Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
"QUÊ HƯƠNG BIS" thơ mới nhất của Đỗ Trung Quân sáng tác vì nghe nói có LUẬT NHÀ THƠ do VC sắp ban hành.
Đỗ Trung Quân
Không biết đã có luật cấm nhà thơ được “ dị bổn “ chính thơ mình hay không ? Ở xứ mình cái gì không cấm là cho – Cái gì không cho là cấm. Chiếu theo nhận định ấy, nay tôi – Đỗ Trung Quân sau 25 năm trình làng bài thơ “ Bài học đầu cho con “ khi phổ nhạc có tên “ Quê hương “ xin cho ra mắt tiếp ‘ Quê hương bis “ trước khi bị tịch thu dị bản.
Tác giả kính báo.
Quê hương làm gì có luật
Nên ta luồn lách mỗi ngày
Quê hương mình thường lách luật
Huề tiền lắm vụ hay hay
Quê hương là cầu tre nhỏ
Cầu tre là đỡ lắm rồi
Còn hơn trẻ con chỗ nọ
Học về – nước – lũ – nó – trôi
Quê hương là con diều biếc
Dán diều bằng giấy xanh xanh
Ta bay lên tầng chót vót
Nhìn – dân – bầy – kiến – chạy – quanh
Quê hương là vàng bốn chín
Là hồng sổ đỏ vi la
Là oách như xuân tóc đỏ
Chỗ nào biệt thự cũng ta
Quê hương mỗi người chỉ một
Chỉ ngu mới một mà thôi
Nước trong hôm nào lộn xộn
Nước ngoài lại gặp ta thôi
[ làm tại cái vi la to bằng cái va li - Phú Nhuận - 3- 11-2011]
ĐỖ TRUNG QUÂN
Tác giả gửi cho Quê choa
Đỗ Trung Quân
Không biết đã có luật cấm nhà thơ được “ dị bổn “ chính thơ mình hay không ? Ở xứ mình cái gì không cấm là cho – Cái gì không cho là cấm. Chiếu theo nhận định ấy, nay tôi – Đỗ Trung Quân sau 25 năm trình làng bài thơ “ Bài học đầu cho con “ khi phổ nhạc có tên “ Quê hương “ xin cho ra mắt tiếp ‘ Quê hương bis “ trước khi bị tịch thu dị bản.
Tác giả kính báo.
Quê hương làm gì có luật
Nên ta luồn lách mỗi ngày
Quê hương mình thường lách luật
Huề tiền lắm vụ hay hay
Quê hương là cầu tre nhỏ
Cầu tre là đỡ lắm rồi
Còn hơn trẻ con chỗ nọ
Học về – nước – lũ – nó – trôi
Quê hương là con diều biếc
Dán diều bằng giấy xanh xanh
Ta bay lên tầng chót vót
Nhìn – dân – bầy – kiến – chạy – quanh
Quê hương là vàng bốn chín
Là hồng sổ đỏ vi la
Là oách như xuân tóc đỏ
Chỗ nào biệt thự cũng ta
Quê hương mỗi người chỉ một
Chỉ ngu mới một mà thôi
Nước trong hôm nào lộn xộn
Nước ngoài lại gặp ta thôi
[ làm tại cái vi la to bằng cái va li - Phú Nhuận - 3- 11-2011]
ĐỖ TRUNG QUÂN
Tác giả gửi cho Quê choa
PARIS : CHỢ CHẠY
Đinh Lâm Thanh
Viết chuyện Vui Buồn Paris thì chắc phải nhắc đến ‘chợ chạy’. Có thể
ví chợ chạy như chợ chồm hổm, vừa chào hàng, vừa lấm lét, vừa bán
và…vừa chạy. Mỗi khi buồn đời tôi thường ra các khu chợ nầy, ngồi ở
quán café bên cạnh để xem cảnh rượt bắt giữa cảnh sát và con buôn. Hôm
nay viết lại theo yêu cầu của nhiều người bạn xa muốn biết chuyện
Paris. Vậy xin gởi đến quý vị nhằm mua vui cuối tuần.
Có thể còn nhiều chợ nữa nhưng tôi mới biết có ba chợ : Chợ chạy Paris
khu 13, trước Tăng Frère, chợ chạy thứ hai dưới chân Tour Eiffel và
khu chợ chạy thứ ba ở Porte de Montreuil. Những chợ nầy đã có từ lâu
nhưng ngày nào cũng xảy ra hoạt cảnh nhân viên công lực phải dẹp năm
bảy lần (Khu 13 Paris), vài chục lần (Dưới chân Tour Eiffel) và cứ mỗi
cuối tuần, cảnh rượt bắt liên tục từ những đường chính vào đến các ngõ
hẻm (Khu chợ trời Montreuil).
Chợ chạy mỗi nơi mang một sắc thái khác nhau :
Chợ chạy Á Châu tại quận 13 Paris :
Ngay trước cửa super marché của Tàu cộng - Paris Store - gồm nhiều
nhóm người gốc đa quốc gia như Việt Nam, Cao Miên, Tàu cộng, Ấn Độ,
Pakistan…Các món hàng được bày bán trên các thùng xốp dã chiến, đa số
là thực phẩm chế biến tại nhà như các loại bánh và những hàng khô nhập
từ Tàu cộng, Việt Nam (tôm khô, bánh kẹo khô…) do người gốc Việt qua
sau 1975 và Việt-cộng-Tàu-cộng qua chui sau nầy nắm phần lớn ‘thị
trường’. Giá cả tại đây thường thấp hơn so với các chợ Tăng Frère và
Paris Store.
Riêng về các loại bánh trung thu, bánh chưng, bánh tét bán theo mùa,
trọng lượng tương đối bằng hàng trong các siêu thị, nhưng phẩm chất
không bảo đảm, nhất là hàng do các Việt cộng qua sau nầy sản xuất. Giá
hàng của các ông bà Việt-cộng nầy rẻ, khoảng nửa giá, đôi khi còn thấp
hơn, nhất là đối với những món thực phẩm phải ăn trong giới hạn ! Thứ
đến là hàng đĩa CD, DVD lậu do Tàu cộng và người gốc Ấn làm chủ với
giá 2€ một đĩa, mua 3 còn 5 €, mua mười thì 7€. Các hàng cẩm thạch giả
(10€ một chiếc vòng) 5€ một chiếc nhẫn.
Hàng vớ, leging dành cho đàn bà dĩ nhiên thiếu chất lượng và do người
Tàu bán với giá từ 3€ đến 5€ một đôi…Tại hàng chợ trước Paris Store,
đôi lúc cũng tìm được hàng rau quả tươi do các bà Miên mua thẳng từ
vườn đem ra bán… Một điều đặc biệt tại chợ nầy, trước đây có ba ông bà
tu theo phái hành khất của Phật giáo, họ thường tranh nhau vị trí đứng
xin ! Có lúc còn lớn tiếng với nhau nghe thật chướng tai ! Trong số
nầy có một ông (hay bà gì đó) đặt ngay bên cạnh chỗ đứng một tượng Đức
Phật và lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ để câu khách.
Sau đó có vài người Việt Quốc Gia đề nghị không nên lợi dụng cờ Vàng
Ba Sọc Đỏ làm màu mè cho việc xin tiền…may phước, từ đó đến giờ không
còn thấy bóng cờ nữa ! Đi ngang qua đây lúc nào người ta cũng bắt gặp
cảnh chào hàng, níu kéo khách không thua gì các chợ tại Việt Nam.
Ngoài ra, sẽ gặp một đám trẻ con của mấy bà rệp (Á rập) vừa xin tiền
vừa kiêm luôn nghề móc túi….
Tôi khuyên những ai đi ngang đây đừng bao giờ cho tiền, bánh kẹo hay
đứng lại trả lời mấy đứa trẻ..Vì đó là cơ hội để chúng bám như sam, và
sau đó, cái ví có thể cũng bay theo mây khói. Cảnh sát đi tuần rượt
bắt ở đây mỗi ngày năm bảy lượt…nhưng chẳng làm được trò trống gì cả.
Ở hai đầu đường đều có quan sát viên của bạn hàng bán chợ, mỗi lần
cảnh sát mặc quân phục xuất hiện, chỉ cần một tiếng báo động là khu
vực nầy náo loạn như ong vỡ tổ. Các mặt hàng được cuốn ngay vào bao
nilon và vác chạy vào phía trong thang chân đi lên khu thương mãi trên
lầu…Nhưng chỉ chừng vào phút sau, chợ ung dung họp lại như cũ, thành
thử việc rượt bắt xem như một trò đùa của cảnh sát Pháp với khu chợ
chạy tại khu phố Tàu. Khách qua đường đừng khinh thường những người
bán chợ chạy tại đây vì có nhiều người thành công lớn sau thời gian
hành nghề. Theo nguồn tin đáng tin cậy của người thân cho biết, một bà
ở đây, chỉ bán chợ chạy mà đã mua được một biệt thự lớn ở vùng ngoại
ô…
Chợ chạy nằm ngay dưới chân Tour Eiffel :
Chợ nầy do các anh đen gốc Phi Châu độc quyền và hoạt động cũng trên
hàng chục năm qua. Hoạt cảnh thât vui mắt như cảnh bịt mắt bắt dê.
Người ta có cảm tưởng đây là hình thức giải trí của thủ đô Paris dành
cho du khách hay không ? Hay cảnh sát Tây phải đành phải bó tay với
đám người không giấy tờ, vô gia cư cũng như không nghề nghiệp nầy ? Cứ
năm mười phút, hoạt cảnh rượt bắt lại xảy ra : Một toán cảnh sát chừng
2 ba người dùng xe đạp đuổi theo mấy ông đen bán hàng chạy lòng vòng
chung quanh bốn trụ chân Tour Eiffel.
Cảnh rượt bắt thật ngoạn mục này tạo cho khu du lịch thêm phần vui
nhộn đồng thời giúp vui cho du khách trong lúc sắp hàng mua vé lên
đỉnh Eiffel. Thành phần bán chạy khoảng vài chục người nầy đều là dân
da đen, hàng hóa mang toòng ten trên người gồm những vật lưu niệm
Paris như tour Eiffel, carte postale, móc chìa khóa…với giá rẻ từ 1/3
đến 1/5 euros (nếu biết trả giá) so với trong các cửa hàng tại đây.
Cũng những bộ mặt quen thuộc từ hàng chục năm nay, nếu bị cảnh sát
rượt, thì chỉ chạy vài vòng rồi lại xuất hiện đầy đủ với các hàng lưu
niệm đeo trên vai, trên cổ..
.Mấy ông bán hàng các chợ chạy – là một trong những nhóm người Đen và
Rệp - được hưởng nhiều quyền lợi nhất ở Pháp : Vợ ở nhà đẻ con, hưởng
trợ cấp, chồng buôn bán chợ đen, cả gia đình tạm trú tại hotel do
chính phủ đài thọ (trong lúc đợi cấp nhà rẻ tiền)…và mỗi ngày kiếm
được cả trăm euros mà không phải đóng thuế…thì đúng là những người
biết lợi dụng lòng nhân đạo của một nước đứng đầu nhân quyền thế giới
!
Chợ chạy tại Porte de Montreuil :
Khu chợ chạy nầy nằm sát bên hông chợ bò chét (marché aux puces). Tại
đây người bán gồm nhiều thành phần, Đen, Rệp, dân gốc Đông Âu và Tàu
cộng. Hàng hóa thuộc loại tạp nhạp. Bất cứ gì cũng có thể tìm thấy ở
đây, từ những máy vi tính xách tay, điện thoại di động, những vật dụng
nhỏ ăn cắp trong các siêu thị, cửa hàng như pin, đinh ốc, kềm, búa,
mắt kính, thức ăn (kể cả đồ đóng hộp đã quá hạn xử dụng) đến đồ dùng
hư hỏng người ta đã vứt ra đường và áo quần giày dép lượm từ các thùng
rác…Đặc biệt mấy người gốc Tàu cộng, không biết nói tiếng Pháp - chỉ
ra dấu bằng tay – bán những món hàng rẻ tiền nhập lậu từ Trung cộng
hoặc những món hàng có giá nhưng là đồ giả sản suất từ Ý Đại Lợi hay
Thổ Nhỉ Kỳ…
Đạo quân chợ chạy tại đây thật đông đảo vào những dịp sau nghỉ hè (nhờ
hàng hóa trộm được của những gia đình đi vacance) và các dịp lễ lớn.
Chỉ tính người bán có thể lên đến cả ngàn, bày hàng đầy đường và biến
mất thật tài tình trong vòng dưới một phút mỗi khi có báo động. Khách
thì đông hơn gấp bội, đa số là gốc Rệp của các xứ sống dọc theo bờ
biển Địa Trung Hải, họ tìm mua đồ cũ, nhất là áo quần cũ, nồi niêu
soong chảo và các đồ bằng điện dùng cho nhà bếp…để đưa về xứ. Giá cả
tùy theo giá trị món hàng, thương lượng giữa kẻ bán người mua.
Tuy nhiên giá có lúc cao, lúc thấp, lúc bị lầm hoặc gặp được giá hời
vì người bán không biết giá trị món hàng. Có thể nói ở chợ chạy,
thượng vàng hạ cám có thể tìm được, tuy nhiên phải biết chọn, biết mua
và biết thương lượng trả giá. Ở tại chợ chạy này việc mua bán không
thể kéo dài mà phải quyết định nhanh chóng. Đợi người bán rao giá
xong, bao nhiêu cũng mặc, nếu người mua biết giá trị món hàng thì tiền
cầm sẵn trong tay, miệng trả giá, kèo nài lên xuống từng chút… có như
vậy mới mua được hàng dễ dàng. Gọi là hàng chạy vì giới bán hàng, nếu
kiếm được một ít lời là bán thật nhanh để ‘biến’ ngay vì sợ báo động
bất thường ! Kinh nghiệm với chợ chạy Montreuil, người đi mua, nếu
chấm được món nào vừa ý và giá phải chăng thì mua ngay, bằng không,
những người đứng bên cạnh (không biết thực hay cò mồi) đưa tiền ra lấy
tức khắc, hoặc có lúc người mua chần chờ bỏ đi một vòng, khi quay trở
lại chắc chắn hàng sẽ không còn nữa…
Tại chợ chạy nầy, cuối tuần cảnh sát phải túc trực vài xe cây mới đủ
nhân lực để rượt bắt, nhưng đã từ hàng chục năm qua, cảnh sát sắc phục
chẳng bắt được ai bán chợ chạy ở đây. Vì vừa nghe tiếng báo động, lập
tức hàng hoá được cuốn lại trong bao nylon và biến mất vào các ngõ
hẻm.
Đi chợ chạy đã vui mà đôi lúc cũng tìm được những món hàng vừa ý, vì
có những trường hợp người bán không biết giá trị cũng như giá cả chính
xác….Hoặc đôi lúc gặp được những thứ lặt vặt rất cần thiết nhưng không
tìm thấy trong các cửa hàng hoặc siêu thị.
Đinh Lâm Thanh
Đinh Lâm Thanh
Viết chuyện Vui Buồn Paris thì chắc phải nhắc đến ‘chợ chạy’. Có thể
ví chợ chạy như chợ chồm hổm, vừa chào hàng, vừa lấm lét, vừa bán
và…vừa chạy. Mỗi khi buồn đời tôi thường ra các khu chợ nầy, ngồi ở
quán café bên cạnh để xem cảnh rượt bắt giữa cảnh sát và con buôn. Hôm
nay viết lại theo yêu cầu của nhiều người bạn xa muốn biết chuyện
Paris. Vậy xin gởi đến quý vị nhằm mua vui cuối tuần.
Có thể còn nhiều chợ nữa nhưng tôi mới biết có ba chợ : Chợ chạy Paris
khu 13, trước Tăng Frère, chợ chạy thứ hai dưới chân Tour Eiffel và
khu chợ chạy thứ ba ở Porte de Montreuil. Những chợ nầy đã có từ lâu
nhưng ngày nào cũng xảy ra hoạt cảnh nhân viên công lực phải dẹp năm
bảy lần (Khu 13 Paris), vài chục lần (Dưới chân Tour Eiffel) và cứ mỗi
cuối tuần, cảnh rượt bắt liên tục từ những đường chính vào đến các ngõ
hẻm (Khu chợ trời Montreuil).
Chợ chạy mỗi nơi mang một sắc thái khác nhau :
Chợ chạy Á Châu tại quận 13 Paris :
Ngay trước cửa super marché của Tàu cộng - Paris Store - gồm nhiều
nhóm người gốc đa quốc gia như Việt Nam, Cao Miên, Tàu cộng, Ấn Độ,
Pakistan…Các món hàng được bày bán trên các thùng xốp dã chiến, đa số
là thực phẩm chế biến tại nhà như các loại bánh và những hàng khô nhập
từ Tàu cộng, Việt Nam (tôm khô, bánh kẹo khô…) do người gốc Việt qua
sau 1975 và Việt-cộng-Tàu-cộng qua chui sau nầy nắm phần lớn ‘thị
trường’. Giá cả tại đây thường thấp hơn so với các chợ Tăng Frère và
Paris Store.
Riêng về các loại bánh trung thu, bánh chưng, bánh tét bán theo mùa,
trọng lượng tương đối bằng hàng trong các siêu thị, nhưng phẩm chất
không bảo đảm, nhất là hàng do các Việt cộng qua sau nầy sản xuất. Giá
hàng của các ông bà Việt-cộng nầy rẻ, khoảng nửa giá, đôi khi còn thấp
hơn, nhất là đối với những món thực phẩm phải ăn trong giới hạn ! Thứ
đến là hàng đĩa CD, DVD lậu do Tàu cộng và người gốc Ấn làm chủ với
giá 2€ một đĩa, mua 3 còn 5 €, mua mười thì 7€. Các hàng cẩm thạch giả
(10€ một chiếc vòng) 5€ một chiếc nhẫn.
Hàng vớ, leging dành cho đàn bà dĩ nhiên thiếu chất lượng và do người
Tàu bán với giá từ 3€ đến 5€ một đôi…Tại hàng chợ trước Paris Store,
đôi lúc cũng tìm được hàng rau quả tươi do các bà Miên mua thẳng từ
vườn đem ra bán… Một điều đặc biệt tại chợ nầy, trước đây có ba ông bà
tu theo phái hành khất của Phật giáo, họ thường tranh nhau vị trí đứng
xin ! Có lúc còn lớn tiếng với nhau nghe thật chướng tai ! Trong số
nầy có một ông (hay bà gì đó) đặt ngay bên cạnh chỗ đứng một tượng Đức
Phật và lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ để câu khách.
Sau đó có vài người Việt Quốc Gia đề nghị không nên lợi dụng cờ Vàng
Ba Sọc Đỏ làm màu mè cho việc xin tiền…may phước, từ đó đến giờ không
còn thấy bóng cờ nữa ! Đi ngang qua đây lúc nào người ta cũng bắt gặp
cảnh chào hàng, níu kéo khách không thua gì các chợ tại Việt Nam.
Ngoài ra, sẽ gặp một đám trẻ con của mấy bà rệp (Á rập) vừa xin tiền
vừa kiêm luôn nghề móc túi….
Tôi khuyên những ai đi ngang đây đừng bao giờ cho tiền, bánh kẹo hay
đứng lại trả lời mấy đứa trẻ..Vì đó là cơ hội để chúng bám như sam, và
sau đó, cái ví có thể cũng bay theo mây khói. Cảnh sát đi tuần rượt
bắt ở đây mỗi ngày năm bảy lượt…nhưng chẳng làm được trò trống gì cả.
Ở hai đầu đường đều có quan sát viên của bạn hàng bán chợ, mỗi lần
cảnh sát mặc quân phục xuất hiện, chỉ cần một tiếng báo động là khu
vực nầy náo loạn như ong vỡ tổ. Các mặt hàng được cuốn ngay vào bao
nilon và vác chạy vào phía trong thang chân đi lên khu thương mãi trên
lầu…Nhưng chỉ chừng vào phút sau, chợ ung dung họp lại như cũ, thành
thử việc rượt bắt xem như một trò đùa của cảnh sát Pháp với khu chợ
chạy tại khu phố Tàu. Khách qua đường đừng khinh thường những người
bán chợ chạy tại đây vì có nhiều người thành công lớn sau thời gian
hành nghề. Theo nguồn tin đáng tin cậy của người thân cho biết, một bà
ở đây, chỉ bán chợ chạy mà đã mua được một biệt thự lớn ở vùng ngoại
ô…
Chợ chạy nằm ngay dưới chân Tour Eiffel :
Chợ nầy do các anh đen gốc Phi Châu độc quyền và hoạt động cũng trên
hàng chục năm qua. Hoạt cảnh thât vui mắt như cảnh bịt mắt bắt dê.
Người ta có cảm tưởng đây là hình thức giải trí của thủ đô Paris dành
cho du khách hay không ? Hay cảnh sát Tây phải đành phải bó tay với
đám người không giấy tờ, vô gia cư cũng như không nghề nghiệp nầy ? Cứ
năm mười phút, hoạt cảnh rượt bắt lại xảy ra : Một toán cảnh sát chừng
2 ba người dùng xe đạp đuổi theo mấy ông đen bán hàng chạy lòng vòng
chung quanh bốn trụ chân Tour Eiffel.
Cảnh rượt bắt thật ngoạn mục này tạo cho khu du lịch thêm phần vui
nhộn đồng thời giúp vui cho du khách trong lúc sắp hàng mua vé lên
đỉnh Eiffel. Thành phần bán chạy khoảng vài chục người nầy đều là dân
da đen, hàng hóa mang toòng ten trên người gồm những vật lưu niệm
Paris như tour Eiffel, carte postale, móc chìa khóa…với giá rẻ từ 1/3
đến 1/5 euros (nếu biết trả giá) so với trong các cửa hàng tại đây.
Cũng những bộ mặt quen thuộc từ hàng chục năm nay, nếu bị cảnh sát
rượt, thì chỉ chạy vài vòng rồi lại xuất hiện đầy đủ với các hàng lưu
niệm đeo trên vai, trên cổ..
.Mấy ông bán hàng các chợ chạy – là một trong những nhóm người Đen và
Rệp - được hưởng nhiều quyền lợi nhất ở Pháp : Vợ ở nhà đẻ con, hưởng
trợ cấp, chồng buôn bán chợ đen, cả gia đình tạm trú tại hotel do
chính phủ đài thọ (trong lúc đợi cấp nhà rẻ tiền)…và mỗi ngày kiếm
được cả trăm euros mà không phải đóng thuế…thì đúng là những người
biết lợi dụng lòng nhân đạo của một nước đứng đầu nhân quyền thế giới
!
Chợ chạy tại Porte de Montreuil :
Khu chợ chạy nầy nằm sát bên hông chợ bò chét (marché aux puces). Tại
đây người bán gồm nhiều thành phần, Đen, Rệp, dân gốc Đông Âu và Tàu
cộng. Hàng hóa thuộc loại tạp nhạp. Bất cứ gì cũng có thể tìm thấy ở
đây, từ những máy vi tính xách tay, điện thoại di động, những vật dụng
nhỏ ăn cắp trong các siêu thị, cửa hàng như pin, đinh ốc, kềm, búa,
mắt kính, thức ăn (kể cả đồ đóng hộp đã quá hạn xử dụng) đến đồ dùng
hư hỏng người ta đã vứt ra đường và áo quần giày dép lượm từ các thùng
rác…Đặc biệt mấy người gốc Tàu cộng, không biết nói tiếng Pháp - chỉ
ra dấu bằng tay – bán những món hàng rẻ tiền nhập lậu từ Trung cộng
hoặc những món hàng có giá nhưng là đồ giả sản suất từ Ý Đại Lợi hay
Thổ Nhỉ Kỳ…
Đạo quân chợ chạy tại đây thật đông đảo vào những dịp sau nghỉ hè (nhờ
hàng hóa trộm được của những gia đình đi vacance) và các dịp lễ lớn.
Chỉ tính người bán có thể lên đến cả ngàn, bày hàng đầy đường và biến
mất thật tài tình trong vòng dưới một phút mỗi khi có báo động. Khách
thì đông hơn gấp bội, đa số là gốc Rệp của các xứ sống dọc theo bờ
biển Địa Trung Hải, họ tìm mua đồ cũ, nhất là áo quần cũ, nồi niêu
soong chảo và các đồ bằng điện dùng cho nhà bếp…để đưa về xứ. Giá cả
tùy theo giá trị món hàng, thương lượng giữa kẻ bán người mua.
Tuy nhiên giá có lúc cao, lúc thấp, lúc bị lầm hoặc gặp được giá hời
vì người bán không biết giá trị món hàng. Có thể nói ở chợ chạy,
thượng vàng hạ cám có thể tìm được, tuy nhiên phải biết chọn, biết mua
và biết thương lượng trả giá. Ở tại chợ chạy này việc mua bán không
thể kéo dài mà phải quyết định nhanh chóng. Đợi người bán rao giá
xong, bao nhiêu cũng mặc, nếu người mua biết giá trị món hàng thì tiền
cầm sẵn trong tay, miệng trả giá, kèo nài lên xuống từng chút… có như
vậy mới mua được hàng dễ dàng. Gọi là hàng chạy vì giới bán hàng, nếu
kiếm được một ít lời là bán thật nhanh để ‘biến’ ngay vì sợ báo động
bất thường ! Kinh nghiệm với chợ chạy Montreuil, người đi mua, nếu
chấm được món nào vừa ý và giá phải chăng thì mua ngay, bằng không,
những người đứng bên cạnh (không biết thực hay cò mồi) đưa tiền ra lấy
tức khắc, hoặc có lúc người mua chần chờ bỏ đi một vòng, khi quay trở
lại chắc chắn hàng sẽ không còn nữa…
Tại chợ chạy nầy, cuối tuần cảnh sát phải túc trực vài xe cây mới đủ
nhân lực để rượt bắt, nhưng đã từ hàng chục năm qua, cảnh sát sắc phục
chẳng bắt được ai bán chợ chạy ở đây. Vì vừa nghe tiếng báo động, lập
tức hàng hoá được cuốn lại trong bao nylon và biến mất vào các ngõ
hẻm.
Đi chợ chạy đã vui mà đôi lúc cũng tìm được những món hàng vừa ý, vì
có những trường hợp người bán không biết giá trị cũng như giá cả chính
xác….Hoặc đôi lúc gặp được những thứ lặt vặt rất cần thiết nhưng không
tìm thấy trong các cửa hàng hoặc siêu thị.
Đinh Lâm Thanh
Có con đường nào còn vắng dấu giày ta?
Đỗ Trung Quân
Thỉnh thoảng đi qua đường Lý Tự Trọng lại cười khẽ một mình. Cú tròn mắt của người bên cạnh dễ hiểu lắm “gã này hâm“. Đường Gia Long cũ của Sài Gòn chưa cũ lắm… 40 năm trước lấy của hắn vô số dép, cuốc bộ trên vỉa hè đi học là phải ném vài chùm me rất “gợi cảm” trên đầu. Kết quả: Me còn – dép mất. Chân đất đến trường. Về nhà tất nhiên lãnh vài roi mây của ông chú tàn ác.
Thêm vài năm sau nữa thành gã Tú Tài đôi. Gặp một anh cao gầy, tóc tai bờm xờm, ăn mặc lôi thôi người gốc Biên Hòa, hắn lớn hơn mình vài tuổi, thành danh khi chưa quá 30. Nguyễn Tất Nhiên – kẻ để lại trên con đường Gia Long này những câu thơ tình không ướt át, nó kiêu bạc bất ngờ
“Tình cũng khó theo thời cơm áo khó
Ta dìu nhau đi dưới bóng nợ nần…
[đi dưới vòm me đường Gia Long]
thi sĩ luộm thuộm, giang hồ lại đi yêu cô tiểu thư gốc Bắc. Thất tình là cái chắc nhưng sau những hờn giận oán thù
Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc
Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền
Nhớ khiêm nhường nhưng thâm ý khoe khoang
Nhớ duyên dáng ngây thơ mà xảo quyệt …
Nàng gái Bắc tên Duyên xinh đẹp và ngoan đạo cũng lưu danh mãi mãi trong nhạc và thơ [Thà như giọt mưa – Phạm Duy].
Bây giờ những tối khuya khoắt, ngồi vỉa hè Gia Long nhìn mưa đêm thành phố. Hè phố vắng, mặt đường ướt sũng. Cô độc, mà không cô đơn. Mưa mặc mưa. Trùm áo mưa ngồi trong mưa ly rượu cũng tràn mưa với vài người bạn đến tận khuya khoắt. Con phố nào đi ngủ chẳng đáng yêu. Ô cửa sổ khép hờ hắt ánh đèn vàng - con mắt thức khuya buồn nhưng ấm.
Thành phố này còn bao nhiêu con đường in dấu giày ta?
Duy Tân – Phạm Ngọc Thạch nhé. Hàng cây sao hay thả những cơn mưa chong chóng bay vào tận cửa sổ phòng làm việc của một anh nhà báo trẻ. Tòa soạn một tờ báo từng làm việc thời 25 tuổi nằm ở con đường này.Khi cao ốc chưa xây, những biệt thự màu vôi vàng cổ kính tĩnh lặng nép mình sau những tàng khế hoa tím trước cổng, trong sân. Những ngõ sâu im lìm trong nắng trưa, mặc hàng rào cứ dần cháy đỏ những chùm lá Trạng Nguyên. Trưa nào cũng êm đềm như bầu trời cư xá. Con đường với Chiếc dù che màu tím nào đó từng đi qua đây để ông nhạc sĩ đa tình Phạm Duy vớ được, dại gì không mang ngay vào nhạc… "con đường Duy Tân cây dài bóng mát …” thời sinh viên ai chả hát lệch cả mồm.
Con đường tình chúng ta đi nó đấy. Người thiếu nữ ngày xưa chắc đã xếp chiếc dù màu tím vào ngăn lãng quên? Chàng thanh niên ngày nào vẫn còn đi qua con đường ấy chỉ khác tí: Hắn đã già.
"Này em anh đã già
Tuổi cao thiếu sức khỏe
Chỉ sống với trái tim cằn khô…
[Phạm Duy – Bình ca 1].
Thành phố này còn bao nhiêu con đường in dấu giày ta? Đơn giản thôi, kẻ lớn lên ở đây hàng chục năm bao nhiêu dâu bể, biến động thời cuộc hắn cũng có ra khỏi Sài Gòn đâu. Thằng bé thả diều thành thanh niên. Anh thanh niên thành gã trung niên. Gã trung niên thành lão điên điên…
Bây giờ, đôi khi nhớ phố tìm ra vỉa hè Nguyễn Trung Trực ngồi với ly bia nhìn Sài Gòn dần chìm vào đêm. Trước khi tĩnh lặng thành phố thở những hơi dài Trompet. Mùi gió sông, những vỉa hè ồn ào nhịp sống khác, Sài Gòn không bao giờ ngủ. Nếu có, nó chỉ thiu thiu khép hờ mí mắt. Khu phố Tây Phạm Ngũ Lão – Đề Thám những con mắt đêm chong sáng với đồng tử nhiều màu. Đa quốc tịch. Ở đấy, trong một đêm cuối năm mưa trái mùa. Có kẻ liêu xiêu trong hơi rượu nhẹ, thấy đôi chân về khuya lấp lánh dấu lân tinh trên mặt đường loang ướt ánh đèn màu.
Ánh đèn quảng cáo loang trên mặt đường
Sau cơn mưa muộn
Ta nhảy một điệu nhảy cổ xưa trên mặt lộ
Thây kệ người đi đường
Ta nhảy trên đôi giày sũng ướt
Đẫm màu…
Đêm Sài Gòn mờ hơi sương lạnh
Quán bar bên kia đường sắp đóng cửa
Chẳng sao
Ta nhảy
Một điệu nhảy không biết tên gì trên mặt lộ
Một mình
Nhảy...
Nhảy...
Và nhảy...
Vòm me còn sót lại vắt rũ rượi mảnh trăng non mềm oặt như chân ta
Nhảy, nhảy và nhảy...
Anh cảnh sát giao thông kè xe quát một phát
“Hê! Cha nội có xỉn không?
Leo lên lề giùm con đi ông!”
Ta nhảy
Nhảy...
Và nhảy...
Một điệu nhảy mơ hồ như kiếp trước
Hai bàn chân đẫm màu
Rực sáng...
Vết lân tinh...
Quán bar bên kia đường điệu Blues đã tắt
Tiếng kèn khàn...

Tóc bum bê. Sài Gòn 1973...
Israel 'đánh nguội' Iran?
Báo giới Israel bóng gió đưa tin về “bàn tay” của nhà nước Do Thái trong vụ nổ căn cứ quân sự của Iran làm thiệt mạng 17 người hôm 12/11.
Trong số 17 nạn nhân xấu số trong vụ nổ có Tư lệnh Hassan Moghaddam. Ông được cho là “chịu trách nhiệm nghiên cứu công nghệ nhằm mục tiêu đảm bảo khả năng tự cung cấp vũ khí cho Lực lượng Vệ binh cách mạng Iran”. Nói cách khác, ông Hassan Moghaddam chính là người phụ trách chương trình phát triển tên lửa của Iran.
Giới lãnh đạo quân sự Iran khẳng định, vụ nổ tại căn cứ bên ngoài thành phố Bidganeh, cách Thủ đô Tehran vài chục km này chỉ là một vụ tai nạn xảy ra trong quá trình vận chuyển vũ khí. Tuy nhiên, cái chết của một trong những tướng lĩnh hàng đầu của Iran làm dấy lên tin đồn đây là một hành động phá hoại nhằm vào chương trình hạt nhân gây tranh cãi của Iran.

Xuất hiện nghi ngờ có "bàn tay" Israel trong vụ nổ căn cứ quân sự của Iran. Ảnh: Daily Mail. Theo Time, ít nhất ba nhật báo lớn nhất của Israel đều giật tít lớn: “Vụ nổ bí ẩn tại căn cứ tên lửa của Iran” trên trang bìa số ra sáng nay. Để làm tăng thêm tính bí ẩn, tờ Ma'ariv đặt một câu hỏi lớn: “Ai thực sự đứng sau các vụ tấn công nhằm vào căn cứ của Tehran?”.
Tờ báo này còn liệt kê 6 vụ nổ “bí ẩn” khác, cho thấy “sự liên quan giữa chương trình hạt nhân Iran và cái gọi là một chiến dịch quân sự”.
Trong khi đó, tờ Yedioth Ahronoth cũng có bài viết về “những tai nạn đầy bí ẩn của Iran”; trong đó đưa ra chi tiết vụ nổ hồi tháng 11/2007 tại cơ sở chế tạo tên lửa ở miền Nam Tehran, vụ nổ tại căn cứ Shahab ở Tây Nam Iran hồi tháng 10/2010 và các vụ ám sát ba nhà khoa học Iran có liên quan trực tiếp đến chương trình hạt nhân của nước này.
Cụ thể hơn, một tờ báo khác của nhà nước Do Thái cho hay, có “một số dấu hiệu” chứng tỏ vụ nổ này là “kết quả của một chiến dịch quân sự dựa trên thông tin tình báo”.
Đối với độc giả Israel, hàm ý của báo giới nước này quá rõ rằng, Chính phủ của họ chủ mưu vụ nổ căn cứ quân sự Iran.
Nhận định này khá trùng khớp với thông tin mà tình báo phương Tây thu thập được trước đó: tình báo Mossad thực hiện vụ tấn công này.
“Đừng tin lời giới chức Iran. Đó không phải tai nạn đơn thuần”, một quan chức tình báo phương Tây nhấn mạnh và cho biết thêm, sẽ còn nhiều vụ tấn công phá hoại khác được thực hiện nhằm trì hoãn chương trình hạt nhân của Tehran.
Cùng lúc đó, nhà bình luận quốc tế Mỹ Richard Silverstein, người có quan hệ mật thiết với giới quân sự Israel cũng cho hay, ông nhận được thông tin rằng, vụ nổ căn cứ quân sự ở Iran là do Mossad thực hiện với sự giúp đỡ của một nhóm lưu vong có tên MEK.
Ông Silverstein cũng so sánh vụ nổ hôm 12/11 với vụ nổ xảy ra tại một căn cứ chứa tên lửa tầm xa Shahab-3 cách đây một năm. Khi đó, các quan chức Iran cũng thông báo, vụ nổ khiến 18 người chết này là do một đám cháy bùng lên ở kho vũ khí gây nên.
Điều quan trọng là dường như cả hai đều nhằm vào Shahab-3, một loại tên lửa tầm xa có thể được dùng để đánh trả Israel nếu Iran bị tấn công. Ngoài ra, Shahab cũng được cho là loại tên lửa Iran chọn để lắp đầu đạn hạt nhân.
Dù những thông tin trên chưa được kiểm chứng nhưng quả thực, chương trình hạt nhân của Iran thường xuyên bị tấn công trong vòng hai năm trở lại đây, làm dấy lên mối nghi ngờ về sự dính líu của thế lực bên ngoài.
Tuy nhiên, Time cho rằng, không thể khẳng định Israel là đối tượng đáng ngờ nhất dù ai cũng biết nhờ có Mossad mà Chính phủ Israel có thể nắm tường tận mọi ngóc ngách của Iran cũng như thực hiện các chiến dịch ngầm mà không để lại dấu vết nào. Tuy nhiên, không chỉ mình Tel Aviv có hoạt động tình báo bên trong Tehran.
Báo cáo mới đây của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) cho thấy, có ít nhất 10 Chính phủ khác nhau đang tổ chức các hoạt động tình báo nhằm vào chương trình hạt nhân của Iran.
Trà My (theo Time, Telegraph)
Trong số 17 nạn nhân xấu số trong vụ nổ có Tư lệnh Hassan Moghaddam. Ông được cho là “chịu trách nhiệm nghiên cứu công nghệ nhằm mục tiêu đảm bảo khả năng tự cung cấp vũ khí cho Lực lượng Vệ binh cách mạng Iran”. Nói cách khác, ông Hassan Moghaddam chính là người phụ trách chương trình phát triển tên lửa của Iran.
Giới lãnh đạo quân sự Iran khẳng định, vụ nổ tại căn cứ bên ngoài thành phố Bidganeh, cách Thủ đô Tehran vài chục km này chỉ là một vụ tai nạn xảy ra trong quá trình vận chuyển vũ khí. Tuy nhiên, cái chết của một trong những tướng lĩnh hàng đầu của Iran làm dấy lên tin đồn đây là một hành động phá hoại nhằm vào chương trình hạt nhân gây tranh cãi của Iran.

Xuất hiện nghi ngờ có "bàn tay" Israel trong vụ nổ căn cứ quân sự của Iran. Ảnh: Daily Mail. Theo Time, ít nhất ba nhật báo lớn nhất của Israel đều giật tít lớn: “Vụ nổ bí ẩn tại căn cứ tên lửa của Iran” trên trang bìa số ra sáng nay. Để làm tăng thêm tính bí ẩn, tờ Ma'ariv đặt một câu hỏi lớn: “Ai thực sự đứng sau các vụ tấn công nhằm vào căn cứ của Tehran?”.
Tờ báo này còn liệt kê 6 vụ nổ “bí ẩn” khác, cho thấy “sự liên quan giữa chương trình hạt nhân Iran và cái gọi là một chiến dịch quân sự”.
Trong khi đó, tờ Yedioth Ahronoth cũng có bài viết về “những tai nạn đầy bí ẩn của Iran”; trong đó đưa ra chi tiết vụ nổ hồi tháng 11/2007 tại cơ sở chế tạo tên lửa ở miền Nam Tehran, vụ nổ tại căn cứ Shahab ở Tây Nam Iran hồi tháng 10/2010 và các vụ ám sát ba nhà khoa học Iran có liên quan trực tiếp đến chương trình hạt nhân của nước này.
Cụ thể hơn, một tờ báo khác của nhà nước Do Thái cho hay, có “một số dấu hiệu” chứng tỏ vụ nổ này là “kết quả của một chiến dịch quân sự dựa trên thông tin tình báo”.
Đối với độc giả Israel, hàm ý của báo giới nước này quá rõ rằng, Chính phủ của họ chủ mưu vụ nổ căn cứ quân sự Iran.
Nhận định này khá trùng khớp với thông tin mà tình báo phương Tây thu thập được trước đó: tình báo Mossad thực hiện vụ tấn công này.
“Đừng tin lời giới chức Iran. Đó không phải tai nạn đơn thuần”, một quan chức tình báo phương Tây nhấn mạnh và cho biết thêm, sẽ còn nhiều vụ tấn công phá hoại khác được thực hiện nhằm trì hoãn chương trình hạt nhân của Tehran.
Cùng lúc đó, nhà bình luận quốc tế Mỹ Richard Silverstein, người có quan hệ mật thiết với giới quân sự Israel cũng cho hay, ông nhận được thông tin rằng, vụ nổ căn cứ quân sự ở Iran là do Mossad thực hiện với sự giúp đỡ của một nhóm lưu vong có tên MEK.
Ông Silverstein cũng so sánh vụ nổ hôm 12/11 với vụ nổ xảy ra tại một căn cứ chứa tên lửa tầm xa Shahab-3 cách đây một năm. Khi đó, các quan chức Iran cũng thông báo, vụ nổ khiến 18 người chết này là do một đám cháy bùng lên ở kho vũ khí gây nên.
Điều quan trọng là dường như cả hai đều nhằm vào Shahab-3, một loại tên lửa tầm xa có thể được dùng để đánh trả Israel nếu Iran bị tấn công. Ngoài ra, Shahab cũng được cho là loại tên lửa Iran chọn để lắp đầu đạn hạt nhân.
Dù những thông tin trên chưa được kiểm chứng nhưng quả thực, chương trình hạt nhân của Iran thường xuyên bị tấn công trong vòng hai năm trở lại đây, làm dấy lên mối nghi ngờ về sự dính líu của thế lực bên ngoài.
Tuy nhiên, Time cho rằng, không thể khẳng định Israel là đối tượng đáng ngờ nhất dù ai cũng biết nhờ có Mossad mà Chính phủ Israel có thể nắm tường tận mọi ngóc ngách của Iran cũng như thực hiện các chiến dịch ngầm mà không để lại dấu vết nào. Tuy nhiên, không chỉ mình Tel Aviv có hoạt động tình báo bên trong Tehran.
Báo cáo mới đây của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) cho thấy, có ít nhất 10 Chính phủ khác nhau đang tổ chức các hoạt động tình báo nhằm vào chương trình hạt nhân của Iran.
Trà My (theo Time, Telegraph)
LÒNG TỰ TRỌNG CỦA CON CHÓ
Ngô Nhược Tăng
Loài chó còn biết tự trọng hơn con người - câu nói này rất đúng với những người đạo đức giả, nhất là với các người tham nhũng, vừa bóp nặn vơ vét tiền của dân, vừa lên mặt lãnh đạo dân.
Năm ấy tôi quen một huấn luyện viên dạy chó nghiệp vụ trong quân đội. Tôi hỏi anh: Loại chó thông minh nhất có thể đạt được tới trình độ như thế nào? Anh trả lời: Trừ chuyện không biết nói ra, chúng không khác gì người. Câu trả lời của anh khiến tôi sửng sốt. Tôi hỏi tiếp: Phải chăng câu này của anh có lẫn lộn nhiều màu sắc tình cảm? - Không đâu! Anh nói.
Rồi anh kể cho tôi nghe dăm ba câu chuyện về loài chó, đều là những chuyện chính anh từng trải qua. Có mấy chuyện tôi đã quên mất rồi, duy chỉ có một chuyện sau đây thì cho đến nay tôi vẫn còn nhớ như in.
Trong doanh trại của anh có một con chó cực kỳ thông minh tên là Đen. Để trắc nghiệm năng lực phản ứng của nó, một hôm mấy huấn luyện viên dạy chó nghĩ ra một biện pháp đặc biệt. Họ chọn hơn chục người xếp thành một hàng, sau đó cử một người trong số đó vào trong doanh trại “lấy cap”(' một vật đem giấu đi, rồi lại trở về đứng trong hàng. Khi mọi việc đã xong xuôi, huấn luyện viên dạy chó dắt con Đen đến, bảo nó đi tìm vật bị mất. Con Đen chạy đi, chỉ một loáng sau đã thấy nó ngoạm vật kia mang đến. Huấn luyện viên dạy chó cả mừng vỗ vỗ lên đầu nó tỏ ý khen ngợi. Rồi anh chỉ tay vào hàng người kia, bảo con Đen đi tìm kẻ đã lấy cắp vật ấy. Nó chạy đến dí mũi hít hít ngửi ngửi hết người này đến người khác, chẳng mấy chốc đã cắn quần một anh lôi ra ngoài hàng, đúng là anh “kẻ cap”(' kia.
Phải nói rằng như vậy con Đen đã hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ được giao, thế nhưng huấn luyện viên dạy chó lại cứ một mực lắc đầu bảo nó: Không, không phải người ấy! Tìm lại đi!
Con Đen tỏ ý hết sức ngạc nhiên, mắt nó ánh lên nỗi nghi hoặc, thắc mắc, vì nó tin chắc rằng mình không hề tìm nhầm người; nhưng mặt khác nó lại tuyệt đối tin tưởng vào huấn luyện viên của mình. Đây, đây là chuyện thế nào nhỉ? - nó nghĩ. Không phải người ấy! Đi tìm lại đi! Huấn luyện viên cứ khăng khăng bảo. Con Đen tin vào huấn luyện viên, nó quay lại tìm... Nhưng sau nhiều lần thận trọng ngửi đi ngửi lại, cuối cùng nó vẫn cứ cắn quần anh chàng kia lôi ra. Không! Không đúng! Huấn luyện viên lại lắc đầu. Tìm lại đi!
Con Đen mỗi lúc một thêm nghi hoặc, đành chạy lại chỗ hàng người kia. Lần này nó đánh hơi ngửi rất lâu, rất lâu để xác định ai là kẻ cắp. Sau cùng, nó đứng lại bên cạnh anh “kẻ cap”(' kia rồi quay đầu nhìn huấn luyện viên, tỏ ý - tôi cảm thấy chính là người này đây... Không! Tuyệt đối không phải người ấy! Huấn luyện viên lại quát to, nét mặt trở nên nghiêm nghị.
Lòng tự tin của con Đen bị đập tan tành. Dĩ nhiên nó tin vào huấn luyện viên hơn là tin vào bản thân nó. Rốt cuộc nó bỏ tên kẻ cắp kia và đi tìm người khác. Nhưng người khác... đều không đúng mà?
Nó ở trong hàng người ấy đấy! Mau tìm ra ngay! Huấn luyện viên quát lên.
Con Đen vô cùng thất vọng chán nản. Nó dừng lại bên chân mỗi người một lúc, nhìn nhìn ngó ngó xem người đó có giống tên kẻ cắp hay không, rồi quay đầu nhìn ánh mắt của huấn luyện viên, hy vọng có thể tìm thấy chút ít tín hiệu hoặc biểu thị gì đấy... Cuối cùng, khi nó nắm bắt được một chút xíu biến đổi trong ánh mắt của huấn luyện viên, nó cắn quần người đứng bên cạnh và kéo ra.
Tất nhiên, lần này thì nó đã nhầm.
Nhưng huấn luyện viên của nó cùng mấy người kia thì lại cười ha hả. Tiếng cười khiến con Đen trở nên lú lẫn. Sau cùng huấn luyện viên gọi “kẻ cap”(' bước ra ngoài hàng, rồi bảo con Đen: Lần đầu mày tìm đúng rồi, nhưng mày sai ở chỗ không kiên trì mình đúng...
Một điều khiến huấn luyện viên và tất cả mọi người có mặt lúc ấy không thể hiểu được và vô cùng kinh ngạc, vô cùng ân hận, là ngay trong khoảnh khắc ấy họ đã nhìn thấy: Khi con Đen hiểu ra chuyện vừa rồi là một vụ lừa dối, nó “ngoao”` lên một tiếng vô cùng đau khổ, mắt ứa ra những giọt nước mắt nóng hổi. Sau đấy nó ủ rũ gục đầu nặng nề, thui thủi từng bước bỏ đi...
Đen! Đen! Mày đi đâu thế hả? Huấn luyện viên sợ hãi đuổi theo hỏi tới tấp.
Con Đen chẳng hề đoái hoài tới người rèn dạy nó, cứ cắm cúi đi ra khỏi doanh trại.
Đen! Đen! Tao xin lỗi mày! Huấn luyện viên oà lên khóc.
Nhưng con Đen chẳng hề xúc động, nó không thèm ngoái lại nhìn chủ mình.
Đen! Đừng giận! Tao chỉ đùa mày một tí thôi mà! Huấn luyện viên chạy đến ôm chặt lấy con chó, nước mắt nóng hổi từ mặt anh lã chã rơi xuống con Đen.
Con chó giãy giụa tuột ra khỏi vòng tay của huấn luyện viên, rồi nó thủng thẳng, lừ đừ từng bước đi lên quả đồi ở bên ngoài doanh trại, tìm một chỗ khuất gió xoài bốn chân nằm xuống đất.
...
Mấy ngày sau đấy con Đen không ăn không uống, ủ rũ chán chường. Mặc cho huấn luyện viên dỗ dành, nựng nịu thế nào đi nữa, nó cũng nhất định không chịu tha lỗi cho anh.
Lúc bấy giờ mọi người mới hiểu ra: Dù chỉ là con chó thôi, nó cũng cần sự tự trọng của mình!
Hoặc nói ngược lại, chúng còn biết tự trọng hơn con người!
...
Chuyện về sau ư? Sau này con Đen không còn tin tưởng vào huấn luyện viên của nó nữa, thậm chí không tin bất cứ người nào. Đồng thời tính tình của nó cũng thay đổi hẳn, mắt không còn sáng quắc như trước, bốn chân không còn phi như bay nữa, mất hẳn dáng vẻ oai vệ dữ dằn của một con chó nghiệp vụ... Cuối cùng, huấn luyện viên chẳng còn cách nào nữa, đành đau xót cho nó giải nghệ.
...Ôi, con Đen, chao ôi!*
Nguyễn Hải Hoành
dịch
Ngô Nhược Tăng
Loài chó còn biết tự trọng hơn con người - câu nói này rất đúng với những người đạo đức giả, nhất là với các người tham nhũng, vừa bóp nặn vơ vét tiền của dân, vừa lên mặt lãnh đạo dân.
Năm ấy tôi quen một huấn luyện viên dạy chó nghiệp vụ trong quân đội. Tôi hỏi anh: Loại chó thông minh nhất có thể đạt được tới trình độ như thế nào? Anh trả lời: Trừ chuyện không biết nói ra, chúng không khác gì người. Câu trả lời của anh khiến tôi sửng sốt. Tôi hỏi tiếp: Phải chăng câu này của anh có lẫn lộn nhiều màu sắc tình cảm? - Không đâu! Anh nói.
Rồi anh kể cho tôi nghe dăm ba câu chuyện về loài chó, đều là những chuyện chính anh từng trải qua. Có mấy chuyện tôi đã quên mất rồi, duy chỉ có một chuyện sau đây thì cho đến nay tôi vẫn còn nhớ như in.
Trong doanh trại của anh có một con chó cực kỳ thông minh tên là Đen. Để trắc nghiệm năng lực phản ứng của nó, một hôm mấy huấn luyện viên dạy chó nghĩ ra một biện pháp đặc biệt. Họ chọn hơn chục người xếp thành một hàng, sau đó cử một người trong số đó vào trong doanh trại “lấy cap”(' một vật đem giấu đi, rồi lại trở về đứng trong hàng. Khi mọi việc đã xong xuôi, huấn luyện viên dạy chó dắt con Đen đến, bảo nó đi tìm vật bị mất. Con Đen chạy đi, chỉ một loáng sau đã thấy nó ngoạm vật kia mang đến. Huấn luyện viên dạy chó cả mừng vỗ vỗ lên đầu nó tỏ ý khen ngợi. Rồi anh chỉ tay vào hàng người kia, bảo con Đen đi tìm kẻ đã lấy cắp vật ấy. Nó chạy đến dí mũi hít hít ngửi ngửi hết người này đến người khác, chẳng mấy chốc đã cắn quần một anh lôi ra ngoài hàng, đúng là anh “kẻ cap”(' kia.
Phải nói rằng như vậy con Đen đã hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ được giao, thế nhưng huấn luyện viên dạy chó lại cứ một mực lắc đầu bảo nó: Không, không phải người ấy! Tìm lại đi!
Con Đen tỏ ý hết sức ngạc nhiên, mắt nó ánh lên nỗi nghi hoặc, thắc mắc, vì nó tin chắc rằng mình không hề tìm nhầm người; nhưng mặt khác nó lại tuyệt đối tin tưởng vào huấn luyện viên của mình. Đây, đây là chuyện thế nào nhỉ? - nó nghĩ. Không phải người ấy! Đi tìm lại đi! Huấn luyện viên cứ khăng khăng bảo. Con Đen tin vào huấn luyện viên, nó quay lại tìm... Nhưng sau nhiều lần thận trọng ngửi đi ngửi lại, cuối cùng nó vẫn cứ cắn quần anh chàng kia lôi ra. Không! Không đúng! Huấn luyện viên lại lắc đầu. Tìm lại đi!
Con Đen mỗi lúc một thêm nghi hoặc, đành chạy lại chỗ hàng người kia. Lần này nó đánh hơi ngửi rất lâu, rất lâu để xác định ai là kẻ cắp. Sau cùng, nó đứng lại bên cạnh anh “kẻ cap”(' kia rồi quay đầu nhìn huấn luyện viên, tỏ ý - tôi cảm thấy chính là người này đây... Không! Tuyệt đối không phải người ấy! Huấn luyện viên lại quát to, nét mặt trở nên nghiêm nghị.
Lòng tự tin của con Đen bị đập tan tành. Dĩ nhiên nó tin vào huấn luyện viên hơn là tin vào bản thân nó. Rốt cuộc nó bỏ tên kẻ cắp kia và đi tìm người khác. Nhưng người khác... đều không đúng mà?
Nó ở trong hàng người ấy đấy! Mau tìm ra ngay! Huấn luyện viên quát lên.
Con Đen vô cùng thất vọng chán nản. Nó dừng lại bên chân mỗi người một lúc, nhìn nhìn ngó ngó xem người đó có giống tên kẻ cắp hay không, rồi quay đầu nhìn ánh mắt của huấn luyện viên, hy vọng có thể tìm thấy chút ít tín hiệu hoặc biểu thị gì đấy... Cuối cùng, khi nó nắm bắt được một chút xíu biến đổi trong ánh mắt của huấn luyện viên, nó cắn quần người đứng bên cạnh và kéo ra.
Tất nhiên, lần này thì nó đã nhầm.
Nhưng huấn luyện viên của nó cùng mấy người kia thì lại cười ha hả. Tiếng cười khiến con Đen trở nên lú lẫn. Sau cùng huấn luyện viên gọi “kẻ cap”(' bước ra ngoài hàng, rồi bảo con Đen: Lần đầu mày tìm đúng rồi, nhưng mày sai ở chỗ không kiên trì mình đúng...
Một điều khiến huấn luyện viên và tất cả mọi người có mặt lúc ấy không thể hiểu được và vô cùng kinh ngạc, vô cùng ân hận, là ngay trong khoảnh khắc ấy họ đã nhìn thấy: Khi con Đen hiểu ra chuyện vừa rồi là một vụ lừa dối, nó “ngoao”` lên một tiếng vô cùng đau khổ, mắt ứa ra những giọt nước mắt nóng hổi. Sau đấy nó ủ rũ gục đầu nặng nề, thui thủi từng bước bỏ đi...
Đen! Đen! Mày đi đâu thế hả? Huấn luyện viên sợ hãi đuổi theo hỏi tới tấp.
Con Đen chẳng hề đoái hoài tới người rèn dạy nó, cứ cắm cúi đi ra khỏi doanh trại.
Đen! Đen! Tao xin lỗi mày! Huấn luyện viên oà lên khóc.
Nhưng con Đen chẳng hề xúc động, nó không thèm ngoái lại nhìn chủ mình.
Đen! Đừng giận! Tao chỉ đùa mày một tí thôi mà! Huấn luyện viên chạy đến ôm chặt lấy con chó, nước mắt nóng hổi từ mặt anh lã chã rơi xuống con Đen.
Con chó giãy giụa tuột ra khỏi vòng tay của huấn luyện viên, rồi nó thủng thẳng, lừ đừ từng bước đi lên quả đồi ở bên ngoài doanh trại, tìm một chỗ khuất gió xoài bốn chân nằm xuống đất.
...
Mấy ngày sau đấy con Đen không ăn không uống, ủ rũ chán chường. Mặc cho huấn luyện viên dỗ dành, nựng nịu thế nào đi nữa, nó cũng nhất định không chịu tha lỗi cho anh.
Lúc bấy giờ mọi người mới hiểu ra: Dù chỉ là con chó thôi, nó cũng cần sự tự trọng của mình!
Hoặc nói ngược lại, chúng còn biết tự trọng hơn con người!
...
Chuyện về sau ư? Sau này con Đen không còn tin tưởng vào huấn luyện viên của nó nữa, thậm chí không tin bất cứ người nào. Đồng thời tính tình của nó cũng thay đổi hẳn, mắt không còn sáng quắc như trước, bốn chân không còn phi như bay nữa, mất hẳn dáng vẻ oai vệ dữ dằn của một con chó nghiệp vụ... Cuối cùng, huấn luyện viên chẳng còn cách nào nữa, đành đau xót cho nó giải nghệ.
...Ôi, con Đen, chao ôi!*
Nguyễn Hải Hoành
dịch
Thiên đàng và địa ngục
Huy Phuong “Bọn chúng ta hèn như bầy thỏ đế
Khổ đau chia, khi sung sướng một mình
Lúc lửa đỏ bèn cao bay xa chạy
Còn nhớ gì nghĩa huynh đệ chi binh!” (HP)
(Viết cho những hội cứu trợ thương binh)
Nhà văn Ba Tây, Paolo Coelho có một câu chuyện kể được xếp hạng là một trong những câu chuyện hay, đại khái như sau:
Một người đàn ông đang rong ruổi trên một con đường cùng hai con vật bạn đường thân yêu là một con ngựa và một con chó. Chẳng may họ bị sét đánh và cả ba đều qua đời, tuy vậy người đàn ông không biết mình đã chết, linh hồn của người và vật vẫn tiếp tục con đường của mình đi. Con đường dài và gian nan, người và vật phải qua bao nhiêu ngọn đồi dưới cơn nắng cháy da, họ đổ mồ hôi nhễ nhại và vô cùng khát nước. Vừa qua khỏi một ngọn đồi, trên một triền núi, người lữ hành trong thấy một lâu đài tráng lệ, bèn đến gõ cửa. Ông nói với người gác cổng:
- Thưa ông, cho phép tôi hỏi, lâu đài đẹp đẽ này gọi là gì?
- Ông không biết đó thôi. Nơi này gọi là Thiên Ðàng.
Trong hoàn cảnh của người và vật bấy giờ, Thiên Ðàng hay Ðịa Ngục đối với họ không là gì cả, họ chỉ cần nước:
- Chúng tôi hoàn toàn kiệt sức và cần nước uống, tôi có thể vào đây để xin nước uống được không.
- Vào đây, ông muốn uống bao nhiêu nước cũng được, và muốn gì cũng có.
Người gác cổng mở cửa cho người lữ khách bước vào nhưng khi hai con vật bạn đường của ông tiến lên, người gác cổng ngăn chúng lại:
- Chỉ mình ông thôi, hai con vật này không được vào đây.
Nghe vậy người lữ khách đứng sững lại. Mặc dầu khát khô cổ họng, ông không thể uống nước một mình. Ông cám ơn người gác cổng và mệt mỏi kéo hai con vật rời khỏi lâu đài.
Họ lại đi qua mấy ngọn đồi cát, gần như kiệt lực, cuối cùng thấy một chiếc cổng đã cũ nát, dẫn vào một con đường có bóng mát và trồng đầy hoa. Tiếng động của họ đánh thức một ông già đang nằm ngủ dưới gốc cây. Người lữ khách lên tiếng:
- Chào ông, chúng tôi quá khát nước, hai con vật này cũng vậy.
- Có một con suối sau tảng đá kia, ông muốn uống bao nhiêu cũng được.
Sau khi đã no nê với những ngụm nước mát, họ trở lại con đường gặp ông già để cám ơn.
Ông già nói:
- Không có gì, chừng nào thấy khát thì quý vị cứ trở lại đây!
- Ðây là đâu? Thưa ông?
- Ðây là Thiên Ðàng!
Người lữ khách ngạc nhiên:
- Ðằng kia người ta cũng nhận đó là Thiên Ðàng. Mình có thể nào ngăn chận một sự lạm danh như thế này không?
- Không cách nào cả ông ạ! Thật ra họ cũng chấp nhận một đặc ân lớn cho những ai có thể bỏ được bạn bè tốt nhất của mình, đều ở lại đó hết!
Ðừng bao giờ bỏ bạn bè của chúng ta, những người bạn chân thật đã cho chúng ta sự yêu thương và đồng hành. Ðừng bao giờ bỏ rơi họ, đừng bao giờ! Trên đời này có một người bạn là được một ân huệ. “Có được một người bạn là được một món quà. Giữ gìn và không bỏ bạn đạo đức. Ðược làm bạn của một người bạn là một vinh dự”.
Vậy mà chúng ta ra đi vào cổng “Thiên Ðàng” uống nước một mình, để lại biết bao nhiêu người gọi là “chiến hữu”, là “đồng ngũ”, là “huynh đệ chi binh”- danh xưng đó còn cao hơn cả tình bạn bè- mơ một ngụm nước giữa cơn khát cháy khô cổ họng. Tháng 4-1975, chúng ta đã có bao nhiêu anh hùng liệt sĩ hy sinh cho tròn danh tiết, như người hạm trưởng không bỏ con tàu lúc lâm nguy. Dần dà chúng ta còn tìm ra không biết bao nhiêu con người dũng cảm khí phách như Nguyễn Ðình Chi tự sát tại nhiệm sở, như Nguyễn Văn Long nổ phát súng vào đầu giữa công trường trong ngày Saigon thất thủ, như Nguyễn Hoàng Ân lao máy bay xuống biển không để lọt vào tay giặc khi phải bỏ miền Trung, như những người lính vô danh choàng tay chụm đầu chia nhau những mảnh đạn trên bãi biển Tư Hiền hay ở ngã ba Ông Tạ trên đường rút quân. Không phải ai cũng hành động được như họ. Họ không nỡ bỏ nhau, họ không thể bỏ bạn bè.
Nhưng chúng ta bỏ lại quá nhiều chiến hữu sau lưng. Nhiều người mất xác trong trại tù. Nhiều người chết ngoài biển Ðông. Chúng ta ra đi quá lành lặn, nhiều người còn đem theo của cải tích lũy từ máu xương của những người bạn đường cùng đi với chúng ta trong hai mươi năm. Chúng ta để lại hàng nghìn, hàng nghìn cô nhi quả phụ thương binh trong vùng đất địch. Ba mươi sáu năm nay, chúng ta đã thấy có vị tướng “công thành” nào nhớ đến “vạn cốt khô,” làm lấy một hành động có ý nghĩa cho những người “bạn đường” năm cũ đang giữa cơn đói khát nhục nhằn chưa? Kể cả một buổi lễ tưởng niệm, cầu siêu cho những người lính thuộc quyền ở lại chiến đấu anh dũng và chết oan khuất cho cấp chỉ huy lên máy bay lành lặn ra đi, cũng không thấy bóng dáng người tư lệnh năm xưa. Họ như “kẻ chăn chiên quay đầu chạy, bỏ bầy chiên lại cho lũ sói rừng!” Nhiều người đã trở về trận địa cũ năm xưa, không phải để tìm lại những chiến hữu ngày tháng cũ mà để bắt tay với kẻ thù hay đi tìm lạc thú, xát muối thêm vào vết thương của người ở lại.
Và chúng ta đang vào một nơi gọi là Thiên Ðàng để được sung sướng một mình. Những người lương thiện khi bỏ bạn bè, dù đang được no ấm, cũng có cảm tưởng mình đang ở địa ngục.
Thiên đàng như vậy phải chăng là nơi chúng ta có bạn bè và không bao giờ bỏ bằng hữu.
Huy Phuong “Bọn chúng ta hèn như bầy thỏ đế
Khổ đau chia, khi sung sướng một mình
Lúc lửa đỏ bèn cao bay xa chạy
Còn nhớ gì nghĩa huynh đệ chi binh!” (HP)
(Viết cho những hội cứu trợ thương binh)
Nhà văn Ba Tây, Paolo Coelho có một câu chuyện kể được xếp hạng là một trong những câu chuyện hay, đại khái như sau:
Một người đàn ông đang rong ruổi trên một con đường cùng hai con vật bạn đường thân yêu là một con ngựa và một con chó. Chẳng may họ bị sét đánh và cả ba đều qua đời, tuy vậy người đàn ông không biết mình đã chết, linh hồn của người và vật vẫn tiếp tục con đường của mình đi. Con đường dài và gian nan, người và vật phải qua bao nhiêu ngọn đồi dưới cơn nắng cháy da, họ đổ mồ hôi nhễ nhại và vô cùng khát nước. Vừa qua khỏi một ngọn đồi, trên một triền núi, người lữ hành trong thấy một lâu đài tráng lệ, bèn đến gõ cửa. Ông nói với người gác cổng:
- Thưa ông, cho phép tôi hỏi, lâu đài đẹp đẽ này gọi là gì?
- Ông không biết đó thôi. Nơi này gọi là Thiên Ðàng.
Trong hoàn cảnh của người và vật bấy giờ, Thiên Ðàng hay Ðịa Ngục đối với họ không là gì cả, họ chỉ cần nước:
- Chúng tôi hoàn toàn kiệt sức và cần nước uống, tôi có thể vào đây để xin nước uống được không.
- Vào đây, ông muốn uống bao nhiêu nước cũng được, và muốn gì cũng có.
Người gác cổng mở cửa cho người lữ khách bước vào nhưng khi hai con vật bạn đường của ông tiến lên, người gác cổng ngăn chúng lại:
- Chỉ mình ông thôi, hai con vật này không được vào đây.
Nghe vậy người lữ khách đứng sững lại. Mặc dầu khát khô cổ họng, ông không thể uống nước một mình. Ông cám ơn người gác cổng và mệt mỏi kéo hai con vật rời khỏi lâu đài.
Họ lại đi qua mấy ngọn đồi cát, gần như kiệt lực, cuối cùng thấy một chiếc cổng đã cũ nát, dẫn vào một con đường có bóng mát và trồng đầy hoa. Tiếng động của họ đánh thức một ông già đang nằm ngủ dưới gốc cây. Người lữ khách lên tiếng:
- Chào ông, chúng tôi quá khát nước, hai con vật này cũng vậy.
- Có một con suối sau tảng đá kia, ông muốn uống bao nhiêu cũng được.
Sau khi đã no nê với những ngụm nước mát, họ trở lại con đường gặp ông già để cám ơn.
Ông già nói:
- Không có gì, chừng nào thấy khát thì quý vị cứ trở lại đây!
- Ðây là đâu? Thưa ông?
- Ðây là Thiên Ðàng!
Người lữ khách ngạc nhiên:
- Ðằng kia người ta cũng nhận đó là Thiên Ðàng. Mình có thể nào ngăn chận một sự lạm danh như thế này không?
- Không cách nào cả ông ạ! Thật ra họ cũng chấp nhận một đặc ân lớn cho những ai có thể bỏ được bạn bè tốt nhất của mình, đều ở lại đó hết!
Ðừng bao giờ bỏ bạn bè của chúng ta, những người bạn chân thật đã cho chúng ta sự yêu thương và đồng hành. Ðừng bao giờ bỏ rơi họ, đừng bao giờ! Trên đời này có một người bạn là được một ân huệ. “Có được một người bạn là được một món quà. Giữ gìn và không bỏ bạn đạo đức. Ðược làm bạn của một người bạn là một vinh dự”.
Vậy mà chúng ta ra đi vào cổng “Thiên Ðàng” uống nước một mình, để lại biết bao nhiêu người gọi là “chiến hữu”, là “đồng ngũ”, là “huynh đệ chi binh”- danh xưng đó còn cao hơn cả tình bạn bè- mơ một ngụm nước giữa cơn khát cháy khô cổ họng. Tháng 4-1975, chúng ta đã có bao nhiêu anh hùng liệt sĩ hy sinh cho tròn danh tiết, như người hạm trưởng không bỏ con tàu lúc lâm nguy. Dần dà chúng ta còn tìm ra không biết bao nhiêu con người dũng cảm khí phách như Nguyễn Ðình Chi tự sát tại nhiệm sở, như Nguyễn Văn Long nổ phát súng vào đầu giữa công trường trong ngày Saigon thất thủ, như Nguyễn Hoàng Ân lao máy bay xuống biển không để lọt vào tay giặc khi phải bỏ miền Trung, như những người lính vô danh choàng tay chụm đầu chia nhau những mảnh đạn trên bãi biển Tư Hiền hay ở ngã ba Ông Tạ trên đường rút quân. Không phải ai cũng hành động được như họ. Họ không nỡ bỏ nhau, họ không thể bỏ bạn bè.
Nhưng chúng ta bỏ lại quá nhiều chiến hữu sau lưng. Nhiều người mất xác trong trại tù. Nhiều người chết ngoài biển Ðông. Chúng ta ra đi quá lành lặn, nhiều người còn đem theo của cải tích lũy từ máu xương của những người bạn đường cùng đi với chúng ta trong hai mươi năm. Chúng ta để lại hàng nghìn, hàng nghìn cô nhi quả phụ thương binh trong vùng đất địch. Ba mươi sáu năm nay, chúng ta đã thấy có vị tướng “công thành” nào nhớ đến “vạn cốt khô,” làm lấy một hành động có ý nghĩa cho những người “bạn đường” năm cũ đang giữa cơn đói khát nhục nhằn chưa? Kể cả một buổi lễ tưởng niệm, cầu siêu cho những người lính thuộc quyền ở lại chiến đấu anh dũng và chết oan khuất cho cấp chỉ huy lên máy bay lành lặn ra đi, cũng không thấy bóng dáng người tư lệnh năm xưa. Họ như “kẻ chăn chiên quay đầu chạy, bỏ bầy chiên lại cho lũ sói rừng!” Nhiều người đã trở về trận địa cũ năm xưa, không phải để tìm lại những chiến hữu ngày tháng cũ mà để bắt tay với kẻ thù hay đi tìm lạc thú, xát muối thêm vào vết thương của người ở lại.
Và chúng ta đang vào một nơi gọi là Thiên Ðàng để được sung sướng một mình. Những người lương thiện khi bỏ bạn bè, dù đang được no ấm, cũng có cảm tưởng mình đang ở địa ngục.
Thiên đàng như vậy phải chăng là nơi chúng ta có bạn bè và không bao giờ bỏ bằng hữu.
Vẽ quá đẹp, cô bé 6 tuổi gốc Việt gây xôn xao
Australia (Dân trí) - Bắt đầu cầm bút vẽ khi mới 3 tuổi và 3 năm sau, Jacquelyn Ngô, cô bé người Úc gốc Việt, đã có triển lãm tranh cho riêng mình tại Sydney cũng như được giới truyền thông nước này săn đón. Ngay từ khi mới 3 tuổi, Jacquelyn Ngô nhanh chóng bộc lộ năng khiếu hội họa. Và 3 năm sau, cô bé người Úc gốc Việt đã có triển lãm tranh của riêng mình tại Trung tâm nghệ thuật Casula Powerhouse (Sydney, Australia). Với nét vẽ, màu sắc tự nhiên, cũng như cách thể hiện chững chạc và không lẫn với họa sỹ khác về phong cách, Jacquelyn Ngô đã khiến không ít nhà phê bình hội họa phải kinh ngạc và dự đoán về một tương lai tươi sáng của họa sỹ nhí này.
Dù vậy, theo lời cô bé thổ lộ, cô chịu ảnh hưởng của những tác phẩm của họa sỹ vĩ đại Vincent Van Gogh. “Vincent là họa sỹ cháu quý mến nhất. Và tác phẩm cháu yêu thích nhất là Hoa hướng dương và Phòng ngủ tại Arles”, Jacquelyn Ngô hào hứng nói. Còn theo bà Jenny, mẹ cô bé cho hay: “Mặc dù có người hỏi mua nhưng Jacquelyn muốn giữ lại tất cả những tác phẩm của mình bởi cháu rất yêu chúng. Giám đốc của Trung tâm nghệ thuật nói, ông ấy nhận được rất nhiều cuộc điện thoại muốn mua tác phẩm của cháu đồng thời có những lời mời triển lãm tranh đến từ bên kia đại dương”.








Và đây là website của cô bé thần đồng này:
http://jacquelynngo.com/gallery/
Australia (Dân trí) - Bắt đầu cầm bút vẽ khi mới 3 tuổi và 3 năm sau, Jacquelyn Ngô, cô bé người Úc gốc Việt, đã có triển lãm tranh cho riêng mình tại Sydney cũng như được giới truyền thông nước này săn đón. Ngay từ khi mới 3 tuổi, Jacquelyn Ngô nhanh chóng bộc lộ năng khiếu hội họa. Và 3 năm sau, cô bé người Úc gốc Việt đã có triển lãm tranh của riêng mình tại Trung tâm nghệ thuật Casula Powerhouse (Sydney, Australia). Với nét vẽ, màu sắc tự nhiên, cũng như cách thể hiện chững chạc và không lẫn với họa sỹ khác về phong cách, Jacquelyn Ngô đã khiến không ít nhà phê bình hội họa phải kinh ngạc và dự đoán về một tương lai tươi sáng của họa sỹ nhí này.
Dù vậy, theo lời cô bé thổ lộ, cô chịu ảnh hưởng của những tác phẩm của họa sỹ vĩ đại Vincent Van Gogh. “Vincent là họa sỹ cháu quý mến nhất. Và tác phẩm cháu yêu thích nhất là Hoa hướng dương và Phòng ngủ tại Arles”, Jacquelyn Ngô hào hứng nói. Còn theo bà Jenny, mẹ cô bé cho hay: “Mặc dù có người hỏi mua nhưng Jacquelyn muốn giữ lại tất cả những tác phẩm của mình bởi cháu rất yêu chúng. Giám đốc của Trung tâm nghệ thuật nói, ông ấy nhận được rất nhiều cuộc điện thoại muốn mua tác phẩm của cháu đồng thời có những lời mời triển lãm tranh đến từ bên kia đại dương”.








Và đây là website của cô bé thần đồng này:
http://jacquelynngo.com/gallery/
Thiền sư Ajahn Brahm

HAI THỨ TỰ DO
Có hai thứ tự do trong cuộc đời này: tự do thỏa mãn các dục vọng và tự do thoát khỏi những dục vọng.
Nền văn hóa phương Tây hiện đại chỉ công nhận loại tự do đầu tiên, tự do thỏa mãn dục vọng. Và nó tôn thờ loại tự do ấy bằng cách đưa lên trang đầu các bản hiến pháp và tuyên ngôn nhân quyền. Người ta có thể nói rằng tín điều căn bản của hầu hết các nền dân chủ phương Tây là cố hết sức bảo vệ quyền tự do thỏa mãn mọi dục vọng của con người. Nhưng điều đáng chú ý là trong những đất nước như thế người ta không cảm thấy tự do cho lắm.
Loại tự do thứ hai là tự do thoát khỏi dục vọng, chỉ được ca ngợi trong một vài cộng đồng tôn giáo.Ở đó người ta ca ngợi sự bằng lòng, bình an, giải thoát. Điều đáng chú ý là ở những nơi thanh bần như thế, như ở tu viện của chúng tôi, người ta cảm thấy tự do.
Các bạn mong muốn thứ tự do nào?
Một hôm có hai vị sư người Thái được mời thọ trai ở nhà một cư sĩ. Trong phòng khách nơi họ được mời vào và ngồi chờ có một bể nuôi nhiều loại cá. Vị sư nhỏ tuổi hơn tỏ ý không bằng lòng vì việc nuôi cá trong bể là không hợp với giáo lý từ bi của Phật giáo. Việc ấy cũng giống như nhốt cá vào tù vậy. Lũ cá đã làm gì đáng phải bị giam giữ trong một nhà tù bằng kính như vậy? Chúng cần được tự do bơi lội trong dòng sông hay ao hồ tùy thích. Tuy nhiên, vị sư thứ hai không đồng ý. Vị ấy lý giải rằng, quả là những con cá ấy không được tự do theo đuổi sở thích riêng của chúng, nhưng sống trong bể thì chúng thoát khỏi nhiều mối nguy cơ. Rồi vị ấy liệt kê ra các loại tự do ấy như thế này:
1. Có bao giờ quí vị thấy người đi câu buông câu trong một bể cá trong nhà? Chưa! Vậy thì tự do đầu tiên mà những con cá kia có được là không bị người đi câu đe dọa. Hãy tưởng tượng hoàn cảnh của cá trong tự nhiên. Khi chúng thấy một con sâu béo mập hay một con ruồi ngon lành chúng không thể biết chắc là đớp mồi có an toàn hay không. Chắc chắn là chúng đã từng trông thấy bà con hay bạn bè nuốt một con sâu trông ngon lành rồi đột nhiên biến mất khỏi cuộc đời của chúng vĩnh viễn. Đối với một con cá trong tự nhiên, việc ăn chất chứa nhiều nỗi hiểm nguy và thường kết thúc một cách bi thảm. Bữa ăn đem đến tai họa. Ắt hẳn con cá nào cũng bị chứng khó tiêu mãn tính do luôn luôn lo lắng, và con nào bị bệnh thần kinh hoang tưởng chắc là nhịn đói tới chết luôn. Cá trong tự nhiên có thể bị mắc bệnh tâm thần hết. Còn cá trong bể được tự do khỏi mối hiểm nguy này.
2. Cá trong tự nhiên thường lo bị cá lớn nuốt. Thời buổi này ở nhiều sông, lội ngược dòng vào ban đêm ắt hẳn không còn an toàn như trước! Thế nhưng không có người nuôi nào lại thả những con cá lớn vào để ăn những con cá mình nuôi. Vậy thì những con cá trong bể thoát khỏi mối hiểm nguy bị cá lớn ăn thịt.
3. Trong tự nhiên, có những lúc cá có thể không tìm được thức ăn. Còn cá trong bể thì như thử sống gần một nhà hàng vậy. Cứ ngày hai lần, bữa ăn đầy đủ chất dinh dưỡng được giao đến tận nơi, còn hơn là đặt mua bánh pizza giao tại nhà vậy vì không phải trả tiền. Cho nên những con cá trong bể không bị cái đói đe dọa.
4. Khi bốn mùa thay đổi, sông hồ phải chịu những nhiệt độ khắc nghiệt. Vào mùa đông thì lạnh buốt, có thể bị băng tuyết che phủ. Vào mùa hè có thể rất nóng, thậm chí là nước bị cạn khô. Còn cá trong hồ thì cứ như ở trong phòng có máy điều hòa hai chiều. Nhiệt độ trong bể luôn được giữ không thay đổi và dễ chịu suốt ngày, quanh năm suốt tháng. Như thế, con cá trong bể có được tự do thoát khỏi thời tiết nóng lạnh thất thường.
5. Trong tự nhiên, khi cá bị bệnh, chẳng có ai săn sóc, điều trị. Còn cá trong bể thì được bảo hiểm y tế. Khi có ốm đau, chủ nhà liền mời thầy thuốc đến khám bệnh, mà cũng không cần phải đi bệnh viện nữa. Như thế con cá trong bể được tự do khỏi mối nguy cơ không có bảo hiểm y tế.
Vị sư lớn tóm tắt lại lập luận của mình. Làm thân cá trong bể được hưởng nhiều thuận lợi. Quả thật là chúng không được tự do theo đuổi các sở thích của mình và bơi đi đây đi đó, nhưng chúng thoát khỏi nhiều mối hiểm nguy và nỗi khó chịu.
Vị sư lớn tiếp tục giải thích rằng đời sống của những người sống cuộc đời đạo hạnh cũng như thế. Quả thật là họ không được tự do theo đuổi những dục vọng và thỏa mãn những mong muốn này nọ, nhưng họ thoát khỏi nhiều mối hiểm nguy và nhiều điều khó chịu.
Còn bạn muốn thứ tự do nào?
Thế giới tự do
Một hôm, một vị sư ở tu viện của chúng tôi được thỉnh đi dạy thiền ở trong một nhà tù mới gần Perth, nơi mà tình hình an ninh được kiểm soát hết sức chặt chẽ. Một nhóm tù nhân đã trở nên quen biết và kính trọng thầy ấy. Vào cuối một thời pháp thoại, họ bắt đầu hỏi thầy về nếp sống hằng ngày trong một tu viện Phật giáo.
Thầy trả lời: “ Buổi sáng chúng tôi thức dậy lúc 4 giờ. Đôi khi cũng lạnh lắm vì phòng chúng tôi không có máy sưởi. Chúng tôi ăn mỗi ngày một bữa, tất cả thức ăn đều bỏ chung vào một bình bát. Vào buổi chiều và tối chúng tôi không ăn. Dĩ nhiên là cũng không có chuyện sex hoặc rượu chè. Chúng tôi cũng không có vô tuyến truyền hình, truyền thanh, hay âm nhạc. Chúng tôi không bao giờ xem phim, mà cũng không chơi thể thao. Chúng tôi nói ít, làm việc nhiều, và dành thời gian rảnh ngồi tọa thiền, theo dõi hơi thở. Chúng tôi ngủ trên sàn nhà.”
Những người tù tỏ ra hết sức ngạc nhiên về sự kham khổ của nếp sống tu hành. So sánh với tu viện, thì nhà tù hết sức nghiêm nhặt này trở thành một khách sạn năm sao. Quả thật, một người tù đã quá thương cảm hoàn cảnh thanh bần của vị sư đồng môn của tôi đến độ quên khuấy là mình đang ở đâu và anh ta chợt nói, “ Sống trong tu viện cực khổ quá. Hay thầy đến ở đây với chúng con đi!”
Mọi người trong phòng ai cũng bật cười. Tôi cũng bật cười khi nghe thầy ấy kể lại câu chuyện. Rồi tôi bắt đầu suy nghĩ:
Quả thật tu viện của tôi kham khổ hơn cả nhà tù khắc nghiệt nhất, tuy nhiên nhiều người tự nguyện đến đây và họ cảm thấy hạnh phúc. Trong khi đó, nhiều người lại muốn thoát khỏi nhà giam kia, và không cảm thấy hạnh phúc ở đó. Tại sao như thế?
Bởi vì các thầy muốn sống ở tu viện, còn phạm nhân thì không muốn ở tù. Sự khác nhau là ở chỗ đó.
Bất cứ nơi nào mà bạn không muốn ở thì dù cho có tiện nghi đến đâu chăng nữa, đối với bạn, nó cũng là một nhà tù. Đây là ý nghĩa thật sự của chữ “tù”. Nếu bạn đang làm một công việc mà mình không thích thì bạn cũng đang ở tù. Nếu bạn đang có một mối quan hệ mà mình không mong muốn thì các bạn cũng đang ở tù. Nếu các bạn đang ở trong một thân thể ốm đau bệnh hoạn mà bạn không muốn thì thân thể ấy cũng là một nhà tù đối với bạn. Nhà tù là bất cứ một hoàn cảnh nào mà bạn không muốn mà lại dính mắc vào.
Vậy thì làm thế nào chúng ta có thể thoát khỏi các nhà tù của cuộc đời?
Dễ thôi. Hãy thay đổi quan niệm về hoàn cảnh mà bạn đang sống. Thậm chí là ở ngay nhà tù San Quentin, hay thua một chút là ở tu viện của chúng tôi đi, mà bạn thấy muốn sống ở đó thì nơi ấy không còn là một nhà tù đối với bạn nữa. Bằng cách thay đổi quan niệm về công việc, về mối quan hệ, về thân thể ốm đau, bằng cách chấp nhận hoàn cảnh thay vì không ưa muốn, thì nó không còn là một nhà tù nữa. Khi các bạn bằng lòng thì các bạn được tự do.
Tự do là bằng lòng với nơi chốn mình đang ở. Nhà tù là nơi mình không muốn ở. Thế Giới Tự Do là thế giới mà người bằng lòng sinh sống. Tự do thật sự là giải thoàt khỏi dục vọng chứ không bao giờ là tự do thỏa mãn dục vọng.
Trần Ngọc Bảo
trích dịch

HAI THỨ TỰ DO
Có hai thứ tự do trong cuộc đời này: tự do thỏa mãn các dục vọng và tự do thoát khỏi những dục vọng.
Nền văn hóa phương Tây hiện đại chỉ công nhận loại tự do đầu tiên, tự do thỏa mãn dục vọng. Và nó tôn thờ loại tự do ấy bằng cách đưa lên trang đầu các bản hiến pháp và tuyên ngôn nhân quyền. Người ta có thể nói rằng tín điều căn bản của hầu hết các nền dân chủ phương Tây là cố hết sức bảo vệ quyền tự do thỏa mãn mọi dục vọng của con người. Nhưng điều đáng chú ý là trong những đất nước như thế người ta không cảm thấy tự do cho lắm.
Loại tự do thứ hai là tự do thoát khỏi dục vọng, chỉ được ca ngợi trong một vài cộng đồng tôn giáo.Ở đó người ta ca ngợi sự bằng lòng, bình an, giải thoát. Điều đáng chú ý là ở những nơi thanh bần như thế, như ở tu viện của chúng tôi, người ta cảm thấy tự do.
Các bạn mong muốn thứ tự do nào?
Một hôm có hai vị sư người Thái được mời thọ trai ở nhà một cư sĩ. Trong phòng khách nơi họ được mời vào và ngồi chờ có một bể nuôi nhiều loại cá. Vị sư nhỏ tuổi hơn tỏ ý không bằng lòng vì việc nuôi cá trong bể là không hợp với giáo lý từ bi của Phật giáo. Việc ấy cũng giống như nhốt cá vào tù vậy. Lũ cá đã làm gì đáng phải bị giam giữ trong một nhà tù bằng kính như vậy? Chúng cần được tự do bơi lội trong dòng sông hay ao hồ tùy thích. Tuy nhiên, vị sư thứ hai không đồng ý. Vị ấy lý giải rằng, quả là những con cá ấy không được tự do theo đuổi sở thích riêng của chúng, nhưng sống trong bể thì chúng thoát khỏi nhiều mối nguy cơ. Rồi vị ấy liệt kê ra các loại tự do ấy như thế này:
1. Có bao giờ quí vị thấy người đi câu buông câu trong một bể cá trong nhà? Chưa! Vậy thì tự do đầu tiên mà những con cá kia có được là không bị người đi câu đe dọa. Hãy tưởng tượng hoàn cảnh của cá trong tự nhiên. Khi chúng thấy một con sâu béo mập hay một con ruồi ngon lành chúng không thể biết chắc là đớp mồi có an toàn hay không. Chắc chắn là chúng đã từng trông thấy bà con hay bạn bè nuốt một con sâu trông ngon lành rồi đột nhiên biến mất khỏi cuộc đời của chúng vĩnh viễn. Đối với một con cá trong tự nhiên, việc ăn chất chứa nhiều nỗi hiểm nguy và thường kết thúc một cách bi thảm. Bữa ăn đem đến tai họa. Ắt hẳn con cá nào cũng bị chứng khó tiêu mãn tính do luôn luôn lo lắng, và con nào bị bệnh thần kinh hoang tưởng chắc là nhịn đói tới chết luôn. Cá trong tự nhiên có thể bị mắc bệnh tâm thần hết. Còn cá trong bể được tự do khỏi mối hiểm nguy này.
2. Cá trong tự nhiên thường lo bị cá lớn nuốt. Thời buổi này ở nhiều sông, lội ngược dòng vào ban đêm ắt hẳn không còn an toàn như trước! Thế nhưng không có người nuôi nào lại thả những con cá lớn vào để ăn những con cá mình nuôi. Vậy thì những con cá trong bể thoát khỏi mối hiểm nguy bị cá lớn ăn thịt.
3. Trong tự nhiên, có những lúc cá có thể không tìm được thức ăn. Còn cá trong bể thì như thử sống gần một nhà hàng vậy. Cứ ngày hai lần, bữa ăn đầy đủ chất dinh dưỡng được giao đến tận nơi, còn hơn là đặt mua bánh pizza giao tại nhà vậy vì không phải trả tiền. Cho nên những con cá trong bể không bị cái đói đe dọa.
4. Khi bốn mùa thay đổi, sông hồ phải chịu những nhiệt độ khắc nghiệt. Vào mùa đông thì lạnh buốt, có thể bị băng tuyết che phủ. Vào mùa hè có thể rất nóng, thậm chí là nước bị cạn khô. Còn cá trong hồ thì cứ như ở trong phòng có máy điều hòa hai chiều. Nhiệt độ trong bể luôn được giữ không thay đổi và dễ chịu suốt ngày, quanh năm suốt tháng. Như thế, con cá trong bể có được tự do thoát khỏi thời tiết nóng lạnh thất thường.
5. Trong tự nhiên, khi cá bị bệnh, chẳng có ai săn sóc, điều trị. Còn cá trong bể thì được bảo hiểm y tế. Khi có ốm đau, chủ nhà liền mời thầy thuốc đến khám bệnh, mà cũng không cần phải đi bệnh viện nữa. Như thế con cá trong bể được tự do khỏi mối nguy cơ không có bảo hiểm y tế.
Vị sư lớn tóm tắt lại lập luận của mình. Làm thân cá trong bể được hưởng nhiều thuận lợi. Quả thật là chúng không được tự do theo đuổi các sở thích của mình và bơi đi đây đi đó, nhưng chúng thoát khỏi nhiều mối hiểm nguy và nỗi khó chịu.
Vị sư lớn tiếp tục giải thích rằng đời sống của những người sống cuộc đời đạo hạnh cũng như thế. Quả thật là họ không được tự do theo đuổi những dục vọng và thỏa mãn những mong muốn này nọ, nhưng họ thoát khỏi nhiều mối hiểm nguy và nhiều điều khó chịu.
Còn bạn muốn thứ tự do nào?
Thế giới tự do
Một hôm, một vị sư ở tu viện của chúng tôi được thỉnh đi dạy thiền ở trong một nhà tù mới gần Perth, nơi mà tình hình an ninh được kiểm soát hết sức chặt chẽ. Một nhóm tù nhân đã trở nên quen biết và kính trọng thầy ấy. Vào cuối một thời pháp thoại, họ bắt đầu hỏi thầy về nếp sống hằng ngày trong một tu viện Phật giáo.
Thầy trả lời: “ Buổi sáng chúng tôi thức dậy lúc 4 giờ. Đôi khi cũng lạnh lắm vì phòng chúng tôi không có máy sưởi. Chúng tôi ăn mỗi ngày một bữa, tất cả thức ăn đều bỏ chung vào một bình bát. Vào buổi chiều và tối chúng tôi không ăn. Dĩ nhiên là cũng không có chuyện sex hoặc rượu chè. Chúng tôi cũng không có vô tuyến truyền hình, truyền thanh, hay âm nhạc. Chúng tôi không bao giờ xem phim, mà cũng không chơi thể thao. Chúng tôi nói ít, làm việc nhiều, và dành thời gian rảnh ngồi tọa thiền, theo dõi hơi thở. Chúng tôi ngủ trên sàn nhà.”
Những người tù tỏ ra hết sức ngạc nhiên về sự kham khổ của nếp sống tu hành. So sánh với tu viện, thì nhà tù hết sức nghiêm nhặt này trở thành một khách sạn năm sao. Quả thật, một người tù đã quá thương cảm hoàn cảnh thanh bần của vị sư đồng môn của tôi đến độ quên khuấy là mình đang ở đâu và anh ta chợt nói, “ Sống trong tu viện cực khổ quá. Hay thầy đến ở đây với chúng con đi!”
Mọi người trong phòng ai cũng bật cười. Tôi cũng bật cười khi nghe thầy ấy kể lại câu chuyện. Rồi tôi bắt đầu suy nghĩ:
Quả thật tu viện của tôi kham khổ hơn cả nhà tù khắc nghiệt nhất, tuy nhiên nhiều người tự nguyện đến đây và họ cảm thấy hạnh phúc. Trong khi đó, nhiều người lại muốn thoát khỏi nhà giam kia, và không cảm thấy hạnh phúc ở đó. Tại sao như thế?
Bởi vì các thầy muốn sống ở tu viện, còn phạm nhân thì không muốn ở tù. Sự khác nhau là ở chỗ đó.
Bất cứ nơi nào mà bạn không muốn ở thì dù cho có tiện nghi đến đâu chăng nữa, đối với bạn, nó cũng là một nhà tù. Đây là ý nghĩa thật sự của chữ “tù”. Nếu bạn đang làm một công việc mà mình không thích thì bạn cũng đang ở tù. Nếu bạn đang có một mối quan hệ mà mình không mong muốn thì các bạn cũng đang ở tù. Nếu các bạn đang ở trong một thân thể ốm đau bệnh hoạn mà bạn không muốn thì thân thể ấy cũng là một nhà tù đối với bạn. Nhà tù là bất cứ một hoàn cảnh nào mà bạn không muốn mà lại dính mắc vào.
Vậy thì làm thế nào chúng ta có thể thoát khỏi các nhà tù của cuộc đời?
Dễ thôi. Hãy thay đổi quan niệm về hoàn cảnh mà bạn đang sống. Thậm chí là ở ngay nhà tù San Quentin, hay thua một chút là ở tu viện của chúng tôi đi, mà bạn thấy muốn sống ở đó thì nơi ấy không còn là một nhà tù đối với bạn nữa. Bằng cách thay đổi quan niệm về công việc, về mối quan hệ, về thân thể ốm đau, bằng cách chấp nhận hoàn cảnh thay vì không ưa muốn, thì nó không còn là một nhà tù nữa. Khi các bạn bằng lòng thì các bạn được tự do.
Tự do là bằng lòng với nơi chốn mình đang ở. Nhà tù là nơi mình không muốn ở. Thế Giới Tự Do là thế giới mà người bằng lòng sinh sống. Tự do thật sự là giải thoàt khỏi dục vọng chứ không bao giờ là tự do thỏa mãn dục vọng.
Trần Ngọc Bảo
trích dịch
Nhà Văn Huy Phương, Cây Thánh Giá Và Đường Khổ Ải
Nguyễn Xuân Nghĩa
Kính thưa quý vị, việc chúng tôi lên đây phát biểu thật ra là một tai nạn!
Ít ra là tai nạn cho tôi vì chẳng ai dự trù, chính chúng tôi cũng vậy, khi còn ngổn ngang nhiều việc khác, kể cả Giai phẩm Xuân Việt Báo năm Nhâm Thìn. Nhưng mong rằng tai nạn của mình không là cái vạ cho quý vị khi quý vị ưu ái đến tham dự buổi ra mắt ngày hôm nay.
Trong một phút nghiêm túc như một nhà giáo, trước khi miên man nói mà không cần nhìn vào đồng hồ hay xuống bãi đáp, tôi xin trịnh trọng trình bày tóm lược nội dung phát biểu. Ít ra cũng là cái khung cho mình khỏi lạc đề làm quý vị thấy não nề.
Từ sự chủ quan của mình, chúng tôi xin lần lượt nêu hai câu hỏi:
- Vì sao Huy Phương viết Tạp Ghi?
- Huy Phương viết như thế nào?
Nhưng câu mở đầu vẫn là vì sao chúng tôi đứng ở đây!
***
Người bạn thân của chúng tôi là Đinh Quang Anh Thái gặp vấn đề về tổ chức buổi ra mắt cuốn "Quê Nhà Quê Người", tuyển tập Tạp Ghi thứ sáu của Huy Phương. Anh Thái bèn nhớ đến bạn mà điện thoại cho tôi. Như một cầu thủ bóng tròn đầy phong độ, anh đã "trao trả gắn bó" và tung máy cho Huy Phương nói chuyện. Thế là tôi kẹt và phải thoái thác.
Nhưng duyên nghiệp đưa đẩy thế nào mà đúng lúc đó tôi lại nhìn thấy cái tượng nhỏ của ông thầy tôi, một nhà sư Tây Tạng đã viên tịch. Tôi nhớ đến lời thầy dạy, rằng ở đời phải biết làm việc có lợi cho người khác, chứ đừng tính toán từ quyền lợi của mình.
Và tôi bỗng dưng nhận lời, khi nói với Huy Phương, rằng "tôi là một Phật tử!" Chuyện lảng nhách!
Vì bộ chỉ có Phật tử mới làm chuyện ấy sao, khi chương trình ra mắt hôm nay có sự tham dự của một vị linh mục, Cha Joseph Nguyễn Thái của Trung Tâm Công Giáo!
Nhưng dù sao mặc lòng, tôi đã nhận lời vì tình bằng hữu và cái thiện tâm nhỏ nhoi của mình. Do đó, quý vị mới phải chịu khó nghe phần phát biểu này! Mong rằng đấy không là một tai nạn....
***
Cũng hoàn cảnh đó khiến tôi tự hỏi vì sao Huy Phương viết Tạp Ghi, rồi trả lời bằng yếu tố tôn giáo. Và xin nói trước là sẽ không giảng đạo. Tôi nghĩ đến cây Thánh giá.
Không là người Công giáo, tôi vẫn tin rằng ai ai trong chúng ta cũng có cây thánh giá trên mình. Người thì đeo trước ngực, đôi khi bằng quý kim có nạm kim cương nặng tới mấy carat. Người khác thì oằn minh với cây thánh giá bằng gỗ, bằng sắt, đôi khi còn có kẽm gai trên lưng.
Là một Phật tử, Huy Phương đã nhận cây thánh giá nặng nề, như phần nhiệm vụ của mình trong thời chiến khi nhập ngũ. Khi chiến tranh kết thúc thì vác thêm cây thánh giá còn nặng gấp bội, qua bảy năm bị tập trung cải tạo. Ra khỏi vùng đất u tối hãi hùng của quê hương và đặt chân lên nước Mỹ, ông tiếp tục bưng cây thánh giá, nay đã thành cây bút ngàn cân, để hàng tuần viết tiếp....
Nhưng khác với ngày xưa, Huy Phương không viết văn và làm thơ nữa, mà trở thành cây bút sâu sắc, bền bỉ và xuất sắc với thể loại tạp ghi.
Ông viết như người gánh vác nỗi trầm luân của người khác. Không phải là đứa con trai duy nhất của Đức Hùng Vương, mà có lẽ cũng chẳng bị Tổ Quốc đòi nợ, ông viết trong tinh thần làm tròn bổn phận của con dân và để duy trì được cái Việt tính cao quý mà thật ra rất mơ hồ của dân tộc.
Chúng ta có thể gọi đất là cái nghiệp. Chúng tôi xin gọi đây là cái duyên, cho chúng ta.
Chỉ vì giữa trăm ngàn câu hỏi lớn nhỏ hàng ngày về cách sống và suy nghĩ trong một môi trường hết còn là Việt Nam, Huy Phương vẫn điềm đạm, bền bỉ và duyên dáng nói về cách hành xử ông cho là thích hợp nhất, suy từ chuyện xưa qua chuyện nay, chuyện quê nhà và quê người.
Cho nên, theo thiển ý, Huy Phương viết mà không để làm văn và để có chỗ đứng trên văn đàn.
Ông viết vì sự thôi thúc vô hình của một quan niệm về đạo lý. Ông tiếp tục kê vai vào cây Thánh giá chung của cả dân tộc dù chẳng ai bắt, không ai đòi và dù nhiều người trau chuốt một cây thánh giá lấp lánh trên ngực. Động lực có thể là tình bằng hữu với các chiến binh Việt Nam Cộng Hoà, hay lòng yêu nước, hoặc sự ái ngại về quê hương, xã tắc, đồng hương, đồng bào....
Cũng có thể là một trí nhớ không hề nguôi ngoai về một Việt Nam lý tưởng chưa có mà đã mất.
Trí nhớ ấy mới là mảnh kim cương vằng vặc trong tim của tác giả.
Cho nên, nếu ra khỏi nỗi ám ảnh về cây Thánh giá mà nói theo người Phật tử, tôi xin liều lĩnh phát biểu rằng Huy Phương viết để "giải nghiệp", không phải cái nghiệp của bản thân mà cả cái "cộng nghiệp" của dân tộc.
***
Tôi xin bước qua câu hỏi thứ hai, tác giả viết như thế nào?
Mỗi người cầm bút lại có một động lực và hoàn cảnh sáng tác riêng. Với Huy Phương, và có lẽ từ trong vô thức, ông cầm bút như một nhà luân lý. Không phải vì ông từng là một nhà giáo mà có lẽ vì ông thấy bất bình về quá nhiều chuyện chung quanh nên viết là để phân định đúng sai.
Như đã tự ôm lấy một cây thánh giá, ông còn tự chọn lấy một chặng đường khổ ải.
Vì, như các cụ mình thường nói, "biết ai dại, biết ai khôn"? Và trong cái lẽ "thị phi biện biệt" của Phật giáo thì làm sao xác định cái đúng trong đời sống, nhất là đời sống bên Mỹ này, là môi trường hàng ngày của tác giả?
Một thí dụ là nước Mỹ có vô tình hay không? Thí dụ khác là ta nên sống theo hoàn cảnh mới, ở bên Mỹ này, hay vẫn cứ phải ngoái về quá khứ? Khi ăn cưới thì nên tránh thói tật gì, mà để làm chi, nếu không phải là tìm ra một luân lý hợp lý khác trong lối sống, trong hoàn cảnh mới?
Nói thì có vẻ lớn lao, chứ thật ra, Huy Phương có ý chí làm thay đổi cách sống và suy nghĩ của chúng ta để khỏi cúi đầu phản ứng mà chủ động hành xử sao cho tử tế hơn. Từ cái nhân đó trong tâm, ta mới hy vọng gieo mầm cho kết quả tốt đẹp hơn cho gia đình, cộng đồng và đời sống.
Nhưng khi là nhà luân lý như vậy thì người ta rất dễ gây động chạm.
Thay vì cùng đám đông ồn ào kêu gọi "xin quý vị cho một tràng pháo tay" để mọi người tâng bốc nhau trong tinh thần tự mê, Huy Phương viết thẳng ra những điều ông cho là sai. Cũng với tinh thần luân lý đó, tác giả phê phán chế độ đang cai trị Việt Nam hiện nay, không từ góc cạnh tư tưởng ý thức hệ như nhiều nhà lý luận về chính trị, mà từ giác độ của đạo lý con người.
Và quả nhiên là ông làm nhiều người phật ý vì đi ngược với đám đông. Khi nhiều người muốn sống theo lối "đừng lay tôi nhé cuộc đời", Huy Phương lại là người lay động. Và chấp nhận trả giá cho việc đó. Ông không chỉ có cái bi mà còn có cái dũng, là không sợ.
Cầm bút viết tạp ghi, mà lại viết đều đặn hàng tuần từ cả chục năm nay, chưa kể nhiều tiết mục khác phải hoàn tất trong ngày trong tuần, người viết nào cũng gặp vấn đề là chọn đề tài. Viết gì đây cho tuần này, nhất là trong những ngày không có thời sự hay tập quán lễ lạc làm cái đinh cái mốc cho bài viết?
Tôi thiển nghĩ rằng Huy Phương không gặp vấn nạn đó.
Lý do là lòng ông thường trực mở ra 360 độ, như một con cầu gai, để thấy bất cứ gì ở chung quanh cũng có thể là đề tài. Từ chuyện thi hoa hậu đến chuyện mấy ông sư ca hát trong chùa, từ chuyện tử tế của vợ chồng người Mỹ gốc Mễ ở ven bờ xa lộ đến cách người ta không thèm giữ cửa tự động cứ để bật vào mặt kẻ đi sau, v.v... chuyện gì ông cũng quy vào đạo lý Việt Nam và cách hành xử cho văn minh, nhân bản.
***
Kính thưa quý vị, đấy là vài đặc tính của Tạp Ghi Huy Phương mà bản thân chúng tôi nhìn ra từ sự chủ quan của mình.
Kết luận ở đây là "kết quả ra sao"?
Ra ngoài chợ, chứ không ở trong chùa hay trong nhà thờ, đôi khi ta có gặp nhiều người đứng đường giảng đạo, hoặc cảnh báo về ngày tận thế, hoặc kêu gọi loài người chấn hưng đạo đức.... Chúng ta phải kính trọng những người đó. Nhưng thường thì bước qua chỗ khác.
Tò mò lắm thì đứng xa xa để nghe. Hào phóng lắm thì lấy ra vài đồng quyên góp hay úy lạo và tự nhủ rằng hôm nay ta đã làm một việc thiện.
Nhưng như mọi người đều biết, và đã nói, về một hiện tượng gọi là sự mệt mỏi của từ tâm. Chán rồi cũng chẳng ai muốn nghe muốn hiểu thêm về sự hoạn nạn hay khổ ải của người khác. Hoặc tại sao chúng ta phải thay đổi cách suy nghĩ và hành xử? Số phận của các nhà luân lý thường là sự hẩm hiu, sự cô đơn giữa đám đông.
Huy Phương không gặp số phận đó.
Ngoài một tác phẩm văn chương, ông đã xuất bản sáu cuốn Tạp Ghi và sở dĩ còn xuất bản là vì còn có người đọc. Huy Phương không thuộc loại người ăn nên làm ra nên làm thơ, in lấy thơ mình để giúi vào tay người khác như một hình phạt. Ông có độc giả của ông.
Lý do là nhà luân lý này viết truyện rất hay, dẫn chuyện rất khéo, với nghệ thuật rất thâm thúy.
Mà trong lời phê phán thì vẫn có thái độ ái ngại, ân cần, một chủ đích hướng thiện. Cái tâm và cái tài của ông giải thích sự thành công đó. Độc giả không giận mà còn cám ơn ông về những nhắc nhở dí dỏm, những giai thoại mà mình nên biết và không thể quên.
Chúng ta rất mừng là trong cõi đời vật chất vàng thau lẫn lộn, trắng đen nhập nhòa này, cộng đồng chúng ta vẫn còn những cây bút như vậy. Đó cũng là một biểu hiện khác của văn minh.
Xin kính mừng tác giả, cảm tạ quý vị đã chịu khó theo dõi lời phát biểu này, và mong rằng mỗi người nên có một cuốn Tạp Ghi cho gia đình. Và vài cuốn khác cho những bằng hữu họ hàng mà mình quý trọng.
(Bài phát biểu hôm ra mắt cuốn "Tạp Ghi" của Huy Phương, chiều 19 Tháng 11 tại Hội quán Người Việt, miền Nam California.)
Nguyễn Xuân Nghĩa
Kính thưa quý vị, việc chúng tôi lên đây phát biểu thật ra là một tai nạn!
Ít ra là tai nạn cho tôi vì chẳng ai dự trù, chính chúng tôi cũng vậy, khi còn ngổn ngang nhiều việc khác, kể cả Giai phẩm Xuân Việt Báo năm Nhâm Thìn. Nhưng mong rằng tai nạn của mình không là cái vạ cho quý vị khi quý vị ưu ái đến tham dự buổi ra mắt ngày hôm nay.
Trong một phút nghiêm túc như một nhà giáo, trước khi miên man nói mà không cần nhìn vào đồng hồ hay xuống bãi đáp, tôi xin trịnh trọng trình bày tóm lược nội dung phát biểu. Ít ra cũng là cái khung cho mình khỏi lạc đề làm quý vị thấy não nề.
Từ sự chủ quan của mình, chúng tôi xin lần lượt nêu hai câu hỏi:
- Vì sao Huy Phương viết Tạp Ghi?
- Huy Phương viết như thế nào?
Nhưng câu mở đầu vẫn là vì sao chúng tôi đứng ở đây!
***
Người bạn thân của chúng tôi là Đinh Quang Anh Thái gặp vấn đề về tổ chức buổi ra mắt cuốn "Quê Nhà Quê Người", tuyển tập Tạp Ghi thứ sáu của Huy Phương. Anh Thái bèn nhớ đến bạn mà điện thoại cho tôi. Như một cầu thủ bóng tròn đầy phong độ, anh đã "trao trả gắn bó" và tung máy cho Huy Phương nói chuyện. Thế là tôi kẹt và phải thoái thác.
Nhưng duyên nghiệp đưa đẩy thế nào mà đúng lúc đó tôi lại nhìn thấy cái tượng nhỏ của ông thầy tôi, một nhà sư Tây Tạng đã viên tịch. Tôi nhớ đến lời thầy dạy, rằng ở đời phải biết làm việc có lợi cho người khác, chứ đừng tính toán từ quyền lợi của mình.
Và tôi bỗng dưng nhận lời, khi nói với Huy Phương, rằng "tôi là một Phật tử!" Chuyện lảng nhách!
Vì bộ chỉ có Phật tử mới làm chuyện ấy sao, khi chương trình ra mắt hôm nay có sự tham dự của một vị linh mục, Cha Joseph Nguyễn Thái của Trung Tâm Công Giáo!
Nhưng dù sao mặc lòng, tôi đã nhận lời vì tình bằng hữu và cái thiện tâm nhỏ nhoi của mình. Do đó, quý vị mới phải chịu khó nghe phần phát biểu này! Mong rằng đấy không là một tai nạn....
***
Cũng hoàn cảnh đó khiến tôi tự hỏi vì sao Huy Phương viết Tạp Ghi, rồi trả lời bằng yếu tố tôn giáo. Và xin nói trước là sẽ không giảng đạo. Tôi nghĩ đến cây Thánh giá.
Không là người Công giáo, tôi vẫn tin rằng ai ai trong chúng ta cũng có cây thánh giá trên mình. Người thì đeo trước ngực, đôi khi bằng quý kim có nạm kim cương nặng tới mấy carat. Người khác thì oằn minh với cây thánh giá bằng gỗ, bằng sắt, đôi khi còn có kẽm gai trên lưng.
Là một Phật tử, Huy Phương đã nhận cây thánh giá nặng nề, như phần nhiệm vụ của mình trong thời chiến khi nhập ngũ. Khi chiến tranh kết thúc thì vác thêm cây thánh giá còn nặng gấp bội, qua bảy năm bị tập trung cải tạo. Ra khỏi vùng đất u tối hãi hùng của quê hương và đặt chân lên nước Mỹ, ông tiếp tục bưng cây thánh giá, nay đã thành cây bút ngàn cân, để hàng tuần viết tiếp....
Nhưng khác với ngày xưa, Huy Phương không viết văn và làm thơ nữa, mà trở thành cây bút sâu sắc, bền bỉ và xuất sắc với thể loại tạp ghi.
Ông viết như người gánh vác nỗi trầm luân của người khác. Không phải là đứa con trai duy nhất của Đức Hùng Vương, mà có lẽ cũng chẳng bị Tổ Quốc đòi nợ, ông viết trong tinh thần làm tròn bổn phận của con dân và để duy trì được cái Việt tính cao quý mà thật ra rất mơ hồ của dân tộc.
Chúng ta có thể gọi đất là cái nghiệp. Chúng tôi xin gọi đây là cái duyên, cho chúng ta.
Chỉ vì giữa trăm ngàn câu hỏi lớn nhỏ hàng ngày về cách sống và suy nghĩ trong một môi trường hết còn là Việt Nam, Huy Phương vẫn điềm đạm, bền bỉ và duyên dáng nói về cách hành xử ông cho là thích hợp nhất, suy từ chuyện xưa qua chuyện nay, chuyện quê nhà và quê người.
Cho nên, theo thiển ý, Huy Phương viết mà không để làm văn và để có chỗ đứng trên văn đàn.
Ông viết vì sự thôi thúc vô hình của một quan niệm về đạo lý. Ông tiếp tục kê vai vào cây Thánh giá chung của cả dân tộc dù chẳng ai bắt, không ai đòi và dù nhiều người trau chuốt một cây thánh giá lấp lánh trên ngực. Động lực có thể là tình bằng hữu với các chiến binh Việt Nam Cộng Hoà, hay lòng yêu nước, hoặc sự ái ngại về quê hương, xã tắc, đồng hương, đồng bào....
Cũng có thể là một trí nhớ không hề nguôi ngoai về một Việt Nam lý tưởng chưa có mà đã mất.
Trí nhớ ấy mới là mảnh kim cương vằng vặc trong tim của tác giả.
Cho nên, nếu ra khỏi nỗi ám ảnh về cây Thánh giá mà nói theo người Phật tử, tôi xin liều lĩnh phát biểu rằng Huy Phương viết để "giải nghiệp", không phải cái nghiệp của bản thân mà cả cái "cộng nghiệp" của dân tộc.
***
Tôi xin bước qua câu hỏi thứ hai, tác giả viết như thế nào?
Mỗi người cầm bút lại có một động lực và hoàn cảnh sáng tác riêng. Với Huy Phương, và có lẽ từ trong vô thức, ông cầm bút như một nhà luân lý. Không phải vì ông từng là một nhà giáo mà có lẽ vì ông thấy bất bình về quá nhiều chuyện chung quanh nên viết là để phân định đúng sai.
Như đã tự ôm lấy một cây thánh giá, ông còn tự chọn lấy một chặng đường khổ ải.
Vì, như các cụ mình thường nói, "biết ai dại, biết ai khôn"? Và trong cái lẽ "thị phi biện biệt" của Phật giáo thì làm sao xác định cái đúng trong đời sống, nhất là đời sống bên Mỹ này, là môi trường hàng ngày của tác giả?
Một thí dụ là nước Mỹ có vô tình hay không? Thí dụ khác là ta nên sống theo hoàn cảnh mới, ở bên Mỹ này, hay vẫn cứ phải ngoái về quá khứ? Khi ăn cưới thì nên tránh thói tật gì, mà để làm chi, nếu không phải là tìm ra một luân lý hợp lý khác trong lối sống, trong hoàn cảnh mới?
Nói thì có vẻ lớn lao, chứ thật ra, Huy Phương có ý chí làm thay đổi cách sống và suy nghĩ của chúng ta để khỏi cúi đầu phản ứng mà chủ động hành xử sao cho tử tế hơn. Từ cái nhân đó trong tâm, ta mới hy vọng gieo mầm cho kết quả tốt đẹp hơn cho gia đình, cộng đồng và đời sống.
Nhưng khi là nhà luân lý như vậy thì người ta rất dễ gây động chạm.
Thay vì cùng đám đông ồn ào kêu gọi "xin quý vị cho một tràng pháo tay" để mọi người tâng bốc nhau trong tinh thần tự mê, Huy Phương viết thẳng ra những điều ông cho là sai. Cũng với tinh thần luân lý đó, tác giả phê phán chế độ đang cai trị Việt Nam hiện nay, không từ góc cạnh tư tưởng ý thức hệ như nhiều nhà lý luận về chính trị, mà từ giác độ của đạo lý con người.
Và quả nhiên là ông làm nhiều người phật ý vì đi ngược với đám đông. Khi nhiều người muốn sống theo lối "đừng lay tôi nhé cuộc đời", Huy Phương lại là người lay động. Và chấp nhận trả giá cho việc đó. Ông không chỉ có cái bi mà còn có cái dũng, là không sợ.
Cầm bút viết tạp ghi, mà lại viết đều đặn hàng tuần từ cả chục năm nay, chưa kể nhiều tiết mục khác phải hoàn tất trong ngày trong tuần, người viết nào cũng gặp vấn đề là chọn đề tài. Viết gì đây cho tuần này, nhất là trong những ngày không có thời sự hay tập quán lễ lạc làm cái đinh cái mốc cho bài viết?
Tôi thiển nghĩ rằng Huy Phương không gặp vấn nạn đó.
Lý do là lòng ông thường trực mở ra 360 độ, như một con cầu gai, để thấy bất cứ gì ở chung quanh cũng có thể là đề tài. Từ chuyện thi hoa hậu đến chuyện mấy ông sư ca hát trong chùa, từ chuyện tử tế của vợ chồng người Mỹ gốc Mễ ở ven bờ xa lộ đến cách người ta không thèm giữ cửa tự động cứ để bật vào mặt kẻ đi sau, v.v... chuyện gì ông cũng quy vào đạo lý Việt Nam và cách hành xử cho văn minh, nhân bản.
***
Kính thưa quý vị, đấy là vài đặc tính của Tạp Ghi Huy Phương mà bản thân chúng tôi nhìn ra từ sự chủ quan của mình.
Kết luận ở đây là "kết quả ra sao"?
Ra ngoài chợ, chứ không ở trong chùa hay trong nhà thờ, đôi khi ta có gặp nhiều người đứng đường giảng đạo, hoặc cảnh báo về ngày tận thế, hoặc kêu gọi loài người chấn hưng đạo đức.... Chúng ta phải kính trọng những người đó. Nhưng thường thì bước qua chỗ khác.
Tò mò lắm thì đứng xa xa để nghe. Hào phóng lắm thì lấy ra vài đồng quyên góp hay úy lạo và tự nhủ rằng hôm nay ta đã làm một việc thiện.
Nhưng như mọi người đều biết, và đã nói, về một hiện tượng gọi là sự mệt mỏi của từ tâm. Chán rồi cũng chẳng ai muốn nghe muốn hiểu thêm về sự hoạn nạn hay khổ ải của người khác. Hoặc tại sao chúng ta phải thay đổi cách suy nghĩ và hành xử? Số phận của các nhà luân lý thường là sự hẩm hiu, sự cô đơn giữa đám đông.
Huy Phương không gặp số phận đó.
Ngoài một tác phẩm văn chương, ông đã xuất bản sáu cuốn Tạp Ghi và sở dĩ còn xuất bản là vì còn có người đọc. Huy Phương không thuộc loại người ăn nên làm ra nên làm thơ, in lấy thơ mình để giúi vào tay người khác như một hình phạt. Ông có độc giả của ông.
Lý do là nhà luân lý này viết truyện rất hay, dẫn chuyện rất khéo, với nghệ thuật rất thâm thúy.
Mà trong lời phê phán thì vẫn có thái độ ái ngại, ân cần, một chủ đích hướng thiện. Cái tâm và cái tài của ông giải thích sự thành công đó. Độc giả không giận mà còn cám ơn ông về những nhắc nhở dí dỏm, những giai thoại mà mình nên biết và không thể quên.
Chúng ta rất mừng là trong cõi đời vật chất vàng thau lẫn lộn, trắng đen nhập nhòa này, cộng đồng chúng ta vẫn còn những cây bút như vậy. Đó cũng là một biểu hiện khác của văn minh.
Xin kính mừng tác giả, cảm tạ quý vị đã chịu khó theo dõi lời phát biểu này, và mong rằng mỗi người nên có một cuốn Tạp Ghi cho gia đình. Và vài cuốn khác cho những bằng hữu họ hàng mà mình quý trọng.
(Bài phát biểu hôm ra mắt cuốn "Tạp Ghi" của Huy Phương, chiều 19 Tháng 11 tại Hội quán Người Việt, miền Nam California.)

Hà Nội có Phố “Cam Đai”
- Nhiều người đàn ông thường úp mặt vào tường hay gốc cây trên các con phố Hà Nội đích thị bị mắc “bệnh đái đường”.
Bệnh không chỉ tàn phá... đường mà còn giết chết nhiều thứ vô hình khác.
“Triệu chứng lâm sàng” của “bệnh đái đường” thế nào, xin dạo một vòng qua các con phố Hà Nội sẽ được thấy tận mắt...
Đái bậy ở phố “Cấm Đái Bậy”
Con phố rất đẹp, mọc lên từ chợ 19.12, nối phố Hai Bà Trưng với phố Lý Thường Kiệt nhưng lại bị các cư dân hay qua đây gọi là phố “cấm đái bậy”. Phải mang cái tên đó bởi tuy chỉ dài 200m, nhưng con phố này “cõng” trên mình hơn chục cái biển “cấm đái bậy”. Những tấm biển và cả những dòng chữ viết tay cùng nội dung hiện lên rất dày trên hai bức tường chạy dọc phố. Cũng như muốn tìm rác hãy đến nơi có biển “cấm đổ rác”, ở Hà Nội, nơi nào xuất hiện chữ “cấm đái bậy” thì tại đó có rất nhiều người đái bậy.
Anh xe ôm đứng đầu đường bảo với tôi: “Trong vòng mười phút mà không có người úp mặt vào tường thì tôi xin bỏ nghề luôn”.
Chỉ 30 giây sau, một người đàn ông dừng xe máy, nhảy xuống tè ngay vào luống hoa cúc bên đường. Phía đầu phố Hai Bà Trưng, hai ba người đàn ông khác cũng dừng ôtô, điềm nhiên “xả”. Trong khoảng tám phút, tôi đã đếm được năm người tè ngay dưới tấm biển... “cấm đái bậy”.
Một quý ông mặc veston thản nhiên “tưới” vào luống hoa cúc, trở thành người thứ 39 tè bậy. “Người thứ 40 sẽ là ai nhỉ?” Tôi hỏi anh xe ôm. Anh xe ôm bảo: “Là tôi”, rồi bước tới bức tường cạnh khách sạn Melia và “xả”. Xong, anh ta cười: “Ở quê quen tiểu đồng, giờ thì tiểu phố chứ biết đi vào đâu. Anh cứ đứng đó sẽ trở thành người thứ 41”.
Vắng, không hàng quán, lại có nhiều bụi hoa che lấp bên hai bức tường, con phố “cấm đái bậy” này trở nên rất thuận tiện cho những ai không biết xả chỗ nào. Thế nên, nhiều người nước ngoài ở khách sạn năm sao Melia ngay cạnh đứng thứ trên tầng cao nhìn xuống, không hiểu vì sao lại có nhiều người đàn ông úp mặt vào tường đến vậy. Có em bé mẹ chở ngang phố ấy cũng thắc mắc: “Mẹ ơi, mấy chú kia bị cô giáo phạt hay sao mà cứ đứng úp mặt vào tường?”
Lại có chuyện một ông khách du lịch người nước ngoài đến thủ đô ta đã thắc mắc: “Tôi đã đi thăm hai vịnh rất nổi tiếng ở Việt Nam là “Ha Long bay” và “Cam Ranh bay” nhưng chưa biết “Cam dai bay” nằm ở đâu? (từ “bay” trong tiếng Anh nghĩa là vịnh)
Tôi đã cảm thấy choáng khi nhìn thấy những người đàn ông úp mặt vào bức tường và đưa tay vẩy vẩy ở trước cổng Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Trên con đường gốm sứ dài nhất thế giới vừa khánh thành vào dịp ngàn năm Thăng Long, khách đi đường thản nhiên “tưới... nước trong lòng” vào những hoa sen, chim lạc... Thứ nước ấy cũng đã chảy xuống những gốc cây bên hồ Gươm vào những đêm sáng đèn đường.
Bất cứ chỗ nào kín đáo một chút ở trên phố, người ta đều có thể “giải quyết nỗi buồn”. Chuyện thật như đùa: có ông đã phê phê bia rượu, dừng ôtô trên đường cao tốc, vẫn để nổ máy và đi ra phía lốp sau để “xả”. Khi đang “xả” thì có kẻ lẻn vào mở cửa lái xe đi mất hút. Lại có kẻ đang đái bên đường sắt thì đoàn tàu đi ngang chia cắt người một bên, xe máy một bên. Khi tàu đi qua thì không thấy xe máy đâu nữa. Đến trình báo, công an hỏi: “Có ai làm chứng việc anh mất cắp xe máy không?” Anh này trả lời: “Có cả đoàn tàu Bắc – Nam chứng kiến ấy chứ”.
Chuyện đái đường bị trả giá đắt như vậy cũng thỉnh thoảng xảy ra nhưng “bệnh” vẫn ngày càng tăng. Đái đứng, đái ngồi, lại thêm độc chiêu đái nằm. Một ngày đẹp trời ở trong công viên Thống Nhất, tôi thấy có ông già nằm trên ghế đá, có vẻ như đang thiu thiu ngủ. Nhưng một vòi nước cầu vồng bỗng tuôn chảy từ ghế đá. Xung quanh, công viên vẫn nhiều người qua lại, có cả bảo vệ đeo băng đỏ mà chẳng ai phát hiện ra.
Sức tàn phá của “bệnh đái đường”
Những ai từng đái đường đều “trần tình” rằng làm cái việc đó ở thành phố quả thật vạn bất đắc dĩ, khổ ải chứ chẳng xếp được vào “tứ khoái”.
Trên vườn hoa gần đường Lý Thánh Tông, một bác xe ôm sau khi đã “xả” vào gốc cây, lắc đầu bảo: “Chẳng muốn đái bậy đâu, nhưng ngặt vì muốn làm người lịch sự cũng khó, ở đây không tìm đâu ra nhà vệ sinh công cộng, mà cứ nhịn mãi thì vỡ bàng quang mất. Các ông lịch sự cứ thử ra phố đi bộ một buổi sáng xem ở Hà Nội này có bao nhiêu nhà vệ sinh công cộng?”
Nỗi “khổ tâm” ấy chưa giải quyết được nhưng trên thực tế, hậu quả của nó có sức tàn phá vượt xa hình dung của nhiều người. Một ngày nọ, cây đa trên phố Lò Đúc bỗng nhiên bật gốc. Cư dân quanh đó không hiểu vì sao cây đa cổ thụ rễ chùm rễ cọc bám sâu là vậy sao lại đổ kềnh ra? Hoá ra “cụ” đa ngày nào cũng phải hứng chịu hàng trăm lượt người tè vào gốc rễ. Thứ dung dịch ấy cứ tích tụ lại và ăn mòn, ăn rỗng hết cả rễ chùm rễ cọc, khiến cho “cụ” đa đã chết một cách lãng xẹt.
Ngay cả những bức tường gạch được xây chắc chắn cũng đã đổ sập vì nước đái. Bức tường trên phố Nguyễn Trãi sau nhiều năm bị người đi đường “tưới” vào chân móng, đã ngã xuống vào một ngày không hề có gió mưa. Cũng ở đường Nguyễn Trãi, một nhà chờ xe buýt đã đổ sập vị phải hứng chịu những “trận” đái đường năm này qua tháng khác.
Nhiều cột điện cũng chịu chung số phận như vậy. Cột điện bằng sắt đầu phố Nguyễn Bỉnh Khiêm đang như “ngọn nến trước gió” khi chân cột bị ăn mòn đến mức chỉ còn một lõi sắt bằng ngón tay. Nước chảy đá mòn, huống gì thứ nước có rất nhiều axít ấy.
Bệnh đái đường là cả một nỗi kinh hoàng cho nhiều người dân ở gần đường. Mùi hôi hám rất đặc trưng ấy bay vào nhà, gây buồn nôn, gây khó chịu. Có không ít gia đình mất ngủ triền miên vì thứ nước chứa nhiều chất amoniắc ban đêm cứ xộc vào.

