Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Từ Việt Nam Nhìn Libya
Vi Anh
Cái chết của nhà độc tài Gadhafi, giải thóat gông cùm cho quốc gia dân tộc Libya là một niềm hy vọng vươn lên trong khi Mùa Xuân Á rập đang hụt hơi với TT Syria đang phản công giết người dân nổi dậy đã mấy ngàn người rồi. Nhà dộc tài Gadhafi ngã gục, chế độ độc tài Gadhafi sụp đổ, Thế giới Tự do có thêm thì giờ và công sức gây áp lực, tiếp tay với người dân Syria, Yemen giành lại tư do, dân chủ, quyền sống cho ra con ngươi của mình. Nhưng từ Trung Quốc , Việt Nam, Bắc Hàn CS người dân trong người mà nghĩ đến ta, thêm buồn cho số phận đã đang sống trong chế độ CS độc tài đảng trị tòan diện dài dằng dặc cả năm bảy chục năm rồi.
Nỗi buồn càng thấm thía hơn khi người dân bị trị trong chế độ CS độc tài đảng trị tòan diện sao thấy các siêu cường của Thế Giới Tự do chánh yếu là Tây Phương quá nặng về chánh trị thực dụng, dể dàng hy sinh những lý tưởng, những giá trị và niềm tin tự do, dân chủ, nhân quyền cho những quyền lợi kinh tế, bán buôn với hai chế dộ CS Bắc Kinh và Hà nội.
Nói đến Trung Quốc và Việt Nam, chánh trị gia, báo chí Tây Phương, nhứt là Mỹ nói nhiều, nhấn mạnh về tăng trưởng, phát triển kinh tế của hai chề độ CS này, mà nói rất ít và hành động còn ít hơn về tư do, dân chủ, nhân quyền của người dân bị CS áp bức bóc lột, tước đọat mọi quyền bất khả tương nhượng của người dân.
Độc tài CS nói riêng và độc tài dưới mọi hình thức nói chung sống được, tồn tại được một phần lớn là nhờ chánh trị thực dụng của các siêu cường Tây Phương trong thời đại kinh tế tòan cầu do Tây Phương cổ võ. Chánh quyền của các nước tự do, dân chủ viện một ngàn lẻ một lý do để chỉ làm kinh tế với các chế độ độc tài. Nào là không xen vào nội bộ của các nước, nào là không chánh trị hóa giao thương để làm ăn với nhà cầm quyền độc tài.
Như nhà độc tài, tên bạo chúa Gadhafi từng tổ chức không tặc máy bay Pan Am, giết chế hàng mấy trăm người. Nhưng khi cần Gadhafi trong công cuộc chống khủng bố thì Mỹ trở cờ, chơi lại với Gadhafi, viện lẽ cần Gadhafi trong công cuộc thế giới chống khủng bố. Nhưng thực tế để khai thác dầu khí và bán vũ khi cho bạo chúa này.
Như Mỹ đã bắt tay lại với kẻ cựu thù CS Hà nội đã giết 58 000 quân Mỹ để giao thương với VNCS. Từ năm 1999 Thế giới Tư do o bế bạo chúa Gadhafi. Bên ngọài tặng gắn huy chuơng đầy ngực, chiều chuông những bốc đồng của y khi công du với vệ sĩ toàn gái đồng trinh, đòi ngủ trong một chòi riêng. Mọi cáo buộc Gadhafi dộc tài, vi phạm nhân quyền bị mờ đi trước những hào nhóang ngọai giao nghi lễ thân thiện ấy đối với Gadhafi. Bên trong che dấu những làm ăn mờ ám của các tập đoàn khai thác dầu khí và bán vũ khí của dầu khí của Mỹ, Pháp, Anh, TC, Nga.
Bạo chúa Gadhafi không thể có những công cụ chuyên chính, những vũ khí tối tân và mua chuộc bộ hạ trung thành như chó săn và muớn lính đánh thuê sát nhân chuyên nghiệp để tàn sát người dân Libya , kéo dài cuộc chiến đấu chống người dân nổi dậy dòi quyền sống suốt tám tháng trời như vậy nếu không có những chánh trị thực dụng của Tây Phương coi đồng tiền cao hơn đạo lý, mua bán với bạo chúa Gadhafi.
Gần bốn mươi hai năm độc tài của Gadhafi, người ta mới thấy Thế giới Tư do, các siêu cường, làm một hành động không vì chánh trị thực dụng, mà dựa vào những giá trị cao quí của Nhân Loại; tư do, dân chủ, nhân quyền. Đó là ra quyết nghị lập dùng cấm bay cứu dân Libya bị nhà dộc tài Gadhafi tàn sát bằng võ lực. Và khi muốn làm, Tây Phương chỉ trong vòng non 6 tháng là giúp người dân Libya xóa sổ chế độ độc tài
Ngay TC độc tài CS và Nga độc tài hậu CS, cũng không làm gì được dể tiếp dộc tài Gadhafi, mà chỉ bỏ phiếu trắng thôi, chớ không phủ quyết vì bị áp lực của cả thế giới.
Đối chiếu với tình hình nước VN đang bị CS độc tài đảng trị tòan diện. Độc tài Gadhafi ở nước Libya chỉ là độc tài cá nhân, gia đình dựa vào bộ tộc coi vậy chớ nhiều gắn bó hơn. Độc tài của CS VN là độc tài của một đảng, độc tài đảng trị nên bên trong có nhiều trục trặc, xung khắc nội bộ trong cơ cấu cũng như vận hành . Từ kỳ thị địa phương, đến lập trường thủ cựu cấp tiến, thân Tàu hay Mỹ, đến phe này phái nọ, người dương quyền kẻ hưu trí - những biến tướng, biến thái đương nhiên có trong bất cứ đảng nào, không thể không có, không thể tránh được. Nên coi vậy chớ độc tài CS về cơ cấu lỏng lẻo, tổ chức rệu rã hơn; , nhứt là khi nắm dược chánh quyền và chuyển sang kinh tế thị trường với bao nhiêu đố kỵ , tị hềm quyền lợi, chức vụ.
Nói chung độc tài dưới mọi hình thức đều có một số điểm chung. Về nguyên lý quyền hành mà không có giám sát là hủ hóa thành độc tài. Về đối nội, độc tài sống được là nhờ làm cho người dân bị nỗi sợ không rời. Hầu hết các chế độ độc tài đều dùng hình thức khủng bố nhà nước, tạo ra một nỗi sơ không rời trong nhân dân và trong lòng mỗi người kể cả đảng viên, cán bộ CS. Đối ngọai, độc tài sống được là nhở chánh trị thực dụng của các siêu cường trong Thế Giới Tư do sau Chiến tranh Lạnh.
Khi các chánh quyền tự do, dân chủ của các siêu cường tư do bớt chánh trị thực dụng, bớt coi chuyện làm ăn kiếm tiền là tất cả, là trên hết, thì các siêu cường của Thế Giới Tư do đứng bên cạnh người dân bị độc tài áp bức. Khi người dân trong các chế độ độc tài nổi dậy đòi quyến sống của mình, giành lại tự do, dân chủ mà độc tài đã đã tước đọat, thì các siêu cường của Thế Giới Tự do cũng đứng bên cạnh người dân bị độc tài áp bức.
Bằng cớ, Tổng Thống Tunisia độc tài rất thân với chánh quyền Pháp, đối xử với một số bộ trưởng Pháp như ông vua. Thế mà khi nhân dân Tunisia nổi lên, không một ai trong chánh phủ Pháp dám binh vực và sau cùng Pháp công nhận lực lượng nhân dân Tunisia.
TT Ai cập, quân đội Ai cập hầu hết tướng lãnh học hành ở Mỹ, Mỹ viện trợ rất nhiều. Nhưng chánh quyền Mỹ sau một vài ngày chần chừ dè dặt ủng hộâ phong trào tự do, dân chủ của người dân Ai cập.
Trường hợïp Libya cũng thế, nhiều nước khai thác dầu khí, bán vũ khí cho Gadhafi. Nhưng khi người dân nổi dậy, nhà độc tài tàn sát dân bằng quân đội, thì Hội Đồng Bảo an Liên hiệp Quốc dưa ra nghị quyết lập vùng cấm bay để chống Gadhafi tàn sát dân. Ngay TC là nước cần dầu của Libya nhứt và Nga là nước bán nhiều vũ khí cho Gadhafi cũng không dám chống. .
Giả sử người dân VN dứng lên biểu tình lật đổ nhà cầm quyền CS Hà nội như ở Tunisia, Ai cập và Libya. Giả sử trường hợïp xấu nhứt CS Hà nội dùng công an, cảnh sát, quân đội càn quét tàn bạo như Gadhafi , liệu Thế giới Tự do có để cho CS Hà nội làm như vậy hay không. Chắc chắn là không. Lương tâm Nhân Lọai, văn minh Nhân Lọai, chánh trị công chính của Thế Giới Tư do không để cho một tội ác chống Nhân Lọai, tội ác diệt chủng hòanh hành như vậy. Thế giới Tự do phải ra tay cừu người dân VN như đã cứu người dân Libya.
Người dân Việt còn có một lực lương quốc tế vận vô cùng kiền hiệu ở hải ngọai nữa. Ba triệu người gốc Việt nay là công dân của các siêu cướng Mỹ, Pháp, Anh, Úc không bao giờ bỏ đồng bào trong nước trong cuộc tàn sát của CSHà nội.
Người dân Việt trong nước có thể làm như người dân Libya hay không. Thừa sức vì số người chống CS cho đến bây giờ đa dạng, đa diên và đa số, tỷ lệ cao hơn số đảng viên cán bộ CS, mới chiếm có 3% dân số VN.
Với một điều kiện tiên quyết và tiên khởi, là người dân Việt phải đứng lên thì quốc tế mới có lý do giúp, đứng bên cạnh. Như TT Bush đã hai lần tuyên bố và TT Obama có thái độ và hành động đối với nhân dân ở Bắc Phi và Trung Đông đứng lên lật dổ độc tài tạo mùa Xuân Á rập.
Vi Anh
Cái chết của nhà độc tài Gadhafi, giải thóat gông cùm cho quốc gia dân tộc Libya là một niềm hy vọng vươn lên trong khi Mùa Xuân Á rập đang hụt hơi với TT Syria đang phản công giết người dân nổi dậy đã mấy ngàn người rồi. Nhà dộc tài Gadhafi ngã gục, chế độ độc tài Gadhafi sụp đổ, Thế giới Tự do có thêm thì giờ và công sức gây áp lực, tiếp tay với người dân Syria, Yemen giành lại tư do, dân chủ, quyền sống cho ra con ngươi của mình. Nhưng từ Trung Quốc , Việt Nam, Bắc Hàn CS người dân trong người mà nghĩ đến ta, thêm buồn cho số phận đã đang sống trong chế độ CS độc tài đảng trị tòan diện dài dằng dặc cả năm bảy chục năm rồi.
Nỗi buồn càng thấm thía hơn khi người dân bị trị trong chế độ CS độc tài đảng trị tòan diện sao thấy các siêu cường của Thế Giới Tự do chánh yếu là Tây Phương quá nặng về chánh trị thực dụng, dể dàng hy sinh những lý tưởng, những giá trị và niềm tin tự do, dân chủ, nhân quyền cho những quyền lợi kinh tế, bán buôn với hai chế dộ CS Bắc Kinh và Hà nội.
Nói đến Trung Quốc và Việt Nam, chánh trị gia, báo chí Tây Phương, nhứt là Mỹ nói nhiều, nhấn mạnh về tăng trưởng, phát triển kinh tế của hai chề độ CS này, mà nói rất ít và hành động còn ít hơn về tư do, dân chủ, nhân quyền của người dân bị CS áp bức bóc lột, tước đọat mọi quyền bất khả tương nhượng của người dân.
Độc tài CS nói riêng và độc tài dưới mọi hình thức nói chung sống được, tồn tại được một phần lớn là nhờ chánh trị thực dụng của các siêu cường Tây Phương trong thời đại kinh tế tòan cầu do Tây Phương cổ võ. Chánh quyền của các nước tự do, dân chủ viện một ngàn lẻ một lý do để chỉ làm kinh tế với các chế độ độc tài. Nào là không xen vào nội bộ của các nước, nào là không chánh trị hóa giao thương để làm ăn với nhà cầm quyền độc tài.
Như nhà độc tài, tên bạo chúa Gadhafi từng tổ chức không tặc máy bay Pan Am, giết chế hàng mấy trăm người. Nhưng khi cần Gadhafi trong công cuộc chống khủng bố thì Mỹ trở cờ, chơi lại với Gadhafi, viện lẽ cần Gadhafi trong công cuộc thế giới chống khủng bố. Nhưng thực tế để khai thác dầu khí và bán vũ khi cho bạo chúa này.
Như Mỹ đã bắt tay lại với kẻ cựu thù CS Hà nội đã giết 58 000 quân Mỹ để giao thương với VNCS. Từ năm 1999 Thế giới Tư do o bế bạo chúa Gadhafi. Bên ngọài tặng gắn huy chuơng đầy ngực, chiều chuông những bốc đồng của y khi công du với vệ sĩ toàn gái đồng trinh, đòi ngủ trong một chòi riêng. Mọi cáo buộc Gadhafi dộc tài, vi phạm nhân quyền bị mờ đi trước những hào nhóang ngọai giao nghi lễ thân thiện ấy đối với Gadhafi. Bên trong che dấu những làm ăn mờ ám của các tập đoàn khai thác dầu khí và bán vũ khí của dầu khí của Mỹ, Pháp, Anh, TC, Nga.
Bạo chúa Gadhafi không thể có những công cụ chuyên chính, những vũ khí tối tân và mua chuộc bộ hạ trung thành như chó săn và muớn lính đánh thuê sát nhân chuyên nghiệp để tàn sát người dân Libya , kéo dài cuộc chiến đấu chống người dân nổi dậy dòi quyền sống suốt tám tháng trời như vậy nếu không có những chánh trị thực dụng của Tây Phương coi đồng tiền cao hơn đạo lý, mua bán với bạo chúa Gadhafi.
Gần bốn mươi hai năm độc tài của Gadhafi, người ta mới thấy Thế giới Tư do, các siêu cường, làm một hành động không vì chánh trị thực dụng, mà dựa vào những giá trị cao quí của Nhân Loại; tư do, dân chủ, nhân quyền. Đó là ra quyết nghị lập dùng cấm bay cứu dân Libya bị nhà dộc tài Gadhafi tàn sát bằng võ lực. Và khi muốn làm, Tây Phương chỉ trong vòng non 6 tháng là giúp người dân Libya xóa sổ chế độ độc tài
Ngay TC độc tài CS và Nga độc tài hậu CS, cũng không làm gì được dể tiếp dộc tài Gadhafi, mà chỉ bỏ phiếu trắng thôi, chớ không phủ quyết vì bị áp lực của cả thế giới.
Đối chiếu với tình hình nước VN đang bị CS độc tài đảng trị tòan diện. Độc tài Gadhafi ở nước Libya chỉ là độc tài cá nhân, gia đình dựa vào bộ tộc coi vậy chớ nhiều gắn bó hơn. Độc tài của CS VN là độc tài của một đảng, độc tài đảng trị nên bên trong có nhiều trục trặc, xung khắc nội bộ trong cơ cấu cũng như vận hành . Từ kỳ thị địa phương, đến lập trường thủ cựu cấp tiến, thân Tàu hay Mỹ, đến phe này phái nọ, người dương quyền kẻ hưu trí - những biến tướng, biến thái đương nhiên có trong bất cứ đảng nào, không thể không có, không thể tránh được. Nên coi vậy chớ độc tài CS về cơ cấu lỏng lẻo, tổ chức rệu rã hơn; , nhứt là khi nắm dược chánh quyền và chuyển sang kinh tế thị trường với bao nhiêu đố kỵ , tị hềm quyền lợi, chức vụ.
Nói chung độc tài dưới mọi hình thức đều có một số điểm chung. Về nguyên lý quyền hành mà không có giám sát là hủ hóa thành độc tài. Về đối nội, độc tài sống được là nhờ làm cho người dân bị nỗi sợ không rời. Hầu hết các chế độ độc tài đều dùng hình thức khủng bố nhà nước, tạo ra một nỗi sơ không rời trong nhân dân và trong lòng mỗi người kể cả đảng viên, cán bộ CS. Đối ngọai, độc tài sống được là nhở chánh trị thực dụng của các siêu cường trong Thế Giới Tư do sau Chiến tranh Lạnh.
Khi các chánh quyền tự do, dân chủ của các siêu cường tư do bớt chánh trị thực dụng, bớt coi chuyện làm ăn kiếm tiền là tất cả, là trên hết, thì các siêu cường của Thế Giới Tư do đứng bên cạnh người dân bị độc tài áp bức. Khi người dân trong các chế độ độc tài nổi dậy đòi quyến sống của mình, giành lại tự do, dân chủ mà độc tài đã đã tước đọat, thì các siêu cường của Thế Giới Tự do cũng đứng bên cạnh người dân bị độc tài áp bức.
Bằng cớ, Tổng Thống Tunisia độc tài rất thân với chánh quyền Pháp, đối xử với một số bộ trưởng Pháp như ông vua. Thế mà khi nhân dân Tunisia nổi lên, không một ai trong chánh phủ Pháp dám binh vực và sau cùng Pháp công nhận lực lượng nhân dân Tunisia.
TT Ai cập, quân đội Ai cập hầu hết tướng lãnh học hành ở Mỹ, Mỹ viện trợ rất nhiều. Nhưng chánh quyền Mỹ sau một vài ngày chần chừ dè dặt ủng hộâ phong trào tự do, dân chủ của người dân Ai cập.
Trường hợïp Libya cũng thế, nhiều nước khai thác dầu khí, bán vũ khí cho Gadhafi. Nhưng khi người dân nổi dậy, nhà độc tài tàn sát dân bằng quân đội, thì Hội Đồng Bảo an Liên hiệp Quốc dưa ra nghị quyết lập vùng cấm bay để chống Gadhafi tàn sát dân. Ngay TC là nước cần dầu của Libya nhứt và Nga là nước bán nhiều vũ khí cho Gadhafi cũng không dám chống. .
Giả sử người dân VN dứng lên biểu tình lật đổ nhà cầm quyền CS Hà nội như ở Tunisia, Ai cập và Libya. Giả sử trường hợïp xấu nhứt CS Hà nội dùng công an, cảnh sát, quân đội càn quét tàn bạo như Gadhafi , liệu Thế giới Tự do có để cho CS Hà nội làm như vậy hay không. Chắc chắn là không. Lương tâm Nhân Lọai, văn minh Nhân Lọai, chánh trị công chính của Thế Giới Tư do không để cho một tội ác chống Nhân Lọai, tội ác diệt chủng hòanh hành như vậy. Thế giới Tự do phải ra tay cừu người dân VN như đã cứu người dân Libya.
Người dân Việt còn có một lực lương quốc tế vận vô cùng kiền hiệu ở hải ngọai nữa. Ba triệu người gốc Việt nay là công dân của các siêu cướng Mỹ, Pháp, Anh, Úc không bao giờ bỏ đồng bào trong nước trong cuộc tàn sát của CSHà nội.
Người dân Việt trong nước có thể làm như người dân Libya hay không. Thừa sức vì số người chống CS cho đến bây giờ đa dạng, đa diên và đa số, tỷ lệ cao hơn số đảng viên cán bộ CS, mới chiếm có 3% dân số VN.
Với một điều kiện tiên quyết và tiên khởi, là người dân Việt phải đứng lên thì quốc tế mới có lý do giúp, đứng bên cạnh. Như TT Bush đã hai lần tuyên bố và TT Obama có thái độ và hành động đối với nhân dân ở Bắc Phi và Trung Đông đứng lên lật dổ độc tài tạo mùa Xuân Á rập.
Mỹ 'nhúng chàm' khi can thiệp vào Libya
Dù hạn chế tối đa trong việc trực tiếp can dự vào Libya nhưng những hành động vừa qua của Mỹ vẫn khiến nước này mang tiếng xấu.
Trường hợp Libya cho thấy sự mơ hồ của học thuyết “Trách nhiệm bảo vệ” của phương Tây, trong đó có Mỹ; bởi dù chế độ Gaddafi cứng rắn nhưng ông không tàn sát thường dân. Vậy mà, Mỹ và đồng minh vẫn phát động chiến dịch Bình minh Odyssey với tuyên bố là "bảo vệ" người dân Libya trước các cuộc thảm sát của Gaddafi. Do đó, việc can thiệp quân sự của phương Tây vào Libya thực chất không phải là hoạt động nhân đạo.
"Cái ruột của hành động nhân đạo” càng lộ rõ khi phương Tây tiếp tục ném bom tàn dư của lực lượng trung thành với Gaddafi dù Đại tá Gaddafi bị tiêu diệt, chế độ này sụp đổ, không thể đe dọa đến dân thường (dù có muốn).
Đã vậy, chiến dịch Bình minh Odyssey làm hàng nghìn người chết trong chỉ trong vòng 8 tháng chiến tranh, nhiều hơn tổng số nạn nhân dưới 42 năm lãnh đạo của Đại tá Gaddafi.

Mỹ và đồng minh lợi dụng nghị quyết 1973 thiết lập Vùng cấm bay. Họ đặt mục tiêu bảo vệ dân thường dưới việc lật đổ chế độ Gaddafi,
bất chấp sự phản ứng của Trung Quốc và Nga.
Ảnh minh họa
Xét riêng Mỹ, ngay từ đầu chiến dịch Bình minh Odyssey, nước này chung vai sát cánh cùng đồng minh trong NATO nhưng sau đó, họ nhường vị trí lãnh đạo chiến dịch để tập trung làm nhiệm vụ hậu cần. Như vậy, chính quyền Obama cố gắng hạn chế sự có mặt của Washington trên chiến trường Libya nhưng thực tế, họ vẫn luôn có mặt tại cuộc chiến, vẫn can thiệp vào quốc gia Bắc Phi thông qua việc cung cấp tài chính và vũ khí cho đồng minh.
Do vậy, dù tìm mọi cách né tránh thì Mỹ vẫn mang tiếng là kẻ đi xâm lược. Đã vậy, "hành động nhân đạo" của Washington có thể phải trả giá cao hơn nhiều so với tính toán ban đầu.
Mối nguy hiểm lớn nhất có lẽ đến từ các kho vũ khí còn nằm trong vòng bí mật của Gaddafi. Perter Bouckaert của Tổ chức theo dõi nhân quyền cảnh báo: “Kho vũ khí tại Libya có khả năng là một trong những kho vũ khí lớn nhất thế giới”. Chế độ Gaddafi được cho là đã tích lũy tới 20.000 tên lửa.
Moammar Gaddafi từng có thời là đồng minh chống chủ nghĩa khủng bố và vũ khí hạt nhân của phương Tây. Thượng nghị sĩ John McCain, Lindsey Graham và Joseph Lieberman từng đến Tripoli để thảo luận về việc viện trợ quân sự cho Libya.
Cái chết của Gaddafi đồng nghĩa với việc mở ra một chế độ mới tại Libya nhưng việc thay đổi chế độ không dễ như phương Tây đang tưởng tượng. Chính phủ phương Tây từng nghĩ rằng chỉ một vài ngày sau vài vụ đánh bom sẽ lật đổ được Gaddafi. Tuần trước là đánh dấu 8 tháng sau khi cuộc nổi dậy bắt đầu, Thiếu tướng Ralph Jodice II, chỉ huy của chiến dịch không quân của NATO, thừa nhận rằng: "Chúng tôi ngạc nhiên bởi sự kiên trì của lực lượng ủng hộ Gaddafi".
Nhiều tháng sau khi lật đổ chế độ Moammar Gaddafi và một ngày sau khi ông chết, cuộc chiến vẫn tiếp diễn ở Libya. Tripoli gần đây vẫn xảy ra trận đấu súng ngắn bất ngờ.
Iraq, Afghanistan và giờ là Libya bị nhiều người coi là ví dụ điển hình cho cái gọi là “chính sách ngoại giao vô bổ” của Mỹ bởi nước này mất đi hàng nghìn sinh mạng và thiệt hại hơn một nghìn tỷ USD.
Hoàng Linh (theo National Interest)
Dù hạn chế tối đa trong việc trực tiếp can dự vào Libya nhưng những hành động vừa qua của Mỹ vẫn khiến nước này mang tiếng xấu.
Trường hợp Libya cho thấy sự mơ hồ của học thuyết “Trách nhiệm bảo vệ” của phương Tây, trong đó có Mỹ; bởi dù chế độ Gaddafi cứng rắn nhưng ông không tàn sát thường dân. Vậy mà, Mỹ và đồng minh vẫn phát động chiến dịch Bình minh Odyssey với tuyên bố là "bảo vệ" người dân Libya trước các cuộc thảm sát của Gaddafi. Do đó, việc can thiệp quân sự của phương Tây vào Libya thực chất không phải là hoạt động nhân đạo.
"Cái ruột của hành động nhân đạo” càng lộ rõ khi phương Tây tiếp tục ném bom tàn dư của lực lượng trung thành với Gaddafi dù Đại tá Gaddafi bị tiêu diệt, chế độ này sụp đổ, không thể đe dọa đến dân thường (dù có muốn).
Đã vậy, chiến dịch Bình minh Odyssey làm hàng nghìn người chết trong chỉ trong vòng 8 tháng chiến tranh, nhiều hơn tổng số nạn nhân dưới 42 năm lãnh đạo của Đại tá Gaddafi.

Mỹ và đồng minh lợi dụng nghị quyết 1973 thiết lập Vùng cấm bay. Họ đặt mục tiêu bảo vệ dân thường dưới việc lật đổ chế độ Gaddafi,
bất chấp sự phản ứng của Trung Quốc và Nga.
Ảnh minh họa
Xét riêng Mỹ, ngay từ đầu chiến dịch Bình minh Odyssey, nước này chung vai sát cánh cùng đồng minh trong NATO nhưng sau đó, họ nhường vị trí lãnh đạo chiến dịch để tập trung làm nhiệm vụ hậu cần. Như vậy, chính quyền Obama cố gắng hạn chế sự có mặt của Washington trên chiến trường Libya nhưng thực tế, họ vẫn luôn có mặt tại cuộc chiến, vẫn can thiệp vào quốc gia Bắc Phi thông qua việc cung cấp tài chính và vũ khí cho đồng minh.
Do vậy, dù tìm mọi cách né tránh thì Mỹ vẫn mang tiếng là kẻ đi xâm lược. Đã vậy, "hành động nhân đạo" của Washington có thể phải trả giá cao hơn nhiều so với tính toán ban đầu.
Mối nguy hiểm lớn nhất có lẽ đến từ các kho vũ khí còn nằm trong vòng bí mật của Gaddafi. Perter Bouckaert của Tổ chức theo dõi nhân quyền cảnh báo: “Kho vũ khí tại Libya có khả năng là một trong những kho vũ khí lớn nhất thế giới”. Chế độ Gaddafi được cho là đã tích lũy tới 20.000 tên lửa.
Moammar Gaddafi từng có thời là đồng minh chống chủ nghĩa khủng bố và vũ khí hạt nhân của phương Tây. Thượng nghị sĩ John McCain, Lindsey Graham và Joseph Lieberman từng đến Tripoli để thảo luận về việc viện trợ quân sự cho Libya.
Cái chết của Gaddafi đồng nghĩa với việc mở ra một chế độ mới tại Libya nhưng việc thay đổi chế độ không dễ như phương Tây đang tưởng tượng. Chính phủ phương Tây từng nghĩ rằng chỉ một vài ngày sau vài vụ đánh bom sẽ lật đổ được Gaddafi. Tuần trước là đánh dấu 8 tháng sau khi cuộc nổi dậy bắt đầu, Thiếu tướng Ralph Jodice II, chỉ huy của chiến dịch không quân của NATO, thừa nhận rằng: "Chúng tôi ngạc nhiên bởi sự kiên trì của lực lượng ủng hộ Gaddafi".
Nhiều tháng sau khi lật đổ chế độ Moammar Gaddafi và một ngày sau khi ông chết, cuộc chiến vẫn tiếp diễn ở Libya. Tripoli gần đây vẫn xảy ra trận đấu súng ngắn bất ngờ.
Iraq, Afghanistan và giờ là Libya bị nhiều người coi là ví dụ điển hình cho cái gọi là “chính sách ngoại giao vô bổ” của Mỹ bởi nước này mất đi hàng nghìn sinh mạng và thiệt hại hơn một nghìn tỷ USD.
Hoàng Linh (theo National Interest)
Vì Ai Nên Nỗi
Vi Anh
Ngày xưa ở bên Tây thời vua chúa, cuộc Cách Mạng năm 1789 của Pháp bùng nổ như thùng thuốc súng khi bé gái đánh phèn la kêu lên tôi đói, tôi cần bánh mì, và dân Paris phá ngục Bastilles, giết Hoàng Hậu Marie Antoinette, phá tan chế độ độc tài của dòng vua Louis, làm nên cuộc Cách Mạng Dân chủ, Dân quyền năm 1789.
Còn bây giờ ở bên Tàu thời CS độc tài đảng trị tòan diện còn nghiệt ngã hơn vương quyền chuyên chính của Trung Hoa, cái chết của hai em bé, một gái một trai, bị xe cán chết trên đường phố. Trong khi bao khách bộ hành kẻ đi qua, người đi lại đều thờ ơ, vô cảm, lãnh cảm, không ai cứu giúp. Trước mắt ai cũng sợ phiền tóai với công an, cảnh sát, luật pháp của CS. Và lối sống cũng như cách cai trị của CS từ lâu đã tạo cho người dân ich kỷ tột cùng, vì sợ CS nên phải thủ thân, cầu an, mất tinh thần cộng động và tình liên đới trong xã hội. Hai cái chết bi thảm của hai em bé này làm cho cả thế giới bàng hòang, làm người dân Trung Quốc thấy ghê tởm và phẩn nộ chế độ CS đã làm cho tinh thần văn minh và nền đạo đức Trung Hoa bại họai. CS đã làm nền văn hóa Trung Hoa rất “nhân nghĩa, lễ trí tín”, rất “kiến nghĩa bất vi vô dũng giả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng” – trở thành vô nhân đạo, vô lương tâm, ích kỷ hết nói nổi như vậy.
Thực vậy thông tin, nghị luận, hình ảnh trên mạng và trên nhiều báo chí ngọai cho thấy bé gái Vương Duyệt Duyệt 2 tuổi bị xe hàng cán ở thành phố Phật Sơn ngày 11/10. Em nằm sát bên lề đường, chết trong sự thờ ơ của cả chục người qua lại. Họ liếc mắt nhìn và bỏ đi luôn, không dừng lại, để mặc em nằm chảy máu ở trên đường cho tới khi em bị một chiếc xe khác cán một lần nữa. Mãi sau mới có một người hốt rác đến giúp em nhưng quá trễ vì em chết rồi.
Cùng ngày em bé Duyệt Duyệt 2 tuổi chết thê thảm thì cũng trên đường đông ở thành phố một em bé trai 5 tuổi, đi học về, bị một chiếc xe thùng đụng phải, em bé gượng đứng lên, nhưng lại bị chiếc xe lùi lại, cán em một lần nữa, chết luôn. Và cũng biết bao hành khách đi qua mà vẫn thờ ơ vì sợ phiền phức, liên lụy khi bị công an hạch hỏi làm biên bản về việc cứu giúp người.
Hai cái chết đáng thương của hai em bé, thái độ và hành động ích kỷ đáng tởm của những khách bộ hành đã làm tan tác quyềt nghị của hội nghị lần thứ 6 toàn thể của Ủy viên Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc ban hành cùng thời gian này. Một quyết nghi tền dài lê thê mà thiếu vắng tính văn hóa. Đó là “tăng cường cải cách thể chế văn hóa, thúc đẩy cho sự phát triển và phồn vinh của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa.” Dù Tân Hoa Xã tô lục chuốt hồng - nào là quyết định này tăng cường sức mạnh mềm của Trung Quốc , nào giới hữu trách sẽ dành riêng nhiều nguồn lực để gia tăng sự tự giác văn hóa và tăng cường sự tự tin văn hóa của người Trung Quốc và cải thiện phẩm chất văn hóa của toàn dân.
Nhưng vô ích. Ai cũng biết TC muốn bành trướng thế lực bằng văn hóa như tài trợ cho các đại học ngọai quốc mở lớp dạy tiếng Quan Thọai và mở nhiều hội Khổng Học ở ngọai quốc để chứng tỏ TC là một chế độ văn minh. Nhưng thực tế trên thư tịch dịch thuật những sách hay của Trung Hoa trên thế giới người ta chỉ thấy sách của Trung Hoa trước thế kỷ 19, chưa thấy một quyền sách hay nào thời CS nhuộm đỏ nước Trung Hoa.
Và hai cái chết của hai em bé gái mới 2 tuổi và trai 5 tuổi này đã làm cho người dân TQ và người dân các nước ghê tởm và phẫn nộ nền văn hóa CS mà TC đã áp đặt lên đất nước và nhân dân Trung Hoa này.
Những đọan video ngắn loan tải trên Internet về cái chết thảm thương của hai em bé làm cho thiên hạ thấy cái mặt trái của những tuyên truyền của TC. Tai họa của cái gọi là “Văn hóa xã hội chủ nghĩa’ đã làm cho người dân Trung Hoa, một trong những nền văn minh cỗ đại, văn minh xuất phát từ trên Sông Hoàng Hà ở Trung Hoa rực rỡ như văn minh Sông Nile ở AiCập, văn minh Sông Hằng ở Ấn đô, và văn Minh Lưỡng Hà Euphrate, Trigris của Iraq, cảm thấy trở về thời đại ăn lông ở lổ, ai chết nấy chịu, không có tình người.
Văn hóa truyền thống, đạo lý lâu đời của người Trung Hoa, văn minh gần 5000 năm của Trung Hoa bị CS không phải cào bằng, mà là đào tận gốc, bốc tận rễ. Mà theo một nhà văn hóa ở Hongkong nói CS đã phá hủy hoàn toàn bởi các chính sách cai trị của đảng Cộng Sản trong 62 năm qua, từ Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông, chủ nghĩa sùng bái kim tiền của Đặng Tiểu Bình, cho tới chủ trương “duy trì ổn định trên hết” của Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào.
Giáo sư Châu Chính Hiếu của Đại học Nhân Dân ở Bắc Kinh cũng thấy "Giá trị cốt lõi của đạo đức là thuộc về phần mềm. Cũng giống như phần cứng phần mềm của máy tính. Không có phần mềm thì phần cứng chỉ là một mớ sắt vụn. Những năm trước đây chúng ta hay nói GDP là 'lý lẽ cứng'. Và kết quả là như thế này. Cổ nhân nói 'quốc phá sơn hà tại'. Giờ đây thì 'quốc tại sơn hà phá' -- nước còn đó nhưng sơn hà đã mất. Ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm, vân vân… mọi thứ đều có vấn đề nghiêm trọng. Dĩ nhiên trong đó có văn hóa là phạm trù quan trong nhứt của một dân tộc.
TC đã thay vào đó lối sống của CS qua chủ trương đấu tranh giai cấp, con tố cha, vợ tố chồng, bè bạn, đồng chí phải láo khóet với nhau. Bao lần cải cách ruộng đất, cách mạng văn hóa do Đảng phát động giết hàng triệu triệu người khiến ai cũng thủ thân, mất tinh thần cộng đồng, và bổn phận đối với người khác.
Nào ‘cải cách văn hóa’, nào đấu tố, cổ võ người dân làm những việc bất nhân, thất đức, như con cái đi đấu tố cha mẹ. Nào các chiến dịch ‘Tam Phản’, ‘Ngũ Phản’, các phong trào như ‘Trăm hoa đua nở’, ai có ý kiến khác với CS là đời tàn với những hình phạt chết thê thảm. Nên ai cũng phải thủ thân, cầu an, ích kỷ.
Trong hệ thống luật pháp của TC, do tinh thần “bao cấp của CS” không có luật qui định người thấy tai nạn có nhiệm vụ phải báo cáo nhân viên công lực và cứu giúp ban đầu như các nước tự do, dân chủ.
Vì ai nên nổi? Chế độ CS ở Việt Nam và Trung Quốc là những chế độ cai trị quá sức chịu đựng của người dân. CS làm cho đạo đức bại hoại và người dân quá sợ, nỗi sợ không rời. Sợ thì phải thủ thân, thành ra ích kỷ, mất tính cộng đồng, tình liên đới, che mắt lương tâm để sống ỵên thân. Sợ riết rồi thấy đúng cũng không dám làm ví không biết pháp luật, chế độ, công an cảnh sát có thấy như vậy không. Nên không có lợi thì người sợ CS không làm, cầu an cho yên thân. Những toan tính vị kỷ vì quyền lợi riêng tư, yên thân và cầu an làm nhân tính thui chột, thái độ và hành động vô cảm.
Ở VN trong thời CS cũng không khác gì. Cùng “bài bản” thì cùng tình trạng. Bây giờ người dân Việt ai cũng thủ thân, sợ liên lụy, tỏ ra thờ ơ trước những đụng chạm nhau, ít khi cứu giúp người bị tai nạn vì sợ công an, cảnh sát gây khó khăn khi làm chứng, nhiều khi còn buộc tội để vòi vĩnh nữa.
Bao nhiêu trẻ em đi học qua sông bằng cầu dây treo rớt ở Cao Nguyên, đi đò trên sông rạch bị chìm chết ở Miền Tây. Bao nhiêu công an, cảnh sát đánh chết dân, trong đồn, ngòai đường, có mấy người bị đưa ta tòa. Đảng Nhà Nước CS Hà nội cũng như CS Bắc Kinh đã vô cảm trước bao nhiều niềm đau nỗi khổ của ngưới dân vì đang mê say “ làm kinh tế”, hưởng thụ và chuyên chú “duy trì ổn định trên hết” cho Đảng CS mất rồi./.
Vi Anh
Ngày xưa ở bên Tây thời vua chúa, cuộc Cách Mạng năm 1789 của Pháp bùng nổ như thùng thuốc súng khi bé gái đánh phèn la kêu lên tôi đói, tôi cần bánh mì, và dân Paris phá ngục Bastilles, giết Hoàng Hậu Marie Antoinette, phá tan chế độ độc tài của dòng vua Louis, làm nên cuộc Cách Mạng Dân chủ, Dân quyền năm 1789.
Còn bây giờ ở bên Tàu thời CS độc tài đảng trị tòan diện còn nghiệt ngã hơn vương quyền chuyên chính của Trung Hoa, cái chết của hai em bé, một gái một trai, bị xe cán chết trên đường phố. Trong khi bao khách bộ hành kẻ đi qua, người đi lại đều thờ ơ, vô cảm, lãnh cảm, không ai cứu giúp. Trước mắt ai cũng sợ phiền tóai với công an, cảnh sát, luật pháp của CS. Và lối sống cũng như cách cai trị của CS từ lâu đã tạo cho người dân ich kỷ tột cùng, vì sợ CS nên phải thủ thân, cầu an, mất tinh thần cộng động và tình liên đới trong xã hội. Hai cái chết bi thảm của hai em bé này làm cho cả thế giới bàng hòang, làm người dân Trung Quốc thấy ghê tởm và phẩn nộ chế độ CS đã làm cho tinh thần văn minh và nền đạo đức Trung Hoa bại họai. CS đã làm nền văn hóa Trung Hoa rất “nhân nghĩa, lễ trí tín”, rất “kiến nghĩa bất vi vô dũng giả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng” – trở thành vô nhân đạo, vô lương tâm, ích kỷ hết nói nổi như vậy.
Thực vậy thông tin, nghị luận, hình ảnh trên mạng và trên nhiều báo chí ngọai cho thấy bé gái Vương Duyệt Duyệt 2 tuổi bị xe hàng cán ở thành phố Phật Sơn ngày 11/10. Em nằm sát bên lề đường, chết trong sự thờ ơ của cả chục người qua lại. Họ liếc mắt nhìn và bỏ đi luôn, không dừng lại, để mặc em nằm chảy máu ở trên đường cho tới khi em bị một chiếc xe khác cán một lần nữa. Mãi sau mới có một người hốt rác đến giúp em nhưng quá trễ vì em chết rồi.
Cùng ngày em bé Duyệt Duyệt 2 tuổi chết thê thảm thì cũng trên đường đông ở thành phố một em bé trai 5 tuổi, đi học về, bị một chiếc xe thùng đụng phải, em bé gượng đứng lên, nhưng lại bị chiếc xe lùi lại, cán em một lần nữa, chết luôn. Và cũng biết bao hành khách đi qua mà vẫn thờ ơ vì sợ phiền phức, liên lụy khi bị công an hạch hỏi làm biên bản về việc cứu giúp người.
Hai cái chết đáng thương của hai em bé, thái độ và hành động ích kỷ đáng tởm của những khách bộ hành đã làm tan tác quyềt nghị của hội nghị lần thứ 6 toàn thể của Ủy viên Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc ban hành cùng thời gian này. Một quyết nghi tền dài lê thê mà thiếu vắng tính văn hóa. Đó là “tăng cường cải cách thể chế văn hóa, thúc đẩy cho sự phát triển và phồn vinh của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa.” Dù Tân Hoa Xã tô lục chuốt hồng - nào là quyết định này tăng cường sức mạnh mềm của Trung Quốc , nào giới hữu trách sẽ dành riêng nhiều nguồn lực để gia tăng sự tự giác văn hóa và tăng cường sự tự tin văn hóa của người Trung Quốc và cải thiện phẩm chất văn hóa của toàn dân.
Nhưng vô ích. Ai cũng biết TC muốn bành trướng thế lực bằng văn hóa như tài trợ cho các đại học ngọai quốc mở lớp dạy tiếng Quan Thọai và mở nhiều hội Khổng Học ở ngọai quốc để chứng tỏ TC là một chế độ văn minh. Nhưng thực tế trên thư tịch dịch thuật những sách hay của Trung Hoa trên thế giới người ta chỉ thấy sách của Trung Hoa trước thế kỷ 19, chưa thấy một quyền sách hay nào thời CS nhuộm đỏ nước Trung Hoa.
Và hai cái chết của hai em bé gái mới 2 tuổi và trai 5 tuổi này đã làm cho người dân TQ và người dân các nước ghê tởm và phẫn nộ nền văn hóa CS mà TC đã áp đặt lên đất nước và nhân dân Trung Hoa này.
Những đọan video ngắn loan tải trên Internet về cái chết thảm thương của hai em bé làm cho thiên hạ thấy cái mặt trái của những tuyên truyền của TC. Tai họa của cái gọi là “Văn hóa xã hội chủ nghĩa’ đã làm cho người dân Trung Hoa, một trong những nền văn minh cỗ đại, văn minh xuất phát từ trên Sông Hoàng Hà ở Trung Hoa rực rỡ như văn minh Sông Nile ở AiCập, văn minh Sông Hằng ở Ấn đô, và văn Minh Lưỡng Hà Euphrate, Trigris của Iraq, cảm thấy trở về thời đại ăn lông ở lổ, ai chết nấy chịu, không có tình người.
Văn hóa truyền thống, đạo lý lâu đời của người Trung Hoa, văn minh gần 5000 năm của Trung Hoa bị CS không phải cào bằng, mà là đào tận gốc, bốc tận rễ. Mà theo một nhà văn hóa ở Hongkong nói CS đã phá hủy hoàn toàn bởi các chính sách cai trị của đảng Cộng Sản trong 62 năm qua, từ Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông, chủ nghĩa sùng bái kim tiền của Đặng Tiểu Bình, cho tới chủ trương “duy trì ổn định trên hết” của Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào.
Giáo sư Châu Chính Hiếu của Đại học Nhân Dân ở Bắc Kinh cũng thấy "Giá trị cốt lõi của đạo đức là thuộc về phần mềm. Cũng giống như phần cứng phần mềm của máy tính. Không có phần mềm thì phần cứng chỉ là một mớ sắt vụn. Những năm trước đây chúng ta hay nói GDP là 'lý lẽ cứng'. Và kết quả là như thế này. Cổ nhân nói 'quốc phá sơn hà tại'. Giờ đây thì 'quốc tại sơn hà phá' -- nước còn đó nhưng sơn hà đã mất. Ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm, vân vân… mọi thứ đều có vấn đề nghiêm trọng. Dĩ nhiên trong đó có văn hóa là phạm trù quan trong nhứt của một dân tộc.
TC đã thay vào đó lối sống của CS qua chủ trương đấu tranh giai cấp, con tố cha, vợ tố chồng, bè bạn, đồng chí phải láo khóet với nhau. Bao lần cải cách ruộng đất, cách mạng văn hóa do Đảng phát động giết hàng triệu triệu người khiến ai cũng thủ thân, mất tinh thần cộng đồng, và bổn phận đối với người khác.
Nào ‘cải cách văn hóa’, nào đấu tố, cổ võ người dân làm những việc bất nhân, thất đức, như con cái đi đấu tố cha mẹ. Nào các chiến dịch ‘Tam Phản’, ‘Ngũ Phản’, các phong trào như ‘Trăm hoa đua nở’, ai có ý kiến khác với CS là đời tàn với những hình phạt chết thê thảm. Nên ai cũng phải thủ thân, cầu an, ích kỷ.
Trong hệ thống luật pháp của TC, do tinh thần “bao cấp của CS” không có luật qui định người thấy tai nạn có nhiệm vụ phải báo cáo nhân viên công lực và cứu giúp ban đầu như các nước tự do, dân chủ.
Vì ai nên nổi? Chế độ CS ở Việt Nam và Trung Quốc là những chế độ cai trị quá sức chịu đựng của người dân. CS làm cho đạo đức bại hoại và người dân quá sợ, nỗi sợ không rời. Sợ thì phải thủ thân, thành ra ích kỷ, mất tính cộng đồng, tình liên đới, che mắt lương tâm để sống ỵên thân. Sợ riết rồi thấy đúng cũng không dám làm ví không biết pháp luật, chế độ, công an cảnh sát có thấy như vậy không. Nên không có lợi thì người sợ CS không làm, cầu an cho yên thân. Những toan tính vị kỷ vì quyền lợi riêng tư, yên thân và cầu an làm nhân tính thui chột, thái độ và hành động vô cảm.
Ở VN trong thời CS cũng không khác gì. Cùng “bài bản” thì cùng tình trạng. Bây giờ người dân Việt ai cũng thủ thân, sợ liên lụy, tỏ ra thờ ơ trước những đụng chạm nhau, ít khi cứu giúp người bị tai nạn vì sợ công an, cảnh sát gây khó khăn khi làm chứng, nhiều khi còn buộc tội để vòi vĩnh nữa.
Bao nhiêu trẻ em đi học qua sông bằng cầu dây treo rớt ở Cao Nguyên, đi đò trên sông rạch bị chìm chết ở Miền Tây. Bao nhiêu công an, cảnh sát đánh chết dân, trong đồn, ngòai đường, có mấy người bị đưa ta tòa. Đảng Nhà Nước CS Hà nội cũng như CS Bắc Kinh đã vô cảm trước bao nhiều niềm đau nỗi khổ của ngưới dân vì đang mê say “ làm kinh tế”, hưởng thụ và chuyên chú “duy trì ổn định trên hết” cho Đảng CS mất rồi./.
NATO 'chiếm đóng' Libya lâu dài?
Không có gì ngạc nhiên khi cái chết của Đại tá Gaddafi sẽ khiến nhiều người chắc mẩm rằng đã đến lúc NATO kết thúc sứ mệnh ở Libya. Tuy nhiên, vẫn còn quá sớm để kết luận bất cứ điều gì.
Mới đây, Ali Tarhouni, phát ngôn viên chính thức của Hội đồng chuyển tiếp quốc gia Libya (NTC) đưa ra một đề nghị khá bất ngờ là muốn NATO kéo dài sứ mệnh ở Libya ít nhất thêm một tháng nữa.
Yêu cầu này ngay lập tức làm dấy lên câu hỏi tại sao NTC cần NATO ở lại? Trong khi có vẻ như thành phố Sirte, thành trì cuối cùng của Đại tá Gaddafi nằm trong tầm kiểm soát sau cái chết của ông. Các phương tiện truyền thông loan tin rằng thực tế, nhiều tòa nhà trong thành phố đã bị phá hủy và quân nổi dậy đang tiếp tục truy đuổi, tìm diệt “tàn quân” của Đại tá Gaddafi mà không cần có sự trợ giúp của NATO.

Nhiều khả năng NATO sẽ tiếp tục ở lại Libya lâu dài sau cái chết của Đại tá Gaddafi. Ảnh: Prisma.
Có nhiều lý do lý giải động thái của NTC. Một trong số đó chắc chắn xuất phát từ việc Saif al Islam Gaddafi, người con trai từng được chọn để kế vị Đại tá Gaddafi, ngay sau cái chết của cha mình tuyên bố sẽ tiếp tục đấu tranh và thề trả thù cho cha.
Ngoài ra, cũng cùng thời điểm này, nhiều lãnh đạo Hồi giáo người Libya đưa ra tuyên bố đất nước của họ sẽ luôn trung thành với luật Sharia, kinh Koran. Thậm chí, ngay cả Thủ tướng Mahmous Jibril của Libya cũng khẳng định rằng Libya cần Sharia.
Những tuyên bố chắc nịch này chắc chắn khiến phương Tây cũng như những người theo chủ nghĩa tự do ở đất nước Hồi giáo này hụt hẫng bởi giấc mơ về một Libya dân chủ trong tương lai có nguy cơ đổ vỡ.
Và như vậy là bất chấp sự sụp đổ của đế chế Gaddafi, quyền lợi của người dân Libya bao gồm quyền bầu cử sẽ vẫn không được đảm bảo nếu các lực lượng cực đoan Libya đoạt được quyền lãnh đạo đất nước. Khả năng này càng cao hơn khi chính các lãnh đạo NTC đang chìm trong mối hoài nghi Qatar, lực lượng đóng vai trò quan trọng trong chiến dịch tiêu diệt Gaddafi, có khả năng sẽ ngả về phía các lực lượng Hồi giáo cực đoan.
Do đó, không loại trừ khả năng thế giới sẽ chứng kiến một cuộc nổi dậy mới ở Libya một khi người Libya nhận ra lợi ích và sự tiến bộ của một "nền dân chủ Arab".
Bên canh đó, không thể không tính đến các bộ lạc ở Libya. Mặc dù đa số các lãnh đạo của các bộ lạc này không có ý định công nhận nền chuyên chính của Chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan song họ cũng chẳng ưa gì phương Tây. Do đó, còn gì tồi tệ hơn nếu họ phát hiện ra NTC chỉ là “con rối” của phương Tây?
Vì vậy, sau tất cả, tương lai của Libya vẫn rất bấp bênh. Trong khi đó, một số quốc gia tham gia vào sứ mệnh chống lại Đại tá Gaddafi có vẻ như đang mải tính toán những thiệt hại của họ và sắp sửa rút quân khỏi cuộc chiến, bỏ mặc NTC? Chẳng hạn, Tây Ban Nha tuyên bố sẽ rút hết lực lượng của họ khỏi Libya trước ngày 31/10.
Còn NATO nói chung vẫn chưa đưa ra một quyết định cuối cùng nào về việc có tiếp tục can thiệp sâu hơn nữa vào công việc nội bộ của Libya hay không. Theo nhiều nguồn tin nội bộ của NATO, họ còn đang chờ tham vấn với Liên Hiệp Quốc và NTC trước khi đưa ra quyết định của mình.
Tuy nhiên, giới phân tích phương Tây nhận định NTC lúc này vẫn chưa thực sự sẵn sàng để đảm đương trọng trách ở Libya. Do đó, còn sự lựa chọn nào tốt hơn cho NTC nếu được NATO chấp thuận san sẻ bớt một phần trọng trách này.
Về phía NATO, họ do dự, chần chừ chưa nhận lời với NTC xuất phát từ lo sợ viễn cảnh sẽ bị lún sâu vào một tình thế bế tắc lâu dài ở Libya dẫn đến những mất mát to lớn hơn, thậm chí khó mà lường trước được. Một lý do khác là chấp nhận ở lại Libya cũng đồng nghĩa với việc NATO sẽ phải gánh thêm một khoản chi phí quân sự không hề nhỏ trong bối cảnh các quốc gia châu Âu đang phải cố “thắt lưng buộc bụng” bởi khủng hoảng nợ công trầm trọng nhất trong lịch sử khu vực này chưa hề có dấu hiệu hạ nhiệt.
Tuy nhiên, có một lý do để NTC có thể yên tâm là cả Brussels (Thủ đô của Bỉ, nơi NATO đóng trụ sở chính) lẫn Washington sẽ không ngồi yên nhìn các thế lực Hồi giáo cực đoan ở Libya phá hoại NTC, lực lượng mà họ đã cố công dựng nên.
Lê Dung (Theo Pravda)
Không có gì ngạc nhiên khi cái chết của Đại tá Gaddafi sẽ khiến nhiều người chắc mẩm rằng đã đến lúc NATO kết thúc sứ mệnh ở Libya. Tuy nhiên, vẫn còn quá sớm để kết luận bất cứ điều gì.
Mới đây, Ali Tarhouni, phát ngôn viên chính thức của Hội đồng chuyển tiếp quốc gia Libya (NTC) đưa ra một đề nghị khá bất ngờ là muốn NATO kéo dài sứ mệnh ở Libya ít nhất thêm một tháng nữa.
Yêu cầu này ngay lập tức làm dấy lên câu hỏi tại sao NTC cần NATO ở lại? Trong khi có vẻ như thành phố Sirte, thành trì cuối cùng của Đại tá Gaddafi nằm trong tầm kiểm soát sau cái chết của ông. Các phương tiện truyền thông loan tin rằng thực tế, nhiều tòa nhà trong thành phố đã bị phá hủy và quân nổi dậy đang tiếp tục truy đuổi, tìm diệt “tàn quân” của Đại tá Gaddafi mà không cần có sự trợ giúp của NATO.

Nhiều khả năng NATO sẽ tiếp tục ở lại Libya lâu dài sau cái chết của Đại tá Gaddafi. Ảnh: Prisma.
Có nhiều lý do lý giải động thái của NTC. Một trong số đó chắc chắn xuất phát từ việc Saif al Islam Gaddafi, người con trai từng được chọn để kế vị Đại tá Gaddafi, ngay sau cái chết của cha mình tuyên bố sẽ tiếp tục đấu tranh và thề trả thù cho cha.
Ngoài ra, cũng cùng thời điểm này, nhiều lãnh đạo Hồi giáo người Libya đưa ra tuyên bố đất nước của họ sẽ luôn trung thành với luật Sharia, kinh Koran. Thậm chí, ngay cả Thủ tướng Mahmous Jibril của Libya cũng khẳng định rằng Libya cần Sharia.
Những tuyên bố chắc nịch này chắc chắn khiến phương Tây cũng như những người theo chủ nghĩa tự do ở đất nước Hồi giáo này hụt hẫng bởi giấc mơ về một Libya dân chủ trong tương lai có nguy cơ đổ vỡ.
Và như vậy là bất chấp sự sụp đổ của đế chế Gaddafi, quyền lợi của người dân Libya bao gồm quyền bầu cử sẽ vẫn không được đảm bảo nếu các lực lượng cực đoan Libya đoạt được quyền lãnh đạo đất nước. Khả năng này càng cao hơn khi chính các lãnh đạo NTC đang chìm trong mối hoài nghi Qatar, lực lượng đóng vai trò quan trọng trong chiến dịch tiêu diệt Gaddafi, có khả năng sẽ ngả về phía các lực lượng Hồi giáo cực đoan.
Do đó, không loại trừ khả năng thế giới sẽ chứng kiến một cuộc nổi dậy mới ở Libya một khi người Libya nhận ra lợi ích và sự tiến bộ của một "nền dân chủ Arab".
Bên canh đó, không thể không tính đến các bộ lạc ở Libya. Mặc dù đa số các lãnh đạo của các bộ lạc này không có ý định công nhận nền chuyên chính của Chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan song họ cũng chẳng ưa gì phương Tây. Do đó, còn gì tồi tệ hơn nếu họ phát hiện ra NTC chỉ là “con rối” của phương Tây?
Vì vậy, sau tất cả, tương lai của Libya vẫn rất bấp bênh. Trong khi đó, một số quốc gia tham gia vào sứ mệnh chống lại Đại tá Gaddafi có vẻ như đang mải tính toán những thiệt hại của họ và sắp sửa rút quân khỏi cuộc chiến, bỏ mặc NTC? Chẳng hạn, Tây Ban Nha tuyên bố sẽ rút hết lực lượng của họ khỏi Libya trước ngày 31/10.
Còn NATO nói chung vẫn chưa đưa ra một quyết định cuối cùng nào về việc có tiếp tục can thiệp sâu hơn nữa vào công việc nội bộ của Libya hay không. Theo nhiều nguồn tin nội bộ của NATO, họ còn đang chờ tham vấn với Liên Hiệp Quốc và NTC trước khi đưa ra quyết định của mình.
Tuy nhiên, giới phân tích phương Tây nhận định NTC lúc này vẫn chưa thực sự sẵn sàng để đảm đương trọng trách ở Libya. Do đó, còn sự lựa chọn nào tốt hơn cho NTC nếu được NATO chấp thuận san sẻ bớt một phần trọng trách này.
Về phía NATO, họ do dự, chần chừ chưa nhận lời với NTC xuất phát từ lo sợ viễn cảnh sẽ bị lún sâu vào một tình thế bế tắc lâu dài ở Libya dẫn đến những mất mát to lớn hơn, thậm chí khó mà lường trước được. Một lý do khác là chấp nhận ở lại Libya cũng đồng nghĩa với việc NATO sẽ phải gánh thêm một khoản chi phí quân sự không hề nhỏ trong bối cảnh các quốc gia châu Âu đang phải cố “thắt lưng buộc bụng” bởi khủng hoảng nợ công trầm trọng nhất trong lịch sử khu vực này chưa hề có dấu hiệu hạ nhiệt.
Tuy nhiên, có một lý do để NTC có thể yên tâm là cả Brussels (Thủ đô của Bỉ, nơi NATO đóng trụ sở chính) lẫn Washington sẽ không ngồi yên nhìn các thế lực Hồi giáo cực đoan ở Libya phá hoại NTC, lực lượng mà họ đã cố công dựng nên.
Lê Dung (Theo Pravda)
Thống Đốc Cali công nhận Cờ Vàng
Dân Biểu Tiểu Bang California Jose Solorio
Công Bố Thư Của Thống Đốc Cali Công Nhận Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ VNCH.

Từ trái, Dân Biểu Jose Solorio và ông Khanh Nguyễn trong cuộc họp báo. (Photo VB)

Từ trái, Nghị Viên Michael Võ, Ông Phan Kỳ Nhơn, Hòa Thượng Thích Giác Sỹ, Hòa Thượng Thích Chơn Thành,
Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa, Huynh Trưởng Tâm Hòa Lê Quang Dật trong cuộc họp báo. (Photo VB)

Dân Biểu Jose Solorio (trái) trao bản gốc Thư của Thống Đốc California Jerry Brown cho nhà báo Lý Kiến Trúc trong cuộc họp báo. (Photo VB)
WESTMINSTER (VB) - "Lá cờ cũ của Việt Nam Cộng Hòa, với ba sọc đỏ trên nền màu vàng, và được thành lập từ năm 1948, đã, đang và sẽ tiếp tục là một biểu tượng của khả năng phục hồi, tự do, và dân chủ của nhiều người Mỹ gốc Việt ở California,…" đó là một trích đoạn trong lá thư của Thống Đốc California Jerry Brown công nhận lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của Việt Nam Cộng Hòa mà Dân Biểu Tiểu Bang địa hạt 69 Jose Solorio đã công bố tại cuộc họp báo trưa Thứ Sáu, ngày 28 tháng 10 năm 2011 tại Câu Lạc Bộ Văn Hóa và Báo Chí (Quán Zen) trên đường Bolsa, thành phố Westminster.
Mở đầu buổi họp báo là nghi thức chào quốc kỳ và hát quốc ca Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa và phút mặc niệm.
Ông Khanh Nguyễn, đại sứ thiện chí của thành phố Santa Ana, đã trình bày diễn tiến của cuộc vận động của cộng đồng người Việt tị nạn CS tại nam và bắc Cali để yêu cầu Thống Đốc Jerry Brown tiếp tục công nhận lá cờ vàng 3 sọc đỏ Việt Nam Cộng Hòa như là biểu tượng của Tự Do và Di Sản của người Việt tự do. Ông Khanh cũng đã giới thiệu Dân Biểu Jose Solorio, vị dân biểu có nhiều đóng góp cho cộng đồng Việt tị nạn tại Quận Cam.
Trong lời phát biểu, Dân Biểu Jose Solorio nói rằng, "Tôi rất cảm tạ sự đáp ứng nhanh chóng của Thống đốc về việc yêu cầu của tôi để chính thức công nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa, để đáp ứng nguyện vọng của đa số người Mỹ gốc Việt trong tiểu bang. Tôi hiểu tầm quan trọng đối với cộng đồng Việt Nam, khi lá cờ vàng ba sọc đỏ này được công nhận là biểu tượng của cộng đồng người Mỹ gốc Việt ở California, bởi vì lá cờ này là biểu tượng của tự do, dân chủ, đoàn kết và hy vọng."
DB Solorio cũng trình bày cho biết khi được tin cựu Thống Đốc Arnold Schwarzenegger công nhận ngày 2 tháng 9 là quốc khánh của cộng đồng người Việt, ông đã cùng với đại diện của cộng đồng cực lực phản đối về việc này. Ông cũng là vị dân cử đệ nạp nghị quyết ACR-40 và ACR-63 được quốc hội tiểu bang thông qua để ghi nhận những đóng góp giá trị của cộng đồng người Mỹ gốc Việt cho tiểu bang. Nghị quyết cũng đã công nhận tháng 4 hàng năm là tháng vinh danh người Mỹ gốc Việt trên toàn tiểu bang California.
DB Jose Solorio cũng đã đọc thư của Thống Đốc Jerry Brown, trong đó có đoạn viết rằng, "Những người Mỹ gốc Việt vẫn luôn chú tâm đến việc chống lại sự chuyên chế của tất cả các hình thức, tích cực hỗ trợ nhân quyền cho tất cả mọi người, và tôn trọng các nguyên tắc của nền dân chủ, công lý, và khoan dung mà quốc gia của chúng tôi đã có từ khi được thành lập. Lá cờ củ của Việt Nam Cộng Hòa, với ba sọc đỏ trên nền màu vàng, và được thành lập từ năm 1948, đã, đang và sẽ tiếp tục là một biểu tượng của khả năng phục hồi, tự do, và dân chủ của nhiều người Mỹ gốc Việt ở California. Lá cờ củ của Việt Nam Cộng Hòa là một biểu tượng quan trọng trong lịch sử của người Mỹ gốc Việt và bây giờ được gọi lá cờ Tự do và Di sản của người Việt Nam."
Nhân đó, DB Solorio đã trao bản gốc của lá thư của Thống Đốc Cali cho nhà báo Lý Kiến Trúc, đại diện Câu Lạc Bộ Văn Hóa và Báo Chí, để giữ làm di sản cho cộng đồng người Việt tị nạn CS.
Luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa, Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam Cali, phát biểu cảm tưởng nói rằng từ lâu cộng đồng người Việt tị nạn CS rất quan tâm đến vấn đề cờ vàng 3 sọc đỏ VNCH được chính thức công nhận trên toàn tiểu bang được tiếp tục với tân thống đốc. Luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa cho biết Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam Cali đã viết thư cám ơn Thống Đốc Jerry Brown qua lá thư công nhận cờ vàng 3 sọc đỏ VNCH vào ngày 25 tháng 10 vừa qua. Trong thư cám ơn của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam Cali gửi cho thống đốc có đoạn viết rằng, "Sự công nhận Lá Cờ Tự Do và Di Sản của người Việt Nam của Ngài là một xác quyết mạnh mẽ về sự phát triển và đóng góp của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong các lãnh vực lịch sử, văn hóa, giáo dục, và kinh tế cho tiểu bang California."
Hòa Thượng Thích Chơn Thành, Viện Chủ Chùa Liên Hoa thành phố Garden Grove, trong lời phát biểu, nói rằng "Hôm nay chúng ta tiếp nhận một văn kiện rất quan trọng đó là thư của Thống Đốc California Jerry Brown công nhận lá cờ vàng 3 sọc đỏ VNCH. Thay mặt cho cộng đồng Phật Giáo Việt Nam tôi xin cám ơn ông Thống Đốc Cali, ông Dân Biểu Jose Solorio về việc công nhận lá cờ Việt Nam Cộng Hòa."
Trong phần giới thiệu quan khách tham dự, nhà báo Lý Kiến Trúc cho biết gồm có DB Jose Solorio, Nghị Viên Thành Phố Fountain Valley Michael Võ, Hòa Thượng Thích Chơn Thành, Hòa Thượng Thích Giác Sỹ, ông Lại Thế Hùng (Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Châu Âu), ông Phan Kỳ Nhơn ( Liên Ủy Ban Chống Cộng Sản Và Tay Sai), Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa (Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California), ông Khanh Nguyễn (Đại Sứ Thiện Chí Santa Ana), v.v…
Dân Biểu Tiểu Bang California Jose Solorio
Công Bố Thư Của Thống Đốc Cali Công Nhận Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ VNCH.

Từ trái, Dân Biểu Jose Solorio và ông Khanh Nguyễn trong cuộc họp báo. (Photo VB)

Từ trái, Nghị Viên Michael Võ, Ông Phan Kỳ Nhơn, Hòa Thượng Thích Giác Sỹ, Hòa Thượng Thích Chơn Thành,
Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa, Huynh Trưởng Tâm Hòa Lê Quang Dật trong cuộc họp báo. (Photo VB)

Dân Biểu Jose Solorio (trái) trao bản gốc Thư của Thống Đốc California Jerry Brown cho nhà báo Lý Kiến Trúc trong cuộc họp báo. (Photo VB)
WESTMINSTER (VB) - "Lá cờ cũ của Việt Nam Cộng Hòa, với ba sọc đỏ trên nền màu vàng, và được thành lập từ năm 1948, đã, đang và sẽ tiếp tục là một biểu tượng của khả năng phục hồi, tự do, và dân chủ của nhiều người Mỹ gốc Việt ở California,…" đó là một trích đoạn trong lá thư của Thống Đốc California Jerry Brown công nhận lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của Việt Nam Cộng Hòa mà Dân Biểu Tiểu Bang địa hạt 69 Jose Solorio đã công bố tại cuộc họp báo trưa Thứ Sáu, ngày 28 tháng 10 năm 2011 tại Câu Lạc Bộ Văn Hóa và Báo Chí (Quán Zen) trên đường Bolsa, thành phố Westminster.
Mở đầu buổi họp báo là nghi thức chào quốc kỳ và hát quốc ca Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa và phút mặc niệm.
Ông Khanh Nguyễn, đại sứ thiện chí của thành phố Santa Ana, đã trình bày diễn tiến của cuộc vận động của cộng đồng người Việt tị nạn CS tại nam và bắc Cali để yêu cầu Thống Đốc Jerry Brown tiếp tục công nhận lá cờ vàng 3 sọc đỏ Việt Nam Cộng Hòa như là biểu tượng của Tự Do và Di Sản của người Việt tự do. Ông Khanh cũng đã giới thiệu Dân Biểu Jose Solorio, vị dân biểu có nhiều đóng góp cho cộng đồng Việt tị nạn tại Quận Cam.
Trong lời phát biểu, Dân Biểu Jose Solorio nói rằng, "Tôi rất cảm tạ sự đáp ứng nhanh chóng của Thống đốc về việc yêu cầu của tôi để chính thức công nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa, để đáp ứng nguyện vọng của đa số người Mỹ gốc Việt trong tiểu bang. Tôi hiểu tầm quan trọng đối với cộng đồng Việt Nam, khi lá cờ vàng ba sọc đỏ này được công nhận là biểu tượng của cộng đồng người Mỹ gốc Việt ở California, bởi vì lá cờ này là biểu tượng của tự do, dân chủ, đoàn kết và hy vọng."
DB Solorio cũng trình bày cho biết khi được tin cựu Thống Đốc Arnold Schwarzenegger công nhận ngày 2 tháng 9 là quốc khánh của cộng đồng người Việt, ông đã cùng với đại diện của cộng đồng cực lực phản đối về việc này. Ông cũng là vị dân cử đệ nạp nghị quyết ACR-40 và ACR-63 được quốc hội tiểu bang thông qua để ghi nhận những đóng góp giá trị của cộng đồng người Mỹ gốc Việt cho tiểu bang. Nghị quyết cũng đã công nhận tháng 4 hàng năm là tháng vinh danh người Mỹ gốc Việt trên toàn tiểu bang California.
DB Jose Solorio cũng đã đọc thư của Thống Đốc Jerry Brown, trong đó có đoạn viết rằng, "Những người Mỹ gốc Việt vẫn luôn chú tâm đến việc chống lại sự chuyên chế của tất cả các hình thức, tích cực hỗ trợ nhân quyền cho tất cả mọi người, và tôn trọng các nguyên tắc của nền dân chủ, công lý, và khoan dung mà quốc gia của chúng tôi đã có từ khi được thành lập. Lá cờ củ của Việt Nam Cộng Hòa, với ba sọc đỏ trên nền màu vàng, và được thành lập từ năm 1948, đã, đang và sẽ tiếp tục là một biểu tượng của khả năng phục hồi, tự do, và dân chủ của nhiều người Mỹ gốc Việt ở California. Lá cờ củ của Việt Nam Cộng Hòa là một biểu tượng quan trọng trong lịch sử của người Mỹ gốc Việt và bây giờ được gọi lá cờ Tự do và Di sản của người Việt Nam."
Nhân đó, DB Solorio đã trao bản gốc của lá thư của Thống Đốc Cali cho nhà báo Lý Kiến Trúc, đại diện Câu Lạc Bộ Văn Hóa và Báo Chí, để giữ làm di sản cho cộng đồng người Việt tị nạn CS.
Luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa, Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam Cali, phát biểu cảm tưởng nói rằng từ lâu cộng đồng người Việt tị nạn CS rất quan tâm đến vấn đề cờ vàng 3 sọc đỏ VNCH được chính thức công nhận trên toàn tiểu bang được tiếp tục với tân thống đốc. Luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa cho biết Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam Cali đã viết thư cám ơn Thống Đốc Jerry Brown qua lá thư công nhận cờ vàng 3 sọc đỏ VNCH vào ngày 25 tháng 10 vừa qua. Trong thư cám ơn của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam Cali gửi cho thống đốc có đoạn viết rằng, "Sự công nhận Lá Cờ Tự Do và Di Sản của người Việt Nam của Ngài là một xác quyết mạnh mẽ về sự phát triển và đóng góp của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong các lãnh vực lịch sử, văn hóa, giáo dục, và kinh tế cho tiểu bang California."
Hòa Thượng Thích Chơn Thành, Viện Chủ Chùa Liên Hoa thành phố Garden Grove, trong lời phát biểu, nói rằng "Hôm nay chúng ta tiếp nhận một văn kiện rất quan trọng đó là thư của Thống Đốc California Jerry Brown công nhận lá cờ vàng 3 sọc đỏ VNCH. Thay mặt cho cộng đồng Phật Giáo Việt Nam tôi xin cám ơn ông Thống Đốc Cali, ông Dân Biểu Jose Solorio về việc công nhận lá cờ Việt Nam Cộng Hòa."
Trong phần giới thiệu quan khách tham dự, nhà báo Lý Kiến Trúc cho biết gồm có DB Jose Solorio, Nghị Viên Thành Phố Fountain Valley Michael Võ, Hòa Thượng Thích Chơn Thành, Hòa Thượng Thích Giác Sỹ, ông Lại Thế Hùng (Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Châu Âu), ông Phan Kỳ Nhơn ( Liên Ủy Ban Chống Cộng Sản Và Tay Sai), Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa (Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California), ông Khanh Nguyễn (Đại Sứ Thiện Chí Santa Ana), v.v…
Một phần trăm là những ai?
Ngô Nhân Dụng
Phong trào Chiếm Wall Street (Occupy Wall Street) đã lan khắp nước Mỹ và thế giới, và đã đưa một nạn nhân đầu tiên vào bệnh viện trong cảnh mê man.
Anh Scott Olsen, 24 tuổi, cựu thủy quân lục chiến, đã từng dự chiến tranh ở Iraq. Anh bị cảnh sát bắn đạn mã tử trúng đầu, trong cuộc biểu tình “Chiếm Oakland”.
Nhưng cho tới nay, Chiếm Wall Street, Chiếm London, hay Chiếm Roma đều chỉ là những phong trào tự sinh ra và tự phát triển, chưa nơi nào biến thành tổ chức. Các phong trào thanh niên, năm 1968 hay 2011 đều giống nhau: Trước hết, họ đưa ra những khát vọng. Ở nước Mỹ đã có sẵn những tập quán và định chế dân chủ từ 200 năm; các nhà chính trị sẽ phải phải tìm ra câu trả lời. Dân chúng Mỹ sẽ lựa chọn bằng lá phiếu.
Vì Chiếm Wall Street là một phong trào trẻ và bột phát, cho nên chưa thấy ai đứng ra thảo một bản nguyện vọng cụ thể, hoặc một chương trình chính trị. Người ta hỏi: Những người này chống ai? Họ muốn cái gì? Phong trào Chiếm Wall Street đã bị hiểu lầm theo đủ cách khác nhau.
Tiêu biểu cho những người hiểu lầm phong trào Chiếm Wall Street là một nhóm các cụ già tại thành phố Trịnh Châu (Zhengzhou), thủ phủ tỉnh Hà Nam bên Trung Quốc. Các cụ cũng đi biểu tình ủng hộ Occupy Wall Street, mang theo cờ quạt, biểu ngữ, với khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại!”
Nhưng hình ảnh đó đưa lên trên mạng Sina.com được hai ngày đã có lệnh bóc xuống. Vì các cụ hoàn toàn lạc điệu! Ðảng Cộng Sản ở Bắc Kinh đang muốn đoàn kết với tư bản thế giới chứ không cần yêu vô sản quốc tế! Ở nước Zambia, Phi Châu, các ông chủ Tàu, sau khi đầu tư hai tỷ Mỹ kim khai thác các mỏ đồng hoặc than đá, đã đích thân cầm súng bắn vào các công nhân đình công. Năm 2006 họ đã bắn 6 thợ mỏ trọng thương, năm 2010 bắn chết 13 người; và mới tuần trước, ngày 20 tháng 11 năm 2011, đã bắn vào đám biểu tình của một ngàn công nhân đang đình công đòi tăng lương! Chiếm Wall Street có lan sang Trung Quốc. Trên các trang mạng xuất hiện những facebook mang tên “Occupy Beijing” (Chiếm Bắc Kinh), và “Occupy Shanghai” (Chiếm Thượng Hải), nhưng chỉ được vài ngày cũng bị “Trường Thành Lửa” chặn lại.
Không phải chỉ có các cụ già ở Trịnh Châu mới hiểu lầm phong trào Chiếm Wall Street. Các bạn trẻ khắp nơi cũng có thể hiểu lầm rằng phong trào Chiếm Wall Street là một cuộc “đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản;” hay nói cụ thể hơn, “chống hệ thống kinh tế tư bản”. Thực ra họ không đòi xóa bỏ chế độ dân chủ ở nước Mỹ. Họ cũng không đòi lật đổ hệ thống kinh tế tư nhân ở Mỹ. Họ chỉ đòi thay đổi luật lệ để xã hội được công bằng hơn, nói cách khác là đòi cải thiện hệ thống kinh tế tư bản cho nó tốt hơn, hợp đạo lý hơn.
Diễn tả dưới hình thức đối kháng, thì khẩu hiệu chính của phong trào Chiếm Wall Street là “99 phần trăm chống 1 phần trăm”. Chống như thế nào? Tuyệt nhiên không ai đòi đấu tố, trả thù những người giầu nhất; cũng không đòi tịch thâu tài sản của họ đem chia cho những người nghèo hơn. Mục tiêu đòi hỏi của phong trào Chiếm Wall Street là thay đổi luật lệ ảnh hưởng tới việc phân bố lợi tức trong nền kinh tế. Nói cách khác, là thay đổi luật về thuế khóa.
Nước Mỹ có Tổng Sản Lượng Quốc Dân (GDP) từ 14 đến 15 ngàn tỷ đô la; tức là trong một năm, tất cả những người làm việc trong nước đã sản xuất ra của cải, hàng hóa và dịch vụ trị giá 14 hay 15 ngàn tỷ. Số giá trị tăng thêm trong một năm như vậy được chia cho mọi người hưởng như thế nào? Ðó là vấn đề phân bố lợi tức. Những người biểu tình Chiếm Wall Street nói rằng có 1% các gia đình giàu nhất vì được chia phần nhiều quá. Phải sửa lại “luật chơi” của nền kinh tế để chia bớt phần cho những người khác.
Phương tiện cụ thể nhất của một guồng máy chính quyền trong việc phân bố lợi tức quốc dân là các đạo luật về thuế và chính sách chi tiêu của nhà nước khi được sử dụng số tiền do dân đóng thuế. Ở các nước theo chế độ dân chủ và kinh tế tự do thì vấn đề chính trị quan trọng nhất trong mỗi cuộc bầu cử, từ các địa phương cho tới cấp tiểu bang, liên bang chỉ xoay quanh hai câu hỏi: Thu thuế ra sao và nhà nước đem số tiền đó chi tiêu như thế nào. Mỗi đảng chính trị có chính sách khác nhau về hai vấn đề thu thuế và công chi. Dù họ hô các khẩu hiệu nào đi nữa, rốt cục vẫn chỉ là hai vấn đề căn bản, thuế và công chi. Dân quyết định bằng cách bỏ phiếu.
Nhưng khi nói những người thuộc giới 1% giầu nhất nước Mỹ, họ giầu hơn người khác như thế nào?
Năm 2007, một gia đình phải kiếm được 424,413 đô la mới được gia nhập câu lạc bộ 1% giầu nhất. Trong năm 2009 vì kinh tế suy thoái, một gia đình chỉ cần có lợi tức $343,927 một năm là đủ thuộc hạng 1% này; tổng cộng có 1.4 triệu người và họ hưởng 17% số lợi tức cả nước tạo ra trong năm đó. Giáo Sư Edward Wolff, Ðại Học New York, cho biết vào năm 2007, nhóm 1% các gia đình giầu nhất ở Mỹ làm chủ 34.6% các tài sản tư toàn quốc. Nhóm 19% giầu hạng dưới làm chủ hơn 50% tài sản. Tức là 20% những người giầu nhất ở Mỹ làm chủ 85% tài sản tư của cả nước; 80% các gia đình còn lại chỉ làm chủ được 15%. Những cuộc nghiên cứu dư luận cho thấy phần lớn dân Mỹ không biết gì về tình trạng thiếu quân bình này.
Nhưng lại phải đặt câu hỏi tiếp theo, là các người 1% giầu nhất đó gồm những ai? Nhờ đâu mà họ được hưởng nhiều như vậy?
Những cuộc nghiên cứu khác cho biết trong số người giầu nhất nước (1%) này, vào năm 2005 giới chuyên gia tài chánh (Wall Street) chỉ chiếm 14%. Số người đông hơn là các vị quản đốc công ty sản xuất hay dịch vụ, chiếm trên 31%. Các bác sĩ chiếm gần 16%, và các luật sư chiếm 8.4%. Khi những người đi biểu tình tự mang tên Chống Phố Wall, họ nhắm vào các nhà tài chánh làm việc trong vùng quanh Wall Street, nơi tập trung nhiều ngân hàng và công ty đầu tư tài chánh của Mỹ. Họ không biểu tình chống các giáo sư đại học Y khoa hoặc các chủ tịch đại công ty như General Electrics hoặc Google; mặc dù đám người này phần lớn cũng thuộc thành phần 1%!
Nguồn gốc lợi tức của đám người 1% khác nhau; hoặc dựa vào công việc làm, hoặc không. Có thể nói, những bác sĩ, luật sư kiếm được tiền đều vì được thân chủ trả tiền do công việc họ làm. Lợi tức của họ do luật cung cầu và thị trường cạnh tranh quyết định. Luật cung cầu nghĩa là: Nếu các thân chủ không hài lòng, họ sẽ đi tìm bác sĩ khác, hoặc sẽ đổi luật sư khác. Các quản đốc xí nghiệp cũng vậy, lương bổng là do hội đồng quản trị các công ty quyết định; trên nguyên tắc dựa theo sự ủy nhiệm của các cổ đông, tức là tập thể các chủ nhân của công ty. Số lương bổng và tiền thưởng (bonus) của những người này cũng theo luật cung cầu, và dựa trên nội quy của các công ty. Hội đồng quản trị các công ty có quyền phế bỏ, tuyển mộ, tăng hay giảm lương các vị quản đốc, dựa trên đóng góp của họ vào lợi nhuận và giá trị cổ phiếu của công ty.
Trong năm 2008 chỉ có 19% trong số 13,480 những người có lợi tức từ 10 triệu trở lên kiếm tiền vì làm việc và lãnh lương. Loại lợi tức cao khác kiếm được hoàn toàn nhờ đầu tư, hoặc trung gian môi giới giữa các ngân hàng và đại công ty. Ðó chính là mục tiêu mà phong trào Chiếm Wall Street nhắm vào: Các nhà trung gian tài chánh.
Nhờ đâu mà ngay trong số 1% những người giầu này có những người giầu sụ hơn kẻ khác. Một phần lớn là do cách đánh thuế. Thuế đánh trên lương bổng theo suất lũy tiến, càng lên cao càng đóng một tỷ lệ lớn hơn. Nhưng, nhờ luật cắt thuế của Tổng Thống Georges W. Bush năm 2003, những lợi tức kiếm được nhờ đầu tư thì chỉ đóng suất thuế 15%, dù là tiền lời được chia (dividend) hay lời nhờ bán chứng khoán (capital gain). Người càng giầu thì số tiền kiếm được nhờ đầu tư càng lớn. Nếu phần lớn lợi tức người ta kiếm được là do đầu tư, thì tự nhiên suất thuế rất thấp. Vì vậy, trong số 1% các gia đình giầu nhất, những người thuộc nửa dưới được hưởng rất ít so với nửa trên. Thực ra, cả tài sản và lợi tức được tập trung trong số một phần mười của câu lạc bộ này, tức là 0.1% của những người đóng thuế ở Mỹ. Trong số 400 hay 500 gia đình giầu nhất nước, lợi tức nhờ đầu tư chiếm ba phần tư tổng số lợi tức, hay nhiều hơn. Cho nên suất thuế họ đóng thực ra thấp hơn những người cũng giầu nhưng chỉ nhờ lãnh lương, như các quản đốc xí nghiệp hay các bác sĩ chuyên khoa. Chính vì thế nhà tỷ phú Warren Buffett nói rằng ông chỉ đóng thuế 27% trong khi thư ký của ông phải đóng 35, 36%. Ông Buffett và ông Bill Gates, hai người giầu nhất nước Mỹ đều ủng hộ chủ trương tăng thuế các đại gia như chính họ.
Theo Giáo Sư Edward Wolff, cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2007, đưa tới tình trạng kinh tế suy thoái hiện nay, đã làm tài sản của 1% những người giầu nhất giảm mất 11%. Trong khi đó những người có lợi tức đứng giữa (median) thì bị giảm mất 36%. Vào giữa năm 2011, sự chênh lệch về tài sản ở nước Mỹ nặng hơn năm 2007. Không thể nói những nhà trung gian tài chánh và các nhà đầu tư giỏi (như Warren Buffett) đã tham lam tích lũy của cải. Chính luật lệ về thuế khóa đã tạo ra sự chênh lệch ngày càng lớn. Vào năm 2000, trong số các nước giầu thì Mỹ và Thụy Sĩ là hai nước tài sản được tập trung vào 10% dân số cao nhất (gần 70%, và trên 71%). Ở các nước khác, 10% những người giầu nhất làm chủ một phần nhỏ hơn, như 65.0% (Denmark), 61.0% (Pháp), 56.0% (Anh), 53.0% (Canada), 44.4% (Ðức), 42% (Phần Lan).
Phong trào Occupy Wall Street chỉ là một biểu lộ của giới trẻ trước cảnh chênh lệch này. Họ không đòi xóa bỏ hệ thống kinh tế tư bản; cũng không hề muốn lật đổ chính quyền dân chủ. Khi những người trẻ có lý tưởng muốn xã hội công bằng hơn, đó là một điều đáng mừng cho các quốc gia. Các nhà chính trị sẽ phải diễn tả các khát vọng đó bằng cách thay đổi “luật chơi” cho xã hội công bằng hơn.
Ngô Nhân Dụng
Phong trào Chiếm Wall Street (Occupy Wall Street) đã lan khắp nước Mỹ và thế giới, và đã đưa một nạn nhân đầu tiên vào bệnh viện trong cảnh mê man.
Anh Scott Olsen, 24 tuổi, cựu thủy quân lục chiến, đã từng dự chiến tranh ở Iraq. Anh bị cảnh sát bắn đạn mã tử trúng đầu, trong cuộc biểu tình “Chiếm Oakland”.
Nhưng cho tới nay, Chiếm Wall Street, Chiếm London, hay Chiếm Roma đều chỉ là những phong trào tự sinh ra và tự phát triển, chưa nơi nào biến thành tổ chức. Các phong trào thanh niên, năm 1968 hay 2011 đều giống nhau: Trước hết, họ đưa ra những khát vọng. Ở nước Mỹ đã có sẵn những tập quán và định chế dân chủ từ 200 năm; các nhà chính trị sẽ phải phải tìm ra câu trả lời. Dân chúng Mỹ sẽ lựa chọn bằng lá phiếu.
Vì Chiếm Wall Street là một phong trào trẻ và bột phát, cho nên chưa thấy ai đứng ra thảo một bản nguyện vọng cụ thể, hoặc một chương trình chính trị. Người ta hỏi: Những người này chống ai? Họ muốn cái gì? Phong trào Chiếm Wall Street đã bị hiểu lầm theo đủ cách khác nhau.
Tiêu biểu cho những người hiểu lầm phong trào Chiếm Wall Street là một nhóm các cụ già tại thành phố Trịnh Châu (Zhengzhou), thủ phủ tỉnh Hà Nam bên Trung Quốc. Các cụ cũng đi biểu tình ủng hộ Occupy Wall Street, mang theo cờ quạt, biểu ngữ, với khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại!”
Nhưng hình ảnh đó đưa lên trên mạng Sina.com được hai ngày đã có lệnh bóc xuống. Vì các cụ hoàn toàn lạc điệu! Ðảng Cộng Sản ở Bắc Kinh đang muốn đoàn kết với tư bản thế giới chứ không cần yêu vô sản quốc tế! Ở nước Zambia, Phi Châu, các ông chủ Tàu, sau khi đầu tư hai tỷ Mỹ kim khai thác các mỏ đồng hoặc than đá, đã đích thân cầm súng bắn vào các công nhân đình công. Năm 2006 họ đã bắn 6 thợ mỏ trọng thương, năm 2010 bắn chết 13 người; và mới tuần trước, ngày 20 tháng 11 năm 2011, đã bắn vào đám biểu tình của một ngàn công nhân đang đình công đòi tăng lương! Chiếm Wall Street có lan sang Trung Quốc. Trên các trang mạng xuất hiện những facebook mang tên “Occupy Beijing” (Chiếm Bắc Kinh), và “Occupy Shanghai” (Chiếm Thượng Hải), nhưng chỉ được vài ngày cũng bị “Trường Thành Lửa” chặn lại.
Không phải chỉ có các cụ già ở Trịnh Châu mới hiểu lầm phong trào Chiếm Wall Street. Các bạn trẻ khắp nơi cũng có thể hiểu lầm rằng phong trào Chiếm Wall Street là một cuộc “đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản;” hay nói cụ thể hơn, “chống hệ thống kinh tế tư bản”. Thực ra họ không đòi xóa bỏ chế độ dân chủ ở nước Mỹ. Họ cũng không đòi lật đổ hệ thống kinh tế tư nhân ở Mỹ. Họ chỉ đòi thay đổi luật lệ để xã hội được công bằng hơn, nói cách khác là đòi cải thiện hệ thống kinh tế tư bản cho nó tốt hơn, hợp đạo lý hơn.
Diễn tả dưới hình thức đối kháng, thì khẩu hiệu chính của phong trào Chiếm Wall Street là “99 phần trăm chống 1 phần trăm”. Chống như thế nào? Tuyệt nhiên không ai đòi đấu tố, trả thù những người giầu nhất; cũng không đòi tịch thâu tài sản của họ đem chia cho những người nghèo hơn. Mục tiêu đòi hỏi của phong trào Chiếm Wall Street là thay đổi luật lệ ảnh hưởng tới việc phân bố lợi tức trong nền kinh tế. Nói cách khác, là thay đổi luật về thuế khóa.
Nước Mỹ có Tổng Sản Lượng Quốc Dân (GDP) từ 14 đến 15 ngàn tỷ đô la; tức là trong một năm, tất cả những người làm việc trong nước đã sản xuất ra của cải, hàng hóa và dịch vụ trị giá 14 hay 15 ngàn tỷ. Số giá trị tăng thêm trong một năm như vậy được chia cho mọi người hưởng như thế nào? Ðó là vấn đề phân bố lợi tức. Những người biểu tình Chiếm Wall Street nói rằng có 1% các gia đình giàu nhất vì được chia phần nhiều quá. Phải sửa lại “luật chơi” của nền kinh tế để chia bớt phần cho những người khác.
Phương tiện cụ thể nhất của một guồng máy chính quyền trong việc phân bố lợi tức quốc dân là các đạo luật về thuế và chính sách chi tiêu của nhà nước khi được sử dụng số tiền do dân đóng thuế. Ở các nước theo chế độ dân chủ và kinh tế tự do thì vấn đề chính trị quan trọng nhất trong mỗi cuộc bầu cử, từ các địa phương cho tới cấp tiểu bang, liên bang chỉ xoay quanh hai câu hỏi: Thu thuế ra sao và nhà nước đem số tiền đó chi tiêu như thế nào. Mỗi đảng chính trị có chính sách khác nhau về hai vấn đề thu thuế và công chi. Dù họ hô các khẩu hiệu nào đi nữa, rốt cục vẫn chỉ là hai vấn đề căn bản, thuế và công chi. Dân quyết định bằng cách bỏ phiếu.
Nhưng khi nói những người thuộc giới 1% giầu nhất nước Mỹ, họ giầu hơn người khác như thế nào?
Năm 2007, một gia đình phải kiếm được 424,413 đô la mới được gia nhập câu lạc bộ 1% giầu nhất. Trong năm 2009 vì kinh tế suy thoái, một gia đình chỉ cần có lợi tức $343,927 một năm là đủ thuộc hạng 1% này; tổng cộng có 1.4 triệu người và họ hưởng 17% số lợi tức cả nước tạo ra trong năm đó. Giáo Sư Edward Wolff, Ðại Học New York, cho biết vào năm 2007, nhóm 1% các gia đình giầu nhất ở Mỹ làm chủ 34.6% các tài sản tư toàn quốc. Nhóm 19% giầu hạng dưới làm chủ hơn 50% tài sản. Tức là 20% những người giầu nhất ở Mỹ làm chủ 85% tài sản tư của cả nước; 80% các gia đình còn lại chỉ làm chủ được 15%. Những cuộc nghiên cứu dư luận cho thấy phần lớn dân Mỹ không biết gì về tình trạng thiếu quân bình này.
Nhưng lại phải đặt câu hỏi tiếp theo, là các người 1% giầu nhất đó gồm những ai? Nhờ đâu mà họ được hưởng nhiều như vậy?
Những cuộc nghiên cứu khác cho biết trong số người giầu nhất nước (1%) này, vào năm 2005 giới chuyên gia tài chánh (Wall Street) chỉ chiếm 14%. Số người đông hơn là các vị quản đốc công ty sản xuất hay dịch vụ, chiếm trên 31%. Các bác sĩ chiếm gần 16%, và các luật sư chiếm 8.4%. Khi những người đi biểu tình tự mang tên Chống Phố Wall, họ nhắm vào các nhà tài chánh làm việc trong vùng quanh Wall Street, nơi tập trung nhiều ngân hàng và công ty đầu tư tài chánh của Mỹ. Họ không biểu tình chống các giáo sư đại học Y khoa hoặc các chủ tịch đại công ty như General Electrics hoặc Google; mặc dù đám người này phần lớn cũng thuộc thành phần 1%!
Nguồn gốc lợi tức của đám người 1% khác nhau; hoặc dựa vào công việc làm, hoặc không. Có thể nói, những bác sĩ, luật sư kiếm được tiền đều vì được thân chủ trả tiền do công việc họ làm. Lợi tức của họ do luật cung cầu và thị trường cạnh tranh quyết định. Luật cung cầu nghĩa là: Nếu các thân chủ không hài lòng, họ sẽ đi tìm bác sĩ khác, hoặc sẽ đổi luật sư khác. Các quản đốc xí nghiệp cũng vậy, lương bổng là do hội đồng quản trị các công ty quyết định; trên nguyên tắc dựa theo sự ủy nhiệm của các cổ đông, tức là tập thể các chủ nhân của công ty. Số lương bổng và tiền thưởng (bonus) của những người này cũng theo luật cung cầu, và dựa trên nội quy của các công ty. Hội đồng quản trị các công ty có quyền phế bỏ, tuyển mộ, tăng hay giảm lương các vị quản đốc, dựa trên đóng góp của họ vào lợi nhuận và giá trị cổ phiếu của công ty.
Trong năm 2008 chỉ có 19% trong số 13,480 những người có lợi tức từ 10 triệu trở lên kiếm tiền vì làm việc và lãnh lương. Loại lợi tức cao khác kiếm được hoàn toàn nhờ đầu tư, hoặc trung gian môi giới giữa các ngân hàng và đại công ty. Ðó chính là mục tiêu mà phong trào Chiếm Wall Street nhắm vào: Các nhà trung gian tài chánh.
Nhờ đâu mà ngay trong số 1% những người giầu này có những người giầu sụ hơn kẻ khác. Một phần lớn là do cách đánh thuế. Thuế đánh trên lương bổng theo suất lũy tiến, càng lên cao càng đóng một tỷ lệ lớn hơn. Nhưng, nhờ luật cắt thuế của Tổng Thống Georges W. Bush năm 2003, những lợi tức kiếm được nhờ đầu tư thì chỉ đóng suất thuế 15%, dù là tiền lời được chia (dividend) hay lời nhờ bán chứng khoán (capital gain). Người càng giầu thì số tiền kiếm được nhờ đầu tư càng lớn. Nếu phần lớn lợi tức người ta kiếm được là do đầu tư, thì tự nhiên suất thuế rất thấp. Vì vậy, trong số 1% các gia đình giầu nhất, những người thuộc nửa dưới được hưởng rất ít so với nửa trên. Thực ra, cả tài sản và lợi tức được tập trung trong số một phần mười của câu lạc bộ này, tức là 0.1% của những người đóng thuế ở Mỹ. Trong số 400 hay 500 gia đình giầu nhất nước, lợi tức nhờ đầu tư chiếm ba phần tư tổng số lợi tức, hay nhiều hơn. Cho nên suất thuế họ đóng thực ra thấp hơn những người cũng giầu nhưng chỉ nhờ lãnh lương, như các quản đốc xí nghiệp hay các bác sĩ chuyên khoa. Chính vì thế nhà tỷ phú Warren Buffett nói rằng ông chỉ đóng thuế 27% trong khi thư ký của ông phải đóng 35, 36%. Ông Buffett và ông Bill Gates, hai người giầu nhất nước Mỹ đều ủng hộ chủ trương tăng thuế các đại gia như chính họ.
Theo Giáo Sư Edward Wolff, cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2007, đưa tới tình trạng kinh tế suy thoái hiện nay, đã làm tài sản của 1% những người giầu nhất giảm mất 11%. Trong khi đó những người có lợi tức đứng giữa (median) thì bị giảm mất 36%. Vào giữa năm 2011, sự chênh lệch về tài sản ở nước Mỹ nặng hơn năm 2007. Không thể nói những nhà trung gian tài chánh và các nhà đầu tư giỏi (như Warren Buffett) đã tham lam tích lũy của cải. Chính luật lệ về thuế khóa đã tạo ra sự chênh lệch ngày càng lớn. Vào năm 2000, trong số các nước giầu thì Mỹ và Thụy Sĩ là hai nước tài sản được tập trung vào 10% dân số cao nhất (gần 70%, và trên 71%). Ở các nước khác, 10% những người giầu nhất làm chủ một phần nhỏ hơn, như 65.0% (Denmark), 61.0% (Pháp), 56.0% (Anh), 53.0% (Canada), 44.4% (Ðức), 42% (Phần Lan).
Phong trào Occupy Wall Street chỉ là một biểu lộ của giới trẻ trước cảnh chênh lệch này. Họ không đòi xóa bỏ hệ thống kinh tế tư bản; cũng không hề muốn lật đổ chính quyền dân chủ. Khi những người trẻ có lý tưởng muốn xã hội công bằng hơn, đó là một điều đáng mừng cho các quốc gia. Các nhà chính trị sẽ phải diễn tả các khát vọng đó bằng cách thay đổi “luật chơi” cho xã hội công bằng hơn.
Người ngoại quốc nhận xét về người VN?
TRẦN THÀNH NAM Tôi năm nay U60, sinh ra và lớn lên dưới mái trường XHCN, đã du học ở Đông Âu trên chục năm. Luôn tự hào mình là người Việt Nam trong suốt khoảng hơn bốn mươi năm đầu cuộc đời mình. Chưa bao giờ nghi ngờ đạo đức nhân đạo và tính hướng thiện của người Việt, tức của tổ tiên mình. Thời thanh niên bên trời Âu tôi luôn từng tự hào tự gọi mình là Việt Cộng, từng là chủ tịch Hội sinh viên Quốc tế toàn Balan nơi tôi học được khoảng 1 tháng trước khi bị Đại sứ quán VN tại Vacsava gọi lên bắt từ chức xuống thành Phó CT phụ trách Học tập… Nói thế chỉ để biết gốc gác chính trị của tôi rất cộng sản và trong sáng, bởi vì cha ông tôi cũng rất trong sáng và theo cộng sản suốt đời.
Về nước, tôi làm việc cho các tập đoàn nhà nước lớn và tiếp tục có điều kiện đi công tác nước ngoài nhiều, làm việc với người nước ngoài rất nhiều. Được đọc và tiếp xúc nhiều, tôi nhận thấy là nước nào họ cũng có những tác giả và tác phẩm nổi tiếng và được nhân dân quí trọng vì đã nói lên những thói hư tính xấu của dân tộc mình, trong khi người Việt chỉ thích tự khen mình: Người Việt cao quí, Lương tâm Nhân loại…(!), và luôn ép người khác khen mình. Hôm nay, trên Vietnamnet ông Vũ – một chủ hãng cafe Việt, còn đề nghị: Mỹ và TQ lãnh đạo thế giới về chính trị và kinh tế rồi, còn “lá cờ nhân văn” chưa ai nắm và Việt Nam hãy nắm lấy lá cờ nhân văn đó của thế giới để sánh ngang TQ và Mỹ (!)… thì ngoài sức tưởng tượng và chịu đựng của tôi rồi.
Đấy là lý do trực tiếp làm tôi viết bài này, nên trước khi nói về người Việt như tiêu đề, xin cho tôi có một hai câu về “Lá cờ Nhân văn” thế giới, như sau: Ông Vũ đã đúng khi nói có Lá cờ Nhân văn thế giới. Nhưng ông đã sai khi nói chưa có ai nắm lá cờ đó, và ông càng sai nữa khi nói Việt Nam có thể nắm lấy Lá cờ đó và lãnh đạo thế giới! Thứ nhất, nếu đã tồn tại một lá cờ nhân văn thế giới, thì nhất định nó cũng đang tồn tại chủ nhân tương xứng, cả hai đều chỉ là khái niệm. Chủ đó phải là dân tộc có tính nhân văn nhất thế giới và được các dân tộc khác công nhận, bởi lá cờ này không thể cướp được, đúng không ạ? Ông Vũ nói nó vô chủ là rất cơ hội (hèn chi ông được tham dự ĐH Đảng X với tư cách doanh nhân, nếu tôi không nhầm?). Nhưng theo tôi, nó đang ở trong tay dân tộc nào, đất nước nào đang có nền văn hóa nhân văn nhất (ở thời điểm này) thu hút được nhân tài và thế hệ trẻ được cả thể giới đến học, làm việc và ở lại sống nhiều nhất, sinh ra nhiều người tài năng và thành công nhất cho thế giới. Theo ông Vũ, đó sẽ là Việt Nam? Nước ta đang và sẽ thu hút được bao nhiêu người nước ngoài đến học? Ông hãy góp ý thế cho ĐH XI nhé! Chúc mừng ông.
Trở lại với tiêu đề chính, cách đây khoảng gần chục năm, trong một cuộc nói chuyện bạn bè thân, tôi đã hỏi một người Anh một câu và yêu cầu trả lời trung thực: “Nếu phải lột tả người Việt trong một hay hai từ, ‘mày’ sẽ nói thế nào?” “Không được rắc complements!” Biết ý tôi, không ngần ngại, anh bạn nói luôn: “Câu hỏi này người nước ngoài chúng tao ở VN luôn thảo luận với nhau khi không có người Việt, và đều nhất trí có câu trả lời giống nhau, nhưng không bao giờ dám nói ra với người Việt. Mày là người VN đầu tiên hỏi tao câu này không với ý định muốn nghe một lời khen, nên tao sẽ nói thật, đó là: Greedy Vietnamese” Vâng, đó là: “Người Việt tham lam!”
Dù đã chuẩn bị cho “tình huống xấu nhất” với đầu óc cởi mở nhất, tôi đã choáng váng và cứng họng một lúc không nói được gì. Mãi sau, tôi mới thốt lên đau đớn vì biết bạn mình không nói dối: “Greedy? Why?” -“Tham lam? Tại sao?” Bạn tôi cười: “Thì người Việt chúng mày, trừ mày ra, (nó thương hại tôi!), luôn luôn cái gì cũng muốn được, không nhường cái gì cho ai bao giờ: Hợp đồng thì điều khoản ngon nhất, giá phải rẻ nhất, hàng phải tốt nhất, giao hàng phải nhanh nhất, bảo hành phải vô thời hạn, thanh toán thì chậm nhất, và … hoa hồng thì phải khủng khiếp nhất!” Tôi chết đứng! Tôi biết nó nói đúng hoàn toàn. Nó làm thương mại với người Việt và ở VN gần hai chục năm rồi. Nó (và đa số người nước ngoài cũng vậy) nhìn người Việt qua những gì nó thấy ở những cán bộ nhà nước hàng ngày làm việc (đàm phán thương mại) với nó! Tôi đã từng đàm phán với nó cách đây hơn hai chục năm, và với rất nhiều người nước ngoài khác, chưa bao giờ biết đòi hỏi ai một cent nào từ vô số hợp đồng ngoại thương tôi đã đàm phán và ký kết, nhưng tôi biết tôi là ngoại lệ, nên tôi biết mình có quyền và có thể nhìn vào mắt mà hỏi nó (bạn tôi) hay bất kỳ ai (thương gia nước ngoài) đã làm việc với tôi, câu hỏi đó mà không sợ bị nó/họ cười khinh cho.
“Vậy, tính từ thứ hai “bọn mày” (tôi đã từng cùng nó có dịp uống bia trong các câu lạc bộ doanh nhân người Singapore, Malaysia, Nhật, Anh, Mỹ, Hàn, Pháp…do các Amcham, Eurocham… tổ chức) miêu tả người Việt là gì?”- Tôi dũng cảm tiếp tục, hy vọng lần này sẽ được nghe lời dễ chịu hơn. Câu trả lời là: “Tricky!”, “Tricky Vietnamese!” – “Gian! Người Việt hay gian!” Tôi hét lên: “Không thể nào! Mày không đang trêu tức tao đấy chứ?!” Bạn tôi trả lời: “Mày muốn tao trung thực mà?” “Vậy tại sao lại là gian?” tôi cố gắng chịu đựng. “Vì chúng mày không bao giờ nói thật, nói thẳng, và có nói rồi cũng tìm cách thay đổi nếu có lợi hơn. Chúng mày luôn nghĩ rằng mình khôn hơn người và luôn luôn xoay sở để hơn người khác…” Tôi ngồi im lặng, điếng người, muốn khóc, và cố uống tiếp vại bia tự nhiên đắng ngắt. Từ đó tôi ghét uống bia. Nó nhắc tôi buổi tâm sự với phát hiện kinh hoàng trên. “Từ đó trong tôi” “tắt ngấm” “nắng hạ”… là người Việt!
Nhưng nội dung và diễn biến của cuộc nói chuyện thân tình trên thì tôi dù muốn cũng không bao giờ quên được. Sự thực là tôi đã phải trăn trở rất nhiều, dằn vặt rất nhiều với điều này từng ngày từ đó: Đặc điểm bản chất của người Việt là gì so với người nước khác? Tại sao người nước ngoài lại đang nhìn chúng ta tệ hại như thế: Gian và tham? Tôi đã không thể phản bác được ông bạn người Anh của mình dù tôi với nó “cùng ngôn ngữ”: đều mê The Beatles! Có ăn nhằm gì đâu! Nó vẫn bảo lưu quan điểm! Một lần gần sau đó tôi trở lại đề tài với nó: “Tại sao mày nói người Việt rất tham lam, cái gì cũng muốn, và gian, cái gì cũng khôn lỏi hơn người, mà mày vẫn làm ăn với chúng tao?” Bạn tôi cười bí hiểm trả lời: “Đấy chính là bi kịch của người Việt, ít nhất là của những người Việt đang không có quyền thế hiện nay.” Rồi nó tiếp: “Chính vì người Việt gian và tham nên chỉ có những người gian và tham hơn mới dám làm ăn cùng chúng mày!” “Ý mày nói đa số thương nhân nước ngoài làm việc với VN là gian và tham?” “Gần như đúng thế!” “Cả mày nữa?” “Gần đúng, vì lúc đầu tao cũng không gian, nhưng tao mất nhiều quá và buộc phải chơi theo cách của người Việt thôi…” “Vậy mày gian thế nào?” Bạn tôi lại cười bí hiểm: “Nói mày đừng buồn, đa số người Việt kém tiếng Anh, và hầu hết kém luật pháp thê thảm, nhất là luật thương mại. Càng chức to thì điều này càng đúng, mày là lính quèn nên khá giỏi. Hì hì, mà tiếng Anh là của bọn tao, luật pháp các nước khác cũng đều đi trước VN, nên chúng tao chỉ có cách dùng tiếng Anh kém cỏi vô nghĩa của chính chúng mày để làm hợp đồng thương mại, và luật thương mại quốc tế nữa… thì chúng tao mới bình đẳng được!” Rồi nó bồi thêm: “Thế mày nghĩ bọn tao có thể cung cấp hàng tốt nhất, giá rẻ nhất, thời hạn nhanh nhất với trách nhiệm vô hạn được thật à?!”
Đó là câu chuyện của hơn 10 năm trước. Tôi đã kiểm tra độ khách quan của đánh giá đó suốt 10 năm qua với rất nhiều người nước ngoài từ các vùng, miền, đất nước có văn hóa và chính trị khác nhau, mà tôi có thể tiếp cận. Đa số câu trả lời kiểm chứng (không phải tất cả) xác nhận sự khách quan và tính gần đúng của nhận xét của bạn tôi. Nhận xét đó đã bắt tôi suốt hơn mười năm qua phải tìm hiểu văn hóa và bản chất dân tộc ta là gì? Tại sao chúng ta lại để đến nông nỗi này?! để người khác nghĩ và đánh giá mình là dân tộc gian, tham?! Người Việt gian tham ư?! Đau xót lắm, nhưng tôi vẫn không phản bác được bạn mình, với những gì tôi và chúng ta vẫn thấy xung quanh trên đất nước chúng ta… Nó là cái văn hóa gì?! Hôm nay, có lẽ tôi đã trả lời được câu hỏi đó cho mình. Dân tộc ta không phải thế! Có những hạt sạn đã được vô tình hay cố ý gieo vào đạo đức, lối sống dân ta mà có lẽ người gieo cũng không muốn và không biết mình đã làm gì? Chúng ta phải đợi đến vụ gieo hạt sau thôi?
TRẦN THÀNH NAM
Nguồn: Blog Đào Hiếu
TRẦN THÀNH NAM Tôi năm nay U60, sinh ra và lớn lên dưới mái trường XHCN, đã du học ở Đông Âu trên chục năm. Luôn tự hào mình là người Việt Nam trong suốt khoảng hơn bốn mươi năm đầu cuộc đời mình. Chưa bao giờ nghi ngờ đạo đức nhân đạo và tính hướng thiện của người Việt, tức của tổ tiên mình. Thời thanh niên bên trời Âu tôi luôn từng tự hào tự gọi mình là Việt Cộng, từng là chủ tịch Hội sinh viên Quốc tế toàn Balan nơi tôi học được khoảng 1 tháng trước khi bị Đại sứ quán VN tại Vacsava gọi lên bắt từ chức xuống thành Phó CT phụ trách Học tập… Nói thế chỉ để biết gốc gác chính trị của tôi rất cộng sản và trong sáng, bởi vì cha ông tôi cũng rất trong sáng và theo cộng sản suốt đời.
Về nước, tôi làm việc cho các tập đoàn nhà nước lớn và tiếp tục có điều kiện đi công tác nước ngoài nhiều, làm việc với người nước ngoài rất nhiều. Được đọc và tiếp xúc nhiều, tôi nhận thấy là nước nào họ cũng có những tác giả và tác phẩm nổi tiếng và được nhân dân quí trọng vì đã nói lên những thói hư tính xấu của dân tộc mình, trong khi người Việt chỉ thích tự khen mình: Người Việt cao quí, Lương tâm Nhân loại…(!), và luôn ép người khác khen mình. Hôm nay, trên Vietnamnet ông Vũ – một chủ hãng cafe Việt, còn đề nghị: Mỹ và TQ lãnh đạo thế giới về chính trị và kinh tế rồi, còn “lá cờ nhân văn” chưa ai nắm và Việt Nam hãy nắm lấy lá cờ nhân văn đó của thế giới để sánh ngang TQ và Mỹ (!)… thì ngoài sức tưởng tượng và chịu đựng của tôi rồi.
Đấy là lý do trực tiếp làm tôi viết bài này, nên trước khi nói về người Việt như tiêu đề, xin cho tôi có một hai câu về “Lá cờ Nhân văn” thế giới, như sau: Ông Vũ đã đúng khi nói có Lá cờ Nhân văn thế giới. Nhưng ông đã sai khi nói chưa có ai nắm lá cờ đó, và ông càng sai nữa khi nói Việt Nam có thể nắm lấy Lá cờ đó và lãnh đạo thế giới! Thứ nhất, nếu đã tồn tại một lá cờ nhân văn thế giới, thì nhất định nó cũng đang tồn tại chủ nhân tương xứng, cả hai đều chỉ là khái niệm. Chủ đó phải là dân tộc có tính nhân văn nhất thế giới và được các dân tộc khác công nhận, bởi lá cờ này không thể cướp được, đúng không ạ? Ông Vũ nói nó vô chủ là rất cơ hội (hèn chi ông được tham dự ĐH Đảng X với tư cách doanh nhân, nếu tôi không nhầm?). Nhưng theo tôi, nó đang ở trong tay dân tộc nào, đất nước nào đang có nền văn hóa nhân văn nhất (ở thời điểm này) thu hút được nhân tài và thế hệ trẻ được cả thể giới đến học, làm việc và ở lại sống nhiều nhất, sinh ra nhiều người tài năng và thành công nhất cho thế giới. Theo ông Vũ, đó sẽ là Việt Nam? Nước ta đang và sẽ thu hút được bao nhiêu người nước ngoài đến học? Ông hãy góp ý thế cho ĐH XI nhé! Chúc mừng ông.
Trở lại với tiêu đề chính, cách đây khoảng gần chục năm, trong một cuộc nói chuyện bạn bè thân, tôi đã hỏi một người Anh một câu và yêu cầu trả lời trung thực: “Nếu phải lột tả người Việt trong một hay hai từ, ‘mày’ sẽ nói thế nào?” “Không được rắc complements!” Biết ý tôi, không ngần ngại, anh bạn nói luôn: “Câu hỏi này người nước ngoài chúng tao ở VN luôn thảo luận với nhau khi không có người Việt, và đều nhất trí có câu trả lời giống nhau, nhưng không bao giờ dám nói ra với người Việt. Mày là người VN đầu tiên hỏi tao câu này không với ý định muốn nghe một lời khen, nên tao sẽ nói thật, đó là: Greedy Vietnamese” Vâng, đó là: “Người Việt tham lam!”
Dù đã chuẩn bị cho “tình huống xấu nhất” với đầu óc cởi mở nhất, tôi đã choáng váng và cứng họng một lúc không nói được gì. Mãi sau, tôi mới thốt lên đau đớn vì biết bạn mình không nói dối: “Greedy? Why?” -“Tham lam? Tại sao?” Bạn tôi cười: “Thì người Việt chúng mày, trừ mày ra, (nó thương hại tôi!), luôn luôn cái gì cũng muốn được, không nhường cái gì cho ai bao giờ: Hợp đồng thì điều khoản ngon nhất, giá phải rẻ nhất, hàng phải tốt nhất, giao hàng phải nhanh nhất, bảo hành phải vô thời hạn, thanh toán thì chậm nhất, và … hoa hồng thì phải khủng khiếp nhất!” Tôi chết đứng! Tôi biết nó nói đúng hoàn toàn. Nó làm thương mại với người Việt và ở VN gần hai chục năm rồi. Nó (và đa số người nước ngoài cũng vậy) nhìn người Việt qua những gì nó thấy ở những cán bộ nhà nước hàng ngày làm việc (đàm phán thương mại) với nó! Tôi đã từng đàm phán với nó cách đây hơn hai chục năm, và với rất nhiều người nước ngoài khác, chưa bao giờ biết đòi hỏi ai một cent nào từ vô số hợp đồng ngoại thương tôi đã đàm phán và ký kết, nhưng tôi biết tôi là ngoại lệ, nên tôi biết mình có quyền và có thể nhìn vào mắt mà hỏi nó (bạn tôi) hay bất kỳ ai (thương gia nước ngoài) đã làm việc với tôi, câu hỏi đó mà không sợ bị nó/họ cười khinh cho.
“Vậy, tính từ thứ hai “bọn mày” (tôi đã từng cùng nó có dịp uống bia trong các câu lạc bộ doanh nhân người Singapore, Malaysia, Nhật, Anh, Mỹ, Hàn, Pháp…do các Amcham, Eurocham… tổ chức) miêu tả người Việt là gì?”- Tôi dũng cảm tiếp tục, hy vọng lần này sẽ được nghe lời dễ chịu hơn. Câu trả lời là: “Tricky!”, “Tricky Vietnamese!” – “Gian! Người Việt hay gian!” Tôi hét lên: “Không thể nào! Mày không đang trêu tức tao đấy chứ?!” Bạn tôi trả lời: “Mày muốn tao trung thực mà?” “Vậy tại sao lại là gian?” tôi cố gắng chịu đựng. “Vì chúng mày không bao giờ nói thật, nói thẳng, và có nói rồi cũng tìm cách thay đổi nếu có lợi hơn. Chúng mày luôn nghĩ rằng mình khôn hơn người và luôn luôn xoay sở để hơn người khác…” Tôi ngồi im lặng, điếng người, muốn khóc, và cố uống tiếp vại bia tự nhiên đắng ngắt. Từ đó tôi ghét uống bia. Nó nhắc tôi buổi tâm sự với phát hiện kinh hoàng trên. “Từ đó trong tôi” “tắt ngấm” “nắng hạ”… là người Việt!
Nhưng nội dung và diễn biến của cuộc nói chuyện thân tình trên thì tôi dù muốn cũng không bao giờ quên được. Sự thực là tôi đã phải trăn trở rất nhiều, dằn vặt rất nhiều với điều này từng ngày từ đó: Đặc điểm bản chất của người Việt là gì so với người nước khác? Tại sao người nước ngoài lại đang nhìn chúng ta tệ hại như thế: Gian và tham? Tôi đã không thể phản bác được ông bạn người Anh của mình dù tôi với nó “cùng ngôn ngữ”: đều mê The Beatles! Có ăn nhằm gì đâu! Nó vẫn bảo lưu quan điểm! Một lần gần sau đó tôi trở lại đề tài với nó: “Tại sao mày nói người Việt rất tham lam, cái gì cũng muốn, và gian, cái gì cũng khôn lỏi hơn người, mà mày vẫn làm ăn với chúng tao?” Bạn tôi cười bí hiểm trả lời: “Đấy chính là bi kịch của người Việt, ít nhất là của những người Việt đang không có quyền thế hiện nay.” Rồi nó tiếp: “Chính vì người Việt gian và tham nên chỉ có những người gian và tham hơn mới dám làm ăn cùng chúng mày!” “Ý mày nói đa số thương nhân nước ngoài làm việc với VN là gian và tham?” “Gần như đúng thế!” “Cả mày nữa?” “Gần đúng, vì lúc đầu tao cũng không gian, nhưng tao mất nhiều quá và buộc phải chơi theo cách của người Việt thôi…” “Vậy mày gian thế nào?” Bạn tôi lại cười bí hiểm: “Nói mày đừng buồn, đa số người Việt kém tiếng Anh, và hầu hết kém luật pháp thê thảm, nhất là luật thương mại. Càng chức to thì điều này càng đúng, mày là lính quèn nên khá giỏi. Hì hì, mà tiếng Anh là của bọn tao, luật pháp các nước khác cũng đều đi trước VN, nên chúng tao chỉ có cách dùng tiếng Anh kém cỏi vô nghĩa của chính chúng mày để làm hợp đồng thương mại, và luật thương mại quốc tế nữa… thì chúng tao mới bình đẳng được!” Rồi nó bồi thêm: “Thế mày nghĩ bọn tao có thể cung cấp hàng tốt nhất, giá rẻ nhất, thời hạn nhanh nhất với trách nhiệm vô hạn được thật à?!”
Đó là câu chuyện của hơn 10 năm trước. Tôi đã kiểm tra độ khách quan của đánh giá đó suốt 10 năm qua với rất nhiều người nước ngoài từ các vùng, miền, đất nước có văn hóa và chính trị khác nhau, mà tôi có thể tiếp cận. Đa số câu trả lời kiểm chứng (không phải tất cả) xác nhận sự khách quan và tính gần đúng của nhận xét của bạn tôi. Nhận xét đó đã bắt tôi suốt hơn mười năm qua phải tìm hiểu văn hóa và bản chất dân tộc ta là gì? Tại sao chúng ta lại để đến nông nỗi này?! để người khác nghĩ và đánh giá mình là dân tộc gian, tham?! Người Việt gian tham ư?! Đau xót lắm, nhưng tôi vẫn không phản bác được bạn mình, với những gì tôi và chúng ta vẫn thấy xung quanh trên đất nước chúng ta… Nó là cái văn hóa gì?! Hôm nay, có lẽ tôi đã trả lời được câu hỏi đó cho mình. Dân tộc ta không phải thế! Có những hạt sạn đã được vô tình hay cố ý gieo vào đạo đức, lối sống dân ta mà có lẽ người gieo cũng không muốn và không biết mình đã làm gì? Chúng ta phải đợi đến vụ gieo hạt sau thôi?
TRẦN THÀNH NAM
Nguồn: Blog Đào Hiếu
Trên Mặt Trận Văn-Hoá, Ai Đã và Đang Thắng Ai?
Nguyễn Ngọc Bích
Năm 1975, đa-phần chúng ta đến Mỹ trong một tình-cảnh thập phần bất lợi. Đã mất nhà, mất cửa, mất quê hương, chúng ta còn bị nhìn như những kẻ đã thua cuộc, hơn thế nữa còn đáng thua vì tham-nhũng, bất tài, bất lực–đó là hình ảnh của ta trong một nền báo chí bất công, đi tìm thủ-phạm cho một sự thất bại thuộc vào hạng lớn nhất của Mỹ. Nhưng lạ thay, hình ảnh xấu xa này của người Việt miền Nam chẳng bao lâu, chỉ trong vài tháng đã thay đổi một cách nhanh chóng. Mùa thu năm đó, con em chúng ta vào trường học Mỹ đã chứng tỏ là những thiên-thần con, ngoan và giỏi, chả mấy lúc trở thành những trò cưng của các cô thầy để rồi ít năm sau giật đủ mọi thứ giải trong học-đường Mỹ (như thủ-khoa, á-khoa, các học-bổng).
Từ giáo-dục
Song song ở Việt-nam trong cùng thời, người CS vào xâm-chiếm miền Nam gặp cái gì cũng chê. Nhà cao-tầng ở Sài-gòn thì bị coi là "phồn vinh giả-tạo," hàng hoá ê hề thì bị cho là "tàn-dư đế-quốc," cơm thừa canh cặn của Mỹ-nguỵ. Nhưng cũng có vài hình ảnh đối chọi: Nhà văn Dương Thu Hương trông thấy sách đủ loại ở miền Nam, mở ra một chân trời không thể mơ tưởng nổi ở miền Bắc xã-hội-chủ-nghĩa, đã ngồi xuống vệ đường và khóc. Nhà báo Bùi Tín khi vào làm việc ở Camp David, Tân-sơn-nhất, khám-phá ra cả một nền báo chí phong phú do tư-nhân làm chủ, từ thân chính-phủ đến đối-lập quyết-liệt. Và đặc-biệt, trẻ con ở miền Nam tỏ ra lễ-giáo hơn cả người lớn ở miền Bắc, chứng tỏ một nền giáo-dục có cơ-sở, có căn-bản hơn gấp bội!
Và chẳng bao lâu, người ta thấy nền giáo-dục miền Bắc (4-3-3, hệ 10 năm) âm thầm đi theo hệ-thống giáo-dục ở miền Nam (hệ 12 năm). Rồi những lớp học ở miền Bắc bắt đầu chăng những biểu-ngữ "Tiên học lễ, hậu học văn" dù như nội-dung, do đã mất căn-bản trong hơn 20 năm, đi từ khủng-hoảng này đến khủng-hoảng khác.
Đến khi Việt-nam "mở cửa" ra với thế-giới thì những thói hách dịch, cửa quyền kiểu các cô ở cửa hàng mậu-dịch (quốc-doanh) làm việc mà mắng chửi khách hàng sa sả dần dần cũng được thay thế bằng những cô cậu "lễ tân" thưa hỏi, lễ phép đàng-hoàng của các khách-sạn ở Việt-nam hôm nay–dù như tiếng chửi thề tục tằn thì hình như vẫn còn ở ngoài đường phố, ngay giữa Hà-nội "nghìn năm văn vật," đến từ những miệng non choẹt, của ngay cả những con gái 11-12 tuổi.
Chính vì thế mà gần đây, sau những than van trầm thống của những nhà giáo lão thành như G.S. Hoàng Tuỵ, v.v. ở trong nước đã có những hội-thảo như "Sự xuống cấp văn hoá và đạo đức trong xã hội ngày nay" do Quỹ Văn-hoá Phan Châu Trinh tổ-chức ngày 27/11/2010 ở ngay Hà-nội. Tại đây, lý-thuyết-gia Lữ Phương từ Sài-gòn ra đã phải có bài "Vì đâu nên nỗi?" trong đó ông kêu trời về "hiện tường bùng nổ… của một thứ chủ nghĩa vật chất, mang màu sắc chụp giật dung tục, trắng trợn chưa từng có trên đất nước, lan tràn như một bệnh dịch, lau lách xâm nhập vào toàn bộ các ngõ ngách của đời sống (kể cả những lĩnh vực được coi là thiêng liêng cao quý)." Đi tìm gốc rễ của một sự băng-hoại như vậy, ông đã đề nghị đó là "chủ nghĩa GDP," "chủ nghĩa thành tích vĩ cuồng" trong đó có sự "đua đòi chơi trội, ngông nghênh, cùng với thái độ liều lĩnh trong sự nhũng lạm, bòn rút, phung phí của công, trắng trợn, tràn lan, bất chấp mọi hậu quả." (in lại trong báo Thông tin số 55 tháng 12/2010 ở Đức)
Sau đó, ông Tống Văn Công, một lão-thành cách mạng, đã hưởng-ứng bài của Lữ Phương bằng cách "ghi chép điều mình quan sát được." Theo ông, "nước ta đang trong tình trạng khủng hoảng văn hoá" bên cạnh "khủng hoảng kinh tế – xã-hội." Để mô-tả phần nào sự xuống cấp thảm-hại của văn-hoá trong nước ngày nay, Trần Ái Dân đã có bài thơ với những trích-đoạn như sau:
Thời buổi thế này là thế nào hả trời,
Làm xịt lốp xe, đinh rải đầy đường sá.
Giữa phố đông, người rạch mặt người.
Khách tàu hoả tha hồ ăn đá.
...........
Đến cục cứt cũng là cứt rởm.
Nông phu phải miết tay, phải ngửi kiểm tra.
Thời buổi thế này là thế nào hở trời,
Trò giữa lớp phang thầy; Con nện cha trước bàn thờ tổ.
. . . . . . . . . .
Xương trâu bò thế xương liệt sĩ.
Trâu bò lên ngôi Tổ quốc ghi công.
Đi vào phân-tích, ông Tống Văn Công đã nêu những điểm như:
"Không phải lủng củng mà là đặt ý thức hệ trùm lên văn hoá."
"Đặt ý thức hệ lên trên đạo đức truyền thống dân tộc."
"Văn hoá xã hội chủ nghĩa đặt chủ nghĩa Marx-Lenin thành chân lý độc tôn."
"Văn hoá xã hội chủ nghĩa đề cao tuyệt đối chủ nghỉa tập thể, đồng nhất chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa vị kỷ và triệt để xoá bỏ."
"Đề cao nghệ thuật vị nhân sinh nhưng cuối cùng, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa tầm thường hoá văn học, nghệ thuật, khuyến khích văn học nghệ thuật minh hoạ chính trị."
Đến văn nghệ, nếp sống
Trên đây là những lối nói bằng công-thức của người Cộng-sản nên nghe rổn rảng, người thường nghe rất khó hiểu, nhiều khi còn ngờ là nó che đậy những sự thật rất đáng sợ. Để cho dễ hiểu, tôi chỉ xin nêu ra hai thí-dụ.
Một là nhạc vàng. Năm 75 khi vào Nam, người CS chỉ có "nhạc cách mạng" và chê bai nhạc miền Nam mà họ gọi, theo cách nói của Trung-Cộng, là "nhạc vàng," hiểu theo nghĩa là vàng vọt, bệnh hoạn. Nhưng rồi chẳng bao lâu, "nhạc cách mạng" bị xem là "lạc hậu"–theo đúng nghĩa là "rớt lại đằng sau." Vì nhạc CS, cũng như văn-nghệ CS, là nhằm phục-vụ cho giai-đoạn. Khi giai-đoạn đó đã qua, như giai-đoạn mà họ gọi là "đánh cho Mỹ cút, nguỵ nhào," thì cái nhạc kia trở nên lạc lõng, không còn đối-tượng nữa. Do đó nó phải đổi thay. Nhưng đổi thay theo hướng nào? Theo hướng con người, theo hướng tình-cảm… tức là đổi thay theo hướng "nhạc vàng" mà giờ đây ta thấy áp-đảo ở trong nước.
Để cho ta thấy sức mạnh của "nhạc vàng" như thế nào, ta có thể lấy trường-hợp nhạc Phạm Duy. Một số người trong chúng ta không muốn nhắc đến trường-hợp của ông vì để được về yên thân ở trong nước, ông đã có đôi lời phát biểu không hạp nhĩ với chúng ta. Nhưng đâu phải ông về trong nước là không gặp khó khăn. Trên khoảng 1000 bài hát ông đã sáng-tác, cho đến nay nhà cầm quyền CS mới chỉ cho hát và trình bầy có 41 bài của ông. Nhưng mặc! Vì tính-cách nhân-bản của những bài hát này, mỗi lần có Đại-nhạc-hội Phạm Duy ở trong nước là thiên-hạ ùn ùn đi coi, đôi khi phải trả cả vé theo giá chợ đen lên đến 300 đô-la một vé nếu mua ngay ở cửa.
Rồi chúng ta cũng trách một số ca-sĩ hải-ngoại về hát ở trong nước. Song ca-sĩ chúng ta ở ngoài này về là để hát nhạc tình-cảm, nhạc tình-tự quê hương, thậm chí có người còn bị chê trách là hát "nhạc sến" nữa. Nhưng tôi mới được đọc một bài báo nói về Tuấn Vũ, về hát ngay ở nhà hát lớn Hà-nội, mà hát nguyên một tuần lễ mà vẫn không hết khách. Đủ tỏ cái sức mạnh lạ lùng của "nhạc vàng," nó không cần ai đỡ đầu hay nhà nước nào bao cấp cả! Tự nó nó đứng vững trên hai chân của nó, chỉ vì lòng thương yêu của khán-thính-giả… bởi nó "cận nhân-tình"!
Tại sao vậy? Tại vì "nhạc vàng" là một nền nhạc phải cọ xát với nhạc thế-giới, nhạc thời-đại, nó không "lạc hậu" như "nhạc cách mạng." Có thế nên ở ngay bên cạnh một nền nhạc năng động, phong phú và đa dạng như nhạc hiện-đại của Mỹ, của Pháp, "nhạc vàng" vẫn sống hùng sống mạnh, không chỉ vẫn giữ được khán-thính-giả của mình, nó còn cạnh tranh được cả với phim bộ của Hồng-kông, Đại-Hàn nữa… thì đủ tỏ!
Một trường-hợp thứ hai là cách ăn mặc của phụ nữ VN. Năm 75 vào, người CS tuy không cần nói ra vẫn đã biến cả nước thành một dân-tộc đồng-phục, bà ba đen hay nâu (thậm chí đến lụa trắng cũng không dám mặc vì sợ bị coi là trưởng-giả, tiểu-tư-sản). Song chỉ ít lâu sau, người ta khám-phá ra người đàn bà, con gái mà có ít môi son, má phấn, vẽ lông mày, mặc áo dài và tắm xà-bông thơm thì đẹp hơn gấp bội cái "mốt" mà có từ thế-kỷ thứ 10-thứ 15… mà ở nhà quê kia!
Thế là cả một cuộc cách mạng trong y-phục đã xảy ra, kéo từ Nam ra đến Bắc, ra đến tận ải Nam-quan (nếu như còn), và đã đành là không bỏ chuyện chinh-phục trở lại Hà-nội, Nam-định, Hải-phòng! Ngày nay, thử hỏi, ăn mặc thế là chuyện tiến-bộ hay là liệu còn ai chủ-trương trở lại chế-độ bà ba?
Do vậy mà đã có không ít nhà quan-sát-viên, cả VN lẫn ngoại-quốc, đánh giá là trong chiến-tranh VN, người CS chỉ thắng được có phần quân-sự–mà đó cũng là nhờ miền Nam bị đồng-minh bỏ rơi, chứ còn về mọi mặt khác, từ kinh tế, xã-hội đến giáo-dục, văn-học, thời-trang… mặt nào miền Nam cũng thắng vượt trội–ngoại-lệ rất ít, gần như không có! Nên vấn-đề "ai thắng ai" thì từ góc nhìn 36 năm sau nhìn lại, nếp sống và cách nhìn của người CS đã thảm-bại!
Về đạo-đức cũng không khác
Sang một lãnh-vực cao hơn. Đến khi "học tập theo đạo đức Hồ Chí Minh" thì sau "4 năm triển khai trên cả nước," đại-biểu Lê Văn Cuông tại hội-trường Quốc-hội ở Ba Đình, Hà-nội, ngày 1/11/2010 đã phải than: "Kết quả làm theo lời Bác chưa được nhiều, trái lại có một số vấn đề bức xúc như chạy chức, chạy quyền, tham nhũng, lãng phí, tư lợi, đạo đức xuống cấp trong một bộ phận cán bộ công chức ngày càng có biểu hiện tinh vi, phức tạp." Một bộ phận thôi sao? Ngày 30/11/2010, ông Trương Vĩnh Trọng, phó-thủ-tướng, đúc kết tại Hội-nghị tổng-kết công-tác phòng, chống tham-nhũng phải thú thật: "Tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng và diễn biến phức tạp, diễn ra ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp…"
Nguyễn Ngọc Bích
Trình bầy tại Hội Cao Niên vùng HTĐ
Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011
Nguyễn Ngọc Bích
Năm 1975, đa-phần chúng ta đến Mỹ trong một tình-cảnh thập phần bất lợi. Đã mất nhà, mất cửa, mất quê hương, chúng ta còn bị nhìn như những kẻ đã thua cuộc, hơn thế nữa còn đáng thua vì tham-nhũng, bất tài, bất lực–đó là hình ảnh của ta trong một nền báo chí bất công, đi tìm thủ-phạm cho một sự thất bại thuộc vào hạng lớn nhất của Mỹ. Nhưng lạ thay, hình ảnh xấu xa này của người Việt miền Nam chẳng bao lâu, chỉ trong vài tháng đã thay đổi một cách nhanh chóng. Mùa thu năm đó, con em chúng ta vào trường học Mỹ đã chứng tỏ là những thiên-thần con, ngoan và giỏi, chả mấy lúc trở thành những trò cưng của các cô thầy để rồi ít năm sau giật đủ mọi thứ giải trong học-đường Mỹ (như thủ-khoa, á-khoa, các học-bổng).
Từ giáo-dục
Song song ở Việt-nam trong cùng thời, người CS vào xâm-chiếm miền Nam gặp cái gì cũng chê. Nhà cao-tầng ở Sài-gòn thì bị coi là "phồn vinh giả-tạo," hàng hoá ê hề thì bị cho là "tàn-dư đế-quốc," cơm thừa canh cặn của Mỹ-nguỵ. Nhưng cũng có vài hình ảnh đối chọi: Nhà văn Dương Thu Hương trông thấy sách đủ loại ở miền Nam, mở ra một chân trời không thể mơ tưởng nổi ở miền Bắc xã-hội-chủ-nghĩa, đã ngồi xuống vệ đường và khóc. Nhà báo Bùi Tín khi vào làm việc ở Camp David, Tân-sơn-nhất, khám-phá ra cả một nền báo chí phong phú do tư-nhân làm chủ, từ thân chính-phủ đến đối-lập quyết-liệt. Và đặc-biệt, trẻ con ở miền Nam tỏ ra lễ-giáo hơn cả người lớn ở miền Bắc, chứng tỏ một nền giáo-dục có cơ-sở, có căn-bản hơn gấp bội!
Và chẳng bao lâu, người ta thấy nền giáo-dục miền Bắc (4-3-3, hệ 10 năm) âm thầm đi theo hệ-thống giáo-dục ở miền Nam (hệ 12 năm). Rồi những lớp học ở miền Bắc bắt đầu chăng những biểu-ngữ "Tiên học lễ, hậu học văn" dù như nội-dung, do đã mất căn-bản trong hơn 20 năm, đi từ khủng-hoảng này đến khủng-hoảng khác.
Đến khi Việt-nam "mở cửa" ra với thế-giới thì những thói hách dịch, cửa quyền kiểu các cô ở cửa hàng mậu-dịch (quốc-doanh) làm việc mà mắng chửi khách hàng sa sả dần dần cũng được thay thế bằng những cô cậu "lễ tân" thưa hỏi, lễ phép đàng-hoàng của các khách-sạn ở Việt-nam hôm nay–dù như tiếng chửi thề tục tằn thì hình như vẫn còn ở ngoài đường phố, ngay giữa Hà-nội "nghìn năm văn vật," đến từ những miệng non choẹt, của ngay cả những con gái 11-12 tuổi.
Chính vì thế mà gần đây, sau những than van trầm thống của những nhà giáo lão thành như G.S. Hoàng Tuỵ, v.v. ở trong nước đã có những hội-thảo như "Sự xuống cấp văn hoá và đạo đức trong xã hội ngày nay" do Quỹ Văn-hoá Phan Châu Trinh tổ-chức ngày 27/11/2010 ở ngay Hà-nội. Tại đây, lý-thuyết-gia Lữ Phương từ Sài-gòn ra đã phải có bài "Vì đâu nên nỗi?" trong đó ông kêu trời về "hiện tường bùng nổ… của một thứ chủ nghĩa vật chất, mang màu sắc chụp giật dung tục, trắng trợn chưa từng có trên đất nước, lan tràn như một bệnh dịch, lau lách xâm nhập vào toàn bộ các ngõ ngách của đời sống (kể cả những lĩnh vực được coi là thiêng liêng cao quý)." Đi tìm gốc rễ của một sự băng-hoại như vậy, ông đã đề nghị đó là "chủ nghĩa GDP," "chủ nghĩa thành tích vĩ cuồng" trong đó có sự "đua đòi chơi trội, ngông nghênh, cùng với thái độ liều lĩnh trong sự nhũng lạm, bòn rút, phung phí của công, trắng trợn, tràn lan, bất chấp mọi hậu quả." (in lại trong báo Thông tin số 55 tháng 12/2010 ở Đức)
Sau đó, ông Tống Văn Công, một lão-thành cách mạng, đã hưởng-ứng bài của Lữ Phương bằng cách "ghi chép điều mình quan sát được." Theo ông, "nước ta đang trong tình trạng khủng hoảng văn hoá" bên cạnh "khủng hoảng kinh tế – xã-hội." Để mô-tả phần nào sự xuống cấp thảm-hại của văn-hoá trong nước ngày nay, Trần Ái Dân đã có bài thơ với những trích-đoạn như sau:
Thời buổi thế này là thế nào hả trời,
Làm xịt lốp xe, đinh rải đầy đường sá.
Giữa phố đông, người rạch mặt người.
Khách tàu hoả tha hồ ăn đá.
...........
Đến cục cứt cũng là cứt rởm.
Nông phu phải miết tay, phải ngửi kiểm tra.
Thời buổi thế này là thế nào hở trời,
Trò giữa lớp phang thầy; Con nện cha trước bàn thờ tổ.
. . . . . . . . . .
Xương trâu bò thế xương liệt sĩ.
Trâu bò lên ngôi Tổ quốc ghi công.
Đi vào phân-tích, ông Tống Văn Công đã nêu những điểm như:
"Không phải lủng củng mà là đặt ý thức hệ trùm lên văn hoá."
"Đặt ý thức hệ lên trên đạo đức truyền thống dân tộc."
"Văn hoá xã hội chủ nghĩa đặt chủ nghĩa Marx-Lenin thành chân lý độc tôn."
"Văn hoá xã hội chủ nghĩa đề cao tuyệt đối chủ nghỉa tập thể, đồng nhất chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa vị kỷ và triệt để xoá bỏ."
"Đề cao nghệ thuật vị nhân sinh nhưng cuối cùng, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa tầm thường hoá văn học, nghệ thuật, khuyến khích văn học nghệ thuật minh hoạ chính trị."
Đến văn nghệ, nếp sống
Trên đây là những lối nói bằng công-thức của người Cộng-sản nên nghe rổn rảng, người thường nghe rất khó hiểu, nhiều khi còn ngờ là nó che đậy những sự thật rất đáng sợ. Để cho dễ hiểu, tôi chỉ xin nêu ra hai thí-dụ.
Một là nhạc vàng. Năm 75 khi vào Nam, người CS chỉ có "nhạc cách mạng" và chê bai nhạc miền Nam mà họ gọi, theo cách nói của Trung-Cộng, là "nhạc vàng," hiểu theo nghĩa là vàng vọt, bệnh hoạn. Nhưng rồi chẳng bao lâu, "nhạc cách mạng" bị xem là "lạc hậu"–theo đúng nghĩa là "rớt lại đằng sau." Vì nhạc CS, cũng như văn-nghệ CS, là nhằm phục-vụ cho giai-đoạn. Khi giai-đoạn đó đã qua, như giai-đoạn mà họ gọi là "đánh cho Mỹ cút, nguỵ nhào," thì cái nhạc kia trở nên lạc lõng, không còn đối-tượng nữa. Do đó nó phải đổi thay. Nhưng đổi thay theo hướng nào? Theo hướng con người, theo hướng tình-cảm… tức là đổi thay theo hướng "nhạc vàng" mà giờ đây ta thấy áp-đảo ở trong nước.
Để cho ta thấy sức mạnh của "nhạc vàng" như thế nào, ta có thể lấy trường-hợp nhạc Phạm Duy. Một số người trong chúng ta không muốn nhắc đến trường-hợp của ông vì để được về yên thân ở trong nước, ông đã có đôi lời phát biểu không hạp nhĩ với chúng ta. Nhưng đâu phải ông về trong nước là không gặp khó khăn. Trên khoảng 1000 bài hát ông đã sáng-tác, cho đến nay nhà cầm quyền CS mới chỉ cho hát và trình bầy có 41 bài của ông. Nhưng mặc! Vì tính-cách nhân-bản của những bài hát này, mỗi lần có Đại-nhạc-hội Phạm Duy ở trong nước là thiên-hạ ùn ùn đi coi, đôi khi phải trả cả vé theo giá chợ đen lên đến 300 đô-la một vé nếu mua ngay ở cửa.
Rồi chúng ta cũng trách một số ca-sĩ hải-ngoại về hát ở trong nước. Song ca-sĩ chúng ta ở ngoài này về là để hát nhạc tình-cảm, nhạc tình-tự quê hương, thậm chí có người còn bị chê trách là hát "nhạc sến" nữa. Nhưng tôi mới được đọc một bài báo nói về Tuấn Vũ, về hát ngay ở nhà hát lớn Hà-nội, mà hát nguyên một tuần lễ mà vẫn không hết khách. Đủ tỏ cái sức mạnh lạ lùng của "nhạc vàng," nó không cần ai đỡ đầu hay nhà nước nào bao cấp cả! Tự nó nó đứng vững trên hai chân của nó, chỉ vì lòng thương yêu của khán-thính-giả… bởi nó "cận nhân-tình"!
Tại sao vậy? Tại vì "nhạc vàng" là một nền nhạc phải cọ xát với nhạc thế-giới, nhạc thời-đại, nó không "lạc hậu" như "nhạc cách mạng." Có thế nên ở ngay bên cạnh một nền nhạc năng động, phong phú và đa dạng như nhạc hiện-đại của Mỹ, của Pháp, "nhạc vàng" vẫn sống hùng sống mạnh, không chỉ vẫn giữ được khán-thính-giả của mình, nó còn cạnh tranh được cả với phim bộ của Hồng-kông, Đại-Hàn nữa… thì đủ tỏ!
Một trường-hợp thứ hai là cách ăn mặc của phụ nữ VN. Năm 75 vào, người CS tuy không cần nói ra vẫn đã biến cả nước thành một dân-tộc đồng-phục, bà ba đen hay nâu (thậm chí đến lụa trắng cũng không dám mặc vì sợ bị coi là trưởng-giả, tiểu-tư-sản). Song chỉ ít lâu sau, người ta khám-phá ra người đàn bà, con gái mà có ít môi son, má phấn, vẽ lông mày, mặc áo dài và tắm xà-bông thơm thì đẹp hơn gấp bội cái "mốt" mà có từ thế-kỷ thứ 10-thứ 15… mà ở nhà quê kia!
Thế là cả một cuộc cách mạng trong y-phục đã xảy ra, kéo từ Nam ra đến Bắc, ra đến tận ải Nam-quan (nếu như còn), và đã đành là không bỏ chuyện chinh-phục trở lại Hà-nội, Nam-định, Hải-phòng! Ngày nay, thử hỏi, ăn mặc thế là chuyện tiến-bộ hay là liệu còn ai chủ-trương trở lại chế-độ bà ba?
Do vậy mà đã có không ít nhà quan-sát-viên, cả VN lẫn ngoại-quốc, đánh giá là trong chiến-tranh VN, người CS chỉ thắng được có phần quân-sự–mà đó cũng là nhờ miền Nam bị đồng-minh bỏ rơi, chứ còn về mọi mặt khác, từ kinh tế, xã-hội đến giáo-dục, văn-học, thời-trang… mặt nào miền Nam cũng thắng vượt trội–ngoại-lệ rất ít, gần như không có! Nên vấn-đề "ai thắng ai" thì từ góc nhìn 36 năm sau nhìn lại, nếp sống và cách nhìn của người CS đã thảm-bại!
Về đạo-đức cũng không khác
Sang một lãnh-vực cao hơn. Đến khi "học tập theo đạo đức Hồ Chí Minh" thì sau "4 năm triển khai trên cả nước," đại-biểu Lê Văn Cuông tại hội-trường Quốc-hội ở Ba Đình, Hà-nội, ngày 1/11/2010 đã phải than: "Kết quả làm theo lời Bác chưa được nhiều, trái lại có một số vấn đề bức xúc như chạy chức, chạy quyền, tham nhũng, lãng phí, tư lợi, đạo đức xuống cấp trong một bộ phận cán bộ công chức ngày càng có biểu hiện tinh vi, phức tạp." Một bộ phận thôi sao? Ngày 30/11/2010, ông Trương Vĩnh Trọng, phó-thủ-tướng, đúc kết tại Hội-nghị tổng-kết công-tác phòng, chống tham-nhũng phải thú thật: "Tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng và diễn biến phức tạp, diễn ra ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp…"
Nguyễn Ngọc Bích
Trình bầy tại Hội Cao Niên vùng HTĐ
Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011
CHIẾN DỊCH ĐÒI THẢ NGAY VÔ ĐIỀU KIỆN
CÁC TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM TẠI VIỆTNAM
Tiếp theo bức thư ngỏ của Hòa Thượng Thích Quảng Độ vị lãnh đạo tối cao của Giáo Hội Phật Giáo Việtnam Thống Nhất gửỉ ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng Việtcộng vào ngày 21/10/2011, yêu cầu phải: “minh bạch hóa cho nhân dân biết chuyến thương thảo với Bắckinh vừa qua trên phương diện chủ quyền dân tộc”. Đồng thời Ngài đưa ra lời cảnh báo rằng: “Đảng và Nhà Nước CHXHCNVN không thể thở mãi bằng lỗ mũi của Trungquốc. Muốn thế, Đảng và Nhà Nước cần phải chuyển hóa sang chế độ dân chủ đa nguyên, để đất nước có thể thở bằng lỗ mũi của gần 90 triệu dân Việt”. Thì, ngày 01/11/2011 các cựu tù nhân lương tâm của chế độ cộngsản Việtnam, gồm các nhà trí thức, văn nghệ, tôn giáo, nghiệp đoàn, các đoàn thể chính trị, và những người đấu tranh cho tự do dân chủ nhân quyền Việtnam đã phát động Phong Trào Lấy Chữ Ký của Toàn Dân, trong và ngoài nước về Tuyên Cáo Đòi Thả Ngay Vô Điều Kiện Tất Cả Tù Nhân Lương Tâm tại Việtnam. Để công bố với Quốcdân và Thếgiới vào dịp kỷ niệm Quốc Tế Nhân Quyền ngày 10/12/2011 sắp tới. Đó là sự thể hiện lòng dân Việtnam và cũng là đòi hỏi của toàn thế giới trong tình thế mới của thời đại.
Nội dung Bản Tuyên Cáo: “1- Thả ngay và vô điều kiện tất cả tù nhân lương tâm đang bị giam cầm trái phép. Trong số này có các ông Nguyễn Hữu Cầu, Cù Huy Hà Vũ, Phạm Minh Hoàng, Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Lia, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung… và các bà Mai Thị Dung, Đỗ Minh Hạnh, Phạm Thanh Nghiên, Tạ Phong Tần…cùng hàng trăm tù nhân sắc tộc thiểu số”. “Thả tù nhân lương tâm chính là bước đầu chứng tỏ Đảng cầm quyền tỏ thiện chí, muốn mưu cầu tiến bộ cho đất nước theo hướng Dân Chủ Hoá”. “2- Bãi bỏ điều 88 (tuyên truyền chống nhà nước) và điều 79 (âm mưu lật đổ) của bộ luật hình sự, mà thực chất chỉ nhằm trấn áp những tiếng nói xuất phát từ trái tim và lương tri con người”. “3- Công nhận công dân có quyền tự do tư tưởng, tự do thông tin, tự do phát biểu trên internet, truyền thanh, truyền hình, báo chí, xuất bản; và tự do tôn giáo”. “4- Thay vì đàn áp, phải theo mệnh lệnh của thời đại là lắng nghe và đối thoại với nhân dân về những vấn đề hệ trọng của Tổ Quốc”. Tóm lại: “Tiến trình Dân Chủ Hoá là tất yếu vào thời điểm lịch sử này, không riêng gì Bắc Phi và Trung Đông, mà còn cho cả Việtnam, toàn vùng Đông Nam Á và Thế Giới”.
Trong 70 người ký tên đầu tiên vào Bản Tuyên Cáo, có các nhà trí thức như: Bs Nguyễn Đan Quế, Gs Nguyễn Mạnh Bảo, Ts Nguyễn Thanh Giang, Ks Trương Minh Nguyệt, Ks Đỗ Nam Hải, Ls Lê Thị Công Nhân, Ls Nguyễn Văn Đài, Ls Lê Trần Luật…Các nhà văn như: Nv Nguyễn Quang, Nv Huỳnh Ngọc Tuấn, Nv Hoàng Tiến, Nb Nguyễn Khắc Toàn, Nb Trần Thanh Tùng, Ns Lê Văn Thụ… Các tu sĩ như: Ht Thích Không Tánh, Tt Thích Thiện Minh, Tt Thích Nhật Ban, Sư cô Như Ngọc; Lm Chân Tín, Lm Phan Văn Lợi, Lm Nguyễn Hữu Giải, Lm Đinh Hữu Thoại, Lm Lê Ngọc Thanh; Ms Thân Văn Trường, Ms Đoàn Văn Diên, Ms Phạm Ngọc Thạch. Ms Nguyễn Thị Hồng, Ms Lê Quý Hữu…Họ là những người đấu tranh bất khuất, văn minh bất bạo động, thuộc mọi tôn giáo, mọi thành phần xã hội, mọi đoàn thể chính trị, dù ở trong nhà tù nhỏ, hay ở nhà tù lớn, dưới chế độ độc tài toàn trị độc ác, dối trá, vô luân, phi pháp, vô văn hóa của cộng sản, họ đã thể hiện ra bằng thái độ, hành động và các tác phẫm của từng cá nhân, đều đã giữ vững giá trị văn hóa của dân tộc, vẫn kiên trì với lý tưởng Dân Chủ Tự Do, Vẹn Toàn Lãnh Thổ và Chủ Quyền Đất Nước. Nay họ đứng chung với nhau để vận động đưa ra Tuyên Cáo nói rõ Thế Nước và Lòng Dân đang buộc nhà cầm quyền cộng sản Việtnam phải thả ngay lập tức các tù nhân lương tâm và hủy bỏ những điều luật vi phạm Công Ước Quốc Tế về những Quyền Dân Sự và Chính Trị - 1966 – mà nhà cầm quyền Hànội đã ký kết. Đòi công nhận các quyền tự do của công dân. Đây là một điều mừng cho dân tộc.
Trả lời phỏng vấn của biên tập viên Mặc Lâm đài RFA về dự kiến một đợt đàn áp sẽ xẩy ra? Bác sĩ Nguyển Đan Quế trả lời: “Phải nói ngay đây là một cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ cho Việtnam. Chắc chắn nhà cầm quyền Hànội đang trong tư thế muốn củng cố một chế độ. Trước gương sụp đổ của nhà độc tài Gaddafi thì chúng tôi phải nghĩ rằng, nhà cầm quyền Việtnam sẽ có những cuộc đàn áp đối lập hoặc những người lên tiếng”. Nghĩa là những người khởi xướng và những người chấp nhận ký tên vào bản Tuyên Cáo đã sẵn sàng bị đi tù với những bạn mà họ đòi Việtcộng phải thả ngay vô điều kiện. Thực ra từ xưa tới nay, những hành động cá nhân của từng người Việtnam, thường tỏ ra hào hùng, xuất sắc, sẵn sàng chịu hy sinh, chiụ đựng gian khổ vì đại nghĩa, rất đáng kính trọng và khâm phục. Nhưng phải nhìn thẳng vào sự thật đáng buồn là khi quy tụ thành tập thể thì sao lại rất mau tan vỡ?
Không phải là thiếu lý tưởng, thiếu mục tiêu tranh đấu mà bị phân hóa. Vì không một người tranh đấu nào không nuôi lý tưởng Tự Chủ Dân Tộc, Vẹn Toàn Lãnh Thổ, Tự Do Dân Chủ cho Toàn Dân, và hòa bình phát triển của Đất Nước. Nhưng khi đến với nhau thì chỉ cần một lời nói làm phật lòng, hành vi trái ý, cử chỉ thiếu tế nhị, không chịu nghiêm chỉnh đối thoại để tìm ra giải pháp chung, mà cứ cố chấp cho ý mình là đúng nhất. Hoặc là những thành kiến về tôn giáo, về đảng phái, hay những ngộ nhận do dư luận thiếu khách quan gây ra. Nhất là trước những mưu mô thâm độc của Việtcộng chuyên dùng các đòn ‘chia để trị’. Như mua chuộc, áp lực tình cảm, khủng bố tinh thần, khai thác nhược điểm của mỗi cá nhân về quyền lợi vật chất, về danh dự, địa vị để làm băng hoại các tập thể đối kháng. Biết rằng các tập thể mang Dân Chủ Tính thông thoáng và tự do, mà phải đương đầu với một tập thể Cộngsản độc tài gian ác có quyền hành thực lực trong tay thì hầu như dùng “trứng chọi đá”. Nhưng kinh nghiệm ở các nước cộngsản xưa, và các nước độc tài ở Bắcphi và Trungđông nay, các phong trào dân chủ đều đã thắng. Chẳng lẽ ở Việtnam lại thua sao?
Hiện nay những người cựu tù nhân lương tâm đang khởi nghiệp lớn. Xin tất cả hãy vì đại nghiã dân tộc mà bỏ “Cái Tôi” vốn nhiễm độc từ tinh thần Nho Quan hủ bại của nền chính trị Trunghoa, vừa tôn thờ lãnh tụ, vừa dùng mọi mưu lược để leo lên ngồi vào ghế lãnh tụ, lúc nào tham vọng đó cũng mạnh hơn lý tưởng của mình, lớn hơn tổ chức của mình, nên dễ bị xung động, khích động vì những thứ ngoài mình, khiến mình không tự làm chủ được mình trong tập thể của mình, không nhìn ra được khả năng đóng góp hữu hiệu của mỗi thành viên trong tổ chức, nhằm đặt nhau vào đúng vị thế điều hành tổ chức của Dân Chủ Tính, đáp ứng với mỗi giai đoạn mà tình thế đòi hỏi. Hy vọng phong trào sẽ thành công.
LÝ ĐẠI NGUYÊN –
Little Saigon ngày 01/11/2011.
CÁC TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM TẠI VIỆTNAM
Tiếp theo bức thư ngỏ của Hòa Thượng Thích Quảng Độ vị lãnh đạo tối cao của Giáo Hội Phật Giáo Việtnam Thống Nhất gửỉ ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng Việtcộng vào ngày 21/10/2011, yêu cầu phải: “minh bạch hóa cho nhân dân biết chuyến thương thảo với Bắckinh vừa qua trên phương diện chủ quyền dân tộc”. Đồng thời Ngài đưa ra lời cảnh báo rằng: “Đảng và Nhà Nước CHXHCNVN không thể thở mãi bằng lỗ mũi của Trungquốc. Muốn thế, Đảng và Nhà Nước cần phải chuyển hóa sang chế độ dân chủ đa nguyên, để đất nước có thể thở bằng lỗ mũi của gần 90 triệu dân Việt”. Thì, ngày 01/11/2011 các cựu tù nhân lương tâm của chế độ cộngsản Việtnam, gồm các nhà trí thức, văn nghệ, tôn giáo, nghiệp đoàn, các đoàn thể chính trị, và những người đấu tranh cho tự do dân chủ nhân quyền Việtnam đã phát động Phong Trào Lấy Chữ Ký của Toàn Dân, trong và ngoài nước về Tuyên Cáo Đòi Thả Ngay Vô Điều Kiện Tất Cả Tù Nhân Lương Tâm tại Việtnam. Để công bố với Quốcdân và Thếgiới vào dịp kỷ niệm Quốc Tế Nhân Quyền ngày 10/12/2011 sắp tới. Đó là sự thể hiện lòng dân Việtnam và cũng là đòi hỏi của toàn thế giới trong tình thế mới của thời đại.
Nội dung Bản Tuyên Cáo: “1- Thả ngay và vô điều kiện tất cả tù nhân lương tâm đang bị giam cầm trái phép. Trong số này có các ông Nguyễn Hữu Cầu, Cù Huy Hà Vũ, Phạm Minh Hoàng, Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Lia, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung… và các bà Mai Thị Dung, Đỗ Minh Hạnh, Phạm Thanh Nghiên, Tạ Phong Tần…cùng hàng trăm tù nhân sắc tộc thiểu số”. “Thả tù nhân lương tâm chính là bước đầu chứng tỏ Đảng cầm quyền tỏ thiện chí, muốn mưu cầu tiến bộ cho đất nước theo hướng Dân Chủ Hoá”. “2- Bãi bỏ điều 88 (tuyên truyền chống nhà nước) và điều 79 (âm mưu lật đổ) của bộ luật hình sự, mà thực chất chỉ nhằm trấn áp những tiếng nói xuất phát từ trái tim và lương tri con người”. “3- Công nhận công dân có quyền tự do tư tưởng, tự do thông tin, tự do phát biểu trên internet, truyền thanh, truyền hình, báo chí, xuất bản; và tự do tôn giáo”. “4- Thay vì đàn áp, phải theo mệnh lệnh của thời đại là lắng nghe và đối thoại với nhân dân về những vấn đề hệ trọng của Tổ Quốc”. Tóm lại: “Tiến trình Dân Chủ Hoá là tất yếu vào thời điểm lịch sử này, không riêng gì Bắc Phi và Trung Đông, mà còn cho cả Việtnam, toàn vùng Đông Nam Á và Thế Giới”.
Trong 70 người ký tên đầu tiên vào Bản Tuyên Cáo, có các nhà trí thức như: Bs Nguyễn Đan Quế, Gs Nguyễn Mạnh Bảo, Ts Nguyễn Thanh Giang, Ks Trương Minh Nguyệt, Ks Đỗ Nam Hải, Ls Lê Thị Công Nhân, Ls Nguyễn Văn Đài, Ls Lê Trần Luật…Các nhà văn như: Nv Nguyễn Quang, Nv Huỳnh Ngọc Tuấn, Nv Hoàng Tiến, Nb Nguyễn Khắc Toàn, Nb Trần Thanh Tùng, Ns Lê Văn Thụ… Các tu sĩ như: Ht Thích Không Tánh, Tt Thích Thiện Minh, Tt Thích Nhật Ban, Sư cô Như Ngọc; Lm Chân Tín, Lm Phan Văn Lợi, Lm Nguyễn Hữu Giải, Lm Đinh Hữu Thoại, Lm Lê Ngọc Thanh; Ms Thân Văn Trường, Ms Đoàn Văn Diên, Ms Phạm Ngọc Thạch. Ms Nguyễn Thị Hồng, Ms Lê Quý Hữu…Họ là những người đấu tranh bất khuất, văn minh bất bạo động, thuộc mọi tôn giáo, mọi thành phần xã hội, mọi đoàn thể chính trị, dù ở trong nhà tù nhỏ, hay ở nhà tù lớn, dưới chế độ độc tài toàn trị độc ác, dối trá, vô luân, phi pháp, vô văn hóa của cộng sản, họ đã thể hiện ra bằng thái độ, hành động và các tác phẫm của từng cá nhân, đều đã giữ vững giá trị văn hóa của dân tộc, vẫn kiên trì với lý tưởng Dân Chủ Tự Do, Vẹn Toàn Lãnh Thổ và Chủ Quyền Đất Nước. Nay họ đứng chung với nhau để vận động đưa ra Tuyên Cáo nói rõ Thế Nước và Lòng Dân đang buộc nhà cầm quyền cộng sản Việtnam phải thả ngay lập tức các tù nhân lương tâm và hủy bỏ những điều luật vi phạm Công Ước Quốc Tế về những Quyền Dân Sự và Chính Trị - 1966 – mà nhà cầm quyền Hànội đã ký kết. Đòi công nhận các quyền tự do của công dân. Đây là một điều mừng cho dân tộc.
Trả lời phỏng vấn của biên tập viên Mặc Lâm đài RFA về dự kiến một đợt đàn áp sẽ xẩy ra? Bác sĩ Nguyển Đan Quế trả lời: “Phải nói ngay đây là một cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ cho Việtnam. Chắc chắn nhà cầm quyền Hànội đang trong tư thế muốn củng cố một chế độ. Trước gương sụp đổ của nhà độc tài Gaddafi thì chúng tôi phải nghĩ rằng, nhà cầm quyền Việtnam sẽ có những cuộc đàn áp đối lập hoặc những người lên tiếng”. Nghĩa là những người khởi xướng và những người chấp nhận ký tên vào bản Tuyên Cáo đã sẵn sàng bị đi tù với những bạn mà họ đòi Việtcộng phải thả ngay vô điều kiện. Thực ra từ xưa tới nay, những hành động cá nhân của từng người Việtnam, thường tỏ ra hào hùng, xuất sắc, sẵn sàng chịu hy sinh, chiụ đựng gian khổ vì đại nghĩa, rất đáng kính trọng và khâm phục. Nhưng phải nhìn thẳng vào sự thật đáng buồn là khi quy tụ thành tập thể thì sao lại rất mau tan vỡ?
Không phải là thiếu lý tưởng, thiếu mục tiêu tranh đấu mà bị phân hóa. Vì không một người tranh đấu nào không nuôi lý tưởng Tự Chủ Dân Tộc, Vẹn Toàn Lãnh Thổ, Tự Do Dân Chủ cho Toàn Dân, và hòa bình phát triển của Đất Nước. Nhưng khi đến với nhau thì chỉ cần một lời nói làm phật lòng, hành vi trái ý, cử chỉ thiếu tế nhị, không chịu nghiêm chỉnh đối thoại để tìm ra giải pháp chung, mà cứ cố chấp cho ý mình là đúng nhất. Hoặc là những thành kiến về tôn giáo, về đảng phái, hay những ngộ nhận do dư luận thiếu khách quan gây ra. Nhất là trước những mưu mô thâm độc của Việtcộng chuyên dùng các đòn ‘chia để trị’. Như mua chuộc, áp lực tình cảm, khủng bố tinh thần, khai thác nhược điểm của mỗi cá nhân về quyền lợi vật chất, về danh dự, địa vị để làm băng hoại các tập thể đối kháng. Biết rằng các tập thể mang Dân Chủ Tính thông thoáng và tự do, mà phải đương đầu với một tập thể Cộngsản độc tài gian ác có quyền hành thực lực trong tay thì hầu như dùng “trứng chọi đá”. Nhưng kinh nghiệm ở các nước cộngsản xưa, và các nước độc tài ở Bắcphi và Trungđông nay, các phong trào dân chủ đều đã thắng. Chẳng lẽ ở Việtnam lại thua sao?
Hiện nay những người cựu tù nhân lương tâm đang khởi nghiệp lớn. Xin tất cả hãy vì đại nghiã dân tộc mà bỏ “Cái Tôi” vốn nhiễm độc từ tinh thần Nho Quan hủ bại của nền chính trị Trunghoa, vừa tôn thờ lãnh tụ, vừa dùng mọi mưu lược để leo lên ngồi vào ghế lãnh tụ, lúc nào tham vọng đó cũng mạnh hơn lý tưởng của mình, lớn hơn tổ chức của mình, nên dễ bị xung động, khích động vì những thứ ngoài mình, khiến mình không tự làm chủ được mình trong tập thể của mình, không nhìn ra được khả năng đóng góp hữu hiệu của mỗi thành viên trong tổ chức, nhằm đặt nhau vào đúng vị thế điều hành tổ chức của Dân Chủ Tính, đáp ứng với mỗi giai đoạn mà tình thế đòi hỏi. Hy vọng phong trào sẽ thành công.
LÝ ĐẠI NGUYÊN –
Little Saigon ngày 01/11/2011.
Lạc lối về ??? !!!
Bình Minh Nhớ lại,
hai mươi tuổi,
tôi bị tù Cộng sản vì “phản động”.
Hầu như mỗi tuần, tôi đều phải lên “làm việc” ít nhất một lần với Ban quản giáo trại tù. Họ bắt tôi phải nhận diện những anh chị em “phản động” vừa mới bị bắt. Tôi nghiến răng… lắc đầu. Cứ như thế, sau những cái lắc đầu là những trận đòn dữ dội – lên đầu lên mặt. Đau đớn thể xác, nhưng nước mắt không chảy được vì nỗi đau tinh thần còn to còn lớn hơn đến ngàn lần.
Không cần xét xử, chỉ cần đánh đập.
Đánh đập mỏi tay, họ thả tôi ra… tôi tiếp tục.
Tuổi mộng mơ của tôi,
là những ngày chạy trốn những con mắt rình rập…
là những ngày ra vào tù với những đòn thù bầm dập thân xác,
là những lúc cố đừng bật lên tiếng kêu khi chứng kiến người yêu gục xuống – trong tra tấn dã man, trong tiếng cười man rợ giữa người và người.
Lần ở tù cuối cùng, là vào những ngày cuối năm, tôi không bị biệt giam, tôi được nhốt trong trại tù phụ nữ.
Tù phụ nữ,
Họ là những người đàn bà, “phản động”, đã cùng chồng không chịu buông súng – mặc dầu đã có lời kêu gọi đầu hàng từ Tổng thống Dương Văn Minh.
Họ là những thiếu nữ đồng lõa, “phản động”, đã dấu diếm, những người lính ngã ngựa đang bị thương tích trong nhà.
Và tôi.
Năm ấy,
Trong tù đêm giao thừa,
tôi nghe những tiếng nấc,
tiếng trở mình của những tấm thân còm cõi,
tất cả chung quanh lồng lộng nỗi cô đơn, thấm thía nỗi nhớ nhà.
Riêng tôi, khắc khỏai -
nhớ cha đang ở tù nơi miền Bắc xa xôi,
nhớ mẹ với những giòng lệ xót xa ái ngại,
và nghẹn ngào thầm hỏi
có chăng một ngày, người hải ngoại trở về cứu nước cứu dân ?.
Cứ như thế,
Ba mươi mấy năm sau
Có khác gì hơn, cũng những người phụ nữ can trường, cũng tù cũng tội, cũng năm tháng trôi qua, không bao giờ đựợc xét xử, nếu có xử thì bị xử một chiều với những bản án nặng nề oan ức.
Cũng những người phụ nữ, trái tim rất lớn, rất lớn. Họ bị canh giữ trong bốn bức tường ẩm mục:
thương chồng, thương con, thương đồng bào… chỉ muốn hét to cho vỡ lồng ngực, cho cả thế giới nghe những nhục nhằn mà tất cả, mà chính họ đang gánh chịu, như Trần Khải Thanh Thủy, như Lê thị Công Nhân, như Phạm Thị Thanh Nghiêm.
Đau lắm thay !!!
Ba mươi mấy năm sau,
Tại quê hương – Thực trạng xã hội Việt nam quá bi đát, trong nước đấu tranh sục sôi, từng giờ từng phút những người dân chủ chạm mặt với bắt bớ đánh đập tù đày.
Tại hải ngoại – tình trạng đấu tranh dân chủ cho đất nước lại bi đát hơn. Trên các diễn đàn điện tử đầy rẫy những bài viết – phân tích, tranh cãi – về việc “thắng – thua” của cuộc chiến ba mươi sáu năm về trước, đầy rẫy những kèn cựa chữ nghĩa, lý thuyết mà thiếu vắng hẳn những ý kiến cụ thể, những khuyến khích kêu gọi thực tiễn.
Phải chăng tất cả đã LẠC LỐI VỀ ???
Tranh cãi “thắng – thua” để làm gì khi giáo dục xuống dốc, văn hóa bị phá sản, dân chúng cả hai miền đất nước đang đói khổ, cả giải sơn hà, đất biển đang bị mất dần vào tay ngoại bang? Đọc hoài một điệp khúc “bức tử” trong ngày 30/4, có ích lợi gì – khi không có một giải pháp thực tế để kêu gọi những nỗ lực đóng góp – ngăn chặn những hành động cưỡng bức của bịt miệng, của cướp đất, của mãi dâm đầy rẫy trên đất nước sau ba sáu năm thống nhất ?
Tại sao, cứ phải cúi đầu mặc niệm cho những đau thương rồi lại phải tìm cách qui trách nhiệm cho nhau trong khi tất cả đều thua và tất cả đều phải có trách nhiệm ?
Vâng, bạn à.
Tất cả chúng ta đều thua,
và chúng ta sẽ mãi mãi thua
nếu chúng ta mãi mãi ngồi nặn óc tranh cãi, bút chiến để dành “chính nghĩa”, và kèn cựa chữ nghĩa để thỏa mãn tự ái cá nhân,
chúng ta cũng sẽ mãi mãi thua
nếu chúng ta mãi mãi cúi đầu câm nín – nhận bổng lộc ban phát từ quan thầy bất xứng,
nếu chúng ta mãi mãi nhắm mắt bịt tai – trước những thống khồ của người Dân Oan, trước những giọt nước mắt âm thầm tủi nhục cô đơn của các em gái đang lưu lạc bán dâm trên các vỉa hè.
Ba mươi sáu năm trôi qua là một thước đo quá dài cho những chấn hưng đất nước. Thực trạng xã hội bây giờ là một minh chứng hùng hồn cho những thất bại liên tiếp của chính sách ngu dân đuơng thời và đồng thời cũng phản ảnh lên sự bất tài của chính chúng ta, những người tự nhận là trí thức.
Hỡi Bạn,
Chúng ta hãy chấm dứt ngay những than khóc, hoài niệm.
Hãy khẳng định lại cuộc hành trình của chúng ta trong tiến trình đấu tranh dân chủ hóa đất nước.
Chúng ta hãy cùng nhau đứng lên nhận lãnh trách nhiệm, cùng khai thông, cùng giải quyết những vấn nạn của đất nước. Hãy nhìn thẳng về phía trước, nhìn thẳng vào tương lai thế hệ đàn em của đất nước mà bắt tay vào việc, những việc rất cụ thể rất thực tế để xây dựng lại một xã hội nhân bản, công bằng, dân quyền.
Trở lại,
Câu chuyện chúng ta -
Vì nóng lòng cho việc đấu tranh dân chủ cho quê hương hiện tại, rất nhiều người ưu tư cho sự đóng góp quá ít ỏi, nếu không muốn nói là thiếu vắng của giới phụ nữ.
Nỗi ưu tư này có chính đáng không ? kết luận có vội vã và bi quan quá chăng ?
Xin,
đừng vội trách,
giới phụ nữ, đứng ngòai lề cuộc đấu tranh.
Phụ Nữ trong và ngoài nước đang góp phần đấy chứ – nhưng vì quan niệm “tham gia” của chúng ta hạn hẹp nên chúng ta không nhìn thấy những góp phần tiềm ẩn trong đời sồng hàng ngày của mọi người.
Thế nào là đóng góp ?
Thế nào là tham gia ?:
Nếu tham gia đấu tranh là phải ngồi vào bàn hội thảo, phải có những trận bút chiến, tranh cãi – bàn tán thời sự thế giới thì quả thật phụ nữ đang đúng ngoài những ý tưởng quá cao xa ngoài tầm với.
Nếu tham gia là bảo vệ lẫn nhau trong những áp bức hàng ngày, nếu tham gia là rỉ tai bất bình trước cái xấu của các quan chức, là gióng lên tiếng chuông, tố cáo trước dư luận những đàn áp bóp nghẹt tự do dân chủ, cảnh báo về những nổi thống khổ của người dân… thì phụ nữ đang góp phần.
Nếu không có sự tham gia của giới phụ nữ làm sao chúng ta có
Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân ?
nào Lê Thị Kim Thu, nào Phạm thị Thanh Nghiêm, Hồ Bích Hường
còn nữa – Đỗ Thị Minh Hạnh,
một thiếu nữ sinh năm 1985, bị bỏ tù vào những ngày Tết năm 2005, khi tròn 19 tuổi.
Đó là câu chuyện trong tù, còn những câu chuyện ngoài tù thì sao ???
Ngoài tù,
Chúng ta cũng không thiếu những tiếng nói hùng hồn từ những người phụ nữ nông dân, hay giới lao động. Và còn biết bao đóng góp âm thầm hàng ngày dưới nhiều hình thức từ những cụ già nơi làng quê đến các chị buôn thúng bán bưng nơi thị tứ, những người dân oan đang đấu tranh âm thầm không ngưng nghỉ.
Còn nữa kể không hết… những tận tụy hy sinh của vợ các nhà bất đồng chính kiến.
Như chị Đoàn Viết Hoạt, chị Nguyễn Đan Quế,
Vợ ông Vi Đức Hồi, vợ nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, vợ bác sĩ Phạm Hồng Sơn
vợ luật sư Lê Quốc Quân, luật sư Lê Văn Đài, luật sư Cù Huy Hà Vũ ….
ngoài việc
thay chồng âm thầm tần tảo nuôi dạy con cái,
họ cũng đã không ngừng góp tay vào cuộc đấu tranh chung, họ mạnh mẽ lên tiếng tố cáo trước công luận về chế độ cộng sản đang bóp nghẹt tự do dân chủ, đàn áp những người yêu chuộng tự do
Chúng ta đều biết cuộc đấu tranh dân chủ hiện nay mang tính chất khác hẳn các cuộc đấu tranh từ trước đến giờ.
Đây, không phải là cuộc đấu trí giữa hai chủ nghĩa kình chống lẫn nhau, cũng không phải là cuộc chiến bom đạn cần phài có các tướng lãnh quân sự tài ba, mà đây là cuộc đấu tranh của quần chúng, của tất cả mọi người, của mọi tầng lớp trong xã hội.
Cuộc đấu tranh này, là cuộc đấu tranh cho một xã hội nhân bản, công bằng là cuộc đấu tranh xây dựng giáo dục, nâng cao tri thức, bảo vệ nhân phẩm, giữ gìn đất nước.
Xưa kia,
Để giữ bờ cõi biên cương, các vị vua quan tướng lãnh, đã cho xây thành đắp lũy chống kẻ giặc thù. Ngày nay, giặc đã lẫn trong thành đang chiếm đất chiếm nhà, nên thành lũy xây bằng bê tông cốt sắt bằng gạch đá đã trở thành vô dụng.
Bây giờ,
Muốn giữ được nước, thành phải được xây trong dân, vâng trong lòng từng người dân Việt nam. Đây chính là mấu chốt của cuộc đâu tranh dân chủ cho đất nước. Thu phục được nhân tâm, thu phục được quần chúng chính là tạo nên sức mạnh, là tạo nên một lực lượng dân tộc. Một lực lượng dân tộc.cùng quật khởi đứng lên chống lại độc tài đảng trị, chống áp bức bất công. Không một cá nhân nào có thể chuyển hóa cuộc đấu tranh dân chủ nếu không có lực lượng dân tộc.
Muốn thu phục nhân tâm, muốn thu phục quần chúng, hãy đến gần với quần chúng, hãy đập cùng nhịp tim, hãy đi cùng nhịp bước.
Thực tế,
Trong nước đang có một khoảng cách rất lớn giữa những người đấu tranh dân chủ và khối quần chúng thầm lặng. Có một số người không hề hay biết về những biến động dân chủ đang xày ra trong giới trí thức. Có một số người không hề hay biết về những cuộc biểu tình dân oan khi khoảng cách hai nơi là hai đầu đất nước. Không phải vì họ thờ ơ, không phải vì quần chúng nhút nhát, nhưng vì thông tin bưng bít, và vì đời sống nghèo khổ họ đành nhận chịu hoặc đành làm ngơ trước những bất công, áp bức.
Vì không có sự kết hợp giữa tầng lớp quần chúng và các nhà dân chủ đấu tranh, nên cuộc đấu tranh trở nên ô hợp, đơn điệu, thiếu kỹ thuật và dễ bị dẹp tan.
Tất cả –
lỗi chúng ta, lỗi của những người tự nhận
là có đầu óc, có suy nghĩ đang hướng dẫn cuộc đấu tranh tự phát này.
Lại thêm,
Lỗi lầm khác -của hầu hết những người dân chủ tại hải ngoại là – chạy theo những nhà đấu tranh có tên tuổi đang lên trong nước, mà bỏ quên hẳn khối người vô danh thấp cổ bé miệng – khối người sẽ góp phần đấu tranh rất hữu hiệu nếu được tác động đúng mức.
Chiến thuật “lấy thôn quê bao vây thành thị” vẫn còn giá trị trong cuộc đấu tranh này. Đây chính là sự kết hợp giữa quần chúng với những người đấu tranh. Khi nào những tên quan quyền cướp của hại người không dám về các vùng ngoại ô trong lúc tối trời, khi nào các nhà đấu tranh dân chủ bị lùng bắt và được các nông dân che dấu bảo vệ cho nương náu … thì lúc đó chúng ta mới có thể bàn đến chuyện thực hiện cách mạng Hoa Lài, Hoa Sen.
Và người hải ngoại là những người có đầy đủ phương tiện để thay đổi khối quần chúng thụ động thành khối người đấu tranh hữu hiệu.
Bạn hỡi,
Hãy thôi, ngồi nói chuyện lý thuyết viễn vông. Hãy thôi tranh cãi những đề tài quá khứ, nếu chúng ta thực sự muốn sự đóng góp của tất cả mọi người. Hãy vạch ra một hướng đi rõ ràng với những kế hoạch cụ thể để khỏi nhốn nháo chạy theo những biến đông chung quanh. Hãy khiêm tốn đừng nghĩ mình có tài kinh bang tế thế hơn người khi dùng được vài ba từ ngữ chính trị, mà chạy theo danh tiếng, mà chê bai tự cách biệt rào mình trong thế giới hào quang ảo tưởng.
Hãy phối hợp hoạt động để tạo mũi nhọn. Hãy học hỏi và áp dụng những kỹ thuật tân tiến vào những công tác đấu tranh. Hãy dùng âm nhạc, thơ vãn để kích động tinh thần yêu nước. Hãy tạo những nhóm hay tổ trong những sinh hoạt hàng ngày để tạo mối dây liên lạc. Hãy truyền bá những bài viết bình dân giản dị dễ hiểu. Hãy đem sức sống đến tận thôn xóm làng mạc xa xôi. Hãy mang tin tức truyền đạt đến khắp mọi nẻo đường đất nước.
Và còn ai nữa làm nhiệm vụ này hiệu quả bằng những người phụ nữ Việt nam – nếu chúng ta khởi xướng ?
Có gì đánh động lương tâm thế giới bằng nơi quê nhà hàng ngàn phụ nữ xuống đường – bất bạo động – đòi hỏi quyền làm người, đòi hỏi nhân phẩm được tôn trọng. Họ chính là những cô gái lưu lạc trên các vỉa hè, chính là những bà mẹ dân quê cả đời không biết lấy một từ ngữ chính trị, chính là những người chài lưới ven sông hay đánh cá giữa trùng dương sóng gió.
Có gì hiệu quả bằng phụ nữ Việt Nam tại hải ngoại từng nhóm từng tổ chức, cùng một lúc gõ cửa kêu gọi các tổ chức ngoại quốc, cùng lên tiếng tố cáo những vi phạm nhân quyền trắng trợn, cùng yêu cầu can thiệp cho những đàn áp phụ nữ nơi quê nhà.
Hải ngoại – công tác quốc tế vận, quốc nội – trực diện đấu tranh.
Công việc cụ thể, sẽ thu hút được nhiều đóng góp cụ thể, và sẽ mang đến kết quả cụ thể.
Bạn ơi,
Hãy nghiêng mình xuống, thương cảm và tìm đến với tất cả mọi người trong xã hội –
Gái mại dâm có công tác của gái mại dâm, bà già bán rau vỉa hè có công tác của người bán rau vỉa hè, người viết văn có bổn phận của người viết văn.
Đất nước ta lúc nào cũng có những người đàn bà góp phần vào lịch sử.
Vậy đó….
Giờ đã điểm
chúng ta phải động não,
chúng ta phải đúng dậy,
mà đi
với trăm ngàn cái hãy
và trăm ngàn cái phải.
Đừng để những tiếng nói quả cảm của những phụ nữ can trường
tắt lịm dần trong bóng tối tù ngục Cộng sản.
Đừng để
LẠC LỐI VỀ …
Giữa tháng năm, hai ngàn mười một.
Bình Minh Nhớ lại,
hai mươi tuổi,
tôi bị tù Cộng sản vì “phản động”.
Hầu như mỗi tuần, tôi đều phải lên “làm việc” ít nhất một lần với Ban quản giáo trại tù. Họ bắt tôi phải nhận diện những anh chị em “phản động” vừa mới bị bắt. Tôi nghiến răng… lắc đầu. Cứ như thế, sau những cái lắc đầu là những trận đòn dữ dội – lên đầu lên mặt. Đau đớn thể xác, nhưng nước mắt không chảy được vì nỗi đau tinh thần còn to còn lớn hơn đến ngàn lần.
Không cần xét xử, chỉ cần đánh đập.
Đánh đập mỏi tay, họ thả tôi ra… tôi tiếp tục.
Tuổi mộng mơ của tôi,
là những ngày chạy trốn những con mắt rình rập…
là những ngày ra vào tù với những đòn thù bầm dập thân xác,
là những lúc cố đừng bật lên tiếng kêu khi chứng kiến người yêu gục xuống – trong tra tấn dã man, trong tiếng cười man rợ giữa người và người.
Lần ở tù cuối cùng, là vào những ngày cuối năm, tôi không bị biệt giam, tôi được nhốt trong trại tù phụ nữ.
Tù phụ nữ,
Họ là những người đàn bà, “phản động”, đã cùng chồng không chịu buông súng – mặc dầu đã có lời kêu gọi đầu hàng từ Tổng thống Dương Văn Minh.
Họ là những thiếu nữ đồng lõa, “phản động”, đã dấu diếm, những người lính ngã ngựa đang bị thương tích trong nhà.
Và tôi.
Năm ấy,
Trong tù đêm giao thừa,
tôi nghe những tiếng nấc,
tiếng trở mình của những tấm thân còm cõi,
tất cả chung quanh lồng lộng nỗi cô đơn, thấm thía nỗi nhớ nhà.
Riêng tôi, khắc khỏai -
nhớ cha đang ở tù nơi miền Bắc xa xôi,
nhớ mẹ với những giòng lệ xót xa ái ngại,
và nghẹn ngào thầm hỏi
có chăng một ngày, người hải ngoại trở về cứu nước cứu dân ?.
Cứ như thế,
Ba mươi mấy năm sau
Có khác gì hơn, cũng những người phụ nữ can trường, cũng tù cũng tội, cũng năm tháng trôi qua, không bao giờ đựợc xét xử, nếu có xử thì bị xử một chiều với những bản án nặng nề oan ức.
Cũng những người phụ nữ, trái tim rất lớn, rất lớn. Họ bị canh giữ trong bốn bức tường ẩm mục:
thương chồng, thương con, thương đồng bào… chỉ muốn hét to cho vỡ lồng ngực, cho cả thế giới nghe những nhục nhằn mà tất cả, mà chính họ đang gánh chịu, như Trần Khải Thanh Thủy, như Lê thị Công Nhân, như Phạm Thị Thanh Nghiêm.
Đau lắm thay !!!
Ba mươi mấy năm sau,
Tại quê hương – Thực trạng xã hội Việt nam quá bi đát, trong nước đấu tranh sục sôi, từng giờ từng phút những người dân chủ chạm mặt với bắt bớ đánh đập tù đày.
Tại hải ngoại – tình trạng đấu tranh dân chủ cho đất nước lại bi đát hơn. Trên các diễn đàn điện tử đầy rẫy những bài viết – phân tích, tranh cãi – về việc “thắng – thua” của cuộc chiến ba mươi sáu năm về trước, đầy rẫy những kèn cựa chữ nghĩa, lý thuyết mà thiếu vắng hẳn những ý kiến cụ thể, những khuyến khích kêu gọi thực tiễn.
Phải chăng tất cả đã LẠC LỐI VỀ ???
Tranh cãi “thắng – thua” để làm gì khi giáo dục xuống dốc, văn hóa bị phá sản, dân chúng cả hai miền đất nước đang đói khổ, cả giải sơn hà, đất biển đang bị mất dần vào tay ngoại bang? Đọc hoài một điệp khúc “bức tử” trong ngày 30/4, có ích lợi gì – khi không có một giải pháp thực tế để kêu gọi những nỗ lực đóng góp – ngăn chặn những hành động cưỡng bức của bịt miệng, của cướp đất, của mãi dâm đầy rẫy trên đất nước sau ba sáu năm thống nhất ?
Tại sao, cứ phải cúi đầu mặc niệm cho những đau thương rồi lại phải tìm cách qui trách nhiệm cho nhau trong khi tất cả đều thua và tất cả đều phải có trách nhiệm ?
Vâng, bạn à.
Tất cả chúng ta đều thua,
và chúng ta sẽ mãi mãi thua
nếu chúng ta mãi mãi ngồi nặn óc tranh cãi, bút chiến để dành “chính nghĩa”, và kèn cựa chữ nghĩa để thỏa mãn tự ái cá nhân,
chúng ta cũng sẽ mãi mãi thua
nếu chúng ta mãi mãi cúi đầu câm nín – nhận bổng lộc ban phát từ quan thầy bất xứng,
nếu chúng ta mãi mãi nhắm mắt bịt tai – trước những thống khồ của người Dân Oan, trước những giọt nước mắt âm thầm tủi nhục cô đơn của các em gái đang lưu lạc bán dâm trên các vỉa hè.
Ba mươi sáu năm trôi qua là một thước đo quá dài cho những chấn hưng đất nước. Thực trạng xã hội bây giờ là một minh chứng hùng hồn cho những thất bại liên tiếp của chính sách ngu dân đuơng thời và đồng thời cũng phản ảnh lên sự bất tài của chính chúng ta, những người tự nhận là trí thức.
Hỡi Bạn,
Chúng ta hãy chấm dứt ngay những than khóc, hoài niệm.
Hãy khẳng định lại cuộc hành trình của chúng ta trong tiến trình đấu tranh dân chủ hóa đất nước.
Chúng ta hãy cùng nhau đứng lên nhận lãnh trách nhiệm, cùng khai thông, cùng giải quyết những vấn nạn của đất nước. Hãy nhìn thẳng về phía trước, nhìn thẳng vào tương lai thế hệ đàn em của đất nước mà bắt tay vào việc, những việc rất cụ thể rất thực tế để xây dựng lại một xã hội nhân bản, công bằng, dân quyền.
Trở lại,
Câu chuyện chúng ta -
Vì nóng lòng cho việc đấu tranh dân chủ cho quê hương hiện tại, rất nhiều người ưu tư cho sự đóng góp quá ít ỏi, nếu không muốn nói là thiếu vắng của giới phụ nữ.
Nỗi ưu tư này có chính đáng không ? kết luận có vội vã và bi quan quá chăng ?
Xin,
đừng vội trách,
giới phụ nữ, đứng ngòai lề cuộc đấu tranh.
Phụ Nữ trong và ngoài nước đang góp phần đấy chứ – nhưng vì quan niệm “tham gia” của chúng ta hạn hẹp nên chúng ta không nhìn thấy những góp phần tiềm ẩn trong đời sồng hàng ngày của mọi người.
Thế nào là đóng góp ?
Thế nào là tham gia ?:
Nếu tham gia đấu tranh là phải ngồi vào bàn hội thảo, phải có những trận bút chiến, tranh cãi – bàn tán thời sự thế giới thì quả thật phụ nữ đang đúng ngoài những ý tưởng quá cao xa ngoài tầm với.
Nếu tham gia là bảo vệ lẫn nhau trong những áp bức hàng ngày, nếu tham gia là rỉ tai bất bình trước cái xấu của các quan chức, là gióng lên tiếng chuông, tố cáo trước dư luận những đàn áp bóp nghẹt tự do dân chủ, cảnh báo về những nổi thống khổ của người dân… thì phụ nữ đang góp phần.
Nếu không có sự tham gia của giới phụ nữ làm sao chúng ta có
Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân ?
nào Lê Thị Kim Thu, nào Phạm thị Thanh Nghiêm, Hồ Bích Hường
còn nữa – Đỗ Thị Minh Hạnh,
một thiếu nữ sinh năm 1985, bị bỏ tù vào những ngày Tết năm 2005, khi tròn 19 tuổi.
Đó là câu chuyện trong tù, còn những câu chuyện ngoài tù thì sao ???
Ngoài tù,
Chúng ta cũng không thiếu những tiếng nói hùng hồn từ những người phụ nữ nông dân, hay giới lao động. Và còn biết bao đóng góp âm thầm hàng ngày dưới nhiều hình thức từ những cụ già nơi làng quê đến các chị buôn thúng bán bưng nơi thị tứ, những người dân oan đang đấu tranh âm thầm không ngưng nghỉ.
Còn nữa kể không hết… những tận tụy hy sinh của vợ các nhà bất đồng chính kiến.
Như chị Đoàn Viết Hoạt, chị Nguyễn Đan Quế,
Vợ ông Vi Đức Hồi, vợ nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, vợ bác sĩ Phạm Hồng Sơn
vợ luật sư Lê Quốc Quân, luật sư Lê Văn Đài, luật sư Cù Huy Hà Vũ ….
ngoài việc
thay chồng âm thầm tần tảo nuôi dạy con cái,
họ cũng đã không ngừng góp tay vào cuộc đấu tranh chung, họ mạnh mẽ lên tiếng tố cáo trước công luận về chế độ cộng sản đang bóp nghẹt tự do dân chủ, đàn áp những người yêu chuộng tự do
Chúng ta đều biết cuộc đấu tranh dân chủ hiện nay mang tính chất khác hẳn các cuộc đấu tranh từ trước đến giờ.
Đây, không phải là cuộc đấu trí giữa hai chủ nghĩa kình chống lẫn nhau, cũng không phải là cuộc chiến bom đạn cần phài có các tướng lãnh quân sự tài ba, mà đây là cuộc đấu tranh của quần chúng, của tất cả mọi người, của mọi tầng lớp trong xã hội.
Cuộc đấu tranh này, là cuộc đấu tranh cho một xã hội nhân bản, công bằng là cuộc đấu tranh xây dựng giáo dục, nâng cao tri thức, bảo vệ nhân phẩm, giữ gìn đất nước.
Xưa kia,
Để giữ bờ cõi biên cương, các vị vua quan tướng lãnh, đã cho xây thành đắp lũy chống kẻ giặc thù. Ngày nay, giặc đã lẫn trong thành đang chiếm đất chiếm nhà, nên thành lũy xây bằng bê tông cốt sắt bằng gạch đá đã trở thành vô dụng.
Bây giờ,
Muốn giữ được nước, thành phải được xây trong dân, vâng trong lòng từng người dân Việt nam. Đây chính là mấu chốt của cuộc đâu tranh dân chủ cho đất nước. Thu phục được nhân tâm, thu phục được quần chúng chính là tạo nên sức mạnh, là tạo nên một lực lượng dân tộc. Một lực lượng dân tộc.cùng quật khởi đứng lên chống lại độc tài đảng trị, chống áp bức bất công. Không một cá nhân nào có thể chuyển hóa cuộc đấu tranh dân chủ nếu không có lực lượng dân tộc.
Muốn thu phục nhân tâm, muốn thu phục quần chúng, hãy đến gần với quần chúng, hãy đập cùng nhịp tim, hãy đi cùng nhịp bước.
Thực tế,
Trong nước đang có một khoảng cách rất lớn giữa những người đấu tranh dân chủ và khối quần chúng thầm lặng. Có một số người không hề hay biết về những biến động dân chủ đang xày ra trong giới trí thức. Có một số người không hề hay biết về những cuộc biểu tình dân oan khi khoảng cách hai nơi là hai đầu đất nước. Không phải vì họ thờ ơ, không phải vì quần chúng nhút nhát, nhưng vì thông tin bưng bít, và vì đời sống nghèo khổ họ đành nhận chịu hoặc đành làm ngơ trước những bất công, áp bức.
Vì không có sự kết hợp giữa tầng lớp quần chúng và các nhà dân chủ đấu tranh, nên cuộc đấu tranh trở nên ô hợp, đơn điệu, thiếu kỹ thuật và dễ bị dẹp tan.
Tất cả –
lỗi chúng ta, lỗi của những người tự nhận
là có đầu óc, có suy nghĩ đang hướng dẫn cuộc đấu tranh tự phát này.
Lại thêm,
Lỗi lầm khác -của hầu hết những người dân chủ tại hải ngoại là – chạy theo những nhà đấu tranh có tên tuổi đang lên trong nước, mà bỏ quên hẳn khối người vô danh thấp cổ bé miệng – khối người sẽ góp phần đấu tranh rất hữu hiệu nếu được tác động đúng mức.
Chiến thuật “lấy thôn quê bao vây thành thị” vẫn còn giá trị trong cuộc đấu tranh này. Đây chính là sự kết hợp giữa quần chúng với những người đấu tranh. Khi nào những tên quan quyền cướp của hại người không dám về các vùng ngoại ô trong lúc tối trời, khi nào các nhà đấu tranh dân chủ bị lùng bắt và được các nông dân che dấu bảo vệ cho nương náu … thì lúc đó chúng ta mới có thể bàn đến chuyện thực hiện cách mạng Hoa Lài, Hoa Sen.
Và người hải ngoại là những người có đầy đủ phương tiện để thay đổi khối quần chúng thụ động thành khối người đấu tranh hữu hiệu.
Bạn hỡi,
Hãy thôi, ngồi nói chuyện lý thuyết viễn vông. Hãy thôi tranh cãi những đề tài quá khứ, nếu chúng ta thực sự muốn sự đóng góp của tất cả mọi người. Hãy vạch ra một hướng đi rõ ràng với những kế hoạch cụ thể để khỏi nhốn nháo chạy theo những biến đông chung quanh. Hãy khiêm tốn đừng nghĩ mình có tài kinh bang tế thế hơn người khi dùng được vài ba từ ngữ chính trị, mà chạy theo danh tiếng, mà chê bai tự cách biệt rào mình trong thế giới hào quang ảo tưởng.
Hãy phối hợp hoạt động để tạo mũi nhọn. Hãy học hỏi và áp dụng những kỹ thuật tân tiến vào những công tác đấu tranh. Hãy dùng âm nhạc, thơ vãn để kích động tinh thần yêu nước. Hãy tạo những nhóm hay tổ trong những sinh hoạt hàng ngày để tạo mối dây liên lạc. Hãy truyền bá những bài viết bình dân giản dị dễ hiểu. Hãy đem sức sống đến tận thôn xóm làng mạc xa xôi. Hãy mang tin tức truyền đạt đến khắp mọi nẻo đường đất nước.
Và còn ai nữa làm nhiệm vụ này hiệu quả bằng những người phụ nữ Việt nam – nếu chúng ta khởi xướng ?
Có gì đánh động lương tâm thế giới bằng nơi quê nhà hàng ngàn phụ nữ xuống đường – bất bạo động – đòi hỏi quyền làm người, đòi hỏi nhân phẩm được tôn trọng. Họ chính là những cô gái lưu lạc trên các vỉa hè, chính là những bà mẹ dân quê cả đời không biết lấy một từ ngữ chính trị, chính là những người chài lưới ven sông hay đánh cá giữa trùng dương sóng gió.
Có gì hiệu quả bằng phụ nữ Việt Nam tại hải ngoại từng nhóm từng tổ chức, cùng một lúc gõ cửa kêu gọi các tổ chức ngoại quốc, cùng lên tiếng tố cáo những vi phạm nhân quyền trắng trợn, cùng yêu cầu can thiệp cho những đàn áp phụ nữ nơi quê nhà.
Hải ngoại – công tác quốc tế vận, quốc nội – trực diện đấu tranh.
Công việc cụ thể, sẽ thu hút được nhiều đóng góp cụ thể, và sẽ mang đến kết quả cụ thể.
Bạn ơi,
Hãy nghiêng mình xuống, thương cảm và tìm đến với tất cả mọi người trong xã hội –
Gái mại dâm có công tác của gái mại dâm, bà già bán rau vỉa hè có công tác của người bán rau vỉa hè, người viết văn có bổn phận của người viết văn.
Đất nước ta lúc nào cũng có những người đàn bà góp phần vào lịch sử.
Vậy đó….
Giờ đã điểm
chúng ta phải động não,
chúng ta phải đúng dậy,
mà đi
với trăm ngàn cái hãy
và trăm ngàn cái phải.
Đừng để những tiếng nói quả cảm của những phụ nữ can trường
tắt lịm dần trong bóng tối tù ngục Cộng sản.
Đừng để
LẠC LỐI VỀ …
Giữa tháng năm, hai ngàn mười một.

