Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Khát dầu

Bùi Tín
Cơn khát này là cơn khát dầu mỏ, một nhiên liệu quý cho mọi quốc gia trong thời công nghiệp hóa. Quốc gia đang khát dầu mỏ một cách cấp bách với quy mô lớn là Trung Quốc.

Tình trạng thiếu dầu và nhiên liệu trên một đất nước khổng lồ với gần 1 tỷ rưỡi dân đang là một vấn đề báo động cấp quốc gia.

Theo thông kê của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA - International Energy Agency) hiện Trung Quốc tiêu thụ đến 10,4 % sản lượng dầu mỏ toàn thế giới, nhưng chỉ tự túc được có 47%, phải nhập đến 53 %, lại từ rất xa. Theo tính toán của các nhà kinh tế Trung Quốc, với đà công nghiệp hóa hiện nay, nhu cầu về năng lượng của Trung Quốc sẽ tăng lên gấp đôi trong 15 năm tới. Nạn khát dầu của Trung Quốc hiện nay đã trầm trọng, với thời gian sẽ càng nghiêm trọng gấp bội. Đây là vấn nạn mang tính chất sinh tử của quốc gia, khi nhóm lãnh đạo đang có tham vọng sớm vươn lên hàng siêu cường toàn diện của thế giới, thậm chí thành siêu cường số một trong một thời gian không xa.

Cơn khát dầu và tham vọng siêu cường giải thích thái độ của Bắc Kinh đối với vùng biển Đông của Việt Nam, vùng biển mà các nước Đông Nam Á mong muốn được gọi một cách chính xác là vùng biển Đông Nam Á. Nhóm lãnh đạo ở Bắc Kinh nhiều lần lớn tiếng khẳng định đây là vùng biển Trung Hoa hoàn toàn thuộc chủ quyền duy nhất của Trung Quốc, không thể tranh cãi, còn nhấn mạnh là thuộc vùng quyền lợi cốt lõi của Trung Quốc. Gần đây cuồng vọng của Trung Quốc tăng thêm khi được biết trữ lượng dầu và khí đốt ở biển Đông thực tế còn lớn hơn phỏng đoán trước đây rất nhiều. Bộ Lãnh thổ và Tài nguyên Trung Quốc thông báo có đến 38 túi dầu mới đã được phát hiện trong vùng biển Đông, những túi lớn nhất ở ngay trong quần đảo Trường Sa.

Tham vọng cực lớn của Trung Quốc sẽ đưa Trung Quốc đến đâu?

Rõ ràng đó là một tham vọng quá đáng, mù quáng, vượt quá xa thế và lực của Trung Quốc, đi ngược lại với pháp luật quốc tế, trái với Luật về biển của thế giới, trái với quyền lợi và chủ quyền của các nước láng giềng. Một số nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia, Philippines và Brunei đã lên tiếng bác bỏ yêu sách ngang ngược của Trung Quốc ở vùng biển Đông. Ngay cả Đài Loan mà Bắc Kinh coi như một tỉnh của họ cũng tranh chấp thẳng cánh với lục địa về một số đảo trong vùng biển này.

Với Việt Nam, Trung Quốc đã lôi kéo được nhóm lãnh đạo cộng sản, trói buộc họ bằng những xiềng xích «16 chữ vàng», «Bốn Tốt», nhưng Bắc Kinh đang vấp phải sự chống đối ngày càng mạnh của một xã hội công dân đang lừng lững tiến bước.

Một cản trở lớn cho tham vọng của Bắc Kinh là từ hơn một năm nay, Hoa Kỳ tuyên bố vùng biển Đông là vùng hàng hải quốc tế, là vùng gắn chặt với quyền lợi quốc gia của Hoa Kỳ và nhiều nước khác, đồng thời Hoa Kỳ đã kịp thời hành động để giành lại thế mạnh ở châu Á, trong vùng Đông Nam Á, Đông Bắc Á, cả vùng Đông và Tây Thái Bình Dương, với hàng loạt tàu chiến hiện đại, thao diễn quân sự, tập trận chung với các nước đồng minh Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Philippines, Indonesia, Ấn Độ, còn cung cấp vũ khí mới cho Đài Loan.

Tất cả những sự kiện trên đã không cảnh tỉnh được Bắc Kinh. Trước đây họ ngộ nhận rằng Hoa Kỳ bị kẹt bởi 2 cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan, bị cuộc khủng hoảng tài chính quấy rầy nên sẽ bỏ trống châu Á. Việc Hoa Kỳ trở lại châu Á trên thế mạnh làm cho họ cay cú, hung hãn, phát cuồng, gây sự với các nước khác. Gần đây nhất, Bắc Kinh công khai ngăn cản Ấn Độ đưa tàu chiến vào thăm hữu nghị vùng biển và cảng Việt Nam, còn cảnh cáo công ty dầu ONGC Videsh của Ấn Độ chuẩn bị khoan dầu ở 2 lô 127,128 thuộc vùng biển tỉnh Phú Khánh. Người phát ngôn Hồng Lỗi của phía Trung Quốc ngang ngược tuyên bố ngày 19/9: «Bất cứ nước nào thăm dò dầu ở vùng này không có phép của Trung Quốc là vi phạm chủ quyền và lợi ích quốc gia của Trung Quốc, là bất hợp pháp».

Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Mỹ của Viện quan hệ quốc tế thuộc Đại học Phúc Đán là Giáo sư Thẩm Đình Lập cũng lên giọng dậm dọa: «Ấn Độ cần nhớ hành động của họ tại Nam Hải (!) sẽ đặt Trung Quốc tới bờ của giới hạn». Phó chủ tịch Viện quan hệ quốc tế Vinh Ưng còn cay cú nói liều rằng: «Việc Ấn Độ xâm nhập vùng này là do phía Việt Nam muốn quốc tế hóa vấn đề, họ nhượng cho phía Ấn Độ đến 70% lợi nhuận khoan dầu, do đó mà Ấn Độ lao vào nơi mà hãng dầu lớn của Anh British Petrolium đã phải từ bỏ ». Phía Trung Quốc còn cho rằng có bàn tay của Hoa Kỳ thôi thúc Ấn Độ chọi lại với Trung Quốc. Phía Ấn Độ đã lập tức phản pháo Bắc Kinh; báo chí New Delhi bác bỏ lời lẽ ngang ngược vô căn cứ của phía Trung Quốc, Công ty ONGC Videsh khẳng định thực hiện hợp đồng như đã ký với phía Việt Nam, coi như phản đối của Bắc Kinh là vô giá trị.

Vậy mà trong vấn đề này báo chí chính thức ở Hà nội vẫn im thin thít.

Trước đó Bắc Kinh đã vấp phải sự phản đối khá mạnh của Philippines. Tháng trước, khi Tổng thống Phi Benigno Aquino gặp Chủ tịch Hồ Cẩm Đào ở Bắc Kinh, ông từng nói rõ các vấn đề tranh chấp ở biển Đông phải được giải quyết giữa 2 nước, và có những vấn đề chung phải được giải quyết theo con đường đa phương. Ông bác bỏ mưu thâm của Bắc Kinh là chỉ có họp song phương, nhằm bẻ từng chiếc đũa một và gạt Hoa Kỳ ra khỏi vùng này.

Trong dịp này Trung tướng Juancho Sabban, tư lệnh quân đội Philippines, nói rõ sẽ tăng cường hải quân trong vùng biển quốc gia và sẽ trang bị vũ khí cho tàu đánh cá để bảo vệ ngư dân của mình trong vùng biển thường bị tàu Trung Quốc thâm nhập. Rõ ràng chính quyền Philippines đã tỏ ra cứng cỏi, đàng hoàng hơn chính quyền ở Hà Nội. Báo chí Philippines gần đây nói nhiều đến mối liên hoàn Hoa Kỳ - Ấn Độ - Nhật Bản - Úc, tất cả cũng là bạn liên minh thân thiết của Philippines, trong chủ trương chung ngăn chặn sự bành trướng phi pháp của chế độ độc đoán ngày càng bị cô lập ở Trung Quốc.

Trung Quốc dù cho nuôi cuồng vọng lớn đến đâu nhưng trái pháp luật quốc tế, trái đạo lý, giữa thời đại mới, khi các chế độ độc đoán độc đảng theo nhau sụp đổ tơi bời dù một thời hét ra lửa, cũng chỉ như húc đầu vào đá. Xem ra còn lâu những cái đầu bành trướng và tay chân của họ mới có thể nhận ra lẽ tất yếu ấy. Để xem cơn khát dầu và cuồng vọng siêu cường sẽ dẫn họ và bộ hạ theo chân họ phiêu lưu đến đâu mới là giới hạn.

Bùi Tín

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Ngoại giao cũng nên nói thật
Ngô Nhân Dụng

Rượu vào, lời ra. Chắc quý vị độc giả còn đang cười về chuyện một nhà ngoại giao Trung Quốc say rượu đem nói tung hê những điều mà các nhà ngoại giao thường tránh không nói; câu chuyện mới được kể lại trên nhật báo Người Việt ngày hôm qua.

Chuyện xảy ra vào tháng 9 năm 2010, nhân vật chính là ông Sa Tổ Khang (Sha Zukang), lúc đó đang đứng đầu Vụ Kinh Tế Xã Hội của Liên Hiệp Quốc.

Trước bá quan văn võ tại một tiệc rượu của các quan chức Liên Hiệp Quốc trong một làng nghỉ mát ở Alpbach, nước Áo, Austria, ông Sa Tổ Khang nói suốt 15 phút, trong lúc đang say. Ông nói thẳng với ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-Moon rằng, “Ông không thích tôi, mà tôi cũng chẳng thích ông!” Bất chấp ngoại giao hơn nữa, khi nói mình ghét Bob Orr, nhà ngoại giao Mỹ ở Liên Hiệp Quốc, Sa Tổ Khang còn giải thích cho dễ hiểu: Vì ông ấy là Mỹ, mà tôi không thích người Mỹ!

Không phải chỉ khi uống rượu vào, lời ra, ông Sa Tổ Khang mới nói kiểu đó. Ông Khang sinh năm 1947, đã làm ngoại giao cho chính phủ Trung Quốc trong 37 năm. Năm 2006, làm việc ở sứ quán tại London, được đài BBC phỏng vấn hỏi ông nghĩ sao khi chính phủ Mỹ cảnh cáo Trung Quốc đang gia tăng ngân sách quân sự, Sa Tổ Khang nói thẳng: “Họ câm cái mồm đi cho được việc! Nước Mỹ mỗi năm chi tiêu về quân sự bằng một nửa số tiền chi của cả thế giới, còn muốn dậy đời ai nữa?” Nhiều người Trung Hoa nghe thế phải cười khoái trá!

Nghe đến chuyện này thì phải nghĩ: Nếu như có một người Việt Nam, một ông Nguyễn Tổ Khang nào đó, cũng dám nói thẳng tuột như ông Khang Tàu này, thì mình nên gửi ngay sang nhiệm sở ở số 32, Ðường Quang Hoa, Bắc Kinh! Có ngày, ông Nguyễn Tổ Khang, sau khi uống vài chén rượu Mao Ðài, cũng dám nói thẳng: “Này, đừng có nói chuyện giả dối hòa bình, hữu hảo gì nữa. Các anh cướp Hoàng Sa ba mươi năm rồi, bao giờ mới trả lại đây?” Hôm sau có bị sứ quán đuổi ngay về Hà Nội, cũng sẽ được nghe bà con cười khoái trá, coi như đáng mặt làm trai!

Tiếc rằng mình chưa có ông Tổ Khang nào mà lại chỉ có một ông Tổ Trác! Ông ấy làm thiếu tá công an biên phòng ở Lạng Sơn, sát biên giới Việt-Hoa. Một điện văn của sứ quán Mỹ ở Hà Nội gửi về nước, mới bị tiết lộ, có nhắc đến ông Tổ Trác ấy. Người Sài Gòn thấy ai gặp họa bất ngờ, bảo là bị “tổ trác!” Một tùy viên chính trị sứ quán Mỹ tường trình buổi đi thăm biên giới Việt-Hoa, sau khi chính quyền hai nước thi hành hiệp định biên giới.

Bữa đó là ngày 19 tháng 11 năm 2009, một ngày sau khi hai chính quyền Việt, Trung ký nhiều văn bản thi hành hiệp ước biên giới đã ký năm trước. Năm trước, ông Nguyễn Tấn Dũng đích thân sang Bắc Kinh để thỏa hiệp cho xong. Hiệp ước này phải ký gấp ngày 31 tháng 12 năm 2008, cho đúng kỳ hạn mười năm mà hai bên đã hẹn khi gặp nhau vào tháng 1 năm 1999. Một điểm bất đồng trong việc cắm cọc biên giới lúc đó là Thác Bản Giốc. Nhân viên ngoại giao Mỹ kể đi thăm thác Bản Giốc và được gặp các sĩ quan biên phòng và một đại diện Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Lạng Sơn. (Không biết người Mỹ này có thể lầm Lạng Sơn với Cao Bằng hay không!)

Bức điện văn thuật: “Trông thấy rõ ràng đang còn say rượu, vị chỉ huy đồn biên phòng, ông ta tự giới thiệu là Thiếu Tá Hoa, cho biết ông mới kết thúc một cuộc họp tham khảo với các đối tác phía Trung Quốc ở bên kia sông. Mỗi tháng họp một lần, hoặc là họp khi có sự cố. Hỏi sự cố như thế nào, hỏi mãi ông mới đưa một thí dụ, nhiều khi có những du khách ngã xuống sông chẳng hạn. Thiếu tá này công nhận Bản Giốc là một địa điểm “nhạy cảm” nhưng không coi là một nơi tranh chấp nóng hổi. Ông ta chỉ cho nhà ngoại giao Mỹ cái cột mốc cắm trên bờ phía Việt Nam, rồi phía Trung Quốc. Còn ở giữa dòng sông, ông nói, không biết chắc biên giới nằm đúng chỗ nào, mà đó là thác nước, cũng chẳng ai đi qua được. Ông thiếu tá tên Hoa này kết luận: “Chỉ có mấy thước ấy mà, có đáng kể gì; miễn là hai nước Việt Nam và Trung Quốc sống hữu hảo để cùng phồn vinh với nhau?”

Ðây là Thiếu Tá Hoa nói, hay là rượu nói? Mấy thước có đáng kể gì! Nói chuyện biên giới hai quốc gia, ít có ai nói như vậy. Người biết nghĩ chắc không nghĩ kiểu này. Rượu vào rồi, ai cũng thấy chỉ mấy thước có đáng kể gì! Chỗ này mấy thước, chỗ kia mấy thước nữa, cứ như thế, cái gì cũng xí xóa được cả! Miễn là hai bên vẫn hữu hảo, cùng phồn vinh, cùng chén chú chén anh suốt dọc 1375 cây số biên giới Việt Hoa! Nếu ai cũng biết xí xóa như ông Thiếu Tá Hoa, thì mọi cuộc tranh chấp biên cương ở khắp thế giới sẽ hòa cả làng hết!

Người Mỹ viết không biết đánh dấu, tên ông này có thể là Hóa, Hòa, hay Hỏa (chắc không người Việt Nam nào, dù là một họa sĩ muốn đặt tên con là Họa). Trong hàng ngũ công an biên phòng ở Lạng Sơn có Thiếu Tá Hoàng Duy Hòa, công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, từng làm việc ở Ðồn Biên phòng Tân Thanh. Có thể là ông này - nếu nhầm thì xin lỗi Thiếu Tá Hoàng Duy Hòa nhé.

Bản công điện của đại sứ Mỹ nhận xét, “Thiếu tá Hòa có lý,” rồi nhắc tới cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 làm chết 20,000 người Việt Nam, lý do được nêu ra chính thức là vì tranh chấp biên giới. Ký kết rồi, người Việt khỏi lo bị giết. Trên đường về thủ phủ tỉnh Cao Bằng (ở đây viết Cao Bằng) nhân viên sứ quán Mỹ còn được chỉ cho coi những làng xóm Việt Nam đã bị quân Trung Quốc san thành bình địa trong cuộc chiến tranh kéo dài hai tháng đó. Ðại Sứ Michalak nghĩ hành động đó cũng là một cách giải thích thêm cho việc ký kết hiệp ước biên giới nhanh chóng. Tức là ông công nhận bài học của Ðặng Tiểu Bình năm 1979 đã được tiếp thu. Nó thấm thía, 30 năm sau vẫn còn hiệu quả. Tôi không tin là ông Michalak hiểu người Việt Nam! Nếu ông nói ý đó công khai, người Việt nào, không cần uống rượu, cũng có thể nói thẳng với ông: Im cái miệng lại đi nào!

Nếu ai cũng nghĩ như ông Michalak thì hai nước Mỹ và Canada không còn những cuộc tranh cãi dai dẳng suốt 200 năm qua về biên giới, đến bây giờ cũng còn tranh tụng! Trước khi ký hòa ước với chính phủ hoàng gia Anh năm 1782 công nhận nước Mỹ độc lập, nhà ngoại giao đại diện cho các thuộc địa Mỹ, ông Benjamen Franklin đã nhiều lần đòi Anh hoàng phải nhường cho nước Mỹ sắp lập cả lãnh thổ Canada; nhưng không thành công. Ðầu năm 1776 chính ông Franklin đã sang Canada mời họ đứng về phía Mỹ chống lại Anh hoàng, và thất bại. Hai nước Mỹ và Canada vẫn sống hòa bình cho tới nay. Những hồ sơ tranh chấp được cất vào tủ lạnh, nhưng vẫn có đó, không bên nào chịu nhường, chẳng ai nghĩ “Mấy thước đất ấy mà, đáng kể gì!” Chỗ này mấy thước, chỗ kia mấy thước, rồi sẽ thành nhiều cây số!

Trong hiệp ước năm 2008, tác phẩm của ông Nguyễn Tấn Dũng, có việc “cưa đôi cho tiện”. Trước đó hai nước cãi nhau về 227 cây số vuông, bên nào cũng cho là thuộc nước mình. Thỏa hiệp năm 1999 không giải quyết được. Năm 2008, đem cưa đôi. Bên ta lấy 113 cây số vuông, bên Tàu lấy 114 cây số vuông. Chênh lệch một cây số vuông ấy mà, đáng kể gì!

Nhưng tại sao người Việt Nam lại đòi đến 227 cây số vuông, nói là của nước mình, mà Trung Quốc không chịu? Giữa hai nước, bên nào có khả năng “nhận vơ” đất của bên kia làm của mình? Trong cuộc chiến 1979, quân Trung Quốc đã di chuyển nhiều cột mốc biên giới đem cắm xa về phía Nam, rồi họ gài mìn chung quanh, đố ai vào mà đổi chỗ đưa trở lại phía Bắc. Ðiều này đã bị chính phủ Hà Nội ghi lại, tố cáo, sách vở còn đó. Nếu tổng số đất đai bị chiếm theo kiểu đó là 200 cây số vuông, mà cuối cùng đồng ý cưa đôi mỗi bên 100, thì coi như nước Việt Nam bị mất 100 cây số vuông rồi! Bây giờ có một học sinh bị đứa nó giật lấy cái bánh; hai bên giằng co một hồi, cuối cùng thỏa thuận chia đôi, thì như vậy có gọi là hợp lý hay không? Ðó là công lý của những thằng đi bắt nạt thiên hạ, trẻ con cũng hiểu.

Lịch sử nước ta nhiều khi có những người lãnh đạo rất bướng bỉnh, cứng đầu. Thời nhà Trần, quân Mông Cổ đã chiếm được nước Ðại Lý ở Vân Nam rồi, đưa thư dụ vua Trần sang chầu. Cuộc bành trướng của đế quốc Mông Cổ khắp Á sang Âu vẫn diễn ra theo kiểu đó. Ông vua nào chịu triều kiến, khấu đầu đại hãn Mông Cổ thì sẽ được tha về. Ai hơi chống lại một chút là đánh, thành quách bị san bình địa, y như mấy làng ở Lạng Sơn vậy. Vua Trần lúc đó đã có ý đi khấu đầu, cho dân được yên. Trần Thủ Ðộ nói: Bệ hạ muốn hàng thì xin chém đầu thần trước! Sau đó, năm 1257 quân Mông đánh, Hà Nội bị san thành bình địa thật.

Không biết nếu hồi đó nếu ông Trần Thủ Ðộ chịu nhục một tý, nước ta tránh được ba lần chiến tranh, thì bây giờ người Việt mình được gọi là người gì? Năm 1776, dân Mỹ nổi lên đòi độc lập. Anh quốc đem quân chinh phạt. Quân Anh có 50,000 ở Bắc Mỹ, sắp gửi thêm 30,000 lính đánh thuê người Ðức. Tướng Washington chỉ có 5,000 quân chưa có đồng phục, cộng với những đội dân quân của các địa phương. Chỉ huy quân đội Anh là Ðô Ðốc Richard Howe gặp các đại biểu Mỹ. Ông nói ông rất thương dân Mỹ, khi dân Mỹ bị quân Anh đánh bại thì, “Tôi sẽ buồn, sẽ đau khổ như mất một người em vậy.” Một đối thủ chính trị của Benjamen Franklin, John Adams trong phái đoàn Mỹ năm người thuật lại, Dr. Franklin nghiêng mình, mỉm cười, với tất cả vẻ hồn nhiên thường thấy khi ông nói chuyện cũng như khi ông viết, trả lời: “Kính thưa huân trước, chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để tránh cho huân tước khỏi nỗi đau lòng đó!”

Mà lúc nói câu đó ông Benjamen Franklin không say rượu. Chắc Trần Thủ Ðộ khi xin được chém đầu cũng tỉnh táo chứ không say. Những ai nghĩ rằng việc ngoại giao cứ phải nhún nhường, nhẫn nại chịu đựng, nên nhớ lại các tấm gương này. Không phải cứ nhường thì được yên thân. Nhiều lúc phải nói thẳng, ngẩng đầu lên mà nói thẳng.

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Đại bản doanh CIA ở Afghanistan bị tấn công

Một khu vực được cho là căn cứ của Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đặt tại Afghanistan bất ngờ bị tấn công hôm qua.

Image
Lực lượng an ninh Afghanistan đang đứng gác tại Kabul. Ảnh: AFP
AFP dẫn lời người phát ngôn Bộ Nội vụ Afghanistan Siddiq Siddiqui cho hay cảnh sát nghe thấy tiếng súng nổ trong vài phút ở bên trong tổ hợp khách sạn Ariana, tại thủ đô Kabul. Sự việc này xảy ra vào khoảng 21h15 theo giờ địa phương.

Tuy nhiên, ông Siddiqui cho biết thêm rằng các lực lượng sở tại không thể vào phía bên trong khách sạn, vì khu vực này thuộc quyền kiểm soát của lực lượng liên quân nước ngoài và nó nằm ngoài tầm ảnh hưởng của cảnh sát bản địa. Khách sạn Ariana tọa lạc tại khu vực được đảm bảo an ninh cẩn mật nhất tại Kabul, với vị trí rất gần sứ quán Mỹ và các căn cứ quân sự của NATO.

Trong khi đó, một nguồn tin giấu tên từ chính phủ Afghanistan cho hay khu tổ hợp khách sạn Ariana là đại bản doanh của CIA. Một quan chức Mỹ tại Washington cũng xác nhận có một cuộc tấn công nhằm vào một cơ sở của Mỹ tại Kabul. Ông này cho hay tình hình vẫn còn chưa ổn định và một cuộc điều tra đang được tiến hành.

CIA hiện từ chối bình luận về vụ việc, nhưng cơ quan tình báo Afghanistan cho hay ít nhất một kẻ tấn công đã bị tiêu diệt, BBC đưa tin. Một nguồn tin tình báo Afghanistan cho biết: "Điều duy nhất chúng tôi có thể xác nhận đó là CIA có lẽ đã mời ai đó vào bên trong khách sạn, và người này hóa ra lại là một kẻ tấn công. Đây chỉ là một suy luận theo lôgic".

Một nguồn tin thân cận của dinh tổng thống Afghanistan còn cho biết một chiếc xe của Quân đội Quốc gia Afghanistan (ANA) chạy qua khu vực khách sạn Ariana khi các tiếng nổ được ghi nhận. Các nhân viên của CIA đã bắn vào chiếc xe này vì nghĩ rằng nó đã tấn công họ. Ít nhất hai binh sĩ ANA, một nhân CIA và một lính gác phủ tổng thống Afghanistan bị thương vì cuộc đọ súng nhầm.

Phát ngôn viên sứ quán Mỹ tại Kabul, Gavin Sundwall cũng không đưa ra phát biểu nào về vụ tấn công nhằm vào đại bản doanh của CIA. Trong khi đó, thiếu tá Jason Waggoner, người phát ngôn của Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế (ISAF) do NATO lãnh đạo, xác nhận có những tiếng súng nổ gần khách sạn Ariana nhưng không cho biết thêm chi tiết.

Vụ tấn công mới nhất này xảy ra tại thủ đô Kabul không lâu sau khi các tay súng phiến loạn có cuộc giao tranh kéo dài 19 giờ với mục tiêu tấn công là sứ quán Mỹ, và cả trụ sở NATO, khiến ít nhất 25 người thiệt mạng. Sự việc này cũng xảy ra ngay sau khi cựu Tổng thống Afghanistan Burhanuddin Rabbani bị ám sát ít ngày trước.

Mỹ cho rằng mạng lưới khủng bố Haqqani đứng sau cuộc tấn công nhằm vào sứ quán Mỹ hôm 13/9. Thậm chí, Mỹ còn khẳng định chính phủ Pakistan có liên quan tới việc ủng hộ nhóm khủng bố có dính líu với Al-Qaeda. Diễn biến này khiến quan hệ Mỹ - Pakistan tiếp tục căng thẳng.

Hà Giang

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Linh hồn 'Quân Ðội Nhân Dân' lâm nguy
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Vừa qua, một đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam đã sang Bắc Kinh theo lời mời của phía Trung Quốc.

Image
Quân đội Việt Nam duyệt binh nhân dịp Hội Nghị Bộ Trưởng Quốc Phòng ASEAN tại Hà Nội năm 2010. (Hình: Carolyn Kaster/AFP/Getty Images)


Ðiều khác thường ở đây là đoàn chính trị này của quân đội nhân dân gồm 6 chính ủy quân khu và một số cục trưởng của Tổng Cục Chính Trị được dẫn đầu bởi Trung Tướng Ngô Xuân Lịch, chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị.

Tại sao lúc này hơn một chục tướng lãnh đứng đầu ngành chính trị của toàn quân lại tề tựu đông đủ chưa từng có như thế để sang trình diện và họp mặt với phía Trung Quốc?

Ngành chính trị - gồm các chính ủy, chủ nhiệm chính trị, cục trưởng chính trị, chính trị viên... luôn được coi là ngành hệ trọng nhất trong mạng lưới lãnh đạo và chỉ huy của quân đội kiểu cộng sản. Tổng Cục Chính Trị là cơ quan số 1, trực tiếp của Quân Ủy Trung Ương Ðảng Cộng Sản, luôn do tổng bí thư của đảng kiêm nắm chức bí thư Quân Ủy. Trước đây, trong thời chiến, chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị thường là một đại tướng, là ủy viên Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng, về nguyên tắc chỉ ở dưới bộ trưởng Quốc Phòng kiêm tổng tư lệnh. Có dạo theo quân đội Trung Quốc, nguyên tắc “chính ủy tối hậu quyết định” được áp dụng trong QÐND Việt Nam, khi giữa tư lệnh và chính ủy có ý kiến khác nhau thì ý kiến của chính ủy là ý kiến quyết định cuối cùng, viên tư lệnh phải tuân theo. Ngành chính trị do đó là ngành hệ trọng nhất, được giải thích là linh hồn, là bản mệnh của quân đội, với hình ảnh người cán bộ chính trị:

Ngang lưng thì thắt lập trường

Ðầu đội chính sách, tay cầm chủ trương

Vậy thì tại sao phía Trung Quốc lại triệu tập đoàn cán bộ cao nhất, đông đủ nhất trong ngành chính trị của quân đội Việt Nam sang Bắc Kinh, để làm gì?

Có thể dễ dàng nhận ra điều ấy trong bối cảnh của quan hệ Việt-Trung hiện nay. Phía Trung Quốc lo ngại rằng thái độ chống bành trướng đang biểu lộ ngày càng rõ trong xã hội Việt Nam với 11 ngày Chủ Nhật biểu tình công khai liên tiếp có thể ảnh hưởng đến tinh thần của quân đội Việt Nam. Họ càng lo ngại khi nhiều tướng lãnh, khá nhiều cựu chiến binh và cả một số sĩ quan tại ngũ cũng biểu thị tinh thần yêu nước, ý chí bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, kiên cường chống lại mọi hành động xâm lấn bành trướng của phía họ. Họ muốn nắm chắc, làm chủ tình hình, tránh bất ngờ. Họ từng bị quân đội và nhân dân Việt Nam giáng trả quyết liệt năm 1979. Cuộc chiến tranh cuối cùng gần đây nhất của Việt Nam là cuộc chiến Việt-Trung, được gọi là cuộc chiến tranh giữa những người anh em, giữa những người đồng chí.

Qua mấy ngày làm việc ở Bắc Kinh, đoàn cán bộ chính trị của quân đội Việt Nam đã tỏ ra thái độ như thế nào?

Cứ theo những gì được công bố qua những tin tức và thông báo của 2 bên mọi sự diễn ra êm đẹp, trôi chảy, rất là hữu nghị, thân thiết. Ðoàn Việt Nam được Phó Chủ Tịch nước kiêm Phó Bí Thư Quân Ủy Trung Ương Tập Cận Bình tiếp rất nồng hậu. Ông Tập Cận Bình sẽ thay ông Hồ Cẩm Ðào nhận chức nhân vật số 1 - tổng bí thư kiêm chủ tịch nước - từ cuối năm 2012, sau đại hội đảng lần thứ XVIII.

Ông Tập Cận Bình căn dặn phía Việt Nam hãy thực hiện “3 điều kiên trì: kiên trì hiệp thương hữu nghị, kiên trì tầm nhìn đại cục và kiên trì hợp tác 2 bên cùng có lợi.”

Chỉ vài câu ngắn gọn nhưng thâm thúy vô cùng. Hiểu rộng ra, “kiên trì hiệp thương hữu nghị” là dù cho phía Trung Quốc có trưng ra hình lưỡi bò, long trọng tuyên bố toàn vùng biển Ðông là thuộc sở hữu cốt lõi không ai được tranh cãi, còn cho tàu chiến vào vùng này, ngăn cấm ngư dân Việt đánh cá, ngăn cả tàu Ấn Ðộ vào thăm hữu nghị Việt Nam... thì phía Việt Nam không được và không nên phản đối, bình luận, không được để cho dân biểu tình, mà chỉ nên hiệp thương một cách ôn hòa hữu nghị với nhau.

“Kiên trì nhìn đại cục” nghĩa là phía Việt Nam chỉ nên coi những việc như nhân nhượng chút ít đất đai, vài vùng biển nhỏ, vài quần đảo chỉ là chuyện nhỏ, mà chuyện lớn là tình hữu nghị truyền thống, là “16 chữ Vàng,” là “quan hệ Bốn Tốt,” trên đại cục 2 nước là láng giềng tốt không có gì sai, trên đại cục 2 nước là bạn tốt không có gì xấu, trên đại cục là đồng chí tốt không chơi xấu nhau, trên đại cục cũng là đối tác tốt không làm hại nhau. Có gì xấu chỉ là về tiểu tiết, không đáng kể, nên bỏ qua.

“Kiên trì hợp tác 2 bên cùng có lợi,” 2 bên cùng thắng có nghĩa là không đấu tranh chống đối, tố cáo nhau làm gì cho lôi thôi, phức tạp, hãy chỉ coi nhau là bạn bè, anh em, đồng chí, luôn giữ hòa khí với nhau, hợp tác chiến lược toàn diện, sẽ duy trì tình anh em hòa thuận, có lợi cho cả 2 bên, chống đối nhau chỉ bất lợi, thiệt hại cho cả 2 bên.

Trung Tướng Ngô Xuân Lịch và toàn đoàn đã hoàn toàn tán thành ý kiến được coi như chỉ thị của ông Tập Cận Bình, còn cam kết rằng: “Quân đội 2 nước sẽ gương mẫu thực hiện thỏa thuận giữa 2 đảng, 2 nước là giải quyết những vấn đề tồn tại giữa 2 nước bằng đối thoại song phương.” Ông còn nhấn mạnh “phía Việt Nam không có ý định quốc tế hóa các vấn đề bất đồng về biển đảo, không kéo nước này chống nước khác.”

Ðược lời như cởi tấm lòng, phía Trung Quốc còn có mong muốn gì hơn.

Lẽ ra người đứng đầu ngành chính trị của quân đội phải đứng vững trên lập trường bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền tuyệt đối của đất nước, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu của quân đội, thì Tướng Lịch đã hoàn toàn từ nhiệm nghĩa vụ đó. Lẽ ra ông Tướng Lịch phải nêu cao chính sách đoàn kết toàn dân chống bành trướng và xâm lược bất cứ ở đâu đến, nhưng ông đã thực hiện chính sách hòa hoãn, hàng phục bọn bành trướng, để tiếp tục đàn áp người yêu nước theo yêu cầu của Bắc Kinh.

Ngay giữa lúc Trung Quốc cho tàu chiến, tàu khoan dầu, tàu tuần tra hải giám vào vùng biển Việt Nam, xua đuổi ngư dân ta, đuổi cả tàu Ấn Ðộ và hãng dầu Ấn Ðộ ra khỏi vùng biển ta, thì Tướng Lịch và cả hơn 10 ông tướng chính trị đều im thin thít, không một lời phản đối, chất vấn, cảnh báo, coi như 2 bên đang sống hoàn toàn hòa thuận với nhau. Vậy họ đứng trên lập trường nào, theo chủ trương chính sách của ai, trên lập trường bảo vệ Tổ quốc như lời thề danh dự của Quân Ðội Nhân Dân, hay trên lập trường hợp tác với thế lực bành trướng và xâm lược? Rõ ràng đó là lập trường “hèn với giặc, ác với dân” phơi bày công khai. Lập trường này của ngành quốc phòng còn tệ hơn của ngành ngoại giao, có khi còn biết lên gân đôi chút.

Trở về nước, họ sẽ ăn nói ra sao, sẽ trả lời ra sao cho toàn thể quân đội và cho toàn dân?

Ðây phải chăng là đòn sát hạch hạnh kiểm chính trị của quan thầy đối với thuộc quốc nhằm chuẩn bị cho chuyến đi của tổng bí thư mới Nguyễn Phú Trọng sắp sang trình diện Bắc triều?

Và phải chăng đoàn cao cấp nhất về chính trị của quân đội đã mang linh hồn của toàn thể binh sĩ đi rao bán ra nước ngoài. Ðất nước quả là lâm nguy, lâm đại nguy.

Xin để toàn thể tướng lãnh, sĩ quan, binh sĩ và toàn dân ta nhận xét và đánh giá trên lập trường bảo vệ Tổ quốc, một cách khách quan và công bằng.

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Tàu cá ngư dân Quảng Ngãi lại bị tấn công khi tránh bão

Tàu cá ngư dân Quảng Ngãi lại bị tấn công khi tránh bão
Một chiếc tàu đánh cá Việt Nam bị bão đánh đắm
(DR)

Tú Anh
Biên phòng Quãng Ngãi báo động « tàu chiến lạ » lại tấn công ngư dân Việt Nam. Theo bản tin khẩn của báo Lao Động thì vào sáng nay 26/09/2011, đơn vị biên phòng cảng Sa Kỳ loan báo là nhận được tin hai tàu đánh cá của ngư dân Quãng Ngãi bị tàu nước ngoài tấn công.

Vụ việc xảy ra từ ngày 24/09/2011, cách nay hai hôm khi tàu cá của thuyền trưởng Trương Văn Đức và tàu cá của ông Trương Tài đã chạy vào quần đảo Hoàng Sa tránh bão. Khi hai tàu cá vào đảo Trụ Cẩu thì bị « tàu chiến nước ngoài » xua đuổi, phải chạy ra khỏi khu vực đảo Trụ Cẩu.

Thế nhưng , mặc dù đã chạy trốn được 30 hải lý, thì tàu chiến mà biên phòng Việt Nam gọi là « tàu lạ » đuổi theo đâm vào tàu cá Quãng Ngãi, xịt nước và bắn vào tàu cá làm cháy cabin và máy liên lạc. Cuối cùng hai tàu đánh cá phải chạy vào đất liền.

Biên phòng Việt Nam không cho biết hải quân nước nào đang chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và vì sao có thái độ vừa không tôn trọng luật hàng hải quốc tế gặp tàu lâm nạn phải cứu mà còn bất nhân nổ súng vào ngư dân trốn bão.

Đây không phải là lần đầu tiên ngư dân Việt Nam nói chung và ngư dân Quãng Ngãi nói riêng bị tàu Trung Quốc hà hiếp thậm chí sát hại trong khi đánh cá trong vùng ngư trường truyền thống.

RFI

User avatar
CarteNoire
Posts: 374
Joined: Mon Sep 21, 2009 11:58 pm

Post by CarteNoire »

[center]Bản chất đố kị tôn giáo của chế độ CSVN

Trần Đức Tường[/center]
Như thường lệ hai năm một lần, hôm 23/9/2011 vừa qua Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ công bố một bản Phúc Trình về Tự Do Tôn Giáo trên thế giới. Bản phúc trình này dựa trên những dữ kiện điều tra, theo dõi về chính sách tôn giáo và những vi phạm quyền tự do tôn giáo tại 198 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới do Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế Hoa Kỳ, USCIRF đệ trình và đề nghị.


Phúc Trình Tự Do Tôn Giáo Của Hoa Kỳ


Năm nay, Ủy Ban này đã đề nghị với hành pháp Hoa Kỳ liệt kê một số quốc gia có chính sách vi phạm trầm trọng quyền tự do tín ngưỡng cần phải quan tâm đặc biệt, trong đó có 8 quốc gia đã nằm trong danh sách đen CPC từ những lần điều tra trước đây là Miến Điện, Trung Quốc, Eritrea, Iran, Bắc Triều Tiên, Ả Rập Saudi, Sudan và Uzbekistan. Nhưng ngoài những nước này Ủy Ban còn đề nghị thêm 10 quốc gia còn có nhiều vi phạm hay thiếu sót về tôn trọng tự do tôn giáo. Đó là: Afghanistan, Ai Cập, Irak, Nigeria, Pakistan, Nga, Tajikistan, Turkmenistan, Venezuela và Việt Nam. Thực chất, sau khi khai thác bản báo cáo của Ủy Ban, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ mới là cơ quan quyết định ghi vô hay lấy ra khỏi danh sách CPC các quốc gia do Ủy Ban đề nghị. Cũng nên biết là Việt Nam đã từng bị nằm trong danh sách CPC hồi năm 2004 và tuy trong những lần điều tra kế tiếp Ủy Ban đã đề nghị đưa Việt Nam trở lại danh sách này, nhưng vì nhiều lý do kinh tế, chính trị khác chính quyền Hoa Kỳ vẫn chưa chấp thuận.

[center]Image[/center]


Liên quan đến Việt Nam, bản phúc trình đã dành 20 trang để nêu lên những nhận xét tích cực cũng như tiêu cực về hiện tình thực tế của các tôn giáo tại nước ta. Tựu trung lại thì những điểm tiêu cực vẫn nhiều và nặng hơn những điểm tích cực. Điều đáng chú ý là bản phúc trình đã đưa ra những bằng chứng cụ thể về các vi phạm nhân quyền trong lãnh vực tôn giáo do chế độ CSVN là thủ phạm đối với tất cả các tôn giáo tại nước ta.

Trước những bằng chứng quá hiển nhiên do các tôn giáo cung cấp, do các quan sát viên của những tổ chức phi chính phủ ghi nhận, do những phóng viên quốc tế chứng kiến và nhất là do chính những nạn nhân và người trong cuộc khiếu kiện hay thông tin trên các trang mạng thế giới, nhà cầm quyền CSVN không thể nào chối cãi các sự việc vi phạm tự do tôn giáo. Họ chỉ còn có một luận điệu cũ rích mà lần nào bị thế giới tố cáo, chỉ trích về chà đạp nhân quyền là lại mang ra đối đáp với các phóng viên nước ngoài. Ai nấy đều phát ngấy vì họ đoán trước được câu trả lời của bao đời phát ngôn nhân. Lần này người phát ngôn mới được bổ nhậm đã lập lại: “Tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân được quy định rõ trong Hiến pháp, được tôn trọng và được bảo đảm trên thực tế. Điều này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận… Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho giai đoạn từ tháng 7/2010 đến tháng 12/2010, mặc dù đã ghi nhận những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này, vẫn tiếp tục đưa ra những đánh giá không khách quan, trích dẫn những thông tin sai lệch về Việt Nam“.

Ai cũng biết bản Hiến Pháp của nước Việt Nam hiện nay được viết khá giống với những nước dân chủ tiến bộ, nghĩa là đầy đủ các giá trị nhân quyền mà cả nhân loại đã coi là đương nhiên. Tuy nhiên, trong khâu áp dụng thì nhà nước không những không tôn trọng các điều khoản của Hiến Pháp mà còn lập ra luật, ban hành các chỉ thị, và cho nhân viên các cấp thường xuyên làm ngược lại những điều khoản trong Hiến Pháp. Ngay trong bản Phúc Trình Về Tự Do Tôn Giáo, Hoa Kỳ cũng biết rõ chuyện này khi họ viết “Hiến Pháp và các bộ luật cũng như những chính sách khác bảo vệ quyền tự do tôn giáo, nhưng trong thực tế, chính quyền quản lý và trong nhiều trường hợp hạn chế tự do tôn giáo. Thường thường chính quyền tôn trọng tự do tôn giáo đối với hầu hết các nhóm tôn giáo có đăng ký (được công nhận), tuy nhiên, đối với những cộng đồng không được công nhận ngay cả những cộng đồng được công nhận vẫn bị đàn áp“.

Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng tường trình: “Bà ngoại trưởng Clinton, trong các cuộc hội đàm với những quan chức chính quyền, đã kêu gọi phải không ngừng có những tiến bộ về tự do tôn giáo. Những quan chức khác của Bộ Ngoại Giao cũng đã nêu vấn đề tự do tôn giáo trong những cuộc gặp gỡ với những giới chức trong chính quyền trong năm qua“.


[center]Image
Tù nhân linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý[/center]


Những lý do chính thức được nhà cầm quyền CSVN nêu ra để làm ngược lại những điều quy định trong hiến pháp liên quan đến tự do tôn giáo là vấn đề “an ninh, ổn định” và “phá hoại tình đoàn kết dân tộc”. Trong khuôn khổ này, họ biện hộ cho những hành động đàn áp bằng cách vu khống cho các tôn giáo là có hoạt động chính trị, có quan hệ với những “thế lực thù địch” nước ngoài; hoặc gây chia rẽ tôn giáo, gây hiềm khích, vv…

Điều đáng chú ý nữa được bản Phúc Trình của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ghi nhận là “Những điều ghi trong Hiến Pháp về tự do tôn giáo đã không được diễn dịch một cách thống nhất ở khắp mọi nơi. Sự lừng khừng của chính quyền và cách làm việc thơ lại rùa bò đã hạn chế tự do tôn giáo của dân“.

Khi người phát ngôn CSVN được chỉ thị đưa ra lời tuyên bố trên đây, nói rằng tự do tôn giáo có ghi trong Hiến Pháp, thì thế giới biết ngay nhà nước Trung Ương đang dọn chỗ để có thể đổ lỗi cho cán bộ địa phương làm sai. Nhưng thực chất, những hành động vi hiến, chà đạp tự do tôn giáo xuất phát từ bản chất CSVN và từ lãnh đạo trung ương. Các bài bản đối phó với tôn giáo đi từ Trung Ương xuống đến các địa phương trên cả nước theo 3 hệ thống cán bộ đặc trách tôn giáo của Đảng, Nhà nước, và Mặt trận tổ quốc. Bản phúc trình còn ghi rõ thái độ: “Trong nhiều trường hợp, quan chức chính quyền địa phương đã nói với các vị lãnh đạo tôn giáo rằng luật pháp quốc gia KHÔNG áp dụng trong địa giới của họ“.

Trong lời tuyên bố phản bác bản phúc trình, người phát ngôn Lương Thanh Nghị còn khẳng định là Hoa Kỳ đã “đánh giá không khách quan, trích dẫn những thông tin sai lệch về Việt Nam“. Vậy câu hỏi được đặt ra là đánh giá và thông tin về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam của các quan sát viên quốc tế đang hiện diện ở nước ta có sai lệch không? Câu trả lời gần nhất có thể tìm thấy trong chuyến kinh lý mục vụ giáo phận Kontum vừa qua của Đức Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli, Đại Diện Tòa Thánh không thường trú tại Việt Nam.



Đại Diện Tòa Thánh thăm viếng giáo phận Kontum

[center]Image[/center] Trước khi nói về chuyến viếng thăm Việt Nam lần thứ 3 và cụ thể là tại giáo phận Kontum của Đức Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli kể từ ngày 13/01/2011 là ngày ngài được Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI chỉ định làm Đại Diện Tòa Thánh không thường trú tại Việt Nam, thiết tưởng cũng nên tìm hiểu về chức vụ và vai trò của ngài.

[center]Image[/center]

Tòa Thánh Vatican đã thiết lập quan hệ cấp khâm sứ với Việt Nam từ đầu thế kỷ trước, chính xác là từ năm 1925. Tòa khâm sứ từ đó được đặt tại kinh đô Huế. Năm 1945 Huế không còn là kinh đô nữa nên tòa khâm sứ đã được chuyển ra Hà Nội năm 1950. Sau hiệp định Genève 1954, miền Bắc Việt Nam rơi vào tay Việt Minh và Đức Khâm Sứ cùng đoàn tùy tùng đã bị trục xuất ngày 15/9/1959. Cũng kể từ năm 1959 Tòa Thánh Rôma đã thiết lập tòa khâm sứ tại Sài Gòn. Sau ngày 30/4/1975, chính phủ lâm thời Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã yêu cầu Khâm Sứ đương thời là Đức Cha Henri Lemaitre rời khỏi Việt Nam và đoạn giao với Tòa Thánh Vatican. Ngày 19/12/1975 Đức Cha Lemaitre rời Sài Gòn. Kể từ đó, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam bước vào thời kỳ đen tối nhất, bị bức hại, bị tước đoạt các cơ sở bác ái, tu hành, thờ phượng. Nhiều vị tu sĩ và giáo dân bị bắt đi giam cầm nhiều thập niên và nhiều người đã chết trong tù.

Vào cuối thập niên 80, chủ nghĩa cộng sản phá sản trên toàn thế giới. Một vài nước còn sót lại đã phải xoay chiều không còn dám lộng hành bất chấp quốc tế như trước đây nữa. Họ đã phải mở cửa, từ bỏ đấu tranh giai cấp, lạy lục các nước tư bản để mong được hội nhập nhằm sống còn. Giữa lúc nhân dân các nước cộng sản cũ đứng lên lật đổ độc tài đòi nhân quyền và tự do tôn giáo, CSVN cũng phải tìm cách lân la với Vatican tuy không phải là siêu cường kinh tế hay quân sự nhưng là siêu cường về tinh thần, tâm linh. Trong lúc đó, Vatican cũng có nỗ lực để cứu giúp đoàn chiên Việt Nam đã chịu bao nhiêu đắng cay trong hàng chục năm dưới chế độ độc tài thù hằn tôn giáo. Vì đôi bên cùng có nhu cầu mà Hà Nội đã vận động để được Đức Giáo Hoàng tiếp kiến, và kết quả của những cuộc đàm phán là Hà Nội đã chấp thuận sự hiện diện của một vị Đại Diện Đức Thánh Cha tại Việt Nam dù vị này chưa thường trú tại Việt Nam.

Vì giữa Vatican và Việt Nam hiện chưa thiết lập bang giao chính thức, nên Đức Tổng Giám Mục Girelli chưa phải là Khâm Sứ hay Sứ Thần Tòa Thánh tại Việt Nam. Nhưng với tư cách vị Đại Diện Đức Giáo Hoàng, ngài có hai nhiệm vụ song song: Thứ nhất là đẩy mạnh những quan hệ giữa hai quốc gia (Việt Nam và Vatican); thứ nhì là duy trì những mối liên lạc giữa Tòa Thánh với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Về mặt tôn giáo thì rõ ràng Đức Cha Đại Diện là người thay mặt Đức Giáo Hoàng và được sự kính mến của toàn thể giáo hội Công Giáo Việt Nam, đặc biệt trong 3 ngày kinh lý mục vụ giáo phận Kontum vừa qua. Để được gặp mặt ngài nhiều đồng bào thượng ở sâu trong rừng đã phải lội suối, băng đèo hơn 40 cây số. Có người đi xe máy, có người đi xe kéo nông cụ… Dọc đường ngài đi qua, hàng ngàn giáo dân đứng hai bên chào đón, có những đoàn cồng chiêng của anh em thượng hợp tấu dưới trời mưa tầm tã… Chính Đức Đại diện cũng không kìm nổi sự xúc động trước lòng yêu mến, hiếu thảo và trung thành của con cái giáo phận Kontum đối với Đức Thánh Cha mà ngài là Đại Diện. Như vậy đối với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam thì Đức Tổng giám Mục Leopoldo Girelli quả thật đã là Sứ Thần Tòa Thánh.



Thái Độ của Nhà Nước Đối Với Cuộc Viếng Thăm


Trên mặt ngoại giao, chuyến viếng thăm của Đức Đại Diện Tòa Thánh được đánh dấu bằng 2 cuộc tiếp xúc.


Ngày thứ nhì sau khi tới Kontum, sáng ngày 10/9, Đức Cha Girelli đã tới thăm xã giao UBND tỉnh Kontum. Tháp tùng ngài có Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh, Giám Mục giáo phận Kontum và một số linh mục chức sắc. Tiếp đón phái đoàn ngay từ tiền sảnh Hội Trường trụ sở UBND là ông Phó Chủ Tịch UBND tỉnh Kontum và một số quan chức tỉnh. Buổi tiếp xúc tuy ngắn ngủi khoảng chừng 15 phút, nhưng đã diễn ra trong tinh thần tương kính, lịch thiệp. Ông Phó chủ tịch đã cáo lỗi vì ông Chủ tịch bận công tác xuất ngoại và đã tặng Đức Cha Đại Diện Tòa Thánh một bức tranh Nhà Rông cao nguyên.

Sau nhiều lần hò hẹn, chiều hôm 10/9/2011, lúc 17giờ30 Đức TGM Leopoldo Girelli, Đại Diện Tòa Thánh cùng phái đoàn đã tới chào UBND tỉnh Gia Lai. Theo bản tin của Nhóm Truyền Thông Giáo Phận Kontum thì “Trước khi đến chào thăm Chính quyền tỉnh Gia Lai, Cha Tôma Nguyễn Văn Thượng nhận được nhiều cuộc điện thoại từ Mặt trận Tỉnh mời đoàn lên kịp giờ hẹn (5 giờ 30 chiều). Đoàn xe đi vào cổng chính và dừng ngay tiền sảnh của UBND Tỉnh Gia Lai, đúng 5 giờ 28 phút. Cửa nhà khách Tỉnh im lìm không mở, phái đoàn quay nhìn chung quanh thì thấy có một căn phòng ở trên kia tầng lầu có một căn phòng cửa bật đèn và có mấy người đứng chờ sẵn trên đó. Phái đoàn đã đi lên tầng lầu đó…“

Phái đoàn Tòa Thánh đã được ông Đào Xuân Liên, phó chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai cùng với khoảng 7 người khác tiếp kiến. Nội dung những lời phát biểu của ông Liên là một bài tuyên truyền về chính sách tôn giáo của CSVN và nhắn nhủ Đức TGM Đại Diện Tòa Thánh và Đức Cha Oanh phải dạy dỗ giáo dân sống “tốt đời đẹp đạo”. Chắc hẳn Đức Cha Girelli trong 3 lần tới thăm Việt Nam cũng nắm được tình hình tôn giáo tại Việt Nam và những vụ vi phạm tự do tôn giáo không những đối với Công Giáo và còn đối với Phật Giáo, Tin Lành, Hòa Hảo, Cao Đài, và các tôn giáo khác nữa. Vì vậy Đức TGM Leopoldo Girelli đã nêu thẳng với ông Đào Xuân Liên: “Tôi xin chúc cho chính quyền và nhân dân tỉnh Gia Lai được bình an và kinh tế phát triển phồn thịnh hơn trong tương lai, đồng thời xin chính quyền cũng quan tâm tới quyền của người dân và quyền tự do tôn giáo của họ. Xin chân thành cám ơn cho những thiện cảm và sự tích cực để có cuộc gặp gỡ này“. Tại điểm này, ông Đào Xuân Liên và UBND Gia Lai biết Đức TGM Girelli đã nắm rõ tình hình tôn giáo tại Gia Lai và trên cả nước. Họ im bặt. Theo nhóm Truyền Thông Giáo Phận thì đây là cuộc tiếp khách quốc tế gượng gạo và bất lịch sự nhất của UBND tỉnh Gia Lai.

Sau khi rời UBND Gia Lai, phái đoàn đã đến Trung Tâm Truyền Giáo Pleichuet do các cha Dòng Chúa Cứu Thế phụ trách để sinh hoạt, cầu nguyện với giáo dân Jarai. Đức TGM Girelli dự trù sẽ nghỉ qua đêm tại nhà dòng Pleichuet để sáng sớm hôm sau dâng lễ trước khi khởi hành đi Ban Mê Thuột. Cay cú vì câu nhắc nhở ban chiều của TGM Girelli, lãnh đạo tỉnh Gia Lai “ra lệnh miệng” không cho Đức TGM nghỉ lại đêm tại nhà dòng mà phải quay trở về Kontum. Phái đoàn đành cùng anh chị em giáo dân Jarai đốt lửa trại, ca vũ trong niềm vui hy vọng và trở về Kontum.

Những tưởng như vậy thì ngày hôm sau buổi lễ đại trào tại Pleichuet sẽ bị bãi bỏ. Nhưng sau khi ngủ chưa đầy 4 tiếng qua đêm tại Kontum, phái đoàn đã trở lại đúng 5 giờ 30 trước cổng nhà thờ Pleichuet. Theo các phóng viên Truyền Thông, ngày 11 tháng 9 năm 2011 thật là một ngày đáng nhớ đời với anh chị em Jrai; từ rất sớm (3 giờ sáng) anh chị em Jrai tại các buôn làng đã lũ lượt kéo về Trung Tâm Truyền Giáo Pleichuet, ước tính lên đến gần 20 ngàn người.

Trong ba ngày thăm viếng của Đức Đại Diện Tòa Thánh tại giáo phận Kontum, lãnh đạo chính quyền CSVN thì thế, còn bên dưới họ ra lệnh cho công an tạo đủ loại chướng ngại. Bất cứ ở đâu có tổ chức lễ nghi với sự hiện diện của Đức Đại Diện thì các nẻo đường dẫn tới địa điểm hành lễ đều có bố trí đủ loại công an ngăn đường, xét hỏi, xách nhiễu. Đồng bào giáo dân đã phải băng rừng lội suối tránh các chốt chặn. Và khi khối lượng giáo dân lên cao như ở Pleichuet đến gần hai vạn người thì mọi người nhận ra ngay những tên lén lút quay phim, chụp hình để bắt nguội.

Trong thánh lễ sáng Chúa Nhật 11/9/2011, Đức Cha Đại Diện Tòa Thánh đã trích dẫn thông điệp của Đức Giáo Hoàng trong ngày truyền giáo: “Đặc biệt, tôi muốn nói đến các Giáo Hội địa phương và các vị thừa sai đang làm chứng nhân và mở mang Nước Chúa trong hoàn cảnh bị bách hại, đang bị đàn áp nhiều cách: từ tình trạng bị kỳ thị về mặt xã hội cho đến ngục tù, tra tấn và sát hại. Ngày nay vẫn còn không ít nhà thừa sai bị giết vì ‘Danh Chúa’“.


Thay lời kết


Nhìn thái độ đối xử này, người dân Tây Nguyên và người Việt nói chung không thể không lấy làm lạ. Rất lạ. Tiếp đón một đại diện ngoại giao từ nước khác đến thì các quan chức tại đây vô lễ và hùng hổ như thế. Nhưng đối với các toán công nhân Trung Quốc đang “làm việc” tại các tỉnh Tây Nguyên, dù ở cấp thấp nhất, thì từ các quan chức tỉnh đến các công an khu vực đều biểu lộ thái độ e dè, làm ngơ, né tránh, và thậm chí nể sợ.

Đó là “chính sách lớn” của Đảng?



Trần Đức Tường

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Trung Quốc đang lo sợ
Tuesday, September 27, 2011 6:52:41 PM

Ngô Nhân Dụng

Muốn biết một quốc gia mạnh yếu ra sao thì chúng ta có thể xem họ đang sợ những cái gì. Nếu một chính quyền sợ những thứ rất nhỏ, thì không thể coi là họ mạnh được.

Ở trong nước, một chữ Hoa Nhài mà Bắc Kinh cũng sợ, kiểm duyệt không cho các mạng web nhắc đến! Kiểm duyệt khi viết những tên Tây Tạng, Uighur. Họ bắt giam họa sĩ Ngải Vị Vị, dọa truy tố tội trốn thuế, y như tội nhà báo tự do Ðiếu Cày bị gán ghép, bị dư luận che cười lại thả. Ðã kết án nhà văn Lưu Hiểu Ba rồi, họ vẫn mở những chiến dịch rầm rộ bôi nhọ một người đang ở trong tù, sách nhiễu đến cả vợ con không cho yên.

Tại sao họ phải sợ những cá nhân đó? Bởi vì họ biết chính họ rất yếu khi đối diện với những lý tưởng, những ý kiến mà Hiến Chương Linh Tám nêu ra: Dân Chủ, Tự do, Bình đẳng trước pháp luật, Hạn chế quyền hành nhà nước, Chống tham nhũng bất công. Những lý tưởng đó đang nung nấu âm ỷ trong lòng người Trung Hoa. Nhiều người Tàu đang theo dõi các cuộc cách mạng Hoa Nhài ở Ai Cập, ở Syria, hàng trăm triệu người, không biết lúc nào họ nổi lên yêu cầu dân chủ. Các lãnh tụ Trung Nam Hải đang ngồi trên một thùng thuốc súng. Không biết một biến cố nho nhỏ bất ngờ nào sẽ bật ngòi cho nó phát nổ. Khi sợ hãi, người ta quay ra đánh lung tung. Vì nhìn đâu cũng thấy những “thế lực thù địch”.

Trên mặt ngoại giao, Trung Quốc cũng đang chống phá lung tung. Trong mấy tuần nay Bắc Kinh lên tiếng cực lực đả kích Ấn Ðộ, Phi Luật Tân, Việt Nam, Nhật Bản và Mỹ.

Bắc Kinh đã ồn ào phản đối việc công ty Ấn Ðộ ONGC Videsh định mở cuộc thăm dò dầu lửa trong hai khuôn (block) ngoài khơi Việt Nam, dọa sẽ gây rắc rối về ngoại giao. Trước đây, những công ty Chevron, Petronas-Carigali, British Petroleum, Santos đã rút lui ngay sau khi bị dọa. Bây giờ, Ấn Ðộ đã dứt khoát bác bỏ, nói rằng việc cộng tác tìm dầu với Việt Nam làm theo đúng luật lệ quốc tế. Chevron và BP có những vụ làm ăn ở bên Tàu cho nên không dám đụng; khiến mấy anh ở Bắc Kinh tưởng dọa ai cũng được. Bây giờ đụng với ONGC Videsh mới được một bài học. Tháng trước Bắc Kinh đã cho chiến hạm đuổi chiếc tàu INS Airavat trong khi mới rời hải cảng Việt Nam. Bộ Ngoại Giao Ấn Ðộ đã chính thức phản đối, lên tiếng bảo vệ quyền lưu thông trên biển Ðông của nước ta.

Chỉ có thế thôi. Nhưng đảng Cộng Sản Trung Quốc đã cho các báo, đài đăng những bài chỉ trích Ấn Ðộ đang tranh giành ảnh hưởng với họ ở Việt Nam và vùng Ðông Nam Á. Ðồng thời, họ công kích Việt Nam và Phi Luật Tân cùng chống nước Tàu, như bản tin trên nhật báo Người Việt ngày hôm qua mới đăng... Không những thế Bắc Kinh còn lôi kéo cả Mỹ, Nhật Bản vào. Lại nhìn đâu cũng thấy những “thế lực thù địch”.

Một nhà phân tích chính trị Trung Quốc đã diễn tả đúng tâm trạng các đồng chí lãnh đạo Trung Nam Hải. Chỉ riêng một vụ đi tìm dầu lửa, ông Mã Gia Lệ (Ma Jiali) được hãng thông tấn IANS (Indo-Asian News Service) phỏng vấn đã nói rằng ông cảm thấy Ấn Ðộ đang muốn phát triển “những quan hệ chiến lược với Việt Nam để đương đầu với Trung Quốc”. Bộ ông ta nghĩ Việt Nam là một nước chư hầu hay sao mà chỉ được giữ những quan hệ “đồng chí, anh em, chiến lược, toàn diện” với nước Tàu mà thôi? Mã Gia Lệ nói: Chính phủ Mỹ muốn ngăn chặn Trung Quốc. Nếu Ấn Ðộ cũng theo con đường đó, sẽ không tốt. Nhiều nước đang muốn liên minh chống Trung Quốc. “Ðối thoại tay ba” đang được mở giữa Nhật Bản, Ấn Ðộ và Mỹ có vẻ “phần nào nhắm vào Trung Quốc”. Chúng tôi không muốn thấy một liên minh như vậy. Ðúng là tình trạng một người tâm thần bất ổn, nhìn đâu cũng thấy người khác đang âm mưu hại mình. Hoặc một ông “Con Trời” nghĩ rằng cả thiên hạ phải quy phục mình!

Cựu Ngoại Trưởng Nhật Bản Yuriko Koike mới viết trên Nhật báo Japan Times vào Tháng Sáu năm nay, nói rằng người ta không cần phải ngăn ngừa Trung Quốc, như chiến lược đối phó với Nga Xô mà Mỹ đã theo trong thời Chiến Tranh Lạnh. Chi phí quân sự của Trung Quốc không mạnh hơn Nhật Bản, Ấn Ðộ hay Nga. Một nửa số 1 tỷ 300 triệu người Trung Hoa còn sống trong cảnh nghèo, Trung Quốc cần bảo vệ quan hệ kinh tế với các nước khác. Bà Yuriko Koike (Tiểu Trì Bách Hợp Tử) nói thái độ hung hăng của Trung Quốc sẽ thúc đẩy các nước Á Châu phải tìm cách liên minh, với hậu thuẫn của Mỹ, thay vì bị rơi vào một hệ thống do Trung Quốc đứng đầu. Nhật Bản cần coi việc liên kết với các quốc gia tự do dân chủ trong vùng, như Ấn Ðộ, Nam Hàn, Indonesia là ưu tiên số một.

Trong thực tế, các nước Á Ðông và Ðông Nam Á phát triển phồn thịnh được trong ba thập niên cuối thế kỷ 20 là nhờ có sự hiện diện của quân lực Mỹ trong vùng này, tạo ra một tình trạng cân bằng, ổn định. Hiện nay Australia, Nhật Bản, Nam Hàn, Phi Luật Tân, Ấn Ðộ, Indonesia, Singapore, Malaysia, Tân Tây Lan, Việt Nam, và ngay cả Mông Cổ đều muốn giữ thế cân bằng ổn định đó. Ðúng như bà Koike nói, không ai coi việc ngăn chặn Trung Quốc là một việc cần thiết, nhưng không ai muốn bị Trung Quốc áp lực. Một quốc gia nhỏ như Singapore cũng ký hiệp ước tự do mậu dịch và hợp tác quân sự với Mỹ. Số hải cảng trong vùng sẵn sàng cho phép tàu chiến Mỹ ghé bến đã nhiều hơn, các cuộc thao diễn hải quân chung với Mỹ cũng gia tăng.

Nguyên nhân chính cũng vì Bắc Kinh đã bỏ không theo lời căn dặn chiến lược của Ðặng Tiểu Bình, là hãy lo phát triển kinh tế, còn về ngoại giao phải “Thao quang Dưỡng hối” (Tao Guang Yang Hui): Che bớt cái hay cái giỏi của mình; cúi xuống, chớ cái ngoi đầu lên. Mua một cái hàng không mẫu hạm cũ về, nói sửa chữa để làm tàu giải trí, sòng bài, rồi bỗng làm lễ hạ thủy, cho dân chúng kéo tới xem như xem hội, hoan nghênh chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên của nước mình. Một hàng không mẫu hạm mà không có những tàu chiến đi theo bảo vệ, không có một đội tàu tiếp liệu, chưa bao giờ thao diễn như một hạm đội, nếu đụng trận chỉ làm mục tiêu cho máy bay địch oanh kích, như vậy mà diễu võ dương oai để làm gì? Chỉ có thể giải thích là họ cần kích thích tự ái dân tộc của một tỷ dân, để đám dân này quên cảnh tham nhũng, bất công xã hội, và không được tự do. Chính nỗi sợ ngọn núi lửa sẵn sàng bùng nổ ở bên trong khiến cho giới lãnh đạo cộng sản ở Bắc Kinh hung hăng đối với bên ngoài.

Nhưng khi tỏ ra lo sợ về những đe dọa tưởng tượng từ bên ngoài, họ càng cho thấy là họ đang sợ, vì bản thân còn yếu quá.

Vụ công ty Ấn Ðộ ONGC Videsh không sợ dọa nạt cứ tiếp tục tìm dầu đã kích thích nỗi sợ hãi của Bắc Kinh. Lần đầu tiên, miếng võ đe dọa của họ mất hiệu lực. Tại sao các công ty Chevron nhượng bộ ngay mà Videsh không sợ? Chắc vì quyền lợi của Chevron ở Trung Quốc lớn quá, họ không muốn gây chuyện làm hỏng việc làm ăn. Chính phủ Mỹ cũng hùa theo, tuyên bố chính sách không can dự vào những hòn đảo trong vùng biển đang tranh chấp. Còn Videsh chắc không có quyền lợi nào đáng kể mà lo bị mất. Vì thế chính phủ Ấn Ðộ mới làm cứng. Và Bắc Kinh hoảng sợ. Cuối Tháng Mười này sẽ có cuộc họp (lần thứ 15) giữa hai nước để bàn về các tranh chấp biên giới; không biết Bắc Kinh sẽ nhượng bộ gì để đổi lại Ấn Ðộ ngưng tìm dầu trong vùng biển Việt Nam hay không? Một lần nữa, trong việc ngoại giao không có nước nào là bạn, cũng không coi ai là kẻ thù. Tất cả hoàn toàn đặt trên quyền lợi quốc gia. Mai mốt, nếu công ty Videsh thành công, bắt đầu khai thác dầu ở ngoài khơi Việt Nam, các công ty quốc tế khác sẽ cứ theo tiền lệ đó mà làm! Ở Na Uy, Mexico, Venezuella, thiếu gì những công ty dầu khí không bị ràng buộc quyền lợi với Trung Quốc; ngăn cản họ làm sao được?

Nhưng nguyên nhân gây ra nỗi sợ của Bắc Kinh trong vụ công ty Videsh bướng bỉnh không phải vì họ lo sẽ có chiến tranh với Ấn Ðộ. Mặc dù Ấn Ðộ mới đồng ý bán cả hỏa tiễn cho Việt Nam, chọc tức Bắc Kinh hơn nữa. Hai nước đã đánh nhau nhiều lần về chuyện biên giới, bao nhiêu năm nay rồi. Không bên nào chịu thỏa hiệp ký một “hiệp ước cưa đôi” nhanh chóng như chính quyền Việt Nam. Hai nước cùng đang coi phát triển kinh tế là ưu tiên số một. Trung Quốc cần giữ một bộ mặt hòa bình để còn đi làm ăn nơi khác! Vả lại trong thế giới này khó xảy ra chiến tranh lắm. Thế nào cả thế giới chung quanh cũng nhảy vào can gián để khỏi bị cháy thành vạ lây.

Nỗi sợ của Trung Quốc chính là vì lo thế giới sẽ nhảy vào can gián. Muốn can gián Ấn Ðộ và Trung Quốc trong vụ tìm dầu này, mọi người sẽ phải đặt câu hỏi quần đảo Hoàng Sa thực ra thuộc nước nào? Khi đó, Trung Quốc biết họ sẽ đuối lý. Cuộc tấn công cướp Hoàng Sa năm 1974 mới xảy ra hơn một phần tư thế kỷ. Tại sao anh phải đem súng tới giết người ta để chiếm những đảo này? Có những chiến sĩ Hải quân Việt Nam còn sống sẽ ra làm chứng họ bị bắn, họ bị bắt rồi được trả như tù binh ra sao. Cuối cùng, một vụ tranh chấp chủ quyền sẽ được đề nghị đưa cho một hội đồng hòa giải hay một phiên tòa quốc tế phân xử. Khi đó, các chứng cớ rằng Việt Nam là chủ nhân của quần đảo Hoàng Sa hiển nhiên quá, Bắc Kinh không thể nào cãi lại được!

Trong lúc này Trung Quốc đang có nhiều mối lo ngoại giao, không mong bị thêm rắc rối. Chính phủ Obama vẫn cứ bán thêm máy bay cho Ðài Loan, mặc dù Bắc Kinh phản đối. Thượng Viện Mỹ đang làm một dự luật “trừng phạt kinh tế” Trung Quốc với tội cố ý giữ đồng tiền nước họ thấp quá so với Mỹ kim để có lợi bán hàng sang Mỹ rẻ. Năm tới dân Mỹ sắp bỏ phiếu, cả Quốc Hội lẫn ông tổng thống đều muốn tỏ ra cứng rắn để mong kiếm lá phiếu của dân! Ðúng lúc đó thì công ty Videsh và chính quyền Ấn Ðộ lại gây thêm chuyện, không chịu làm “láng giềng hữu nghị, hảo hảo hảo hảo (4 chữ Tốt)! Ðó là một mối lo khiến Ngoại Trưởng Dương Khiết Trì (Yang Jiechi) mới gặp Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh bên cạnh phiên họp ở Liên Hiệp Quốc để rủ nhau hợp ca bài 16 chữ vàng! Trước khi đi New York chắc ông Ðới Bỉnh Quốc đã căn dặn: Nếu năn nỉ Ấn Ðộ không được, thử bảo Việt Nam xem nó có chịu nghe hay không?

User avatar
tiendung
Posts: 348
Joined: Wed Dec 01, 2010 10:09 pm

Post by tiendung »

NGÀY QUỐC TẾ BẤT BẠO ĐỘNG « 2 THÁNG 10 »

Trần Đức Tường

Image
Tác phẩm điêu khắc "Bất Bạo Động" của Fredrik Reutersward, được dựng trước Trục Sở Liên Hiệp Quốc. Ảnh LHQ.

« Bất bạo động là sức mạnh lớn nhất trong tầm tay nhân loại. Nó còn mạnh hơn vũ khí có sức tàn phá lớn nhất do con người có thể phát minh ra được » (Mahatma Gandhi)


Hình như con người đã không rút ra được bài học nào từ thượng cổ đến giờ về những hậu quả tai hại của bạo lực, của chiến tranh. Thế kỷ 20 với hai cuộc thế chiến cộng với hàng trăm, hàng ngàn những cuộc chiến tranh lớn nhỏ, đã giết hại hàng trăm triệu con người ; tàn phá biết bao công trình xây dựng, biết bao thành phố làng mạc. Những tưởng bước sang thế kỷ 21, đi vào thiên kỷ thứ ba, sau khi các chủ nghĩa độc tài sụp đổ, con người sẽ được sống trong an bình, hạnh phúc. Nhưng khốn thay, bạo lực vẫn tồn tại. Nó đã xuất hiện dưới nhiều hình thức. Bạo lực đã diễn ra tại nhiều nước, chính quyền áp dụng chính sách độc tài, đảng trị, khủng bố đàn áp nhân dân. Một số tổ chức tôn giáo quá khích đã sử dụng bạo lực bằng cách ôm bom giết hại người khác. Đòn khủng bố ghê tởm nhất diễn ra vào ngày 11/9/2001 khi bọn không tặc đả dùng phi cơ chở đầy hành khách lao vào tòa tháp đôi World Trade Center và Ngũ Giác Đài. Kể từ ngày đó bạo lực chiến tranh, bạo lực khủng bố diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới.
Tất cả các dân tộc trên thế giới đều đã chán ghét chiến tranh và nguyện vọng sống trong thế giới không bạo lực, không chiến tranh, con người được tôn trọng về nhân phẩm cũng như nhân quyền. Sáng kiến dùng một ngày trong năm làm ngày phi bạo lực khởi đầu từ một nhà ngoại giao người Ấn Độ làm việc tại trụ sở Liên Hiệp Quốc. Ông này đã giới thiệu dự án của mình với các vị đại diện của 140 quốc gia thành viên Liên Hệp Quốc và đã vận động đệ trình Đại Hội Đồng. Dự án của ông đã được Đại Hội Đồng LHQ biểu quyết thông qua dưới mã số Quyết Định A/RES/61/271, ngày 15/6/2007 nhằm mục đích gửi đi toàn thế giới thông điệp bất bạo động bằng những hành động giáo dục và vận động ; lấy ngày sinh nhật của ông Mahatma Gandhi, nhà lãnh tụ danh tiếng đã giành độc lập cho Ấn Độ bằng đường lối bất bạo động, 2/10 hàng năm là ngày Quốc Tế Bất Bạo Động. Bản Quyết định của LHQ cũng khẳng định là nguyên tắc bất bạo động phù hợp với mọi tình huống trên thế giới và mong muốn cổ động cho « một nền văn hóa hòa bình, dung nạp, thông cảm và phi bạo lực »


Image
Giáo dân THÁI HÀ bất bình trước phiên phúc thẩm



Trong quá khứ, nhất là trong cuộc chiến tranh Việt Nam diễn ra ở giữa thế kỷ trước, người ta thường hiểu sai lệch về ý nghĩa của « bất bạo động ». Tư tưởng này thường được dồng hóa với thái độ « chủ hòa », « phản chiến » hay tệ hơn nữa là « đầu hàng » trước kẻ địch. Người ta thường kể tên ông Gandhi và cũng có người gắn được tên ông với nhóm chữ « bất bạo động ». Nhưng, thực chất, ít ai biết về chính trị gia này đã có những tư tưởng triết lý lấy yếu thắng mạnh, lấy tĩnh chế động và áp dụng cho một chiến lược đấu tranh giải phóng đất nước Ấn Độ thoát ách đô hộ của vương quốc Anh. Lấy nguyên tắc bất bạo động để lập nên chiến lược, đánh thắng binh hùng tướng mạnh của quân đội Anh. Đó là sự kỳ diệu của Mahatma Gandhi. Xin kể ra đây một vài câu nói bất hủ của ông : « Tôi không thể đánh anh mà tôi không bị thương » ; « Mắt trả mắt, răng trả răng, thiên hạ sẽ mù hết » ; « Sức mạnh không đến từ bắp thịt mà đến từ ý chí kiên cường »…
Vậy « bất bạo động » là gì ? Theo giáo sư Gene Sharp, nguyên tắc bất bạo động hay còn gọi là « kháng cự bất bạo động » không dùng bạo lực để tạo ra những thay đổi xã hội hay chính trị ; hình thức đấu tranh này đã được áp dụng bởi nhiều dân tộc trên khắp thế giới trong khuôn khổ nhữg chiến dịch đấu tranh cho công bằng xã hội. Ông viết : « Đấu tranh bất bạo động là một kỹ thuật nhờ đó mà những ai muốn rũ bỏ sự thụ động, sự thần phục, và coi việc đấu tranh là phải làm, có thể lâm trận mà không cần dùng đến bạo lực. Đấu tranh bất bạo động không chủ trương né tránh hay không biết đến những tranh chấp ».
Một trong những điểm then chốt của lý thuyết bất bạo động là quyền lực của bọn lãnh đạo độc tài tùy thuộc vào sự chịu đựng, chấp nhận của người dân. Vì vậy đấu tranh bất bạo động nhằm vào việc giật sập chính quyền bằng cách từ chối với giới lãnh đạo sự chấp nhận cũng như lực vâng phục và hợp tác của quần chúng. Đại loại, có ba phương thức đấu tranh bất bạo động : Thứ nhất là phản đối và thuyết phục, kể cả tổ chức đình công và canh thức ; Thứ nhì là vận động quần chúng bất hợp tác ; Thứ ba là tiến hành những công tác đấu tranh bất bạo động như tổ chức các nút chặn đường giao thông hay những cuộc chiếm giữ các bất động sản…
Tư tuởng và nhất là phương thức đấu tranh bất bạo động quả là phương thức phổ quát của thời đại để người dân không có tấc sắt trong tay có thể đòi lại từ tay những chính quyền độc tài, độc ác. Muốn có Hòa Bình thì phải loại bỏ bạo lực. Nếu muốn có Công Lý, Công Bình xã hội thì phải bất bạo động. Biểu tượng của bất bạo động là một công trình điêu khắc của Karl Fredrik Reutersward, một khẩu súng ngắn giống như thật với nòng súng bị thắt nút dược dựng vĩnh viễn trước trụ sở Liên Hiệp Quốc tại New York.
Ngày Quốc Tế Bất Bạo Động năm nay, nhiều cộng đồng người tỵ nạn trên thế giới đã tổ chức lễ cầu nguyện cho những người đấu tranh bất bạo động đang bị bắt giam tại các nhà tù trên thế giới và nhất là tại Việt Nam.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

'Bin Laden trên mạng' bị tiêu diệt tại Yemen

Anwar al-Awlaki, chỉ huy Al-Qaeda được mệnh danh là "Bin Laden trên mạng", vừa bị tiêu diệt trong một đợt không kích tại Yemen.

Image
Anwar al-Awlaki. Ảnh: AP
AFP dẫn thông báo của bộ quốc phòng Yemen cho hay giáo sĩ cực đoan mang quốc tịch kép Mỹ - Yemen này bị triệt hạ cùng với một số người bị nghi là thành viên của mạng lưới khủng bố Al-Qaeda. Bộ quốc phòng Yemen không cung cấp chi tiết về cái chết của Awlaki. Tuy nhiên, một số nguồn tin từ các bộ lạc cho hay Awlaki, kẻ bị Mỹ truy nã, đã bị tiêu diệt trong một cuộc oanh kích nhằm vào hai chiếc xe ở tỉnh Marib, một thành trì của mạng Al-Qaeda tại miền đông Yemen, vào 9h30 sáng nay theo giờ địa phương.

Có nguồn tin còn xác nhận chiếc máy bay thực hiện cuộc không kích là của Mỹ, và cho biết thêm rằng các phi cơ của Mỹ đã quần thảo trên bầu trời Marib vài ngày qua. Washington Post đầu tháng này đưa tin Mỹ đang xây dựng hàng loạt căn cứ bí mật mới dành cho các máy bay không người lái, nhằm tiến hành các cuộc không kích vào các mục tiêu Al-Qaeda ở Yemen và Somalia.

Một nguồn tin bộ lạc giấu tên khác còn nói về tin đồn cho rằng Awlaki gần đây liên tục thay đổi chỗ ở tại Yemen. Cho tới 3 tuần trước, tên này được cho là ẩn náu tại tỉnh miền nam Shabwa, một thành trì khác của các phiến quân tại Yemen, à chỉ mới tới Marib trong thời gian gần đây. Lực lượng an ninh Yemen cũng tích cực truy lùng Awlaki kể từ sau khi có tin đồn về sự xuất hiện của hắn tại Marib.

Đây là lần thứ hai bộ quốc phòng Yemen thông báo về cái chết của Awlaki. Tháng 12 năm ngoái, bộ này tuyên bố Awlaki bi tiêu diệt trong một cuộc không kích, tuy nhiên sau đó tên này vẫn sống sót.

Hồi tháng 5, chỉ vài ngày sau khi cựu trùm khủng bố Osama bin Laden bị biệt kích Mỹ tiêu diệt tại Pakistan, thông tin về việc Mỹ tìm diệt Awlaki được các phương tiện truyền thông đồng loạt đăng tải. Tuy nhiên, nhiệm vụ này khi đó bất thành. Nếu thông tin Awlaki bị tiêu diệt hôm nay tại Yemen là xác thực, có thể coi đây là thắng lợi tiếp theo của Mỹ trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa khủng bố.
Image
Awlaki trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi vào tháng 11/2009, tức là một tháng trước khi âm mưu đánh bom máy bay
ngày Giáng sinh ở Mỹ bị phanh phui. Ảnh: ABC News
Awlaki là một giáo sĩ, một lãnh tụ và một nhà diễn thuyết Hồi giáo. Theo giới chức Mỹ, người đàn ông 40 tuổi này đóng vai trò là một người tuyển mộ cấp cao và nhân tố thúc đẩy quan trọng trong mạng lưới Al-Qaeda tại bán đảo Ảrập. Awlaki còn là người lên kế hoạch và trực tiếp đào tạo thành viên của Al-Qaeda cũng như các chân rết của mạng lưới này.

Mỹ coi Awlaki là đặc biệt nguy hiểm và có liên quan tới nhiều cuộc tấn công đẫm máu nhằm vào người Mỹ cũng như công dân nhiều nước khác trên thế giới. Tên này có một blog, một trang Facebook và nhiều video từng được tải lên YouTube. Vì thế, hắn còn được mệnh danh là "Bin Laden trên mạng".

Ba trong số 19 tên không tặc tham gia vào vụ tấn công 11/9/2001 từng tham gia vào các buổi giảng đạo của Awlaki. Hai trong số này còn thường xuyên gặp Awlaki tại thành phố San Diego, bang California. Các nhà điều tra cho rằng chỉ huy Al-Qaeda sinh ra ở Mỹ này có thể đã biết về vụ tấn công 11/9 trước khi nó xảy ra.

Nidal Malik Hasan, người gây nên vụ xả súng ở căn cứ quân sự Fort Hood hồi năm 2009 khiến 13 người chết và 29 người thiệt mạng, cùng từng đến nghe các bài giảng của Awlaki. Tình báo Mỹ đã tìm được ít nhất 18 email trao đổi qua lại giữa hai người. Awlaki còn là một trong những người huấn luyện Umar Farouk Abdulmutallab, sinh viên người Nigeria bị buộc tội âm mưu cho nổ tung một máy bay chở khách của Mỹ vào ngày Giáng sinh năm 2009.

Tháng 4/2010, một quan chức Mỹ cho hay chính quyền của Tổng thống Barack Obama đã thông qua lệnh tìm diệt Awlaki, sau khi các cơ quan tình báo của Mỹ kết luận rằng giáo sĩ cực đoan này có liên quan tực tiếp tới các âm mưu chống lại nước Mỹ.

Phan Lê

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Putin, vẫn như cũ

Ngô Nhân Dụng


Ở Mỹ ông Barack Obama còn lo sang năm có đắc cử hay không. Ông Vladimir Putin biết chắc sẽ trở lại làm tổng thống Nga trong năm tới.

Năm 2008 ông Putin, 58 tuổi, đã làm tổng thống 2 nhiệm kỳ liên tiếp; theo hiến pháp không được ứng cử nữa. Ông rút xuống, chỉ làm thủ tướng, đưa Dmitry Medvedev lên ngồi thay chỗ của mình. Trong thời gian đó, Quốc Hội Nga sửa hiến pháp, mỗi nhiệm kỳ tổng thống sắp tới sẽ dài 6 năm. Năm nay, Medvedev, 46 tuổi, ngoan ngoãn đề cử ông Putin làm ứng cử viên của đảng Nga Thống Nhất, được tưởng thưởng cho làm thủ tướng, khiến Bộ Trưởng Tài Chánh Alexei Kudrin tức giận tuyên bố sẽ từ chức.

Tháng 3 năm tới, chắc chắn ông Putin sẽ thắng và nắm quyền thêm 12 năm, sẽ thành người trị vì ở Ðiện Kremlin lâu nhất, chỉ thua Stalin. Ông được đa số dân Nga ái mộ, họ sẽ bỏ phiếu cho ông. Vì ông kích thích tự ái dân tộc trong lòng dân, những người Nga vẫn tiếc nuối đế quốc cũ. Ông tỏ ra cứng rắn với Tây phương; dùng dầu lửa xuất cảng đe dọa các nước láng giềng đã tách ra từ Liên Bang Xô Viết, đặc biệt là Ukraine; tiến quân qua Georgia giúp hai vùng ly khai; đàn áp các sắc dân nổi dậy đòi tự trị; trong khi kinh tế vẫn phát triển được nhờ giá dầu lửa gia tăng trên thị trường quốc tế. Ða số dân Nga không biết rằng nền kinh tế nước họ hoàn toàn phụ thuộc giá các nguyên liệu, dầu, khí, mà nước Nga xuất cảng. Trong tháng 9, 2011, dầu xuống giá, đồng Rúp của Nga hạ thấp 10%. Trong bảng xếp hạng các nước bị nạn tham nhũng, từ thấp đến cao nhất, nước Nga đứng hàng thứ 154, ngang với Kenya ở Phi Châu.

Ông Dmitry Medvedev đã từng tuyên bố việc bài trừ tham nhũng và cải tổ hành chánh là ưu tiên số một của chính phủ. Ông cũng hô hào phát triển tin học, thành lập một khu vực giống như Thung lũng Ðiện tử của Mỹ ở Skolkovo, ngoại ô Moskva. Bây giờ, không ai tin ông sẽ làm được điều nào trong ba ý định đó. Quyền hành lúc nào cũng ở trong tay ông Putin.

Năm 2009 tổng sản lượng nội địa (GDP) Nga giảm sút gần 8% vì giá dầu khí hạ khắp thế giới, năm 2010 khi giá ổn định lại, tăng 4% thành 1,477 tỷ Mỹ kim, vẫn thấp hơn 1,667 tỷ năm 2008. Lợi tức theo đầu người của dân Nga, nếu tính tương ứng với giá cả thấp ở Nga (PPP), thì đứng hàng thứ sáu trên thế giới, nhưng vẫn thấp hơn cả Ấn Ðộ lẫn Trung Quốc. Nếu chỉ tính thuần túy bằng đô la Mỹ mà không quan tâm đến giá sinh hoạt, thì đứng hàng thứ 51, mỗi năm một người dân Nga có lợi tức bình quân $15,900 đô la; trong khi dân Mỹ là 47,123 đô la.

Ông Putin tập trung tài sản quốc gia vào đám tay chân. Tình trạng đó không giúp cho việc cải tổ cơ cấu để tiến bộ cạnh tranh về lâu dài với các nước khác. Trong bảng xếp hạng về khả năng cạnh tranh trong thị trường thế giới của trung tâm Davos, Thụy Sĩ, Nga đứng hàng thứ 66. Các nhà tư bản Nga, dù được Putin bảo trợ, vẫn tìm cách chuyển tiền ra ngoài để tìm cơ hội. Trong nửa đầu năm 2011, số tiền vốn bỏ đi lên tới 31 tỷ đô la; trong cả năm có thể lên tới 100 tỷ, theo lời cựu Phó Thủ Tướng Boris Nemtsov. Không những tiền, mà cả người cũng ra đi, một hiện tượng “xuất não” (brain drain) nghiêm trọng vì đa số là những người có học. Ông Sergei Stepashin, một nhân viên chính phủ cao cấp, ước tính có hơn một triệu người Nga đã ra đi trong mấy năm qua, trong số 140 triệu dân. Có những nhà kinh doanh nhỏ, các chuyên viên mọi ngành các sinh viên đi du học rồi không về. Phần lớn những người ra đi nói lý do vì ở trong nước họ không thấy có tương lai. Một xã hội khó thở vì nhà nước kiểm soát các phương tiện truyền thông; người khác ý kiến với chính phủ bị bắt và bị vu cáo đủ thứ tội; một thiểu số mafia làm giầu nhờ quyền lực; luật pháp không được tôn trọng. Ông Yevgeny Yasin, một cựu bộ trưởng kinh tế, từ 1994 đến 1997, nói rằng “Nước Nga vẫn chưa cải tổ những định chế di sản của thời Xô Viết”.

Nhưng di sản nặng nề nhất mà chế độ cộng sản để lại cho nước Nga là một nền tảng tinh thần bại hoại, đồng tiền chi phối ngay cả trong những môi trường như giáo dục, tôn giáo. Trong xã hội Xô Viết mọi người phải tập sống giả dối. Khi chế độ cộng sản tan, nhiều người vốn không có những quy tắc đạo lý để theo nay lại nhiều cơ hội làm giầu bất chính, tham nhũng tung hoành, cảnh đạo đức suy sụp đã tràn ngập.

Tháng trước khi chúng tôi đang du lịch ở Nga, các tờ báo đăng tin về những vụ tham nhũng nhơ bẩn ở các đại học y khoa. Ngày 10 tháng 8, Victor Simak, một chuyên viên tin học trẻ tuổi đã tố cáo tại trường Y khoa I.M. Sechenov, quen gọi là Y Khoa Số Một thành phố Moskva có 75% sinh viên nhờ đút lót được nhập học ngay đợt đầu. Các sinh viên này không cần phải qua đợt tuyển chọn khó khăn như người khác. Trong trường này, với số ghi tên 13 đến 14 ngàn người sẽ trở thành các bác sĩ tương lai, các sinh viên thấy cảnh học trò đưa cho ông thầy những đồng bạc 1,000 rúp là chuyện bình thường (mỗi 1,000 rúp tương đương 33 đô la Mỹ). Các báo nêu mối lo lắng không biết các bác sĩ đó sau này sẽ chữa bệnh ra sao? Ông khoa trưởng cùng mười cấp chỉ huy của Ðại Học Y Khoa Số Một phải từ chức.

Bệnh viện cũng là một môi trường tham nhũng. Một bà người Nga nằm chờ mổ ở bệnh viện công. Bác sĩ bảo khi mổ xong phải có một món đặt vào đó thì mới lành, mà món này bảo hiểm y tế của nhà nước không trả tiền. Thân nhân hiểu ngay, đồng ý sẽ lấy tiền túi của mình ra mua. Bác sĩ bèn đưa giấy giới thiệu tới một công ty tư, đến đó trả tiền, cầm biên lai trở lại bệnh viện đưa cho bác sĩ, thế là xong. Trong khi ở Moskva tôi đã được nghe chính nạn nhân kể chuyện này. Tất cả hệ thống y tế và bệnh viện đều làm ăn kiểu đó. Nếu bệnh nhân may mắn thì gặp vị bác sĩ biết mổ thật. Quý vị độc giả ở Việt Nam có thể thấy là nước Nga cũng giống nước mình. Lại hỏi: Ông Lê Nin ở nước Nga, tại sao ông...?

Báo Esquire trong ấn bản tiếng Nga nói có ít nhất 6 đại học y khoa đầy tham nhũng, 9 sinh viên y khoa mô tả chi tiết các vụ đút lót trong trường. Một sinh viên tên Vladimir nói muốn đậu phải đưa thầy khoảng 400 đô la, muốn được điểm cao thì hối lộ 500. Năm ngoái khi đô la Mỹ xuống giá, nhiều giáo sư đòi hối lộ bằng đồng Euro! Một sinh viên tên Misha kể muốn thi đậu môn cơ thể học phải đi “học thêm” bà giáo một lớp, mỗi lớp 10 bài học, đóng 2,500 rúp, hơn 80 Mỹ kim; trong khi học phí chính thức mỗi lớp là 1000 rúp. “Bà ấy chẳng dậy cái gì mới cả, hỏi chuyện chúng tôi khoảng nửa giờ, rồi mở cái túi áo choàng mầu trắng ra, chúng tôi bỏ những đồng bạc 50 Euro hay 1000 rúp vô đó!

Các đại học y khoa công nhận có cảnh hối lộ. Giáo Sư Igor N. Denisov, phụ tá khoa trưởng Ðại Học Y Khoa Số Một cho biết trong 2 năm có hai giáo sư phải từ chức vì bị tố cáo đòi sinh viên hối lộ. Ông giải thích nguyên nhân chính là lương các thầy thấp quá. Lương giáo sư mỗi tháng chỉ có 50,000 rúp, gần 1,800 đô la. Ông lại trách nhiều phụ huynh nuông con, cho chúng tiền đầy túi, chúng mới có tiền hối lộ. Mỗi buổi sáng, ông Denisov nói, ông lái chiếc xe Suzuki cà tàng đến trường, trong khi nhiều sinh viên lái xe Infinity hay Bentley, có đứa còn có tài xế lái xe đưa đón.

Một cuộc nghiên cứu dư luận độc lập trong tháng 5 năm 2011 cho biết dân Nga coi ngành giáo dục là nơi tham nhũng trầm trọng bậc nhất, còn nặng hơn các cảnh sát giao thông. Từ khi nước Nga áp dụng lối thi toàn quốc, hiện tượng gian lận đã nổ bùng. Trước kỳ thi tốt nghiệp năm nay, có 20,000 học sinh đọc được các câu hỏi và trả lời trên mạng Vkontakte. Nước Nga trải rộng trên 10 múi giờ, các học sinh Moskva và St. Petersburg, ở các múi giờ trễ phía Tây, có nhiều tiếng đồng hồ ngồi đọc các câu hỏi và học thuộc các câu trả lời trước khi vào phòng thi.

Các học sinh gian lận có lỗi, nhưng họ nhìn lên trong xã hội không thấy những tấm gương tốt để theo. Thượng bất chính hạ tắc loạn. Một đài ti vi đã quay trộm những cảnh một giáo sĩ cao cấp trong Chính Thống Giáo sống rất xa xỉ. Ông Mikhail Grigoriev ở Kazan làm chủ một chiếc xe BMW, hai xe Mercedes, ba chỗ ở khác nhau lại thêm một nhà nghỉ ở miền quê. Máy camera chiếu hình ảnh ông tuyên bố rất thích quần áo may từ Ý, ông khoe cái đồng hồ Thụy Sĩ trị giá gần 100,000 Mỹ kim, cái máy điện thoại cũng đáng 20,000 đô la. Ông than phiền mới bị ăn cắp, mất hơn 400,000 đô la trong tủ sắt. Sau xì căng đan này, thượng cấp của ông trong giáo hội đã cách chức ông Mikhail Grigoriev, cho về ở một nhà thờ miền quê cùng một giáo khu. Họ khiển trách ông về tội khoe khoang chứ không đặt câu hỏi tại sao ông giầu như vậy. Giáo phụ Kirill cũng đeo một đồng hồ Thụy Sĩ giá gần 50,000 đô la. Các giáo sĩ khác giải thích đó là do một tín đồ giầu có dâng tặng.

Chế độ tư bản hoang dã đã phát triển ở Nga ngay sau khi chế độ cộng sản sập. Từ thời Yeltsin sang thời Putin vẫn như vậy, chỉ có thay thế những tay quả đầu cũ bằng những tài phiệt đàn em của Putin, phần lớn xuất thân từ mật vụ KGB như ông ta.

Chế độ Putin là một di sản của 70 năm cộng sản cai trị nước Nga. Mật vụ, công an nắm những đầu mối quyền hành, có cơ hội là họ cấu kết với nhau tìm đường trở lại. Người dân chuyển từ độc tài cộng sản sang một kiểu độc tài khác, tư bản bè cánh thao túng. Nước Nga chưa bao giờ được sống tự do dân chủ, trước năm 1917. Khác Tiệp, Hung, Ba Lan, người Nga thiếu một truyền thống tự do. Dưới thời cộng sản, người dân không được phép cho nên không phát triển những tổ chức tư và độc lập. Thiếu một xã hội công dân năng động, không có thói quen coi tự do như một nhu cầu tự nhiên, thể chế dân chủ khó bám rễ để đứng vững. Các nhà chính trị hoạt đầu, mị dân rất dễ lợi dụng chính các luật lệ dân chủ để tiếm quyền.

Nhưng di sản nặng nề và lâu dài nhất của 70 năm cộng sản vẫn là tình trạng băng hoại xã hội. Chế độ cộng sản đã phá hết các quy tắc đạo lý và tạo thói quen sống không pháp luật. Khi được dịp tư bản hóa, cảnh suy đồi càng bị lòng tham tiền tiếp sức, thành trầm trọng hơn.

Post Reply