Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Giọt nước mắt... vì niềm kiêu hãnh: Người Việt Nam
Tác Giả: Bùi Bảo Trúc
Tôi là người thù dai. Thù dai có cái xấu và có cái tốt. Tôi nghĩ thù dai cũng có điểm tốt.
Thù dai để không quên những chuyện xấu người khác làm cho mình. Không thù dai thì làm sao Nguyễn Trãi nằm gai nếm mật suốt mười năm để trả thù nhà, để đền nợ xã tắc, giang sơn?
Thù từ năm 1975 đến nay thì có dai thật.
Năm 1975, với đợt tị nạn đầu tiên đến Mỹ, tờ Newsweek đăng một bài viết của Shana Alexander về những người Việt được đưa sang Mỹ tị nạn. Người đàn bà này lo ngại là những người Việt Nam tị nạn chưa biết sử dụng cái máy giặt, cái máy sấy, không biết Michael Angelo là ai, thì làm sao sống được ở Mỹ.
Ðó là những câu nhục mạ những người Việt quá nặng.
Nhưng chuyện không biết dùng cái máy giặt thì cũng dễ hiểu. Kìa, như thái
tử Naruhito của hoàng gia Nhật, mãi đến khi sang học tại Merton College ở Oxford, ông hoàng tử này mới biết dùng cái máy giặt để khoe nhắng lên. Vậy thì dùng cái máy giặt không phải là chuyện đáng kiêu hãnh. Không biết dùng cái máy giặt thì cũng không phải là điều xấu xa gì như bài báo ngu xuẩn của Shana Alexander đã úp mở.
Từ đó, năm nào, cứ đến tháng Tư là tôi lại nhớ đến bài báo của Shana Alexander, và cứ nghĩ đến những câu nhục mạ ấy là lại run người lên vì giận.
Nhưng người Pháp vẫn nói là trả thù cũng như thức ăn nguội, ăn lạnh mới ngon. Shana Alexander nghỉ viết từ lâu, không biết đang ở đâu để rảnh rang kiếm nàng, mời nàng đi đến thăm vài ba đại học Mỹ, ghé lại Little Saigon chơi cho bỏ những ngày cơ cực và để cho nàng thấy tận mắt những người nàng khinh bỉ ấy đã sống như thế nào.
Ðó là cách trả thù vậy. Nhưng chưa bao giờ tôi thấy hả dạ được như cuối tuần qua, khi nhận được
tờ Newsweek, tờ báo 32 năm trước từng đăng bài báo của Shana Alexander, tôi đọc được bài viết của George Will trong mục The Last Word ở trang 84 số báo NewsWeek đề ngày 17 tháng 12 năm 2007.
George Will dùng nguyên một trang để nói về đóng góp của một người Việt Nam , một phụ nữ Việt, một trong những người Việt lếch thếch kéo nhau sang Mỹ và bị Shaan Alexander đem ra nhục mạ trong bài báo.
Tôi có thể nói là chưa bao giờ tôi đọc được một bài báo viết về một người khác như George Will đã viết.
Nếu bài báo ấy do một cây bút Việt Nam viết thì người đọc cũng dễ dàng coi đó là chuyện hai con mèo khen nhau có những cái đuôi dài.
Nhưng bài viết này là của George Will một trong những cây bút bình luận chính trị bảo thủ, lỗi lạc nhất của báo chí Mỹ, thì nó là một bài báo giá trị. Mười lần Shana Alexander cũng không thể bác được điều đó.
Bài báo của George Will viết về Dương Nguyệt Ánh, mẹ đẻ ra một loại bom mói tên là Thermobaric. Chương trình nghiên cứu được hạn cho ba năm để hoàn thành, nhưng chỉ sau 67 ngày, bà Ánh đã thành công , chế ra được loại bom mới để dùng cho mặt trận Afghanistan. Loại bom mới này công hiệu hơn tất cả các loại bom khác của thế giới. Bom ném vào hang đá ở Afghanistan không công phá ngay như các loại bom cũ, mà sức nóng và sức nổ của bom ở lại lâu, tiến sâu vào các hang hốc khiến khả năng công phá và hủy diệt của bom hơn hẳn mọi loại võ khí khác.
Nước Mỹ đã phải cám ơn bà Dương Nguyệt Ánh về loại võ khi mới này. Tờ Washington Post mới đây có viết một bài khá dài về bà Ánh nhân dịp bà được trao tặng một huy chương về những thành quả và đóng góp của bà cho nước Mỹ.
George Will kể lại cảnh bà tiến ra trước máy vi âm, không đọc một bài viết sẵn, mà ứng khẩu trước một cử tọa rất đông đảo smoking, nơ đen trang trọng. Bà Dương Nguyệt Ánh nói rằng 32 năm trước, bà tới nước Mỹ với tư cách một người tị nạn, hai bàn tay trắng và một túi hành trang đầy những ước mơ tan nát.
Nhưng nước Mỹ, với bà, là một thiên đàng, không phải vì vẻ đẹp và tài nguyên phong phú, mà vì người dân Mỹ vị tha, rộng lượng đã giúp gia đình của bà khi mới tới Nước Mỹ và giúp hàn gắn những thương tích trong tâm hồn, đem lại lòng tin vào con người và cảm hứng cho công việc của bà. Bà muốn tặng lại danh dự của tấm huân chương bà nhận được cho 58 ngàn người Mỹ đã tử trận tại Việt Nam và hơn 260 ngàn chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh để cho những người như bà có được cơ hội sống trong tự do. Bà xin Thượng đế ban phúc cho những người sẵn sàng chết cho tự do, và nhất là những người sẵn sàng chết cho tự do của những người khác. Bà cám ơn nước Mỹ.
George Will kết bài viết của ông bằng mấy câu này: Cám ơn Dương Nguyệt Ánh. Xin cô hiểu là cô đã trả món nợ mà cô nói cô nợ của nước Mỹ, cô đã hoàn trả đầy đủ, không thiếu một chút nào. Cô đã trả hết món nợ đó, và luôn cả tiền lời nữa.
Tiền lời, là đóng góp rất lớn của Dương Nguyệt Ánh cho tự do và an ninh của nước Mỹ, quốc gia đã mở cửa đón gia đình của bà.
Shana Alexander ở đâu, có đọc bài báo này chưa ?
Tác Giả: Bùi Bảo Trúc
Tôi là người thù dai. Thù dai có cái xấu và có cái tốt. Tôi nghĩ thù dai cũng có điểm tốt.
Thù dai để không quên những chuyện xấu người khác làm cho mình. Không thù dai thì làm sao Nguyễn Trãi nằm gai nếm mật suốt mười năm để trả thù nhà, để đền nợ xã tắc, giang sơn?
Thù từ năm 1975 đến nay thì có dai thật.
Năm 1975, với đợt tị nạn đầu tiên đến Mỹ, tờ Newsweek đăng một bài viết của Shana Alexander về những người Việt được đưa sang Mỹ tị nạn. Người đàn bà này lo ngại là những người Việt Nam tị nạn chưa biết sử dụng cái máy giặt, cái máy sấy, không biết Michael Angelo là ai, thì làm sao sống được ở Mỹ.
Ðó là những câu nhục mạ những người Việt quá nặng.
Nhưng chuyện không biết dùng cái máy giặt thì cũng dễ hiểu. Kìa, như thái
tử Naruhito của hoàng gia Nhật, mãi đến khi sang học tại Merton College ở Oxford, ông hoàng tử này mới biết dùng cái máy giặt để khoe nhắng lên. Vậy thì dùng cái máy giặt không phải là chuyện đáng kiêu hãnh. Không biết dùng cái máy giặt thì cũng không phải là điều xấu xa gì như bài báo ngu xuẩn của Shana Alexander đã úp mở.
Từ đó, năm nào, cứ đến tháng Tư là tôi lại nhớ đến bài báo của Shana Alexander, và cứ nghĩ đến những câu nhục mạ ấy là lại run người lên vì giận.
Nhưng người Pháp vẫn nói là trả thù cũng như thức ăn nguội, ăn lạnh mới ngon. Shana Alexander nghỉ viết từ lâu, không biết đang ở đâu để rảnh rang kiếm nàng, mời nàng đi đến thăm vài ba đại học Mỹ, ghé lại Little Saigon chơi cho bỏ những ngày cơ cực và để cho nàng thấy tận mắt những người nàng khinh bỉ ấy đã sống như thế nào.
Ðó là cách trả thù vậy. Nhưng chưa bao giờ tôi thấy hả dạ được như cuối tuần qua, khi nhận được
tờ Newsweek, tờ báo 32 năm trước từng đăng bài báo của Shana Alexander, tôi đọc được bài viết của George Will trong mục The Last Word ở trang 84 số báo NewsWeek đề ngày 17 tháng 12 năm 2007.
George Will dùng nguyên một trang để nói về đóng góp của một người Việt Nam , một phụ nữ Việt, một trong những người Việt lếch thếch kéo nhau sang Mỹ và bị Shaan Alexander đem ra nhục mạ trong bài báo.
Tôi có thể nói là chưa bao giờ tôi đọc được một bài báo viết về một người khác như George Will đã viết.
Nếu bài báo ấy do một cây bút Việt Nam viết thì người đọc cũng dễ dàng coi đó là chuyện hai con mèo khen nhau có những cái đuôi dài.
Nhưng bài viết này là của George Will một trong những cây bút bình luận chính trị bảo thủ, lỗi lạc nhất của báo chí Mỹ, thì nó là một bài báo giá trị. Mười lần Shana Alexander cũng không thể bác được điều đó.
Bài báo của George Will viết về Dương Nguyệt Ánh, mẹ đẻ ra một loại bom mói tên là Thermobaric. Chương trình nghiên cứu được hạn cho ba năm để hoàn thành, nhưng chỉ sau 67 ngày, bà Ánh đã thành công , chế ra được loại bom mới để dùng cho mặt trận Afghanistan. Loại bom mới này công hiệu hơn tất cả các loại bom khác của thế giới. Bom ném vào hang đá ở Afghanistan không công phá ngay như các loại bom cũ, mà sức nóng và sức nổ của bom ở lại lâu, tiến sâu vào các hang hốc khiến khả năng công phá và hủy diệt của bom hơn hẳn mọi loại võ khí khác.
Nước Mỹ đã phải cám ơn bà Dương Nguyệt Ánh về loại võ khi mới này. Tờ Washington Post mới đây có viết một bài khá dài về bà Ánh nhân dịp bà được trao tặng một huy chương về những thành quả và đóng góp của bà cho nước Mỹ.
George Will kể lại cảnh bà tiến ra trước máy vi âm, không đọc một bài viết sẵn, mà ứng khẩu trước một cử tọa rất đông đảo smoking, nơ đen trang trọng. Bà Dương Nguyệt Ánh nói rằng 32 năm trước, bà tới nước Mỹ với tư cách một người tị nạn, hai bàn tay trắng và một túi hành trang đầy những ước mơ tan nát.
Nhưng nước Mỹ, với bà, là một thiên đàng, không phải vì vẻ đẹp và tài nguyên phong phú, mà vì người dân Mỹ vị tha, rộng lượng đã giúp gia đình của bà khi mới tới Nước Mỹ và giúp hàn gắn những thương tích trong tâm hồn, đem lại lòng tin vào con người và cảm hứng cho công việc của bà. Bà muốn tặng lại danh dự của tấm huân chương bà nhận được cho 58 ngàn người Mỹ đã tử trận tại Việt Nam và hơn 260 ngàn chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh để cho những người như bà có được cơ hội sống trong tự do. Bà xin Thượng đế ban phúc cho những người sẵn sàng chết cho tự do, và nhất là những người sẵn sàng chết cho tự do của những người khác. Bà cám ơn nước Mỹ.
George Will kết bài viết của ông bằng mấy câu này: Cám ơn Dương Nguyệt Ánh. Xin cô hiểu là cô đã trả món nợ mà cô nói cô nợ của nước Mỹ, cô đã hoàn trả đầy đủ, không thiếu một chút nào. Cô đã trả hết món nợ đó, và luôn cả tiền lời nữa.
Tiền lời, là đóng góp rất lớn của Dương Nguyệt Ánh cho tự do và an ninh của nước Mỹ, quốc gia đã mở cửa đón gia đình của bà.
Shana Alexander ở đâu, có đọc bài báo này chưa ?
Dân Tộc Tự Quyết
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh Mỹ sẽ rút hết quân khỏi Iraq vào cuối năm và dự liệu sau đó sẽ rút hết quân khỏi Trung Đông, kể cả Afghanistan và Gaza. Cuối tháng 10, một kẻ khủng bố đánh bom tự sát đã làm nổ một xe buýt ở Kabul, làm 17 người chết trong đó có cả người Mỹ. Tất cả những sự tranh chấp ở vùng này đã có các đồng minh của Mỹ là Anh và Pháp lo liệu. Anh Pháp ở Âu châu sẽ tìm cách can thiệp vào những vụ khủng bố ở vùng này.
Nhưng biến chuyển đáng chú ý nhất trong chiến lược đối ngoại của Mỹ là khu vực Thái Bình Dương. Bộ truởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã đến Tokyo và tuyên bố thẳng thừng hiểm họa lớn nhất làm Mỹ quan tâm là sự gia tăng sức mạnh quân sự của Trung Quốc, đồng thời chỉ trích Bắc Hàn đã có những hành động “liều lĩnh và khiêu khích”.
Tại vùng biển Thái Bình này Mỹ có liên minh chặt chẽ với Nhật Bản, quân đội Mỹ-Nhật đóng ở căn cứ Không quân ở Yokota, thuộc ngoại thành Tokyo. Mỹ cũng có căn cứ quân sự tại Okinawa Hoàng Hải. Trả lời một câu hỏi của báo chí Nhật, Panetta nói Mỹ và Nhật Bản chia sẻ những sự khiêu khích đang xẩy ra ở Á châu và Thái Bình Dương. Ông còn nói: “Trung Quốc đang gấp rút hiện đại hóa quân đội, và rắc rối là họ dấu kín, trong khi gia tăng hoạt động tại khu vực Đông và Nam vùng biển của họ”.
Vùng biển này từ đảo Hải Nam về phía Nam có bờ biển Việt Nam, nhưng Bắc Kinh còn tham lam muốn thò cái lưỡi bò dài xuống cả đến vùng Mã Lai Á và Nam Dương. Vùng này vốn đã có một liên minh từ lâu gọi là SEATO (Tổ chức Liên hiệp Đông Nam Á), Trong khi Trung Quốc là một nước Đông Bắc Á nên không có hy vọng gia nhập. Ở khu vực bờ biển Việt Nam có các đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các đảo này gần với thềm lục địa Việt Nam hơn bất cứ nước nào khác ở trong vùng. Thềm lục địa của Trung Quốc không thể kéo dài đến Hoàng Sa và Trường Sa.
Tại sao Trung Quốc muốn nhòm ngó đến Hoàng Sa, Trường Sa? Lý do dễ hiểu là dưới hai quần đảo này có mỏ dầu lửa khá lớn. Cách đây không lâu, hai chiếc tầu thăm dò dầu của Việt Nam hoạt động ở vùng này, chiến hạm của Trung Quốc chỉ lẩn quẩn ở xa trên phía Bắc trong vùng biển quốc tế mà nhìn chớ không dám đến gần khiêu khích. Vùng mỏ dầu này được Việt Nam khai thác sẽ là một nguồn lợi lớn cho người Việt.
Theo báo Financial Times ngày 26 tháng 10 vừa qua, công ty dầu lửa Exxon Mobil đã khám phá một mỏ dầu khí lớn ở ngoài khơi Việt Nam, trong một khu vực cũng bị Trung Quốc dòm ngó. Rất có thể sự khám phá này cũng là do Hà Nội tiết lộ.
Trước tình thế đó, Trung Quốc có thể sẽ tìm cách gây hấn ở biên giới Trung-Việt để làm áp lực, đòi Việt Nam phải chia sẻ miếng mồi ngon là dầu lửa ở Hoàng Sa. Nhưng nước Việt Nam hiện nay đã tìm cách đề phòng, bằng cách xiết chặt quan hệ với Mỹ. Cách đây không lâu đã có một chiến hạm Mỹ, do một sĩ quan Mỹ gốc Việt điều khiển đã ghé cảng Việt Nam để thăm thú.
Thiết tuởng cũng nên nhắc lại chính trong nội bộ Trung Quốc cũng đã có chuyện rắc rối từ hồi tháng 7 năm nay. Trong Đại sảnh đường nhân dân ở Bắc Kinh có khoảng 6,000 đảng viên tham dự, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào phải nhìn nhận là đảng lâm nguy trầm trọng vì có nạn tham nhũng lan rộng sau khi đảng cầm quyền đã khá lâu.
Nhắc lại những chuyện xưa như vậy chúng tôi muốn nhấn mạnh Trung Quốc ngày nay là kẻ thù của nước Việt Nam. Riêng về lịch sử thời xa xưa nhất kể từ khi loài người ở khắp nơi chưa có chữ viết, dân Trung Quốc vẫn truyền khẩu người Việt là do nòi giống Bách Việt sinh ra để ám chỉ từ phía Bắc đến, nghĩa là từ bên Quảng Đông Quảng Tây bên Tầu qua. Sự thật tổ tiên của người Việt là những người từ vùng Vân Nam theo sông Mekong tràn xuống, nên người Việt gần gụi với người Thái hơn người Tầu.
Ngày nay chúng tôi nghĩ người Việt nên nhìn đến Mỹ để chống mối họa phương Bắc. Đó chính là quyền dân tộc tự quyết.
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh Mỹ sẽ rút hết quân khỏi Iraq vào cuối năm và dự liệu sau đó sẽ rút hết quân khỏi Trung Đông, kể cả Afghanistan và Gaza. Cuối tháng 10, một kẻ khủng bố đánh bom tự sát đã làm nổ một xe buýt ở Kabul, làm 17 người chết trong đó có cả người Mỹ. Tất cả những sự tranh chấp ở vùng này đã có các đồng minh của Mỹ là Anh và Pháp lo liệu. Anh Pháp ở Âu châu sẽ tìm cách can thiệp vào những vụ khủng bố ở vùng này.
Nhưng biến chuyển đáng chú ý nhất trong chiến lược đối ngoại của Mỹ là khu vực Thái Bình Dương. Bộ truởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã đến Tokyo và tuyên bố thẳng thừng hiểm họa lớn nhất làm Mỹ quan tâm là sự gia tăng sức mạnh quân sự của Trung Quốc, đồng thời chỉ trích Bắc Hàn đã có những hành động “liều lĩnh và khiêu khích”.
Tại vùng biển Thái Bình này Mỹ có liên minh chặt chẽ với Nhật Bản, quân đội Mỹ-Nhật đóng ở căn cứ Không quân ở Yokota, thuộc ngoại thành Tokyo. Mỹ cũng có căn cứ quân sự tại Okinawa Hoàng Hải. Trả lời một câu hỏi của báo chí Nhật, Panetta nói Mỹ và Nhật Bản chia sẻ những sự khiêu khích đang xẩy ra ở Á châu và Thái Bình Dương. Ông còn nói: “Trung Quốc đang gấp rút hiện đại hóa quân đội, và rắc rối là họ dấu kín, trong khi gia tăng hoạt động tại khu vực Đông và Nam vùng biển của họ”.
Vùng biển này từ đảo Hải Nam về phía Nam có bờ biển Việt Nam, nhưng Bắc Kinh còn tham lam muốn thò cái lưỡi bò dài xuống cả đến vùng Mã Lai Á và Nam Dương. Vùng này vốn đã có một liên minh từ lâu gọi là SEATO (Tổ chức Liên hiệp Đông Nam Á), Trong khi Trung Quốc là một nước Đông Bắc Á nên không có hy vọng gia nhập. Ở khu vực bờ biển Việt Nam có các đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các đảo này gần với thềm lục địa Việt Nam hơn bất cứ nước nào khác ở trong vùng. Thềm lục địa của Trung Quốc không thể kéo dài đến Hoàng Sa và Trường Sa.
Tại sao Trung Quốc muốn nhòm ngó đến Hoàng Sa, Trường Sa? Lý do dễ hiểu là dưới hai quần đảo này có mỏ dầu lửa khá lớn. Cách đây không lâu, hai chiếc tầu thăm dò dầu của Việt Nam hoạt động ở vùng này, chiến hạm của Trung Quốc chỉ lẩn quẩn ở xa trên phía Bắc trong vùng biển quốc tế mà nhìn chớ không dám đến gần khiêu khích. Vùng mỏ dầu này được Việt Nam khai thác sẽ là một nguồn lợi lớn cho người Việt.
Theo báo Financial Times ngày 26 tháng 10 vừa qua, công ty dầu lửa Exxon Mobil đã khám phá một mỏ dầu khí lớn ở ngoài khơi Việt Nam, trong một khu vực cũng bị Trung Quốc dòm ngó. Rất có thể sự khám phá này cũng là do Hà Nội tiết lộ.
Trước tình thế đó, Trung Quốc có thể sẽ tìm cách gây hấn ở biên giới Trung-Việt để làm áp lực, đòi Việt Nam phải chia sẻ miếng mồi ngon là dầu lửa ở Hoàng Sa. Nhưng nước Việt Nam hiện nay đã tìm cách đề phòng, bằng cách xiết chặt quan hệ với Mỹ. Cách đây không lâu đã có một chiến hạm Mỹ, do một sĩ quan Mỹ gốc Việt điều khiển đã ghé cảng Việt Nam để thăm thú.
Thiết tuởng cũng nên nhắc lại chính trong nội bộ Trung Quốc cũng đã có chuyện rắc rối từ hồi tháng 7 năm nay. Trong Đại sảnh đường nhân dân ở Bắc Kinh có khoảng 6,000 đảng viên tham dự, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào phải nhìn nhận là đảng lâm nguy trầm trọng vì có nạn tham nhũng lan rộng sau khi đảng cầm quyền đã khá lâu.
Nhắc lại những chuyện xưa như vậy chúng tôi muốn nhấn mạnh Trung Quốc ngày nay là kẻ thù của nước Việt Nam. Riêng về lịch sử thời xa xưa nhất kể từ khi loài người ở khắp nơi chưa có chữ viết, dân Trung Quốc vẫn truyền khẩu người Việt là do nòi giống Bách Việt sinh ra để ám chỉ từ phía Bắc đến, nghĩa là từ bên Quảng Đông Quảng Tây bên Tầu qua. Sự thật tổ tiên của người Việt là những người từ vùng Vân Nam theo sông Mekong tràn xuống, nên người Việt gần gụi với người Thái hơn người Tầu.
Ngày nay chúng tôi nghĩ người Việt nên nhìn đến Mỹ để chống mối họa phương Bắc. Đó chính là quyền dân tộc tự quyết.

Mỹ lo Israel tấn công phủ đầu Iran
Một quan chức quân đội Mỹ hôm qua (4/11) cho biết, Mỹ “cực kỳ” lo ngại về khả năng Israel sẽ tấn công phủ đầu Iran mà không thông báo trước cho giới lãnh đạo ở Washington .
Trong quá khứ, Washington có thể chắc chắn rằng Israel sẽ thông báo hay chính xác hơn là cần sự chấp thuận của Mỹ để có thể phát động một cuộc tấn công vào các cơ sở hạt nhân của Iran . Tuy nhiên, đến thời điểm này, các quan chức Mỹ cho rằng, sự “chắc chắn” đó không còn nữa.
Khi được hỏi liệu Lầu Năm Góc có lo lắng về khả năng xảy ra một cuộc tấn công như nói trên hay không, vị quan chức Mỹ đã trả lời là “cực kỳ lo ngại”. Ông này cho biết thêm, quân đội Mỹ đang “ngày càng trở nên cảnh giác hơn” với các hoạt động ở cả Israel và Iran vì lo ngại những hoạt động đó có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh.
Vị quan chức Mỹ giấu tên khẳng định, hiện tại Washington không có ý định tấn công Iran nhưng không chắc chắn về việc Israel sẽ thông báo với Mỹ trước khi đánh phủ đầu nước láng giềng. Washington tin rằng, chiến dịch quân sự của Israel nhằm vào Iran sẽ có sự tham gia của tên lửa đạn đạo và chiến đấu cơ. Tuy nhiên, Mỹ cảnh báo, một cuộc tấn công như vậy sẽ rất khó khăn bởi Iran sở hữu các hệ thống phòng không “đỉnh cao”. Đây là một mối đe dọa rất lớn với lực lượng Không quân Israel .
Các phi công của Không quân Israel sẽ phải bay qua một nước thứ 3 trước khi đến được Iran và như thế họ chắc chắn cần phải tiếp dầu trên không. Hoạt động này sẽ khiến cho các máy bay chiến đấu của Israel bị các hệ thống radar trong khu vực phát hiện. Việc sử dụng các máy bay không người lái lại càng không thể bởi loại máy bay này không thể bay được khoảng cách xa hay mang theo vũ khí cần thiết để phá hủy các cơ sở hạt nhân.
Áp lực quốc tế lên nước CH Hồi giáo Iran đang ngày càng tăng khi Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) chuẩn bị công bố một bản báo cáo về chương trình hạt nhân của nước này trong tuần tới.
IAEA có ý định tiết lộ những thông tin tình báo giật mình chứng tỏ Iran đang tìm cách sản xuất vũ khí hạt nhân.

Trông người lại nghĩ đến ta :
Hoa anh đào và hoa mắc cở !
“Trong bối cảnh gay go, tôi cảm thấy mình đã làm hết sức mọi việc có thể.
Hiện giờ, tôi muốn các bạn chọn một người nào đó thay thế tôi làm Thủ Tướng mới”. Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan hôm (26/8 ) đã chân thành ngỏ lời như vậy với quốc dân và nghị viện Nhật Bản để xin từ chức sau gần 15 tháng nắm quyền. Quyết định được đưa ra trong bối cảnh mức độ tín nhiệm của công chúng với chính phủ và Đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ) của nhà lãnh đạo này sụt giảm do không kịp thời trong cách xử lý thảm họa động đất, sóng thần và rò rỉ hạt nhân vừa qua.

Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan
Cái cung cách xử sự của Thủ Tướng Naoto Kan khiến tôi nhớ lại lời người bạn, doanh nhân Nhật làm ăn tại VN nói với tôi cách nay không lâu : “...Độc tài chính trị và đam mê quyền lực với đất nước chúng tôi đồng nghĩa là “vô liêm sỉ”, chính người dân mới có toàn quyền lên tiếng chọn lựa hướng đi cho dân tộc thông qua nghị viện dân chủ. Đảng phái chỉ là người thừa hành, phát quang, thông thoáng, cho lối đi tốt hơn, nhanh hơn, chứ không là nhóm người toa rập nhân danh đảng phái làm chủ nhân ông thay đổi hướng đi đó – Chắc bạn cũng thường thấy trên chính trường Nhật Bản, vị trí lãnh đạo đôi khi ngắn như tuổi thọ của đóa anh đào, bởi một sai sót nhỏ tự thân vị chính khách vì lòng tự trọng phải biết từ nhiệm trong danh dự chứ không muốn là người vô liêm sỉ ….”
Đây là vị Thủ tướng thứ 5 của Nhật Bản từ chức trong 5 năm qua – Bình quân mỗi mùa hoa anh đào xứ Phù Tang có một Thủ tướng mới, sự ra đi trong danh dự của từng vị trước nhiệm kỳ nếu soi rọi kỹ – tất cả – nhiều hay ít đều giữ lại màu trắng tinh khôi hay màu hồng phấn dễ thương của đóa anh đào lìa cành trước mặc định khắc nghiệt của đông phong. Với họ sự từ nhiệm rời bỏ quyền lực nhẹ nhàng thư thái như động tác gác kiếm của Hiệp Sĩ Samurai – Năng lực, nhân cách ví như nước thép trui rèn làm nên sự sắc bén của thanh gươm, tì vết, cùn lụt hay sức mẻ đồng nghĩa không xứng đáng phẩm chất tinh thần cao thượng truyền thống của một hiệp sĩ Samurai giúp đời diệt bạo trừ gian và họ dứt khoát từ bỏ nó chứ không tận dụng để phải ô danh.
Chính trường hay hệ thống chính trị của một quốc gia, gần giống như môi trường nước và không khí cần phải luân lưu thay đổi cho phù hợp trong từng hoàn cảnh mới mang lại sự trong lành và tinh khiết. Trong lành, Tinh khiết trong trường hợp này là chuẩn mực của phạm trù đạo đức trong đó có Liêm sỉ mà bắt buộc mọi chính khách điều hành quốc sự phải đặt nó trong tái tim mình để hòa chung nhịp đập cùng với hàng ngàn, triệu trái tim trong cả nước giúp cơ thể quốc gia an toàn khỏe mạnh. Chỉ cần sai lệch nhịp đập, cần phải điều chỉnh hay thay đổi kịp thời nếu không – cơ thể lâm nguy !.
Nhân vô thập toàn – khẳng định bất biến. Khác với ốc, vít, khi bị mài mòn hoen rỉ hay khuyết tật nếu không thay thế kịp thời có thể nó phá tan một cổ máy, con người sở hữu tư duy tất yếu phải biết làm gì khi nhận ra điều ấy sớm hơn, nếu nhìn thấy khiếm khuyết mà vẫn âm thầm im lặng thì có nghĩa là người nhưng không hơn giá trị ốc vít.
Có sự khác biệt trong nhân cách của mỗi con người trong trường hợp này.
– Cùng là sắc dân châu Á đồng dạng toàn phần, nhưng sao nhân cách và tri thức của hầu hết các Thủ Tướng (chính khách) Nhật và Hàn Quốc lại cao hơn các chính khách (giới chức cầm quyền đảng CSVN) Việt Nam tới mấy cái đầu (Ở đây xin lỗi bạn đọc, không biết có xứng đáng không? để gọi những người lãnh đạo nhà nước CSVN là “Chính Khách”? vì chính khách thường chỉ danh là những người làm chính trị “sạch sẽ” có nhân cách và biết liêm sỉ !)
Như trên đề cập, Thủ tướng Nhật Naoto Kan chân thành trần tình: “đã làm hết sức mọi việc có thể trong thảm họa động đất, sóng thần và rò rỉ hạt nhân” vừa qua. Rất cao thượng! Ông không nói tiếp, nhưng mọi người có thể hiểu: vì thảm họa thiên nhiên quá lớn mà năng lực của con người cá nhân ông thì có hạn nên không chu toàn trách nhiệm, ông không hề đổ lỗi như thế mà chỉ nhận trách nhiệm để xin: “các bạn chọn một người nào đó thay thế tôi làm Thủ Tướng mới ”.
Nó khác biệt hoàn toàn với Thủ Tướng CHXHCN/Việt Nam, người chỉ đạo trực tiếp giao tất cả 700 triệu đôla tiền bán trái phiếu quốc gia VN ra quốc tế cho tập đoàn Vinashin góp phần trực tiếp gây nên thất thoát gần 4 tỷ đôla sau đó. Số tiền bằng 2 năm thu hoạch lúa gạo của nông dân cả nước đem đổ sông đổ biển, thiệt hại không nhỏ chút nào. Tuy nhiên, trước Quốc Hội dù ông có hứa sẽ kiểm điểm trách nhiệm tới nơi tới chốn chứ không làm qua loa, nhưng vì “sự nghiệp” thêm một nhiệm kỳ Thủ Tướng nữa nên lời hứa đó như “mây bốn phương trời”??..

Thủ Tướng CHXHCN/Việt Nam (mac cở quá ) Một trường hợp điển hình khác nghiêm trọng hơn, vụ hỏa hoạn khủng khiếp ở Trung tâm Thương mại Quốc tế ITC (International Trade Center) tại thành phố Hồ Chí Minh năm nào, chắc cư dân Q1 Sài Gòn chưa quên, thiêu rụi một nửa toà nhà 5 tầng làm chấn động dư luận thành phố Hồ Chí Minh.
Vụ hỏa hoạn cướp đi sinh mạng 60 người, làm 70 người khác bị thương, phần lớn người tử nạn là sinh viên đại học mới ra trường đang thực tập của CT/ bảo hiểm của AIA. Vụ hỏa hoạn cách văn phòng CT/UBND/TP 200m. Rất đau lòng, số người chết tăng cao do lực lượng cứu hỏa không có trang bị nệm hơi (một thiết bị không đắt tiền là bao) để người bị nạn trên cao nhảy xuống thoát hiểm? nhiều người liều mạng nhảy xuống từ lầu 3&4 thoát được lửa nhưng tử nạn bởi chấn thương, những cái chết oan uổng một phần rất lớn do tắc trách, thiếu năng lực trong điều hành quản lý đô thị. Nhưng ông CT/UBND/TP (Thị Trưởng) người chịu trách nhiệm an sinh đời sống cho cư dân toàn thành phố, trước cái chết oan uổng 60 mạng người (chắc chắn họ và gia đình có đóng thuế gián tiếp trả lương cho ông), thì lên chức Bí Thư thành ủy và vẫn đang tại chức tại TP/HCM - hiện nay lại là UV/BCT/TW Đảng!

Bí Thư thành ủy/TP/HCM Trong khi đó cựu tổng thống Hàn Quốc Roh Moo Hyun một chính khách đầy lòng tự trọng đã đổi mạng sống của mình để chuộc lại lỗi lầm lúc tiền nhiệm. Trong thư tuyệt mệnh ông để lại ngày 23/5/09: Tôi xin lỗi vì đã làm phiền các bạn, tôi rất xấu hổ với những vấn đề liên quan tới cáo buộc tham nhũng và chân thành xin lỗi nhân dân”.

Cựu tổng thống Hàn Quốc Roh Moo Hyun Bộ trưởng Quốc Phòng Hàn Quốc Kim Tae Young xin từ chức vì không bảo vệ được 4 người dân chết do Bắc triều tiên pháo kích vào lãnh thổ Nam Hàn – Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Fumio Kyuma đã từ chức sau lời phát biểu cho rằng hai cuộc tấn công bằng bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki năm 1945 là không thể tránh khỏi làm nhiều người dân Nagasaki phiền muộn, dù lời nói ông không có gì sai trái …v.v.

Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Fumio Kyuma Nhiều lắm như lá mùa thu, những tấm gương trọng liêm sỉ hơn cả công danh sự nghiệp, một sinh mạng người dân qua đời oan uổng họ coi như có một phần trách nhiệm của mình và tự nguyện trả giá. Nhưng sao, đẹp và đáng kính những nhân cách cao thượng ấy lại rất hiếm như sao buổi sớm ở CHXHCN/VN. Vì sao vậy? – Không khó lắm để nhận ra. Bao nhiêu năm sau bức màn sắt CSXHCN những con người CSVN chỉ “giàu có” giáo điều Mác lênin, “hàng hóa” dồi dào lúc nào cũng có là Bác và Đảng, gần gũi với họ chỉ toàn súng với đạn, còn vật chất đời sống tất cả đều giống nhau, một tiêu chuẩn tem phiếu của thế giới CS “Đại Đồng” cho nhu cầu tối thiểu con người, chỉ có vậy.
1975 họ ngẩn ngơ khi được Miền Nam “Giải Phóng” bằng đa dạng sắc màu tiện nghi phục vụ đời sống, đối diện trực tiếp với thế giới tư bản muôn màu vật chất ấy, họ – những người CSVN – như loài lạc đà nhịn khát nhiều ngày trong sa mạc XHCN, nhân danh chiến thắng họ thâu tóm quyền lực và tha hồ say mê tiêu hóa mọi thứ, tiêu hóa luôn cả nhân cách và lễ nghĩa liêm sỉ của chính mình đê(chỉ còn suy tôn và bám thật chắc như giác tu loài bạch tuộc vào một thứ duy nhất: chức vụ và quyền lực.
Hình ảnh của họ – những quan chức CSVN – so sánh với các chính khách Nhật, Hàn là hai loài cây: hoa Anh đào – biểu tượng tâm hồn Nhật,thanh cao tinh khiết, trọng Lễ Nghĩa Liêm Sĩ – Công danh sự nghiệp quyền lực có như đông phong làm hoa rơi rụng vẫn vẹn nguyên khí tiết của sắc màu cao thượng và Cây “Mắc Cở” của Việt Nam, buồn lắm, gai góc đầy mình sống chen chúc bò lên cây cỏ đồng loại, ai chạm vào cũng cụp lá mắc cở thảm thương...
Hoàng Thanh Trúc (danlambao) -
Thay đổi con người hay thay xã hội?
Ngô Nhân Dụng
Một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng ở Trung Quốc gần đây viết về mối tương quan mật thiết trong đời sống dân Mông Cổ và loài sói; sách này đã được dịch sang tiếng Anh, tên là Wolf Totem (Tô Tem Sói).
Cuốn truyện của Jiang Rong là một bản anh hùng ca về những thảo nguyên bát ngát ở Nội Mông. Trong không gian bát ngát hoang sơ đó loài sói và loài người vừa tranh đấu đối đầu nhau, vừa cộng tác một cách vô ý thức cùng bảo vệ những loài cỏ cây hoang dại phủ kín các cao nguyên và châu thổ. Cuộc cộng sinh diễn ra suốt lịch sử, từ hàng chục ngàn hay trăm ngàn năm, trước thời Thành Cát Tư Hãn, cho tới bây giờ.
Chuyện Wolf Totem (Lang Tú Ðằng - người Trung Hoa phiên âm chữ Totem là Tu Ðeng, đọc lối Hán Việt là Tú Ðằng) là lợi tự thuật của một sinh viên Ðại Học Bắc Kinh bị đày lên Mông Cổ “học tập lao động” trong thời “Cách mạng Văn hóa,” giống như tác giả Jiang Rong (Khương Nhung tên thật là Lữ Gia Dân). Anh sinh viên này đang phụ trách chăn cừu; anh vẫn định săn bắt một con sói, một thành tích để đạt được lòng kính trọng của người Mông Cổ. Anh cũng muốn đánh bẫy một con sói nhỏ để đem về nuôi thử. Từ trang 319, trong bản dịch do Penguin Press xuất bản, anh được chứng kiến cảnh một con chó sói tấn công đàn cừu. Anh sinh viên đang tản bộ lên đồi, đàn cừu tản mác đi sau. Bỗng quay đầu lại, nhìn thấy một con sói đang quần thảo với đàn cừu. Anh không bắn, cũng tìm cách dọa cho con sói phải chạy đi; vì đã được một người bạn mách kế, cứ chờ con sói ăn no, nặng bụng, chậm chạp, rồi động thủ thì sẽ hạ được nó.
Anh sinh viên đứng quan sát. Khi con sói đã chồm lên cắn cổ, vật ngã một con cừu, nó đè xuống xé da, xả thịt, ngấu nghiến ăn tại chỗ. Ðàn cừu bị tấn công lúc đầu hoảng sợ chạy toán loạn; nhưng khi thấy con sói đã bắt được một con cừu, bắt đầu ngồi xuống chăm chú cắn, nhay, nhai, nuốt, thì cả đàn cừu trở lại tình trạng bình thường; chúng lại cúi xuống gặm cỏ coi như không có gì nguy hiểm cả. Chắc chúng biết lúc này là an toàn, vì mỗi lần một con sói chỉ ăn thịt một con cừu là đủ no bụng. Nhiều con cừu đứng quan sát còn bạo dạn tiến đến xem con sói nó ăn thịt “đồng bào” mình như thế nào; giống như trẻ con đi coi đoàn xiệc hát rong. Một đám cừu bước tới gần, chen chân nhau để giành chỗ tốt, cho thấy rõ hơn. Tác giả Khương Nhung nghĩ: Bộ mặt của mấy chú cừu đóng vai quan sát có vẻ như mừng rỡ: “Gớm, may quá! Con sói nó ăn thịt mày, nó không ăn thịt tao!”
Nhân vật của Khương Nhung là một sinh viên ham đọc sách, mơ mộng và suy nghĩ. Khi nhìn cảnh đó, anh nhớ tới một đoạn văn của Lỗ Tấn đời xưa. Nhà văn tả một cảnh tượng thời trước Ðại chiến Thứ hai, khi quân Nhật đã xâm lăng chiếm một phần Trung Quốc. Có một đám đông người Trung Hoa đứng coi quân đội Nhật Bản đang chuẩn bị chém đầu một người Trung Hoa khác. Dân chúng kéo đến coi như đi coi xiệc. Nhớ lại chuyện cũ, anh sinh viên tự nhủ, “Chẳng trách được, người du mục Mông Cổ họ coi dân Hán mình như một đàn cừu.”
Nhân vật của Khương Nhung nhìn cảnh đàn cừu thì chợt nhớ đến đoạn văn của Lỗ Tấn. Tuần trước, chúng tôi cũng chợt nhớ đến đoạn văn trong tiểu thuyết Tô Tem Sói sau khi theo dõi các mạng lưới bên Tầu sau vụ em bé Duyệt Duyệt chết oan.
Như đã kể nhiều lần trên báo này, hàng chục triệu người Trung Hoa đã bày tỏ ý kiến trên mạng về vụ em bé Duyệt Duyệt 2 tuổi bị xe cán chết ở thành phố Phật Sơn, tỉnh Quảng Ðông mà 18 người qua lại không ai dừng chân nâng dậy, trong suốt bẩy phút. Các “công dân mạng” đặt câu hỏi cho chính lương tâm của họ, và lương tâm của cả mọi người: Phải chăng nước Trung Hoa đã mất linh hồn? Câu hỏi này cũng không khác gì ý nghĩ của nhân vật trong tiểu thuyết trên: Lòng hổ thẹn, và hổ thẹn tập thể.
Khi đứng trước một cảnh tượng cùng đáng xấu hổ mà một dân tộc biết xấu hổ, đó là điều đáng mừng. Ý thức rằng xã hội mình đang lâm bệnh trầm trọng, là một bước đầu để tự thay đổi, tự cải thiện. Nhắm mắt không chịu nhìn, hoặc nhìn thấy mà không chịu thú nhận mình mắc bệnh thì “hết thuốc chữa!” Vụ em bé Duyệt Duyệt xẩy ra khoảng một tuần lễ sau khi báo chí ở Trung Quốc loan tin một cụ già ở tỉnh Hồ Bắc bị té giữa đường phố trong suốt 90 phút người qua lại để mặc cho ông cụ nằm không ai ngó tới, cho đến khi tắt thở. Người con trai ông cụ hỏi với nhà báo: “Người Trung Hoa mình đã đánh mất thói quen cứu giúp người một cách dễ dàng như vậy hay sao?” Một nhà nghiên cứu về truyền thông viết trên trang Weibo, mạng Sina: “Trung Quốc đang phải đối diện với một thời điểm vô đạo đức nhất trong lịch sử.”
Nhưng trước căn bệnh đám đông thờ ơ, lãnh đạm trước cảnh một đồng loại lâm nạn, nhất là một em bé hai tuổi, thì người ta phải làm gì? Phải tìm hiểu những nguyên nhân nào gây ra bệnh. Hiểu biết căn nguyên rồi, mới đi tìm những phương cách diệt trừ phiền não.
Trên các mạng lưới, giới trí thức, thanh niên Trung Quốc đã nhận ra xã hội họ đang sống rất bệnh hoạn. Họ viết: “Chúng ta đều là những em bé Duyệt Duyệt!” Hoặc, “Chúng ta đều là những kẻ qua đường thờ ơ!”
Người ta đã tìm các nguyên nhân gây nên căn bệnh ích kỷ, thờ ơ này. Họ liệt kê các chứng bệnh gốc: Xu hướng chỉ biết kiếm tiền và hưởng thụ, sinh ra trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Nhiều người nêu lên khiếm khuyết trong nền giáo dục gia đình, cha mẹ dạy con tính ích kỷ. Nhiều người còn nhắc tới di sản, thời Mao Trạch Ðông đã xóa bỏ các nền móng đạo lý cổ truyền khiến người Trung Hoa mất kim chỉ nam về đạo đức.
Giáo Sư Hạ Học Loan (Xia Xueluan) thấy nguyên nhân là xã hội Trung Hoa đang trải qua một “cuộc khủng hoảng lòng tin, giữa người với người.” Ông Tạ Tĩnh (Xie Jing), giáo sư tại Ðại Học Phục Ðán ở Thượng Hải thấy tin tức trên báo chí nói đến những chuyện như anh Bành Vũ cứu người rồi sau đó bị gia đình nạn nhân kiện đòi bồi thường được các báo, các đài loan tải, khiến ai cũng dè dặt, do dự trước khi bước tới giúp đỡ người khác.
Chàng sinh viên của Khương Nhung nhìn đàn cừu đứng coi một đồng loại bị sói ăn thịt, lương tâm xã hội của anh thức dậy, không khác gì các công dân mạng ở Trung Quốc bây giờ. Nhưng trong vụ em bé Duyệt Duyệt, một con cừu bé nhỏ đang bị những bánh xe vận tải “ăn thịt,” thì ai đóng vai con chó sói?
Con chó sói tham ăn trong câu chuyện em bé Duyệt Duyệt là cả xã hội Trung Quốc chung quanh. Rất nhiều người đang chạy đuổi theo đồng tiền, và chỉ biết chăm lo quyền lợi của chính mình, không cảm thấy có trách nhiệm phải cứu đồng loại. Ai tạo ra những con chó sói? Trên trang Weibo của mạng lưới Sina, Giáo Sư Lý Hoa Ðông tìm thủ phạm: “Cái gì đã gây nên cảnh tang thương này? Các viên chức chính quyền? Những người giầu có nhất trong nước? Hay chỉ vì tánh lãnh đạm thờ ơ của chúng ta?” Ông Vương Dương (Wang Yang), bí thư tỉnh ủy Quảng Ðông, nói rằng tai nạn này là một “tiếng chuông báo động,” đánh thức tất cả mọi người. Năm ngày sau khi tai nạn xẩy ra, một cuộc họp của Trung Ương Ðảng Cộng Sản cũng đưa ra lời kêu gọi phải nâng cao “cuộc sống tinh thần” của nhân dân Trung Hoa.
Ðấy là những lời tuyên bố rất hay. Nhưng câu hỏi tiếp theo là “Người ta phải làm gì? Làm cách nào nâng cao được đời sống tinh thần người dân trong một nước?”
Cả ba điều ông Lý Hoa Ðông nêu ra đều không phải là nguyên nhân gốc của căn bệnh; mặc dù đều đóng góp một phần gây nên thái độ vô trách nhiệm tập thể. Những người giầu có trong nước Trung Hoa không nhất thiết là những người chỉ biết ích kỷ, duy lợi. Các viên chức chính quyền không ngăn ngừa một tai nạn như vậy cũng chịu trách nhiệm, nhưng không thể nói họ đã khuyến khích mọi người dân lãnh đạm thờ ơ trước cảnh khổ của đồng loại. Còn tánh ích kỷ, thờ ơ của những người qua đường? Họ đã nhiễm tính đó từ lâu, trong kinh nghiệm cuộc sống hàng ngày, lâu lâu tính đó có dịp biểu hiện ra, nhưng không phải họ được sinh ra đời với tính tình như vậy. Chính cuộc sống xã hội đã tạo ra tinh thần lãnh đạm, thờ ơ của đám đông.
Câu chuyện Lỗ Tấn kể xẩy ra trong thời gian nước Trung Hoa đang hỗn loạn. Trong nước thì các lãnh chúa và đảng phái tranh quyền, cuối cùng là hai phe, chính quyền Quốc Dân Ðảng và phong trào Cộng Sản; trong lúc quân Nhật đang xâm chiếm. Người Trung Hoa thời đó đã sống hàng thế kỷ trong loạn lạc, xã hội không còn kỷ cương nữa. Người giầu cũng không biết số phận mình mai sau sẽ ra sao, họ lo tích trữ tiền bạc phòng thân. Các tay lãnh chúa lo bảo vệ quyền hành của họ, sợ mất quyền thì không những mất tài sản, lợi lộc mà có thể còn mất mạng. Trong khung cảnh đó, những người dân bình thường không cảm thấy họ chia sẻ trách nhiệm về người khác.
Tâm lý ích kỷ, thờ ơ, vô trách nhiệm trước đồng loại đó vẫn duy trì và củng cố thêm trong chế độ cộng sản. Ðảng Cộng Sản tập trung cả hai thứ, của cải và quyền hành vào trong tay một nhóm người. Việc gì cũng do Ðảng và Nhà nước quyết đoán. Họa hay phúc đều do Ðảng và Nhà nước ban phát. Làm sao tôi có thể lo lắng cho số phận người hàng xóm của tôi, trong khi chính cá nhân tôi cũng không biết Ðảng và Nhà nước sẽ cho mình được số phận thế nào?
Muốn tránh cảnh “ai cũng là người qua đường” như trong chuyện em bé Duyệt Duyệt, người Trung Hoa phải tập lại lối sống cũ, khi mọi người đều thấy mình có trách nhiệm đối với mọi người. Người dân phải tập sống có trách nhiệm. Kinh tế thị trường bắt đầu tập cho người ta thói quen không trông chờ cấp trên ra lệnh phải ăn cái gì, mặc quần áo thế nào. Nhưng chỉ khi nào người dân được hưởng tự do và chịu trách nhiệm chọn lựa những người cai trị, họ mới thật sự cảm thấy mỗi người có trách nhiệm về cả xã hội mình. Trách nhiệm chỉ phát sinh người ta được tham dự, được lựa chọn và chịu hậu quả về lựa chọn của mình. Tinh thần liên đới chỉ phát sinh khi mọi người đều được bình đẳng tham gia trong các quyết định chung. Phải thay đổi chế độ chính trị ở Trung Quốc thì, hy vọng trong một thế hệ, mới tập được những thói quen mới đó.
Ngô Nhân Dụng
Một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng ở Trung Quốc gần đây viết về mối tương quan mật thiết trong đời sống dân Mông Cổ và loài sói; sách này đã được dịch sang tiếng Anh, tên là Wolf Totem (Tô Tem Sói).
Cuốn truyện của Jiang Rong là một bản anh hùng ca về những thảo nguyên bát ngát ở Nội Mông. Trong không gian bát ngát hoang sơ đó loài sói và loài người vừa tranh đấu đối đầu nhau, vừa cộng tác một cách vô ý thức cùng bảo vệ những loài cỏ cây hoang dại phủ kín các cao nguyên và châu thổ. Cuộc cộng sinh diễn ra suốt lịch sử, từ hàng chục ngàn hay trăm ngàn năm, trước thời Thành Cát Tư Hãn, cho tới bây giờ.
Chuyện Wolf Totem (Lang Tú Ðằng - người Trung Hoa phiên âm chữ Totem là Tu Ðeng, đọc lối Hán Việt là Tú Ðằng) là lợi tự thuật của một sinh viên Ðại Học Bắc Kinh bị đày lên Mông Cổ “học tập lao động” trong thời “Cách mạng Văn hóa,” giống như tác giả Jiang Rong (Khương Nhung tên thật là Lữ Gia Dân). Anh sinh viên này đang phụ trách chăn cừu; anh vẫn định săn bắt một con sói, một thành tích để đạt được lòng kính trọng của người Mông Cổ. Anh cũng muốn đánh bẫy một con sói nhỏ để đem về nuôi thử. Từ trang 319, trong bản dịch do Penguin Press xuất bản, anh được chứng kiến cảnh một con chó sói tấn công đàn cừu. Anh sinh viên đang tản bộ lên đồi, đàn cừu tản mác đi sau. Bỗng quay đầu lại, nhìn thấy một con sói đang quần thảo với đàn cừu. Anh không bắn, cũng tìm cách dọa cho con sói phải chạy đi; vì đã được một người bạn mách kế, cứ chờ con sói ăn no, nặng bụng, chậm chạp, rồi động thủ thì sẽ hạ được nó.
Anh sinh viên đứng quan sát. Khi con sói đã chồm lên cắn cổ, vật ngã một con cừu, nó đè xuống xé da, xả thịt, ngấu nghiến ăn tại chỗ. Ðàn cừu bị tấn công lúc đầu hoảng sợ chạy toán loạn; nhưng khi thấy con sói đã bắt được một con cừu, bắt đầu ngồi xuống chăm chú cắn, nhay, nhai, nuốt, thì cả đàn cừu trở lại tình trạng bình thường; chúng lại cúi xuống gặm cỏ coi như không có gì nguy hiểm cả. Chắc chúng biết lúc này là an toàn, vì mỗi lần một con sói chỉ ăn thịt một con cừu là đủ no bụng. Nhiều con cừu đứng quan sát còn bạo dạn tiến đến xem con sói nó ăn thịt “đồng bào” mình như thế nào; giống như trẻ con đi coi đoàn xiệc hát rong. Một đám cừu bước tới gần, chen chân nhau để giành chỗ tốt, cho thấy rõ hơn. Tác giả Khương Nhung nghĩ: Bộ mặt của mấy chú cừu đóng vai quan sát có vẻ như mừng rỡ: “Gớm, may quá! Con sói nó ăn thịt mày, nó không ăn thịt tao!”
Nhân vật của Khương Nhung là một sinh viên ham đọc sách, mơ mộng và suy nghĩ. Khi nhìn cảnh đó, anh nhớ tới một đoạn văn của Lỗ Tấn đời xưa. Nhà văn tả một cảnh tượng thời trước Ðại chiến Thứ hai, khi quân Nhật đã xâm lăng chiếm một phần Trung Quốc. Có một đám đông người Trung Hoa đứng coi quân đội Nhật Bản đang chuẩn bị chém đầu một người Trung Hoa khác. Dân chúng kéo đến coi như đi coi xiệc. Nhớ lại chuyện cũ, anh sinh viên tự nhủ, “Chẳng trách được, người du mục Mông Cổ họ coi dân Hán mình như một đàn cừu.”
Nhân vật của Khương Nhung nhìn cảnh đàn cừu thì chợt nhớ đến đoạn văn của Lỗ Tấn. Tuần trước, chúng tôi cũng chợt nhớ đến đoạn văn trong tiểu thuyết Tô Tem Sói sau khi theo dõi các mạng lưới bên Tầu sau vụ em bé Duyệt Duyệt chết oan.
Như đã kể nhiều lần trên báo này, hàng chục triệu người Trung Hoa đã bày tỏ ý kiến trên mạng về vụ em bé Duyệt Duyệt 2 tuổi bị xe cán chết ở thành phố Phật Sơn, tỉnh Quảng Ðông mà 18 người qua lại không ai dừng chân nâng dậy, trong suốt bẩy phút. Các “công dân mạng” đặt câu hỏi cho chính lương tâm của họ, và lương tâm của cả mọi người: Phải chăng nước Trung Hoa đã mất linh hồn? Câu hỏi này cũng không khác gì ý nghĩ của nhân vật trong tiểu thuyết trên: Lòng hổ thẹn, và hổ thẹn tập thể.
Khi đứng trước một cảnh tượng cùng đáng xấu hổ mà một dân tộc biết xấu hổ, đó là điều đáng mừng. Ý thức rằng xã hội mình đang lâm bệnh trầm trọng, là một bước đầu để tự thay đổi, tự cải thiện. Nhắm mắt không chịu nhìn, hoặc nhìn thấy mà không chịu thú nhận mình mắc bệnh thì “hết thuốc chữa!” Vụ em bé Duyệt Duyệt xẩy ra khoảng một tuần lễ sau khi báo chí ở Trung Quốc loan tin một cụ già ở tỉnh Hồ Bắc bị té giữa đường phố trong suốt 90 phút người qua lại để mặc cho ông cụ nằm không ai ngó tới, cho đến khi tắt thở. Người con trai ông cụ hỏi với nhà báo: “Người Trung Hoa mình đã đánh mất thói quen cứu giúp người một cách dễ dàng như vậy hay sao?” Một nhà nghiên cứu về truyền thông viết trên trang Weibo, mạng Sina: “Trung Quốc đang phải đối diện với một thời điểm vô đạo đức nhất trong lịch sử.”
Nhưng trước căn bệnh đám đông thờ ơ, lãnh đạm trước cảnh một đồng loại lâm nạn, nhất là một em bé hai tuổi, thì người ta phải làm gì? Phải tìm hiểu những nguyên nhân nào gây ra bệnh. Hiểu biết căn nguyên rồi, mới đi tìm những phương cách diệt trừ phiền não.
Trên các mạng lưới, giới trí thức, thanh niên Trung Quốc đã nhận ra xã hội họ đang sống rất bệnh hoạn. Họ viết: “Chúng ta đều là những em bé Duyệt Duyệt!” Hoặc, “Chúng ta đều là những kẻ qua đường thờ ơ!”
Người ta đã tìm các nguyên nhân gây nên căn bệnh ích kỷ, thờ ơ này. Họ liệt kê các chứng bệnh gốc: Xu hướng chỉ biết kiếm tiền và hưởng thụ, sinh ra trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Nhiều người nêu lên khiếm khuyết trong nền giáo dục gia đình, cha mẹ dạy con tính ích kỷ. Nhiều người còn nhắc tới di sản, thời Mao Trạch Ðông đã xóa bỏ các nền móng đạo lý cổ truyền khiến người Trung Hoa mất kim chỉ nam về đạo đức.
Giáo Sư Hạ Học Loan (Xia Xueluan) thấy nguyên nhân là xã hội Trung Hoa đang trải qua một “cuộc khủng hoảng lòng tin, giữa người với người.” Ông Tạ Tĩnh (Xie Jing), giáo sư tại Ðại Học Phục Ðán ở Thượng Hải thấy tin tức trên báo chí nói đến những chuyện như anh Bành Vũ cứu người rồi sau đó bị gia đình nạn nhân kiện đòi bồi thường được các báo, các đài loan tải, khiến ai cũng dè dặt, do dự trước khi bước tới giúp đỡ người khác.
Chàng sinh viên của Khương Nhung nhìn đàn cừu đứng coi một đồng loại bị sói ăn thịt, lương tâm xã hội của anh thức dậy, không khác gì các công dân mạng ở Trung Quốc bây giờ. Nhưng trong vụ em bé Duyệt Duyệt, một con cừu bé nhỏ đang bị những bánh xe vận tải “ăn thịt,” thì ai đóng vai con chó sói?
Con chó sói tham ăn trong câu chuyện em bé Duyệt Duyệt là cả xã hội Trung Quốc chung quanh. Rất nhiều người đang chạy đuổi theo đồng tiền, và chỉ biết chăm lo quyền lợi của chính mình, không cảm thấy có trách nhiệm phải cứu đồng loại. Ai tạo ra những con chó sói? Trên trang Weibo của mạng lưới Sina, Giáo Sư Lý Hoa Ðông tìm thủ phạm: “Cái gì đã gây nên cảnh tang thương này? Các viên chức chính quyền? Những người giầu có nhất trong nước? Hay chỉ vì tánh lãnh đạm thờ ơ của chúng ta?” Ông Vương Dương (Wang Yang), bí thư tỉnh ủy Quảng Ðông, nói rằng tai nạn này là một “tiếng chuông báo động,” đánh thức tất cả mọi người. Năm ngày sau khi tai nạn xẩy ra, một cuộc họp của Trung Ương Ðảng Cộng Sản cũng đưa ra lời kêu gọi phải nâng cao “cuộc sống tinh thần” của nhân dân Trung Hoa.
Ðấy là những lời tuyên bố rất hay. Nhưng câu hỏi tiếp theo là “Người ta phải làm gì? Làm cách nào nâng cao được đời sống tinh thần người dân trong một nước?”
Cả ba điều ông Lý Hoa Ðông nêu ra đều không phải là nguyên nhân gốc của căn bệnh; mặc dù đều đóng góp một phần gây nên thái độ vô trách nhiệm tập thể. Những người giầu có trong nước Trung Hoa không nhất thiết là những người chỉ biết ích kỷ, duy lợi. Các viên chức chính quyền không ngăn ngừa một tai nạn như vậy cũng chịu trách nhiệm, nhưng không thể nói họ đã khuyến khích mọi người dân lãnh đạm thờ ơ trước cảnh khổ của đồng loại. Còn tánh ích kỷ, thờ ơ của những người qua đường? Họ đã nhiễm tính đó từ lâu, trong kinh nghiệm cuộc sống hàng ngày, lâu lâu tính đó có dịp biểu hiện ra, nhưng không phải họ được sinh ra đời với tính tình như vậy. Chính cuộc sống xã hội đã tạo ra tinh thần lãnh đạm, thờ ơ của đám đông.
Câu chuyện Lỗ Tấn kể xẩy ra trong thời gian nước Trung Hoa đang hỗn loạn. Trong nước thì các lãnh chúa và đảng phái tranh quyền, cuối cùng là hai phe, chính quyền Quốc Dân Ðảng và phong trào Cộng Sản; trong lúc quân Nhật đang xâm chiếm. Người Trung Hoa thời đó đã sống hàng thế kỷ trong loạn lạc, xã hội không còn kỷ cương nữa. Người giầu cũng không biết số phận mình mai sau sẽ ra sao, họ lo tích trữ tiền bạc phòng thân. Các tay lãnh chúa lo bảo vệ quyền hành của họ, sợ mất quyền thì không những mất tài sản, lợi lộc mà có thể còn mất mạng. Trong khung cảnh đó, những người dân bình thường không cảm thấy họ chia sẻ trách nhiệm về người khác.
Tâm lý ích kỷ, thờ ơ, vô trách nhiệm trước đồng loại đó vẫn duy trì và củng cố thêm trong chế độ cộng sản. Ðảng Cộng Sản tập trung cả hai thứ, của cải và quyền hành vào trong tay một nhóm người. Việc gì cũng do Ðảng và Nhà nước quyết đoán. Họa hay phúc đều do Ðảng và Nhà nước ban phát. Làm sao tôi có thể lo lắng cho số phận người hàng xóm của tôi, trong khi chính cá nhân tôi cũng không biết Ðảng và Nhà nước sẽ cho mình được số phận thế nào?
Muốn tránh cảnh “ai cũng là người qua đường” như trong chuyện em bé Duyệt Duyệt, người Trung Hoa phải tập lại lối sống cũ, khi mọi người đều thấy mình có trách nhiệm đối với mọi người. Người dân phải tập sống có trách nhiệm. Kinh tế thị trường bắt đầu tập cho người ta thói quen không trông chờ cấp trên ra lệnh phải ăn cái gì, mặc quần áo thế nào. Nhưng chỉ khi nào người dân được hưởng tự do và chịu trách nhiệm chọn lựa những người cai trị, họ mới thật sự cảm thấy mỗi người có trách nhiệm về cả xã hội mình. Trách nhiệm chỉ phát sinh người ta được tham dự, được lựa chọn và chịu hậu quả về lựa chọn của mình. Tinh thần liên đới chỉ phát sinh khi mọi người đều được bình đẳng tham gia trong các quyết định chung. Phải thay đổi chế độ chính trị ở Trung Quốc thì, hy vọng trong một thế hệ, mới tập được những thói quen mới đó.
Cứu Nguy Euro Để Mở Rộng Ảnh Hưởng?
Nguyễn Xuân Nghĩa, Thanh Hà RFI Khi Âu Châu không tự cứu, các nước tân hưng sẽ ngần ngại, trừ phi có ý riêng...
Để bảo đảm cho sự tồn tại của đồng tiên chung châu Âu, khối euro đang nỗ lực thuyết phục nhóm BRICS đầu tư vào quỹ FESF. Phải chăng đây là một giải pháp hữu hiệu giúp châu Âu thoát khỏi khủng hoảng? BRICS, đặc biệt là Trung Quốc, mặc cả những gì với Bruxelles và qua đó là với câu lạc bộ các nước công nghiệp phát triển?
Tại thượng đỉnh châu Âu ngày 26/10/11, 17 nước thành viên khối euro vào phút chót đã đạt được đồng thuận về kế hoạch chống khủng hoảng để bảo đảm cho sự tồn tại của khu vực đồng euro. Kế hoạch đó bao gồm bốn điểm chính : xóa 50 % nợ công của Hy Lạp, tăng vốn cho các ngân hàng châu Âu, nâng khả năng can thiệp của Quỹ Bình Ổn Tài Chính Châu Âu FESF lên thành 1.000 tỷ euro thay vì 440 tỷ như hiện nay. Hướng cuối cùng là gia tăng các biện pháp giới hạn bội chi ngân sách của các thành viên trong khối sử dụng đồng tiền chung châu Âu.
Châu Âu đã nâng khả năng can thiệp của quỹ FESF lên thành 1.000 tỷ euro với mục đích ngăn cản một số thành viên khác như Tây Ban Nha hay Ý cũng lâm vào cảnh khổ như Hy Lạp. Tuy nhiên, câu hỏi chính là Bruxelles tìm đâu ra 1.000 tỷ euro nói trên? Hiện tại Nhật đã tham gia hơn 2 tỷ euro vào quỹ FESF.
Ngay sau khi kết thúc hội nghị, người đứng đầu quỹ FESF Klaus Regling đã lập tức lên đường sang châu Á, với chặng đầu là Trung Quốc, để thuyết phục Bắc Kinh tích cực tham gia vào Quỹ Bình Ổn Tài Chính Châu Âu. Nhiệm vụ, từ nay đến cuối năm 2011, của ông Regling là nhằm vận động các nước đang trỗi dậy tiếp tay với châu Âu, để cứu lấy đồng euro đang trải qua cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất từ khi được lưu hành.
Trong số những chặng đường của cuộc chạy đua marathon đó, nhóm BRICS - Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Cả 5 nước này đều là thành viên của nhóm G20.
Brazil từ nhiều tháng qua đã kêu gọi các nước đang trỗi dậy nên yểm trợ châu Âu, nhưng sáng kiến đó đã không mấy được 4 thành viên còn lại trong nhóm BRICS mặn mà hưởng ứng.
Brazil và Nga đều tuyên bố sẵn sàng yểm trợ khối euro. Cố vấn của tổng thống Nga về vấn đề tài chính cho biết là Nga có thể tham gia tối đa là 10 tỷ đô la vào Quỹ Bình Ổn Tài Chính Châu Âu, nhưng chủ yếu là qua trung gian Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Về phần mình, Brazil chờ đợi châu Âu chi tiết hóa thêm kế hoạch chống khủng hoảng trước khi lấy quyết định.
Riêng đối với Trung Quốc, cuối tuần trước, trích dẫn một nguồn tin thông thạo, nhật báo tài chính Anh "Financial Times" cho biết, Trung Quốc có thể tung ra từ 50 đến 100 tỷ đô la để hỗ trợ khối euro. Cũng cần nói thêm là, hiện tại khoản dự trữ ngoại tệ của Bắc Kinh lên tới 3.200 tỷ đô la và Trung Quốc đã mua lại 500 tỷ đô la nợ công của các thành viên trong khu vực đồng euro.
Tuy nhiên 2 ngày trước thượng đỉnh G 20 tại thành phố Cannes, miền nam nước Pháp, Bắc Kinh chưa chính thức lên tiếng về khả năng đầu tư thêm vào quỹ FESF.
FESF, phương tiện để Trung Quốc mặc cả với Châu Âu
Về mặt chính thức, Trung Quốc đưa ra những lý do kỹ thuật để giải thích thái độ «thận trọng» của mình như : cũng cần có thêm thông tin về tính rủi ro của các khoản nợ công châu Âu, về thể thức phát hành công trái phiếu của FESF trước khi quyết định có sử dụng một phần gói bạc 3.200 đô la của mình để mua thêm nợ của các nước thành viên khối euro hay không.
Nhưng bên cạnh những lý do thuần túy về kinh tế và kỹ thuật nói trên, giới quan sát nhận thấy là Trung Quốc còn chần chừ để mặc cả với châu Âu.
Nếu như Bắc Kinh đồng ý dùng đồng tiền của mình để hỗ trợ khu vực đồng euro, thì mong muốn thứ nhất là Liên Hiệp Châu Âu nhanh chóng nhìn nhận Trung Quốc là một nền kinh tế thị trường. Trên nguyên tắc, một khi đã là thành viên của Tổ chức Thương Mại Thế giới, tối đã là 15 năm sau, tức đến năm 2016 Trung Quốc phải được cộng đồng quốc tế công nhận là một nền kinh tế thị trường.
Đây là điều mà đến nay, Bruxelles vẫn từ chối do Liên Hiệp Châu Âu luôn tố cáo Trung Quốc trợ giá cho các mặt hàng xuất khẩu. Một đòi hỏi khác của Bắc Kinh liên quan đến tỷ giá nhân dân tệ : châu Âu và Hoa Kỳ luôn đòi Trung Quốc tăng giá đơn vị tiền tệ, tạo luật chơi bình đẳng hơn trên bàn cờ thương mại quốc tế.
Trên địa hạt chính trị, Trung Quốc muốn Liên Hiệp Châu Âu chấm dứt chính sách cấm vận vũ khí nhắm vào Bắc Kinh, một trong những hậu quả còn lại của đợt thảm sát Thiên An Môn 1989. Nhìn xa hơn, Trung Quốc dường như chỉ muốn can thiệp vào hồ sơ châu Âu qua trung gian của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế để qua đó mở rộng vai trò của mình trên sân khấu chính trị, kinh tế và tài chính thế giới. Đây cũng là tính toán của các thành viên còn lại trong nhóm BRICS là Brazil hay Nga.
Trả lời RFI chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa trước hết giải thích, vì sao nhóm BRICS lại phải can thiệp để cứu khu vực euro:
Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi xin được nói về chuyện chủ quan của Âu châu là vụ khủng hoảng, trước khi phân tích yếu tố khách quan của các nước đang được Âu châu mời vào cấp cứu. Lý do là các vấn đề chủ quan ấy còn đè nặng lên nghị trình thượng đỉnh của nhóm G-20 tại thành phố Cannes của Pháp vào tuần này.
Các đợt thượng đỉnh tới tấp của lãnh đạo Âu châu đã đạt được một kết quả biểu kiến vào đêm 26 rạng ngày 27 tuần trước. Tôi nghĩ kết quả này chỉ là biểu kiến, vì không thể giải quyết nhiều vấn đề qua ba hướng khai thông chính yếu của họ là : 1) tái cấp vốn các ngân hàng Âu châu, 2) xoá nợ 50% cho Hy Lạp và 3) tăng vốn cho Quỹ Bình ổn Tài chính Âu châu, gọi là quỹ FESF.
Ngay sau đó, lãnh đạo Âu châu, từ Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đến Chủ tịch Quỹ Bình ổn FESF, nói đến việc vận động các quốc gia khác tăng vốn cho Quỹ này khoảng 1.000 tỷ Euro, hay 1.400 tỷ đô la. Các quốc gia được nhắc đến đầu tiên là Trung Quốc và Nhật Bản. Rồi người ta nói đến năm nước của nhóm BRICS, là Cộng hoà Liên bang Brazil, Liên bang Nga, Cộng hoà Ấn Độ, Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc và Cộng hoà Nam Phi.
Thật ra Âu châu đang thủ vai "người vái tứ phương", chứ không chỉ có năm nước đang tập trung một phần ba dân số toàn cầu, có sản lượng tổng cộng là 13 ngàn 600 tỷ đô la và nắm một khối dự trữ chừng 4.000 tỷ đô la. Chúng ta không quên Nhật Bản, Nam Hàn, Tiểu vương quốc Á Rập Thống nhất và cả xứ Na Uy tại Bắc Âu.
RFI: Nếu chỉ tập trung vào năm quốc gia kể trên thì Âu châu có hy vọng gì, việc cấp cứu sẽ thể hiện ra sao với điều kiện gì ?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Các nước trong nhóm BRICS sẽ thấy tự ái được xoa dịu theo một thành ngữ của Pháp - "báo thù là một món nên ăn nguội"! Nhưng ngoại trừ Liên bang Nga, chưa chắc bốn nước kia đã chịu chi tiền. Sau đây là các lý do.
Thứ nhất, Âu châu giải quyết chuyện vay mượn và nguy cơ vỡ nợ của một số thành viên bằng cách đi vay tiền cho quỹ cứu trợ FESF. Trong khi ấy, hai cái vế còn lại là cấp vốn cho ngân hàng và xoá nợ cho Hy Lạp chưa chắc đã đạt kết quả! Các nước còn lại ở miền Nam như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và cả Ý có thể bị chấn động, và chuyện ấy sẽ lại rơi vào Quỹ FESF, với mâu thuẫn về chức năng sẽ xuất phát từ Ngân hàng Trung ương Âu châu là BCE.
Thứ hai, trong giải pháp đề nghị hôm 27, không quốc gia Âu châu nào lại chịu chi thêm tiền cho Quỹ FESF mà lại muốn tìm nguồn vay ở bên ngoài. Điều ấy khiến các nước có tiền sẽ phải ngần ngại là sẽ bị mất vốn như nhiều quốc gia hay ngân hàng tài trợ đã bị với Hy Lạp.
Thứ ba, dù có thuộc nhóm tân hưng, các quốc gia này thật ra chưa hẳn là thịnh vượng như Nhật hay Hoa Kỳ. Trung Quốc đang sợ lạm phát và nạn bể bóng địa ốc và khủng hoảng ngân hàng đi cùng suy trầm sản xuất. Brazil đang ngập đầu với những tai tiếng về tham nhũng, Ấn Độ chưa biết xoay trở ra sao với nguy cơ lạm phát và tham nhũng, còn Nam Phi thì vẫn chỉ là một nước quá nghèo, chưa đáng kể. Đó là về hoàn cảnh khách quan của các nước đang được mời chào này.
RFI: Nhưng xin hỏi anh ngay một câu, nếu kinh tế Âu châu sa sút thì các nước dó cũng bị vạ lây và khi cho các quỹ đầu tư châm tiền mua công khố phiếu của Quỹ FESF chẳng hạn thì họ cũng có mối lợi về kinh tế và sau đó còn có thêm cái thế về ngoại giao chứ? Anh có nhắc đến trường hợp Liên bang Nga là một, dù sao xứ này có dự trữ ngoại tệ là 500 tỷ đô la nên liệu Nga có thể làm một cử chỉ đẹp hay không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ rằng có và đấy là cử chi tượng trưng của Nga nhắm vào mục tiêu tăng cường quan hệ chiến lược với Đức, nay đang ngần ngại chi thêm tiền cho vụ cấp cứu.
Nói về thể thức, thật ra, các nước được mời chào còn có nhiều ngả khác hơn là trích xuất dự trữ ngoại tệ mua trái phiếu của Quỹ Bình ổn FESF.
Họ có thể cho phép công ty đầu tư quốc doanh bỏ tiền đầu tư vào trái phiếu Âu châu miễn là phải an toàn là điều chính quyền Na Uy nêu ra. Xưa kia, các ngân hàng có thể đầu tư vào công khố phiếu Âu châu, vì tin rằng khí cụ này được các nước Âu châu đảm bảo 100%, mức đảm bảo ngày nay chỉ còn là 25% nên ai cũng ngại. Các công ty đầu tư này cũng có thể góp phần tăng vốn như một nghiệp vụ đầu tư vào các ngân hàng Âu châu, nhưng mức lời và sự an toàn vẫn là yếu tố then chốt, chứ họ không bị gọt tóc và mất vốn như các ngân hàng và giới đầu tư Âu châu đã bị.
Họ cũng có thể dùng quyền trích xuất sẵn có trong Quỹ Tiền tệ Quốc tế FMI để cấp cứu Âu châu là điều nước Anh đề nghị và Liên bang Nga vừa tuyên bố là đã sẵn sàng với ngân khoản 10 tỷ đô la, một giọt nước so với nhu cầu là 1.400 tỷ, và với điều kiện là phải cải tổ cơ chế của Quỹ Tiền tệ. Trung Quốc có thể nhân đó mà đòi gia tăng phần đóng góp của mình cho Quỹ Tiền tệ để mở rộng ảnh hưởng về chính trị. Các nước kia cũng có thể tính như vậy nên sẽ đụng vào phần hùn - tức là khu vực ảnh hưởng của Hoa Kỳ!
Hôm 27 vừa qua, Tổng thống Barack Obama có bài xã luận trên nhật báo chuyên đề tài chính của Anh là tờ Financial Times về nhu cầu ngăn chặn hỏa hoạn tài chính tại Âu châu lan vào Mỹ. Vài ngày sau, hôm Thứ Hai 31, một tập đoàn kinh doanh Mỹ là MF Global làm thủ tục pháp lý để khỏi bị khách nợ lột áo vì bị lỗ lã quá nặng tại Âu châu. MF Global là do một doanh gia đã từng điều khiển tập đoàn tài chính Goldman Sachs rồi làm Nghị sĩ và Thống đốc New Jersey của đảng Dân Chủ. Cho nên vụ sụp đổ đứng hàng thứ bảy về tài sản của một đại gia Mỹ, vì tai họa xuất phát từ Âu châu, là một điềm gở cho vụ vận động châm tiền cứu trợ này !
Việc mời các nền kinh tế đang trỗi dậy tham gia vào Quỹ Bình Ổn Tài Chính Châu Âu không giúp khối euro giải quyết khủng hoảng một cách triệt để. Bên cạnh các hệ thống tài chính khối này còn cần xây dựng một hệ thống chính trị xuyên suốt để điều tiết các hoạt động kinh tế. Chắc chắn một điều là tại thượng đỉnh G 20 trong hai ngày nữa, lãnh đạo Trung Quốc sẽ đến Cannes trong thế của kẻ mạnh. Bruxelles sẽ kín đáo khi đề cập đến hồ sơ tỷ giá nhân dân tệ.
Nguyễn Xuân Nghĩa, Thanh Hà RFI Khi Âu Châu không tự cứu, các nước tân hưng sẽ ngần ngại, trừ phi có ý riêng...
Để bảo đảm cho sự tồn tại của đồng tiên chung châu Âu, khối euro đang nỗ lực thuyết phục nhóm BRICS đầu tư vào quỹ FESF. Phải chăng đây là một giải pháp hữu hiệu giúp châu Âu thoát khỏi khủng hoảng? BRICS, đặc biệt là Trung Quốc, mặc cả những gì với Bruxelles và qua đó là với câu lạc bộ các nước công nghiệp phát triển?
Tại thượng đỉnh châu Âu ngày 26/10/11, 17 nước thành viên khối euro vào phút chót đã đạt được đồng thuận về kế hoạch chống khủng hoảng để bảo đảm cho sự tồn tại của khu vực đồng euro. Kế hoạch đó bao gồm bốn điểm chính : xóa 50 % nợ công của Hy Lạp, tăng vốn cho các ngân hàng châu Âu, nâng khả năng can thiệp của Quỹ Bình Ổn Tài Chính Châu Âu FESF lên thành 1.000 tỷ euro thay vì 440 tỷ như hiện nay. Hướng cuối cùng là gia tăng các biện pháp giới hạn bội chi ngân sách của các thành viên trong khối sử dụng đồng tiền chung châu Âu.
Châu Âu đã nâng khả năng can thiệp của quỹ FESF lên thành 1.000 tỷ euro với mục đích ngăn cản một số thành viên khác như Tây Ban Nha hay Ý cũng lâm vào cảnh khổ như Hy Lạp. Tuy nhiên, câu hỏi chính là Bruxelles tìm đâu ra 1.000 tỷ euro nói trên? Hiện tại Nhật đã tham gia hơn 2 tỷ euro vào quỹ FESF.
Ngay sau khi kết thúc hội nghị, người đứng đầu quỹ FESF Klaus Regling đã lập tức lên đường sang châu Á, với chặng đầu là Trung Quốc, để thuyết phục Bắc Kinh tích cực tham gia vào Quỹ Bình Ổn Tài Chính Châu Âu. Nhiệm vụ, từ nay đến cuối năm 2011, của ông Regling là nhằm vận động các nước đang trỗi dậy tiếp tay với châu Âu, để cứu lấy đồng euro đang trải qua cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất từ khi được lưu hành.
Trong số những chặng đường của cuộc chạy đua marathon đó, nhóm BRICS - Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Cả 5 nước này đều là thành viên của nhóm G20.
Brazil từ nhiều tháng qua đã kêu gọi các nước đang trỗi dậy nên yểm trợ châu Âu, nhưng sáng kiến đó đã không mấy được 4 thành viên còn lại trong nhóm BRICS mặn mà hưởng ứng.
Brazil và Nga đều tuyên bố sẵn sàng yểm trợ khối euro. Cố vấn của tổng thống Nga về vấn đề tài chính cho biết là Nga có thể tham gia tối đa là 10 tỷ đô la vào Quỹ Bình Ổn Tài Chính Châu Âu, nhưng chủ yếu là qua trung gian Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Về phần mình, Brazil chờ đợi châu Âu chi tiết hóa thêm kế hoạch chống khủng hoảng trước khi lấy quyết định.
Riêng đối với Trung Quốc, cuối tuần trước, trích dẫn một nguồn tin thông thạo, nhật báo tài chính Anh "Financial Times" cho biết, Trung Quốc có thể tung ra từ 50 đến 100 tỷ đô la để hỗ trợ khối euro. Cũng cần nói thêm là, hiện tại khoản dự trữ ngoại tệ của Bắc Kinh lên tới 3.200 tỷ đô la và Trung Quốc đã mua lại 500 tỷ đô la nợ công của các thành viên trong khu vực đồng euro.
Tuy nhiên 2 ngày trước thượng đỉnh G 20 tại thành phố Cannes, miền nam nước Pháp, Bắc Kinh chưa chính thức lên tiếng về khả năng đầu tư thêm vào quỹ FESF.
FESF, phương tiện để Trung Quốc mặc cả với Châu Âu
Về mặt chính thức, Trung Quốc đưa ra những lý do kỹ thuật để giải thích thái độ «thận trọng» của mình như : cũng cần có thêm thông tin về tính rủi ro của các khoản nợ công châu Âu, về thể thức phát hành công trái phiếu của FESF trước khi quyết định có sử dụng một phần gói bạc 3.200 đô la của mình để mua thêm nợ của các nước thành viên khối euro hay không.
Nhưng bên cạnh những lý do thuần túy về kinh tế và kỹ thuật nói trên, giới quan sát nhận thấy là Trung Quốc còn chần chừ để mặc cả với châu Âu.
Nếu như Bắc Kinh đồng ý dùng đồng tiền của mình để hỗ trợ khu vực đồng euro, thì mong muốn thứ nhất là Liên Hiệp Châu Âu nhanh chóng nhìn nhận Trung Quốc là một nền kinh tế thị trường. Trên nguyên tắc, một khi đã là thành viên của Tổ chức Thương Mại Thế giới, tối đã là 15 năm sau, tức đến năm 2016 Trung Quốc phải được cộng đồng quốc tế công nhận là một nền kinh tế thị trường.
Đây là điều mà đến nay, Bruxelles vẫn từ chối do Liên Hiệp Châu Âu luôn tố cáo Trung Quốc trợ giá cho các mặt hàng xuất khẩu. Một đòi hỏi khác của Bắc Kinh liên quan đến tỷ giá nhân dân tệ : châu Âu và Hoa Kỳ luôn đòi Trung Quốc tăng giá đơn vị tiền tệ, tạo luật chơi bình đẳng hơn trên bàn cờ thương mại quốc tế.
Trên địa hạt chính trị, Trung Quốc muốn Liên Hiệp Châu Âu chấm dứt chính sách cấm vận vũ khí nhắm vào Bắc Kinh, một trong những hậu quả còn lại của đợt thảm sát Thiên An Môn 1989. Nhìn xa hơn, Trung Quốc dường như chỉ muốn can thiệp vào hồ sơ châu Âu qua trung gian của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế để qua đó mở rộng vai trò của mình trên sân khấu chính trị, kinh tế và tài chính thế giới. Đây cũng là tính toán của các thành viên còn lại trong nhóm BRICS là Brazil hay Nga.
Trả lời RFI chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa trước hết giải thích, vì sao nhóm BRICS lại phải can thiệp để cứu khu vực euro:
Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi xin được nói về chuyện chủ quan của Âu châu là vụ khủng hoảng, trước khi phân tích yếu tố khách quan của các nước đang được Âu châu mời vào cấp cứu. Lý do là các vấn đề chủ quan ấy còn đè nặng lên nghị trình thượng đỉnh của nhóm G-20 tại thành phố Cannes của Pháp vào tuần này.
Các đợt thượng đỉnh tới tấp của lãnh đạo Âu châu đã đạt được một kết quả biểu kiến vào đêm 26 rạng ngày 27 tuần trước. Tôi nghĩ kết quả này chỉ là biểu kiến, vì không thể giải quyết nhiều vấn đề qua ba hướng khai thông chính yếu của họ là : 1) tái cấp vốn các ngân hàng Âu châu, 2) xoá nợ 50% cho Hy Lạp và 3) tăng vốn cho Quỹ Bình ổn Tài chính Âu châu, gọi là quỹ FESF.
Ngay sau đó, lãnh đạo Âu châu, từ Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đến Chủ tịch Quỹ Bình ổn FESF, nói đến việc vận động các quốc gia khác tăng vốn cho Quỹ này khoảng 1.000 tỷ Euro, hay 1.400 tỷ đô la. Các quốc gia được nhắc đến đầu tiên là Trung Quốc và Nhật Bản. Rồi người ta nói đến năm nước của nhóm BRICS, là Cộng hoà Liên bang Brazil, Liên bang Nga, Cộng hoà Ấn Độ, Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc và Cộng hoà Nam Phi.
Thật ra Âu châu đang thủ vai "người vái tứ phương", chứ không chỉ có năm nước đang tập trung một phần ba dân số toàn cầu, có sản lượng tổng cộng là 13 ngàn 600 tỷ đô la và nắm một khối dự trữ chừng 4.000 tỷ đô la. Chúng ta không quên Nhật Bản, Nam Hàn, Tiểu vương quốc Á Rập Thống nhất và cả xứ Na Uy tại Bắc Âu.
RFI: Nếu chỉ tập trung vào năm quốc gia kể trên thì Âu châu có hy vọng gì, việc cấp cứu sẽ thể hiện ra sao với điều kiện gì ?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Các nước trong nhóm BRICS sẽ thấy tự ái được xoa dịu theo một thành ngữ của Pháp - "báo thù là một món nên ăn nguội"! Nhưng ngoại trừ Liên bang Nga, chưa chắc bốn nước kia đã chịu chi tiền. Sau đây là các lý do.
Thứ nhất, Âu châu giải quyết chuyện vay mượn và nguy cơ vỡ nợ của một số thành viên bằng cách đi vay tiền cho quỹ cứu trợ FESF. Trong khi ấy, hai cái vế còn lại là cấp vốn cho ngân hàng và xoá nợ cho Hy Lạp chưa chắc đã đạt kết quả! Các nước còn lại ở miền Nam như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và cả Ý có thể bị chấn động, và chuyện ấy sẽ lại rơi vào Quỹ FESF, với mâu thuẫn về chức năng sẽ xuất phát từ Ngân hàng Trung ương Âu châu là BCE.
Thứ hai, trong giải pháp đề nghị hôm 27, không quốc gia Âu châu nào lại chịu chi thêm tiền cho Quỹ FESF mà lại muốn tìm nguồn vay ở bên ngoài. Điều ấy khiến các nước có tiền sẽ phải ngần ngại là sẽ bị mất vốn như nhiều quốc gia hay ngân hàng tài trợ đã bị với Hy Lạp.
Thứ ba, dù có thuộc nhóm tân hưng, các quốc gia này thật ra chưa hẳn là thịnh vượng như Nhật hay Hoa Kỳ. Trung Quốc đang sợ lạm phát và nạn bể bóng địa ốc và khủng hoảng ngân hàng đi cùng suy trầm sản xuất. Brazil đang ngập đầu với những tai tiếng về tham nhũng, Ấn Độ chưa biết xoay trở ra sao với nguy cơ lạm phát và tham nhũng, còn Nam Phi thì vẫn chỉ là một nước quá nghèo, chưa đáng kể. Đó là về hoàn cảnh khách quan của các nước đang được mời chào này.
RFI: Nhưng xin hỏi anh ngay một câu, nếu kinh tế Âu châu sa sút thì các nước dó cũng bị vạ lây và khi cho các quỹ đầu tư châm tiền mua công khố phiếu của Quỹ FESF chẳng hạn thì họ cũng có mối lợi về kinh tế và sau đó còn có thêm cái thế về ngoại giao chứ? Anh có nhắc đến trường hợp Liên bang Nga là một, dù sao xứ này có dự trữ ngoại tệ là 500 tỷ đô la nên liệu Nga có thể làm một cử chỉ đẹp hay không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ rằng có và đấy là cử chi tượng trưng của Nga nhắm vào mục tiêu tăng cường quan hệ chiến lược với Đức, nay đang ngần ngại chi thêm tiền cho vụ cấp cứu.
Nói về thể thức, thật ra, các nước được mời chào còn có nhiều ngả khác hơn là trích xuất dự trữ ngoại tệ mua trái phiếu của Quỹ Bình ổn FESF.
Họ có thể cho phép công ty đầu tư quốc doanh bỏ tiền đầu tư vào trái phiếu Âu châu miễn là phải an toàn là điều chính quyền Na Uy nêu ra. Xưa kia, các ngân hàng có thể đầu tư vào công khố phiếu Âu châu, vì tin rằng khí cụ này được các nước Âu châu đảm bảo 100%, mức đảm bảo ngày nay chỉ còn là 25% nên ai cũng ngại. Các công ty đầu tư này cũng có thể góp phần tăng vốn như một nghiệp vụ đầu tư vào các ngân hàng Âu châu, nhưng mức lời và sự an toàn vẫn là yếu tố then chốt, chứ họ không bị gọt tóc và mất vốn như các ngân hàng và giới đầu tư Âu châu đã bị.
Họ cũng có thể dùng quyền trích xuất sẵn có trong Quỹ Tiền tệ Quốc tế FMI để cấp cứu Âu châu là điều nước Anh đề nghị và Liên bang Nga vừa tuyên bố là đã sẵn sàng với ngân khoản 10 tỷ đô la, một giọt nước so với nhu cầu là 1.400 tỷ, và với điều kiện là phải cải tổ cơ chế của Quỹ Tiền tệ. Trung Quốc có thể nhân đó mà đòi gia tăng phần đóng góp của mình cho Quỹ Tiền tệ để mở rộng ảnh hưởng về chính trị. Các nước kia cũng có thể tính như vậy nên sẽ đụng vào phần hùn - tức là khu vực ảnh hưởng của Hoa Kỳ!
Hôm 27 vừa qua, Tổng thống Barack Obama có bài xã luận trên nhật báo chuyên đề tài chính của Anh là tờ Financial Times về nhu cầu ngăn chặn hỏa hoạn tài chính tại Âu châu lan vào Mỹ. Vài ngày sau, hôm Thứ Hai 31, một tập đoàn kinh doanh Mỹ là MF Global làm thủ tục pháp lý để khỏi bị khách nợ lột áo vì bị lỗ lã quá nặng tại Âu châu. MF Global là do một doanh gia đã từng điều khiển tập đoàn tài chính Goldman Sachs rồi làm Nghị sĩ và Thống đốc New Jersey của đảng Dân Chủ. Cho nên vụ sụp đổ đứng hàng thứ bảy về tài sản của một đại gia Mỹ, vì tai họa xuất phát từ Âu châu, là một điềm gở cho vụ vận động châm tiền cứu trợ này !
Việc mời các nền kinh tế đang trỗi dậy tham gia vào Quỹ Bình Ổn Tài Chính Châu Âu không giúp khối euro giải quyết khủng hoảng một cách triệt để. Bên cạnh các hệ thống tài chính khối này còn cần xây dựng một hệ thống chính trị xuyên suốt để điều tiết các hoạt động kinh tế. Chắc chắn một điều là tại thượng đỉnh G 20 trong hai ngày nữa, lãnh đạo Trung Quốc sẽ đến Cannes trong thế của kẻ mạnh. Bruxelles sẽ kín đáo khi đề cập đến hồ sơ tỷ giá nhân dân tệ.
Trung Đông đang rơi vào chiến tranh Lạnh
Trung Đông đang trải qua một trong những thời khắc “chuyển mình” dữ dội nhất. Sau "mùa xuân Arab", sự định hình của chiến tranh Lạnh Iran - Saudi đang đặt ra nhiều mối đe dọa hơn cho khu vực vốn đầy bất ổn này.
Đối đầu giữa người Arab Saudi với người Iran hay xung đột giữa người Arab với người Israel là những vấn đề tồn đọng từ lâu ở khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, căng thẳng Arab Saudi – Iran dường như đang bị đẩy lên cao sau khi Mỹ mạnh mẽ cáo buộc Iran ám sát Đại sứ Arab Saudi tại Washington.
Liên quan đến sự việc này, Mỹ báo cáo lên Liên Hiệp Quốc tố cáo các mật vụ Iran ám sát ông Adel Al-Jubeir, Đại sứ Arab Saudi ở Washington. Trong khi đó, Quốc hội Mỹ sốt sắng triệu tập một cuộc điều trần về Iran mà ở đó, nhiều nghị sĩ kêu gọi Chính phủ Obama cứng rắn hơn với Iran.
Động thái này của Mỹ làm bùng lên cẳng thẳng vốn vẫn luôn âm ỉ cháy giữa người Iran và người Arab Saudi; và sau tất cả, một cuộc chiến có thể bùng lên.
Thực tế là, vài năm trở lại đây, người Arab Saudi bắt đầu quan ngại về sự gia tăng ảnh hưởng của Iran hay người Shiite ở khắp thế giới Arab từ việc tìm mọi cách thiết lập ảnh hưởng ở Iraq cho tới việc mở rộng quan hệ chiến lược với Syria và Lebanon thông qua Hezbollah.
Người Arab Saudi mạnh mẽ cáo buộc Iran đang đe dọa, làm suy yếu quyền lực của cộng đồng người Sunni trong khu vực, kích động các cuộc nổi loạn ở Bahrain. Theo Arab Saudi, Iran ủng hộ và kích động các cuộc biểu tình của người Shiite với mục đích được phân chia quyền lực nhiều hơn, thậm chí, làm suy giảm hay tước đoạt quyền lực của người Sunni ở Bahrain.
Bất mãn trước động thái của Iran, người Arab Saudi thề phá hoại kế hoạch này. Bằng việc hỗ trợ về mặt quân sự lẫn chính trị, người Arab Saudi đang nỗ lực cản trở tham vọng gia tăng ảnh hưởng của Iran ở Lebanon, Yemen, Palestine và Iraq.
“Iran là mối đe dọa trực tiếp không chỉ đối với Arab Saudi mà còn đối với cộng đồng người Sunni trong khu vực. Người Iran đã bắt đầu xâm nhập Iraq, Syria, Bahrain và Yemen. Nếu Washington không thể bảo vệ lợi ích của chúng tôi trong khu vực, lúc đó, chúng tôi phải tự tìm cách bảo vệ mình”, một quan chức Arab Saudi nhấn mạnh trên The Wall Street Journal.
Xem Iran là đe dọa cho các lợi ích quốc gia, người Arab Saudi chuyển đổi chính sách đối với Iran. Từ chỗ quan ngại chính sách gia tăng ảnh hưởng khu vực, người Arab Saudi bắt đầu tích cực cản trở chiến lược quân sự lẫn chính trị của Iran trong khu vực. Điều này phản ánh sự phức tạp của các mối quan ngại, đối đầu hay đối kháng giữa hai bên.
Trung tâm của các căng thẳng và đối kháng giữa hai bên xuất phát từ sự đối đầu giữa người Sunni và người Shiite để giành quyền lãnh đạo khu vực. Cuộc đối đầu này càng trở nên gay gắt hơn khi cuộc chiến tranh Iraq tạo điều kiện cho người Iran thiết lập ảnh hưởng ở Iraq.
Ngoài ra, căng thẳng truyền thống giữa người Arab Saudi và người Iran mang tính chất dân tộc nhiều hơn là tôn giáo cũng là một trong những nguyên nhân chi phối đối đầu Iran – Arab Saudi.
Iran ủng hộ mạnh mẽ cho các phong trào của người Shiite, đặt ra nhiều khó khăn cho trật tự chính trị mà người Sunni chiếm đa số. Trong khi đó, Arab Saudi Arabia hiện vẫn trung thành với chủ trương là “người bảo hộ” cho trật tự do người Sunni lãnh đạo.
Ngoài ra, mối căng thẳng giữa Riyadh và Tehran còn xuất phát từ sự bất đồng quan điểm liên quan đến vai trò của Mỹ trong khi vực. Trong khi Iran “ghét cay ghét đắng” việc Mỹ áp đặt ảnh hưởng trong khu vực thì Arab Arabia lại nồng nhiệt chào đón cường quốc số 1 thế giới và ủng hộ chiến lược “gần gũi” với Washington.
Từ những quan ngại, căng thẳng và đối đầu trên, một cuộc chiến tranh lạnh trong phạm vi khu vực đang hình thành, đặt ra nhiều mối đe dọa hơn cho Trung Đông, một khu vực vốn đầy bất ổn.
Lê Dung
(Theo The Daily Star)
Trung Đông đang trải qua một trong những thời khắc “chuyển mình” dữ dội nhất. Sau "mùa xuân Arab", sự định hình của chiến tranh Lạnh Iran - Saudi đang đặt ra nhiều mối đe dọa hơn cho khu vực vốn đầy bất ổn này.
Đối đầu giữa người Arab Saudi với người Iran hay xung đột giữa người Arab với người Israel là những vấn đề tồn đọng từ lâu ở khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, căng thẳng Arab Saudi – Iran dường như đang bị đẩy lên cao sau khi Mỹ mạnh mẽ cáo buộc Iran ám sát Đại sứ Arab Saudi tại Washington.
Liên quan đến sự việc này, Mỹ báo cáo lên Liên Hiệp Quốc tố cáo các mật vụ Iran ám sát ông Adel Al-Jubeir, Đại sứ Arab Saudi ở Washington. Trong khi đó, Quốc hội Mỹ sốt sắng triệu tập một cuộc điều trần về Iran mà ở đó, nhiều nghị sĩ kêu gọi Chính phủ Obama cứng rắn hơn với Iran.
Động thái này của Mỹ làm bùng lên cẳng thẳng vốn vẫn luôn âm ỉ cháy giữa người Iran và người Arab Saudi; và sau tất cả, một cuộc chiến có thể bùng lên.
Thực tế là, vài năm trở lại đây, người Arab Saudi bắt đầu quan ngại về sự gia tăng ảnh hưởng của Iran hay người Shiite ở khắp thế giới Arab từ việc tìm mọi cách thiết lập ảnh hưởng ở Iraq cho tới việc mở rộng quan hệ chiến lược với Syria và Lebanon thông qua Hezbollah.
Người Arab Saudi mạnh mẽ cáo buộc Iran đang đe dọa, làm suy yếu quyền lực của cộng đồng người Sunni trong khu vực, kích động các cuộc nổi loạn ở Bahrain. Theo Arab Saudi, Iran ủng hộ và kích động các cuộc biểu tình của người Shiite với mục đích được phân chia quyền lực nhiều hơn, thậm chí, làm suy giảm hay tước đoạt quyền lực của người Sunni ở Bahrain.
Bất mãn trước động thái của Iran, người Arab Saudi thề phá hoại kế hoạch này. Bằng việc hỗ trợ về mặt quân sự lẫn chính trị, người Arab Saudi đang nỗ lực cản trở tham vọng gia tăng ảnh hưởng của Iran ở Lebanon, Yemen, Palestine và Iraq.
“Iran là mối đe dọa trực tiếp không chỉ đối với Arab Saudi mà còn đối với cộng đồng người Sunni trong khu vực. Người Iran đã bắt đầu xâm nhập Iraq, Syria, Bahrain và Yemen. Nếu Washington không thể bảo vệ lợi ích của chúng tôi trong khu vực, lúc đó, chúng tôi phải tự tìm cách bảo vệ mình”, một quan chức Arab Saudi nhấn mạnh trên The Wall Street Journal.
Xem Iran là đe dọa cho các lợi ích quốc gia, người Arab Saudi chuyển đổi chính sách đối với Iran. Từ chỗ quan ngại chính sách gia tăng ảnh hưởng khu vực, người Arab Saudi bắt đầu tích cực cản trở chiến lược quân sự lẫn chính trị của Iran trong khu vực. Điều này phản ánh sự phức tạp của các mối quan ngại, đối đầu hay đối kháng giữa hai bên.
Trung tâm của các căng thẳng và đối kháng giữa hai bên xuất phát từ sự đối đầu giữa người Sunni và người Shiite để giành quyền lãnh đạo khu vực. Cuộc đối đầu này càng trở nên gay gắt hơn khi cuộc chiến tranh Iraq tạo điều kiện cho người Iran thiết lập ảnh hưởng ở Iraq.
Ngoài ra, căng thẳng truyền thống giữa người Arab Saudi và người Iran mang tính chất dân tộc nhiều hơn là tôn giáo cũng là một trong những nguyên nhân chi phối đối đầu Iran – Arab Saudi.
Iran ủng hộ mạnh mẽ cho các phong trào của người Shiite, đặt ra nhiều khó khăn cho trật tự chính trị mà người Sunni chiếm đa số. Trong khi đó, Arab Saudi Arabia hiện vẫn trung thành với chủ trương là “người bảo hộ” cho trật tự do người Sunni lãnh đạo.
Ngoài ra, mối căng thẳng giữa Riyadh và Tehran còn xuất phát từ sự bất đồng quan điểm liên quan đến vai trò của Mỹ trong khi vực. Trong khi Iran “ghét cay ghét đắng” việc Mỹ áp đặt ảnh hưởng trong khu vực thì Arab Arabia lại nồng nhiệt chào đón cường quốc số 1 thế giới và ủng hộ chiến lược “gần gũi” với Washington.
Từ những quan ngại, căng thẳng và đối đầu trên, một cuộc chiến tranh lạnh trong phạm vi khu vực đang hình thành, đặt ra nhiều mối đe dọa hơn cho Trung Đông, một khu vực vốn đầy bất ổn.
Lê Dung
(Theo The Daily Star)
MỸ MUỐN THOÁT KHỎI SUY THOÁI KINH TẾ
Á CHÂU LÀ MỘT PHẦN CỦA CÂU TRẢ LỜI
Tổng thống Hoakỳ Barack Obama lên đường đến Hawaii vào ngày 10/11/2011, để chủ trì hội nghị thượng đỉnh của Diễn Đàn Hợp Tác Á Châu Thái Bình Dương – APEC. Theo thông tín viên đài VOA Dan Robinson thì: “Ông Obama đem theo những lời cam kết về kinh tế và an ninh trong chuyến đi 9 ngày, trong đó ông ghé Australia và dự cuộc họp thượng đỉnh Đông Á ở Bali Indonesia”. “Cuộc họp thượng đỉnh lần này diễn ra vào lúc tổng thống Barack Obama tiếp tục các nỗ lực thúc đẩy nền kinh tế Hoakỳ thoát ra khỏi cuộc suy thoái, và nhấn mạnh đến tầm quan trọng của mậu dịch tự do, trong việc giúp tạo dựng công ăn việc làm, và thách thức cạnh tranh từ phía các nền kinh tế Á châu, nhất là Trungquốc”. Ông Ernest Bower thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế và Sách Lược Hoakỳ cho hay: “Ông Obama cũng gửi đi một thông điệp cho người dân Mỹ trong nước… Tổng thống cần phải bênh vực cho lập trường rằng, nếu chúng ta muốn thoát ra khỏi cuộc suy thoái kinh tế, thì Áchâu là một phần của câu trả lời, và trở lại chiếm ưu thế về mậu dịch sẽ dứt khoát là điều chủ yếu”.
Trước cuộc họp APEC lần này, giới chức Hoakỳ như bộ trưởng quốc phòng Mỹ Leon Panetta, thứ trưởng ngoại giao William Burns đã đi thăm khu vực và đưa ra những lời cam kết về sự hiện diện quân sự và tự do mậu dịch ở trong vùng, dù ngân sách của Mỹ có cắt giảm ra sao, thì sức mạnh quân sự của Mỹ tại Áchâu vẫn không thay đổi. Thứ trưởng ngoại giao Burns nhận định: “Trong một mối quan hệ phức tạp như thế này, thì xung đột và hợp tác đều là những điều không tránh khỏi. Vì vai trò của Trungquốc trong thế giới gia tăng, giữ cho mối quan hệ đi theo hướng xây dựng sẽ là một thách thức quyết định cho cả hai bên”. Ông Bower giải thích: Sự hiện diện về an ninh của Hoakỳ rất được hoan nghênh để tạo ra thế quân bình cho điều mà nhiều người nhận thấy là thái độ hung hăng của Trungquốc hồi gần đây, nhất là trong vùng biển Nam Trungquốc - biển Đông Việtnam- và quần đảo Senkaku, hay là Điếu Ngư Đài ở phiá Bắc”.
Rõ ràng là Trungcộng vừa là Đối Tác Kinh Tế vừa là Đối Trọng An Ninh với Hoakỳ. Dù cho Trungcộng đang là chủ nợ lớn nhất của Hoakỳ, nhưng Tầu cầm tiền đôla của Mỹ mà cho Mỹ vay thì có khác gì ‘chở củi về rừng’. Quyền tăng hay giảm giá đôla đều nằm trong tay Mỹ. Điều quan trọng là vốn đầu tư của Mỹ và ảnh hưởng của Mỹ đối với các công ty đa quốc gia đang đầu tư tại Hoalục luôn luôn có tính quyết định. Nhất là thị trường Mỹ, nơi tiêu thụ chính đối với các sản phẩm của Tầu. Vì vậy mà về mặt đối tác kinh tế, Mỹ có nhiều ưu thế hơn hẳn Tầu. Còn về an ninh quốc phòng thì viên tướng tổng tham mưu trưởng quân đội Trungcộng Trần Bỉnh Đức đã phải thừa nhận: “Một khoảng cách 20 năm đang hiện hữu giữa quân đội Hoakỳ và quân đội Trungquốc”. “Trungquốc không có khả năng để thách thức Hoakỳ”. Có nghĩa là 20 năm nữa quân đội Trungcộng mới tiến bằng quân đội Hoakỳ hôm nay, Nhưng quân đội Hoakỳ đâu có đứng chờ Trungcộng. Họ sẽ đi tới, và chẳng bao giờ Trungcộng bắt kịp Hoakỳ. Vậy mà Hoakỳ vẫn phải giữ tư thế Đối Trọng An Ninh với Trungcộng là vì các nước láng giềng của Trungcộng ở vùng Đông Nam Á còn quá yếu so với Trungcộng cả về kinh tế lẫn quân sự, dễ cho Trungcộng thực hiện âm mưu bành trướng.
Không những Mỹ luôn luôn nói và chứng tỏ sẽ giữ vững tư thế bảo vệ Áchâu để thực hiện vai trò lãnh đạo thế giới, mà còn tạo điều kiện cho Ấn, Nhật, Úc cùng với Mỹ hình thành một Vòng Cung Chiến Lược Dân Chủ, tiến vào Biển Đông, để giúp đỡ các nước Đông Nam Á đứng vững trong Mặt Trận Ngăn Bành Trướng Bắckinh, phát huy thế mạnh của Kinh Tế Tự Do và sớm Dân Chủ Hóa chế độ, để Asean trở thành một khối quốc gia ngang tầm với các cường quốc thế giới. Bước đầu tiên là vô hiệu hóa chủ trương của Trungcộng tự nhận chủ quyền 80% diện tích Biển Đông, qua hình vẽ ‘đường lưỡi bò’ của người Tầu. Bằng giải pháp “Thương Thảo Đa Phương”, dựa trên Công Ước về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc 1982. Rồi với những cuộc hội thảo quốc tế để chỉ ra rằng: Theo Công Ước về Luật Biển LHQ, thì dù 2 quần đảo Hoàngsa, Trườngsa thuộc chủ quyền của bất cứ nước nào, thì cũng không có “Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý” Đồng thời tại nơi đây luôn luôn đưa ra những lời cảnh báo về sự hung hăng đe dọa của Bắckinh. Đẩy Trungcộng vào thế bị cô lập đối với dư luận quốc tế. Xem ra biện pháp này đã đưa lại kết quả cụ thể, là các nước trong vùng Đông Nam Á xích lại gần nhau hơn. Chính quyền Miến Điện đã trút bỏ được chiếc áo nhà binh, quay lưng lại với Trungcộng, bắt tay với Ấnđộ, và tỏ ra thân thiện với Tây Phương. Khởi sự thả tù chính trị. Hợp tác với lực lượng Đối Lập của lãnh tụ dân chủ Aung San Suu Kyi nhằm đẩy mạnh công cuộc Dân Chủ Hoá nước Miếnđiện. Trợ lý ngoại trưởng Hoakỳ về Dân Chủ và Nhân Quyền tuyên bố: “Hoakỳ muốn thừa nhận rằng, những gì đang làm tại Miếnđiện mang tính tích cực”.
Riêng Việtnam thì đảng Cộngsản Việtnam, tự nhận mình là lãnh đạo nhà nước, nhưng Tổng Bí Thư Đảng lại cứ chui đầu vào làm đầy tới cho Trungcộng, ngoan ngoãn chấp nhận giải pháp thương thảo ‘song phương’ về chủ quyền Biển Đảo với Bắckinh, hoàn toàn không dám đề cập gì đến chủ quyền của Việtnam tại Hoàngsa và Trườngsa, mà Trungcộng đã đánh chiếm của Việtnam. Dù trong khi đó thì cho Chủ Tịch Nước đi sang Ấnđộ, Philippines, Nam Hàn và dự hội nghị APEC. Thủ tướng Việtcộng ký với Đức, đi Âuchâu, Nhậtbản về các thỏa hiệp kinh tế, nhưng với bất cứ nước dân chủ nào, người ta cũng đều nhận thấy vấn đề nhân quyền Việtnam là một trở ngại lớn. Vì không một quốc gia dân chủ văn minh nào, mà chịu được cảnh một chính quyền ngồi thảo luận ngang hàng với họ, lại sử sự với dân chúng của mình giống như bọn côn đồ. Hành động đạp vào mặt người yêu nước biểu tình ôn hòa chống ngoại xâm. Thô bạo giải tán các cuộc biểu tình ôn hòa chống Trungcộng xâm lăng. Hành động cho công an, dân phòng, đội lốt côn đồ, đập phá nhà thờ Thái Hà, hành hung các tu sĩ và giáo dân, dưới sự bảo vệ của cảnh sát, công an nhà nước. Bắt bớ, tù đầy những người lên tiếng đòi dân chủ, tự do tôn giáo, và các blogger tranh đấu cho nhân quyền. Đến đây thấy rằng, vấn đề Trungcộng tuy gai góc đối với Mỹ, nhưng không khó khăn, tế nhị bằng việc đối phó với Việtcộng. Mỹ vừa muốn giúp Việtnam đứng vững trước sự lấn chiếm của Trungcộng, nhưng Việtcộng là một chế độ vi phạm nhân quyền có hệ thống, trở thành quán tính khinh dân, mà cũng sợ dân nổi loạn. Nên dù Mỹ đã thực hiện 16 vòng Đối Thoại Nhân Quyền Mỹ-Việt, mà vấn đề Nhân Quyền Việtnam ngày càng tồi tệ thêm. Nói gì đến việc trông mong Việtcộng tự Dân Chủ Hóa chế độ.
LÝ ĐẠI NGUYÊN
Á CHÂU LÀ MỘT PHẦN CỦA CÂU TRẢ LỜI
Tổng thống Hoakỳ Barack Obama lên đường đến Hawaii vào ngày 10/11/2011, để chủ trì hội nghị thượng đỉnh của Diễn Đàn Hợp Tác Á Châu Thái Bình Dương – APEC. Theo thông tín viên đài VOA Dan Robinson thì: “Ông Obama đem theo những lời cam kết về kinh tế và an ninh trong chuyến đi 9 ngày, trong đó ông ghé Australia và dự cuộc họp thượng đỉnh Đông Á ở Bali Indonesia”. “Cuộc họp thượng đỉnh lần này diễn ra vào lúc tổng thống Barack Obama tiếp tục các nỗ lực thúc đẩy nền kinh tế Hoakỳ thoát ra khỏi cuộc suy thoái, và nhấn mạnh đến tầm quan trọng của mậu dịch tự do, trong việc giúp tạo dựng công ăn việc làm, và thách thức cạnh tranh từ phía các nền kinh tế Á châu, nhất là Trungquốc”. Ông Ernest Bower thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế và Sách Lược Hoakỳ cho hay: “Ông Obama cũng gửi đi một thông điệp cho người dân Mỹ trong nước… Tổng thống cần phải bênh vực cho lập trường rằng, nếu chúng ta muốn thoát ra khỏi cuộc suy thoái kinh tế, thì Áchâu là một phần của câu trả lời, và trở lại chiếm ưu thế về mậu dịch sẽ dứt khoát là điều chủ yếu”.
Trước cuộc họp APEC lần này, giới chức Hoakỳ như bộ trưởng quốc phòng Mỹ Leon Panetta, thứ trưởng ngoại giao William Burns đã đi thăm khu vực và đưa ra những lời cam kết về sự hiện diện quân sự và tự do mậu dịch ở trong vùng, dù ngân sách của Mỹ có cắt giảm ra sao, thì sức mạnh quân sự của Mỹ tại Áchâu vẫn không thay đổi. Thứ trưởng ngoại giao Burns nhận định: “Trong một mối quan hệ phức tạp như thế này, thì xung đột và hợp tác đều là những điều không tránh khỏi. Vì vai trò của Trungquốc trong thế giới gia tăng, giữ cho mối quan hệ đi theo hướng xây dựng sẽ là một thách thức quyết định cho cả hai bên”. Ông Bower giải thích: Sự hiện diện về an ninh của Hoakỳ rất được hoan nghênh để tạo ra thế quân bình cho điều mà nhiều người nhận thấy là thái độ hung hăng của Trungquốc hồi gần đây, nhất là trong vùng biển Nam Trungquốc - biển Đông Việtnam- và quần đảo Senkaku, hay là Điếu Ngư Đài ở phiá Bắc”.
Rõ ràng là Trungcộng vừa là Đối Tác Kinh Tế vừa là Đối Trọng An Ninh với Hoakỳ. Dù cho Trungcộng đang là chủ nợ lớn nhất của Hoakỳ, nhưng Tầu cầm tiền đôla của Mỹ mà cho Mỹ vay thì có khác gì ‘chở củi về rừng’. Quyền tăng hay giảm giá đôla đều nằm trong tay Mỹ. Điều quan trọng là vốn đầu tư của Mỹ và ảnh hưởng của Mỹ đối với các công ty đa quốc gia đang đầu tư tại Hoalục luôn luôn có tính quyết định. Nhất là thị trường Mỹ, nơi tiêu thụ chính đối với các sản phẩm của Tầu. Vì vậy mà về mặt đối tác kinh tế, Mỹ có nhiều ưu thế hơn hẳn Tầu. Còn về an ninh quốc phòng thì viên tướng tổng tham mưu trưởng quân đội Trungcộng Trần Bỉnh Đức đã phải thừa nhận: “Một khoảng cách 20 năm đang hiện hữu giữa quân đội Hoakỳ và quân đội Trungquốc”. “Trungquốc không có khả năng để thách thức Hoakỳ”. Có nghĩa là 20 năm nữa quân đội Trungcộng mới tiến bằng quân đội Hoakỳ hôm nay, Nhưng quân đội Hoakỳ đâu có đứng chờ Trungcộng. Họ sẽ đi tới, và chẳng bao giờ Trungcộng bắt kịp Hoakỳ. Vậy mà Hoakỳ vẫn phải giữ tư thế Đối Trọng An Ninh với Trungcộng là vì các nước láng giềng của Trungcộng ở vùng Đông Nam Á còn quá yếu so với Trungcộng cả về kinh tế lẫn quân sự, dễ cho Trungcộng thực hiện âm mưu bành trướng.
Không những Mỹ luôn luôn nói và chứng tỏ sẽ giữ vững tư thế bảo vệ Áchâu để thực hiện vai trò lãnh đạo thế giới, mà còn tạo điều kiện cho Ấn, Nhật, Úc cùng với Mỹ hình thành một Vòng Cung Chiến Lược Dân Chủ, tiến vào Biển Đông, để giúp đỡ các nước Đông Nam Á đứng vững trong Mặt Trận Ngăn Bành Trướng Bắckinh, phát huy thế mạnh của Kinh Tế Tự Do và sớm Dân Chủ Hóa chế độ, để Asean trở thành một khối quốc gia ngang tầm với các cường quốc thế giới. Bước đầu tiên là vô hiệu hóa chủ trương của Trungcộng tự nhận chủ quyền 80% diện tích Biển Đông, qua hình vẽ ‘đường lưỡi bò’ của người Tầu. Bằng giải pháp “Thương Thảo Đa Phương”, dựa trên Công Ước về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc 1982. Rồi với những cuộc hội thảo quốc tế để chỉ ra rằng: Theo Công Ước về Luật Biển LHQ, thì dù 2 quần đảo Hoàngsa, Trườngsa thuộc chủ quyền của bất cứ nước nào, thì cũng không có “Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý” Đồng thời tại nơi đây luôn luôn đưa ra những lời cảnh báo về sự hung hăng đe dọa của Bắckinh. Đẩy Trungcộng vào thế bị cô lập đối với dư luận quốc tế. Xem ra biện pháp này đã đưa lại kết quả cụ thể, là các nước trong vùng Đông Nam Á xích lại gần nhau hơn. Chính quyền Miến Điện đã trút bỏ được chiếc áo nhà binh, quay lưng lại với Trungcộng, bắt tay với Ấnđộ, và tỏ ra thân thiện với Tây Phương. Khởi sự thả tù chính trị. Hợp tác với lực lượng Đối Lập của lãnh tụ dân chủ Aung San Suu Kyi nhằm đẩy mạnh công cuộc Dân Chủ Hoá nước Miếnđiện. Trợ lý ngoại trưởng Hoakỳ về Dân Chủ và Nhân Quyền tuyên bố: “Hoakỳ muốn thừa nhận rằng, những gì đang làm tại Miếnđiện mang tính tích cực”.
Riêng Việtnam thì đảng Cộngsản Việtnam, tự nhận mình là lãnh đạo nhà nước, nhưng Tổng Bí Thư Đảng lại cứ chui đầu vào làm đầy tới cho Trungcộng, ngoan ngoãn chấp nhận giải pháp thương thảo ‘song phương’ về chủ quyền Biển Đảo với Bắckinh, hoàn toàn không dám đề cập gì đến chủ quyền của Việtnam tại Hoàngsa và Trườngsa, mà Trungcộng đã đánh chiếm của Việtnam. Dù trong khi đó thì cho Chủ Tịch Nước đi sang Ấnđộ, Philippines, Nam Hàn và dự hội nghị APEC. Thủ tướng Việtcộng ký với Đức, đi Âuchâu, Nhậtbản về các thỏa hiệp kinh tế, nhưng với bất cứ nước dân chủ nào, người ta cũng đều nhận thấy vấn đề nhân quyền Việtnam là một trở ngại lớn. Vì không một quốc gia dân chủ văn minh nào, mà chịu được cảnh một chính quyền ngồi thảo luận ngang hàng với họ, lại sử sự với dân chúng của mình giống như bọn côn đồ. Hành động đạp vào mặt người yêu nước biểu tình ôn hòa chống ngoại xâm. Thô bạo giải tán các cuộc biểu tình ôn hòa chống Trungcộng xâm lăng. Hành động cho công an, dân phòng, đội lốt côn đồ, đập phá nhà thờ Thái Hà, hành hung các tu sĩ và giáo dân, dưới sự bảo vệ của cảnh sát, công an nhà nước. Bắt bớ, tù đầy những người lên tiếng đòi dân chủ, tự do tôn giáo, và các blogger tranh đấu cho nhân quyền. Đến đây thấy rằng, vấn đề Trungcộng tuy gai góc đối với Mỹ, nhưng không khó khăn, tế nhị bằng việc đối phó với Việtcộng. Mỹ vừa muốn giúp Việtnam đứng vững trước sự lấn chiếm của Trungcộng, nhưng Việtcộng là một chế độ vi phạm nhân quyền có hệ thống, trở thành quán tính khinh dân, mà cũng sợ dân nổi loạn. Nên dù Mỹ đã thực hiện 16 vòng Đối Thoại Nhân Quyền Mỹ-Việt, mà vấn đề Nhân Quyền Việtnam ngày càng tồi tệ thêm. Nói gì đến việc trông mong Việtcộng tự Dân Chủ Hóa chế độ.
LÝ ĐẠI NGUYÊN
BÀI NÓI CHUYỆN NHÂN NGÀY RA MẮT SÁCH:
THẮP MỘT NGỌN NẾN CHO THÁI HÀ
Nguyễn Thế Phong Năm 1996, tôi đuợc mời nói chuyện với tư cách diễn giả cho một phiên họp đặc biệt của Hội Đồng Các Giáo Hội tại Victoria (Council of Churches) bao gồm các vị lãnh đạo tinh thần các giáo hội Kitô giáo tại Melbourne. Cử toạ gồm có các vị Tổng Giám Mục, Giám mục, Thượng phụ, linh mục, mục sư v.v... Đề tài được trao cho tôi là: “Should the Church butt-out of politics?” Là một giáo dân bình thường được mời để nói về một đề tài hệ trọng như thế này cho một cử toạ uy quyền và quan trọng như thế quả là một điều tôi chưa từng dám nghĩ đến chớ nói chi đến việc thuyết trình!
Tôi đã khởi đầu buổi nói chuyện bằng một câu hỏi và định nghĩa về vai trò và trách vụ của hai chữ “Mục tử” (người chăn chiên, hay mục đồng). Tôi cũng dẫn chứng lời chúa Giêsu đã nói: “Người mục tử đích thật và tốt lành là người mục tử dám hy sinh mạng sống của mình vì đoàn chiên” như là một thước đo và là một tiêu chuẩn dùng để đánh giá một mục tử đích thật và chơn chánh. Ngược lại chúa Giêsu cũng đã ví những mục tử giả hiệu như những người, khi thú dữ tới thì họ bỏ mặc đoàn chiên để chạy thoát lấy thân.
Thứ đến tôi phân tách và nhấn mạnh về một câu nói khá phổ biến trong các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo rằng: “Là những người tu hành, chúng tôi không làm chánh trị” và điều này đã dẫn đến tình trạng chính phủ Úc tuyên bố rằng “Quý vị không nên can dự vào việc của chánh trị, thậm chí nên tránh xa chánh trị “You should butt-out of politics.” Ý họ muốn nói rằng vai trò của linh mục, giám mục, tu sĩ là cho cho phần hồn (spiritual matters) nên hãy để cho chính phủ lo phần xác.
Tôi đã đưa ra một tình trạng đơn giản đó là: Khi bầy cho sói tấn công để ăn thịt bầy chiên, người mục tử chẳng những không cản ngăn, không đóng cửa chuồng, không đánh đuổi hay cản ngăn bầy sói nọ mà chỉ xác định với bầy sói nọ rằng: ta chỉ là kẻ chăm sóc phần hồn, phần xác không thuộc phần trách nhiệm của ta, các ngươi cứ tự tiện, miễn là cho ta được phép xức dầu và cầu nguyện cho những con chiên này là đủ vì đó là bổn phận và vai trò của ta là linh mục.
Chữ “linh mục” chẳng có nghĩa là “mục tử của linh hồn” đó hay sao? Tôi đã thưa với các vị lãnh đạo Ki Tô giáo rằng: nếu quý vị có thể tách hồn ra khỏi xác được thì quý vị có quyền chỉ là linh mục mà thôi. Nhưng nếu không làm được điều đó thì quý vị có bổn phận phải lo cho phần xác của con người vì cả xác và hồn mới làm nên con người sống – con chiên sống. Các linh mục, vì thế, không còn có một chọn lựa nào khác hơn là phải xem việc đấu tranh chánh trị (chứ không phải là làm chánh trị gia, nắm quyền), phải xem việc đấu tranh cho môi trường và cuộc sống của tín hữu mình là một bổn phận thiêng liêng và cao cả của thiên chức linh mục. Nếu phải chết, tù đày để làm điều đó thì cũng phải làm vì tiêu chuẩn chú Giêsu đã đưa ra để đánh giá một linh mục có thật xứng đáng gọi là một linh mục hay không ở chỗ vị ấy có dám hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ đàn chiên hay không!
Vài ngày sau đó, hội đồng giám mục Úc châu đã trả lời với báo chí Úc rằng: Chính phủ và các chánh trị gia phải “butt–out” ra khỏi trách nhiệm và bổn phận của giáo hội đó là lên tiếng bênh vực và bảo vệ cho quyền lợi của các con chiên mà giáo hội đang là mục tử!
Tôi đã vô cùng sung sướng và hãnh diện khi đọc được những bài giảng của linh mục Nguyễn Ngọc Tỉnh trong tuyển tập 30 mươi bài giảng của ngài tại VN. Tôi vui mừng vì Ngài đã hiểu đúng và thấu đáo vai trò linh mục của mình. Sống trong một xã hội mà lúc nào cũng có người rình rập và sẳn sàng bỏ tù những linh mục dám lên tiếng nói sự thật và đòi hỏi công lý và nhân quyền, hành động và lời giảng của cha Tỉnh trở nên anh dũng và có giá trị vô biên. Gương bắt bớ, tù đày của linh mục Nguyễn Văn Lý và của người tín hữu Tin lành Lê Thị Công Nhân đã không làm cho cha chùn bước, trái lại càng làm cho Ngài mạnh dạn hơn lên, thông hiểu hơn và xác tín hơn sứ mệnh và vai trò của một linh mục và bổn phận người con dân Việt của mình nhiều hơn nữa. Như cha Nguyễn Hữu Lễ ở hải ngoại đã tuyên bố: “Trước khi là linh mục tôi là người VN” Cha Lý, Cha Lợi, Cha Lễ, Cha Khải, Cha Tỉnh, Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt, Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận là những người đã hiểu đúng và chính xác vai trò của giáo hội, của giám mục, linh mục, tu sĩ và của giáo dân Công Giáo VN đối với đồng bào và đất nước.
Đối với tôi, bài giảng “Tỏa Sáng Niềm Tin” (trang 186-195) của cha Tỉnh đã nói lên được tất cả những gì cần phải được chia xẻ, xác định và xác tín cho các nhà lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ của GHCGVN và giáo dân Công Giáo VN trong cũng như ngoài nước về vai trò, bổn phận và trách nhiệm của mình đối với đồng bào và đất nước thân yêu hiện nay.
Cha Tỉnh đã giảng rằng: “Đức Giê-su không phải là một nhà hùng biện nói thật hay để ta nghe cho sướng tai, không phải là một nhà trí thức siêu đẳng với những pho sách dày cộm làm ta lác mắt, không phải là một lý thuyết gia đưa ra những tư tưởng lỗi lạc khiến chúng ta sững sờ. Không, Ngài là Thiên Chúa làm người để cứu độ con người. Và để đạt được mục tiêu đó, Ngài đã chấp nhận trả giá ‘Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình’ (John 15,13). Đây không phải là một công thức khô khan trừu tượng, nhưng là một nguyên tắc Đức Giê-su đã áp dụng cho chính mình qua cuộc thương khó và cái chết trên thập giá mà Hội Thánh tuởng niệm một cách đặc biệt long trọng mỗi năm một lần trong suốt cả Tuần Thánh” .
Cha đã dùng hai tấm gương và cuộc thương khó hy sinh của hai người Kitô hữu VN để làm ví dụ điển hình đó là: Ls Lê Thị Công Nhân, tín hữu Tin Lành và Cha Ta-đê-ô Nguyễn Văn Lý. Cả hai, thể theo ngài “thay vì đi con đường trơn tru suông sẽ mà bao người vẫn đi, đã chọn con đường gai góc, con đường đấu tranh, con đường thánh giá”. Cô Nguyễn Thị Công Nhân, tốt nghiệp cử nhân luật ở tuổi 22, hai năm sau đã là thành viên của luật sư đoàn Hà Nội và luật sư đoàn quốc tế, cô đã có nhiều điều kiện thuận lợi để thành đạt trên đường đời. Nhưng vì lợi ích dân tộc, cô chấp nhận quên mình, chấp nhận dấn thân vào con đường tranh đấu cho tự do dân chủ, chấp nhận tù đày và mất trọn tương lai và sự nghiệp. Riêng về cha Lý, cha Tỉnh viết: “nếu chấp nhận làm một ông cha xứ ngoan ngoãn: hăng hái thì tham gia sinh hoạt trong Ủy Ban Đoàn Kết để dễ bề thăng quan tiến chức, không nữa thì ít là đừng chọc phá Nhà Nước, chuyện trên trời thì tha hồ mà nói, chuyện dưới đất, chuyện xã hội thì hoặc là đừng nói, hay có nói thì nói chung chung, vô thuởng vô phạt. Nếu thế thì giờ này, ít ra Cha cũng được một chân hạt trưởng. Nhưng tội của Cha là đã sớm nhận ra khuôn mặt thật của chế độ, rồi công khai bày tỏ ý kiến, lập trường của mình.” Cha Tỉnh tuyên bố ngài hoàn toàn đồng ý với biểu ngữ cha Lý đã dăng ra “Tự do tôn giáo hay là chết” vì theo Ngài, tự do tôn giáo không có nghĩa là tự do xây nhà thờ, xây trung tâm mục vụ hay xây trung tâm hành hương, không phải là tự do truyền chức linh mục, tự do tổ chức lễ (PHẦN HỒN) hay tự do đi ra nước ngoài mà tự do tôn giáo đích thực phải là tự do PHỤC VỤ CON NGƯỜI (PHẦN XÁC) tự do tham gia vào các công tác giáo dục, y tế, xã hội, bênh vực cho người dân nghèo không có ruộng cày, không còn đất sống, cho phụ nữ và trẻ em bị bán làm nô lệ tình dục, cho hằng triệu thai nhi bị giết mỗi năm, cho xã hội ngày càng mục nát, băng hoại, cho những nhà tranh đấu cho tự do dân chủ nối tiếp nhau vào tù, cho đất đai và biển đảo của tổ quốc cứ từ từ lọt vào tay Trung Quốc để một lần nữa dân tộc trở thành nô lệ.
Tôi vô cùng tâm đắc với lời tuyên bố sau đây của cha Tỉnh: “Thế thì cái tự do tí tẹo còn lại mà tôn giáo được hưởng kia chỉ biến tôn giáo thành một thứ đồ trang trí cho chế độ, thành cái xác không hồn, và cuối cùng thứ tự do đó dẫn tôn giáo đích thực đến chổ chết”. Cha nói, chính xác tín này đã dẫn cha Lý từ chỗ tranh đấu cho tự do tôn giáo đến việc tranh đấu cho tự do dân sự và tự do cho mọi người. Là vì cuối cùng, cha Tỉnh kết luận “tôn giáo chỉ có thể thực sự tự do khi dân tộc được hoàn toàn tự do”.
Cha Tỉnh cũng khẳng định rằng tại VN ngày nay, đối với độc tài CSVN chỉ có một con đường duy nhất đó là tranh đấu trực diện chứ đừng mong thành công trong việc đối thoại và hợp tác với chế độ này. Ngài nói: “Nếu chỉ nói chuyện trời nắng trời mưa thì không bõ, còn muốn nói những điều nên nói, những điều cần nói, những điều phải nói bằng bất cứ giá nào, thì chỉ cần nhớ lại cảnh cha Lý bị bịt miệng là ta hiểu ngay mình có được để cho nói hay không”.
Cha Tỉnh kết thúc bài giảng của ngài bằng lời của đức giáo hoàng Phao-lô VI: “CON NGƯỜI THỜI ĐẠI NGÀY NAY KHÔNG CẦN NHỮNG THẦY GIẢNG, MÀ CẦN NHỮNG CHỨNG NHÂN ĐÍCH THỰC CỦA TIN MỪNG”. Chí lý thay!
Mong sao các giám mục, linh mục, các tu sĩ nam nữ và mọi tín hữu của giáo hội Công giáo nhận chân ra được rằng “con đường của tranh đấu chính là con đường của Thập giá”, không còn con đường nào khác để họ chọn lựa vì chính Chúa Giêsu cũng đã phải chọn con đường ấy để cứu vớt nhơn loại.
“Áo mặc không qua khỏi đầu - Tớ không thể hơn chủ”.
Cầu mong sao các giám mục,linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân còn lại của GHCG-VN cũng sẽ dấn thân làm trọn vai trò và bổn phận thiêng liêng và bất khả phân ly HỒN-XÁC của mình đối với đồng bào và Tổ Quốc VN thân yêu dù phải hy sinh sự an nguy cũng như mạng sống của mình để xứng đáng là những người Kitô hữu đích thực. Nếu được như thế thì quả thật Giáo Hội Công Giáo VN mới thật sự trở thành TIN MỪNG cho dân tộc và đồng bào thay vì trở thành một loại TIN MỪNG...HỤT cho số phận vốn đã quá hẩm hiu và đau khồ của giáo dân Công Giáo VN và gần 90 triệu người dân nghèo trong nước, chưa kể đến hiểm hoạ MẤT NƯỚC đang xảy ra, vì Nước đã mất thì Đạo cũng chẳng còn.
Xin mọi người VN, đặc biệt là hàng giáo phẩm, giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và người Công Giáo VN hãy xem qua và nghiền ngẫm những bài giảng vô cùng chính xác và thiết tha này của Lm. Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, không phải chỉ để khen hay suy nghĩ mà là để LÀM và SỐNG một điều gì đó CỤ THỂ cho đồng bào và dân tộc và để CỨU NGUY TỔ QUỐC. Trân trọng kính chào toàn thể quý vị.
Nguyễn Thế Phong
THẮP MỘT NGỌN NẾN CHO THÁI HÀ
Nguyễn Thế Phong Năm 1996, tôi đuợc mời nói chuyện với tư cách diễn giả cho một phiên họp đặc biệt của Hội Đồng Các Giáo Hội tại Victoria (Council of Churches) bao gồm các vị lãnh đạo tinh thần các giáo hội Kitô giáo tại Melbourne. Cử toạ gồm có các vị Tổng Giám Mục, Giám mục, Thượng phụ, linh mục, mục sư v.v... Đề tài được trao cho tôi là: “Should the Church butt-out of politics?” Là một giáo dân bình thường được mời để nói về một đề tài hệ trọng như thế này cho một cử toạ uy quyền và quan trọng như thế quả là một điều tôi chưa từng dám nghĩ đến chớ nói chi đến việc thuyết trình!
Tôi đã khởi đầu buổi nói chuyện bằng một câu hỏi và định nghĩa về vai trò và trách vụ của hai chữ “Mục tử” (người chăn chiên, hay mục đồng). Tôi cũng dẫn chứng lời chúa Giêsu đã nói: “Người mục tử đích thật và tốt lành là người mục tử dám hy sinh mạng sống của mình vì đoàn chiên” như là một thước đo và là một tiêu chuẩn dùng để đánh giá một mục tử đích thật và chơn chánh. Ngược lại chúa Giêsu cũng đã ví những mục tử giả hiệu như những người, khi thú dữ tới thì họ bỏ mặc đoàn chiên để chạy thoát lấy thân.
Thứ đến tôi phân tách và nhấn mạnh về một câu nói khá phổ biến trong các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo rằng: “Là những người tu hành, chúng tôi không làm chánh trị” và điều này đã dẫn đến tình trạng chính phủ Úc tuyên bố rằng “Quý vị không nên can dự vào việc của chánh trị, thậm chí nên tránh xa chánh trị “You should butt-out of politics.” Ý họ muốn nói rằng vai trò của linh mục, giám mục, tu sĩ là cho cho phần hồn (spiritual matters) nên hãy để cho chính phủ lo phần xác.
Tôi đã đưa ra một tình trạng đơn giản đó là: Khi bầy cho sói tấn công để ăn thịt bầy chiên, người mục tử chẳng những không cản ngăn, không đóng cửa chuồng, không đánh đuổi hay cản ngăn bầy sói nọ mà chỉ xác định với bầy sói nọ rằng: ta chỉ là kẻ chăm sóc phần hồn, phần xác không thuộc phần trách nhiệm của ta, các ngươi cứ tự tiện, miễn là cho ta được phép xức dầu và cầu nguyện cho những con chiên này là đủ vì đó là bổn phận và vai trò của ta là linh mục.
Chữ “linh mục” chẳng có nghĩa là “mục tử của linh hồn” đó hay sao? Tôi đã thưa với các vị lãnh đạo Ki Tô giáo rằng: nếu quý vị có thể tách hồn ra khỏi xác được thì quý vị có quyền chỉ là linh mục mà thôi. Nhưng nếu không làm được điều đó thì quý vị có bổn phận phải lo cho phần xác của con người vì cả xác và hồn mới làm nên con người sống – con chiên sống. Các linh mục, vì thế, không còn có một chọn lựa nào khác hơn là phải xem việc đấu tranh chánh trị (chứ không phải là làm chánh trị gia, nắm quyền), phải xem việc đấu tranh cho môi trường và cuộc sống của tín hữu mình là một bổn phận thiêng liêng và cao cả của thiên chức linh mục. Nếu phải chết, tù đày để làm điều đó thì cũng phải làm vì tiêu chuẩn chú Giêsu đã đưa ra để đánh giá một linh mục có thật xứng đáng gọi là một linh mục hay không ở chỗ vị ấy có dám hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ đàn chiên hay không!
Vài ngày sau đó, hội đồng giám mục Úc châu đã trả lời với báo chí Úc rằng: Chính phủ và các chánh trị gia phải “butt–out” ra khỏi trách nhiệm và bổn phận của giáo hội đó là lên tiếng bênh vực và bảo vệ cho quyền lợi của các con chiên mà giáo hội đang là mục tử!
Tôi đã vô cùng sung sướng và hãnh diện khi đọc được những bài giảng của linh mục Nguyễn Ngọc Tỉnh trong tuyển tập 30 mươi bài giảng của ngài tại VN. Tôi vui mừng vì Ngài đã hiểu đúng và thấu đáo vai trò linh mục của mình. Sống trong một xã hội mà lúc nào cũng có người rình rập và sẳn sàng bỏ tù những linh mục dám lên tiếng nói sự thật và đòi hỏi công lý và nhân quyền, hành động và lời giảng của cha Tỉnh trở nên anh dũng và có giá trị vô biên. Gương bắt bớ, tù đày của linh mục Nguyễn Văn Lý và của người tín hữu Tin lành Lê Thị Công Nhân đã không làm cho cha chùn bước, trái lại càng làm cho Ngài mạnh dạn hơn lên, thông hiểu hơn và xác tín hơn sứ mệnh và vai trò của một linh mục và bổn phận người con dân Việt của mình nhiều hơn nữa. Như cha Nguyễn Hữu Lễ ở hải ngoại đã tuyên bố: “Trước khi là linh mục tôi là người VN” Cha Lý, Cha Lợi, Cha Lễ, Cha Khải, Cha Tỉnh, Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt, Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận là những người đã hiểu đúng và chính xác vai trò của giáo hội, của giám mục, linh mục, tu sĩ và của giáo dân Công Giáo VN đối với đồng bào và đất nước.
Đối với tôi, bài giảng “Tỏa Sáng Niềm Tin” (trang 186-195) của cha Tỉnh đã nói lên được tất cả những gì cần phải được chia xẻ, xác định và xác tín cho các nhà lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ của GHCGVN và giáo dân Công Giáo VN trong cũng như ngoài nước về vai trò, bổn phận và trách nhiệm của mình đối với đồng bào và đất nước thân yêu hiện nay.
Cha Tỉnh đã giảng rằng: “Đức Giê-su không phải là một nhà hùng biện nói thật hay để ta nghe cho sướng tai, không phải là một nhà trí thức siêu đẳng với những pho sách dày cộm làm ta lác mắt, không phải là một lý thuyết gia đưa ra những tư tưởng lỗi lạc khiến chúng ta sững sờ. Không, Ngài là Thiên Chúa làm người để cứu độ con người. Và để đạt được mục tiêu đó, Ngài đã chấp nhận trả giá ‘Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình’ (John 15,13). Đây không phải là một công thức khô khan trừu tượng, nhưng là một nguyên tắc Đức Giê-su đã áp dụng cho chính mình qua cuộc thương khó và cái chết trên thập giá mà Hội Thánh tuởng niệm một cách đặc biệt long trọng mỗi năm một lần trong suốt cả Tuần Thánh” .
Cha đã dùng hai tấm gương và cuộc thương khó hy sinh của hai người Kitô hữu VN để làm ví dụ điển hình đó là: Ls Lê Thị Công Nhân, tín hữu Tin Lành và Cha Ta-đê-ô Nguyễn Văn Lý. Cả hai, thể theo ngài “thay vì đi con đường trơn tru suông sẽ mà bao người vẫn đi, đã chọn con đường gai góc, con đường đấu tranh, con đường thánh giá”. Cô Nguyễn Thị Công Nhân, tốt nghiệp cử nhân luật ở tuổi 22, hai năm sau đã là thành viên của luật sư đoàn Hà Nội và luật sư đoàn quốc tế, cô đã có nhiều điều kiện thuận lợi để thành đạt trên đường đời. Nhưng vì lợi ích dân tộc, cô chấp nhận quên mình, chấp nhận dấn thân vào con đường tranh đấu cho tự do dân chủ, chấp nhận tù đày và mất trọn tương lai và sự nghiệp. Riêng về cha Lý, cha Tỉnh viết: “nếu chấp nhận làm một ông cha xứ ngoan ngoãn: hăng hái thì tham gia sinh hoạt trong Ủy Ban Đoàn Kết để dễ bề thăng quan tiến chức, không nữa thì ít là đừng chọc phá Nhà Nước, chuyện trên trời thì tha hồ mà nói, chuyện dưới đất, chuyện xã hội thì hoặc là đừng nói, hay có nói thì nói chung chung, vô thuởng vô phạt. Nếu thế thì giờ này, ít ra Cha cũng được một chân hạt trưởng. Nhưng tội của Cha là đã sớm nhận ra khuôn mặt thật của chế độ, rồi công khai bày tỏ ý kiến, lập trường của mình.” Cha Tỉnh tuyên bố ngài hoàn toàn đồng ý với biểu ngữ cha Lý đã dăng ra “Tự do tôn giáo hay là chết” vì theo Ngài, tự do tôn giáo không có nghĩa là tự do xây nhà thờ, xây trung tâm mục vụ hay xây trung tâm hành hương, không phải là tự do truyền chức linh mục, tự do tổ chức lễ (PHẦN HỒN) hay tự do đi ra nước ngoài mà tự do tôn giáo đích thực phải là tự do PHỤC VỤ CON NGƯỜI (PHẦN XÁC) tự do tham gia vào các công tác giáo dục, y tế, xã hội, bênh vực cho người dân nghèo không có ruộng cày, không còn đất sống, cho phụ nữ và trẻ em bị bán làm nô lệ tình dục, cho hằng triệu thai nhi bị giết mỗi năm, cho xã hội ngày càng mục nát, băng hoại, cho những nhà tranh đấu cho tự do dân chủ nối tiếp nhau vào tù, cho đất đai và biển đảo của tổ quốc cứ từ từ lọt vào tay Trung Quốc để một lần nữa dân tộc trở thành nô lệ.
Tôi vô cùng tâm đắc với lời tuyên bố sau đây của cha Tỉnh: “Thế thì cái tự do tí tẹo còn lại mà tôn giáo được hưởng kia chỉ biến tôn giáo thành một thứ đồ trang trí cho chế độ, thành cái xác không hồn, và cuối cùng thứ tự do đó dẫn tôn giáo đích thực đến chổ chết”. Cha nói, chính xác tín này đã dẫn cha Lý từ chỗ tranh đấu cho tự do tôn giáo đến việc tranh đấu cho tự do dân sự và tự do cho mọi người. Là vì cuối cùng, cha Tỉnh kết luận “tôn giáo chỉ có thể thực sự tự do khi dân tộc được hoàn toàn tự do”.
Cha Tỉnh cũng khẳng định rằng tại VN ngày nay, đối với độc tài CSVN chỉ có một con đường duy nhất đó là tranh đấu trực diện chứ đừng mong thành công trong việc đối thoại và hợp tác với chế độ này. Ngài nói: “Nếu chỉ nói chuyện trời nắng trời mưa thì không bõ, còn muốn nói những điều nên nói, những điều cần nói, những điều phải nói bằng bất cứ giá nào, thì chỉ cần nhớ lại cảnh cha Lý bị bịt miệng là ta hiểu ngay mình có được để cho nói hay không”.
Cha Tỉnh kết thúc bài giảng của ngài bằng lời của đức giáo hoàng Phao-lô VI: “CON NGƯỜI THỜI ĐẠI NGÀY NAY KHÔNG CẦN NHỮNG THẦY GIẢNG, MÀ CẦN NHỮNG CHỨNG NHÂN ĐÍCH THỰC CỦA TIN MỪNG”. Chí lý thay!
Mong sao các giám mục, linh mục, các tu sĩ nam nữ và mọi tín hữu của giáo hội Công giáo nhận chân ra được rằng “con đường của tranh đấu chính là con đường của Thập giá”, không còn con đường nào khác để họ chọn lựa vì chính Chúa Giêsu cũng đã phải chọn con đường ấy để cứu vớt nhơn loại.
“Áo mặc không qua khỏi đầu - Tớ không thể hơn chủ”.
Cầu mong sao các giám mục,linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân còn lại của GHCG-VN cũng sẽ dấn thân làm trọn vai trò và bổn phận thiêng liêng và bất khả phân ly HỒN-XÁC của mình đối với đồng bào và Tổ Quốc VN thân yêu dù phải hy sinh sự an nguy cũng như mạng sống của mình để xứng đáng là những người Kitô hữu đích thực. Nếu được như thế thì quả thật Giáo Hội Công Giáo VN mới thật sự trở thành TIN MỪNG cho dân tộc và đồng bào thay vì trở thành một loại TIN MỪNG...HỤT cho số phận vốn đã quá hẩm hiu và đau khồ của giáo dân Công Giáo VN và gần 90 triệu người dân nghèo trong nước, chưa kể đến hiểm hoạ MẤT NƯỚC đang xảy ra, vì Nước đã mất thì Đạo cũng chẳng còn.
Xin mọi người VN, đặc biệt là hàng giáo phẩm, giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và người Công Giáo VN hãy xem qua và nghiền ngẫm những bài giảng vô cùng chính xác và thiết tha này của Lm. Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, không phải chỉ để khen hay suy nghĩ mà là để LÀM và SỐNG một điều gì đó CỤ THỂ cho đồng bào và dân tộc và để CỨU NGUY TỔ QUỐC. Trân trọng kính chào toàn thể quý vị.
Nguyễn Thế Phong
TT Obama dự APEC, quan tâm sự bành trướng của Trung Quốc
WASHINGTON (Washington Post) -Khi khởi sự chuyến công du kéo dài chín ngày tại vùng Á Châu-Thái Bình Dương hôm Thứ Sáu,
Tổng Thống Barack Obama tìm cách trấn an các đồng minh Mỹ và các quốc gia khác là họ có sự hỗ trợ của Mỹ để đạt được sự thịnh vượng,
giữa lúc Trung Quốc đang ngày càng mở rộng ảnh hưởng của mình trong khu vực này.

Tổng Thống Barack Obama và Ðệ Nhất Phu Nhân Michelle Obama trên đường lên máy bay Air Force One tại Andrews Air Force Base, Maryland,
rời Washington D.C. trong chuyến công du Châu Á-Thái Bình Dương và dự thượng đỉnh APEC. (Hình: Jim Watson/AFP/Getty Images)
Ở mỗi trạm ngừng, hai cuộc họp cấp vùng ở Honolulu và Bali ở Indonesia, cùng với chuyến viếng thăm Australia nhằm củng cố liên minh quân sự, Tổng Thống Obama sẽ đưa ra tín hiệu rõ rệt rằng Mỹ là một “cường quốc Á Châu, và mong muốn góp phần xây dựng sự thành công về kinh tế và củng cố an ninh tại khu vực đang nhanh chóng phát triển này”.
Khi làm điều này, Tổng Thống Obama sẽ nói rõ rằng Trung Quốc “phải theo đúng luật giao thông,” như lời một viên chức cao cấp chính quyền Obama cho hay tuần này.
Ðứng đầu danh sách các ưu tiên của Mỹ là yêu cầu Trung Quốc phải đưa ra các biện pháp nới lỏng tỉ giá hối đoái để giúp cân bằng cán cân mậu dịch với Mỹ; tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ; và có thái độ bớt hung hãn hơn trong cuộc tranh chấp lãnh thổ ở biển Ðông.
Về phần mình, phía Trung Quốc lo ngại về các thỏa ước thương mại giữa Mỹ và tám quốc gia khác trong vùng, và sẽ theo dõi sát chuyến đi của ông Obama đến một căn cứ quân sự của Úc.
Trong năm qua, Trung Quốc đã tạo sự lo ngại cho các quốc gia láng giềng với một loạt các hành động hung hăng trong lãnh vực quân sự cũng như ngoại giao, kể cả việc đối đầu ở biển Ðông, tạo sự lo ngại của thế giới khi lên tiếng cho rằng toàn thể khu vực có hải lộ quan trọng nhất nhì thế giới này thuộc về họ. (V.Giang)
WASHINGTON (Washington Post) -Khi khởi sự chuyến công du kéo dài chín ngày tại vùng Á Châu-Thái Bình Dương hôm Thứ Sáu,
Tổng Thống Barack Obama tìm cách trấn an các đồng minh Mỹ và các quốc gia khác là họ có sự hỗ trợ của Mỹ để đạt được sự thịnh vượng,
giữa lúc Trung Quốc đang ngày càng mở rộng ảnh hưởng của mình trong khu vực này.

Tổng Thống Barack Obama và Ðệ Nhất Phu Nhân Michelle Obama trên đường lên máy bay Air Force One tại Andrews Air Force Base, Maryland,
rời Washington D.C. trong chuyến công du Châu Á-Thái Bình Dương và dự thượng đỉnh APEC. (Hình: Jim Watson/AFP/Getty Images)
Ở mỗi trạm ngừng, hai cuộc họp cấp vùng ở Honolulu và Bali ở Indonesia, cùng với chuyến viếng thăm Australia nhằm củng cố liên minh quân sự, Tổng Thống Obama sẽ đưa ra tín hiệu rõ rệt rằng Mỹ là một “cường quốc Á Châu, và mong muốn góp phần xây dựng sự thành công về kinh tế và củng cố an ninh tại khu vực đang nhanh chóng phát triển này”.
Khi làm điều này, Tổng Thống Obama sẽ nói rõ rằng Trung Quốc “phải theo đúng luật giao thông,” như lời một viên chức cao cấp chính quyền Obama cho hay tuần này.
Ðứng đầu danh sách các ưu tiên của Mỹ là yêu cầu Trung Quốc phải đưa ra các biện pháp nới lỏng tỉ giá hối đoái để giúp cân bằng cán cân mậu dịch với Mỹ; tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ; và có thái độ bớt hung hãn hơn trong cuộc tranh chấp lãnh thổ ở biển Ðông.
Về phần mình, phía Trung Quốc lo ngại về các thỏa ước thương mại giữa Mỹ và tám quốc gia khác trong vùng, và sẽ theo dõi sát chuyến đi của ông Obama đến một căn cứ quân sự của Úc.
Trong năm qua, Trung Quốc đã tạo sự lo ngại cho các quốc gia láng giềng với một loạt các hành động hung hăng trong lãnh vực quân sự cũng như ngoại giao, kể cả việc đối đầu ở biển Ðông, tạo sự lo ngại của thế giới khi lên tiếng cho rằng toàn thể khu vực có hải lộ quan trọng nhất nhì thế giới này thuộc về họ. (V.Giang)

