Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Boris Yeltsin Việt Nam - Trương Tấn Sang ?

Nguyễn Quang Duy

Theo tường trình từ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ đề ngày 10-9-2010, Wikileaks công bố, Đại sứ Michael Michalak đã tiên đóan kết quả Đại Hội Đảng Cộng Sản lần thứ 11 như sau: ''Thường trực Ban bí thư Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là hai ứng viên hàng đầu để thay Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh”. Ông Michael Michalak nhận định: “Cả Nguyễn Tấn Dũng và Trương Tấn Sang không ai nhiệt tình với cải cách chính trị như cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Nhưng mọi người đều biết họ là người thực dụng, chủ trương kinh tế thị trường và tán thành sự tăng tiến vững chắc trong mối quan hệ với Hoa Kỳ”. Theo ông cả hai đều sẽ không chịu rút lui, mà cũng không đấu đến cùng, nhưng nếu có một người bị buộc phải hy sinh tham vọng của mình, thì người đó sẽ là Trương Tấn Sang.

Vào tháng 9-2010, đánh giá ông Michalak là khá chính xác, khi ấy Tấn Sang đang thắng thế, dự án đường sắt cao tốc vừa bị Quốc Hội “từ chối”, lại đang bị chất vấn về vụ Vinashin thiếu tiền nguy cơ qụit nợ. Nhưng cuối cùng, Nguyễn Phú Trọng xưa nay mang tiếng lú lẩn lại được đưa lên nắm chức Tổng Bí Thư. Trương Tấn Sang phải chấp nhận một vai trò được xem không có thực quyền: chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Bước sang 2011, Tấn Sang tiếp tục tấn công Tấn Dũng, nhờ đó chúng ta mới thấy rõ hơn những tranh chấp bên trong nội bộ đảng Cộng sản. Có người đóan rằng tham vọng của Tấn Sang là trong năm 2012 sẽ sửa lại Hiến Pháp để nắm cả Tổng Bí Thư lẫn Chủ Tịch nước đúng theo khuôn mẫu được Trung cộng áp dụng lâu nay. Vì qúa mong mỏi cách mạng, nhiều người còn kỳ vọng Tấn Sang sẽ trở Boris Yeltsin Việt Nam. Người viết đã gởi đến bạn đọc một lọat bài về nhân vật Nguyễn Tấn Dũng, bài này xin duyệt xét nhân vật Trương Tấn Sang.

Điểm mạnh nhất của Tấn Sang là được tầng lớp “trí thức” xã hội chủ nghĩa nhiệt tình ủng hộ. Để bạn đọc có thể thấy rõ hơn người viết xin trích dẫn nguyên văn ông nghị Hoàng Hữu Phước, một thạc sĩ kinh doanh quốc tế, một một nghị viên cùng đơn vị bầu cử với ông Sang, một người trước Quốc Hội Cộng sản tuyên bố vì dân trí Việt Nam còn thấp nhà nước cộng sản không cần luật biểu tình, đã viết như sau:


Nguyên văn Nghị Phước viết về Nghị Sang


Ông Trương Tấn Sang là vị Tổng thống thứ 8 của nước Việt Nam thống nhất. Đây là điều ai cũng biết. Ở đây tôi nói về điều chưa ai từng nói đến, tức là về yếu điểm lạ kỳ của tất cả các vị lãnh đạo của nước Việt Nam thống nhất (sau 1975), từ tổng thống đến thủ tướng và các bộ trưởng.


Nét chung thật kỳ lạ là tất cả các vị đều có cách nói chuyện chậm rải, đều đều, không khuyến khích được sự tập trung tỉnh táo của người nghe, nội dung vô thưởng vô phạt, cách lý giải na ná giống nhau, né tránh gai góc, kiêng kỵ dùng ngôn ngữ cử chỉ, hoàn toàn không giống bất kỳ vị tổng thống hay thủ tướng hay bộ trưởng nào tại bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, tức những vị mà năng lực được thể hiện qua nhiều điểm trong đó nổi bật nhất là khả năng khẩu ngữ của thuật hùng biện, dù đó là Ông Chávez, Ông Fidel Castro, Ông Sarkozy, Bà Clinton, Ông Clinton, Bà Thatcher, Ông Berlusconi hay Ông Obama.


Tiếng Việt có đặc điểm ưu việt duy nhất trong toàn bộ hệ ngôn ngữ của nhân loại là có âm điệu đa sắc, cực kỳ thuận lợi cho bất kỳ người Việt nào muốn trở thành nhà hùng biện. Tâm lý chung của người dân một nước là thích đón nghe những “thông điệp” của tổng thống nước mình không những vì bị cuốn hút bởi thuật hùng biện của tổng thống qua đó chứng kiến tài ba tư duy và tài nghệ thể hiện của tổng thống, mà còn vì muốn lắng nghe các kế sách cụ thể giải quyết cụ thể một hay những vấn đề cụ thể mà hoàn cảnh cụ thể của quốc gia đã nảy sinh một cách cụ thể. Thực tế là các lãnh đạo của nước Việt Nam thống nhất đã không có tài hùng biện – hay tại bị vì bởi một “công thức áp đặt” sai lầm nào đó của một lối tư duy sai lầm nào đó cho rằng phải như thế như thế và như thế mới tỏ rõ vai trò người lúc nào cũng của dân, do dân và vì dân. Sai lầm vì chính phủ của “nhân dân” không phải là chính phủ “bình dân”, quân đội nhân dân không phải là quân đội ăn mặc giản dị xắn quần lên đầu gối, nón bằng chất liệu không chống đạn vốn không bao giờ được dùng bởi quân đội của phần còn lại của thế giới, để thành quân đội bình dân.


Điều may mắn là Ông Trương Tấn Sang trở thành vị tổng thống đầu tiên có tài hùng biện đúng nghĩa mà điều dễ nhận thấy nhất là sự tập trung cao độ của người dân lắng nghe mỗi khi Ông phát biểu với sự phối hợp của ngữ điệu, ngôn ngữ cử chỉ, nội dung quyết đoán mang tính khẳng định mạnh mẽ, và làm rõ vấn đề cũng như khả năng hóa giải ngay tại chỗ những điều nhạy cảm do người dân – tức cử tri – nêu lên. Đó là sự thể hiện của người thực sự có quyền lực và trách nhiệm cá nhân. Ông Trương Tấn Sang là sự khởi đầu cho thời đại mới: thời của những lãnh đạo có thực quyền và có trách nhiệm...

Tấn Sang Tìm Nhân Tài Hải Ngọai Giúp Nước


Người ta đồn rằng Tấn Sang đang tìm kiếm nhân tài hải ngọai về giúp nước. Tin đồn này nói lên một thực trạng đang liên tục xẩy ra tại Việt Nam. Nhân tài không thiếu nhưng đều mất niềm tin vào hệ thống chính trị, đều chán ngán chế độ nên ca bài “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ”, tránh xa cả Tấn Sang lẫn Tấn Dũng. Đó là chưa kể người cộng sản luôn tuyên truyền dối trá mà nhân tài lại phải tôn trọng và luôn nói lên sự thực. Nên họ thường được chụp cho cái mũ phản động tiếp tay với thế lực thù địch. Cuối cùng Tấn Sang phải sử dụng những người như ông Nghị Hoàng Hữu Phước.


Nhưng nếu đọc kỹ lời nhận xét ông Phước về giới cầm quyền cộng sản thì nhận xét của ông quả thật chính xác. Không riêng gì tài “hùng biện”, về mọi mặt những người cầm quyền cộng sản thua xa những người lãnh đạo miền Nam. Câu tuyên bố của Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Tấn Sang nói mà hãy nhìn kỹ những gì Tấn Sang làm” đã đi vào lòng người và đã trở thành kim chỉ nam cho chúng ta thường xuyên nhắc nhở nhau về những trò ma đầu của nhà cầm quyền Hà Nội.


Tấn Sang Tấn Dũng Ông Thiện Ông Ác


Trong đọan trích dẫn bên trên, nhận xét của ông Phước rất chính xác nên dễ được người nghe và người đọc ủng hộ. Ông dùng nó tạo sự chú ý để nịnh Tấn Sang như một “minh vương” tái thế. Khách quan nhận xét Tấn Sang cũng chẳng hơn gì những người cầm quyền cộng sản khác. Họ đều xuất thân một lò cộng sản, được đào tạo bài bản như nhau, lên được nhờ năng đỡ và vây cánh bên trong đảng. Họ hòan tòan không được người dân chọn lựa qua phổ thông đầu phiếu. Cho nên họ “rỗng” không phải chỉ về mặt hùng biện, mà họ “rỗng” về mọi mặt nhưng lại thích kêu to. Các “thùng rỗng kêu to” lại được cả một guồng máy tuyên truyền đánh bóng. Đánh bóng đến nỗi họ lầm tưởng họ đều là những minh quân tái thế của thời đại.


Cả Tấn Dũng lẫn Tấn Sang đều xuất thân từ miền Nam và đều được Võ văn Kiệt tận tình đỡ đầu. Tấn Sang còn có liên hệ gia đình với bên vợ của Tấn Dũng. Thế nên nhận xét của ông Đại sứ Michael Michalak là họ sẽ không đấu đến cùng. Nói rõ hơn họ là hai nhân vật trong một vở bi hài kịnh. Họ phải đóng kịch chỉ để xác nhận những sự thực mà mọi người chúng ta đều đã biết. Lúc Tấn Dũng đóng vai ác thì Tấn Sang lại đóng vai thiện khi thì ngược lại. Nhưng vai chính của vở tuồng vẫn là Tấn Dũng.

Nồi Canh Sâu


Gần đây ông Sang tuyên bố: "Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ, không nhẽ cứ để hoài như vậy. Mai kia người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì đâu có được. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là 'chết' cái đất nước này". Một bạn trẻ thuộc phái nữ tuổi 22 hiện đang sống tại Hà Nội, mang biệt danh Hoahongcogai89 viết như sau: “mà bây giờ có cả một đàn sâu hàng trăm con ở TW (trung ương) đảng, thì nồi canh của dân tộc trở nên thúi hoắc, ăn vào chết liền.” Người viết xin diễn ý lại nhẹ nhàng và chính xác hơn “con sâu làm rầu nồi canh mà đảng Cộng sản như một nồi canh sâu, đổ nồi canh sâu không đúng chỗ không khéo còn gây ô nhiễm môi trường”.

Ai cũng biết Tấn Sang tuyên bố như trên là để công khai đánh vào lời Tấn Dũng hứa hẹn "Tôi kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu tôi không chống được tham nhũng, tôi xin từ chức ngay." Nói một đằng làm một nẻo chính Tấn Sang lại công khai đề nghị Tấn Dũng nhận lãnh thêm một nhiệm kỳ Thủ Tướng.

Tấn Sang chỉ giỏi hứa hẹn

Tấn Sang thường hứa hẹn với bà con “cử tri” nào là chính phủ sẽ ổn định lạm phát, sẽ cho tăng lương hay sẽ cấu trúc lại nền kinh tế quốc doanh... Nhưng lạm phát vẫn cao, tiền lương vẫn không đủ sống và nền kinh tế luôn đi vào khủng hỏang. Tội không phải chỉ tại Tấn Dũng kém tài, kém đức. Mà tội chính từ hệ thống chính trị cộng sản đã quá lỗi thời không thể sửa đổi. Hệ thống này đàn áp tiếng nói bất đồng, phá họai môi trường tài nguyên đất nước, vay mượn tiêu pha lãng phí mà không nâng cao được đời sống tinh thần và vật chất của người dân, đó là tội mà nhà cầm quyền cộng sản đều phải chịu trách nhiệm.

Trong cái hệ thống này Tấn Sang giữ vai trò chính trị vì thế trách nhiệm đương nhiên phải nặng hơn. Chưa thấy Tấn Sang nhận trách nhiệm, chỉ thấy ông ta hứa nhưng ngầm quy trách Tấn Dũng đã không hòan tất trách nhiệm đảng giao.

Ở các nước dân chủ bằng lá phiếu người dân sẽ trừng trị cả Tấn Dũng lẫn Tấn Sang để chọn ra những người xứng đáng hơn. Dưới chế độ cộng sản kẻ có tội vẫn không nhận trách nhiệm vì thế Việt Nam mới càng ngày càng tụt hậu. Trong bài viết tới người viết sẽ chia sẻ bạn đọc đề tài “Tấn Sang bảo thủ hơn Tấn Dũng”.


Tấn Sang Theo Đuôi Tấn Dũng


Bị Trung cộng chơi xấu lấn ép không cho khai thác tài nguyên trên thềm lục địa Việt Nam, thiếu tiền nuôi tập đòan cộng sản, Tấn Dũng mới cho loan báo việc tàu Trung cộng cắt cáp tàu Bình Minh. Nhờ thế Tấn Sang mới có cơ hội đi đây đi đó tuyên bố này nọ để không ít người cho rằng ông là Boris Yeltsin của Việt Nam. Thực ra mọi quyết định, mọi hành động của Tấn Sang và Tấn Dũng đều được sự đồng ý của đa số Bộ Chính Trị. Mà Tấn Dũng lại nắm Bộ Chính Trị nên Tấn Dũng luôn là người chủ động xuất chiêu.

Gần đây trước Quốc Hội, Tấn Dũng chính thức xác nhận quần đảo Hòang Sa và một số đảo ở Trường Sa đã bị quân đội Trung cộng dùng quân sự chiếm đóng. Phía bên dưới Hội Trường cả Tấn Sang lẫn Phú Trọng đều vỗ tay tán thành lời tuyên bố. Điều này cho thấy đã có một sự thu xếp từ bên trong, người chủ động và đột phá từ bên trong chính là Tấn Dũng. Nếu Tấn Dũng không phải là người nắm Bộ Chính Trị, ông sẽ không đủ thực quyền làm việc trên.

Ngay sau đó Tấn Sang làm một chuyến công du các tỉnh biên giới phía Bắc, tới nhiều địa điểm như thác Bản Giốc để chụp hình quảng cáo. Lạ một điều đến giờ phút này những người cộng sản mới quan tâm đến những địa điểm đã mất vào tay giặc Tàu xâm lược như Hòang Sa, Trường Sa, Bản Giốc ? Trên diễn đàn cá nhân, Nguyễn Tấn Dũng dám công khai tuyên bố chính sách của ông về Biển Đông là ngọai giao và quân sự. Ông nêu rõ việc làm cụ thể là “ký hợp đồng với Nga mua các tàu ngầm, máy bay chiến đấu Mic 29 và các loại vũ khí hạng nặng khác về trang bị cho Quân đội Việt Nam”.

Còn Tấn Sang thường chỉ tuyên bố chung chung không đi vào chi tiết theo kiểu chính trị và ngọai giao. Mà chính trị của đảng Cộng sản thì quá rõ “theo Tàu bán nước”. Còn ngọai giao cũng không lấy gì làm sáng sủa. Trước hội nghị thường niên Khối APEC, đầu tháng 11-2011, Trương Tấn Sang tỏ vẻ vồn vã với Tổng Thống Obama và công khai ngỏ lời cảm ơn Hoa Kỳ vì nước này quan tâm đến tranh chấp trên Biển Đông. Nghe đâu Trương Tấn Sang có tìm đến bắt tay Tổng Thống Hoa Kỳ Obama xin chụp hình nhưng ông Obama làm ngơ không đáp trả. Rất có thể tin đồn này là sự thật vì Tấn Sang vốn thích chụp hình nhưng không thấy bức hình nào bắt tay với Tổng Thống Obama. Và nếu đây là sự thật thì là một dấu hiệu chua chát cho Tấn Sang nói riêng và đảng Cộng sản nói chung.

Điều rõ nhất là Hoa Kỳ công khai tỏ thái độ lạnh nhạt luôn nhắc Việt Nam phải cải thiện tình trạng nhân quyền.


Tập Cẩm Bình được người Việt đón tiếp

Ngay khi tin Phó Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung cộng - Tập Cận Bình - sẽ sang Việt Nam vừa được loan báo thì Phong Trào Tòan Dân Cứu Nước đón ông bằng cách cho bốc cháy tòa tháp đôi tại Hà Nội. Phong Trào cho biết không thể tiếp tục đấu tranh ôn hòa bất bạo động với giặc Tàu và Việt gian bán nước. Cần đốt phá tạo nên “bất ổn chính trị”, để tạo điều kiện cho tòan dân đứng lên cứu quốc. Không biết thực hư ra sao nhưng đương nhiên công an hai đảng Cộng sản Việt Trung sẽ phải mất ăn mất ngủ để bảo vệ an ninh cho Tập Cận Bình.

Cô Trịnh Kim Tiến người mang nặng “thù nhà nợ nước” cũng đón Tập Cận Bình bằng một hình ảo đầy ý nghĩa. Cô đứng trứơc cửa Tòa Đại Sứ Trung Cộng, đứng trên “cờ đỏ sao vàng” với dấu hiệu cắt cái lưỡi bò liếm ra biển Đông. Trên nóc tòa Đại Sứ là một hình ảnh tương tự. Trịnh Kim Tiến xứng đáng đại diện cho tiếng nói của giới trẻ Việt Nam Yêu Nước.

Ai Là Người Được Quan Thầy Trung Cộng Chiếu Cố ?
Sau vụ tàu Trung cộng tấn công tàu Bình Minh, Ủy viên Quốc vụ Viện Trung cộng Đới Bỉnh Quốc loan báo sẽ sang thăm Việt Nam. Trong lần tiếp Đới Bỉnh Quốc, Nguyễn Tấn Dũng ăn mặc rập khuôn người đồng chí anh em. Hình ảnh được truyền đi khắp nơi và nhiều người cho biết Tấn Dũng trông không ra thể thống gì. Rồi trước báo giới ông phải bày tỏ tấm lòng “luôn ghi nhớ sự giúp đỡ to lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc…”

Tấn Dũng đã chính thức tuyên bố Hòang Sa và nhiều đảo ở Trường Sa đã bị Trung cộng chiếm đóng. Lời tuyên bố của Tấn Dũng trái ngược với quan điểm Trung cộng cho rằng Biển Đông thuộc chủ quyền không thể tranh cãi. Chắc chắn Tập Cận Bình sẽ đặt vấn đề này với Tấn Dũng. Quan sát chuyến đi sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hình tình đất nước.

Ai Đàn Áp Người Yêu Nước Biểu Tình ?

Vì sợ Cách Mạng Hoa Lài cả Tấn Dũng lẫn Tấn Sang đều không muốn người dân biểu tình vì bất cứ lý do gì. Câu hỏi đặt ra là ai đã ra lệnh đàn áp người biểu tình ?

Trong lần biểu tình đầu tiên tại Sài Gòn số người tham dự rất cao có thể lên 7 ngàn người. Cuộc biểu tình lại rất uyển chuyển và như có tổ chức ngầm đứng đằng sau. Đến cuộc biểu tình thứ 2 thì công an Sài Gòn xuống tay đàn áp. Sau đó chỉ là những cuộc biểu tình thầm lặng. Trong khi tại Hà Nội các cuộc biểu tình vẫn tiếp diễn đến lần thứ 12.

Điều này chỉ rõ việc đàn áp bắt bớ người tùy thuộc vào công an thành phố (Sài Gòn hay Hà Nội). Trong một thời gian dài Trương Tấn Sang từng giữ các chức vụ cao cấp nhất Sài Gòn như Chủ tịch Ủy ban Nhân dân và Bí thư Thành ủy Sài Gòn. Hiện tại Tấn Sang là Đại Biểu khu vực Sài Gòn. Thế nên Sài Gòn thuộc khu vực ảnh hưởng lâu dài của Tấn Sang. Còn Tấn Dũng khu vực ảnh hưởng là tại miền Tây.

Giới chức của thành phố Hà Nội không ưa gì dân Nam Bộ, thế nhưng họ lại ghét Tấn Dũng vì thế Tấn Sang cũng phần nào được sự ủng hộ của Hà Nội. Cuộc biểu tình “Ủng Hộ Thủ Tướng Ra Luật Biểu Tình” đã bị dẹp từ bên trong và ngay lúc khởi phát cho thấy Tấn Sang chính là người ra lệnh hay ảnh hưởng đến việc đàn áp người biểu tình yêu nước.

Gorbachev - Boris Yeltsin

Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay đang gặp khủng hỏang tòan diện như tình trạng đảng Cộng Sản Liên Sô hơn 20 năm về trước. Khi ấy Gorbachev, Tổng bí thư cuối cùng của đảng Cộng Sản Nga, là một người cộng sản cấp tiến. Ông muốn cải cách hệ thống chính trị để đảng Cộng Sản Liên Sô có thể tiếp tục duy trì độc đảng. Cuộc cải cách của ông không được sự ủng hộ của các đảng viên muốn có thay đổi thực sự. Những người muốn thay đổi thực sự đã ủng hộ Boris Yeltsin vận động quần chúng đứng lên lật đổ chế độ cộng sản. Chủ trương của Boris Yeltsin hết sức rõ ràng :"Cộng sản không bao giờ thay đổi. Chúng chỉ có thể bị thay thế"

Trong trường hợp Việt Nam, Diễn biến hòa bình trong “Đảng”, Đấu Tranh Dân Chủ ở ngòai dân, sức ép vô lý của nhà cầm quyền Bắc Kinh và sự thay đổi chiến lược Hoa Kỳ là những yếu tố dẫn đến việc Tấn Sang và Tấn Dũng phải đóng kịch như ông Thiện ông ác.

Chưa có một dấu hiệu nào cho thấy Tấn Sang là người có đầu óc canh tân “Đảng” như Gorbachev, nói gì đến việc thay đổi thể chế như Boris Yeltsin. Bài tới người viết sẽ chia sẻ cùng bạn đọc để thấy Tấn Sang còn bảo thủ hơn cả Tấn Dũng.

Trước đây mọi tin tức nội bộ Bộ Chính Trị đều được giữ kín. Ngay cả những cuộc thanh trừng hay giết nhau bên ngòai vẫn không hề biết đến. Mười năm trước cộng sản phải sử dụng hình thức tung tin như Tài liệu Tổng Cục 2 cho biết Tấn Sang là gián điệp cho Hoa Kỳ. Ngày nay họ phải công khai đấu đá tạo ra hình ảnh thiện ác trong Bộ Chính Trị. Vẫn biết họ đang đóng tuồng và vở tuồng càng ngày càng biến thành sự thực. Có tin đồn Nguyễn Phú Trọng bị bịnh tim và có thể chết bất cứ lúc nào hay có thể mất khả năng làm việc, tạo ra khủng hỏang nhận sự và cuộc đấu giữa ông thiện ông ác sẽ trở nên khốc liệt hơn. Sang năm 2012 chúng ta cần sáng suốt và chủ động để biến giả thành thật mang tự do dân chủ đến cho Việt Nam.

Nhân dịp cuối năm người viết xin gởi đến bạn đọc và gia đình một năm mới vạn sự như ý và chia sẻ ước mong tự do dân chủ sớm được thực hiện trên quê hương Việt Nam để nhà nhà muôn đời yên vui hạnh phúc.

Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
20/12/2011

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tổng thống Obama và Iran ‘trúng quả' khi Mỹ rút khỏi Iraq

Dù Mỹ không giành phần thắng trong chiến tranh Iraq nhưng hồi kết của cuộc chiến này mang lại thắng lợi to lớn cho bản thân Tổng thống Obama,
đồng thời đem đến cho Iran cơ hội thực hiện tham vọng lớn của mình.


Ông chủ Nhà Trắng ca khúc khải hoàn
Ngày 12/12, sau cuộc hội đàm tại Nhà Trắng với Thủ tướng Iraq Nouri al-Maliki, Tổng thống Mỹ Obama tuyên bố chấm dứt cuộc chiến tranh gây nhiều tranh cãi, hao người tốn của, kéo dài gần 9 năm qua tại Iraq và coi đây là giây phút lịch sử mở đầu chương mới trong quan hệ giữa Mỹ với Iraq.


Khi ông Obama bắt đầu nhiệm kỳ của mình vào tháng 1/2009, Mỹ có gần 150.000 quân ở Iraq. Con số đó về sau giảm xuống còn 8.000 và số căn cứ quân sự Mỹ ở Iraq giảm từ 505 xuống còn 5. Sau khi Mỹ rút hết quân về nước vào cuối năm nay, sự hiện diện của nước này ở Iraq sẽ chỉ thông qua Đại sứ quán Mỹ ở Baghdad, với các nhà ngoại giao, các cố vấn quân sự và các nhà thầu.


“Sau gần 9 năm, cuộc chiến tranh Iraq đã kết thúc. Chúng tôi ở đây để đánh dấu sự kết thúc của cuộc chiến này, mở ra một trang mới trong lịch sử hai nước”, Tổng thống Obama nhấn mạnh.

Như vậy, với việc rút toàn bộ quân đội Mỹ khỏi Iraq, Tổng thống Obama đã thực hiện đúng lời hứa tuyên bố trước cử tri trong thời gian vận động tranh cử hồi năm 2008 rằng ông sẽ tìm cách kết thúc sớm cuộc chiến tranh Iraq.

Điều này có thể giúp cho ông Obama và đảng Dân chủ có được thêm những lá phiếu quý giá của cử tri trong năm bầu cử 2012 bởi chấm dứt một chiến dịch quân sự tốn kém nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 là phù hợp với nguyện vọng của hầu hết công chúng.

Theo kết quả khảo sát, có tới 70% người Mỹ cho rằng cuộc chiến Iraq không đáng để thanh niên Mỹ phải hy sinh, chưa nói tới chuyện nó là một nguyên nhân dẫn tới sự suy giảm kinh tế và làm xói mòn vị thế của Mỹ trên trường quốc tế.
Image
Ông Obama thắng lớn sau động thái rút quân của Mỹ. Ảnh: Reuters.

“Đa số Mỹ đều mệt mởi với cuộc chiến Iraq. Họ chỉ muốn Washington nhanh chóng chấm dứt mọi sự dính líu với Baghdad. Do đó, động thái rút lui của ông Obama chắc chắn sẽ gây ấn tượng mạnh với các cử tri”, Giáo sư Thomas Schwartz thuộc ĐH Vanderbilt ở Nashville nhận định.

Quả thực, theo kết quả thăm dò mới nhất của AP-GfK, tỷ lệ ủng hộ Tổng thống đã tăng từ 50% hồi tháng 10 lên 55% sau khi ông tuyên bố chấm dứt cuộc chiến Iraq.

Bên cạnh đó, ông Obama còn rất biết cách lấy lòng cử tri khi xúc động tuyên bố kết thúc cuộc chiến trước binh lính và gia đình họ tại Fort Bragg, Bắc Carolina. Tránh đề cập tới hai từ chiến thắng, ông gọi sứ mệnh của Mỹ nhằm hướng tới một Iraq tự lực là một thành tựu phi thường.

“Đó là một thành tích phi thường mà chúng ta đạt được trong thời gian gần 9 năm. Và hôm nay, chúng ta tưởng nhớ lại tất cả những gì các bạn đã làm để đạt được thành tích đó”, Tổng thống Obama xúc động nói.

Cal Jillson, một giáo sư khoa học chính trị cho rằng: “Người Mỹ mong muốn sự dũng cảm của quân đội phải được ca ngợi cho dù họ có nghĩ gì về bản thân cuộc chiến tranh đó và ông Obama đã hiểu được điều này. Đó là điều quan trọng nhất”.

Không chỉ vậy, ông chủ Nhà Trắng cũng khéo léo nhấn mạnh đến tầm quan trọng của bản thân khi nhấn mạnh: “Kết thúc một cuộc chiến tranh bao giờ cũng khó khăn hơn phát động nó”.

Theo Giáo sư Cal Jillson, Tổng thống Obama muốn nhắc khéo cử tri rằng, chính ông là người chấm dứt cuộc chiến này và đưa người lính Mỹ cuối cùng trở về nhà bởi thực tế ông Bush là người đàm phán với Iraq về thỏa thuận lấy ngày 31/12/2011 là hạn chót kết thúc chiến tranh song chính ông Obama đã đẩy thời hạn này lên sớm hơn khi ông nhậm chức.

Cũng chính vì lẽ đó, giới phân tích cho rằng, ông Obama hoàn toàn có thể tự tin trước bất cứ tuyên bố chỉ trích nào của phe Cộng hòa về động thái rút quân này. Theo Giáo sư Thomas Schwartz, Tổng thống Obama có thể nhắc nhở các nghị sĩ Cộng hòa về một thực tế rằng, chính người tiền nhiệm, chứ không phải ông là người đưa ra quyết định rút quân này.

Hơn nữa, nếu tình hình an ninh tại Iraq ngày càng trở nên tồi tệ và dẫn đến một cuộc nội chiến như nhiều người dự đoán thì ông Obama cũng không có lý gì phải lo ngại. Khi đó, ông Obama có thể hùng hồn tuyên bố rằng, mọi chuyện đã không đến mức như này nếu chính quyền tiền nhiệm không nghe lời can ngăn của ông từ năm 2002, khi ông còn là một thượng nghị sĩ.

Như vậy, bất kể câu chuyện tại Iraq có xoay chuyển theo tình huống nào thì cũng sẽ không thể làm suy giảm uy tín của ông Obama bởi thực tế, trong vấn đề này, ông là người “vừa được ăn vừa được nói”.

Tehran thắng lớn

Vui mừng không kém Tổng thống Obama trước động thái rút quân khỏi Iraq của Mỹ là chính quyền Iran.

Sự hiện diện quân sự gần 9 năm qua của Mỹ tại Iraq làm cho các nước vùng Vịnh có cảm giác an toàn. Nay, theo lời Giám đốc Trung tâm nghiên cứu vùng Vịnh Abdulaziz Sager, không nghi ngờ gì, việc Mỹ rút quân chắc chắn sẽ tạo ra khoảng trống cho nhiều tham vọng nổi lên và ảnh hưởng của láng giềng Iran là thấy rõ.
Image
Mỹ rút quân khỏi Iraq, để lại cho Iran khoảng trống rất lớn. Ảnh: campaigniran.

Iran không đe dọa trực tiếp Iraq mà Tehran có thể lợi dụng vị thế mới này để thách thức những đối thủ tại vùng Vịnh chủ yếu do các Chính phủ của người Hồi giáo dòng Sunni lãnh đạo.

Người Iran, cũng giống như đại đa số người Iraq, chủ yếu là người Shiite và mối quan hệ giữa hai cộng đồng là khá mật thiết. Với thế lực Shiite chiếm đa số, chính quyền Iraq gần đây có nhiều quyết sách thuận lòng Iran, trong đó phải kể đến thái độ ủng hộ của Chính phủ al-Maliki đối với chính quyền Syria của Tổng Assad mà phe đối lập Iraq cho là đồng minh thân cận của Iran.

Thậm chí, có những cáo buộc rằng chính quyền của ông al-Maliki giống như cánh tay nối dài của chính quyền người Shiite của Iran bởi chính vị Thủ tướng đương nhiệm của Iraq cũng từng sống lưu vong tại Tehran từ năm 1982 tới tận năm 1990.

Do vậy sau khi Mỹ rút quân, chắc chắn ảnh hưởng của Iran đối với Iraq cũng như khu vực sẽ tăng lên đáng kể.

Trà My (tổng hợp)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

‘Người kế tục vĩ đại’ Triều Tiên làm khó Mỹ?

Dù còn trẻ và chưa có nhiều kinh nghiệm nhưng nhà lãnh đạo tương lai Triều Tiên Kim Jong-un được đánh giá là xuất chúng
và có thể khiến Washington càng bế tắc trong chính sách với Bình Nhưỡng.

Nhà lãnh đạo đầy triển vọng

Việc Kim Jong-un kế nhiệm cha khi ở tuổi còn quá trẻ, chưa đến 30 tuổi, đang khiến nhiều người hoài nghi về khả năng lãnh đạo của ông. Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích tin rằng, Kim Jong-un có tố chất lãnh đạo và quan trọng hơn, ông được người dân Triều Tiên ủng hộ cũng như được sự hậu thuẫn của một bộ máy quyền lực mạnh mẽ.

Nhiều nhà phân tích khẳng định ưu điểm của Kim Jong-un vượt trội hơn nhiều so với yếu điểm. Dù trẻ nhưng Kim Jong-un được đánh giá là rất thông minh, có kiến thức và là người quyết đoán, dám làm, dám chịu, đặc biệt là cũng rất cứng rắn. Đây là những tố chất cần thiết của một nhà lãnh đạo.

Ngoài ra, trước những mối lo ngại vì độ tuổi và độ dày kinh nghiệm của Kim Jong-un, chuyên gia tại Viện nghiên cứu chính sách quốc gia của Nhật Narushige Michishita nhận định, có khi chính tuổi trẻ sẽ là thứ giúp ông nổi bật.
Image
Nhà lãnh đạo tương lai Triều Tiên Kim Jong-un được đánh giá rất cao. Ảnh:CNN.

Kim Jong-un bắt đầu nổi lên từ hồi tháng 9 năm ngoái. Sau khi ông được bổ nhiệm vào vị trí Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương của đảng Lao động Triều Tiên, người ta thường xuyên thấy ông xuất hiện bên cạnh cha trong những sự kiện quan trọng và đặc biệt là các chuyến công du Trung Quốc và ông để lại ấn tượng khá tốt đối với nước đồng minh lớn này.

“Những điều tôi nghe thấy từ những người Trung Quốc và những đồng nghiệp khác là, Kim Jong-un là một thanh niên trẻ tuổi nhưng rất sắc sảo và có năng lực dù có ít kinh nghiệm”, một nhà phân tích thuộc công ty tư vấn toàn cầu Albright Stonebridge nhận xét.

Không chỉ được các nhà phân tích bên ngoài nhận xét tích cực, Kim Jong-un còn chiếm được cảm tình và sự ủng hộ của người dân Triều Tiên. Bà Ri Un-suk, chủ một cửa hàng đồ ăn ở Thủ đô Bình Nhưỡng cho biết: “Tôi rất ấn tượng bởi sự trung thành của ông ấy với cha cũng như sự thông minh của ông”.

Hãng thông tấn chính thức của Triều Tiên (KCNA) cũng dẫn lời một loạt quan chức và công dân Triều Tiên bày tỏ sự trung thành đối với nhà lãnh đạo mới của họ. Họ miêu tả Kim Jong-un là “một nhà tư tưởng, một nhà lý thuyết xuất sắc đồng thời là một vị chỉ huy kiệt xuất có một không hai”.

Do đó, nhiều chuyên gia nhận định, cuộc chuyển giao quyền lực của ông Kim Jong-un sẽ không gặp nhiều trở lại lớn. Giáo sư Hiraiwa Shunji thuộc khoa Quốc tế của ĐH Kwansei Gakuin bình luận: “Có thể nói rằng, việc chuyển giao quyền lực cho ông Kim Jong-un sẽ diễn ra suôn sẻ trong thời điểm hiện nay. Tôi nghĩ là trước mắt không có khả năng xảy ra cuộc tranh giành quyền lực nào”.

Theo chuyên gia này, giới lãnh đạo và gia đình họ Kim ủng hộ Kim Jong-un lên làm lãnh đạo “và sẽ đoàn kết xung quanh nhân vật này”. Theo đó, chính quyền của nhà lãnh đạo mới Kim Jong-un sẽ được củng cố vững chắc bởi sự hậu thuẫn của bộ máy chính trị mạnh.

Ông Georgy Toloraya, chuyên gia nổi tiếng về nghiên cứu Triều Tiên và là người từng có dịp diện kiến nhà lãnh đạo Kim Jong-il thì nhận xét: “Tôi không nghĩ rằng bây giờ sẽ bắt đầu cuộc đấu tranh vì quyền lực, bởi ban lãnh đạo Triều Tiên đã chuẩn bị tinh thần sẵn sàng cho sự kiện bước ngoặt này”.

Ông nhấn mạnh, tiến trình chuyển giao quyền lực được khởi động từ cách đây một năm. Trong suốt hơn một năm qua, Kim Jong-un có thời gian thu thập kinh nghiệm, xây dựng ảnh hưởng chính trị và tìm cách xóa bỏ những hoài nghi ở trong và ngoài nước về khả năng lãnh đạo đất nước 24 triệu dân của vị chính khách trẻ tuổi này.

Chia sẻ quan điểm này, giáo sư Paik Hak Soon tại Hàn Quốc cho rằng: “Triều Tiên sẽ tiếp tục ổn định với một nhà lãnh đạo mới. Tôi cho rằng sẽ không có sự hỗn loạn hoặc sự tranh giành quyền lực nào. Thời đại Kim Jong-un đã sẵn sàng khởi đầu”.

Mỹ lúng túng

Và theo giới phân tích, thời đại Kim Jong-un với đủ yếu tố đảm bảo sự ổn định này sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng về chính sách ngoại giao tức thì và nghiêm trọng đối với Washington. Trước một nhà lãnh đạo tương lai tài ba cùng bộ máy chính quyền vững chắc của Triều Tiên, tham vọng dùng vũ lực để lật đổ chế độ Bình Nhưỡng vốn ổn định suốt 6 thập kỷ qua của Washington gần như chắc chắn không thể thực hiện.

Victor Cha, cựu cố vấn của Hội đồng an ninh quốc gia và giờ là chuyên gia tại Trung tâm nghiên cứu các vấn đề quốc tế chiến lược nhận định: “Hầu hết chuyên gia Mỹ cho rằng, kế hoạch lật đổ chính quyền Triều Tiên có thể thực hiện dễ dàng nhất khi nhà lãnh đạo Kim Jong-il bất ngờ qua đời. Tuy nhiên, viễn cảnh đó dường như sẽ không thể xảy ra bởi Chủ tịch Kim vừa qua đời lại lập tức nổi lên một Kim Jong-un với thế lực vững mạnh nắm quyền kiểm soát chương trình hạt nhân đầy uy lực của Triều Tiên. Vì vậy, Washington không thể dùng biện pháp quân sự để thay đổi chế độ như vẫn làm tại Afghanistan, Iraq và Libya suốt thập kỷ qua”.
Image
Chính sách của Mỹ đối với Triều Tiên giờ sẽ khó khăn hơn nhiều. Ảnh: Express.

Khi biện pháp vũ lực trở nên vô nghĩa thì chính quyền Obama không còn cách nào khác là phải sử dụng đến công cụ ngoại giao. Tuy nhiên, việc lựa chọn một cách tiếp cận hợp lý với chính quyền mới của Triều Tiên dường như là nhiệm vụ bất khả thi vào lúc này bởi xung quanh nhà lãnh đạo tương lai này vẫn được bao vây bởi một bức màn khá bí ẩn.

Khó ai trả lời chính xác câu hỏi: “Kim Jong-un thực sự là ai?”. Bởi lẽ có quá ít thông tin về người con trai út của nhà họ Kim. Ngay cả điều tưởng như đơn giản nhất – độ tuổi – cũng là một dấu hỏi lớn. Người ta chỉ phỏng đoán vị tướng trẻ nhất thế giới này có thể 27 hoặc 28 tuổi.

“Việc Kim Jong-un lên nắm quyền lãnh đạo chắc chắn sẽ mở ra thời kỳ mới ở đất nước Triều Tiên. Tuy nhiên, người ta vẫn chưa rõ nhà lãnh đạo trẻ này sẽ dẫn dắt đất nước 24 triệu dân này đi theo đường hướng nào và việc dự đoán chính sách của ông trong tương lai ngắn cũng là đủ khó. Không ai có thể đoán Kim Jong-un sẽ sử dụng quyền lực như thế nào ở cương vị mới”, Andray Abrahamian, Giám đốc nhóm phi lợi nhuận về trao đổi giáo dục với Triều Tiên cho biết.

Chia sẻ quan điểm này, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld nhấn mạnh, cái chết của nhà lãnh đạo Kim Jong-il khiến cho chính sách Mỹ rơi vào tình trạng ngày càng mất phương hướng. Từ một nhà lãnh đạo kỳ cựu ít nhiều Mỹ cũng hiểu là thích gây bất ngờ cho phương Tây, Washington giờ đây phải đối mặt với một nhân vật mà họ thậm chí mù tịt thông tin.

Sự mơ hồ của Mỹ thể hiện ngay trong những tuyên bố lập lờ mới đây của Washington sau cái chết của Chủ tịch Kim. Mỹ dường như đang cố gắng xác định xem liệu cái chết của Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-il có ảnh hưởng tới các dấu hiệu đang được cải thiện của mối quan hệ giữa hai cựu thù.

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cho hay, bà hy vọng mối quan hệ giữa Washington và Bình Nhưỡng sẽ được cải thiện sau khi nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-il qua đời.

“Chúng tôi tái khẳng định hy vọng về việc cải thiện mối quan hệ với nhân dân Triều Tiên”, bà Clinton nhấn mạnh.

Trong khi đó, phát ngôn viên Nhà Trắng Jay Carney cũng ra tuyên bố: “Chúng tôi vẫn cam kết đối với sự ổn định của bán đảo Triều Tiên và sự tự do cũng như an ninh của các đồng minh chúng tôi”.

Chưa biết chính sách của nhà lãnh đạo tương lai Triều Tiên sẽ dẫn dắt giới chức Nhà Trắng đi đến đâu nhưng có thể thấy rằng, cái chết của Chủ tịch Kim có thể làm tắt hy vọng vừa mới lóe lên trong giới lãnh đạo Mỹ về việc nối lại đàm phán hạt nhân với Triều Tiên.

Hãng thông tấn Xinhua của Trung Quốc và Bruce Klingner, cựu chuyên gia nghiên cứu về Triều Tiên tại CIA cùng chia sẻ quan điểm rằng, nhà lãnh đạo mới có thể sẽ ưu tiên duy trì ổn định trong nước trong thời gian ít nhất là từ một đến ba năm tới. Khi đó, việc giải quyết vấn đề hạt nhân và các vấn đề liên quan đến đối ngoại càng không được ưu tiên.

Điều đó đồng nghĩa với việc các nỗ lực phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên của chính quyền Obama có thể bị bỏ dở. Đây thực sự là một thất bại lớn bởi chỉ 10 giờ trước khi Bình Nhưỡng công bố về cái chết của Chủ tịch Kim, giới chức Mỹ cho hay đã đạt được thỏa thuận với Triều Tiên, theo đó sẽ chuyển 240.000 tấn lương thực đổi lấy việc Bình Nhưỡng ngừng làm giàu uranium.

“Các cuộc đàm phán hạt nhân rất có thể sẽ bị hoãn lại trong thời gian tang lễ và quá trình chính thức hóa tiến trình chuyển giao quyền lực”, nhà phân tích Bruce Klingner cho hay.

Mặt khác, theo Tướng James Thurman, ngay cả khi hoàn thiện quá trình tiếp nhận quyền lực, ông Kim Jong-un có thể sẽ duy trì sự kiểm soát chặt chẽ đối với quân đội và đẩy mạnh chương trình hạt nhân của nước này giống như cha ông mình.

Nếu thực sự như vậy thì nhà lãnh đạo tương lai của Triều Tiên sẽ không chỉ nói không với bàn đàm phán 6 bên mà còn có thể tiến hành một số hành động cứng rắn bằng sức mạnh quân sự.Dane Chamorro, Giám đốc khu vực của công ty tư vấn rủi ro Control Risk nhận định: “Chúng ta đang bước vào một giai đoạn nguy hiểm trong mối quan hệ Triều Tiên và Mỹ. Bình Nhưỡng có thể sẽ trở nên đối đầu hơn, bởi nhà lãnh đạo mới muốn chứng minh sự trung thành với lý tưởng của cha ông và cũng là để chứng minh giá trị của mình”.

Tuy nhiên, theo giới phân tích, ngay cả khi tiên đoán được những diễn tiến đó nhưng Mỹ và đồng minh cũng không thể hành động, ngoại trừ việc giữ bình tĩnh và kiên nhẫn chờ đợi.

“Chúng ta không còn cách nào khác là phải đợi chờ. Những hành động quân sự phủ đầu không thể đảm bảo gì vào lúc này. Giải pháp tốt nhất hiện giờ là quan sát và chuẩn bị tốt nhất để đảm bảo an ninh cho mình cũng như đồng minh”, chuyên gia Cha nhấn mạnh.

Như vậy, chỉ khi nào giải mã được ẩn số Kim Jong-un và chứng kiến những bước đi tiếp theo của nhà lãnh đạo tương lai Triều Tiên này thì Mỹ mới có thể thoát được tình thế bị động.

Trà My
(tổng hợp)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Quân đội Mỹ “sẵn sàng tham chiến với Iran”

Quan chức quân đội cấp cao nhất của Mỹ đã ám chỉ rằng quân đội nước này sẵn sàng tham gia vào một một cuộc xung đột với Iran,
nếu Tổng thống Barack Obama "bật đèn xanh".

Image
Tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ.
Căng thẳng đã gia tăng trong khu vực sau sự chỉ trích của quốc tế đối với các tham vọng hạt nhân ngày càng gia tăng của Tehran.

Hồi tháng trước, đại sứ Anh tại Iran đã bị trục xuất khỏi nước này sau các vụ tấn công nhằm vào đại sứ quán Anh. Mỹ cũng vướng vào cuộc tranh cãi về một máy bay do thám bị bắn hạ mà Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad đã từ chối trả lại bất chấp đề nghị của Mỹ.

Tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ, cho hay quân đội Mỹ đã đi đến thống nhất rằng họ sẵn sàng sử dụng vũ lực chống lại Iran nếu cần thiết.

Trong một cuộc phỏng vấn với báo chí Mỹ tại Afghanistan, ông Dempsey nói: “Chúng tôi đang xem xét một loại các khả năng. Tôi hài lòng rằng các giải pháp mà chúng tôi đang cân nhắc liên quan tới một khả năng rằng vũ lực sẽ được thực thi nếu cần thiết”.

Tuyên bố của Tướng Dempsey được đưa ra ít ngày sau khi Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Leon Panetta, nói “không loại trừ giải pháp nào” trong việc ngăn chặn Iran phát triển bom nguyên tử.

Tướng Dempsey cho hay ông đã giám sát sự chuẩn bị sau hậu trường cho một cuộc tấn công chống lại Tehran, nhưng nói thêm rằng một cuộc chiến với nước Cộng hoà Hồi giáo sẽ là một “thảm kịch”.

“Lo lắng lớn nhất của tôi là cuộc chiến có thể làm chệch hướng quyết tâm của chúng ta. Bất kỳ sai sót nào có thế đồng nghĩa với việc chúng ta bị kéo vào cuộc xung đột và đó sẽ trở thành thảm kịch cho khu vực và thế giới”, ông nói.

Khi được hỏi liệu quân đội Mỹ có đang thu thập thông thin về Iran thông qua các máy bay do thám, Tướng Dempsey nói rằng sẽ là “thiếu thận trọng” nếu Mỹ không cố gắng tìm hiểu Iran đang làm gì, nhưng không khẳng định họ đã sử dụng các máy bay không người lái.

Ông Dempsey cho biết Mỹ đang phối hợp với Israel trong việc thu thập thông tin tình báo, nhưng tái khẳng định rằng không có gì đảm bảo là Israel sẽ thông báo trước với Mỹ trước khi nước này phát động một cuộc tấn công.

Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Leon Panetta nói hồi tuần này rằng Mỹ đã chuẩn bị hành động để ngăn chặn Tehran hiện thực hoá các tham vọng hạt nhân. Ông nước tính rằng Iran chỉ còn một năm nữa là đạt được mục tiêu.

Nếu Iran sở hữu vũ khí hạt nhân, điều này có thể gây ra một cuộc chạy đua vũ khí nguyên tử tại Trung Đông. Các quan chức tại Ả-rập Xê-út đã nói rằng họ sẽ phát triển vũ khí hạt nhân nếu Iran sở hữu chúng.


An Bình
Theo Telegraph

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Ghi dấu sử xanh hay sử đen?

Ngô Quốc Sĩ
(Nguồn: Ðối Thoại)

“Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”, lời nhắn nhủ của Nguyễn Công Trứ bỗng trở về làm tôi trầm ngâm không ít, khi trong cùng tuần lễ,
nhận được 2 bản tin từ 2 phương trời về cái chết của 2 nhân vật lãnh đạo đã từng được thế giới quan tâm và dư luận chú ý.

Image
Rừng hoa điếu tang trước quan tài của cố Tổng Thống Vaclav Havel bên trong Lâu Ðài Prague Castle ở Prague,
nơi cử hành lễ an táng kịch tác gia và chính khách lỗi lạc của Tiệp. (Hình: Mchal Cizek/AFP/Getty Images)

Ðó là cái chết của cựu Tổng Thống Cộng Hỏa Tiệp Vaclav Havel và cái chết của Chủ Tịch Bắc Triều Tiên Kim Chính Nhật. Hai nhân vật đều để lại những dấu vết khá đậm nét trong lịch sử, nhưng câu hỏi cần đặt ra là sử xanh hay sử đen? Nói khác, ai đáng ghi nhớ tôn vinh, ai đáng nguyền rủa, vùi quên?

Chỉ cần một liếc mắt, người ta có thể ghi nhận ngay những nhân vật lãnh đạo đang chói sáng sử xanh như những ngọn hải đăng, bên cạnh những nhân vật u ám mờ sử đen, như những vết nhơ mãi không rửa sạch. Nói đến những nhân vật chiếu sáng sử xanh thế giới thì người ta thường nhắc tới Napoleon của Pháp, Churchill của Anh, Kennedy của Mỹ hay Giáo Hoàng Gioan Phao Lô II của Vatican. Còn nói tới những vết nhơ trong sử đen thì người đời cũng không thể quên Hitler của Ðức, Staline của Nga, Mao Trạch Ðông của Tàu, cũng như Hồ Chí Minh của Việt Nam.

Ðó là chuyện ngày xưa và cận đại. Còn nhìn vào lịch sử hiện đại, thì ngoài Bin Laden và Gadhafi đã khép lại những trang sử đẫm máu, hai nhân vật mới vừa lìa đời mấy ngày, là Vaclav Havel và Kim Chính Nhật cũng đã để lại những dấu tích khác nhau, trên những trang sử khác màu, làm bài học lịch sử quý giá cho hậu thế.

Trước hết là Vaclav Havel. Ông đã ra đi lúc tròn 75 tuổi đầu. Ai cũng biết ông là một kịch tác gia, với nhân cách cao quý, với lý tưởng dân chủ trong sáng và quyết tâm tranh đấu cho công lý và nhân quyền, chống lại chính sách cai trị độc tài sắt máu của Cộng Sản Tiệp Khắc dưới sự khống chế của Liên Sô. Ông đã cùng với 200 nhà dân chủ khác thành lập nên nhóm Hiến Chương 77, quyết đẩy mạnh công cuộc dân chủ hóa Tiệp Khắc. Ông đã thành công và trở nên vị tổng thống Dân Chủ đầu tiên của Cộng Hòa Tiệp. Ông được thế giới kính nể về tư cách và đạo đức của một nhà trí thức. Ông đã nắm vai trò lãnh đạo Tiệp Khắc trong 2 năm, 1900-1902 và sau khi Tiệp Khắc tách ra làm hai, Cộng Hòa Tiệp và Slovakia, ông tiếp tục giữ chức vụ Tổng Thống Cộng Hòa Tiệp 2 nhiệm kỳ, từ 1993-2003. Có thể so sánh Vaclav Havel với Yeltsin của Nga và Walesa của Ba Lan, tuy Havel nắm vai trò lãnh đạo lâu hơn, nhưng Havel cũng như Yeltsin và Walesa, không phải là những nhà chính trị chuyên nghiệp, mà chỉ là những người của thời cuộc, những nhà cách mạng cần thiết cho một giai đoạn lịch sử. Có thể nói, những nhân vật này đã làm tròn sứ mệnh được giao phó và đáng được lịch sử tôn vinh.

Bước qua Bắc Triều Tiên, Kim Chính Nhật lìa đời lúc mới 69 quả là còn quá trẻ, làm thế giới ngạc nhiên không ít. Ngạc nhiên thì nhiều, nhưng tiếc thương thì không có mấy, so với Vaclav Havel của Tiệp. Ðiều đó cũng dễ hiểu, vì Kim Chính Nhật qua 17 năm cầm quyền, nối ngôi cha là Kim Nhật Thành, người sáng lập ra chế độ cộng sản tại Bắc Triều Tiên, đã xuất hiện như một nhà độc tài sắt máu, với thái độ ngoan cố và hiếu chiến, làm thế giới điên đầu không ít. Họ Kim đã thẳng tay đàn áp dân chủ, cướp đoạt tự do và chà đạp nhân quyền. Trong đời sống cá nhân thì thích điện ảnh Hollywood và rượu Hennessy, nhưng trong đời sống chính trị lại là cái gai nhọn tại Ðông Nam Á, đe dọa các nước láng giềng bằng nguyên tử, dựa thế Nga và Trung Quốc đối đầu với Hoa Kỳ và các nước Tây phương. Theo báo cáo của tổ chức Human Rights Watch, năm 2004, họ Kim đã bỏ tù trên 2,000 người bất đồng chính kiến. Nhất là trong lúc người dân Bắc Triều Tiên đói rách, thiếu dinh dưỡng và ý tế, thì họ Kim vẫn khăng khăng từ chối hợp tác với quốc tế để cứu nguy dân tộc, mà chỉ biết chuẩn bị chiến tranh, phát triển vũ khí hạt nhân nhằm hù dọa thế giới... Báo chí thế giới đã gọi ông là vị “lãnh tụ không biết sợ hãi là gì” (Fearless Leader).

Hai nhân vật, từ hai phương trời đã rủ nhau ra đi, nhưng mỗi người một hướng. Người bước vào sử xanh, để lại nhiều tiếc thương và ngưỡng mộ. Người bước vào sử đen, để lại những vết hằn khó quên. Ðó hẳn là bài học quý giá cho tất cả những ai đang ở vị trí lãnh đạo đất nước, tiêu biểu như những tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Hồ Cẩm Ðào và Tập Cẩm Bình của Trung Quốc, Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam, cũng như nhà độc tài sắt máu Mahmoud Ahmadinejad của Iran. Hẳn nhiên, nào có ai muốn bị nguyền rủa như Kim Chính Nhật, hay hơn nữa như Bin Laden, Gadhafi, Milosovich, nhưng trên thực tế, tham vọng quyền lực và đặc quyền đặc lợi lắm lúc làm lu mờ lương tri và lý trí con người, đẩy họ vào chỗ cuồng tín và mù quáng, phản bội dân tộc, phản bội con người.

Tóm lại, trước cái chết của hai nhân vật lịch sử nói trên, chúng ta cần nhìn vào hiện tại và nhìn lại quá khứ bằng cái nhìn triết lý, phân biệt sử ký với lịch sử. Sử ký chỉ ghi lại những biến cố chết. Hãy để sử ký chôn vùi những sự kiện xấu xa tàn ác, như những lò sát sanh thời Ðức Quốc Xã, những trại khổ sai chung thân thời Staline, cuộc cách mạng văn hóa thời Mao Trạch Ðông, hay cuộc cải cách ruộng đất thời Hồ Chí Minh, kể cả cái gai nhọn Kim Chính Nhật. Nhưng phải để lịch sử ghi khắc những công trình và những tim óc phục vụ con người, canh tân xã hội của những bậc vĩ nhân thời đại như Giáo Hoàng Gioan Phao Lô II, Tổng Thống Reagan, kể cả Vaclav Havel. Ðó là kinh nghiệm sống. Ðó là bài học quý giá ngàn đời.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Đêm Ánh Sáng
DGM Ngo Quang Kiet


Đêm Giáng Sinh chìm trong lớp lớp bóng tối dày đặc.

Bóng tối tự nhiên của một đêm mùa đông ảm đạm. Bóng tối cay đắng của đêm dài nô lệ khi đất nước chìm trong ách thống trị ngoại bang. Bóng tối âm thầm nhẫn nhục của những kiếp người nghèo hèn lam lũ. Bóng tối âm u trong túp lều lúc nhúc súc vật hôi tanh. Bóng tối u mê của tội lỗi nhơ nhớp.

Giữa màn đêm dày đặc, Hài nhi Giêsu xuất hiện như một làn ánh sáng rực rỡ.

Đó là ánh sáng tình yêu.

Tình yêu vốn là một ngọn lửa vừa chiếu sáng vừa sưởi ấm. Hài nhi Giêsu là kết tinh tình yêu của Thiên chúa dành cho nhân loại. Tình yêu đã đi đến tận cùng vì đã trao ban cho nhân loại món quà cao quí nhất không gì có thể so sánh được. Trao ban Đức Giêsu là cho tất cả, không còn có thể cho thêm gì nữa. Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên chúa đi tìm con người. Thiên chúa đã hạ mình thẳm sâu để xuống gặp con người. Thiên chúa đã tìm thấy con người trong những khốn cùng tột độ của nó. Thật lạ lùng, Thiên chúa quá yêu thương đến độ kết hợp với sự khốn cùng của nhân loại. Thiên chúa đã cưới lấy bản tính nhân loại. Bóng đêm nhân loại nhận được ánh sáng của Thiên chúa. Bóng đêm khổ đau nhận được ánh sáng yêu thương. Anh sáng Thiên chúa soi sáng kiếp người tăm tối. Ánh sáng Thiên chúa sưởi ấm cho nhân loại lạnh lẽo.

Đó là ánh sáng niềm tin.

Ánh sáng Giáng Sinh chiếu toả trên những tâm hồn thiện chí. Đêm nhân gian vẫn còn mê đắm. Nhưng vẫn có những tâm hồn thiện chí tỉnh thức. Đó là những tâm hồn bé nhỏ nghèo hèn. Đó là những cuộc đời khiêm tốn sống âm thầm trong bóng tối. Đó là những người nghèo của Thiên chúa. Đó là thánh Giuse, Đức Maria. Đó là Ba Vua. Đó là các mục đồng. Khiêm nhường nên các ngài sẵn sàng đón nhận thánh ý Thiên chúa. Tỉnh thức nên các ngài nhạy bén đón nhận những dấu chỉ Thiên chúa gửi đến. Thiện chí nên các ngài hăng hái lên đường ngay khi nhận được tín hiệu. Đơn sơ nên các ngài nhận được ánh sáng. Hê rô đê và Giêrusalem chìm trong mê đắm nên ngôi sao đã tắt. Trái lại "vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh các mục đồng". Và ngôi sao xuất hiện dẫn đường cho Ba Vua. Anh sáng đã bao phủ các ngài. Anh sáng đã dẫn đưa các ngài đến bên máng cỏ. Anh sáng đã khiến các ngài nhìn thấy "một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ" và các ngài đã tin.

Đó là ánh sáng hy vọng.

Hài nhi Giêsu là hạt giống bé bỏng Thiên Chúa gieo vào thế giới. Những tâm hồn thiện chí là mảnh đất phì nhiêu. Những người nghèo của Thiên chúa âm thầm kiên trì chờ đợi. Những tâm hồn thiện chí như Ba Vua ngước mắt lên trời tìm kiếm. Niềm khao khát đã được đáp ứng. Đã đến mùa Thiên chúa gieo hạt. Hạt mầm thần linh gieo vào xác phàm sẽ thần hoá cả nhân loại. Hạt giống Giêsu sẽ triển nở thành cây cao bóng cả cho muôn loài trú ngụ. Mặt trời bé nhỏ Giêsu sẽ trở thành mặt trời chính ngọ soi chiếu đêm tối nhân gian. Anh bình minh Giêsu hứa hẹn một ngày mới chan hoà ánh sáng. Với Hài nhi Giêsu, một thời đại mới khởi đầu: những người bé nhỏ được nâng lên, những người nghèo hèn được kính trọng. Giêsu chính là hạt mầm hy vọng Thiên chúa gieo vào thế giới.

Đó là ánh sáng Tin Mừng.

Được thắp lửa, những tâm hồn thiện chí trở thành những ngọn đuốc, không chỉ sáng lên niềm vui, niềm tin, niềm hy vọng, mà còn chia sẻ ánh sáng với những người chung quanh. "Họ kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này". Tin Mừng được loan đi. Niềm vui lan tới mọi tâm hồn. Ánh sáng bừng lên phá tan đêm tối.

Hài nhi Giêsu như mầm cây vừa nhú. Mầm cây cần bàn tay ân cần chăm bón để vươn thành cổ thụ cành lá xum xuê. Hài nhi Giêsu như ngọn nến đem ánh sáng vào đêm tối. Ngọn nến cần được nhiều bàn tay liên đới chuyền nhau cho ánh sáng lan rộng.

Xin cho con được trái tim của các mục đồng biết mở lòng ra đón nhận ánh sáng và biết đem ánh sáng của Chúa đi khắp nơi, để đêm tối trần gian được ngập tràn ánh sáng huy hoàng của Chúa.

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Image

Bộ phim tài liệu Sự Thật Về
Địa Ngục Trần Gian Ở Bắc Hàn (5 tập)


Inside Undercover In North Korea
Lưu ý: Bấm nút CC bên dưới màn hình video để xem phụ đề.

PhầnI

;

Phần2

;

Phần3

;

Phần4



Phần5

;

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Đánh Trống Bỏ Dùi
Nguyễn Xuân Nghĩa


Vào dịp cuối năm, hãy đếm lại mấy cái dùi trống của Hoa Kỳ

Cứ đến cuối năm, truyền thông báo chí Mỹ thường bình chọn biến cố đáng chú ý nhất, hoặc có ảnh hưởng nhất trong năm.

Cột báo này xin đi ngược truyền thống dễ dãi ấy mà chọn một hồ sơ bị lãng quên nhất trong năm - dù có thể ảnh hưởng đến thời sự năm tới. Cũng là một cách kiểm chứng lại khả năng nhận xét của chúng ta, thay vì thụ động tiếp nhận thông tin đôi khi hời hợt, rồi sau cùng lại như dân Mỹ, hốt hoảng la trời khầu hiệu OGM - "O My God"!

Hồ sơ bị lãng quên ở đây là Cộng hoà Tiệp - Czech Republic.

Nếu không có vụ cựu Tổng thống Vaclav Havel tạ thế vào cuối năm, người ta quên hẳn nhân vật vĩ đại này của thế giới. Và thật ra nhiều người Mỹ còn chẳng biết là Tiệp Khắc đã tự chia đôi từ năm 1993 thành Cộng hoà Tiệp và Slovakia. Lời phán xét này không vu hồ. Năm qua, một nữ Dân biểu Dân Chủ tại California còn hồn nhiên phát biểu rằng bà rất hài lòng khi thấy hai miền Nam Bắc của Việt Nam đã vui vẻ sống chung, dù miền Bắc vẫn còn chế độ Cộng sản và miền Nam tự do là đồng minh của Mỹ.

Dân biểu Maxine Waters có khi đã quên mất biến cố 1975 và được dân chúng khu vực Los Angeles bầu lên để giải quyết những vấn đề kinh tế hay xã hội của họ dù bà ta có thể có những quyết định tầy trời cho các xứ khác mà không biết - và khỏi cần biết.

"Vô phúc cho xứ nào cứ nhắm mắt trông chờ vào Hoa Kỳ mà không tự lo lấy thân"! Lãnh đạo Cộng hoà Tiệp có thể đã nghĩ như vậy - mà dân Mỹ cũng khỏi cần biết.

Họ khỏi cần biết rằng đầu tháng 12 vừa qua, Tổng thống Dmitri Medvedev của Liên bang Nga đã cầm đầu một phái đoàn hùng hậu qua thăm xứ Tiệp trong hai ngày mùng tám mùng chín. Phái đoàn Nga tới thủ đô Praha hâm nóng quan hệ giữa hai nước qua ba dự án: 1) xây dựng hỏa xa cao tốc cho Tiệp để nối liền nước Nga với Đông Âu, 2) phát triển hệ thống trực thăng hỗn hợp giữa hai nước và, quan trọng nhất, 3) dự án xây lò nguyên tử trị giá 25 tỷ tại Temelin.

Hồ sơ có vẻ kinh tế đó tất nhiên dễ bị lãng quên nếu người ta không nhìn thấy nhu cầu hâm nóng quan hệ giữa hai nước. Và một hồ sơ tầy trời khác.

Từ đã lâu, Hoa Kỳ vận động việc đón nhận Cộng hoà Georgia và Ukraine vào Minh ước NATO, sau khi các nước này chuyển hóa sang chế độ dân chủ và muồn hội nhập vào Âu châu. Khi ấy, cả nước Mỹ đều nói đến cách mạng dân chủ muôn màu tại các quốc gia từng nằm trong quỹ đạo Liên Xô, như Serbia, Georgia, Ukraine, Kyrgyzstan....

Năm 2008, Chính quyền George W. Bush còn đề xướng kế hoạch phòng thủ chiến lược BMD tại Ba Lan và Cộng hoà Tiệp, hai thành viên mới của NATO. Đó là lá chắn chiến lược chống hỏa tiễn đạn đạo, với lý do chính thức là đón bắt hỏa tiễn có thể bắn từ Iran. Lý do thực tế, nhìn từ Moscow, là để ngăn sự bành trướng của Nga vào khu vực quỹ đạo truyền thống của Liên Xô.

Chúng ta không quên là ngày tám Tháng Tám năm đó, Liên bang Nga đã đưa quân vào Georgia. Sau đấy còn khuynh đảo nội tình Ukraine là nơi mà một số dân chúng miền Đông vẫn thiên về nước Nga, còn hai lãnh tụ thân Tây phương, tác giả của cuộc cách mạng dân chủ màu da cam, thì chia rẽ và tạo cơ hội cho lãnh tụ thân Nga thắng thế, đương kim Tổng thống Viktor Yanukovych.

Ngược với dư luận của nhiều người trong nước, hai Chính quyền Ba Lan và Tiệp đều ủng hộ kế hoạch BMD không phải nhờ lá chắn chiến lược mà vì lời cam kết - và sự hiện diện của binh lính Mỹ tại một trạm radar và một hệ thống hỏa tiễn do Hoa Kỳ thiết trí. Họ đã có kinh nghiệm xương máu với nước Nga ở quá gần!

Nhưng họ thiếu kinh nghiệm với Hoa Kỳ.

Sau khi nhậm chức, Tổng thống Barack Obama hủy bỏ lời cam kết đó và quăng dự án BMD vào bàn thương thuyết với Nga. Mục tiêu là để cải tiến quan hệ với Moscow hầu giải quyết hai ưu tiên của Mỹ: chiến trường Afghanistan và sự hung hăng của Iran.

Xin đọc lại đoạn trên: kế hoạch BMD có lý do chính thức là phát giác và đón bắt hỏa tiễn Iran có thể bắn vào Âu châu mà thực tế là để ngăn ngừa ám khí của Nga. Bây giờ, Chính quyền Obama trông cậy vào Nga để can gián Iran và giúp Mỹ có đường tiếp vận cho chiến trường Afghanistan và hy sinh luôn việc phòng thủ hai đồng minh Âu châu là Ba Lan và Tiệp.

Ba năm sau, là ngày nay, Liên bang Nga tiếp tục nhấn tới. Nga sẽ thiết trí hỏa tiễn chiến lược ngay tại Kaliningrad, giáp giới với Ba Lan, ngay dưới nách Cộng hoà Lithuania. Y như Trung Quốc, đến tận cùng, Nga vẫn bên vực Iran và cả Syria. Moscow còn nhá ra hơn 500 tỷ Mỹ kim dự trữ ngoại tệ để "cấp cứu" Âu châu trong khủng hoảng, nhân tiện ly gián quan hệ chiến lược giữa Hoa Kỳ và Âu Châu.

Trong bối cảnh đó, kế hoạch BMD coi như chấm dứt và Cộng hoà Tiệp phải cải thiện quan hệ với Nga. Biến cố ấy đáng quan tâm hơn chúng ta nghĩ vì phản ảnh nhiều chuyện khác.

Liên hiệp Âu châu có thể tan rã, hoặc ít nhất tê liệt trong nhiều năm với các ngân hàng bị sụp đổ và đồng Euro thành đồng sứt. Khi Ba Lan, nạn nhân của cả hai cường quốc lân bang là Nga lẫn Đức, mà còn yêu cầu Đức phải có thế mạnh hơn để cứu lấy Âu châu - chuyện xảy ra cuối năm sau 17 thượng đỉnh Âu châu - ta biết rằng có gì đó rất đảo điên đã xảy ra tại Âu châu.

Trước đó, khi ông Vaclav Havel phải lên tiếng báo động về việc Hoa Kỳ có thể lại hy sinh đồng minh trong việc đổi chác với Liên bang Nga, ta thấy ra chuyện bất trắc của cả một khu vực bản lề của Âu châu. Nhưng ngần ấy chuyện lạ không để lại một ánh chớp trên truyền hình Mỹ.

Người dân xứ này lo chuyện kinh tế và thất nghiệp, lãnh đạo thì chỉ thấy một ưu tiên là cuộc bầu cử và Quốc hội đánh nhau suốt năm mà chưa giải quyết được bài toán bội chi hay kích thích sản xuất, tăng hay giảm thuế!

Chuyện Cộng hoà Tiệp là hồ sơ bị lãng quên trong năm phản ảnh một điều kinh hoàng hơn vậy: truyền thống đánh trống bỏ dùi của nước Mỹ!

***

Ngày 11 Tháng Chín năm 1990, Tổng thống George H. W. Bush (ông Bush cha, Bush 41) dõng dạc tuyên bố trước Quốc hội sự hình thành của một "Trật tự Toàn cầu mới". Khi đó, Liên Xô đang trên đà tan rã, từ Iraq lãnh tụ Saddam Hussein vừa mở cuộc tấn công xứ Kuweit và lực lượng Taliban đã thành hình tại Afghanistan.

Giấc mơ "Trật tự Toàn cầu" - New World Order - của lãnh đạo Mỹ, hoặc chuyện "Lịch sử Cáo chung" của trí thức Hoa Kỳ (học giả Francis Fukuyama) là một hài kịch.

Nó chấm dứt ngày 11 Tháng Chín năm 2001, dưới thời Bush 43 với vụ khủng bố 9-11, và nó tan tành vào Tháng Tám năm 2008, khi Georgia ngang nghiên bị tấn công mà không ai nhúc nhích. Sau đó, Hoa Kỳ thời Obama lại còn nuôi giấc mơ khác, là cải thiện quan hệ với Liên bang Nga để giải quyết chuyện của mình, dù có phải hy sinh lời cam kết với các đồng minh.

Kết quả?

Hoa Kỳ rút khỏi Iraq tám năm sau khi xấn xổ bước vào đào xới lung tung. Ứng cử viên Obama có thêm đóa hoa trên bàn thờ tranh cử. Nhưng, chỉ vài ngày sau khi lá cờ Mỹ được đưa ra khỏi thủ đô Baghdad, xứ này có loạn! Phe Shia và Iran ở phía sau thừa thắng xông lên, làm cho hai nhóm thiểu số là dân Sunni và Kurd đều tuyệt vọng. Kẻ có võ khí mà tuyệt vọng thì bạo động sẽ xảy ra, và thường dân lại chết oan. Hôm 22 vừa qua, Baghdad lại bị đáng bom làm 72 người thiệt mạng.

Kết quả?

Một chuỗi quốc gia Đông Âu và Trung Âu được 20 năm tràn trề hy vọng hội nhập vào Âu châu để tìm sự thịnh vương và nương tựa vào Hoa Kỳ để được bảo vệ. Hy vọng đó tan loãng với vụ khủng hoảng Âu châu và lời hứa bảo vệ của Mỹ chỉ có giá trị cho một mùa tranh cử. Xứ Tiệp Khắc từng bị Đức quốc xã tấn công năm 1939, rồi bị Liên Xô thống trị từ sau Thế chiến II cho đến khi tan rã. Triển vọng hòa bình và thịnh vượng của các quốc gia này kéo dài được hai chục năm và nay họ đang nói chuyện phải quấy với một chế độ thực chất là hung đồ đã kê súng vào đầu họ.

Vì Hoa Kỳ đang bận chuyện khác!

Mười năm trước, cả thế giới nói đến cách mạng dân chủ muôn màu. Làn sóng cách mạng đó đã bị đẩy lui. Suốt năm nay, người ta cũng ngợi ca mùa Xuân Á Rập và làn sóng dân chủ trong thế giới Hồi giáo. Với một đống dùi trống ngổn ngang trong một năm tranh cử tại Hoa Kỳ, người ta nên hoài nghi khả năng hay ý chí thúc đẩy của nước Mỹ. Những gì đang xảy ra tại Egypt và Libya - chưa nói đến Syria hay Iran - khiến ta chẳng nên lạc quan, dù là vào một đầu năm mới.

Dân chủ hay không là chuyện của người dân ở tại chỗ, chứ không thuộc trách nhiệm của lãnh đạo hay cử tri Mỹ.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

10 người quyền lực nhất Triều Tiên

Giới truyền thông chính thưc của Triều Tiên tuyên bố đại tướng Kim Jong-un là lãnh đạo đất nước. Nhưng bên cạnh "người kế nhiệm vĩ đại"
còn có nhiều gương mặt đầy quyền lực khác mà thế giới ít biết đến.

Image
Đại tướng Kim Jong-un. Ảnh: AFP
Kim Jong-Un, 29 tuổi, con trai út của Chủ tịch Kim Jong-il, là đại tướng kiêm phó chủ tịch Quân ủy đảng Lao động. Truyền thông quốc gia Triều Tiên ca ngợi Jong-un là "người kế tục vĩ đại" và kêu gọi người dân đi theo sự lãnh đạo của đại tướng trẻ.

Ông Jang Song-Thaek, 65 tuổi, là chồng của em gái Chủ tịch Kim, bà Kim Kyong-Hui. Ông Jang từng rút lui khỏi chính quyền năm 2004 vì những cáo buộc bè phái nhưng sau đó trở lại vào năm 2007. Ông mở rộng tầm ảnh hưởng từ khi trở thành phó chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Quốc gia (NDC) hồi năm ngoái và được mô tả là cánh tay phải của "nhà lãnh đạo kính mến" Kim Jong-il.

Bà Kim Kyong-Hui, 65 tuổi, em gái duy nhất của chủ tịch Kim, đã nắm giữ quyền lực trong suốt gần 40 năm qua và hiện là người đứng đầu Bộ Công nghiệp nhẹ. Hồi tháng 9/2010, bà cũng được phong hàm tướng bốn sao và là một ủy viên Bộ Chính trị. Động thái này nhằm mục đích tạo thêm sự ủng hộ từ phía gia đình cho Kim Jong-un.

Ông Ri Yong-Ho, 69 tuổi, là một nhà lãnh đạo quân sự rất được cố chủ tịch Kim Jong-il tín nhiệm. Phó nguyên soái Ri thường xuyên đồng hành cùng ông Kim và Kim Jong-un trong các chuyến thị sát. Ông Ri được bổ nhiệm tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang vào năm ngoái sau thời gian dẫn dắt một quân đoàn chủ chốt có nhiệm vụ bảo vệ Bình Nhưỡng. Cùng với Jong-un, ông là phó chủ tịch thứ hai của Quân ủy Trung ương đảng Lao động.

Ông Kim Yong-Chun, 75 tuổi, phục vụ trong quân đội Triều Tiên từ năm 1956 và hiện là Bộ trưởng Các lực lượng vũ trang kiêm phó chủ tịch NDC. Một số nguồn tin cho hay tầm ảnh hưởng của ông Yong-Chun với đại tướng Jong-un ít hơn so với thời làm việc cho Chủ tịch Kim. Đại tướng Jong-un được cho là ưu ái ông Ri Yong-Ho hơn.

Ông O Kuk-Ryol, 80 tuổi, cũng là phó chủ tịch của NDC. Ngoài ra ông còn là thành viên ủy ban trung ương đảng và là nhân vật rất có quyền thế trong cơ quan tình báo Triều Tiên.

Ông Kim Yong-Nam, 83 tuổi, là lãnh đạo quốc hội Nhân dân Tối cao Triều Tiên. Ông được xem là người đứng đầu nhà nước về mặt nghi thức và giành được sự ủng hộ rộng rãi trong quốc hội. Kinh nghiệm đối ngoại của ông sẽ là giải pháp để trấn an quốc tế về quá trình chuyển đổi chính quyền của Triều Tiên.

Ông Choe Yong-Rim, 85 tuổi, là cựu bí thư thành ủy Bình Nhưỡng. Ông Choe trở thành thủ tướng Triều Tiên vào tháng 6 năm ngoái và được cho là có quan hệ thân cận với Kim Jong-un. Là con trai của cựu chiến binh từng chiến đầu chống Nhật Bản dưới thời Kim Nhật Thành, ông Choe hoàn toàn giành được sự tín nhiệm từ Chủ tịch Kim Jong-il. Kinh nghiệm chính trường của ông cũng sẽ góp phần quan trọng trong thành công của việc chuyển giao quyền lãnh đạo.

Kim Yong-Il phụ trách Ban đối ngoại đảng Lao động, cơ quan đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp với đảng Cộng sản Trung Quốc.

Người cuối cùng trong mười lãnh đạo chủ chốt của Triều Tiên là Ri Myong-Su. Ông Ri là Bộ trưởng Công an và tướng lĩnh chỉ huy các hoạt động của hải quân, không quân và bộ binh. Ông là người có thâm niên kinh nghiệm trong việc đối phó với những mối đe dọa từ cả trong và ngoài nước.

Anh Ngọc

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Luyến tiếc và quên đi

Lê Phan
Vào lúc mà đáng lẽ chúng ta phải viết cho nhau những lời chúc tụng cho một mùa Giáng Sinh an lành, bình an dưới thế, sau một năm đầy biến động, và cầu mong năm mới sẽ tốt đẹp hơn thì đã có tin về sự qua đời của hai nhân vật.

Nếu trong cái thế giới hỗn loạn của chúng ta ngày nay có ai có thể được coi như là một tiêu biểu của cái thiện thì hẳn người đó có lẽ là ông Vaclav Havel, cựu tổng thống Cộng Hòa Czech. Và ngược lại, nếu ai có thể được coi như là tiêu biểu cho cái ác thì trong số ứng viên giới hạn còn lại trong hàng lãnh đạo thế giới hẳn phải có ông Kim Jong-il. Ấy vậy mà họ lại cùng qua đời chỉ cách nhau có một ngày.

Không những họ là tiêu biểu của hai sự đối nghịch, họ cũng là hai con người hoàn toàn ngược nhau. Cùng nhỏ con, ông Havel chưa bao giờ để cho dáng vóc của mình tạo cho một mặc cảm. Có lẽ đối với ông tầm vóc con người chẳng có gì là quan trọng cả. Ông Kim Jong-il của Bắc Hàn thì khác hẳn. Luôn bị mặc cảm vì thiếu chiều cao, ông đi giày cao gót, để mái tóc bồng bềnh mong sao cho thấy mình cao hơn là tầm vóc thật. Ðối với ông Kim, có lẽ dáng vóc của ông đã làm ông mang một thứ mặc cảm Napoleon, một thứ mặc cảm tự ty của những người thiếu chiều cao.

Họ còn khác nhau như nước với lửa ở nhiều khía cạnh. Ông Havel, một nhà văn, một nhà tư tưởng, không màng bao nhiêu đến cuộc sống vật chất trong khi ông Kim coi hưởng thụ, nhất là hưởng thụ vật chất là cái thú ở đời. Chả thế mà trong thời đầu thập niên 1990 khi chưa có lệnh cấm vận và ông Kim được tự do mua rượu, ông đã là khách hàng ngon lành nhất của công ty Hennessy, mỗi năm tiêu tốn khoảng từ 600,000 đến 850,000 đô la để mua rượu. Nghe đâu ông thích nhất là loại cognac Paradis, giá bán trung bình chỉ sơ sơ cỡ 700 đô la một chai, trong khi lợi tức đầu người của người dân của ông chỉ có 1,000 đô la một năm.

Ông Kim là người để chúng ta nói chuyện đùa cho vui. Tôi còn nhớ trang bìa của tờ The Economist về chuyến viếng thăm thượng đỉnh chưa từng có giữa lãnh tụ Nam Hàn, Tổng Thống Kim Dae-jung, và ông Kim Jong-il, đã có hình ông và một hàng tít “Hello Earthling”. Quả là đúng thế, con người của ông xa lạ như là một người hành tinh chứ không phải một con người của địa cầu này. Huyền thoại của Bắc Hàn, thần thánh hóa ông, lại càng chỉ làm cho thêm nực cười.

Dĩ nhiên điều đó không có nghĩa là chúng ta nên coi thường ông. Một nhà ngoại giao đã làm việc ở Bắc Hàn đã chỉ ra là ở một phương diện nào đó, hành vi của ông rất khôn ngoan và đầy tính toán. Ông sợ bị Hoa Kỳ và đồng minh xâm lăng, ông sợ miền Nam mà ông biết ngày càng hùng mạnh hơn miền Bắc nghèo đói của ông mặc dầu ông có một quân đội gấp đôi gấp ba lần họ. Và do đó ông đã chọn con đường mà ông cho là tốt đẹp nhất để bảo đảm không bị tấn công. Ông bỏ hết cố gắng để tạo dựng cho Bắc Hàn một chương trình để làm sao đạt được khả năng vũ khí hạt nhân càng sớm càng tốt. Với lá bài đó, ông đã tạo cho mình một thế đứng khá vững chãi. Thế giới có thể bỏ đói dân ông nhưng không dám đụng đến ông.

Không mấy ai được đến gần ông để có thể biết con người ông như thế nào nhưng bản lãnh của ông trong việc chế ngự được hành lãnh đạo đảng cũng như hàng tướng lãnh chứng tỏ ông là một đối thủ đáng sợ.

Nói tóm lại, ông không phải là một người tử tế mà chúng ta muốn làm bạn.

Ngược lại, ông Havel là một người thật đáng mến. Tờ Financial Times, hồi năm 2008 đã gửi một phóng viên đến để phỏng vấn ông. Phóng viên Stefan Wagstyl viết “Luôn là một người nhẹ nhàng, ông rụt rè đi vào như thể, ngay trong chính văn phòng của mình, ông cảm thấy không chắc chắc về khung cảnh xung quanh. Nhiều năm nổi tiếng là nhà văn bất phục, nhà cách mạng chống cộng và tổng thống của cả Tiệp Khắc lẫn Cộng Hòa Czech, cũng không lột được từ vị vua triết gia (philosopher-king) bản chất khiêm nhường tự nhiên. Sự chào đón của ông nồng nhiệt nhưng hơi ngần ngại. Giọng nói của ông, khào khào sau nhiều thập niên hút thuốc... đã nhỏ nhẹ đến nỗi thật khó tưởng tưởng là ông đã đọc nhiều trăm bài diễn văn. Nhưng khi câu chuyện bắt đầu ông như sống lại. Có vẻ như bộ óc bên trong cái thân thể yếu đuối này lớn hơn là cái khung chứa đựng nó. Ông chăm chú nghe, ngừng lại trước khi nói và cấu tạo câu trả lời thật cẩn thận, cộng với thỉnh thoảng thoáng hiện sự châm chọc đã làm ông nổi tiếng là một nhà viết kịch.”

Hơn tất cả mọi sự cái khác biệt giữa Havel và Kim là giữa một nhà giải phóng và một kẻ độc tài.

Trong tập tiểu luận nổi tiếng “Quyền hành của những kẻ không có quyền”, ông Havel đã đặt vấn đề quanh hành động của một ông bán rau và tấm khẩu hiệu mà ông ta dán lên cửa kiếng tiệm rau của mình. Ðó là khẩu hiệu “Công nhân của thế giới hãy đoàn kết lại”. Ông Havel đã đặt câu hỏi là liệu người công nhân này có hiểu hay nghĩ gì về khẩu hiệu đó không? Và ông lý luận là ý nghĩa thực sự của cái khẩu hiệu đó không phải là chính nó. Mục đích của ông bán rau khi dán khẩu hiệu đó lên cửa kiếng là để tuân thủ, và tránh vấn đề. Ông Havel đã diễn dịch khẩu hiệu đó là “Tôi sợ và do đó tuân lệnh tuyệt đối.”

Ðiều đáng nói là chính những người Bắc Hàn đang khóc lóc cho ông Kim cũng đang nói lên điều đó. Người dân Bắc Hàn khóc vì tập quán khi dự tang lễ phải khóc. Nhưng họ cũng khóc vì cũng như ông bán rau, họ không dám không khóc. Họ sợ thành ra họ khóc.

Nhưng Havel tin là nếu khẩu hiệu được đưa ra không mập mờ như khẩu hiệu trên mà rõ ràng hơn, chẳng hạn “Tôi sợ thành ra tôi trung thành không đặt điều kiện” thì ông ta sẽ không thể không suy nghĩ về việc dán nó lên cửa kiếng. Ông ta sẽ cảm thấy hổ thẹn và khó chịu phải đưa ra một công bố rõ ràng về sự hèn nhát của mình như vậy trên cửa kiếng, và “thật tự nhiên, vì ông ta là một con người, và do đó có một ý thức về tư cách của chính mình”.

Theo Havel, nếu không được cho phép tỏ sự hèn nhát của mình qua một khẩu hiệu vô thưởng vô phạt mà bị ép phải chứng tỏ sự hèn nhát đó qua một khẩu hiệu rõ ràng hơn, ông bán rau có thể sẽ nổi cơn phản loạn. Ông ta có thể ngưng dán khẩu hiệu lên kiếng, ông ta có thể ngưng tham gia các cuộc họp tập chính trị. Và “Qua cuộc nổi loạn ông bán rau đã bước ra khỏi tình trạng sống trong sự giả dối. Ông bác bỏ nghi thức và phá luật chơi. Ông khám phá lại lần nữa bản chất và tư cách đã bị đè nén của mình.”

Hành động của ông, ngay cả nếu bị đàn áp, cũng sẽ làm lung lay chế độ bởi ông đã không chịu sống trong giả dối. “Ông đã bảo hoàng đế trần truồng. Và vì hoàng đế thực sự trần truồng, một cái gì vô cùng nguy hiểm đã xảy ra: Qua hành động của mình, ông đã tuyên ngôn với thế giới. Ông đã cho tất cả mọi người nhìn sau bức màn.” Và theo Havel, sống trong sự thật đã từ chối chế độ cộng sản chính nghĩa của họ và sau cùng quyền lực của họ.

Thành ra thế giới sẽ mãi luyến tiếc sự mất mát khi Vaclav Havel qua đời, trong khi thế giới chỉ sợ cái chết của ông Kim Jong-il vì nó có thể dẫn đến một cái gì đó còn tệ hơn ông ta nữa.

Post Reply