề liên quan tới ông Dương Văn Minh. Nhờ vậy mới chấm dứt được cuộc đấu võ mồm vô duyên, đã làm phiền lòng cũng như tốn giấy bút và thời gian quý báu của người Việt tị nạn cộng sản khắp hoàn cầu.

Thì ra, cả hai hành động ra lệnh cho QLVNCH đầu hàng cũng như đuổi Mỹ ra khỏi Sài Gòn, đều không phải là quyết định của tổng thống Dương Văn Minh và nội các hai ngày của ông. Theo tài liệu của cựu đại sứ Pháp thời VNCH, viết trong tác phẩm " Saigon et moi ", được Vũ Văn Hồ tóm dịch và phát hành tại Paris ngày 23-3-1985, cũng như tài liệu của Hứa Hoành, trong " Nam Kỳ Lục Tỉnh số IV ", thì ông Dương Văn Minh chỉ làm theo lệnh của cộng sản Hà Nội. Riêng việc đuổi Mỹ, thi do Đại Sứ Martin của Hoa Kỳ nhờ phổ biến. Đọc Phạm Bá Hoa, nơi trang 235 của tuỳ bút " Đôi dòng ghi nhớ ", về việc chính ông Dương Văn Minh, đã xác nhận năm 1991 tại Paris, trong bàn tiệc lúc đó có Trần Văn Đôn và Nguyễn Linh Chiểu. Chính Đại Tá Chiểu đã hỏi Dương Văn Minh, tại sao mới nhậm chức có một ngày, đã đuổi Mỹ?. Tổng thống Minh đã trả lời:’Moa không đuổi họ, bản văn (đuổi Mỹ) được phổ biến trên đài phát thanh vào sáng sớm ngày 29-4-1975, do chính Martin viết và nhờ Moa phổ biến. Có vậy Mỹ mới rút khỏi Sài Gòn trong danh dự ".

Như vậy hai sự kiện quan trọng nhất của cận sử VN đã được chính những người trong cuộc xác nhận bằng văn tự, chứ không phải là miệng đời, cho nên không thể nào nói là bịa chuyện hay là vì ghét người mà bôi bác. Sự thật lúc đó người Mỹ đã phải tam rời khỏi mảnh đất đau khổ VN, vì nơi này không còn một giá trị gì nữa, để mà nấn níu hòng đổi chác và lợi dụng Có điều hành động tháo chạy của Hoa Kỳ vào giờ thứ 25, thật là tàn nhẫn và lố bịch. Năm 1954, người Pháp sau khi bị quốc dân VN đánh bại tại Điện Biên Phủ, lúc đó dù đã kiệt sức. Nhưng Họ vẫn cố gắng giữ thể diện, bằng cách tạo hoàn cảnh để rút quân về nước trong danh dự và tự trọng. Ngoài ra vào giờ 25 trên đất Bắc, người Pháp cũng không đem con bỏ chợ, khi tận lực giúp đỡ các đơn vị của Quân Đội Quốc Gia VN đang chiến đấu tại đó, và hơn một triệu người Việt, không muốn sống chung với cộng sản, được di cư vào tìm tự do tai miền Nam. Riêng người Mỹ, sau khi đã liên kết được với Trung Cộng, hoạch định thế chiến lược mới, nên phải rút khỏi VN. Để có lý do biện minh với thiên hạ, Hoa Kỳ đã ngụy tạo một hiệp định ngưng bắn giả tạo mà thực chất là đã bán đứng đồng minh của mình cho kẻ thù chung năm 1973. Rồi trong giờ phút hấp hối của VNCH nhưng với nguời Mỹ lúc đó, nếu muốn có thể lật ngược thế trận một cách dễ dàng, để bắt cộng sản quốc tế phải rút về phía bên kia vỹ tuyến 17, như họ đã từng đánh đuổi cả triệu quân Trung Cộng và Bắc Hàn, trong cuộc chiến Cao Ly năm 1950.

Nhưng than ôi Mỹ đã cúi mặt chịu nhục nhã, trốn chạy khỏi Nam VN trong đêm tối, bằng các trực thăng đáp khẩn trên mái nhà, qua sự bảo vệ của QLVNCH trong giờ phút hấp hối dưới đất. Tàn nhẫn hơn, đám lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ tại Tòa Đại Sứ, còn bắn trái khói đạn cay vào rừng người VN trước mặt, đã từng phục vụ cho họ hết lòng, lúc đó đang cần chạy khỏi nước để cứu mạng.

Hành động trên đã nói lên đầy đủ bản chất thật của người Mỹ: "Tiền trao cháo múc", hay đúng hơn Mỹ vào VN vì quyền lợi của họ thế thôi.

1- Mỹ đến Việt Nam:

Người Mỹ bắt đầu dòm ngó thương trường VN từ thời Vua Gia Long Nhà Nguyễn. Thế chiến II (1939-1945) Mỹ lại vào Việt Nam để chống lại quân phiệt Nhật và cuối cùng là trực tiếp tham dự Đông Dương thế chiến 2 (1960-1975). Từ sau năm 1991, Liên Xô và cộng sản Đông Âu tan rã, Trung Cộng lên thay thế làm bá chủ cộng sản đệ tam quốc tế, hằng lăm le dã tâm nuốt trọn vùng Á Châu và toàn cầu. Sự biến chuyển chính trị trên, khiến người Mỹ phải xét lai hay nói đúng hơn là dịp để Mỹ thực thi kế hoạch cuối cùng " Bất chiến tự nhiên thành ". Thế là chiến dịch " tìm lính Mỹ mất tích tại VN ra đời ", để Bắc Bộ Phủ công khai cho phép Hoa Kỳ quay lại chiến trường cũ vào năm 1985 và hợp thức hóa từ ngày 3-2-1995, qua cái gọi là văn phòng liên lạc " Việt-Mỹ "mở tại Hà Nội. Tóm lại, Hoa Kỳ đã tới nước ta qua các giai đoạn:

** MỸ ĐẾN VN TÌM THƯƠNG TRƯỜNG:
- 1803: một tàu buôn Mỹ tên Fame do thuyền trưởng Jermiar Brigo’s đến VN xin giao thương nhưng vua Gia Long không chấp thuận.
- 1819: Hai tàu buôn Mỹ khác tên Franklin và Marmion vào cửa Cần Giờ (Vũng Tàu) và theo sông Đồng Nai vào tới Gia Định Thành, tức Sài Gòn ngày nay nhưng vì ngôn ngữ hai nước bất đồng, nên cuối cùng hai chiếc tàu trên lại quay ra biển.
- 1833: Một chiến hạm Mỹ tên Peacock do Hạm trưởng Edmund Robert, được Tổng Thống Mỹ Andrew Jackson, đề cử làm sứ thần đến Đại Nam giao thiệp xin mua bán. Ngày 1-1 năm đó, hai chiếc tàu trên tới hải phận Đà Nẳng nhưng vì gặp bảo, nên không thể vào vịnh để cặp bến. Do trên tàu phải chạy xuống núp bão tại Vũng Rô, Phú Yên và được tiếp xúc với chánh quyền địa phương bằng tiếng Latin, qua sự thông dịch của một một tu sĩ Thiên Chúa Gíáo. Theo nữ giao sư Ellen Hammer, một học giả về Đông Phương, thì trong lần tiếp xúx đó, vua Minh Mạng đã chính thức cho phép người Mỹ vào VN buôn bán giao dịch nhưng không hiểu sao, hai chiếc tàu trên đã không tới Đà Nẳng, sau khi rời Vũng Rô.

** MỸ VÀO VN ĐỂ CHỐNG NHẬT TRONG THẾ CHIẾN II (1939-1945):
Ngày 9-3-1945, Nhật tấn công và giải giới toàn bộ lực lượng quân đội viễn chinh của thực dân Pháp trên bán đảo Đông Dương. Sau đó quân Nhật từ Hoa Nam tràn xuống chiếm đóng Việt-Miên-Lào. Bán đảo Mã Lai, lúc đó là thuộc địa của Anh Cát Lợi, cũng rơi vào tay quân phiệt Nhật. Từ đó, khắp lãnh thổ VN luôn bị quân Đông Minh oanh tạc.

Để thâu lượm các tin túc tình báo cũng như tiếp xúc giải cứu các phi công Đồng Minh bị Nhật bắn hạ bắt giữ, Anh-Mỹ đã thành lập một cơ quan tình báo đặc biệt gọi là GBT, chuyên hoạt động trên lãnh thổ VN. Nhưng cỡ sở này đã bị Nhật khám phá được và dẹp tan. Sau ngày 9-3-1945, khi người Nhật chính thức trở thành chủ nhân ông Đông Dương, Để tiếp tục hoạt động tại mặt trận này, cơ quan tình báo Hoa Kỳ đã cử một nhóm sĩ quan OSS ( tiền thân của CIA), trong đó có Trung Úy Dan Phelan, Thiếu Uý Allison Thomas..nhảy dù xuống các căn cứ của Việt Minh tại Việt Bắc, để phối họp chống Nhật. Chính trong giai đoạn này, để mua chuộc, người Mỹ đã cho bộ đội VM rất nhiều vũ khí cá nhân cũng như cộng cộng, đồng thời huấn luyện hướng dẫn họ cách sử dụng các loại súng cối, đại bác, ném lựu đạn, đặt mìn bẩy..Khi Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng Minh vì bị thả hai trái bom nguyên tử, thì cũng chính những sĩ quan tình báo này, đã giúp cho lực lượng VM cướp được chính quyền trong tay người Việt Quốc Gia, tại Hà Nội ngày 3 tháng 9 năm 1945. Bởi vậy, nên khi toán sĩ quan OSS từ Côn Minh, do Đại Uý Archimedes APatti cầm đầu, tới Hà Nội, đã được Hồ Chí Minh và các lãnh đạo khác trong Bắc Bộ Phủ đón tiếp rất trọng thể.

Tại Nam Kỳ, cũng có một nhóm OSS gồm 17 người, do Thiếu Tá A.Perter Deway cầm đầu, theo chân quân Anh-Ấn tới đây để giải giới quân Nhật, trú đóng phía bên này vĩ tuyến 16. Nhưng toán sĩ quan tình báo này đã phản đối quân Anh-Ấn, khi thấy họ đã công khai cho thực dân Pháp vào lại Sài Gòn, để tiếp tục đàn áp và bức hại người VN. Do đó, toán sĩ quan OSS này đã bị tướng Anh Gracey trục xuất khỏi Nam Kỳ. Tuy nhiên Thiếu Tá Peter và nhiều sĩ quan OSS khác trong toán, đã bị chết thảm tại Sài Gòn, do sự tấn công lầm của lực lượng VM kháng chiến tại đây.

Ngoài ra trong thời gian tù 1945-1954, Chính phủ Mỹ đả cử các viên chức thuộc Bộ Ngoại Giao Kennet London, Abbot Lowmoffat..do James O’Sullivan làm Tổng Lãnh Sự tại Hà Nội. Nhưng rồi chỉ một thời gian ngắn, khi biết được Hồ Chí Minh hoạt động cho Đệ Tam cộng Sản Quốc Tế, nên người Mỹ đã cuốn cờ bỏ chạy khỏi miền Bắc.

** MỸ THAM DỰ CUỘC CHIẾN ĐÔNG DƯƠNG 2 (1955-1975):
Tháng 12-1949, Trung Công coi như làm chủ hoàn toàn Hoa Lục, khi Lâm Bưu bình định xong đảo Hải Nam và Lư Hán tại Vân Nam cũng xin đầu hàng. Ngày 18-1-1950, ả Liên Xô lẫn Tàu Công là nước đầu tiên công nhận chế độ cộng sản của VC tại Hà Nội. Để trả đũa, Hoa Kỳ cũng công nhận Chính Phủ Quốc Gia VN của Quốc Trưởng Bảo Đại, đồng thời tiếp tục viện trợ quân sự cho thực dân Pháp, chống lại cộng sản VN, qua bức bình phong Mặt Trận Kháng Chiến Việt Minh.

Tháng 6-1950, Thế Chiến III bùng nổ tại bán đảo Triều Tiên, giữa phe cộng sản Trung Cộng, Bắc Cao và Lực lượng Liên Hiệp Quốc. Sau khi chiến cuộc chấm dứt, đệ tam quốc tế coi như chỉ chiếm được nửa nước Cao Ly. Để ngăn chận vết dầu loang của chủ nghĩa Mác-Lê-Mao, lan tràn tới các phần đất còn lại của Châu Á, nên Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Mỹ mới đẻ ra cái gọi là Thuyết Domino vào ngày 1-2-1950 (Theo tài liệu mật NSC 649 vừa được giải mã). Trong chiến lược này, VN được chọn làm quốc sách, như một tiền đồn ngăn chận làn sóng đỏ lúc đó.

Thật sự đây chỉ là một cái cớ, mang các danh từ hào nhoáng, để che đậy công cuộc mậu dịch song phương và hoà bình, của bọn tư bản lái súng Mỹ, đang lảng vảng sau bức bình phong của Tòa Bạch Ốc, mà bất cứ thời nào từ trước tới nay, đều không thay đổi. Tóm lại vì lợi nhuận của bọn lái buôn và nước Mỹ, nên lúc nào cũng phải kiếm cớ để có chiến tranh khắp nơi. Như vậy Mỹ mới điều hòa nền kinh tế tài chánh để cung ứng nhu cầu quốc gia không bị xáo trộn vì nạn thất nghiệp. Mở rộng chiến tranh Đông Dương lúc đó, để bọn tài phiệt lái súng, tiêu thu cho hết số vũ khí tồn kho, từ thời thế chiến I và II, đồng thời có dịp bày bán các sản phẩm mới của cuộc chiến hiện đại.

Giống như nền kinh tế thị trường hiện tại, chúng ta xài các sản phẩm mang nhiều quốc tịch khác nhau nhưng thật sự gần hết đều là của Mỹ được làm tại ngoại quốc, vì nhân công rẻ và tránh thuế nặng. Tương tự, các sản phẩm chiến tranh thời đó, mang nhiều nhãn hiệu như Liên Xô, Trung Cộng, Do Thái, Đông Âu..thật sự đều là hàng Mỹ chính hiệu. Chẳng hạn chiến xa T54, xe vận tải Molotova, Zill..cứ tưởng là do Nga-Tàu chế, thật sự là hàng của các xe Ford và Christie.. Cũng nhờ chiến tranh VN, ông khai gia tăng ngân sách quốc phòng, ngoại viện và bắt dân đóng thuế thêm 10%. Song song các đại công ty Mỹ như Howard Hughes, Lockheed Aircraft, General Dinamic, General Electric..nhờ hợp tác với Bộ Quốc Phòng, nên hốt được nhiều tỷ đô la. Bởi tất cả viên trợ cho VNCH đều miễn thuế nhập khẩu và đổi hàng thành tiền, khấu trừ vào ngân khoản viện trợ hằng năm.

Tóm lại nhờ chiến tranh VN, cả nước Mỹ và các đồng minh ăn ké liên hệ như Nhật, Nam Hàn, Đài Loan.ăn nên làm ra. Để thu hoạch được mối lợi to lớn trên, Tòa Bạch Ốc phải đẻ ra một cuộc chến dai dẳng, được các nhà quân sự gọi là " đánh nhau có giới hạn ". Cũng vì lý do trên, mà qua cuộc chiến gần 20 năm, quân đội Mỹ tham chiến tại VN, có thể nói là chưa bao giờ được trang bị đầy đủ các phương tiện, cũng như cung ứng quân số để đạt tới chiến thắng. Rồi với lý do không được chọc giận Liên Xô-Trung Cộng, nên chính phủ Mỹ cấm quân đội Hoa Kỳ và QLVNCH, không được vượt vỹ tuyến 17 để tấn công Bắc Việt. Nhờ vậy cộng sản Hà Nôi luôn vững tâm có một hậu phương lớn, an toàn, không bao giờ sợ phản tặc đâm sau lưng, nên chỉ rốc hết người và tài nguyên vào cuộc xâm lăng cưỡng chiếm miền Nam mà thôi.

Nên đừng lấy làm lạ, khi thấy gần như suốt cuộc chiến Hoa Kỳ chỉ viện trợ cho VNCH những thứ quân dụng và vũ khí lỗi thời như súng trường Garant M1, đại bác không giật 57 ly, súng cối 60-81 ly, đại bác nòng dài 105-155 ly..bởi Mỹ chỉ muốn Miền Nam sống thoi thóp mà thôi. Tóm lại chỉ vì bản chất chính trị con buôn, quyền lợi ích kỷ, nên Mỹ đã tìm đủ mọi cách để biến quốc gia của kẻ khác, gần như một tiền đồn của mình, để thử nghiệm hiệu quả của các phát minh súng-đạn. Cũng từ đó, hai miền Nam-Bắc VN, đả trở thành vật tế thần, để các siêu cường của hai khối, quảng cáo vũ khí chiến lược và ý thức hệ.

Nhưng người Mỹ cũng đã tiêu phí trong cuộc chơi giỡn mặt với tử thần trên, qua số tiền 165 tỷ mỹ kim, tiền xương máu đóng góp của người dân. Về quân đội Hoa Kỳ, có 58.022 người chết, 300.000 bị thương và 2500 mất tích. Riêng VN cả hai miền Nam-Bắc chết 1,9 triệu người và 4,5 triệu người khác bị thương. Cả nước từ biên giới Hoa-Việt tới Cà Mâu-Hà Tiên, trên núi dưới biển, nông thôn cũng như thành thị, nơi nào cũng bị bom đạn của ngoại quốc, do chính người VN hai miền đem về tàn phá tận tuyệt, não nùng.

Để được đem quân vào VN, người Mỹ đã đồng mưu với các tướng lãnh bản địa, để giết chết một tổng thống. Để có lý do chính đáng được người dân và quốc hội Hoa Kỳ tán trợ, Chính phủ Mỷ đưa ra chiến lược hào nhoáng là " vào Nam VN để giúp ngăn chận sự xâm lược của cộng sản miền bắc ". Do đó ngày 7-3-1965, theo lệnh của tổng thống Johnson, một sư đoàn TQLC Mỹ gồm 3500 người, đầu tiên đã đến Đà Nẳng và cứ thế tới cuối năm 1967, quân số Hoa Kỳ tham chiến tại Nam VN đã hơn nửa triệu người.

Trong suốt cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2 này, có một sự kiện đặc biệt nhất, đó là việc hiện diện đông đảo của bọn ký giả, nhà báo, cơ quan truyền thông..những đỉnh cao của nền văn minh duy lý da trắng. Nhưng cũng chính bọn này đã táng tận lương tâm của con người, đảo lộn trắng đen, nói càng viết bậy, để hướng dẫn dư luận thế giới trong đó có Mỹ, nhất là vụ VC tổng công kích VNCH vào dịp Tết Mậu Thân 1968. Rõ ràng nhất là lúc đó, Bắc Việt gần như nướng sạch cán binh, bộ đội khắp các chiến trường, kể cả tại Huế và Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Thế nhưng chỉ vì những cái lưỡi tắc kè thay da đổi tiếng, nên VC tuy thua ở Nam VN nhưng lại chiến thắng trong màn ảnh truyền hình khắp các thủ đô Ba Lê, Luân Đôn, Hoa Thịnh Đốn..

Cũng từ đó, nhân dân Mỹ đã bắt đầu phản đối chiến tranh và đòi rút quân về nước. Nhưng lý do chính cũng vẫn là nền kinh tế, tài chính Mỹ đang có dấu hiệu suy thoái. Sự kiện này đả thực sự bộc phát mạnh vào năm 1971, làm Mỹ phải hai lần phá giá đồng đô la nhưng vẫn không thể nào cứu vãn kịp. Đây cũng là dịp để cho bọn tư bản lái súng có cớ chuyển tiền bạc công ty ra ngoại quốc đầu tư, làm cho nạn thất nghiệp càng thêm trầm trọng.

Đây là cơ hội ngàn năm một thuở, để bọn điệp viên Liên Xô, Trung Cộng, Việt Cộng... phối hợp với bọn tư bản Mỹ phản chiến, châm ngòi cho cuộc bạo động khắp nước Mỹ, đòi rút quân về nước. Phong trào trên lan nhanh, từ California, Massachussetts, Newyork..tới thủ đô Hoa Thịnh Đón. Tưới thêm xăng vào lửa, là bọn đại tài phiệt Do Thái, những siêu quyền lực cầm trịch trong guồng máy lãnh đạo Tòa Bạch ốc, cũng gây áp lực, bắt chấm dứt chiến tranh VN, để dồn hết ngân sách ngọai viện dành cho Irael tại Trung Đông. Chính tên ngoại trưởng kiêm cố vấn an ninh quốc gia cho TT. Nixon là Henry Kissinger, người Mỹ gốc Do Thái, đã nhúng tay vào tất cả các âm mưu, trong việc ngụy tạo một hiệp ước ngưng bắn giả mạo vào năm 1973, để bán đứng VNCH cho khối cộng sản quốc tế, đổi lấy quyền lợi cho Do Thái tại Trung Đông.

Hậu quả của phong trào phản chiến trên, khiến cho giới dân cử Mỹ vì muốn kiếm phiếu trong lần sau, nên phải mị dân bằng cách ban hành nhiều đạo luật quái gở, hầu hết đều làm lợi cho cộng sản mà điển hình nhất là War Power Art ký năm 1973, gần như trói tay tống thống và hành pháp Mỹ. Vì vậy cộng sản Bắc Việt đã công khai xé bỏ bản hiệp ước vừa mới ký tại Ba Lê chưa ráo mực, xua quân cưỡng chiếm miền Nam.

Tháng 5-1975, Henry Winston, chủ tịch đảng cộng sản Mỹ đến thăm Hà Nội, đã công khai tuyên bố: "chiến thắng của CSVN cũng là chiến thắng của đảng CS.Hoa Kỳ". Còn chủ tịch bù nhìn của Mặt Trận Ma-Nguyễn Hữu Thọ tại Mạc Tư Khoa thì nói: "chiến thắng của Bắc Việt là do công lao của Mỹ, đã viện trợ chính trị và cổ võ cho họ". Nhưng mai mỉa và nhức nhối tận cùng là lời của Lê Đức Thọ: "Năm 1954 CSVN thắng Pháp tại Ba Lê, còn năm 1975 CSVN lại thắng VNCH tại Hoa Thịnh Đốn".

2- Mỹ bỏ Việt Nam:

Mỹ tới VN chỉ lợi ích và chiến lược. Bởi vậy sau khi đã bắt tay được Trung Cộng vào ngày 21-2-172, song song với việc đã chế tạo thành công tàu ngầm nguyên tử cùng hỏa tiễn liên lục địa Polaris, thì cái ý nghĩa sử dụng Nam Việt Nam, để làm tiền đồn ngăn chận làn sóng đó đả không còn tồn tại. Thêm vào đó là sự ngu xuẩn của Kissiger khi quá tin vào lời hứa cuội của Liên Xô, tại hội nghị hòa hoãn Helsinki-Phần Lan, là sẽ kềm chế VC. Bởi vậy để thưởng cộng trước, Mỹ qua đề nghị của KIs cho Liên Xô được hưởng ưu tiên tối huệ quốc.

Cũng vì vậy, nên lúc nào cặp Nixon-Kissiger cũng coi VNCH như là một thuộc địa của mình không hơn không kém. Ngoài việc nhiều lần làm mất mặt chính quyền miền Nam trên trường quốc tế, Mỹ cón sử dụng viện trợ như là một thứ áp lực gông cùm, bắt ép một quốc gia đang có chủ quyền, dân chúng và lãnh thổ, phải ngồi chung trong bàn hội nghị với công cụ của cộng sản Bắc Việt, qua danh xưng MTGPMN, mà Mỹ đã biết rất rõ ràng. Cuối cùng cũng lấy viện trợ, bắt buộc VNCH phải ký hiệp địng ngưng bắn vào năm 1973, trong đó Mỹ công nhận MTGPMN như một chính quyền thứ hai củng như cho bộ đội Bắc Việt ở lại miền Nam, làm cho QLVNCH phải bó tay, để cho cộng sản đệ tam tiếp tục tấn công cưỡng chiếm miền nam. Sau ngày 30-4-1975, tướng Alexander Haig, một cựu bộ trưởng thời TT.Nixon đã viết:’ chúng tôi gạt Tổng Thống VNCH là Nguyễn Văn Thiệu, ký vào bản hiệp ước ngưng bắn năm 1973 tai Ba Lê, bằng cách gởi nhiều bức thơ viết tay của Nixon. Theo nội dung những bức thơ đó, thi Nixon nhân danh nước Mỹ, cam kết sẽ sử dụng quân đội và pháo đài bay B52 trở lại trên chiến trường, nếu Bắc Việt tiếp tục xâm lăng VNCH. Ngoài ra Nixon còn to miệng hứa là sẽ tiếp tục quân viện cho miền nam, trên nguyên tắc mà hai nước đã ký kết từ trước " 1 đổi 1 ". Nhưng than ôi tất cả chỉ là sự lừa bịp của một siêu cường đang lãnh đạo khối tự do lúc đó, với một đồng minh từng sánh vai sống chết với mình, trong lúc đang hấp hối vì thù trong giặc ngoài. Cho nên Mỹ đã phủi tay, khi đem được tù binh về nước, giúp TT Nixon đắc cử thêm một nhiệm kỳ (1971-1975).

Bởi vậy vào ngày 21-1-1973, tại Ba Lê trong khi các nguyên thủ trên thế giới liên hệ, đang nổ rượu Champagne nói là để ăn mừng vì hòa bình tại VN. Khôi hài hơn hết, là sự việc hai tên đại bịp Kissinger và Lê Đức Tho được cái gọi là Uỷ Ban giải Nobel Hòa Bình tại Nauy, phát giải thưởng. Thì cũng lúc đó, cộng sản Bắc Việt đã xử dụng chính bộ đội mà Mỹ cho phép ở lại tại lãnh thổ Nam VN, tấn công đồng loạt các cứ điểm VNCH tại Cửa Việt (Quảng Trị), Kon Tum, Kiến Tường..Nhưng quan trọng hơn hết là tại Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Bình Thuận và Trại Biệt Động Quân Biên Phòng Tống Lê Chân (Bình Long).

Tiếp theo khi biết chắc Mỹ đã phủi tay thật sự không bao giờ can thiệp vào chiến tranh VN, nên tháng 12-1974, Bắc Việt xua đại quân tấn chiếm quận Thường Đức (Quảng Nam), Phước Long, Ban Mê Thuột và toàn thể Miền Nam vào ngày 30-4-1975.

3- Mỹ chạy khỏi VN trong đêm tối 29-4-1975, trên mái nhà:

Từ khi có ý định phủi tay bỏ Nam VN, nên cuối năm 1974, tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, đã bắt đầu lập bản dự thảo kế hoạch rút số viên chức còn lại, cũng như di tản những thành phần bản xứ có liên hệ với họ. Đó là chiến dịch "Talon Vice", sau được đổi thành "Frequent Wind ". Theo sử liệu bật mí mới đây, sở dĩ kế hoạch trên vào phút chót, trở thành "đầu gà đít vịt", là do sự bất đồng ý kiến giữa đại sứ Mỹ Martin và phái bộ quân sự Hoa Kỳ (Dao). Nhưng đây cũng chỉ là cái cớ, để phần nào làm nhẹ bớt tội tắc trách của ông đại sứ. Cũng theo tài liệu, sự thất bại còn có rất nhiều lý do khác, chẳng hạn do tướng Smith, trưởng cơ quan Dao, đã tiết lộ kế hoạch chạy của Mỹ, trong bữa tiệc do Tổng Cục Tiếp Vận tổ chức trong đêm giáng sinh 24-12-1974. Tin này lập tức được loan truyền rộng rải, nên thay vì Mỹ di tản các thành phần quan trọng có nguy hai tới tánh mạng khi VC vào, lại chỉ vớt toàn bọn nhà giàu, Chệt-Tàu Chợ-Lớn, me Mẽo, bọn cò mồi phá thối chính quyền VNCH, trong đó có nhiều sư-cha, văn nhân, nghệ sĩ..và đặc biệt là bọn tướng-tá, ăn không ngồi chơi xơi nước tại các cơ quan đầu não trung ương về quân sự cũng như hành chánh. Bọn này đa số đều giàu có về tiền bạc cũng như quyền thế và phe cánh Mỹ, nên ra đi ngoài gia đình nội ngoại ba đời, còn có cả con sen thằng ở. Sau rốt là do đại sứ Martin tới giờ phút chót, vẫn còn ngu xuẩn, cả tin vào sự hẹn hứa của Bắc Việt, nên nuôi ảo vọng thương thuyết, khi chấp nhận điều kiện " đổi ngựa " hết Nguyễn Văn Thiệu, tới Trần Văn hương và cuối cùng là Dương Văn Minh. Nhưng kết cuộc, Mỹ đã bị VC bịp xã láng, nên đã phải bỏ chạy nhục nhã trong đêm tối 29-4-1975, khắp các mái nhà Sài Gòn, đến nỗi quên cả cuốn và vác cờ theo. Thật là một trò hề vô cùng sĩ nhục của siêu cường Hoa Kỳ, lãnh tụ của phe thế giới tự do.

Theo bản dự thảo ban đầu, chiến dịch di tản gồm có bốn giải pháp, tùy theo hoàn cảnh để thi hành như 1- Dùng hàng không dân sự để di tản người tại phi trường Tân Sơn Nhất. 2- Sử dụng các vận tải cơ C123,130 và C5 để bốc người tại Sài Gòn cũng như các tỉnh lân cận. 3- Sử dụng các loại thương thuyền có sẵn tại bến Bạch Đằng. 4- Dùng trực thăng bốc người từ Sài Gòn, đưa ra các chiến hạm.

Sau khi quân đoàn I và II tan rã, ngày 1-4-1975 cơ quan Dao đã cho thành lập, một cơ quan điều hợp di tànm, gọi tắt là DCC tại Tân Sơn Nhất và giải pháp (4) dùng trực thăng bốc người được chọn, nếu phi trường Tân Sơn Nhất bất khiển dụng.

Ngày 3-4-1975, Dao lại thành lập thêm Toán Thiết Kế đặc biệt, có nhiệm vụ thanh lọc, để xác nhận tổng số người VN cần di tản và tới ngày 7-4-1975, có 70.000 người được lên danh sách. Ngay sau đó, Dao đã tổ chức một đoàn xe Bus, chuyên chở họ từ tư gia vào phi trường TSN. Vì hầu hết sân thượng tại Sài-Gòn, Chợ-Lớn và Gia-Địng, không đủ tiêu chuẩn để cho các loại trực thăng H46 và H53 đáp, nên Dao phải trưng dụng tất cả các trực thăng nhỏ của hãng Air American, do CIA thuê mướn, bốc người khắp nơi về Dao, sau đó trực thăng lớn mới chở ho ra chiến hạm.

Ngày 9-4-1975, Bắc Việt xua đại quân tấn công Xuân Lộc. Cơn phẫn nộ của QLVNCH và dân chúng được bộc phát tại đây. Sư Đoàn 18 BB, Lữ Đoàn 1 Dù, Thiết đoàn 5 kỵ binh, Biệt Động Quân, Địa Phương Quân + Nghĩa Quân Long Khánh, chẳng những đã chận đứng cộng quân tại chiến trường mà còn tiệu diệt cả vạn quân xâm lăng phương bắc, khiến cho Hà Nội lại la làng là Mỹ bội tín đem bom nguyên tử vào thả tại VN.

Do tình hình chiến trường biến động khắp nơi, báo hiệu nguy cơ miền nam sắp mất, nên Dao đã mướn nhà thầu sửa chữa các sân thượng tại đây, đồng thời yêu cầu toà đại sứ cho đốn cây cổ thụ trước sân, để làm bãi đáp khi hữu sự nhưng đã bị Martin phản đối và bác bỏ.

Ngày 16-4-1975, tướng Home Smith, chỉ huy trưởng Dao, ra lệnh đóng cửa các PX, đồng thời bắt buộc các quân nhân không cần thiết và tất cả nhân viên dân chính cùng gia đình, đều phải hồi hương.

Ngày 24-4-1975 thời tổng thống Trần văn Hương, do tình hình chiến sự bùng nổ dữ dội lhắp nơi, nên đại sứ Martin mới cho thi hành giải pháp (3) trong chiến dịch Frequeent Wind, sử dụng tất cả các thương thuyền trống, sau khi đã giở hàng để di tản. Trong lúc đó, vì tuân thủ theo lệnh của chính phủ VNCH, nên hầu hết các máy bay quân sự của Mỹ khi rời Sài Gòn đều trống không, dù có rất nhiều người đang sắp hàng ngày lại ngày, để chờ phương tiện xuất ngoại.

Ngoài việc di tản quân nhân, viên chức tòa đại sứ rời VN, ngày 4-4-1975, Dao lại cho thực hiện chiến dịch "Baby Lift", di tản 250 em mồ côi VN tại các cô nhi viện sang Hoa Kỳ, bằng vận tải cơ khổng lồ C5A-Galaxy. Tháp tùng trong chuyến đi này, còn có 37 nữ thơ ký và phân tách viên của Dao, với nhiệm vụ giúp đỡ và săn sóc các em trong suốt cuộc hành trình. Nhưng than ôi công tác đầy nhân đạo này, đã bị bàn tay bí mật nào đó phá vỡ ngay. Bởi vậy máy bay vừa mới cất cánh, thì đã rớt xuống ngay tại đầu phi đạo tan tành. Rốt cục chỉ còn sống sót 175 người. Tới nay sự việc trên vẫn chưa được soi sáng, nên đâu biết ai là thủ phạm đã gây nên tai nạn thương tâm cho các em bé mồ côi khốn khổ trên.

Tại Subic Bay-Phi Luật Tân, ngày 17-4-1975, lực lượng đặc nhiệm 76 của Hải quân Hoa Kỳ, vừa mới cặp bến để tu bổ và sửa chữa tàu bè, sau một thời gian dài đã tham dự cuộc hành quân Eagle tại Ấn Độ Dương, thì lại nhận được lệnh rời bến, tới chờ lệnh tại biển Nam Hải, ngoài hải phận Nam VN.

Những ngày cuối cùng của tháng 4-1975, tình hình chiến sự tại miền Nam vô cùng sôi động. Khắp nơi, những đơn vị còn lại của QLVNCH gồm Sư đoàn Dù, Sư đoàn TQLC, các Liên Đoàn Kỵ Binh, Pháo Binh, Lực Lượng III Xung Kích, Sư đoàn 18, 5, 25, 22, các Sinh viên sĩ quan Trường Võ Bị QG.Đà Lạt, Chiến Tranh Chính Trị, Thủ Đức, Học Viện Sĩ quan Cảnh sát, khóa sinh HSQ-Binh sĩ quân dịch các Trung tâm Huấn luyện Vạn Kiếp, Quang Trung, Lực lượng Địa Phương Quâm-Nghĩa Quân, Cảnh sát Dã chiến, Cán Bộ Xây Dựng Nông thôn cả Nhân Dân Tự vệ..phối họp với Không quân, Hải quân và Quân đoàn IV, gần như tử chiến với mấy trăm ngàn cán binh-bộ đội cộng sản Bắc Việt, từng giây phút, suốt đêm ngày..trong nổi đoạn trường máu lệ. Tất cả đã lấy xương thịt và thân xác, thay súng đạn ngăn chận xe tăng, đại pháo và biển giặc, vì người Mỹ đã cúp hết quân viện từ ngày 25-4-1975.

Đêm 28-4-1975, Nguyễn Thành Trung hay Đinh Thành Trung, con rớt của một cán bộ tập kết ở Bến Tre, nằm vùng trong không quân VNCH. Thi hành theo lệnh của Văn Tiến Dũng, tổng tham mưu trưởng quân đội VC, lái A37 giội bom phi trường Tân Sơn Nhất. Theo Lê văn Trí, tư lệnh KQ cộng sản miền bắc, thì VC đã dùng các máy bay của QLVNCH đã bỏ lại tại các phi trường Đà Nẳng, Phù Cát để oanh tạc Sài Gòn. Sáng 28-4-1975, sáu chiếc A37 được chuyển vào sân bay Thanh Sơn (Phan Rang), do Trung làm phi đội trưởng, hợp với các phi công Băc Việt gồm Từ Để, Nguyễn văn Lục, Hoàng Mai Vượng, Hàn Văn Quảng và một tên phi công phản tặc khác của VNCH là Trần văn On. Vì các máy bay trên không mở đèn, hơn nửa lực lượng phòng vệ ở dưới đất tửng là bạn, nên chúng mới toàn mạng. Vụ oanh tạc trên đả làm hư hại 3 chiếc Hỏa Long AC119, vài chiếc C47 nhưng quan trọng nhất là đã tạo tình trạng hỗn loạn tại phi trường, đang có nhiều người đợi máy bay di tản. Ngoài ra còn có nhiều đoạn phi đạo bị bom và đạn pháo kích làm hư hỏng, không còn sử dụng được. Trước tình trạng hỗn loạn này, tướng Smith ra lệnh giới nghiêm Dao 24/24, trong khi đó tại tòa đại sứ, Matin vẫn bất động.

Sau này qua các tài liệu báo chí, đọc được nhiều chuyện vui cười ra nước mắt, liên quan tới sự người Mỹ tiếp tục quân viện cho VNCH, theo tinh thần hiệp định Ba Lê 1975 và những lời hứa của Nixon, từ các tho riêng viết tay. Thật sự để có lý do hạ cánh những vận tải cơ khổng lồ C5, người Mỹ giả bộ chở tới một vài khẩu súng đại bác 105 ly thời Thế chiến 1, ít trăm bộ nón sắt cháo lòng không giống ai. Tàn nhẫn nhất trong số những thứ rác phế thải này, có nhiều thùng băng cá nhân đã xử dụng. Biết Hoa Kỳ đã tận tuyệt rồi nhưng chính phủ VNCH vẫn giả đò tương kế tựu kế, họp báo đăng tin, để phần nào giữ lại chút niềm tin cho người lính đang xả thân nơi chiến trường, trong giờ thứ 25 đối mặt với thù trong giặc ngoài. Riêng Mỹ thì mục đích đến là để chuyển tải tất cả hồ sơ mật và những vật dụng máy móc điện tử quý giá về nước.

Lạ lùng nhất là lúc 3 giờ sáng ngày 29-4-1975, tại Dao có 3 chiếc vận tải cơ C130, thường trực chuyển người ra chiếm hạm. Nhưng không biết vì lẽ gì, lại chở từ biển vào Sài Gòn, ba quả bom con heo tiểu nguyên tử (Blue 82 Daisy Cutter), loại bom 15.000 Lbs, mà QLVNCH đã sử dụng tại mặt trận Xuân Lộc-Long Khánh vừa qua. Khôi hài hơn là trong lúc các huyên viên Mỹ-Việt đang hì hục tháo gỡ đem bom vào kho, thì một phi công Hoa Kỳ lại bạch thoại trên vô tuyến, khiến cho CS Bắc Việt bắt được tần số và nã ngay hỏa tiễn 122 ly vào phi trường, làm cháy một vận tải cơ C130 đang bốc người. Thế là Dao chấm dứt kế hoạch di tản bằng máy bay lớn ra hạm, vì phi trường đã bất khiển dụng.

Trong lúc những lãnh đạo của Miền Nam đang trầm kha trong ảo vọng thương thuyết hòa hợp để kết thúc cuộc chiến, thì đúng nửa đêm 29-4-1975 cũng là giờ mà cộng sản đệ tam quốc tế Hà Nội, chọn là giờ "G" ngày "N" tổng tấn công dứt điểm VNCH. Sài Gòn đã rối loạn vì hơn mấy chục sư đoàn cộng sản Bắc Việt đã áp sát thủ đô. Một số đại pháo được tập trung nã vào các khu vực đông dân cư trong nội thành. Phần khác là do đám quan quyền, ngày thường ngồi trên ăn đủ, cùng với bọn nhà giàu, me Mẽo..tới tấp ra đi, khiến cho lòng người càng thêm tơi tả, không biết đâu mà mò. Tuy rằng trung ương không còn đại bàng nhưng khắp bốn hướng, quân lực VNCH vẫn chiến đấu dũng mãnh, gần như lấy máu xương của chính mình để ngăn cản bước tiến của giặc. Lữ đoàn 4 Nhảy Dù, Sư Đoàn TQLC, Sư đoàn 18 BB, Lực lượng III Xung Kích, Liên đoàn 4 Biệt Động Quân, Sư đoàn 22 BB, Giang Đoàn 54 Tuần Thám, Lực Lượng Địa Phương Quân + Nghĩa Quân..và đặc biệt là Chiến Đoàn 3, thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, từ ngày 26-4-1975, đã được lệnh về bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu.

Nhưng giữa lúc người lính bộ đang lội trong biển máu thù, thì trên trời gần hết những phi công anh hùng của QLVNCH đã ngoảnh mặt phủi tay ra đi không trở lại, hoặc bay về đất Thái hay hướng thẳng biển đông. Khiến cho phi trường Tân Sơn Nhất thêm hiu quạnh thảm thê với xác người nằm bất động, lẫn lộn với quân trang quân dụng, cơ phận máy bay, vũ khí và những lính quèn hèn mọn, giờ phút cuối vẫn ở lại tử thủ với phi trường.

Nhưng không phải ai cũng tham sống sợ chết, chỉ muốn hưởng vinh hoa phú quý mà người Mỹ hứa hẹn. Vẫn còn vài chiếc Hoả Long AC119 K, cùng vớo hai khu trục A1 Skyraider, đã không ngừng lên xuống, nã đạn pháo, thả hỏa châu, soi sáng giúp quân bạn đang chiến đấu dưới đất. Kiên cường nhất là Trung Úy Phi Công Nguyễn Văn Thành, xuất thân từ Thiếu Sinh Quân. Ông đã lái AC119 bắn phá những vị trí pháo của VC quanh phi trường, nhờ vậy nhiều người trong số này có tướng Nguyễn Cao Kỳ, cựu tư lệnh KQ, cựu chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương, cựu phó tổng thống VNCH..mới bay được trực thăng riêng từ tư gia ở Tân Sơn Nhất, ra chiến hạm đi Mỹ. Thương thay người hiền không bao giờ sống lâu, nên Trung Uý Thành đã gãy cánh vào lúc 6 giờ 46 phút, rạng sáng ngày 29-4-1975, khi chíếc hỏa long của ông bị một hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 chém đứt cánh may bay và bốc cháy trên bầu trời.

9 giờ 30 sáng ngày 29-4-1975, Sài Gòn đã hỗn loạn khắp nơi. Do trên tướng Smith yêu cầu đại sứ Martin cho thi hành giải pháp "4" trong chiến dịch di tản, nhưng đã bị từ chối. Nguyên do vì đại sứ Mỹ lúc đó vẫn còn ngây thơ tin rằng tổng thống VNCH Dương văn Minh, có khả năng hoà hợp, hòa giải với VC để vãn hồi hòa bình cho VN. Cùng ngày, từ thủ đô Hoa Thịnh Đốn, Kissinger đã gọi điện khẩn cấp sang Sài Gòn, ra lệnh cho đại sứ Martin phải di tản gấp. Từ đó, Martin mới cho lệnh đốn cây đa cổ thụ trước sân toà đại sứ vào lúc 11 giờ 01 phút, để làm bãi đáp cho trực thăng. Đây cũng là thời gian, Martin gơi ý nhờ TT. Dương văn Minh giả bộ đuổi Mỹ trên đài phát thanh Sài Gòn. Có như vậy siêu cường Hoa Kỳ mới chạy khỏi VN trong danh dự, đồng thời giúp TT Minh có chính nghĩa.
Nhờ bài bản xuất sắc, diễn viên ăn khớp, Martin đã cứu nước Mỹ phần nào bớt mất mặt trước đồng minh thuộc phe thế giới tự do, cũng như đàn em kẻ thù Liên Xô-Trung Cộng. Nhưng đồng thời Martin chính là người đã phá hỏng kế hoạch di tản, vì lúc chịu thi hành thì trời đã tối, nên các tài xế xe bus đều nghĩ việc, khiến cho nhiều người có tên trong danh sách di tản không được đón. Để cứu vãn tình thế nguy cấp tồi tệ trên, tướng Smith đã cho các loại trực thăng nhỏ của hãng Air American đi bốc người thế xe bus..nhưng đã quá trễ.

Ba mươi năm về trước, người Sài Gòn làm sao quên được cảnh tượng hai ngày 29 và 30-4-1975, nếu có dịp đi ngang qua tòa đại sứ Hoa kỳ, kế toà đại sứ Pháp và nhà thờ Tin Lành, nằm trong chu vi các đường Hồng Thập Tự, Hai Bà Trưng và đại lộ Thống Nhất. Có thể gọi được là một biển người, đã tụ tập trước hai cánh cổng sắt vô tri của tòa đại sứ. Lúc đó người nào giơ hai tay lên cao, trong đó ngoài các giấy tờ còn có những nắm đô la dầy cộm, với những tiếng gào thét, van nài nghe thật là bi thiết não nuột, trước những cặp mắt gần như lạc thần lạnh lẽo của lính thủy quân lục chiến Mỹ. Ai cũng lăm lăm tay súng có gắn lưỡi lê, làm như đang lăm le sẵn sàng phanh thây xé xác bất cứ ai, muốn xé rào vượt cổng.

Cùng lúc quang cảnh phía bên trong khuông viên của tòa đại sứ cũng đâu có khác gì bên ngoài. Sóng người đang đùn ép, xô lấn, cấu xé với nhau để tới cho được chân tường, dẫn vào cầu thang lên sân thượng, nơi đoàn trực thăng dùng làm bãi đáp lên xuống, để bốc người ra chiến hạm. Màn đêm lúc đó như được Thượng Đế ban thêm ân huệ, nên cứ kéo dài hơn, để cho những kẻ chờ đợi nuôi chút hy vọng mỏng manh trong cơn tuyệt vọng. Tóm lại đến giờ phút hỗn loạn đó, thì không ai còn cần chú ý làm gì tới danh sách nửa. Bốc người tại chỗ, có nghĩa là ai mạnh chen được tới trước thì đi, khiến cho hằng vạn người từng giúp Mỹ rất đắc lực như thơ ký, thông dịch viên, nhân viên tình báo, cảnh sát chìm..cứ ngóng cổ chờ di tản, rốt cục sáng ra mới biết Mỹ đã đi hết rồi.

Để thi hành chiến dịch di tản bằng trực thăng, tướng tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến Mỹ là Carey từ chiến hạm bay vào tòa đại sứ lúc 13 giờ 15 " chiều 29-4-1975 và hạ cánh tại Dao. Cùng lúc có một Toán Không Lưu do thiếu tá KQ Dave Cox chỉ huy. Họ dọn dẹp sân thượng và chỉ dẫn đoàn trực thăng từ biển vào bốc người. Trong lúc đó súng cối và đại bác của VC quanh Sài Gòn nổ tới tắp.

15 giờ 06 phút chiều 29-4-1975, một đoàn 12 chiếc trực thăng Mỹ, chở TQLC do trung tá J.L Bowltan chỉ huy, thuộc Lực Lượng Đặc Nhiệm 76 tới bố trí quanh Dao để giữ an ninh. Đoàn trực thăng lên xuống bốc người không ngớt, mỗi chiếc chở một lần từ 50-60 người.



Nhưng cuộc di tản đã gặp trở ngại vì bãi đáp trực thăng trúng đạn pháo kích của VC bốc cháy. Trong lúc sự liên lạc giữa toán không lưu và các phi công cũng bi trục trặc vì máy truyền tin bị hỏng, trong khi trung tâm tiếp vận đài tại Sài Gòn hoàn toàn tê liệt.

Những giờ phút cuối, để giải quyết số người còn ứ đọng, Mỹ phải dùng các loại trực thăng lớn CH6 và H53 đáp ngay tại bãi đậu xe trước tòa đại sứ. Song song với trực thăng Mỹ, trực thăng của KQ.VNCH cũng bốc người ra đi từng đoàn. Thành phố đã bị cúp điện hoàn toàn từ 6 giờ 30 tốì 29-4-1975. Khắp nơi trời đất tối thui, dân đen thì run rẩy núp kín trong nhà để giữ mạng, phần lính tráng còn lại, từ quan tới thuộc cấp, ai cũng cố chống con mắt chờ sáng trong các giao thông hào, đợi phép lạ mà tổng thống Dương văn Minh đã hứa là sẽ tới vào sáng ngày 30-4-1975.

Sài Gòn đã chết từ đó, chỉ còn có tiếng quạt của các loại trực thăng gầm hét đinh tai điếc óc, nơi khoảng không gian mà Mỹ còn làm chủ, nhờ sự bảo vệ của QLVNCH trong giờ thứ 25 dưới đất. Đây cũng là những lời thóa mạ cuối cùng của người Mỹ trước khi về nước, để lại nghìn đời trên xác chết chưa chôn của miền nam VN trong thế kỷ XX.

Cũng lúc đó, nơi các nẻo đường vắng ngắt dẫn về thương cảng, bến tàu Sài Gòn, từng chặp từng chặp lai xao động bởi tiếng máy nổ ròn của đủ loại xe dân, lính... xen lẫn đâu đó là các tràng súng ngắn. Lúc này bọn sĩ quan đào ngũ, bọn nhà giàu bất lương, bọn văn nghệ sĩ cà chớn một thời phá nát miền nam... cũng ôm đầu chạy trối chết, tới các bến tàu, để tìm đường vượt thoát cộng sản, trên các chiến hạm Hải quân và Thương thuyền đang hối hả nhổ neo ra khơi. Súng nổ, đạn cối rơi, hỏa tiễn xuyên phá, tiếng trực thăng gào thét... như những giọt nước mắt trước cơn mưa thống hận VN, ba mươi năm qua cũng vẫn là những hình ảnh và âm thanh, mà người Sài Gòn đã cảm nhận trước vài giờ, khi toàn thể non sông Hồng Lạc bị đắm chìm trong vũng bùn ô uế của xã nghĩa thiên đàng.

Đúng 9 giờ tối đêm 29-1-975 cuộc di tản tại Dao kết thúc. Người Mỹ vội cho thiêu hủy toàn bộ những gì còn lại trong toà nhà này, mà một thời được coi như một tòa tiểu bạch ốc ở phương đông. Chiếc trực thăng cuối cùng cất cánh lúc 12 giờ đêm, bỏ lại đằng sau tòa nhà trong biển lửa.

Riêng tại tòa đại sứ Mỹ, sự di tản đã gặp rất nhiều khó khăn vì đèn không đủ soi sáng hiện trường, còn bãi đáp thì quá nhỏ không thích hợp cho các loại trực thăng lớn. Tuy nhiên việc bốc người vẫn được tiếp tục, từ 11 giờ đêm 29-4-1975 cho tới 3 giờ sáng ngày 30-4-1975. Sự liên lạc bằng vô tuyến giữa Sài Gòn và Hoa thịnh Đốn cũng chấm dứt lúc 1 giờ 06 phút, khi trạm liên lạc vệ tinh tại Dao đã bị phá hủy. Để nối liên lạc giữa Mỹ và toà đại sứ, Không quân Hoa Kỳ phải thiết lập một trạm liên viễn thông vệ tinh trên chiếc C130, nhưng vẫn không mấy hiệu quả.

3 giờ sáng ngày 30-4-1975, bộ ngoại giao Mỹ ra lệnh cho tòa đại sứ Sài Gòn chấm dứt di tản nhưng Martin không chịu thi hành, vì lúc đó tại chỗ vẫn còn hơn 12.000 chờ bốc ra chiến hạm. Tới 4 giờ 56’ sàng, chính Tổng thống Ford ra lệnh bằng điện thoại, bắt buộc ông đại sứ phải rời VN. Do không còn cách nào lựa chọn, Martin đành phải bỏ lại 420 người đang đợi, trong số người này có cả nhân viên của toà đại sứ Nam Hàn. Martin ra đi đơn độc với con chó nhỏ tên Nitnoy, trên chiếc trực thăng CH46, do Đại Uý Thủy Quân Lục Chiến tên G.Berry lái.

Từ phút đó, chỉ còn lại toán lính TQLC Mỹ giữ an ninh tòa đại sứ. Họ rút hết vào bên trong tòa nhà, đóng cửa sắt và lên trên sân thượng đợi. Đúng 7 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975, trực thăng ngoài biển bay vào đón họ, chấm dứt sự hiện hữu lần thứ ba của người Mỹ trên nước VN, tính tròn 21 năm, từ lúc tướng Edward Landale của CIA đặt chân tới Sài Gòn. Tình đồng minh, đồng hướng và chiến hữu giữa VNCH cùng Hoa Kỳ, cũng chấm dứt từ đó.

Theo tài liệu được Mỹ công bố, thì tòa đại sứ và Dao ngày 29 rạng 30-4-1975 chỉ di tản được 7014 người, phần lớn không có tên trong danh sách được lập lúc ban đầu. Để hoàn thành công tác trên, người Mỹ đã xử dung trực thăng của Sư đoàn 7 Không quân và Hạm Đội 7 tại Thái Bình Dương. Suốt thời gian chiến dịch, chỉ có một A6 bị mất tích, một trực thăng AH1J. Cobra rớt xuống biển và 2 lính TQLC Mỹ bị tử thương khi VC pháo kích vào Dao tại phi trường Tân Sơn Nhất.

Tuy người Mỹ đã chính thức rời Sài Gòn vào lúc 7 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975 nhưng trọn ngày đó cho tới hôm sau 1-5-1975, nhiều trực thăng của Không quân VNCH khắp nơi bay tới Hàng Không Mẫu Hạm Midway, đang bỏ neo ngoài khơi Vũng Tàu để xin đáp. Vì có quá nhiều người, nên Mỹ đã phải xô nhiều trực thăng xuống biển, để làm bãi đáp cho các trực thăng tị nạn. Dù việc làm trên có thiệt hại hằng triệu mỹ kim nhưng cũng đã cứu vớt đươc nhiều chiến binh trong giờ phút cuối cùng, không còn một lựa chọn nào khác hơn, trong khi nước đã mất.

Ba mươi năm trước hay bây giờ, người Mỹ cũng chỉ nghỉ đến quyền lợi của quốc gia mình mà thôi. Bởi vậy muốn đem quân vào VN, người Mỹ phải giết một tỏng thống dân cử của bản xứ. Rồi để rút quân an toàn về nước, khi đã đạt xong mục đích chiến lược kinh tế của mình, Mỹ lại dùng áp lực quân viện, để bắt buộc đồng minh của mình, ký vào một hiệp ước giả mạo phi luân. Cuối cùng dùng nó để bán đứng quốc gia VN, chôn vùi tương lai của dân tộc anh hùng trong vòng nô lệ của cộng sản đệ tam quốc tế., suốt thời gian từ đó tới bây giờ. Tất cả đúng như lời Sir R.Thompson đã viết năm 1989 trong tác phẩm ‘Make for the hill‘, đại ý ông nói rằng, sự sống của miền nam VN đã bị bán đứng, vì cảnh cấu xé của nước Mỹ. Riêng Nixon, nhân vật chính đã cùng Kissiger đạo diễn tấn thảm kịch VN hôm nay, cũng đã viết những lời sám hối trong ‘No More VietNam‘. Ông viết rằng, tôi đã nhìn thấy những vấn đề nan giãi của hiệp định Ba Lê, nhất là sự thỏa hiệp, cho phép bộ đội Bắc Việt công khai ở lại và xâm lăng miền Nam. Nhưng đau đớn nhất, có lẽ là lời phát biểu của M. Gauvin, nguyên Ủy Viên Giám Sát Quốc Tế (ISCC) tại VN. Ngay khi thấy CS Hà Nội ngang nhiên xé bỏ hiệp định ngưng bắn mà chúng vừa ký kết chưa ráo mực, tấn công xâm lăng VNCH, bất chấp cả Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc. Vì vậy ông đã viết bài đăng trên tờ The Times số 59362 ngày 5-4-1975 rằng, sự thất bại của VNCH đã bắt nguồn từ hiệp định Ba Lê, vì nó chẳng bao giờ phản ảnh được ý muốn và nguyện vọng của dân-nước VNCH.

Một thập niên sau ngày Mỹ bỏ chạy khỏi Sài Gòn trong đêm tối trên mái nhà, do những biến chuyển chính trị thế giới, quan trọng nhất là sự hòa hoãn giữa Nga-Hoa cũng như sự liên hệ của Mỹ và Trung Cộng có chiều hướng thay đổi. Để chiếm phần ưu tiên, người Mỹ lại tìm cách mon men trở lại Đông Dương lần thứ 4 vào tháng 4-1985. Bởi vậy một phái đoàn cao cấp của Mỹ, do Richard Armitage cầm đầu, cùng với phụ tá ngoại trưởng Mỹ là Paul Wolfon Witz (đặc trách Đông Á và Thái Bình Dương ), lần đầu tới Hà Nội, với chiêu bài ‘tìm lính Mỹ mất tích và hài cốt quân Hoa Kỳ còn tại VN’. Sự kiện giằng co úp mở giữa hai nước, cho tới khi phái đoàn nghiên cứu Mỹ do cựu bộ trưởng quốc phòng Mc. Namara, sau khi thăm viếng Hoa Lục về, đã tiết lộ âm mưu Trung Cộng đang có dã tâm muốn trở thành Á Châu và Thái Bình Dương. Vì thế Hoa Kỳ mới mở phòng liên lạc giữa hai nước vào ngày 3-2-1995 và nối lại bang giao năm 1996. Một Đại Sứ Mỹ tại Hà Nội được Thượng viện Hoa Kỳ chấp thuận sau 22 năm chiến tranh chấm dứt, đã chính thức xác nhận sự bình thường hoá ngoại giao với VC.

Tóm lại lịch sử đã ngừng lại và quay tròn đúng vào thời điểm cũ trên đất nước tội nghiệp VN. Cả hai: Tài phiệt Hoa Kỳ và cộng sản đệ tam quốc tế cũng đều vì quyền lợi riêng tư của mình, nên muối mặt đổi thù thành bạn. Lần này không còn có chiêu bài VN là tiền đồn chống cộng, nên người Mỹ đã công khai tới VN qua danh phận lái buôn lái súng. Hiện trong cộng đảng cầm quyền đã manh nha hai phe theo Tàu, theo Mỹ. Nhưng dù VN có theo phe nào chăng nữa, thì chắc chắn đất nước chúng ta cũng sẽ bị cuốn hút theo vết xe lịch sử, khi Trung Cộng công khai gây nên thế chiến lần thứ 4 tại Á Châu-Thái Bình Dương.

Đọc và viết lịch sử, không phải để khóc hận than thân, mà là lấy đó làm một kinh nghiệm để hành động cứu nước trong thực tại và tương lai. Năm 1954, khi cộng sản đệ tam chiếm được miền bắc, một số ít trí thức khoa bảng chạy vào làm trùm tại VNCH, nên họ chẳng hề biết gì về kinh nghiệm sống chung với VC. Ngày 30-4-1975, khi VC chưa vào Sài Gòn, số trí thức khoa bảng trên lại ù trốn chạy sang Mỹ hay ngoại quốc. Họ không hề biết thế nào là sự đổi đời của phận người xuống hàng súc vật. Ở ngoại quốc, vì quá tự do, nên vẫn chứng nào tật đó, coi sự hiểu biết của mình ngang hàng với lãnh tụ, muốn ai cũng phải theo ý và đứng sau lưng mình. Họ vì không sống thật với lịch sử nên chẳng bao giờ có kinh nghiệm lịch sử, vẫn ảo tưởng xây lâu đài và chức phận trên cát biển, vẫn ngây thơ muốn hòa hợp hòa giải, với một đảng cướp tàn bạo bất lương, qua bảy mươi năm chỉ lừa bịp lường giết đồng bào và ban nước mình mà thôi. Tệ nhất là mình và gia đình lúc nào cũng thích sang giàu hạnh phúc nơi thiên đường Âu Mỹ, mà mồm thì luôn xúi người khác, nếu đi hết biển, thì phải trở về để làm nô lệ cho cộng sản.

Cũng may bọn người này không nhiều và ngày nay hầu hết đều giống như những bình vội gìa nua, mà Phan Khôi từng ví với bọn cán ngố miền bắc trong tác phẩm ‘Trăm Hoa đua nở‘, chỉ nở trên giấy hay nằm trơ trọi trong góc đời hiu quạnh về chiều...

Thảm thê cho thân phận nhược tiểu VN -/-

Xóm Cồn
Quốc Hận 30-4-2005
Mường Giang

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Bí mật Dinh Độc Lập – TS Nguyễn Tiến Hưng.
- Larry Engelmann (nước mắt trước cơn mưa, bản Việt của Nguyễn Bá Trác).
- Không hòa bình, chẳng danh dự – Larry Berman, Nguyễn Mạnh Hùng dịch.
- Những ngày cuối cùng của VNCH của Nguyễn Khắc Ngữ..
- Báo chí hải ngoại (PNDD, KBC, Tiền Phong, Hồn Việt..)

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Trâu Điên
Trong khói lửa Mậu Thân


ImageImageImageImage


Buổi sáng ngày mồng một Tết ( 30/1/1968 ), Chiến đoàn B được không vận bằng Chinook của Hoa kỳ, từng 2 chiếc một từ một thửa ruộng trống bên ngoài chợ Cai lậy.Thứ tự đổ quân là TĐ2, BCH/CĐ và TĐ1/TQLC. Bắt đầu 8 giờ sáng , chiếc Chinook đầu tiên chở một trung đội của Đại đội 1/TĐ2 cất cánh hướng về Sài gòn. Từ trên phi cơ nhìn xuống , chung quanh phi trường Tân sơn nhất và vòng rào Bộ TTM, đó đây có nhiều đám cháy và nhiều nơi khói lửa bốc lên thật cao.
2. Tiểu đoàn 2/TQLC :
Đại đội 1 của Tr/U Tô văn Cấp đổ xuống đầu tiên tại Sân chào cờ mỗi buổi sáng của Bộ TTM . Sau đó là BCH/TĐ. Đ/tá Ngô Du thuộc Phòng 3/BTTM cho Th/tá Ngô văn Định biết tình hình địch tại nơi đây và yêu cầu Tiểu đoàn giải tỏa áp lực tại Trường Tổng quản trị, Trường Sinh ngữ quân đội và cổng số 6. Các Đại đội 1,2,3 lãnh nhiệm vụ thay thế cho đơn vị Dù và thanh toán những mục tiêu được chỉ định. Chỉ trong một thời gian ngắn những biệt đội 6 và biệt đội 9 thuộc TĐ F 100 VC bị ta tiêu diệt . Tiểu đoàn chia ra giữ những vị trí trọng yếu trong Bộ TTM và những Cư xá của các sỉ quan cao cấp tại đây. Riêng Trung đội 42 của Th/U Kiều công Cự bảo vệ Cổng chính của Bộ TTM.
Sáng hôm sau TĐ được lịnh tăng phái cho Bộ tư lịnh Cảnh sát Đô thành.
Được biết TĐ 508 Long An VC đã xâm nhập vào xứ đạo Bình an và đang tiếp tục tiến vào Quận 6. Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn Đồng tháp VC đã xuất hiện ở bến Lê quang Liêm. Tiểu đoàn 3 Bình Tân đang chiếm khu Bà hạt, Ấn Quang thuộc quận 10. Th/tá Tiểu đoàn trưởng đã phân chia vùng trách nhiệm như sau :
_ ĐĐ2 của Tr/U Trần kim Đệ trách nhiệm từ cầu chữ Y ra đến Phú Định.
_ ĐĐ3 của Tr/U Trần văn Thương hảng rượu Bình tây và bến Lê quang Liêm.
_ ĐĐ1 khu vực Trần nhân Tôn và đường Minh mạng ( Quận 10 ) .
_ ĐĐ4 khu vực Chùa Ấn Quang và đường Nguyễn duy Dương , Bà hạt.
ĐĐ2 báo cáo di chuyển chậm , vì có nhiều chốt VC dọc đường tiến quân. Ta có 4 bị thương khi tiến lên cầu chữ Y. Điều khó khăn là phải dè dặt nổ súng để tránh thiệt hại về nhân mạng và tài sản của dân chúng. Tuy nhiên cũng có lúc ĐĐ2 phải xử dụng SKZ 57 ly để thanh toán các chốt B40 hoặc đại liên địch đặt trên các cao ốc. Tại các khu vực trách nhiệm các ĐĐ1, ĐĐ3 đã loại đich ra khỏi vị trí cố thủ. Riêng tại khu vực chùa Ấn quang có phần nào phức tạp hơn. Chùa Ấn quang nằm trên đường Sư Vạn hạnh. Đó là một chùa khá đồ sộ với lối kiến trúc kiên cố. Phía trước có một lối vào duy nhất là cánh cửa sắt , hai bên là tường xây dày và cao . Hai bên chùa có hai tháp chuông , VC đã chiếm hai nơi này và đặt súng đại liên tại đây, gần như là khống chế toàn bộ lối vào chùa. Trung đội 41 của Th/U Phan ngọc Viếng định xâm nhập vào chùa nhưng bị khựng lại vì hỏa lực từ trong chùa bắn ra ,vẫn còn xác của một quân nhân của Trung đội 41 nằm ngay trước cửa chùa. Trung đội 42 của Th/U Kiều công Cự bố trí phía cổng sau của chùa tại ngã ba Nguyễn duy Dương – Bà hạt. Tại đây Trung đội đã bắt được một tên cán bộ có cả phóng đồ hành quân và một khẩu súng ngắn K54. Tên này đã bị Chuẩn tướng Nguyễn ngọc Loan bắn chết khi hắn có những lời nói hổn xược với ông ta. Ban 5 của Tiểu đoàn đã kêu gọi số địch ra hàng nhưng không có kết quả. Cuối cùng Tiểu đoàn phải cho phép Tr/U Vũ đoàn Dzoan dùng súng SKZ 57 để bắn sập một mảng tường và những cây đại liên 30 bắn liên tục vào 2 gác chuông cho Trung đội 42 xung phong vào bên trong. Theo lời kể của Th/U Cự thì : “Khi Trung đội xung phong vào bên trong , tôi thấy một khung cảnh khá náo loạn. Trên sàn nhà đã có một số người chết và bị thương. Có nhiều dấu máu dẫn lên trên lầu. Chắc chắn là trên lầu và tại hai gác chuông vẫn còn VC ở đó. Nếu bây giờ mà xua trung đội lên lầu sẽ ôm đầu máu. Tôi gọi những nhà sư giúp đưa anh em chúng tôi lên lầu để lục soát nhưng họ từ chối.. Lúc đó thì có lịnh của Đại đội trưởng cho Trung đội lui ra để cho Cảnh sát tiếp tục lục soát. Cái lịnh này giúp tôi tránh được một trường hợp khó xử nhưng cũng nhiều nguy hiểm cho bên Cảnh sát.
Từ Quận 10, TĐ2 được lịnh di chuyển về giữ an ninh cho Chi khu Bình Hòa thay thế cho TĐ6/TQLC về hoạt động ở Thủ Đức và căn cứ Sóng Thần ( Dĩ An ). Tình hình ở Bình Hòa đã bớt sôi động. Địch đã bị TĐ6 gây tổn thất nặng trong mấy ngày trước , khiến bọn chúng phải rút dần, chỉ để lại các chốt rãi rác trên các cao ốc. Một số khác bị thất lạc đơn vị , không biết đường tẩu thoát nên chỉ cầm cự yếu ớt, lần lượt bị bắt sống tại các ống cống , nhà vệ sinh bãi rác,.. Đa số còn rất trẻ thuộc lực lượng VC miền Nam. Đáng kể nhất là cuộc giải tỏa chốt trên đường Lê quang Định và Ngô tùng Châu. Khi một cánh quân của ĐĐ4 do Tr/U ĐĐP Phạm văn Tiền chỉ huy, tiến vào khu vực Xóm Gà ( Gò Vấp ) , dân chúng và cảnh sát địa phương đã tận tình hợp tác đã cho biết là trên một cao ốc cao 3 tầng , cạnh ngôi chùa , VC đang đóng chốt ở đó và bắt giữ một số thường dân .
Nhằm giảm thiểu tối đa mọi thiệt hại cho dân, lịnh của Chiến đoàn chỉ được xử dụng SKZ 57 ly, M.79 khi nào thật cấn thiết, không được dùng pháo binh và không quân yểm trợ . Trung đội 41 của Th/U Phan ngọc Viếng vừa vượt tuyến xuất phát chừng 50m thì bị một quả B40 bắn xuống làm Hạ sỉ Thành , tiểu đội trưởng và 5 quân nhân khác bị thương. Lịnh cho dừng lại bố trí và kiễm soát lại đội hình . Xạ thủ đại liên M60 tìm vị trí thích hợp để chế ngự hỏa lực địch , đồng thời xử dụng M79 để yểm trợ cuộc tiến quân. Trung đội phân tán từng tổ 3 người , áp dụng chiến thuật tác chiến trong thành phố , xử dụng tối đa lựu đạn cầm tay. Trung đội 42 của Th/U Kiều công Cư vòng qua bên phải , bắn hạ tổ đặc công của VC, bắt sống thêm 6 tên với đầy đủ chất nổ chúng chưa kịp xử dụng. Một cánh quân khác do Tr/U Doan Đại đội trưởng điều động Trung đội 43 của Ch/U Lưu văn Phán và Trung đội 44 của Ch/U Cao mạnh Cương thanh toán khu vực nghĩa địa rậm rạp và kiểm soát được ngôi chùa , giải thoát số thường dân bị VC bắt giữ Khoảng 15 tên VC bị bắn hạ tại chỗ với vũ khí đầy đủ .Đại đội 4 có 5 tử thương và một số bị thương.. Đoạn đường chưa tới 2km mà ĐĐ phải mất nửa ngày để tiến quân bằng sự hy sinh của Hạ sỉ Lê văn Nhị, B1 Tường, Tr/sỉ Khá, B2 Huỳnh Đen . Và đau lòng nhất là Hạ sỉ Trần văn Sang , người vừa mới nói chuyện vớu Tr/U Tiền : “Ông Thầy ! Đây là khu vực nhà em, ông Thầy khỏi lo, để em đi đầu dẫn đường.” Và Sang đã bị bắn sẻ trúng vào đầu gục ngã đầu tiên.
Cuối cùng đám VC ở cao ốc đã bị các chiến sỉ Trâu Điên triệt hạ, 3 tên khác còn sống nhưng đã buông súng ra hàng . Khu vực Xóm Gà đã được giải tỏa xong.
Sau một tuần lễ tham dư những cuộc hành quân ở Quận 6, quận 10, quận 8, Tiểu đoàn được lịnh di chuyển về khu vực Ngã ba Hàng Xanh ( thuộc Tiểu khu Gia Định ) thay thế cho TĐ 30 BĐQ . Cần nhắc lại, trong đêm mồng 2Tết ( 1/2/1968 ), TĐ30 BĐQ đã đánh tan TĐ 3 Dĩ An VC khi chúng đánh chiếm bót cảnh sát tại ngã ba Hàng Xanh. Sau đó địch rút về Cầu Sơn cố thủ. Chúng dùng B40 bắn cháy một chiếc M113 đang yểm trợ cho BĐQ. Phòng mạch của Ysỉ Trung tá Nguyễn văn Thế , Tiểu đoàn trưởng TĐ Quân Y TQLC, nằm xeo xéo với chiếc M113 bị bắn cháy.
TĐ 2 đã nhổ hết những chốt của VC từ Cầu Sơn lên đến Cầu Kinh và quét sạch VC ra khỏi khu Thanh đa và cái bao tử Bình quới.
Những ngày sau đó TĐ bảo vệ an ninh cho những cơ sở của Chính phủ và những địa diểm trọng yếu khác như Đài phát thanh, Bưu điện, cầu Phan thanh Giản, cầu Xa lộ Sài gòn..

Trích"Lử Ðoàn TQLC với trận chiến Tết Mậu Thân tại Sàigòn"

KhanhVan
Posts: 800
Joined: Sat Dec 11, 2004 6:11 am

Post by KhanhVan »

Cám ơn Anh PHUDE nhiều. Lâu lâu được đọc lại những bài viết về những người Lính Mũ Xanh. Nhất là Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên , hay Tiểu Đoàn 5 TQLC với trận chiến Tết Mậu Thân... KV vẫn thấy lòng mình hồi hộp thân thương lạ kỳ....Làm như chuyện mới xảy ra gần đây. Vì hình ảnh hào hùng với những bộ đồ trận rằn ri mãi in sâu trong tiềm thức. Chỉ cần có người khơi dậy chút xíu là những hình ảnh năm xưa oà vỡ trong lòng.
Những chàng trai hào hùng , uy mãnh TQLC nhưng cũng vô cùng đa tình và tế nhị.Trong kỳ hai cuả Tết Mậu Thân - Khi TQLC chiếm giữ và kiểm soát vùng Ngã Năm Bình Hoà ( Gia Định ) cho đến Cầu Băng ky - trong đó có Hồ Tắm LiDo. KV ngỏ ý muốn xuống bơi - Khi vào thăm người bạn đang đóng quân nơi đây. Tự nhiên thấy tất cả các binh sĩ lục tục đứng dậy , balô vác - thu xếp làm như đi hành quân đến nơi... rõ ràng họ thu dọn và rút lui toàn bộ. KV ngơ ngác hỏi bạn : Uả các anh đi hành quân ngay sao?? Anh bạn trả lời - Vì KV muốn bơi - Anh đã nói với trung tá Lương-xin phép ổng - và ổng đồng ý để em bơi. KV chới với : Ổng đâu??
Ổng trên lầu - Em ngó lên trên cái cưả sổ kia kià... Bảo đảm ổng đang đưa cái ống dòm xuống đây ngó em đó. Nói bậy cha ! Em nào biết ổng là ai - ai quen với ổng bao giờ? Anh chỉ giỏi tán gái. Anh Mẫn nói : Bố bảo anh dám ra lệnh cho lính rút - anh chỉ là thằng trung uý quèn. Tài cán chi.
Từ lúc em vô đây đã có người biết rồi đó ! Thôi em tắm thì xuống tắm đi.
Quần áo tắm đâu có mang theo. Bộ tắm truồng sao cha??? Dỡn hoài. Anh đừng có ẩu tả nha. Em lấy đại cái áo may ô cuả anh mà tròng vô , nó dài xuống tận đầu gối em - là được rồi. đâu có ai ngó - lính đi hết rồi. Còn anh chi??? Không anh sẽ rút luôn.Nói xong anh Mẫn cũng đưa cho KV cái áo may ô lính - sạch - KV đưa lên mũi ngửi liền - xem có hôi nách không.
và hỏi lại anh Mẫn. Anh đi đâu? Ra ngoài gác cho em tắm ! Sao không ở đây bơi với em. Dỡn mặt em. Ông nội anh cũng không dám. Trước khi đi anh Mẫn nói khẽ : Tắm đi , tự nhiên. Mai mốt anh có việc nhờ lại.... nhớ giúp dùm. trả ơn anh cái vụ này Đang hành quân đánh nhau - mà anh cấp chỉ huy cuả anh cũng chiụ chơi nhỉ? Chịu chơi bất cứ lúc nào có thể - vì chết bất cứ lúc nào cũng sẽ xảy ra. TQLC mà em.....
Sau đó KV được biết đó là trung tá : Nguyễn thế Lương - TĐ/T - TĐ5 TQLC
Bây giờ nhắc lại - muốn khóc vậy đó.Không biết tất cả đâu rồi.
Cám ơn anh Phu De đã cho KV sống lại ít phút , khi hồi tưởng lại những chuyện năm xưa.....

Post Reply