QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Đại Kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Một Bảo Vật Lịch Sử.

Đinh Lâm Thanh
Một cơ hội đặc biệt vì đây là lần đầu tiên, hai bảo vật của Việt Nam Cộng Hòa xuất hiện cùng lúc trong ngày Liên Hiệp Quốc kiểm điểm tình trạng nhân quyền của cộng sản Việt Nam tại Genève. Đó là lá Quốc Kỳ lớn treo trên chiến hạm của Hải Quân Việt Nam trước năm 1975 và Đại Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa, bảo vật của Tòa Đại Sứ VNCH tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn (Mỹ) đã xử dụng đến ngày cuối cùng 30.4.1975.
Image Bảo vật Đại Quốc Kỳ chiều ngang 15 Ft (5 mét), chiều dài 25 Ft (8 mét), cân nặng khoảng gần 7 Kg và được dệt bằng một loại lụa đặc biệt. Đại Quốc Kỳ nầy được một nhân viên tòa Đại Sứ cất giữ từ 33 năm qua kể từ ngày cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam. Mãi đến ngày 07.3.2008, Đại Kỳ đã được trao lại cho Bảo Tàng Viện Fresno Discovery Museum ở California, USA.

Đại Kỳ VNCH lịch sử đại diện cho Chính Phủ và Nhân Dân Việt Nam tại Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ trước ngày 30.4.1975, đã được xử dụng trong đại lễ, tiếp đón nhiều vị quốc khách, nhiều chính khách tên tuổi trên thế giới. Đại Kỳ đã một thời biểu trưng cho sức mạnh hào hùng, ý chí bất khuất và tinh thần yêu chuộng Tự Do Dân Chủ của nhân dân miền Nam trước 1975.

Đây là một báu vật của dân tộc Việt Nam, của cộng đồng người Việt xuất hiện lần đầu tại Âu-Châu, chúng tôi kêu gọi các đoàn thể, tổ chức cũng như cộng đồng dành ngày 08.5.2009, đến biểu tình trước trụ sở Liên Hiệp Quốc để:

1. Cùng đứng chung dưới Đại Kỳ lịch sử để chứng minh cho thế giới biết rằng nước Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn tồn tại trên hành tinh nầy và người Việt hải ngoại ngày đêm đang tranh đấu để mai kia sẽ cùng Đại Kỳ trở về kiến thiết quê hương.

2. Cùng đứng chung dưới Đại Kỳ lịch sử để đặt vấn đề Nhân Quyền với đảng cộng sản cũng như đỏi hỏi LHQ phải có biện pháp với nhà nước Việt Nam hiện nay là một tập đoàn đang chà đạp lên quyền sống, quyền làm người của 80 triệu dân trong nước.
Đáp lời mời của Hội Văn Hóa Người Việt Tự Do, một phái đoàn thanh niên từ Hoa Kỳ sẽ rước Đại Kỳ qua Genève cùng tham dự ngày kiểm điểm nhân quyền trước trụ sở Liên Hiệp Quốc.
Image Chúng tôi xin chân thành cảm tạ các bạn trẻ, bảo tàng viện Fresno Discovery Museum California đã chấp thuận yêu cầu của chúng tôi.

Cầu xin hồn thiêng sông núi và vong linh những anh hùng đã xả thân dưới màu cờ, hãy phù hộ cho cuộc tranh đấu của chúng ta chóng đến ngày thành công.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

“Trước Sau Như Một”
C.vanto

Trại Vĩnh Quang A có 14 đội tù, mỗi đội phụ trách một ngành nghề khác nhau, nông nghiệp, mộc, rèn, xây cất v.v.. mà nghề nào cũng ói máu, xì hơi ra đằng sau, duy chỉ có đội 9 trồng trà là có vẻ tà tà hơn cả. Sáng sáng tù theo cán bộ trai hoặc gái rủ nhau “trèo lên đồi đá, đá cho leo” để hái búp trà, búp non nhất để về xấy khô thành trà tàu (?), 4 kg lá búp, mà là búp số 1 hay 2 thì mới xấy được 1kg trà “móc câu”, thứ này thuộc loại quý hiếm, chỉ trại trưởng mới có quyền uống và dùng để biếu thủ trưởng lon to hơn. Nhưng trong “quá trình*” chế biến thì tù ta cũng “xà-xẻo” một nhúm cho vào “gô” (lon guigoz), đổ nước sôi uống trước, bụng đói mà uống thứ trà quặu này thì bật ngửa, đã đ.. chịu được.

Đồi trà và chỗ xấy trà nằm sát đường nên các “bò vàng” (công an coi tù mặc đồ bàng) đi ngang thường tạt vào “tham quan” nhưng thực ra là muốn làm quan tham … nhũng xin một nhúm, vì thế họ mới kiếm câu chuyện làm quà làm quen với mấy anh tù có nhiệm vụ xấy trà, mà lệnh trại trưởng là không được cho “cán bộ” nào hết. Thỉnh thoảng có vài “bò vàng” gái tạt ngang, cũng kiếm chuyện an ủi tù, khuyên cố gắng “nao động tốt, chính sách khoan hồng nhân đạo của nhà lước ta trước sau như một”!.

Nghe mãi nhức đầu, anh Trọng-Nha Trang hóm hỉnh, thâm nho, hay cướp lời cán bộ gái. Khi cán bộ gái (CBG) vừa nói tới chính sách khoan hồng nhà nước .. thì Trọng cướp lời

_CBG: …Chính sách khoan hồng nhà nước..

_Trọng-NT nói ngay: Thưa … cán bộ trước sau như một

_ CBG: Anh nói đúng, học hành mau tiến bộ, chính sách nhà nước..

Nhưng Trọng-Nha Trang thì lại cứ luôn miệng cướp lời:

_“Cán bộ trước sau như một”.

Có tên “cần câu” nào đó tâu với cán bộ cái rằng Thọ-Già nó đểu, nó bôi bác chính sách của đảng, nó dám so sánh cái ngực và lưng phằng lì của cán bộ gái với chính sách khoan hồng của nhà nước. Lời bàn của tên mao-tôn-cương này khiến cán bộ gái đỏ mặt. Chỉ vì hiểu sai “trước sau như một” mà Thọ-NT bị cùm.

Cùm là phải, thà phản đối chính sách của đảng thì OK, chứ chê ngực phụ nữ lép xẹp thì chỉ có nước chết, chê bác thì được, chê cái ấy của phụ nữ là tiêu đời. Tại trại 8 Hoàng Liên Sơn, đội trưởng Minh Khố Chuối (quần rách lòi cu hắn lấy là chuối che đi) ca tụng “bác Hồ là vĩ nhân” của nhân loại, ang-ten mao-tôn-cương với quản giáo Môn rằng đội trưởng Minh nói bác Hồ là cái đuôi của nhân loại, vĩ là cái đuôi, nhất thủ nhì vĩ mà lị. Minh bị cùm. Bọn an-ten này trước sau như một, dù chúng có làm thầy năm, sáu gì đi nữa thì an-ten vẫn là an-ten.

Đội 12 của đội trưởng Ngo-Lùn có bố Ánh-Già* khéo tay may vá trạm trổ nên được quản giáo cho ngồi một chỗ để “nao động nhẹ”. Lao động nhẹ thì đói trong khi lao động nặng cũng đói nhưng nhờ xông pha vào rừng vào suối, “bới đất cuốc cỏ mà nhét cho đầy bụng đói” (lời cụ Phan), lao động “hăng say” phá hoại tài sản của trại như ND Võ Văn Đ..thì tuyệt. Hăn bẻ 200 trái bắp sai tôi nhét vào hang đá rồi lấp cửa hang để ăn dần, no. Nhưng bố Ánh Già thì đọi, quản giáo Mô chôm ở đâu được miếng da trâu đã phơi khô lâu ngày để làm mặt trống rồi giao cho bố Ánh-Già bào gọt rồi làm cho hắn cái ví mà người miến Nam gọi là bóp. Vì ngồi một chỗ nên đói, bố già Ánh cho những miếng da thừa vào lon gô hầm rồi nuốt, bố làm gì có răng mà nhai, có răng cũng không nhai nổi da trâu phơi khô hằng mấy năm trời. Đội trưởng Ngo thấy được bèn hỏi đểu:

_ Ngon không? Bổ không?

Bố Ánh-Già là cha mấy thằng đểu nên nhẹ nhàng sỏ là kềnh thưa với đội trưởng:

_ “Trước sau như một”.

Hoan hô bố Ánh-Già, đem chất phế thải mà so sánh với chính sách khoan hồng của đảng thì đúng quá rồi. Khi được tha, bố về ở gần chỗ tôi, đường Tô Hiến Thành Q10. Nhưng không biết bây giờ bố ở đâu, có đi tỵ nạn không? Tôi học được ở bố nhiều điều.

Đội 4 trại 8 Hoàng Liên Sơn, lao động giỏi có bố già* to khỏe là Đạt “đi.m”, anh là Bắc Kỳ di cư nên không “đu.m” mà “đi.m”. To khỏe nên khẩu phần tù chỉ đủ xỉa răng, anh lại nhanh chân lẹ tay nên cũng “bới đất cuốc cỏ cho đầy bụng đói..”. Sau một đêm mưa to, gió bão, sáng hôm sau lên rừng “kéo cưa lừa xẻ, anh nào khỏe thì về ăn cơm trưa, anh nào thua thì về bú mẹ”, Đạt không thua, nhưng không có cơm ăn nên anh ăn “tai gỗ”, mộc là gỗ, nhĩ là tai tức là mộc nhĩ hay nấm tai mèo, thứ này ẩn mình trong gỗ mục, trời mưa là nở rộ. Cái thứ này mà bà xã trộn với thịt heo xay, thêm ít miến để làm chả giò thì số một, ăn sựt sựt dòn-dòn, tưởng ngon, mà ngon thật, tuy chẳng có mùi vị bổ béo gì. Già Đạt ém mộc nhĩ vào lon gô, đổ nước, thêm ti nước muối (VC không phát muối hột) đem đun sôi rổi ngồi thưởng thức mà NM (anh em) tù xung quanh không biết anh ăn thứ gì, tôi hỏi anh trả lời ỡm ờ có vẻ bí mật như sợ đồng tù khám phá ra nguồn cung cấp thực phẩm của anh:

_ Tao ăn chả giò.

Tối đó về anh no căng bụng, ôm bụng kêu rên, nằm bên cạnh, tôi định báo đội trưởng để hắn kêu to cho bò vàng nghe “có người đau cần cấp cứu” như những lần trước có “sự cố”, nhưng già Đạt cản lại bảo đừng, tụi nó biết được thêm rắc rối, biết tỏng tôi hỏi:

_Á à, hồi sáng anh “cải thiện” ăn sắn non của trại phải không?

_ Không không, không phải, nói khẽ thôi, tao ăn mộc nhĩ.

_ Thế là khổ rồi, nó nở sình lên làm anh no rồi bây giờ lo, lo mà đi ỉa đi.

Sáng sớm hôm sau, thấy anh tươi tỉnh, tôi hỏi “sao” thì anh mỉm cười bẽn lẽn:

_ “Trước sau như một”.

_ Anh đểu vừa thôi chứ.

(* tôi gọi các anh là bố già, nhưng thực ra vào thời điểm đi tù ấy, 1979-80, các anh chỉ ở độ tuổi 50, còn chúng tôi 35).

Đội 12 Vĩnh Quang A, có bạn tù rất trẻ tên An, thiếu úy, hình như mới tốt nghiệp khóa.. thì phải, không hiều lý do nào mà nai vàng ngơ ngác này lại nhập chung với toán “ tá ác ôn” rồi ra Bắc. Ngày mùa gặt lúa mà VC gọi là thu hoạch, An đói bụng quá trong khi gặt lúa thì An nhai trộm thóc cho đỡ đói lòng, tuổi trẻ mà, sợ chi, ngoài là thóc trong là gạo, chỉ khác nhau một lớp vỏ trấu, cũng như vỏ khoai, nhai đại nuốt đại cho no bụng. Đêm đó An chổng mông kêu bác, “bác ôi ..bác.. không ra đau quá bác ôi”! Đội phó là Phan Trừng** đến săn sóc đàn em, khám bệnh, hỏi bệnh tình của An xong rồi anh đi tìm cái móc, bắt An chổng mông rồi anh móc, sau một hồi An thoải mái, nhìn đám thóc do đội phó Phan Trưng vừa móc ra hộ, An cười bẽn lẽn như bà già sồn sồn mới về nhà chồng:

_ Trước sau như một.

Già Ánh, già Đạt đã đểu, trẻ như An lại sỏ lá kềnh, dám so sánh chính sách khoan hồng nhân đạo của nhà nước trước sau như một của đảng với phế thải của tù thì không thể tha thứ được. Theo “quá trình phân tích đánh giá” về phầm chất của công ty TNHH-Phan thì “thành phẩm” của phân ngoại là số 1, tức hốt ở các tòa đại sứ, còn sản phẩm ở các trại giam thì vất đi.

(** Đội phó Phan Trừng gốc tr/tá KQ, rất tận tụy với NM tù, anh hiện định cư tại Nam CA, Little Saigon, nếu anh có đọc đoạn này thì làm chứng cho tôi là tôi thật thà kể lại chứ không có ý xỏ xiên chuyện trước sau như một).

Báo VNExpress online trong nước XHCN vừa đăng tin một “ông” trung tá công an dùng dùi cui đánh gẫy cổ một người dân chết ngắc tại giữa thủ đô. Đầu đuôi tóm tắt là thế này, người dân tên Hùng đi xe honda ôm không đội mũ an toàn, trung tá công an chặn lại phạt anh lái xe rồi hai bên cãi nhau, Hùng thấy CA làm quá nên can ngăn, nào ngờ tên CA quay dùi cui đập Hùng té xuống đất lại còn gọi thêm đồng bọn đến đấm đá và còng Hùng kéo về đồn điều tra. Tại đồn Hùng bị đau đớn xin đi nhà thương nhưng CA không cho, gia đình cha mẹ vợ con đến đồn năn nỉ CA cho Hùng đi bệnh viện nhưng cũng không được chấp thuận. Cho tới khi thấy Hùng sắp chết, chúng mới cho chở Hùng đi bệnh viện để xoa tay “ta vô tội”, nhưng khi đến BV thì Hùng chết ngắc, pháp y kết luận Hùng chết vì gãy cổ.

Dư luận quần chúng thủ đô phẫn uất về thái độ “vô cảm” này. Người dân XHCN gọi là vô cảm, nhưng danh từ thông thường của xã hội loài người thì gọi trường hợp này là vô nhân đạo, dã man, không còn tính người. Đó là chuyện tháng 10/2011 taị Hà Nội.

Ngày 22 tháng 2 năm 1976 lúc 1 giờ trưa tại trại tù Suối Máu Biên Hòa xẩy ra một vụ chui hàng rào kẽm gai, bỏ lớp “học tập cải tạo” vì lý do chính sách khoan hồng của VC trước sau không như một, bảo mang tiền và quần áo đi học 1 tháng, mà đến 10 lần 1 tháng vẫn lơ đi và có chiều đi lên 100, 200 tháng. Bực mình vì thái độ lươn lẹo của VC, Thiếu tá Phạm Văn Tư K19 VB, giã từ trại giam Sưối Máu chui rào kẽm gai ra về. Chẳng may áo anh bị vướng vào kẽm gai, lùng nhùng mãi chưa thoát được nên bị lộ và cây thượng liên trên chòi canh xả đạn xuống tấm bia người trong vòng kẽm gai. Thực ra thì không cần bắn chết mà bắt sống để xử tội “lăng trì”. Khi chúng kéo anh Phạm Văn Tư ra khỏi hàng rào thì thân Tư nát như tương, nhưng kỳ diệu thay là anh vẫn còn thở, còn sống, thấy vậy tên thiếu úy Hải VC rút K54 ra tặng thêm cho Tư bốn phát vào tứ chi cho thêm thịt nát xương tan!

Tư vẫn không chết, chúng kéo xác Tư còn thoi thóp thở vứt trên nền đất của căn nhà tôn bỏ hoang. Tới 6 giờ chiều, tức 5 tiếng sau, cai tù vào bảo anh em cùng phòng mang hết đồ đạc của Tư sang cho anh. Anh em tù kín đáo cử anh bác sĩ Lãng Uyên mang đồ đạc đi với mục đích là nhờ BS Uyên xem xét bệnh tình của Tư ra sao. Khi xong việc trở về BS Uyên cho biết:

_ Anh Tư không được băng bó gì cả, máu ra quá nhiều, não bị động mạnh, vì anh Tư đang nôn mửa, chỉ có thể chịu đựng được vài tiếng nữa thôi”!

Sáng hôm sau, 23/2/76, mấy vệ binh vào lán dẫn 6 anh tù đi chôn cất anh Tư! Anh Tư ra đi trên nền đất lạnh, xung quanh là côn trùng cùng kiến lửa bu quanh!

Trước…, 2/1976, anh Tư bị bắn trọng thương, bỏ đó cho chết, cho kiến bu.

Sau.., 10/2011, anh Hùng bị đánh gẫy cổ, còng tay, không cho đi BV rồi chết.

_ “Trước sau như một”.

Tàn ác dã man như nhau, bản chất đó trước sau như một.

Người lính VNCH thì không có cái khoan hồng trước sau như một mà trước khác sau khác. Người viết xin nêu ra một thí dụ cụ thể trong ngàn vạn trường hợp tương tự

Tháng 10 năm 1968, Tiểu Đoàn Trâu Điên quần thảo với 1 trung đoàn VC trong mật khu Bời Lời suốt cả đêm tới sáng. Thông thường đụng nhau, dù nặng hay nhẹ thì các chú chém vè trước khi trời sáng, nhưng trận này thì khi mặt trời mọc rồi mà vẫn còn súng nổ. Sáng banh mắt, một tên VC núp bên hố bom B52 với CKC có ống nhắm, hắn bắn chết HS1 Thà, nguời mang máy cho tôi, rồi bắn thêm Hạ Sĩ Tha đi luôn, Tha là cao bồi của ĐDP Tr/ Úy Thạnh Lâm, nhưng rối hắn cũng bị anh em phát giác bắn lật nhào xuống hố bom.

Anh em kéo xác hắn lên thì nó chỉ bị thương nhẹ vào cánh tay, trong trường hợp nóng hổi này, đệ tử ruột mang máy vừa bị hắn bắn chết thì cho hắn một tràng M16 vừa nhẹ nhàng vừa đỡ tức, chiến tranh mà, đối diện kẻ thù ai bắn chậm thì chết. Nhưng ở đây đã nắm được địch trong tay, chưa nói đến quy luật chiến tranh, mà bản tính con người VN không thể sát hại địch đã bị bắt hay đầu hàng nên tôi cho gọi y tá đại đội đến băng bó cho nó. Thấy nó ướt sũng, run cầm cập, tuy cái đầu tôi không chủ ý nhưng rồi cái tay lại tự động rút Ruby Queen, quẹt zippo cho hắn hút, không đành cho nó một viên “bỏ hút”.

Nhưng tr/úy ĐĐP của tôi thì nóng mặt, Tha là cao bồi ruột, người lo café, cơm sấy nước suối vừa bị tử thương vì nó nên Thạnh co chân đạp cho nó một phát té ngửa, bất ngờ bác sĩ tiểu đoàn là Qu.. đang đi kiểm soát thương binh cả hai phía, trông thấy Thạnh đá tù binh, Qu la:

_ Tại sao tr/uy đánh tù binh?

_ CCCC, nó vừa bắn chết lính tôi, anh biết đéo gì.

_ Nhưng nó đã bị bắt, là tù binh.

Thấy đđp của mình và bác sĩ tiểu đoàn to tiếng chỉ vì một tên tù binh nên tôi phải cản ra. Cả hai anh đều đúng về tình và lý, tình người và lý luật chiến trường, lòng nhân đạo, khác hẳn với “khoan đỏ nhân đạo trước sau như một” của thú dữ.

Ngày 3 tháng 11 năm 2011, công an Hà Nội đóng kịch giả dạng côn đồ du đãng vào dánh đập tu sĩ và phá hoại nhà thờ giáo xứ Thái Hà ngay trung tâm thủ đô Hà Nội. Bỏ qua một bên về việc mượn đất, cướp đất dẫn đến tranh chấp ai trái ai phải. Chỉ biết đây là một vụ kiện thưa của người dân với nhà cầm quyền, hai vế chênh lệch rõ ràng, luật pháp trong tay, quyền lực trong tay, quân đội và công an Nhân Dân trong tay, nếu muốn thì cứ thẳng tay trừng trị “bọn dân ngoan cố”, như Gadhafi, như Tailiban đem xe tăng cà nông bắn sập đền đài tượng thờ, mặc xác Liên Hiệp Quốc của ông Ky-Mun khuyến cáo, cần gì phải đóng kịch cởi bỏ quần áo quân đội và CA nhân dân để mặc đồ côn đồ, uống rượu say, giả điên để hành hung và dập phá một cơ sơ tôn giáo? Giả say để mai mốt nếu dân có kiện ra tòa thì chánh án nhân dân tối cao phán rằng vì say rượu, mất binh tĩnh nên không có tội. tha tù, xử ný nội bộ thôi, cho làm kiểm điểm là đúng luật XHCN rồi. Một màn kịch “dân chủ” quá ư là tồi.

Ngày 22 tháng 2 năm 1976 tại trại tù Suối máu Biên Hòa, cùng vượt ngục với Phạm Văn Tư có Trần Văn Bé K19VB. Tư bị kẹt trong hàng rào, bị bắn, chưa chết nhưng “được” để cho kiến cắn chết. Bé trốn thoát nhưng sau đó bị bắt lại.

Ngày 10 tháng 4 năm 1976, VC thiết lập tòa án để xử Trần Văn Bé và anh Thịnh (Thủ Đức, trốn trại tại Hóc Môn). Tòa án là Niệm Phật Đường trước 1975, nay chúng phá bỏ tượng Phật, treo hình HCM để làm tòa án. Chánh án là tr/tá trung đoàn trưởng QK7/ Đoàn 775 Nguyễn Văn Bản, hai công tố là thượng úy Nguyễn Tử Mùi va Hà Minh Thuyết thuộc quân huấn và quân pháp QK7. đ/úy Lê Văn Giác, đại diện viện kiểm soát QK7. Thư ký tòa là tr/úy quân pháp Nguyễn Văn Thành, luật sư không có, khán giả là bạn tù của Bé và Thịnh.

Chánh án Bản tuyên bố khai mạc phiên tòa xử Bé với lời lẽ nhân đạo như sau:

_ Anh có điều gì cứ trình bày, cứ khai thật, khia hết, để đảng và nhà nước sẽ xử khoan hồng tha cho anh về với vợ con.

Lời tuyên bố của chánh án được thư ký ghi ngay vào biên bản, Bé chưa kịp nói gì thì hai viên công tố đã dọc ngay bản luận tội “can tội trốn trại cải tạo mục đích phản cách mạng ..vv” và trăm thứ tội khác. Sau hơn 3 tiếng đồng hồ kết tội, cuối cùng chánh án Bản đứng dậy nhìn một vòng các ‘cử tọa” dõng dạc đọc bản án do “nhân dân” quyết định:

“ Căn cứ vào chính sách khoan hồng nhân đạo trước sau như một

“Căn cứ vào điều 2 chương 1 luật số 03/SL.. ngày 15/3/76 của chính phủ …

“Căn cứ vào…

“Căn cứ vào…

“ Tòa án Quân Sự Quân Khu 7 quyết định xử phạt:

Trần Văn Bé ….. tử hình.*

(* tất cả diễn tiến thủ tục pháp lý xử án công khai và công minh đã được thư ký tòa ghi vào biên bản và mấy năm sau, biên bản này mới được trao cho bà quả phụ Trần Văn Bé)

Đồng hồ chỉ 10 giờ 10 phút ngày 10 tháng 4 năm 1976, bọn vệ binh chạy lại tử tù Trần Văn Bé, bịt mặt, bịt miệng còng chân tay, lôi ra cột đã đóng sẵn, lấy dây thừng quấn anh vào với cột, đội hành quyết đã sãn sàng.. nhiều tràn AK nổ, đầu Trần Văn Bé gục xuống, một phát súng K54 “ân huệ” vào tai tử tội. Đồng hồ chỉ 10 giờ 30 sáng ngày 10 tháng 4 năm 1976

Vệ binh cắt dây thừng cột tử tội, bỏ xác vào hòm đã đóng sẵn, và chôn vào huyệt đã đào sẵn ngay trong vòng rào “tòa án”.

“Trước ngày xử án, hội đồng xét xử đã nhân đạo lo cho tử tội được chôn cất tử tế bằng cách cho đóng sẵn 2 quan tài và đem để ngay bên cạnh “tòa án? Một hòm cho Bé vào buổi sáng, một hòm cho Thịnh xử vào buổi chiều cùng ngày.”

“Trước ngày xử án một ngày, ban chỉ huy trại tù đã lo mồ mả cho tử tội sẵn sàng đàng hoàng bằng cách ra lệnh cho bạn tù đào 2 lỗ chôn người ngay bên cạnh tòa án.”

Trước khi xử phạm nhân thì án đã được quyết định sẵn, và đây cũng là những thủ tục mà bản án dành cho những người trong nước đòi dân chủ tự do hiện nay và sau này cùa nhà nước XHCNVN: “Trước sau như một”.

Nhà nước XHCNVN diễn một màn hài kịch triệt hạ đối với giáo xứ Thái Hà quá tệ

Nhà nước XHCNVN diễn một màn hài kịch giết Trần Văn Bé quá tệ

“Trước sau như một” … quá tệ và tàn ác.

Ác cho đến nỗi ông trời còn phải kêu lên: “ Trời ơi là trời”

Ngay sau khi Th/tá Trần Văn Bé vừa gục đầu xuống vì những tràng AK thì trời đất bỗng nổi cơn gió bụi, mây đen từ đâu kéo tới bao phủ bầu trời nơi “tòa án” và cũng là nơi anh Bé bị băn, phủ toàn vùng trại tù Suối Máu Biên Hòa,, gió lốc từ đâu bay tới cuộn. bốc tất cả cát bụi sỏi đá bay lên mù mịt, cát đá rơi xuống mái tôn trại tù nghe lộp bộp, rơi vào những thau cơm săp sẵn để phát cho tù vào buổi trưa. Không phải cơn mưa bình thường, mà là những hạt nước thật to rơi lộp bộp lên mái tôn trại tù.

Tất cả sự kiện này xảy ra trong vòng 5 tới 10 phút rồi tan đi như tiễn đưa linh hồn người chiến sĩ Trần Văn Bé.

Tùy vào niềm tin của mỗi người mà có suy tư về hiện tượng này khác nhau, nhưng cùng chung ý nghĩ trời cũng phải phẫn uất, phải khóc vì sự giả dối và tàn bạo này của CSVN.

Đọc giả nào không có mặt tại nơi và thời điểm chính phủ XHCNVN xử án Trần Văn Bé thì có thể nghi ngờ sự kiện kể trên, nhưng hơn 4 ngàn cựu sĩ quan VNCH bị nhốt tại trại tù Suối Máu tháng 4/1976 đều chứng kiến hiện tượng lạ lùng này. Những Cọp Biển là nhân chứng cho hiện tượng lạ lùng này thì còn đây, là những TQLC:

Trần Vệ, (người bị bắt đi dự phiên tòa), Đoàn Trọng Cảo, Nguyễn Đức Ân, Trần Ngọc Toàn, Đinh Xuân Lãm, Trần Kim Hoàng, Lê Văn Cưu, Lê Văn Huyền, Phan Công Tôn, Huỳnh Văn Phú, Trần Văn Hợp, Trần Xuân Bàng, Tô Văn Cấp, Trần Văn Duật, Doãn Thiện Niệm, Quách Ngọc Lâm, Lâm Tải Thạnh v.v..

Lâm Tài Thạnh, TĐT/TĐ.9 TQLC ghi lại như sau:

Tôi Cựu MX Lâm Tài Thạnh cựu tù Long Giao, Suối Máu xác nhận sự hiện tượng "kỳ bí" ở trại tù Suối Máu Tháng 4 Năm 1976 là gió lốc và mây đen tự nhiên kéo đến sau khi cựu Thiếu Tá Trần Văn Bé bị xử bắn. Thời điểm nầy tôi còn nhớ sau khi xảy ra hiện tượng đó thì cựu Thiếu Tá Đoàn văn Lý, tức Lý Lùn trường Sinh Ngữ QD và Uy Ban Liên Hợp QS 4 Bên mời các cha tuyên úy Công Giáo trong đội chúng tôi là cha Trần Ngọc Minh (SĐ.5),cha Ngô Đình Thỏa, cha Quế để làm lễ cầu nguyện cho Anh Bé, nhưng sau đó chúng tôi bị an-ten báo cáo nên bị gọi lên ban chỉ huy làm việc (điều tra) và giảm khẩu phần ăn hết một tuần”.

Chuyện “trước sau như một” của nhà nước XHCN thì là “chuyện thường ngày ở huyện”, nhưng cái không bình thường là những tên gốc là tỵ nạn CS, trốn CS vượt biển vượt biên, HO v.v.. van lạy thề thốt không là CS, không làm tay sai cho CS để được vào đất Mỹ sống cuộc đời ăn nhờ ở đậu, cố ăn gian nói dối để được làm công dân Mỹ. Khi đã là công dân Mỹ rồi thì lại phản nước Mỹ quay lại làm tay sai cho VC quậy phá cồng đồng người Việt tỵ nạn CS. VC quăng cho khúc xương, cái vé máy bay, cho vài ngàn đô là hí hửng quay về XHCN ngồi chung bàn, ăn chung đũa, ngủ chung phòng, tướng CA trên giường, tay sai Ziệt-Kiều iêu nước truyền thông báo chí nằm dưới gầm giường để nhận chỉ thị:

“Khi trở lại Mỹ, tụi mày cứ vin vào điều 1 hiến pháp HK là tự do báo chí rồi cứ chửi vung lên, bịa chuyện bôi bẩn hạ nhục tất cả những tên chống CS,chống nhà nước XHCN”

_ “Dạ thưa các thủ trưởng, chúng em tuyệt đối trung thành với đảng, miễn sao thủ trưởng giúp $ cho tụi em nuôi sống tờ tuần báo VC Weekly này”.

Tên trung tướng CA xoa đầu, đưa cho đám phóng hòn, phóng viên “báo chí phá hoại” này bao thư, nhưng trong đầu tên trung tướng CA này chửi thầm:

_ “Địt mẹ tụi chó đẻ này, tụi bay là lũ phản phúc thì “trước sau như một” vẫn là lũ phản phúc, chó nó cũng không tin được bọn bay”.

(Bé&Tư: Tham khảo bài viết “Cái Tang Chung Cuối Đời Binh Nghiệp” của tác giả Nguyễn Nho K19VB và “Phiên Tòa Bên Cỗ Quan Tài” của tác giả Chế Văn Thức K19VB)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Cô bé Việt Nam với lá cờ vàng ba sọc đỏ Mong rang nhung the-he thu hai, thu ba va tiep noi mai mai mang trong long khi tiet va yeu nuoc nong-nan nhu "Co Be dang cam phuc" nay .

Cuối tuần vừa qua, Thợ Câu tham dự buổi hòa nhạc do một Trung tâm Huấn luyện Mầm non tại địa phương tổ chức. Số nhạc sinh gồm đủ mọi thành phần sắc tộc được ban Giảng huấn đề nghị trong dịp này trình tấu một bản nhạc cho quốc gia của mình, và đặc biệt được trưng một lá quốc kỳ nhỏ tượng trưng cho Quê Hương trong khi trình diễn.

Buổi hòa nhạc diễn ra rất thành công cho đến khi ban Giảng huấn giới thiệu một cô bé người Á Đông nhỏ nhắn và rất dễ thương lên sân khấu trình tấu nhạc phẩm Lòng Mẹ.

Nghe cô bé trình bày bằng Anh ngữ lý do tại sao mình chọn bản nhạc này khiến mọi người chú ý, Thợ Câu càng ngạc nhiên hơn khi nghe cô bé phát âm hai chữ “Lòng Mẹ” bằng một giọng Việt Nam thật rõ ràng, thật chuẩn.

Chuyện rắc rối cho ban Tổ chức khởi đầu từ lúc cô bé VN khựng lại khi lên đến bục trình diễn: trên mặt đàn dương cầm có trưng một bình cắm hoa và bên cạnh là một lá cờ đỏ sao vàng.

- Thưa thày, lá cờ này không phải là quốc kỳ của nước con.

- Đây là cờ VN mà! con là người Mỹ gốc Viêt Nam phải không?

- Con đúng là người Mỹ gốc Việt, nhưng ba mẹ con nói quốc kỳ nước Việt Nam màu vàng có 3 sọc đỏ.

Con thấy treo trên bàn thờ trong nhà, chứ không phải lá cờ màu đỏ này!

Mặc cho ông thày hết lời giải thích nhưng cô bé nhất quyết từ chối phần trình diễn của mình.

Cuối cùng cô bé đồng ý: Nếu không có lá cờ vàng thay thế - vì mọi người đều biết gốc VN của cô rồi nên không trưng quốc kỳ cũng được - nhưng xin ban Tổ chức rời lá cờ đỏ khỏi chiếc dương cầm thì cô bé mới trình diễn!

Một số khán giả người địa phương (có lẽ là cựu quân nhân) và Thợ Câu cùng đứng lên vỗ tay nhiệt liệt hoan hô cô bé VN khiến hầu hết mọi người đều hưởng ứng.

Buổi hòa nhạc kết thúc trong bầu không khí thật thoải mái cho mọi người. Xin cảm phục sự giáo huấn và lòng tự trọng của cô bé Việt Nam đáng yêu.

Thợ Câu.

TB.- Sau buổi hòa nhạc, Thợ Câu dò hỏi và được biết cô bé này là Cháu Nội của một cựu SVSQ khóa 20 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Đúng là “con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”!

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Image

ĐÀ LẠT TRỜI MƯA

Phạm Tín An Ninh


Tôi đến Đà Lạt đúng vào một ngày mưa. Mưa tầm tã. Ngồi trong nhà Thủy Tạ, nhìn những hạt mưa bay giăng kín rừng thông, phủ mờ khu phố Hòa Bình, và rơi lả tả xuống mặt hồ Xuân Hương, tôi mơ hồ như những giọt nước mắt của người góa phụ đã từng một thời nhan sắc.

Người con gái vừa đến gặp tôi làm cho tôi mỉm cười với sự so sánh lạ lùng này. Bởi cô ta cũng xinh đẹp, và dù có nở nụ cười tỏ ra mừng rỡ khi chào tôi, vẫn không giấu được nét buồn trong đôi mắt. Một nỗi buồn có cái gì xót xa sâu lắng lắm.

Tôi đã đến thành phố này nhiều lần. Lần cuối cùng vào mùa Giáng Sinh năm 1970, khi đơn vị tôi may mắn được lệnh về đây phối hợp hành quân giữ an ninh cho một khóa Võ Bị làm lễ ra trường. Bao nhiêu năm trong rừng núi tây nguyên gió lạnh mưa mùa, rồi xuống bờ biển Phan Thiết với những động cát trơ trọi nóng như lửa đốt, bất ngờ được về Đà Lạt, cho dù chỉ sau một ngày ở thành phố, đơn vị tôi lại được đổ xuống những rừng thông xa tít, nhưng đám lính tráng bọn tôi vẫn có cái cảm giác như được đi nghỉ mát. Người ta nói đúng, Đà Lạt dễ thương như những cô gái với gò má trắng hồng và đôi môi mọng đỏ để ai một lần lên xứ Hoa Đào mà lòng không vấn vương? Đà Lạt cũng là nơi có nhiều huyền thoại về những mối tình đẹp và buồn của các cô sinh viên với những chàng trai mang alpha đỏ theo nghiệp kiếm cung, mà tôi đã đọc được trong những bài thơ thật buồn của Lệ Khánh từng vang tiếng một thời.

Nhưng đó là Đà Lạt của ngày xưa. Còn hôm nay tôi đến Đà Lạt, với ngổn ngang những nỗi buồn nặng trĩu trong lòng, và Đà Lạt bây giờ chỉ là một thành phố chết.

Tôi ra tù, trong thời gian còn bị quản chế, trong túi không có bất cứ một tờ giấy nào. Ngay tấm “Giấy Ra Trại” cũng đã bị công an xã giữ. Nhờ thằng em cùng đơn vị cũ, có lò bánh mì ở Tháp Chàm, gởi tôi theo một chiếc xe bộ đội nhận mối chở bánh mì với tiền thù lao khá, tôi mới có mặt ở đây. Anh tài xế sau khi giao mấy thùng bánh mì, còn gởi tôi cho cô “chủ nhiệm” quán Thủy Tạ (bây giờ là của nhà nước), bảo là ông anh họ, để tôi yên lòng không bị hỏi giấy tờ. Quán vắng tanh.Tôi chọn cái bàn nhỏ xa phía trước và gọi hai tách trà nóng. Tôi cũng chỉ đủ tiền để trà hai tách trà này.
- Anh chờ em có lâu không?
Tôi giật mình khi nghe cô gái hỏi.
- Không sao, tôi chờ cũng đã khá lâu, nhưng được gặp chị hôm nay là tôi mừng lắm rồi.

Điều mà ai cũng ái ngại khi phải mang tin buồn đến cho một người. Đặc biệt người đó lại lại là một cô con gái đẹp, như cô gái đang ngồi trước mặt tôi đây.

Tôi dè dặt:
- Chắc chị đã biết, như trong lá thư tôi gởi. Tôi là bạn tù của Thống, và hôm nay muốn gặp chị là để nhắn lại những điều Thống đã nhờ tôi.
- Em biết là anh Thống đã chết từ năm 1978, nhưng mãi đến năm ngoái, em mới được phường đưa “Giấy Báo Tin”. Em không biết làm sao báo cho mẹ anh ấy biết. Bà ở bên Mỹ nhưng em không liên lạc được.

Tôi bất ngờ, nhưng chợt thấy một chút yên lòng khi nghĩ là cô sẽ không còn đột ngột nhận một tin buồn từ chính miệng của tôi.
- Chị đã biết tin buồn về Thống. Như vậy cũng là may, chứ không phải người tù nào chết mà người nhà cũng được báo tin. Hôm nay, dù hoàn cảnh khó khăn, tôi cũng phải tìm gặp chị để nói lại cùng chị những lời trăn trối cuối cùng, và trao cho chị những kỷ vật mà anh Thống nhờ tôi trao lại chị.

- Cả tuần nay lòng em rất bồn chồn, mong sớm được gặp anh. Vì em không biết anh Thống chết ở đâu và mồ mả ra sao. Nhiều lần nằm mơ, em thấy anh Thống, nhưng chưa bao giờ nghe anh ấy bảo là anh đã chết.

Tôi lấy trong túi ra để trên bàn một sợi dây đeo một tấm ảnh nhỏ được lồng vào trong cái khung có hình trái tim đẽo bằng gỗ mun - loại gỗ quý mà chúng tôi thường tìm được ở khu rừng Việt Bắc, một chiếc vòng nhỏ làm bằng nhôm xinh xắn, có khắc đậm sáu chữ Lê Minh Thống & Hà Nhất Anh, và trịnh trọng đứng lên đưa cho cô.

Nhất Anh chính là cô gái, và Minh Thống là tên một người bạn tù của tôi. Anh đã chết sau gần hai năm bị chuyển ra ngoài bắc.

Tôi gặp Thống ở trại Lào Cai, khi hai thằng vừa trong nam mới chuyển ra. Sau hơn một năm cả hai cùng chuyển về trại Hang Dơi thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn và may mắn được “biên chế” về cùng một tổ. Thống tốt ngiệp từ trường Võ Bị Đà Lạt, được chuyển sang không quân, lái phản lực. Trong thời gian học trường Võ Bị, Thống quen Nhất Anh, khi ấy đang là sinh viên của trường Chính trị Kinh Doanh. Thống chỉ còn bà mẹ già và cô em gái ở Sài Gòn. Cuộc tình của cô sinh viên Đà Lạt và chàng cựu sinh viên sĩ quan alpha đỏ kéo dài khá lâu. Hai người đã làm lễ hỏi. Nếu Thống không sang Mỹ học phi hành và nếu không có ngày 30 tháng Tư, thì hai người đã làm đám cưới.

Những ngày cuối cùng khi Sài gòn hấp hối, Thống được bạn bè thu xếp hai chỗ trên trực thăng để bay ra hạm đội Mỹ, nhưng Thống lại dành cho mẹ và cô em gái. Gởi mẹ và em cho thằng bạn thân, Thống nói dối với mẹ là anh sẽ đi sau.
Thống liều lĩnh tìm mọi cách chạy về Đà Lạt. Chưa kịp đón Nhất Anh, thì Sài Gòn mất. Thống nằm ở nhà Nhất Anh một tuần rồi ra trình diện “uỷ ban quân quản”, nhưng người ta chỉ cấp giấy chứng nhận và ghi là phải về Sài Gòn trình diện chính quyền địa phương ngay. Trở lại Sài Gòn, nhà bị tịch thu, Thống phải ở ké nhà một người bà con trước khi vào trại cải tạo.

Mấy năm trong tù, Thống có liên lạc được với Nhất Anh. Nhưng vài tháng mới nhận được một lá thư ngắn, chỉ hỏi thăm vài câu và khuyên “học tập tốt để sớm được khoan hồng về với nhân dân”. Bao nhiêu nhung nhớ yêu thương đều phải giấu kín ở trong lòng. Trong tờ khai lý lịch, Thống ghi Hà Nhất Anh là vợ, cũng là người thân duy nhất, và địa chỉ của Nhất Anh cũng là nơi anh xin cư trú sau này.
Thống to con đẹp trai, nhưng dường như tình yêu dễ làm cho Thống yếu lòng. Có những ngày đi chặt nứa trong rừng, Thống chỉ ngồi khóc và thì thầm gọi tên người yêu. Mấy lần không mang về đủ nứa, bị phạt cắt bớt một nửa phần ăn vốn đã ít oi, nhưng vẫn không ngăn được nước mắt của Thống. Dường như khi lòng đang thương nhớ ai, thì cái đầu không còn điều khiển đôi tay được nữa. Nhiều hôm tôi phải vận động anh em nhường bớt một chút phần ăn cho Thống, và chia nhau đi lấy thêm nứa cho Thống có đủ chỉ tiêu để không bị phạt.

Thống còn trẻ, nhưng cũng như hầu hết sĩ quan xuất thân từ Đà Lạt, dù ở binh chủng nào cũng kiêu hùng và thăng tiến rất nhanh. Thống nhỏ hơn tôi sáu tuổi, nên xem tôi như người anh. Có điều gì vui buồn, Thống tìm tôi chia sẻ. Tôi luôn an ủi và khuyến khích để anh có thêm nghị lực. Thống có gì khó khăn tôi sẵn sàng hết lòng giúp Thống.

Sau này, đội tù của tôi được phân công đi lấy gỗ về xây dựng hội trường. Họ bắt chúng tôi phải tìm những cây gỗ lớn và thẳng. Có những thân cây lớn đến hai vòng tay ôm không hết. Trời mùa đông với những cơn mưa phùn không dứt, nên những con đường mòn trơn như mỡ, chúng tôi chia từng nhóm hai mươi người vừa kéo vừa bẩy cho từng thân cây lăn theo những con đường mòn ấy từ trên núi cao lao xuống suối để cho nó trôi về bên hông trại.

Ăn uống quá thiếu thốn, đám tù chúng tôi triền miên trong cơn đói. Sức ngày càng yếu mà phải lao động quá nặng nhọc, nên chỉ sau một tuần lấy cây, người nào cũng mệt lả. Một hôm đang lấy sức bật một thân cây xuống bờ suối, Thống mệt quá nên lảo đảo rồi ngã sấp trên thân cây, đúng lúc cây này lăn xuống suối, bật luôn theo Thống. Chúng tôi chỉ còn nghe tiếng hét của Thống trước khi anh bị văng xuống lòng suối nằm sâu dưới vực.

Trời nhá nhem tối, cả hơn bốn mươi thằng tù chia nhau trèo xuống suối đi tìm Thống. Gần nửa giờ sau chính tổ của tôi tìm được Thống. Anh nằm bất động bên bờ suối. Rất may là ở một nơi không có đá. Thống thoi thóp thở, nhưng không còn cử động được.

Chúng tôi nhanh chóng kết một cái bè gỗ, rồi theo dòng suối, cùng nhau đẩy anh về trại. Sau hơn một tiếng đồng hồ trong trạm xá, Thống tỉnh lại, mở hé mắt nhìn mọi người. Khi nhận ra tôi, Thống thì thào:
- Nếu sau này anh còn sống mà về được, nhớ tìm giùm Hà Nhất Anh và nói là em xin lỗi nàng. Mong nàng hãy sớm lấy chồng và quên em đi.

Tôi nắm chặt đôi vai lạnh lẽo của Thống:
- Thống yên chí, tôi sẽ làm bất cứ điều gì mà Thống dặn dò.

Thống cố gắng mở lớn mắt nhìn tôi như cầu khẩn:
- Nhờ anh giữ lại cái vòng nhôm trong balô và tấm ảnh em đang mang trong cổ này, trao lại cho Nhất Anh. Nhớ nói giùm là em xin lỗi cô ta... xin lỗi cô ta .
Ngày hôm sau, một buổi chiều mưa buồn ảm đạm, dưới sự kiểm soát của hai vệ binh, tôi cùng ba người bạn tù đẩy xác Thống trên một chiếc xe “cải tiến” ra chôn dưới triền núi, bên một hốc đá . Chúng tôi đào huyệt đúng vào lúc cơn mưa trút xuống. Huyệt đào tới đâu thì nước ngập theo tới ấy. Tôi năn nỉ xin hai vệ binh cho chúng tôi tìm một nơi khác cao hơn, và chờ cơn mưa tạnh bớt, nhưng không được đồng ý, mà còn bị quát tháo, bảo phải “chôn khẩn trương lên mà về ngay”.

Tôi phải ngồi đè trên xác Thống, lềnh bềnh trên nước, để cho ba người bạn tù kia lấp đất.

Chuyện xảy ra đã hơn sáu năm rồi. Thời gian có biết bao sự đổi thay. Tôi cũng đã nghe và chứng kiến không ít những điều phản trắc. Không biết bây giờ Nhất Anh đã có chồng chưa và trong cảnh đổi đời kéo theo bao cay đắng, liệu trong lòng cô có còn lưu luyến chút tình xưa?

Đắn đo giây lát rồi tôi cũng quyết định phải nói hết những gì tôi biết và nhất là những điều mà Thống, trước khi trút hơi thở cuối cùng, đã nhờ tôi nếu còn có dịp trở về, hãy nói lại cùng nàng.

Nghe tôi kể xong mọi điều, Nhất Anh vẫn ngồi yên bất động. Im lặng một lúc tôi nghe tiếng nàng khóc. Hai tay nắm chặt các kỷ vật mà tôi vừa trao lại cho nàng. Ngoài trời những cơn mưa càng vần vũ. Tiếng mưa như thấu hiểu được nỗi niềm, từng đợt trút xuống mái nhà Thủy Tạ làm át đi tiếng sụt sùi, để cho nàng khóc.
Tôi cũng đã không cầm được nước mắt.
- Em cám ơn anh, và xin lỗi... em đã không nén được xúc động.

Tôi cũng kịp lấy lại bình tĩnh và tìm lời an ủi nàng:
- Dù sao mọi việc cũng đã qua rồi. Sau cái ngày nước mất nhà tan, biết có bao cảnh chia lìa tang tóc. Thôi thì tôi cầu mong Nhất Anh sớm nguôi được nỗi buồn này và có thêm nhiều nghị lực để mà bước tới, như lời trối trăn của Thống. Nhất Anh còn trẻ mà, còn cả một con đường thật dài trước mặt. Còn tôi, trong hoàn cảnh này, cũng chẳng biết rồi đời sẽ ra sao. Thôi đành phó cho trời đất đẩy đưa.

Nhất Anh vẫn ngồi bất động, không nói lời nào. Nhìn đồng hồ treo trên vách, nhớ tới lời hẹn của anh tài xế, tôi khẽ gọi nàng:
- Chị Nhất Anh! Chỉ còn 15 phút nữa là anh tài xế sẽ quay lại đón tôi. Sau này nếu chị có cần gì ở tôi, cứ liên lạc với tôi nghe!

Tôi nói cốt chỉ để an ủi thôi. Chứ tôi thì còn khả năng gì mà giúp nàng. Hơn nữa thời buổi nhiễu nhương này, dễ gì mà liên lạc được với nhau.
Nhất Anh lấy tay lau nước mắt, ngước lên nhìn tôi, ngần ngừ vài giây rồi lên tiếng:
- Nhờ anh vẽ lại và hướng dẫn cho em nơi chôn cất anh Thống. Sau này biết đâu có dịp may, em sẽ tìm ra thăm anh ấy.

Tôi đứng lên đến quày trả tiền hai tách trà, và xin một tờ giấy trắng. Tôi ngồi vẽ khá tỷ mỷ và hướng dẫn cho Nhất Anh con đường đến trại tù, và mộ của Thống nằm bên hốc đá trên triền núi, phía sau trại tù chừng một cây số. Cũng may là có cái hốc đá lớn duy nhất, để có thể định hướng được ngôi mộ nằm ở nơi nào giữa vùng rừng núi bao la.

Nhất Anh đứng dậy mặc lại áo mưa, xúc động nói lời chia tay, rồi đạp xe đi. Tôi nhìn theo bóng dáng nhỏ nhắn của nàng lảo đảo xiêu vẹo dưới cơn mưa tầm tã mà ngậm ngùi lo âu cho số phận của nàng. Tôi nghĩ có lẽ không bao giờ tôi còn có dịp gặp lại Nhất Anh.

oOo

Mùa hè năm rồi, vợ chồng tôi sang Cali thăm mấy cô con gái, nhân tiện chúng tôi đến thăm gia đình ông anh họ ở thành phố biển San Diego. Giáng Sinh năm 1970, nhân cuộc hành quân bất ngờ ở Đà Lạt, tôi có ghé thăm anh chị. Khi ấy anh làm ở trung tâm điện lực Đa Nhim và vợ anh là giáo sư dạy trường Bùi thị Xuân Đà Lạt. Anh chị rời Việt Nam từ những ngày Sài Gòn hấp hối, nên cũng đã hơn ba mươi năm rồi bây giờ anh em mới gặp lại nhau. Anh lớn hơn tôi gần mười tuổi, vừa bà con lại vừa là học trò cưng của ba tôi lúc anh còn học ở trường Pháp Việt, nên anh chị rất quý chúng tôi, nhất quyết bắt vợ chồng tôi phải ở lại nhà anh chị một tuần để cùng đi chơi với anh chị. Sau một ngày đi khắp nơi ở San Diego, chúng tôi đi một vòng sang khu nghỉ mát Cancun bên Mexcico. Đến ngày thứ bảy cuối tuần anh chị rủ chúng tôi đi tham dự buổi họp mặt của Hội Đồng Hương Đà Lạt, tổ chức tại Anaheim, gần khu Little Saigon, nhân tiện sau đó anh chị đưa tôi về lại nhà cô con gái ở Fullerton, cũng rất gần nơi ấy. Gia đình anh được giấy mời với bốn chỗ ngồi. Vợ chồng đứa con trai lớn không đi, nhường chỗ cho chúng tôi, bảo là chú thím ở tận bắc Âu, lâu lắm mới có dịp gặp nhiều đồng hương.

Không ngờ đã rời khỏi quê hương khá lâu, nhưng những người Đà Lạt còn giữ cái tình đồng hương đậm đà như thế. Hội trường không còn một chỗ ngồi. Nghe bà chị nói là họ đã đến từ khắp nơi trên nước Mỹ và Canada, một số từ Úc và Âu châu. Chưa tới giờ khai mạc, mọi người ngồi nói chuyện líu lo với những tiếng cười nghe như dư âm của một thời trai trẻ. Những cô gái với đồng phục áo dài trắng trong ban tổ chức đang chuẩn bị cho bài quốc ca, vẫn còn dáng dấp của Đà Lạt ngày xưa: môi đỏ má trắng hồng.

Chúng tôi ngồi ở dãy bàn đầu dành cho quan khách, cùng với gia đình của hai vị cựu giáo sư Bùi Thị Xuân khác. Trên sân khấu, một cái phông lớn là hình ảnh của khu chợ Hòa Bình và một mảng của hồ Xuân Hương trong sương mù. Tôi thầm phục người họa sĩ Đà Lạt nào đã vẽ bức tranh thật sống động. Tôi có cảm giác như mình đang ở một nơi nào đó trên thành phố thơ mộng một thời này. Ai đó đã nói đúng “người Việt nào ra đi cũng mang theo quê hương”.

Khi nghe cô MC giới thiệu thành phần ban tổ chức cuộc họp mặt hôm nay, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy toàn là phái nữ. Tôi chợt nhớ tới một bài viết nào đó mà tôi đã đọc đươc: Người Việt đến Mỹ, nữ giới thành công hơn là nam giới, và số lượng phụ nữ tham gia vào những hoạt động chính trị, cộng đồng ngày một nhiều hơn. Tôi nghĩ tới Dương Nguyệt Ánh, Lê Duy Loan, những người phụ nữ đã mang đến cho người Việt bao điều hãnh diện. Nhưng đến khi chị trưởng ban tổ chức có đôi lời cùng đồng hương, tôi mới hiểu thêm: Buổi họp mặt này là do các cựu nữ sinh trường Bùi Thị Xuân đảm trách.

Đang vui tôi bỗng ngậm ngùi khi một chị trong Ban Tổ Chức lên trình bày về hoàn cảnh thương tâm của nhà thơ Lệ Khánh. Bây giờ tôi mới biết Lệ Khánh là con gái của phó trưởng ty cảnh sát Đà Lạt và có cuộc hôn nhân thật buồn với một nhà thơ quân đội, lại là sĩ quan cấp tá trong ngành Tâm Lý Chiến. Bao nhiêu điều ấy đã đưa nhà thơ nổi danh một thời của xứ sương mù vào bước đường cùng, phải đi bán hàng rong, bán từng trái cà trái ớt trong cơn bệnh hoạn, và đứa con trai duy nhất phải đi ở mướn cho người ta. Ban tổ chức kêu gọi tình thương của những cựu Bùi Thị Xuân, của những người Đà Lạt cũ. Tôi thầm cám ơn tấm lòng của những người Đà Lạt và nghĩ đây là một việc rất nên làm.

Đến phần văn nghệ, cô MC giới thiệu “nhạc phẩm Ai Lên Xứ Hoa Đào với một giọng hát truyền cảm của một Bùi Thị Xuân ngày trước, đã từng làm điêu đứng bao trái tim học sinh, sinh viên Đà Lạt.”

Lời giới thiệu đó không có một chút cường điệu nào. Giọng hát cất lên cao vút làm cả hội trường im lặng trong khi lòng tôi lắng xuống thẫn thờ. Không phải vì giọng hát truyền cảm, mà vì người hát ấy chính là Hà Nhất Anh, người con gái có một mối tình buồn với người bạn tù của tôi ngày trước. Gần hai mươi năm rồi, khuôn mặt có đôi chút đổi thay, nhưng tôi vẫn nhận ra. Cũng với nhan sắc ấy, nhưng với nụ cười rạng rỡ, không còn nét buồn nào đọng trên đôi mắt.

Thấy tôi nhìn đăm đăm lên sân khấu, bà chị đập vai tôi:
- Bộ có quen hay sao mà nhìn dữ vậy? Hay lại là một người xưa?

Tôi quay lại, đúng vào lúc bài hát vừa chấm dứt. Chờ cho những tràng pháo tay, cùng những tiếng la hét lắng xuống, tôi ôm vai bà chị:
- Đúng là có quen, nhưng không phài người xưa của em, mà là hôn thê của một thằng bạn tù của em, đã chết ngoài Bắc! Chính em là người đã trao lại cho cô ấy những kỷ vật của anh ta, khi em vừa mới ra tù.
- Cô ấy là học trò cũ của chị, để chị gọi cô ấy lại nghe.

Tôi chưa kịp trả lời, thì bà chị đã vẫy tay gọi một cô trong ban tiếp tân nhờ đi mời “ca sĩ Hà Anh”.

Cô đến nhoẻn miệng cười, cúi đầu chào anh chị tôi và các thầy cô giáo cùng bàn, rồi khựng lại khi nhìn vợ chồng tôi, gật đầu nhưng không nói lời nào. Thấy tôi ngồi gần bà chị, nên cô nhìn bà chị như muốn hỏi chúng tôi là ai. Bà chị cười chỉ vào tôi:
- Đã gặp nhau rồi mà không còn nhận ra sao?
Cô nhìn tôi, rồi lắc đầu:
- Xin lỗi, em không nhớ ra.

Tôi có một chút khó chịu trong lòng. Hóa ra người đàn bà cũng dễ quên, ngay cả những kỷ niệm đáng ra phải nhớ trong đời. Giữ lịch sự, tôi nhìn cô:
- Có phải chị là hôn thê của anh Lê Minh Thống? Tôi là người đã trao cho chị những kỷ vật của anh ấy ở nhà Thủy Tạ, khi tôi vừa mới ra tù. Chị không còn nhớ?

Cô ta khựng lại giây lát, nhưng rồi lắc đầu:
- Xin lỗi, em không nhớ. Có lẽ anh nhầm em với ai đó!
Cô chào tất cả mọi người rồi vội vã quay về phía sau sân khấu.

Tôi nhìn sang ông anh bà chị nói cho đỡ ngượng:
- Chắc bây giờ chị ta đang hạnh phúc, nên không muốn nhắc lại chuyện tình xưa.
Trên sân khấu chương trình văn nghệ nối tiếp bằng một hài kịch. Thiên hạ cười ầm ĩ, trong lúc lòng tôi dửng dưng với một chút bẽ bàng.

Buổi họp mặt chấm dứt, tôi theo ông anh bà chị bước ra khỏi hội trường. Trong lòng không còn cái háo hức của lúc mới bước vào đây. Trống rỗng và một chút bực dọc.

Tôi đang đứng chờ ông anh bà chị đi lấy xe, thì một bàn tay đâp trên vai tôi. Quay lại, tôi ngạc nhiên khi nhận ra Hà Nhất Anh. Cô đưa cho tôi mảnh giấy, rồi bảo nhỏ, trước khi chạy nhanh về phía hội trường:
- Em xin lỗi, nhưng Anh nhớ phải đến nghe!
Tôi mở vội tấm giấy ra đọc. Chỉ có số điện thoại và địa chỉ, cùng với một dòng ngắn ngủi: “Suốt ngày mai, chủ nhật, em sẽ chờ anh ở nhà”.

Tôi cảm giác có điều gì lạ lắm. Và dường như cô ta muốn giấu mọi người. Nghĩ như vậy nên tôi không nói lại với ông anh bà chị và ngay cả vợ tôi. Ông anh bà chị đưa vợ chồng tôi về Fullerton, rồi hẹn quay lại sáng thứ bảy tới đưa chúng tôi đi thăm mấy người đồng hương và cũng là học trò cũ của cha tôi ngày trước.
Tôi nhờ cô con gái lớn gọi phôn, hẹn đến gặp vào lúc hai giờ chiều chủ nhật. Cô con gái chở vợ chồng tôi tới trước cổng nhà, sau khi xem đúng địa chỉ, bấm chuông, rồi lái xe đi, bảo khi nào cần gọi cellphone, sẽ quay lại đón.

Một ngôi nhà nhỏ, khá xinh, có trồng nhiều loại hoa Đà Lạt, nằm trong khu Fountain Valley yên tĩnh. Người ra mở cổng là một người đàn ông trẻ, khá bảnh trai với hàng ria mép. Anh gật đầu chào, nở nụ cười rất tươi bắt tay chúng tôi, giới thiệu tên, nói năng lễ phép bặt thiệp:
- Cám ơn anh chị đến thăm. Bà xã em mừng lắm, đợi mong từ sáng tới giờ.
Tôi bước vào sân nhà, với một ý nghĩ vừa thoáng trong đầu: Được một người chồng như thế, hèn gì cô ta chóng quên mối tình xưa.

Nhất Anh mang nước ra mời chúng tôi, vui vẻ, thân tình, khác hẳn với Nhất Anh trong hội trường ngày hôm qua. Tôi im lặng, bởi không biết phải nói điều gì, ngồi chờ cô ta lên tiếng trước. Một lúc im lặng, tôi bất ngờ nhìn thấy cô ta khóc. Anh chồng đưa giấy cho cô lau nước mắt.

- Mong anh chị tha lỗi cho em. Ngày hôm qua khi gặp anh, nghe anh nhắc tới anh Thống em xúc động lắm, lại biết chính anh là người đã mang về những kỷ vật của anh Thống nữa. Nhưng hôm qua đông người quá, em không tiện nói.

Tôi đỡ lời:
- Tôi hiểu. Làm sao mà chị có thể quên được mối tình đầu, vừa đẹp lại vừa buồn, nhất là anh Thống đã ở lại và bị chết oan ức cũng vì quá yêu chị. Phải không?

Rồi quay sang anh chồng, tôi lên giọng như một nhà tâm lý học:
- Ai lại chẳng có mối tình đầu. Và người chồng nào lại không tôn trọng cái kỷ niệm đẹp đó của vợ mình, phải không anh?

Anh ta không trả lời, chỉ cúi xuống với một chút bối rối.
- Xin lỗi anh. Em không phải là chị Nhất Anh, và cũng không phải là người yêu của anh Thống!

Tôi bất ngờ, vừa ngượng ngùng vừa hụt hẫng khi nghe câu nói của người con gái, mà tôi đã chắc nịch là Hà Nhất Anh. Bây giờ người bối rối lại chính là tôi.

Cô gái hạ giọng:
- Em là em kế của chị ấy và cũng là đứa em duy nhất. Ba má em chỉ sinh có hai đứa con gái. Chị em giống nhau lắm, nên có nhiều người cũng lầm.

Tôi nhìn cô ngờ vực:
- Tôi nhớ ngày hôm qua khi MC giới thiệu chị lên hát, cũng với tên là Hà-Anh mà? Tôi nghĩ Hà Nhất Anh, nhưng khi qua Mỹ người ta thường bỏ đi chữ lót.
- Đúng ra tên em là Hà Nhị Anh, nhưng bây giờ trong giấy tờ, em mang tên chị em: Hà Nhất Anh, mà Nhất Anh hay Nhị Anh gì sang đây, như anh nói, cũng đều gọi Hà Anh như nhau mà anh...

Đến lúc này thì tôi không còn hiểu gì nữa. Cô ta đứng lên nhoẻn miệng cười và mời vợ chồng tôi theo cô lên từng trên, cô bảo:
- Anh chị cứ theo em lên trên này thì hiểu nhiều hơn.

Ba tấm ảnh để trên bàn thờ nhỏ. Tôi nhận ra Thống và Nhất Anh, mặc dù lúc chụp những tấm ảnh này hai người còn rất trẻ. Còn tấm ảnh thứ ba, một người con gái khác, tôi không nhận ra ai. Tôi chưa kịp hỏi thì cô gái lại sụt sùi:
- Chị Nhất Anh đã chết khá lâu rồi anh ạ. Vào một ngày mùa đông mưa tầm tã, chị ấy đạp xe đi đâu không biết, cả nhà chờ cơm tới tối vẫn chưa thấy về. Từ trước chị không bao giờ đi đâu một mình vào buổi tối. Cả nhà em và mấy người bạn hàng xóm chia nhau đi tìm. Em đạp xe đi khắp nơi. Trời mưa lớn quá nên em lạnh cóng. Đường xá vắng tanh không một bóng người. Cuối cùng thì chính em tìm ra chị ấy. Chị nằm bất động bên bờ hồ Xuân Hương, không xa nhà Thủy Tạ bao xa.

Tôi giật mình hoảng hốt:
- Ở gần nhà Thủy Tạ, bên bờ hồ Xuân Hương? Rồi có tìm được chiếc xe đạp và cái gì nữa không?
- Chiếc xe đạp rớt xuống hồ, ngày hôm sau người ta mới tìm thấy.
- Và chị đã chết? Tôi hỏi.
- Không, khi ấy thì chị còn sống, nhưng bất tỉnh và mình mẩy thì lạnh cóng. Vào bệnh viện, nửa giờ sau chị tỉnh lại, nhưng rất yếu chưa nói được. Khi thay áo cho chị, em thấy trong túi áo có một sợi dây đeo cổ có tấm ảnh của chị và một chiếc vòng nhôm có khắc tên chị và tên anh Thống.
- Không có tờ bản đồ vẽ trại tù và nơi mộ anh Thống?
- Có chứ! Chính nhờ tấm bản đồ đó mà vợ chồng em, cách nay ba năm về Việt Nam, ra tận nơi tìm được, rồi thuê người lấy hài cốt của anh Thống mang về chôn trên Đà Lạt. Cám ơn anh đã vẽ cái bản đồ khá chi tiết và chính xác.
- Còn chị Hà Nhất Anh?
- Hai tuần sau, chị khá hơn nhiều, nói năng tỉnh táo, bệnh viện cho xuất viện bảo về nhà điều trị, bồi dưỡng là chị sẽ khỏe thôi. Nhưng không ngờ về nhà mấy hôm thì lên cơn sốt nặng rồi hôn mê trở lại. Đưa vào bệnh viện thì chị mất. Người ta bảo là chị bị sưng phổi cấp tính. Mà thời ấy có thuốc men gì đâu mà chữa. Trong mấy ngày tỉnh táo, chị thường nhắc tới anh Thống, năn nỉ ba má em tìm mọi cách đem anh Thống về Đà Lạt, và báo cho mẹ anh ấy biết. Lúc trước bà thương quí chị lắm, nên chị cũng rất thương và lo lắng cho bà, khi em gái anh Thống vừa quá trẻ lại vừa yếu đuối. Không ngờ đó lại là những lời trăn trối của chị.

Tôi thầm nghĩ, chính vì đi gặp tôi hôm ấy mà Nhất Anh chết. Chắc cô đã xúc động nhiều lắm. Lòng tôi chùng xuống. Tôi có cái cảm giác đau đớn như vừa có những nhát chém vô hình nào đó trong lòng mình. Tôi lấy lại bình tĩnh:
- Như vậy là bây giờ mộ của Thống nằm trên Đà Lạt?
- Dạ. Anh nằm bên cạnh chị Nhất Anh. Vợ chồng em mua lại mảnh đất tư gần khu rừng Ái Ân. Từ đó anh Thống có thể nhìn thấy Trường Võ Bị của anh lúc xưa và đỉnh núi Lâm Viên mà anh đã từng chinh phục.
- Đồi thông hai mộ! Tự dưng tôi buột miệng.

Đến lúc này tôi mới thấy cô nhoẻn miệng cười:
- Sau ngày 30 tháng 4/75, ở Đà Lạt có khá nhiều “đồi thông hai mộ”. Có dịp anh chị về Đà Lạt, ghé lại Rừng Ái Ân hỏi thăm, là người ta biết hai ngôi mộ của anh chị Thống-Anh.
- Thế rồi, cô có liên lạc được mẹ và em gái của anh Thống?

Cô không trả lời, mà lại mời vợ chồng tôi bước sang phòng bên cạnh. Căn phòng rộng, thoáng mát, có cửa kính lớn nhìn ra công viên phía trước. Một bà cụ tóc bạc trắng, nhưng da dẻ hồng hào, đôi mắt sáng, ngồi trên chiếc xe lăn.

Khi tôi cúi đầu chào bà, cô gái giới thiệu:
- Anh này là bạn tù của anh Thống ở ngoài Bắc.

Rồi quay sang tôi:
- Chắc anh ngạc nhiên lắm, đây chính là mẹ của anh Thống.

Bà cụ ôm lấy tôi, nước mắt trào ra trên đôi gò má. Bà hỏi tôi về Thống trong những ngày ở tù và vì sao mà Thống chết. Nhưng tôi chỉ kể vài kỷ niệm về Thống trong những lúc vui vẻ, và không dám nói cho bà nghe về cái chết thảm thương của Thống. Tôi nói dối là Thống chết vì bệnh kiết lỵ nặng mà nhà tù không có thuốc. Tôi tưởng nói dối như vậy cho cụ yên lòng, không ngờ cụ đã khóc ngất lên. Tôi chỉ còn biết ôm vai bà cụ mà im lặng.

Một lúc sau, bà cụ mới tỉnh táo và kể lại tai nạn xe hơi đã làm chết cô con gái, em Thống và làm tê liệt đôi chân của bà. Nhìn sang cô gái, bà cụ thỏ thẻ:
- Cũng nhờ vợ chồng cháu nó đây mà bác còn sống đến bây giờ.

Nhị Anh nắm tay bà cụ:
- Má coi vợ chồng em không khác gì con ruột của má. Em sang đây sau khi em gái anh Thống chết. Tấm ảnh trên bàn thờ lúc nãy là của cô ấy. Cô nhỏ hơn em tới sáu tuổi. Lúc ấy má đang làm chủ mấy sạp may, đã lo lắng tiền bạc cho em sang đây và cho em tiếp tục học xong đại học nữa. Ngôi nhà này là của má cho vợ chồng em đó chứ.

Vợ chồng tôi chào bà cụ, chúc bà sức khỏe và hứa bất cứ lúc nào có dịp sang Cali, sẽ ghé lại thăm bà.

Khi bắt tay từ biệt vợ chồng Hà Nhị Anh, chợt nhớ tới một điều, nên tôi hỏi cô:
- Khi nãy tôi có nghe chị nói là bây giờ tên tuổi của chị trong giấy tờ lại là tên tuổi chị Nhất Anh. Sao vậy?

Cô gái vẫn còn nắm chặt bàn tay tôi, kéo tôi ra xa, nhìn quanh rồi hạ giọng:
- Chính nhờ cái giấy của trại tù báo tin anh Thống chết, trong đó có ghi tên chị Nhất Anh là vợ, nên em đã thay chị ấy mà sang đây theo diện dành cho vợ tù nhân cải tạo bị chết trong tù. Em thấy xấu hổ lắm khi phải làm điều gian dối ấy, tội lớn lắm đối với luật pháp Hoa Kỳ, nhưng đó lại là ước mong của mẹ anh Thống, và của cả chị Nhất Anh trước khi chết nữa. Em săn sóc cho má bao nhiêu năm nay, nên má thương em như con gái má. Biết đâu đây là sự sắp xếp nhiệm màu từ chị Nhất Anh – anh Thống? Hơn nữa nhìn em cũng giống chị em lắm, và tên em với tên chị ấy cũng như nhau mà. Nhưng anh nhớ phải tuyệt đối giữ hộ cho em điều bí mật này nghe.

Vâng! Chính vì tôi đã giữ cho cô cái điều bí mật đó, nên hai cái tên Hà Nhất Anh, Hà Nhị Anh mà các bạn vừa đọc được trong truyện, đều không phải là tên thật của hai chị em nàng.

Phạm Tín An Ninh

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Thiên Đàng và Địa Ngục

Tác Giả: Huy Phương

“Bọn chúng ta hèn như bầy thỏ đế
Khổ đau chia, khi sung sướng một mình
Lúc lửa đỏ bèn cao bay xa chạy
Còn nhớ gì nghĩa huynh đệ chi binh!” (HP)

(Viết cho những hội cứu trợ thương binh)

Nhà văn Ba Tây, Paolo Coelho có một câu chuyện kể được xếp hạng là một trong những câu chuyện hay, đại khái như sau:
Một người đàn ông đang rong ruổi trên một con đường cùng hai con vật bạn đường thân yêu là một con ngựa và một con chó. Chẳng may họ bị sét đánh và cả ba đều qua đời, tuy vậy người đàn ông không biết mình đã chết, linh hồn của người và vật vẫn tiếp tục con đường của mình đi. Con đường dài và gian nan, người và vật phải qua bao nhiêu ngọn đồi dưới cơn nắng cháy da, họ đổ mồ hôi nhuễ nhại và vô cùng khát nước. Vừa qua khỏi một ngọn đồi, trên một triền núi, người lữ hành trông thấy một lâu đài tráng lệ, bèn đến gõ cửa. Ông nói với người gác cổng:
- Thưa ông, cho phép tôi hỏi, lâu đài đẹp đẽ này gọi là gì?
- Ông không biết đó thôi. Nơi này gọi là Thiên Ðàng.
Trong hoàn cảnh của người và vật bấy giờ, Thiên Ðàng hay Ðịa Ngục đối với họ không là gì cả, họ chỉ cần nước:
- Chúng tôi hoàn toàn kiệt sức và cần nước uống, tôi có thể vào đây để xin nước uống được không.
- Vào đây, ông muốn uống bao nhiêu nước cũng được, và muốn gì cũng có.
Người gác cổng mở cửa cho người lữ khách bước vào nhưng khi hai con vật bạn đường của ông tiến lên, người gác cổng ngăn chúng lại:
- Chỉ mình ông thôi, hai con vật này không được vào đây

Nghe vậy người lữ khách đứng sững lại. Mặc dầu khát khô cổ họng, ông không thể uống nước một mình. Ông cám ơn người gác cổng và mệt mỏi kéo hai con vật rời khỏi lâu đài.

Họ lại đi qua mấy ngọn đồi cát, gần như kiệt lực, cuối cùng thấy một chiếc cổng đã cũ nát, dẫn vào một con đường có bóng mát và trồng đầy hoa. Tiếng động của họ đánh thức một ông già đang nằm ngủ dưới gốc cây.

Người lữ khách lên tiếng:
- Chào ông, chúng tôi quá khát nước, hai con vật này cũng vậy.
- Có một con suối sau tảng đá kia, ông muốn uống bao nhiêu cũng được.
Sau khi đã no nê với những ngụm nước mát, họ trở lại con đường gặp ông già để cám ơn. Ông già nói:
- Không có gì, chừng nào thấy khát thì quý vị cứ trở lại đây!
- Ðây là đâu? Thưa ông?
- Ðây là Thiên Ðàng!
Người lữ khách ngạc nhiên:
- Ðằng kia người ta cũng nhận đó là Thiên Ðàng. Mình có thể nào ngăn chận một sự lạm danh như thế này không?
- Không cách nào cả ông ạ! Thật ra họ cũng chấp nhận một đặc ân lớn cho những ai có thể bỏ được bạn bè tốt nhất của mình, đều ở lại đó hết!

Ðừng bao giờ bỏ bạn bè của chúng ta, những người bạn chân thật đã cho chúng ta sự yêu thương và đồng hành. Ðừng bao giờ bỏ rơi họ, đừng bao giờ! Trên đời này có một người bạn là được một ân huệ. “Có được một người bạn là được một món quà. Giữ gìn và không bỏ bạn đạo đức. Ðược làm bạn của một người bạn là một vinh dự”.

Vậy mà chúng ta ra đi vào cổng “Thiên Ðàng” uống nước một mình, để lại biết bao nhiêu người gọi là “chiến hữu”, là “đồng ngũ”, là “huynh đệ chi binh”- danh xưng đó còn cao hơn cả tình bạn bè- mơ một ngụm nước giữa cơn khát cháy khô cổ họng. Tháng 4-1975, chúng ta đã có bao nhiêu anh hùng liệt sĩ hy sinh cho tròn danh tiết, như người hạm trưởng không bỏ con tàu lúc lâm nguy. Dần dà chúng ta còn tìm ra không biết bao nhiêu con người dũng cảm khí phách như Nguyễn Ðình Chi tự sát tại nhiệm sở, như Nguyễn Văn Long nổ phát súng vào đầu giữa công trường trong ngày Saigon thất thủ, như Nguyễn Hoàng Ân lao máy bay xuống biển không để lọt vào tay giặc khi phải bỏ miền Trung, như những người lính vô danh choàng tay chụm đầu chia nhau những mảnh đạn trên bãi biển Tư Hiền hay ở ngã ba Ông Tạ trên đường rút quân. Không phải ai cũng hành động được như họ. Họ không nỡ bỏ nhau, họ không thể bỏ bạn bè.

Nhưng chúng ta bỏ lại quá nhiều chiến hữu sau lưng. Nhiều người mất xác trong trại tù. Nhiều người chết ngoài biển Ðông. Chúng ta ra đi quá lành lặn, nhiều người còn đem theo của cải tích lũy từ máu xương của những người bạn đường cùng đi với chúng ta trong hai mươi năm. Chúng ta để lại hàng nghìn, hàng nghìn cô nhi quả phụ thương binh trong vùng đất địch. Ba mươi sáu năm nay, chúng ta đã thấy có vị tướng “công thành” nào nhớ đến “vạn cốt khô,” làm lấy một hành động có ý nghĩa cho những người “bạn đường” năm cũ đang giữa cơn đói khát nhục nhằn chưa? Kể cả một buổi lễ tưởng niệm, cầu siêu cho những người lính thuộc quyền ở lại chiến đấu anh dũng và chết oan khuất cho cấp chỉ huy lên máy bay lành lặn ra đi, cũng không thấy bóng dáng người tư lệnh năm xưa. Họ như “kẻ chăn chiên quay đầu chạy, bỏ bầy chiên lại cho lũ sói rừng!” Nhiều người đã trở về trận địa cũ năm xưa, không phải để tìm lại những chiến hữu ngày tháng cũ mà để bắt tay với kẻ thù hay đi tìm lạc thú, xát muối thêm vào vết thương của người ở lại.

Và chúng ta đang vào một nơi gọi là Thiên Ðàng để được sung sướng một mình. Những người lương thiện khi bỏ bạn bè, dù đang được no ấm, cũng có cảm tưởng mình đang ở địa ngục.

Thiên đàng như vậy phải chăng là nơi chúng ta có bạn bè và không bao giờ bỏ bằng hữu.

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Câu chuyện đổi đời của một gia đình H.O.
Huy Phương
Cựu Trung Úy Lê Văn Thiệu, tốt nghiệp khóa 1 Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt bị tập trung trong các trại tù cộng sản 7 năm.

Sau khi đi tù về, ông làm nghề thợ mộc nuôi con, cho mãi đến năm 1995, gia đình mới sang Mỹ theo một chương trình H.O. khá muộn màng: H.31. Sau 5 năm định cư tại Hoa Kỳ, năm 2000 con đầu là Lê Thành học xong bằng Master về ngành điện tử tại đại học UTA (University of Texas at Arlington). Năm 2004 con trai thứ ba, Lê Ðức Hiếu tốt nghiệp Master Computer science. Năm 2005, Lê Huy, con trai thứ nhì lấy bằng tiến sĩ cũng ngành điện tử. Năm 2010 con trai út Lê Ðức Hiển, ra đời năm 1972 sau khi ông Thiệu từ trại tù trở về, cũng đã tốt nghiệp y khoa.

Vào năm 2005, nhân ngày lễ kỷ niệm 15 năm ngày thành lập hội H.O. Dallas-Fort Worth, gia đình ông Lê Văn Thiệu đã được vinh danh là một gia đình đến Mỹ muộn màng nhưng đã sớm thành công trên đất người.

Năm 2006, ba anh em nhà họ Lê thành lập công ty “Luraco technologies, Inc.” sử dụng kỹ thuật cao (high-tech) chuyên về nghiên cứu và chế tạo sản phẩm cho quốc phòng Mỹ. Ba năm trước công ty được cấp kinh phí từ US Army để nghiên cứu và chế tạo ra một bộ cảm ứng thông minh (Intelligent Multi-Sensor) cho hai động cơ trực thăng chiến đấu hàng đầu của Mỹ là Blackhawk và Apache. Ðể làm được điều này, nghiên cứu (research proposal) của công ty Luraco phải xuất sắc và vượt trội hơn nhiều công ty danh tiếng khác. Phát minh bộ cảm ứng thông minh này của công ty Luraco sẽ tiết kiệm hàng tỷ Mỹ kim mỗi năm cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ về vấn đề bảo trì và an toàn cho hai loại máy bay trên. Hãng WPI tại Fort Worth, Texas đã mời Tiến Sĩ Lê Huy làm việc với chức vụ là khoa học gia (scientist) để đảm trách việc nghiên cứu về Flexible Active Circuits và Optical Sensors dùng trong hỏa tiễn và phi thuyền không gian.

Hai năm qua công ty Luraco cũng thắng được hai hợp đồng với US Air Force và được cấp kinh phí để chế tạo hệ thống kết nối những sensors FADEC (Full Authority Digital Electronic Control) trong động cơ phản lực F.35 của Không Quân Hoa Kỳ. FADEC là project lớn dưới sự giám sát của cơ quan NASA Hoa Kỳ. Ngoài NASA, công ty Luraco vinh dự được làm việc chung với Boeing và GE là hai công ty chế tạo động cơ phản lực (jet engine) cho phản lực cơ Hoa Kỳ.

Ðây là công ty duy nhất của người Việt Nam nhận được kinh phí trực tiếp từ Bộ Quốc Phòng Mỹ để nghiên cứu và chế tạo những sản phẩm kỹ thuật cao cho quân đội. Người Mỹ khó tin được là các em trong công ty mới mẻ này là con một gia đình tỵ nạn cộng sản chỉ mới đặt chân đến Hoa Kỳ từ năm 1995.

Thực dụng trong ngành thẩm mỹ ở Mỹ, Luraco là công ty đầu tiên sáng chế ra ghế Mini Pedicure Spa cho trẻ em, Jet nam châm (Magna-Jet) cho bồn Spa, máy khử mùi hóa chất (ChemStop) và máy hút bụi nail (Partigon) cũng như ghế Massage iRobotics. Hai năm liền 2010 và 2011 công ty Luraco được vinh dự đón nhận bằng khen là một trong 50 công ty Châu Á phát triển nhanh nhất trên toàn quốc Hoa Kỳ. Năm 2010 công ty Luraco được xếp hạng thứ 69 trong 100 công ty phát triển nhanh vùng Dallas Fort Worth do Khoa Thương Mại trường Ðại Học SMU bình chọn.

Trong bốn anh em nhà họ Lê, Tiến Sĩ Kevin Huy Lê là một thành viên trong Hội Quang Học Quốc Tế (The International Society for Optical Engineering) và là người giám định (Peer Reviewer) cho nhiều công bố về khoa học kỹ thuật cũng như tác giả của hơn 20 “technical publications in journals and conference proceedings.”

Những ngày ở Gio Linh

Nhớ lại những ngày xa xưa, Lê Thành, giám đốc công ty Luraco, ngày nay cũng là một MC và “Mạnh Thường Quân” của cộng đồng tị nạn tại Dallas, Ft. Worth đã nói rằng anh không bao giờ quên những ngày khốn khổ ở vùng quê Gio Linh, một vùng bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề, ngổn ngang những đống gạch vụn và những hố bom. Sau tháng 4, 1975, khi thân phụ phải vào trại tù tập trung, mẹ anh phải đưa các con về nương tựa bên ngoại. Khi mẹ anh kiếm được một chân y tá tại trạm y tế Gio Linh, Thành mới lên 5 tuổi, cùng với đứa em kế theo mẹ về trạm xá, còn hai em nhỏ trong đó có một đứa mới sinh phải “rứt ruột” gởi cho ông bà ngoại nuôi. Ba mẹ con ở trong một căn phòng lợp tranh, vách đất, không có điện bên cạnh trạm xá. Sau những giờ đi học, Thành phải đi mót củi, nấu cháo hay khoai và trông chơi với em. Thành rất thương mẹ, nhớ đến những lúc mẹ khóc, nước mắt ướt cả mặt anh, vì cuộc sống quá cơ cực, cô đơn, mà chồng không biết lưu lạc ở trại tù nào. Con đến trường thì bị gọi là “con ngụy,” mẹ nơi chỗ làm thì được xem là “chồng có nợ máu!”

Sau 7 năm, khi cha của ông đi tù về mở một tiệm mộc, mẹ ông bỏ việc trở về sum họp với gia đình tại thôn Gio Mai. Thành lên trung học rồi thi đỗ vào Ðại Học Sư Phạm Huế, những năm cuối cùng trước khi lên đường đi Mỹ, Thành dạy tại trường Cao Ðẳng Sư Phạm Quảng Trị. Nhờ những tín chỉ của ÐH Sư Phạm, chỉ 5 năm sau khi đến định cư tại Dallas- Ft Worth, Lê Thành đã lấy xong Master ngành điện tử, cùng với các em Lê Hiếu, bốn năm sau lấy bằng tiến sĩ cùng ngành để xây dựng lên một công ty có đủ khả năng cạnh tranh với các công ty lớn của Mỹ.

So với những gia đình cựu tù nhân khác, gia đình ông Lê Thiệu đến Mỹ tương đối muộn, vì lúc ra tù, ông tìm về quê cũ, một vùng đất xa xôi, nghèo khổ, xa ánh sáng đô thị, thiếu hẳn tin tức và bạn bè. Nhất là sau khi Thừa Thiên, Quảng Trị sát nhập với Quảng Bình của miền Bắc để thành Bình Trị Thiên, tỉnh này thuộc cơ chế hành chánh của miền Bắc, khắt khe và đầy sự kỳ thị. Mãi đến đầu năm 1990, khi thấy thấy rõ, chắc chắn bạn bè lên đường đi định cư ở Mỹ, ông Lê Thiệu mới dám nộp đơn cho công an địa phương.

Nhờ tinh thần hiếu học và sự cố gắng vươn lên trong hoàn cảnh khắc nghiệt của tuổi ấu thơ, đến Mỹ, anh em nhà họ Lê như giống tốt gặp môi trường đất đai, khí hậu, phân bón tốt đã đâm chồi, nẩy lộc, cho trái tốt. Tuy vậy “nhớ công ơn cha mẹ đã trải qua những nỗi nhọc nhằn, tạ ơn nước Mỹ, đất của cơ hội đã cưu mang cho chúng con một đời sống mới, và cộng đồng người Việt tị nạn luôn luôn gần gũi, thương yêu gia đình chúng con,” đó là những lời giãi bày của những đứa trẻ từ mảnh đất Gio Linh nghèo khó, hôm nay đã thành công trên đất nước Hoa Kỳ.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Giáng Sinh Năm Ấy!

Giuse Thẩm Nguyễn

Sau 30 tháng 4 năm 1975 khi Miền Nam Việt Nam bị rơi vào tay Cộng Sản thì tôi và những anh chị em Sĩ Quan phục vụ trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa phải đi tù cải tạo. Tôi bị nhốt ở Hốc Môn, một căn cứ Công Binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong khu ngoại ô Sài Gòn.

Chúng tôi bị lừa bởi chính sách cà-lăm của chính quyền Cộng Sản Việt Nam khi họ kêu gọi mang thức ăn đủ cho mười, mười, mười…. ngày. Chúng tôi phải ngồi nghe những anh cán bộ chính trị lên lớp mỗi ngày. Những anh cán bộ này có cùng một giọng điệu ngớ ngẩn giống nhau, như những cái loa tuyên truyền. Họ học thuộc lòng như con vẹt: nào là chính sách nhà nước, nào là chủ nghĩa xã hội, nào là Kác-Mác, nào là Lê-nin… Nếu đặt câu hỏi là họ bị bí liền, và khi bí thì họ chụp ngay cho người hỏi một cái mũ phản động. Sau ở lâu, chúng tôi còn khám phá ra một điều là nữa là anh cán bộ nào khi vào lớp cũng có một cái cặp đeo ngang vai, mà trong cặp thì chẳng có gì. Đúng là cái cặp Xã Hội Chủ Nghĩa. Thêm nữa mỗi anh lại phải sắm cho mình một cây viết, gài lên túi áo để chứng tỏ là mình cũng biết chữ.

Từ ngày bị nhốt vào đây, sau bao nhiêu cái “mười ngày” qua đi, tôi không còn hy vọng gì được thả về nữa rồi.Trong cái tâm trạng vô vọng, rối bời như thế thì Giáng Sinh lại về .

Tôi và các bạn tù đã đón mừng Chúa Giáng Sinh dưới gầm những chiếc xe nhà binh cũ ở trại Hốc Môn. Mùa Giáng Sinh năm ấy thời tiết thay đổi bất thường. Sài Gòn trở lên lạnh hơn mọi năm. Lạnh ở ngoài trời và lạnh cả trong lòng. Cái lạnh đêm đông lại buốt gía hơn khi phải xa nhà trong cảnh tù tội, đói rách, nằm ngủ dưới đất không chăn chiếu.

Nỗi nhớ nhà làm cho lòng người chùn xuống. Những người Công Giáo lặng lẽ nhìn lên trời cao, ước ao được đi xưng tội để chuẩn bị tâm hồn đón Chúa, được đến nhà thờ bái lạy Chúa. Những người khác thì gục đầu nhớ về những cuộc vui Giáng Sinh năm xưa. Tất cả những ước mơ, kỷ niệm đó bây giờ đang bị chôn vùi dưới gầm những chiếc xe nhà binh cũ này.

Nghĩ lại và thấy hối hận vô cùng vì bao năm được sống trong tự do tôi đã không chuẩn bị đón Chúa một cách có ý thức và chu đáo. Đã có những năm tôi bỏ xưng tội rước lễ, tôi bỏ lễ Giáng Sinh để dành hết thời gian cho những cuộc vui, những cuộc truy hoan, những đam mê tuổi trẻ. Tôi hối hận vì đã không dùng thời gian và hoàn cảnh Chúa ban cho mình để thờ phụng Chúa. Tôi hối hận vì đã đánh mất bao nhiêu mùa Giáng Sinh, hối hận vì đã đánh mất tuổi trẻ vào những cuộc vui vô bổ.

Mọi người, kẻ ngồi buồn so ôm đầu, kẻ nằm co co run rẩy vì lạnh gía chờ đợi những giây phút linh thiêng của đêm Mừng Chúa Giáng Sinh. Không gian u tịch, tăm tối vì thiếu ánh điện, vì lòng người hoang mang trống vắng. Thế rồi tiếng chuông nhà thờ quanh vùng Sài Gòn vang lên. Ôi! Tiếng chuông thân quen kỳ diệu, tiếng chuông bay vút lên cao, tiếng chuông ngân nga thánh thót. Không gian bao la mà tiếng chuông như bị ngăn cách bởi hàng rào kẽm gai, tiếng chuông đã trở thành nhửng lưỡi gươm đâm thâu những tâm hồn tù nhân giữa đêm khuya. Tiếng chuông làm tắc nghẹn tiếng nấc ai oán của bác tù gìa, với chòm râu rung rung đang ôm cái bánh xe máy cày trong đêm sương rơi lạnh buốt.

Tiếng chuông đã dứt từ lâu mà những người tù vẫn còn thao thức. Một anh bạn tù, là một nhạc sĩ có tài, đã gõ nhẹ vào những cái đinh ốc được treo dưới gầm xe tạo nên âm thanh của bản nhạc Đêm Thánh Vô Cùng. Silent night, Holy Night. All is calm, All is bright…. Âm thanh ấy như xoáy vào tâm hồn chúng tôi, rồi vài người lại sụt sùi, nức nở khóc.

Chính giây phút cô đơn và lạnh lẽo này tôi lại nghĩ đến Chúa. Tôi cảm được cái lạnh của Chúa trong hang Belem vào đêm Giáng Sinh năm xưa. Tôi nghĩ đến cảnh Thánh Giuse và Mẹ Maria bị từ chối, bị hất hủi nơi các quán trọ. Tôi nghĩ đến cuộc hành trình vô định của Gia Đình Thánh vào đêm đông ấy. Tôi nghĩ đến những bước chân lầm lũi trong gió đông giá buốt mà không biết là đi đâu và cuối cùng thì đành tạt vào hang đá lạnh dành cho thú vật ngoài đồng. Ôi! Chúa Hài Đồng đã sinh ra trong thế gian như thế sao? Tôi thấy thương Chúa quá. Chính đêm ấy tôi đã đón Chúa vào lòng tôi và Chúa đã chia xẻ với tôi thân phận của một người tù. Chúa đem cho tôi niềm tin trong lúc tuyệt vọng. Chúa đã đồng hành với mọi người, nhất là những người khốn khổ như chúng tôi.

Chúa đến thế gian để làm người, không phải là người giàu có cao sang, không ở trong cung đình gác ngọc vì thế nếu tôi tìm Chúa ở những nơi đó tôi sẽ không gặp Người. Chúa đến để đem bình an xuống những tâm hồn ngay thẳng đơn sơ, những người nhỏ bé, những em bé ngây thơ, những người cô đơn nghèo khó, những cụ gìa bị con cái hất hủi, những kẻ không nhà, những người bị tù đày và những người tội lỗi đang ăn năn hối cải.

Đêm Giáng Sinh năm 1975 ấy, mặc dù tôi không được đến nhà thờ, không được hát Thánh Ca Giáng Sinh, không được ăn tối chung với gia đình nhưng tôi lại cảm nhận Chúa đã đến với tôi, Chúa đã thực sự an ủi tôi. Tôi đã khóc với Chúa và lúc đó chỉ có một mình Chúa chia sẻ nỗi buồn của tôi mà thôi. Tôi tìm ra một điều là không có gì có thể ngăn cản được Chúa đến với tôi nếu tôi thực sự mở tâm hồn ra và ao ước đón Chúa. Trong đời sống, tôi cần có những giây phút yên tĩnh, giữ cho tâm hồn lắng đọng để cảm nghiệm về sự hiện diện của Chúa.

Từ Giáng Sinh năm ấy tôi bắt đầu nhận ra Chúa trong cuộc sống của tôi. Chúa đã an ủi và cùng đi với tôi trong bao năm dài trong trại tù cải tạo. Tôi đã biết lần hạt Mân Côi, biết đọc Kinh Thánh, biết nhìn lên trời để tôn vinh, cảm tạ những hồng ân Chúa đã và đang ban cho tôi.

Biết bao anh em tù đã tự tử vì thất vọng. Biết bao nhiêu người đã chết dần chết mòn, đã trở nên điên khùng vì mất niềm tin. Đi tù cải tạo, gia đình tan nát và ngày về lại vô định thì tìm cái chết là cách giải quyết mà họ nghĩ là tốt nhất. Nhưng may mắn cho tôi, tôi thì không thất vọng vì niềm tin của tôi là Chúa. Tôi đã có Chúa trong lúc khó khăn ấy và Chúa chính là niềm hy vọng duy nhất của tôi. Chúa đã thực sự nâng đỡ tôi qua bàn tay quyền năng của Ngài.

Chính Chúa đã thêm sức cho tôi để tôi vượt qua những năm tháng tù đày. Chúa lại thương gìn giữ gia đình tôi, vợ tôi và các con của tôi, để khi tôi được ra khỏi tù, Chúa lại cho chúng tôi đoàn tụ trong một đất nước tự do. Chúa ban cho chúng tôi dư đầy. Ôi, Lạy Chúa, con biết lấy gì để cảm tạ Chúa về bao hồng ân Ngài đã ban cho chúng con đây!

Bây giờ mỗi lần lễ Giáng Sinh về tôi lại được dịp nhớ lại đêm Giáng Sinh kỳ diệu ấy. Đêm Giáng Sinh mà tôi thực sự đã có Chúa. Tôi muốn dành cho Chúa một món quà sinh nhật thật tuyệt vời. Quà sinh nhật tôi dâng lên Chúa là một tâm hồn trong sạch, đơn sơ, thánh thiện và một cuộc sống dấn thân làm chứng nhân tình yêu của Chúa nơi anh em mình. Không thể đón Chúa mà lại làm ngơ trước những khổ đau của anh em vì Chúa đang sống và chia se nỗi đau của những người cùng khổ.

Lạy Chúa, con vui mừng và chúc tụng Chúa trong ngày kỷ niệm Giáng Sinh của Chúa. Xin Chúa luôn ở cùng con và hướng dẫn con tiến bước theo lối bước của Ngài .

Chúa ơi, con yêu mến Chúa.

Giuse Thẩm Nguyễn

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image

TIỂU ĐOÀN 42 BIỆT ĐỘNG QUÂN -
CỌP BA ĐẦU RẰN (KBC 4533)


Viết cho những Biệt Động Quân trên khắp bốn vùng chiến thuật,
Để tưởng nhớ hương hồn Cố Thiếu Tá Quách Hồng Quang
Tiểu Đoàn Trưởng cuối cùng của Cọp Ba Đầu Rằn.
Tác giả: NGUYỄN KHẮP NƠI
Được tuyển chọn kỹ lưỡng, được huấn luyện đầy đủ, với kỹ thuật chợt ẩn chợt hiện, đánh nhanh đánh gọn, binh chủng Biệt Động Quân, từ khi mới được thành lập vào ngày 1 tháng Bẩy 1960, đã lập được rất nhiều chiến tích, làm kinh sợ kẻ thù và là niềm hãnh diện của những người trai thời chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trong những Tiểu Đoàn nổi tiếng của các Tiểu Đoàn nổi tiếng nhất của Biệt Động Quân, chúng ta phải nói tới:

Tiểu Đoàn 42 “Cọp Ba Đầu Rằn” với vị Tiểu Đoàn Trưởng lừng danh: Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt.
Tiểu Đoàn 44 “Cọp Đen” với Thiếu Tá Nguyễn Văn Dần và huyền thoại “Nữ Hổ Tướng Hồ Thị Quế”.
Tiểu Đoàn 52 “Sấm Sét Miền Đông” do Thiếu Tá Nguyễn Hiệp làm Tiểu Đoàn Trưởng.

Với tinh thần dũng mãnh, cộng thêm với bộ quân phục mầu áo hoa rừng, chiếc nón sắt sơn rằn ri với đầu con ben đen thui, cặp mắt đỏ rực sáng quắc trên nền ngôi sao trắng toát, đã làm cho người chiến binh Biệt Động có một dáng vẻ oai hùng, đáng nể và đáng sợ (đối với Việt Cộng mà thôi) Cũng từ những oai hùng đó, danh xưng “Cọp Ba Đầu Rằn” đã trở thành một cái gì đó huyền thoại!

Bất cứ ai, dù lính hay dân sự, cũng ít ra có một lần nhắc tới hoặc được nghe kể về “Cọp Ba Đầu Rằn”. Thậm chí, mỗi khi nói tới Biệt Động Quân, đã có nhiều người tưởng rằng, danh xưng “Cọp Ba Đầu Rằn” là dùng chung cho tất cả những chàng trai Biệt Động.
Được gọi là cọp, đã cảm thấy mình mạnh bạo, oai hùng rồi,
Lại được gọi là cọp . . . ba đầu, rằn ri nữa!
Nghe càng thấy hùng tráng, độc đáo, phải không các bạn?
Thế nhưng, khi được hỏi:
“Cọp Ba Đầu Rằn” là cái gì?
Ai đặt ra cái danh xưng này? Đặt ra hồi nào? Ở đâu?

Nhiều Biệt Động Quân (trong đó có tôi) đã không có câu trả lời thỏa đáng.
Mãi cho tới gần đây, khi đọc bài viết của huynh trưởng Hồ Viết Lượng, tôi mới được mở mang trí tuệ. Xin được viết lại ra đây để quý độc giả cùng thưởng lãm:
“Cọp Ba Đầu Rằn” hay là “Cọp Ba Chân Đầu Rằn” cũng giống nhau, cũng là danh xưng của Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân.

Như chúng ta đã biết, binh chủng BĐQ được thành lập năm 1960 theo nhu cầu chiến trường lúc bấy giờ. Việt Cộng trong khoảng thời gian này, đã dùng những tên nằm vùng tổ chức những đám du kích để khuấy phá các vùng nông thôn hẻo lánh trên khắp lãnh thổ VNCH. Theo chính sách “Dĩ độc trị độc”, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, dựa theo lời khuyến cáo của các Tướng Lãnh và những chuyên gia quân sự, đã quyết định thành lập những đơn vị “Phản Du Kích” được gọi là “Biệt Động Quân”.

Hầu hết các vị chỉ huy, các binh sĩ của Biệt Động Quân, đều là những chiến sĩ xuất sắc, được tuyển chọn từ những đơn vị thiện chiến. Sau một khóa huấn luyện đặc biệt về du kích chiến ở các Trung Tâm huấn luyện BĐQ, đã được đưa ra phục vụ tại 50 đại đội BĐQ biệt lập ở khắp bốn vùng chiến thuật.
Trong khoảng thời gian từ 1960 đến 1964, các ĐĐ biệt lập này đã hoạt động thật là hữu hiệu. Họ đã áp dụng chiến thuật phản du kích, để tiêu diệt phần lớn lực lượng du kích của địch, làm cho chúng không còn hoạt động được nữa.

Để chống lại chiến thuật “Biệt Động” thần diệu này, vào khoảng đầu năm 1965, VC đành phải sát nhập các đơn vị du kích còn lại vào lực lượng địa phương của chúng, tạo thành những đại đội, Tiểu Đoàn và trung đoàn, để mong dùng số đông dành lại phần nào những mất mát trước đây.

Biết được âm mưu này của bọn VC, Bộ Tổng Tham Mưu của QLVNCH cũng đã nghiên cứu và quyết định gom những đại đội BĐQ biệt lập lại để tổ chức thành các Tiểu Đoàn, Liên Đoàn BĐQ, để đáp ứng lại với nhu cầu gia tăng của chiến trường.

Vào khoảng tháng 2 năm 1966, bốn đại đội BĐQ biệt lập sau đây đã được gom lại để thành lập Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân (KBC 4533):

* ĐĐ362/BL, được đổi tên thành Đại Đội 1/42, do Thiếu Úy Vương Văn Trổ (K.10 TĐ) làm Đại Đội Trưởng.

* ĐĐ 315/BL, được đổi tên là Đại Đội 2/42, do Thiếu Úy Nguyễn Tấn Giai (K.2 NT) làm Đại Đội Trưởng.

* ĐĐ 368/BL, được đổi tên là Đại Đội 3/42, do Thiếu Úy Hồ Viết Lượng (K.10 TĐ) làm Đại Đội Trưởng.

* ĐĐ 370/BL được đổi tên là Đại Đội 4/42, do Thiếu Úy Nguyễn Văn Út (K.18 VBĐL), sau là Thiếu Úy Nguyễn Văn Huy (K.16 VBĐL) làm Đại Đội Trưởng.

Khi đã thành lập xong, bắt đầu đi hành quân chung, thì Đại Úy Nguyễn Văn Biết (Biết “ống vố”) được chỉ định làm Tiểu Đoàn Trưởng.

Trên giấy tờ, thì TĐ 42 có 4 đại đội, nhưng trên thực tế, Tiểu Đoàn chỉ gom lại được có 3 đại đội mà thôi, còn đại đội 370 BĐQ Biệt lập (tức đại đội 4/42) vẫn còn . . . biệt lập.

Đ4/42 do Thiếu Úy Nguyễn Văn Huy (Huy lé) vẫn còn đang hành quân bảo vệ an ninh và là chủ lực của quận Thới Bình, thuộc tỉnh Cà Mau. Đại đội đang đóng đồn và khai quang, công tác còn dở dang nên chưa có thể về hành quân cùng TĐ được.

Trang bị ban đầu của các TĐ/BĐQ cũng như các TĐ/BB khác, chỉ có thêm một loại súng Shotgun, bắn đạn chài. Còn Quân phục thì BĐQ cũng vẫn mặc quân phục Bộ Binh màu xanh olive , chỉ khác bên vai trái có mang phù hiệu cọp đen và đội Mũ Nâu mà thôi.

Tiểu Đoàn 42/BĐQ trong thời gian đầu, được tăng phái cho Sư Đoàn 21 Bộ Binh, đã tham dự hầu hết các cuộc hành quân Dân Chí của Sư đoàn này tổ chức, tại các đia danh thuộc Khu 42/CT như sau:
· Kinh Thác Lác, Phụng Hiệp, Búng Tàu v…v… (thuộc tỉnh Cần Thơ).
· Đầm Dơi, Thới Bình, Khai Quang, Biện Nhị. Năm Căn, Bờ Đập v…v… (thuộc tỉnh Cà Mau).
· Rạch Sỏi, Đầm Răng, Đầm Rầy, Cán Gáo v…v… (thuộc tỉnh Rạch Giá).
· Hỏa Lựu, Hưng Long, Long Mỹ, Ngọc Hòa v…v… (thuộc tỉnh Chương Thiện).

Qua các cuộc hành quân này, TĐ 42/BĐQ đã chạm địch liên miên, giáng cho chúng những đòn chí tử, gây tổn thất nặng nề cho các đơn vị địa phương cũng như chủ lực của VC. Bọn nón cối bị đòn đau, sợ quá, bèn tìm hiểu điều tra cặn kẽ, xem ai đã đánh chúng những đòn tơi bời hoa lá như vậy? Sau khi biết rõ kẻ địch là Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân, với quân số chỉ có 3 đại đội, mang huy hiệu “Cọp Đen” trên vai áo, bọn VC đã kính nể, đã kinh sợ mà đặt tên cho Tiểu Đoàn 42 là:“Cọp Ba Đầu”

Sau một thời gian hành quân lùng và diệt địch, Tiểu Đoàn 42 BĐQ được nghỉ dưỡng quân. Vì mới thành lập, chưa có hậu cứ, nên TĐ phải dưỡng quân bằng cách . . . đóng quân dọc theo quốc lộ, tỉnh lộ, hoặc trong nhà của dân.

Trong thời gian đơn vị dưỡng quân tại xã Hoà Bình thuộc tỉnh Bạc Liêu. Một buổi sáng, Đại Úy Nguyễn Văn Biết, Tiểu Đoàn trưởng, đi ngang qua vị trí đóng quân của ĐĐ2/42, do Thiếu Úy Nguyễn Tấn Giai làm ĐĐT, ông thấy một số binh sĩ của đại đội này đang tụ họp để trang trí những cái nón sắt của họ bằng cách vẽ hình đầu cọp đen của binh chủng ở đằng trước và sơn rằn ri trên phần còn lại nón sắt bằng các màu đỏ, trắng, vàng, xanh v…v… trông rất “ngầu”.
Đại Úy Biết thấy cũng . . . hay hay, nên đã ra lệnh cho tất cả Tiểu Đoàn đều sơn và vẽ trên nón sắt giống như ĐĐ2 vậy.

Kể từ đó, mỗi khi Tiểu Đoàn đi hành quân, nhất là về ban đêm, cái nón sắt mầu trắng, đen, nâu, đỏ của Tiểu Đoàn 42 BĐQ hiện ra chập chờn như những bóng ma về đòi mạng bọn Việt Cộng, làm cho bọn chúng nổi da gà ớn lạnh sương sống, mất hết cả tinh thần chiến đấu. Vì thế, các đơn vị địa phương và chủ lực như Trung Đoàn 18B của bọn VC đã bị những thiệt hại nặng nề khi giao tranh với những “Thần Chết” ở Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân, trong những vùng chiến trận chung quanh Cần Thơ, Sóc Trăng . . v. . . v.

Rồi tới các cuộc hành quân Dân Chí, Tiểu Đoàn 42 BĐQ ít khi đụng độ với các đơn vị của VC, mặc dù tin tình báo đã xác nhận sự có mặt của bọn chúng. Sau này chúng tôi mới vỡ lẽ, khi dân chúng trong vùng hành quân cho biết, bọn cán bộ VC cao cấp đã chỉ thị cho các cấp chỉ huy địa phương : “Khi gặp Tiểu Đoàn “Cọp ba chân đầu rằn” hoặc “Cọp Ba Đầu Rằn”, là phải né, vì kỹ thuật tác chiến của Tiểu Đoàn này rất giỏi, tinh thần binh sĩ rất cao, gan dạ, không sợ chết. Chỉ khi nào không tránh né được mới phải đương đầu mà thôi! Nhưng dù có đương đầu, cũng tìm cách rút dù để bảo toàn đơn vị”.
Kể từ đó Tiểu Đoàn 42/BĐQ mới có danh hiệu là “Cọp Ba Đầu Rằn” hay “Cọp ba chân đầu rằn”.

Tóm lại, Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân, khi đi hành quân, chỉ có 3 đại đội và lính đội nón sắt có vẽ đầu cọp và rằn ri chung quanh. Tuy chỉ có 3 đại đội, nhưng Tiểu Đoàn đã giáng cho chúng những đòn chí tử, nên đám VC sợ quá, mới đặt tên cho Tiểu Đoàn này là: “CỌP BA ĐẦU RẰN”
Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân . . . thành danh là từ sự sợ hãi của bọn VC như vậy đó!

Cũng vì sự sợ hãi của bọn Việt cộng, trong suốt khoảng thời gian từ 1966 đến 1967, Tiểu Đoàn đi hành quân rất ít khi đụng địch. Đi hành quân cùng nhau, trong khi các đơn bạn đụng địch đánh nhau bể đầu sứt trán, thì Tiểu Đoàn 42 từ sáng đến chiều phè cánh nhạn, tìm mãi cũng chẳng có con nhạn Việt Cộng lạc đàn nào mà đánh đấm. Binh lính 42 chỉ mong các lực lượng bạn gọi mình tiếp ứng, để nhẩy vào đánh “ăn ké”.
Mỗi khi trực thăng chở quân tới chiến trường, đổ xuống toàn là “Cọp ba đầu rằn”, bọn VC hoảng sợ, đâu còn tâm trí đâu mà đánh, chúng tốc hầm cá nhân bỏ chạy tứ tán, trở thành mục tiêu ngon lành cho các phi công trực thăng võ trang, tha hồ mà nhả đạn mà không cần nhắm.

Đầu năm 1967, Tiểu Đoàn 42/BĐQ được lệnh của vị Tư lệnh QĐ IV, QK4, lúc đó là Chuẩn Tướng Đặng Văn Quang:
“ Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân phải sơn lại nón sắt bình thường như các đơn vị Bộ Binh khác”.
Thời gian này TĐ đã có đủ 4 Đại đội, ĐĐT Đại đội 4 bây giờ là Đại Úy Nguyễn Văn Út (Đại Úy Út đã hy sinh khi lên làm Tiểu Đoàn trưởng TĐ/41/BĐQ)

Khi TĐ42/BĐQ được lệnh tham dự Chiến dịch Dân Chí 42/SĐ21/BB, trong nhiệm vụ hành quân càn quét, tiêu diệt địch như các đơn vị bộ binh khác, Tiểu Đoàn đã đụng độ với Tiểu Đoàn chủ lực cơ động Tây Đô của VC trên bờ kinh Thác Lác, thuộc tỉnh Cần Thơ. Trong trận đụng độ này, TĐ 42 BĐQ đã tiêu diệt gần 2/3 quân số địch và bắt sống một số tù binh của đơn vị này.
Khi thẩm vấn, các tù binh cho biết: Cấp chỉ huy của họ, sau khi nhìn qua ống nhòm, thấy đơn vị trước mặt là bộ binh, nên đã ra lệnh cho bộ đội chuẩn bị giao chiến, không ngờ khi chạm trán mới biết là đã đụng với TĐ 42/BĐQ, vì thấy bên vai trái có dấu hiệu “Cọp Đen”.

Tiểu Đoàn 42/BĐQ là đơn vị đầu tiên của QLVNCH được huy chương của Tổng Thống Hoa Kỳ “President Unit Citation” và được nhận tới hai lần lận.
Tiểu Đoàn có giây biểu chương màu tam hợp (Bảo Quốc).
Trên cờ Tiểu Đoàn, có 6 lần được tuyên dương công trạng trước Quân Đội.

Những Sĩ Quan sau đây đã giữ chức vụ Tiểu Đoàn trưởng của Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân “Cọp Ba Đầu Rằn”:
Đại Úy Nguyễn Văn Biết.
Đại Úy Nguyễn Tấn Giai.
Đại Úy Lưu Trọng Kiệt (hy sinh trước Mậu Thân).
Đại Úy Chung Thanh Tòng (thời gian Mậu Thân)

Đại Úy Lê Thành Long.
Vị Tiểu Đoàn Trưởng cuối cùng của Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân, là:
Cố Thiếu Tá Quách Hồng Quang.

Theo lời kể của Huynh Trưởng Quách Thanh Thủy, anh của TT Quang, tôi xin ghi lại cái chết đau thương của Thiếu Tá Quang như sau:
“Những ngày cuối tháng tư đen năm 75, cũng như nhiều gia đình khác ở miền Nam Việt Nam có người thân làm việc trong chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa, nhứt là các quân nhân ở những đơn vị tác chiến, gia đình tôi luôn ngồi đứng không yên. Những tin tức đau thương cứ dồn dập đưa về từ các vùng chiến càng lúc càng bi thảm hơn mà người thân của mình ở trong đó thì vẫn biền biệt, không có cách nào để liên lạc thăm hỏi.
Bốn đứa em tôi, mỗi đứa ở một nơi, một ở ngành Trung Ương Tình Báo không thấy về, một ở Sư đoàn 5 Bộ Binh, một ở Tiểu Đoàn 32 Biệt Động Quận và một ở Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân.
Tiểu Đoàn 42/BĐQ trong cuộc triệt thoái Tây Nguyên của Tướng Phú, một tuần lễ sau trực thăng mới tìm được Bộ Chỉ Huy còn đang lội bộ trong vùng rừng núi Phú Yên, tất cả đều mang thương tích đầy mình. Tiểu Đoàn được đưa về căn cứ Long Bình ở Biên Hòa để tái trang bị và tiếp tục chiến đấu (hậu cứ của Tiểu Đoàn vẫn còn đóng ở cầu Rạch Ngỗng, Cần Thơ).

Chiều ngày 30/4/75, hai đứa em tôi, một ở TƯTB và một ở TĐ.32/BĐQ về tới nhà, trưa ngày 01/5/75 thì đứa ở SĐ.5/BB cũng về tới nhà, gia đình chỉ còn lo cho Quách Hồng Quang và trông đứng, trông ngồi. Má tôi không ngớt cầu nguyện Trời Phật thì xế chiều hôm đó Quang về tới nhà, trong mình vẫn cò mặc chiếc áo thun xanh, quần treillis rằn và đôi giày trận. Gia đình tôi hết sức vui mừng, mấy anh em chúng tôi được an toàn sau một cuộc chiến vô cùng bi thương và tàn khốc.
Gia đình chúng tôi xúm xít, hỏi tin nhau trong nổi vừa vui mừng vừa lo âu cho những ngày sắp tới. Mặc dầu có lịnh đầu hàng của Tổng Thống, nhưng Tiểu Đoàn 42 BĐQ vẫn tiếp tục chiến đấu như nhiều đơn vị bạn khác. Cho đến trưa ngày 01 tháng 5/75, khi không còn đạn dược và áp lực địch càng lúc càng nặng nề, thấy không còn cách nào duy trì được nữa, để bảo tồn sinh mạng anh em, Cọp Rằn đành phải tản hàng thoát hiễm.

Sau khi binh sĩ tản hàng, Quang và một số sĩ quan còn lại rời khỏi vị trí trên một chiếc xe Jeep chạy thẳng về Saigon trên xa lộ Biên Hòa. Trên lộ trình nầy, nhiều đơn vị Nhảy Dù vẫn còn đang chiến đấu với Cộng Quân. Xe Jeep vượt qua nhiều bức tường lửa, đến ngã ba Hàng Xanh thì đột nhiên có hai chiếc xe thiết giáp của Cộng Quân xuất hiện đuổi theo. Chạy tới cầu Phan Thanh Giản thì xe Jeep bị trúng đạn và bốc cháy, mọi người rời xe, cởi áo, thoát vào xóm.

Tiểu Đoàn 42/BĐQ Cọp Ba Đầu Rằn kể từ đây hoàn toàn bị xóa tên theo những đau thương của vận nước !
Luồn lõi đi bộ ra tới Saigon, ngang qua công viên có tượng đài Thủy Quân Lục Chiến, Quang kín đáo nghiêng mình chào kính Trung Tá Long, mặc sắc phục cảnh sát đả tự sát nằm chết trên thảm cỏ xanh, dưới chân tượng đài, trước Quốc Hội VNCH.
Trong lòng tràn ngập những nỗi niềm phẫn uất, không vội về nhà, Quang đón xe Honda ôm trước chợ Saigon chạy về trường đua Phú Thọ, nơi đặt Bản Doanh Hành Quân của Binh Chủng BĐQ, đến đây hy vọng sẽ gặp lại anh em và tiếp tục chiến đấu. Nhưng niềm hy vọng cuối cùng nầy bị gãy đổ : Phú Thọ lặng lẽ tiêu điều, nhìn vào bên trong thấy vắng hoe, không một bóng người, bên ngoài thì nhiều xác chết lính BĐQ nằm vương vãi trong bầu không khí đầy uất hận và tanh tưởi mùi máu của một cuộc chiến vừa tàn.

Quang trở ra bến xe đò chợ Bình Tây (Chợ Lớn Mới), với ý định tìm phương tiện về Miền Tây với Quân Khu IV, nhưng vô phương, vì mọi trục lộ lưu thông đều bị cô lập, Quang đành về nhà để chờ tin !
Chiều hôm đó thì bọn Cộng Sản nằm vùng ở lối xóm tìm đến ‘’thăm hỏi’’. Thiếu Tá Quách Hồng Quang, Con Chim Đầu Đàn của Tiểu Đoàn Cọp Rằn Miền Tây đành chịu bó tay thất thủ, đành mang ‘’Một Nổi Căm Hờn Trong Củi Sắt’’ dưới sự giám sát sắt máu của bọn người ô hợp, chân mang dép râu, đầu đội nón tai bèo và họng súng lúc nào cũng lăm le nhả đạn, cho đến ngày bị tập trung vào trường Quốc Gia Sư Phạm để vĩnh viễn ra đi vào chôn lao tù khổ sai được mệnh danh với mỹ từ ‘’Trại Học Tập Cải Tạo’’ !!!
Sau mấy tháng bặt tin thì có lịnh cho gia đình có thân nhân bị đi học tập cải tạo, được phép gởi thức ăn, quần áo và thuốc men vào bồi dưỡng. Quà được gởi đi vài lần, nhưng hồi âm thì không bao giờ nhận được !

Một đêm nọ, vào khoảng 3 giờ sáng thì có tiếng đập cửa của công an đòi xét nhà. Mở cửa ra thì thấy một bọn trên mười người, ăn mặc ô hợp, mang dép râu, đội nón cối, lăm le tay súng. Họ xông vào nhà, kêu mọi người trong nhà thức dậy, và lục soát kỹ lưỡng khắp mọi nơi. Sau một hồi lục soát, không tìm được gì khả nghi, một tên trong bọn lung mang súng K.54, lớn giọng trịch thượng hỏi:
“Tên nguỵ Quách Hồng Quang đâu ?”
Cả nhà tôi chưng hủng và nói:
“Quách Hồng Quang đã tuân lịnh nhà nước đi trình diện học tập cải tạo rồi, mấy ông hỏi như vậy là sao?”
Hắn nói:
“Tên ngụy Quách Hồng Quang đã trốn trại, bộ đội và nhân dân đang truy nã, nếu gia đình mà cố tình giấu giếm thì sẽ chịu trách nhiệm trước nhân dân. Nay tôi nói cho mà biết, phải thật tình khai báo với công an là hiện giờ nó trốn ở đâu thì sẽ được khoan hồng, bằng không thì chớ trách”.
Sau một hồi giảng thuyết chánh trị và đọc những qui định sắt máu nặng nề, những hăm dọa cố hữu, cả bọn rút lui. Hai hôm sau, bọn chúng còn trở lại hỏi gạn hạch phường khóm cùng một số người xung quanh là:
“Có thấy Quách Hồng Quang trốn trại trở về hay không?”

Gia đình chúng tôi lúc đó rất lo âu lẫn vui mừng, vì quả thật có nghe tin hiện có nhiều tổ chức Phục Quốc ở nhiều nơi và cũng có nghe tin nhiều sĩ quan trốn trại theo các tổ chức nầy. Nếu Quang thoát được thì là điều đại phúc vì sẽ thoát được những trả thù tàn bạo trong ngục tù Cộng Sản và anh em Phục Quốc có thêm được một chiến hữu giàu kinh nghiệm chiến trường, ngược lại, không biết rồi đây, bọn chúng sẽ có thái độ gì đối với gia đình chúng tôi trong những ngày sắp tới.
Sự chờ đợi của gia đình chúng tôi đã không lâu, vài tuần lễ sau đó, chúng tôi nhận được giấy báo qua đường bưu điện, yêu cầu chúng tôi đừng gởi quà cho Quách Hồng Quang nữa, vì:
“Quách Hồng Quang đã chết trong trại cải tạo rồi!”

Cầm tờ giấy báo nầy, gia đình chúng tôi đau buồn khôn xiết, xin được hướng dẫn đến viếng mộ. Sau nhiều lần tới lui, khiếu nại khó khăn, cuối cùng, chúng bằng lòng cho gia đình chúng tôi đi viếng mộ.
Thì ra, trại học tập cải tạo nầy là căn cứ trước đây của Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo VNCH, gọi là Thành Ông Năm, ở Hốc Môn. Mộ phần ở ngoài đồng, do anh em tù đắp bằng đất và có gắn một tấm bia bằng nhôm, loại dùng lót phi trường trực thăng trước kia. Anh em dùng đinh đục thành chữ:
“Mộ Phần Thiếu Tá Quách Hồng Quang, chết ngày 28 12 1975 – 26/10 Âm Lịch”.
Bên cạnh đó còn có hai ngô mộ nữa của một ông Trung Tá Pháo Binh và một ông Trung Úy, chết cùng ngày.
Anh em cho biết, ba người cùng vượt ngục vào giữa đêm, nhưng rủi bị phát giác.
Ông Trung Tá bị bắn chết khi chui ra được bên ngoài.
Ông Trung Úy bị bắn chết ở phía sau.
Quách Hồng Quang bị bắn tại vòng rào kẽm gai cuối cùng, nhưng chưa chết, còn nằm tại chổ. Sáng sớm hôm sau, Quang bị bọn VC kéo ra sân cờ xử bắn trước mặt anh em tù đồng đội.

Sau nầy, một vài anh em ra khỏi tù, có chứng kiến buổi xử bắn ngày hôm đó thuật lại rằng:
“Cuộc vượt ngục của ba người có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, nhưng vào giờ chót đã không thành công. Khi bị kéo vào sân cờ trước sự chứng kiến của anh em thì Quách Hồng Quang tuy bị mất máu quá nhiều nhưng vẫn còn sống.
Tên bộ đội thét bảo quỳ gối để nghe đọc lệnh xử, Quang dõng dạc trả lời:
“Tôi là sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, dù sa cơ nhưng không bao giờ quỳ trước kẻ thù. Bắn đi !”
Một loạt đạn AK chát chúa, kết liễu ngay tức khắc cuộc đời oanh liệt của một mãnh hổ Miền Tây!”
Quách Hồng Quang xuất thân khóa 14 trường Bộ Binh Thủ Đức. Đơn vị đầu tiên là Tiểu Đoàn 23 Biệt Động Quân ở Vùng II, với cấp bậc Chuẩn Úy, tham dự chiến dịch Đỗ Xá năm 1963 ngay khi trình diện đơn vị.
Sau Tết Mậu Thân, Quang được thuyên chuyển về Liên Đoàn 3/BĐQ ở Biên Hòa với cấp bậc Đại Úy. Khoảng một năm sau, thuyên chuyển về Liên Đoàn 4/BĐQ ở Miền Tây, khi ở TĐ41, có lúc ở TĐ43 và sau cùng lên Thiếu Tá, làm TĐT/TĐ42 cho đến ngày mất nước.
Cái chết oanh liệt trong hỏa ngục Cộng Sản của Quách Hồng Quang là một bi hùng ca, tuy ngắn gọn nhưng đủ biểu lộ một khí phách hiên ngang của người chiến sĩ VNCH, lưu lại bao nhiêu tiếc thương cho gia đình, cho bằng hữu. Thể phách tuy không còn, nhưng tinh anh chắc chắn vẫn còn bàng bạc với hồn thiêng, sông núi.

Cho đến nay, gia đình chúng tôi vẫn chưa tìm hiểu được hết các tài liệu về cuộc đời của Quách Hồng Quang trong quảng đời từ khi bước chân vào ngục tù Cộng Sản năm 75. nhưng chắc chắn rằng, cái chết của Quách Hồng Quang đã nói lên được tinh thần bất khuất của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, không hổ danh Cọp Rằn Miền Tây, dù bị sa cơ trong hỏa ngục của tập đoàn Cộng Sản Việt Nam, một tập đoàn hung hản và tàn bạo, vô nhân vào bậc nhất trên thế giới.

Bài viết nầy, chúng tôi kính tặng Gia Đình Mũ Nâu ở khắp nơi trên thế giới để ghi lại một kỹ niệm bi hùng, một hào khí ngất trời của những người chiến sĩ mang lý tưởng tự do: Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

----


Xin mời đọc một bài thơ hay
=================================



Thư cho những thằng chống nạng


Dăm bữa nữa là cuối năm – tết tới
tao bồn chồn đi đứng chẳng thể yên
nghĩ đến tụi bây – mà “đếch” có tiền
để làm chút quà ngày tư ngày tết

gió đông thổi, thương thằng ngoài Quảng Trị
cuối năm về, nhớ mấy đứa Bình Long
những thằng đui què từng gánh núi sông
giờ tàn lụi một đời trên đất giặc

tội tụi mầy, thằng binh nhì, binh bét
“vạn cốt khô” cho tướng soái, công hầu
vết thương xưa máu ngừng chảy từ lâu
còn đau mãi – vì bị đời quên lãng

tội tụi mầy, trước lằn tên mũi đạn
liều thân tuyến đầu để giữ giang sơn
buông súng, ở lại đây – nén căm hờn
lết từng ngày – thân con sâu cái kiến

ba mươi sáu năm sau ngày quốc biến
xương máu tụi mầy – đã chảy về đâu?
chống nạng nhìn thằng cuốn gói lên tàu
lăn xe, mũi lòng thương thân tàn phế

ba mươi sáu năm tụi mầy vẫn thế
cứ ngóng chờ bè bạn cũ thăm lom
bìa rừng, hốc núi đời sống tối om
còn ai nhắc tên mấy thằng tốt thí?

thằng vợ ốm nằm hành lang bệnh viện
thằng con đau hết gạo nấu trong nhà
lý lịch trích ngang gởi tận xứ xa
năm này năm khác – hồi âm chẳng thấy

tao biết tụi bây nhớ tình cố cựu
tao biết tụi mầy vẫn giữ nghĩa xưa
cái thói đời – nghèo giàu như nắng mưa
nhưng – không thể cùng ngồi chung một chiếu

thư gởi tụi mầy vài câu vá víu
nhắc một thời cùng bận áo nhà binh
mai tao sẽ cố chạy vạy, van xin
mong có chút, gởi tụi mầy đón tết

nguyễn thanh-khiết
tháng 12-2011

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

NGƯỜI TÙ TRẠI PHONG QUANG

(Tưởng niệm Anh Hùng Biệt Kích Mai Văn Tuấn)

Ngày 14 tháng 10, năm 1970, Lê Văn Ngưng, toán trưởng toán Biệt Kích Hadley, bị hình phạt nặng nhất theo quy luật của trại tù Phong Quang. Anh bị cùm cả tay chân rồi bị tống vào phòng giam kỹ luật (xà lim). Anh Ngưng đã chờ dịp này từ bao lâu nay. Bây giờ, có thể anh sẽ tìm hiểu được chuyện gì đã xảy ra cho anh Biệt Kích Mai Văn Tuấn.

Trong căn phòng giam nhỏ và dơ bẩn này, Ngưng đọc thấy danh sách của những người đã từng bị giam giữ ở đây. Hàng chử viết bằng máu trên tường đập vào mắt anh: "Mai Văn Tuấn - ngày 2 tháng Tám 1970". Đây là di bút cuối cùng của anh Tuấn, người tù Biệt Kích khổ hình đã chết trong phòng giam kinh khiếp này.

Anh Ngưng bị nhốt ba mươi ngày với cả hai tay bị còng, hai chân cùm bắt tréo lại, xiết chặc không cựa quậy được. Đây là hình phạt thông thường giành cho tất cả mọi tù nhân vi phạm kỹ luật của trại tù Phong Quang.

Sau ba mươi ngày, Thượng Sĩ Thông mở cửa phòng giam, tháo còng và cùm chân, rồi ra lệnh cho Ngưng đi ra khỏi phòng. Sau đó Thông bắt anh Ngưng phải nhận tội anh đã vi phạm để đến nỗi phải bị giam cực hình này. Ngưng không chịu nhận tội và nói anh đã không làm gì sai quấy. Thượng Sĩ Thông nỗi cáu lên, la hét lớn tiếng và ra lệnh cai tù giam anh Ngưng trở lại vào phòng giam địa ngục trần gian đó thêm mười lăm ngày nữa.

Lê Văn Ngưng đã không bị chết trong xà lim này, nhưng anh Mai Văn Tuấn đã kém phần may mắn.

Ở trong Nam, Tuấn là một thanh niên trẻ, đã tình nguyện vào làm Dân Sự Chiến Đấu cho trại Huấn Luyện Biệt Kích ở Long Thành. Sau một thời gian ngắn, năm 1967, anh tình nguyện xung vào lực lượng Biệt Kích nhảy toán ra Bắc. Anh được gia nhập vào các toán nhảy ngắn hạn ở miền bắc vĩ tuyến 17, vùng Mụ Gia và Đồng Hới, với nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo chiến lược liên qua đến việc cộng sãn bắc Việt chuyển quân vào Nam dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh qua biên giới Lào. Sau rất nhiều chuyến công tác nhảy Bắc, anh đã được đề bạt lên làm trưởng toán Biệt Kích STRATA. Năm 1968, Mai Văn Tuấn sa cơ vào tay giặc.

Thoạt đầu, Tuấn và toán của anh bị giam ở trại tù Thanh Trì vùng ngoại ô Hà Nội. Ở đó, các người cai tù thường nói với nhau là Tuấn không được bình thường, có vẻ mát dây nặng. Chúng không bao giờ biết chắc được là Tuấn điên thật hay giả. Dù sao đi nữa, với tài diễn xuất giả khùng giả điên, Tuấn đã tha hồ chửi bới cộng sản và chọc cho các cai tù ở Thanh Trì tức giận lộn ruột, nhưng chúng không đánh đập gì anh nhiều vì trong thâm tâm, chúng tin là Tuấn điên khùng thật.

Vào năm 1970, cả toán của Tuấn bị đưa qua nhà tù Phong Quang. Có thể vì chức vụ "toán trưởng" hoặc vì những trận "quậy" tưng bừng ở trại tù Thanh Trì, Tuấn bị tách ra và giam riêng ngay khi mới đến, hoàn toàn cô lập và bị cấm liên lạc với các tù nhân khác. Anh bị bỏ vào xà lim biệt giam. Không như những tù nhân biệt giam khác, Tuấn bị cùm cả hai chân, chân này cùm xích lên chân kia thật chặc, đây là cách cùm ác nghiệt nhất vì máu không thể lưu thông xuống cả hai chân đồng đều, đồng thời, vì các bắp thịt không được co giãn nên sẽ dễ đưa đến tình trạng tê liệt nếu bị cùm quá lâu.

Tù nhân tử hình chỉ có một việc làm duy nhất là đếm từng ngày một còn lại trên cõi đời của họ.
Image
Sau hai tháng bị giam trong xà lim, Tuấn bắt đầu tuyệt thực để phản đối sự cư xử khắc nghiệt vô cớ của trại tù Phong Quang. Sau vài hôm, cai tù bắt đầu theo dõi và vào xà lim kiểm soát Tuấn mỗi ngày. Họ khuyên bảo Tuấn nên ăn để sống nhưng anh nhất quyết tuyệt thực cho đến khi nào được thả ra khỏi xà lim và được giam chung với các anh em Biệt Kích. Sau một tuần lể, Đại Úy Thích trưởng trại và cán bộ chính trị trại tù Phong Quang đến xà lim đích thân khuyên bảo Tuấn nên ngưng tuyệt thực. Một lần nữa, Tuấn từ chối. Đại Úy Thích ra lệnh cho nhà bếp nấu cháo gà đem đến cho Tuấn. Ông tự tay đưa bát cháo cho anh ăn. Tuấn nhận lấy bát cháo gà, chần chừ một tí rồi bất ngờ anh vung bát cháo gà nóng hổi vào mặt tên trưởng trại. Tức ứa gan, Thích đánh đập Tuấn túi bụi và sai cai tù "tẩm quất" thêm cho Tuấn một trận nhừ tử.

Hai ngày sau, tên cai tù vào xà lim coi Tuấn còn sống hay không. Hắn thấy Tuấn trần truồng nằm trên sàn đất trong những bải xú uế của chính mình. Hắn hỏi tại sao Tuấn làm như vậy. Tuấn trả lời:

"Manh áo này không phải của chúng tôi, áo này là sản phẩm của xã hội chủ nghĩa, không phải của tôi, tôi không mặc".

Đêm đó, Tuấn lặng lẽ lìa đời một mình trong xà lim lạnh lẽo. Ngày anh chết, mồng Hai tháng Tám năm 1970 anh đã viết lại bằng chính máu của anh.

Qua ngày sau, người cai tù thường trực tên Đại đi vào xà lim xem tình trạng của Tuấn. Hắn thấy Tuấn đã chết từ lâu, cơ thể cứng ngắt và lạnh giá, hai đầu gối tréo nhau chĩa lên trời. Đại phải đi lấy rượu xoa vào hai đầu gối của Tuấn để rồi dần dần mới kéo thẳng hai chân anh xuôi ra được để tháo cùm chân ra rồi đem xác Tuấn đi chôn.

Những bạn tù của Tuấn kể lại, oan hồn của Tuấn thường hiện về, vất vưỡng gần cái xà lim ác nghiệt này. Chỉ ba ngày sau khi Tuấn chết, nhiều người thấy một bóng đen thấp thoáng bên ngoài khung cửa sắt phòng giam của họ. Khi các bạn tù dùng đèn dầu chiếu ra khung cửa, họ thấy một bóng đen đứng yên lặng trông rất buồn thảm, dáng dấp trông như anh Tuấn.

Cứ khoảng mười một giờ đêm, mọi người bạn tù ai cũng thấy oan hồn của Tuấn. Lần nào Tuấn cũng chỉ đứng yên lặng nhìn vào phòng giam chung. Sau một tuần lễ, một người bạn gọi tên của Tuấn, xin Tuấn đừng về đứng ngoài sân nữa và nói với Tuấn là họ không có liên can gì đến chuyện Tuấn chết, chỉ xin Tuấn hiểu cho và việc Tuấn về chỉ làm cho các bạn tù thêm buồn. Sau đêm đó, bóng đen trong đêm tối không bao giờ trở về đứng ngoài phòng giam chung nữa.

Nguyện cầu hương hồn của người trưởng toán Biệt Kích Mai Văn Tuấn siêu thoát và xin anh linh anh hãy trở về phù hộ cho đồng bào và quê hương sớm thoát khỏi ác nghiệt gông cùm của bạo quyền cộng sản việt nam.


Ngô Xuân Hùng
(trích dịch lại từ sách "Secret Army, Secret War" của ông Sedgwick Tourison)
phỏng vấn các cựu Biệt Kích bị giam ở trại tù Thanh Phong, trang 260-261)

Post Reply