Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!
Thúy Đã Đi Rồi (Y Vân)
Bài sưu tầm thú vị làm tôi nhớ lại có người bảo rằng đó là thú đau thương ? thú đau thương có phaỉ là lúc niềm đau lắng vào đáy tim traò dâng khoé mắt khô không lệ, làm sao trả lại hồn nhiên,how to undo my love ? biết làm sao cho nhớ thương nguôi.. làm sao xoá đi hình bóng ấy, trong tim,trong suốt cuộc đời.... ? Tài tử NguyễnLong hồi đó có biệt danh là LongĐất nay đã ngồi xe lăn xa vợ con và rất vắng bạn bè có thêm caí tên là LongDơ có phải là tại Thuý đã đi rồi..khóc cười đời phù du..ht Thúy đã đi rồi
Trong gia tài sáng tác khá đồ sộ của nhạc sĩ Y Vân, có một bản nhạc đặc biệt: Thúy đã đi rồi... Bản nhạc này rất thịnh hành vào thập niên 60 thế kỷ trước. Tuy nhiên, đằng sau bản nhạc là một bí mật ít người biết tới.
Nghệ sĩ vốn đa tình, cho nên chuyện trăng hoa, ong bướm âu cũng là nghiệp chướng. Nhưng trường hợp của nhạc sĩ Y Vân lại khác, bởi bà Minh Lâm - vợ ông, từng khẳng định với người viết là ông rất đứng đắn, nghiêm túc trong chuyện tình cảm và không giấu bà điều gì. Ngay cả bút danh Y Vân bà cũng biết, đó là cuộc tình thời trai trẻ của ông và thiếu nữ mang tên Tường Vân. Cuộc tình không thành nhưng để lại dấu ấn trong cái tên ký dưới mỗi bản nhạc do ông sáng tác: Y Vân (nghĩa là “Yêu Vân”). Cả chuyện cô gái chủ quán bi-da mà ông hay đến chơi, thường nhìn ông với ánh mắt “bất thường” để ông có cảm xúc viết thành ca khúc Khi em nhìn anh ông cũng kể hết với bà. Vậy, sao lại có bản Thúy đã đi rồi, gọi đích danh tên một người con gái với những ca từ mang tâm trạng của một kẻ đắm đuối trong bể tình: “Thúy đã đi rồi. Những ngày băng giá không tiếng cười. Thúy đã đi rồi. Biết làm sao cho nhớ thương nguôi. Ðời em về đâu? Cho gió trăng sầu. Tìm em ở đâu? Ðường mây tìm dấu… Thúy quá vô tình. Ví dù em có hay dỗi hờn. Cũng vẫn hơn là bến tình anh lê gót cô đơn...”.
Do nhạc sĩ Y Vân đã mất (năm 1992), nên tôi đem điều này hỏi người em ruột của ông là nhạc sĩ Y Vũ. Ông tiết lộ: “Tôi nói rõ sự thật nhé, anh Y Vân đã viết ca khúc này thay cho tâm sự của một người bạn rất thân, đó là tài tử điện ảnh kiêm kịch sĩ Nguyễn Long (còn gọi là Long Ðất). Vào đầu thập niên 60 thế kỷ trước, Nguyễn Long yêu say đắm ca sĩ Thanh Thúy nhưng cô ca sĩ tài danh này không chút mảy may động lòng. Nguyễn Long âm thầm sống trong đau khổ, cay đắng một mình. Rồi một hôm, nhạc sĩ Y Vân bắt gặp anh chàng thất tình này trong quán cà phê với bộ dạng “ngó phát chán”, Y Vân hỏi han và Long Ðất đã thổ lộ mối tình sâu kín.
Thương cảm mối tình đơn phương của người bạn thân, Y Vân đã viết Thúy đã đi rồi. Bài này trở thành một trong những ca khúc nổi tiếng của dòng nhạc blue thời bấy giờ. Bài hát được khá nhiều ca sĩ trình bày, trong đó có cả ca sĩ Thanh Thúy. Hát thì cứ hát, nhưng con tim của nàng chẳng chút lay động, cho dù hằng đêm anh chàng Nguyễn Long vẫn bám theo nàng “trên từng cây số”, qua những phòng trà mà cô đến biểu diễn. Người đẹp vẫn đó, vẫn đùa vui trước đôi mắt ngây dại của gã si tình mà chẳng hề quan tâm”.
Ðến đây, người viết xin được mở ngoặc để nói về tài sắc của nữ ca sĩ Thanh Thúy. Chị sinh năm 1943 tại Huế. Ði hát từ năm 16 tuổi (1959) và sở hữu một giọng hát hết sức đặc biệt: khàn đặc như có pha rượu, nghẹn ngào, nức nở với dáng dấp mảnh mai, mái tóc dài buông lơi trên đôi vai gầy… Giọng hát ấy, dáng dấp ấy như có ma lực khiến ai “lỡ nghe” rồi là say như điếu đổ... Chẳng thế mà hầu hết văn nghệ sĩ cùng thời đã “nghiện” tiếng hát mà họ ví von với rất nhiều hình ảnh: lơ lửng với khói sương, nhấp nhô cùng sóng nước, đam mê theo cung bậc, thì thầm với kẻ tình si, du dương trong tĩnh lặng, vỗ về với yêu thương.
Năm 1962, Thanh Thúy được bầu chọn là Hoa hậu Nghệ sĩ, đồng thời là “Nữ ca sĩ ăn khách nhất” suốt 3 năm liền.
Tháng 11.1961, Nguyễn Long thực hiện cuốn phim Thúy đã đi rồi, theo ca khúc của nhạc sĩ Y Vân và nhạc phim do ca sĩ Hùng Cường hát. Nữ ca sĩ Minh Hiếu đóng vai Thanh Thúy. Ngoài bộ phim này, hình ảnh Thanh Thúy còn xuất hiện trên kịch sân khấu, kịch truyền hình. Các nghệ sĩ Kim Cương, Bích Thủy, Xuân Dung... đều đã đóng vai Thanh Thúy. Thanh Thúy thật sự là một con người tài sắc nổi trội khiến cánh đàn ông hồi đó có đủ “lý do chính đáng” để mê mệt cô như một thần tượng.
Trở lại với chàng tình si Nguyễn Long - dù đã nặng tình đeo đuổi, thậm chí đã làm phim về nàng nhưng không sao lọt vào mắt xanh của nàng. Mang tâm trạng u uất, Nguyễn Long đã trải lòng qua bài thơ tự sáng tác Thôi. Bài thơ này cũng được Y Vân phổ thành tình khúc mà cho đến nay vẫn còn ghi dấu ấn trong lòng nhiều thế hệ: “Thôi, em đừng khóc nữa làm gì! Kỷ niệm sầu ân tình cũ xa xưa. Thôi em đừng khóc, em đừng khóc, đừng khóc nữa giọt lệ sầu làm sao xóa hết tâm tư... Ôi cuộc đời đầy phong ba giữa lòng người. Lệ sầu chia ly buồn tê tái. Ly rượu này đầy thương đau tấm hình hài. Thu man mác buồn, mùa thu ơi!...”.
Nguyễn Long khi ấy mới khoảng 30 tuổi, nghe nói phải hơn mười năm sau ông mới lập gia đình, còn ca sĩ Thanh Thúy đã lấy chồng trước đó (năm 1964).
Thanh Thúy cũng là “người yêu trong mộng” của rất nhiều người. Trịnh Công Sơn viết bản nhạc đầu tay Ướt mi dành tặng Thanh Thúy. Tôn Thất Lập viết Tiếng hát về khuya vì Thanh Thúy. Thi sĩ Hoàng Trúc Ly “tán”:
“Từ em tiếng hát lên trời
Tay xao dòng tóc, tay vời âm thanh
Sợi buồn chẻ xuống lòng anh
Lắng nghe da thịt tan thành hư vô”.
Nhà văn Mai Thảo gọi cô là “Tiếng hát lúc 0 giờ”, giáo sư triết học Nguyễn Văn Trung thì cho là “Tiếng hát liêu trai”, nhạc sĩ Tuấn Huy gọi là “Tiếng sầu ru khuya”...
Ướt mi với giọng hát khói sương
Thanh Thúy tên thật là Nguyễn Thị Thanh Thúy, sinh năm 1943 tại Huế trong một gia đình có 5 người con. Do bà mẹ mắc bệnh nan y nên gia đình Thanh Thúy phải rời đất Thần kinh đưa mẹ vào Sài Gòn chữa trị.
Gia đình họ thuê một căn nhà nhỏ trong con hẻm trên đường Cao Thắng. Ðể mưu sinh và để kiếm thêm tiền phụ vào việc thuốc thang cho mẹ, Thanh Thúy đã đến với nghiệp ca hát khi mới 16 tuổi. Thân gái dặm trường nơi đất khách quê người, điều khiến cho Thanh Thúy “dám” tự tin xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu chính là giọng hát của mình vốn từng được nhiều lời khen ngợi.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
Lần đầu tiên tiếng hát Thanh Thúy đến với công chúng Sài Gòn là ở phòng trà Việt Long của Ðức Quỳnh vào cuối năm 1959. Với chất giọng trầm ấm, hơi khàn và lối phát âm, nhả chữ rất riêng, giọng ca của Thanh Thúy mang nỗi buồn man mác, nghẹn ngào nức nở. Dáng dấp mảnh mai và mái tóc dài buông lơi trên đôi vai gầy trong tà áo dài màu trắng hoặc lam nhạt... tạo cho nàng ca sĩ xứ Huế này một phong thái thật đặc biệt…
Những bản nhạc Thanh Thúy thường hát là Giọt mưa thu (Ðặng Thế Phong), Tiếng xưa (Dương Thiệu Tước), Kiếp nghèo (Lam Phương), Tàu đêm năm cũ, Nửa đêm ngoài phố (Trúc Phương)…
Tháng 6.1960, thân mẫu của Thanh Thúy qua đời, điều đó càng làm cho giọng hát của chị thêm não nùng để những ai “lỡ nghe” đều có cảm xúc lâng lâng… Và, như đã nói ở bài trước, có cả một thế hệ văn nghệ sĩ ở Sài Gòn đâm ra…mê mệt với Thanh Thúy, trong đó có một chàng thư sinh mới tò te bước vào làng nhạc, nhưng sau này rất nổi tiếng: Trịnh Công Sơn!
Ca sĩ Thanh Thúy
Trong tác phẩm Về một quãng đời Trịnh Công Sơn (của Nguyễn Thanh Ty), nhạc sĩ tâm sự: “Năm đó tôi 17 tuổi, trọ học ở Sài Gòn, đêm nào tôi cũng lò dò đến các phòng trà để nghe Thanh Thúy hát. Dần dần hình bóng Thanh Thúy đã ăn sâu vào trong tôi lúc nào không biết. Nói yêu Thanh Thúy thì cũng chưa hẳn bởi tôi mặc cảm nghèo và vô danh, trong khi Thanh Thúy là một ca sĩ đang lên, kẻ đón người đưa tấp nập. Biết vậy, nhưng tôi không thể không đêm nào thiếu hình ảnh và tiếng hát của nàng. Có đêm tôi chỉ đủ tiền để mua một ly nước chanh. Ðêm đêm tôi thao thức với những khát khao, mơ ước phải làm một cái gì đó để tỏ cho Thanh Thúy biết là tôi đang rất ngưỡng mộ nàng. Cái khát vọng đó đã giúp tôi viết nên bản nhạc Ướt mi đầu tiên trong đời...”.
Ðó là lần ngồi ở nhà hàng Mỹ Cảnh, chàng trai trẻ Trịnh Công Sơn đã viết vào một mảnh giấy nhỏ, đề nghị ca sĩ Thanh Thúy hát bài Giọt mưa thu của Ðặng Thế Phong. Ðiều chàng bất ngờ là Thanh Thúy đã hát bài này với một cảm xúc thật mãnh liệt, khi hát “...vài con chim non chiêm chiếp kêu trên cành, như nhủ trời xanh: Gió ngừng đi, mưa buồn chi, cho cõi lòng lâm ly... Ai nức nở thương đời châu buông mau, dương thế bao la sầu...” - nhớ đến người mẹ bị lao phổi nặng, đang mỏi mòn chờ con trong căn nhà nhỏ ở con hẻm sâu - nàng đã bật khóc. Những giọt nước mắt đọng trên vành mi của người ca sĩ tuổi mới tròn trăng đã gieo vào lòng Trịnh Công Sơn nỗi xúc cảm tràn ngập để chàng viết thành ca khúc Ướt mi.
“Khi hoàn thành, tôi nắn nót chép lại thật kỹ càng và luôn mang theo bên mình chờ có dịp tặng nàng. Với sự nhút nhát của tuổi trẻ, tôi không dám đưa tặng ngay mà phải chờ khá lâu mới có cơ hội. Một hôm tôi đánh bạo, tìm một chỗ sát sân khấu, dự định khi nàng vừa dứt tiếng hát là tôi sẽ đứng lên đưa luôn. Ðã mấy lần định làm vẫn không kịp. Nàng vừa cúi đầu chào khán giả là đã có người chực sẵn rước đi ngay. Cái đêm định mệnh mà tôi quyết tâm an bài đã thành công. Khi cầm bản nhạc trong tay, nghe mấy lời lí nhí của tôi, nàng chỉ thoáng nhìn tôi một chút rồi quay vào hậu trường. Ðêm đó, tôi nôn nao không ngủ được...
Mãi đến hai tuần sau, khi tôi sắp tuyệt vọng vì mỏi mòn chờ đợi thì một đêm kia, khi bước lên bục diễn, dàn nhạc dạo khúc mở đầu thì nàng ra dấu cho dàn nhạc tạm im tiếng để nàng nói vài lời:
“Thưa quý vị ! Ðêm nay Thúy sẽ trình bày một tác phẩm rất mới của một nhạc sĩ rất lạ tặng cho Thúy. Ðó là nhạc phẩm Ướt mi của tác giả Trịnh Công Sơn. Hy vọng đêm nay sẽ có sự hiện diện của tác giả để Thúy được nói vài lời cám ơn”.
Nói xong, nàng quay sang ban nhạc, đưa bản nhạc của tôi cho họ dạo nhạc bắt đầu. Nàng cất tiếng hát: “Ngoài hiên mưa rơi rơi, lòng ai như chơi vơi. Người ơi nước mắt hoen mi rồi. Ðừng khóc trong đêm mưa, đừng than trong câu ca... Buồn ơi trong đêm thâu, ôm ấp giùm ta nhé: người em thương mưa ngâu, hay khóc sầu nhân thế…Trời sao chưa thôi mưa, ôi mắt người em ấy. Từ đây thôi mờ, nước mắt buồn mi em thơ ngây...”. Tôi run lên trong lòng vì sung sướng và xúc động…Khi dứt tiếng hát, nàng dừng lại khá lâu, có ý chờ người tặng nhạc. Tôi thu hết can đảm, bước lên và nói: “Xin cám ơn Thanh Thúy đã hát bài nhạc của tôi”. Nàng “A” lên một tiếng ra vẻ bất ngờ rồi nói tiếp: “Thúy rất cám ơn anh đã tặng cho bản nhạc. Thúy muốn nói chuyện riêng với anh được không ?”. Tôi luống cuống gật đầu…Tôi cùng nàng đón taxi về nhà nàng. Nhà nàng ở sâu trong một ngõ hẻm...
Cũng chính từ ngõ hẻm nhà nàng mà Trịnh Công Sơn làm tiếp bài Thương một người: “Thương ai về ngõ tối, sương rơi ướt đôi môi... Thương nụ cười và mái tóc buông lơi. Mùa thu úa trên môi, từng đêm qua ngõ tối, bàn chân âm thầm nói. Lặng nghe gió đêm nay, ngại buốt quá đôi vai. Bờ vai như giấy mới, sợ nghiêng hết tình tôi…”. Ðó là hai bản nhạc trong “thuở vào đời” của Trịnh Công Sơn và những kỷ niệm thật đẹp với nữ ca sĩ Thanh Thúy.
Hà Ðình Nguyên
(trích trong “32 Nữ Ca Sĩ” do Nguyễn Long xuất bản năm 1997)
(Ghi chép lại sự tuyệt vọng và phẫn nộ của André Menras Hồ Cương Quyết trong đêm chiếu bất thành
tại cà phê Văn Thánh bộ phim tài liệu về thảm cảnh ngư dân Việt Nam khi đánh bắt cá ở vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa)
Làm một người Pháp rất dễ dàng
Có thể du lịch bất cứ đâu, có thể chơi trò phản chiến
Ông André Menras phỏng vấn vợ một ngư dân mất tích, trước ngôi mộ gió ở Bình Châu, Quảng Ngãi. (Hình: Lê Hưng)
Có thể leo lên tượng đài Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 để treo cờ Mặt Trận
Có thể ở tù một số ngày và cũng có thể được tự do
Nhưng làm công dân Việt Nam mới thật cam go
Cho dù André Menras được “đỡ đầu” về quốc tịch
Cho dù được cựu chủ tịch nước cấp giấy phép làm phim cho Hồ Cương Quyết
Cho dù sử sách còn ghi công lao André góp phần giải phóng Sài Gòn
Là một người Việt Nam, André Menras phải liệu hồn
Ra đường làm ơn ngó sau ngó trước
Có thể thình lình bị tông xe, có thể đập đầu vào lô cốt
Có thể hành lý tư trang trong chớp nhoáng bay vèo
Là một người Việt Nam mạng sống rẻ như bèo
Phải biết vô cảm trước cuộc đời trấn lột
Biết né tránh mật vụ an ninh, biết cúi đầu trước lưu manh trộm cướp
Ngồi nghe bình luận chính trị biết làm thinh, vô quán xá biết câm mồm
Là một người Việt Nam, André Menras ngậm bồ hòn
Cục bồ hòn đắng nghét mang dáng hình quần đảo
Hoàng Sa Trường Sa quần đảo nào thịt da không rướm máu
Quần đảo tổ tiên giao mà như không phải của mình
Nhưng trái tim Việt Nam của con người André Cương Quyết chẳng bạc tình
Cương quyết tẩy chay cảnh “cõng rắn cắn gà nhà, rước voi giày mả tổ”
Trái tim “Ðăng cô” từng dám treo cờ Mặt Trận ngày nào bỗng lên cơn thịnh nộ
“Máu chảy ruột mềm, nhiễu điều phủ lấy giá gương”
Cảm ơn anh chàng người Pháp yêu Việt Nam hơn 40 năm
Yêu bất chấp thị phi, mặc kệ gièm pha, bất cần dư luận
Bộ phim bảo vệ Hoàng Sa Trường Sa có bị cấm cũng... bất cần
Yêu Việt Nam hơn cả người Việt Nam nghĩa là André đang chiến thắng!
Thanh Nam..tản mạn - Bài viết của nhà văn Tuý Hồng
Thành phố Ramsey khốn khổ ngâm lạnh. Bầu dưỡng khí chúng tôi đang thở toàn một màu xám chì. Lề đường, cột điện đóng tuyết buốt băng, hàng cây cao cố gắng đứng thẳng. Thời gian lo âu thở dài. Gió thỗi thốc ngược từ dưới lên đập mạnh vào hông nhà. Trời màu lam tê tái, mây màu lưu huỳnh, giá băng đóng trên mặt đường màu trắng.
Không một con chó nào dám xông ra khỏi nhà đi đêm, không một con mèo nào nhẩy lên mái ngói gào kêu. Khi chúng tôi theo họ đạo đi lễ về thì tấm khăn len choàng cổ Thanh Nam đóng băng và hơi thở chàng nặng.
Truớc khi đi nhà thờ, Thanh Nam đã nướng sẵn trong lò sưởi một viên gạch để khi trở về sẽ gói vào tấm vải len cho vào mền. Mấy thằng con kêu: “nóng quá bố ơi!” rồi chúng đạp tung tấm chăn xuống thảm.
Năm 1975 tị nạn trên đảo Guam, Thanh Nam đã kêu đau cổ vì bị một vết xước bên trong cuống họng ngày nào cũng ho. Chàng giải thích: “Anh ho từ cổ trở lên, chứ khong phải từ phổi bật ra. Đau cổ không sao, đau ngực mới đáng sợ.”
Khi ra trại, Thanh Nam không uống nứơc cam được nữa, chàng nhăn mặt khi nhìn trái chanh chua. Ruợu chát ấm cỗ chàng nhâm nhi mỗi ngày , bia và thuốc lá thì không làm sao bỏ được! Đầu tháng tư 1976, chúng tôi nói "Amen" với họ đạo rồi dời về Seattle. Thời tiết Tây Bắc hiền và bao dung kẻ nhát lạnh không như thứ khí hậu miền Đông. Thanh Nam cười bảo: “Thời tiết Seattle chỉ lạnh chừng này thôi sao? Cửa sổ chỉ một lớp kính, ở New jersey, cửa sổ phải ba lớp dày, máy sửơi chạy bằng hơi nước phát ra tiếng ồn êm ái.”
Về đất mới, Thanh Nam bớt ho và dễ thở hơn, mỗi ngày nhâm nhi rựơu chát và tì tì nhậu budweiser. Và chàng nhớ bia 33. Nhưng sau chừng vài ba năm, Thanh Nam lại ho ra máu. Nhiều bữa tối, chàng không nuốt nổi miếng cơm kẹt nửa chừng trong cổ, phải uống nứơc đẩy xuống. Đi khám bệnh, bác sĩ cho uống trụ sinh thấy bớt. Khi cơn ho trở lại, cũng trụ sinh luôn. Lập đi lập lại nhiều lần, trụ sinh đâm nhờn. Bạn bè ai cũng khuyên nên đi rọi hình, thử test.
“Anh đau lâu quá rồi, phải đi bác sĩ ở nhà thương Mỹ"
“ ở Mỹ, sao không đi nhà thương Mỹ ?”
Thanh Nam cãi : “ Moa chắc là cổ moa bị nhiễm trùng, uống trụ sinh chắc sẽ khỏi.” Thanh Nam không đi nhà thương mà chỉ đi vào nhà bếp nấu phở. Trên cổ chàng dần dần hiện ra những cục tròn nhỏ, từ từ lớn dần thành khối u. Cuối cùng , chị Lai Hồng khuyên được chàng và chở chàng đi khám bệnh. Bác sĩ Faith giải phẫu cổ chàng , cắt bỏ ống nói và ống dẫn hơi rồi khoét một cái lỗ nhỏ cho chàng thở.
Dr. Faith giảng: “Loại cancer này sau khi giải phẩu thì thường khỏi bệnh, nhưng vì để lâu quá, bệnh đã lan ra những bộ phận khác. Nếu biết sớm, cắt bỏ đi thì tuy mất tiếng nói nhưng còn giữ được cái mạng.”
Tôi đặt câu hỏi: "Chồng tôi có thể sống đựơc bao lâu?"
“Several months.”
“ nghĩa là bao nhiêu năm? Thưa bác sĩ.”
“ I don’t know.”
Chín năm chung sống ở Saigon, Thanh Nam không phải là người chồng tốt. chúng tôi lấy nhau có đám cưới nhưng không có hôn thú. Khi con gái đầu lòng học hết lớp mẫu giáo , chàng mới chịu đóng tiền đút lót một ông lý trưởng ở Quảng Nam để ông ta cấp cho một tờ hôn thú lậu và làm giấy thế vì khai sinh cho con. Giấy tờ giả làm xong, Thanh Nam nói: “Anh rất quý bạn bè bằng hữu. Giữa bạn và vợ, nếu bắt buộc phải chọn một, thì em là người anh bỏ”.
Bạn hiền của Thanh Nam là tất cả đàn ông chàng đặt lòng thành và tình hiếu hữu. Khi đất nước còn chia đôi hai khối hận thù, miền Nam nằm dưới miền Bắc, chính quyền miền Nam cải tổ toàn thể cục diện, thành lập bộ chiêu hồi tượng trưng bằng một vòng tay ấm dang rộng ra để ôm lấy anh cán binh Việt cộng quay về chính nghĩa . Lòng Thanh Nam cũng bao la như cánh cửa chiêu hiền, cũng rộng mở như thùng thư trước ngõ mang tên số nhà chàng ở, cũng ấm như hộp PO. Box đặt trong sở bưu điện và nhẹ như con tem dán vào góc bì thư gửi tình theo gió mang đi.
Huy Quang Vũ Đức Vinh bảo: “Nó với Mai Thảo ... chơi đêm ngủ ngày, một đằng thì uống bia, một đằng thì đánh bài, một năm dọn nhà bốn lần, vợ moa cấm moa chơi với hai tay này.”
Nhà văn Nguyễn Thiếu Nhẫn cũng nói: “ Có.. có khi.. hồi còn độc thân ở Sài Gòn , anh Thanh Nam tiêu nguyên một tháng lương vừa mới lãnh ra...trong ..một đêm.”
Tháng chạp năm 1966, tôi gặp Thanh Nam lần đầu và lấy chàng ngay trong ngày cuối tháng đó thì Thanh Nam đã là một lực sĩ đuối sức trên hai vòng đua tình và tiền.Khi một phụ nữ gặp gã đàn ông chưa quá vài lần mà đã ngủ với hắn ngay và lấy hắn làm chồng liền, đó là hoả hoạn của tình dục, của hoang dâm bấy lâu đè nén đã thừa cơ bật dậy. Những cuộc hôn nhân vội vã như thế này thường xuyên có thể đưa đến đổ vỡ, nhưng Thanh Nam và tôi lì lợm chung sống với nhau hoài bên bầy con bốn đứa. Hôn nhân của chúng tôi đứt đôi vì có một cái chết.
Thanh Nam xoè bàn tay ra :
“Em ngửi tay anh có thơm mùi nho khô không?”
Những điếu thuốc lá Pall Mall nhẹ thơm mùi nho khô. Những ngón tay thuôn dài của Thanh Nam nám màu khói thuốc. Thanh Nam ngồi đâu thì chỗ đó tất phải có lon bia Hams và bao thuốc lá Pall Mall màu đỏ bầm.
Dr.Faith bảo: “ Thuốc lá có thể gây ung thư cổ họng.”
Đến với Thanh Nam trong tình yêu vỡ lòng là Hồng Ngọc, cô gái yểu mệnh chết non trước đợt di cư 1954. Hồng Ngọc là tên truyện viết đầu tay của Thanh Nam, người yêu nhỏ lìa đời trong tuổi thanh xuân 18, lúc dong chơi trên ngọn đồi cát màu vàng loãng, dưới hình mặt trời tròn như cái đĩa đồng và những khối mây lớn xù lông trắng đục.
Khi ung thư giết chàng lần mòn, Thanh Nam vẫn mộng thấy nàng:
Cùng với giá băng em trở lại.
Tóc xưa Hồng Ngọc thuở xuân nồng.
Thương yêu siết nhẹ vòng tay cũ.
Em gọi tình xa tỉnh giấc gần.
Sàigòn cũng có những tháng ngày ướt mưa và sương rơi từ những đường thẳng trên cao xuống các mái tôn và ống máng trong hẽm dài, Thanh Nam khoác áo ra đi theo hướng ánh điện đỏ vàng dẫn tới rạp hát Bích Thuận lúc trên sân khấu người đẹp Bích Sơn đang diễn xuất một màn ca kịch bi thương, để đêm đó Thanh Nam về nhà rung đùi uống bia, đốt thuốc lá viết câu đối đăng lên báo Thẩm Mỹ:
“Kiều nữ Bích Sơn, nàng đứng nhìn gì trên núi biếc?”
Rồi mũi tên Cupid lại chỉ đường Thanh Nam dến một sân khấu vĩ đại hơn , một vòng quay ánh sáng chói mắt hơn, một đám đông xô bồ chen chúc người mộ điệu: Đoàn ca kịch Thanh Minh Thanh Nga. Chàng đã bứng cây si từ Kiều nữ Bích Sơn sang Kỳ Nữ Thanh Nga, huy chương vàng quý báu nhất của miền Nam trái ngọt cây lành. Cải lương ngọt như sầu riêng, mít tố nữ, ổi xá lị, mãng cầu dai.
Hồi đó, nếu Sàigòn là hòn ngọc Viễn đông thì Thanh Nga là một của những hòn ngọc Sàigòn. Đêm đêm, nàng hát nhạc vàng, ca vọng cổ, đóng tuồng tích trên bục gỗ... nàng có một cuộc đời thật để sống và nhiều cuộc đời ảo cũng để sống...nàng có tiền , vàng, và nhà.. Nhưng quả thật Thanh Nga là người nữ tù bị nhốt trên sân khấu, là Hằng nga ngủ ngày, xa cuộc đời, xa xã hội, nàng viễn mơ và viễn thị không mấy hiểu cuộc đời. Những lúc không lên sân khấu, nàng đã đọc truyện tình do Thanh Nam viết và đọc những bài phóng sự kịch trường Thanh Nam đề cao nàng. Tình yêu quả có thật giữa họ. Thanh Nam, với công việc của một ký giả kịch trường, bao phen đã khó khăn xông vào bedroom của nàng để phóng vấn viết bài cho báo. Thanh Nga ngay ngắn ngồi tiếp chàng trong chiếc kimono đẹp như tranh vẽ. Họ nhìn nhau qua khói ấm tách trà nhỏ.
Nay đã nghìn thu vào tĩnh mịch,
Những anh hùng cũ mỹ nhân xưa.
Khi còn ở quê nhà trước năm 1975, Thanh Nam đã phát hiện sở thích đi chợ mua đồ ăn. Mấy bà hàng xóm trong hẽm cụt Lý Thái Tổ thỉnh thoảng ré lên cười:
“ Coi kìa! ông nhà báo đi chợ để vợ ở nhà.”
“ Đôi giày láng lườm của ổng dính dơ bùn chợ hết rồi! Coi coi...ông ta cố dấu bó rau muống trong túi ny lông nhưng cái bó muống nó dài quá, nó cứ thòi ra không thụt vào.”
Ngày tháng êm trôi trước khi bệnh, Thanh Nam đi chợ không do dự, mỗi tuần lễ ba lần sau giờ làm việc cho báo Đất Mới. Hồi còn ở miền đông, ông bạn Trần Đình Hồng Lâm đã kêu :”Tính toa sao lạ vậy, chứ moa thì không thể nào muốn đi chợ chút nào hết!:”
Tôi lắc xắc xen vô: “ Safeway, Fred Meyer, Alberson...là những nơi chỗ vui chân mà Thanh Nam mến thích, còn tôi thì mỗi tuần lễ đi chợ một lần là quá cỡ!”
Ba thằng con trai cũng thường theo bố mẹ đi chợ hồi mới đến Seattle. Một sáng chủ nhật, Thanh Nam hối hả giục cả nhà đi Safeway mua xương bò nấu phở Bắc. Nấu phở mệt phờ người ra, nấu xúp bui-da-bét..lòng tôi cũng bét nát ra luôn vói món xúp này...ai trong cái nhà này phải đứng nhặt giá, rửa rau, cắt củ cải, xắt hành, thái thịt bò, nướng gừng, luộc bánh phở và may một cái túi nhỏ xíu đựng gia vị phở Bắc quê hương...Khi công việc của người bếp phụ xong, đầu bếp chính Thanh Nam bước vào bên bếp điện, mở tủ lạnh lấy xương bò ra tắm rửa kỳ cọ, cắt bỏ mấy cục mỡ thừa vứt đi, rồi nêm vào thùng nước dùng ba muỗng nước mắm,một dúm bột ngọt, một cục đường phèn Quảng Nam, nửa cục đường phổi Quảng Ngãi!
Chàng phân tích: “Người Huế không nấu ăn ngon được vì họ ăn cay quá, nấu phở cần phải tận tình đứng vớt bọt, nhưng đừng vớt mỡ thẳng tay quá!. Khi thưởng thức tô phở, em nên biết rằng phở cần chút nước béo, vài ba giọt sao óng ánh.”
Cầm đôi đũa cả trở lát thịt xào lăn trên chảo mỡ, Thanh Nam bảo: “Ở Việt Nam, anh đã ăn cải làn, bí đao, bầu... Sang đây, anh không thể nào ăn zucchini và brocoli được. Ăn phải đúng cách, nấu phải đúng kiểu, món nào ra món đó.”
Một chiều thứ bẩy trong Safeway thịt bò bán đại hạ giá., buy one get one free. Thừa lúc Thanh Nam mãi chọn mấy miếng thịt thăn, thịt mông, ba rọi...thằng con lớn đẩy xe đi chất hai két nước ngọt.Thanh Nam nạt: “Không được mua nhiều nước ngọt như vậy.”
Thằng bé vặn hỏi: “Tại sao không được hả bố? Coi! Bố mua bao nhịêu két bia kìa!”
“Bố lớn, mày nhỏ.”
“Mình equal mà bố”
Tôi chen vào: “Mình bình đẳng mà bố.”
Khi đồng hồ trong chợ chỉ đúng vaò số 5 , thời gian ấm nhất của ngày, thằng con lớn đòi về nhà gấp, Thanh Nam bảo tôi gọt vỏ khoai tây, cắt thành khối vuông nhỏ để chàng làm mashed potatoes. Cao thủ đầu bếp trong ngôi nhà Lỗ Tấn này sở trường nhiều món chứ không phải một vài! Khoai tây nghiền bấy xong, Thanh Nam trộn thịt jambon vào rồi dùng thìa lớn múc ra bốn đĩa cho bốn đứa con đang há miệng như bốn cái mỏ hoét.
“Non quá bố ơi!”
Thanh Nam cười giỡn thằng Cu Tý: “ Bố ngon mà con...À bố tên gì?”
“ Xanh Nam !”
Thanh Nam quay lại bếp điện xúc thêm một đĩa khoai bấy đưa cho tôi :
“Em ăn đi.”
Thứ bẩy tuần sau, trẻ con không chịu đi shopping với bố mẹ. Khi ở chợ về, tôi chạy vội vô nhà, vì mấy ngày trước, họ đạo ở miền Đông điện thoại cho biết đã gửi hai thùng áo quần và đồ chơi cho trẻ con.
Thanh Nam khệ nệ xách hai túi đồ ăn từ xe vào bếp cất giọng cà khịa:
“ Ra xe đem đồ ăn vào chứ em, em để một mình anh phải xách hai cái túi này nặng ..nặng nặng... đựng hai ga lông sữa bò ở trong.”
Ba thằng con vội chạy ra bê đồ ăn vào một phút xong ngay.
Ba năm trôi mau, vầng trăng chưa qua hết mấy chu kỳ sáng tối thì Thanh Nam vào bệnh viện, mổ, khám và tái khám. Sau cuộc giải phẩu rùng rợn, Thanh Nam vẫn gượng gạo khoẻ mạnh, bộ mặt thụng xuống dưới áp lực của ống nhựa, ống hút đặt trong mũi trong miệng. Từ ngày mất tiếng nói, chàng viết : “Ngày xưa ăn chơi, sang Mỹ bỏ chơi chỉ còn ăn... Một thằng khoái ăn ngon như anh mà trời không cho đớp.” Rồi lại viết: “Cái khổ của kiếp người là chỉ có một đời để sống mà lại có quá nhiều đời khác để mơ.”
Mỗi tuần lễ, Thanh Nam đều soạn sẵn một thực đơn:
- Chủ nhật ngày 10 tháng 6: Cơm thịt bằm xào dưa leo hoặc cà chua nhồi thịt.-Canh sườn heo rau cải xanh, hoặc bí đao.
- Thứ hai ngày 11 tháng 6: Gà nấu nấm ăn với cơm hoặc bánh mì.
- Thứ ba : Spaghetti ăn với sauce cà chua. Gà nấu nấm ( left over }
- Thứ năm ngày mười bốn tháng sáu: Phở.- Ngâm gạo nếp nấu xôi.
Thanh Nam đọc sách, ôm kinh Phật tung âm thầm, cố gắng tập thể dục thực hành những lời thiền chỉ dạy. Hàng phục vọng tâm, an trụ chân tâm. Có những đêm thức giấc, đứng sau cửa kính mờ, Thanh Nam nhìn ra ngoài trời không trăng sao, có những ngày an phận nín câm, Thanh Nam đi tới đi lui, ngồi nằm... Có khi con cái tan trường về, Thanh Nam vui cười nấu ăn, coi tivi, lòng thư thái an lành như lá bạch dương êm ái chạm vào nhau khi có gió. Còn tôi ngồi bên cạnh, tôi nghe bộ tiêu hoá của chàng réo sôi ùng ục, đồ ăn cử động trong bao tử, chuyễn từ ruột non tới ruột già xuống hậu môn. Bằng hũu đến thăm, gửi thư gửi thiệp chúc mừng . Thơ và văn, thiền và thuốc, và những cơn đau khủng khiếp vỡ đầu bễ ngực từ cái ống nhựa đặt trong cổ thay thế cho thanh quản, khí quản gì đó phải cắt bỏ vứt đi, và từ những phản động hoá học của thúôc mê, thuốc tỉnh, thuốc viên, thuốc nước,thuốc bột, trụ sinh, an thần, morphine .
Thi sĩ Huyền Không, tức là Hoà thượng Thích Mãn Giác, víêt thư thăm, gửi theo hai câu thơ.
Ta từ vô sinh tử về chơi,
Ngồi trên chóp đỉnh, mỉm cười với trăng. (Huyền Không.)
Thầy Mãn Giác khuyên tôi đừng quá sợ hãi bệnh hoạn của thân xác, nên an nhiên tự tại_chữ của nhà Phật_có nghĩa là mặc kệ, để đó, dẹp đi... chấp nhận cái bất hạnh, như cậu bé mỉm cười với trăng. Tôi hãy chuẩn bị lo cho Thanh Nam một ba lô nhẹ, một va li nhỏ để chàng dễ dàng xách theo trong chuyến đi chót. Đôi mắt sắt đá của tôi có bao giờ biết khóc?. Thầy Mãn Giác vẫn dạy tôi những bài Thiền học để tâm tính đằm lại. Người Mỹ đã bắt đầu học Thiền để mưu lợi cho sức khoẻ và cầu an cho tâm thần. Sao tôi mãi mãi mang nặng những khổ đau vô thần ? Chàng em trai của tôi vẫn mắng tôi như vậy.
Thanh Nam đem xấp giấy ra viết xuống: "Thích Mãn Giác ngày xưa có theo Cộng sản không? "
Trông Thanh Nam lúc đó giống như một chiến sĩ H.O. Tôi trả lời:
“Không. Báo Mỹ bảo Thầy là một chiến sĩ chống Cộng. Thầy là một Thiền sư vẻ mặt tương tợ như một Samurai trong các môn võ thuật Nhật bản.”
Tôi kéo ra từ trong trí nhớ mấy câu thơ của thi sĩ Huyền Không :
Chùa xưa mái ngói cũ,
Trèo lên kéo cây sào.
Đêm khuya rồi không ngủ,
Khều rụng bao nhiêu sao.
Thầy Mãn Giác mọt lần hỏi tôi : “Chị Túy Hồng còn nhớ tên người đàn bà Việt Nam đầu tiên vào chùa tu là gì không?”
Sư Huyền Không hứa sẽ gửi thêm một số tài liệu Phật pháp trong đó có chương bàn về Mạn Đà La.
Thầy Mãn Giác ngày xưa tu học ở chùa Bảo Quốc Huế, du học tại Nhật Bản. Chùa Bảo Quốc xưa, một hàng thông xanh, một một luống cải xanh. “Gió thông đưa kệ tan niềm tục, hồn bướm mơ tiên lẫn sự đời." Bươm bướm toả ra một đoàn rộng cánh bay, ve ve thì tụ lại trong các lùm cây. Gần chùa có một tiệm cho thuê xe đạp, hai ba cái lốp xe bằng cao su và những xích sắt treo vào vách. Ngày đó một mình , tôi đạp xe qua cầu Ván, rượt tới Morin, ghé Sát-Făn-rông mua bánh choux à la crème, rồi phóng tới ngã giữa. Tiệm cho thuê sách Ngô văn Mạch mở cửa bảy ngày trong tuần. Tôi ký tên vào cuốn sổ cũ mướn mấy cuốn tiểu thuyết của văn sĩ Thanh Nam về nhà đọc.
Thanh Nam đã viết quá nhiều tiểu thuyết loè loẹt màu sắc xã hội đắng cay, viết một cách dễ dàng và kiếm sống bằng ngòi bút của mình... Chàng viết cho bà nội trợ đọc, cô bán hàng đọc, nữ sinh, nữ công chức đọc.. và đã bắt đầu viết khi tuổi đời còn sớm bảnh mắt, khi trí khôn và sức học chưa đủ cho một người cầm bút. Thanh Nam dùng thì giờ để đi chơi nhiều hơn thì giờ ngồi viết bài. Đây là một lỗi lầm không phải nhỏ. Người tu sĩ bỏ đời theo đạo, người nghệ sĩ, kẻ đã nghe tiếng gọi của nghiệp dĩ từ cao xanh, phải cố gắng thí phát thì giờ của mình vào nghệ thuật. Người nghệ sĩ Việt Nam luôn luôn nên cố gắng trau dồi khả năng ,tức là phải học hỏi thêm. Trước cái đẹp, nhà văn cảm xúc mười phần, hắn viết xuống trên giấy , người đọc chỉ nhận được một phần. Kịch sĩ, ca sĩ, văn thi sĩ, trong mấy kẻ sĩ đó, kịch sĩ đóng hài kịch tức là những cây cười cần phải học thêm nhiều hơn ai hết. Hề cần phải học. Hề là kẻ phải hiễu biết nhiều, sâu rộng và lanh trí mới ứng khẩu nói ra những lời chọc cười.
Với truyện dài, Thanh Nam thất bại. Với truyện ngắn , tức là các sáng tác nhỏ đã đăng trên các báo Hiện Đại, Sáng Tạo, Thế kỹ 20, Thanh Nam không thất bại. Tập truyện “Buồn ga Nhỏ” xuất bản năm 1962, tái bản lần thứ nhất năm 1965 và tái bản lần thứ hai tại hải ngoại năm 1983 cho thấy rằng Thanh Nam là cây bút viết truyện ngắn có ích cho tiếng Việt.
Sau năm 1975, Thanh Nam làm được tập thơ “Đất Khách”.
Thi sĩ Nguyên Sa gọi điện thoại khen: “Moa không ngờ Thanh Nam làm thơ hay đến như vậy. Nếu moa bị đày đi Côn đảo hoặc bị đưa sang Reunion, moa chỉ mang theo bên mình mỗi một tập thơ “Đất Khách”mà thôi.”
Bác sĩ Nguyễn Đăng Diệm ở Seattle cũng đã nói giữa toà soạn báo Đất Mới: “ Phải chăng bệnh ung thư đã khiến Thanh Nam làm được một cái gì....”
Nhà văn trẻ Chu Vương Miện, một cây bút chủ lực của nguyệt san Văn trước 1975, cũng viết thư thăm : “Anh buồn quá! Thơ anh thật tuyệt vời, anh Thamh Nam ạ..”
Trước năm 1975 ở Việt Nam, chợt xuất hiện các nhà văn nữ viết tự truyện. Theo giáo sư Sharon O’brien giảng dạy tại đại học Dickinson college, lối viết tự truyện chỉ thành công một phần nhỏ trong văn chương mà thôi. Đưa cái tôi vào tác phẩm, vạch sống áo để lộ tấm lưng ra, giải bày đời tư trên giấy trắng ... người viết tự truyện thường bị phê bình là thiếu đề tài, nghèo tư tưởng. Ngòai ra, văn tự truyện còn bị nói là thời thượng.
Trái lại với văn tự truyện, thơ tự tình được đề cao lên. Bà Huyện Thanh Quan với mấy bài tả cảnh u hoài tình non nước, Cao Bá Nhạ vói khúc tự tình oan khiên đau khổ đã được đưa vào sách giáo khoa dạy học, và hậu thế còn lấy tên họ đặt tên đường.
Nói chung , thơ gồm hai phần: lời và ý. Mỗi chữ mỗi câu là một sự cố tình sắp đặt gồm có âm thanh , vần điệu và màu sắc. Mỗi ý tưởng là phần thân và tâm của thi sĩ. Thơ tự tình của Thanh Nam, chữ và nghĩa không chênh lệch mấy, chữ nhiều và nghĩa cũng khá nhiều, là tâm thần bất ổn của người lìa nước ra đi lòng nao naonỗi sầu viễn xứ và nỗi buồn quốc hận Ba Mươi Tháng Tư
Canh bạc trần gian dù thắng bại
Nẻo về đất lạnh giống nhau thôi.
Ghé thân lữ thứ trăm miền
Nõi buồn nào cũng mang tên Sàigòn.
Giống như người lính vừa thua trận
Nằm giữa sa trường nát gió sương.
Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
Nghĩ đắt vô cùng giá tự do.
Thanh Nam không khéo tay làm thơ tình. Ta có thể tạm kết luận rằng Thanh Nam làm thơ vì tình bạn và lòng hiếu hữu. Rõ ràng tình bạn đã đuổi tình yêu đàn bà ra khỏi lòng chàng:
Uống say mai sớm bạn lên đường
Thân lai nương nhờ chốn viễn phuơng
Trăm hận nghìn đau nào sánh nỗi
Tấm lòng lưu lạc nhớ quê hương
Ta như giông bão tan rồi hợp
Trôi giạt còn hơn sóng đại dương.
Tình quê hương trong thơ Thanh Nam thật dịu dàng qua từng ngón tay lẵng lơ của Chàng:
Hai mươi ba tuổi gặp SàiGòn
Như gặp người yêu chưa phấn son.
Bở ngỡ làm quen thành phố lạ
Mặn nồng nhiệt đới nắng trao hôn.
Thỉnh thoảng Thanh Nam cũng làm một vài câu thơ vui.
Buổi Sáng
Ngó ra buổi sáng quê người
Tiếng xe lăn bánh, nhịp đời bon chen.
Giã từ ngôn ngữ đã lâu
Hôm nay thèm nói một câu chửi thề.
Hoặc
Bụi đời đầy đã lòi cơn sốt
Mang chuyện tương lai tháu cáy hoài.
Lâu lâu ,chàng lại viết câu đối :
“ Vừa mới Tết bính thìn, chín Tết ôm hờn xa tổ quốc.
Giờ xuân giáp tí, một xuân nào hẹn cùng quê hương.”
Thanh Nam mất sau gần mười năm ở Mỹ, xác được hoả thiêu trong một nhà táng lúc đó hoa xum xê nở banh ra. Hoa auriculas, hoa thrift và một vài hoa lạ không có tên trong tự điển Việt Nam. Giữa xấp giấy chàng viết nguệch ngoạc trong những tháng ngày mất tiếng nói, có một đoạn nhỏ: “Anh nhận thấy mấy đứa con sao dại khờ và vô tâm quá, chúng cứ tự nhiên... Nếu chúng nói được những câu buồn thương này nọ, chắc lúc anh ra đi , anh sẽ khó cất bước, khó..”
Tôi vội cãi: “Con Ti nó ăn ít quá mà anh, còn ba thằng đực thì cứ quanh quẩn ở trong nhà không nói năng... Bà y tá bảo rằng tình cảm của trẻ con đôi khi còn biểu lộ ở sự học có sút kém hay không..”
Ngày hôm sau Thanh Nam viết xuống tiếp : “Hôm nay bảo thằng Cu dẫn hai em nó đi phố chơi đi. Lấy tiền lì xì mà đi bus và tiêu cho sướng. Mười hai giờ trưa về.”
Thơ tức là người.Thanh Nam mang một lòng hiếu hữu thương bạn hiền. Tình đàn bà , người đàn bà trong thi tập “Đất khách” và trong cuộc đời ngắn hạn, bất hạnh của Thanh Nam, không được vẽ và chiếu ra rõ nét, không biết chàng đã nhung nhớ ai trong dĩ vãng khi đang nằm trên chăn gối hiện tại:
“Nửa khuya nghe động tiếng mưa buồn
Mái lạnh hiên người giọt giọt tuôn.
Chăn gối bỗng thơm mùi dĩ vãng
Dịu dàng mộng cũ ghé môi hôn”.-(Mộng cũ )
Người tức là thơ. Thanh Nam đau yếu nhưng tình bạn trong chàng vẫn dồi dào sức khoẻ:
“Xin chào bằng hữu gần xa
Dẫu chưa quen biết đã là anh em”.
Ôi hỡi quê hương bè bạn cũ
Những ai còn mất giữa sa mù
Ôi bạn ôi ta ,chiều đã xế
Phù sinh thương mình ly rượu xuông
Sau hết, Thanh Nam có biệt tài làm báo, làm tổng thư ký toà soạn, làm chủ bút bao sân tất cả mọi công việc viết lách. Trang trong thíêu bài, trang cuối còn mấy chỗ trống, Thanh Nam tìm bài khác lắp vào, vá vào trám hết tất cả mọi lỗ khuyết ngay tức khắc. Chính chàng đã đề nghị quý vị chủ báo miền Nam ngày nào, hãy đưa phần tỉêu thuýêt vào trang hai để độc giả dễ dàng xếp đôi tờ báo lại ngồi đọc chuyện tình bất cứ chỗ nào.
Nhiều người bảo rằng khi đến giai đoạn cuối, cancer gây ra những cực hình tra trấn dã man, những cơn đau xé xác thân ra, bệnh nhân kêu rên ngày đêm không ăn ngủ... chỉ mong được chết để giải thoát... Nhưng Thanh Nam đã mất tiếng nói, mất âm thanh để kêu đau... Ba thằng con bất hiếu ngủ chung giường đâu có biết cha sắp chết, chúng nằm xoay ngược trở ngang, hất gối xuống giường, đạp mền xuống thảm. Thanh Nam chỉ biết ghi vào hồi ký “đau, đau, đau.”...
Trước khi đi vào hôn mê, Thanh Nam đã viết xuống “Người nghệ sĩ có những lúc sống cẩu thả, buông thỏng dây cương luân lý, nhưng em nên nhớ rằng từ ngày lấy em, anh không bao giờ phản bội thể xác em.” Đôi mắt Thanh Nam to nhưng cạn và mờ đục, lúc đó ánh lên,nhìn thẳng mặt tôi. Tôi thấy tôi hiện diện trong cái nhìn thật thà đó: ở chàng, tình nghĩa vợ chồng cũng quý báu như lòng hiếu hữu ái mộ bạn hiền.
Ngày 27 tháng 5 năm 2007- Túy Hồng
(Nguồn : Gio-o )
Gặp lại nhà thơ si tình của đoàn quân không mọc tóc
(Nguoiduatin.vn) - “Khi tôi học trung học ở trường Thăng Long Hà Nội, tôi có cậu bạn học sau này là thi sĩ nổi danh với bài thơ Tây Tiến - Quang Dũng…Hồi đó tôi chưa thân với anh, nhưng sau này khi tản cư ở vùng kháng chiến chúng tôi khá thân với nhau…”, nhạc sỹ Phạm Duy kể lại.
Nhạc sỹ Phạm Duy là một cây đại thụ lớn trong làng âm nhạc Việt Nam. Ông cũng là người có lượng tác phẩm lớn đến khó tin – gần 1000 ca khúc, với đủ chủng loại từ dân ca, tâm ca, hoan ca, đạo ca, trường ca, tình ca, nhạc phổ thơ và hàng trăm ca khúc ngoại quốc được ông làm lời. Trong khi nhiều nhạc sỹ tân nhạc thời kỳ đầu đều đi theo xu hướng nhạc Âu thì ông chủ chương Tân nhạc Việt Nam phải khởi nguồn từ chất liệu dân ca và nhạc cổ truyền dân tộc.
Nhạc sĩ Phạm Duy Những người bạn tri kỷ
Ông đã ghi dấu ấn của mình vào lịch sử âm nhạc với nhiều đóng góp trong việc cách tân nhạc cổ truyền, mang Tứ cung Huế, Ngũ Cung cổ vào hàng trăm ca khúc để nói lên niềm vui nỗi buồn, vinh quang, tủi hờn, lòng ái quốc, chí căm thù giặc ngoại xâm của người dân Việt Nam như Bà mẹ Gio Linh, Tình Ca, Áo anh sứt chỉ đường tà...
Cuộc đời thăng trầm, đa đoan, đa tình, đa hệ lụy của ông trải từ Bắc đến Nam, từ người cách mạng đến kẻ tha hương nơi hải ngoại nơi đâu ông cũng là giữ nguyên phong thái của chàng lãng tử Hà thành năm nào từng bỏ nhà đi theo gánh hát cải lương du ca khắp mọi miền đất nước, với giấc mơ hát xướng và kết giao cùng những anh tài thi nhân mặc khách để đàn sáo ngâm thơ thâu đêm suốt sáng.
Phạm Duy tên thật là Phạm Duy Cẩn sinh tại Hà Nội năm 1921, trong một gia đình văn nghiệp. Cha là nhà văn Phạm Duy Tốn, tác phẩm của ông được đưa vào học trình trung học, đăng trong các sách giáo khoa ví dụ những bài Sống chết mặc bay, Một cảnh thương tâm... Anh là Phạm Duy Khiêm, GS. Thạc sĩ, cựu Đại sứ Việt Nam tại Pháp, văn sĩ Pháp văn. Từ cái nôi văn chương đó Phạm Duy ngay từ thuở bé đã ôm mộng thi ca bỏ bê học hành.
Giấc mơ hát xướng của ông bắt đầu khi tham gia làm ca sĩ trong gánh hát Đức Huy, đi hát lưu động từ Bắc qua Trung vào Nam trong những năm 1943-1945. Ông từng vào miền Trung, đi thẳng đến chiến trường Bình-Trị-Thiên, ăn khoai với các bà mẹ, bà chị ở Quảng Trị.
Ông đã viết nhiều bài hát thể hiện sự căm thù sâu sắc với giặc Pháp như Chiến sĩ vô danh, Bà mẹ Gio Linh..., kết giao với những nhạc sĩ, thi sĩ tài danh mà sau này ai cũng trở thành huyền thoại như Văn Cao, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Nguyễn Văn Tý… Những người bạn thuở đôi mươi ấy đều là những tri kỷ khắc cốt ghi tâm của nhạc sỹ Phạm Duy
Hai chàng Trương Chi gặp nhau
Trong hai tháng xuống Hải Phòng lưu diễn với gánh hát Đức Huy, nhạc sỹ Phạm Duy quen nhạc sỹ Văn Cao – người có tác động rất lớn đến thế giới quan âm nhạc và những mộng tưởng cuồng si của ông Phạm Duy về nghệ thuật. “Thấp bé hơn tôi, khép kín hơn tôi, nhưng Văn Cao tài hoa hơn tôi nhiều. Chắc chắn là đứng đắn hơn tôi”, ông chia sẻ.
Nhà thơ Quang Dũng
Bên dòng sông Cấm hai người nhạc sỹ tài hoa gặp nhau và hát cho nhau nghe những tác phẩm của mình. Văn Cao đã truyền cho người bạn mới của mình cảm hứng vĩ đại trong những bản tình ca liêu trai, tráng lệ của ông. Nhạc sỹ Phạm Duy nói: “Những Cô hái mơ, Cô bán hoa, Cô lái đò, Cô hàng nước thuở đó làm sao mà có được những “gót hài khai hoa, mắt huyền lưu xuân, dáng hồng thơm hương” như trong bản Cung đàn xưa của Văn Cao? Chỉ cần 12 chữ dù chỉ để xưng tụng một người tình tưởng tượng, Văn Cao đã đưa nhạc tình vượt khỏi những khuôn sáo cũ mèm.
Sau này để xưng tụng một người tình có thực và cũng là một cách xưng tụng Văn Cao, tôi có hát trong bài Đường em đi: “Đường em đi hằng đêm bước qua nở những đóa hoa ôi dị kỳ. Đường êm có khi chờ em bước qua là nghiêng giấc mơ ước thề…”.
Cũng từ những lời ca não nuột về Trương Chi của Văn Cao: “Ngồi đây ta gõ ván thuyền ta ca trái đất còn riêng ta”, ông Phạm Duy viết Khối tình Trương Chi: “Đêm năm xưa chưa nguôi lòng yêu ai, duyên kiếp trong cuộc đời đem xuống nơi tuyền đài. Để thành ngọc đá mong chờ ai…”. Hai chàng Trương Chi của tân nhạc Việt Nam, ông Phạm Duy thì đa tình và giang hồ, ông Văn Cao thì u uẩn và anh hùng, gặp nhau đã trở thành tri kỷ trong phút giây.
Có thể nói từ ông Văn Cao, từ Trương Chi đó, nhạc sỹ Phạm Duy bắt đầu khoác lên mình cái sỹ khí vẫy vùng, để đi gieo rắc nỗi u sầu, cái đẹp trong tâm hồn người nghệ sỹ tới mọi người: “Thời đó không khí nhạc lãng mạn toàn nói về mùa thu, chàng tuổi trẻ Văn Cao cũng soạn ra những bài hát mùa thu như: Thu cô liêu, Buồn tàn thu… nhưng chưa bao giờ anh ta có cơ hội phổ biến. Tôi là người đầu tiên đem nhạc của Văn Cao đi khắp nơi, khắp các chiến khu để hát. Danh từ “Người du ca” đầu tiên cũng do chính Văn Cao đã gán cho tôi với một sự thèm sống cuộc đời xướng ca vô loài như tôi lắm”.
Có lẽ danh từ Du ca đầu tiên do bạn tri âm trao tặng ấy là định mệnh khiến ông Phạm Duy phải bôn ba suốt nửa thế kỷ, bôn ba giữa thời cuộc biến động
Gặp lại nhà thơ si tình của đoàn quân không mọc tóc
“Khi tôi học trung học ở trường Thăng Long Hà Nội, tôi có cậu bạn học sau này là thi sĩ nổi danh với bài thơ Tây Tiến - Quang Dũng. Anh tên thật là Dậu, lúc mới 15, 16 tuổi anh đã cao lớn đô con nhưng hiền và ít nói lắm. Hồi đó tôi chưa thân với anh vì anh không nghịch phá như chúng tôi, nhưng sau này khi tản cư ở vùng kháng chiến chúng tôi khá thân với nhau…”, nhạc sỹ Phạm Duy kể lại.
Thuở ấy thi sĩ Quang Dũng đang là Đại đội trưởng trong Trung đoàn Tây Tiến, đôi khi được về phép với gia đình Quang Dũng lại tạt qua Kinh Đào gần chợ Đại để gặp người tình vũ nữ tên Nhật, bán cà phê ở vùng kháng chiến, còn có biệt danh là Akimi.
Phải chăng nàng là “em” mà Quang Dũng đã tặng những câu thơ: Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm / Em đã bao ngày em nhớ thương. Rồi sau này khi tôi gặp Akimi tại Mỹ năm 1989, nàng còn đọc cho tôi câu thơ mà thi sĩ Quang Dũng chép tặng lên vách nứa của quán nàng: Tóc như mây cuốn, mắt như thuyền / Khuấy nước Kinh Đào sóng nổi lên / Ý nhị mẹ cười sau nếp áo / Non sông cùng đắm giấc mơ tiên… Những bài thơ lãng mạn viết trong kháng chiến này có lẽ là lí do khiến anh bị chuyển ngành từ quân đội sang văn hóa.
Quang Dũng rất giống tính tôi ở chỗ quý trọng sự riêng tư độc lập của mình. Đi kháng chiến đã ở nhà đồng bào mà còn chăng dây bao quanh chỗ mình nằm và treo mảnh giấy có dòng chữ: Xin mọi người đừng bước vào đây.
Thế nhưng trước con gái đẹp, vị kỷ đến đâu thì cũng phải lụy ông bà thân sinh của người đẹp. Điểm giống nhau của chúng tôi còn là đều từng có mối tình vũ nữ đậm đà mãnh liệt. Rồi anh cũng từng bỏ nhà đi theo gánh hát với tư cách nhạc công đàn cò, anh không học trường mỹ thuật như tôi nhưng cũng thích vẽ và từng làm họa sỹ, dùng cái bút lông để được lê gót giang hồ.Trong kháng chiến Quang Dũng tham dự một cuộc triển lãm với bức tranh Gốc bàng rất ấn tượng. Anh còn soạn nhạc nữa, bài hát Nhớ Ba Vì của anh được dân vùng kháng chiến hát lên trong nhiều năm.
Sau khi ở nhà Lê Khải Trạch về, chúng tôi đạp xe 15 cây số cùng nhau, tôi có hỏi thăm anh về Akimi, anh vừa đạp xe vừa đọc cho tôi bài thơ Đôi bờ: “… Đêm đông sông Đáy lạnh đôi bờ / Thoáng em hiện về trong đáy cốc / Nói cười như chuyện một đêm mơ / Xa quá rồi em người mỗi ngả / Bên này đất nước nhớ thương nhau / Em đi áo mỏng buông hờn tủi / Dòng lệ thơ ngây có dạt dào”.
Sáng hôm sau Quang Dũng đạp xe về đơn vị, bên bờ sông tôi ngồi phổ nhạc bài thơ Tây Tiến mà anh vừa viết ở Phù Lưu Chanh. Tôi nhớ có đoạn cuối, đáng lẽ nét nhạc phải về chủ âm Sol thì câu hát Đường về Sầm Nứa chẳng về xuôi tôi kết thúc với nốt La ngang phè, giống như trên đường hành quân đoàn binh không mọc tóc của Quang Dũng quyết tử ra đi vậy.
Trong kháng chiến tôi có may mắn gặp hai nhà thơ hay nhất ở hai vùng khác nhau là Hoàng Cầm và Quang Dũng. Có lẽ khung cảnh mỗi vùng kháng chiến khác nhau nên thơ của Quang Dũng có vẻ âm u huyền bí trong khi thơ Hoàng Cầm rất trong sáng.
Đường Tây Tiến không phẳng lặng, bình an như đường về sông Đuống: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm / Heo hút cồn mây súng ngửi trời / Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống… Vốn là đại đội trưởng chiến đấu, Quang Dũng gần súng đạn, gần cái chết hơn thi sĩ Hoàng Cầm nên anh gầm lên trong thơ: Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh / Áo bào thay chiếu anh về đất / Sông Mã gầm lên khúc độc hành…
Đất mẹ bao dung
Những người bạn tri âm của nhạc sỹ Phạm Duy thuở ấy nay chỉ còn lại vài người như nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý, Giáo sư Trần Văn Khê…, cũng đều ngoài 80, 90 tuổi, sức khỏe yếu lắm rồi.
Và ông - Phạm Duy ngày ấy giờ cũng đã ở cái tuổi xưa nay hiếm, trở về quê hương như đứa con giang hồ biết tìm về nhà để cõi lòng được thanh thản, với ước mơ lá rụng về cội, để được như đứa trẻ năm nào trong bài Kỷ niệm của ông: “Cho đi lại từ đầu, chưa đi vội về sau. Xin đi từ thơ ấu, đi vui và bên nhau, trong tim thì sôi máu, khóe mắt có trăng sao, bông hoa cài trên áo, trong tim một nguyện cầu…”
Ca khúc ông lấy cảm hứng từ câu chuyện Hoàng Tử Bé, với ước mơ được gìn giữ mãi những điều tốt đẹp thơ ngây ở đời. Có lẽ giờ nhạc sỹ Phạm Duy như cậu học trò nhỏ thơ thới bình an trong kỳ nghỉ hè đẹp nhất ở nơi đất Mẹ bao dung.
Ca khúc được sáng tác ngay vào ngày 25 tháng 12 năm 1818, tại Nhà thờ Thánh Nicholas (Nicola-Kirche) ở Obendorf thuộc nước Áo. Mohr viết lời cho bài hát từ năm 1816, nhưng mãi đến đêm trước Giáng sinh mới tìm gặp Gruber để nhờ soạn phần giai điệu cũng như phần phối âm cho đàn guitar. Có lẽ Mohr muốn có một ca khúc giáng sinh mới dành cho lễ Misa nửa đêm, nhưng đàn phong cầm của nhà thờ đã bị hỏng. Lúc đầu, Gruber không đồng ý với đề nghị của Mohr vì e rằng giáo dân đến dự lễ sẽ không thích loại âm nhạc được trình bày với đàn guitar. Nhưng vì không còn sự lựa chọn nào khác, Gruber phải chấp nhận và bắt tay vào việc. Chỉ trong vài giờ đồng hồ, phần nhạc của ca khúc được hoàn tất. Lúc đầu, người dự lễ tỏ ra kinh ngạc khi nghe ca khúc được trình bày với đàn guitar, nhưng chẳng bao lâu mọi người bị mê hoặc bởi giai điệu ngọt ngào của bài hát.
Bảo Tàng Đêm Yên Lặng và
Nhà nguyện Kỷ niệm tại Oberndorf
Từ đầu thập niên 1900, Nhà thờ Thánh Nicholas không còn tồn tại do sự tàn phá của lũ lụt và do thị trấn được dời lên một nơi an toàn hơn ở thượng nguồn của dòng sông, với một ngôi nhà thờ mới được xây dựng bên cạnh một chiếc cầu. Một nhà nguyện nhỏ gọi là "Stille-Nacht-Gedächtniskapelle" (Nhà nguyện Tưởng nhớ Ca khúc Đêm Yên lặng), được dựng lên ngay tại địa điểm của ngôi nhà thờ đã bị phá hủy, và ngôi nhà kế cận được biến thành nhà bảo tàng, quanh năm thu hút du khách đến từ khắp nơi trên thế giới, nhưng đông nhất vẫn là trong tháng 12.
Mặc dù bản gốc của ca khúc đã bị thất lạc, một bản viết tay của Mohr đã được tìm thấy vào năm 1995, được xác định bởi các nhà nghiên cứu là vào khoảng năm 1820, cho thấy Mohr đã viết lời bài hát năm 1816 khi ông được phân công đến một nhà thờ hành hương ở Mariapfarr, Áo, và phần nhạc được sáng tác bởi Gruber vào năm 1818. Đây là bản cổ nhất, cũng là bản viết tay duy nhất của Mohr. Giai điệu được sáng tác bởi Gruber chịu ảnh hưởng của âm nhạc truyền thống tại các vùng nông thôn, phảng phất những nét đặc trưng của dân ca Áo.
Người ta tin rằng ca khúc giáng sinh này đã được dịch ra hơn 300 thứ tiếng trên khắp thế giới, và là một trong những bài hát được yêu thích nhất trong mọi thời đại. Ca khúc vẫn thường được trình diễn không cần nhạc đệm. Mặc đù được sáng tác bởi hai tín hữu Công giáo, bài hát này có một vị trí đặc biệt trong các nhà thờ thuộc Giáo hội Luther.
Kể từ đó bài thánh ca Đêm Thánh Vô Cùng tự nhận danh hiệu là một bài hát tạo nét đáng nhớ nhất cho đêm thánh giáng sinh hài nhi Ki-tô. Dẫu rằng tin hay không, người ta cũng không thể không rung động trước nét đẹp và đặc biệt là nét sâu sắc của bài hát đã lan rộng khắp địa cầu.
Bài Đêm Thánh Vô Cùng đã được chuyển ngữ sang nhiều thứ tiếng trên hoàn vũ. Người ta còn hát với tiếng Et-ki-mô và với thổ ngữ ban-tu ở Phi Châu. Không có một âm hưởng nào, đời hay đạo, được quốc tế biết tới nhiều như bài thánh ca giáng sinh khiêm nhu này của Áo quốc.
Xuyên qua lịch sử Ki-tô giáo, bài thánh ca Đêm Thánh Vô Cùng đã trở thành một biểu tượng chân thực cho mầu nhiệm sâu kín đêm Thiên Chúa giáng trần của người tín hữu Ki-tô.
Thực tế, có chăng một đêm êm dịu hơn cái đêm được nhìn thấy một hài nhi hạ sinh lại đặt vào trong một máng cỏ nơi chuồng súc vật, trong khi đó các thú gia cầm quen thuộc như bò và lừa lại thổi hơi cho ấm hài nhi? Chuyện hoang đường hay sự thật? Thật không quan trọng; mà trọng điểm là đã khơi động niềm xúc cảm cho nhân loại.
Thật là điều khá lý thú, khi mà hầu hết các âm hưởng nhạc Giáng sinh truyền thống đều bị mai một hay chuyển đỗi, trong khi âm hưởng của bản Stille Nacht vẫn lưu giữ được nguyên vẽ trong sáng về hình thức và cách cấu trúc.
Sự kiện gây chú ý là bài Đêm Thánh Vô Cùng từ nguồn gốc Ki-tô giáo đã được các tôn giáo khác đón nhận. Có nơi tại Á Châu còn hát bài này ngay cả trong những đền Chùa Phật giáo…
Người ta kể lại rằng trong thế chiến thứ hai, Đức và Mỹ đã đồng ý với nhau có một cuộc hưu chiến trong đêm Giáng Sinh để binh sĩ cùng tham dự thánh lễ nữa đêm, hôm đó đã hát lên bài Đêm Thánh Vô Cùng.
Cũng là một đêm bao trùm huyền nhiệm mà ba vì vua –hay còn gọi là vương tử - cất bước từ Đông Phương tìm đến thăm viếng do một vì sao lạ xuất hiện báo hiệu sự hạ sinh của một hài nhi mà sau này trở thành vì vua của hoàn vũ. Nơi đây nữa, là huyền thoại hay thực tế? Các chiêm tinh gia xác nhận ngôi sao lạ ấy đã thực tế mọc và chiếu rọi xuống Bê-lem…
Đức tin của người Ki-tô hữu xuất phát từ các biến cố ấy và vì thế trãi qua từ bao thế kỷ người ta đã cử hành kỷ niệm sự hạ sinh của hài nhi trong mọi thánh đường trên thế giới.
Do từ đó, không ngạc nhiên gì một bài hát thật đơn sơ như Đêm Thánh Vô Cùng lại gây vô cùng xúc động đã chinh phục được thế giới. Điểm nổi bật hơn hết là so với âm điệu của các bài thánh ca Noel khác, bài ĐTVC tiêu biểu cho đêm hạ sinh một hài nhi-Thiên Chúa, đến với nhân trần ... Đêm Thánh Vô Cùng hay Đêm Yên Tĩnh để:
"Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Bình an dưới thế cho người thiện tâm"
Mùa Giáng Sinh Đầu Tiên Trên Đất Mỹ Phượng Vũ
Mỗi năm, khi không khí mọi nơi bắt đầu rộn ràng với những bản nhạc Giáng Sinh được nghe vang vang khắp nơi, lòng tôi lại nao nức nhớ đến những ngày lễ hội của gia đình hằng năm, mà các con tôi thường gọi đùa là “ba ngày lễ lớn”: Sinh nhật mẹ: 20/12; Giáng Sinh: 25/12; Kỷ niêm cưới bố mẹ: 26/12.
Hằng năm, đây là dịp gia đình chúng tôi đoàn tụ vui vẻ bên nhau, để cùng vui chơi, đi du lịch, hoặc thăm viếng một thắng cảnh nào đó. Đây là một truyền thống gia đình tốt đẹp, mà tôi vẫn ao ước được giữ gìn mãi mãi. Ngày thường ai cũng bận rộn, đi làm, đi học! Về tới nhà, ai cũng có phòng riêng, công việc riêng và sở thích riêng để tiêu khiển. Sau này các con lớn lên ra trường, đi làm, có gia đình hoặc ở riêng thì việc đoàn tụ gia đình vui chơi với nhau lại càng cần thiết hơn bao giờ hết.
Đây là dịp để mọi người trong gia đình có thời gian vui chơi, trò chuyện, tâm tình, từ đó dễ hiểu nhau hơn và thương nhau hơn. Phú quý, giàu sang hay thành đạt ở đời là điều quan trọng, nhưng điều quan trọng hơn là tình yêu thương trong gia đình với nhau. Có tiền chúng ta xây được ngôi nhà đẹp, nhưng phải có tình ta mới xây được “Tổ Ấm”. Đối với tôi Tình Thương luôn luôn quan trọng hơn tiền, vì giàu sang danh vọng đến mấy nhưng gia đình thiếu tình thương thì cuộc sống cũng mất ý nghĩa tốt đẹp.
Gia đình chúng tôi có nhiều kỷ niệm đẹp nhân mùa Giáng Sinh, nhưng mùa Giáng sinh đấu tiên trên đất Mỹ là mùa lễ hội gia dình gây ấn tượng mạnh nhất.
Gia đình chúng tôi đặt chân lên đất Mỹ (MI) đúng ngày 20/12/90 và được đại gia đình ông xã tôi ra phi trường GR để chào đón thật nồng ấm. Sau đó là tiệc tùng, gặp gỡ hàn huyên sau bao nhiêu năm xa cách. Ông xã tôi có lẽ là người cảm động và vui nhất, vì được gặp lại những người thân yêu sau bao nhiêu năm xa cách không khí tràn ngập tình người, tình gia đình, mọi người đều ân cần quan tâm chăm sóc từng người trong gia đình tôi. Xin chân thành cám ơn mọi người! Tạ ơn Chúa! Ngày sinh nhật tôi lại là ngày đầu tiên gia đình tôi đặt chân lên đất Mỹ, vùng đất của cơ hội, một ngày ghi dấu ấn đổi đời khó quên của gia đình tôi.
Tới khuya tôi mới đi ngủ, nhưng vì chưa quen giờ giấc thay đổi giữa Việt Nam và Mỹ, khí hậu lại thay đổi hoàn toàn. Lần đầu tiên tôi mới nếm được cái lạnh thực sự của mùa đông, nên tuy khá mệt vì thời gian di chuyển khá dài, nhưng tôi vẫn nằm mơ màng chưa ngủ được. Nỗi háo hức được tới thiên đàng xứ Mỹ tạm lắng xuống và nỗi nhớ nhà, nhớ nơi chốn thân yêu, quen thuộc bắt đầu len lỏi dâng lên. Tôi ra đứng bên cửa sổ trên lầu nhìn xuống phố nhỏ chung quanh, chợt thấy thấm thía câu hát của TCS:
“Lòng thật bình yên mà sao buồn thế?
Giật mình nhìn ra: Ôi, phố xa lạ!”
Mệt quá vào giường nằm, rồi thiếp đi độ vài giờ, tôi lại chợt tỉnh dậy với không gian không còn quen thuộc, mới nhớ ra mình đang ở xứ người. Tôi lại rón rén đến bên khung cửa sổ nhìn ra cảnh vật bên ngoài. Tuyết đang rơi bay bay trắng xóa không gian, một màu trắng lung linh tuyệt đẹp, nó hoàn toàn khác hẳn với khung cảnh tôi nhìn thấy trước khi đi ngủ.
Tuyết đang rơi phủ đầy cây cỏ, lối đi và các mái nhà một màu trắng tinh khôi. Thật là một khung cảnh tuyệt đẹp mà trước đây tôi chỉ được nhìn ngắm qua phim ảnh, và bây giờ nó đang hiện diện trước mắt tôi. Tôi ngẩn ngơ đứng nhìn và thưởng thức vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên mùa đông lần đầu tiên trong đời.
Sáng ra, lúc ăn điểm tâm, nghe tôi kể niềm say mê thưởng thức vẻ đẹp của tuyết rơi lúc sáng sớm, bà mợ tôi nói:
“Tuyết mới bắt đầu rơi hôm nay, thôi cứ thưởng thức vẻ đẹp của tuyết đi rồi sau này ở lâu mới thấy hết cái khổ vì tuyết (đường xá trơn trợt gây tai nạn xe quay vòng và bị lật, khi tuyết tan thì dơ bẩn, lầy lội). À, thì ra ở đời cái gì cũng có 2 mặt của nó.
Tôi chợt có ý nghĩ so sánh ngộ nghĩnh: hình ảnh đẹp lãng mạn của tuyết rơi giống như hình ảnh đẹp của cuộc hôn nhân khi mới bước vào. Sao nó đẹp tuyệt vời và đáng yêu đến thế! Nhưng khi trải qua “thực tế dài lâu” thì hỡi ơi! Sao mà “trơn trợt khó đi”, đôi lúc nhìn vào chỉ thấy “lầy lội, dơ dáy” quả đúng như lời một bài hát:
“Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần sầu.”
Nhưng thôi ta phải biết chấp nhận cả hai mặt của cuộc đời để thích nghi mà vui sống.
Những ngày sau đó, chúng tôi được mọi người thay nhau đưa đi thăm bà con, đi shopping. Chúng tôi thấy đâu đâu cũng trang trí những cây thông to đẹp, với ông gìa Noel cỡi tuần xa ở truớc các sân nhà. Có điều tuyết ở đây là tuyết thật, nên mấy mẹ con tôi tha hồ chụp hình với tuyết.
Đến tối 24/12 cả đại gia đình cùng đi dự lễ nửa đêm, đón Chúa Hài Đồng sinh ra. Khi cả nhà thờ đồng hát bản Thánh Ca Giáng Sinh Việt Nam quen thuộc, lần đầu tiên tôi cảm nhận được từ “lạnh lẽo” trong câu hát:
“Đêm đông lạnh lẽo, Chúa sinh ra đời, Chúa sinh ra đời
Nằm trong hang đá, nơi máng lừa…”
Ngắm nhìn hang đá Chúa sinh ra với hàng chữ mà các thiên thần đã hát vang trong đêm Chúa giáng trần:
“Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho người Thiện Tâm”
Tôi cảm nhận rõ sự bình an sẽ đến từ trong tâm tốt lành của con người, và mọi người trên trái đất này bất kể màu da, chủng tộc, tôn giáo đều rất cần bình an để có một cuộc sống hạnh phúc trên trần thế này.
Nói tới đây tôi lại nhớ tới chuyến đi hành hương thăm Đất Thánh (Israel) năm rồi. Khi đến viếng hang đá Bethlem, nơi Chúa sinh ra, tôi nhìn thấy nhiều sắc dân khác nhau, với nhiều tôn giáo khác nhau cùng đến chiêm bái nơi Chúa giáng trần năm xưa. Lúc đó, tôi mới ý thức được rằng số người tin Chúa ra đời cứu chuộc nhân thế quá đông, nhưng lại chia 5, sẻ 7 (Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Do thái giáo, Tin Lành…) và đôi khi họ lại kình chống nhau, họ không thực hiện điều răn lớn nhất Chúa truyền dạy: “Hãy yêu thương nhau…” Chúa ở trên cao nhìn xuống chắc cũng buồn lắm, như tâm tình trong một bài hát:
“Trên cao ấy, Người nhìn xuống dương gian, vương trên mắt ngọt mật đắng miên man, và điều gì làm Chúa thấy vui hơn và điều gì làm Chúa thấy buồn hơn?”
Muốn chui vào hang đá, và hôn lên ngôi sao, nơi cực thánh được ghi nhận chính là chỗ Chúa đã sinh ra, mọi người phải quỳ xuống, cúi mình khom lưng mà lết vào, nghĩa là muốn “gặp” được Chúa ta phải biết khiêm tốn, hạ mình xuống vì chính Chúa cũng đã hạ mình xuống, sinh trong hang đá nhỏ bé, khó nghèo.
Ôi, xin Chúa dạy con luôn có lòng khiêm tốn từ trong gia đình cho tới ngoài xã hội, để tâm hồn con dễ có bình an. Vì lòng khiêm tốn và sự bình an trong tâm hồn luôn đi đôi với nhau.
Sau thánh lễ nửa đêm, về nhà là tiệc “reweillon”. Sau tiệc, mọi người quây quần bên cây thông lớn trang trí rất đẹp, với nhiều ánh đèn màu sắc lung linh, dưới gốc thông vô số là những gói quà lớn nhỏ, được gói lại với những giấy màu sắc rực rỡ thật đẹp. Mọi người ai cũng háo hức chờ đợi để nhận quà và mở quà. Gia đình tôi lần đầu tiên được “enjoy Chiristmas” trên nuớc Mỹ, nên nhận được rất nhiều quà khác nhau từ nhiều anh em, họ hàng. Thật là cảm động, bất ngờ và thú vị! Hai con trai lớn, đứa nào cũng vui thích vì nhận được nhiều món quà và đồ chơi đẹp, lạ. Riêng con gái út thì quá vui, ngoài những quà lạ và chiếc áo đầm xinh đẹp, còn có con búp bê vừa to, vừa xinh đẹp, lại biết nhắm mắt, mở mắt. Tối đó con gái vào giường ngủ với con búp bê xinh đẹp nằm bên cạnh. Tôi đoán nó đã có một giấc mơ đẹp về mùa Christmas đầu tiên trên đất Mỹ. Cầu chúc con gái luôn đạt được những giấc mơ đẹp trên xứ người.
Ngày hôm sau 26/12, sau khi ăn tối họp mặt gia đình, chúng tôi vô cùng ngạc nhiên và cảm động, khi thấy bất ngờ xuất hiện một ổ bánh to trang trí thật đẹp với hàng chữ:
“Happy Aniversary… 26/12/70 ** 26/12/90”
Gia đình tôi được mời lên đứng quây quần chung quanh ổ bánh, để chụp hình, cắt bánh trong tiếng vỗ tay chúc mừng của mọi người thật là cảm động vì mọi người vẫn còn nhớ đến ngày Aniversary của gia đình tôi; có lẽ vì nó dễ nhớ, ngay sau ngày Chúa ra đời. Đây là sáng kiến của ông xã tôi khi chọn ngày cưới khi xưa. Xin chân thành cám ơn tấm lòng ân cần, tình nghĩa của mọi người đối với gia đình tôi.
Đúng là một mùa lễ hội gia đình đẹp nhất và gây ấn tượng mạnh nhất.
“Cảm ơn Người vì ngày hôm nay đây chúng con quây quần đang có nhau.
Biết bao hạnh phúc sớt chia, cuộc sống mến thương nhau đầy trọn tình thân.”
Đêm về, trong không khí thinh lặng, một mình ngồi cạnh hang đá nhỏ bé, đơn sơ trong phòng, đâu đây lời của bài hát Christmas nổi tiêng nhẹ nhàng cất lên: Silent night (Đêm tĩnh lặng); Holy night ( Đêm thánh vô cùng); All is calm” (Tất cả đều tĩnh lặng).
Lời bài hát nhắc nhở tôi Chúa đã đến trần thế trong không khí yên bình và sự tĩnh lặng của đất trời, chứ không phải trong quang cảnh ồn ào náo nhiệt chào mừng của ngày hôm nay. Tôi cảm nhận sự thinh lặng của không gian và sự tĩnh lặng của tâm hồn giúp tôi đến gần Chúa hơn. Lạy Chúa xin giúp con mỗi ngày trong đời sống biết giữ lấy những khoảng thinh lặng cần thiết, để con có dịp nhìn lại chính mình, để con lắng nghe được tiếng Chúa, lắng nghe được tiếng nói của tình người chung quanh con.
Đêm nay trong sự thinh lặng của không gian và tâm hồn, ngồi viết lại những giòng ký ức này. Nhìn lại hai mươi năm qua, trên vùng đất mới này, gia đình tôi dù đã trải qua bao nhiêu khó khăn, thăng trầm, đổi dời trong đời sống, nhưng cuối cùng tạ ơn Chúa, mọi chuyện đều tốt đẹp hơn 20 năm trước rất nhiều. Tôi xin cám ơn nước Mỹ đã cưu mang và đem lại nhiều cơ hội cho gia đình tôi cũng như cho mọi người nơi đây. Tôi cũng nhớ lại những ân tình, những giúp đỡ của một số bạn thân và mọi người đối với gia đình tôi và riêng cá nhân tôi trong suốt 20 năm qua, đặc biệt là những lúc tôi gặp khó khăn cần sự nâng đỡ vật chất cũng như tinh thần. Tôi xin trân trọng ghi nhận, biết ơn và ước nguyện sẽ làm được điều gì đó tốt đẹp trong từng ngày của cuộc sống như những ý thơ của Đức Đạt Lai Lạt Ma mà tôi rất tâm đắc:
“Nguyện cho tôi trở thành
Nhịp đập của hòa bình
Nhịp đập của yêu thương
Và nụ cười an lạc”
Người dân tại Singapore, Palestine, Mỹ và nhiều nước khác tới nhà thờ, ra đường phố để tận hưởng không khí Giáng sinh hôm qua.
Một phụ nữ chụp ảnh gần cây Giáng sinh bên ngoài siêu thị Orchard Central tại Singapore.
Ảnh: AFP.
Cảnh tượng đón Giáng sinh tại thủ đô Seoul của Hàn Quốc.
Ảnh: AFP.
Giáo hoàng Benedict XVI chủ trì buổi lễ mừng Giáng sinh trong nhà thờ Thánh Peter tại Rome, Italy. Ảnh: AFP.
Tín đồ Cơ đốc tổ chức lễ đón Giáng sinh tại quảng trường Manger trong thành phố Bethlehem thuộc khu Bờ Tây của Palestine.
Các tín đồ Cơ đốc tin rằng Chúa Jesus chào đời tại Bethlehem.
Ảnh: AP.
Những cô gái Palestine tham gia lễ đón Giáng sinh trong quảng trường Manger, thành phố Bethlehem, Palestine.
Ảnh: Telegraph.
Hàng chục người chiêm ngưỡng cảnh tượng mô phỏng sự ra đời của Chúa Jesus phía trước
một nhà thờ tại thủ đô Vilnius của Lithuania.
Ảnh: AFP.
Tín đồ Cơ đốc đón Giáng sinh trong một nhà thờ tại thành phố Karachi, Pakistan. Ảnh: AFP.
Những câu thông Giáng sinh tại một khu vực thuộc thủ đô Washington của Mỹ.
Ảnh: AFP.Việt Linh
CÂU CHUYỆN GIÁNG SINH
Như thường lệ, mỗi mùa Giáng Sinh, tôi đều nhận được quà từ anh trai của tôi. Giáng Sinh năm ấy tôi cảm thấy vui nhất không phải chỉ vì món quà anh tôi tặng một chiếc xe hơi mà vì tôi đã học được một bài học rất thú vị vào cái đêm đông lạnh lẽo ấy...
Đã 7 giờ tối, mọi người trong công ty đã ra về gần hết, tôi cũng đang đi đến gara để lấy xe và về nhà ăn Giáng Sinh.
Có một cậu bé, ăn mặc rách rưới, trông như một đứa trẻ lang thang, đang đi vòng quanh chiếc xe tôi, vẻ mặt cậu như rất thích thú chiếc xe. Rồi cậu chợt cất tiếng khi thấy tôi đến gần, "Đây là xe của cô ạ?". Tôi khẽ gật đầu, "Đó là quà Giáng Sinh anh cô tặng cho". Cậu bé nhìn tôi tỏ vẻ sửng sốt khi tôi vừa dứt lời. "Ý cô là... Anh trai cô tặng chiếc xe này mà cô không phải trả bất cứ cái gì?" "Ôi! Cháu ước gì...". Cậu bé vẫn ngập ngừng.
Tất nhiên tôi biết cậu bé muốn nói điều gì tiếp theo. Cậu muốn có được một người anh như vậy. Tôi chăm chú nhìn cậu bé, tỏ vẻ sẵn sàng lắng nghe lời nói của cậu. Thế nhưng cậu vẫn cúi gằm mặt xuống đất, bàn chân di di trên mặt đất một cách vô thức. "Cháu ước... ", cậu bé tiếp tục: "... cháu có thể trở thành một người anh trai giống như vậy". Tôi nhìn cậu bé, ngạc nhiên với lời nói vừa rồi. Bỗng nhiên tôi đề nghị cậu bé, "Cháu nghĩ sao nếu chúng ta đi một vòng quanh thành phố bằng chiếc xe này?". Như sợ tôi đổi ý, cậu bé nhanh nhẩu trả lời: "Cháu thích lắm ạ!".
Sau chuyến đi, cậu bé hỏi tôi với ánh mắt sáng ngời đầy hy vọng, "Cô có thể lái xe đến trước nhà cháu không?". Tôi cười và gật đầu. Tôi nghĩ mình biết cậu bé muốn gì. Cậu muốn cho những người hàng xóm thấy cậu đã về nhà trên chiếc xe to như thế nào. Thế nhưng tôi đã lầm... "Cô chỉ cần dừng lại ở đây, và có phiền không nếu cháu xin cô đợi cháu một lát thôi ạ...".
Nói rồi cậu bé chạy nhanh vào con hẻm sâu hun hút, tối om, tưởng chừng như chẳng có ai có thể sống trong ấy. Ít phút sau tôi nghe thấy cậu bé quay lại qua tiếng bước chân, nhưng hình như lần này cậu không chạy như lúc nãy mà đi rất chậm. Và đi theo cậu là một cô bé nhỏ nhắn, mà tôi nghĩ đó là em cậu, cô bé với đôi bàn chân bị tật. Cậu bé đẩy chiếc xe lăn em cậu đang ngồi, một chiếc xe cũ kĩ, xuống những bậc tam cấp một cách rất cẩn thận, và dừng lại cạnh chiếc xe của tôi.
"Cô ấy đây, người mà lúc nãy anh đã nói với em đấy. Anh trai cô ấy đã tặng một chiếc xe hơi cho cô nhân dịp Giáng Sinh mà cô chẳng phải tốn lấy một đồng. Và một ngày nào đấy anh cũng sẽ tặng em một món quà giống như vậy. Hãy nghĩ xem, em có thể tận mắt thấy những món quà, những cảnh vật ngoài đường phố trong đêm Giáng Sinh, và anh sẽ không phải cố gắng miêu tả nó cho em nghe nữa!".
Tôi không thể cầm được nước mắt, và tôi đã bước ra khỏi xe, đặt cô bé đáng thương ấy lên xe. Ánh mắt cô bé nhìn tôi đầy vẻ cảm phục và thân thiện.
Ba chúng tôi lại bắt đầu một chuyến đi vòng quanh thành phố, một chuyến đi thật ý nghĩa và tôi sẽ không bao giờ quên, khi những bông tuyết lạnh giá của đêm Giáng Sinh bắt đầu rơi.
Và cũng trong đêm Giáng Sinh ấy, tôi đã hiểu được sâu sắc ý nghĩa một câu nói của chúa Giê-su: "Không gì tốt đẹp hơn việc làm cho người khác hạnh phúc."
Tràm Cà Mau
Người xưa viết rằng, tha hương mà gặp người quen biết cũ là một trong bốn cái thú lớn nhất trong đời. Tôi nghĩ, cần chi phải là quen biết cũ, tha hương mà gặp một đồng hương, cũng mừng đến lịm người đi chứ. Đó là trường hợp của anh Hy và tôi, khi gặp nhau trong cái thành phố Morris nhỏ bé, có dân số bảy ngàn người nầy, vào năm 1981. Tôi vì cơm áo, mà trôi dạt đến đây, gặp anh Hy. Việt Nam trong thành phố nhỏ hiền hòa nầy. Không quen biết trước, mà chúng tôi quý và thân thiết nhau còn hơn cả anh em ruột thịt. Gia đình anh Hy có năm người, bà mẹ già, hai vợ chồng anh và hai đứa con nhỏ. Lần đầu tiên gặp chúng tôi, bà cụ mẹ anh Hy cầm tay vợ tôi mà mắt rưng rưng vì mừng, bà cứ vuốt ve lưng bàn tay vợ tôi mãi. Vợ tôi thân thiết ngồi ép sát vào bà.
Bà cười nói sung sướng, như vợ tôi là đứa con gái của bà thất lạc nhiều năm mới tìm lại được. Gặp người đồng hương là sung sướng thế đó. Chị vợ anh Hy thì không dấu được niềm vui, cười nói tíu tít, và nhìn hai vợ chồng tôi với ánh mắt đầy thiện cảm. Anh Hy hiền lành, ít nói, nhưng nụ cười trên môi nở mãi không tàn. Hai đứa con chưa biết gì, chạy nhảy, reo hò. Gia đình anh Hy sung sướng, chúng tôi cũng hân hoan mừng.
Một buổi tối, tôi đi làm về, được điện thoại của anh Hy, anh hớn hở báo cho tôi biết rằng, sắp có một gia đình Việt Nam tị nạn đến thành phố nầy. Giọng anh vui mừng ríu rít. Ông bà người Mỹ bảo trợ mới thông báo cho anh biết. Ông bà muốn anh xếp đặt thì giờ, để cùng mấy người trong họ đạo đi đón người mới đến, vào thứ tư tuần tới. Tôi vội vã báo tin mừng cho vợ, và trong lòng nghe lâng lâng vui. Có thêm càng đông đồng hương, càng đở buồn, và thỉnh thoảng qua lại chuyện trò cũng bớt cô đơn nơi quê người. Vợ tôi bàn thêm, nếu thuận tiện, thì chúng tôi cùng đi đón gia đình Việt Nam tị nạn nầy cho vui, và tỏ cái tình thân thiết lúc ban đầu.
Suốt trong tuần, vợ anh Hy và vợ tôi soạn nồi niêu, chén bát, ly tách, muỗng đủa, chia bớt các thứ cần dùng trong nhà, để dành mà tặng cho gia đình mới đến. Mỗi khi bà Mỹ bảo trợ tiết lộ một tin tức gì về người sắp đến, chị vợ anh Hy vội vã điện thoại báo cho chúng tôi biết ngay.
Máy bay sẽ chở gia đình người tị nạn đến phi trường Chicago vào hôm thứ tư, lúc mười một giờ đêm. Hôm đó anh Hy bị cảm mạo, lên cơn sốt, thân nhiệt nóng hơn một trăm độ F. Hai ông bà người Mỹ bảo trợ kêu điện thoại cho tôi lúc bảy giờ tối, khi tôi mới đi làm việc về. Họ yêu cầu tôi thay anh Hy, đi cùng họ, để đón người tị nạn mới tới. Bỏ tắm rửa, tôi ăn vội vã, để khởi hành lúc tám giờ rưỡi, phòng khi đường sá có gì bất trắc. Ông Mỹ bảo trợ tên là Gary có vợ là bà Eva, cả hai ghé nhà tôi để hướng dẫn và chỉ đường trên bản đồ. Tôi cũng run lắm, vì chưa bao giờ đi đến phi trường nầy, và thấy cái bản đồ ghi chằng chịt đường sá đan nhau, như cái nùi chỉ rối. Ông bảo tôi chạy bám sát xe ông, nhưng chưa được mười phút thì đã lạc nhau. Khi cách phi trường ba mươi dặm, thì xa lộ bị tắc nghẽn, vì chiếc xe vận tải hàng hóa bị lật, gây tai nạn dính chùm. Xa lộ bị đóng hoàn toàn. Khi vào đến phi trường, tôi bị lạc đường hai lần, chạy quanh mãi mới vào được nhà đậu
xe. Ông bà Gary cũng đi lạc, và đến sau tôi. Tuyết rơi quá dày, nên máy bay cũng đến trể. Ông Gary cầm cái bảng lớn, đề tên người chủ gia đình là Phan Ly, đưa lên cao trước cỗng đi ra của hành khách. Gặp dáng người Á Đông nào, tôi cũng chăm chắm dòm kỹ. Cho đến khi hành khách không còn ai cả, thì ông bà Gary bối rối. Ông chạy đi hỏi hãng máy bay, họ xác nhận là có gia đình anh Phàn trên chuyến máy bay vừa rồi. Hai vợ chồng ông Gary và tôi, cầm cái bảng đề tên anh Phàn đi quanh các ghế chờ trên phi trường, thấy gia đình Á Đông nào, cũng chìa cái bảng tên ra trước mặt họ, để dò hỏi. Đi quanh ba vòng, mà không tìm được, ông Gary nhờ loa kêu, hỏi gia đình anh Phàn ở đâu, cho biết để người bảo trợ đón về. Cũng vô hiệu. Đi tìm gia đình anh Phàn cả tiếng đồng hồ mà không kết quả, cả ba người chúng tôi ngồi xuống ghế nghỉ một chốc với lòng vô cùng chán nãn. Tôi bảo hai ông bà Gary ngồi chờ, tôi cầm cái bảng tên đi tìm một lần nữa. Tôi đi dò tìm tên từng gia đình trên cái túi ni lông mà họ xách trên tay, của cơ quan ICM phát, khi họ cho mượn tiền máy bay. Tôi đến gần một anh mang cà vạt đỏ, áo vét ba mảnh bên trong, bên ngoài khoác áo bành tô bằng dạ. Tôi nhìn tận cái túi, và thấy loáng thoáng tên Phàn, tôi đánh bạo hỏi:
"Anh là Phàn phải không"
"Vâng. Tôi tên là Phàn, anh là ai?"
"Tôi đi theo hai ông bà bảo trợ người Mỹ đến đón gia đình anh. Sao nãy giờ chúng tôi đi qua đây nhiều lần, đưa cái bảng tên anh ra, mà anh lại ngồi im?" - Tôi nói với giọng hơi mất kiên nhẫn.
Anh Phàn chỉ vào cái bảng và nói:
"Cái bảng nầy ấy à? Thấy ông Mỹ chìa ra trước mặt tôi ba lần, nhưng đâu phải tên tôi mà nhận. Tên ông Ly nào đó mà. Tôi là Phàn."
Tôi cười, nói nhỏ nhẹ:
"Đây là tên anh . Theo lối Mỹ, ghi tên trước, họ sau."
"Ngược ngạo thế thì 'bố giời' mới biết được".
"Thế thì loa kêu tên anh nhiều lần, sao anh cũng chẵng trả lời?"
"Nghe được cái quái gì đâu?"
Tôi chợt nghĩ ra, nếu người ta có gọi tên tôi trên loa, chưa chắc tôi đã nghe kịp, huống chi anh Phàn là người mới đến. Tôi quay lại báo tin cho hai ông bà Gary, và giải thích tại sao không tìm ra. Ông bà Gary mừng, và tôi đọc được sự kiên nhẫn, chịu đựng của hai ông bà, khi đêm khuya không ngủ, tuyết đổ, lái xe cả trăm đặm, đi đón một gia đình ngoại quốc, khác màu da, khác chủng tộc, không hề bà con, không hề quen biết. Và trước đó nữa, phải làm bao nhiêu giấy tờ, mất bao nhiêu thì giờ, tốn kém đủ thứ. Chỉ vì trái tim biết thương người mà thôi.
Gia đình anh Phàn có hai vợ chồng, năm đứa con, đứa đầu mười bốn tuổi, đứa út còn ẵm trên tay. Anh Phàn người da sậm, gầy ốm, cái má thóp, răng cỏ đen điu vì khói thuốc. Vợ anh thấp, trắng hơn, có bề ngang. Chị mang váy đầm dạ xám, áo vét, ngoài khoác áo bành tô cứng ngắt. Gia đình anh còn có một bà già mù, mang váy nâu, đầu quấn khăn mỏ quạ, răng nhuộm đen, trên mắt có che miếng vải đen, gợi tôi nhớ rõ hình vẽ trong cuốn sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư mà ngày còn bé tôi hay đọc. Bà cụ y hệt cái hình vẽ bà già mù trong sách. Trang phục của vợ chồng anh Phàn có vẽ sang trọng hơn cả ông bà bảo trợ nhiều, nhưng cũng không dấu được vẻ quê mùa.
Hành lý được chất lên cao trên bốn chiếc xe đẩy. Ông Gary , tôi, vợ anh Phàn, và cháu bé gái mười bốn tuổi, mỗi người đẩy một chiếc xe. Anh Phàn đi tay không thong thả, rút thuốc lá châm mồi và hút trong hành lang, nhả khói mù làm bà Eva ho sặc. ( Dạo nầy, chưa có luật gắt gao cấm hút thuốc nơi công cộng). Bà Eva đi dang xa ra khỏi anh Phàn, và ghé lại chiếc xe của cháu bé gái, phụ đẩy. Thấy đi mãi trong hành lang dài, anh Phàn hất đầu hỏi tôi:
"Sao không kêu tài xế lái xe vào gần đây, mà phải đi xa quá vậy?"
Tôi cười và trả lời:
"Tài xế? Tài xế là ông Gary và tôi đây. Xe đậu trong ga-ra là nơi gần nhất rồi, không có nơi nào gần hơn nữa".
Anh Phàn hỏi tôi:
"Anh làm tài xế cho ông bà Mỹ nầy? Lương trả có khá không?"
"Không, tôi làm việc cho công ty tư vấn. Ông bà Mỹ nầy nhờ tôi đi đón, phụ đưa gia đình anh về. Đường xa, anh có mệt lắm không?"
"Cũng mệt, nhưng chẵng can gì cả."
"Có lẽ anh nên đẩy xe giúp cho cháu bé thì hơn"- Tôi nói.
"Kệ nó, để nó làm việc cho quen"
Hành lý quá nhiều, hai chiếc xe hơi không đủ chở. May mắn ông Gary gặp người quen, ông gởi bạn mang về nhà, hẹn ngày sau sẽ đến lấy.
Vào ngày chủ nhật đầu tiên của anh chị Phàn trên đất Mỹ, chúng tôi tổ chức một bữa tiệc lớn để chào mừng và đãi đồng hương. Anh Hy và tôi, mỗi gia đình đóng bảy mươi lăm đồng làm chi phí. Chị Hy và vợ tôi trổ tài nấu ăn, rộn ràng nấu nướng từ sáng sớm tinh sương. Anh Hy kê thêm thùng giấy làm bàn, mượn thêm ghế của các gia đình bên cạnh. Chai rượu nho hồng đậm đặt trên bàn bên cạnh bình hoa giả. Anh Hy và tôi lái xe đến tận nhà anh Phàn đón tất cả mọi người, cả cháu bé còn bế trên tay.
Ba gia đình vui vẻ nhập tiệc. Anh Phàn kêu bà cụ già mù bằng dì. Tôi cảm phục cái tình gia đình của anh Phàn, khi đem bà dì mù lòa đi vượt biển. Anh Phàn uống rượu nho như uống nước ngọt, tu một hơi hết nữa li lớn. Anh nói:
"Rượu nầy nhạt lắm. Có đế trắng hoặc rượu Tây mới đã miệng.
Anh Hy nghe vậy, vào bên trong lục tủ, lôi ra nữa chai Vodka, rót vào ly anh Phàn. Anh Phàn uống một hớp nói:
"Cái nầy mới thật là rượu."
Khi đã ngà ngà, anh Phàn hăng say kể về cuộc chiến anh hùng chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Hạ máy bay Con Ma, bắt giặc lái. Máy bay của ta núp trong mây, chờ máy bay Mỹ đến thì bắn hạ rụng như sung chín. Anh kể công ơn bác, đảng, văn minh tiên tiến. Những chuyện nầy, tôi đã nghe nhiều lần khi còn ở bên nhà. Chị vợ anh Hy giận, nói lớn, hỏi sao anh không ở lại với bác đảng anh hùng của anh, mà lại đi qua Mỹ làm chi. Anh trả lời là sống với bọn đó không được, sống không nỗi, đời sống thua con chó, khoai sắn còn không có mà ăn, chứ đừng nói đến cơm.
Khi vợ anh Phàn khoe cái hay của ông chồng, chị nói:
"Ông nhà tôi thế chứ khảnh ăn lắm. Chỉ thích ăn quà, chứ không thích ăn cơm."
Chị vợ anh Hy nói:
"Sống với bác đảng, đói cho rã họng ra, ở đó mà thích quà không thích cơm. Nói làm sao mà tôi không hiểu chi cả."
Mỗi tuần, các bà trong hội nhà thờ đến đưa vợ anh Phàn đi chợ hai lần. Họ nhờ chị Hy đi theo để hướng dẫn và thông dịch. Mỗi lần đi chợ về, thì chị vợ anh Hy cũng kêu điện thoại cho vợ tôi để than vãn:
"Chị biết không, lần nào em xấu hổ muốn độn thổ quách. Chị ấy lựa những tảng thịt bò đắt tiền nhất, lấy hai ba tảng to tướng. Lựa các thức ăn ngon nhất, đắt nhất trong chợ, chất đầy một xe cao nghệu. Em đoan chắc với chị rằng, cái bà bảo trợ chưa bao giờ dám đụng đến các thứ thịt đắt tiền đó. Bà bảo trợ cứ chỉ vào thịt gà, thịt heo, mà chị ấy lờ đi. Em thấy cái mặt bà bảo trợ nhăn như cái bị rách. Khi trả tiền, mặt mấy bà tái ngắt vì số tiền phải trả."
Có lần vợ anh Hy khuyên vợ anh Phàn rằng, nên chọn các thức ăn có giá trung bình hoặc rẽ mà mua, vì chính ngay các bà bảo trợ, cũng rất ít khi dám ăn các thứ đắt tiền đó. Vợ anh Phàn lắc đầu mà nói rằng, mình không trả tiền, tội gì không lựa món ngon mà ăn. Từ đó, vợ anh Hy sinh ra có thành kiến với gia đình anh Phàn.
Các ông bà bảo trợ trong nhà thờ rất chu đáo. Mua cho các cháu bé áo quần, giày vớ, áo lót chống lạnh, áo khoác đi tuyết, sách vở, viết chì, viết màu, túi xách mang lưng để đi học, ghi tên cho các cháu đến trường. Khi họ đến thông báo cho gia đình anh Phàn, để hẹn ngày đem các cháu đến trường, thì anh Phàn phản đối, nhất quyết không cho cháu gái đầu mười bốn tuổi đi học. Anh lấy lý do là nhà đông con dại, cháu nầy đã lớn, cần ở nhà giữ em, làm việc vặt, giúp mẹ nấu nướng. Ba bà bảo trợ cố gắng giải thích, qua sự thông dịch lỏm bỏm của vợ anh Hy, rằng luật pháp ở Mỹ bắt buộc trẻ con dưới mười tám tuổi phải đi học. Nếu không được đi học, thì cha mẹ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Chị vợ anh Hy cũng chỉ hiểu lơ mơ lời các bà, và thông dịch cho anh Phàn. Anh Phàn cứ lắc đầu, nhất quyết không chấp nhận lời khẩn cầu của các bà Mỹ, cho cháu lớn đi học. Các bà cứ thuyết phục mãi làm anh Phàn nỗi giận nói gằn với chị vợ anh Hy :
"Con của tôi sinh ra, tôi muốn cho nó đi học hay không là quyền của tôi. Sao các bà ấy cứ muốn xía vào chuyện riêng của chúng tôi mãi thế."
"Pháp luật bắt buộc cho trẻ con đi học. Không phải các bà muốn đâu"
"Pháp luật nào mà lạ thế? Tùy hoàn cảnh gia đình mỗi người, mà cho con đi học. Nhà nước nào mà can thiệp vào? Đây là xứ tự do mà."
"Đúng, xứ tự do, nhưng không phải cha mẹ muốn làm gì thì làm. Pháp luật bảo vệ con trẻ dưới tuổi trưởng thành."
"Thôi, chị đừng nói nữa, tôi đã nhất quyết rồi. Tôi đã có phương án riêng cho gia đình tôi. Vô ích. Chị đừng tuyên truyền tôi nửa."
Vợ anh Hy tức cành hông, muốn khóc vì không phá vỡ được cái vỏ cứng rắn của anh Phàn. Chị cùng ba bà Mỹ chán nản ra về. Tối hôm đó, bà Eva điện thoại cho tôi, nhờ giải thích cho anh Phàn hiểu luật pháp Mỹ .
Tôi chưa kịp kêu cho anh Phàn để giải thích, thì điện thoại reo. Anh Phàn ở đầu dây bên kia. Anh than phiền là các bà Mỹ, và vợ anh Hy cứ ép anh, buộc phải cho đứa con gái đầu đi học. Anh nói là họ làm áp lực anh, họ vô lý. Còn bày đặt ra là luật lệ bắt buộc để dọa anh. Nghe giọng nói của anh, tôi cũng phải chùn lại, vì biết rất khó thuyết phục anh trong lúc nầy. Tôi chỉ ừ è cho qua chuyện, và giả vờ theo phe anh, mà nói :
"Anh nói đúng, mỗi gia đình có hoàn cảnh riêng, giải quyết theo cách riêng. Không ai có quyền ép ai cả. Về luật lệ xứ nầy, thì tôi cũng không được rõ lắm. Hay là anh thử kêu điện thoại qua Oklahoma hỏi những người anh quen biết từ ngoài Bắc, mà họ đã đến xứ nầy từ lâu rồi, để biết thêm cho rõ. Biết chắc luật lệ, mà thi hành. Không ai có quyền ép mình theo ý họ, nhưng mình cũng không nên làm trái luật. Có gì thì anh cho tôi biết với."
Không biết anh có kêu điện thoại cho người quen ở Oklahoma hay không, nhưng sau cùng, anh Phàn cũng phải nhượng bộ yêu sách của nhà thờ, để cho cháu gái mười bốn tuổi đi học. Anh nói rằng : "Thôi, thì tôi cũng tạm thời lui một bước, mình mới đến đây mà căng quá cũng không nên. "
Các ông bà bảo trợ để anh chị Phàn nghỉ ngơi cho hoàn hồn trong hai tháng. Trời tuyết đổ bên ngoài, trong nhà đóng cửa kín mít, lò sưởi mở tối đa, anh chị và bà cụ bó gối ngồi trên ghế bành . Cái máy truyền hình nhấp nhem, nói tiếng Mỹ ồn ào. Anh Phàn bảo rằng, không đi tù, mà cũng giống như bị giam lỏng, bị quản chế. Ra ngoài thì trời lạnh, tuyết ngập, đi gần cũng không biết đi đâu, đi xa thì không có xe cộ.
Khi hội nhà thờ muốn kiếm việc cho anh chị làm, thì anh gạt ngang. Anh nói với ông bà bảo trợ, qua thông dịch của vợ tôi:
"Chưa biết nghe, biết nói chi cả chưa thể đi làm được."
Bà bảo trợ thuyết phục:
"Công việc cần làm, không cần nói, cũng không cần nghe."
"Khi nào chúng tôi nói và nghe giỏi như các bà, chúng tôi sẽ đi làm việc. Gấp làm chi. Tôi cần đi học tiếng Anh cho giỏi."
Vợ tôi bảo rằng, dù anh học thêm năm ba chục năm nữa, cũng không thể nói và nghe bằng họ được. Đi làm việc, chỉ cần cố gắng làm. Còn nghe và nói, thì ai cũng lơ mơ, nghe một phần, đoán một phần. Mình không lớn lên tại Mỹ, thì hiếm hoi lắm mới nghe và nói giỏi tiếng Mỹ. Phải vừa làm, vừa học. Nhưng anh Phàn nhất quyết rằng, chưa nghe, chưa nói giỏi thì chưa chịu đi làm. Nghe vậy, mấy bà trong họ đạo, ngày nào cũng thay phiên nhau đến nhà anh Phàn dạy tiếng Mỹ. Mỗi ngày dạy bốn giờ liên tiếp. Các ông bà Mỹ tin tưởng rằng, trong vòng ít tháng, thì cả nhà sẽ giỏi tiếng Mỹ, không giỏi bằng họ, thì cũng một tám một mười. Trong những buổi học tiếng Mỹ, anh Phàn và vợ thấy buồn ngủ khủng khiếp, cứ rán chống mắt lên, mà cái đầu cứ gục lia lịa. Anh chị uống trà đậm chống cơn buồn ngủ cũng không hiệu quả. Anh chị thấy những buổi học nầy, như cực hình, như tra tấn, và nản lòng vô cùng.
Học được phút trước, thì phút sau quên béng đi. Không nhớ gì cả. Anh chị kết luận, là cái óc của anh chị đã hư rồi, không thể học được gì nữa. Sau một tháng dạy liên tục, các bà Mỹ cũng nản lòng, bỏ lớp dần dần, và không đến dạy nữa. Kết quả vượt bực. Anh Phàn thì chỉ ấp úng
nói được hai chữ "yes" và "no", vợ anh giỏi hơn, nói được rất ngọng thêm chữ "thank you". Vợ tôi cho rằng, các bà Mỹ không có phương pháp sư phạm, nên dạy không kết quả.
Từ đó, anh Phàn mới chấp nhận là không thể học nói học nghe cho giỏi bằng các ông bà Mỹ được, và anh chị cắn răng để cho nhà thờ thu xếp việc làm cho anh chị.
Mỗi buổi sáng tinh sương, anh Hy đến chở anh Phàn đi làm, buổi chiều chở về tận nhà. Có những buổi chiều, khi tan sở, xe anh Hy là một đống tuyết khổng lồ, anh phải vất vả đào tuyết moi xe ra. Trong khi anh Hy quần thảo với đống tuyết, với nước mãng nước đá đông cứng trên kiếng xe, thì anh Phàn đứng hút thuốc lạnh lùng nhìn. Anh Hy bất bình, nhưng không nói. Một lần, mệt quá, anh Hy không nín được, quay qua hỏi anh Phàn:
"Anh không giúp tôi một tay dọn tuyết cho mau mà ra về?"
"Xe anh chứ có phải xe tôi đâu!"
"Nhưng... anh có đi trên xe nầy không?"
"Anh lái xe mà, đâu phải việc của tôi"
Anh Hy giận lắm, im lặng, và không nói với anh Phàn trong nhiều ngày liên tiếp. Anh Hy nói với tôi rằng, vì đã lỡ nhận lời gởi gắm của bà Mỹ bảo trợ, nếu không, thì anh chẵng chở anh Phàn đi làm nữa. Tôi an ủi anh Hy, khuyên anh đừng giận anh Phàn, vì đồng hương còn có ai đâu, giận nhau nữa thì còn ai. Nhiều khi anh Phàn cự nự anh Hy vì đã đến đón sớm hơn giờ quy định. Những khi nầy, anh Phàn rề rà cho anh Hy phải ngồi chờ thật lâu trong xe dưới tuyết đổ. Có lần anh Phàn ngần ngừ hỏi:
"Tôi hỏi thật, anh đừng dấu nhé. Nhà thờ trả cho anh mỗi tháng bao nhiêu, để anh đưa đón tôi đi làm ?"
Anh Hy nghe mà buồn cười, hỏi lại:
"Anh hỏi làm chi vậy?"
"Hỏi cho biết bao nhiêu, nếu số tiền đó khá, thì tôi xin lảnh tiền, và kiếm chiếc xe đạp đi làm cũng được."
"Không có xu nào cả. Tôi chở anh miễn phí, vì anh là đồng hương, và vì tôi cũng đã từng qua thời kỳ mới đến định cư như anh. Đáng ra anh phải chia tiền xăng, tiền hao mòn xe với tôi mới phải lẽ."
"Tôi không tin."
"Không tin thì anh thử hỏi mấy ông bà bảo trợ xem."
Anh Phàn cười mũi:
"Có hỏi mấy ông bà Mỹ, thì vợ anh hay anh phiên dịch. Anh chị muốn nói chi mà không được. Thà đừng hỏi."
Anh Hy buồn lắm, nhưng không nỡ nói nặng lời, anh chỉ thở dài:
"Năm ba năm nữa, nếu nhớ lại chuyện nầy, anh sẽ biết rõ sự thực."
Mỗi ngày, có xe nhà trường đến tận nhà chở ba cháu bé đi học. Cháu lớn học ở trường xa hơn, hai cháu nhỏ học trường tiểu học gần nhà. Anh Phàn nói rằng, nhờ đấu tranh gay gắt với nhà thờ về vụ cho đứa con lớn đi học, mà nhà thờ phải nhượng bộ, bằng cách đem xe đón tận nhà, đưa luôn ba đứa đi học. Chị vợ anh Hy giải thích rằng, trẻ con ở thành phố nầy, em nào cũng được vậy, không riêng gì các cháu con anh Phàn. Anh Phàn không tin và chỉ cười ruồi đáp lại.
Mùa đông miền Trung Bắc nước Mỹ, như mọi ngày đông khác, tuyết đổ ngập đường trắng xóa. Xe cào và thổi tuyết hoạt động liên miên. Muối được rải ra những con đường chính cho xe chạy. Một cháu trai nhỏ con anh Phàn đang ngồi trong lớp học, bỗng đứng dậy ôm sách vở ra về. Cô giáo
cản lại. Hai bên trao đổi vài câu. Không ai hiểu ai. Cô giáo chỉ ra sân đầy tuyết trắng chất thành đống cao, như muốn nói cho em hiểu rằng không thể đi được, và dắt em về lại chỗ ngồi. Em rươm rướm nước mắt, và đứng dậy, nhất định ra về. Cản mãi không được, cô giáo kêu bà hiệu trưởng. Bà xuống lớp, khuyên bảo em. Hai bên cũng không hiểu nhau. Bà không thể để em bé bảy tuổi ra về một mình trong gió hú, trong tuyết cao chất đầy như thế. Bà cầm tay giữ em bé lại. Em khóc lớn. Hai bà giáo nhìn nhau thất vọng, không biết phải làm gì. Bỗng bà hiệu trưởng nhớ là em bé có con chị học trên nó hai lớp. Bà cho người đi kêu chị nó xuống. Con chị xuống gặp đứa em, nói vài câu. Xong, con chị nắm tay thằng em dẫn nó ra về. Hai bà giáo vội cản lại. Kéo hai em vào bên trong lớp. Cả hai đứa đều khóc ròng. Bà hiệu trưởng dẫn hai chị em đứa bé về phòng, và kêu điện thoại cho bà Mỹ trong gia đình bảo trợ, nhờ giúp đở. Bà bảo trợ vào trường ngay. Bà dắt hai chị em về lớp, hai đứa không chịu đi, mà nhất định kéo nhau ra sân, để đi bộ về nhà. Ba bốn cô giáo họp lại bàn cãi. Một hồi sau, bà bảo trợ theo yêu cầu của các cô giáo, chạy xe đến công ty anh Phàn đang làm, xin cho anh được tạm nghỉ, đến trường giải quyết việc học của hai cháu. Anh Hy phiên dịch cho anh Phàn biết, là hai cháu không chịu học, mà đòi đi bộ giữa mưa tuyết, để về nhà. Anh Phàn giận hầm hầm và nói với anh Hy : "Con cái mất dạy. Đề tôi đến cho chúng vài bạt tai, cho bớt biếng nhác."
Anh Hy vội vã níu anh Phàn lại, đặn dò: "Không được, đánh trẻ con thì cảnh sát còng tay đó . Đừng dại dột." Anh Phàn hất tay anh Hy ra, và chưa dứt cơn giận: "Vợ chồng anh được cái giỏi là hay hù họa tôi mà thôi. Con cái mà không đánh cho sợ, thì thành hư đốn. Dạy con từ thuỡ nên ba." Anh Hy biết khó thuyết phục anh Phàn, bèn nói vọng theo: "Bớt nóng giận. Đừng đánh con, tội nghiệp. Có chi thì từ tốn, dạy bảo." Anh Hy sợ anh Phàn bị cảnh sát còng tay. Khi xe đến trường, anh Phàn hùng hổ, xăm xăm đi theo bà Mỹ đến gặp hai đứa con. Hai đứa bé mặt xám ngắt, trên mắt còn ướt sũng lệ. Anh lớn giọng gằn hai đứa bé. Sau vài câu trao đổi giữa ba cha con, mặt anh Phàn dịu xuống, đến nắm tay hai đứa con, dắt chúng ra về. Tuyết ngập trời, tuyết cao nghệu, các bà giáo cản cha con anh lại không cho đi. Không ai cho anh dắt trẻ con đi trong mưa tuyết lạnh lẽo nầy. Anh kéo con đi, nhưng một ông giáo to lớn như hộ pháp đang giữ tay hai em bé lại. Các bà giáo đang vây quanh thì líu lường xôn xao. Anh Phàn nhìn đám thầy cô người Mỹ với ánh mắt tuyệt vọng, với nét mặt anh nhăn nhúm đầy đau khổ, anh vội cúi xuống, banh quần thằng bé ra, và òa khóc lớn. Cả ba cha con cùng khóc vang thảm thiết. Mùi thối tha bốc lên làm ngát mũi. Mấy ông bà giáo người
Mỹ cùng ồ lên một tiếng lớn, và cùng cười. Họ hiểu, em bé đã phóng uế ra cả quần. Em đã không biết nói sao để xin cô giáo đi ra phòng vệ sinh, và cũng không biết phòng vệ sinh ở đâu, rán sức cầm cự, và khi hết chịu nỗi, thì phóng ra quần.
Mỗi buổi chiều, sau khi anh Phàn đi làm về chừng một tiếng, thì có bà Mỹ đến chở vợ anh đi làm. Mấy ông bà Mỹ xin cho chị được chân rửa bát tại một khách sạn sang nhất trong tỉnh nhà. Khoảng mười giờ rưỡi đêm, thì mấy bà Mỹ trong họ đạo chia phiên nhau, lái xe trong tuyết lạnh, đến chở vợ anh Phàn về nhà. Mùa đông tỉnh lẻ, họ ngủ sớm, mười giờ đêm là đã say giấc, họ phải để đồng hồ báo thức. Vợ tôi thường biểu lộ sự cảm phục lòng tốt của các bà trong họ đạo. Khuya lạnh, ai mà không muốn thẳng giấc, phải thức dậy đội tuyết ra đi là một cực hình. Có nhiều đêm, vì lý do bất khả kháng, các bà kêu tôi, nhờ đến đón chị Phàn về. Thời đó, dù sáng phải dậy lúc năm giờ, để kịp năm giờ rưỡi khởi hành, đi làm, nhưng tôi vui vẻ nhận lời ngay, để cám ơn cái lòng tốt của các bà Mỹ, đã giúp cho người đồng hương của tôi. Có lần tôi bị cảm mạo, chóng mặt, mà không dám từ chối, sợ các bà cho là tôi không có lòng. Mỗi lần đi đón, thì tôi phải cào tuyết trên xe hơn mười lăm
phút, chờ máy nóng mới đi được. Bỡi thế, nên thường đến trể. Chi vợ anh Phàn giận, không vui, ngồi trên xe mà không nói một lời nào . Cả không một lời cám ơn, một lời chào khi được đón và khi về thấu nhà. Có lần chị nói :
"Nếu đón tôi, thì đừng đến trể. Ngồi chờ rất nản."
"Tôi được các bà Mỹ kêu, nhờ đi đón chị, thì tôi đi ngay. Phải mang áo, phải cào tuyết, phải chờ xe ấm máy, nên hơi trể, chị đừng buồn. Các bà người Mỹ tử tế quá, đêm nào cũng đi đón chị trong lạnh lẽo, mưa, tuyết."
"Tôi có nhờ các bà đâu. Họ bắt tôi phải đi làm việc đấy chứ. Hừ, tử tế!"
Tôi không buồn mà thương cho chị. Có lẽ anh chị Phàn hiểu lầm rất nhiều về lòng tốt của những người chung quanh.
Một hôm, anh chị Phàn mời vợ chồng tôi, và vợ chồng anh Hy đến nhà, để nhờ chúng tôi một việc quan trọng. Hỏi anh chuyện gì, anh nói sẽ cho biết sau. Anh Hy cười nói với tôi rằng, sao cái lối nói nầy giống hệt cách thức của công an nhà nước cọng sản hồi trước. Buổi chiều đi làm việc về, có "giấy mời" tối nay ra trụ sở công an, lý do "Cho biết sau". Cứ thế mà run, mà thắc mắc, không biết có chuyện gì, không biết có bị nhốt luôn hay không. Ra đi mà hồi hộp, mà dặn dò vợ con phải làm
gì để sinh sống, nếu bị nhốt tù. Chúng tôi rủ nhau cùng qua nhà anh Phàn mà không phải hồi hộp, không phải lo lắng. Anh Chị Phàn cùng bà cụ đã ngồi sẵn trong phòng khách. Họ rót nước trà mời chúng tôi, xem bộ trịnh trọng, không lạt lẽo như thường ngày. Sau một hồi thăm hỏi xả giao, anh Phàn tằng hắng nói:
"Tôi mời các anh chị đến đây, vì không còn ai có thể giúp cho chúng tôi được trong hoàn cảnh câm điếc này. Nhà thờ đã ăn chận của gia đình
tôi mỗi tháng hơn hai ngàn đô. Tôi van xin các anh chị, nói với các ông, các bà trong nhà thờ, cho chúng tôi lại số tiền đó, để tôi làm vốn, ra làm ăn buôn bán, kiếm sống, chứ đi làm cu-li cho hãng sửa tàu, cho khách sạn, thì biết bao giờ mới ngóc đầu lên nỗi? Chúng tôi van lạy các anh chị, xin giúp chúng tôi, và vì thương các cháu nhỏ ..."
Cả bốn người chúng tôi bàng hoàng, không tin vào lổ tai mình. Chị vợ anh Hy ấp úng hỏi lại:
"Nhà thờ ăn chận tiền của anh chị? Mỗi tháng hơn hai ngàn ? Sao? Anh nói rõ hơn được không?"
Anh Phàn gằn giọng, nói lớn, rõ ràng:
"Đừng vờ vĩnh. Gia đình tôi có tám người, nhà nước Mỹ cấp cho, ít nhất cũng trên ba ngàn bạc mỗi tháng. Cứ cho tiền chợ, tiền nhà mà mấy ông bà bảo trợ chi cho chúng tôi, chừng mấy trăm là cùng, thì cũng còn hơn hai ngàn đồng mỗi tháng, chứ có ít đâu. Nếu không ăn chận, thì tiền đó để đâu, vào túi ai?"
Chị vợ anh Hy tái mặt, hỏi:
"Ai nói với anh điều đó? "
"Chúng tôi biết rõ lắm, không cần ai nói cả."
Anh Hy ôn tồn giải thích rằng, anh cũng đã đến đây trước. Anh rõ thủ tục. Ban đầu hội nhà thờ thuê giúp nhà, cho tiền chợ, mua cho đủ các thứ cần dùng hàng tháng. Rồi họ kiếm việc cho mình làm. Khi đã có lương tiền, thì mình phải tự túc lấy. Đó là chính sách của nhà thờ."
Mặt anh chị Phàn và cả cụ già đều sậm lại. Giọng chị Phàn chua ngoét:
"Chúng tôi đâu có ngu. Tôi biết rõ hai ông bà Hy nầy là những con cò mồi của nhà thờ. Biết rõ đến mười mươi."
Anh Hy run lên vì giận, chị Hy thì mặt đỏ bừng, thét lên the thé:
"Làm cò mồi để được cái gì? Ăn nói như những kẻ vô ân bạc nghĩa. Nói như vậy mà không biết tự xấu hổ sao? Giao thiệp với hạng người nầy thêm xấu hổ, thêm nhục nhã cho cái giống nòi mình mà thôi."
Chị Hy kéo anh chồng đứng dậy, giận dữ ra về. Anh Hy quay lại nói với anh Phàn:
"Tuần tới, ông tự kiếm lấy phương tiện mà đi làm. Tôi không muốn làm mọi cho ông nữa."
Vợ tôi cũng giận và muốn ra về theo vợ chồng anh Hy. Tôi làm dấu, bảo ngồi yên. Anh Phàn phân trần tiếp:
"Chuyện trợ cấp cho người mới định cư là luật của nhà nước Mỹ. Rõ ràng, không ai chối được. Chúng tôi đã biết rõ từ hồi còn ở trại tị nạn Hồng Kông. Nay nhà thờ ăn chận tiền, rõ ràng thế, mà còn chối loanh quanh."
Tôi thấy tội nghiệp cho vợ chồng anh Phàn, vì hiểu lầm, nên có nhiều suy nghĩ và hành động đáng tiếc. Tôi cũng không dám nói thẳng là anh đã hiểu lầm luật lệ. Biết là khó mà giải thích cho gia đình anh Phàn hiểu, không chừng càng giải thích, thì càng gây thêm nhiều ngộ nhận khác. Tôi ngồi im một lúc suy nghĩ. Anh Phàn nói tiếp :
"Bây giờ chỉ còn hai anh chị. Tôi nhờ anh chị 'báo cáo' lại cho nhà thờ những đòi hỏi chính đáng của gia đình chúng tôi. Chúng tôi kiên quyết đấu tranh cho đến thắng lợi cuối cùng."
Vợ tôi nghe cái giọng điệu giống hệt những anh cán bộ trong các buổi học tập chính trị bên nhà, thì phì cười, hết giận. Vợ tôi nói:
"Xem bộ mấy ông mấy bà trong họ đạo nầy dư công rỗi nghề gớm nhỉ. Mình ở xa ngàn dặm, không bà con, không quen biết, không ân nghĩa, không nợ nần, lại nai lưng ra bảo lảnh mình vào đây, cho nhà ở, cho cơm ăn, cho áo mặc, lo cho đủ thứ. Lại bị ghét bỏ, thật đáng đời. Của nợ giữa đường mà mang cõng lên lưng. Anh chị xem, không biết họ bảo lảnh cho mình, thì được lợi lộc gì nhĩ ? "
Hai vợ chồng anh Phàn cùng nói lớn một lúc, với giọng chắc nịch:
"Để lập thành tích chứ để làm gì. Ai mà không biết."
Vợ tôi bật cười ha hả và nói tiếp:
"Đúng. Lập thành tích dâng lên đảng !"
Tôi ôn tồn bảo vợ tôi đừng đùa nghịch. Tôi hứa sẽ cố gắng giúp hai anh chị Phàn và gia đình. Chữ hứa của tôi, trong thâm tâm, là hứa cố gắng giúp anh chị giải tỏa những hiểu lầm đáng tiếc, nhưng có lẽ anh chị Phàn tưởng là tôi sẽ đến nhà thờ đòi tiền "ăn quỵt" giúp cho anh chị.
Chúng tôi về, ghé lại nhà anh chị Hy. Anh chị Hy chưa nguôi giận. Chị vợ anh Hy nói:
"Chúng nó là thứ vô ân bạc nghĩa, không biết đạo lý làm người. Khi nào cũng ngoác miệng ra nói lời dóc lác, đao to búa lớn, nào là đấu tranh, nào là thắng lợi, kiên quyết. Nghe mà ngứa lỗ tai, chịu không nỗi."
Vợ tôi nói:
"Họ còn cho rằng, nhà thờ muốn lập thành tích nên bảo lảnh họ đến đây."
Anh Hy phì cười, nói:
"Mấy ông bà trong họ đạo mà nghe câu nầy, chắc tức mà hộc máu chết hết không còn một mống. Thôi, anh chị cũng nên tránh xa gia đình anh Phàn, để tránh bực mình và rắc rối về sau. Những hạng người nầy, không chơi được."
Tôi nói:
"Thôi, anh chị bớt giận. Tất cả cũng do hiểu lầm. Người ngoài, không cùng màu da, không cùng dòng giống, mà họ còn tận tình giúp đở. Mình không giúp nhau, thì làm sao cho lòng yên ổn được."
"Nhưng họ nói cái giọng khó nghe của 'bọn dân tộc anh hùng', ngứa tai chịu không nỗi."
Tôi dịu giọng:
"Họ cũng là nạn nhân dài hạn của chế độ. Họ còn đáng thương hơn chúng ta nữa, vì chịu đã chịu đựng chế độ lâu dài hơn hai mươi mấy năm. Nếu chúng ta sống trong hoàn cảnh đó, được giáo dục theo lối đó, thì không chừng chúng ta tệ hại hơn anh chị Phàn bây giờ. Anh chị đừng buồn nữa.
Thứ hai nầy, anh cứ đến chở anh Phàn đi làm như thường nhé. Chúng ta không thương nhau, thì ai thương chúng ta được?"
Anh Hy im lặng. Chúng tôi ra về. Không biết nghĩ sao, vào tối chủ nhật, anh Hy nhờ tôi điện thoại báo cho anh Phàn biết là sáng thứ hai, sẽ đến đón anh Phàn đi làm như thường lệ. Tôi nghe mà mừng. Nhưng anh Hy và anh Phàn vẫn còn buồn nhau. Cùng đi cùng về mà giữ im lặng, không nói một lời. Sau nầy, anh Phàn nói với tôi rằng: "Bố bảo, thằng Hy cũng không dám thôi đưa rước tôi đi làm. Nó còn phải rình mò, dò xét tôi, để báo cáo cho nhà thờ nữa chứ."
Mỗi sáng Chủ Nhật, các ông bà Mỹ đến chở toàn gia đình anh Phàn đi nhà thờ xem lễ. Với ý nghĩa làm ơn, làm phước, cứu vớt linh hồn của một gia đình ngoại đạo tội nghiệp, chưa biết đến danh Chúa Trời, đem ơn phước đến cho họ. Nhưng gia đình anh Phàn cắn răng chịu đi nhà thờ, là để làm ơn cho các ông bà Mỹ, làm họ vui lòng, may ra họ nghĩ lại mà trả lui số tiền họ đã ăn chận. Chứ đến nhà thờ, theo anh Phàn nói, chỉ nghe xi-lô xi-la không biết họ nói gì, buồn ngủ lắm, ngồi lâu mỏi lưng, tê chân. Anh Phàn nói với tôi rằng: "Mấy ông bà Mỹ sang trọng, giàu có nầy, nhưng keo kiệt không ai bằng. Mỗi khi lễ xong, có người cầm cái vợt đi thu tiền, tôi thấy họ chỉ cúng vào vợt tờ bạc một đồng thôi. Để cho họ xấu hổ, nhục nhã, khi nào tôi cũng bỏ vào vợt mười đồng." Tôi chỉ cười, không dám có ý kiến.
Một hôm anh Phàn lội tuyết qua nhà tôi vào buổi tối, đem tặng một gói trà Tàu bèo nhèo mà anh đã mua từ Hồng Kông. Sau một vài câu chuyện vu vơ, anh lôi trong túi ra một xấp điện tín có mười bốn tờ, đưa cho tôi xem, và hỏi những món hàng ghi trong điện tín có thể mua ở đâu, làm sao tìm ra tiệm bán giá rẻ. Tôi lật từng trang điện tín từ Hải Phòng, Hà Nội. Móng Cáy điện qua, do nhiều người khác nhau đánh đi, yêu cầu gởi những món đồ gia dụng như máy nghe nhạc, máy chụp hình, xe đạp đua, vải vóc, bột ngọt, thuốc trụ sinh và những món linh tinh khác nữa. Anh nói :
"Bên nhà tưởng tôi qua đây đi ăn cướp tiền của thiên hạ anh ạ. Tiền đâu mà đòi hỏi đủ thứ như thế nầy? Tôi cũng nhức đầu về mấy cái điện tín và thơ từ liệt kê dài lòng thòng các món hàng họ đòi hỏi. Điên lên được đấy chứ ."
Tôi an ủi anh:
"Bên nhà họ khổ quá, mình giúp đở được ít nhiều chi, thì giúp trong khả năng của mình. Anh lo buồn làm chi cho khổ tâm vô ích."
"Người ta tưởng qua đến Mỹ là hốt tiền thiên hạ như hốt lá vàng. Mỹ nó ngu cả hay sao? "
Tôi hứa khi nào rảnh, sẽ lái xe đưa anh lên Chicago, tìm các tiệm bán hàng cần thiết để anh dò hỏi giá cả. Anh hỏi vay tôi năm trăm đồng, có tiền lời mười phân, và sẽ hoàn trả lại khi lảnh được tiền trợ cấp. Tôi cười bảo anh:
"Để tôi bàn lại với vợ tôi, thuyết phục vợ cho anh vay. Vì hầu bao trong gia đình do các bà nắm giữ, và giữ chặt lắm. Mỗi ngày tôi phải ngữa tay xin tiền quà, tiền xăng. Và nếu có cho anh vay, thì cũng không dám lấy lời. Ở Mỹ mà cho vay cắt cổ, thì cũng dễ vác chiếu ra tòa lắm."
"Tiền lời là do tôi đề xuất, và bằng lòng, chứ anh có ép tôi đâu? Anh tự quyết định cho tôi vay không được sao? Các anh yếu đuối quá, anh Hy cũng vậy, để cho vợ lấn lướt, qua mặt. "
Tôi cười, nói đùa:
"Đàn ông miền Nam chúng tôi không được dũng cảm như các anh. Mà khi ở trên đất Mỹ nữa , thì chúng tôi càng xìu như sợi bún thiu."
Làm việc được bốn tháng, anh Phàn bỏ việc mà không thông báo cho công ty, nên anh bị sa thải. Mấy người bảo trợ trong nhà thờ đến nhà anh tìm hiểu sự việc để giúp đở. Họ kêu vợ chồng anh chị Hy đi thông dịch, nhưng anh chị Hy từ chối. Họ đến nhờ vợ tôi. Nhóm nhà thờ gồm năm ông bà, đi hai xe. Họ hỏi lý do thôi việc. Anh Phàn lừng khừng đáp:
"Không muốn làm việc nữa, thì nghỉ."
"Thế anh đã kiếm ra việc làm khác chưa ?"
"Chưa"
"Không có việc làm, lấy tiền đâu chi tiêu, thuê nhà, ăn uống?"
"Tôi không biết!"
"Tại sao anh không muốn làm việc đó nữa? Có vấn đề gì không? "
"Không có vấn đề chi cả. "
"Anh có muốn nhà thờ tìm việc khác cho anh không?"
"Chưa muốn. Khoan đã."
Mấy ông bà trong nhà thờ lắc đầu, nhìn nhau, rồi nhìn anh Phàn với ánh mắt thương hại. Các ông bà hỏi, bây giờ anh muốn gì không? Anh nhờ vợ tôi nói, là muốn nhà thờ trả lại cho anh số tiền hơn hai mươi ngàn mà họ đang giữ giúp, để anh tính kế làm ăn. Vợ tôi tái mặt, không biết phải nói làm sao, để hội nhà thờ không bất bình. Ngập ngừng, vợ tôi nói trại ra rằng, anh Phàn tha thiết muốn biết những chi phí của nhà thờ đã chi tiêu cho anh, và ai đã đóng góp bao nhiêu, quỷ nhà thờ bao nhiêu, và nhà nước cho bao nhiêu, để anh tri ân họ. Các ông bà khoát tay, bảo là không cần thiết, đừng nghĩ đến, đừng thắc mắc. Vợ tôi năn nỉ, nói rằng, nếu không được biết những điều đó, thí anh Phàn cứ thắc mắc mãi, không yên tâm để làm ăn. Các ông bà cười sung sướng, thoải mái.
Cuộc đấu tranh kiên cường của anh Phàn gần thành công mà anh không biết. Khi nhà thờ thấy anh chị đều thôi việc, không chịu đi làm nữa, họ cũng quýnh lên, lo lắng lắm. Họ đạo cũng nghèo, tín hữu cũng không giàu có chi, không thể đài thọ dài ngày cho cái gia đình đông đảo nầy được. Các ông bà bảo trợ chịu thua, định ngày đem gia đình anh Phàn lên sở xã hội xin trợ cấp của quận hạt. Nhưng anh Phàn loan báo rằng, anh sẽ dời nhà về Oklahoma City. Cả họ đạo thở phào. Anh Phàn có nhiều bạn bè quen biết trong trại tị nạn cũ, họ đã định cư ở Oklahoma, và biết rành mạch cách xin trợ cấp xã hội.
Anh Phàn nhờ tôi mua vé máy bay cho cả gia đình về Oklahoma City, đồng thời dàn xếp xe cộ để chở anh chị ra phi trường. Ông Gary và bà Eve hứa thuê một chiếc xe có thùng sau lớn, để chở hành lý cồng kềnh của gia đình anh. Tôi và anh Hy, hai xe sẽ chở người trong gia đình. Anh Phàn nói nhỏ với tôi rằng, trước khi đi anh sẽ đốt căn nhà để trừ vào số tiền nhà thờ đã ăn quịt của anh. Ăn của ai thì được, ăn của anh thì nuốt không trôi đâu. Tôi can gián, và dọa anh rằng FBI của Mỹ giỏi lắm, thế nào họ cũng điều tra ra. Và tội chi đi tù cho khổ thân, con cái không ai nuôi. Mình đến đây, đời sống còn dài, còn sức thì còn làm ra tiền. Vã lại, có đốt căn nhà, mình cũng không được đồng xu nào, chưa chắc đã hả được cái tức tối, mà mua thêm lo lắng vào thân. Lỡ cháy lan qua nhà lân cận, thì thêm tội nghiệp những người láng giềng tốt của anh. Anh nói rằng, nếu không đốt được nhà, thì trước giờ đi, anh sẽ phá cho tan tành, đập vỡ bồn cầu, nhà tắm, bẻ ống nước, phá tủ lạnh, đập bếp. Tôi cười bảo rằng, anh cứ lo đi trước, sau khi anh đến Oklahoma rồi, tôi sẽ thay anh làm các việc đó. Đừng làm sớm, mà họ giữ anh lại, không đi được, mất toi tiền máy bay.
Ngày anh Phàn ra phi trường, tôi và anh Hy xin nghỉ việc, thay phiên nhau đến nhà anh, lấy cớ là phụ soạn hành lý, nhưng thật tâm là để ngăn cản anh phá hoại căn nhà. Khi cả nhà lên xe hết, anh Hy chạy vào một vòng bên trong nhà, xem có gì hư hại không. Anh Hy ra xe và đưa hai ngón tay lên làm một vòng tròn, cho tôi biết là mọi sự tốt đẹp. Tôi thở phào.
Trong khi chờ máy bay, anh Phàn nhờ tôi nói với ông Gary và bà Eva rằng, qua Oklahoma, anh sẽ gời tiền, mua vé máy bay, mời cả họ đạo của ông bà qua chơi, anh sẽ bao tiền ăn ở, bao tất. Tôi dịch khác đi, nói là anh biết ơn hai ông bà lắm, và không bao giờ quên cái ơn bảo bọc lúc ban đầu nầy. Hai ông bà nghe xong cảm động, ôm chầm lấy anh chị mà nói cám ơn rối rít. Anh Phàn thì tưởng hai ông bà mừng vì được anh hứa cho vé máy bay, cả họ đạo sẽ được đi chơi.
Khi đưa gia đình anh ra máy bay, chúng tôi ôm nhau thân thiết, và mắt anh Phàn cũng rươm rướm, nói nhỏ với tôi, giọng run run rằng, thôi đừng phá căn nhà nữa. Tôi gật đầu.
Đưa gia đình anh Phàn đi rồi, anh Hy nói với tôi rằng: "Thế mà tôi cũng thấy buồn, trống trải, như mất mát một cái gì đó. Bây giờ chỉ còn hai gia đình mình trong thành phố nầy thôi.". Trong lòng tôi cũng thấy buồn.
****
Mười sáu năm sau, kể từ khi đưa gia đình anh Phàn về Oklahoma, tôi tình cờ gặp lại anh trong một tiệc cưới tại Houston, Texas. Anh nhận ra tôi, mà tôi không nhận ra anh. Vì bây giờ anh mập mạp, trắng hồng, ăn mặc chững chạc, không còn dáng quê mùa như xưa. Chị vợ anh thì sang trọng trong bộ áo kim tuyến lóng lánh, như cô ca sĩ. Anh ôm chầm lấy tôi, hỏi có còn nhớ ra anh là ai không. Anh nói: "Phàn đây, Phàn ở Morris, Illinois đây mà." Tôi cũng mừng vui gặp lại người quen biết xưa. Anh xin chuyển bàn, để vợ chồng anh ngồi cạnh chúng tôi mà hàn huyên. Anh cho biết ở Oklahoma được hai năm, thì dọn về Houston, bây giờ cả hai vợ chồng đều làm việc cho một hãng sản xuất đồ nhựa. Suốt hơn mười mấy năm anh làm hai việc toàn thời gian, mỗi đêm chỉ ngủ năm sáu giờ thôi. Ngày nghỉ thì đi sửa chửa nhà cửa, ống nước. Hai cháu gái lớn đã có gia đình. Cháu trai kế thì vừa tốt nghiệp đại học. Bây giờ anh chị Phàn có ba căn nhà, một căn để ở, hai căn cho thuê.
Tôi mừng cho anh. Anh nói với giọng thành thật:
"Hồi mới qua, chắc anh chị buồn chúng tôi lắm. Nhiều năm sau tôi còn ân hận, và xấu hổ vì chuyện xưa. Bị thông tin sai lạc, tôi hiểu lầm, làm nhiều chuyện lố lăng, kỳ cục, bậy bạ. Lại ăn nói ngang ngược. Tôi nhớ ơn anh chị, và cả vợ chồng anh Hy, chịu đựng được chúng tôi, mà không đấm cho vỡ mồm, hộc máu mũi. Càng lâu, tôi càng thấm thía cái câu ' Bầu bí một giàn' của anh Hy nói ngày xưa."
Chị vợ anh Phàn cười vui vẻ, nói tiếp:
"Ông nhà tôi thay đổi nhiều lắm rồi. Nhưng không bỏ được cái phét lác đã ăn sâu vào máu. Cứ một tấc thấu trời."
Chúng tôi cùng cười với nhau. Tôi nói đùa:
"Nếu phét lác mà không hại đến ai, thì cứ để anh phét lác cho sướng cái miệng. "
Thế giới năm nay chứng kiến làn sóng biểu tình chưa từng có tràn khắp các lục địa; một cơn địa chấn kèm sóng thần rung chuyển địa cầu,
dẫn đến cuộc khủng hoảng hạt nhân nghiêm trọng nhất trong gần 30 năm qua.
Động đất, sóng thần và khủng hoảng hạt nhân Nhật Bản
Xe hơi bị hất tung khi sóng thần tràn qua thành phố Miyako, tỉnh Iwate hôm 11/3. Ảnh: AP.
Trưa ngày 11/3, một cơn động đất mạnh 9 độ Richter thình lình tấn công miền đông bắc Nhật Bản. Khi dân chúng đang còn hoảng loạn chạy tìm đường thoát thân thì những cột nước đen ngòm sầm sập từ biển đổ vào, cuốn phăng người, nhà cửa, xe cộ, đường sá. Máy bay bị xô đẩy như những bao diêm, tàu thủy bay lên nóc nhà, lửa khói ngùn ngụt bốc lên từ các nhà máy. Sức hủy diệt của sóng thần trùm tấm chăn tan hoang lên ba tỉnh đông bắc Nhật. Hơn 20.000 người chết hoặc mất tích trong khoảnh khắc.
Cơn địa chấn mạnh nhất trong vòng một thế kỷ qua còn gây nổ tại các lò phản ứng của nhà máy điện hạt nhân Fukushima I và gây nên cuộc khủng hoảng hạt nhân lớn nhất thế giới kể từ năm 1986. Nỗi lo vì phóng xạ còn dai dẳng và lan xa đến tận Tokyo và thậm chí các nước láng giềng. Sẽ phải mất đến 40 năm nữa để vô hiệu hóa hoàn toàn những nguy cơ chết người từ các lò phản ứng.
Trong thiên tai, cả thế giới, trong đó có Việt Nam đã đoàn kết với nhân dân Nhật. Thế giới khâm phục tinh thần quả cảm, ý chí kiên cường của người Nhật. Với sức mạnh của một xã hội đoàn kết và kỷ luật, Nhật Bản khiến thế giới tin tưởng chắc chắn rằng họ sẽ vươn lên sau thảm họa. Mùa xuân Arab
Hàng nghìn người tập trung tại quảng trường Tự do ở thủ đô Cairo của Ai Cập hôm 10/2
để tham gia cuộc biểu tình chống chính phủ. Ảnh: AFP.
Vụ tự thiêu của một thanh niên bán hàng rong tại Tunisia ngày 17/12 năm ngoái đã thổi bùng lên “Mùa xuân Arab” - làn sóng biểu tình và nổi dậy với mức độ và quy mô lớn chưa từng thấy. Người dân biểu tình để phản đối tình trạng tham nhũng, thất nghiệp, suy thoái kinh tế, vi phạm nhân quyền, giá lương thực tăng vọt và nghèo đói tràn lan. Biểu tình nhanh chóng lan sang Ai Cập, Libya, Bahrain Yemen, Jordan và nhiều nước khác. Nó cuốn phăng nhiều chính phủ lâu đời ở Trung Đông và Bắc Phi, dẫn đến cuộc chiến tranh khốc liệt, đưa nhiều chính phủ đến bên bờ vực của sự sụp đổ.
Mùa xuân Arab là sự kiện độc nhất vô nhị trong thế giới Arab. Nét đặc trưng của phong trào này là người dân sử dụng biện pháp chống đối dân sự - biểu tình, đình công, tuần hành – và truyền thông xã hội để tổ chức các hoạt động chống đối, liên lạc với nhau và thu hút sự chú ý của dư luận. Người sử dụng mạng xã hội đi tiên phong trong tất cả các diễn tiến của Mùa xuân.
Tawakel Karman, người được trao giải Nobel Hòa bình năm nay, là một trong những thủ lĩnh nổi bật trong phong trào Mùa xuân Arab. Danh hiệu "Nhân vật của năm" cũng dành cho người biểu tình. Mùa xuân Arab được dự đoán là sẽ còn duy trì ảnh hưởng lâu dài, lan sang các châu lục khác. Cuộc chiến Libya và cái chết thảm khốc của Gadhafi
Binh sĩ phe đối lập ở Libya bắn những quả tên lửa Grad tại mặt trận phía tây của thành phố Misrata hôm 20/6. Ảnh: AP
Được tiếp lửa từ Mùa xuân Arab, những cuộc biểu tình phản đối chế độ của đại tá Moammar Gadhafi nhanh chóng biến thành xung đột vũ trang với quân chính phủ, làm nhiều người thiệt mạng. Tòa án Công lý quốc tế ra lệnh truy nã cha con Gadhafi, trong khi ông này thề quyết tử trên đất quê hương. Pháp, Anh, Mỹ tố cáo Tripoli tiêu diệt người biểu tình và với nghị quyết của Hội đồng Bảo an trong tay, liên quân NATO đêm 19/3 khởi động những cuộc oanh kích cấp tập nhằm tiêu diệt toàn bộ sức kháng cự phòng không cũng như quân lực của viên đại tá.
Thủ đô Tripoli thất thủ trước cuộc phản công của phe đối lập được NATO hậu thuẫn. Cuối tháng 10, ông Gadhafi bị bắt khi đang trên đường trốn khỏi thành phố quê nhà. Người đàn ông 69 tuổi này sau đó chết một cách bi thảm trong tay những thanh niên nổi dậy, và thi thể bị phơi ra cho những con mắt tò mò.
Cuộc nổi dậy ở Libya được coi là triệt để nhất trong "Mùa xuân Arab" do toàn bộ chế độ cũ ở nước này cùng người lãnh đạo cấp cao nhất (ông Gadhafi) bị loại bỏ. Nhưng cái chết đó không ngay lập tức đưa đến ổn định và đoàn kết cho người Libya, họ sẽ còn phải vật lộn để khắc phục hậu quả cuộc chiến đẫm máu và hòa giải dân tộc. Cuộc chiến Libya cũng cho thấy sức mạnh chính trị và quân sự của phương Tây trong việc can dự vào những cuộc khủng hoảng. Thảm sát tại Na Uy
Người Na Uy giơ cao những bông hoa hồng và tấm ảnh
của người thân đã thiệt mạng trong vụ thảm sát hôm 22/7. Ảnh: Xinhua.
Trong khi các thế lực Hồi giáo nổi lên ở Trung Đông, Bắc Phi, thì bóng ma của tư tưởng bài Hồi và cực hữu đang tìm lại lý do tái xuất ở châu Âu. Na Uy, đất nước vốn nổi tiếng yên bình với xã hội cởi mở và đa văn hóa, chấn động bởi vụ khủng bố đẫm máu nhất kể từ thế chiến II. Anders Behring Breivik, một kẻ cực hữu, đã đánh bom tòa nhà chính phủ ở Oslo và khi số thương vong không nhiều như ý muốn, y đến một nơi cắm trại của các thanh thiếu niên, xả đạn giết chết thêm gần 70 người. Y tỏ thái độ bình thản, và nói rằng việc bắn giết là cần thiết để phản đối đạo Hồi và xã hội đa văn hóa.
77 người chết vì ý muốn điên rồ của một kẻ cực hữu chính là lời cảnh báo không chỉ với Na Uy mà cả châu Âu. Mối lo ngại này ngày càng gia tăng trong bối cảnh cuộc sống của người châu Âu bị phủ bóng đen bởi suy thoái kinh tế, thất nghiệp và khủng hoảng nợ công. Chủ nghĩa cực hữu sẽ là trọng tâm mới mà các cơ quan tình báo và an ninh trên khắp châu Âu phải quan tâm. "Chiếm phố Wall" lan ra toàn cầu
Hai người tham gia cuộc biểu tình "Chiếm phố Wall"
diễn kịch tại quảng trường Duarte ở thành phố New York, Mỹ hôm 17/12. Ảnh: AFP.
Sự ưu ái quá mức của chính phủ Mỹ đối với giới ngân hàng, tình trạng thất nghiệp dai dẳng là nguyên nhân dẫn đến làn sóng biểu tình mang tên “Chiếm Phố Wall”. Phong trào bắt đầu từ giữa tháng 9 tại thành phố New York, Mỹ, với sự tham gia của những người thuộc 99% nghèo phản đối 1% quá giàu. Quy mô của cuộc biểu tình tăng nhanh chóng, phong trào lan rộng ra hàng trăm thành phố của Mỹ.
"Chiếm phố Wall" New York đã châm ngòi cho những cuộc biểu tình tại châu Âu, châu Á, châu Phi và châu Đại Dương. Vào thời điểm cao trào, các nhà tổ chức tuyên bố biểu tình sẽ nổ ra tại 951 thành phố thuộc 82 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ảnh hưởng của “Chiếm phố Wall” bên ngoài nước Mỹ thể hiện rõ rệt nhất ở châu Âu, lục địa đang vật lộn với cuộc khủng hoảng nợ công trầm trọng.
Internet và các trang xã hội, cũng như trong Mùa xuân Arab, trở thành công cụ đắc lực trong hoạt động tập hợp lực lượng của “Chiếm phố Wall”. Người ta đưa phong trào lên các mạng xã hội hàng đầu như Facebook, Twitter thu hút sự chú ý của dư luận. Hàng trăm trang web liên quan tới “Chiếm phố Wall” đã ra đời. Trùm khủng bố Osama bin Laden bị tiêu diệt
Osama bin Laden. Ảnh: AP.
Gần ngày kỷ niệm 10 năm vụ khủng bố ngày 11/9/2001, cả thế giới bất ngờ khi Tổng thống Mỹ Barack Obama thông báo tin trùm khủng bố Osama bin Laden bị tiêu diệt. Y mất mạng trong một chiến dịch đặc biệt và cực kỳ bí mật do biệt kích Mỹ tiến hành trong lãnh thổ Pakistan. Hầu như tất cả báo chí thế giới ngày 1 và 2/5 đều đăng trang nhất tin bin Laden bị tiêu diệt, với các các phản ứng khác nhau. Sau gần một thập kỷ của cuộc chiến chống khủng bố, điệp vụ trừ khử bin Laden mới hoàn thành.
Mặc dù vậy, cái chết của bin Laden không đương nhiên dẫn tới sự sụp đổ của Al-Qaeda hay tình trạng thoái trào của chủ nghĩa khủng bố. Ý thức hệ của Al-Qaeda không phải là một con người cụ thể, mà là một trường phái tư tưởng được nhiều người ủng hộ. Trên thực tế, việc truy lùng các thủ lĩnh khủng bố khác vẫn tiếp tục, và sự tan biến của y khỏi cõi đời cũng không dẫn đến sự chấm hết các cuộc khủng bố liên miên ở khắp các châu lục. Quân sự Trung Quốc phát triển vượt bậc
Tàu chiến Trung Quốc bắn tên lửa trong một cuộc tập trận gần bán đảo Sơn Đông. Ảnh: AP.
Trung Quốc đang vươn lên vị thế một cường quốc quân sự của thế giới trong những năm qua và năm 2011 chứng kiến sự phát triển vượt bậc của quân lực nước này.
Sau khi chính thức xác nhận việc nâng cấp tàu sân bay Shi Lang được mua từ Ukraina năm 1998, Trung Quốc hoàn tất việc hoán cải hàng không mẫu hạm đầu tiên vào tháng 8 và liên tục thực hiện 3 cuộc thử nghiệm trên biển đối với tàu chiến này. Trung Quốc cũng tích cực thử nghiệm J-20, máy bay tiêm kích tàng hình thế hệ thứ năm. Những hình ảnh chụp lại các chuyến bay thử nghiệm của J-20 liên tiếp được tung lên các trang mạng của Trung Quốc, giúp dư luận hình dung một cách rõ ràng một trong những vũ khí chủ lực của cường quốc phương Đông trong tương lai.
Việc Trung Quốc sắp đưa Shi Lang vào hoạt động thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế. Mỹ và Nhật Bản từng công khai yêu cầu Trung Quốc giải thích về mục đích sở hữu tàu sân bay này. Máy bay J-20 cũng là một đề tài được bàn tán nhiều trong năm 2011. Sự trỗi dậy về quân sự của Trung Quốc khiến các cường quốc như Mỹ, Nhật, Ấn Độ hay khối ASEAN quan tâm sâu sắc, đặc biệt trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến động. Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-il qua đời
Ông Kim Jong-il. Ảnh: Telegraph.
Bán đảo Triều Tiên - nơi còn tồn tại cuộc chiến tranh dai dẳng từ những năm 1950 - nay đang ở thời điểm cực kỳ nhạy cảm và có thể sắp chuyển sang một giai đoạn mới. Bối cảnh này được tạo ra từ cái chết của Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-il. Ông qua đời ngày 17/12 do đau tim, và sự ra đi của ông đang khiến hàng triệu người Triều Tiên khóc như mưa.
Ông Kim lãnh đạo Triều Tiên 17 năm qua. Trong thời gian đó quan hệ giữa Bình Nhưỡng với các láng giềng và phương Tây phần nhiều là căng thẳng bởi nước này phát triển chương trình tên lửa và vũ khí hạt nhân, tập trung ưu tiên quân sự. Điểm sáng nhất trong các mối quan hệ chằng chéo ở bán đảo Triều Tiên là cuộc gặp thượng đỉnh liên Triều lần thứ nhất năm 2000. Giờ, cả hai nhà lãnh đạo trong cuộc gặp đó đều đã sang thế giới bên kia.
Sự ra đi đột ngột của Chủ tịch Kim gây nên những tác động đối với tình hình khu vực và thế giới. Đàm phán phi hạt nhân hóa đang dang dở. Triều Tiên là quốc gia có vũ khí hạt nhân và tiềm lực quân sự lớn, các cường quốc Mỹ, Nga, Trung và láng giềng Nhật, Hàn đều quan tâm sát sao đến các diễn biến trong quá trình chuyển giao quyền lực ở điểm nóng này. Biển Đông vào tầm ngắm quốc tế
Tàu chỉ huy BRP Humabon (PF 11) của Philippines trong một cuộc tập trận hải quân chung với các tàu chiến khác của Mỹ
trên Biển Đông hôm 14/3/2010. Ảnh: US Navy
Những vụ va chạm giữa tàu Trung Quốc với tàu Việt Nam và lực lượng của Philippines trên Biển Đông trong các tháng 3, 5 và 6 khiến khu vực này đột nhiên nóng trên báo chí quốc tế. Nhiều tuyên bố qua lại của các chính phủ, nhiều hội nghị khoa học quốc tế về Biển Đông, đến các thương vụ mua sắm khí tài hải quân, đã đưa khu vực này "vào radar quốc tế", như lời đánh giá của một học giả nổi tiếng của Việt Nam.
Biển Đông trở thành chủ đề nóng nhất trong Hội nghị của ASEAN và Đông Á, nơi có sự hiện diện lần đầu của tổng thống Mỹ. Bất chấp sự không hài lòng của Trung Quốc, đại diện của nhiều quốc gia như Mỹ, Nhật, Ấn Độ và ASEAN đều đã đề cập việc giải quyết tranh chấp Biển Đông trong các diễn đàn đa phương. Thành tựu đáng chú ý nhất trong nỗ lực lâu dài về Biển Đông là các bên đã ra được Bản hướng dẫn thực thi Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), sau gần 9 năm.
Việc Mỹ tuyên bố điều 2.500 quân đến bắc Australia; Ấn Độ nhấn mạnh chiến lược hướng Đông; Nhật Bản ra nhiều tuyên bố quan tâm đến an ninh Biển Đông; cũng như các động thái của những quốc gia liên quan trực tiếp đến tranh chấp, cho thấy vấn đề này đang ngày càng được quốc tế quan tâm hợp lý và theo hướng có lợi cho hòa bình ổn định khu vực. Dân số thế giới đạt 7 tỷ người
Em bé được xem là công dân thứ 7 tỷ của thế giới, Danica May Camacho ở Philippines. Ảnh: buzzhunt.com.
Ngày 31/10, dân số thế giới đạt mức 7 tỷ với sự ra đời của một bé gái ở Philippines. Như vậy chỉ sau 12 năm, số người trên hành tinh tăng thêm một tỷ. Đây là niềm vui cho nhân loại bởi nó chứng tỏ rằng điều kiện y tế và chăm sóc sức khỏe đã được cải thiện, và tuổi thọ trung bình của loài người ngày càng tăng. Dân đông thì lực lượng lao động cũng đông, tạo động lực cho kinh tế thế giới.
Nhưng 7 tỷ người cũng là một gánh nặng và gia tăng sức ép lên trái đất và môi trường sống của chúng ta. Người đông, xe đông, tiêu thụ tài nguyên nhiều, ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng cùng những vấn đề xã hội như thất nghiệp và tệ nạn gia tăng sẽ là những điểm xấu mà nhân loại phải đối mặt khi dân số tăng.
Đến nay, bà mẹ trái đất vẫn còn chịu đựng được 7 tỷ đứa con. Nhưng đến cuối thế kỷ này, dự báo sẽ có 10 tỷ người và khi đó trái đất sẽ phải phình to ra 2,8 lần so với hiện nay mới cáng đáng được sứ mệnh - và điều đó là viễn tưởng. Vì vậy vấn đề bảo tồn và sử dụng hiệu quả tài nguyên để cải thiện chất lượng cuộc sống đang được những người tiến bộ quan tâm hàng đầu.