Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

khánh Ly,Chuyện kể sau 40 năm
Chương 5


Từ thuở hồng hoang, thú vật đã biết tìm cho mình những hang ổ để sống. Là người, ai lại không muốn có một mái ấm gia đình, anh chị em quây quần yêu thương nhau, lẽ dĩ nhiên vẫn hơn những kẻ lạc loài không mái ấm tựa nương. Dẫu cho rằng tôi không thể yêu thương Bố Dượng như Bố ruột, nhưng nếu ông coi tôi như những đứa con của ông, điều đó sẽ an ủi tôi biết bao nhiêu. Với các em tôi, tôi yêu chúng, hay nói đúng ra, chúng tôi thương nhau như chị em cùng cha mẹ. Chúng còn nhỏ, chưa biết gì và ngay cả khi hiểu biết, chúng tôi cũng không hề phân chia… Bố chị… Bố em... Cũng chẳng bao giờ tôi quên ơn Dượng. Ông và Mẹ tôi cho tôi đi học đàng hoàng nhưng… lỗi tại tôi mọi đàng… Phần còn lại, tại ai, tôi không biết và chữ nghĩa đối với tôi như chuyện thần thoại, một điều không có thật.

Một năm nội trú trường Thánh Mẫu, tôi chỉ nhớ tên một người bạn, đó là chị Lài – đã lấy chồng và đi Pháp từ lâu – một chị nữa hiện là nữ tu, tôi vô tình gặp lại trong chuyến đi Vatican 1998. Phụng Hoà học chung với tôi ở Hưng Đạo. Em trai là Phùng Thuận vừa mất tại Cali. Ở nội trú, lễ Misa được lập lại như những năm tôi học ở St. Marie. Cũng 5 giờ sáng, chỉ khác là quần áo tuỳ tiện và không có mũ. Đặc biệt là không có cái món… cứt trâu rau dền nghiền nát trộn bơ. Mỗi tuần được ăn phở một lần. Bây giờ nghĩ lại, tôi nhớ cái câu… Phở không người lái. Tức là cách đây mấy chục năm, tôi đã được ăn phở không người lái… bằng đĩa. Hơi sâu chứ không phải tô, với nước và chừng… chục sợi bánh. Tôi đi trước Việt Cộng với Xã Hội Chủ Nghĩa nhiều năm…. Tôi không buồn vì trường mới di cư, tiền học phí thấp nên ăn uống có phần giản tiện. Một con tôm kho có thể ăn hết bữa cơm vì nó mặn như một… kho muối.

Tôi được vào nội trú là vì cái người con trai đã gọi tôi là… Bé Mai…. Mẹ bảo… để nó ở ngoài, nó phễnh bụng ra lúc nào không biết…. Tôi chẳng hiểu vì sao và thế nào là phễnh bụng. Phải chi Mẹ chỉ bảo cho tôi tường tận, như tôi và các con tôi bây giờ, thì đã không thành chuyện và cuộc đời tôi nó sẽ khác, phải khác đi nhiều. Đã không học được, không muốn học, nên ở nội trú mà tôi… quậy… tới bến. Bài không học, không làm, còn trùm mền soi đèn pin đọc thơ Nguyễn Bính, đọc tiểu thuyết. Gần hơn nữa là đã dám trèo tường đi chơi với Đạt. Ngay khi đưa tôi vào xin ở nội trú, Mẹ tôi đã tường trình đầy đủ những nét xấu và lì lợm của tôi, thế cho nên các sơ chú ý đến tôi nhiều lắm và hành động leo tường trốn đi chơi là giọt nước đã làm tràn ly nước. Lỗi của tôi. Một lầm lỗi không thể khoan nhượng và lần này không phải là giầy mà là củi tạ. Tôi không có lý do nào để bào chữa cho mình và chấp nhận trận đòn đau đớn hơn cả những lần trước. Mẹ đánh tôi là phải là đúng.

Đạt chỉ là một trong những người bạn của anh tôi. Ở tuổi đó, tôi chưa biết thế nào là yêu, thế nào là tình yêu. Chỉ thấy đi chơi là vui là đi, nào đã có vấn đề trai gái. Tôi có chung với anh tôi rất nhiều bạn, toàn là bạn trai. Đạt đẹp trai, học rất giỏi tôi thích, nhưng đó không phải là tình yêu bởi tôi mới 14 tuổi, ham vui, ham đấu láo và bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những bài hát, bài thơ tôi thuộc nằm lòng thay vì những bài học trong trường, mà dù cố gắng, tôi cũng chẳng thể nào nhét chúng vào đầu. Những bạn bè nào học chung với tôi, nếu còn sống đều biết rõ tôi là đứa học trò tồi nhưng là người có những bài thơ tuyệt vời của Nguyễn Bính và biết hát.

Tôi vẫn được đi học, vẫn đi chợ mỗi ngày, vẫn giặt quần áo và làm việc nhà kể cả công việc… đấm chân cho Mẹ là điều không thể thiếu được. Kể ra, nếu mọi chuyện cứ như thế tiếp nối nhau ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, đời tôi không biết sẽ như thế nào. Chắc lại lấy chồng, đẻ con và đau khổ như chị Yến thôi nhưng số tôi hình như được sinh ra dưới một ngôi sao xấu nhất trong các ngôi sao xấu, để luôn luôn nhận lãnh những oan khiên, tủi buồn lúc nào cũng chờ chực sẵn. Những chuyện chẳng đáng gì, dính vào tôi bỗng thành lớn chuyện – hình như đến bây giờ… cũng thế – không phải tôi hỗn láo, lì lợm không biết nhận lỗi, không biết phải trái nhưng tôi luôn luôn cúi đầu nhận lãnh một hình phạt bởi tôi nói ra không ai tin. Riết rồi tôi trở nên nhẫn nhục, im lặng nhận chịu những trận đòn, những lời đay nghiến, đôi khi độc ác của Mẹ dù tôi cố gắng tin rằng thâm tâm Mẹ không hề muốn nói ra và Mẹ cũng thương tôi vì chính Mẹ đã sinh ra tôi – niềm tin này đôi khi bị lung lay bởi nếu tôi cũng là con do Mẹ sinh ra, sao Mẹ lại không hề thương cho những trận đòn tôi phải chịu và sao Mẹ lại nỡ nói với tôi những lời cay nghiệt ấy – Vậy thì thân phận của tôi ra sao, như thế nào. Sau này, có lúc tôi hỏi… Mẹ nói thật đi, con có phải là con của Mẹ hay Bố Viễn… mang con về cho Mẹ nuôi… Mẹ tôi không trả lời.

Bà Nội tôi ở một mình trong một căn nhà khá rộng trong ngõ 20 đường Phan Thanh Giản. Bà ở trên gác, dưới nhà cho mướn. Ngoài đường, bên trái là tiệm ảnh Mạnh Đan, bên phải là Bệnh Viện Bình Dân và Cư Xá Đô Thành – sau này, ông Đổng Lân và cô Thanh Nga về ở đây – Bà tôi vẫn ở một mình từ hồi Di Cư, bà tiếp tục chơi hụi, bà nấu xà phòng xả, nấu cao ban long. Tôi chả biết bà chơi hụi hay buôn bán với những ai nhưng vẫn áo the đen, răng đen, bà cuốn tóc đi từ sáng đến chiều. Câu Bà thường nói… Giời ơi, nắng đến… há mồm ra… và,… Này, rồi còn đời các anh, các chị nữa. Không khéo ăn khéo ở thì rồi… biết đời nhau ngay… Mẹ tôi rất ít đến thăm Bà vì ngày xưa Bà đã cố ngăn cản, chống đối việc Bố Mẹ tôi lấy nhau. Rồi giờ Mẹ tôi đi thêm bước nữa, cái hố sâu ngăn cách giữa hai người còn bằng ngàn lần con sông Bến Hải. Tuy vậy ngày giỗ Bố, Mẹ tôi đưa tất cả chúng tôi đến Bà, chẳng có phân biệt, ranh giới nào giữa chị em chúng tôi. Chính bà Nội mua cho tôi cái xe đạp, rồi vì bị ăn cắp mà tôi nhớ đời trận đòn… mưa giầy của Bố tôi.

Một buổi chiều đi học xong, cái răng cấm của tôi đã hư và sưng tấy lên, đau quá, tôi đi thẳng đến Bệnh Viện Bình Dân xin nhổ – Bố tôi có quen cô Yến, y tá trưởng ở đây – nhổ xong tôi choáng váng mặt mày, đi bộ qua nhà Bà nằm nghỉ thì Mẹ tôi đến mắng chửi tôi và làm dữ với Bà tôi – chẳng hiểu vì sao – Tôi cố gắng giải thích lý do, Bà cũng nói vào cho tôi, vậy mà cơn giận của Mẹ mỗi lúc một dâng cao. Sau cùng, có lẽ vì nhịn quá lâu nỗi đau mất con, mất cháu, Bà tôi mát mẻ… Thôi chị ạ, tôi chỉ có một đứa con, giờ nó mất rồi, còn lại mấy đứa cháu, nếu chị không nuôi thì tôi nuôi… Thế là xong. Mẹ tôi đồng ý ngay không một giây suy nghĩ, Bà về nhẹ nhõm. Bà Nội tôi, ngó vậy nhưng cũng không phải là người ai bắt nạt cũng được dù Bà chỉ biết ký cái tên của Bà. Bà giỏi lắm và biết lo xa. Cái giường Bà nằm là cỗ hậu sự. Bà đã mua ngay khi mua nhà, tối Bà ngủ trên đó, tôi nằm dưới đất cạnh cầu thang cách chỗ Bà nằm một cái bàn nhỏ. Gian gác bên cạnh Bà cũng cho người thuê. Đêm nào Bà cũng đọc kinh Phật và tôi ngủ ngon trong giọng đọc đều đều của Bà mà không hề thắc mắc là Bà không biết đọc, tại sao Bà thuộc nhiều kinh thế.

Nhà tôi ở giữa ngõ tức là ngõ có đường vào và trổ ra một lối khác. Cách nhà vài căn là nhà anh Liêm với 3 người em trai và ông bố già, trước có trồng một cây đu đủ… đực – tức không bao giờ có trái – Tôi còn nhớ anh Liêm, Tín, Dương và Trực – đã chết trận – còn anh Liêm thì hình như vào Không Quân. Cả ông cụ và 4 anh em rất thương tôi, từ 4 anh em này, tôi quen biết Lê Nguyên Hải và Dũng lai Pháp, quen thêm Hạnh, người đẹp mà không hiểu sao các anh gọi là Hạnh Lỉn – tức là nhỏ – nhà Hạnh ở con đường nhỏ song song với đường Cao Thắng (sau này Hạnh là vợ của nhạc sĩ nổi tiếng Trường Hải). Nhà của Đạt cũng nằm trên con đường Phan Thanh Giản. Đạt đang chờ giấy tờ đi Mỹ, tôi vẫn đi học, để làm gì chẳng biết. Đạt bảo… khi nào học xong, anh sẽ về cưới em… Tôi chỉ cười và lại đưa hết thư tình cho bác Ngọc Hoài Phương cất giữ… Người ta nói vậy thì cứ biết vậy. Sau đó Đạt đi Mỹ và hình như chẳng có lá thư nào của Đạt gửi cho tôi, về địa chỉ nhà Đạt.

Tôi hay bu theo đám bạn con trai. Đi nhảy đầm… ké, vì đôi khi những nhà giàu có, dân trường Tây tổ chức bal famille tại nhà hoặc ở cercle, làm sao chúng tôi được mời. Ấy thế mà cũng mò vào được cả đám. Băng chuyên nhảy biểu diễn của chúng tôi có thêm Khánh, vua BeBop ở Tây về, có biết thêm Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Thế Khanh tiệm vàng Nguyễn Thế Tài và mấy người con bên tiệm vàng Nguyễn Thế Năng. Nhảy đầm thời đó là nhảy biểu diễn, lấy hay lấy đẹp chứ không có chuyện lợi dụng nhau nên những cuộc nhảy với dân nhà giàu, chọn lọc thật vui. Tôi biết nhảy tự… mình ên, không ai dạy cả và bị đòn bằng củi tạ cũng nhiều vì cái vụ bỏ nhà đi nhảy. Cái tật ham vui phải trả những giá thật đắt. Thường là thế. Nhảy tại gia chưa đủ, tới vũ trường luôn và chính cái lúc tôi biết thế nào là vũ trường, Lê Nguyên Hải… tỏ tình với tôi dưới cây đu đủ đực nhà anh Liêm. Đạt đi rồi, mọi người coi tôi như một thằng con trai, thế nên khi Hải ôm tôi – nhẹ thôi – tôi quả có thấy trái tim tôi đập nhanh hơn và có cái gì là lạ chạy trên da thịt tôi. Thật ra, tôi có chú ý đến Hải hơn các bạn khác nhưng vẫn không hiểu vì sao, chỉ biết không gặp, thấy nhớ nhớ, mong mong. Gặp rồi thì vui nhưng vẫn không biết “nó là cái gì và vì sao”. Chúng tôi một bầy con nít chơi với nhau, đã có đứa nào biết yêu hay có bồ đâu. Tôi thích Hải. Anh học giỏi, hát hay và nhảy đầm cũng không thua ai. Năm đó là năm thứ nhất Hải vào trường Dược.

Khiêu vũ trường Đồng Khánh là nơi đầu tiên tôi tới để nhảy và ở đó, tôi nghe nữ ca sĩ Mai Ly hát. Tôi không còn nhớ mặt chị, chỉ mang máng là dưới ánh đèn mờ ảo, chị Mai Ly xinh đẹp và hát hay. Thế rồi trong một lúc hứng thú, lại được các bạn khuyến khích, tôi trèo đại lên sân khấu và xin với ban nhạc cho tôi hát bài “Con thuyền không bến” của nhạc sĩ Đặng Thế–Phong. Giám đốc, ban nhạc coi tôi như một người khách nổi hứng bất tử nên chẳng ai thắc mắc. Nhiều lần sau đó, chúng tôi kéo nhau đến nữa và lần nào tôi cũng leo lên hát. Nào là “Lá thư” nào là “Chiều vàng” nào là “Gửi gió cho mây ngàn bay” cũng chẳng ai thắc mắc gì cho đến một đêm cảnh sát ruồng xét và phát giác ra tôi mới… gần gần 16 tuổi. Tôi được vào ngủ trong đời lần đầu tiên trong đời ở Tổng Nha Cảnh Sát. Ngày hôm sau, Bố tôi vào ký giấy tờ lãnh tôi ra. Tới cổng, ông quay sang tặng tôi một cái tát trời giáng, thấy mấy trăm ông trời rồi lên xe bỏ đi. Tôi đi bộ về nhà, mặt tỉnh queo. Sau đó, ông và Mẹ tôi nói thẳng… Muốn đi hát thì đừng bao giờ về nhà vì nhà này không có… mả làm ca sĩ.

Tôi vẫn vô tư, hồn nhiên vì đã có Bà Nội nhưng chính Bà cũng không muốn thấy tôi đàn đúm với một đám con trai. Bà cũng la mắng tôi đều đều như khi bà… tụng kinh vậy và Bà lại càng không hiểu… ca sĩ là cái gì. Mà của đáng tội, tôi chưa chính thức bồ bịch với ai trong đám bạn trai trời đánh của tôi ngoài Hải là người tôi mới hơi… mong chờ. Đám bạn trai của anh Sơn tôi thì người nào cũng thương tôi và xem tôi như một đứa em trai. Ấy vậy mà rồi Hải và tôi, cả hai đứa chưa kịp nói một tiếng yêu, Hải đã bỏ trường Dược gia nhập binh chủng Không Quân. Cũng như Đạt, Hải hẹn tôi ngày tôi ra trường và chúng tôi hồn nhiên nhìn một Lê Nguyên Hải hào hoa, học giỏi, hát hay, nhảy đẹp đi vào cuộc sống quân ngũ. Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn gặp nhau, tụ họp nói dóc và đi nhẩy đầm. Cũng là dịp biểu diễn cho Hải nghe. Thời đó tôi cũng đã biết hát nhạc ngoại quốc như Crazy Love – You are my special Angel – Put your hand on my shoulder – Only you và Unchain Melody, tiếng Tây thì Mavie – Non Je ne regrette rien – Sur le chemin de ta maison – Hải gọi tôi là Connie Francis. Thời gian này, tôi quen biết nhạc sĩ Tùng Giang ở khiêu vũ trường Đồng Khánh….

… Đầu Đông, Đà Lạt thật tuyệt vời. Bà chủ Night Club là một bà già gốc Hoa. Có lúc bà cay nghiệt nhưng cũng có lúc dễ thương, thông cảm với cuộc sống của các chị vũ nữ làm việc với bà vì nhiều người vào nghề vì hoàn cảnh gia đình. Có chị ngày đi học, tối làm vũ nữ, có nhiều chị chồng đi lính xa, phải nuôi cha mẹ già và một bầy con. Tối đến, dưới ánh đèn mờ ảo của vũ trường, chị nào trông cũng lộng lẫy vì thực sự ngoài đời, các chị là người đẹp chẳng may trời bắt nghèo. Nhưng cái nghề này, theo tôi là một nghề lương thiện. Làm vũ nữ không có nghĩa là… đi đêm với mọi người. Không ai bắt các chị làm đều đó dẫu đó là bà chủ, cho dẫu người khách đó là triệu phú. Ngoại trừ trường hợp các chị để lòng yêu thì đó là quyền riêng của các chị. Giới giang hồ thường có mặt theo yêu cầu của bà chủ, để bảo vệ cho chúng tôi và nhà hàng trong những trường hợp khách say sưa, quậy phá đánh lộn. Chúng tôi trở thành một nhóm, coi nhau như anh chị em trong nhà. Tuy họ giang hồ, tuy các chị là vũ nữ nhưng tất cả, theo cái nhìn và sự hiểu biết của tôi, họ là những con người trọng tình, trọng nghĩa gần gần giống tinh thần Lương Sơn Bạc nhưng họ không phải là những tay giết người, không chơi gác kẻ yếu thế, bênh vực người, che chở người yếu đuối. Họ cũng là người có học, trường Tây có, trường Ta có. Tôi giành được sự chăm sóc của các anh chị trong suốt những năm tháng ở Đà Lạt. Một bài học. Một kinh nghiệm rất đáng trân trọng cho cuộc sống. Kinh nghiệm đó sẽ được sử dụng như thế nào, theo chiều hướng nào. Đúng là một bài học tốt cho tôi.
__________________


còn tiếp

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Tiếng Dương Cầm Trong Đêm Vắng
Phương Duy

Trời mưa. Mưa mãi không dứt. Mùa mưa ở Seattle, sáng ngày vừa mở mắt ra là thấy trời mưa. Rồi mưa tiếp tục rỉ rả cho đến chiều tối. Mưa dầm dề làm Tuấn nhớ lại những ngày mưa ở Huế khi chàng đang còn là sinh viên văn khoa. Không biết nước ở đâu mà ngày nào cũng trút như xối xả từ tầng trời xuống.

Seattle, thành phố với những ngôi nhà chọc trời màu xám lại càng xám xịt hơn vào lúc này. Ngôi tháp cao Space Needle, biểu tượng cho thành phố tây bắc nước Mỹ này, bị che khuất sau những cột nước trắng xóa. Từng cơn gió lạnh từ phía bắc, thổi qua Alaska và Canada đưa xuống; Tuấn cùng mấy người bạn nghiện cà phê lái xe tấp vào quán café Cỏ Hồng, ngồi nhâm nhi cốc cà-phê nóng hổi và thơm lừng. Cô chủ quán đang điều chỉnh âm thanh vừa đủ nghe cho một dĩa CD nhạc thính phòng. Tiếng violon nghe cao vút hòa với tiếng nhạc đệm trầm trầm của piano. Trời thật lạnh, nhâm nhi cốc cà phê nóng, nhưng không được hút thuốc lá nên mặc dù ngồi trong gian phòng nhỏ có sưởi vẫn thấy chưa đủ ấm.
Tuấn lên làm việc ở đây đã tròn một năm. Chàng phải xa người vợ trẻ vì lý do sinh kế. Ở San José mãi cũng chán, mà cũng không có việc gì cho chàng làm tuy chàng đã gửi resumé đến nhiều hãng xưởng để xin việc. Nơi nào cũng bảo chờ. Nên khi nhận được thư của một người bạn ở thành phố Kent, tiểu bang Washington mời lên chơi là chàng đi liền.
Từ Bắc Ca-li, chàng phải lái xe hơn mười sáu tiếng đồng hồ mới đến chỗ bạn chàng ở. Bạn chàng giới thiệu những công việc ở đây thường cần như lên Seattle ghi tên đi làm cá ở Alaska, lương cũng khá hoặc nếu sợ lạnh thì xin làm chân đứng bán hàng cho một tiệm furniture Mỹ ở đây cũng nhàn. Nghe nói có lương khá cao, nên Tuấn đồng ý nộp đơn xin đi Alaska sáu tháng “thử thời vận”.
Đi đến văn phòng tuyển mộ nhân công, thì được trả lời vì là đang mùa đông nên hãng chỉ nhận những nhân viên cũ đã làm qua một hai mùa trước, còn nhân viên mới phải chờ đến mùa hè năm sau mới có đợt tuyển. Cuối cùng, chàng đành phải chọn việc làm sales person cho hãng furniture Mỹ. Tuấn tuy là người Việt chính cống, nhưng khi mới tiếp xúc lần đầu ai cũng nghĩ chàng là dân Châu Âu hoặc dân lai Âu vì chàng cao lớn, mũi cao, để ria mép và phát âm tiếng ngoại quốc rất chuẩn xác. Nhờ nhân dáng bề ngoài như thế nên khi đến xin việc, chàng được chủ Mỹ nhận ngaỵ
Hàng ngày công việc tiếp khách đến mua hàng đối với Tuấn cũng không khó lắm. Có khách thì chào hàng, vắng khách thì bày thêm hàng mới hay phủi bụi các món hàng bày ở show-room. Khi còn là học sinh, Tuấn ở nội trú trường Providence do các vị linh mục người Pháp giảng dạỵ Ngôn ngữ chính dĩ nhiên là Pháp ngữ. Ngoài giờ học các môn học trong chương trình trung học, thấy Tuấn có khiếu và thích học thêm ngoại ngữ nên cha Oxarango đã dạy thêm cho Tuấn tiếng Espagnol, cha Lefas dạy thêm tiếng Latin và tiếng Ý, cha Thích kèm thêm chữ Hán ngoài việc cha Bính dạy Việt ngữ. Tuấn nghĩ học thêm ngoại ngữ để có khả năng đọc thêm sách vở giải trí. Chứ tiếng Espagnol, tiếng Ý... ở Việt-Nam ít khi đem ra thực hành. Chàng đâu có ngờ hiện nay những ngoại ngữ chàng đã học giúp chàng làm “cần câu cơm” tại Hoa Kỳ.

oOo

Ông George, chủ tiệm furniture thấy có mấy người khách từ Canada sang. Họ nói tiếng Pháp, nên ra hiệu cho Tuấn ra chào hàng, vì trong tiệm Tuấn là người duy nhất biết tiếng Pháp. Sau một thời gian ngắn làm việc, ông chủ lại thấy người salesman này không những tiếp khách Mỹ, Canada mà Tàu, Việt-Nam hay dân Nam Mỹ đều “good deal” cả. Vì chàng nói chuyện với khách hàng bằng “ngôn ngữ của khách” nên dễ gây cảm tình. Trong lĩnh vực buôn bán, vấn đề cảm tình là một lợi thế để hướng dẫn khách mua hàng. Mà “ngôn ngữ của khách” là quan trọng.

oOo

Sau một ngày làm việc mệt nhọc, chàng thường lái xe ra bãi biển để cho đầu óc bớt căng thẳng. Những bãi biển quanh vùng Puget Sound như Redondo, Des Moines, Federal Way, Tacoma, Gig Harbor... đều có dấu chân của chàng. Đôi khi chàng còn rủ một số bạn bè đi bắt sò ở những vùng biển vắng vẻ. Những nơi này chàng thường gặp nhiều người Lào và một ít người Việt sinh sống bằng nghề biển. Những ngày nghỉ lễ, chàng đi câu cá ở Green River hay ngồi ngắm giòng sông White River chảy lững lờ giữa những tảng đá nhấp nhô để hồn trở về những giòng sông ở quê hương Việt Nam xa cách.
Có một kỷ niệm vui vui mà chàng còn nhớ mãi. Đó là một ngày chủ nhật, khi chàng đến thăm một người bạn ở thành phố Federal Way gặp lúc bạn chàng sắp vào các farms của người Mỹ Da Đỏ để mua vịt sống về nuôi. Chàng liền tháp tùng để biết thêm các sinh hoạt của người Da Đỏ tại đia phương như thế nào vì từ trước đến nay, chàng chỉ thấy người Da Đỏ trên màn ảnh mà thôi.
Xe dừng lại ở một nông trại, bạn chàng giựt chuông. Hai vợ chồng người da đỏ ra mở cổng đón khách vào. Hướng dẫn khách đi xem các khu chuồng nuôi gà, nuôi vịt, nơi ấp trứng... Bạn chàng muốn mua mười hai con vịt xiêm. Chủ hẹn sáu hay bảy giờ chiều đến lấy mà không cho biết lý do tại sao lại giao hàng chậm như thế.
Đúng giờ đã hẹn bạn chàng đến nhận vịt đem về. Đến nhà, Tuấn vội vã bỏ vịt xiêm vào chuồng, bỗng rất ngạc nhiên khi thấy bốn con vịt mập nhất bay bổng lên cao rồi mất dạng. Cả nhà cười lớn. Tuấn ngơ ngác.
Người bạn giải thích:
- Mấy người da đỏ này đã “chơi trò tâm lý”: nghĩ là mình ở rất xa, nên họ chờ đến tối mới giao hàng. Vì đến tối mới dễ bắt vịt trời trong chuồng giao cho mình cùng với vịt nhà. Ít khi khách trở lại nông trại để khiếu nại vì chỉ mất vài ba con vịt chẳng là bao mà phải lái xe đi xa nên ngại, vả lại họ bán vịt với giá quá rẻ gần như cho không. Nhưng hễ ai đến nông trại những lần sau, nhắc lại “trò đùa” đó thì chủ nông trại vui cười sẵn sàng bồi hoàn vịt khác và còn biếu thêm vài tá trứng để “mời ăn chơi” nữa!
- Có nhiều người có kinh nghiệm, khi mua vịt về buộc giây kỹ vào chân, sau đó mới ném vào chuồng. Chú vịt nào bay được là vịt trời, ăn khá ngon! Còn việc khiếu nại với chủ nông trại về sau, muốn làm thì làm... vẫn có hiệu lực vì đó là lối “câu khách” tinh vi nhất của người bán như kiểu “By one Get one” của siêu thị Mỹ. Như vậy, mặc dù chủ không mời mà khách phải đến mua hàng lần nữa.

oOo

Một buổi sáng mùa đông, tròi Seattle rất lạnh. Lại thêm mưa to, gió lớn, sấm chớp ầm ì nỗi lên từng hồi. Tuấn đứng trong tiệm furniture buồn buồn vì vắng khách và đang nhớ cô vợ trẻ đầy nhựa sống ở San José... Một người khách bước vào cửa hàng, nước mưa ướt sũng rơi xuống sàn nhà. Đó là một thiếu nữ người tầm thước, mắt nâu, hình dáng thon thon và đẹp như một nữ tài tử điện ảnh. Tuấn chào nàng bằng tiếng Anh và hỏi nàng cần mua hàng gì, như thường lệ khi thấy có khách vào cửa hàng. Nàng nói:
- Buon giorno! (1)
Rồi đứng im nhìn Tuấn, người salesman đẹp trai của cửa hàng nàỵ như thể thách thức có hiểu nàng nói gì không.Ông George tuy ngồi phía trong xa, nhưng vì vắng khách nên khi thấy có người vào là ông chú ý ngay. Nhưng ông chẳng hiểu khách muốn mua loại hàng nào nên như thường lệ ông liền đi đến bên cạnh Tuấn để vừa xem Tuấn lần này “có phép lạ” gì để bán hàng cho khách không. Ngoài ra ông cũng muốn giúp Tuấn trong vấn đề giá cả và giới thiệu mặt hàng mỗi khi Tuấn cần vì ông đã có “hơn ba mươi năm trong nghề này”. Ông há hốc mồm, trợn tròn mắt lên khi nghe Tuấn tỉnh bơ nói một hồi tiếng “ngoại quốc” như thể ca sĩ Tino Rossi hát. Rồi đến cô thiếu nữ khách hàng cũng lộ vẻ ngạc nhiên thích thú vì một người trông hơi giống “sino” mà nói tiếng “Italiano” rất chuẩn xác và lịch thiệp. Sau khi nghe nàng nói xong, Tuấn quay sang ông George và nói vắn tắt:
- Nàng cần mua một bộ bàn ăn bằng gỗ có cẩn đá cẩm thạch, môt giường ngủ King Size của Ý và vài tấm tranh treo tường.
Ngã giá xong xuôi, nàng nhờ Tuấn nói lại với ông chủ:
- Vì nàng chỉ nói được tiếng Ý mà thôi, nên yêu cầu giao hàng lúc 6 giờ chiều ngày mai và phải có người salesman này đi theo để nếu cần gì thêm thì nàng sẽ đặt hàng thêm.
Từ trước đến nay, Tuấn giữ nhiệm vụ salesman, chỉ đứng bán hàng, còn giao hàng thì đã có một người Mễ và một người Mỹ lo. Nay nghe người đẹp nói và ông George cũng nể lời khách hàng đã yêu cầu nên Tuấn cũng đồng ý. Ngoài ra chàng cũng muốn xem nơi người thiếu nữ “có nụ cười và đôi mắt” như tranh của danh họa Ý Leonardo di Vinci ở nơi nào.

oOo

Sau khi đã kiểm đủ hàng chất lên xe truck. Tuấn lái xe riêng của chàng đi sau xe giao hàng để đến địa chỉ nàng thiếu nữ đã ghi. Chàng lái xe đi giữa những rừng thông cao thẳng tắp hai bên đường. Đúng là xứ sở của “Evergreen State” chỉ toàn một mầu xanh lá cây dịu mắt. Nhà của thiếu nữ là một biệt thự to lớn nằm giữa một đồi thông cao và rậm rạp. Chung quanh trồng nhiều loại hoa hồng rất đẹp và tỏa hương thơm ngát. Trong lúc người Mễ và người Mỹ đang đặt bàn ghế và giường do cô thiếu nữ hướng dẫn.
Tuấn ra phía lan can sau nhà để tìm chỗ hút thuốc lá ngoài trời. Đứng trên lan can Tuấn nhìn sang khu Weyerhaeuser xinh đẹp đàng xa. Thấy được hồ nước rộng chính giữa đang có những đàn vịt trời bay lên bay xuống. Những tia nắng cuối cùng của buổi chiều chiếu lên những ngọn thông trồng chung quanh hồ. Tiếng vi vu của gió thổi qua rừng thông nghe thật buồn bã. Tuấn đang thả hồn theo những hình ảnh hoàng hôn, cô gái nhẹ nhẹ đi đến chỗ Tuấn. Nàng làm một cử động mạnh để Tuấn trở về thực tại. Tuấn nhìn nàng rất đẹp và gợi cảm trong bộ đồ may bằng lụa sản xuất tại Ý màu mỡ gà bó sát thân hình vệ nữ.
Hai người giao hàng sau khi đã khuân và đặt bộ bàn ăn bằng gỗ cẩn đá cẩm thạch và chiếc giường kiểu Ý vào những căn phòng do người thiếu nữ chủ nhân ngôi biệt thự chỉ dẫn, liền đưa giấy giao hàng cho người thiếu nữ ký nhận và từ giã ra về. Tuấn còn phải nán lại để chờ thiếu nữ cần mua gì thêm thì chàng nhận “order”. Thiếu nữ nói với Tuấn:
- Nhân khi anh đến biệt thự này, em muốn mời anh cùng dùng bữa cơm tối với em. Em sẽ tự tay nấu những món ăn đặc biệt của Ý để thết đãi anh và cũng để cám ơn anh vì từ mấy ngày qua em đến nhiều tiệm mà không mua được món hàng nào vì chẳng có ai hiểu em muốn gì.
Nàng mở nhạc classic... Gian phòng tràn đầy tiếng nhạc êm dịu của Vivaldi. Lát sau, nàng bưng các đĩa thức ăn thơm lừng ra đặt trên bàn ăn cùng hai chiếc ly thủy tinh giữa chai rượu ”vino di italiano” màu đỏ trong như hổ phách.
Những ngọn nến thắp lên tỏa ánh sáng lung linh, huyền ảo. Nàng mời chàng ăn và chậm rãi kể chuyện về gia đình nàng:
- Em tên là Sylvia, năm nay hai mươi mốt tuổi. Em mới từ Roma sang thăm ông nội. Ông nội em di dân từ Ý sang Mỹ làm ăn từ năm 1960. Ông là một doanh thương khá thành công, lúc trước ở thành phố New York. Sau năm 1990, đến tuổi hưu, ông qua Washington State mua đất và xây ngôi biệt thự này. Năm 1992, em tốt nghiệp dương cầm ở nhạc viện Roma, đã sang đây thăm ông. Ông mua cho em một chiếc đàn “piano à queue” để em đàn cho vui. Vì em không nói được tiếng ngoại quốc nào ngoài tiếng mẹ đẻ là tiếng Ý nên thời gian một tháng sang đây em ít đi ra ngoài phố trừ lúc cùng đi với ông nội hoặc đi lễ nhà thờ vào những ngày chủ nhật. Lần này là lần thứ hai em sang thăm Ông. Ba ngày sau, ông có việc phải đi vắng, em ở nhà một mình. Em muốn ông em ngạc nhiên khi trở về, nên em tự đi sắm mua bàn ghế, giường ngủ và tranh vẽ để tặng ông và cũng để thay thế những đồ đạc đã cũ kỹ.
Ăn xong, Tuấn ngồi nhâm nhi cốc cà phê Ý trong lúc Sylvia đến ngồi ở chiếc dương cầm. Tiếng nhạc dương cầm thánh thót trầm bổng đưa Tuấn bay bổng lên cõi mộng xa xăm với nhạc phẩm “Serenata” và “Ave Maria” bất hủ. Mười ngón tay búp măng xinh đẹp của Sylvia đưa qua đưa lại lướt trên những phím đàn trắng ngà lúc nhẹ nhàng, lúc mạnh mẽ. Ngắm nhìn khuôn mặt xinh đẹp của Sylvia thay đổi theo từng giòng nhạc, lúc “andantino”, khi “presto”, lúc “ ad libitum” như thể nàng đã biến thành những nốt nhạc bay bổng trong gian phòng mờ ảo này. Sylvia hỏi Tuấn thích bản nhạc nào, nàng sẽ đàn để cùng thưởng thức. Tuần đề nghị bản “Chiaro di Luna” của Beethoven và bản “La Primavera” của Vivaldi. Những âm thanh từ chiếc đàn vang ra khi nhanh khi chậm như ánh trăng đang từ từ lên cao, khi ẩn khi hiện sau lùm cây. Tuấn như quên cả thời gian lẫn không gian.

oOo

Sylvia rời đàn và đến ngồi kế bên Tuấn để cùng thưởng thức cà phê. Bỗng đâu nàng ghì đầu Tuấn và hôn môi chàng tới tấp. Tuấn nhìn vào đôi mắt đang long lanh và rực lửa yêu đương cùng đôi má hồng hồng và nóng hổi của nàng. Syvia nói giọng trầm ấm khi âu yếm Tuấn:
- Ti amo molto! (2)
Tuấn chỉ biết ngây ngất và thụ hưởng. Chàng không thốt lên được tiếng nào vì đôi môi của chàng đã bị khóa chặt bởi đôi môi ham muốn của Sylvia. Rồi Sylvia tự tay cởi bỏ bộ áo quần may bằng một loại lụa đắt tiền của Ý. Một thân hình Vệ Nữ lồ lộ và mời gọi... Tuấn bế Sylvia vào phòng, đặt nàng nằm lên chiếc giường Ý King Size mà hãng chàng mới giao hàng chiều nay. Hai thân hình trẻ trung và khỏe mạnh quấn chặt lấy nhau.
Tiếng Sylvia rên rỉ:
- Pìu! Pìu! (3)
Bao nhiêu dồn nén sau một năm xa vợ, bây giờ Tuấn gửi trọn cho Sylvia. Sylvia rên rỉ liên hồi, rồi rú lên từng cơn khoái lạc:
- Fortissimo! Fortissimo! (4)
Tuấn thì thầm vào tai Sylvia:
- Per vivere contenti, basta esere amati! (5)
Rồi như một bản nhạc giao hưởng chàng đã kết thúc bằng một nốt nhạc:
.(6)

oOo

Tuấn tỉnh dậy khi ánh nắng đã lên caọ Ánh sáng mặt trời xuyên qua những cành thông xanh đã chiếu vào mắt chàng. Chàng thấy một mình chàng nằm trần truồng trên chiếc giường kiểu Ý loại king size để giữa rừng vắng. Ngôi biệt thự xinh đẹp của ông nội Sylvia đã biến mất. Chàng ngồi dậy, mặc áo quần vào. Đàng xa bộ bàn ăn cẩn cẩm thạch vẫn còn đó. Miệng chàng đắng ngắt. Chàng móc miệng ra những rễ cây và lá cây thông xanh. Chàng mỏi mệt khác thường như người vừa bước hơn một nghìn bực cấp để lên tầng lầu quá cao. Chàng nhớ tất cả những gì đã xẩy ra trong đêm ”tuyệt diệu và thần tiên” vừa qua.
Chàng lái xe tìm lối ra freeway 5 để trở về thành phố Seattle náo nhiệt. Mới đi được một quãng ngắn, chàng gặp một người Mỹ trung niên đang chạy bộ. Chàng dừng xe lại hỏi là nơi này có biệt thự xinh đẹp mà số nhà là... mà sao lại biến đâu mất. Chàng chưa dứt câu hỏi, đã được người Mỹ trung niên trả lời ngay:
- Vâng, trước đây chừng hai năm, nơi đây có môt ngôi biệt thự rất lớn và xinh đẹp do môt nhà triệu phú người Ý làm chủ. Môt ngày kia, có cô cháu gái vừa từ Roma, nước Italy sang chơi. Trong lúc ông chủ đi vắng nhà, một số người lạ mặt đến đấy phá nổ sập nhà. Cô gái Ý bị chết. Ba ngày sau, cảnh sát phát hiện xác nhà triệu phú chết bỏ trong rừng thành phố bên cạnh. Theo sư điều tra của cảnh sát cho biết đây là vụ thanh toán giữa các nhà cầm đầu của tổ chức mafia làm theo lệnh của thủ lãnh bên đảo Cecilia của Ý.
Sau ngày biệt thự bị phá hoại, hàng đêm dân cư quanh vùng vẳng nghe tiếng nhạc dương cầm thánh thót mà toàn những bản viết về buổi chiều, về trăng sáng... Tiếng nhạc rất điêu luyện. Ai cũng đồn nơi này có ma, nên ít có người lai vãng. Tuấn hỏi lại người đàn ông:
- Thế tại sao anh lại dám chạy bộ một mình ở quãng này?
- Sỡ dĩ tôi không sợ vì con ma này chỉ chọn những người biết nói tiếng Ý mà thôi. Tôi chỉ nói tiếng Anh thì... Vả lại, tôi cũng thích được người đẹp “chiêu đãi” một lần cho biết “mùi gái Ý đa dâm và đa tình”! Mấy thanh niên trước đây sau khi ”gặp nàng” đều nói ”ăn món đặc sản Italy này” thì nhớ đời và sau này “gặp” món nào cũng thấy kém xa.
Tuấn ngẫm nghĩ: Thật đúng quá! Và chàng tiếc bữa tiệc đã kết thúc quá sớm nhưng chàng mãi mãi nhớ đời!
Tuấn về lại thành phố Seattle khi trời bắt đầu mưa nặng hạt và không dứt.
Chàng ước mong sẽ gặp lại Sylvia nhiều lần khác nữa...

PHƯƠNG – DUY

Chú thích:

1. Chào (buổi sáng).
2. Em yêu anh lắm!
3. Nữa đi! Thêm nữa đi!
4. Thật mạnh lên! Thêm mạnh hơn!
5. Muốn sống vừa ý, phải biết yêu thương!
6. Dồn thật mạnh để kết thúc!

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Top 10 quán cà phê vỉa hè ở Paris

Nhâm nhi nước uống và thả hồn bên mái hiên quán cà phê vốn là truyền thống của người Paris (Pháp).
Dưới đây là một số quán vỉa hè lâu đời và nổi tiếng nhất Paris.


1. Cafe de Flore (172 đại lộ Saint Germain)

Image

Thưởng thức một tách cà phê và bánh sừng bò ở một chiếc bàn có bóng râm trên vỉa hè bên ngoài Cafe de Flore -
một trong những quán cà phê tuyệt vời nhất đại lộ Saint Germain là một trong những trải nghiệm Paris không thể thiếu.
Dù giá cả khá cao nhưng nơi đây cũng rất đáng để bạn “phung phí” ít nhất một lần trong đời.

Cafe de Flore luôn thu hút giới trí thức Rive Gauche (khu vực bờ nam sông Seine trong TP Paris) hơn một thế kỷ qua.
Đây từng là nơi gặp gỡ của hai nhà văn - nhà triết học nổi tiếng của PhápSimone de Beauvoir và Jean-Paul Sartre.
Ngày nay, Flore vẫn giữ được vẻ quyến rũ kín đáo vốn có.

2. Aux Folies (số 8 phố Belleville)

Quán bar rực rỡ này của khu phố Belleville bar mang đến cho du khách một lát cắt văn hóa đa dạng của đời sống Paris.
Bất kể ngày hay đêm, lúc nào cũng có một đám đông ồn ào ngồi chật ngoài mái hiên vỉa hè của quán.

Image

Là quê hương của nữ ca sĩ huyền thoại Edith Piaf và ca sĩ - diễn viên Maurice Chevalier,
ngày nay phố Belleville đã trở thành một phố Tàu đích thực cùng với những quầy hàng ăn Bắc Mỹ và những nhà hàng couscous
(một món ăn của Bắc Phi, gồm bột mì nấu với thịt hoặc nước thịt).

3. Au Petit Fer a Cheval (số 30 phố cổ Temple)

Quán Au Petit Fer a Cheval nằm trên con phố Temple ở phía tây khu phố Le Marais - phần cổ nhất ở Paris
với những cung điện và biệt thự sang trọng có từ thế kỷ 18. Khách du lịch thường lũ lượt kéo đến khu phố này tìm hiểu văn hóa và mua sắm.

Image

Au Petit Fer a Cheval là một nơi thân thiện, rất hấp dẫn những khách hàng kiểu cách.
Đặc biệt, du khách đến đây thường “tranh” chỗ ngồi ở những chiếc bàn được kê ngoài vỉa hè để ngắm phố cổ Temple -
điểm hấp dẫn chính của khu phố Le Marais.

4. Le Sancerre (35 đường nhà ga Abbesses)
Image

Quán Le Sancerre nổi bật trong số những quán bar hấp dẫn khách du lịch quanh nhà thờ Sacré-Coeur ở khu phố Montmartre.
Mở cửa từ 7g-14g vào tất cả các ngày trong tuần, quán Le Sancerre thu hút rất nhiều loại khách,
từ những người dân địa phương tự do tự tại đến những người đi xe đạp, từ sinh viên đến khách du lịch.
Ngồi ngoài mái hiên vỉa hè, bạn sẽ có một tầm nhìn thông thoáng trong khi thưởng thức một cốc rượu, bia hoặc cocktail.


5. Chez Prune (36 phố Beaurepaire)

Image
Các quán bar, cà phê, cửa hàng nhỏ và nhà hàng nằm cạnh bờ sông dọc kênh đào Saint-Martin đã làm biến đổi một phần vốn vắng vẻ
của TP Paris nằm ẩn mình bên quảng trường République thành một trong những điểm sôi động nhất TP.
Quán Chez Prune nhìn ra bờ kênh Saint-Martin, vì vậy bạn nhớ đến sớm nếu muốn “chộp lấy” một bàn bên ngoài.

6. Pause Café (41 phố Charonne)


Image
Có rất nhiều quán cà phê vỉa hè nằm quanh quảng trường Bastille nhưng để thực sự cảm nhận hương vị cà phê vỉa hè,
bạn nên đến quán Pause Café nằm cạnh khu phố ồn ã Faubourg-Saint-Antoine.
Với mái hiên đầy nắng, đây là một nơi hoàn hảo để nhâm nhi bữa sáng với nước cam vắt, cà phê sữa và bánh sừng bò.

7. Le (99 đại lộ Boulevard du Montparnasse)

Image

Quán cà phê văn học huyền thoại Le từng là nơi lui tới thường xuyên của nhà văn Hemingway,
danh họa Picasso và nhà văn Henry Miller nằm ở khu Montparnasse (bờ nam sông Seine).
Le thực sự không thay đổi nhiều lắm từ khi được mở cửa năm 1925. Chắc chắn là quán rất đông khách,
nhưng đến đây du khách sẽ được trải nghiệm cuộc sống đích thực đầy thú vị ở bờ nam sông Seine.

8. Cafe de la Paix (số 5 quảng trường Place de l'Opera)

Nếu du khách thực sự muốn thấy những tài xế Paris lái xe “điên cuồng” như thế nào, chẳng có chỗ ngồi quan sát nào tốt hơn mái hiên
của quán cà phê lịch sử Cafe de la Paix vì ngay trước mặt quán là ngã tư quảng trường Place de l'Opera.

Image
Đến đây, du khách đừng bỏ lỡ món hàu và rượu vang Chablis. Cafe de la Paix là một phần của khách sạn Le Grand Hotel,
được xây dựng năm 1858 bởi kiến trúc sư Charles Garnier - tác giả của nhà hát nguy nga Opera Garnier.
Bạn đừng quên ngắm một vòng không gian đẹp đến không thể tin được của quán và khu vườn mùa đông tuyệt đẹp bên trong khách sạn.

9. Cafe Charbon (109 phố Oberkampf)

Oberkampf là một con phố hẹp và dài chạy từ quảng trường Bastille tới phố Belleville.
Là một nơi thoải mái và yên tĩnh ban ngày nhưng khi hoàng hôn buông xuống,
phố Oberkampf lại biến thành một trong những khu có đời sống về đêm sôi động nhất Paris.

Image

Du khách có thể chọn những điểm đến hiện đại như quán bar Mecano, quán cà phê Chez Justine và phòng hòa nhạc Nouveau Casino,
nhưng chính Cafe Charbon mới là nơi ấn tượng nhất.
Một chiếc bàn ở mái hiên vỉa hè của quán luôn là nơi mỹ mãn để ngắm cảnh và người qua lại.

10. Cafe Beaubourg (43 phố Saint-Merri)

Anh em nhà Costes là những nhà thiết kế có uy tín lớn, tác giả của nhiều mô hình quán cà phê, bar và khách sạn ở Paris suốt hai thập kỷ qua,
ban đầu là những quán cà phê Costes rồi đến những khách sạn Costes sang trọng trên phố St-Honoré.
Nhưng Cafe Beaubourg mới là nơi mang đậm dấu ấn phong cách thiết kế của Costes.


Image
Quán có tầm nhìn tuyệt đẹp với hàng hiên hướng ra Trung tâm Nghệ thuật và Văn hóa Quốc giaGeorges-Pompidou
(một trung tâm văn hóa và bảo tàng lớn).
Ngồi ở đây bạn có thể xem những nghệ sĩ kịch câm đủ loại, nhạc sĩ, nghệ sĩ múa rối biểu diễn ở
khu vực phía trước Bảo tàng Nghệ thuật hiện đại quốc gia Pháp.

Giá cả ở đây không hề rẻ nhưng bạn sẽ không cảm thấy hối tiếc nếu nếm thử một chút sôcôla nónghấp dẫn.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image


Khánh Ly,Chuyện kể sau 40 năm
Chương 6

Tất cả những sự việc đã xảy ra, đã qua. Tất cả những khuôn mặt đã xa khuất mịt mù. Tất cả những gì gọi là hạnh phúc hay nỗi đau của một thời nào đó, chúng ta không còn nhìn thấy, tìm lại được. Tôi gọi đó là kỷ niệm. Tôi không có quá khứ, dĩ vãng như mọi người thường đề cập tới. Tôi chỉ có kỷ niệm và đó là tất cả gia tài tôi cưu mang cho đến một ngày nào đó.

Cái gì không còn nhìn thấy, không còn sờ tới được, dẫu chỉ một vài giây đồng hồ trước. Duy chỉ có kỷ niệm là bất biến. Nếu trong cuộc sống có một điều gì đó không thể thay đổi được thì đó là kỷ niệm. Những sự việc, những con người, đẹp có, xấu có đã bỏ chúng ta mà đi. Tuổi trẻ đã bỏ chúng ta. Mầu trong của mắt. Mầu xanh của tóc. Mầu hồng của môi. Ðã bỏ chúng ta. Lạnh lùng, tàn nhẫn và hồn nhiên.

Ở tuổi ba mươi, bốn mươi hay đã bước qua ranh giới nửa đời người như tôi hiện nay. Kỷ niệm không hề phôi pha theo ngày tháng. Mỗi ngày qua, chân bước tới gần cái cõi đi về. Tôi càng thấy gắn bó với kỷ niệm, như chỉ có kỷ niệm bây giờ mới trọn vẹn là của riêng tôi, như chỉ có những người đã xa đời, mới thuộc về tôi mãi mãi. Vì một lẽ nào đó, tôi thường “sống” với người đã khuất nhiều hơn, trân quý hơn, yêu thương và cảm thấy yên tâm hơn, được an ủi chia sẻ nhiều hơn. Ai đã từng trải qua nhiều ngang trái nghịch cảnh, cay đắng oan khiên, sẽ hiểu vì sao tôi có nhiều cái... khác người.

Mỗi người một cách sống là điều tự nhiên từ ngàn xưa. Ôi, khi ta đói, kỷ niệm có cho ta no. Khi ta lạnh, kỷ niệm có làm cho ta ấm. Khi ta nghèo, kỷ niệm có làm cho ta khá hơn. Có nhiều người nghĩ như vậy và họ nghĩ đúng. Kỷ niệm không là miếng cơm manh áo hay tiền bạc trong đời sống. Kỷ niệm đẹp đẽ hơn, cao hơn, thiêng liêng hơn. Kỷ niệm làm đời sống chúng ta thăng hoa trong sáng và thánh thiện. Tôi thật tình tiếc cho những ai coi thường kỷ niệm hoặc có mà không biết giữ. Những người đó, tâm hồn mới nghèo nàn làm sao. Chúng ta có thể dời núi, lấp biển nhưng bản tính con người là điều không bao giờ thay đổi. Thật đáng tiếc.

Có nhiều đêm chợt thức giấc nhìn ra vườn, vầng trăng tròn tỏa ánh sáng soi rõ từng ngọn cây, khóm cỏ giống hệt như một đêm trăng quê nhà cũng trong một khu vườn nhỏ, có những kẻ quên đời sống quanh mình, cùng nhau uống rượu, ngâm thơ đàn hát dưới “nắng khuya”. Những đêm nằm nghe mưa buồn rào rạt, chợt nhớ những chiều mưa xưa cùng theo nhau ra quán ngồi, im lặng bên nhau nghe những giọt cà phê tí tách rơi, im lặng bên nhau nhìn người người, ngựa xe ngược xuôi. Những giây phút im lặng đã nói với nhau biết bao điều không thành tiếng. Buổi sáng cây cỏ còn lấp lánh sương mai, im lặng đi bên nhau dưới hàng thông từ bao năm reo mãi những điệu nhạc vi vu buồn bã bên mặt nước câm nín chứa đựng bao nhiêu nỗi niềm.

Buổi trưa trời cao xanh thẳm, nắng đuổi nhau theo gió trên thảm cỏ quen, có cây đàn nằm thênh thang lắng nghe bước chân nhẹ nhàng lúc xa, lúc gần của hai kẻ quên đời. Chiều có mưa bụi dăng dăng qua thành phố, quán cà phê vắng, hương ca phê thơm lừng, vẫn chỉ hai người khách quen ngồi đó, im lặng bên nhau. Có gì quan trọng đâu. Không, không có gì cả, có nhau là điều đáng nói và họ đã có nhau trong suốt cuộc đời.

Ðà Lạt đẹp. Ðà Lạt hiền. Ðà Lạt thơ mộng. Ðà Lạt bao dung. Ðà Lạt thủy chung. Ðịnh mệnh khởi đi từ một nơi như thế. Tại sao không là Sàigòn. Tại sao không là Huế. Không, Sàigòn và Huế không phải là Ðà Lạt. Không bao giờ nên mọi sự phải khởi đi từ đó. Một sự tình cờ, mà ngẫm lại thì không đúng, không phải. Rõ ràng là sự sắp đặt của cái mà chúng ta gọi là Ðịnh Mệnh. Một người lưu lạc từ sông Hồng, một người rời xa sông Hương để gặp nhau vào một đêm có mưa và gió đầy trời, ở cái thành phố nhỏ bé, nhìn ai cũng là bạn. Cái thành phố đó nếu bạn đến một lần là sẽ nhớ mãi. Ðến rồi không muốn rời đi. Ði rồi lại muốn trở lại. Nhưng đó là Ðà Lạt của 40 năm về trước, một Ðà Lạt hiền lành như ngô khoai, trong sạch đẹp đẽ thơm như hoa hồng nhung, ngọt ngào như chuối La Ba và thủy chung như những hàng thông thẳng đứng suốt đời chỉ reo mãi một khúc nhạc hiền hòa.

Là một người sống đời ca hát, có dăm ba mối tình lớn, tình con, chân đã đi mòn mỏi trên quê hương, rồi năm châu bốn biển, đã gặp gỡ cả triệu người. Mưa bão cũng đi. Nắng gió cũng đi. Ði đến không còn biết mình đi đâu. Không cần biết vì bốn biển là nhà, nhìn đâu cũng thấy quê hương, nhìn ai cũng là anh, chị em, chắc chắn những người cùng một kiếp sống như tôi, phải có nhiều điều để nhớ mà tôi gọi là kỷ niệm. Qua một cánh rừng, ngang qua một cây cầu. Dừng lại ở một góc phố. Ngồi xuống uống một ly cà phê nơi quán nhỏ ven đường, thậm chí nhìn từng ngọn cây, bụi cỏ bên lề, lòng tôi cũng xao xuyến xót xa. Có lúc bàng hoàng ngẩn ngơ, tưởng chừng như trong một cơn mơ, tưởng chừng một khuông mặt, một dáng người thương yêu, thấp thoáng đầu phố, tưởng chừng như chỉ cần đưa tay ra những ngón tay tháp bút gầy guộc quen thuộc kia chạm vào tay mình. Nhưng rồi tôi hốt hoảng đến bật khóc vì trong tay tôi, chỉ có bàn tay lạnh giá của chính mình và góc phố kia chỉ là một khúc quanh hiu quạnh.

Nhiều khi ngồi một mình, lòng trống rỗng, đầu trống rỗng. Tôi không thể nghĩ đến bất cứ một điều gì . Dường như trái dất đã sạch trơn, chẳng còn gì hoặc là tôi ngồi đó nhưng hồn tôi không còn ở trong tôi . Một cái xác, một người chết và đối với người chết, không có vấn đề gì được đặt ra vì sẽ không có câu trả lời . Người chết không biết nói . Nhưng lại có những lúc tôi vùi mặt vào gối khóc nức lên từng hồi . Lòng nặng trĩu những kỷ niệm đớn đau không hề phai nhòa theo thời gian. Nghĩ đến người này, người kia, nghĩ đến đời mình, tim muốn vỡ ra trăm ngàn mảnh. Cũng nhiều đêm tôi nằm chong mắt nhìn bóng đêm vây phủ, nước mắt lặng lẽ rơi . Cứ thế cho đến lúc thiếp đi . Tôi đã hiểu thế nào là khóc lẻ loi một mình .

Tôi cũng có những niềm vui chứ không phải lúc nào cũng ôm mối sầu thiên thu ấy . Gia đình tôi tương đối là bình yên về mọi mặt. Không có những nặng nhẹ giận hờn. Cả hai vợ chồng đều đứng trên đỉnh dốc của đời, một cuộc đời quá nặng nhọc mệt mỏi mà cả hai đều nhận thức được, đều nhìn thấy những chịu đựng câm nín của nhau, cùng cố tránh cho nhau những muộn phiền nếu cảm thấy mình có thể gánh vác được . Vợ chồng về già nếu có thể sống với nhau đến già, có thể trở thành hai người bạn. Ðây là một điều tốt vì có nhiều điều, vì là vợ chồng, sẽ không thể chịu đựng nổi, nhưng nếu là bạn, sự việc sẽ đơn giản hơn khi có thể nói với nhau tất cả những điều tưởng không thể nói được, có đôi lúc tôi tâm sự với bạn một vài điều riêng . Song đó là chuyện của mười năm về trước, giờ đây chúng tôi sống đúng là đôi bạn già, nương tựa nhau lúc chiều tới . Còn cái gì mà phải giấu giếm nhau ở tuổi này . Duy có một điều, kỷ niệm riêng tư của mỗi người dường như vẫn là những điều riêng tư được cả hai tự động tôn trọng. Không thể chia sẻ, không thể an ủi . Rất tôn trọng .

Dĩ nhiên không phải cuộc sống chung 26 năm không có những cay đắng . Phải nói là nhiều đấy, nhưng tôi, phải, chính tôi là người quyết định, không thay đổi làm gì nữa và làm cho cuộc sống chung trở nên có ý nghĩa, trở nên đáng sống. Làm cho người này trở nên sự cần thiết của người kia . Làm cho nơi chốn này là nơi chốn để lúc nào cũng mong trở về mà không có sự sợ hãi hay vì không còn sự chọn lựa nào khác . Những kỷ niệm giữa cuộc sống chung quả có lúc làm tôi buồn tủi . Tôi không hề quên. Không thể quên, thế nhưng tôi xem đó như những thử thách, những chuyện nhỏ đời thường. Bởi cuộc đời, đâu phải lúc nào cũng cho ta sự ngọt ngào, mà nếu tôi là người đòi hỏi như thế, tôi đã tự làm khổ tôi trong 26 năm dài . Thỉnh thoảng hai vợ chồng ngồi ôn lại những vui buồn xa xưa mà tưởng như chuyện của ai đó . Dưới mái nhà này là sự bình yên bởi tôi muốn như thế .

Nếu có điều gì làm tôi đau lòng, ấy là tại tôi . Tôi muốn sống bình yên nhưng tâm tôi chưa yên. Tôi nhạy cảm quá . Tôi dễ vỡ quá, cho dù dưới mắt nhìn và sự nhận xét của nhiều người thì tôi là một người bản lãnh, can đảm. Ðiều này thật ra cũng không có gì gọi là sai hay xa sự thật bởi vì nếu tôi không can đảm, liệu giờ này tôi còn sống nổi với bao nhiêu tang thương chưa giây phút nào nguôi ngoai trong từng hơi thở . Cái gọi là bản lãnh, can đảm đôi khi chỉ là sự dối lừa, là cái vỏ mầu mè bên ngoài mà nó cũng có thể được xem như thái độ bất cần của một người chẳng mấy tha thiết đến cái gọi là ngày mai, của một người không mấy bình thường nếu không muốn nói là Ðiên. Thấy đời chán quá, chán đời quá, mà vẫn cứ ôm lấy cuộc đời . Là vì sao . Vì còn nhớ đến nhiều người . Vì còn nhiều người, nhiều điều để nhớ . Vì rằng đôi lúc tưởng đã quên nhưng cũng lại chỉ tự lừa dối mình mà thôi . Tôi không hề quên những điều cần phải nhớ và rồi chẳng có gì an ủi cho bằng đến một lúc nào đó như lúc này, tất cả oan khiên sẽ mở ra . Phải được mở ra, nào phải chỉ mười năm, đã 40 năm rồi đó . Nếu không phải là bây giờ, sẽ chẳng còn bao giờ nữa .

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image


Khánh Ly,Chuyện kể sau 40 năm
Chương 7

Năm 1956, gia đình tôi đã ở Đà Lạt 1 năm....6 năm sau, tôi lại lên Đà Lạt tìm nơi trú thân nhưng lần này, chỉ có mình tôi.... Không có tin hay thư của Đạt. Hải đi Mỹ theo đuổi nghiệp Không Quân. Bạn bè tình không nhạt nhưng cũng chẳng còn gần gũi vui chơi như ngày nào. Anh tôi vào Thủ Đức. Bác Phương, Nam, Dũng lo đâm đầu học để may ra không phải đi lính. Cây đu đủ đực nhà anh Liêm dường như buồn hẳn đi. Nó đứng trơ trọi một mình, ngày cũng như đêm chờ đợi tiếng cười của chúng tôi. Chuyện đó không bao giờ có lại nữa. Tôi cũng trơ trọi như nó. Con ngõ đường như sâu hơn, hun hút trong ánh sáng vàng vọt yếu ớt hắt ra từ những căn nhà nhỏ thường đóng cửa sớm sau bữa cơm chiều.

Tôi mới 17 tuổi đã thành đàn bà, đã mang trong người một mầm sống không mong đợi. Lỗi của tôi...Tôi biết anh ta ở Vũ Trường Đồng Khánh. Anh ta là một người đẹp trai dù ăn nói không có duyên. Anh ta tên là Minh, dân Trường Tây gốc Đà Lạt. Gia đình Minh đàng hoàng, công giáo, điều này nhắc nhở tôi nhiều đến những ngày hạnh phúc khi học nội trú lúc còn ở Hà Nội. Mới xa Hà Nội mấy năm, tôi đã nhớ. Có lẽ tôi nhớ đến Bố tôi nhiều hơn là bởi tôi không hề tin rằng Bố tôi đã chết.... Tôi thích Minh nhưng không hề cảm thấy rung động, hồi hộp chờ mong. Không có cảm giác...đông cứng hoặc cháy bỏng, ngộp thở lảo đảo, bềnh bồng, tan chảy như bọt nước. Lê Nguyên Hải cho tôi những cảm giác đó dù chỉ ngồi cạnh nhau, cầm tay nhau. Hải có phải là tình yêu của tôi không. Tôi có yêu Hải không. Tôi không biết. Cũng như không biết như thế có phải là tình yêu không.

Sự lầm lỡ của tôi là nỗi đau đớn của Bà Nội - con gái không chồng lại...ôm balo ngược. Bà tôi xấu hổ. Mẹ tôi không cần biết. Riêng tôi, chẳng cảm thấy gì. Minh cũng không phải là người tệ, chơi chạy nhưng anh là lính Không Quân chuyên về Radar học tại Mỹ... Lương một anh lính hạ sĩ dù là không quân, nuôi anh còn chẳng đủ no, nói gì đến vợ con. Minh bảo sẽ đưa tôi về Đà Lạt trình diện bố mẹ nhưng rồi anh...ở tù vì tội đào ngũ. Tôi chẳng bao giờ quên những lần đi thăm Minh ở Khám Chí Hòa. Khi cái bầu 6 tháng, tôi vẫn đi hát ở Anh Vũ và chính ở đó, tôi gặp Trung Úy Không Quân Kim Cương. Sau buổi hát, anh chở anh Sơn và tôi chạy vòng vòng Sài Gòn...hát tiếp những bài tôi vừa hát, đặc biệt anh hát cho tôi nghe bài Anh đến thăm em một chiều mưa...Anh bảo...Mai chọn bài có gout lắm, cứ như thế, và anh cũng muốn em giữ mãi nụ cười. Anh thích thấy em cười vì nụ cười đó sẽ mở cho em tất cả những cánh cửa...Cuộc gặp gỡ giữa anh em chúng tôi và Trung Úy Lưu Kim Cương đơn giản như vậy. Tôi biết ơn anh vỉ anh là người duy nhất có cái nhìn thiện cảm với tôi. Anh là người đầu tiên và duy nhất khuyến khích tôi đi theo nghiệp dĩ này. Khi nào có gì cần, cho anh hay...Ngày tôi sinh Ly Cơ, anh nhờ người gửi cho tôi 1500 đồng với lời nhắn...mua đồ cho con...Anh không bao giờ biết tôi đã dùng số tiến đó để tiếp tế cho Minh ở Chí Hòa. Chẳng ai. Anh vào nhà thương Đức Chính thăm tôi trong bộ đồ bay. Bác Phương Kều tức nhà báo Ngọc Hoài Phương tên cha mẹ đặt là Nguyễn Ngọc Kiểm cũng vào. Chị Yến cầm cho tôi 500 nói của mẹ gửi nhưng mẹ và Bà Nội không vào. Có điều không ai biết, tôi tự động chạy xe Velosolex...đi đẻ.

Ôm con về ở với Bà Nội không phải là điều đơn giản như cái lúc Bà giận Mẹ và tỏ lòng thương cháu. Tôi không buồn được vì tôi đã gây lỗi lầm không thể tha thứ dù sau khi mãn tù, Minh đến nhận vợ con và hứa sẽ cưới hỏi đàng hoàng. Song đối với những người hàng xóm, nhất là các bạn bè cũ của Bà, tôi vẫn là đứa con gái hư hỏng. Làm sao tôi có thể cắt nghĩa rằng vì lỡ dại nên phải lấy luôn cái người đó. Làm sao tôi có thể nói rằng sẽ không còn ai dám lấy tôi vì tôi không còn cái .....thổ tả gọi là trinh tiết. Cái thời của chúng tôi nó khó khăn như thế đó... Thậm chí có ca sĩ không dám cho mọi người biết mình có người yêu vì sợ khán giả không còn thích mình nữa. Bà Nội tìm cho tôi vú Chính để nuôi Ly Cơ. Con bé có lần ốm, sưng phổi gần chết, nếu không nhờ Bà, chắc LyCơ đã bỏ tôi mà đi rồi. Bởi lúc đó tôi chưa có một ý niệm, trách nhiêm làm mẹ. Yêu con thì có nhưng còn phải kiếm tiền nuôi con nữa chứ. Tôi không muốn trở lại cuộc sống khi mọi người quên mình, trong một cái phòng tối tăm, không giường chiếu trên một cái nhà sàn ở Cầu Kinh. Cơm bữa đói bữa no, tiền hát khi có khi không và đó là lý do tôi nhận lời hát cho Night Club ở Đà Lạt sau khi gửi Ly Cơ lại cho Bà.

Minh và tôi sống cuộc sống vợ chồng như mọi người. Chúng tôi ở chung với Bố Mẹ Minh. Năm sau, tôi có thêm một đứa con trai. Có người trong nhà bảo...thằng nhỏ trông giống ông...Lưu Kim Cương...Sao lại có ông Lưu Kim Cương trong này khi nhắm con mắt lại, người cũng biết Bảo Linh là con ai chứ. Tôi lại thắc mắc. Tại sao thế nhỉ. Sao không yêu mà lại...có con. Tôi sinh cu Linh ở Sài Gòn khi về nhà Bà Nội và lại một lần nữa, tôi tự động gọi taxi đến nhà thương ông Nguyễn Duy Tài. Cô y tá bảo chờ cô cho người đi mời bác sĩ về vì ông đang coi ciné ở rạp Eden. Tôi nhảy dựng lên...trời đất ơi, người ta đẻ đến nơi rồi mà còn đi tìm bác sĩ...mặc y tá nói, tôi hùng dũng leo lên bàn đẻ và rồi khi Bố Tài về tới, tôi đã hoàn thành thêm một tác phẩm...không chờ đợi. Nhưng dù sao chúng nó cũng là máu thịt của tôi. Không yêu chồng. Ai cấm tôi yêu con. Chẳng bao giờ tôi quên hai lần vược cạn, tôi chỉ có một mình và nằm suốt đêm. Khóc cho sự lỡ lầm ngu dại
không thể tha thứ được của mình. Tôi nghĩ đến bố tôi. Ôi, tôi có lỗi với ông biết bao nhiêu. Tôi chỉ có lỗi với Bố tôi mà thôi.

Ly Cơ, Bảo Linh, vú Chính và tôi ra bến xe đò Minh Trung trở lại Đà Lạt bởi lúc đó tiền lương của tôi là 75.000. Đủ sức để khỏi phải mẹ con mỗi mgười một nơi. Lương của Minh bao nhiêu, tôi không biêt. Anh làm cho Usaid dưới quyền ông Lâm Quang tại Tuy Hòa và rất ít khi về nhà. Có vú Chín, tôi giao con và sống trở lại như thời con gái. Ở lại phòng trà ngủ với mấy chi vũ nữ hoặc leo lên đồi cù nằm nhìn Trời Đất. Tôi vẫn chưa ý thức được một cách nghiêm chỉnh, bổn phận của một người mẹ. Tôi vẫn chưa đủ tình yêu đúng nghĩa dành cho các con. Tôi còn quá trẻ. Tôi đã biết gì về cuộc sống quanh tôi. Tôi yêu tôi và chưa kịp sống cho tôi. Không có gì cho tôi. Không phải là lỗi của Minh trong cơn say rượu. Chỉ khổ một cái là người tôi yêu không phải là Minh. Chưa rõ ràng là ai, tôi chưa biết yêu...Mãi nhiều năm sau, tôi mới biết thế nào là tình yêu.

Điều không thể thay đổi, chối cãi là tôi yêu hát. Từ ngày đó, tôi đã tự nhủ dầu có phải đánh đổi hết để chỉ được hát, tôi cũng không ngần ngại và Đà Lạt quả là nơi tuyệt vời để hát những nhạc phẩm của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, Đặng Thế Phong, Nguyễn Văn Khánh. Đông hay vắng không hề ảnh hưởng đến tôi. Thế giới của tôi chỉ có riêng tôi. Tôi hạnh phúc, tôi đau đớn sống với tôn giáo của mình. Những ngày nắng nhẹ nhàng. Những đêm mưa dịu dàng. Những bình minh rực rỡ. Những hoàng hôn cô lẻ. Đâu có ai để ý. Chỉ riêng mình tôi lặng lẽ trên con dốc dài, bên dòng suối nhỏ, giữa bao la hoang dại, cố gắng hít cho đầy buồng phổi của mình hương thơm của đất trời hoa cỏ. Tôi yêu tôi - tôi yêu tình yêu của tôi, một tình yêu chưa giành cho riêng ai. Tôi thực sự dồn hết tình yêu vào những ca khúc mỗi đêm tôi hát với nỗi buồn. Nói là buồn bởi tôi chưa bao giờ được vui. Tôi hình như cũng là một đứa con không được mong đợi. Một sự thất bại của mẹ tôi. Thường thì một người đàn bà đẹp khó có thể chịu đựng một đứa con xấu. Tôi giống Bố. Lại thêm một lý do để mẹ luôn luôn bỏ quên tôi, tuy nhiên điều mẹ không hài lòng lại chính là điều làm cho tôi hãnh diện. Nó là nguồn ai ủi giúp tôi chống đỡ với bao điều tủi cực trong đời sống.

Có biết bao người không đẹp và nghèo nhưng cả hai đều không phải là một cái tội. Nghĩ thế nên tôi không hề thất vọng khi Đạt quên tôi, song tôi tiếc Hải vì đã nghĩ đến Hải rất nhiều mà nếu Hải không đi xa, chắc tôi đã biết thế nào là tình yêu. Có thể tôi sẽ có hạnh phúc, cũng có thể không nhưng ít ra, tôi không đến nỗi phải ân hận. Một lần Bảo Linh hỏi tôi...Mẹ có yêu ba không...Tôi trả lời không cần suy nghĩ. Không. Thật tàn nhẫn nhưng rất thật thà vì Minh không bao giờ có trong ý nghĩ của tôi.

Tôi bắt đầu biết hút thuốc là từ năm 16 tuổi khi ở chung với chị của Minh là chị Lệ Quyên, người đóng vai chính trong phim "Nước mắt đêm xuân" của anh Nguyễn Long. Chị hút và thường bảo tôi...châm tau điếu thuốc mi...[gia đình Minh gốc Huế] riết rồi tôi hút thuốc lá hồi nào không hay. 1964 Hải từ Mỹ về và qua Thái Lan học thêm về loại máy bay A-6. Chị Quyên rủ tôi lên Pleiku chơi và tình cờ, tôi gặp lại Hải. Chúng tôi nhìn và chào nhau như 2 người bạn. Hải ngồi với bè bạn. Vũ Trường Phượng Hoàng hình như là nơi giải trí duy nhất cho các chàng Không Quân hào hoa bay bướm nơi thị trấn đìu hiu đó. Chúng tôi nhảy với nhau một bài. Hải bảo anh đi với người yêu. Trước khi bài hát chấm dứt, Hải nói...Sáng mai anh bay dùm cho một người, chờ anh về anh đưa em đi coi Biển Hồ...Tôi cho anh biết nơi tôi ở và chúng tôi chia tay. Tôi về trước. Giọng Hải đầy rượu, tiếng cười của anh vang lên trong cái khuya vắng của Vũ Trường.

Tôi không nhớ là mấy giờ vì đang say ngủ. Tiếng đập cửa rầm rầm làm tôi hốt hoảng. Hải la lớn...Mai, Mai anh đây, Hải đây...Tôi vội vàng chạy ra mở cửa phòng, Hải loạng choạng bước vào, anh ôm hai vai tôi và nói...Mai chờ anh, xong phi vụ anh sẽ đưa em đi Biển Hồ...Tôi chưa kịp hỏi, Hải đã đổ ập người xuống giường, ngủ. Tôi chui vào mền nằm ghé bên anh, tôi cố đẩy anh đắp mền cho anh nhưng đành chịu. Hải nằm úp mặt trên tấm khăn phủ giường. Tôi trở lại giấc ngủ dở dang, 6 giờ sáng thứ dậy, Hải không còn nằm đó nữa. Khoảng 2 tiếng sau, tôi chợt nghe một tiếng nổ lớn không biết xuất phát từ đâu và sau đó, tôi được tin anh đã chết.

Trên chiếc phi cơ đưa xác Hải về Sài Gòn, chỉ có một mình tôi ngồi bên quan tài của anh. Tôi đau đớn nhưng không khóc được. Không một giọt nước mắt nào rơi ra khỏi đôi mắt của tôi. Điều làm tôi xót xa hơn nữa là bạn bè và gia đình Hải quy tất cả trách nhiệm vào tôi. Tôi không nói được gì. Tôi không muốn nói. Tính tôi vốn vậy. Lặng lẽ tôi quay lưng đi trước những cái nhìn căm giận và ai oán của mọi người...Nhiều năm về sau, rất nhiều năm về sau, tôi nhận được một bức hình do chính thân phụ Lê Nguyên Hải gửi cho tôi với hàng chứ cũ viết sau tấm ảnh...Gừi cô Khánh Ly thay mặt cố nhân Lê Nguyên Hải. Lúc đó, tôi khóc. Ôi, sao hạnh phúc bao giờ cũng đến với tôi quá trễ

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image
"Chị Mai” (Khánh Ly) và “chị Huyền” (Bích Huyền), 1965

Khánh Ly, Chuyện kể sau 40 năm
Chương 8

Nói về cái vụ sao hạn, tôi cũng loáng thoáng nghe. Nào là La Hầu, Kế Đô, nào là con bà Hắc Đế, nào là tướng tinh con cọp, con heo, con gà, con khỉ... vv... và vv... Rồi cúng sao giải hạn. Nghe thôi chứ tôi thường nghĩ nếu quả là số, có sợ thì chạy đâu khỏi. Người Trung Hoa có cái câu hay lắm... Khi xui, uống miếng nước cũng sặc. Hoặc là... Càng nói, càng sai... Hay. Và vì là người Công Giáo tôi không có cái màn cúng giải hạn.

Ngày cuối cùng của năm, tôi lên đường qua Hawaii hát đêm Giao Thừa nhưng tôi phải rời Hawaii bằng chuyến bay đêm cất cánh lúc 11 giờ 55. Dạ vũ tổ chức ngay tại hotel tôi ở nhưng xui cho bầu, cho bà con và cả cho tôi là cùng lúc đó cũng có một cái party của Mỹ. Thế là bà con ta dù đã mua vé nhưng không có chỗ đậu xe, dẫu đã chạy vòng vòng cả 2 tiếng đồng hồ.

Nhoáng một cái nhìn đồng hồ đã thấy 11 giờ kém. Tôi phóng lên lầu thay quần áo. Bầu chưa kịp đi lấy tiền, tay đang cầm mấy trăm bạc, tôi giựt luôn... Chị không chờ được, em gửi tiền cho chị sau nhé... 11 giờ 20 tôi chụp được một chiếc taxi... Bằng bất cứ giá nào, mày đưa tao ra phi trường cho kịp chuyến tầu... Tay lái xe lắc đầu... Tao không nghĩ mày có thể bắt kịp, tao chỉ hứa là sẽ có mặt ở phi trường lúc 11 giờ 40... Tôi thấy ngàn phần trăm là ở lại Hawaii đêm nay nhưng lỡ rồi, cứ đi biết đâu chừng tầu cất cánh trễ năm mười phút.

Phi trường vắng đúng như... đêm 30, chỉ có 3 mạng ngồi nói chuyện gẫu, chỉ gate xong họ lại tiếp tục câu chuyện để mặc tôi với hai cái valise, một bọc áo thun. Tôi bắt đầu cảm thấy tuyệt vọng đến muốn khóc. Khi chất hai valise lên xe đẩy thì Lạy Chúa Tôi lòng lành vô cùng, tôi thấy một anh chàng đi đến gần chỗ tôi và trên tay anh ta là cái boarding pass. Như vậy có nghĩa là anh ta đã check-in và máy bay không thể bỏ anh ta lại. May cho tôi làm sao.

Quả đúng tôi là hành khách cuối cùng bước vào máy bay. Tầu bốc lên khỏi phi đạo. Vừa qua giờ Giao Thừa. Năm mới đã đến. Cái con sao Kế Đô thổ tả không biết nó đã... xéo... đi chưa mà sao nước mắt tôi cứ chẩy xuống như mưa. Là một trong 12 con giáp bỏ mẹ, tôi thấy năm nào, con nào cũng xui. Không chủ quan nhưng tôi ít khi nói sai. Cái ý là nếu sai, tôi không nói. Ở tuổi tôi, giờ còn nói sai nữa, e không... thọ, dẫu vẫn biết rằng sống cũng chẳng có gì vui, chết chả phải là điều đáng buồn. Ấy thế mà còn sống được là còn thấy những điều cười ra nước mắt. Tấn kịch đời... khôi hài bi thảm.

Khóc đã rồi hắt hơi, hắt hơi liên tục không biết ngượng trong suốt 5 tiếng đồng hồ. Đoan đón tôi ngay cửa máy bay, đưa áo lạnh. Anh ái ngại nhìn tôi hắt hơi nữa... Đi nổi không em, nếu không thì về đi... Về sao được anh, đầu năm đầu hôm của người ta, lại trần xì chỉ có 2 mống, em không tới làm sao Lê Tâm gồng một mình lại còn mang tiếng nữa... Mới 7 giờ sáng. Còn sớm chán, vợ chồng thủng thỉnh kéo nhau đổi qua cổng số 1 tới USAir. Đoan lì xì cho tôi phong bao đỏ, tôi lì xì cho Đoan một bọc áo thun có in toàn là Rồng. Con nằm ngang, con nằm ngửa, con vểnh râu, con lộn đầu... Em đi nhé...

Lên tầu rồi tôi lại hắt hơi tiếp. Ý cha mẹ ơi, năm nay coi bộ lạ đấy, ai nhắc MÌNH mà hắt hơi dữ vậy. Cứ như thế cho tới khi tầu đáp xuống phi trường Charlotte, North Carolina. Lê Tâm chưa tới. Tôi vội vã lấy đồ nghề làm mặt ngay tại chỗ... Mẹ kiếp, đã xấu sẵn rồi, làm gì cũng không thể đẹp hơn, cứ quẹt quẹt tí xanh xanh đỏ đỏ cho bà con... đỡ sợ là được rồi. Chẳng có chỗ thay áo dài, tôi chơi luôn quần jean, áo lạnh lên sân khấu. 10 tiếng chập chờn hắt hơi sổ mũi vậy mà Chúa Mẹ thương, tôi cứ hát được như thường. Cái này sức người không thể.

Buổi tối là Dạ Vũ, tôi có được 2 tiếng đồng hồ để tắm gội sửa soạn mặt mày quần áo cho đúng lễ nghi quan cách. Biết tôi bệnh, Lê Tâm rán gồng dùm tôi bằng những bài hát hot nhất. Bà con, nhất là giới trẻ khoái chí vỗ tay như sấm nổ, tất cả cứ đứng tại piste chờ đợi, chẳng ai chịu vào chỗ ngồi. Riêng tôi được một bà mẹ của em chơi keyboard cho uống thuốc, cạo gió và ăn Donut. Cũng có thể vì ăn chay lại đai-ét, cơ thể tôi yếu quá chăng. Nhưng sao vẫn hát được. Ấy, đã nói có Chúa Mẹ đỡ mà.

6 giờ sáng, lại ra phi trường bay về Houston. Cái màn hắt hơi đỡ rồi nhưng phải thú nhận là tôi đã thấm mệt. Thuốc ngủ cứ uống nhồi mãi mà ngủ không đủ do đó tôi cứ như người mộng du. 11 giờ vào đến cái sân vận động khổng lồ, là nơi tổ chức Hội Chợ Tết Con Rồng, chưa có một mống ca sĩ nào cả. Ngay bên cạnh sân khấu là cái... lều quây bằng vải đen dùng làm chỗ thay quần áo cho các đấng ca sĩ từ giọng hát hàng đầu đến hạng chót... same same. Tôi chắp 3 cái ghế lại làm được một giấc. Ôi, gẫm còn hơn hạnh phúc của giấc ngủ thiên thu.

Thế là xong 3 ngày Tết lênh đênh trên trời, mấy chục tiếng đồng hồ bay chạy giạng chân từ phi trường này tới phi trường kia, từ cổng này đến cổng nọ. Cầm đồng tiền, nước mắt lại chẩy ra, nghĩ đến khán thính giả đã chia sẻ cho mình mồ hôi nước mắt của những ngày giờ làm việc bấm thẻ. Cứ nghĩ thế mà cho rằng mình còn may mắn hơn rất nhiều người trong đời sống, trong nghề nghiệp có những oan trái đắng cay lại phải nuốt sâu vào lòng, đêm đến thì mượn thuốc ngủ làm... người tình trăm năm. Liều lượng ngày một tăng, tháng nào cũng phải cúng cho nó cả trăm bạc. Vậy nên nếu lúc nào tôi về... hưởng nhan Thánh Chúa... thì đó là lỗi tại tôi. Xin cả làng nước đừng bảo rằng chồng tôi... thuốc tôi để lấy bảo hiểm. Gì chứ nói oan cho người khác, tội nghiệt không phải nhẹ đâu nhé, đừng tưởng lời nói gió bay.

Tôi cảm cúm đã 4 tháng kể từ đêm quyên tiền cứu lụt miền Trung tại San Jose. Bà con ngồi cả dưới đất, trời đêm đó lạnh như cắt ruột. Ôm thùng tiền đi xin, thấy chỗ này vẫy, chỗ kia tay cầm tiền ngoắc, làm sao len vào với đôi giầy vừa to vừa cao như cái chiến hạm, thế là tôi chơi cái chân đất đặng chạy cho lẹ. Đi 2 tiếng đồng hồ cho đến khi bàn chân tôi tê cóng vì lạnh. Thằng Kenny, con tôi đi theo ôm áo, ôm giầy xót mẹ kéo tôi vào quên cả bé Dung, vợ nó, cũng đang ôm một thùng đi xin tiền. Gần 80 ngàn đô đã được Đỗ Văn Trọn tự tay cầm về.

Vancouver kêu. Seattle kêu. Toronto kêu... Lụt đây... lụt đây... Nhiều khi nghĩ cũng lạ. Chỗ nào ấm áp, ăn uống nhậu nhẹt nhảy đầm thả giàn, cờ bạc chí chạp ít có mình. Có lẽ tại thấy tôi đai-ét triền miên, nhảy đầm lại dốt, cờ bạc thì... rét nên thỉnh thoảng tôi mới góp mặt. Sao thế nhỉ? Cái này tôi phải chờ thầy Nhật Thanh coi dùm xem tôi được sinh ra dưới ngôi sao nào. Tuy nhiên cũng tốt thôi... Mình ăn thì hết, người ta ăn thì còn... Ngày xưa ở VN được đóng góp trong những công việc từ thiện, xã hội cũng là nghề của nàng. Giờ đổi đời, ai đổi thì đổi chứ với tôi đó vẫn là niềm vui như anh Trịnh Công Sơn thường dặn... sống phải có tấm lòng. Sống phải tử tế với nhau...

Trước khi đi, Đoan bắt tôi phải chích thuốc khỏe cộng thuốc trụ sinh vì tôi đã uống quá nhiều trụ sinh trong mấy tháng qua và xông cả chục nồi thuốc xông tổ bố. Anh soạn áo lạnh kín cổ cao tường và xếp cho tôi 5 cái khăn quàng cổ đủ màu. Vợ chồng vui vẻ chở nhau ra phi trường, lấy boarding pass xong cả hai còn kéo nhau ra lề... ăn điếu thuốc rồi mới chia tay. Không có ôm ấp hôn hít gì cả chỉ có hai cái mũi quẹt vào nhau, coi như xong. Đoan lên xe, tôi quay vào, không cả cái màn... đứng sững nhìn theo... như chú Mai Thảo đã viết... " Đứng sững mới hay lìa cách đã. Sơn cùng thủy tận giữa đôi ta" ... Chi dữ vậy. 2 ngày bay, một ngày hát là lại... phải nhìn thấy nhau rồi.

Toronto lạnh quá. Tuyết trắng cả một khung trời. Chỉ mong ra khỏi phi trường cho mau đặng ăn điếu thuốc giữa một thảm tuyết trắng cũng đáng gọi là một điều thống khoái. Khiếp, nghe tôi nói cứ như một gã đàn ông dọc ngang nào biết trên đầu có ai. Thủ tục đóng thuế cũng nhanh nhờ tôi có đem theo giấy đóng thuế tuần rồi ở Vancouver. Ba cái valise nhỏ xếp gọn trên xe, tôi đi như một người dư thì giờ đi dạo chơi. Mít gặp nhau là nhận ra ngay. Một người đàn ông trung niên tóc muối tiêu dáng mảnh khảnh, mắt hiền lành phúc hậu với nụ cười vui vẻ rộng hết cỡ chạy tới... Sao, cô có mệt không, vào đây làm ly café đã, chờ cháu nó lấy xe. Tôi là Doanh, Hội Người Việt ở đây... Dạ chào bác, cảm ơn bác nhưng bác cho phép em ra ngoài... ăn điếu thuốc đã... Ừ được nhưng mà lạnh lắm đấy, cô phải cẩn thận nhé...

Trên đường đi, bác Doanh, Du - con bác Doanh - nói cười vui như Tết, như đã quen nhau từ... muôn kiếp trước. Giờ có ly café thì ấm bụng bác nhỉ... Ấy có đây, để cháu nó đưa cô đến, chỉ sợ giờ này nó đóng cửa... Một tiệm café có karaoke, trên màn ảnh đang chiếu cuốn... " Mẹ" của Thúy Nga. Vui đáo để và café thật ngon. Du uống được còn bác Doanh thì thật là... phí tiền vì bác chỉ cần có mấy giọt mà thôi... Tôi vừa nhâm nhi café, thuốc lá vừa hỏi thăm bác Doanh chương trình, bởi vì tôi biết là tôi sẽ được hát chung với Giao Linh như ông Kha Xe nói, mà tôi thì lại rất quý và muốn gặp Giao Linh... Bác Doanh ạ, chương trình gà nhà của Toronto ra sao chứ chỉ có 2 mống gồng, có nước... hộc máu... Bác Doanh cười... Cô đừng lo, cây nhà lá vườn ở đây cũng nhiều, có cả Tuấn Tài nữa cơ mà... Vậy mà em có biết đâu bác, ông Kha Xe chỉ nói tới Giao Linh thôi...

Chợt có người đập vào vai tôi đánh bộp một cái... À lại gặp rồi, trả nợ đi chứ, hứa gửi bài mà chả thấy gì, hèn chi bị lão Phan Ni Tấn làm thơ mắng khéo đầu năm... Ối giời ơi, bố Nguyên Nghĩa đi đâu đây - Rõ là vô duyên, đi vào tiệm café là để uống café chứ chẳng lẽ vào đây mua cá mua thịt - Nguyên Nghĩa đi với một anh được giới thiệu là Khải kéo ghế ngồi bàn bên cạnh... Này, thế ngày mai ông có đi không. Nguyên Nghĩa cười lắc đầu... Tôi không đi, gặp mặt nhau mất vui ... Tại sao... Chị không biết à, ngày mai có Nguyệt Ánh, có Hưng Ca hát mà... Bác Doanh cười nói... không có Nguyễn Hữu Nghĩa, chỉ có Nguyệt Ánh và Nguyễn Xuân Nghĩa mà thôi... Ồ vậy sao, tôi có đi hát chung với Nguyệt Ánh và Nguyễn Xuân Nghĩa rồi mà sao tôi không nghe nói gì cả, tưởng chỉ có Giao Linh thôi. Vậy Nguyên Nghĩa chuyển lời mình thăm anh chị Nguyễn Ngọc Ngạn và anh chị Phan Ni Tấn nhé vì ngày mai tôi phải gặp con gái, sợ không có thì giờ. Hẹn gặp ở Paris.

Bác Doanh và Du chở tôi lại nhà của nha sĩ Từ Chấn Phong, người em kết nghĩa " vườn cải" có một cái nhà tổ bố lại ở một mình, rất mê hát karaoke, rất quý mến ca nhạc sĩ. Tuấn Ngọc và tôi từng được gửi ở đây - ban tổ chức đỡ tốn tiền hotel và có lẽ sẽ có thêm đề tài về ông nha sĩ trẻ và bà ca sĩ già. Có hề chi... Phong, thằng cu Hiền cháu Phong và tôi ngồi trên thảm hát karaoke mà lại hát tiếng Tây mới chiến chứ... 2 giờ sáng tôi xin phép hai chú cháu đi ngủ nhưng dầu đã uống thuốc ngủ, tôi cứ trằn trọc mãi vì sự... thiếu sót của ban tổ chức. Đêm mai, tôi sẽ đối đầu với một người đã dùng tờ báo của mình làm phương tiện đánh phá tôi trong suốt hơn 10 năm qua, mà hình như cho đến bây giờ vẫn chưa thôi.

Kế Đô vừa qua, còn cái gì nữa thì tới luôn cho tiện việc sổ sách. Mà nói cho cùng tôi cũng chẳng còn nhớ mặt mũi cái người chửi tôi ra sao. Vài chục năm trước, chỉ nghe, thấy loáng thoáng từ xa khi Nguyễn Hữu Nghĩa đi theo sư phụ là Nguyễn Đức Quang... Thôi đọc kinh rồi ngủ. Cái mặt tôi đây, ai muốn chửi, thích chửi thì xin mời. Chỉ biết một điều là bao giờ tôi cũng đứng thẳng, nhìn thẳng và đi ngay. Nếu có một điều gì cần phải chứng minh thì tôi chỉ chứng minh với chính tôi mà thôi. Hơn thế nữa điều mọi người muốn ở tôi là hát. Vâng, tôi sẽ hát, hát đến có phải bật máu ra mà chết tôi cũng sẽ hát bởi đó mới là điều quan trọng, đó mới là niềm hạnh phúc mơ ước của tôi. Xin kính chúc tất cả sức khỏe và sự bình an. Bình an trong đời sống. Bình an trong tâm hồn

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Khánh Ly, Chuyện kể sau 40 năm
Chương 9

“Hôm nay thức dậy không còn thấy mọi người, không còn thấy mặt người. Vây phủ quanh đời nói tiếng yêu thương” (TCS).

Hôm nay thức dậy. Một mình. Bao nhiêu mệt mõi của một cuối tuần như ngựa. Rống như trâu. Bây giờ mới thấm. Tôi như người mộng du. Ở San José, mở mắt dậy, tưởng ở nhà. Về đây rồi. Còn tưởng sáng San José. 6,7 giờ sáng khi mọi người thức dậy, các con đi học thì tôi …ngủ. 3 giờ chiều mới mở mắt. Ngày hay đêm. Ở đâu đây. Chẳng biết. Chẳng cần biết. Mấy chục năm như thế rồi. Giờ đã gần cuối đời. Có cần thiết phải thay đổi một …thói quen. Một thói quen mọi người cho là …xấu. Khó chịu. Nhưng đáng yêu với tôi. Thói quen nào cũng đáng yêu. Yêu người, thương áo quen hơi ngọt ngào. Yêu đêm tối có nỗi cô lẻ mênh mông. Hơi áo người yêu. Tôi không chia cho ai. Ðêm tối bao la kia. Không ai chia cho tôi. “Một người điên trong thành phố” (TCS)

Ði. Về. Rồi lại đi, về. Cứ như thế. Chẳng cần biết nơi mình đến trời có xanh? Nơi mình về trời có vui? Những thành phố giống nhau đến nhàm chán. Những khuôn mặt da trắng, tóc vàng, mắt xanh ..nhìn hoài thương không vô. Tôi đi ngơ ngác, chán chường với một điểm hy vọng nhỏ nhoi. Ðến với người mình còn yêu. Và còn yêu mình.

Trời đã vào thu. Cơn mưa bất chợt phủ trùm thành phố. Vẫn tìm đến như đã tìm đến nhau. Mưa ngoài trời. Mưa trong lòng, trong mắt trong cả môi cười. Ðến với nhau. Lòng như đại dương. Tình như non cao. Giữa đời suối khe. Mưa nữa đi. Lạnh thêm chút nữa. Cho lòng thêm chút ấm. Vẫn chưa đủ, vẫn còn xa quá. Bao nhiêu cho đủ. Bao nhiêu cho vừa. Xuân. Không thấy xuân vui. Hạ không thấy lòng bớt nhớ những chiều qua phố xưa. Thu. Nỗi nhớ nhiều hơn. Nhớ nhiều quá. Yêu nhiều quá những cơn mưa phùn Ðà Lạt, những con dốc nhấp nhô, mái nhà ngói đỏ phơi mình giữa màu xanh của lá. Chưa lạnh lắm nhưng đủ để thu mình ở một góc nhỏ café Tùng. Hơi nóng từ ly café chuyền qua ấm dần hai tay giá lạnh. Thú vị lắm. Ngồi ở nhà Thủy Tạ, một mình nhìn mưa bay trên Hồ Xuân Hương. Mưa bay dịu dàng. Nỗi buồn cũng dịu dàng. Trong cơn điên dịu dàng. Mướn Taxi chạy xuống phi trường Liên Khương. Không đón đưa a . Ðến để nhìn mọi người đưa đón nhau. Xem xem vui buồn đến đâu. Chạy lên phi trường Cam Ly, cũng chẳng đến đưa ai. Phi trường vắng lặng. Phi đạo nằm soải im lìm chờ đợi. Như một người chờ một người. Người không đến thì ta đi. Phi đạo nằm lại. Tiếp tục chờ đợi. Nắng. Mưa. Ngày. Ðêm. Phi đạo Cam Ly vẫn còn đó.

Bốn mùa buồn. Bốn mùa chờ đợi. Một chờ đợi cũng dịu dàng. Nhớ Saigon. Chạy ra chợ Hòa Bình rinh một sọt chuối Laba. Nhẩy lên xe đò Minh Trung. Ði ghé Ðịnh Quán ăn cơm thịt heo quay. Xe ghé Ðịnh Quán cũng lại cơm. Tới Saigon chỉ ở lại một ngày. Làm một vòng Saigon-Chợ Lớn. Phân phát hết sọt chuối. Lại nhảy lên Minh Trung về lại Hồ Than Thở. Nhưng không thở than.

Một thời 20 rất bụi đời, rất vỉa hè. Ðến như gió. Ði như gió. Từ đâu tới. Ði về đâu. Không biết. Không cần biết. Ðáng yêu biết bao những ngày tháng mây trời, biển khơi. Phà khói thuốc vào sương mù Ðà Lạt. Buổi sáng thức dậy, ngửi mùi thơm của thông. Nghe thông hát reo nhè nhẹ. Mặc áo len cổ tròn, quàng cổ, quần jean, thế là …xuống phố. Có lúc đi giữa mưa vẫn nghe tiếng chân mình rộn rã reo vui trên mặt đường loang nước. Từ ngã tư. Xe đò, xe lam từ hướng Chi Lăng chạy ra. Bước lên xe ngồi xuống. Bao giờ tôi cũng nhìn ngoái lại trường tiểu học Phan Chu Trinh nằm bên kia đường. Tôi đã học ở đây năm 1956. Xe qua nhà vãng lai dành cho các sĩ quan Không Quân nghỉ mát. Qua ga xe lửa. Tiệm phở ở ga ăn cũng khá. Ðổ một con dốc. Rồi một con dốc nhỏ nữa, qua nhà thương Soyer. Trường Yersin. Xe cứ chạy. Tay trái là sân vận động, sân tennis. Khách sạn Palace. Ðường rẽ lên nhà thờ chánh tòa Ðà Lạt. Bên phải là Hồ Xuân Hương. Vòng theo một bùng binh. Ngang qua quân Vụ Thị Trấn, xe đò lên dốc. Vào bến đậu ngay cạnh café Tùng. Vào làm một ly đã. Mọi chuyện tính sau. Ngày nào cũng thế năm năm như thế. Không thay đổi.

Không ai có thể “bẩy” tôi ra khỏi Ðà Lạt lúc đó, dù là ông Cương khểnh, dù là ông Trịnh Công Sơn, dõi theo từng bước chân tôi những chiều đến giáo đường một mình. “Sợi tóc em bồng trôi nhanh. Trôi nhanh”. Những cùng sống mỗi người một đời nhỏ nhoi, mỗi người một góc trời nhỏ nhoi. Sơn không biết gì về tôi. Tôi không biết gì về Sơn. Không cần thiết. Sơn không bao giờ hỏi. Tôi không bao giờ hỏi. Một người hát nhạc một người. Anh Sơn và Mai. 20 năm trước như thế và 20 năm sau cũng vẫn như thế. Một người hát nhạc một người. Anh Sơn và Mai.

Tôi chỉ thực sự là tôi. Thực sự hạnh phúc khi hát nhạc anh Sơn. Ngoài ra chỉ là một thứ hạnh phúc mong manh. May ra rực rỡ hơn cho cái hạnh phúc thật sự của mình. Ðó là sự thật. Tôi chỉ thuần phục một người. Ðó là Trịnh Công Sơn. Không bao giờ hối tiếc. Sau này có ông Trầm Tử Thiêng. Tôi không bao giờ hối tiếc.Trong đời, tôi cũng đã gây nên nhiều lầm lỡ. Ân hận hối tiếc đã nhiều. Những vấp ngã ít người tránh khỏi. Nhiều hay ít mà thôi. Song trời đưa đẩy tôi gặp Sơn. Trời cho tôi những ngày đẹp đẽ đáng yêu nhất. Tôi không bao giờ hối tiếc. Nếu có kiếp sau. Tôi cũng xin gặp lại Sơn, như đã gặp. Ở Ðà Lạt. Ở Việt Nam.

Mùa đông cũng đã gần kề. Mùa đông Ðà Lạt như mùa thu kéo dài. Thêm chút lửa ấm từ lò sưởi ngọt ngào mùi gỗ thông. Ðêm Ðà Lạt bao giờ cũng lạnh. Hơn, kém một tí cũng không cho ta thấy rõ mùa đang chuyển. Bốn mùa xoay quanh những thói quen đáng yêu. Hương café thơm ngát qua bao nhiêu suối khe đồi núi. Dốc tháp, dốc. Mái nhà ngói đỏ và mùi thơm của gỗ thông. Tôi yêu Ðà Lạt vô chừng. Như một người tình. Hơn một người tình. Tôi rời Ðà Lạt không ngờ, như khi đến. Rời xa mà vẫn yêu. Yêu nhiều hơn vì trong cái yêu có cái tiếc nuối mặc dù sự việc rời bỏ Ðà Lạt năm 1967 đã đưa tôi đến một đổi thay, đến một hạnh phúc may mắn không bao giờ tôi dám nghĩ đến. Năm 1964 khi Trịnh Công Sơn rủ tôi về Saigon đi hát với anh. Tôi từ chối. Không phải vì không yêu nhạc Sơn. Nhưng lúc đó tôi yêu Ðà Lạt hơn. Cái lối sống xô bồ, ồn ào mánh mung của Saigon không hợp với tôi. Trong khi đó Ðà Lạt là thiên đường. Êm ả, trong sáng. Saigon đó có một chỗ đứng nào cho tôi. Là một người không hề có một chút tham vọng. Thích an phận, bằng lòng với những điều mình có. Một đứa con gái tầm thường như tôi. Những ngày tháng ở Ðà Lạt đã là một an ủi quá đủ rồi. Với làm vui chi những điều quá xa vời. Cũng không hề mơ ước một đổi thay. Hơn thế nữa con người tôi, tâm hồn tôi hợp với Ðà Lạt hơn. Thế mà rồi tôi đã rời xa nơi chốn đã cho tôi biết bao ngày tháng đẹp đẽ trong sáng.

Một ngày của năm 1967. Tôi đến Nha Trang. Vùng biển xanh, cát trắng. Không một chuẩn bị nào cho nơi chốn mới. Thì cũng đến hát là cùng. Vẫn còn cơ hội để không trở lại Saigon. Một vài tháng phù du đủ làm đời tôi nổi sóng. Nha Trang không có gì quyến rũ. Nha Trang tầm thường quá so với Ðà Lạt. Nhưng tôi không muốn trở về Ðà Lạt. Nơi đã tặng tôi một bất hạnh. Một người đã cho tôi sự sợ hãi, ê chề không tưởng. Trên một chuyến xe đò. Tôi và các con tôi đành phải trở lại Saigon. Một nơi chốn cũng đã làm tôi sợ hãi. Cùng với hạnh phúc tuyệt vời. Tôi cưu mang cho đến cuối đời.

Mùa thu nhẹ nhàng cho những tâm hồn đa sầu đa cảm, đa tình, lãng mạn. Gợi biết bao nhiêu cảm hứng cho thi, văn, nhạc sĩ. Mùa thu là mùa đẹp nhất trong bốn mùa Ðông đến. Mùa đông ở xứ Mỹ bàng bạc khắp nơi mầu trắng của tuyết. Cái lạnh lẽo bao trùm cả trời đất. Cả lòng người. Nhất là những người xa quê hương lưu lạc trôi nổi. Giáng sinh đã gần kề. Gần lắm rồi. Ở đây Giáng Sinh được đón chờ nhiều hơn Tết Nguyên Ðán. Bà con gửi thiệp cho nhau. Quà cáp tặng nhau. Người lớn, trẻ con. Ai có phần nấy. Rộn ràng nhộn nhịp trong tiếng nhạc đón mừng con một Ðức Chúa Cha xuống trần gánh chịu tội lỗi của loài người. Và tội lỗi đó vẫn tiếp tục một cách thản nhiên. Chắc Chúa cũng phải hối hận khi đặt loài người trên tất cả mọi loài. Nhưng dù gì, mọi người, mọi nơi đều rộn ràng chờ đón Giáng Sinh. Giầu có thì huy hoàng. Nghèo khó cũng ráng cho được một cây thông nhấp nhánh những ngọn đèn xanh đỏ, tím vàng. Gọi là có với gia đình. Ấy, đôi khi nghèo mà vui. Bạn bè vài ba người quay quần bên mâm cơm. Ôn lại kỷ niệm cũ. Bạn bè cũ. Ðứa nào còn, đứa nào đã về với Chúa. Hạnh phúc, niềm vui, không tìm được ở nơi chốn ồn ào náo nhiệt. Ở những nơi đó thường thiếu sự thật thà, sự tử tế. Bởi có những người đến với nhau không có lòng thật thà, không có lòng tử tế . Cả hai điều này ngày càng ít đi ./.

Khánh Ly
the end.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

“NGHÌN TRÙNG XA CÁCH”

Phạm Duy là một trong những nhạc sĩ sáng tác tình khúc hay nhất của âm nhạc Việt Nam. Khi ở vào ngưỡng tuổi… U.100, nhạc sĩ thừa nhận rằng mình là người “nghiện yêu”, mỗi tình khúc đều liên quan đến một cuộc tình.

Đọc hồi ký của ông (4 tập), mới vỡ ra nhiều điều trong tình trường của Phạm Duy. Điều thú vị là người đưa ra lời khuyên “Muốn biết Phạm Duy yêu như thế nào, những người phụ nữ đó là ai thì nên đọc Hồi ký Phạm Duy” lại chính là ca sĩ Tuấn Ngọc (con rể của nhạc sĩ Phạm Duy).

Đó là vào tối 5/10/2011 trong buổi dạ tiệc mừng sinh nhật lần thứ 91 của nhạc sĩ, được tổ chức tại tư thất của ông bà Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn để chào mừng nhạc sĩ James Durst từ Mỹ sang Việt Nam thăm nhạc sĩ Phạm Duy. Đêm đó đứng trước mặt ông bố vợ chỉ cách hai bước chân, Tuấn Ngọc thủ thỉ, tâm sự, đôi khi hóm hỉnh – như khi nói về bài hát Tình kỹ nữ : “Tôi chưa có kinh nghiệm về cái thú “kỹ nữ” mà bây giờ người ta gọi là… “bia ôm”, nhưng hồi ấy, mới 25 tuổi mà Phạm Duy đã viết ra những câu như thế này “Ta ôm người đẹp trong tay, bên nhau mà lòng xa vắng. Ta nâng niu làn dư âm của khách năm xưa yêu nàng…” thì đó không phải là cái hời hợt của đám thanh niên “ăn bánh, trả tiền” nữa rồi, mà là vượt thoát ra khỏi cái tầm thường. Con nói thế đúng không bố ?”. Phạm Duy chỉ cười rung mái đầu bạc trắng với những lọn tóc xoăn…

Lưới tình chật hẹp

Phạm Duy bước chân vào lĩnh vực ca nhạc khi ở lứa tuổi thanh niên, anh là ca sĩ chuyên hát nhạc của Văn Cao trong gánh hát Đức Huy – Charlot Miều đi lưu diễn từ Bắc chí Nam. Năm 1944, gánh hát dừng chân ở Phan Thiết, qua bài hát Buồn tàn thu của Văn Cao, chàng ca sĩ trẻ đã làm quen được với một góa phụ trẻ mang hai dòng máu Việt – Anh. Nàng tên là Hélène, sống ở đồn điền Suối Kiết (cách tỉnh lỵ không xa) với mẹ già và hai người con : Alice (gái) và Roger (trai). Giữa chàng du ca và người cô phụ trẻ đã có một cuộc tình mà theo Phạm Duy là “rất nhẹ nhàng và trong sạch”. Và rồi “người đẹp Tây lai” này cũng mau chóng biến mất trong ký ức của chàng nghệ sĩ du lãng…

Hơn mười năm sau, họ bất ngờ gặp lại nhau giữa Sài Gòn. Lúc này, đôi bên ai cũng đã có gia đình riêng. Hélène mời Phạm Duy về chơi nhà mình trên đường Trần Hưng Đạo. Phạm Duy ngỡ ngàng khi nhìn thấy Alice. Cô bé bây giờ đã là một thiếu nữ tuổi tròn trăng, giống mẹ như đúc, cặp mắt và khuôn mặt phảng phất những nét “Việt – Anh – Hoa” (cha của Alice vốn là người Hoa). Thế rồi suốt trong một năm, cứ đến cuối tuần, Phạm Duy lái xe hơi đến đón Alice đi chơi. “Chú Phạm Duy” trở thành người tri kỷ để Alice trút bầu tâm sự, những “hỉ nộ ái ố” của một cô gái mới qua tuổi dậy thì.

Đặc biệt, Alice thừa hưởng của mẹ năng khiếu thi ca và âm nhạc nhưng có phần vượt trội hơn. Nàng rất thích hát những bản Tình ca, Tình hoài hương, Tình kỹ nữ, Bên cầu biên giới… của Phạm Duy, khiến cho “… Cái lưới ái tình chật hẹp tung lên vào năm 1944 mà không chụp vào đầu tôi, hơn mười năm sau vì không tránh né nên tôi chui tọt vào lưới. Một chiều mùa thu 1957, tôi tỏ tình với Alice và được nàng ban cho một cái ừ lặng lẽ”.

Mối tình cao thượng

Phạm Duy kể tiếp : “Lúc đó tôi có ngay quyết định là mối tình này cũng phải cao thượng như mối tình giữa tôi và Hélène. Đã gần mười năm vì quá mê mải soạn nhạc tình tự quê hương, tôi không soạn một bản nhạc tình nào cả. Tôi không ngờ trong một thời gian ngắn, tôi lại gặp được tình yêu. Tôi không lẩn tránh, dù biết không giữ được nó suốt đời. Cuộc tình khởi sự bằng bài Thương tình ca (1956). Vì chênh lệch tuổi tác và vì không muốn làm phiền những người chung quanh một lần nữa, tôi quyết định ngay từ đầu rằng đây chỉ là một mối tình giữa hai tâm hồn mà thôi. Tôi cố gắng tránh mọi đụng chạm về xác thịt và tôi hãnh diện để nói rằng nàng vẫn là một trinh nữ khi rời xa tôi để lên xe hoa về nhà chồng.

Là một nghệ sĩ, tôi cần tình yêu để sáng tác, giống như con người cần khí trời để thở. Tôi không cần phải chiếm đoạt, nhất là chiếm đoạt một người con gái còn ít tuổi. Mỗi cuối tuần gặp nhau, thế là quá đủ… Trong hơn 10 năm (1956-1968), nhạc tình của tôi là đều là những bài viết cho nàng (Ngày đó chúng mình, Đừng xa nhau, Cỏ hồng, Nha Trang ngày về…).

Là một người rất yêu thơ, trước khi xa nhau, nàng đã viết tới 300 bài thơ để tặng tôi. Chúng tôi gặp nhau thường là để nói chuyện về thơ hay nhạc. Cũng vì nàng yêu thơ nên nếu có những bài thơ hay thì tôi phổ nhạc (Ngậm ngùi, Vần thơ sầu rụng, Hoa rụng ven sông, Kiếp nào có yêu nhau…) hoặc phát triển từ dân ca (Tóc mai sợi ngắn sợi dài, Nụ tầm xuân, Bài ca sao, Đố ai…). Cũng có khi tôi phóng tác thơ nàng thành ca khúc, trong đó có “Tôi đang mơ giấc mộng dài/Đừng lay tôi nhé cuộc đời chung quanh…” – Tạ Tỵ, người viết chuyện đời tôi, cho rằng đó là bài tình ca hoan lạc nhất của đời tôi…” (trích hồi ký).

Với người viết, ca khúc Nghìn trùng xa cách là một trong những tình khúc hay nhất của nhạc sĩ Phạm Duy. Bài hát này nhạc sĩ làm sau khi Alice từ tạ ông để đi lấy chồng sau Tết Mậu Thân (1968). Trong bài hát còn nhắc tới những kỷ vật mà nàng đã tặng ông : “Đứng tiễn người vào dĩ vãng nhạt màu, có lũ kỷ niệm trước sau : Vài cánh xương hoa, nằm ép trong thư, rồi cũng tan như bụi mờ. Vạt tóc nâu khô, còn chút thơm tho, thả gió bay đi mịt mù…”. Người viết đã có được may mắn, chứng kiến những kỷ vật của Alice trong Nghìn trùng xa cách.

Đó là những xác lá khô được ép trong tập thơ tình, là lọn tóc màu nâu “rất Tây” mà nàng đã cắt tặng nhạc sĩ trong một ngày sinh nhật của ông… Hơn 40 năm sau, những kỷ vật này không hề “tan như bụi mờ” hoặc bị “thả gió bay đi mịt mù” mà nằm trang trọng trong một hộp kính, đủ biết Phạm Duy đã nâng niu, gìn giữ những kỷ niệm với Alice như thế nào…

(theo Hà Đình Nguyên)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Cuốn sổ tay của Quang Dũng (1921-1988)

Viên Linh

Ðọc một số bài viết về Quang Dũng, nhất là bài viết của những người có quen biết ông, hay từng gặp ông,
người đọc thấy một chi tiết thường được nhắc đến: cuốn sổ tay của nhà thơ.

Image
Hình Quang Dũng, bút tự Quang Dũng và lá thư của cô Phương Thảo, con gái Quang Dũng, gửi tác giả bài này. (Tài liệu Viên Linh)

Hầu như lúc nào ông cũng có một cuốn sổ tay trong người. Ở đây, ở kia, ông làm thơ, chép thơ trong cuốn sổ tay ấy. Ngoài thơ ra, ông còn vẽ. Quang Dũng vẽ đẹp. Thế và, đi đây đi đó, gặp những nơi thích ý, những người mến mộ, ông thường để lại một vài bài thơ. Có khi vài, có khi chỉ một... Từ khi làm thơ, chép thơ, tặng thơ, luôn luôn với thơ, mà cho đến khi tên tuổi lẫy lừng, Quang Dũng chưa từng có một tập thơ riêng nào được xuất bản. Tập thơ riêng đầu tiên của ông, “Mây Ðầu Ô,” chỉ được in ra năm 1986, hai năm trước khi ông từ trần ở tuổi 67 (1921-1988).

In tác phẩm đầu tay ở tuổi 65, ôi Quang Dũng, một con người đôn hậu trong một định mệnh trì chiết; một thi sĩ làm những bài thơ đầu đời ở tuổi 16, bài Khúc Chiêu Quân, để chỉ làm thơ trong sổ tay suốt nửa thế kỷ; một đại đội trưởng cứu quốc quân hào hùng ở tuổi 25 để bị âm thầm giải ngũ ở tuổi 30, năm 1951, vào lúc chiến trận đang cần chiến binh. Một thanh niên trí thức học Sư Phạm Hà Nội để rồi ngồi sửa lỗi chính tả ở báo Văn Nghệ; một hồn thơ thời đại để suốt đời bị do thám từng bước đi quanh ngõ; ngồi thiền và trồng chuối ngược hằng ngày để chỉ cho quên túi dạ dày đang đói; một chất ngất mênh mông trong hẹp hòi đố kỵ; một anh hùng Lương Sơn Bạc trong lưới rọ quan nha. Ôi Hà Nội, thủ đô văn vật hậu bán thế kỷ XX của Quang Dũng.Viết về Quang Dũng cũng là viết về một thế hệ bị hy sinh. Trong thế hệ bị hy sinh ấy, hầu hết đã bị vùi dập, và nếu không có những cuốn sổ tay, không có những bài thơ được chép lại từ những cuốn sổ tay ấy, năm 1986 người ta cũng chẳng lấy đâu ra thơ Quang Dũng nữa để mà in. Nhà thơ Thâm Tâm có chép vào sổ tay Quang Dũng bài Mưa Ðường Số 5 để tặng bạn, từ đó, Quang Dũng giữ mãi bài thơ trong ba lô trên chặng đường mưa nắng bao năm. Ðến khi trở về Hà Nội sau chia cắt 1954, lúc làm tuyển tập thơ 1945-1955, chính Quang Dũng đã mở sổ tay (lúc này Thâm Tâm đã chết), chép lại bài thơ đã hoen mờ vì mưa gió để đưa vào tuyển tập. Quang Dũng, nhà thơ nhật ký, nhà thơ sổ tay, nhà thơ mỗi ngày, nhà thơ bỏ túi, nhà thơ sống thơ. Thế mà ông đã từng nhóm lửa đốt thơ mình, đốt những cuốn sổ tay ấy. Quang Dũng vừa nổi lửa, thì từ ngoài sân ngửi thấy mùi giấy khét, người bạn thân chạy vào, kịp lấy ấm nước sắp sôi dội tắt. Vài phút trước đó, Quang Dũng đã nói với bạn: “Ðã có thằng thất sở tan đời về mấy bài thơ trong sổ tay đấy thôi!” (Theo nhật ký của bác sĩ trung đoàn Tây Tiến viết về Quang Dũng.) [1]

Tại miền Bắc, trước khi có kế hoạch cởi trói, đổi mới năm 1987, Quang Dũng còn sợ hãi khi có người nói đến thơ mình, đã thế càng có ít người muốn giữ thơ ông, trừ một hai bạn thân. Những người Hà Nội từng ngạc nhiên khi thấy miền Nam yêu thơ Quang Dũng, và nhiều thơ Quang Dũng. Ðây là một chuyện khác thường, người viết cũng chỉ còn nhớ rất mơ hồ... Cuối năm 1973, tôi xuất bản nguyệt san Thời Tập, mỗi số một chủ đề. Tháng 1, 1975, chủ đề là Quang Dũng. Chủ đề được loan báo trước, nên một hôm, có người ghé tòa soạn, ở số 51/51B đường Nguyễn Trãi, trao lại cho tòa báo một xấp tài liệu, với dòng chữ lưu ý: “Những bài thơ chưa từng phổ biến của Quang Dũng.” Bài viết ký tên Lê Hoàn Tân, một cái tên xa lạ thời đó, và cho tới cả bây giờ, nhưng sau tôi được biết, đó là bút hiệu tạm của cụ Lê Khải Trạch, bạn thân của Quang Dũng thời kháng chiến... [Sau 1975 một thời gian rất ngắn, cụ Lê Khải Trạch bị công an tới tận nhà, đường Bùi Thị Xuân, gần nhà thờ Huyện Sĩ, bắt đi mất tích. Cụ đã bị công an văn hóa Việt cộng thủ tiêu, ngày giỗ cụ được gia đình thay vào bằng ngày cụ bị công an CS bắt đi.]

Chúng ta chưa biết thật xác thực những gì đã xảy ra cho Quang Dũng từ 1945 đến khi ông bị giải ngũ, 1951. Có suy luận hợp lý rằng thơ Quang Dũng được ngưỡng mộ truyền đọc, ông trở thành một cấp chỉ huy quân sự được đồng ngũ yêu, mà lại không phải là đảng viên, nên ông phải bị giải ngũ, lúc đang là đại đội trưởng trong trung đoàn Tây Tiến. Có đại đội trưởng nào bị giải ngũ vào tuổi 30? Ngoài Quang Dũng? Hay chính vì đại đội trưởng đó là tác giả bài Tây Tiến, một bài thơ thuộc dòng hùng sử thi khích động lòng yêu nước cao nhất, hiệu quả nhất, trước mọi thi sĩ nòng cốt của guồng máy, tổ chức, trên mọi đảng viên, cán bộ. Cho nên, tất cả những gì thuộc về Quang Dũng phải bị dập tắt ngay. Quang Dũng bị giải ngũ.

Thời kỳ sau khi giải ngũ, Quang Dũng viết bài Tiễn Bạn để chia tay với người bạn dinh tê vào thành vào cuối năm 1952. Lúc ấy Quang Dũng đã biết số phận mình rồi, nhưng quyết định đi đến cùng:

Dẫu biết là vô vọng

Ðã đem chơi cuộc đời,

Thì đi cho hết nước

Sống thử ít con người...

(Tiễn Bạn, Thời Tập, 1.1975)

Ðiều này giải thích vì sao Quang Dũng thúc giục mẹ và chị vào Nam, và cả hai đã vào Sài Gòn năm 1954, mà ông và vợ con ở lại đất Bắc.

Mỗi giai đoạn một định mệnh. Giai đoạn kháng chiến khủng khiếp nhất: Quang Dũng gánh chịu định mệnh của sự đọa đày, chối bỏ. Sự chối bỏ xảy ra ngay, sự đọa đày xảy ra từ 1951 đến khi ông nhắm mắt, tổng cộng 38 năm. Chỉ nội sự nuôi thân mình, ông cũng không lo nổi. Các giai thoại về Quang Dũng, phần nhiều là giai thoại đói. Ông được qui định một khẩu phần nhất định: 13kg500 gạo một tháng. Ở miền Bắc, đó là khẩu phần dành cho tù lao động. Quang Dũng không đến nỗi phải tự sát như hai thi sĩ cách mạng nổi tiếng thế giới của Liên Xô, thi sĩ xuất thân nông dân, được mệnh danh là “thi sĩ của quần chúng” Sergey Essenin (1895-1925), treo cổ chết trong một quán trọ; và Vladimir Mayakovsky (1893- 1930), kẻ hô hào cách mạng quá khích, đã tặng cho sự lầm lẫn của lòng tin của mình một viên đạn. Một mới 30, một mới 37. Quang Dũng lìa đời khi bụng đói. Hôm ấy là ngày 13 tháng 10, 1988.

Người viết này may mắn có bản sao một số trang của sổ tay Quang Dũng do cô giáo Phương Thảo, con gái nhà thơ, từ Hà Nội gửi cho. Và một số thơ chưa từng phổ biến. Nay nhân ngày giỗ thi sĩ, mời bạn đọc đọc vài dòng của cuốn sổ và một bài thơ hiếm: “Quyển sổ này khởi trang đầu từ tỉnh Thái Bình. Ðêm nay Chủ Nhật, 15 tháng 4, 1956, có trăng lưỡi liềm 5-3-âm lịch - giữa bước 2 của CCRÐ (Cải Cách Ruộng Ðất) đợt Ðiện Biên Phủ...”

Và đây là bài thơ ngắn của Quang Dũng làm ở Vân Nam:

Trở Rét

Gió bấc trở về tim bỗng lạnh
Ngoài kia mây nước khóc gì nhau?
Bỗng thương bỗng nhớ từ đâu lại?
Hồn lắng nghe im khúc nhạc sầu.

Vân Nam, 1944, Bùi Ðình Diệm
(Quang Dũng)

Chú thích:
[1] Phan Thanh Hoài, Khởi Hành 44 tháng 6, 2000.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Luôn chờ em cúp máy trước...
Ngày ấy, khi cô gái và chàng trai đang yêu nhau thắm thiết. Mỗi lần gọi điện thoại, hai người chuyện trò tưởng chừng không bao giờ dứt. Cuối cuộc gọi, luôn là cô gái gác máy trước, sau khi đã cố nấn ná, không muốn nói lời tạm biệt, chàng trai lại từ từ cảm nhận hơi ấm còn vương lại của giọng nói trong không trung, và một nỗi buồn man mác, vấn vương, lưu luyến.

Sau đó, hai người chia tay. Cô gái nhanh chóng có người yêu mới, một anh chàng đẹp trai, hào nhoáng. Cô gái thấy rất mãn nguyện, và cũng rất đắc ý. Nhưng rồi về sau, cô dần dần cảm thấy giữa hai người dường như thiêu thiếu một điều gì đó, sự bất an đó khiến cho cô thấy như có một sự mất mát mơ hồ. Là điều gì vậy nhỉ? Cô cũng không rõ nữa. Chỉ là khi hai người kết thúc cuộc gọi, cô gái cảm thấy khi mình chưa kịp nói xong một nửa câu "Hẹn gặp lại", thì đầu dây bên kia đã vang lên tiếng "cạch" cúp máy. Mỗi lúc như vậy, cô luôn thấy cái âm thanh chói tai đó như đóng băng lại trong không trung, rồi xuyên vào trong màng nhĩ. Cô cảm thấy dường như người bạn trai mới giống như một cánh diều đứt dây, đôi tay yếu ớt của mình sẽ không thể níu giữ được sợi dây vô vọng đó.

Rồi cũng đến một ngày, hai người cãi nhau. Anh chàng đó chán nản, quay người bỏ đi. Cô gái không khóc, mà cảm thấy như là được giải thoát.

Một hôm, cô gái chợt nhớ đến người yêu đầu tiên, bỗng thấy bùi ngùi: Chàng "ngốc" đợi nghe cô nói xong câu "Tạm biệt". Cảm xúc đó khiến cô nhấc máy. Giọng của chàng trai vẫn chân chất, bình thản như xưa. Cô gái thì chẳng thốt lên lời, luống cuống nói "Tạm biệt"

Lần này cô không gác máy, một xúc cảm khó gọi thành tên khiến cô im lặng lắng nghe sự tĩnh lặng của đầu dây bên kia.
Chẳng biết bao lâu sau đó, đầu dây bên kia vọng đến tiếng của chàng trai, "Sao em không cúp máy?" Tiếng của cô gái như khản lại, " Tại sao lại muốn em cúp máy trước?". "Quen rồi". Chàng trai bình tĩnh nói, "Anh muốn em cúp máy trước, như vậy anh mới yên tâm".

"Nhưng người cúp máy sau, thường cảm thấy nuối tiếc, như vừa để tuột mất một điều gì." Cô gái hơi run run giọng. "Vì vậy, anh thà nhận sự mất mát đó, chỉ cần em vui là đủ." Cô gái không kìm nổi mình, bật khóc, những giọt nước mắt nóng hổi thấm đẫm cả vùng kí ức tình yêu thuở nào. Cuối cùng, cô cũng hiểu ra rằng, người không đủ kiên nhẫn để nghe cô nói hết câu cuối cùng, không phải là người mà cả đời này cô mong đợi.

Hoá ra, tình yêu đôi khi thật giản đơn, chỉ một chút đợi chờ, đã có thể nói lên tất cả

Post Reply