Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
NHỮNG CON THIÊU THÂN
TRONG LÀNG BÁO VIỆT HẢI NGOẠI
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Việt Nam ta từ ngày có nạn giặc cờ đỏ tung hoành trên đất nước, luôn luôn có những loài thiêu thân tự nguyện đâm đầu vào đống lửa (CS) để tự đốt cháy mình và đốt cháy luôn cả quê hương. Tôi xin nói về những con thiêu thân trong làng báo, và trước hết là những con thuộc mấy tờ báo của cái gọi là Lực-Lượng-Thứ-3 tại miền Nam (VNCH) trước đây.
Hiệp Định Paris 1973 như ta thấy chẳng giải quyết được vấn đề gì. Trái lại chiến tranh vẫn tiếp diễn và càng ngày càng khốc liệt hơn. Một mặt Hoa Kỳ rút ra, không những quân đội, mà còn quân trang, quân dụng và yểm trợ. Mặt khác, mức độ xâm nhập người và vũ khí của CS miền Bắc đổ vào miền Nam tăng theo tỷ lệ nghịch. Vấn đề miền Nam rơi vào tình trạng bế tắc và bất lợi trông thấy. Trước tình hình đó, một nhóm người gọi là Lực Lượng Thứ 3 do CS dấu mặt nặn ra để làm ung thối miền Nam cũng ráo riết gia tăng hoạt động. Họ đa số là những người trẻ xông xáo muốn làm công việc đội đá vá trời là khai sáng con đường để giải quyết vấn đề chiến tranh. Con đường đó là con đường bắt tay với bọn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam dưới chiêu bài hòa hợp hòa giải dân tộc. Một số những bộ mặt nổi năng nổ nhất nằm trong các tờ báo Tin Sáng, Điện Tín, và Đại Dân Tộc như Lý Qúy Chung, Ngô Công Đức, Nguyễn Văn Binh, Kiều Mộng Thu v.v. Đám này nhân danh quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của miền Nam để tung hoành lũng đoạn. Nhờ bọn người này, cộng sản miền Bắc mới thôn tính được miền Nam một cách nhanh chóng và dễ dàng như đã thấy.
Khi CS xích hóa được miền Nam rồi, bọn này được gì? Điều mơ ước của họ như khoe mẽ là một mền Nam độc lập (khỏi ảnh hưởng Mỹ) và trung lập. Nhưng độc lập chẳng thấy. Trung lập cũng không. Một chế độ CS Stalinist duy nhất phủ chụp lên toàn đất nước sau đó. Số phận của những con thiêu thân báo chí cũng chết theo cùng với mảnh đất miền Nam. Kẻ thì chạy mối vỉa hè hoặc xoay nghề buôn lậu kiếm sống. Người thì lột xác trở thành bút nô cho chế độ. Có kẻ vỡ mộng nên tìm đường vượt biên trở thành người tỵ nạn bất đắc dĩ. Số phận các tờ báo của bọn này tất nhiên cũng đều cùng chung số phận.
Lịch sử xem chừng lại tái diễn trong cộng đồng người Việt tỵ nạn trên đất Mỹ. 32 năm rồi, nhiều người cảm thấy là một thời gian quá dài. Cuộc chống cộng bị coi như công dã tràng. Không thiếu cá nhân và đoàn thể đang loay hoay tìm cách khai thông con đường cứu nước. Họ cho rằng chống cộng là một lối mòn vô hiệu quả. Rốt cuộc người ta thấy rất rõ con đường mà họ đang lăm le bước vào thì cũng lại là con đường của nhóm Thành Phần Thứ 3 trước kia tại Miền Nam mà thôi. Nghĩa là con đường đầu hàng CS. Trong làng báo và truyền thông, một số mới liệng hòn đó dò đường bằng những bài báo nửa nạc nửa mỡ chứ chưa dám công khai chối bỏ thân phận tỵ nạn CS của mình. Nhưng mới đây tờ tuần báo VietWeekly tại miền nam Cali đã công khai xé rào tính chuyện lớn. So với nhóm Tin Sáng, Điện Tín, và Đại Dân Tộc trước kia, VietWeekly có rất nhiều điểm kể là tương đồng. Cả hai đều gồm những thành phần trẻ năng động và có căn bản học vấn. Cả hai đều cho mình là những tiên phong đứng ra mở đường khai lối cho bế tắc của thời cuộc. Cả hai cùng tự xác nhận căn cước (identification) không phải là CS, cũng không thân cộng. Nhưng lối làm truyền thông của họ lại để lòi cái đuôi con chồn, chẳng khác gì tự mình hô lên “lậy ông tôi ở bụi này”, chứ chẳng ai vu vạ đổ oan. Cả hai đều trương bảng hiệu tự do ngôn luận, tự do báo chí khi hành động. Dư luận tin chắc cả hai nếu thật sự thành tâm thì đúng là họ chẳng hiểu CS, nhất là CSVN là cái gì. Từ nhược điểm này, nhóm truyền thông của Thành Phần Thứ 3 đã không ngờ tự biến thành công cụ của CS. Điều hết sức đau đớn xẩy đến cho họ là những mơ ước ngây thơ của họ đã chết tức khắc và tức tưởi ngay sau khi CS chiếm đoạt được miền Nam. Không một lời điếu. Không một vòng hoa. Không một người thân đưa tiễn. Hoàn toàn im lặng. Chó chết hết chuyện. Các người trẻ của tờ Viet Weekly không biết có nhìn ra được điểm này không?
Thú thực tôi chưa bao giờ đọc tờ Viet Weekly. Tôi chỉ chú ý tới tờ báo này sau khi có cuộc họp báo của một số nhân vật dưới nam Cali tố cáo VietWeekly thân cộng, bôi xấu chế độ VNCH, cổ võ khủng bố v.v. Rất may một hôm cuối tuần đi ăn sáng với bạn bè, tôi lượm được một số báo VietWeekly nên mới có dịp để đọc nó. Trong số này hầu như các bài vở đều tập trung vào việc phản biện các điều tố cáo kia, đồng thời gián tiếp nêu lên chủ trương, đường lối của tờ báo đối với độc giả. Nhờ đó tôi mới có thể có được một nhận xét khái quát về tờ báo này.
Luận điểm của VietWeekly đưa ra để tự biện hộ là chủ trương tự do ngôn luận, thông tin hai chiều (Lê Vũ: Chúng tôi chủ trương tự do ngôn luận). Phương pháp VietWeekly áp dụng để tìm ra giải pháp cho vấn đề của đất nước hiện nay là đối thoại (Đông Duy: Điều chính yếu là sự đối thoại. Chính trong đối thoại rốt ráo người ta sẽ tìm ra được một giải pháp đứng đắn). Và quan trọng hơn hết, niềm tin hỗ tương của hai bên đối thoại, tức VietWeekly và nhà cầm quyền CSVN là cần thiết (Đông Duy: Mặt khác là những tia hy vọng đầu tiên qua sự bầy tỏ thiện chí của phía bên kia như trong lời tuyên bố mới đây nhất của chủ tịch nhà nước Nguyễn Minh Triết với báo chí Đức “Chúng tôi đã làm hòa với dĩ vãng”. Đây là một câu nói mà người ta chờ đợi từ hơn nửa thế kỷ qua ….). Tôi xin khái quát đi vào 3 điểm trên.
Trước hết về vấn đề đối thoại. Trên mục Thư Tòa Soạn của số báo tôi có trong tay, Viet Weekly viết: Chuyến đi của ông Triết đánh dấu sự sẵn sàng tiếp cận, đối chất, tranh luận với những vấn đề nhậy cảm của phía cộng đồng hải ngoại đưa ra. Có thể coi đó là một tiến bộ chung.
Đối thoại. Đối thoại. Nếu cứ nói khơi khơi không chừng sẽ lại là việc nói chuyện với đầu gối. Trong các vấn đề xung khắc giữa con người với con người, chủ trương đối thoại là điều tốt. Nhưng chuyện gì cũng phải có cái lý của nó. Cần thiết phải biết đối thoại là gì, đối thoại với ai, đối thoại về vấn đề gì, và nhất là đối thoại trên tinh thần nào. Người bình dân hiểu một cách nôm na, chữ đối thoại (dialog) là nói chuyện giữa hai người hoặc hai bên. Mục đích cuả đối thoại là tìm ra một chân lý đồng thuận. Cuộc đối thoại phải dựa trên tinh thần hiểu biết, bao dung, tương kính, và tôn trọng lẫn nhau. Nếu không dựa trên tinh thần đó thì đối thoại không thể gọi là đối thoại thực sư. Căn cứ vào các tiêu chuẩn trên về đối thoại, chúng ta có thể khẳng định VC không hề biết đối thoại là gì. Trong mỗi kỳ họp đại hội đảng, VC luôn kêu gọi người dân đóng góp ý kiến. Dân chúng đóng góp ý kiến rất nhiều và là những ý kiến xây dựng cho CS. Đó là một hình thức đối thoại. Nhưng có bao giờ CS lắng nghe những ý kiến đó đâu. VC đã không nghe ý kiến của người dân trong nước thì dễ gì chúng lắng nghe người tỵ nạn chúng ta? Nếu CS muốn đối thoại với với tập thể tỵ nạn chúng ta thì tại sao chúng áp lực các chính phủ Indonesia và Mã Lai đập phá các bia tưởng niện thuyền nhân? Tại sao trong khi VC đập phá các bia tưởng niệm thuyền nhân, chúng lại hứa hẹn cho một số người tỵ nạn trùng tu nghĩa trang QĐ Biên Hòa? Giả sử nếu tập thể chiến sĩ QLVNCH đứng ra nêu yêu cầu đó, liệu VC có sẵn sàng chấp nhận không? Tôi tin rằng còn khuya. Những đòn phép kiểu đó trong nghề làm chính trị chỉ là những cái mồi câu để nhử những con cá đói ăn và khờ dại. Những người trẻ đầy bầu nhiệt huyết của Viet Weekly có bao giờ thắc mắc để tìm hiểu những lắt léo trong các vấn đề đại loại như thế không?
Nguyễn Minh Triết sang Mỹ tiếp xúc với những cộng đồng người Việt nào để đối chất, tranh luận về nhữngvấn đề nhậy cảm mà gọi là một tiến bộ chung. Tin túc cho biết Triết chỉ gặp một người Việt tại Mỹ là bà Bs Quỳnh Kiều, và hình như có cà Nguyễn Cao Kỳ nữa? Mà Quỳnh Kiều và Cao Kỳ là ai thì người Việt tỵ nạn hẳn đều biết rõ. Sự thể cho thấy CS chỉ gặp gỡ nói chuyện với những kẻ đã đầu hàng và phục vụ cho chúng. Một mình Quỳnh Kiều hay có thêm cả Nguyễn Cao Kỳ nữa cũng không thể gọi là cộng đồng người Việt tỵ nạn. Cuộc nói chuyện giữa vài ba người trong tư thế và thân phận của họ như thế, tôi tin rằng chỉ là cuộc trao đổi, mặc cả mối làm ăn giữa các con buôn. Hành động của Triết không thể coi là dấu chỉ của một tiến bộ nào hết. Đối thoại với VC còn khó hơn là lên sao Hỏa. Trong vòng chừng 20 năm nữa có thể con người sẽ đặt chân lên được Hỏa tinh. Nhưng khẳng định một triệu năm sau chúng ta vẫn không thể nào đối thoại sòng phẳng được với VC. Lý do rất dễ hiểu. Bản chất của con người CS là bản chất của quỉ dữ: lưu manh, lừa lọc, phản trắc và cực kỳ ngoan cố …. Còn chúng ta dù sao cũng còn là những con người nhân chi sơ tính bản thiện.
Hơn nữa, việc xây dựng được một niềm tin đối với CS trong việc đối thoại hoàn toàn là điều không tưởng. Thực tế và lịch sử VN đã chứng minh. Những Hiệp Ước và cam kết quốc tế mà VC còn dám xé giục thùng rác, những lời hứa nhăng hứa cuộc của chúng lại đáng tin sao. Thật là vô lý. Chỉ cần ôn lại một chút lịch sử chúng ta sẽ thấy ngay đó là một điều không tưởng. Năm 1946, một chính phủ liên hiệp mới thành hình chưa kịp đi vào sinh hoạt ổn định thì CS đã tiên hạ thủ vi cường các đảng phái quốc gia trong chính phủ đó. Năm 1973 Hiệp Định Paris ký chưa ráo mực thì CS Bắc Việt đã ồ ạt xua quân vào miền Nam bởi chúng bết rõ HK rút ra không còn bao giờ trở lại. Mỗi năm tết đến hai bên đều có tuyên bố ngưng chiến, nhưng không năm nào VC không vi phạm lệnh ngưng bắn. Hành động vi phạm trắng trợn, thô bạo, và đẫm máu nhất xẩy ra dịp tết Mậu Thân 1968. Những sĩ quan và viên chức hành chánh VNCH nghe lời phỉnh gạt đi học tập cải tạo 10 ngày, nhưng thực tế là trung bình trên 10 năm. Những trò lừa gạt trắng trợn như thế bảo sao mà còn tin tưởng được nữa! Chỉ bằng vào việc Nguyễn Minh Triết tuyên bố với báo chí Đức “Chúng tôi đã làm hòa với dĩ vãng” mà ViêtWeekly cho rằng CS có thiện chí, đáng tin thì quả thực các người trẻ tuổi này là những người điếc không sợ súng. CS có đáng tin hay không, đưa ra những lý luận hùng biện mấy cũng không bằng nhìn vào tấm gương của những con người thực cả đời đã tin vào CS. Các người trẻ Viet Wekly về trí đã chắc gì bằng những Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường. Về công cán hẳn không thể nào qua mặt được bà Cát Thanh Long, người đàn bà được CS tôn vinh là bà mẹ kháng chiến. Những người này đều là những nạn nhân của lòng tin của mình vào CS. Với CS chỉ có một chân lý là “thuận ta thì sống, nghịch ta phải chết”. Đó là một chân lý bất biến. Còn chuyện tin hay không tin, với CS đều không phải là vấn đề.
Nói đến chủ trương tự do ngôn luận của Viet Weekly mà không nói đến Tu Chính Án Số 1 (TCA #1) thì hẳn là một thiếu sót.
Người viết còn nhớ rõ. Cách đây khoảng 10 năm khi ông Vũ Bình Nghi đăng bài phỏng vấn lãnh sự CS Nguyễn Xuân Phong trên tờ Thời Báo rồi bị công luận lên án gắt quá, ông bèn đưa TCA#1 ra làm bia đỡ đạn. Ông biện luận rất triết lý như sau: Tự do báo chí là tự do báo chí. Theo Hiến Pháp nước Mỹ, người làm báo có quyền muốn viết gì thì viết, muốn đăng gì thì đăng, vì đó là tự do báo chí.
Sự thực, theo TCA#1, người làm báo có được hoàn toàn thoải mái trong khi hành nghề như nhiều người nghĩ không? Câu trả lời sẽ không đơn giản. Ta hãy nghe thẩm phán Oliver W. Holmes giải thích bằng một thí dụ dí dỏm nhưng rất hàm xúc như sau: Việc đảm bảo tự do ngôn luận không cho phép một công dân đùa giỡn la lối cháy nhà, cháy nhà trong một căn phòng đang có đông người hội họp. Anh ta rất xứng đáng bị trừng phạt.
TCA#1 bảo đảm các quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do báo chí v.v. Dựa trên sự giải thích của thẩm phán Oliver W. Holmes, nếu ai nói nhà báo có toàn quyền muốn viết gì thì viết, muốn đăng gì thì đăng là lối nói lấy được. Tự do báo chí cũng có cái giới hạn của tự do báo chí. Ta có thể kể ra các hạn chế sau đây:
1. Do Luật Pháp Qui Định – TCA#1 bảo đảm các quyền tự do tôn giáo, hội họp, báo chí v.v. nhưng người làm báo không thể dựa vào đó để phỉ bang, mạ lị người khác. Không được phép xâm phạm vào đời tư người khác. Không được phép tiết lộ bía mật quốc gia, an ninh quốc phòng v.v. Tóm lại, nhà báo không được phép đi quá giới hạn mà luật pháp quốc gia, tiểu bang, hay địa phương qui định trong khi hành nghề. Những hạn chế này đặt ra cốt để bảo đảm trật tự xã hội và an ninh của quốc gia.
2. Nguyên Tắc Hỗ Tương Cam Kết – Đây là một thứ luật bất thành văn, nghĩa là chỉ dựa vào sự tin tưởng lẫn nhau, hay một sự cam kết mặc nhiên giữa một bên là nguồn tin và một bên là người ký giả. Chẳng hạn trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, các ký giả thường được cho biết trước một thời gian ngắn nào đó ngày quân đội đồng minh mở cuộc tấn công. Hoặc trong chiến tranh VN, các ký giả Mỹ nhiều khi cũng được thuyết trình trước khi một cuộc hành quân bắt đầu khởi diễn. Đó là thứ tin tức tuyệt mật. Các phóng viên được yêu cầu giữ kín cho đến sau khi cuộc hành quân xẩy ra.
3. Lương Tâm Nghề Nghiệp – Không thể viện dẫn TCA#1 để đăng hình một em bé gái trần truồng trên trang bìa của một tờ báo thiếu nhi. Lương tâm của người làm báo không cho phép họ làm chuyện đó. Lương Tâm nghề nghiệp là một phạm vi rất khó phân định ranh giới, nhất là trong nghề làm truyền thông. Nhà báo có lương tâm phải tự hạn chế bớt tự do của mình khi lẽ phải đòi hỏi. Theo tiêu chuẩn của nghề làm truyền thông Tây phương, người ký giả phải là người có khả năng, nghĩa là được huấn luyện đầy đủ và chu đáo. Để bảo đảm cho việc thông tin được trung thực, họ còn phải là người có lương tâm. Tuy nhiên, lý thuyết thì vậy, nhưng còn thực tế thì lại là chuyện khác. Báo chí HK vẫn được coi là một mẫu mực tuyệt hảo của một nền truyền thông tự do và trung thực mà qua đó, người dân HK được biết một cách đầy đủ mọi sự việc xẩy ra và mọi diễn biến trên khắp thế giới mà không sợ bị lừa gạt. Thật sự là một sai lầm lớn nếu chúng ta tin như thế. Chúng ta thấy rõ sự thật là trong chiến tranh VN, người dân HK đã bị báo chí của họ lừa gạt thê thảm như thế nào. Hầu như tất cả các báo chí Mỹ, kể cả đài phát thanh BBC của Anh Quốc lúc đó đều cố ý đưa tin sai lạc và tường thuật một cách thiên lệch về cuộc chiến với một dụng ý xấu. Ngày nay chúng ta đã biết rằng dụng ý đó là để hỗ trợ cho một âm mưu của một số chính quyền HK chủ trương triệt hạ cho bằng được chính phủ VNCH. Kết quả là những dối trá và những điều nói láo của cả một chiến dịch thông tin bất lương đã làm nghiêng cán cân quyết định cuộc chiến về cho phe CS Hanoi. Câu nói của Paul Joseph Goebbels, bộ trưởng tuyên truyền của Đức Quốc Xã áp dụng vào trường hợp này không còn gì đúng cho bằng: Nói láo một lần thì không ai tin, nhưng nói láo một triệu lần thì điều dối trá sẽ trở thành sự thật. Ai tin thì cứ tin. Bằng vào kinh nghiệm đau thương của dân tộc, người tỵ nạn VN dứt khoát không nên hoàn toàn tin tưởng vào tính trung thực và sự lương thiện của ngành truyền thông HK để khỏi bị lầm. Cái gì cũng cần phải tìm hiểu, phân tích rồi mới lượng định được. Một người bạn tôi thường đùa dỡn và châm biếm rằng các ông nhà báo Mỹ thường cất cái lương tâm của họ vào tủ sắt trước khi anh ta rời nhà để tới tòa soạn làm việc. Như thế thì chẳng bao giờ anh ta sợ bị đánh mất lương tâm được. Nếu cứ đem cái tiêu chuẩn trung thực của nền báo chí Mỹ ra làm thước đo để biện minh cho việc làm của mình thì e rằng có ngày mất cả chì lẫn chài.
Nếu thực sự có lương tâm nghề nghiệp, người ký giả hẳn không nên biện giải hoặc đề cao những cuộc thiêu sống tập thể (holocaust) của Đức Quốc Xã trước một cộng đồng Do Thái. Nếu thực sự có lương tâm nghề nghiệp, người ký giả tỵ nạn không nên biện minh hoặc cho phép người khác biện minh về vụ VC thủ tiêu hoặc chôn sống đồng bào hàng loạt hồi tết Mậu Thân tại Huế trong cộng đồng tỵ nạn chúng ta như Viêt Weekly đã làm. Nếu chủ trương truyền thông trung thực thì tại sao VietWeekly không cho đăng hình cha Lý bị công an bịt miệng. Có nên nói rằng đó là lối tờ báo này kiểm duyệt thông tin? Vậy có chi khác với truyền thông CS? VietWeekly giải thích thế nào thì cũng không bịt miệng được tiếng nói lương tâm của chính mình. Tự nhiên khi không Viet Weekly moi ra một bài cũ rích từ diễn đàn điện tử Talawas đã hai năm rồi của một cán bộ CS ở trong nước chửi bới đủ thứ một chính thể đã chết, rồi bảo rằng mình làm truyền thông hai chiều. Vậy chứ còn chiều kia đâu không moi ra cho đủ cặp? Có ẩn ý gì đây? Liệu Viet Weekly có che giấu nổi ẩn ý này trước lương tâm nghề nghiệp của mình không? Những người trẻ làm thông tin trung thực và hai chiều là chuyện rất đáng khen, nhưng chỉ làm cho cộng đồng tỵ nạn thôi thì có gì là công bằng, chính đáng và thiết thực. Người Việt tỵ nạn ở hải ngoại thực tế không thiếu bất cứ một thứ thông tin nào, thừa mứa nữa là khác. Đồng bào trong nước mới là những người đói khát thông tin. Tại sao VietWeekly không gởi những tin tức và bài vở của người Việt hải ngoại về cho đồng bào trong nước đọc? Sợ VC không cho? Nếu đã thông tin hai chiều cho người Việt hải ngoại thì tai sao lại cúi mình chấp nhận thông tin một chiều ở trong nước? Đường lối truyền thông như thế mà dám tự hào là truyền thông trung thực và hai chiều sao? VietWeekly làm truyền thông kiểu này cho người tỵ nạn có lẽ xứng đáng được thẩm phán Oliver W. Holmes ra phán quyết như sau: Việc bảo đảm tự do ngôn luận không cho phép một nhà báo tỵ nạn CS trực tiếp hay gián tiếp tuyên truyền cho chế độ đã từng đàn áp và tước bỏ các quyền tự do của anh ta. Anh ta rất xứng đáng bị đuổi cổ về nước.
Khi đã ý thức được bổn phận và trách nhiệm đối với Dân Tộc thì tự nhiên người ký giả sẽ biết được mình nên làm gì và nên tránh những gì trong khi hành nghề. Không thiếu gì những kinh nghiệm xương máu và nước mắt trong vấn đề hành sử quyền tự do ngôn luận. Khi tên nhà báo Vũ Hạnh bị bắt vì tội viết lách tuyên truyền cho CS, báo chí Saigon nhao nhao lên phản đối. Lm Thanh Lãng dám nhân danh quyền tự do báo chí, lấy cái áo chùng thâm che chắn để đưa tên này ra khỏi khám Chí Hòa. Một chuyện cá nhân khác nữa cũng tại Saigon, một anh nhà báo lớn, Phạm Xuân Ẩn, chuyên kết giao với các tổng bộ trưởng, tướng tá, và những cây cổ thụ báo chí trong làng. Được cái dù tự do báo chí che chở, hắn ngày ngày ngồi phét lác ở nhà hàng Continental trên đường Tự Do, vừa nhâm nhi cà phê vừa gởi tin ra Rờ (R, trung ương cục miền Nam của CS). Sáng ngày 30-4-75, hắn hiện nguyên hình là một tên đại tá VC với dép râu nón cối. Ẩn đã núp kỹ dưới cái dù tự do ngôn luận để bán đứng miền Nam cho CS. Các tờ Tin Sáng, Điện Tín, Đại Dân Tộc với một lô các nhà báo trẻ tuổi tài cao cũng đã nhân danh quyền tự do ngôn luận để rước CS vô Saigon. Những câu chuyện về báo chí như thế thì rất nhiều dưới chế độ VNCH.
Tình trạng này lại đang thấy xuất hiện trong các cộng đồng tỵ nạn của chúng ta. Người ta vẫn bài bản cũ dưới cái dù tự do ngôn luận. Chính sự lạm dụng tự do ngôn luận của một số người đã làm chúng ta mất nước. Bây giờ bọn báo chí bất lương được chỉ đạo bởi Nghị Quyết 36 của CS cũng đang âm mưu thôn tính các cộng đồng tỵ nạn của chúng ta dâng vào tay CS. Một ngàn năm giặc Tầu đô hộ, cha ông ta kiên trì chiến đấu hết thế hệ này qua thế hệ khác mà không kể là lâu. Một trăm năm nô lệ giặc Pháp, cha ông ta cũng đã kiên trì chiến đấu cũng vẫn không kể là lâu. 32 năm so sánh xem đã thấm vào đâu. Sao tuổi trẻ nóng lòng và chóng mất kiên nhẫn thế! Cha ông ta chống giặc, có kiếm dùng kiếm, có giáo dùng giáo, có gậy dùng gậy. Ngày nay người Việt tỵ nạn chúng ta chỉ còn thứ vũ khí là biểu tình, kiến nghị, vận động v.v. Tại sao các người trẻ VietWeekly lại bắt đồng bào của mình liệng những vũ khí này đi: “Đấu tranh không phải là hô hào đả đảo lỗ miệng …..” Ôi nhát giao oan nghiệt của tuổi trẻ chém xuống thân thể Mẹ VN! Với cái nhìn thiển cận của mình, người viết thực sự nghĩ rằng nếu không có các cuộc xuống đường biểu tình thì lá cờ máu của CS đã cắm tràn lan trong cộng đồng chúng ta rồi, và Nguyễn Minh Triết sang Mỹ đã có thể thong dong ra vào khu Phước-Lộc-Thọ như chỗ không người.
Tự do ví như một căn nhà mở toang cửa. Trên đất nước tự do này, cánh cửa của căn nhà tự do càng mở rộng hơn. Chúng ta vô được thì CS cũng vô được. CS nó không phải lẻn vô mà nó vô một cách công khai và dễ dàng hơn người làm báo chống công nhiều, vì nó có nhiều tiền, và có khi còn có cả bùa hộ mạng của Mỹ nữa. Nếu nó mang dép râu, quấn khăn rằn, đội nón cối thì rất dễ nhận ra. Nhưng bây giờ nó cũng đã biết mặc đồ lớn, xách samsonite, và còn có thể cặp kè một anh Mẽo có bề thế nhởn nhơ đi vô làng báo một cách rất thoải mái nữa là khác. Biết đấy, nhưng ai dám chận lại đòi xem chứng minh nhân dân của nó. Làm thế nào mà điểm mặt nó đây? Chỉ còn cách dựa vào kinh nghiệm và trực giác mà thôi. Đòi bằng chứng thì xin chịu. Đem lương tâm, dân tộc, đất nước ra mà biện bạch liệu có tin nổi không? Nguyễn Cao Kỳ không phải là CS, hắn chỉ là một tên điếm đàng. Khi khom lưng đầu hàng bọn điếm CS, hắn cũng đưa chiêu bài tổ quốc tổ cò và dân tộc ra để lừa bịp. Từ ngày đem thân về làm tôi cho CS, hắn đã làm được gì cho Dân Tộc, cho đất nước? Mặt nạ nào rồi cũng rớt xuống để trơ cái mặt thịt ra cho người đời nguyền rủa.
Báo chí HK thường ví nhà báo như người lính gác của công ích. Trong khi có những cơ quan truyền thông chăm lo phục vụ cộng đồng, thì cũng không thiếu cơ quan truyền thông khác lợi dụng quyền tự do báo chí để phục vụ cho tham vọng riêng tư. Sức mạnh của một cơ quan truyền thông là sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng, chứ không phải thu được nhiều quảng cáo. Như vậy đúng ra một tờ báo càng hăng say và tận tâm phục vụ lợi ích của cộng đồng bao nhiêu thì càng có nhiều độc giả bấy nhiêu mới phải. Nhưng thực tế thường xẩy ra khác hẳn. Thật đáng buồn khi có những tờ báo cố ý câu độc giả bằng cách tạo biến cố. Ông Vũ Bình Nghi của tờ Thời Báo ở San Jose trước đây đã xác nhận điều đó. Chính ông ta đã tiết lộ với ký giả của tờ San Jose Mercury News là mỗi khi ông gây chuyện trong cộng đồng thì tờ báo của ông lại tăng thêm trang. Người đọc có khi không thích tờ báo của ông, nhưng vẫn tìm nó để đọc vì tò mò. Tôi thực sự không muốn tin tờ VietWeekly bắt chước làm báo theo cung cách đó.
“Đối với những người trẻ này (nhóm VietWeekly), cũng xin đừng khoe, đừng dậy họ thế nào là cộng sản, tại sao phải tranh đấu cho tự do và phải tranh đấu như thế nào.Tuy nhiên, vì là những người trẻ được huấn luyện trong không khí cởi mở đa dạng và dung nạp của Hoa Kỳ, họ không sợ hay thù ghét cộng sản theo cung cách cũ mòn, phản xạ của thế hệ trước.”
Trích đoạn trên rút ra từ bài viết của tác giả Đông Duy trên số VietWeekly thượng dẫn, người viết muốn lấy nó làm gợi ý cho phần kết luận của bài này. Đọc trích đoạn trên người viết rút ra đựợc nhận xét là những người trẻ VietWeekly đã học đưọc rất nhiều từ nhà trường và xã hội Mỹ, học được cả tinh thần, cách suy nghĩ, và lối sống của lớp thanh niên, sinh viên Mỹ hồi cuối thập niên 60 đầu 70; có tinh thần tự tin rất cao và có thể cả tự phụ nữa, rất xứng đáng được khen câu “hậu sinh khả úy”. Nền giáo dục Hoa Kỳ sản sinh được những con người tự tin, tài giỏi, tháo vát, và hào khí như thế mà không hiểu tại sao người Mỹ đi đến đâu cũng bị coi thường, khinh khi và xua đuổi. Đó là một sự thực hiển nhiên. Thiết nghĩ sự khác biệt giữa hai nền giáo dục Việt Mỹ có thể giải thích được hiện tượng này. Người VN trọng lễ nên bao giờ cũng tiên học lễ đã, rồi mới hậu học văn. Người Mỹ trái lại họ lấy đồng dollar làm quí nên trước sau và tiên hậu gì cũng chỉ có học cách làm tiền mà thiếu mất hẳn phần học lễ giáo. Việc học làm người rất khác với việc học làm tiền. Có người nói nước Mỹ thừa văn minh nhưng thiếu văn hóa là vì vậy. Một thắc mắc nữa đáng nêu lên để mà học hỏi là nước Mỹ hùng mạnh và tài giỏi như rứa mà sao lại phải thất bại tại Việt Nam, và hiện nay đang bị sa lầy tại Irak, không tìm được lối thoát? Còn những thất bại nào khác nữa bạn đọc nào biết xin cứ tự ý thêm vào và cũng xin tự tìm lấy giải đáp. Người viết xin chân thành cám ơn.
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
TRONG LÀNG BÁO VIỆT HẢI NGOẠI
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Việt Nam ta từ ngày có nạn giặc cờ đỏ tung hoành trên đất nước, luôn luôn có những loài thiêu thân tự nguyện đâm đầu vào đống lửa (CS) để tự đốt cháy mình và đốt cháy luôn cả quê hương. Tôi xin nói về những con thiêu thân trong làng báo, và trước hết là những con thuộc mấy tờ báo của cái gọi là Lực-Lượng-Thứ-3 tại miền Nam (VNCH) trước đây.
Hiệp Định Paris 1973 như ta thấy chẳng giải quyết được vấn đề gì. Trái lại chiến tranh vẫn tiếp diễn và càng ngày càng khốc liệt hơn. Một mặt Hoa Kỳ rút ra, không những quân đội, mà còn quân trang, quân dụng và yểm trợ. Mặt khác, mức độ xâm nhập người và vũ khí của CS miền Bắc đổ vào miền Nam tăng theo tỷ lệ nghịch. Vấn đề miền Nam rơi vào tình trạng bế tắc và bất lợi trông thấy. Trước tình hình đó, một nhóm người gọi là Lực Lượng Thứ 3 do CS dấu mặt nặn ra để làm ung thối miền Nam cũng ráo riết gia tăng hoạt động. Họ đa số là những người trẻ xông xáo muốn làm công việc đội đá vá trời là khai sáng con đường để giải quyết vấn đề chiến tranh. Con đường đó là con đường bắt tay với bọn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam dưới chiêu bài hòa hợp hòa giải dân tộc. Một số những bộ mặt nổi năng nổ nhất nằm trong các tờ báo Tin Sáng, Điện Tín, và Đại Dân Tộc như Lý Qúy Chung, Ngô Công Đức, Nguyễn Văn Binh, Kiều Mộng Thu v.v. Đám này nhân danh quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của miền Nam để tung hoành lũng đoạn. Nhờ bọn người này, cộng sản miền Bắc mới thôn tính được miền Nam một cách nhanh chóng và dễ dàng như đã thấy.
Khi CS xích hóa được miền Nam rồi, bọn này được gì? Điều mơ ước của họ như khoe mẽ là một mền Nam độc lập (khỏi ảnh hưởng Mỹ) và trung lập. Nhưng độc lập chẳng thấy. Trung lập cũng không. Một chế độ CS Stalinist duy nhất phủ chụp lên toàn đất nước sau đó. Số phận của những con thiêu thân báo chí cũng chết theo cùng với mảnh đất miền Nam. Kẻ thì chạy mối vỉa hè hoặc xoay nghề buôn lậu kiếm sống. Người thì lột xác trở thành bút nô cho chế độ. Có kẻ vỡ mộng nên tìm đường vượt biên trở thành người tỵ nạn bất đắc dĩ. Số phận các tờ báo của bọn này tất nhiên cũng đều cùng chung số phận.
Lịch sử xem chừng lại tái diễn trong cộng đồng người Việt tỵ nạn trên đất Mỹ. 32 năm rồi, nhiều người cảm thấy là một thời gian quá dài. Cuộc chống cộng bị coi như công dã tràng. Không thiếu cá nhân và đoàn thể đang loay hoay tìm cách khai thông con đường cứu nước. Họ cho rằng chống cộng là một lối mòn vô hiệu quả. Rốt cuộc người ta thấy rất rõ con đường mà họ đang lăm le bước vào thì cũng lại là con đường của nhóm Thành Phần Thứ 3 trước kia tại Miền Nam mà thôi. Nghĩa là con đường đầu hàng CS. Trong làng báo và truyền thông, một số mới liệng hòn đó dò đường bằng những bài báo nửa nạc nửa mỡ chứ chưa dám công khai chối bỏ thân phận tỵ nạn CS của mình. Nhưng mới đây tờ tuần báo VietWeekly tại miền nam Cali đã công khai xé rào tính chuyện lớn. So với nhóm Tin Sáng, Điện Tín, và Đại Dân Tộc trước kia, VietWeekly có rất nhiều điểm kể là tương đồng. Cả hai đều gồm những thành phần trẻ năng động và có căn bản học vấn. Cả hai đều cho mình là những tiên phong đứng ra mở đường khai lối cho bế tắc của thời cuộc. Cả hai cùng tự xác nhận căn cước (identification) không phải là CS, cũng không thân cộng. Nhưng lối làm truyền thông của họ lại để lòi cái đuôi con chồn, chẳng khác gì tự mình hô lên “lậy ông tôi ở bụi này”, chứ chẳng ai vu vạ đổ oan. Cả hai đều trương bảng hiệu tự do ngôn luận, tự do báo chí khi hành động. Dư luận tin chắc cả hai nếu thật sự thành tâm thì đúng là họ chẳng hiểu CS, nhất là CSVN là cái gì. Từ nhược điểm này, nhóm truyền thông của Thành Phần Thứ 3 đã không ngờ tự biến thành công cụ của CS. Điều hết sức đau đớn xẩy đến cho họ là những mơ ước ngây thơ của họ đã chết tức khắc và tức tưởi ngay sau khi CS chiếm đoạt được miền Nam. Không một lời điếu. Không một vòng hoa. Không một người thân đưa tiễn. Hoàn toàn im lặng. Chó chết hết chuyện. Các người trẻ của tờ Viet Weekly không biết có nhìn ra được điểm này không?
Thú thực tôi chưa bao giờ đọc tờ Viet Weekly. Tôi chỉ chú ý tới tờ báo này sau khi có cuộc họp báo của một số nhân vật dưới nam Cali tố cáo VietWeekly thân cộng, bôi xấu chế độ VNCH, cổ võ khủng bố v.v. Rất may một hôm cuối tuần đi ăn sáng với bạn bè, tôi lượm được một số báo VietWeekly nên mới có dịp để đọc nó. Trong số này hầu như các bài vở đều tập trung vào việc phản biện các điều tố cáo kia, đồng thời gián tiếp nêu lên chủ trương, đường lối của tờ báo đối với độc giả. Nhờ đó tôi mới có thể có được một nhận xét khái quát về tờ báo này.
Luận điểm của VietWeekly đưa ra để tự biện hộ là chủ trương tự do ngôn luận, thông tin hai chiều (Lê Vũ: Chúng tôi chủ trương tự do ngôn luận). Phương pháp VietWeekly áp dụng để tìm ra giải pháp cho vấn đề của đất nước hiện nay là đối thoại (Đông Duy: Điều chính yếu là sự đối thoại. Chính trong đối thoại rốt ráo người ta sẽ tìm ra được một giải pháp đứng đắn). Và quan trọng hơn hết, niềm tin hỗ tương của hai bên đối thoại, tức VietWeekly và nhà cầm quyền CSVN là cần thiết (Đông Duy: Mặt khác là những tia hy vọng đầu tiên qua sự bầy tỏ thiện chí của phía bên kia như trong lời tuyên bố mới đây nhất của chủ tịch nhà nước Nguyễn Minh Triết với báo chí Đức “Chúng tôi đã làm hòa với dĩ vãng”. Đây là một câu nói mà người ta chờ đợi từ hơn nửa thế kỷ qua ….). Tôi xin khái quát đi vào 3 điểm trên.
Trước hết về vấn đề đối thoại. Trên mục Thư Tòa Soạn của số báo tôi có trong tay, Viet Weekly viết: Chuyến đi của ông Triết đánh dấu sự sẵn sàng tiếp cận, đối chất, tranh luận với những vấn đề nhậy cảm của phía cộng đồng hải ngoại đưa ra. Có thể coi đó là một tiến bộ chung.
Đối thoại. Đối thoại. Nếu cứ nói khơi khơi không chừng sẽ lại là việc nói chuyện với đầu gối. Trong các vấn đề xung khắc giữa con người với con người, chủ trương đối thoại là điều tốt. Nhưng chuyện gì cũng phải có cái lý của nó. Cần thiết phải biết đối thoại là gì, đối thoại với ai, đối thoại về vấn đề gì, và nhất là đối thoại trên tinh thần nào. Người bình dân hiểu một cách nôm na, chữ đối thoại (dialog) là nói chuyện giữa hai người hoặc hai bên. Mục đích cuả đối thoại là tìm ra một chân lý đồng thuận. Cuộc đối thoại phải dựa trên tinh thần hiểu biết, bao dung, tương kính, và tôn trọng lẫn nhau. Nếu không dựa trên tinh thần đó thì đối thoại không thể gọi là đối thoại thực sư. Căn cứ vào các tiêu chuẩn trên về đối thoại, chúng ta có thể khẳng định VC không hề biết đối thoại là gì. Trong mỗi kỳ họp đại hội đảng, VC luôn kêu gọi người dân đóng góp ý kiến. Dân chúng đóng góp ý kiến rất nhiều và là những ý kiến xây dựng cho CS. Đó là một hình thức đối thoại. Nhưng có bao giờ CS lắng nghe những ý kiến đó đâu. VC đã không nghe ý kiến của người dân trong nước thì dễ gì chúng lắng nghe người tỵ nạn chúng ta? Nếu CS muốn đối thoại với với tập thể tỵ nạn chúng ta thì tại sao chúng áp lực các chính phủ Indonesia và Mã Lai đập phá các bia tưởng niện thuyền nhân? Tại sao trong khi VC đập phá các bia tưởng niệm thuyền nhân, chúng lại hứa hẹn cho một số người tỵ nạn trùng tu nghĩa trang QĐ Biên Hòa? Giả sử nếu tập thể chiến sĩ QLVNCH đứng ra nêu yêu cầu đó, liệu VC có sẵn sàng chấp nhận không? Tôi tin rằng còn khuya. Những đòn phép kiểu đó trong nghề làm chính trị chỉ là những cái mồi câu để nhử những con cá đói ăn và khờ dại. Những người trẻ đầy bầu nhiệt huyết của Viet Weekly có bao giờ thắc mắc để tìm hiểu những lắt léo trong các vấn đề đại loại như thế không?
Nguyễn Minh Triết sang Mỹ tiếp xúc với những cộng đồng người Việt nào để đối chất, tranh luận về nhữngvấn đề nhậy cảm mà gọi là một tiến bộ chung. Tin túc cho biết Triết chỉ gặp một người Việt tại Mỹ là bà Bs Quỳnh Kiều, và hình như có cà Nguyễn Cao Kỳ nữa? Mà Quỳnh Kiều và Cao Kỳ là ai thì người Việt tỵ nạn hẳn đều biết rõ. Sự thể cho thấy CS chỉ gặp gỡ nói chuyện với những kẻ đã đầu hàng và phục vụ cho chúng. Một mình Quỳnh Kiều hay có thêm cả Nguyễn Cao Kỳ nữa cũng không thể gọi là cộng đồng người Việt tỵ nạn. Cuộc nói chuyện giữa vài ba người trong tư thế và thân phận của họ như thế, tôi tin rằng chỉ là cuộc trao đổi, mặc cả mối làm ăn giữa các con buôn. Hành động của Triết không thể coi là dấu chỉ của một tiến bộ nào hết. Đối thoại với VC còn khó hơn là lên sao Hỏa. Trong vòng chừng 20 năm nữa có thể con người sẽ đặt chân lên được Hỏa tinh. Nhưng khẳng định một triệu năm sau chúng ta vẫn không thể nào đối thoại sòng phẳng được với VC. Lý do rất dễ hiểu. Bản chất của con người CS là bản chất của quỉ dữ: lưu manh, lừa lọc, phản trắc và cực kỳ ngoan cố …. Còn chúng ta dù sao cũng còn là những con người nhân chi sơ tính bản thiện.
Hơn nữa, việc xây dựng được một niềm tin đối với CS trong việc đối thoại hoàn toàn là điều không tưởng. Thực tế và lịch sử VN đã chứng minh. Những Hiệp Ước và cam kết quốc tế mà VC còn dám xé giục thùng rác, những lời hứa nhăng hứa cuộc của chúng lại đáng tin sao. Thật là vô lý. Chỉ cần ôn lại một chút lịch sử chúng ta sẽ thấy ngay đó là một điều không tưởng. Năm 1946, một chính phủ liên hiệp mới thành hình chưa kịp đi vào sinh hoạt ổn định thì CS đã tiên hạ thủ vi cường các đảng phái quốc gia trong chính phủ đó. Năm 1973 Hiệp Định Paris ký chưa ráo mực thì CS Bắc Việt đã ồ ạt xua quân vào miền Nam bởi chúng bết rõ HK rút ra không còn bao giờ trở lại. Mỗi năm tết đến hai bên đều có tuyên bố ngưng chiến, nhưng không năm nào VC không vi phạm lệnh ngưng bắn. Hành động vi phạm trắng trợn, thô bạo, và đẫm máu nhất xẩy ra dịp tết Mậu Thân 1968. Những sĩ quan và viên chức hành chánh VNCH nghe lời phỉnh gạt đi học tập cải tạo 10 ngày, nhưng thực tế là trung bình trên 10 năm. Những trò lừa gạt trắng trợn như thế bảo sao mà còn tin tưởng được nữa! Chỉ bằng vào việc Nguyễn Minh Triết tuyên bố với báo chí Đức “Chúng tôi đã làm hòa với dĩ vãng” mà ViêtWeekly cho rằng CS có thiện chí, đáng tin thì quả thực các người trẻ tuổi này là những người điếc không sợ súng. CS có đáng tin hay không, đưa ra những lý luận hùng biện mấy cũng không bằng nhìn vào tấm gương của những con người thực cả đời đã tin vào CS. Các người trẻ Viet Wekly về trí đã chắc gì bằng những Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường. Về công cán hẳn không thể nào qua mặt được bà Cát Thanh Long, người đàn bà được CS tôn vinh là bà mẹ kháng chiến. Những người này đều là những nạn nhân của lòng tin của mình vào CS. Với CS chỉ có một chân lý là “thuận ta thì sống, nghịch ta phải chết”. Đó là một chân lý bất biến. Còn chuyện tin hay không tin, với CS đều không phải là vấn đề.
Nói đến chủ trương tự do ngôn luận của Viet Weekly mà không nói đến Tu Chính Án Số 1 (TCA #1) thì hẳn là một thiếu sót.
Người viết còn nhớ rõ. Cách đây khoảng 10 năm khi ông Vũ Bình Nghi đăng bài phỏng vấn lãnh sự CS Nguyễn Xuân Phong trên tờ Thời Báo rồi bị công luận lên án gắt quá, ông bèn đưa TCA#1 ra làm bia đỡ đạn. Ông biện luận rất triết lý như sau: Tự do báo chí là tự do báo chí. Theo Hiến Pháp nước Mỹ, người làm báo có quyền muốn viết gì thì viết, muốn đăng gì thì đăng, vì đó là tự do báo chí.
Sự thực, theo TCA#1, người làm báo có được hoàn toàn thoải mái trong khi hành nghề như nhiều người nghĩ không? Câu trả lời sẽ không đơn giản. Ta hãy nghe thẩm phán Oliver W. Holmes giải thích bằng một thí dụ dí dỏm nhưng rất hàm xúc như sau: Việc đảm bảo tự do ngôn luận không cho phép một công dân đùa giỡn la lối cháy nhà, cháy nhà trong một căn phòng đang có đông người hội họp. Anh ta rất xứng đáng bị trừng phạt.
TCA#1 bảo đảm các quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do báo chí v.v. Dựa trên sự giải thích của thẩm phán Oliver W. Holmes, nếu ai nói nhà báo có toàn quyền muốn viết gì thì viết, muốn đăng gì thì đăng là lối nói lấy được. Tự do báo chí cũng có cái giới hạn của tự do báo chí. Ta có thể kể ra các hạn chế sau đây:
1. Do Luật Pháp Qui Định – TCA#1 bảo đảm các quyền tự do tôn giáo, hội họp, báo chí v.v. nhưng người làm báo không thể dựa vào đó để phỉ bang, mạ lị người khác. Không được phép xâm phạm vào đời tư người khác. Không được phép tiết lộ bía mật quốc gia, an ninh quốc phòng v.v. Tóm lại, nhà báo không được phép đi quá giới hạn mà luật pháp quốc gia, tiểu bang, hay địa phương qui định trong khi hành nghề. Những hạn chế này đặt ra cốt để bảo đảm trật tự xã hội và an ninh của quốc gia.
2. Nguyên Tắc Hỗ Tương Cam Kết – Đây là một thứ luật bất thành văn, nghĩa là chỉ dựa vào sự tin tưởng lẫn nhau, hay một sự cam kết mặc nhiên giữa một bên là nguồn tin và một bên là người ký giả. Chẳng hạn trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, các ký giả thường được cho biết trước một thời gian ngắn nào đó ngày quân đội đồng minh mở cuộc tấn công. Hoặc trong chiến tranh VN, các ký giả Mỹ nhiều khi cũng được thuyết trình trước khi một cuộc hành quân bắt đầu khởi diễn. Đó là thứ tin tức tuyệt mật. Các phóng viên được yêu cầu giữ kín cho đến sau khi cuộc hành quân xẩy ra.
3. Lương Tâm Nghề Nghiệp – Không thể viện dẫn TCA#1 để đăng hình một em bé gái trần truồng trên trang bìa của một tờ báo thiếu nhi. Lương tâm của người làm báo không cho phép họ làm chuyện đó. Lương Tâm nghề nghiệp là một phạm vi rất khó phân định ranh giới, nhất là trong nghề làm truyền thông. Nhà báo có lương tâm phải tự hạn chế bớt tự do của mình khi lẽ phải đòi hỏi. Theo tiêu chuẩn của nghề làm truyền thông Tây phương, người ký giả phải là người có khả năng, nghĩa là được huấn luyện đầy đủ và chu đáo. Để bảo đảm cho việc thông tin được trung thực, họ còn phải là người có lương tâm. Tuy nhiên, lý thuyết thì vậy, nhưng còn thực tế thì lại là chuyện khác. Báo chí HK vẫn được coi là một mẫu mực tuyệt hảo của một nền truyền thông tự do và trung thực mà qua đó, người dân HK được biết một cách đầy đủ mọi sự việc xẩy ra và mọi diễn biến trên khắp thế giới mà không sợ bị lừa gạt. Thật sự là một sai lầm lớn nếu chúng ta tin như thế. Chúng ta thấy rõ sự thật là trong chiến tranh VN, người dân HK đã bị báo chí của họ lừa gạt thê thảm như thế nào. Hầu như tất cả các báo chí Mỹ, kể cả đài phát thanh BBC của Anh Quốc lúc đó đều cố ý đưa tin sai lạc và tường thuật một cách thiên lệch về cuộc chiến với một dụng ý xấu. Ngày nay chúng ta đã biết rằng dụng ý đó là để hỗ trợ cho một âm mưu của một số chính quyền HK chủ trương triệt hạ cho bằng được chính phủ VNCH. Kết quả là những dối trá và những điều nói láo của cả một chiến dịch thông tin bất lương đã làm nghiêng cán cân quyết định cuộc chiến về cho phe CS Hanoi. Câu nói của Paul Joseph Goebbels, bộ trưởng tuyên truyền của Đức Quốc Xã áp dụng vào trường hợp này không còn gì đúng cho bằng: Nói láo một lần thì không ai tin, nhưng nói láo một triệu lần thì điều dối trá sẽ trở thành sự thật. Ai tin thì cứ tin. Bằng vào kinh nghiệm đau thương của dân tộc, người tỵ nạn VN dứt khoát không nên hoàn toàn tin tưởng vào tính trung thực và sự lương thiện của ngành truyền thông HK để khỏi bị lầm. Cái gì cũng cần phải tìm hiểu, phân tích rồi mới lượng định được. Một người bạn tôi thường đùa dỡn và châm biếm rằng các ông nhà báo Mỹ thường cất cái lương tâm của họ vào tủ sắt trước khi anh ta rời nhà để tới tòa soạn làm việc. Như thế thì chẳng bao giờ anh ta sợ bị đánh mất lương tâm được. Nếu cứ đem cái tiêu chuẩn trung thực của nền báo chí Mỹ ra làm thước đo để biện minh cho việc làm của mình thì e rằng có ngày mất cả chì lẫn chài.
Nếu thực sự có lương tâm nghề nghiệp, người ký giả hẳn không nên biện giải hoặc đề cao những cuộc thiêu sống tập thể (holocaust) của Đức Quốc Xã trước một cộng đồng Do Thái. Nếu thực sự có lương tâm nghề nghiệp, người ký giả tỵ nạn không nên biện minh hoặc cho phép người khác biện minh về vụ VC thủ tiêu hoặc chôn sống đồng bào hàng loạt hồi tết Mậu Thân tại Huế trong cộng đồng tỵ nạn chúng ta như Viêt Weekly đã làm. Nếu chủ trương truyền thông trung thực thì tại sao VietWeekly không cho đăng hình cha Lý bị công an bịt miệng. Có nên nói rằng đó là lối tờ báo này kiểm duyệt thông tin? Vậy có chi khác với truyền thông CS? VietWeekly giải thích thế nào thì cũng không bịt miệng được tiếng nói lương tâm của chính mình. Tự nhiên khi không Viet Weekly moi ra một bài cũ rích từ diễn đàn điện tử Talawas đã hai năm rồi của một cán bộ CS ở trong nước chửi bới đủ thứ một chính thể đã chết, rồi bảo rằng mình làm truyền thông hai chiều. Vậy chứ còn chiều kia đâu không moi ra cho đủ cặp? Có ẩn ý gì đây? Liệu Viet Weekly có che giấu nổi ẩn ý này trước lương tâm nghề nghiệp của mình không? Những người trẻ làm thông tin trung thực và hai chiều là chuyện rất đáng khen, nhưng chỉ làm cho cộng đồng tỵ nạn thôi thì có gì là công bằng, chính đáng và thiết thực. Người Việt tỵ nạn ở hải ngoại thực tế không thiếu bất cứ một thứ thông tin nào, thừa mứa nữa là khác. Đồng bào trong nước mới là những người đói khát thông tin. Tại sao VietWeekly không gởi những tin tức và bài vở của người Việt hải ngoại về cho đồng bào trong nước đọc? Sợ VC không cho? Nếu đã thông tin hai chiều cho người Việt hải ngoại thì tai sao lại cúi mình chấp nhận thông tin một chiều ở trong nước? Đường lối truyền thông như thế mà dám tự hào là truyền thông trung thực và hai chiều sao? VietWeekly làm truyền thông kiểu này cho người tỵ nạn có lẽ xứng đáng được thẩm phán Oliver W. Holmes ra phán quyết như sau: Việc bảo đảm tự do ngôn luận không cho phép một nhà báo tỵ nạn CS trực tiếp hay gián tiếp tuyên truyền cho chế độ đã từng đàn áp và tước bỏ các quyền tự do của anh ta. Anh ta rất xứng đáng bị đuổi cổ về nước.
Khi đã ý thức được bổn phận và trách nhiệm đối với Dân Tộc thì tự nhiên người ký giả sẽ biết được mình nên làm gì và nên tránh những gì trong khi hành nghề. Không thiếu gì những kinh nghiệm xương máu và nước mắt trong vấn đề hành sử quyền tự do ngôn luận. Khi tên nhà báo Vũ Hạnh bị bắt vì tội viết lách tuyên truyền cho CS, báo chí Saigon nhao nhao lên phản đối. Lm Thanh Lãng dám nhân danh quyền tự do báo chí, lấy cái áo chùng thâm che chắn để đưa tên này ra khỏi khám Chí Hòa. Một chuyện cá nhân khác nữa cũng tại Saigon, một anh nhà báo lớn, Phạm Xuân Ẩn, chuyên kết giao với các tổng bộ trưởng, tướng tá, và những cây cổ thụ báo chí trong làng. Được cái dù tự do báo chí che chở, hắn ngày ngày ngồi phét lác ở nhà hàng Continental trên đường Tự Do, vừa nhâm nhi cà phê vừa gởi tin ra Rờ (R, trung ương cục miền Nam của CS). Sáng ngày 30-4-75, hắn hiện nguyên hình là một tên đại tá VC với dép râu nón cối. Ẩn đã núp kỹ dưới cái dù tự do ngôn luận để bán đứng miền Nam cho CS. Các tờ Tin Sáng, Điện Tín, Đại Dân Tộc với một lô các nhà báo trẻ tuổi tài cao cũng đã nhân danh quyền tự do ngôn luận để rước CS vô Saigon. Những câu chuyện về báo chí như thế thì rất nhiều dưới chế độ VNCH.
Tình trạng này lại đang thấy xuất hiện trong các cộng đồng tỵ nạn của chúng ta. Người ta vẫn bài bản cũ dưới cái dù tự do ngôn luận. Chính sự lạm dụng tự do ngôn luận của một số người đã làm chúng ta mất nước. Bây giờ bọn báo chí bất lương được chỉ đạo bởi Nghị Quyết 36 của CS cũng đang âm mưu thôn tính các cộng đồng tỵ nạn của chúng ta dâng vào tay CS. Một ngàn năm giặc Tầu đô hộ, cha ông ta kiên trì chiến đấu hết thế hệ này qua thế hệ khác mà không kể là lâu. Một trăm năm nô lệ giặc Pháp, cha ông ta cũng đã kiên trì chiến đấu cũng vẫn không kể là lâu. 32 năm so sánh xem đã thấm vào đâu. Sao tuổi trẻ nóng lòng và chóng mất kiên nhẫn thế! Cha ông ta chống giặc, có kiếm dùng kiếm, có giáo dùng giáo, có gậy dùng gậy. Ngày nay người Việt tỵ nạn chúng ta chỉ còn thứ vũ khí là biểu tình, kiến nghị, vận động v.v. Tại sao các người trẻ VietWeekly lại bắt đồng bào của mình liệng những vũ khí này đi: “Đấu tranh không phải là hô hào đả đảo lỗ miệng …..” Ôi nhát giao oan nghiệt của tuổi trẻ chém xuống thân thể Mẹ VN! Với cái nhìn thiển cận của mình, người viết thực sự nghĩ rằng nếu không có các cuộc xuống đường biểu tình thì lá cờ máu của CS đã cắm tràn lan trong cộng đồng chúng ta rồi, và Nguyễn Minh Triết sang Mỹ đã có thể thong dong ra vào khu Phước-Lộc-Thọ như chỗ không người.
Tự do ví như một căn nhà mở toang cửa. Trên đất nước tự do này, cánh cửa của căn nhà tự do càng mở rộng hơn. Chúng ta vô được thì CS cũng vô được. CS nó không phải lẻn vô mà nó vô một cách công khai và dễ dàng hơn người làm báo chống công nhiều, vì nó có nhiều tiền, và có khi còn có cả bùa hộ mạng của Mỹ nữa. Nếu nó mang dép râu, quấn khăn rằn, đội nón cối thì rất dễ nhận ra. Nhưng bây giờ nó cũng đã biết mặc đồ lớn, xách samsonite, và còn có thể cặp kè một anh Mẽo có bề thế nhởn nhơ đi vô làng báo một cách rất thoải mái nữa là khác. Biết đấy, nhưng ai dám chận lại đòi xem chứng minh nhân dân của nó. Làm thế nào mà điểm mặt nó đây? Chỉ còn cách dựa vào kinh nghiệm và trực giác mà thôi. Đòi bằng chứng thì xin chịu. Đem lương tâm, dân tộc, đất nước ra mà biện bạch liệu có tin nổi không? Nguyễn Cao Kỳ không phải là CS, hắn chỉ là một tên điếm đàng. Khi khom lưng đầu hàng bọn điếm CS, hắn cũng đưa chiêu bài tổ quốc tổ cò và dân tộc ra để lừa bịp. Từ ngày đem thân về làm tôi cho CS, hắn đã làm được gì cho Dân Tộc, cho đất nước? Mặt nạ nào rồi cũng rớt xuống để trơ cái mặt thịt ra cho người đời nguyền rủa.
Báo chí HK thường ví nhà báo như người lính gác của công ích. Trong khi có những cơ quan truyền thông chăm lo phục vụ cộng đồng, thì cũng không thiếu cơ quan truyền thông khác lợi dụng quyền tự do báo chí để phục vụ cho tham vọng riêng tư. Sức mạnh của một cơ quan truyền thông là sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng, chứ không phải thu được nhiều quảng cáo. Như vậy đúng ra một tờ báo càng hăng say và tận tâm phục vụ lợi ích của cộng đồng bao nhiêu thì càng có nhiều độc giả bấy nhiêu mới phải. Nhưng thực tế thường xẩy ra khác hẳn. Thật đáng buồn khi có những tờ báo cố ý câu độc giả bằng cách tạo biến cố. Ông Vũ Bình Nghi của tờ Thời Báo ở San Jose trước đây đã xác nhận điều đó. Chính ông ta đã tiết lộ với ký giả của tờ San Jose Mercury News là mỗi khi ông gây chuyện trong cộng đồng thì tờ báo của ông lại tăng thêm trang. Người đọc có khi không thích tờ báo của ông, nhưng vẫn tìm nó để đọc vì tò mò. Tôi thực sự không muốn tin tờ VietWeekly bắt chước làm báo theo cung cách đó.
“Đối với những người trẻ này (nhóm VietWeekly), cũng xin đừng khoe, đừng dậy họ thế nào là cộng sản, tại sao phải tranh đấu cho tự do và phải tranh đấu như thế nào.Tuy nhiên, vì là những người trẻ được huấn luyện trong không khí cởi mở đa dạng và dung nạp của Hoa Kỳ, họ không sợ hay thù ghét cộng sản theo cung cách cũ mòn, phản xạ của thế hệ trước.”
Trích đoạn trên rút ra từ bài viết của tác giả Đông Duy trên số VietWeekly thượng dẫn, người viết muốn lấy nó làm gợi ý cho phần kết luận của bài này. Đọc trích đoạn trên người viết rút ra đựợc nhận xét là những người trẻ VietWeekly đã học đưọc rất nhiều từ nhà trường và xã hội Mỹ, học được cả tinh thần, cách suy nghĩ, và lối sống của lớp thanh niên, sinh viên Mỹ hồi cuối thập niên 60 đầu 70; có tinh thần tự tin rất cao và có thể cả tự phụ nữa, rất xứng đáng được khen câu “hậu sinh khả úy”. Nền giáo dục Hoa Kỳ sản sinh được những con người tự tin, tài giỏi, tháo vát, và hào khí như thế mà không hiểu tại sao người Mỹ đi đến đâu cũng bị coi thường, khinh khi và xua đuổi. Đó là một sự thực hiển nhiên. Thiết nghĩ sự khác biệt giữa hai nền giáo dục Việt Mỹ có thể giải thích được hiện tượng này. Người VN trọng lễ nên bao giờ cũng tiên học lễ đã, rồi mới hậu học văn. Người Mỹ trái lại họ lấy đồng dollar làm quí nên trước sau và tiên hậu gì cũng chỉ có học cách làm tiền mà thiếu mất hẳn phần học lễ giáo. Việc học làm người rất khác với việc học làm tiền. Có người nói nước Mỹ thừa văn minh nhưng thiếu văn hóa là vì vậy. Một thắc mắc nữa đáng nêu lên để mà học hỏi là nước Mỹ hùng mạnh và tài giỏi như rứa mà sao lại phải thất bại tại Việt Nam, và hiện nay đang bị sa lầy tại Irak, không tìm được lối thoát? Còn những thất bại nào khác nữa bạn đọc nào biết xin cứ tự ý thêm vào và cũng xin tự tìm lấy giải đáp. Người viết xin chân thành cám ơn.
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Cười to thực sự làm giảm đau đớn
Khả năng chịu đựng đau đớn của con người tăng sau khi chúng ta cười sảng khoái, bởi hành động cười khiến cơ thể giải phóng những hóa chất có tác dụng giống thuốc giảm đau.
BBC đưa tin, các nhà khoa học của Đại học Oxford tại Anh tuyển một nhóm người tình nguyện để thực hiện một thử nghiệm. Đầu tiên các nhà nghiên cứu thử khả năng chịu đau của từng tình nguyện viên rồi chia họ thành hai nhóm. Họ cho một nhóm xem video hài trong 15 phút, còn nhóm kia xem những thứ có vẻ buồn tẻ hơn – như chương trình dạy đánh golf.
Sau đó các chuyên gia tiếp tục đo khả năng chịu đau của các tình nguyện viên. Họ nhận thấy khả năng chịu đau của những người cười sảng khoái trong lúc xem phim hài cao hơn tới 10% so với trước khi xem phim. Ngược lại, khả năng chịu đau của những người xem các chương trình “tẻ nhạt” giảm.
Ảnh minh họa: nydailynew.com. Giáo sư Robin Dunbar, một nhà tâm lý tiến hóa của Đại học Oxford, giải thích rằng khi con người cười lớn, sự co giãn của các cơ làm tăng lượng endorphin, nhóm hóa chất có khả năng làm giảm cảm giác đau đớn, trong cơ thể.
Dunbar nói mỗi kiểu cười mang đến tác dụng khác nhau. Cười khúc khích không tạo nên bất kỳ hiệu ứng nào về mặt thể chất. Chỉ có tiếng cười lớn và sảng khoái mới thực sự mang đến lợi ích.
Không phải loại hài kịch nào cũng làm tăng lượng endorphin trong cơ thể. Dunbar cho biết, những vở hài kịch đơn giản, mang tính tình huống có tác dụng lớn nhất, còn những vở hài kịch sâu sắc, thâm thúy chỉ dẫn đến tác dụng không đáng kể.
Mọi động vật linh trưởng đều có khả năng cười, song kiểu cười sảng khoái, bật thành tiếng chỉ tồn tại ở loài người. Dunbar cho rằng endorphin không chỉ làm giảm đau, mà còn giúp con người xây dựng mối quan hệ với đồng loại.
Nhờ khả năng xây dựng mối quan hệ với nhau mà tổ tiên của chúng ta tạo nên những cộng đồng lớn hơn các loài động vật linh trưởng khác. Chẳng hạn, khoảng hai triệu năm trước, số lượng các nhóm người có thể lên tới 100, trong khi số lượng cá thể trong các nhóm động vật linh trưởng khác hiếm khi vượt quá 50. Những cộng đồng lớn giúp con người giành ưu thế lớn nhất trong quá trình tiến hóa.
Minh Long
BBC đưa tin, các nhà khoa học của Đại học Oxford tại Anh tuyển một nhóm người tình nguyện để thực hiện một thử nghiệm. Đầu tiên các nhà nghiên cứu thử khả năng chịu đau của từng tình nguyện viên rồi chia họ thành hai nhóm. Họ cho một nhóm xem video hài trong 15 phút, còn nhóm kia xem những thứ có vẻ buồn tẻ hơn – như chương trình dạy đánh golf.
Sau đó các chuyên gia tiếp tục đo khả năng chịu đau của các tình nguyện viên. Họ nhận thấy khả năng chịu đau của những người cười sảng khoái trong lúc xem phim hài cao hơn tới 10% so với trước khi xem phim. Ngược lại, khả năng chịu đau của những người xem các chương trình “tẻ nhạt” giảm.
Ảnh minh họa: nydailynew.com. Giáo sư Robin Dunbar, một nhà tâm lý tiến hóa của Đại học Oxford, giải thích rằng khi con người cười lớn, sự co giãn của các cơ làm tăng lượng endorphin, nhóm hóa chất có khả năng làm giảm cảm giác đau đớn, trong cơ thể.
Dunbar nói mỗi kiểu cười mang đến tác dụng khác nhau. Cười khúc khích không tạo nên bất kỳ hiệu ứng nào về mặt thể chất. Chỉ có tiếng cười lớn và sảng khoái mới thực sự mang đến lợi ích.
Không phải loại hài kịch nào cũng làm tăng lượng endorphin trong cơ thể. Dunbar cho biết, những vở hài kịch đơn giản, mang tính tình huống có tác dụng lớn nhất, còn những vở hài kịch sâu sắc, thâm thúy chỉ dẫn đến tác dụng không đáng kể.
Mọi động vật linh trưởng đều có khả năng cười, song kiểu cười sảng khoái, bật thành tiếng chỉ tồn tại ở loài người. Dunbar cho rằng endorphin không chỉ làm giảm đau, mà còn giúp con người xây dựng mối quan hệ với đồng loại.
Nhờ khả năng xây dựng mối quan hệ với nhau mà tổ tiên của chúng ta tạo nên những cộng đồng lớn hơn các loài động vật linh trưởng khác. Chẳng hạn, khoảng hai triệu năm trước, số lượng các nhóm người có thể lên tới 100, trong khi số lượng cá thể trong các nhóm động vật linh trưởng khác hiếm khi vượt quá 50. Những cộng đồng lớn giúp con người giành ưu thế lớn nhất trong quá trình tiến hóa.
Minh Long

Giới tính trong văn chương
Tôi muốn dùng chữ “giới tính” để nói về sự cấm kỵ (giới) về phái tính (sex).
Trong truyện cười, ba đề tài lớn nhất bao giờ cũng là giới tính, quyền lực và kế là tôn giáo. Về tôn giáo, nhất là Công giáo, thì Roma là kho truyện cười lớn nhất, đầy đủ nhất, và “kinh khủng” nhất. Tôi e rằng chính các cha, các thầy là những người nghĩ ra đầu tiên, dưới cái nhìn thánh thiện, trong sáng (chỉ hóm tí cho đỡ tẻ thôi mà!) rồi khi truyền bá ra dân gian nó biến chất, trở thành đục, qua nhãn giới của dân gian.
Kế tiếp là quyền lực: hãng xưởng, quân đội và nhất là chính quyền. Nhà nước nào càng cứng rắn, càng độc tài thì truyện cười chống báng quyền lực càng phong phú, càng dữ dội. Xét về khía cạnh đó, có lẽ nước Việt Nam sẽ chiếm giải quán quân về truyện cười lấy Đảng và Nhà nước làm đề tài.
Nhưng mạnh nhất, phổ thông nhất, dễ được đón nhận và truyền đạt nhất, là truyện cười về giới tính. Truyện cười về giới tính không có biên giới, lan rộng trong nhân loại như không khí và rất khó mà tầm nguyên xem nó xuất xứ từ xứ nào!
Trong văn chương Việt Nam, các nhà nho nghiêm chỉnh nhất, đĩnh đạc nhất như cụ Nguyễn Khuyến cũng viết: “Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt, Trước sân ông cử ngẩng đầu rồng.” Rồi “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà, Dày dày sẵn dúc một toà thiên nhiên”, là đoạn mà cụ Nguyễn Du kể chuyện chàng Thúc rình xem cô Kiều tắm … truồng (tất nhiên). Và “Cao lâu thường ăn quịt, Thổ đĩ lại chơi lường” hay “Bệnh gì không mắc, bệnh tiêm la” (tức giang mai) là cụ Trần Tế Xương! Hay “Quân tử có thương thì đóng cọc, Xin đừng măn mó nhựa ra tay” là cụ bà Hồ Xuân Hương.
Nói tới “đít vịt”, “đầu rồng”, tắm truồng, chơi đĩ cho tới măn mó và “đóng cọc”, tất có nhiều bạn trẻ chưa từng làm quen với văn chương Việt Nam sẽ cau mày, cho rằng “người lớn” chả đứng đắn gì cả; nếu các cụ tác giả mà là là hội viên trong một tổ chức văn hoá ắt bị điệu ra Hội đồng kỷ luật vì thơ văn “thiếu văn hoá.” Ấy vậy mà thực tế là nó đã được bộ Giáo dục đưa vào chương trình Việt văn từ lớp 6 tới lớp 12, dạy cho học sinh tuổi vị thành niên, và đó chính là một phần văn hoá Việt Nam mà những người Việt – trong nước, hay ngoài nước mà chưa đứt rễ -- được thụ hưởng.
Giới tính trong thơ Bút Tre
Bút Tre tên thật là Đặng Văn Đang, người xã Đồng Lương, huyện Song Thao, tỉnh Vĩnh Phú, đã qua đời năm 1985. Con ông là Đặng Văn Phiến cho biết, ông để lại tập vè “Diễn ca” hơn nghìn câu và tập “Hồi ký Bút Tre” gồm nhiều bài thơ ngắn. Tin này bay tới tai Đảng, Đảng chặn ngay, song đã muộn, vì:
Năm năm dân giả lắng nghe
Một Bút Tre thành vạn Bút Tre các làng!
Quả vậy. Ngày nay chúng ta có thể sưu tập được hàng vạn câu thơ “Bút Tre”, với các đặc tính chung như sau:
Về nội dung, nhẹ nhàng nhất, là trình bày một sự thật dưới khía cạnh hài hước:
Hoan hô các cụ trồng cây
Mười cây chết chín một cây gật gù
Bọn bây có mắt như mù
Mười cây chết cả gật gù nỗi chi!
Anh đi giường chiếu lặng câm
Anh về giường chiếu reo ầm cả lên.
(Anh về, hai đứa rọ rạy cả đêm, giường chiếu cứ lắc lư ầm cả lên!)
Tin đâu như sét đánh ngang
Bác đang còn sống chuyển sang từ trần.
Vũng nhà khoan mãi chẳng ra
Vũng Tàu khoan cái dầu ra ầm ầm.
Trung thu Tết của thiếu nhi
Thanh niên nam nữ ấy đi là nhiều
Chẳng may họ có làm liều
Vài ba năm nữa lại nhiều... thiếu nhi.
Tiễn anh lên bến ô tô
Đêm về em khóc ... tồ tồ cả đêm.
(Người ta nói khóc ti tỉ. Chữ tồ tồ ở đây rất gợi thanh, nhưng thanh khác.)
Khi đi em nắm cổ tay
Khi về em nắm... chỗ này, chỗ kia…
(“Chỗ này chỗ kia” là chỗ … nào? Các ông mới đi xa về, để ý một tí tất biết.)
Kế là bởn cợt Đảng và những mặt mâm trong Đảng cùng những chiến dịch, chương trình thùng rỗng kêu to của nhà nước:
Ta đi bầu cử tự do
Chọn người xứng đáng mà cho vào hòm…
(Hòm, tiếng Bắc nghĩa là cái hộp, tiếng Nam là cái quan tài.)
Mơ lông tuy có nhiều lông
Ăn vào ngon miệng chứ không việc gì.
Thằng nhỏ mặc quần hở mông
Vẫn hơn con nhỏ còn không mặc quần.
Trẻ em thường thích ở trần,
Nhưng mà người lớn có phần …thích hơn.
Về hình thức, dùng một trong những kỹ thuật sau:
- Nối câu (chữ cuối ở hang trên và chữ đầu của hàng sau là một chữ):
Anh đi công tác Pờ Lây
Cu dài dằng dặc biết ngày nào ra.
Chị em phụ nữ chơi cầu
lông bay vùn vụt… qua đầu thanh niên.
Họp xong anh ghé Buôn Mê
Thuột xong một cái lại về Pờ Lây
Cu anh tuy có hơi gầy
Nhưng mà anh vẫn đêm ngày nhớ em!
Anh đi công tác bản Muờng
Tè xong một cái lên đường về quê.
Anh đi công tác Cam Pu
Chia chiến lợi phẩm ở tù ba năm..
- Không tra đúng dấu, vì tra đúng dấu thì sai luật thơ, cứ để vậy cho độc giả tự đoán ra và mỉm cười:
Ngày xưa cụ Mác cụ Lê
Hai cụ đều giỏi chẳng chê cụ nào
Ngày nay thời đại lên cao
Có Ga-Ga-Rỉn bay vào vũ tru (vũ trụ)
Hay:
Thị Bình thấy bác giở mu ra chào… (mũ)
Rõ ràng ý tục, lời thanh, chỉ khác nhau … cái dấu! Phần lớn thơ Bút Tre phải có ý tục, chỉ khác nhau ở mức độ
Chị em du kích giỏi thay
Bắn tàu bay Mỹ rớt ngay cửa mình!..
Hàng Bông nô nức tiếng đồn
Có cô bán trứng vịt lộn rất to…
Tất nhiên là chữ “lộn” ở câu dưới phải là phù bình thanh, dấu huyền mới đúng luật, nhưng tác giả cứ viết bằng dấu nặng cho thanh, ai cũng hiểu.
Câu này phải ngắt 5-3: có cô bán trứng vịt/lộn rất to! Thật hết nước!
Hôm qua học tập chính tri (chính trị)
Cán bộ ngồi ỳ, chẳng chịu phát biêu (phát biểu)
Cơm ăn chẳng được bao nhiêu
Đảng uỷ lại bắt phát biêu cả buồi (phát biểu cả buổi).
Liên hoan có bánh có chuồi
Ra đi nhớ mãi cái buổi hôm nay.
Chữ thứ sáu câu trên phải là “chuối”, và chữ thứ sáu câu dưới phải là “buồi”, tiếng Bắc (tục), chỉ bộ phận sinh dục của đàn ông…
Sau đây là một số thơ “Bút Tre” và “Bút Tre các làng” (nghĩa là mô phỏng theo nội dung và hình thức cũ mà phát triển):
Sau khi cán bộ chiếm hết các khu du lịch: Hạ Long, Đồ Sơn,..
nhà nước phát động toàn dân du lịch để cán bộ thu tiền, trong dân gian liền xuất hiện các bài thơ Bút Tre về du lịch:
Không đi thì ngõi Đồ Sơn
Đi rồi mới biết bẩn hơn đồ nhà
Đồ nhà nước mốc váng cà
Nhưng là đồ thật, chả là đồ sơn.
“Đồ” ở đây là tiếng cổ, chỉ bộ phận sinh dục của phụ nữ.
Từ bốn câu trên lại nảy ra một số dị bản; những từ ngữ địa phương hay khó hiểu khó nhớ: “ngõi”, “ nước mốc váng cà”,.. được thay thế:
Không đi không biết Đồ Sơn
Đi rồi mới biết không hơn đồ nhà
Đồ nhà tuy có hơi già
Nhưng là đồ thật, chả là đồ sơn.
Chưa hết, dân gian còn thêm cho một khúc… nối dài:
Đồ nhà nước ngọt lại trơn
Đồ Sơn mặn quá, rít hơn đồ nhà
Tím hoa khế, đỏ mào gà
Đồ Sơn … rộng quá, đồ nhà chật hơn!
Các khu du lịch không phải chỉ có Đồ Sơn, mà còn nhiều nơi khác, và mỗi nơi lại có một bài “Bút Tre các làng” đi theo:
Không đi không biết Cà Mau
Đi rồi mới biết không hơn cà nhà
Cà nhà tuy có hơi già
Nhưng là cà … chậm hơn là cà mau!
Việc phòng the, phải chậm rãi, từ từ nó mới kịp …thấm! Rồi thì là:
Chưa đi chưa biết Tam Đao (Tam Đảo)
Đi thì không biết chỗ nào mà ngu (ngủ)
Một giường nó nhét hai cu (cụ)
Thôi thì cố nhịn đến chu nhật về... (chủ nhật)
Chưa đi chưa biết Nha Trang
Đi rồi mới biết nó sang hơn mình
Sáng tắm biển, chiều tắm sình
Có hồ be bé cho mình rửa chim…
Chưa đi chưa biết Huế thương
Ði rồi mới biết cũng thường mà thôi
Khác nhau là ở cách chơi
Họ chơi dưới nước, mình chơi trên bờ…
“Chơi dưới nước” là thú ngủ đò trên trên sông Hương, thay vì khách sạn trên bờ.
Chưa đi chưa biết Lâm Đồng
Đi rồi mới biết nhiều lông như Đầm
Lông Đầm nói lái coi chừng
Lái qua lái lại Đôn Lầm như chơi…
Bài này còn thêm kỹ thuật nói lái rất phong phú của người Việt:
“Lâm đồng” thành “lông đầm”. Còn “đôn lầm”? Người viết không dám chú thích.
Chưa đi chưa biết Bà Đen (núi Bà Đen ở Tây Ninh)
Đi rồi mới thấy đen hơn bà nhà,
Bà nhà tuy có hơi già
Nhưng mà vẫn... trắng hơn là Bà Đen!
Chưa đi chưa biết Sài Gòn
Ði về trong túi không còn một xu
Về nhà mới biết mình ngu
Thằng mồm ăn ít thằng cu ăn nhiều…
Chưa đi chưa biết Bình Dương
Đi rồi mới biết kỷ cương rất cần
Mát xa rồi lại mát gần
Âm dương cách biệt một làn cao su.
Trên đây là thơ bởn chiến dịch toàn dân du lịch. Sau đây là thơ bởn chiến dịch ngừa đẻ mà Đảng giao cho đại tướng Võ Nguyên Giáp làm tư lệnh:
Ngày xưa đại tướng cầm quân
Ngày nay đại tướng cầm … quần chúng em.
Văn minh như thể nước Nga
Người ta cũng cứ ra thụt vào
Tụt hậu như thể nước Lào
Người ta cũng cứ vào thụt ra
Xa xôi như thể Cu Ba
Người ta cũng cứ thụt ra thụt vào
Trung quốc là nước tự hào
Người ta cũng cứ thụt vào thụt ra
Thế mà ở nước chúng ta
Người ta lại cấm thụt ra thụt vào!.
.
Bởn ngày Phụ Nữ mồng 8 tháng 3:
Hôm nay mồng Tám tháng Ba
Chị em phụ nữ đi ra đi vào
Anh em nam giới mời chào
Chị em phụ nữ vừa “vào” đã... “ra”.
Thơ hài hước đụng tới giới tính, quanh đi quẩn lại thấy hai vần chính thường được sử dụng: “ồn” và “uồi”:
Làm thơ nên tránh vần ồn
Kẻo không lại đụng cái … “hồn” chị em.
Nên thơ cứ mãi lem nhem
Quanh đi quẩn lại toàn em với “hồn”.
Trước đây khi Đảng ra sức đánh bóng hai nhà thơ dân tộc, Thu Bồn và Thu Mai, thì trong dân gian xuất hiện nay bài này:
Thu Bồn ngồi cạnh Thu Mai
Thu Mai thích quá sờ vai Thu Bồn
Thu Mai ngồi cạnh Thu Bồn
Thu Bồn thích quá sờ …“mồm” Thu Mai.
Chữ thứ sáu của câu chót chắc chắn không phải là “vai” (thất vận). Câu trên vần “ồn”, câu dưới cũng phải vần “ôn” hoặc “ồn”, còn phụ âm gì đứng trước cho hợp nghĩa hợp tình, người viết bài này xin trang trọng nâng hai tay, dâng lên tận mặt cho các nhà đạo đức đạo mạo (thật cũng như giả) quyết định.
Dương Thượng Ngã
Xin một chút bận rộn cho đời
Tạp ghi Huy Phương
Trong cuộc đời khổ đau nhiều hơn hạnh phúc này, nói đến chữ nhàn hạ hay nhàn rỗi, gần như một sự mỉa mai cay đắng và đầy vẻ bất công. Ông Nguyễn Công Trứ theo cung cách Nho giáo muốn hưởng nhàn thơ túi rượu bầu, “Gót tiên đeo đủng đỉnh một đôi dì - Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng,” hưởng thú “trăng hoa tuyết nguyệt”. Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm thì “Thanh thản ngắm hoa, nghe chim hót- Uống rượu ngâm thơ, hưởng thú đời.” Loài người khốn khổ không mấy ai được nhàn hạ, thong dong như quý cụ, muốn “sỏi đá cũng thành cơm”, con người phải “trầy vi, tróc vy” , làm mửa mật ra mới có miếng ăn.
Ở Huế, cụ Ðặng Huyền 98 tuổi còn phải đạp xích lô kiếm sống. (Hình: VNExpress.net)
Trong khi nhiều vị rủng rỉnh đồng đô la, bỏ ra nửa tháng, hai mươi ngày để đi du lịch về Việt Nam, tắm nắng Vũng Tàu, Nha Trang, đi chơi trên vịnh Hạ Long, hay nằm dài thoải mái trong tiệm tắm hơi hay massage, thì có những người như bà cụ Phạm Ðoàn, 76 tuổi ở Nha Trang, một giờ khuya đã dầm mình xuống biển mò cua bắt ốc, cụ Ðặng Huyền, 98 tuổi ở Huế còn đạp xích lô hay nhiều ông bà già tuổi đã ngoài 70, còn phải lê lết ngửa tay đi ăn xin để cuối ngày có cái gì mà bỏ vào miệng.
Chúng ta cũng biết rằng theo cách chiết tự trong chữ nho thì “Thị tại môn tiền náo- Nguyệt lai môn hạ nhàn” (chữ thị nằm giữa chữ môn là chữ náo, chữ nguyệt ở giữa chữ môn là chữ nhàn). Người sống ở nơi chợ búa lúc nào cũng bận rộn toan tính lỗ lời, có khi tất bật vì miếng cơm manh áo, có đâu ung dung như kẻ phú quý thanh nhàn, biết đến thú vui nhìn cảnh trăng lên, hoa nở. Cũng trăng, cũng trời, cũng mây ấy, mà người nông dân vất vả, trời chưa sáng đã ra đồng, tối mịt mới dắt trâu về nhà, than thở một đời: “Một ngày hai buổi cơm đèn, lấy gì má phấn răng đen hở chàng!” Ðó là nói chuyện quê hương, còn nỗi khổ đau của loài người thì vô tận, con người sống suốt đời chỉ biết gục mặt xuống đất với miếng ăn, có giây phút nào cho trăng hoa, mây gió, “khi chén rượu, khi cuộc cờ, khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên”. Sao thế giới này bất công đến thế!
Nhiều ý tưởng lại không thích sự nhàn nhã, cho nhàn là cha đẻ của tội lỗi: “Nhàn cư vi bất thiện”. Trong nhiều xứ sở, những kẻ ăn không ngồi rồi đi phá làng phá xóm, phụ nữ nhàn hạ sinh ra ngồi lê đôi mách, và phải chăng cờ bạc cũng phát sinh từ chuyện quá ư rảnh rỗi. Những ông bà nội ngoại dành nhiều thời gian chăm sóc con cháu đâu còn có thời gian ngồi xe bus đi casino. Nhiều người cho rằng chính thời gian về hưu hay đến tuổi già là lúc bận rộn nhất của đời người.
Ở nước Mỹ này chúng ta thấy nhiều ông cụ già bước đi không vững, giờ tan học còn ra đứng đường làm “crossing guard” hay những bà cụ móm mém còn đứng bán hàng trong “thrift store”, tôi chắc chắn họ đi làm không phải vì tiền. Cũng rất nhiều vị cao niên Mỹ đi làm “thiện nguyện” trong các cơ quan cảnh sát, trường học, bệnh viện, người già Việt Nam thì đến chùa, nhà thờ để cho đời sống của mình không quá tẻ nhạt vì nhàn rỗi. Một ông cụ được đưa vào bệnh viện ba hôm, bà cụ nuôi bệnh, đi theo năn nỉ: “Ông làm ơn ráng ăn uống, thuốc men, mau bình phục mà về nhà!” Ông cụ chán nản, rên rỉ: “Ở đâu cũng vậy, về nhà thì tôi cũng nằm lên nằm xuống, ăn ngủ có gì khác ở đây đâu, mà đòi tôi về!” Ðó chính là cuộc sống nhàn hạ, nhàm chán, một thứ “địa ngục dịu dàng”.
Nhưng cũng chính vì tham tiền hay tham làm việc người suốt đời tất bật, không ngơi nghỉ, có khi quên cả ăn uống và không có cả thời gian để ngủ. Chúng ta thử tưởng tượng đến hoạt động của một tiệm ăn khi bà chủ ham công tiếc việc, không biết phân công, không hề tin cậy ai, dù là con cháu trong nhà, sợ mất túi tiền, một mình ôm hết công việc từ sáng đến tối. Nghỉ một ngày là mất một số lợi tức, cứ như thế năm này qua tháng nọ, cho đến lúc vào thẳng bệnh viện, vô nursing home hay ra thẳng nghĩa địa, rồi thì số tiền tom góp, dành dụm ấy để cho ai. Trên thế giới, Âu cũng như Á bệnh “điên vì mê làm việc”, một thứ bệnh dịch do làm việc quá nhiều, quá sức đến nỗi gây ra tình trạng tâm thần, căng thẳng đưa đến việc tự tử.
Nhiều người biết bớt công việc, mỗi năm sắp đặt cho mình những cuộc du lịch xa cũng không phải là người biết hưởng nhàn. Cứ nghĩ chương trình dày đặc của những chuyến đi cũng đủ kinh hoàng. Sáng tinh mơ đã thức giấc, chuẩn bị xuống phòng khách sạn ăn sáng, lật đật ra điểm hẹn, tham quan thì vừa đi vừa chạy cho đúng giờ hẹn lên xe. Lỡ đi trễ thì bao nhiêu con mắt đổ dồn vào mình như nhìn con quái vật. Ði du lịch là phải chấp nhận ăn uống những món nơi địa phương mình đến và vì khác biệt văn hóa, ăn uống thường là một niềm vui đã trở thành một nghĩa vụ. Sau một chuyến du lịch về, không lên cân, yêu đời mà có khi sút cân, mệt mỏi.
Nhưng nhàn cũng không có nghĩa là không làm gì, nằm lên nằm xuống, đi ra đi vào, vật vờ như ngọn cỏ để cho gió đùa. Tôi thích những người biết xếp đặt cho mình một ngày làm việc, giao tiếp nghỉ ngơi hợp lý. Nếu bạn muốn nhờ ai một công việc gì xin hỏi đến người bận rộn, đừng bao giờ nhờ đến người nhàn rỗi. Họ thật bận rộn đấy, có bao nhiêu việc phải làm, vẫn chu toàn, xếp đặt được thời gian, nhưng phong thái vẫn ung dung. Buổi sáng vẫn có ly cà phê pha xong, thưởng thức chậm rãi, không phải cái ông sáng dậy vừa đánh răng, vừa chải tóc, khi ra xe thì vừa đi vừa cài nút áo, tay cầm tờ báo, tay xách cái lunch-box. Buổi tối về, còn chút thời giờ chơi với con, đùa với con chó nhỏ hay dành chút riêng tư cho bạn đời.
Ðối với các cụ cao niên ở hải ngoại, ngày nay các cụ không còn phải lo cái ăn cái mặc vất vả, nhưng nếu các cụ không tạo cho mình một sự bận rộn nào ngoài chiếc giường và cái TV, không phải là bác sĩ, tôi cũng “chẩn đoán” cho các cụ là tuổi thọ chẳng còn bao lâu. Nhiều điều không được xem là công việc vẫn là chút bận rộn cho đời đỡ nhàm chán, một buổi hẹn hò với bạn cũ ở quán cà phê, thăm bạn nằm trong bệnh viện hay ở nhà quàn, một ngày cuối tuần vui chơi họp mặt. Nhiều người buổi sáng thức giấc không muốn ra khỏi giường vì nghĩ hôm nay không có việc gì phải làm, không đi đâu, không có hẹn hò với ai, không có dự định gì. Nói cho rõ ra, nếu hôm nay con người đó chẳng may qua đời, hay ngừng thở thì cũng chẳng có ai quan tâm, vì đời sống ấy chẳng liên hệ, thiệt thòi gì đến ai, với cả ngay đứa cháu ở ngay trong nhà.
Xin một chút bận rộn cho đời khỏi nhàm chán và lúc thong dong không quên người tất bật.
Tạp ghi Huy Phương
Trong cuộc đời khổ đau nhiều hơn hạnh phúc này, nói đến chữ nhàn hạ hay nhàn rỗi, gần như một sự mỉa mai cay đắng và đầy vẻ bất công. Ông Nguyễn Công Trứ theo cung cách Nho giáo muốn hưởng nhàn thơ túi rượu bầu, “Gót tiên đeo đủng đỉnh một đôi dì - Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng,” hưởng thú “trăng hoa tuyết nguyệt”. Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm thì “Thanh thản ngắm hoa, nghe chim hót- Uống rượu ngâm thơ, hưởng thú đời.” Loài người khốn khổ không mấy ai được nhàn hạ, thong dong như quý cụ, muốn “sỏi đá cũng thành cơm”, con người phải “trầy vi, tróc vy” , làm mửa mật ra mới có miếng ăn.
Ở Huế, cụ Ðặng Huyền 98 tuổi còn phải đạp xích lô kiếm sống. (Hình: VNExpress.net)
Trong khi nhiều vị rủng rỉnh đồng đô la, bỏ ra nửa tháng, hai mươi ngày để đi du lịch về Việt Nam, tắm nắng Vũng Tàu, Nha Trang, đi chơi trên vịnh Hạ Long, hay nằm dài thoải mái trong tiệm tắm hơi hay massage, thì có những người như bà cụ Phạm Ðoàn, 76 tuổi ở Nha Trang, một giờ khuya đã dầm mình xuống biển mò cua bắt ốc, cụ Ðặng Huyền, 98 tuổi ở Huế còn đạp xích lô hay nhiều ông bà già tuổi đã ngoài 70, còn phải lê lết ngửa tay đi ăn xin để cuối ngày có cái gì mà bỏ vào miệng.
Chúng ta cũng biết rằng theo cách chiết tự trong chữ nho thì “Thị tại môn tiền náo- Nguyệt lai môn hạ nhàn” (chữ thị nằm giữa chữ môn là chữ náo, chữ nguyệt ở giữa chữ môn là chữ nhàn). Người sống ở nơi chợ búa lúc nào cũng bận rộn toan tính lỗ lời, có khi tất bật vì miếng cơm manh áo, có đâu ung dung như kẻ phú quý thanh nhàn, biết đến thú vui nhìn cảnh trăng lên, hoa nở. Cũng trăng, cũng trời, cũng mây ấy, mà người nông dân vất vả, trời chưa sáng đã ra đồng, tối mịt mới dắt trâu về nhà, than thở một đời: “Một ngày hai buổi cơm đèn, lấy gì má phấn răng đen hở chàng!” Ðó là nói chuyện quê hương, còn nỗi khổ đau của loài người thì vô tận, con người sống suốt đời chỉ biết gục mặt xuống đất với miếng ăn, có giây phút nào cho trăng hoa, mây gió, “khi chén rượu, khi cuộc cờ, khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên”. Sao thế giới này bất công đến thế!
Nhiều ý tưởng lại không thích sự nhàn nhã, cho nhàn là cha đẻ của tội lỗi: “Nhàn cư vi bất thiện”. Trong nhiều xứ sở, những kẻ ăn không ngồi rồi đi phá làng phá xóm, phụ nữ nhàn hạ sinh ra ngồi lê đôi mách, và phải chăng cờ bạc cũng phát sinh từ chuyện quá ư rảnh rỗi. Những ông bà nội ngoại dành nhiều thời gian chăm sóc con cháu đâu còn có thời gian ngồi xe bus đi casino. Nhiều người cho rằng chính thời gian về hưu hay đến tuổi già là lúc bận rộn nhất của đời người.
Ở nước Mỹ này chúng ta thấy nhiều ông cụ già bước đi không vững, giờ tan học còn ra đứng đường làm “crossing guard” hay những bà cụ móm mém còn đứng bán hàng trong “thrift store”, tôi chắc chắn họ đi làm không phải vì tiền. Cũng rất nhiều vị cao niên Mỹ đi làm “thiện nguyện” trong các cơ quan cảnh sát, trường học, bệnh viện, người già Việt Nam thì đến chùa, nhà thờ để cho đời sống của mình không quá tẻ nhạt vì nhàn rỗi. Một ông cụ được đưa vào bệnh viện ba hôm, bà cụ nuôi bệnh, đi theo năn nỉ: “Ông làm ơn ráng ăn uống, thuốc men, mau bình phục mà về nhà!” Ông cụ chán nản, rên rỉ: “Ở đâu cũng vậy, về nhà thì tôi cũng nằm lên nằm xuống, ăn ngủ có gì khác ở đây đâu, mà đòi tôi về!” Ðó chính là cuộc sống nhàn hạ, nhàm chán, một thứ “địa ngục dịu dàng”.
Nhưng cũng chính vì tham tiền hay tham làm việc người suốt đời tất bật, không ngơi nghỉ, có khi quên cả ăn uống và không có cả thời gian để ngủ. Chúng ta thử tưởng tượng đến hoạt động của một tiệm ăn khi bà chủ ham công tiếc việc, không biết phân công, không hề tin cậy ai, dù là con cháu trong nhà, sợ mất túi tiền, một mình ôm hết công việc từ sáng đến tối. Nghỉ một ngày là mất một số lợi tức, cứ như thế năm này qua tháng nọ, cho đến lúc vào thẳng bệnh viện, vô nursing home hay ra thẳng nghĩa địa, rồi thì số tiền tom góp, dành dụm ấy để cho ai. Trên thế giới, Âu cũng như Á bệnh “điên vì mê làm việc”, một thứ bệnh dịch do làm việc quá nhiều, quá sức đến nỗi gây ra tình trạng tâm thần, căng thẳng đưa đến việc tự tử.
Nhiều người biết bớt công việc, mỗi năm sắp đặt cho mình những cuộc du lịch xa cũng không phải là người biết hưởng nhàn. Cứ nghĩ chương trình dày đặc của những chuyến đi cũng đủ kinh hoàng. Sáng tinh mơ đã thức giấc, chuẩn bị xuống phòng khách sạn ăn sáng, lật đật ra điểm hẹn, tham quan thì vừa đi vừa chạy cho đúng giờ hẹn lên xe. Lỡ đi trễ thì bao nhiêu con mắt đổ dồn vào mình như nhìn con quái vật. Ði du lịch là phải chấp nhận ăn uống những món nơi địa phương mình đến và vì khác biệt văn hóa, ăn uống thường là một niềm vui đã trở thành một nghĩa vụ. Sau một chuyến du lịch về, không lên cân, yêu đời mà có khi sút cân, mệt mỏi.
Nhưng nhàn cũng không có nghĩa là không làm gì, nằm lên nằm xuống, đi ra đi vào, vật vờ như ngọn cỏ để cho gió đùa. Tôi thích những người biết xếp đặt cho mình một ngày làm việc, giao tiếp nghỉ ngơi hợp lý. Nếu bạn muốn nhờ ai một công việc gì xin hỏi đến người bận rộn, đừng bao giờ nhờ đến người nhàn rỗi. Họ thật bận rộn đấy, có bao nhiêu việc phải làm, vẫn chu toàn, xếp đặt được thời gian, nhưng phong thái vẫn ung dung. Buổi sáng vẫn có ly cà phê pha xong, thưởng thức chậm rãi, không phải cái ông sáng dậy vừa đánh răng, vừa chải tóc, khi ra xe thì vừa đi vừa cài nút áo, tay cầm tờ báo, tay xách cái lunch-box. Buổi tối về, còn chút thời giờ chơi với con, đùa với con chó nhỏ hay dành chút riêng tư cho bạn đời.
Ðối với các cụ cao niên ở hải ngoại, ngày nay các cụ không còn phải lo cái ăn cái mặc vất vả, nhưng nếu các cụ không tạo cho mình một sự bận rộn nào ngoài chiếc giường và cái TV, không phải là bác sĩ, tôi cũng “chẩn đoán” cho các cụ là tuổi thọ chẳng còn bao lâu. Nhiều điều không được xem là công việc vẫn là chút bận rộn cho đời đỡ nhàm chán, một buổi hẹn hò với bạn cũ ở quán cà phê, thăm bạn nằm trong bệnh viện hay ở nhà quàn, một ngày cuối tuần vui chơi họp mặt. Nhiều người buổi sáng thức giấc không muốn ra khỏi giường vì nghĩ hôm nay không có việc gì phải làm, không đi đâu, không có hẹn hò với ai, không có dự định gì. Nói cho rõ ra, nếu hôm nay con người đó chẳng may qua đời, hay ngừng thở thì cũng chẳng có ai quan tâm, vì đời sống ấy chẳng liên hệ, thiệt thòi gì đến ai, với cả ngay đứa cháu ở ngay trong nhà.
Xin một chút bận rộn cho đời khỏi nhàm chán và lúc thong dong không quên người tất bật.

Thư rơi
Nguyễn Hưng Quốc
Một trong những khuyết điểm lớn nhất của người Việt là sự chia rẽ. Một trong những biểu hiện rõ rệt nhất của tệ nạn chia rẽ ấy là hiện tượng thư rơi.
Thư rơi là tên gọi chung của những bức thư vu khống và bôi nhọ không ký tên hoặc ký một cái tên vớ vẩn nào đó vất rải trên đường phố hoặc trong các thùng thư. Gần đây, lại thêm một hình thức mới: gửi qua email. Ở cả hai hình thức, truyền thống và hiện đại, thư rơi đều có những đặc điểm giống nhau: vu khống và hèn hạ. Bởi, nếu không vu khống và nếu có bằng chứng đàng hoàng, hẳn không ai chọn hình thức tố cáo nặc danh như thế. Và nếu không hèn hạ thì cũng không ai chơi cái trò ném đá giấu tay như thế.
Mục đích đầu tiên của những kẻ sử dụng thư rơi là nhằm tạo nên một dư luận xấu, qua đó, làm mất uy tín ai đó. Không biết mục tiêu ấy có thực hiện được không, nhưng về phương diện pháp lý, ở Tây phương, có thể bị mang ra tòa. Đó là lý do chính khiến sinh hoạt chính trị và xã hội Tây phương tương đối sạch sẽ. Dĩ nhiên, chỉ tương đối thôi. Ở Tây phương, người ta vẫn chơi xấu nhau. Nhưng không chơi xấu theo kiểu thư rơi: lợi bất cập hại.
Trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, tiếc thay, nạn thư rơi vẫn khá phổ biến. Trước đây, lúc còn ở Pháp, làm việc trong tòa soạn một tờ báo, tôi thường xuyên nhận được những bức thư nặc danh như thế gửi đến từ khắp nơi. Từ Mỹ. Từ Úc. Từ Đức. Vân vân. Tất cả đều nhằm nói xấu một ai đó. Có khi là một linh mục. Có khi là một thượng tọa. Nhiều hơn, là một nhân vật tương đối có tiếng tăm trong cộng đồng. Sau này, nghỉ làm báo, sang Úc dạy học, thỉnh thoảng tôi hỏi một số bạn bè trong báo giới ở Úc và ở Mỹ về tình trạng của các bức thư rơi như thế. Hầu như ai cũng trả lời giống nhau: Thì cũng vậy!
Chuyện cá nhân với nhau, thật ra, không đáng kể. Điều đáng nói là những trò ném đá giấu tay như vậy có khi gây thiệt hại cho cả cộng đồng. Ở Úc, cách đây nhiều năm, có một tiểu bang định phát triển ngành Việt ngữ và Việt học trong các trường trung và tiểu học. Đó là một cơ hội quý báu cho cả cộng đồng. Để trẻ em còn có cơ hội duy trì tiếng Việt. Một giáo sư được Bộ giáo dục đề cử với nhiệm vụ quản lý dự án ấy. Việc bổ nhiệm chưa được công bố, tin đã xì ra ngoài. Gần như ngay tức khắc, Bộ giáo dục tiểu bang nhận được vô số thư rơi tố cáo vị giáo sư ấy là... Việt cộng. Sợ phiền, Bộ giáo dục bèn đổi ý, giao chức vụ quản nhiệm ngành Việt ngữ lại cho một người... Ý. Và cái người Ý ấy, thay vì tìm cách phát triển môn tiếng Việt lại lo phát triển môn tiếng Ý. Kết quả là, mấy năm sau, ở tiểu bang ấy, tiếng Ý thì phát triển như vũ bão còn tiếng Việt thì, dù dân số người Việt rất đông, vẫn cứ lẹt đẹt mãi.
Một chuyện khác, gần đây hơn, ở ngay địa phương tôi đang sống. Trong một bài viết đăng trên blog này, có lần tôi dám cả quyết: ở hải ngoại, không đâu việc dạy tiếng Việt lại mạnh mẽ như ở Úc; ở Úc, không đâu mạnh mẽ bằng tiểu bang Victoria; và trong tiểu bang Victoria, không đâu mạnh bằng thành phố Melbourne. Với dân số người Việt khoảng 70,000 người, cả Melbourne có khoảng gần 10,000 học sinh Việt Nam đang học tiếng Việt, từ lớp 1 đến lớp 12. Ai cũng thấy đó là điều cực kỳ may mắn. Thế nhưng không phải ai cũng biết trân quý sự may mắn ấy. Một hôm, người ta nhận được những tờ thư rơi hoặc bỏ ở các cửa tiệm hoặc gửi qua email tố cáo trường này là cộng sản, trường nọ là tham nhũng. Và kêu gọi phụ huynh tẩy chay các trường ấy.
Ai viết những bức thư rơi như thế?
Một số người trả lời: Cộng sản. Hỏi: Tại sao? Trả lời: Vì cộng sản muốn ly gián và phá hoại cộng đồng!
Có thể như thế thật. Nhưng tôi không nghĩ đó là sự thực hoàn toàn. Các đây khá lâu, tôi có một người bạn làm việc trong ngành truyền thông được chính phủ Úc tài trợ. Anh ấy là một ký giả xuất sắc. Rời Việt Nam sang Úc định cư lúc còn nhỏ (mới 13 hay 14 tuổi gì đó), anh vừa giỏi tiếng Anh vừa giỏi tiếng Việt. Lại được rèn luyện trong môi trường giáo dục Tây phương, các bài viết của anh đều có tính khoa học cao: tài liệu cập nhật và chính xác, được diễn dịch một cách khách quan và phân tích một cách sâu sắc. Nhưng khi tiếng tăm của anh càng nổi, anh nhận được càng nhiều những bức thư rơi tố cáo anh là Việt cộng! Thời ấy, computer chưa phổ biến, hầu hết thư rơi đều viết tay. Có điều, dù ký nhiều tên khác nhau, các bức thư ấy đều có cùng một nét chữ. Anh bạn của tôi giữ tất cả các bức thư ấy để làm... kỷ niệm. Mấy năm sau, do một dịp tình cờ, anh phát hiện ra người viết các bức thư nặc danh tố cáo anh là Việt cộng ấy chính là một người quen của anh. Cũng nét chữ ấy. Cũng giọng điệu ấy. Anh hỡi ơi!
Cái người chuyên rải thư rơi tố giác một số trường Việt ngữ ở Melbourne là Việt Cộng tôi mới kể ở trên, sau này, cũng bị phát hiện. Chủ yếu là do người ấy dốt computer. Tưởng cứ việc bịa ra một địa chỉ email giả là tha hồ gửi thư rơi bêu xấu thiên hạ. Ông ấy không biết phần lớn các hồ sơ trong computer đều mang danh tính của chủ nhân. Chính vì thế, sau đó, ông bị bắt quả tang. Đó là ai? Không phải là một Việt cộng đâu. Mà là một thầy giáo. Hậu quả là ông ấy bị đuổi việc và phải rời khỏi văn phòng, trả computer lại cho nhà trường, cấm sử dụng email của nhà trường, gần như ngay tức khắc.
Vấn đề là: Tại sao người ta lại làm vậy?
Tôi chịu. Không trả lời được. Xin nhường cho bạn đọc.
VOA
Hiến pháp & đồng hồ
Nguyễn Hà
Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, tôi bỗng trở thành một thằng vô cùng rảnh rỗi. Rảnh, tôi hay đi lang thang cho nó qua ngày. Có chiều, tôi thấy một anh bộ đội vội vã buớc vào một tiệm sửa đồng hồ, với vẻ khẩn trương:
- Cái này tôi vừa mua hôm qua, còn mới nguyên, vậy mà hôm nay đã… hỏng. Mà loại không nguời lái đấy nhá. Cứ phải lắc lắc, đến mỏi cả tay, cái kim giây cũng chỉ nhúc nhích vài nấc rồi đứng.
Ông thợ chỉ mới nghe chứ chưa nhìn, đa lắc lắc đầu quầy quậy:
- Chịu thôi!
- Cố giúp cho đi, bao nhiêu là năm lương của tôi đấy, không phải ít đâu. Đây là món quà mà bố tôi vẫn ao uớc mãi…
Sự chân thật và vẻ khẩn khoản của ông khách khiến người thợ mủi lòng:
- Anh mua nhằm đồ rởm rồi.
- Giả à?
- Tui ngó qua là biết liền đồng hồ giả mà.
- Thôi chết! Thế bây giờ phải làm sao?
- Dục bà nó đi chớ đồ giả mà làm sao sửa đuợc, cha nội?
Anh lính trẻ ngớ ra một chút, rồi thẫn thờ quay buớc, mặt buồn thiu. Nguời thợ sửa đồng hồ (ái ngại) nhìn theo, trông cũng buồn không kém. Còn tôi, tôi cũng… buồn luôn!
Rõ ràng, tôi thuộc diện… buồn theo. Không những chỉ buồn theo mà (không chừng) tôi dám còn là nguời buồn nhất – dù ngay lúc đó tôi chưa biết vì sao mà khi khổng khi không mình lại buồn quá mạng, và buồn thảm thiết!
Rất lâu sau, có hôm, tôi đuợc nghe ông Phùng Quán kể chuyện “Đầu Năm Xông Đất Nhà Thơ Tố Hữu.” Trong buổi tương phùng (muộn màng) này, Tố Hữu cao hứng đọc một bài thơ tứ tuyệt mới nhất của ông:
Có anh bộ đội mua đồng hồ
Thiệt giả không rành anh cứ lo
Đanh hỏi cô nàng, cô tủm tỉm:
“Giả mà như thiệt khó chi mô!”
Theo nguyên văn lời của Phùng Quán: “Nhà thơ đọc lại lần thứ hai, nhấn mạnh từng từ một. Khách khứa nghe cung đều cuời tủm tỉm, nhưng không ai bình luận gì hết. Tôi thì đoán họ đều như bị hẫng.”
Tôi cũng bị “hẫng” luôn. Vẫn nói theo ngôn ngữ đương đại thì tôi thuộc diện… hẫng theo. Và nói tình ngay thì tôi hẫng lắm. Không chừng, tôi lại (dám) là nguời… hẫng nhất!
Tôi bỗng nhớ đến cái cảm giác hụt hẫng mà mình đa trải qua – khi nhìn nét mặt buồn ruời ruợi của anh lính trẻ, thất thểu buớc ra khỏi tiệm sửa đồng hồ – vào một buổi chiều buồn, hơn hai mươi năm truớc.
Lúc ấy, tôi mới chỉ mơ hồ cảm nhận đuợc là có cái gì không ổn trong cuộc chiến khốc liệt (vừa tàn) trên đất nuớc mình. Sao chung cuộc, kẻ chiến thắng (nếu còn sống sót) chỉ nhận đuợc những chiến lợi phẩm, nhỏ bé và thảm hại – chỉ là một cái đồng hồ – đến thế? Đã thế, dân chúng ở vùng địch tạm chiếm lại còn “trao tặng” cho những chiến sĩ giải phóng quân toàn là… của giả!
Sau khi nghe chuyện Tố Hữu đọc thơ, và hình dung ra nụ cuời “tủm tỉm” của cô hàng (cùng nét mặt láu cá của tác giả) tôi chợt nghĩ thêm rằng: chả riêng gì cuộc chiến “giải phóng” miền Nam, tất cả những gì thuộc về (cái được mệnh là) “cách mạng” ở Việt Nam – vào thế kỷ qua – đều có cái gì đó rất là không ổn, hay nói chính xác hơn là… không thật!
Và sự thật (nghĩa là sự giả trá) đuợc phơi bầy rõ nhất qua Hiến Pháp của đất nước này. Ngày 7 tháng 9 năm 2011, ông tân Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng – kiêm Chủ Tịch Ủy Ban Sửa Đổi Hiến Pháp 1992 – long trọng tuyên bố:
“Việc nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp 1992 phải trên cơ sở kế thừa và tổng kết cả quá trình thực hiện Hiến pháp 1946 kết hợp với các bản Hiến pháp qua các thời kỳ; phù hợp với tình hình đất nước trong giai đoạn cách mạng mới trên tinh thần tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.”
Tôi đã có lần nghe ông Vi Đức Hồi buột miệng khen:”Đảng nói nghe cứ như hát vậy.” Ông Nguyễn Sinh Hùng quả đã không làm hổ danh của đảng (mình) trong chuyện hát ca. Năm trước, vào ngày 12 tháng 6, trong tuồng “Dự Án Đường Sắt Cao Tốc,” ông hát tỉnh queo:
“Với đà tăng trưởng hiện nay, đến 2020, GDP sẽ đạt gần 300 tỷ USD; 2030 là 700 tỷ USD; 2040 đạt 1.200-1.400 tỷ USD và đến 2050 sẽ gấp đôi số đó. GDP bình quân đầu người đến 2050 dự kiến lên 20.000 USD, thay vì mức hơn 1.000 USD hiện nay. Nếu cứ lấy ngưỡng an toàn vay nợ là 50% GDP, đến 2020, Việt Nam có thể vay 150 tỷ mà vẫn an toàn… Với mức vay nợ như vậy, chúng ta có thể làm được… Tôi yên tâm. Yên tâm rằng phải làm…”
Gần hai tháng sau, vào ngày 4 tháng 8, qua một vở tuồng khác (“Vinashin Vỡ Nợ”) ông ca nghe cũng mùi không kém:
“Tình hình (của Tập đoàn Vinashin) hiện nay vẫn trong tầm giải quyết và năng lực của ta, chưa tuột khỏi tay ta, nên nếu để Vinashin phá sản thì ta lại phải dựng lên một ngành công nghiệp tàu thuỷ mới. Vì thế Chính phủ xác định rõ chủ trương phải quyết tâm xây dựng lại …năm 2015 sẽ có một Vinashin mới.”
Người Việt có câu “một tấc đến Giời.” Riêng với những người cộng sản, kiểu như ông Nguyễn Sinh Hùng, thì Giời chưs chắc đã cao đến … một tấc. Bởi vậy, việc sửa đổi hiến pháp trên “trên tinh thần tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh”– do ông lãnh đạo – kể như chỉ là chuyện nhỏ!
Chỉ có điều đáng tiếc là cái mịêng leo lẻo (thiếu tâm và thiếu tầm) của ông Hùng không thuyết phục được ai. Trước khi Ủy Ban Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 1992 mở phiên họp đầu tiên, ông Huy Đức đã có lời dự báo không được lạc quan cho lắm:
“Quyền sửa đổi Hiến pháp 1992 chưa thuộc về nhân dân mà đang ở trong tay Đảng Cộng sản Việt Nam, thay vì kiến tạo một nhà nước pháp quyền (rule of law), bản Hiến pháp mới chỉ có thể là bộ luật cơ bản để tiện bề “quản lý” (rule by law).”
….
“Cho dù tiếp tục giữ quyền viết Hiến pháp thì Đảng cũng hãy vì sự thịnh vượng của quốc gia mà chia sẻ bớt quyền lực cho nhân dân. Đừng nghĩ là tình hình chưa đủ xấu… Nên nhớ là những cuộc nổi dậy thường bắt đầu từ những uất ức của người dân trước những bất công chứ không phải từ những trí thức đang lên tiếng nhằm thức tỉnh chính quyền. Thay vì đào những đường hầm để thoát thân khi có biến như Gaddafi, ngay bây giờ hãy khai thông các lối ra cho toàn dân tộc.”
Và ngay sau phiên họp này, ông Nguyễn Hà đã đưa ra nhận xét rất bi quan:
“Nhìn sơ qua Ủy ban sửa đổi Hiến pháp lần này, có thể thấy rằng đa số – nếu không muốn nói là tất cả – đều là viên chức nhà nước, không có đại diện của các đoàn thể hay đảng chính trị, mà nếu có cũng là viên chức của nhà nước. Có thể thấy, giới luật gia, luật sư, và thành phần trí thức ngoài xã hội – những nhân tố cực kì quan trọng, để góp ý kiến cho việc sửa đổi Hiến pháp đều không hiện diện trong Ủy ban này…”
“Dân chỉ có thể tin khi dân được biết và được hỏi ý kiến về những chuyện liên quan mật thiết đến cuộc sống hằng ngày của họ: từ chuyện chống tham nhũng đến chuyện quản lý các doanh nghiệp nhà nước, cho nước ngoài thuê đất, thuê rừng, đến chuyện ngoài hải đảo xa xôi… Dân khó tin khi quan chức nói một đằng làm một nẻo, rất khó tin khi tham nhũng vẫn tràn lan…”
Từ thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam, bà Huỳnh Thục Vy cũng có “Vài Suy Nghĩ Về Việc Sửa Đổi Hiến Pháp” bi quan không kém:
“Sự thay đổi, sửa đổi chóng vánh và chắp vá chỉ thể hiện một điều là người ta muốn đối phó tình thế, thiện chí giả tạo và xoa dịu những căng thẳng bề nổi hơn là thực tâm thúc đẩy tiến bộ. Hơn nữa, việc thay đổi tùy tiện đối với một văn bản có tầm quan trọng như thế của những người cộng sản trong bao nhiêu năm qua làm cho ta thấy thái độ coi thường Hiến pháp của họ. Đối với họ, Hiến pháp không phải là bản cam kết, mà chỉ là cái công cụ trong tay, muốn định đoạt thế nào tùy nghi. Và sự thiếu vắng tiếng nói đóng góp của các tầng lớp dân chúng cũng nói lên rất nhiều cái vai trò mờ nhạt, mang tính danh nghĩa của định chế quan trọng này ở Việt Nam.”
“Thật buồn cười khi một việc tốn nhiều thời gian, tâm sức chuyên gia và công quỹ quốc gia, chẳng mang lại sự thay đổi và hiệu quả cụ thể nào lại cứ được truyên truyền và liên tục thực hiện. Tiền thuế của dân đâu phải được nộp để các nhà lãnh đạo thỉnh thoảng mang Hiến pháp ra đổi Hiến pháp mới, hay sửa lại cho có công có việc mà làm!”
Tui thì còn bi quan hơn nữa, và không chừng tui dám là người bi quan nhứt đám. Cứ mỗi lần nghe đến nhà đương cuộc Hà Nội rục rịch chuyện sửa đổi hiến pháp là tôi lại nhớ đến mẩu đối thoại mà mình nghe được ở tiệm sửa đồng hồ, vào ngày 30 tháng 4, hơn 30 năm trước:
- Dục bà nó đi chớ đồ giả mà làm sao sửa đuợc, mấy cha!
© Tưởng Năng Tiến – RFA’s blog
Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, tôi bỗng trở thành một thằng vô cùng rảnh rỗi. Rảnh, tôi hay đi lang thang cho nó qua ngày. Có chiều, tôi thấy một anh bộ đội vội vã buớc vào một tiệm sửa đồng hồ, với vẻ khẩn trương:
- Cái này tôi vừa mua hôm qua, còn mới nguyên, vậy mà hôm nay đã… hỏng. Mà loại không nguời lái đấy nhá. Cứ phải lắc lắc, đến mỏi cả tay, cái kim giây cũng chỉ nhúc nhích vài nấc rồi đứng.
Ông thợ chỉ mới nghe chứ chưa nhìn, đa lắc lắc đầu quầy quậy:
- Chịu thôi!
- Cố giúp cho đi, bao nhiêu là năm lương của tôi đấy, không phải ít đâu. Đây là món quà mà bố tôi vẫn ao uớc mãi…
Sự chân thật và vẻ khẩn khoản của ông khách khiến người thợ mủi lòng:
- Anh mua nhằm đồ rởm rồi.
- Giả à?
- Tui ngó qua là biết liền đồng hồ giả mà.
- Thôi chết! Thế bây giờ phải làm sao?
- Dục bà nó đi chớ đồ giả mà làm sao sửa đuợc, cha nội?
Anh lính trẻ ngớ ra một chút, rồi thẫn thờ quay buớc, mặt buồn thiu. Nguời thợ sửa đồng hồ (ái ngại) nhìn theo, trông cũng buồn không kém. Còn tôi, tôi cũng… buồn luôn!
Rõ ràng, tôi thuộc diện… buồn theo. Không những chỉ buồn theo mà (không chừng) tôi dám còn là nguời buồn nhất – dù ngay lúc đó tôi chưa biết vì sao mà khi khổng khi không mình lại buồn quá mạng, và buồn thảm thiết!
Rất lâu sau, có hôm, tôi đuợc nghe ông Phùng Quán kể chuyện “Đầu Năm Xông Đất Nhà Thơ Tố Hữu.” Trong buổi tương phùng (muộn màng) này, Tố Hữu cao hứng đọc một bài thơ tứ tuyệt mới nhất của ông:
Có anh bộ đội mua đồng hồ
Thiệt giả không rành anh cứ lo
Đanh hỏi cô nàng, cô tủm tỉm:
“Giả mà như thiệt khó chi mô!”
Theo nguyên văn lời của Phùng Quán: “Nhà thơ đọc lại lần thứ hai, nhấn mạnh từng từ một. Khách khứa nghe cung đều cuời tủm tỉm, nhưng không ai bình luận gì hết. Tôi thì đoán họ đều như bị hẫng.”
Tôi cũng bị “hẫng” luôn. Vẫn nói theo ngôn ngữ đương đại thì tôi thuộc diện… hẫng theo. Và nói tình ngay thì tôi hẫng lắm. Không chừng, tôi lại (dám) là nguời… hẫng nhất!
Tôi bỗng nhớ đến cái cảm giác hụt hẫng mà mình đa trải qua – khi nhìn nét mặt buồn ruời ruợi của anh lính trẻ, thất thểu buớc ra khỏi tiệm sửa đồng hồ – vào một buổi chiều buồn, hơn hai mươi năm truớc.
Lúc ấy, tôi mới chỉ mơ hồ cảm nhận đuợc là có cái gì không ổn trong cuộc chiến khốc liệt (vừa tàn) trên đất nuớc mình. Sao chung cuộc, kẻ chiến thắng (nếu còn sống sót) chỉ nhận đuợc những chiến lợi phẩm, nhỏ bé và thảm hại – chỉ là một cái đồng hồ – đến thế? Đã thế, dân chúng ở vùng địch tạm chiếm lại còn “trao tặng” cho những chiến sĩ giải phóng quân toàn là… của giả!
Sau khi nghe chuyện Tố Hữu đọc thơ, và hình dung ra nụ cuời “tủm tỉm” của cô hàng (cùng nét mặt láu cá của tác giả) tôi chợt nghĩ thêm rằng: chả riêng gì cuộc chiến “giải phóng” miền Nam, tất cả những gì thuộc về (cái được mệnh là) “cách mạng” ở Việt Nam – vào thế kỷ qua – đều có cái gì đó rất là không ổn, hay nói chính xác hơn là… không thật!
Và sự thật (nghĩa là sự giả trá) đuợc phơi bầy rõ nhất qua Hiến Pháp của đất nước này. Ngày 7 tháng 9 năm 2011, ông tân Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng – kiêm Chủ Tịch Ủy Ban Sửa Đổi Hiến Pháp 1992 – long trọng tuyên bố:
“Việc nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp 1992 phải trên cơ sở kế thừa và tổng kết cả quá trình thực hiện Hiến pháp 1946 kết hợp với các bản Hiến pháp qua các thời kỳ; phù hợp với tình hình đất nước trong giai đoạn cách mạng mới trên tinh thần tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.”
Tôi đã có lần nghe ông Vi Đức Hồi buột miệng khen:”Đảng nói nghe cứ như hát vậy.” Ông Nguyễn Sinh Hùng quả đã không làm hổ danh của đảng (mình) trong chuyện hát ca. Năm trước, vào ngày 12 tháng 6, trong tuồng “Dự Án Đường Sắt Cao Tốc,” ông hát tỉnh queo:
“Với đà tăng trưởng hiện nay, đến 2020, GDP sẽ đạt gần 300 tỷ USD; 2030 là 700 tỷ USD; 2040 đạt 1.200-1.400 tỷ USD và đến 2050 sẽ gấp đôi số đó. GDP bình quân đầu người đến 2050 dự kiến lên 20.000 USD, thay vì mức hơn 1.000 USD hiện nay. Nếu cứ lấy ngưỡng an toàn vay nợ là 50% GDP, đến 2020, Việt Nam có thể vay 150 tỷ mà vẫn an toàn… Với mức vay nợ như vậy, chúng ta có thể làm được… Tôi yên tâm. Yên tâm rằng phải làm…”
Gần hai tháng sau, vào ngày 4 tháng 8, qua một vở tuồng khác (“Vinashin Vỡ Nợ”) ông ca nghe cũng mùi không kém:
“Tình hình (của Tập đoàn Vinashin) hiện nay vẫn trong tầm giải quyết và năng lực của ta, chưa tuột khỏi tay ta, nên nếu để Vinashin phá sản thì ta lại phải dựng lên một ngành công nghiệp tàu thuỷ mới. Vì thế Chính phủ xác định rõ chủ trương phải quyết tâm xây dựng lại …năm 2015 sẽ có một Vinashin mới.”
Người Việt có câu “một tấc đến Giời.” Riêng với những người cộng sản, kiểu như ông Nguyễn Sinh Hùng, thì Giời chưs chắc đã cao đến … một tấc. Bởi vậy, việc sửa đổi hiến pháp trên “trên tinh thần tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh”– do ông lãnh đạo – kể như chỉ là chuyện nhỏ!
Chỉ có điều đáng tiếc là cái mịêng leo lẻo (thiếu tâm và thiếu tầm) của ông Hùng không thuyết phục được ai. Trước khi Ủy Ban Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 1992 mở phiên họp đầu tiên, ông Huy Đức đã có lời dự báo không được lạc quan cho lắm:
“Quyền sửa đổi Hiến pháp 1992 chưa thuộc về nhân dân mà đang ở trong tay Đảng Cộng sản Việt Nam, thay vì kiến tạo một nhà nước pháp quyền (rule of law), bản Hiến pháp mới chỉ có thể là bộ luật cơ bản để tiện bề “quản lý” (rule by law).”
….
“Cho dù tiếp tục giữ quyền viết Hiến pháp thì Đảng cũng hãy vì sự thịnh vượng của quốc gia mà chia sẻ bớt quyền lực cho nhân dân. Đừng nghĩ là tình hình chưa đủ xấu… Nên nhớ là những cuộc nổi dậy thường bắt đầu từ những uất ức của người dân trước những bất công chứ không phải từ những trí thức đang lên tiếng nhằm thức tỉnh chính quyền. Thay vì đào những đường hầm để thoát thân khi có biến như Gaddafi, ngay bây giờ hãy khai thông các lối ra cho toàn dân tộc.”
Và ngay sau phiên họp này, ông Nguyễn Hà đã đưa ra nhận xét rất bi quan:
“Nhìn sơ qua Ủy ban sửa đổi Hiến pháp lần này, có thể thấy rằng đa số – nếu không muốn nói là tất cả – đều là viên chức nhà nước, không có đại diện của các đoàn thể hay đảng chính trị, mà nếu có cũng là viên chức của nhà nước. Có thể thấy, giới luật gia, luật sư, và thành phần trí thức ngoài xã hội – những nhân tố cực kì quan trọng, để góp ý kiến cho việc sửa đổi Hiến pháp đều không hiện diện trong Ủy ban này…”
“Dân chỉ có thể tin khi dân được biết và được hỏi ý kiến về những chuyện liên quan mật thiết đến cuộc sống hằng ngày của họ: từ chuyện chống tham nhũng đến chuyện quản lý các doanh nghiệp nhà nước, cho nước ngoài thuê đất, thuê rừng, đến chuyện ngoài hải đảo xa xôi… Dân khó tin khi quan chức nói một đằng làm một nẻo, rất khó tin khi tham nhũng vẫn tràn lan…”
Từ thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam, bà Huỳnh Thục Vy cũng có “Vài Suy Nghĩ Về Việc Sửa Đổi Hiến Pháp” bi quan không kém:
“Sự thay đổi, sửa đổi chóng vánh và chắp vá chỉ thể hiện một điều là người ta muốn đối phó tình thế, thiện chí giả tạo và xoa dịu những căng thẳng bề nổi hơn là thực tâm thúc đẩy tiến bộ. Hơn nữa, việc thay đổi tùy tiện đối với một văn bản có tầm quan trọng như thế của những người cộng sản trong bao nhiêu năm qua làm cho ta thấy thái độ coi thường Hiến pháp của họ. Đối với họ, Hiến pháp không phải là bản cam kết, mà chỉ là cái công cụ trong tay, muốn định đoạt thế nào tùy nghi. Và sự thiếu vắng tiếng nói đóng góp của các tầng lớp dân chúng cũng nói lên rất nhiều cái vai trò mờ nhạt, mang tính danh nghĩa của định chế quan trọng này ở Việt Nam.”
“Thật buồn cười khi một việc tốn nhiều thời gian, tâm sức chuyên gia và công quỹ quốc gia, chẳng mang lại sự thay đổi và hiệu quả cụ thể nào lại cứ được truyên truyền và liên tục thực hiện. Tiền thuế của dân đâu phải được nộp để các nhà lãnh đạo thỉnh thoảng mang Hiến pháp ra đổi Hiến pháp mới, hay sửa lại cho có công có việc mà làm!”
Tui thì còn bi quan hơn nữa, và không chừng tui dám là người bi quan nhứt đám. Cứ mỗi lần nghe đến nhà đương cuộc Hà Nội rục rịch chuyện sửa đổi hiến pháp là tôi lại nhớ đến mẩu đối thoại mà mình nghe được ở tiệm sửa đồng hồ, vào ngày 30 tháng 4, hơn 30 năm trước:
- Dục bà nó đi chớ đồ giả mà làm sao sửa đuợc, mấy cha!
© Tưởng Năng Tiến – RFA’s blog
Một kỷ niệm nhớ đời tại tiệm Phở Kimmy
Vài ngày trước buổi Hội Ngộ của chúng ta , theo lời giới thiệu thiết tha của 1 người bạn tuy không phải khóa chúng ta , song rất thân thiết với khóa chúng ta , tôi và vợ chồng bạn Phúc " ông già Noel" có đến phở Kimmy để thưởng thức món phở ở đây .
Trước đây , vì là người ở tương đối gần Little Saigon , tôi có đến ăn phở ở đây vài ba lần cùng bà xã (lúc tiệm này còn ở trong khu Chợ 99 đối diện Phước Lộc Thọ ). Tội nghiệp , bà xã tôi không ăn được thịt bò , nên có lần hỏi anh già waiter mặt bói không ra 1 nụ cười ở đấy :
"Ở đây có phở gà không ? " .
Anh già này bèn trả lời dấm dẳng :
" Không có , muốn ăn thì phải dùng với nước dùng thịt bò !".
Quả là 1 câu trả lời đi ngược hoàn toàn với nguyên tắc ẩm thực mà chỉ anh già cà chớn đó mới có thể phát ngôn như ri ! Tôi còn chứng kiến có 1 cặp vợ chồng ngồi chờ phở hơn nửa tiếng đồng hồ , đành phải uống nước trà cho đỡ đói . Ấy thế mà khi người chồng thắc mắc hỏi anh-già-chuyên-mặc-áo-trắng-dài-tay tại sao phải chờ lâu thế thì được anh già này trả lời :
" Muốn ăn nhanh thì chịu khó đi tiệm khác ! ".
Người chồng bất mãn vì câu nói này , kéo vợ đi ra khỏi quán , nhưng "tình vẫn chưa yên " vì bị anh già kéo lại bắt phải trả $2 cho 2 ly nước trà !!!!
Trên báo Người Việt cả năm trước đây đã có 1 bài phóng sự về tiệm phở này và đặt tên tiệm phở này là " Phở rón rén " , vì nếu muốn gọi thêm rau hay hành trần...thì phải rón rén mà gọi , với mặc cảm phạm tội là làm phiền người hầu bàn , không những thế còn sợ bị mắng vì đòi hỏi quá ( những món xin thêm này , dù chỉ là 1 vài cọng húng quế , 1 ít giá sống ... cũng đều bị quy ra tiền ) .
Bài báo có nhắc đến những " Cháo chửi , phở quát ... " ở Hà Nội và cho rằng , sở dỉ những quán này vẫn đông khách vì thực khách nhiều người là "hậu duệ " của Hầu Tước De Sade , phải bị chửi mắng thì ăn mới ngon , khoái lạc trong đau khổ mà lị ! . Mong rằng bạn và tôi không được hân hạnh nằm trong thành phần này !
Sau khi lái xe vòng vòng tìm chỗ đậu xe đến 10 phút mà vẫn không tìm thấy chỗ đậu xe , tôi đành phải đậu phía bên kia đường ( chỗ nhà hàng Bò Bẩy Món Thiên Ân ) và đi bộ băng qua đường để vào tiệm phở . Đứng xếp hàng khoảng 10 phút nữa , chúng tôi mới vào được bên trong . Một lúc sau , 1 đĩa rau sống được đưa ra .Trên đĩa thiếu hẳn ngò gai , tôi có hỏi và được 1 bà beo béo người Bắc ( có lẽ là chủ quán ) trả lời :
" Ông ạ , ở đây không có ngò gai nhưng ở chợ có bán nhiều lắm , đâu phải cái gì cũng phải có , thưa ông " .
Bực quá đỗi , tôi định chửi toáng lên , song thấy gần đấy có 1 tên hầu bàn to con , mặt mũi bậm trợn nên đành nuốt cái ực quả giận xuống đáy lòng .
Ngồi chờ thêm 1 lúc nữa , anh già áo -trắng- dài - tay - mặt- hãm-tài xuất hiện ( khổ quá , lại gặp anh này nữa ! ) . Tôi để ý thấy , lạ ghê , hầu hết các thực khách đều có bộ mặt hớn hở ngoại giao và lại có vẻ cung kính khi order với anh già có bộ mặt lạnh lùng của Eddie Constantin này . Ủa , chúng ta phải bỏ tiền ra ăn phở chứ có phải ăn free đâu mà phải lấy lòng anh hầu bàn ? . Cực chẳng đã , tôi bèn order Phở nạm gầu thì được đương sự lạnh lùng trả lời :
" Ở đây không có nạm " .
Trời đất , tôi có order cái gì lạ như ngầu pín hoặc vú bò sữa đâu ! Tái và nạm là 2 món căn bản cho thực đơn phở , thế mà lại không có là thế nào ? . Quả thật , suốt 45 năm lấy ăn uống làm 1 cái thú ở đời , tôi chưa từng thấy 1 tiệm phở nào mà không có Nạm . Đành nuốt cục giận ở trong cổ mà order Tái Gầu Sách vậy .
Lại phải chờ thêm 1 lúc nữa , tôi xem đồng hồ thì đã gần 40 phút . Đành phải gậm giá sống cho đỡ đói vậy và lòng tự nhủ lòng :
"Chờ lâu thế này thì ăn càng ngon ! " .
Khi bát phở được đưa ra , tôi thấy 1 bát phở với nước dùng có khá nhiêù mỡ và có mầu nước đen . Nếm thử thì thấy khá mặn và bốc quá nhiều mùi hồi . Bụng bảo dạ :
" Mình đang ở cao huyết áp , cố ăn thế này thì dám bị stroke bất tử lắm , thôi thì ráng ăn ít nước thôi vậy " .
Tôi lại nghĩ đến hồi còn mồ ma ông cụ tôi , cụ đã từng bảo :
" Hai yếu tố căn bản của nước dùng phở là nước dùng phải trong và không được có mùi hồi , quả hồi chỉ để đánh tan mùi gây của thịt bò , song không phải là 1 gia vị cho phở " .
Chẳng những ông cụ tôi , nhà văn Thạch Lam và Nguyễn Tuân khi bàn về Phở cũng đồng ý vời nguyên tắc này . Ngồi cạnh bàn tôi , có 2 cậu thanh niên cũng chờ lâu và cũng có thắc mắc gì đó , chắc cũng được trả lời " cà dzựt " nên bất mãn ra mặt . Điêụ này , cụ Tản Đà mà có sống lại cũng uất lên mà chết vì cụ có tiêu chí là :
" Đồ ăn ngon , chỗ ngồi không ngon , không ngon ! " .
Ngồi ăn phở mà nhìn bộ mặt khó đăm đăm cùa anh già tiếp viên cùng các bộ mặt bất mãn của thực khách , thì ăn vàng cũng chẳng thấy ngon , các bạn có đồng ý với tôi không ?
Là 1 người đã từng ăn quen với những miếng nạm gầu với gầu chiếm chừng 1/5 của miếng nạm , tôi thật sự kinh hãi khi trong bát phở của tôi có 2 miếng gầu , mỗi miếng to bằng nửa bàn tay . Thế này thì ăn nàm thao bây giờ , gặp các cụ đang bị cholesterol thì coi như khỏi đụng đũa .
Nếu ai có hỏi là Phở Kimmy có ngon không , tôi xin không có ý kiến . Mỗi người chúng ta có 1 khẩu vị riêng , vấn đề ngon hay không của 1 món ăn quả là rất khó lạm bàn . Dấp cá có mùi tanh của cá song nhiều người rất thích , mắm tôm có nhiều người cho là 1 gia vị không thể thiếu trong các món Bún ốc hay món Thang , song có người lại không ưa . Món Hămbalahe của các bà có nhiều ông mê mẩn , song có ông lại bảo rằng hôi , phải xịt nước hoa vào trước khi tiếp xúc . Biết rằng khẩu vị của mỗi người mỗi khác , nhưng quả thật , hôm đó , tôi chỉ ăn được 2/3 tô phở mà thôi .
Thôi , bái bai Kimmy . Tôi sẽ đi ăn phở ở những chỗ khác như NH , QT,79, 86.. , giá cả "mềm" hơn mà lại tiếp đãi lịch sự hơn .
Đồng tiền chúng ta , trong thời đại gạo châu củi quế này kiếm không phải dễ , thế mà khi bỏ tiền ra lại bị đối xử như vậy thì đến đấy làm gì .
Vả lại , phở Kimmy cũng đâu phải là quá ngon hơn những tiệm phở khác đâu ? Sống lâu ở đất Mỹ này , chúng ta đã biết , việc tiếp đãi được đưa lên hàng đầu . Tại sao những tiệm ăn lừng lẫy như White House , đồ ăn cũng thường thôi mà giá rất đắt , nhưng vẫn sống hùng sống mạnh ? Ấy là vì khi đến đấy , chúng ta được tiếp đãi tương xứng với tiền chúng ta bỏ ra , dù chúng ta chỉ ăn những món rẻ nhất ! Người Waiter ở những nơi ấy , mặc đồ dĩ nhiên là lịch sự hơn chúng ta , cúi gập người xuống chào chúng ta , kể cho chúng ta về nguồn gốc món ăn và những món phải đi kèm , luôn hỏi chúng ta ăn có ngon không , có cần gì thêm không ? Có ai tiếc tiền không khi để lại tiền Tip hậu hĩ , khi được tiếp đãi nồng hậu như vậy ? Có lẽ chúng ta chỉ tiếc tiền Tip khi "bị" tiếp đãi ở quán Kimmy , bởi vậy , khi không để lại 1 đồng tiền Tip nào ở đây , tôi vẫn không cảm thấy áy náy chút nào !
Con bé nhà tôi , khoảng nửa năm trước đây , có đi ăn ở 1 tiệm ăn Ý khá nổi tiếng trên LA với 5, 6 người bạn . Bất mãn trước cách tiếp đãi kém ân cần của người Waiter , 1 cô bạn của nó có đăng lời than phiền trên Website ở trang YELP . Sau đó , Tiệm ăn có gửi thư cho người bạn nó , mời tất cả 1 bữa Free Dinner và cho biết đã đuổi người Waiter kể trên !
Không hiểu tiệm phở Kimmy có biết được bài học này không ? Cách đây 1 tháng , khi được hỏi về cách tiếp đãi của phở Kimmy có khá hơn trước không , 1 người bạn tôi đã cho biết rằng tiệm phở này đã cải thiện nhiều, không còn khinh thường khách như trước nữa .
Sau khi ăn bữa phở kể trên , tôi rất đồng ý với ông bạn tôi . Cách tiếp đãi đã có phần nào cải thiện , thay vì ngôn ngữ mắng chửi khách hàng nay đã được thay thế bằng ngôn ngữ "chọc quê " khách hàng , như trường hợp tôi khi thắc mắc về ngò gai ở trên !
Bái bai Kimmy ! Dù các bạn có mời tôi đi ăn ở đấy , tôi cũng xin kiếu . Đã bị bệnh đau dạ dầy lại kèm với huyết áp cao , tôi biết những bực mình giận dữ có thể làm bệnh dạ dầy trở nặng hơn , và có thể lám huyết áp tăng vọt . Trút những bực mình ra ở đây , tôi cảm thấy thoải mái hơn nhiều . Với những bạn đã là tín đồ trung thành của tiệm phở Kimmy , xin cứ coi bài viết này như bài viết của 1 kẻ " thực bất tri kỳ vị " và tiếp tục đớp phở Kimmy nhé . Nhiều khi , đi ăn thường xuyên ở đấy , được chủ quán biết mặt , các bạn lại được đối xử thiết tha , nồng hậu , lễ phép , kính cẩn , thân mật , tế nhị , lịch sự , ân cần , thương mến , vồn vã , niềm nở , vui vẻ , nhanh nhẩu , chu đáo ... hơn tôi thì sao ?
Khiem An
Trước đây , vì là người ở tương đối gần Little Saigon , tôi có đến ăn phở ở đây vài ba lần cùng bà xã (lúc tiệm này còn ở trong khu Chợ 99 đối diện Phước Lộc Thọ ). Tội nghiệp , bà xã tôi không ăn được thịt bò , nên có lần hỏi anh già waiter mặt bói không ra 1 nụ cười ở đấy :
"Ở đây có phở gà không ? " .
Anh già này bèn trả lời dấm dẳng :
" Không có , muốn ăn thì phải dùng với nước dùng thịt bò !".
Quả là 1 câu trả lời đi ngược hoàn toàn với nguyên tắc ẩm thực mà chỉ anh già cà chớn đó mới có thể phát ngôn như ri ! Tôi còn chứng kiến có 1 cặp vợ chồng ngồi chờ phở hơn nửa tiếng đồng hồ , đành phải uống nước trà cho đỡ đói . Ấy thế mà khi người chồng thắc mắc hỏi anh-già-chuyên-mặc-áo-trắng-dài-tay tại sao phải chờ lâu thế thì được anh già này trả lời :
" Muốn ăn nhanh thì chịu khó đi tiệm khác ! ".
Người chồng bất mãn vì câu nói này , kéo vợ đi ra khỏi quán , nhưng "tình vẫn chưa yên " vì bị anh già kéo lại bắt phải trả $2 cho 2 ly nước trà !!!!
Trên báo Người Việt cả năm trước đây đã có 1 bài phóng sự về tiệm phở này và đặt tên tiệm phở này là " Phở rón rén " , vì nếu muốn gọi thêm rau hay hành trần...thì phải rón rén mà gọi , với mặc cảm phạm tội là làm phiền người hầu bàn , không những thế còn sợ bị mắng vì đòi hỏi quá ( những món xin thêm này , dù chỉ là 1 vài cọng húng quế , 1 ít giá sống ... cũng đều bị quy ra tiền ) .
Bài báo có nhắc đến những " Cháo chửi , phở quát ... " ở Hà Nội và cho rằng , sở dỉ những quán này vẫn đông khách vì thực khách nhiều người là "hậu duệ " của Hầu Tước De Sade , phải bị chửi mắng thì ăn mới ngon , khoái lạc trong đau khổ mà lị ! . Mong rằng bạn và tôi không được hân hạnh nằm trong thành phần này !
Sau khi lái xe vòng vòng tìm chỗ đậu xe đến 10 phút mà vẫn không tìm thấy chỗ đậu xe , tôi đành phải đậu phía bên kia đường ( chỗ nhà hàng Bò Bẩy Món Thiên Ân ) và đi bộ băng qua đường để vào tiệm phở . Đứng xếp hàng khoảng 10 phút nữa , chúng tôi mới vào được bên trong . Một lúc sau , 1 đĩa rau sống được đưa ra .Trên đĩa thiếu hẳn ngò gai , tôi có hỏi và được 1 bà beo béo người Bắc ( có lẽ là chủ quán ) trả lời :
" Ông ạ , ở đây không có ngò gai nhưng ở chợ có bán nhiều lắm , đâu phải cái gì cũng phải có , thưa ông " .
Bực quá đỗi , tôi định chửi toáng lên , song thấy gần đấy có 1 tên hầu bàn to con , mặt mũi bậm trợn nên đành nuốt cái ực quả giận xuống đáy lòng .
Ngồi chờ thêm 1 lúc nữa , anh già áo -trắng- dài - tay - mặt- hãm-tài xuất hiện ( khổ quá , lại gặp anh này nữa ! ) . Tôi để ý thấy , lạ ghê , hầu hết các thực khách đều có bộ mặt hớn hở ngoại giao và lại có vẻ cung kính khi order với anh già có bộ mặt lạnh lùng của Eddie Constantin này . Ủa , chúng ta phải bỏ tiền ra ăn phở chứ có phải ăn free đâu mà phải lấy lòng anh hầu bàn ? . Cực chẳng đã , tôi bèn order Phở nạm gầu thì được đương sự lạnh lùng trả lời :
" Ở đây không có nạm " .
Trời đất , tôi có order cái gì lạ như ngầu pín hoặc vú bò sữa đâu ! Tái và nạm là 2 món căn bản cho thực đơn phở , thế mà lại không có là thế nào ? . Quả thật , suốt 45 năm lấy ăn uống làm 1 cái thú ở đời , tôi chưa từng thấy 1 tiệm phở nào mà không có Nạm . Đành nuốt cục giận ở trong cổ mà order Tái Gầu Sách vậy .
Lại phải chờ thêm 1 lúc nữa , tôi xem đồng hồ thì đã gần 40 phút . Đành phải gậm giá sống cho đỡ đói vậy và lòng tự nhủ lòng :
"Chờ lâu thế này thì ăn càng ngon ! " .
Khi bát phở được đưa ra , tôi thấy 1 bát phở với nước dùng có khá nhiêù mỡ và có mầu nước đen . Nếm thử thì thấy khá mặn và bốc quá nhiều mùi hồi . Bụng bảo dạ :
" Mình đang ở cao huyết áp , cố ăn thế này thì dám bị stroke bất tử lắm , thôi thì ráng ăn ít nước thôi vậy " .
Tôi lại nghĩ đến hồi còn mồ ma ông cụ tôi , cụ đã từng bảo :
" Hai yếu tố căn bản của nước dùng phở là nước dùng phải trong và không được có mùi hồi , quả hồi chỉ để đánh tan mùi gây của thịt bò , song không phải là 1 gia vị cho phở " .
Chẳng những ông cụ tôi , nhà văn Thạch Lam và Nguyễn Tuân khi bàn về Phở cũng đồng ý vời nguyên tắc này . Ngồi cạnh bàn tôi , có 2 cậu thanh niên cũng chờ lâu và cũng có thắc mắc gì đó , chắc cũng được trả lời " cà dzựt " nên bất mãn ra mặt . Điêụ này , cụ Tản Đà mà có sống lại cũng uất lên mà chết vì cụ có tiêu chí là :
" Đồ ăn ngon , chỗ ngồi không ngon , không ngon ! " .
Ngồi ăn phở mà nhìn bộ mặt khó đăm đăm cùa anh già tiếp viên cùng các bộ mặt bất mãn của thực khách , thì ăn vàng cũng chẳng thấy ngon , các bạn có đồng ý với tôi không ?
Là 1 người đã từng ăn quen với những miếng nạm gầu với gầu chiếm chừng 1/5 của miếng nạm , tôi thật sự kinh hãi khi trong bát phở của tôi có 2 miếng gầu , mỗi miếng to bằng nửa bàn tay . Thế này thì ăn nàm thao bây giờ , gặp các cụ đang bị cholesterol thì coi như khỏi đụng đũa .
Nếu ai có hỏi là Phở Kimmy có ngon không , tôi xin không có ý kiến . Mỗi người chúng ta có 1 khẩu vị riêng , vấn đề ngon hay không của 1 món ăn quả là rất khó lạm bàn . Dấp cá có mùi tanh của cá song nhiều người rất thích , mắm tôm có nhiều người cho là 1 gia vị không thể thiếu trong các món Bún ốc hay món Thang , song có người lại không ưa . Món Hămbalahe của các bà có nhiều ông mê mẩn , song có ông lại bảo rằng hôi , phải xịt nước hoa vào trước khi tiếp xúc . Biết rằng khẩu vị của mỗi người mỗi khác , nhưng quả thật , hôm đó , tôi chỉ ăn được 2/3 tô phở mà thôi .
Thôi , bái bai Kimmy . Tôi sẽ đi ăn phở ở những chỗ khác như NH , QT,79, 86.. , giá cả "mềm" hơn mà lại tiếp đãi lịch sự hơn .
Đồng tiền chúng ta , trong thời đại gạo châu củi quế này kiếm không phải dễ , thế mà khi bỏ tiền ra lại bị đối xử như vậy thì đến đấy làm gì .
Vả lại , phở Kimmy cũng đâu phải là quá ngon hơn những tiệm phở khác đâu ? Sống lâu ở đất Mỹ này , chúng ta đã biết , việc tiếp đãi được đưa lên hàng đầu . Tại sao những tiệm ăn lừng lẫy như White House , đồ ăn cũng thường thôi mà giá rất đắt , nhưng vẫn sống hùng sống mạnh ? Ấy là vì khi đến đấy , chúng ta được tiếp đãi tương xứng với tiền chúng ta bỏ ra , dù chúng ta chỉ ăn những món rẻ nhất ! Người Waiter ở những nơi ấy , mặc đồ dĩ nhiên là lịch sự hơn chúng ta , cúi gập người xuống chào chúng ta , kể cho chúng ta về nguồn gốc món ăn và những món phải đi kèm , luôn hỏi chúng ta ăn có ngon không , có cần gì thêm không ? Có ai tiếc tiền không khi để lại tiền Tip hậu hĩ , khi được tiếp đãi nồng hậu như vậy ? Có lẽ chúng ta chỉ tiếc tiền Tip khi "bị" tiếp đãi ở quán Kimmy , bởi vậy , khi không để lại 1 đồng tiền Tip nào ở đây , tôi vẫn không cảm thấy áy náy chút nào !
Con bé nhà tôi , khoảng nửa năm trước đây , có đi ăn ở 1 tiệm ăn Ý khá nổi tiếng trên LA với 5, 6 người bạn . Bất mãn trước cách tiếp đãi kém ân cần của người Waiter , 1 cô bạn của nó có đăng lời than phiền trên Website ở trang YELP . Sau đó , Tiệm ăn có gửi thư cho người bạn nó , mời tất cả 1 bữa Free Dinner và cho biết đã đuổi người Waiter kể trên !
Không hiểu tiệm phở Kimmy có biết được bài học này không ? Cách đây 1 tháng , khi được hỏi về cách tiếp đãi của phở Kimmy có khá hơn trước không , 1 người bạn tôi đã cho biết rằng tiệm phở này đã cải thiện nhiều, không còn khinh thường khách như trước nữa .
Sau khi ăn bữa phở kể trên , tôi rất đồng ý với ông bạn tôi . Cách tiếp đãi đã có phần nào cải thiện , thay vì ngôn ngữ mắng chửi khách hàng nay đã được thay thế bằng ngôn ngữ "chọc quê " khách hàng , như trường hợp tôi khi thắc mắc về ngò gai ở trên !
Bái bai Kimmy ! Dù các bạn có mời tôi đi ăn ở đấy , tôi cũng xin kiếu . Đã bị bệnh đau dạ dầy lại kèm với huyết áp cao , tôi biết những bực mình giận dữ có thể làm bệnh dạ dầy trở nặng hơn , và có thể lám huyết áp tăng vọt . Trút những bực mình ra ở đây , tôi cảm thấy thoải mái hơn nhiều . Với những bạn đã là tín đồ trung thành của tiệm phở Kimmy , xin cứ coi bài viết này như bài viết của 1 kẻ " thực bất tri kỳ vị " và tiếp tục đớp phở Kimmy nhé . Nhiều khi , đi ăn thường xuyên ở đấy , được chủ quán biết mặt , các bạn lại được đối xử thiết tha , nồng hậu , lễ phép , kính cẩn , thân mật , tế nhị , lịch sự , ân cần , thương mến , vồn vã , niềm nở , vui vẻ , nhanh nhẩu , chu đáo ... hơn tôi thì sao ?
Khiem An

Ngày ấy đã đến rồi…
(Giao Chỉ - San Jose)
...Nhưng quả táo còn cắn dở dang.
Với quả táo cắn dở dang, không hề liên quan gì đến khoa học, chẳng ăn nhằm gì đến điện toán, cha đẻ của nó, anh chàng học hành cũng dở dang đã làm thay đổi thế giới chúng ta đang sống.
Chúng tôi có đứa cháu vợ sinh quán Rạch Giá lưu lạc bên Toronto, xứ Canada mới qua chơi Bay Area.
Toàn thể 9 quận với hơn 200 thành phố quanh vịnh Cựu Kim Sơn, cháu chỉ nhớ có San Francisco, San Jose và sau cùng là Cupertino.
Tại sao Cupertino? Đó là thành phố đặt bản doanh của Apple. Xem ra thế hệ mới của nhân loại ngày nay anh nào cũng biết hãng Apple.
Hiện nay cơ sở của Apple cũng đã được coi là tân kỳ nằm ở phía Tây Nam xa lộ 280. Nhưng rồi đây bản doanh mới như một phi thuyền vĩ đại hình tròn sẽ hạ cánh xuống phía Đông Bắc xa lộ 280 để trở thành tân vương quốc Apple. Từ cảm hứng của Ngũ Giác Đài, nhà tỷ phú điện tử đã lựa chọn một kiến trúc 3 tầng quay vòng tròn để làm kinh đô cho Apple. Cung điện này sẽ là nơi làm việc của 13 ngàn nhân viên với 10,000 chỗ đậu xe. Đặc điểm quan trọng nhất của Apple là tìm tòi khai phá, nên Steve đã dành 300,000 square feet làm khu vực Research.
Tuy nhiên quốc vương của Apple là Steve Jobs chỉ mới được coi các công trình qua hình ảnh. Bởi vì ngày ấy của ông đã đến rồi.
Một đời bất hạnh.
Tháng 8-2011 vừa qua giám đốc công ty Apple, ông Steve Jobs loan báo trong thư từ chức gửi cộng đồng điện toán.
Thư rằng : “Tôi đã từng nói, ngày nào không còn làm tròn bổn phận, sẽ là người đầu tiên thông báo cho các bạn biết.
Thật buồn là ngày đó đã đến.”
Trong thư ông đề cử phó giám đốc lên thay và ông tự đề nghị mình vào chức chủ tịch hội đồng quản trị.
Trên thực tế, từ mấy tháng gần đây, vị phó giám đốc của Apple đã chính thức đảm đang mọi việc. Chức vụ mà ông Jobs làm chủ tịch hội đồng quản trị cũng chỉ là hình thức danh dự.
Cuộc đời ông đang ở những ngày tháng sau cùng vì bệnh ung thư gan đã đến lúc không còn cứu chữa được nữa.
Nhà tỷ phú danh tiếng nhất trong thế giới điện tử thực sự đã sống một cuộc đời bất hạnh và sự đau đớn sau cùng ngoài bệnh tật thì phải kể đến là cuộc đời vắn số. Mới ngoài 50, với sự nghiệp vĩ đại, bộ óc phi thưòng, tư duy xuất sắc và gia tài gần 10 tỷ mỹ kim, phải ra đi quả thực là đại bất hạnh.Tin sau cùng cho biết, ông đang chuẩn bị ra đi.
Những phát minh vĩ đại.
Steven Paul “Steve”Jobs sinh ngày 24 tháng 2-1955. Cùng với 2 người bạn từ cuối thập niên 70 đã hoàn thành dự án thương mại với phát minh máy điện toán cá nhân Apple II. Đây là một bước tiến vĩ đại của nhân loại đi từ các máy điện toán khổng lồ IBM dùng trong quốc phòng và kỹ nghệ trở thành computer đem đến mỗi nhà. Qua đầu thập niên 80 với máy Macintosh và con chuột ra đời thì nhân loại đã thực sự bước vào thời đại điện tử. Thung lũng Santa Clara trong đó có San Jose và Cupertino đã trở thành thung lũng điện tử. Người Việt tỵ nạn không những đến từ Việt Nam, từ các trại tỵ nạn qua San Jose mà cả ngàn người từ các tiểu bang khác cũng dọn về Bắc Cali để đi làm điện. “Ở đây chồng tếch vợ ly, cùng làm một síp còn gì sướng hơn.”
Năm 1985 Steve bất đồng ý kiến với hội đồng quản trị công ty Apple bèn tách ra lập công ty mới. Sau đó ông trở thành người khai phá con đường dùng computer trong các phim hoạt họa và là thành viên của công ty Disney Land. Ông cũng trở lại làm giám đốc Apple đưa công ty này lên tột đỉnh vinh quang với nhiều sáng chế mỗi năm cho đến khi mới loan báo từ chức.
Về phương diện cá nhân Steve Jobs có gia đình, 4 con. Cư ngụ tại Palo Alto, California. Lương trung bình 1 triệu 1 năm nhưng ngoại bổng thì vô kể. Tài sản hiện tại trên 8 tỷ mỹ kim, nguồn gốc lai Trung Đông, mang quốc tịch Mỹ, theo đạo Phật.
Ra đời dưới một ngôi sao xấu.
Cậu bé Steve Jobs không phải là người thuần chủng Hoa Kỳ. Cha ruột là Abdulfattah John Jandali người Hồi giáo xứ Trung Đông Syrian. Mẹ ruột là Joanne Simpson.
Gia đình không chấp nhận cuộc hôn nhân của cha mẹ nên cô gái mang bụng bầu về sanh tại San Francsico và đem đứa con trai cho ông bà mẹ nuôi. Cha mẹ nuôi là Paul và Clara Jobs, cư ngụ tại Mt.View.
Lúc còn nhỏ cậu bé Steve học tiểu học và trung học tại Cupertino. Sau đó ghi danh học Reed College tại Portland được đúng 1 semester rồi bỏ ngang. Cuộc sống thời niên thiếu của Steve hết sức nghèo khổ. Ngủ tại sàn garage bạn bè. Đi nhặt lon bán kiếm sống và ăn cơm homeless tại chùa Hare Krihna.
Ông Jobs có lúc nói rằng nếu ông theo học đại học chăm chỉ thì không có computer Mac ra đời.
Phải chăng vì hoàn cảnh sinh ra từ gia đình một di dân bất hạnh, nuôi dưỡng bởi một gia đình nghèo túng đã dẫn dắt Steve Jobs đến con đường vinh quang hiện nay.
Con người ảnh hưởng đời sống nhân loại.
Cuối thế kỷ 20 nhân loại bước vào thời đại máy điện toán cá nhân. Mọi người bắt đầu một cuộc sống khác. Cuộc sống trong thế giới ảo. Click một cái, cả thiên đường và địa ngục hiện ra. Máy điện toán là nơi tập trung kiến thức của cả tỷ người góp lại từ cả thiên thu lịch sử. Màn hình hiện lên mọi tin tức thông thái và đem đến cả tin tức ngu dốt và rất nhiều ngộ nhận. Con đường điện toán đã có biết bao nhiêu đóng góp của thiên tài trong nhân loại. Tuy nhiên trước sau cho đến bây giờ chỉ có một người nổi bật nhất đó là Steve Jobs. Một người sắp chết. Cha không nhận con. Mẹ bỏ con một mình. Bán lon coke để lấy tiền mua coca. Ăn cơm chùa trở thành theo đạo Phật. Chỉ vì lưu lạc lang thang không có tiền học nên túng quẫn phải tìm đường trở thành thiên tài điện tử.
Khi trở thành danh tiếng vang lừng thì buồng gan đã chai cứng. Khi trở thành tỷ phú thì thân thể đã tàn phai. Tiền rừng bạc bể nhưng ăn mặc vẫn như homeless muôn đời. Được cả thế giới thương yêu nhưng người thân cận làm việc bên cạnh, ai cũng nói đây là một ông chủ xấu tính nhất địa cầu. Học hành chẳng ra sao nhưng được các đại học danh tiếng thế giới mời tới để trao bằng tiến sĩ danh dự đủ loại. Và quan trọng hơn hết là đọc diễn văn để dạy dỗ cho các tân khoa cao học tốt nghiệp đủ mọi ngành.
Và bài diễn văn quan trọng nhất Steve mới đọc tại đại học Stanford có tựa đề. Các bạn sẽ đoán xem. Phải chăng là điện toán thế kỷ 21. Hay là ảnh hưởng của computer trong đời sống hiện nay. Không! Sai hết. Tựa của bài diễn văn lừng danh đó là :
How to live before you die. Sống ra sao trước khi chết
Trong bài đó có những câu hỏi. Anh làm gì nếu hôm nay là ngày cuối của cuộc đời. Với mầm ung thư trong người, với hoài bão mãnh liệt suốt từ năm 15 tuổi cho đến nay 56 tuổi, người thanh niên cao lênh khênh như cây xậy đó luôn luôn là người có thẩm quyền nhất để nói về đề tài sự sống và cái chết.
Với hàng ngàn khoa học gia trẻ tuổi trên thế giới Steve là thần tượng về kỹ thuật, nhưng mọi người lại kính trọng ông về tư tưởng.
Ngày nay, không phải các chính khách lãnh tụ mới thay đổi cuộc sống. Không phải các nhà văn hóa mới làm cuộc sống thay đổi. Bây giờ là thời đại của các kỹ thuật gia làm cuộc đời chúng ta khác biệt.
Pascal đã nói. Con người cũng chỉ là cây cỏ như muôn loài. Con người khẳng khiu như cây xậy. Nhưng con người là cây xậy có tư tưởng.
Một trong những người đó là Steve Jobs. Cây xậy có tư tưởng.
Ngày của ông đã đến, nhưng thời của Steve vẫn còn mãi mãi như kinh đô Apple dưới hình dạng phi thuyền hình tròn vĩ đại sắp hạ cánh xuống Cupertino vào những năm sắp đến.
Steve sẽ không thấy được vương quốc của ông. Nhưng nhân loại sẽ có dịp thấy thành quả của quả táo cắn dở dang và đâu đó là những lon coca thu lượm lại để cho đứa bé trở thành một con người.
Thật lạ lùng khi Trung Đông nẩy sinh ra Bin Laden làm điêu đứng Hoa Kỳ. Trung Đông cũng tặng cho Mỹ quốc đứa con lạc loài Steve Jobs.
Rồi đây những bà mẹ Tầu Đài Loan ở Cupertino la mắng thằng con. Mày bỏ học thì sau này thành thứ người gì? Đâu phải đứa nào bỏ học cũng thành Steve Jobs.
Giao Chỉ - San Jose
Con người là loài "hư đốn" nhất
So với đa số các loài vật khác, con người sở hữu rất nhiều thói hư tật xấu có thể gây tổn hại đến đồng loại hoặc chính bản thân.
Chúng ta nói dối, ăn trộm, lừa đảo, chạm khắc hoa văn lên cơ thể, giết người và cả tự tử… Trang LiveScience liệt kê 10 thói tật cố hữu và điển hình nhất của loài chúng ta.

Nói dối Hiện khoa học vẫn chưa biết chắc vì sao con người lại nói dối, nhưng các nghiên cứu cho thấy nói dối là hiện tượng rất phổ biến, và thường xuất phát từ các yếu tố tâm lý.
Theo nhà tâm lý học Robert Feldman thuộc Đại học Massachusetts, nói dối có quan hệ mật thiết với lòng tự trọng. Khi một người cảm thấy lòng tự trọng có nguy cơ bị tổn thương, ngay lập tức họ sẽ tìm cách nói dối.
Theo thống kê, người ta nói dối dễ dàng hơn khi trao đổi công việc qua email, so với khi viết thư tay.

Khao khát bạo lực Một số nhà nghiên cứu cho rằng con người chúng ta “nghiện” bạo lực và điều đó đã được khắc vào bộ gen chúng ta.
Một nghiên cứu năm 2008 kết luận rằng con người cũng ưa thích bạo lực như họ ưa thích tình dục, thức ăn, hay ma túy.
“Loài người chắc chắn được xếp hạng một trong những loài hiếu chiến nhất trên trái đất”, nhà sinh học David Carrier thuộc trường Đại học Utah cho biết.
Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng tính bạo lực là một xu hướng tiến hóa ở con người, nó giúp chúng ta trong quá trình sinh tồn. Giáo sư Craig Kennedy tại trường Vanderbilt University giải thích: “Tính hiếu chiến có ở hầu hết các sinh vật có xương sống. Nó cần thiết cho việc tìm kiếm và chiếm giữ những nguồn tài nguyên quan trọng như bạn tình, lãnh thổ và thức ăn.”

Ăn trộm Có câu “bần cùng sinh đạo tặc”, tuy nhiên, với nhiều người mắc tật ăn cắp vặt, hành vi của họ được thúc đẩy bởi một cảm giác phiêu lưu mạnh mẽ khi “thó” một món đồ linh tinh nào đó. Tật trộm cắp có thể có nguyên nhân khởi nguồn từ trong bộ gen.
Một nghiên cứu thống kê trên 43.000 người cho thấy có đến 11% trong số này thừa nhận từng ăn trộm đồ ít nhất một lần khi đi mua hàng. Họ ăn cắp ngay cả khi thừa sức trả tiền cho món đồ đó.

Lừa dối Theo một khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Pew thì gần 1/5 người Mỹ cho rằng việc gian lận thuế là có thể chấp nhận được và không vi phạm đạo đức. Còn có khoảng 10% số đối tượng nghiên cứu cho biết ngoại tình là không tốt nhưng vẫn thích việc làm này.
Nhiều nghiên cứu cho thấy một kết quả trớ trêu là những người đề cao các tiêu chuẩn đạo đức lại là những người hay lừa dối vợ/chồng mình nhất, bởi cho rằng ngoại tình là hành vi có thể chấp nhận trong một số hoàn cảnh cụ thể.
Đàn ông – nhất là những người thành đạt - thường có khuynh hướng ngoại tình hơn phụ nữ do đam mê tình dục của họ lớn hơn.

Dây dưa với những thói quen xấu Các nghiên cứu đã cho thấy ngay cả khi tác hại của thói quen xấu đã rõ ràng, cũng rất khó từ bỏ chúng.
“Không phải vì họ thiếu thông tin về hiểm họa của những thói quen xấu”, Cindy Jardine, nhà nghiên cứu thuộc trường ĐH Alberta, cho biết. “Nhưng rất nhiều người cho rằng “cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ” và vì vậy họ thường thích hưởng thụ cho hiện tại hơn là lo lắng cho một tương lai còn lâu mới đến.”
Jardine nêu ra một số nguyên nhân khiến con người thường dây dưa không từ bỏ các thói quen xấu:
- Do tính ngoan cố bẩm sinh có ở mỗi người
- Nhu cầu muốn được xã hội thừa nhận
- Không có khả năng hiểu rõ bản chất các nguy cơ của thói quen xấu
- Do thế giới quan cá nhân chủ nghĩa và khả năng hợp lý hóa các thói quen xấu
- Khuynh hướng nghiện bẩm sinh

Ỷ mạnh hiếp yếu
Nhiều nghiên cứu phát hiện hơn một nửa số học sinh phổ thông từng phải chịu ức hiếp ở trường học. Một nghiên cứu thực thiện năm 2009 cho thấy những đứa trẻ hay bắt nạt bạn bè ở trường thì cũng thường hay bắt nạt anh em ở nhà. Vì vậy nhiều nhà nghiên cứu cho rằng hành vi bắt nạt thường bắt đầu từ gia đình.
Bắt nạt này không chỉ là trò trẻ con. Một nghiên cứu khác cho thấy khoảng 30% người trưởng thành tại Mỹ là nạn nhân của những kiểu bắt nạt của sếp hoặc đồng nghiệp như: chỉ trích, tung tin đồn ác ý, cố tình che giấu thông tin nội bộ, v.v…
“Hành vi bắt nạt thường có tính chất leo thang, một khi bắt đầu nó sẽ càng lúc càng lấn tới”, Sarah Tracy, giám đốc Dự án Wellness and Work-Life tại ĐH Arizona State, cho biết.
Theo các nhà tâm lý, sở dĩ người ta thích bắt nạt kẻ yếu hơn là để khẳng định địa vị và quyền hành.

Hành hạ cơ thể bằng các thủ thuật làm đẹp
Mặc dù ngày càng có nhiều người là nạn nhân của lạm dụng mỹ phẩm hoặc phẫu thuật thẩm mỹ, nhưng lượng người sử dụng các dịch vụ thẩm mỹ vẫn không ngừng tăng lên.
Động lực mạnh mẽ nhất khiến nhiều người, nhất là phụ nữ, theo đuổi các thủ thuật thẩm mỹ tốn kém, mất thời gian là do ước muốn được trẻ đẹp, hoặc chỉ đơn giản là do “đua đòi”.
Sắc đẹp luôn là một cám dỗ khó cưỡng với hầu hết chúng ta, và thường đem lại nhiều cơ hội cho những người sở hữu nó. Như lời nhà tâm lý học Diana Zuckerman-Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia (Mỹ) về Phụ nữ và Gia đình thì: “Chúng ta đang sống trong một xã hội “xem mặt bắt hình dong””.

Căng thẳng
Tâm trạng căng thẳng kéo dài có thể nguy hiểm đến tính mạng, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, và cả các bệnh ung thư. Căng thẳng có thể dẫn đến trầm cảm, đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hành vi tự tử.
Môi trường làm việc là một nguyên nhân đáng kể gây căng thẳng. Theo thống kê của Tổ chức Công đoàn Quốc tế, hơn 600 triệu người trên khắp thế giới phải làm việc hơn 48 giờ mỗi tuần.
Áp lực còn đè nặng lên vai những người vừa gánh vác nghĩa vụ làm cha/mẹ, vừa đi làm.
Các chuyên gia sức khỏe nói rằng tập thể dục và ngủ đủ giấc là hai cách tốt nhất để phòng ngừa stress.

Bài bạc Tật bài bạc cũng có vẻ như đã nằm sẵn trong bộ gen và được lập trình sẵn trong não của chúng ta. Điều này có thể giải thích vì sao hành động liều lĩnh tiềm ẩn nhiều nguy cơ phá sản này lại phổ biến đến vậy.
Theo một nghiên cứu được đăng trên tạp chí Neuron năm ngoái, khi một người tận hưởng được niềm vui chiến thắng thì một “mạch điện” liên quan đến cảm giác hiếu chiến và ham thắng thua được kích hoạt, từ đó kích động não bộ tiếp tục tham gia vào chuyện cá cược bài bạc.
Các nghiên cứu cũng cho thấy việc thua bạc sẽ khiến người ta mất kiểm soát mặc dù trước đó họ đã rất lý trí dự kiến số tiền nhất định dành cho việc đánh bạc.

Nhiều chuyện
Các nhà nghiên cứu nói rằng loài người có “bản năng” nói chuyện và phán xét người khác, mặc cho việc đó có thể làm tổn thường người khác.
Robin Dunbar, nhà nghiên cứu các loài linh trưởng thuộc trường ĐH Oxford cho biết: “Loài khỉ đầu chó xem việc chải lông cho nhau như làm một cách thắt chặt mối quan hệ xã hội. Loài người chúng ta tiến hóa hơn, và chúng ta xem việc “ngồi lê đôi mách” là chất keo dính trong quan hệ xã hội.”
Theo các nghiên cứu, việc “tán phét” giúp thiết lập mối liên kết giữa các cá nhân, và nó khiến chúng ta có cảm giác được tôn trọng. Tuy nhiên trong nhiều cuộc “buôn dưa lê”, người ta không coi trọng sự thật hay tính chính xác của thông tin, nhất là khi thông tin liên quan đến người thứ ba.
Nhà tâm lý học Jennifer Bosson thuộc trường ĐH South Florida nói: “Khi hai người “nói xấu” một người thứ ba, họ cảm thấy thân thiết hơn.”
Chúng ta nói dối, ăn trộm, lừa đảo, chạm khắc hoa văn lên cơ thể, giết người và cả tự tử… Trang LiveScience liệt kê 10 thói tật cố hữu và điển hình nhất của loài chúng ta.

Nói dối Hiện khoa học vẫn chưa biết chắc vì sao con người lại nói dối, nhưng các nghiên cứu cho thấy nói dối là hiện tượng rất phổ biến, và thường xuất phát từ các yếu tố tâm lý.
Theo nhà tâm lý học Robert Feldman thuộc Đại học Massachusetts, nói dối có quan hệ mật thiết với lòng tự trọng. Khi một người cảm thấy lòng tự trọng có nguy cơ bị tổn thương, ngay lập tức họ sẽ tìm cách nói dối.
Theo thống kê, người ta nói dối dễ dàng hơn khi trao đổi công việc qua email, so với khi viết thư tay.

Khao khát bạo lực Một số nhà nghiên cứu cho rằng con người chúng ta “nghiện” bạo lực và điều đó đã được khắc vào bộ gen chúng ta.
Một nghiên cứu năm 2008 kết luận rằng con người cũng ưa thích bạo lực như họ ưa thích tình dục, thức ăn, hay ma túy.
“Loài người chắc chắn được xếp hạng một trong những loài hiếu chiến nhất trên trái đất”, nhà sinh học David Carrier thuộc trường Đại học Utah cho biết.
Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng tính bạo lực là một xu hướng tiến hóa ở con người, nó giúp chúng ta trong quá trình sinh tồn. Giáo sư Craig Kennedy tại trường Vanderbilt University giải thích: “Tính hiếu chiến có ở hầu hết các sinh vật có xương sống. Nó cần thiết cho việc tìm kiếm và chiếm giữ những nguồn tài nguyên quan trọng như bạn tình, lãnh thổ và thức ăn.”

Ăn trộm Có câu “bần cùng sinh đạo tặc”, tuy nhiên, với nhiều người mắc tật ăn cắp vặt, hành vi của họ được thúc đẩy bởi một cảm giác phiêu lưu mạnh mẽ khi “thó” một món đồ linh tinh nào đó. Tật trộm cắp có thể có nguyên nhân khởi nguồn từ trong bộ gen.
Một nghiên cứu thống kê trên 43.000 người cho thấy có đến 11% trong số này thừa nhận từng ăn trộm đồ ít nhất một lần khi đi mua hàng. Họ ăn cắp ngay cả khi thừa sức trả tiền cho món đồ đó.

Lừa dối Theo một khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Pew thì gần 1/5 người Mỹ cho rằng việc gian lận thuế là có thể chấp nhận được và không vi phạm đạo đức. Còn có khoảng 10% số đối tượng nghiên cứu cho biết ngoại tình là không tốt nhưng vẫn thích việc làm này.
Nhiều nghiên cứu cho thấy một kết quả trớ trêu là những người đề cao các tiêu chuẩn đạo đức lại là những người hay lừa dối vợ/chồng mình nhất, bởi cho rằng ngoại tình là hành vi có thể chấp nhận trong một số hoàn cảnh cụ thể.
Đàn ông – nhất là những người thành đạt - thường có khuynh hướng ngoại tình hơn phụ nữ do đam mê tình dục của họ lớn hơn.

Dây dưa với những thói quen xấu Các nghiên cứu đã cho thấy ngay cả khi tác hại của thói quen xấu đã rõ ràng, cũng rất khó từ bỏ chúng.
“Không phải vì họ thiếu thông tin về hiểm họa của những thói quen xấu”, Cindy Jardine, nhà nghiên cứu thuộc trường ĐH Alberta, cho biết. “Nhưng rất nhiều người cho rằng “cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ” và vì vậy họ thường thích hưởng thụ cho hiện tại hơn là lo lắng cho một tương lai còn lâu mới đến.”
Jardine nêu ra một số nguyên nhân khiến con người thường dây dưa không từ bỏ các thói quen xấu:
- Do tính ngoan cố bẩm sinh có ở mỗi người
- Nhu cầu muốn được xã hội thừa nhận
- Không có khả năng hiểu rõ bản chất các nguy cơ của thói quen xấu
- Do thế giới quan cá nhân chủ nghĩa và khả năng hợp lý hóa các thói quen xấu
- Khuynh hướng nghiện bẩm sinh

Ỷ mạnh hiếp yếu
Nhiều nghiên cứu phát hiện hơn một nửa số học sinh phổ thông từng phải chịu ức hiếp ở trường học. Một nghiên cứu thực thiện năm 2009 cho thấy những đứa trẻ hay bắt nạt bạn bè ở trường thì cũng thường hay bắt nạt anh em ở nhà. Vì vậy nhiều nhà nghiên cứu cho rằng hành vi bắt nạt thường bắt đầu từ gia đình.
Bắt nạt này không chỉ là trò trẻ con. Một nghiên cứu khác cho thấy khoảng 30% người trưởng thành tại Mỹ là nạn nhân của những kiểu bắt nạt của sếp hoặc đồng nghiệp như: chỉ trích, tung tin đồn ác ý, cố tình che giấu thông tin nội bộ, v.v…
“Hành vi bắt nạt thường có tính chất leo thang, một khi bắt đầu nó sẽ càng lúc càng lấn tới”, Sarah Tracy, giám đốc Dự án Wellness and Work-Life tại ĐH Arizona State, cho biết.
Theo các nhà tâm lý, sở dĩ người ta thích bắt nạt kẻ yếu hơn là để khẳng định địa vị và quyền hành.

Hành hạ cơ thể bằng các thủ thuật làm đẹp
Mặc dù ngày càng có nhiều người là nạn nhân của lạm dụng mỹ phẩm hoặc phẫu thuật thẩm mỹ, nhưng lượng người sử dụng các dịch vụ thẩm mỹ vẫn không ngừng tăng lên.
Động lực mạnh mẽ nhất khiến nhiều người, nhất là phụ nữ, theo đuổi các thủ thuật thẩm mỹ tốn kém, mất thời gian là do ước muốn được trẻ đẹp, hoặc chỉ đơn giản là do “đua đòi”.
Sắc đẹp luôn là một cám dỗ khó cưỡng với hầu hết chúng ta, và thường đem lại nhiều cơ hội cho những người sở hữu nó. Như lời nhà tâm lý học Diana Zuckerman-Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia (Mỹ) về Phụ nữ và Gia đình thì: “Chúng ta đang sống trong một xã hội “xem mặt bắt hình dong””.

Căng thẳng
Tâm trạng căng thẳng kéo dài có thể nguy hiểm đến tính mạng, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, và cả các bệnh ung thư. Căng thẳng có thể dẫn đến trầm cảm, đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hành vi tự tử.
Môi trường làm việc là một nguyên nhân đáng kể gây căng thẳng. Theo thống kê của Tổ chức Công đoàn Quốc tế, hơn 600 triệu người trên khắp thế giới phải làm việc hơn 48 giờ mỗi tuần.
Áp lực còn đè nặng lên vai những người vừa gánh vác nghĩa vụ làm cha/mẹ, vừa đi làm.
Các chuyên gia sức khỏe nói rằng tập thể dục và ngủ đủ giấc là hai cách tốt nhất để phòng ngừa stress.

Bài bạc Tật bài bạc cũng có vẻ như đã nằm sẵn trong bộ gen và được lập trình sẵn trong não của chúng ta. Điều này có thể giải thích vì sao hành động liều lĩnh tiềm ẩn nhiều nguy cơ phá sản này lại phổ biến đến vậy.
Theo một nghiên cứu được đăng trên tạp chí Neuron năm ngoái, khi một người tận hưởng được niềm vui chiến thắng thì một “mạch điện” liên quan đến cảm giác hiếu chiến và ham thắng thua được kích hoạt, từ đó kích động não bộ tiếp tục tham gia vào chuyện cá cược bài bạc.
Các nghiên cứu cũng cho thấy việc thua bạc sẽ khiến người ta mất kiểm soát mặc dù trước đó họ đã rất lý trí dự kiến số tiền nhất định dành cho việc đánh bạc.

Nhiều chuyện
Các nhà nghiên cứu nói rằng loài người có “bản năng” nói chuyện và phán xét người khác, mặc cho việc đó có thể làm tổn thường người khác.
Robin Dunbar, nhà nghiên cứu các loài linh trưởng thuộc trường ĐH Oxford cho biết: “Loài khỉ đầu chó xem việc chải lông cho nhau như làm một cách thắt chặt mối quan hệ xã hội. Loài người chúng ta tiến hóa hơn, và chúng ta xem việc “ngồi lê đôi mách” là chất keo dính trong quan hệ xã hội.”
Theo các nghiên cứu, việc “tán phét” giúp thiết lập mối liên kết giữa các cá nhân, và nó khiến chúng ta có cảm giác được tôn trọng. Tuy nhiên trong nhiều cuộc “buôn dưa lê”, người ta không coi trọng sự thật hay tính chính xác của thông tin, nhất là khi thông tin liên quan đến người thứ ba.
Nhà tâm lý học Jennifer Bosson thuộc trường ĐH South Florida nói: “Khi hai người “nói xấu” một người thứ ba, họ cảm thấy thân thiết hơn.”
Người Bán Liêm Sỉ
Tác Giả: Tiểu Tử Xin gọi ông ta là ông X. Để tránh phiền phức. Thời buổi bây giờ, con người dễ bị chụp mũ bất cứ lúc nào và bởi bất cứ ai.
Ở trên chụp xuống là nhà cầm quyền – hạng này đông lắm và rất... vững tay nghề vì đã từng hành nghề này cả mấy chục năm. Ở dưới chụp lên là kẻ tiểu nhơn – hạng này thường thấy xuất hiện khi có biến cố hay khi thấy chánh quyền đa nghi như Tào Tháo; hạng này hành động theo thời cơ nên tay nghề lắm khi còn vụng; họ không đông nhưng rất nguy hiểm bởi vì họ giống như mọi người nên khó mà nhận diện ! Ở ngang với mình mà chụp mũ mình là mấy đứa mà mình thường gọi là bạn hay chiến hữu hay đồng chí – hạng... mắc dịch này mới bắt tay ôm hôn mình thắm thiết đó, vậy mà hôm sau đã “trở cờ xé lẻ” bởi vì cái đít của họ đòi cái ghế và cái mặt của họ muốn được... bự bằng cái nia ( để được thấy là … đại diện ! ) ; hạng này không cần tay nghề khéo nên cách chụp mũ thiếu... tế nhị ! Nói chung, hạng chụp mũ nào cũng chỉ chụp người có tên tuổi đàng hoàng chớ chẳng ai chụp mũ một kẻ vô danh. Cho nên, gọi nhân vật trong chuyện sau đây là ông X để ổng trở thành kẻ vô danh, khỏi bị chụp mũ ! (Xin lỗi ! Tôi hơi dài dòng ở đây tại vì tôi muốn mọi người đều thấy tôi “rõ như ban ngày”, để đừng ai... chụp mũ tôi “có ý đồ này nọ”. Đa tạ).
Bây giờ thì xin nói đến ông X.
Hồi thời trước – thời mà sau này “được” gọi là ngụy – ông X làm việc cho một hãng tư của ngoại quốc. Ông làm việc lâu năm và rất đắc lực nên ban giám đốc giao cho ông những chức vụ quan trọng với quyền hạn về tài chánh thật rộng rãi. Để thực hiện những chương trình xây dựng đồ sộ của hãng, ông thường xuyên giao dịch với chánh quyền. Nhờ vậy, ông “quen lớn” nhiều trong cả hai giới dân sự và quân sự.
Ở địa vị như của ông, con người dễ bị cám dỗ vì tư lợi. Chẳng có gì khó hết. Chỉ cần “nhắm mắt” một chút là nhà thầu sẽ biết cách đền ơn. Chỉ cần “biết phải quấy” một chút là vô “áp phe” riêng cho mình. Chỉ cần “bóp chẹt bắt bí” một chút là hất chân những đứa không theo bè cánh...
Ông X lại không thuộc hạng “biết làm ăn” như kể trên. Ông lớn lên trong một gia đình theo Khổng giáo, lấy “nhân nghĩa lễ trí tín” làm phương châm, luôn đề cao giá trị đạo đức của con người. Cho nên làm việc cho hãng gần hai mươi năm mà không thấy ông... “xơ múi” chút gì hết ! Bạn bè có đứa chê ông nhát. Ông cười: “Thà tao nhát mà tao giữ tròn liêm sỉ. Cái đó mới là cái khó. Người ta có thể chê tao như mày đã chê tao. Chớ không ai dám khi dể tao hết. Cái phách của tao là ở chỗ đó !”.
... 30 tháng tư 1975. Ông X đã không di tản. Nghĩ rằng mình làm việc cho hãng tư, lại là hãng của ngoại quốc, chắc “họ không làm gì đâu”. Chẳng dè quân mũ tai bèo (Giải phóng miền Nam) và quân nón cối (bộ đội) vào Nam tiếp thu tuốt tuột. Hãng công hãng tư gì, lớn nhỏ gì cũng “đớp” hết ráo (Trước đó, họ có tuyên bố “không đụng tới cây kim sợi chỉ của dân”, và sự thật, họ đã làm đúng như vậy, mới chết ! Bằng cớ là họ đã lấy hết, chỉ chừa có... cây kim sợi chỉ ! Cho nên, có thấy ai thưa gởi rằng bị cách mạng... cướp mất cây kim sợi chỉ đâu ? Vậy mà sao ai cũng nói họ “nói một đàng mà làm một nẻo” hết ! Oan cho họ ! Có điều là với “cây kim sợi chỉ”, người dân không biết... “làm khỉ gì ăn”. Chỉ còn có nước may cái miệng lại để khỏi phải ăn, khỏi phải nói !).
Hãng của ông X bị quân mũ tai bèo mang bí số K7 tiếp thu. May cho ổng: người dẫn đầu toán tiếp thu là người chú bà con đi khu hồi kháng chiến 1945. Nhờ ông này can thiệp nên ông X không bị đi cải tạo, nhưng bị đổi đi “hạ tầng công tác” ở một kho hóa chất (Sự che chở người thân như vậy rất hiếm thấy trong chế độ. Và có lẽ vì vậy mà chưa đầy sáu tháng sau, ông cán bộ đó bị cho “về vườn” mặc dầu chưa tới hạng tuổi !).
Bấy giờ, ông X ăn lương 80 đồng. Trong khi người tài xế cũ của ông lãnh 90 đồng ! Ông được phát lương mỗi tháng hai kỳ. Mỗi kỳ là 40 đồng nhưng bị giữ lại 2 đồng để cho vào sổ tiết kiệm (Nhà Nước lo cho dân chí tình như vậy mà vẫn có người không bằng lòng. Lạ thật !).
Bấy giờ, vì tất cả ngân hàng đều bị tịch thu, nên tiền của mà ông X để trong ngân hàng của ổng kể như đã... cúng cô hồn ! Ông X trắng tay và... trắng mắt.
Bấy giờ, vợ con ông X rã ra đi làm trong mấy tổ hợp. Hai đứa nhỏ nhứt ở nhà dán bao giấy bỏ mối cho bạn hàng ngoài chợ gói đồ. Ông X bán lần xe cộ, bàn ghế tủ...
Nhiều khi ông thầm nghĩ: “Mình đã tự hào giữ tròn liêm sỉ từ mấy mươi năm. Bây giờ... đổi lấy cái ăn cũng không được. Phải chi hồi đó mình nhắm mắt làm bậy, mánh mung chụp giựt đầy túi rồi bay ra ngoại quốc ở, thì bây giờ mình đâu có ngồi đây nhìn cái khổ cực của vợ con ! Riết rồi không biết là mình khôn hay mình dại nữa”.
Hôm nay là ngày ông đi bán chiếc xe đạp của ông. Ông đã tính kỹ: đạp xe ra chỗ thằng nhỏ sửa xe đạp ở góc đường xin nó cho đứng nhờ để bán; ở đó người qua lại cũng đông và người ghé vào bơm bánh hay sửa xe cũng thường; thế nào cũng có người hỏi mua. Sau khi lau chùi sạch sẽ chiếc xe, ông lấy một miếng bìa cứng viết lên đó “Bán xe đạp” rồi khoét lỗ xỏ sẵn dây để mang ra cột tại chỗ. Vừa làm ông vừa nghĩ đến thân phận của mình, đến cái liêm sỉ mà ông đã đeo đẳng từ bao nhiêu năm. Ông cười chua chát: “Cái liêm sỉ không giá trị bằng chiếc xe đạp !”. Bỗng ông nẩy ra một ý, vừa hài hước vừa táo bạo: “Tại sao mình không treo bảng bán cái liêm sỉ ? Cười chơi, sợ gì ?”. Vậy là ông lấy một miếng cạc-tông, nắn nót viết lên đó hàng chữ “Bán cái liêm sỉ. Bảo đảm 20 năm chưa sứt mẻ”. Khoét lỗ xỏ dây xong, ông cho hết vào túi xách, đạp xe ra ngõ.
Thằng nhỏ sửa xe tuổi độ mười hai mười ba. Ốm nhom, đen thui, cười hở lợi. Sáng nào nó cũng kéo chiếc xe hai bánh chở hai thùng gỗ nhỏ và mớ đồ nghề, ra... hành nghề cạnh trụ đèn ở góc đường. Sợ người ta không biết hay sao mà thấy nó có treo trên trụ đèn tấm bảng trắng sơn chữ đỏ “Tại đây sửa xe đạp đủ loại”.
Khi ông X xin đứng nhờ, nó vui vẻ nhận lời ngay:
- Dạ được ! Dạ được ! Ông Hai cứ dựng xe cạnh cột đèn đó, không sao hết. Chỗ này là chỗ “bá tánh” chớ phải của riêng cháu đâu mà ông Hai xin phép !
Rồi nó lấy cái thùng gỗ úp xuống, mời:
- Ông Hai ngồi. Cháu đang lỡ tay !
Nó làm như nếu nó không lỡ tay thì nó có bổn phận phải ngồi... tiếp chuyện ông X vậy ! Ông thấy có cảm tình ngay với thằng nhỏ. Ông cảm ơn rồi lấy hai miếng cạc-tông ra, treo một tấm lên sườn xe đạp, tấm thứ hai đeo lên cổ của mình một cách thích thú !
Ông ngồi xuống thùng gỗ phía sau lưng thằng nhỏ, đốt thuốc hút, ung dung. Thằng nhỏ đang ráp sợi dây sên vào chiếc xe đạp dựng ngược. Nó vừa làm vừa nói chuyện với ông X, mắt vẫn nhìn châm chú vào công việc.
- Ông Hai bán xe rồi lấy gì mà đi ?
- Thì... tôi đi chung xe với bà nhà tôi.
- Ông đèo bà hay bà đèo ông vậy ?
Ông X bật cười:
- Dĩ nhiên là tôi đèo bả chớ !
- Ý ! Bây giờ đổi đời rồi. Mấy bà chở chồng chạy bon bon thiếu gì, ông Hai.
Nói xong, nó cười hắc hắc. Ngừng một lúc, chừng như đang ngẫm nghĩ gì đó. Rồi nó nói tiếp, giọng ngang ngang:
- Bây giờ sao nhiều người bán đồ bán đạc trong nhà quá. Ở xóm của cháu, thấy có người cạy gạch bông nền nhà lên bán đặng ăn, ông Hai à !
Hình ảnh đó làm ông xúc động. Ông không biết phải nói gì. Sự bần cùng của người dân trong chế độ được gọi là ưu việt này, đã vượt quá xa tầm tưởng tượng của con người... thì còn lời gì để nói ? Im lặng, ông hít nhiều hơi thuốc dài...
Thấy sao “người đối thoại” của nó làm thinh, thằng nhỏ quay đầu nhìn lại. Bây giờ nó mới thấy tấm bảng ông đeo trước ngực. Nó ngạc nhiên:
- Ủa ! Ông còn bán cái giống gì nữa vậy ?
- Thì... cháu đọc coi.
- Cái... “liêm” ... Cái “liêm sỉ” là cái gì vậy, ông Hai ?
- Ờ... Cái liêm sỉ là... (Ông ngập ngừng tìm lời để giải nghĩa) Là ... Là cái mà thiên hạ ai cũng quí trọng hết. Người ta coi nó có giá trị như... có giá trị như...
- Như hột xoàn hả ông Hai ?
- Ờ ! Đại loại như vậy. Thiên hạ cho rằng người nào có cái liêm sỉ cũng thấy sáng ngời không kém.
Nổi tánh tò mò, thằng nhỏ chùi vội hai tay vào một miếng giẻ cũng dơ như tay của nó, rồi xoay hẳn người lại, hâm hở:
- Ông Hai cho cháu coi một chút được không ? Từ cha sanh mẹ đẻ cháu chưa nghe nói tới cái liêm sỉ bao giờ, chớ đừng nói thấy.
- À cái này không có coi được. Lớn lên rồi cháu sẽ biết.
Thằng nhỏ tiu nghỉu, quay trở về công việc mà nghĩ: “Chắc là đồ xịn lắm nên ổng sợ !”
Có hai thanh niên dừng lại bơm bánh xe. Cả hai đều đọc bảng treo trước ngực ông X. M ột anh hỏi anh kia:
- Cái liêm sỉ là cái gì vậy mậy ?
Thằng nhỏ nói hớt, vẻ sành sỏi:
- Là đồ nữ trang loại xịn. Mắc lắm đó !
Ông X mỉm cười, chua chát nghĩ: “Chế độ đâu có dạy con người phải có liêm sỉ. Bây giờ, chỉ thấy học đấu tranh, học hận thù, học giết chóc... chớ đâu thấy học làm người có đạo đức, trọng lễ nghĩa để mà biết liêm sỉ là gì ? ‘’
Một anh bộ đội, nón cối nghiêng nghiêng, tấp Honda vào hỏi mua “săm” xe đạp. Thằng nhỏ nói: “Sửa xe chớ không có bán đồ phụ tùng”. Chờ cho anh bộ đội đi khuất, nó quay lại cười cười nói với ông X:
- Ruột xe thì nói ruột xe. Mấy chả nói “săm”. Hồi đầu cháu đâu có biết. Cháu chỉ qua bà xẩm bán nước sâm ở bên kia đường. Thấy cười quá ! Họ nói tiếng gì đâu không hà !
Một thanh niên chở một ông già, ngừng lại nhờ thằng nhỏ siết lại cái đầu bàn đạp. Sau khi nhìn ông X, anh thanh niên hỏi nhỏ ông già:
- Liêm sỉ là cái gì hả ông nội ?
Ông già tằng hắng rồi nói, giọng nghiêm trang:
- Là cái mà nó bắt con người ta phải cẩn thận trong suy tư trong hành động. Nó không cho con người ta làm bậy làm quấy, làm sai đạo lý. Nó bắt con người ta phải biết xấu hổ khi có ý xâm phạm thuần phong mỹ tục. Quí lắm, con thấy không ? Vậy mà thời buổi bây giờ có mấy ai biết nó là gì...
Trả tiền xong, người cháu đợi người ông ngồi đàng hoàng vững chãi trên pọt-ba-ga rồi mới đạp đi. Ông già quay đầu nhìn lại ông X, giống như nhìn một món đồ cổ !
Mặt trời đã lên cao. Cây me già cạnh đó đổ bóng mát rượi xuống chỗ “hành nghề” của thằng nhỏ. Gió thổi hiu hiu. Lá me lăng tăng rụng...
Một ông già râu tóc bạc phơ đạp xe lọc cọc ghé vô nhờ sửa cái thắng. Sau khi... “kiểm tra” lại bộ phận, thằng nhỏ gãi gãi đầu mặc dù tay nó dơ hầy:
- Cha... Vụ này hơi lâu à ông Hai. Cũng năm mười phút à !
- Không sao. Tao đợi. Tao thiếu gì thì giờ.
Nó vội vàng lật úp cái thùng gỗ còn lại, đặt gần chỗ ông X:
- Ông ngồi đây. Có ông Hai này ngồi bán xe, từ sáng giờ không thấy ai hỏi hết. Chắc cũng buồn !
Đó là cách nó giới thiệu để hai người dễ dàng bắt chuyện với nhau, nếu muốn.
Ông già ngồi xuống, gật đầu chào ông X, rồi móc bọc thuốc rê, mời:
- Ông vấn một điếu chơi.
- Cám ơn. Tôi có đem theo thuốc vấn sẵn ở nhà.
Ông X lấy trong túi ra hộp thiếc giẹp màu vàng (loại đựng thuốc điếu 555 ngày xưa) móp méo trầy trụa, mở ra mời lại:
- Ông hút thử thứ này coi.
Ông già cất bọc thuốc vào túi lấy một điếu của ông X để lên môi, đốt. Ổng hít mấy hơi thật dài rồi gật gù:
- Ùm... Một phần Lạng Sơn hai phần Gò Vấp.
- Đúng ! Ông rành quá !
- Một đời hút thuốc mà không rành sao được, ông bạn.
Hai người im lặng thở những hơi khói dài. Giờ đó, đường cũng vắng, chỉ nghe tiếng lách cách sửa xe của thằng nhỏ. Một lúc lâu sau, bỗng ông già tằng hắng rồi nheo mắt nhìn thẳng ông X, giọng ôn tồn:
- Ông bạn à. Tôi nghĩ nếu ông bạn còn chút liêm sỉ thì nên dẹp tấm bảng bán liêm sỉ của ông đi. Chỉ có phường vô liêm sỉ mới khoe khoang khoác lác rằng ta là thế này, ta là thế nọ, ta hơn thiên hạ về đủ mọi mặt vv…. Sự thật, họ không có gì hết. Bọn vô liêm sỉ đó đã chà đạp mọi giá trị tinh thần của con người, đã chối bỏ truyền thống đạo đức của ông cha để lại từ không biết mấy ngàn năm.
Ông X im lặng gật gù nghe. Ông già ngừng một chút để hít mấy hơi thuốc. Rồi tiếp:
- Ông bạn à. Tôi tin rằng ông bạn là người có liêm sỉ. Trực giác cho tôi thấy như vậy. Bây giờ, đem rao bán cái liêm sỉ, ông bạn có thấy đó là hành động thiếu suy nghĩ không ? Nói khùng mà nghe, giả dụ ông bạn có bán được cái liêm sỉ, ông bạn sẽ “trắng tay”. Không còn liêm sỉ nữa thì ông bạn sẽ thành cái gì ?
Ông già ngừng ở đó, nhìn ông X một chút rồi nói gằn từng tiếng:
- Ông bạn sẽ là thằng-vô-liêm-sỉ !
Đến đây, thằng nhỏ đã sửa xong cái thắng. Ông già đứng lên chào ông X, trả tiền rồi đạp xe đi thẳng.
Hút tàn điếu thuốc, ông X thở dài, đứng lên tháo hai miếng cạc-tông cho vào túi xách. Thằng nhỏ ngạc nhiên:
- Ủa ! Bộ ông Hai về hả ?
- Ừ !
- Sao về sớm vậy ?
- Ừ ! Về sớm.
Ông X nói bằng một giọng trống rỗng. Thằng nhỏ ân cần dặn:
- Ông Hai cẩn thận nghe ! Coi chừng tụi nó giựt cái liêm sỉ à. Mấy thằng lưu manh nó giựt bóp của người ta hoài, hà !
Ông X làm thinh đạp xe đi, bỗng nghe như cái liêm sỉ của ông nó nặng như chì. Vậy mà bao nhiêu lâu nay, ngày ngày ông vẫn còng lưng cõng nó để đi tìm một chân trời, một lối thoát, một chút ánh sáng ở cuối con đường hầm … !
Tác Giả: Tiểu Tử Xin gọi ông ta là ông X. Để tránh phiền phức. Thời buổi bây giờ, con người dễ bị chụp mũ bất cứ lúc nào và bởi bất cứ ai.
Ở trên chụp xuống là nhà cầm quyền – hạng này đông lắm và rất... vững tay nghề vì đã từng hành nghề này cả mấy chục năm. Ở dưới chụp lên là kẻ tiểu nhơn – hạng này thường thấy xuất hiện khi có biến cố hay khi thấy chánh quyền đa nghi như Tào Tháo; hạng này hành động theo thời cơ nên tay nghề lắm khi còn vụng; họ không đông nhưng rất nguy hiểm bởi vì họ giống như mọi người nên khó mà nhận diện ! Ở ngang với mình mà chụp mũ mình là mấy đứa mà mình thường gọi là bạn hay chiến hữu hay đồng chí – hạng... mắc dịch này mới bắt tay ôm hôn mình thắm thiết đó, vậy mà hôm sau đã “trở cờ xé lẻ” bởi vì cái đít của họ đòi cái ghế và cái mặt của họ muốn được... bự bằng cái nia ( để được thấy là … đại diện ! ) ; hạng này không cần tay nghề khéo nên cách chụp mũ thiếu... tế nhị ! Nói chung, hạng chụp mũ nào cũng chỉ chụp người có tên tuổi đàng hoàng chớ chẳng ai chụp mũ một kẻ vô danh. Cho nên, gọi nhân vật trong chuyện sau đây là ông X để ổng trở thành kẻ vô danh, khỏi bị chụp mũ ! (Xin lỗi ! Tôi hơi dài dòng ở đây tại vì tôi muốn mọi người đều thấy tôi “rõ như ban ngày”, để đừng ai... chụp mũ tôi “có ý đồ này nọ”. Đa tạ).
Bây giờ thì xin nói đến ông X.
Hồi thời trước – thời mà sau này “được” gọi là ngụy – ông X làm việc cho một hãng tư của ngoại quốc. Ông làm việc lâu năm và rất đắc lực nên ban giám đốc giao cho ông những chức vụ quan trọng với quyền hạn về tài chánh thật rộng rãi. Để thực hiện những chương trình xây dựng đồ sộ của hãng, ông thường xuyên giao dịch với chánh quyền. Nhờ vậy, ông “quen lớn” nhiều trong cả hai giới dân sự và quân sự.
Ở địa vị như của ông, con người dễ bị cám dỗ vì tư lợi. Chẳng có gì khó hết. Chỉ cần “nhắm mắt” một chút là nhà thầu sẽ biết cách đền ơn. Chỉ cần “biết phải quấy” một chút là vô “áp phe” riêng cho mình. Chỉ cần “bóp chẹt bắt bí” một chút là hất chân những đứa không theo bè cánh...
Ông X lại không thuộc hạng “biết làm ăn” như kể trên. Ông lớn lên trong một gia đình theo Khổng giáo, lấy “nhân nghĩa lễ trí tín” làm phương châm, luôn đề cao giá trị đạo đức của con người. Cho nên làm việc cho hãng gần hai mươi năm mà không thấy ông... “xơ múi” chút gì hết ! Bạn bè có đứa chê ông nhát. Ông cười: “Thà tao nhát mà tao giữ tròn liêm sỉ. Cái đó mới là cái khó. Người ta có thể chê tao như mày đã chê tao. Chớ không ai dám khi dể tao hết. Cái phách của tao là ở chỗ đó !”.
... 30 tháng tư 1975. Ông X đã không di tản. Nghĩ rằng mình làm việc cho hãng tư, lại là hãng của ngoại quốc, chắc “họ không làm gì đâu”. Chẳng dè quân mũ tai bèo (Giải phóng miền Nam) và quân nón cối (bộ đội) vào Nam tiếp thu tuốt tuột. Hãng công hãng tư gì, lớn nhỏ gì cũng “đớp” hết ráo (Trước đó, họ có tuyên bố “không đụng tới cây kim sợi chỉ của dân”, và sự thật, họ đã làm đúng như vậy, mới chết ! Bằng cớ là họ đã lấy hết, chỉ chừa có... cây kim sợi chỉ ! Cho nên, có thấy ai thưa gởi rằng bị cách mạng... cướp mất cây kim sợi chỉ đâu ? Vậy mà sao ai cũng nói họ “nói một đàng mà làm một nẻo” hết ! Oan cho họ ! Có điều là với “cây kim sợi chỉ”, người dân không biết... “làm khỉ gì ăn”. Chỉ còn có nước may cái miệng lại để khỏi phải ăn, khỏi phải nói !).
Hãng của ông X bị quân mũ tai bèo mang bí số K7 tiếp thu. May cho ổng: người dẫn đầu toán tiếp thu là người chú bà con đi khu hồi kháng chiến 1945. Nhờ ông này can thiệp nên ông X không bị đi cải tạo, nhưng bị đổi đi “hạ tầng công tác” ở một kho hóa chất (Sự che chở người thân như vậy rất hiếm thấy trong chế độ. Và có lẽ vì vậy mà chưa đầy sáu tháng sau, ông cán bộ đó bị cho “về vườn” mặc dầu chưa tới hạng tuổi !).
Bấy giờ, ông X ăn lương 80 đồng. Trong khi người tài xế cũ của ông lãnh 90 đồng ! Ông được phát lương mỗi tháng hai kỳ. Mỗi kỳ là 40 đồng nhưng bị giữ lại 2 đồng để cho vào sổ tiết kiệm (Nhà Nước lo cho dân chí tình như vậy mà vẫn có người không bằng lòng. Lạ thật !).
Bấy giờ, vì tất cả ngân hàng đều bị tịch thu, nên tiền của mà ông X để trong ngân hàng của ổng kể như đã... cúng cô hồn ! Ông X trắng tay và... trắng mắt.
Bấy giờ, vợ con ông X rã ra đi làm trong mấy tổ hợp. Hai đứa nhỏ nhứt ở nhà dán bao giấy bỏ mối cho bạn hàng ngoài chợ gói đồ. Ông X bán lần xe cộ, bàn ghế tủ...
Nhiều khi ông thầm nghĩ: “Mình đã tự hào giữ tròn liêm sỉ từ mấy mươi năm. Bây giờ... đổi lấy cái ăn cũng không được. Phải chi hồi đó mình nhắm mắt làm bậy, mánh mung chụp giựt đầy túi rồi bay ra ngoại quốc ở, thì bây giờ mình đâu có ngồi đây nhìn cái khổ cực của vợ con ! Riết rồi không biết là mình khôn hay mình dại nữa”.
Hôm nay là ngày ông đi bán chiếc xe đạp của ông. Ông đã tính kỹ: đạp xe ra chỗ thằng nhỏ sửa xe đạp ở góc đường xin nó cho đứng nhờ để bán; ở đó người qua lại cũng đông và người ghé vào bơm bánh hay sửa xe cũng thường; thế nào cũng có người hỏi mua. Sau khi lau chùi sạch sẽ chiếc xe, ông lấy một miếng bìa cứng viết lên đó “Bán xe đạp” rồi khoét lỗ xỏ sẵn dây để mang ra cột tại chỗ. Vừa làm ông vừa nghĩ đến thân phận của mình, đến cái liêm sỉ mà ông đã đeo đẳng từ bao nhiêu năm. Ông cười chua chát: “Cái liêm sỉ không giá trị bằng chiếc xe đạp !”. Bỗng ông nẩy ra một ý, vừa hài hước vừa táo bạo: “Tại sao mình không treo bảng bán cái liêm sỉ ? Cười chơi, sợ gì ?”. Vậy là ông lấy một miếng cạc-tông, nắn nót viết lên đó hàng chữ “Bán cái liêm sỉ. Bảo đảm 20 năm chưa sứt mẻ”. Khoét lỗ xỏ dây xong, ông cho hết vào túi xách, đạp xe ra ngõ.
Thằng nhỏ sửa xe tuổi độ mười hai mười ba. Ốm nhom, đen thui, cười hở lợi. Sáng nào nó cũng kéo chiếc xe hai bánh chở hai thùng gỗ nhỏ và mớ đồ nghề, ra... hành nghề cạnh trụ đèn ở góc đường. Sợ người ta không biết hay sao mà thấy nó có treo trên trụ đèn tấm bảng trắng sơn chữ đỏ “Tại đây sửa xe đạp đủ loại”.
Khi ông X xin đứng nhờ, nó vui vẻ nhận lời ngay:
- Dạ được ! Dạ được ! Ông Hai cứ dựng xe cạnh cột đèn đó, không sao hết. Chỗ này là chỗ “bá tánh” chớ phải của riêng cháu đâu mà ông Hai xin phép !
Rồi nó lấy cái thùng gỗ úp xuống, mời:
- Ông Hai ngồi. Cháu đang lỡ tay !
Nó làm như nếu nó không lỡ tay thì nó có bổn phận phải ngồi... tiếp chuyện ông X vậy ! Ông thấy có cảm tình ngay với thằng nhỏ. Ông cảm ơn rồi lấy hai miếng cạc-tông ra, treo một tấm lên sườn xe đạp, tấm thứ hai đeo lên cổ của mình một cách thích thú !
Ông ngồi xuống thùng gỗ phía sau lưng thằng nhỏ, đốt thuốc hút, ung dung. Thằng nhỏ đang ráp sợi dây sên vào chiếc xe đạp dựng ngược. Nó vừa làm vừa nói chuyện với ông X, mắt vẫn nhìn châm chú vào công việc.
- Ông Hai bán xe rồi lấy gì mà đi ?
- Thì... tôi đi chung xe với bà nhà tôi.
- Ông đèo bà hay bà đèo ông vậy ?
Ông X bật cười:
- Dĩ nhiên là tôi đèo bả chớ !
- Ý ! Bây giờ đổi đời rồi. Mấy bà chở chồng chạy bon bon thiếu gì, ông Hai.
Nói xong, nó cười hắc hắc. Ngừng một lúc, chừng như đang ngẫm nghĩ gì đó. Rồi nó nói tiếp, giọng ngang ngang:
- Bây giờ sao nhiều người bán đồ bán đạc trong nhà quá. Ở xóm của cháu, thấy có người cạy gạch bông nền nhà lên bán đặng ăn, ông Hai à !
Hình ảnh đó làm ông xúc động. Ông không biết phải nói gì. Sự bần cùng của người dân trong chế độ được gọi là ưu việt này, đã vượt quá xa tầm tưởng tượng của con người... thì còn lời gì để nói ? Im lặng, ông hít nhiều hơi thuốc dài...
Thấy sao “người đối thoại” của nó làm thinh, thằng nhỏ quay đầu nhìn lại. Bây giờ nó mới thấy tấm bảng ông đeo trước ngực. Nó ngạc nhiên:
- Ủa ! Ông còn bán cái giống gì nữa vậy ?
- Thì... cháu đọc coi.
- Cái... “liêm” ... Cái “liêm sỉ” là cái gì vậy, ông Hai ?
- Ờ... Cái liêm sỉ là... (Ông ngập ngừng tìm lời để giải nghĩa) Là ... Là cái mà thiên hạ ai cũng quí trọng hết. Người ta coi nó có giá trị như... có giá trị như...
- Như hột xoàn hả ông Hai ?
- Ờ ! Đại loại như vậy. Thiên hạ cho rằng người nào có cái liêm sỉ cũng thấy sáng ngời không kém.
Nổi tánh tò mò, thằng nhỏ chùi vội hai tay vào một miếng giẻ cũng dơ như tay của nó, rồi xoay hẳn người lại, hâm hở:
- Ông Hai cho cháu coi một chút được không ? Từ cha sanh mẹ đẻ cháu chưa nghe nói tới cái liêm sỉ bao giờ, chớ đừng nói thấy.
- À cái này không có coi được. Lớn lên rồi cháu sẽ biết.
Thằng nhỏ tiu nghỉu, quay trở về công việc mà nghĩ: “Chắc là đồ xịn lắm nên ổng sợ !”
Có hai thanh niên dừng lại bơm bánh xe. Cả hai đều đọc bảng treo trước ngực ông X. M ột anh hỏi anh kia:
- Cái liêm sỉ là cái gì vậy mậy ?
Thằng nhỏ nói hớt, vẻ sành sỏi:
- Là đồ nữ trang loại xịn. Mắc lắm đó !
Ông X mỉm cười, chua chát nghĩ: “Chế độ đâu có dạy con người phải có liêm sỉ. Bây giờ, chỉ thấy học đấu tranh, học hận thù, học giết chóc... chớ đâu thấy học làm người có đạo đức, trọng lễ nghĩa để mà biết liêm sỉ là gì ? ‘’
Một anh bộ đội, nón cối nghiêng nghiêng, tấp Honda vào hỏi mua “săm” xe đạp. Thằng nhỏ nói: “Sửa xe chớ không có bán đồ phụ tùng”. Chờ cho anh bộ đội đi khuất, nó quay lại cười cười nói với ông X:
- Ruột xe thì nói ruột xe. Mấy chả nói “săm”. Hồi đầu cháu đâu có biết. Cháu chỉ qua bà xẩm bán nước sâm ở bên kia đường. Thấy cười quá ! Họ nói tiếng gì đâu không hà !
Một thanh niên chở một ông già, ngừng lại nhờ thằng nhỏ siết lại cái đầu bàn đạp. Sau khi nhìn ông X, anh thanh niên hỏi nhỏ ông già:
- Liêm sỉ là cái gì hả ông nội ?
Ông già tằng hắng rồi nói, giọng nghiêm trang:
- Là cái mà nó bắt con người ta phải cẩn thận trong suy tư trong hành động. Nó không cho con người ta làm bậy làm quấy, làm sai đạo lý. Nó bắt con người ta phải biết xấu hổ khi có ý xâm phạm thuần phong mỹ tục. Quí lắm, con thấy không ? Vậy mà thời buổi bây giờ có mấy ai biết nó là gì...
Trả tiền xong, người cháu đợi người ông ngồi đàng hoàng vững chãi trên pọt-ba-ga rồi mới đạp đi. Ông già quay đầu nhìn lại ông X, giống như nhìn một món đồ cổ !
Mặt trời đã lên cao. Cây me già cạnh đó đổ bóng mát rượi xuống chỗ “hành nghề” của thằng nhỏ. Gió thổi hiu hiu. Lá me lăng tăng rụng...
Một ông già râu tóc bạc phơ đạp xe lọc cọc ghé vô nhờ sửa cái thắng. Sau khi... “kiểm tra” lại bộ phận, thằng nhỏ gãi gãi đầu mặc dù tay nó dơ hầy:
- Cha... Vụ này hơi lâu à ông Hai. Cũng năm mười phút à !
- Không sao. Tao đợi. Tao thiếu gì thì giờ.
Nó vội vàng lật úp cái thùng gỗ còn lại, đặt gần chỗ ông X:
- Ông ngồi đây. Có ông Hai này ngồi bán xe, từ sáng giờ không thấy ai hỏi hết. Chắc cũng buồn !
Đó là cách nó giới thiệu để hai người dễ dàng bắt chuyện với nhau, nếu muốn.
Ông già ngồi xuống, gật đầu chào ông X, rồi móc bọc thuốc rê, mời:
- Ông vấn một điếu chơi.
- Cám ơn. Tôi có đem theo thuốc vấn sẵn ở nhà.
Ông X lấy trong túi ra hộp thiếc giẹp màu vàng (loại đựng thuốc điếu 555 ngày xưa) móp méo trầy trụa, mở ra mời lại:
- Ông hút thử thứ này coi.
Ông già cất bọc thuốc vào túi lấy một điếu của ông X để lên môi, đốt. Ổng hít mấy hơi thật dài rồi gật gù:
- Ùm... Một phần Lạng Sơn hai phần Gò Vấp.
- Đúng ! Ông rành quá !
- Một đời hút thuốc mà không rành sao được, ông bạn.
Hai người im lặng thở những hơi khói dài. Giờ đó, đường cũng vắng, chỉ nghe tiếng lách cách sửa xe của thằng nhỏ. Một lúc lâu sau, bỗng ông già tằng hắng rồi nheo mắt nhìn thẳng ông X, giọng ôn tồn:
- Ông bạn à. Tôi nghĩ nếu ông bạn còn chút liêm sỉ thì nên dẹp tấm bảng bán liêm sỉ của ông đi. Chỉ có phường vô liêm sỉ mới khoe khoang khoác lác rằng ta là thế này, ta là thế nọ, ta hơn thiên hạ về đủ mọi mặt vv…. Sự thật, họ không có gì hết. Bọn vô liêm sỉ đó đã chà đạp mọi giá trị tinh thần của con người, đã chối bỏ truyền thống đạo đức của ông cha để lại từ không biết mấy ngàn năm.
Ông X im lặng gật gù nghe. Ông già ngừng một chút để hít mấy hơi thuốc. Rồi tiếp:
- Ông bạn à. Tôi tin rằng ông bạn là người có liêm sỉ. Trực giác cho tôi thấy như vậy. Bây giờ, đem rao bán cái liêm sỉ, ông bạn có thấy đó là hành động thiếu suy nghĩ không ? Nói khùng mà nghe, giả dụ ông bạn có bán được cái liêm sỉ, ông bạn sẽ “trắng tay”. Không còn liêm sỉ nữa thì ông bạn sẽ thành cái gì ?
Ông già ngừng ở đó, nhìn ông X một chút rồi nói gằn từng tiếng:
- Ông bạn sẽ là thằng-vô-liêm-sỉ !
Đến đây, thằng nhỏ đã sửa xong cái thắng. Ông già đứng lên chào ông X, trả tiền rồi đạp xe đi thẳng.
Hút tàn điếu thuốc, ông X thở dài, đứng lên tháo hai miếng cạc-tông cho vào túi xách. Thằng nhỏ ngạc nhiên:
- Ủa ! Bộ ông Hai về hả ?
- Ừ !
- Sao về sớm vậy ?
- Ừ ! Về sớm.
Ông X nói bằng một giọng trống rỗng. Thằng nhỏ ân cần dặn:
- Ông Hai cẩn thận nghe ! Coi chừng tụi nó giựt cái liêm sỉ à. Mấy thằng lưu manh nó giựt bóp của người ta hoài, hà !
Ông X làm thinh đạp xe đi, bỗng nghe như cái liêm sỉ của ông nó nặng như chì. Vậy mà bao nhiêu lâu nay, ngày ngày ông vẫn còng lưng cõng nó để đi tìm một chân trời, một lối thoát, một chút ánh sáng ở cuối con đường hầm … !

