Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Putin - Medvedev: “Sao đổi ngôi” trên chính trường Nga?

Người dân Nga đã gần như chắc chắn tổng thống và thủ tướng kế tiếp của họ là ai.
Thực tế là cho đến thời điểm này, trên chính trường Nga chưa xuất hiện một tên tuổi nào có thể cạnh tranh được với cặp lãnh đạo Medvedev - Putin.

Image
Cặp lãnh đạo Medvedev - Putin.
“Bộ đôi” quyền lực
Đương kim Tổng thống Dmitry Medvedev và Thủ tướng Vladimir Putin hôm qua đã cùng nhau đi vào hội trường ở thủ đô Nga, nơi diễn ra Đại hội của đảng Nước Nga Thống nhất.

Kỳ đại hội này của Đảng Nước Nga Thống nhất rất quan trọng, chuẩn bị cho cuộc bầu cử vào Hạ viện Đuma tháng 12 tới đây. 639 đại biểu của đảng đã tham dự đại hội này.

Nhưng đây không chỉ đơn thuần là đại hội của một đảng phái chính trị của nước Nga, mà nó thực sự là một diễn đàn chính trị quan trọng, vì vậy tổng số quan khách và đại diện báo chí tham dự lên tới 11.000 người.

Trọng tâm chú ý hướng tới sự kiện này vẫn là giải đáp cho câu hỏi: ai sẽ đứng đầu danh sách này và liệu có xướng lên danh tính của nhân vật do đảng Nước Nga Thống nhất đề cử tranh chức Tổng thống?

Và mọi việc không nằm ngoài trông đợi của công luận Nga, chấm dứt đồn đoán về khả năng ai sẽ chạy đua vào ghế tổng thống: Tổng thống Dmitry Medvedev đã đề nghị Thủ tướng Vladimir Putin làm ứng cử viên của đảng này ra tranh cử Tổng thống Nga năm 2012.

Về phần Thủ tướng Nga, ông đã đề nghị ông Medvedev đứng đầu danh sách tranh cử của đảng Nước Nga Thống nhất trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 12 tới.

Ông Putin cũng tuyên bố là ông Medvedev sẽ có thể trở thành Thủ tướng.

Ông Putin từng giữ chức tổng thống hai nhiệm kỳ trước khi ông Medvedev lên thay vào năm 2008. Trước đó, đã có nhiều tháng đồn đoán rằng ông Putin có kế hoạch trở lại điện Kremlin khi cuộc bầu cử tổng thống được tổ chức tháng 3 năm sau.

Mặc dù đến tháng 3/2012, kỳ bầu cử Tổng thống mới diễn ra, nhưng lời tuyên bố của Medvedev hôm qua đã đủ để người ta biết được tên vị tổng thống tương lai là ai.

Ngoài ra, đảng Nước Nga Thống nhất hiện đang chiếm ưu thế chính trị tại Nga và giới quan sát cho rằng việc ông Putin trở lại điện Kremlin là chắc chắn. Các cuộc thăm dò cho thấy ông Putin nắm chắc phần thắng nếu ông ra tranh cử tổng thống.

Cho đến thời điểm này, trên chính trường Nga chưa xuất hiện một tên tuổi nào có thể cạnh tranh được với cặp lãnh đạo Medvedev - Putin. Ai trong hai ông ra ứng cử cũng sẽ là người giành được phần thắng trong cuộc bầu cử tổng thống sắp tới.

Những thoả thuận đã có

Đăng đàn phát biếu tại hội nghị trước hết là Thủ tướng Putin. Ông nói rằng theo truyền thống, danh sách tranh cử của đảng cầm quyền cần do Tổng thống đứng đầu, và theo lời ông Putin, như vậy sẽ nâng cao uy tín của đảng và đảm bảo mang lại chiến thắng.

Ông Putin tuyên bố rằng, Tổng thống và Thủ tướng Chính phủ đang chờ đợi những đề xuất về cơ cấu quyền lực. “Đã có thoả thuận về những việc cần làm và ai sẽ đảm nhận công tác nào trong tương lai”, ông Putin nói.

Phát biểu tiếp đó, Tổng thống Medvedev đã đề nghị đảng Nước Nga Thống nhất dành sự ủng hộ cho ứng viên là nhà lãnh đạo của đảng và Thủ tướng của đất nước, ông Vladimir Putin, vào cương vị Tổng thống nhiệm kỳ tới của Liên bang Nga, qua cuộc bầu cử năm 2012.

“Tôi cho rằng sẽ là đúng đắn nếu Đại hội ủng hộ ứng viên lãnh đạo đảng Vladimir Putin vào chức vụ tổng thống của đất nước”, ông Medvedev tuyên bố trước gần 11.000 đại biểu và khách mời tham gia đại hội. Sau câu nói này, bài phát biểu của ông Medvedev bị gián đoạn mấy phút bởi tiếng vỗ tay liên hồi của cử tọa.

“Những tràng pháo tay này cho tôi quyền không cần giải thích rằng ứng viên Vladimir Putin có những kinh nghiệm phong phú và uy tín cao như thế nào”, đương kim Tổng thống Liên bang Nga nhấn mạnh khi các đại biểu đã vỗ tay chào đóng Putin như vị tổng thống mới của mình.

"Đây là một vinh dự lớn đối với tôi. Tôi xin chấp nhận đề xuất này”, ông Putin nói ngắn gọn.

Còn ông Medvedev, người lên làm tổng thống năm 2008 với sự hậu thuẫn của ông Putin, đồng ý dẫn đầu danh sách của đảng Nước Nga Thống nhất tại cuộc bầu cử nghị viện. Ông bày tỏ sự tin tưởng rằng đảng Nước Nga Thống nhất sẽ chiến thắng tại cuộc bầu cử Quốc hội ngày 4/12 sắp tới.

Tổng thống Medvedev cho biết, ông và ông Putin đã thỏa thuận với nhau từ lâu: Putin sẽ ra ứng cử tổng thống vào năm 2012, còn Medvedev sẽ lãnh đạo đảng Nước Nga Thống nhất trong kỳ bầu cử vào Duma tới đây.

Sau kỳ bầu cử Tổng thống năm 2012, ông Medvedev có thể sẽ là người đứng đầu chính phủ, ông sẽ thành lập một chính phủ mới cho phép ông tiếp tực theo đuổi những mục tiêu hàng đầu của nước Nga hiện nay là hiện đại hóa nền kinh tế, thực hiện các bảo hiểm xã hội cho dân chúng, chống tham nhũng và xây dựng một hệ thống chính trị hiện đại.

Và cũng tại cuộc Đại hội này, ông Putin đã tặng cho dân chúng món quà đầu tiên của tổng thống, ông quyết định xóa các món nợ thuế của dân chúng do sở thuế tính nhầm, hiện nay đã đạt đến con số 30 tỷ rúp (gần 1 tỷ USD).

Theo Hiến pháp mới sửa đổi của Nga, tân tổng thống sẽ có nhiệm kỳ 6 năm thay vì 4 năm như trước đây, và không được giữ quá 2 nhiệm kỳ.

Như vậy, ông Putin sẽ có khả năng nắm quyền trong cương vị tổng thống cho tới năm 2024, nếu ông đắc cử 2 nhiệm kỳ liên tiếp.

Nguyễn Viết

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Hai giờ với Linh Mục Giáo Hội Chính Thống Nga Vitaly Borovoy

Ðoàn Thanh Liêm

Suốt tháng 3, năm 1972, trong dịp đến làm việc với văn phòng của Hội Ðồng Tôn giáo Thế Giới” (The World Council of Churches - WCC)
tại thành phố Geneva, Thụy Sĩ, tôi có cơ hội tiếp xúc với một số nhân vật trong các bộ phận chuyên môn của tổ chức quốc tế này.

Image
Nóc một nhà thờ Giáo Hội Chính Thống Nga tại Moscow lúc nửa đêm. (Hình: Oxaba Onipko/AFP/Getty Images)

Trụ sở chính của WCC tọa lạc trong một khu vực khá rộng lớn phía ngoại ô của cái thành phố êm ả thanh bình có danh tiếng trong lịch sử Âu Châu, trên Ðại lộ Route de Ferney, là nơi mà xưa kia vào thế kỷ XVIII văn hào nổi danh người Pháp Voltaire đã từng có thời gian dài cư ngụ tại đây. Dù đã là tiết xuân, nhưng tại vùng đồi núi ở đây, trời vẫn còn khá lạnh lẽo với nhiều ngày có tuyết đổ làm trắng xóa cả các bụi cây ven đường, nhất là mỗi khi trời nắng thì khối tuyết trên các đỉnh núi cao ngất lại phản chiếu ánh sáng mặt trời, coi thật uy nghi lộng lẫy.

Vào một buổi sáng, tôi đã có cuộc tiếp chuyện dài đến 2 giờ đồng hồ với vị linh mục thuộc nhà thờ Chính thống giáo nước Nga, tên là Vitaly Borovoy. Năm 1972 đó ông đã ngoài 55 tuổi, người tầm thước trong bộ áo tu sĩ dài màu đen phủ kín toàn thân, cổ đeo một thập giá mạ vàng khá lớn, và với bộ râu quai nón cũng khá rậm rạp vốn là hình ảnh đặc trưng của các linh mục trong hàng ngũ Giáo phẩm Chính thống giáo (Orthodox Hierarchy). Linh mục đã từng làm việc trong bộ phận phụ trách về ngoại vụ của Giáo Hội Chính Thống Giáo Nga. Ông nói tiếng Anh với giọng lắp bắp ngập ngừng, nhưng lại sử dụng từ ngữ khá chính xác.

Biết tôi từ miền Nam Việt Nam tới, ông hỏi thăm về tình hình chiến tranh mỗi ngày một leo thang ở đó ra sao. Tôi nói với ông rằng suốt đời tôi từ khi có trí khôn vào năm 1941-42 đến nay đã 30 năm rồi, tôi chỉ biết có chiến tranh tàn sát trên quê hương tôi mà thôi. Tôi đã chứng kiến nạn đói tại làng quê tôi vào năm 1945, làm chết bao nhiêu người bà con và bạn hữu, kể cả ông chú út là em của cha tôi nữa. Tôi thật đau lòng trước bao nhiêu tang thương đau khổ liên miên ròng rã đã bao lâu nay xảy đến cho những người thân yêu của tôi như vậy. Nghe tôi trình bày rõ ràng thành thật như thế, ông tỏ vẻ thông cảm và câu chuyện giữa hai chúng tôi đã mau lẹ trở thành thân mật và cởi mở, giống như giữa hai người anh em bà con trong cùng một dòng họ vậy.

Sau câu chuyện mở đầu thân mật đó, vị linh mục bắt đầu tâm sự với tôi bằng lời lẽ thẳng thắn, quả quyết đại khái có thể tóm lược vào mấy điểm như sau:

1. Thứ nhất, về phương diện đối ngoại, Giáo hội Chính thống chúng tôi không thể nào mà có thể có được một quan điểm công khai trái ngược với lập trường của chánh phủ Liên Bang Xô Viết. Cụ thể như đối với cuộc chiến tranh hiện nay ở Việt Nam, thì chúng tôi phải đứng về phe Xã Hội Chủ Nghĩa mà bênh vực chánh phủ Hanoi, để chống lại chánh phủ Saigon và phe Tư bản do người Mỹ lãnh đạo. Dĩ nhiên là chúng tôi vẫn giữ vị thế và sắc thái riêng biệt theo truyền thống lâu đời của Tôn giáo mình, chứ không phải là một thứ cơ quan trực thuộc chánh quyền hay là một thứ cơ sở ngoại vi của đảng Cộng Sản Liên Xô. Nhưng xin ông cũng thông cảm cho việc chúng tôi bị “kiểm soát, khống chế” khá là ngặt nghèo trong cung cách giao dịch với thế giới bên ngoài, đặc biệt là trong lãnh vực chính trị và ngoại giao quốc tế.

2. Thứ hai, về phương diện sinh hoạt nội bộ, thì từ khi chế độ cộng sản được thiết lập và củng cố vững chắc trên toàn thể nước Nga và các nước cộng hòa khác thuộc Liên bang Xô Viết, thì giáo hội chính thống chúng tôi phải liên tục chịu đựng những sự hạn chế, đàn áp vô cùng là ngặt nghèo tàn bạo không làm sao mà kể cho xiết được. Trong hơn nửa thế kỷ nay, chúng tôi đã có đến hàng chục vạn thánh đường, các tu viện, cơ sở tôn giáo, các chủng viện, các cơ sở văn hóa xã hội bị triệt hạ đến mất hết cả dấu tích luôn. Và bao nhiêu đồ tượng ảnh quý báu được dát bằng quý kim vàng bạc, cẩm thạch đá quý tích lũy từ bao nhiêu thế hệ xa xưa trong các cơ sở phụng tự đó đều bị tịch thu và mang đi đâu chẳng còn ai mà biết được nữa.

Ðó là về phương diện cơ sở và tài sản vật chất. Còn về tinh thần và nhất là về phương diện nhân sự tức là thành phần các tu sĩ, giáo sĩ, thì thật là thảm thương bi đát không một ai lại có thể tưởng tượng được nữa. Ðã có hàng ngàn giáo sĩ bị hành quyết (executed), hàng nhiều ngàn bị bắt, bị đầy ải ở Siberia và trong các trại tập trung và hầu hết đều đã kiệt sức vì đói, vì lạnh, vì bị làm việc nặng nhọc quá sức chịu đựng của con người. Ðó là chưa kể đến con số hàng triệu tín đồ bị hành hạ, bạc đãi, bị cưỡng bức phải di chuyển đi đến những vùng khô cằn hẻo lánh. Chưa bao giờ giáo hội chúng tôi lại bị bách hại thảm thương tàn ác đến thế!

3. Nói chung, thì nhà nước Xô Viết vẫn triệt để tìm mọi cách để tiêu diệt tôn giáo và thay thế vào đó bằng chủ thuyết vô thần. Nếu có được một sự nới lỏng, dễ thở nào đó cho sinh hoạt tôn giáo, thì chỉ vì nhu cầu giai đoạn cấp thời mà thôi. Cụ thể như từ lúc nước Nga bị quân Ðức Quốc Xã đến xâm lăng vào năm 1941, thì ông Stalin mới ra lệnh cho thuộc cấp trả lại một số cơ sở phụng tự, trả tự do cho một số giáo sĩ, tu sĩ và cho tín đồ được hành đạo tương đối thoải mái. Nhưng đó chỉ vì muốn lấy lòng các tầng lớp dân chúng để cho họ cùng tham gia vào công cuộc bảo vệ tổ quốc mà thôi. Sau chiến tranh rồi, thì guồng máy kềm kẹp lại tiếp tục vận hành, mà lại càng dã man cuồng nhiệt hơn nữa.

Cả ngay dưới thời của ông Krushchev, thì nạn bài trừ và đàn áp tôn giáo vẫn còn rất ngặt nghèo sắt máu, có đến hàng vạn nhà thờ bị phá hủy hay tịch thu trong các năm dưới quyền của ông lãnh tụ này. Chỉ gần đây, dưới thời của ông Brezhnev, thì mới có sự nới lỏng đôi chút mà thôi.

4. Ngày nay, nhờ áp lực mạnh mẽ của quốc tế mà giáo hội chúng tôi cũng mới bắt đầu phục hồi lại được phần nào. Nhưng nói chung, mọi tôn giáo ở Liên Xô, kể cả Chính Thống Giáo, Tin Lành, Hồi Giáo, Phật Giáo... thì vẫn còn phải chịu nhiều sự khốn khó hạn chế đủ mọi bề.

Những điều tôi nói với ông lúc này, thì các sách báo ở phương Tây đều đã viết lên đầy đủ cả rồi, dựa trên những chứng từ đáng tin cậy của bao nhiêu người đào thoát từ nước Nga, hay do các nguồn tin do chính người dân ở Liên Xô tiết lộ ra cho các bạn hữu của họ ở nước ngoài. Tôi vừa là nạn nhân, vừa là chứng nhân để có thể xác nhận với ông về những sự việc thực tế hết sức phũ phàng đau đớn này.

Nhưng tôi xin lưu ý ông là không nên công bố danh tính của tôi khi ông viết thuật lại những điều tôi tâm sự riêng tư với ông bữa nay, vì nếu nhà nước Liên Xô mà biết được chuyện “tôi nói không tốt về họ”, thì họ sẽ trách cứ và làm phiền cho văn phòng ngoại vụ của chúng tôi.

Tại nước Thụy Sĩ này, tôi được chứng kiến sự thịnh vượng sung túc và cuộc sống thanh thản an bình của người dân, mà tôi càng cảm thương cho dân tộc Nga thật là bất hạnh của tôi. Tôi cũng thương xót cho bao nhiêu đồng đạo, bao nhiêu anh em tu sĩ của tôi đã bị tàn sát do bàn tay của người cộng sản. Và tôi cũng xót thương cả đối với một ít tu sĩ đã vì hèn nhát mà cam tâm làm tay sai cho công an mật vụ, để phản bội lại chính các anh em đồng đạo của mình nữa.

Vitaly Borovoy, vị linh mục cao tuổi nhất của Giáo hội Chính Thống Giáo nước Nga, - tính theo ngày được thụ phong năm 1944 - đã qua đời vào năm 2008, ở tuổi thọ 92 (1916-2008). Ông được đánh giá là người đã góp công rất lớn vào công cuộc giữ vững và phục hồi nếp sống tinh tuyền trong truyền thống lâu đời của Giáo hội Chính Thống Nga.

Sau cùng, tôi chỉ xin ghi thêm vài dòng vắn tắt về Giáo hội Chính thống Nga đã tồn tại trên đất nước này từ trên một ngàn năm nay, đã bám rễ sâu vào nếp sống văn hóa và tình cảm tâm linh của dân tộc Slave này. Và dù chế độ cộng sản trong suốt trên 70 năm đã dùng mọi phương cách bạo hành thâm độc nhằm tiêu diệt tôn giáo này, thì rốt cuộc chính các thủ phạm tàn ác là người cộng sản lại bị người dân Nga loại trừ chối bỏ. Và các nạn nhân khốn khổ là những tín đồ tôn giáo nay đang trên đà phục hồi lại được cái truyền thống đạo hạnh và nhân ái ngàn xưa của cha ông mình.

Và công cuộc phục hồi này, dù vẫn còn khó khăn phức tạp, thì vẫn rõ ràng đang là một quá trình không thể nào mà có thể đảo ngược lại được nữa vậy (an irreversible processus).

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Công Lý Cho Quân Dân VNCH

Vi Anh

Người Mỹ gốc Việt rất cám ơn Thượng Nghị sĩ Webb đòi hỏi công lý cho những quân nhân mất tích của Việt Nam Cộng hòa mà cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ, USAID đã bỏ quên khi làm việc với CS Hà nội trong việc sữ dụng một triệu Ðô la do Mỹ viện trợ cho CS Hà nội tìm những quân nhân mất tích của CS Bắc Việt, Việt Cộng (Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) và Việt Nam Cộng Hòa.

Ðó là đòi hỏi linh quyền cho người mất tích (MIA) hay đã tử trận (KIA). Còn người sống, là người Mỹ gốc Việt gốc quân dân VNCH đang sống sờ sờ và hiện là công dân chánh thức, cử tri mẩn cán của Mỹ cũng đã và đang bị một bất công. Mỹ đã bỏ quên khi ký và thi hành Thương Ước -- bản Thương Ước giữa Washington và Hà nội. Theo đó CS Hà nội được “xuất khẩu” văn hóa phẩm sang Mỹ mà người Mỹ trong đó có người Mỹ gốc Việt không được “xuất cảng” văn hóa phẩm của Mỹ qua VNCS. Hy vọng sẽ có những dân cử Mỹ nhơn danh công bằng đặt vấn đề với Bộ ngọai Giao, Bộ Thương Mại và Ngọai Thương và vị Ðại diện Thương Mại của Mỹ trong vấn dề thi hành Thương Ước Washington- Hà nội.

Một, về linh quyền của tử sĩ và người mất tích của VNCH. Trước nhứt về quân nhân VNCH mất tích. Theo VOA, tiếng nói chánh thức của chánh phủ Mỹ, cuối năm rồi, cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ, USAID, cùng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội VNCS đã ký kết một biên bản ghi nhớ trong đó Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ Việt Nam 'ìm kiếm và nhận dạng' quân nhân Việt Nam mất tích trong chiến tranh và cung cấp một triệu đôla trợ giúp kỹ thuật. Ðại sứ Mỹ lúc bấy giờ là ông Michael Michalak cũng có mặt trong buổi lễ.

Nhưng TNS Webb cho biết trên báo Virginian Pilot, theo những thông tin mà văn phòng ông có được «Dự án này phải bảo đảm xử lý công bằng đối với các quân nhân mất tích thuộc quân đội Bắc Việt, lực lượng Việt Cộng và quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Thế mà, theo những thông tin mà văn phòng tôi có được, các cuộc thảo luận giữa cơ quan USAID với chính phủ Việt Nam cho thấy là các binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa không được tính trong số binh sĩ mất tích và như vậy là sẽ không nằm trong dự án này».

Do đó TNS Webb đề nghị USAID đình chỉ chương trình tài trợ trị giá 1 triệu đôla cho tới khi nào các giới chức của cơ quan đảm bảo được rằng số tiền này được dùng để xác định và tìm kiếm binh sĩ của cả quân đội miền Bắc Việt Nam cũng như lực lượng Việt Nam Cộng hòa.

Ông còn nhân mạnh nếu Hoa Kỳ tiếp tục hỗ trợ dự án này thì sự hỗ trợ đó chỉ được dành cho những binh sĩ bên phía Cộng sản, và điều đó không phải là điều đem lại sự công bằng, công lý và hòa giải dân tộc.

Thứ đến là chuyện Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, CS đã cào mồ cuốc mả tử sĩ VNCH, bỏ hoang tàn thê thảm như để trả thù người chết vậy, Về biểu tượng thiêng liêng này của quân dân VNCH, vị Thượng nghị sĩ Dân chủ đại diện bang Virgina, chủ tịch tiểu ban Ðông Á Thái Bình Dương của Uỷ ban Ngoại giao Thượng viện Mỹ nhơn vụ USAID, Ông nói trong chuyến viếng thăm VNCS gần đây, Ông còn thấy Nghĩa trang An Bình, tức nghĩa trang quân đội Biên Hòa trước đây, hiện bị bỏ hoang phế và cần phải được tu bổ lại.

Hầu như ngay sau đó, Thượng Nghị sỹ Patrick Leahy lên tiếng ủng hộ TNS Jim Webb trong nỗ lực nhắc đến các quân nhân Nam Việt Nam: "Ðây là điều quan trọng trong tinh thần hòa giải và đối với quan niệm trung thành và tôn trọng của người Mỹ rằng chúng ta không bao giờ quên những người đã ở bên chúng ta, ngay cả khi chúng ta bước vào tương lai và hợp tác với những người từng chiến đấu chống lại chúng ta."

Trước những lời lên tiếng công khai của TNS Jim Webb, phát ngôn viên của cơ quan USAID khẳng định là họ sẽ «tìm kiếm và nhận dạng thi hài quân nhân của cả hai bên trong cuộc chiến, để giúp đóng lại vết thương của hàng triệu gia đình Việt Nam cho tới nay vẫn không biết về số phận của người thân bị mất tích».

Một triệu Ðô la tuy không là nhiều so với ngân sách ngọai viện của Mỹ đơn vị tính bằng tỷ. Nhưng 1 đồng tiền thuế của dân đem viện trợ mà không kiểm sóat coi xài có đúng như chánh quyền và nhân dân Mỹ muốn, thể hiện qua ý kiến của dân biểu nghị sĩ Mỹ, cụ thể là Quốc Hội, là USAID thiếu trách nhiệm với chánh phủ và nhân dân Mỹ. Ở một mức độ nào đó người ta nghĩ USAID không giữ vững lập trường, thiếu tinh thần tranh đấu buộc CS Hà nội phải thi hành cam kết với Mỹ. Và nhứt là USAID đã làm trái với đạo lý mà người Mỹ được giáo dục trong gia đình và xã hội, là công bằng là đạo người ta ở đời.
Một triệu Ðô la thôi, mà CS Hà nội còn lạm dụng như vậy, ai biết được CS đã “rút ruột” bao nhiêu các khỏan viện trợ lớn khác của Mỹ như hàng triệu triệu Ðô la Mỹ viện trợ cho VNCS phòng chống bịnh Aids, cấp học bổng cho sinh viên VN du học. Rất nhiều dư luận CS Hà nội đã ăn xới, ăn bớt, lạm dụng đưa con ông cháu cha đi học thay vì người tài mà người Mỹ muốn đào tạo giúp cho VN; nhưng có ai nghe thấy phản ứng gì của Tòa Ðại sứ Mỹ ở Hà nội và USAID đâu.

Nhưng chờ xem, dù bị TNS đặt vấn đề, USAID hứa sửa sai, CS Hà nội sẽ vần cứ tĩnh bơ, họ có 1001 cách trở trái làm mặt. Liệu USAID có đủ kiên nhẫn và mưu trí đối phó buộc CS Hà nội thi hành nghiêm túc bảng ghi nhớ hay không.

Hai, một nền văn hóa Mỹ bị Mỹ bỏ quên. Trong Hiệp Ưóc Thương Mại Song Phương (gọi tắt Thương Ước) giữa Washington- Hà nội, có điều khoản C1 và H qui định CS Hà nội đượïc tự do du nhập văn hoá phẩm mọi loại vào Mỹ mà Ðại diện Thương Mại Mỹ phải thương lượng sửa lại cứ mỗi ba năm một lần. Ðó là điều khoản tạo ra giao lưu văn hoá một chiều, CS Hà nội được “xuất khẩu” văn hóa phẩm sang Mỹ mà Mỹ không được hay chưa được đưa văn hóa phầm Mỹ vào VNCS. Người Mỹ gốc Việt là nạn nhân bị tước đoạt quyền phổ biến tư tưởng ở VN, trong khi tại quê hương thứ hai của người Mỹ gốc Việt là nước Mỹ bị tràn ngập văn hóa của CS xuất khẩu qua. Một bất công đã tạo nhiều cuộc phản đối biểu tình mạnh từ khi có Thương Ước giữa Washington -Hà nội đến giờ. Nhưng suốt mấy kỳ ba năm tái xét Thương Ước, Mỹ đặc biệt là vị Ðại diện Thương Mại Mỹ im lặng một cách khó hiểu. Công dân Mỹ gốc Việt hoàn hòan toàn bị bỏ quên trong khi ký và thi hành Thương Ước.

Ba và cuối cùng tự do, dân chủ, dân quyền không thể xin mà có, chờ người khác làm cho mình hưởng. Cộng đồng người Mỹ gốc Việt ở Mỹ có lá phiếu, có hậu thuẩn của những người dân cử Mỹ chánh trực, hiểu biết chánh nghĩa đấu tranh của dân người Việt và người Mỹ gốc Việt – như TNS Webb. Mùa bầu cử này là mùa thuận tiện để người Mỹ gốc Việt cho những quyền lợi chính đáng của mình như Mỹ phải đòi hỏi CS Hà nội cho văn hóa phẩm của Mỹ nói chung trong đó có Mỹ gốc Việt xuất cảng vào VNCS.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Ðộc tài và tham nhũng

Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)

Các chế độ độc tài thường tự đào huyệt chôn chúng trước khi chúng bị tiêu diệt. Ngay cả khi chúng bị một lực lượng nào đó tiêu diệt thì thường,
bên cạnh chúng, cũng đã có sẵn một số huyệt do chúng tự đào rồi.

Image
Ông Huỳnh Ngọc Sỹ, bị tố cáo tham nhũng trong dự án làm đường ở Việt Nam, được công an đưa lên xe. (Hình: STR/AFP/Getty Images)

Chúng tự đào huyệt bằng cách nào đó? Có nhiều cách, nhưng cách phổ biến nhất là tham nhũng.

Ở đây, có mấy điều cần được nhấn mạnh:

Thứ nhất, tham nhũng là một trong những hiện tượng phổ biến của nhân loại. Có lẽ không ở đâu và không thời nào lại không có tham nhũng. Hai nguyên nhân chính của tham nhũng là lòng tham và quyền lực. Lòng tham thì gắn liền với bản chất của con người; còn quyền lực thì gắn liền với quan hệ giữa người và người. Khi con người tụ tập lại thành một cộng đồng, dù nhỏ đến mấy, ý niệm về quyền lực cũng bắt đầu xuất hiện. Biết vậy, ngay từ rất sớm, nhân loại đã biết sử dụng luật pháp để vừa hạn chế lòng tham vừa hạn chế quyền lực, qua đó, hạn chế cả tham nhũng. Nhưng luật pháp lại do con người diễn dịch và thực thi. Tham nhũng, do đó, khó mà bị trừ diệt hết được.

Thứ hai, nếu tham nhũng là hiện tượng phổ biến thì sự khác biệt giữa xã hội này và xã hội khác chỉ là ở mức độ. Không ai ngây thơ cho ở các nước dân chủ, ngay cả dân chủ nhất, lại không có tham nhũng. Ở Mỹ, ở Úc và nhiều quốc gia Tây phương, lâu lâu báo chí lại phanh phui ra vài vụ tham nhũng, đặc biệt trong ngành cảnh sát. Hầu như ai cũng biết: sự tồn tại dai dẳng của vấn nạn buôn bán ma túy, không nhiều thì ít, cũng dính dáng đến tệ nạn tham nhũng ở cấp nào đó. Bởi vậy hầu như chính phủ nào cũng đều quan tâm đến việc củng cố việc thanh tra trong nội bộ ngành cảnh sát. Những nỗ lực ấy chỉ làm giảm thiểu chứ khó trừ diệt được hoàn toàn vấn nạn tham nhũng.

Thứ ba, tuy các nước dân chủ cũng có tham nhũng, nhưng hầu như ai cũng thấy không ở đâu nạn tham nhũng lại trầm trọng như ở các quốc gia độc tài. Ðiều này có thể dễ dàng chứng minh cả bằng thực tiễn lẫn bằng lý luận. Một là, nếu tham nhũng gắn liền với quyền lực thì quyền lực càng bị giám sát, tham nhũng sẽ càng giảm thiểu. Hai là, nếu quyền lực gắn liền với luật pháp thì ở đâu luật pháp càng minh bạch thì nạn tham nhũng càng ít có cơ hội nảy nở. Ba là, nếu tham nhũng gắn liền với lòng tham thì ở các xứ nghèo (thường cũng là xứ độc tài), người ta càng khó tự kiềm chế trước sự quyến rũ của sự tham nhũng. Tại sao, ở Tây phương, khi lái xe quá tốc độ, chẳng hạn, bị cảnh sát chặn lại, bạn không dám dúi vào tay hay túi cảnh sát vài chục đô để khỏi bị phạt? Trả lời: tại bạn sợ. Tại sao bạn sợ? Trả lời: bạn có thể bị bắt về tội đút lót, và trong trường hợp đó, hình phạt sẽ nặng nề hơn rất nhiều. Nhìn từ góc độ cảnh sát, tại sao cảnh sát Tây phương thường không dám ngửa tay nhận hối lộ kiểu như vậy? Câu trả lời cũng rất đơn giản: Số tiền ấy quá nhỏ so với lương của họ. Vì quá nhỏ, không ai dám liều lĩnh hay dại dột phiêu lưu. Như vậy, bản chất của tham nhũng bao giờ cũng là một sự tính toán. Khi số lợi do tham nhũng mang lại nhiều hơn các nguy cơ họ phải đối diện, người ta sẽ tham nhũng: Các chế độ độc tài thường cung cấp đầy đủ các điều kiện để tham nhũng phát triển và hoành hành.

Thứ tư, một mặt, tham nhũng trầm trọng ở các nước độc tài hơn các nước dân chủ, mặt khác, giữa các nước độc tài, mức độ tham nhũng cũng khác nhau. Trong bài báo “Sources of corruption in authoritarian regimes,” đăng trên Social Science Quarterly số 1, ra vào tháng 3 năm 2010, Eric Chang thuộc Ðại Học Michigan State và Mariam A. Golden thuộc Ðại Học California ở Los Angeles, khảo sát hơn 40 chế độ độc tài khác nhau và phát hiện ra một số điểm chung. Một, các chế độ độc tài cá nhân trị (personalistic hay personalistic-hybrid regime) thường tham nhũng hơn các chế độc độc tài đảng trị (single-party) hoặc quân phiệt (military regime). Hai, chế độ càng yểu mệnh bao nhiêu càng tham nhũng bấy nhiêu.

Theo mẫu này, Việt Nam thuộc chế độ độc tài đảng trị. Kể về mức độ tham nhũng, Việt Nam được xem là đỡ hơn một số quốc gia độc tài cá nhân trị ở Châu Phi. Ðiều này phù hợp với các bảng xếp hạng do tổ chức Minh Bạch Quốc Tế (Transparency International) thực hiện hàng năm. Ví dụ, theo số liệu mới nhất, Việt Nam đứng hàng thứ 116 trên tổng số 178 quốc gia theo chỉ số tham nhũng. Bản báo cáo cũng nhấn mạnh là so với năm trước, mức độ tham nhũng ở Việt Nam vào năm 2010 còn tệ hại hơn năm 2009.

Ðiều cần chú ý là các bảng xếp hạng thường căn cứ vào dư luận của các doanh nhân và thường dân trong mỗi nước. Ở đây, chúng ta thấy kết quả sẽ rất tương đối. Nó thường “lạc quan” hơn là sự thật. Lý do, thứ nhất là vì, không phải ai cũng dám tiết lộ chuyện tham nhũng. Khác với các tội phạm khác, tham nhũng được tiến hành với sự đồng lõa từ cả hai phía: người hối lộ và người nhận hối lộ. Bởi vậy, người ta dễ có khuynh hướng bao che cho nhau. Lý do thứ hai là tùy văn hóa. Có những văn hóa xem tham nhũng là điều xấu xa và bất khả chấp nhận. Nhưng cũng có những văn hóa xem việc tham nhũng như một trong những cách giao tiếp và làm ăn, cho nên, trên nguyên tắc, nó có thể chấp nhận được nếu người ta không phải trả một cái giá quá đắt. Ví dụ, ở Việt Nam, đi làm một thứ giấy tờ gì đó, người dân thường đút lót một ít tiền cho công an hoặc cán bộ. Nhiều người chấp nhận chuyện đó vì nhờ nó, công việc được tiến hành trôi chảy và nhanh chóng hơn. Nói cách khác, họ nhìn những chuyện tham nhũng như thế từ góc độ “business” chứ không phải từ góc độ đạo đức. Do đó, trong mọi cuộc điều tra hay thăm dò dư luận, số lượng tham nhũng ở Việt Nam sẽ tự động bị giảm xuống.

Luận điểm cho các chế độ yểu mệnh thường tham nhũng nhiều hơn các chế độ được kéo dài cũng nên được hiểu một cách linh động. Ví dụ, so với nhiều chế độ độc tài khác, chế độ cộng sản ở Việt Nam thuộc loại thọ cao. Nếu tính từ năm 1945 đến thì nó đã gần 70 tuổi. Nhưng về tâm lý thì sau sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở Nga và Ðông Âu rõ ràng là giới lãnh đạo Việt Nam sống trong trạng thái tâm lý phập phồng của những người yểu mệnh. Họ không biết chế độ sẽ sụp đổ lúc nào. Do đó, hầu như ai cũng lo vơ vét càng nhiều càng tốt. Và chuyển ra nước ngoài càng nhiều càng tốt. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà mức độ tham nhũng không những không giảm mà còn có khuynh hướng càng ngày càng tăng. Lớn ăn lớn. Nhỏ ăn nhỏ. Ở đâu cũng có tham nhũng.

Thật ra, chính bằng những sự tham nhũng tràn lan như vậy, đảng Cộng Sản và chính quyền Việt Nam đang tự đào huyệt cho mình.

Cần nói ngay là tham nhũng tự nó không dẫn đến cách mạng. Trạng thái tham nhũng là một thái đồng lõa, do đó, tuy thiệt hại cho đất nước thì vô cùng lớn, nhưng với từng cá nhân, người ta hiếm khi thấy quá bức bối để có thể vùng dậy. Ðó là lý do chính khiến người dân ở nhiều người có thể chịu đựng và sống chung với tham nhũng từ năm này qua năm khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, thậm chí, từ thế kỷ này sang thế kỷ khác. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, tham nhũng lại có tác động sâu sắc ở khía cạnh khác: nó phá đổ những huyền thoại mà đảng Cộng Sản tự tô vẽ cho mình lâu nay.

Ðảng yêu nước ư? - Người ta chỉ thấy tham nhũng.

Ðảng yêu dân và lo cho dân ư? - Người ta chỉ thấy tham nhũng.

Ðảng anh hùng và sáng suốt ư? - Người ta chỉ thấy tham nhũng.

Ðảng là người duy nhất có khả năng lãnh đạo đất nước thoát khỏi nghèo đói ư? - Người ta chỉ thấy tham nhũng.

Mất đi những huyền thoại ấy là mất gần hết sức mạnh truyền thống của đảng cộng sản.

Họ chỉ còn có súng.

Nhưng súng của quân đội và công an ở Tunisia, Ai Cập và Libya vừa rồi rõ ràng là không đủ sức để bảo vệ Zine el-Abidine Ben Ali, Hosni Mubarak và Muammar Gadhafi.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Điều gì sẽ xảy ra nếu Iran ‘nổi hứng’ tấn công Israel?
Vì một vài lý do mà Israel và Mỹ dù rất muốn nhưng không thể tấn công Iran. Kết quả là, Iran có thể gia nhập câu lạc bộ hạt nhân, buộc Israel điều chỉnh các chiến lược và tăng cường khả năng phòng thủ.

Giới lãnh đạo Iran ở thời kỳ nào cũng vậy, đều ôm một mối lo về một cuộc xung đột có khả năng xảy ra với “chế độ phục quốc Do Thái”.

Nhiều người đặt câu hỏi chuyện gì sẽ xảy ra với Israel nếu khả năng các lãnh đạo Iran muốn dùng sức mạnh hạt nhân phụng sự cho bổn phận tôn giáo hơn là quan tâm đến sự sống còn của quốc gia?

Đó chắc chắn sẽ là kịch bản xấu mà không người Do Thái nào mong chờ. Do đó, không ít người muốn thay đổi chế độ ở Iran nhưng điều đó có thể chỉ mang tới điều bất hạnh hơn bởi chẳng ai có thể đảm bảo chế độ hậu Ahmadinejad sẽ tốt đẹp hơn.

Vậy nếu cuộc xung đột này thực sự xảy ra, nó sẽ có nhiều khả năng dẫn đến một cuộc chiến tranh hạt nhân. Vậy chuyện gì sẽ xảy ra với Israel sau đó?
Image
Israel và đồng minh thân thiết của họ là Mỹ luôn lo sợ về khả năng bị
tấn công bằng vũ khí hạt nhân bởi Iran.


Đầu tiên là, hàng nghìn người sẽ bị chôn vùi dưới các đống đổ nát hoặc sẽ bị thương. Những người khác sẽ là nạn nhân của cơn bão lửa hạt nhân kinh hoàng. Nếu may mắn thoát chết, họ sẽ phải đối mặt với các vết bỏng nặng, bị nhiễm phóng xạ và những chấn thương tâm lý nghiêm trọng, thậm chí không thể phục hồi.
Sau đó, hệ quả bao gồm: sự thay đổi nhiệt độ; ô nhiễm thực phẩm và nguồn nước sinh hoạt; các loại dịch bệnh chết người sẽ lan tràn ở khắp nơi, ở cả cây trồng, vật nuôi, lẫn con người do ion hóa phóng xạ gây nên và do ô nhiễm môi trường; tuổi thọ con người giảm sút đáng kể bởi những tổn thương không thể phục hồi; bệnh ung thư và các loại bệnh thoái hóa do tác động của các hạt plutonium phóng xạ sẽ lan rộng và trở thành mối đe dọa lâu dài; bức xạ gây ra các loại bệnh di truyền và làm giảm chất lượng dân số.

Do đó, không khó để thấy, những người sống sót sẽ đối mặt với các vấn đề về sức khỏe nghiêm trọng. Thậm chí, những cư dân ở cách xa khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp từ một quả bom nguyên tử cũng phải đối mặt với nhiều căn bệnh hiểm nghèo, đặc biệt là bỏng da và bỏng võng mạc.

Ngoài ra, bất cứ một vụ tấn công hạt nhân nào, thậm chí chỉ là một vụ tấn công nhỏ, cũng đủ làm rối loạn xã hội Israel.

Hàng triệu người dân Israel sẽ đối mặt với tình trạng mất nhà cửa, tài sản và thiếu lương thực kéo dài. Các vấn nạn xã hội như nạn trộm cắp, cướp bóc, giết người sẽ gia tăng…

Bên cạnh đó, hệ thống giao thông, các phương tiện giao thông cùng mạng lưới cung cấp điện bị phá hủy sẽ kéo theo sự định trệ, ngừng hoạt động của hàng loạt các lĩnh vực khác. Do đó, nền kinh tế của Israel tất yếu sẽ sụp đổ dẫn đến sự sụp đổ của cả quốc gia này.

Tuy nhiên, những hậu quả mà người Israel có khả năng phải gánh chịu bởi một vụ tấn công bằng bom nguyên tử cũng chính là những gì mà người Iran phải đối mặt. Nếu Tehran tấn công bằng vũ khí hạt nhân, tức khắc Tel Aviv sẽ “trả miếng” theo một cách thức tương tự. Do đó, niềm phấn chấn xuất phát từ hành động “tử vì đạo” của Iran (nếu có) sẽ không kéo dài đủ lâu.

Ai cũng biết rằng từ trước đến nay, Israel và đồng minh thân thiết của họ là Mỹ chưa bao giờ hết bận tâm về các chương trình hạt nhân của Iran. Trong một báo cáo mới nhất được tiết lộ hồi tháng 6 năm nay, Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế của Liên Hiệp Quốc (IAEA) "tỏ ra rất lo ngại về các hoạt động bí mật liên quan đến việc chế tạo và sản xuất vũ khí hạt nhân trong quá khứ cũng như trong hiện tại của các tổ chức quân sự hoặc có liên quan đến các hoạt động quân sự ở Iran”.

Do đó, lúc này, khi các bước đi trước hiệu quả nhằm mục đích tự vệ của Israel và Mỹ cũng như khi các chương trình ngăn chặn hạt nhân của Iran không còn hiệu quả nữa thì Jerusalem có thể phải đặt cược sự sống còn của quốc gia lên các hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo chẳng hạn The Arrow và Iron Dome.

Cuối cùng, khi đã tham gia vào trò đặt cược này, có một điều quan trọng mà Israel phải luôn tâm niệm đó là không được phép thất bại. Do đó, để tránh một kịch bản tồi tệ nhất có thể xảy ra, một thách thức lớn đang đặt lên vai các nhà hoạch định chiến lược thuộc quân đội Israel nhằm để điều chỉnh các chương trình hạt nhân "mập mờ cố ý" của họ.

Lê Dung (Theo The Jerusalem Post)

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Chết mẹ!

Quảng Trung Thiên
(Nguồn: DCVOnline)

Rất tiếc của nhưng toán đặc nhiệm Mỹ buộc lòng phải phá hủy chiếc máy bay trực thăng Hắc Ưng (Black Hawk)
bị trục trặc trong cuộc bố ráp Bin Laden tại Abbottabad, Pakistan.

Image
Phác thảo tượng đài “Mẹ Việt Nam anh hùng” với chi phí xây dựng 410 tỉ đồng Việt Nam. (Hình: VNExpress)

Tại sao họ không để lại đó rồi hôm sau đến sửa mang về? Họ sợ Pakistan sẽ bán xác chiếc máy bay này cho Trung Quốc! Trung Quốc sẵn sàng mua xác công nghệ kỹ thuật của Mỹ với giá cao.

Và cũng không phải rỗi hơi mà tờ Wall Street Journal số ra ngày 24 tháng 5, 2011 trong bài “Cuộc tấn công của Taliban phơi trần Pakistan” (Matthew Rosenberg, “Taliban Raid Exposes Pakistan”) tường thuật về cuộc tấn công của Taliban vào căn cứ hải quân của Pakistan, đã đặt nghi vấn khi biết có 11 kỹ sư Trung Quốc đang xớ rớ tại đó, họ đang làm gì ở đó? Họ làm gì mặc xác việc gì báo chí Mỹ phải xen vào? Báo chí Mỹ phải xen vào vì chiếc máy bay thám thính và chống tàu ngầm P-3C Orion vừa mua của Mỹ bị thiêu rụi, họ nghi ngờ vì có thể ruột chiếc máy bay đã được mang về Trung Quốc còn phần vỏ thì nhờ tay phiến quân Taliban giúp giùm!

Và cũng theo thông tấn xã AP vào ngày 18 tháng 9, 2011 trong bản tin “Quân Pakistan tấn công Taliban giành xác phi cơ không người lái của Mỹ” (Ishtiaq Mahsud, “Pakistan troops battle Taliban for US drone debris”). Ngay tựa đề đã thấy cái xác phi cơ không người lái của Mỹ rất là có giá. Chỉ có cái xác máy bay mà cũng phải giành giật? Vì đó là công nghệ kỹ thuật cao, nên có người như Trung Quốc sẵn sàng ra giá cao để mua lấy xác! Không những thế Trung Quốc còn hù dọa các nước láng giềng bằng cách mua con tàu ve chai Gerand của Ukraina về chế thành hàng không mẫu hạm. Trong khi các hàng không mẫu hạm của các nước tiên tiến thì chạy bằng năng lượng nguyên tử thì hàng không mẫu hạm Trung Quốc chạy bằng... diesel, nhưng không sao miễn là hèn nhát như quân đội nhân dân Việt Nam thấy sợ là được!

Nhưng đó là chuyện của Trung Quốc đâu có liên quan gì đến Việt Nam? Có chớ! Vì Việt Nam là thuộc địa kiểu mới của Trung Quốc nên cái gì Trung Quốc làm thì chính phủ Việt Nam rắp tâm bắt chước theo, cũng tập tành mua... xác! Không cần phải đi đâu xa cho tốn tiền mệt xác, chính phủ Việt Nam cũng mua... xác công nghệ cao từ Trung Quốc. Miễn là công nghệ cao thì cũng tốt chứ sao? Không, đó đơn thuần chỉ là những cái xác, từng đoàn lao động phổ thông từ Trung Quốc tràn ngập Việt Nam và cạnh tranh với đám thợ hồ tụi tui gay gắt. Và từng đoàn cán bộ từ sở, ban ngành đến trung ương của Việt Nam đều sang chầu chực Trung Quốc để rồi rinh về mớ xác phế thải, từ nhà máy đến... tàu cao tốc. Ðể rồi đến chín mươi phần trăm công trình trọng yếu của quốc gia đều là từ Trung Quốc. Khoan nói đến an ninh quốc phòng, chỉ nghe đến chất lượng Trung Quốc đã thấy kinh!

Khi những cái xác phế thải từ Trung Quốc không đủ đáp ứng nhu cầu tham nhũng, thì những người cộng sản Việt Nam quay ra bươi lại những cái xác của chiến tranh để kiếm tiền tư túi. Khi những nước lân bang như Nam Hàn, Singapore, Mã Lai... đã ra khỏi chiến tranh và trở thành cường quốc thì Việt Nam, tuy chiến tranh đã trôi qua được 36 năm, nhưng vẫn còn ngập ngụa trong những cái xác phế thải. Chính vì ngập chìm trong bóng ma chiến tranh, vương vấn với hào quang chiến thắng nên người cộng sản Việt Nam đã cho mình ở vào đỉnh cao của trí tuệ của loài... vật. Khi những quốc gia lân cận vươn tới đỉnh cao của công nghệ kỹ thuật, như Nhật, Nam Hàn, Singapore... thì Việt Nam cũng phát triển được công nghệ... mãi dâm và ăn được cả bê tông cốt thép!

Không đâu như Việt Nam, công nghệ “ăn nhậu” và “bia ôm” đã lan tràn đến hang cùng ngõ hẻm. Những người cộng sản Việt Nam khi đã no say thì họ bổng giật mình nhớ ra là mình cũng còn có... mẹ. Ừ thì “những người mẹ này đã dũng cảm... điên khùng bóp mũi con mình cho chết để che giấu cán bộ cộng sản nằm vùng, để rồi đám du côn này khi thành công lại bóp miệng bà mẹ già nua, cô đơn nghèo khó, đã cắc củm nuôi mình năm xưa, quăng ra đường để chiếm lấy miếng đất hương hỏa của họ mà làm sân gôn (golf) hay xây biệt thự” như ông đã viết. Không, đó là những bà mẹ còn sống, tui chỉ nói là họ nhớ ra những bà mẹ... đã chết! Ðám quan chức mừng rơn khi... mẹ chết! Vì có cớ làm một đám tang linh đình để khai thác tận thu tiền phúng điếu. Nếu đám quan chức này không... chết mẹ thì sao? Thì bươi đại một cái xác của bà nào đó, chết trong chiến tranh, sơn phết, tân trang, bóp nặn ca tụng thành mẹ rồi dựng tượng đài để mà lấy tiền.

Theo báo Người Lao Ðộng số ra ngày 20 tháng 9, 2011, “Xây tượng đài 410 tỉ đồng” của Ngân Hoa, thì tỉnh Quảng Nam “nâng tổng số tiền đầu tư từ ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh lên hơn 410 tỉ đồng” để xây tượng đài một bà mẹ! Không cần phải bàn nếu họ dựng lại cái xác bà nhà quê bằng tiền túi của họ, nhưng đằng này họ lấy tiền thuế của dân để xây dựng công trình, để rồi tiền “lại quả” chạy vào túi riêng của họ. Nhẩm tính theo thời giá hiện nay số tiền “lại quả” là ba mươi phần trăm của tổng vốn công trình cho chủ đầu tư, thì phần “lại quả” của 410 tỷ không phải là nhỏ. Cho dù ít hay nhiều thì hành động ăn trên xác người đều đáng lên án. Càng đáng lên án khi các bà mẹ quê còn sống đang tần tảo vất vả mang từng túm rau, bó cải ra chợ để đổi chác được mươi ngàn để đóng học phí và nuôi con ăn học. Những đứa con bữa đói bữa no nhưng vẫn cố gắng ôm cặp đến trường để tìm kiến thức và Chủ Nhật hàng tuần vẫn xuống đường biểu tình để bảo vệ tổ quốc. Ở Quảng Nam vẫn còn có những đứa con không có tiền để đóng học phí đại học. Ngược lại, đám quan chức vẫn ăn chơi hoang đàng xa xỉ, bòn rút người nghèo, dập vùi những bà mẹ còn sống, bươi xác những người đã chết để lấy tiền bỏ vào túi riêng.

Một tỉnh nghèo như Quảng Nam, hàng năm từng đoàn người lũ lượt kéo nhau ra đi khắp bốn phương làm thợ hồ, thợ may trong đó có... tui, để kiếm sống và nuôi những người thân còn ở lại. Một tỉnh không đủ việc làm cho dân, quanh năm chỉ quanh quẩn với giày da, suốt tháng chỉ biết may mặc, tất cả chỉ đều công việc gia công với đồng lương chết đói. Còn những người nông dân thì chỉ biết bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, bám với mẫu ruộng cằn cỗi với “công nghệ” của ngàn năm về trước, con trâu đi trước cái cày theo sau, và chạy ăn ngày ba bữa. Nhưng chính quyền cấp tỉnh mặc kệ, vẫn cứ chơi sang và chơi... ngu, tiêu tiền của dân vô tội vạ.

Không chỉ riêng với một tỉnh Quảng Nam, các tỉnh thành khác cũng làm tương tự. Lên đến cấp quốc gia thì chính phủ Việt Nam sẵn sàng phung phí tiền dân như Vinashin và sắp tới đây sẽ là tàu cao tốc với công nghệ Trung Quốc. Một chính quyền chỉ biết đàn áp dân, cướp của dân và sống bám vào dân. Chính quyền cộng sản đã thành giống ký sinh trùng đục khoét, vơ vét trên tấm thân còm cõi mẹ Việt Nam. Với chính quyền thiểu năng trí tuệ như vậy sẽ dẫn con thuyền Việt Nam trôi dạt về đâu? Thì về Trung Nam Hải chớ đâu nữa. Chết mẹ!

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Khi ‘Lão Lý’ lắc đầu

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Ông Lý Quang Diệu là một nhân vật đặc biệt ở Châu Á. Ông được người dân nước ông coi là Cha đẻ của quốc gia Singapore độc lập và phồn vinh.

Image
Cựu Thủ Tướng Singapore Lý Quang Diệu. Hình chụp tại Tokyo ngày 26 tháng 5. (Hình: Toshifumi Katimura/AFP/Getty Images)

Tháng 9 này, sinh nhật lần thứ 88 của ông được kỷ niệm trên khắp nước kết hợp với kỷ niệm lần thứ 47 ngày lập quốc. Báo chí quốc tế lại có dịp ca ngợi đất nước nhỏ bé này là con mãnh hổ thần kỳ nhất trong 4 con hổ Châu Á gồm có Singapore, Hồng Kông, Ðài Loan và Nam Triều Tiên.

Năm 1965, tổng sản lượng của Singapore đạt gần 1 tỷ đôla, tính theo đầu người là 516 đôla/năm; năm 2010, 2 con số này đã vọt lên thành 223 tỷ và 44,000 đôla - có nghĩa là tổng sản lượng tăng hơn 200 lần và thu nhập bình quân đầu người tăng hơn 80 lần so với 47 năm trước. Thật là một kỷ lục phi thường. Nhân dịp này báo chí Pháp, Anh nêu bật nếp sống thật sự giản dị, gương mẫu của ông Lý Quang Diệu - hay “Lão Lý”, theo cách gọi thân mật của người dân. Ông không đồng ý việc tạc tượng, trưng ảnh ông, đặt tên ông cho các công trình. Ông vẫn ở căn nhà nhỏ, đi xe hơi loại rẻ. Con trai ông, Lý Hiển Long, dù là thủ tướng đương nhiệm, và con gái ông, bác sỹ Lý Vĩnh Linh, cũng theo nếp sống như thế, không có biệt thự, nhà nghỉ riêng, không có xe cộ, trang sức gì khác người. Triết lý sống của cả gia đình ông là thế, không lập dị, không đua đòi, xem sự thanh bạch là một điều đương nhiên để được sống an vui, hạnh phúc. Ðiều quan trọng đối với ông là dân Singapore sống tốt, sống sạch, xã hội sạch, môi trường sạch, lương tâm sạch.

Nhân dịp này ông Lý Quang Diệu có một số ý kiến đáng chú ý. Ông cho rằng Trung Quốc dù phát triển liên tục nhưng chứa nhiều nguy cơ mang tính bi kịch, và rằng Ấn Ðộ là nước Châu Á gây ấn tượng mạnh nhất về chất lượng phát triển bền vững.

Về Singapore, “Lão Lý” nhân danh bộ trưởng - cố vấn cho chính phủ, tỏ ý vui mừng thấy lý tưởng của ông đã được nhà nước kiên trì thực hiện suốt gần 50 năm nay. Bài học lớn nhất, theo ông, là coi trọng giá trị của con người, đồng thời ngăn chặn ảnh hưởng thái quá của đồng tiền trong chính trị. Ông hiểu sâu sắc đồng tiền vừa là nguồn hạnh phúc, vừa là động lực tha hóa xã hội. Lãnh đạo giỏi là người điều hòa được mối mâu thuẫn này.

Ông Lý cho rằng trong xây dựng guồng máy cai trị và cải cách hành chính của nhà nước, vấn đề trung tâm là tuyển mộ được nhân tài có chất lượng cao nhất - ông gọi là nhân tài loại 1, tức là những người vừa có chuyên môn cao vừa có lối sống trong sạch. Thấp hơn một bậc là nhân tài loại 2, tức là những người sẽ làm suy yếu đất nước nếu được nắm giữ các chức vụ cao. Nếu chỉ là nhân tài vào loại 3 hay loại 4, nghĩa là tài kém đức suy thì sẽ mang lại tai họa cho đất nước. Ông cho rằng người lãnh đạo phải kiên quyết cảnh giác với thế lực đồng tiền trong chính trị, và rằng tệ mua quan bán tước và nạn bè phái là 2 tai họa lớn nhất cho một chế độ.

Ông Lý Quang Diệu từng sang Việt Nam nhiều lần, theo lời mời của chính quyền Việt Nam. Ðó là chuyện của 15 năm trước, khi Việt Nam vừa được gia nhập WTO, mở ra một triển vọng lớn. Ông chân thành góp ý xây dựng, san sẻ kinh nghiệm quý. Nhưng ông đã nản lòng và thất vọng. Mấy năm nay ông lại càng thất vọng hơn. Trả lời báo The Straits Times của Singapore hồi năm ngoái, ông nói về Ấn Ðộ, về Ðài Loan, về Nam Triều Tiên; khi được hỏi về Việt Nam ông lắc đầu: “Nên quên đi, tôi đã nói hết với họ rồi, vô ích!”, rồi ông nói về Nhật Bản.

Nhớ lại, ông Lý từng tâm sự với nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt và các nhà báo Việt Nam về đề tài chống tham nhũng 15 năm trước. Ông nói rất giản dị: Hãy nâng lương cho viên chức đủ sống để không ai cần ăn cắp, luật pháp phải thật nghiêm để kẻ tham sợ không dám tham nhũng, đạo đức trong xã hội phải được truyền bá để mọi người khinh và hổ thẹn đối với tệ nạn xấu xa này.

Tóm lại là 3 không: Không cần, không dám, không nỡ.

Ông Lý kể chuyện đã tăng quỹ lương cho viên chức ra sao, trừng trị tệ “phong bì”, “đưa tiền dưới bàn ăn”, “huê hồng”, “tặng phẩm, biếu xén, quà cáp, sinh nhật”... ra sao, và nhân tài loại 1 là thế nào, có lương thiện, trong sáng mới thật sự tài giỏi có ích.

Ông Lý nản lòng, không muốn nhắc đến Việt Nam nữa vì ông biết lời ông đã như nước đổ đầu vịt. Giá như người ta nghe lời ông, quyết liệt diệt tham nhũng như đã hứa, thì 20% ngân sách hàng năm đã không bị xà xẻo, chia chác cho đám tham quan ô lại nhiều vô kể và hàng tỷ đôla đã không bị lãng phí vì bất tài và tham nhũng. Nếu 20% ấy được dành cho quỹ tiền lương - như ông Lý khuyên - thì cục diện kinh tế-chính trị-xã hội Việt Nam đã khác hẳn.

Trái ngược với lời khuyên răn trên, suốt 15 năm qua, quốc nạn tham nhũng ở nước ta trầm trọng thêm gấp bội, vì mọi người đều thấy cần phải tham nhũng, không tham nhũng không sống nổi; dám tham nhũng vì đã có ô, có lọng, có khe hở luật pháp để chạy án; và không ai còn biết xấu hổ khi ăn bẩn và đút lót vì mọi người đều tham gia, ta không ăn và đút là dại, là ngu đần, là thiệt. Trên ăn thì dưới cũng ăn, trên múc thì dưới cũng múc. Tôi ăn, anh ăn, chúng ta cùng ăn dù là ăn bẩn, thế là hòa. Trước cảnh này, có một người rất buồn, rất nản, đó là “Lão Lý” Singapore, người từng hy vọng làm một cố vấn tốt, có ích cho nước bạn.

Trong dịp mừng ông Lý Quang Diệu 88 tuổi, báo chí Ðông Nam Á lại có dịp nói về những nét đẹp của Singapore. Ở đây phố xá, vỉa hè công cộng sạch nhất thế giới. Ở đây nhà vệ sinh công cộng nhiều và cũng sạch nhất thế giới. Mọi nhân viên hành chính công cộng không những luôn luôn nhã nhặn, nở nụ cười mà còn tận tình đáp ứng quyền lợi người dân. Ði khắp nơi, hầu như không có chen lấn, khạc nhổ, móc túi, xin tiền. Con người tôn trọng yêu thương con người.

Singapore có thu nhập đầu người cao nhất Ðông Nam Á, 44,000 đôla/năm, gấp hơn 40 lần mỗi người dân Việt Nam hiện nay, ấy vậy mà họ vẫn nghe theo “Lão Lý”. Ðồng tiền là quý, là cần khi thu nhập chính đáng, nhưng phải luôn luôn cảnh giác; đồng tiền có thể tha hóa xã hội, tạo nên bất bình đẳng, cho nên cần luôn đặt giá trị con người và đạo lý làm người lên trên giá trị của đồng tiền. Từ đó đồng tiền sẽ là phương tiện, là công cụ quý của con người, phục vụ chứ không làm chủ con người. Chí lý thay!

Các bạn Singapore thường nói: “Chúng tôi quý ông già Lý, 'Lão Lý' của chúng tôi, vì ông không những là Cha đẻ của nước Singapore độc lập, ông còn là Kiến trúc sư của Singapore mới, phồn vinh, sạch sẽ từ trong ra ngoài, một xã hội hài hòa, ổn định, hòa bình, được bạn bè khắp nơi quý trọng, giữa một thế giới đang có nhiều hỗn loạn và khủng hoảng”.

Quả thật “Lão Lý” là Nhân tài số 1, trong số Nhân tài loại 1 thời hiện đại của nước Singapore mới. Nhân dân Singapore tinh đời và hạnh phúc thật.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Những chiêu bài của bọn VGCS để xóa bỏ lằn ranh quốc cộng

Lê Duy San
Ngày xưa, nói tới Việt gian là người ta nghĩ ngay tới những người không những làm việc cho Pháp mà còn có những hành động hãm hại những người Việt yêu nước để tâng công với chính quyền Bảo Hộ tức chính quyền Pháp đang cai tri Việt Nam. Đến thời Việt Minh, thì tất cả những ai làm việc cho chính quyền Pháp đều bị coi là Việt Gian.

Ngày nay, chữ Việt gian lại được hiểu theo nghĩa khác, đó là bọn Việt Cộng nằm vùng, bọn thân Cộng tức bọn làm ăn hoặc giao du với Việt Cộng và sau cùng là bọn người có những hành vi, hành động tâng bốc Việt Cộng hay có lợi cho VC. Tất cả những bọn người này bị đồng bào, nhất là đồng bào tỵ nạn Cộng Sản gọm chung vào một cái tên là bọn Việt Gian Công Sản.

Mặc dầu bọn VC đã thống trị được toàn thể lãnh thổ VN hơn 1/3 thế kỷ, nhưng bọn chúng vẫn không những không xóa bỏ được làn ranh Quốc Cộng mà trái lại làn ranh này vẫn mỗi ngày một rõ ràng thêm. Điều này đã làm cho bọn Cộng Sản Hà Nội không những tức tối mà còn mất ăn, mất ngủ vì làn ranh Quốc Cộng nếu không xóa bỏ được, thì chắc chắn chế độ Cộng Sản Việt Nam sẽ có ngày phải xụp đổ và đảng Cộng Sản VN chắc chắn sẽ có ngày phải tan rã. Vì thế bọn Việt Cộng đã phải đề ra nghị quyết 36 không những để lôi cuốn những thành phần ham danh, hám lợi nhưng vẫn chưa rứt khoát tin tương ở chúng mà còn có những chiêu bài sau nhằm mục đích xóa bỏ làn ranh Quốc Cộng:

* Giao Lưu Văn Hoá
* Xóa Bỏ Hận Thù.
* Hoà Hợp Hòa Gỉải.
* Bỏ Quốc Kỳ, Quốc Ca VNCH.


1/ Giao Lưu Văn Hoá.

Nhược điểm của người Việt Hải Ngoại tỵ nạn CS, tức những người xa quê hương. Càng xa lâu, càng nhớ nhiều. Lợi dụng nhược điểm này, chúng tung ra hải ngoại sách báo, băng nhạc và phim ảnh gọi là Giao Lưu Văn Hóa.

Lúc đầu, chúng còn đưa ra nhưng phim ảnh có mục đích tuyên truyền. Nhưng sau chúng thấy bất lợi vì không nhưng không được đồng bào Hải Ngoại hưởng ứng mà còn chống đối kịch liệt. Nên sau chúng chỉ đưa ra những phim ảnh vô thưởng, vô phạt, không những hoàn tòan có tinh cách giải trí, mà nhiều khi còn cố ý chỉ trích chính quyền, nhưng chỉ về vấn đề tham nhũng hoặc tệ đoan xã hội, một vấn đề không thể dấu diếm được nhưng lại có lợi cho bọn chúng để tỏ ra ta đây (chính quyền Cộng Sản) cũng có tự do, dân chủ để lừa gạt những người Việt Hải Ngoại nhẹ dạ và thế giới dễ tin. Nhưng đậ cũng là con dao hai lưỡi. Chính nhờ nhưng phim anh này mà người Việt tỵ nạn Cộng Sản thấy rõ rằng bọn Cộng Sản VN ngày nay chỉ là một lũ buôn dân bán nước.

2/ Xóa Bỏ Hận Thù.

Bọn VGCS nói rằng chiến tranh đã chấm dứt 36 năm rồi còn thù hận gì nữa. Có tên còn dám mở miệng nói: “ Nếu VNCH thắng, có khi còn đối xử với bộ đội và người dân miền Bắc tàn ác dã man hơn là chúng (Việt Cộng) đã đối xử với quân dân miên Nam sau ngày 30/4/75.” Một số khác thì cho rằng Việt Cộng đã cho phép những người Việt hài ngoại về thăm quê hương, Mỹ đã bỏ cấm vận đối với VN, ký bang giao với Cộng Sản Việt Nam và làm ăn buôn bán với VC thì tại sao chúng ta, người Việt với nhau lại vẫn còn thù hận?

Một lý luận thật nực cười. Ai đã gây nên hận thù? Ai đã giết chết cả trăm ngàn người dân vô tội trong chính sách Cải Cách Ruộng Đất hồi 1953,1954? Ai là người đã giết chết cả ngàn người dân vô tội trong Biến Cố Quỳnh Lưu ở Nghệ An năm 1956? Ai là người đã chôn sống cả chục ngàn người dân vô tôi tại Huế trong TếT Mậu Thân 1968? Ai là người đã bắt cả trăm ngàn quân nhân công chức của chế độ VNCH vào tù với danh nghĩa là cho đi học tập cải tạo? Ai là người đã đẩy cả triệu người vô tội lên rừng, xuống biển sau khi đã tìm đủ mọi cách để cướp sạch tài sản của họ? Chính bọn VC chứ còn ai nữa?

Vậy mà bây giờ bọn chúng chưa xám hối tội lỗi thì chớ còn ức hiếp dân lành, cướp đất đai của dân nghèo, bỏ tù những người bất đồng chính kiến trong nước. Vậy mà bọn Việt Gian Cộng Sản ngu muội còn dám kêu gọi người Việt Hải Ngoại Tỵ Nạn Cộng Sản chúng ta hãy xóa bỏ hận thù. Sao bọn VGCS này không về nước mà kêu gọi quan thày của chúng là bọn Bắc Bộ Phủ xóa bỏ hận thù ?

Thực ra, người Việt tỵ nạn Cộng Sản chúng ta chống Cộng cũng không hẳn vì thù hận mà vì chúng là kẻ buôn dân, bán nước, là tay sai của Tầu Cộng, là tội đồ của dân tộc nên không những chúng ta chống bọn chúng mà dân cả nước cũng chống bọn chúng. Anh Lê Trung Thành, một sinh viên VN du học tại Đài Loan nói: “Còn Cờ Đỏ Sao Vàng Thi Không Bao Giờ Có Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc”.

3/ Hoà Hợp Hòa Giải.

Song song với chiêu bài Xoá Bỏ Hận Thù là chiêu bài Hoà Hợp Hoà Giải. Chiêu bài này đã được Việt Cộng xử dụng từ lâu và nhiều lần. Nhưng mục đích của chúng không phải là để hoà hợp hay hoà giải, mà chỉ là để hoá giải mỗi khi chúng gặp chuyện khó khăn hay có mục tiêu mới. Lần này, vì mục đích muốn xóa bỏ Làn Ranh Quốc Cộng, chúng đã mớm lời cho bọn VGCS trong đó cố ông giáo sư họ Lê và bà bác sĩ họ Nguyễn làm trung gian. Nhưng chúng cũng đã thất bại một cách thảm thương.

Thực vậy, bất cứ tên nào, nhóm nào, mới ló cái đuôi Hoà Hợp Hoà Giải là bị người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại hải ngọai đập tơi bời bởi. Bởi vì chúng ta biết rõ mục đích của chúng không phải là Hòa Hợp Hoà Giải. Nếu chúng muốn Hoà Hợp Hòa Gỉải, sao chúng không Hoà Hợp Hoà Giải với người trong nước đi, đoàn kết với người dân trong nước đi để chống Tầu Cộng mà phải Hoà Hợp Hoà Giải với người Việt hải ngoại để chống Tầu Cộng? Nếu có đầu quân đi lính để đánh Tầu Cộng thì người đầu quân là dân trong nước chứ đâu phải người Việt tỵ nạn Cộng Sản đang sống tại hải ngoại?

4/ Bỏ Quốc Kỳ, Quốc Ca VNCH.

Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và bài Tiếng Gọi Công Dân không những là biểu tượng lý tưởng của người Việt tỵ nạn Cộng Sản, không những là căn cước của người Việt tỵ nạn Cộng sàn, nó còn là biểu tượng để phân biệt rõ ràng làn ranh Quốc Gia và Cộng Sản. Một buổi họp có tính công cộng mà không treo Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, không hát bài Tiếng Gọi Công Dân thật khó lòng biết rõ đó là buổi họp của người Việt quốc gia hay của bọn Cộng Sản Việt Nam.

Để xóa bỏ Làn Ranh Quốc Cộng, bọn Việt Gian Cộng Sản đã chủ trương không chào cờ VNCH, không hát quốc ca VNCH trong các sinh hoạt cộng đồng cũng như trong các sinh hoạt hội đoàn. Nhóm “Thụ Nhân” của trường Đại Học Chính Trị Kinh Doanh thuộc viện Đại Học Đà Lạt thời VNCH trong đó có ông Tiến Sĩ “đầu ruồi” (chữ của Lão Móc) họ Phạm đang toan tính chuyện này trong Đại Hội Thụ Nhân năm 2012 tại Paris, Pháp quốc.

Tóm lại, tất cả các chiêu bài Giao Lưu Văn Hoá, Xoá Bỏ Hận Thù, Hoà Hợp Hoà Giải,Bỏ Quốc Kỳ, Quốc Ca VNCH đều là những chiêu bài của bọn Việt Gian Cộng Sản nhằm mục đích xoá bỏ Làn Ranh Quốc Cộng. Là người Việt Quốc Gia, muốn sớm giải thể được chế độ Cộng Sản VN, một chế độ buôn dân bán nước, chúng ta dù sống ở hải ngoại hay trong nước phải quyết tâm giữ vững Làn Ranh Quốc Cộng.
Chúng ta có thể quên hận thù, nhưng chúng ta không thể quên những tội ác của chúng (VC). Chúng ta không những phải nhớ những tội ác mà bọn VC đã gây ra cho dân tộc VN mà còn phải nhớ cho thật đầy đủ, thật rõ ràng để một ngày nào đó chúng ta sẽ đưa bọn chúng ra trước đồng bào cả nước để xử tội. Vì thế chúng ta phải quyết tâm:

1/ Không Hoà Hợp Hoà Giải với Việt Cộng và bè lũ tay sai của chúng là bọn VGCS.
2/ Luôn luôn giương cao Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trong mọi sinh hoạt cộng đồng cũng như hội đoàn.
3/ Đập tan mọi mưu mô xóa bỏ Làn Ranh Quốc Cộng.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Mỹ cúp $1 triệu tìm MIA vì không có VNCH

TNS Jim Webb muốn Nghĩa Trang Quân Ðội thành nơi thiêng liêng

Ðỗ Dzũng/Người Việt

WASHINGTON, DC (NV) - Thượng Nghị Sĩ Jim Webb vừa cho biết Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã thông báo với chính quyền Việt Nam là số tiền $1 triệu dành cho chương trình tìm kiếm quân nhân Việt Nam mất tích, gọi tắt là MIA, sẽ không được chuyển cho cơ quan USAID trừ khi được bảo đảm là chương trình này được áp dụng cho cả hai phía Việt Cộng và VNCH.
Image
Những ngôi mộ của tử sĩ VNCH tại Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, Bình Dương. TNS Jim Webb muốn nghĩa trang này thành nơi thiêng liêng.
(Hình: Hoàng Ðình Nam/AFP/Getty Images)

Ông cũng khẳng định sẽ tiếp tục làm việc để Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa ở Bình Dương thành một nơi thiêng liêng.

“Chương trình này thể hiện tinh thần hòa giải và đồng thời cho thấy sự trung thành và biết ơn của người Mỹ,” ông Will Jenkins, phát ngôn viên của Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, trích lời vị dân cử đại diện cho tiểu bang Virginia, cho nhật báo Người Việt biết. “Chúng ta không bao giờ quên những người đã chiến đấu cùng chúng ta, ngay cả khi đang làm việc với những người từng chiến đấu chống lại chúng ta.”

Trong một thông cáo báo chí đưa ra hôm Thứ Năm, vị thượng nghị sĩ này cũng nhắc lại ý định của ông trong cố gắng “phục hồi” Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa ở Bình Dương thành “nơi thiêng liêng, vì đây là sự tôn trọng tất cả mọi binh sĩ hy sinh trong cuộc chiến”.

Về chương trình tìm kiếm quân nhân mất tích, ông cho biết: “Tôi vừa được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nói họ đã thông báo với phía Việt Nam là sẽ không chuyển ngân khoản tìm kiếm MIA cho USAID cho tới khi được bảo đảm là chương trình này được áp dụng đồng đều cho mọi phía chiến đấu trong cuộc chiến Việt Nam.”

Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, thuộc đảng Dân Chủ và là chủ tịch Tiểu Ban Châu Á Thái Bình Dương Sự Vụ thuộc Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện. Ông là một cựu Thủy Quân Lục Chiến từng có mặt tại Việt Nam, có vợ gốc Việt và thường xuyên đến thăm Việt Nam từ năm 1991 đến nay.

Qua các công điện ngoại giao của Mỹ bị Wikileaks công bố mới đây, Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Sài Gòn cho biết Thượng Nghị Sĩ Jim Webb từng bí mật tới viếng Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa trong chuyến đi Việt Nam năm 2008.

Trong ngân sách 2010, Quốc Hội Mỹ dành ra $1 triệu cho cơ quan USAID “để tìm kiếm quân nhân cả hai miền Nam và Bắc mất tích trong cuộc chiến”.

Tuy nhiên, theo USAID, trong khi thảo luận phương cách thực hiện chương trình, chính phủ Việt Nam ngụ ý cho thấy không bao gồm MIA của phía VNCH, văn phòng Thượng Nghị Sĩ Jim Webb cho biết.

Tuần trước, Thượng Nghị Sĩ Jim Webb yêu cầu USAID tạm ngưng chương trình cho tới khi được bảo đảm có bao gồm MIA của Bắc Việt, Việt Cộng và VNCH.

Trả lời phỏng vấn nhật báo Người Việt hồi tuần trước, ông Tim Rieser, nhân viên Tiểu Ban Chuẩn Chi Công Tác Chính Phủ và Ngoại Quốc, do Thượng Nghị Sĩ Patrick Leahy làm chủ tịch, nói: “Mục đích của chương trình này là để cho người Việt Nam thấy chúng tôi quan tâm không chỉ những trường hợp MIA của chúng tôi mà của cả những MIA của hai phía Việt Nam.”
Image
TNS Jim Webb: “Chúng ta không bao giờ quên những người đã chiến đấu cùng chúng ta, ngay cả khi đang làm việc với những người
từng chiến đấu chống lại chúng ta.” Hình chụp tại Bangkok ngày 15 Tháng Tám. (Hình: Pornchai Kittiwongsakul/AFP/Getty Images)

Nhân viên của Thượng Nghị Sĩ Patrick Leahy cũng cho biết trong tương lai chương trình có thể có thêm tiền.

“Khoản ngân sách $1 triệu là số tiền có được trong lúc này. Khoản tiền này do Thượng Nghị Sĩ Leahy đề nghị trong ngân sách năm ngoái,” ông Rieser nói tiếp. “Nếu chương trình này thành công, có thể có thêm ngân sách sau này.”

Ông Rieser cũng cho biết “từ khi có ngân khoản này, hai chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam đã bắt đầu thảo luận phương cách sử dụng như thế nào”.

Thượng Nghị Sĩ Jim Webb cho biết thêm: “Nếu chương trình này được tiến hành để tìm kiếm MIA của mọi phía, nó sẽ là một cơ hội cho sự hợp tác có giá trị giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Nhưng chương trình này phải vinh danh tất cả những người đã hy sinh trong cuộc chiến và giúp đỡ thân nhân của những người thiệt mạng trên chiến trường.”

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Sự Tích Núi Bà Đen



Để giữ tiết hạnh, nàng Hương gieo mình xuống núi... Sau này nàng hiển linh giúp vua Gia Long chạy giặc và được phong Linh Sơn Thánh mẫu.

Núi Bà Đen là ngọn núi cao nhất miền Đông Nam bộ (986m) và là biểu tượng cho mảnh đất và con người Tây Ninh. Có truyền thuyết cho rằng, tên núi chỉ nàng Lý Thiên Hương sống giữa thời Trịnh - Nguyễn phân tranh. Chuyện xưa kể rằng, nàng Thiên Hương vốn là con của ông Lý Thiên và Bà Ðặng Ngọc Phụng, người gốc ở Bình Ðịnh vào Trảng Bàng lập nghiệp. Tuy nàng không phải bậc tuyệt thế giai nhân nhưng lại rất có tài và có duyên khiến nhiều người để ý. Trong làng có chàng trai Lê Sĩ Triệt, mồ côi cha mẹ, được nhà sư Trí Tân nuôi dưỡng từ nhỏ, nên có được văn hay võ giỏi.

Một góc núi Bà Đen.

Lúc đó, con trai của Hà Ðảnh, quan Huyện Trảng Bàng, rất bạo ngược, dùng quyền thế, tiền bạc mua chuộc Thiên Hương đem về làm thiếp nhưng không được, nên sai một thuộc hạ thân tín tên Châu Thiện cầm đầu nhóm người Miên dùng võ lực quyết bắt nàng Thiên Hương đem về cho kỳ được.
Thiên Hương bị đám côn đồ vây bắt. Giữa lúc nguy khốn thì chàng Lê Sĩ Triệt xông ra đánh đuổi, cứu được nàng. Nàng rất cảm động tạ ơn chàng, rồi về nhà thuật chuyện cho cha mẹ nàng rõ. Ðể đáp ơn chàng, cha mẹ nàng Thiên Hương gả nàng cho Lê Sĩ Triệt. Chưa kịp đám cưới thì Lê Sĩ Triệt phải tòng quân đánh Tây Sơn. Chàng Triệt ra đi để lại nàng Hường ở nhà vò võ trông chờ.
Một hôm nàng lên núi lễ Phật và thăm sư Trí Tân, dưỡng phụ của Lê Sĩ Triệt. Lúc về đến chân núi, thình lình bọn Châu Thiện thấy nàng đi một mình, liền vây bắt. Nàng chạy trở lên núi nhưng bị tuyệt đường, đành nhào xuống khe núi tử tiết. Ba hôm sau, Thiên Hương báo mộng cho sư Trí Tân, trụ trì ngôi chùa trên núi xin sư phụ xuống triền núi Đông Nam đem thi hài hỏa táng giùm.
Hòa Thượng làm theo lời mách bảo, tìm gặp xác của Thiên Hương, làm lễ hỏa táng chu đáo. Bọn Châu Thiện đến xem hỏa táng bị nàng Thiên Hương báo oán, khiến cho hộc máu chết liền tại chỗ.
Sau một thời gian khá lâu, Chúa Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi, chạy lạc đến Tây Ninh, nàng Thiên Hương đến báo mộng, mách bảo Nguyễn Ánh phải qua Xiêm tá binh, sau nầy sẽ khôi phục cơ đồ, thống nhứt giang sơn.
Sự linh hiển của nàng Thiên Hương được đồn vang, dân chúng các nơi lên núi Tây Ninh cầu cúng rất đông. Lúc bấy giờ Thượng Quốc Công Lê Văn Duyệt ở Gia Ðịnh đi lên núi Tây Ninh xem xét hư thực thế nào, đến nơi nói với người khuất mặt: "Hồn trinh nữ Thiên Hương quả có hiển linh, hãy xuất hiện cho bổn chức xem thử".

Tượng thờ Bà Đen trong chùa trên núi. (Ảnh minh họa)

Vừa dứt lời, Tả quân thấy ngay một cô gái chạy đến ứng tiếng: "Tôi là Thiên Hương đây, xin chào Thượng quan". Thì ra Lý Thị Thiên Hương nhập vào xác của một cô gái đến nói chuyện với quan Thượng Công. Cô nói tiếp: "Tôi xin mách trước cho Thượng quan biết, Thượng quan sau nầy sẽ được phong Thần vinh hiển, nhưng xác của Thượng Công bị hành hạ, mả bị xiềng xích, tên tuổi bị đục khoét, sau mới được minh oan".
Lúc này, ngài Thượng Công Lê văn Duyệt nói: “Bổn chức không cầu xin biết tương lai của mình mà muốn biết rõ căn do của nàng”. Hồn Thiên Hương qua miệng cô gái thuật rõ mọi việc: “Thượng Ðế chứng lòng đoan chính của thiếp, nên cho thiếp hết đọa luân hồi và được xuống trần cứu nhơn độ thế”.
Ngài Thượng Công không còn nghi ngờ gì nữa, liền dâng sớ về triều tâu rõ mọi việc. Vua Gia Long nhớ lại chuyện bôn tẩu năm xưa, khi đến Tây Ninh, có nàng Thiên Hương hiển linh báo mộng, nên ra sắc chỉ phong Lý Thị Thiên Hương là Linh Sơn Thánh mẫu, chủ trì Linh Sơn Tiên Thạch Ðộng, cho cất điện và đúc tượng bằng đồng đen để thờ nơi núi Tây Ninh.
Kể từ đó, núi Tây Ninh được gọi là núi Linh Sơn, và để tránh gọi tên Thiên Hương, dân chúng gọi là Bà Ðen, vì tượng của Bà màu đen, và gọi núi ấy là núi Bà Ðen.
Lễ Vía Linh Sơn Thánh Mẫu được tổ chức hằng năm tại Ðiện Bà vào dịp đầu Xuân, từ ngày mùng 10 đến 15 tháng Giêng âm lịch, có hằng trăm ngàn người đến cúng vái cầu xin sự phò hộ của Bà để việc kinh doanh và việc gia đình được may mắn tốt đẹp.
Ngày nay, quần thể di tích Núi Bà trải rộng 24 km², gồm 3 ngọn núi tạo thành: Núi Heo - Núi Phụng - Núi Bà Đen. Núi Bà Đen cao 986 m cao nhất Nam Bộ. Hệ thống chùa Điện Bà ở núi có chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng, chùa Hang và một số hang động được các tăng ni, phật tử sửa chữa làm nơi thờ tự như động Thanh Long, động Ông Hổ, động Ba Cô, động Ba Tuần, động Thiên Thai, động Ông Tà... Ngọn núi này thu hút khách thập phương vì cảnh núi non hùng vĩ, nhiều hang động, nhiều ngôi chùa nguy nga tráng lệ.

Post Reply