Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Những Nhạc Sĩ Vô Cùng Bất Hạnh Đã có nhiều bài viết và nhận xét khác nhau của khán thính giả khắp nơi về chương trình Asia 55 chủ đề “75 Năm Âm Nhạc Việt Nam, kỳ 2 – Hát Với Thần Tượng” được phát hành cách đây vài tuần. Theo ý kiến của đa số khán giả, DVD Asia 55 kỳ này đã đáp ứng được những đòi hỏi của mọi người như: mới lạ, rực rỡ về ánh sáng, màu sắc và âm thanh qua các tiết mục lồng trong những bài hát có quen, có lạ, có mới, có cũ, có vui, có buồn..v..v.. khiến cho người xem như bị lôi cuốn từ đầu tới cuối.

Thêm một lần nữa, Trung Tâm Asia đã cống hiến cho chúng ta một tác phẩm thật tuyệt vời và đầy giá trị về nghệ thuật cũng như lịch sử của nền âm nhạc Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi xem xong cuồn DVD Asia 55 này, những cảm xúc và ấn tượng để lại trong đầu (khiến cho nhiều người băn khoăn, suy gẫm) lại là những gì? Có thể nói đó chính là những hình ảnh khó quên của vài nhạc sĩ xuất hiện trong Asia 55 qua những đoạn video clips phỏng vấn ngắn ngủi nhưng vô cùng quý hiếm. Tiêu biểu nhất vẫn là những nhạc sĩ Văn Cao, Trúc Phương, Thăng Long, Ðỗ Lễ, Châu Kỳ, Nguyễn Văn Tý …

Cho dù họ đã lìa trần hay còn sinh sống ở quê nhà, nhưng họ có một điểm chung là đã làm “kiếp tằm nhả tơ” để đem đến cho đời biết bao ca khúc tuyệt vời suốt mấy chục năm qua. Nhưng đàng sau những tác phẩm “để đời” ấy là những quãng đời u tối, nhọc nhằn và phần số vô cùng nghiệt ngã mà ít có ai ngờ tới.

Qua cuồn DVD Asia 55 kỳ này, lần đầu tiên chúng ta được nghe và biết chút ít về những nhạc sĩ khá bất hạnh nêu trên, nhưng còn biết bao nhiêu câu chuyện khác về họ mà chúng ta chưa biết và cũng không hề thấy đề cập đến trong những đoạn phim phỏng vấn. Tìm hiểu thêm về cuộc đời của họ, chúng ta lại càng đau xót nhiều hơn cho những kiếp đời mà tạo hóa đã “bắt phong trần, phải phong trần” cho đến mức tang thương cùng tận. Vậy mà số phận của họ vẫn đúng là cái số “con tằm đến thác vẫn còn vương tơ” ?
Xin cùng nhau tìm hiểu thêm nơi đây vài quãng đời bi thương và tiêu biểu của những nhạc sĩ đã xuất hiện trong DVD Asia 55 chủ đề “75 Năm Âm Nhạc Việt Nam, kỳ 2”:

Image
Nhạc sĩ Trúc Phương
Tên thật là Nguyễn Thiện Lộc. Ông sanh năm 1939 tại xã Mỹ Hoà, quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh (Vĩnh Bình) ở vùng hạ lưu sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam. Cha ông là một nhà giáo sống thầm lặng và nghiêm khắc. Nhưng tâm hồn của chàng trai Thiện Lộc thì rất lãng mạn, ...

Yêu thích văn nghệ nên đã tự học nhạc, và bắt đầu sáng tác những bài hát đầu tiên lúc vừa 15 tuổi. Xung quanh nhà ông có trồng rất nhiều tre trúc, nên từ nhỏ ông đã yêu mến những âm thanh kẽo kẹt của tiếng tre va chạm với nhau và sau này đã chọn tên là Trúc Phương để nhớ về thời thơ ấu của ông với những cây tre trúc. Cuối thập niên 1950, ông sinh hoạt văn nghệ với các nghệ sĩ ở ty Thông Tin tỉnh Vĩnh Bình một thời gian ngắn, rồi lên Sài Gòn dạy nhạc và bắt đầu viết nhạc nhiều hơn. Bài hát “Chiều Làng Quê” được ông sáng tác vào thời gian này để nhớ về khung cảnh thanh bình ở làng xóm của ông(do Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc trình bày trong Asia 55),một bài khác cũng rất nổi tiếng với giai điệu trong sáng, vui tươi là “Tình Thắm Duyên Quê”.

Không tiền bạc và không một ai thân quen ở đô thành Sài Gòn, ban đầu Trúc Phương ở trọ trong nhà một gia đình giàu có bên Gia Định và dạy nhạc cho cô con gái của chủ nhà. Không bao lâu sau thì cô gái này đã yêu chàng nhạc sĩ nghèo tạm trú trong nhà, vì con tim cô ta đã dần dần rung động trước tài năng của Trúc Phương. Biết được chuyện này, ba mẹ của cô gái bèn đuổi Trúc Phương đi nơi khác. Sau chuyện tình ngang trái này, Trúc Phương càng tự học thêm về âm nhạc và càng sáng tác hăng hơn. Nhưng những bài hát sau này lại nghiêng về chủ đề tình yêu đôi lứa với những nghịch cảnh chia lià.

Trúc Phương sáng tác rất dễ dàng, nhưng với bản tính trầm lặng, bi quan và khép kín sau những cuộc tình dang dỡ, những bài hát sau này của ông thường mang âm điệu u buồn, thê lương như phảng phất nỗi sầu của cổ nhạc miền Nam . Nổi tiếng nhất là “Nửa Đêm Ngoài Phố” với tiếng hát liêu trai Thanh Thúy. Sau đó là “Buồn Trong Kỷ Niệm” với những câu hát đớn đau, buốt nhói tim gan người nghe như “Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn. Đôi khi nhầm lẫn đánh mất ân tình cũ, có đau chỉ thế, tiếc thương chỉ thế. Khi hai mơ ước không chung lối về …”. Có người cho là bài hát này ông đã viết ra sau khi bị thất tình một cô ca sĩ lừng danh thời đó.
Nhạc của Trúc Phương có một giai điệu rất đặc biệt của riêng ông, mà khó lầm lẫn với người khác được.Nhạc của ông có âm hưởng cổ nhạc miền nam,Nó có vẻ trầm buồn, ray rức, ưu tư trước thời cuộc dạo đó (là chiến tranh triền miên) và buồn phiền vì những mối tình dang dở, trái ngang. Nên khi soạn hòa âm cho những bài hát của Trúc Phương, nhạc sĩ hòa âm phải sử dụng ít nhất là một trong vài loại nhạc khí cổ truyền của miền Nam như đàn bầu, đàn tranh, hay đàn cò (hoặc violon) thì mới có thể diễn tả hết cái hay của giòng nhạc Trúc Phương và người nghe lại càng thấm thía với nỗi muộn phiền, nhức nhối tim gan của ông sau này.

Điều trớ trêu là tuy tên tuổi và tài năng sáng chói, nổi bật so với những người viết nhạc thời bấy giờ, nhưng tình duyên của nhạc sĩ Trúc Phương thì vô cùng lận đận. Khoảng năm 1970, Trúc Phương được một thiếu nữ vô cùng xinh đẹp, cao sang đài các đem lòng yêu thương ông, do sự rung cảm truyền đạt từ tài năng và những tác phẩm tuyệt vời của ông. Kết cuộc là cả hai đã nên duyên chồng vợ. Tuy sống trong cảnh nghèo nàn, nhưng đời sống của họ rất là nghệ sĩ. Đó là những năm tháng hạnh phúc nhất trong cuộc đời của Trúc Phương và sức sáng tạo nghệ thuật của ông càng sung mãn hơn bao giờ hết với hàng chục bài hát ra đời mỗi năm. Nhưng niềm vui của đôi uyên ương này lại không kéo dài được lâu bền. Bởi vì sau một thời gian chung sống với nhau, những tình cảm ban đầu trở nên phai lạt dần theo năm tháng và hai người đã lặng lẽ chia tay nhau. Câu hát ngày nào lại rơi đúng vào trường hợp này “khi hai mơ ước đã không cùng chung hướng về” và “đường vào tình yêu có trăm lần vui, nhưng có vạn lần buồn” ? Giờ thì nhạc sĩ Trúc Phương âm thầm đau khổ trong cô đơn và lại vùi đầu vào men rượu để sáng tác thêm nhiều bài hát trong nỗi đau thương cùng cực, pha chút chán chường cho nhân tình thế thái.

Bạn bè thường gặp ông ngồi yên lặng bên những ly rượu nơi một quán nhỏ ở đường Tô Hiến Thành, quận 10, gần nhà của ông. Có lẽ đó là một cách làm cho nhạc sĩ tạm quên đi những cay đắng của tình đời. Đó cũng chính là lúc bài hát “Thói Đời” được sáng tác với những câu như “Bạn quên ta, tình cũng quên ta, nên chung thân ta giận cuộc đời, soi bóng mình bằng gương vỡ nát, nghe xót xa ngùi lên tròng mắt”… và “Người yêu ta rồi cũng xa ta … “Cỏ ưu tư” buồn phiền lên xám môi …”. Thực ra phải nói là “cỏ tương tư” tức “tương tư thảo” là tên gọi văn hoa của thuốc lá. Khi những người đang yêu nhau, nhớ nhau, hẹn hò nhau thì châm điếu thuốc thả khói mơ màng, nhìn rất thơ mộng và nghệ sĩ [ngó trên tay thuốc lá cháy lụi dần, anh nói khẽ gớm sao mà nhớ thế (Hồ Dzếnh). Nhưng đối với Trúc Phương trong “Thói Đời” thì điếu thuốc lá “cỏ tương tư” lại biến thành ra “cỏ ưu tư” làm cho đôi môi trở nên màu xám xịt qua những nỗi đau thương, nhung nhớ ngập tràn. Những giọt rượu nồng của cõi “trần ai” này lại càng gợi thêm “niềm cay đắng” để cho nỗi ưu tư “in đậm đường trần” và ông đã than thở “mình còn ai đâu để vui ? khi trót sa vũng lầy nhân thế ”?

Bài hát "Thói Ðời" đã gây xúc động cho hàng triệu con tim cùng chung số phận nghiệt ngã của cuộc đời. Với riêng bản thân Trúc Phương thì “Thói Đời” lại như là một lời tiên tri thật chính xác cho quãng đời còn lại của ông suốt gần 25 năm sau đó (1971-1995).
Sau năm 1975, Trúc Phương ở lại và sống tại Sài Gòn. Sự nghiệp sáng tác nhạc của ông dừng lại, tất cả những ca khúc của ông đều bị cấm phổ biến và trình diễn.. Ông có vượt biên lần đầu năm 1976 nhưng không thành công.Vì vậy ông và gia đình bị mất nhà ở tại số 301 Lý Thường Kiệt,Q.11 Những năm sau đó,ông đã nhiều lần vượt biên,bị bắt lại,và sống không nhà cửa. Không có nghề nghiệp gì trong tay, ông làm đủ mọi việc để sinh sống.Với hai bàn tay trắng, ông trở về quê cũ sống nhờ vả bạn bè, mỗi nơi một thời gian ngắn. Có người hỏi sao ông không về quê ở hẳn với thân nhân, Trúc Phương đã trả lời “Má của tôi thì già yếu đang ở dưới quê Cầu Ngang (Trà Vinh), nhưng bà nghèo quá, lại phải nuôi đám cháu nheo nhóc, không đủ ăn … nên tôi không thể về đó để làm khổ cho bà thêm nữa .”

Ở dưới tỉnh nhà Trà Vinh với bạn bè xưa cũ một thời gian, Trúc Phương lại tìm đường về Sài Gòn. Ban ngày ông làm thuê, làm mướn đủ mọi thứ nghề và lang thang khắp nơi. Buổi tối ông đón xe về xa cảng miền Tây để thuê chiếc chiếu $1 ngả lưng qua đêm, như ông đã trả lời phỏng vấn trong đoạn video clip hiếm hoi mà vô cùng quý giá vào năm 1995. Ông tiếp tục cuộc sống thầm lặng tới năm 1996 thì âm thầm ra đi, để lại cho đời những khúc nhạc buồn như chính cuộc đời ông, phản ảnh nhiều nỗi niềm khắc khoải của đám đông thanh niên thời chiến, những thập niên 1960 - 1970. Ông đã sống qua một thời vàng son của văn nghệ miền Nam.Nhiều trung tâm ca nhạc đã thu thanh, thu hình những bài hát của Trúc Phương ở hải ngoại nhưng chắc chắn là ít có người đã biết tin ông âm thầm từ giã cõi đời trong cảnh nghèo nàn, bi đát và cô đơn trong căn phòng trọ tồi tàn, nhỏ hẹp ở quận 11, Sài Gòn vào ngày 18 tháng 9 năm 1995. Ông được những người quen, lối xóm chôn cất ở nghĩa trang Lái Thiêu. Ra đi trong nghèo túng, đau khổ như thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên ở Mỹ,Nhạc sĩ Trúc Phương đã để lại cho đời nhiều nhạc phẩm nổi tiếng trong kho tàng "nhạc vàng" miền Nam Việt Nam.Trúc Phương có một số lượng sáng tác rất lớn, được biết đến từ những năm cuối thập niên 1950 và được phổ biến nhất trong suốt thập niên 1960 và sau này tại hải ngoại như: Nửa đêm ngoài phố, Buồn trong kỷ niệm, Thói đời, Hai lối mộng, Kẻ ở miền xa...Nhiều nữ ca sĩ thành danh nhờ trình bày những tác phẩm của ông như trường hợp Thanh Thuý. Qua đoạn video clip ngắn ngủi chỉ vỏn vẹn có 2 phút mà thôi nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên nhiều người trong chúng ta được thấy hình ảnh sống động và nghe chính giọng nói của nhạc sĩ rất nổi tiếng này tỏ bày tâm sự của ông.

Tác phẩm nổi tiếng :

1.Ai Cho Tôi Tình Yêu 2.Bông Cỏ May 3.Bóng Nhỏ Đường Chiều 4.Buồn Trong Kỷ Niệm
5.Chắp Tay Lạy Người 6.Chiều Cuối Tuần 7.Chiều Làng Em 8.Chín Dòng Sông Hò Hẹn 9.Chuyện Chúng Mình 1 & 2 10.Chuyện Ngày Xưa 11.Con Đường Mang Tên Em 12.Để Trả Lời Một Câu Hỏi
13.Đêm Gác Trọ 14.Đêm Tâm Sự 15.Đò Chiều 16.Đôi Mắt Người Xưa 17.Hai Chuyến Tàu Đêm 18.Hai Lối Mộng 19.24 Giờ Phép 20.Hình Bóng Cũ 21.Kẻ Ở Miền Xa 22.Lời Ca Nữ 23.Mắt Em Buồn 24.Sau Những Lần Gối Mỏi aka Tâm Sự Một Người Đi Xa 25.Mưa Nửa Đêm 26.Người Xa Về Thành Phố
27.Người Xóm Cũ
28.Những Lời Này Cho Anh 29.Nửa Đêm Ngoài Phố 30.Sau Lưng Kỷ Niệm 31.Siết Chặt Bàn Tay
32.Tàu Đêm Năm Cũ 33.Thói Đời 34.Thư Gửi Người Miền Xa aka Viết Thư Tình 35.Tình Đêm Phố Cũ
aka Phố Cũ Đêm Về 36.Tình Thắm Duyên Quê 37.Trả Nhau Ngày Tháng Cũ 38.Trên Bốn Vùng Chiến Thuật
39.Tự Tình Trong Đêm 40.Xin Cảm Ơn Đời

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Image

Nhạc sĩ Đỗ Lễ
(1941-1997):

Trường hợp mất đi của nhạc sĩ Đỗ Lễ cũng khá thương tâm. Ông đã cống hiến hầu hết cuộc đời tài hoa của mình cho âm nhạc, cho tình yêu và đã để lại cho đời những bài hát thật tuyệt vời về những cuộc tình trái ngang, phụ phàng, cay đắng. Nhưng cuối cùng ông lại tự kết liễu đời mình bằng một liều thuốc độc trong một căn phòng khách sạn khi từ Mỹ trở về thăm quê hương (tháng 3 năm 1997)

Tên thật của ông là Đỗ Hữu Lễ, sinh ngày 12-10-1941 tại Hà Nội. Học tiểu học trường Hàng Vôi, trung học Chu Văn An (1952), Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn (1953), Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định (1954), Đại Học Khoa Học Sài Gòn (1959), Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1963). Tự học nhạc năm 1951 và bắt đầu sáng tác từ năm 1956 khi vừa tròn 15 tuổi. Tuyệt vọng vì yêu một ca sĩ (Lệ Thanh) nhưng không được đáp lại và khi nàng lên xe hoa thì ông sáng tác bài Sang Ngang rất nổi tiếng sau này và đã làm cho biết bao nữ sinh rơi nưóc mắt.
Image

“Thôi nín đi em
Lệ đẫm vai rồi
Buồn thương nhớ ai…
Mai bước sang ngang
Lòng thêm nát tan
Tình đã dở dang…


Thôi khóc làm gì
Đã lỡ duyên thề
Thương nhau làm chi…
Nỗi buồn ai hay
Khi mình chia tay
Xa cách nhau rồi …”

Lúc đó có nữ ca sĩ (Y. X ) đã trình bày lần đầu tiên bài hát này ở các phòng trà và sau đó đã trở thành bà Đỗ Lễ. Tuy nhiên cuộc tình của họ chỉ kéo dài được 6 năm và tan vỡ sau khi họ có với nhau ba mặt con. (Sau này người vợ của nhạc sĩ đã ôm cầm sang thuyền khác và đã định cư ở Mỹ).


Trước đó nhạc sĩ Đỗ Lễ có phụ trách một chương trình ca nhạc trên đài Truyền Hình ở Sài Gòn hàng tuần mang tên là “Thời Trang Nhạc Tuyển”. Chương trình này quy tụ các ca sĩ như Hoàng Oanh, Khánh Ly, Thanh Lan, Phương Hồng Hạnh, Ngọc Minh, Thanh Tuyền, Giao Linh, Hương Lan, Caroll Kim, Hoài Xuân, Xuân Đào, tam ca Sao Băng, 3 Con Mèo, 3 Trái Táo …Đặc biệt là chính Đỗ Lễ lại là người hoạ sĩ vẽ trang trí cho sân khấu những show truyền hình của ông, nên ông được nhiều người gọi là họa sĩ “Sang Ngang” như tên một bài hát của ông.

Sau khi chia tay với người vợ đầu, thời gian cô đơn này nhạc sĩ Đỗ Lễ quá đau thương, nên ông đã sáng tác nhiều bản nhạc nghe rất não lòng như Tình Phụ. Chính bản nhạc này đã được hãng phim của Thẩm Thúy Hằng chọn làm nhạc chủ đề cho phim “Nàng” với tiếng hát của Carol Kim. Trong chương trình Asia 55, bài hát này đã được Nguyên Khang và Y Phương trình bày rất điêu luyện qua từng lời ca than oán và nét mặt ưu sầu của họ đã đã diễn tả rất chính xác tâm trạng đau buồn của nhạc sĩ và hàng triệu người khác có cùng chung một tâm sự suốt mấy chục năm qua.Sau năm 1975, nhạc sĩ Đỗ Lễ sinh sống bằng cách mở lớp dạy nhạc tại Sài Gòn. Đến năm 1994 nhạc sĩ Đỗ Lễ được thân nhân bão lãnh qua Mỹ định cư tại thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania. Nhưng đời sống nơi xứ lạ này không làm ông yên tâm hay thoải mái như bao nhiêu người khác, mà ông lại một mình quay về chốn cũ, với nhiều kỷ niệm xưa để tự kết liễu đời mình ở đó trong cô đơn, thất vọng não nề như những lời tiên tri trong các bài hát của ông ?

User avatar
saulong
Posts: 114
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:02 pm

Post by saulong »

Cao Tần, thơ người di tản buồn
Nguyễn Mạnh Trinh
Cao Tần Là một thi sĩ xuất hiện một cách bất ngờ trong thời điểm vô cùng đặc biệt. Lúc đó, là những năm đầu kế tiếp sau cuộc di tản của mấy trăm ngàn người Việt lưu lạc sang xứ người. Trong hoàn cảnh bắt đầu của một cuộc sống xa lạ, khởi đi từ những nỗi niềm mang theo, văn chương ở hải ngoại đã nảy mầm từ những tâm tư thương nhà nhớ nước của người Việt tị nạn sau một cuộc đổi đời. Cao Tần là một nhà thơ xuất hiện sớm nhất và cũng là một nhà thơ nổi bật nhất trong thời kỳ ấy. Vốn là một nhà văn đã thành danh ở Việt Nam và cũng là một ký giả có lối viết phiếm luận sắc bén, thơ Cao Tần đã được để ý từ những bài thơ đầu tiên.

Năm 1977, gần hai năm sau ngày 30 tháng tư năm 1975, trên tờ báo Bút Lửa có đăng mấy bài thơ của một thi sĩ danh tánh lạ hoắc ký tên Cao Tần. Những bài thơ ấy mới xuất hiện đã nổi bật ngay và gây một hiện tượng xôn xao cho độc giả. Nhiều người liên tưởng tới như những bài thơ của T.T Kh. đã tạo thành một nghi vấn cho văn học Việt Nam mà còn mù mờ chưa rõ ràng .Quả thực những bài thơ trên Bút Lửa ấy đã gây kinh ngạc cho độc giả. Mãi về sau này, mới biết Cao Tần là bút danh của nhà văn Lê Tất Điều hay nhà báo Kiều Phong, một người đã là một cây bút quen thuộc của hai mươi năm văn học miền Nam…

Ông sinh ngày 2 tháng 8 năm 1942 tại Hà Đông. Di cư vào Nam năm 1954 và di tản sang Mỹ năm 1975. Trước khi di tản ông là một nhà giáo và cũng là một ký giả ở Sài Gòn. Đã xuất bản truyện dài Đêm Dài Một Đời đã đoạt giải thưởng của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, và các tập truyện ngắn Khởi Hành, Kẻ Tình Nguyện, Quay Trong Gió Lốc, Phá Núi, Người Đi, Những Giọt Mực.

Lý do mà những bài thơ đầu tiên mang tên Cao Tần được chú ý thật là giản dị. Bởi tâm sự của Cao Tần khi làm thơ cũng là tâm trạng chung của những người Việt di tản lúc ấy. Với ngôn ngữ vừa bi hùng vừa tha thiết, diễn tả lại một tình trạng tâm lý của những người còn xa lạ với cuộc sống mới và tiếc nuối những tháng ngày của cuộc đời xưa cũ. Lúc ấy, một nền văn học lưu vong đang dần dần hình thành. Ở những ngoái nhìn quá khứ và băn khoăn từ những bước chân đi đến tương lai. Ai mà chẳng cùng chung suy tư và ở những câu thơ Cao Tần lại gợi lên từ tâm cảm yêu nước nhớ nhà và ngôn ngữ mẹ đẻ đã thành thân yêu vô cùng trong những ngày bắt đầu tạo dựng một cuộc sống mới ở xứ người..

Có lẽ hồi trước 1975, nhà văn Lê Tất Điều cũng không làm thơ và sau này khi loạt thơ Cao Tần chấm dứt ông cũng ngưng làm thơ. Tại sao ông chỉ làm thơ trong khoảng thời gian đó?

Có lẽ chỉ có một mình tác gỉa mới có thể trả lời câu hỏi khó này. Trong một cuộc phỏng vấn của đài phát thanh Á Châu Tự Do RFA do Mặc Lâm thực hiện thì ông giải thích

“Tự nhiên tôi không có cảm hứng viết truyện ngắn nữa. Thế rồi thơ nó lôi cuốn bởi vì trong bài thơ công việc sáng tác nó ngắn hơn nó không đòi hỏi thời gian nhiều..”

Nhà văn Võ Phiến có viết đại ý là Cao Tần làm thơ như người kể chuyện và đó chính là một yếu tố để thơ ông gần gũi với cuộc sống hơn và tạo sự chú ý của độc giả.

Trong bài đề tựa tập thơ Cao tần do nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành, nhà văn Võ Phiến nói rằng thơ của Cao Tần kết cấu như truyện và là những truyện ly kỳ nữa nên gợi được sự tò mò muốn tìm hiểu của người đọc. Và ông nêu ra vài thí dụ bài thơ Kho tàng kể về chuyện của một anh chàng tị nạn Cù Lần..

Nội dung của bài thơ cũng chỉ là một anh chàng tị nạn lúc nào cũng kè kè bên mình một cái túi không một phút nào rời xa. Bạn bè tưởng là anh chàng biển lận nên đè anh ta xuống để mở cái túi bí mật kia ra. Và cũng chẳng có gì ngoài một lạng vàng, chiếc khăn tay và những danh thiếp cũ. Nhưng là cả một kho tàng của một người di tản và nhắc lại người và cảnh đã xa. Vàng thì nhắc đến người mẹ:

“.. miệng túi mở ra kho tàng rơi tung toé
một lạng vàng trong giấy gói đơn sơ
một đứa hét “vàng này thằng em bé
không mại đi mày tính để đem thờ
“Sư chúng mày, vàng đem theo bốn cục
ông bán ba, bắt gọn mấy trăm đô
còn cục này tàn đời ông cóc bán
lúc lên đường bà cụ dúi tay cho”


Còn khăn tay thì nhắc đến người vợ bây giờ đã xa cách ngàn trùng:

“ ..một chiếc khăn tay cũ xì cũ xịt
mầu nâu già thêu mấy chữ xanh xanh

“ giẻ rách gì đây hở thằng chết tiệt

“ Khăn vợ tao trao ngày khoác áo nhà binh”


và những tấm danh thiếp, ôi những tấm giấy làm nhớ lại những tên đường những tên người đã vào xa xưa:

”đáy túi nhỏ thì đầy danh thiếp cũ
những tên người tên tỉnh đã xa xưa
những dòng vội ghi hẹn hò gặp gỡ
những đường quen không trở lại bao giờ

…Với danh thiếp những tên đường đã đổi
những số nhà chớp mắt đã tang thương
những chốn hẹn ngàn năm không trở lại
những tên đời tơi tả khắp quê hương.”


Đọc xong bài thơ này chúng ta thấy thế nào?

Phải nói là rất xúc động anh Trinh à! Nhưng có khi chỉ cảm thấy thôi chứ diễn tả ra cái hay thế nào thì khó lắm. Phải có một lúc , đợi xúc cảm lắng xuống thì dễ dàng để thất bài thơ này độc đáo ra sao..

Chúng tôi cũng như những độc giả khác, chỉ cảm thấy rung động thôi và cũng phải loay hoay suy nghĩ để may ra có thể tìm được những điều mà mình cho là tâm đắc và tuyệt diệu. Bài thơ sống động quá với những ngôn ngữ đời thường mô tả những cuộc đối thoại chuyên chở được ý tình mà tác giả muốn đề cập đến. Có một chút diễu cợt nhưng chỉ là cảm giác thoáng qua để thay vào đó là sự thương camû. Chỉ một túi nhỏ tầm thường của người di tản vỏn vẹn có thế mà sao lại coi như một kho tàng vô gia được ? . Bởi vì những vật thể này không còn đơn thuần là vật thể nữa mà nó chứa đựng cả một trời quê hương và nhắc lại những người thân đã xa và những nơi chốn đã khuất biệt. Câu chuyện kể bằng thơ chỉ giản dị như thế nhưng lại gây ra sự xúc động đến vô bờ cho người đọc. Bởi nó đánh động đến tâm sự chung nên đầy ắp những chia sẻ…

Một bài thơ khác mà nhà văn Võ Phiến nhắc đến như một bằng chứng đơn cử cho lập luận của mình. Như bài” Ta làm gì cho hết nửa đời sau”.Hình như đã có nhiều người lưu vong thốt lên lời nói đó mỗi khi bị ray rứt vì chuyện nước chuyện non..

“Dăm thằng khùng họp nhau bàn chuyện lớn
gánh sơn hà toan chất thử lên vai
chuyện binh lửa anh em chừng cũng ớn
dọn tinh thần cưa nhẹ đỡ vài chai..”


như trong một cơn đồng thiếp, một chàng hào hùng;

“một tráng sĩ vung ly cười ngạo mạn
nửa đời xưa ta trấn thủ lưu đồn
nay đất khách léo lê đời rất nản
ta tính sẽ về vượt suối trèo non

sẽ có lúc rừng sâu bừng chuyển động
những hùm thiêng cựa móng thét rung trời
và sông núi sẽ vươn mình trỗi dậy
và cờ bay trên đất nước xinh tươi..”


Và một chàng khác,thì lại muốn làm tượng thần tự do hỏa thiêu thân xác chính mình để làm đuốc soi đường cho những oan hồn bị trầm luân trong đáy nước bao la:

”Một tráng sĩ vô êm chừng sáu cối
thần tự do giờ đứng ở nơi nào?
Ta muốn đến leo lên làm đuốc mới
Tự đốt mình cho lửa sáng xem sao

Thần tự do giơ hoài cây đuốc lạnh
Ta tiếc gì năm chục ký xương da
Sẽ làm đuốc soi tìm trong đáy biển
những oan hồn ai bỏ giữa bao la”


Và kết cuộc, chỉ là một cơn say, một tỉnh dậy giữa nỗi buồn của những người thấy mình

bất lực giữa thế thời, mộng ước lớn mà bàn tay thì qúa nhỏ:

”..sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
Những hào hùng uất hận gối lên nhau
Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới
Ta làm gì cho hết nửa đời sau.”


Thật là cảm khái. Thật là cay đắng với những nỗi niềm của những kẻ sinh bất phùng thời lớn lên và trưởng thành trong những nghiệt ngã của đất nước chiến tranh. Thực trạng sao buồn quá! Câu hỏi như một tiếng than…Ta làm gì cho hết nửa đời sau?…Những thân phận lưu vong. Những nỗi niềm nhược tiểu.

Mỗi người tị nạn đều mang theo những kỷ niệm trong ký ức. Có những người vẫn còn vương vấn đến tận bây giờ. Có những buồn phiền . có những ray rứt. Nhà thơ Cao Tần có bài thơ nào diễn tả tâm trạng ấy trong nhiều bài thơ. Chúng ta thử đọc bài thơ Chốn Tạm Dung xem. Bản thân tôi đã sống ở đây ba chục năm, thế mà có lúc cũng có những nỗi niềm trống vắng như thế.Thơ nói lên tâm cảm của những người nhiều khi thấy mình bơ vơ giữa cuộc sống và kỷ niệm của nơi chốn xưa của đời sống cũ vẫn cứ bàng bạc hiện hữu:

“nhà tôi ở toòng teng đỉnh đồi
buổi mai đi làm thấy đời xuống dốc
sau lưng sương ngập cao lưng trời
trước mặt thông sầu reo đáy vực

bắt đầu ngày bằng một chút vui
hát nghêu ngao trong lòng xe rỗng tuếch
bài ca quen bỗng chợt quên lời
chút kỷ niệm còm lại mất khơi khơi

tiếng Việt trong ta ngày bỗng héo
hồn Việt trong ta ngày mỗi khô
dốc mở như đời ta trước mặt
sương kín như đời ta năm xưa..”


Một ngày qua một ngày. Ra đi khi lúc vừa mờ sáng và trở về khi phố đã lên đèn, khúc ca sầu xứ mãi mãi ám ảnh. Trải qua bao nhiêu cuộc đổi dời. Bao nhiêu là nỗi muộn phiền . bao nhiêu là ray rứt. Người tị nạn có một mẫu số chung, của khởi hành đi vào cuộc đời mới với tất cả năng lực của mình nhưng vẫn canh cánh bên lòng nhớ mong về quê hương đất nước:

“chiều về lên dốc thân tơi tả
một quả hoàng hôn phủ kín trời
mình mới ngoi lên ngày đã ngả
đêm phờ lăn lóc ngủ thay chơi

giữa đỉnh sương mù thông đáy vực
ngược xuôi ngơ ngẩn một linh hồn
còng lưng gánh nốt đời lưu lạc
nặng trĩu nghìn cân nhớ nước non.”


Cái độc đáo của thơ Cao Tần là dùng những ngôn từ thật sống động , những ngôn ngữ tạo nhiều hình ảnh như: kỷ niệm còm“, như “quả hoàng hôn”, như “mất khơi khơi”. Xử dụng những ngôn từ ấy thành thơ chinh là một dụng công để thi ca có máu huyết xương thịt của đời sống thực, của suy nghĩ thực…

Người tị nạn tuy hôi nhập vào dòng chính nhưng vẫn còn ám ảnh bởi quê hương cũ của đất nước xưa. Có một lúc nào thơ Cao Tần biểu lộ tâm cảm ấy .

Đọc bài thơ Cảm Khái chúng ta nhận ra ngay lập tức.Tấm thẻ căn cước , tờ chứng chỉ tại ngũ nhắc lại một thời xa xưa.Một cách hóm hỉnh pha lẫn đau xót,tác gỉa nhận thấy hình như những tấm hình trên căn cước đều lam nhem xấu xí , không biết có phải là số phận tiền định xui khiến như vậy:

“hình căn cước anh nào mà chẳng xấu
tên chụp hình như một lão tiên tri
triệu mặt ngây ngô bàng hoàng xớn xác
cùng đến một ngày gãy đổ phân ly

nhìn hình chim in trên tờ chứng chỉ
chợt nhớ câu thơ Gãy cánh đại bàng
ngàn lẫm liệt tan trong chiều rã ngũ
muôn anh hùng phút chốc hóa tang thương..”


và những câu cảm khái mà chúng ta trong những ngày lưu lạc thường hay thấm thía:

“Hỡi kẻ trong hình mặt xanh mày xám
người sắp thành tên mọi Mỹ rồi ư
hỡi thằng chiến binh một đời dũng cảm
mày lang thang đất lạ đến bao giờ

Oâi trong ví mỗi người dân mất nước
Còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ
Oâi trong trí mỗi anh hùng thuở trước
Còn dậy trời lên những buổi tung cờ.”


Có người nhận xét rằng mỗi bài thơ của Cao Tần đều mang theo một thông điệp gửi gấm cho người cùng cảnh ngộ và gửi trả lại quê hương. Trong hai mươi bài của tập Thơ Cao Tần, hình như hầu hết các bài đều diễn tả được một tâm sự đặc thù của người bỏ xứ ra đi.

Thư Quê Hương là

“Gửi cho anh viên sỏi nhỏ bên đường
Anh sẽ đọc ra trăm nghìn lối cũ
Gửi cho anh vài nhánh cỏ quê hương
anh sẽ đọc đất trời ta đã thở..”


Chuyện Thần Tiên là:” Ta muốn điều chi cuối đời lưu lạc

Này bà tiên vừa hỏi giấc mơ ta

‘”hãy đem hết những đổi đời tan tác
gói giùm vào cơn mộng dữ đêm qua”


Chiều Bát Phố la

”Chỉ gặp toàn Tây một chiều bát phố
Tiếc sao xưa cả nước chẳng quen nhau
Quen cả nước? Ra đường chào gẫy cổ
Và chắc gì nay nghĩ lại không sầu

Nhưng quen cả nước chắc lòng sẽ nhẹ
Khi đi có chào may bớt xót xa
Ơi xóm mưa ơi có khi nào đổi kiếp
Tôi về thành chim hót trước hiên nhà.”


Mai Mốt Anh Về là:

”nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa
Ông anh hùng ông cứu được quê hương
Ông sẽ mở ra ngàn lò cải tạo
Lùa cả nước vào học tập yêu thương

Cuộc chiến cũ sẽ coi là tiền kiếp
Phản động gì cũng chỉ sống trăm năm
Bồ bịch hết không đứa nào là ngụy
Thắng vinh quang mà bại cũng anh hùng”


Và còn nhiều bài thơ khác với những ý tưởng khác, thông điệp khác. Giở từng trang thơ, để thấy những ngôn ngữ linh hoạt, những chữ lóng, những ngôn từ dân giã, tất cả làm nổi bật một phong vị có lúc như diễu cợt, có lúc như ngông nghênh, mà có lúc là tình cảnh “ở ngoài cười nụ ở trong khóc thầm”. Người tị nạn đã trải qua những đoạn đời, đã qua nhiều nghịch cảnh, sẽ thấy thấm thía biết bao nhiêu với tâm cảm người thơ. Nếu nói thơ Cao Tần là biểu hiện sống động một thời kỳ của người Việt di tản đầu tiên thì cũng chưa đầy đủ mà phải nói rằng thơ Cao Tần đã làm hồi sinh lại một thời đại văn học lưu vong ở hải ngoại. …

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Đêm Giã Từ Hà Nội
Mai Thảo

Phượng nhìn xuống vực thẳm.
Hà Nội ở dưới ấy.

Từ chỗ anh đứng, Phượng nhìn sang bờ đường bên kia. Những tảng bóng tối đã đặc lại thành khối hình. Từng chiếc một, những hàng mái Hà Nội nhoà dần. Phượng nhìn lên những hàng mái cũ kỹ, đau yếu ấy, giữa một phút giây nhoè nhạt, anh cảm thấy chúng chứa đựng rất nhiều tâm sự, rất nhiều nỗi niềm. Những tâm sự câm lặng. Những nỗi niềm nghẹn uất. Của Hà Nội. Của anh nữa.
Dưới những hàng mái cong trũng, ngập đầy lá mùa kia, đang xảy ra những tâm trạng, những biến đổi gì mà ở bên này đường Phượng không đoán hiểu được. Hà Nội đang đổi màu. Đứng bên này bờ đường nhìn sang, Phượng bắt đầu tiếp nhận với một thứ cảm giác ớn lạnh, cách biệt, anh đã đứng trên một bờ vĩ tuyến mà nhìn về một vĩ tuyến bên kia. Bên ấy, có những hình ảnh chia cắt, đứt đoạn. Bên ấy, có những hình chiến luỹ, những hàng rào dây thép gai, những đoạn đường cấm, những vùng không người.
Phượng cũng không hiểu tại sao nữa. Giờ này anh còn là người của Hà Nội, thở nhịp thở của Hà Nội, đau niềm đau của Hà Nội, mà Hà Nội hình như đã ở bên kia.
Phượng nhìn xuống lòng đường. Trong bóng tối, mặt nhựa lầm lì không nói gì. Những hình cây đổ nghiêng trên những tấc đất đá câm nín. Bí mật dàn ra những bề phẳng, những đường dài như một dòng sông ngăn chia hai bờ, và Phượng đã đứng ở bên này mà nhìn sang một bờ bến bên kia. Bên kia có Hà Nội. Bên này có anh. Có tập thể. Có những bạn đường. Có một chuyến đi về Hà Nội.
Chung quanh chỗ Phượng đứng, những tảng bóng tối đã đọng lại trên bờ đường như những bờ hầm hố. Nhìn xuống, Phượng có cảm giác chơi vơi như đứng trên một tầng cao. Anh nhìn xuống vực thẳm. Hà Nội ở dưới ấy.
Anh nhớ đến Thu. Thu cũng còn ở dưới ấy, trong Hà Nội. Cái mái nhà cũ kỹ bên kia, chính là mái nhà Thu, lại cũng chính là ở bên ấy, Thu sẽ đến với anh, ở bên này. Từ một mái nhà của Hà Nội đêm nay, đến bờ đường anh đứng, chỉ có một đoạn ngắn, nhưng Phượng biết rằng đêm nay, nó chứa đựng tất cả ý nghĩa của một đoạn đời. Và Thu, Thu phải đặt cả đời Thu vào một chuyến đi, thì Thu mới vượt được đoạn đường ngắn ngủi ấy, và Thu mới sang được với anh. Như anh, như hàng nghìn hàng vạn con người Hà Nội đêm nay, Thu sẽ ở lại hay sẽ vượt lòng biên giới cũ. Giữa những phút giây Hà Nội đang rắn lạnh lại trong chuyển đổi chính thể đã bắt nguồn, đứng bên này đường, Phượng mới cảm thấy rằng ở bên kia Hà Nội, Thu đã ở thật xa anh. Cái cảm giác ớn lạnh mỗi khi anh đứng trước một dòng sông lại nổi lên. Con sông biên giới đêm nay lại hình như con sông Hồng chảy qua một bờ Hà Nội. Trong Phượng, sóng lòng của chuyển dịch chưa kịp nổi lên mà những ngọn sóng của dòng sông cũ đã nổi dậy. Âm thanh oà oà. Lòng đêm Hà Nội chứa đựng những tiếng đổ vỡ đang xô chen trong bóng tối đặc quánh.
Qua bóng tối, Phượng nhìn thấy những hình khối của Hà Nội bên kia: một cửa ô đoạ đầy. Một hàng mái cũ. Những lớp phố phường sa đoạ. Những ánh đèn nhạt tái trên những bờ tường câm đen. Bóng tối chính thể đổ xuống làm nghiêng ngả những sự kiện này.
Bên kia, Hà Nội vẫn đang lặng lẽ đổi màu. Người Hà Nội dựng cửa tắt đèn để mà đổi thay trong bóng tối. Phượng thấy thương Hà Nội. Thương những người Hà Nội. Những người còn ở lại dưới những hàng mái cũ kỹ kia vì những vướng bận đau khổ.
Đêm khuya dần. Từ một cửa ô, Hà Nội bắt đầu ngây ngất dấy lên những ngọn gió núi rừng thổi về. Gió rừng hoang về qua cửa ô, đi thẳng vào tâm can của người Hà Nội. Ngọn gió tiền phong này đến trước chính thể, đang lọt dần qua cửa ô Yên Phụ, Kim Liên như một điển hình của hoang lạnh rộng lớn. Cả Hà Nội run lên, tê đi. Trước phút bỏ đi mà Phượng cũng như giá buốt cả cơ thể. Hà Nội đã bắt đầu đón nhận ấn tượng. Ngày mai, Phượng ở miền Nam rồi, Hà Nội sẽ phải còn đón nhận những sự kiện, những con người bên ngoài. Sau ấn tượng hoang vắng đêm nay, sẽ là sự thật tàn nhẫn ngày mai. Nhưng chỉ đón nhận ấn tượng, Phượng cũng đủ thấy Hà Nội không còn gì. Hà Nội chỉ còn là một thứ thuộc về bên kia. Hà Nội chỉ còn là một thứ thuộc về bên kia. Bên kia như Đêm. Như Bóng tối. Như Sa đoạ. Như Tù đày.
Trên đầu Phượng, những ngọn lửa nhìn xuống. Ấy là những con mắt đau yếu của một Hà Nội không ngủ. Những ánh lửa tròn, nhợt nhạt, bé nhỏ, bị giam chặt giữa bóng tối. Phượng nghĩ đến những vì sao xa xôi đứng chết ở một góc trời cũ. Hệ thống ánh sáng Hà Nội đã hết bay múa. Bóng tối dềnh lên những đường lung linh. Từng điểm lửa gục đổ. Đêm nay, Phượng chỉ còn mong chúng có đủ ánh sáng để soi đường cho Thu đến được với anh. Phượng chỉ còn mong có thế thôi. Vì anh biết ngày mai những điểm lửa ấy sẽ không sáng nữa. Hà Nội sẽ không sáng nữa.
Buổi chiều, hồi năm giờ, gặp Thu ở cuối nhà Thuỷ Tạ, anh đã nhắc Thu đến một ngả đường. Đúng hơn đến một chuyến đi. Anh lại nhắc cả Thu đến một hạn định: Hôm nay là ngày cuối cùng người ta được tự do rời khởi Hà Nội.
Phượng bảo người yêu: “Hôm nay đã là ngày chót rồi, Thu ạ! Mười hai giờ đêm nay, chuyến xe cuối cùng sẽ đi qua cầu Long Biên. Anh sẽ đi chuyến ấy. Việc lớn việc nhỏ, anh đã thu xếp tạm yên cả rồi. Chưa yên hẳn, nhưng cũng đành vất bỏ hết. Việc đi khỏi Hà Nội trước hạn định cần hơn. Anh sẽ đến đợi em ở đầu phố tối hôm nay. Chúng mình sẽ cùng vào trong Nam”.
Phượng nói vắn gọn có thế. Bao nhiêu lần gặp trước, kể từ ngày có hiệp định chia đôi, anh và Thu đã bàn với nhau nhiều. Bàn đi bàn lại, nhưng vẫn chưa ngã ngũ ra sao cả. Vấn đề chỉ mới giải quyết xong về phần anh thôi. Trước sự lựa chọn một thái độ và trước những mưu toan xây dựng một cuộc sống tay đôi ở bên kia vĩ tuyến của hai con người cùng gắn bó đến những cái cao đẹp của đời sống, những gió bão của chiến thời ở đây lại có thêm những thảm trạng của đất nước bị chia rẽ. Sự ngăn chia đến cả từng cuộc đời. Đất nước ngăn cách làm hai miền, thì những cuộc đời cũng chia về hai phía. Như đêm và ngày. Bên này, bên kia. Biên giới oán thù dựng lên ở giữa.
Cho đến nay, Thu vẫn chưa quyết định. Thời hạn được ấn định cho di chuyển trong khu vực Hà Nội cứ vợi mãi trong phân vân lưỡng lự của người thiếu nữ. Phượng cũng hiểu cho người yêu. Anh khác, Thu khác. Cuộc sống mấy năm gần đây của anh trong Hà Nội cứ an định một chỗ, chỉ một ngụm gió nổi lên là cũng đủ đưa anh ra ngoài cửa ô. Di chuyển là một cần thiết cho đời sống của Phượng trong ngày cũ, bây giờ lại là một hành động của tự do. Cứu cánh của người Hà Nội hôm nay nằm trong sự thoát khỏi phố phường cũ.
Nhưng Thu, Thu chỉ là một người đàn bà. Vây quanh lấy đời Thu, Phượng cũng đoán thấy không biết cơ man nào là những sợi dây nối kết cuộc đời của Thu với Hà Nội. Như lúa với đất. Đi khỏi được, ít ra Thu cũng phải cắt đứt được bằng hết những sợi dây ấy. Chúng là những rễ lớn rễ con đã bám chặt lấy đời Thu từ tuổi thơ. Trên mái tóc suối chảy của người thiếu nữ, bóng dáng một mái nhà cổ kính đổ xuống. Những nếp nhăn trên trán người mẹ. Những sợi tóc bạc trắng của người cha. Đi thoát được mái nhà cũ, hành động của Thu sẽ là một hành động quyết liệt. Nó đòi hỏi nhiều đau khổ, nhiều mất mát. Lòng người vẫn phải rách nát vì những đau khổ, những mất mát ấy.
Phượng biết thế, nên người anh hùng cũng không giục giã người yêu. Mặt khác, anh muốn rằng trước thử thách này, Thu sẽ hành động, sẽ quyết định một mình. Như một con người tự do hành động và quyết định. Phượng vẫn thường có quan niệm rằng chính kiến của con người như một thứ hướng đi, tuỳ theo sự lựa chọn chân trời riêng. Đối với Phượng trái đất này có hàng triệu ngả đường thì con người cũng có hàng triệu hướng đi, trên đó đua nở những hoa cỏ cùng là rung động những tình cảm của người trước cuộc sống. Thảy đều mênh mộng, không bến bờ. Nhẹ thoáng như không khí. Bay múa như nắng.
Nếu không, thì trái đất không còn là trái đất nữa. Con người không còn là con người nữa.
Mấy ngày gần đây, Hà Nội của Phượng đã hết nắng. Hà Nội đã thiếu không khí, thiếu hơi thở. Bên kia tả ngạn Hồng Hà, bên này năm cửa ô, ngay trong nội tâm Hà Nội, những sự kiện mới mai đây sẽ về ngự trị trên Hà Nội đã như những tảng bóng tối mịt mùng dâng lên. Bóng núi bóng rừng chấp chới. Tim phổi người choáng váng, rức buốt. Những mạch đời ngừng nghỉ. Những màu sắc lộng lẫy nhất cũng nhạt tái lần lần.
Trên những sân ga, bến tàu, từ những trạm hẹn, những con người có sẵn thái độ như Phượng đã hướng vào chuyến đi. Những cuộc đời như đời Thu, rách nát vì mâu thuẫn, giờ phút này đang trải qua một cuộc tranh đấu quyết liệt với bản thân. Chúng là những miền còn tranh tối tranh sáng. Sau hết, là những người ở lại. Ở lại với Hà Nội. Vì hoàn cảnh vướng bận.
Chưa bao giờ Phượng lại cảm thấy Hà Nội chứa đựng nhiều khía cạnh, nhiều thời gian tính đến thế. Đứng trước cuộc đổi đời, Phượng va chạm với những con người đang lựa chọn để nắm lại trong dĩ vãng hay đi vào tương lai. Từ một bản hiệp định chia đôi, chói lên những phút giấy thử lửa. Thái độ của từng người phân định dần mãi. Như thế cũng hay. Lại hơn. Đằng nào cũng một lần.
Từ ngày Hà Nội thay đổi sắc thái, Phượng thấy cái việc giã từ Hà Nội của anh không đến nỗi sầu thảm như anh tưởng. Nhìn sang một lớp sự kiện còn nằm lại bên kia, đêm nay, Phượng, trong một cảm thông cụ thể, như đã sờ mó thấy trên đầu ngón tay cái lành khoẻ rộng lớn của một khối đời anh sẽ dựng lên sau chuyến đi. Dựng lên bằng niềm tin. Trong tập thể. Niềm tin này, riêng đêm nay, đã đốt cháy được hộ Phượng những sợi dây gắn bó với đời cũ. Với bên kia. Với Hà Nội. Theo anh, Hà Nội cũng không còn gì. Những người như anh lên đường đã mang theo Hà Nội vào chuyến đi.
Thanh toán cho xong được những chua xót lúc đầu, lòng người đi vậy là đã ổn định.
Duy có một vấn đề là Thu. Đối với Phượng, Thu đi hay Thu ở lại, việc ấy đã ra ngoài cái lãnh vực thường rất bé mọn của tình cảm. Anh yêu Thu, qua những rung cảm của tình yêu, còn có những nỗi niềm hết sức bao la, hết sức sâu nặng của con người anh gửi đến một người bạn cùng đường. Thêm Thu tập thể thêm đông, và đời Phượng cũng vui thêm trong xây dựng.
Chiều xuống dần. Hai người yên lặng bước đi. Buổi chiều cuối cùng ở lại Hà Nội, Phượng chỉ còn tìm thấy ở Thu một sự kiện lành mạnh gần gụi, khi mà tất cả những sự kiện khác đã sa đoạ, đã đổi màu.
Anh nhìn Thu: Mái tóc dài chảy xuống một bờ vai gầy. Hàng mi nghiêng nghiêng. Và con mắt sâu đen của Thu thì nhíu lại trong suy nghĩ. Phượng nhìn lâu lâu vào đôi mắt ấy, tận trong, đôi mắt u uẩn hình như đang thăm dò một ngả đường, trong đêm tối. Anh không biết Thu đang nghĩ ngợi gì. Nhưng anh đoán Thu đang đau khổ nhiều. Trong nội tâm người thiếu nữ cũng đang có những sự kiện vừa nằm xuống, vừa chìm lặn, cùng một lúc với những sự kiện đang đi lên, đang sinh thành. Bóng tối và ánh sáng chấp chới trên những mâu thuẫn chưa ổn định. Trong Thu đã có một ngả đường? Cháy một niềm tin? Đường mũi dài, đôi môi trang nghiêm của Thu in lên một nền nhờ xanh của sương mù, của buổi chiều. Bên kia, thấp thoáng những hàng cây, những mái nhà Hà Nội.
Một lát yên lặng. Phượng châm một điếu thuốc.
Thu nói với anh: “Em thì em cũng định đi rồi. Một phần vì Hà Nội. Cơ sự đã xảy ra thế này, cũng chẳng ở được nữa. Một phần vì em không muốn xa anh. Xa nhau, biết đến bao giờ mới gặp lại? Em sợ thay đổi lắm. Nhưng anh cũng biết, còn gia đình em đấy! Thầy me em già rồi. Me em đang đau nặng. Thầy em thì chỉ biết có lũ chậu hoa cây cảnh. Hồi này ông cụ chán đời cứ thở dài suốt ngày”.
Phượng hỏi Thu:
“Thầy me không bằng lòng cho Thu đi ư?”
“Không, thầy me em bằng lòng. Chính vì thế mà em phân vân. Anh hiểu cho em chứ?”
Phượng cúi đầu không nói gì. Hai người lại yên lặng bước đi. Phượng nhìn đồng hồ. 7 giờ 35. Anh bảo bạn:
“Thôi, anh đưa Thu về. Đêm nay, trên đường tới trạm di chuyển, anh sẽ đi qua nhà em. Em về nhà nghĩ lại đi. Cố thu xếp xem có được không?”
Thu đáp, tiếng nói bé nhỏ:
“Vâng, em sẽ cố gắng thu xếp. Dù sao, anh cũng đến, anh nhé!”
Hai người chia tay. Và Phượng, đúng 11 giờ đêm, đã xách va ly đến đợi Thu ở đây, bên này đường. Bên kia là Hà Nội.
Đêm Hà Nội càng về khuya càng lạnh buốt. Mặt nhựa loáng ướt. Những ánh đèn lu xanh một màu xanh hoang vắng trong sương. Trước mắt Phượng con đường Trần Nhật Duật chạy dài, một đầu phố nhạt nhoà mất hút về phía chân cầu Long Biên. Vắt qua lòng sông Hồng, những ánh lửa nơi chân cầu đổ về một hướng Gia Lâm. Gia Lâm, Phượng nghĩ đến những vùng cỏ tối bên ấy, nơi phi trường. Lát nữa anh sẽ vượt Hồng Hà, tới phi trường và ở đó, anh sẽ giã từ Hà Nội.
Lòng Phượng lắng đọng lại trong suy tưởng, trong đợi chờ. Những ý nghĩ nhẹ thoáng nhất cũng đều có những sắc thái rất mênh mông. Nhãn giới Phượng bắt gặp những hình khối của Hà Nội đang ngược đường về trong dĩ vãng, và lòng Phượng thì đã thơm rồi, những nhành hoa của xây dựng trên luống đất tương lai. Ngày mai, anh đi khỏi, tập thể xa rồi, Hà Nội sẽ ra sao? Những con người ở lại Hà Nội sẽ ra sao? Trong đêm giã từ, ba mươi sáu phố phường đi dần vào những tầng lớp của ký ức. Nhìn Hà Nội, Phượng bỗng liên tưởng tới những thành phố khác của thế giới, của thời đại. Hán Thành, Bá Linh. Những thủ đô đổ nát vì chiến tranh, bây giờ lại chứa đựng những ấn tượng buồn thảm của chia cách, hờn oán. Bên này, bên kia. Giã từ Hà Nội. Những con người cúi đầu. Một khung cửa đen câm. Những ngả đường ngoại thành hoang vắng. Những hàng mái đau yếu. Thu, Thu của anh.
Đứng một mình trong đêm dài, trước một Hà Nội ngủ thiếp, Phượng nghĩ đến những người bạn đường đã vượt Hồng Hà, đã bỏ Hà Nội, bỏ đất Bắc trước anh, vượt vĩ tuyến về tiếp tục cuộc đấu tranh cho tự do, cho con người, trên phần đất nước còn lại. Anh biết rằng thời đại, trong ngày tới sẽ nối kết con người bằng một ý niệm một hệ thống tự do. Tâm trạng của Phượng đêm nay cũng là tâm trạng của một người thợ máy Đức, một người dân cầy Triều Tiên, đang ngày đêm vượt khỏi những vĩ tuyến tù đày để tìm một hướng đi, một chân trời có không khí và ánh sáng. Năng lực đấu tranh của con người nằm trong những cạnh khía bay múa ấy.
Cái ý nghĩ cuối cùng của Phượng, gửi đến Thu. Anh nhìn sang bên kia đường. Vẫn không thấy gì. Có lẽ Thu đã ở lại. Phượng nhìn đồng hồ: Chiếc kim dạ quang chỉ đúng mười hai giờ đêm. Phượng cúi xuống nhấc va ly, bước đi.
Sau lưng anh, bống có tiếng gọi nhỏ: “Anh!”.
Phượng quay lại. Đôi mắt anh sáng lên trong tối. Từ bên kia bờ đường, từ bên kia Hà Nội, một bóng người bé nhỏ đang vượt lòng đường đi sang anh. Thu. Bóng Thu xiêu xiêu vội vã. Một thoáng, Thu đã đứng bên cạnh anh. Đôi mắt Thu còn ngấn lệ. Phượng đỡ lấy va ly Thu.
Tiếng Thu vang lên trong đêm Hà Nội:
“Em được đi rồi. Cả thầy me cũng đi nhưng đi sau.
Và kéo tay Phượng.
“Chúng mình đi đi thôi anh ạ!

Hà Nội - 100 ngày, sau hiệp định Genève

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Luật Mới Năm 2012 Tại California
Luật Sư Nguyễn Quốc Lân

Bước sang năm mới, hàng loạt các luật mới bắt đầu có hiệu lực tại Tiểu Bang California. Các điều luật này được thông qua từ năm ngoái hay những năm trước, nhưng phần lớn đều qui định ngày có hiệu lực bắt đầu từ ngày đầu năm nay. Các điều luật mới dưới đây được chọn lọc từ hàng ngàn điều luật được đệ trình hay thông qua riêng tại California vào năm ngoái.

Luật Lao Động

Với sự thay đổi của Thống Đốc Tiểu Bang, một số lớn các điều luật được ban hành có ảnh hưởng bảo vệ các nhân viên và gây khắc khe hơn đối với các cơ sở thương mại.

AB 22. Cấm chủ nhân duyệt xét hồ sơ tín dụng của nhân viên. Luật mới cấm các chủ nhân hay hãng xưởng duyệt xét hồ sơ tín dụng (credit reports) của nhân viên khi xét đơn thuê mướn hay kiểm tra lý lịch trừ khi công việc có liên quan đến chức vụ quản lý, quản lý tài chánh, hồ sơ tín dụng của khách hàng, hay được cho phép bởi các luật khác.

SB 22. Buộc cung cấp bảo hiểm trong thời gian nghĩ việc vì sinh con. Luật mới buộc chủ nhân có 5 nhân viên hay nhiều hơn phải tiếp tục cung cấp bảo hiểm sức khoẻ cho các nhân viên nghĩ việc vì sinh con lên tới 4 tháng. Trước đây, luật chỉ bắt buộc chủ nhân cho nhân viên tạm nghĩ để sinh con mà không bắt buộc phải tiếp tục cung cấp bảo hiểm y tế cũng giống như các trường hợp bị tàn phế tạm thời (temporary disability) khác ví dụ như bị tai nạn hay đau yếu.

SB 459. Phân loại nhân viên. Luật mới áp đặt những hình phạt khắt khe hơn, lên đến từ $5,000 đến $25,000, nếu chủ nhân cố ý phân loại sai thành phần nhân viên là nhân viên thuê mướn (employee hay Mẫu Thuế W2) hay hợp đồng thầu (indenpendent contractor hay Mẫu Thuế 1099), thường là để tránh trả thuế lợi tức từ chủ nhân hay nhân viên. Luật còn quy trách nhiệm chung đối với những người cố vấn các chủ nhân phân loại sai các thành phần nhân viên này.

AB 469. Thông báo về tiền lương. Luật mới buộc các chủ nhân phải tự động thông báo cho các nhân viên lúc mới được thuê mướn về các chi tiết về tiền lương ví dụ như mức lương, tiền khấu trừ hay địa chỉ liên lạc của chủ nhân. Nếu có thay đổi trong các chi tiết này, chủ nhân phải thông báo cho tất cả mọi nhân viên trong vòng 7 ngày cũng như được phổ biến trong sổ lương bổng.

SB 272. Tạm nghĩ việc để hiến tặng các bộ phận cơ thể. Luật mới giải thích rõ hơn luật hiện nay nhằm cho phép nhân viên được nghĩ việc lên tới 30 ngày trong vòng 1 năm để hiến tặng các bộ phận cơ thể hay 5 ngày để hiến tuỷ. Số ngày này là ngày làm việc chứ không phải ngày tính theo lịch và chủ nhân có thể buộc nhân viên xử dụng ngày nghĩ bệnh, nghĩ phép hay được nghĩ có trả lương.

AB 592. Cấm chủ nhân ngăn cản nhân viên tạm nghĩ việc. Luật mới cấm các chủ nhân hay hãng xưởng ngăn cản nhân viên xin tạm nghĩ việc lên tới 12 tuần không lãnh lương để ở nhà chăm sóc con mới sinh hay mới nhận về nuôi, chăm sóc thân nhân đau bệnh, nghĩ bệnh khi mang thai hay đau bệnh mà có thể ảnh hưởng đến việc làm.

AB 887. Cấm kỳ thị về giới tính. Luật mới giải thích rõ hơn về luật chống kỳ thị giới tính để bao gồm cả những trường hợp “biểu lộ giới tính – gender expression.” Đây là trường hợp những người thuộc một giới tính trên giấy tờ nhưng muốn tỏ bày hay hành xử theo giới tính khác ví dụ như mặc quần áo khác hay cách bộc lộ cá nhân khác.

AB 1236. Xác nhận tình trạng di trú qua điện toán. Luật mới cấm các cơ quan chính quyền tiểu bang buộc phải xử dụng hệ thống kiểm chứng tình trạng di trú qua chương trình E-Verify của chính phủ liên bang. Các hãng xưởng hay chủ nhân vẫn có thể tiếp tục kiểm chứng tình trạng di trú của nhân viên quan chương trình này nhưng các cơ quan chính quyền không được bắt buộc họ kiểm chứng như vậy.

AB 551. Tiền phạt vì trả lương thấp hơn mức ấn định. Luật mới nâng mức tiền phạt vạ từ $50 đến $200 mỗi ngày cho mỗi nhân viên làm việc trong các công trình công cộng (public works) nếu trả thấp hơn mức ấn định. Luật này cũng gia tăng mức tiền phạt nếu chủ nhân không cung cấp hồ sơ lương bổng khi được yêu cầu từ $25 đến $100 mỗi ngày sau thời hạn 10 ngày theo luật định.

SB 757. Cấm kỳ thị bảo hiểm y tế đối với các bạn đời có đăng ký (registered domestic partner). Luật mới ngăn chặn một lỗ hỗng của pháp luật để buộc các công ty hoạt động ngoài tiểu bang vẫn phải cung cấp bảo hiểm y tế cho các bạn đời của nhân viên tương tự như đối với người phối ngẫu của các nhân viên khác. Luật trước đây cho phép các công ty hoạt động ngoài tiểu bang dựa trên các điều khoản không cung cấp bảo hiểm y tế cho những người bạn đời tại các tiểu bang đó và do đó cũng không cung cấp bảo hiểm cho các bạn đời có đăng ký tại Tiểu Bang California.

SB 117. Cấm tiểu bang không được ký giao kèo giao dịch với công ty nào mà vẫn có chính sách kỳ thị về giới tính (gender) hay khuynh hướng giới tính (sexual orientation) đối với các quyền lợi nhân viên. Như vậy các công ty muốn nhận các hợp đồng từ tiểu bang California phải chấp nhận cung cấp bảo hiểm sức khoẻ đồng đều đối với những người thuộc thành phần hôn nhân đồng tính mặc dầu tiểu bang chưa chính thức công nhận hình thức hôn nhân đồng tính. Các điều luật khác vẫn bắt buộc các công ty hoạt động tại California phải cung cấp bảo hiểm sức khoẻ hay các quyền lợi khác đối với những người bạn đời có đăng ký (registered domestic partner)
.
Luật Giao Thông

Một số luật ảnh hưởng đến giao thông đã được thông quan trong năm vừa qua.

SB 949. Nâng tuổi trẻ em ngồi ghế an toàn. Luật mới nâng tiêu chuẩn trẻ em phải ngồi ghế an toàn (booster seat hay car seat) lên đến 8 tuổi hoặc cao 4 feet 9 inches. Các dây seat belt trong xe hơi thường được thiết kế để bảo vệ an toàn cho hành khác có chiều cao từ 4 feet 9 inches trở lên. Luật trước đây buộc các trẻ em dưới 6 tuổi hay nặng ít hơn 60 pounds phải ngồi ghế an toàn. Như vậy một số em vừa được thoát ra khoải booster năm ngoái, năm nay lại phải trở lại ngồi ghế booster.

AB 1215. Đăng bộ khi bán xe từ hãng bán xe. Luật mới buộc các hãng bán xe mới phải đăng bộ xe và trả tiền lệ phí trước khi giao xe cho khách hàng. Đối với các xe cũ, hãng bán xe phải xuất trình chứng chỉ lịch sử chủ quyền của xe trước khi rao bán xe. Giấy chứng chỉ này xác nhận xe đã từng bị phế thải bao giờ chưa.

AB 353. Cấm giam xe tại các trạm kiểm soát lái xe say rượu chỉ tài xế không có bằng lái. Luật mới cấm các cơ quan công lực tự động giam xe tại các trạm kiểm soát lái xe say rượu chỉ vì tài xế không có bằng lái. Điều luật này buộc các cơ quan công lực phải tìm cách giao xe lại cho người chủ xe hay những người khác do chủ xe chỉ định để lấy xe về trước khi quyết định giam xe. Trước đây các cơ quan công lực có quyền tự động giam xe đến 30 ngày chỉ vì tài xế không có bằng lái và không cho người khác nhận xe về. Tình trạng này tạo nên một món tiền lớn cho các sở cảnh sát và hãng câu xe trong khi tạo nên một gánh nặng lớn cho những người nghèo, mà đa số là những người di dân bất hợp pháp vì họ không thể được cấp bằng lái xe chỉ vì họ không có quy chế di trú hợp pháp chứ không phải vì thành tích lái xe.

AB 520. Cho phép người bị kết tội lái xe ẩu thả có liên quan đến rượu bi có thể xin bằng lái tạm. Luật mới cho phép những người bị kết án lái xe ẩu thả vì bị ảnh hưởng bởi rượu bia (reckless driving) chứ không phải tội lái xe khi say rượu (driving under the influence) có thể xin bằng lái tạm nếu chấp nhận một số điều kiện giới hạn, ví dụ như gắn máy thổi nồng độ rượu trong xe. Trước đây, cho dầu bị kết án với tội nhẹ như là lái xe ẩu thả vẫn có thể bị treo bằng lái lên đến 30 ngày.

Luật Giáo Dục

AB 9, Cấm kỳ thị hay học sinh hiếp đáp nhau. Để củng cố thêm các điều luật chống kỳ thị và trẻ em uy hiếp nhau vì đối với những học sinh thuộc các thành phần hay bị kỳ thị. Theo điều luật này, các học khu cần phải công bố chính sách đối phó với vấn đề ức hiếp giữa các học sinh – thường gọi là bullying – và phải có thủ tục tiến hành điều tra hay can thiệp ngay lập tức để ngăn chặn những tệ nạn này.

AB 746. Cấm trẻ em uy hiếp nhau qua Internet. Luật mới bao gồm những chữ viết hay câu nói trên Internet hay qua các hệ thống quan hệ xã hội (social network) như FaceBook, Tweeter, v..v.. cũng là hình thức uy hiếp nhau (bullying) cũng tương tự như đánh đập hay chửi bới nhau. Hình thức uy hiếp này cũng có thể đưa tới việc kỷ luật hay đuổi học trong trường học.

AB 130 & 131. Dream Act of California. Cho phép các sinh viên không có tình trạng di trú hợp pháp đang theo học tại các trường đại học tiểu bang được nhận trợ giúp tài chánh (financial aid) do tiểu bang cấp, ví dụ như Cal Grant. Luật này tiếp theo một điều khoản khác trước đây cho phép các sinh viên di dân này đã từng theo học trung học tại tiểu bang được theo học các trường đại học tiểu bang mà chỉ trả lệ phí như các thường trú nhân hợp pháp khác của tiểu bang. Các sinh viên này vẫn chưa được quyền nhận trợ giúp tài chánh của chính phủ liên bang, ví dụ nhu Pell Grant, Work Study, hay các chương trình học bổng khác.
Luật Tòa Án.

SB 221. Tăng mức tiền bồi thường tối đa trong tòa án nhỏ (small claims court). Luật mới nâng mức tối đa được đòi bồi thường trong tòa án nhỏ lên đến $10,000 từ $7,500 trước đây. Các đơn đòi bồi thường tai nạn xe cộ trong toà án nhỏ vẫn giữ mức độ $7,500 cho tới năm 2015 rồi sẽ tăng lên $10,000. Các đơn kiện bởi công ty có cổ phần (corporation) vẫn bị giới hạn tới mức $5,000. Tòa án nhỏ dành để giải quyết các vụ tranh tụng nhỏ mà không cần đến luật sư.

AB 141. Cấm bồi thẩm viên tự động nghiên cứu thêm từ các tài liệu ngoài phiên xử án. Luật mới buộc các tòa án phải cảnh giác các bồi thẩm viên (juror) không được tìm hiểu thêm về luật lệ hay bằng chức qua các phương tiện điện tử cá nhân như điện thoại, máy tính cầm tay. Thông thường, các bồi thẩm viên chỉ được quyền cứu xét các luật lệ hay bằng chứng được trình bày trong phiên xử án mà thôi.

Luật Địa Ốc.

SB 4. Thông báo bán nhà do nhà băng xiết. Kể từ đầu tháng 4 năm 2012, các thông báo bán nhà do nhà bị nhà băng xiết phải ghi rõ các chi tiết làm thế nào để có thể đình trệ thủ tục bán nhà cũng như những rủi ro đối với những người tham dự đấu giá mua nhà do nhà băng xiết. Các chi tiết này cũng phải được thông báo một cách rộng rãi và mọi người có thể tìm đọc một cách dễ dàng.

SB 332. Cấm hút thuốc trong các nhà cho thuê. Kể từ đầu năm 2012, chủ nhà có thể đặt tiêu chuẩn cấm hút trong nhà cho thuê trong các hợp đồng cho thuê nhà. Đối với các hợp đồng đang có hiệu lực, điều kiện này chỉ có thể được áp đặt khi ký giao kèo mới

AB 588. Nạn nhân bạo hành trong gia đình được chấm dứt hợp đồng thuê nhà. Luật mới cho phép các nạn nhân bạo hành trong gia đình (domestic violence victim) được quyền thông báo với chủ nhà để chấm dứt hợp đồng thuê nhà mà không bị bắt trả tiền nhà trong vòng 6 tháng, thay vì 2 tháng như trước đây. Những nạn nhân này thường có nhu cầu cần phải dọn nhà và trách nhiệm trả tiền nhà có thể là một yếu tố quan trọng đối với quyết định có nên dọn nhà hay không.

Luật Bầu Cử.

AB 84. Công dân mới nhập tịch được ghi danh bầu cử đến tận ngày bầu cử. Luật mới cho phép các công dân mới nhập tịch được ghi danh bầu cử và tham gia bầu cử đến tận ngày bầu cử tại địa điểm do Phòng Ghi Danh Bầu Cử chỉ định. Luật hiện nay cho phép các công dân mới được ghi danh trước 7 ngày trước ngày bầu cử mà thôi.

AB 1343. Bầu phiếu qua bưu điện. Luật mới cho phép Phòng Ghi Danh Bầu Cử xóa tên cử tri ra khỏi danh sách cử tri bằng bưu điện vĩnh viễn (permanent voter by mail) nếu cử tri này không bỏ phiếu 4 kỳ bầu cử chính liên tục, thay vì 2 kỳ bầu cử như trước đây. Cử tri nào tiếp tục bỏ phiếu thường xuyên thì không bị xóa tên ra khỏi danh sách này.

Các Luật Khác

AB 144. Luật Mang Súng. Luật mới cấm mang súng ngắn trên người nơi công cộng, cho dầu là vũ khí không có đạn hay mang trong bao súng đeo bên ngoài. Luật hiện nay tại California, ngoại trừ một số trường hợp do luật lệ cho phép, đã cấm mang súng ngắn có nạp đạn tại gần trường học, nơi công cộng hay giấu trong người. Tu Chính Án Thứ Hai của Hiến Pháp Hoa Kỳ cho phép mọi người được mang vũ khí trên người. Tuy nhiên, nhiều luật lệ tiểu bang vẫn ban hành luật lệ giới hạn quyền hiến pháp này. Trong thời gian gần đây, nhiều đám đông biểu tình của những thành phần hỗ trợ quyền được mang súng đã tổ chức biểu tình và mang súng trong bao súng, cho dầu là không nạp đạn. Điều này đã gây lo ngại cho nhiều cơ quan cảnh sát đang kiểm soát an ninh hay bảo vệ người biểu tình.

AB 155. Thâu thuế bán hàng qua Internet. Luật mới buộc các công ty buôn bán hàng hóa qua Internet mà có số lượng bán tại California hơn $500,000 mỗi năm phải đóng thuế hàng hóa (sales tax) giống như các cửa tiệm khác bán hàng trong tiểu bang. Trước đây, các cửa tiệm bán hàng qua Internet ngoài tiểu bang vẫn không phải đóng thuế hàng hóa. Các công ty như Amazon, Ebay, hay Internet stores đã cực lực phản đối đạo luật này. Vấn đề này mang lại mối lợi lớn cho những người mua hàng từ tiểu bang California, nhưng thiệt hại lớn cho các cửa tiệm trong tiểu bang vì không cạnh tranh được.

AB 376. Cấm bán vi cá. Luật mới buôn bán hay phân phối vi cá trong tiểu bang. Đây là một món ăn đặc biệt đối với nhiều người Á Châu, ví dụ như món soup vi cá hay bánh trung thu vi cá. Tuy nhiên, việc săn cá mập để lấy vi cá thường được coi là dã man hay làm thiệt hại đến các giống cá mập.

AB 499. Cho phép chăm sóc y tế cho trẻ em. Luật mới cho phép các trẻ em từ 12 tuổi trở lên có thể tự cho phép chẩn khám hay chữa trị các chứng bệnh có thể gây truyền nhiễm qua đường sinh dục mà không cần thông báo đến phụ huynh. Luật hiện hay chỉ cho phép các trẻ em tự cho phép chữa trị trong một số trường hợp giới hạn mà thôi.

Các điều luật trên đây được bắt đầu bằng ký hiện AB### (Assembly Bill) hay SB### (Senate Bill) để ám chỉ dự luật được đề xướng từ Hạ Viện (Assembly) hay Thượng Viện (Senate). Muốn biết thêm chi tiết, quí vị có thể vào trang nhà của Nghị Viện Tiểu Bang ở địa chỉ www.leginfo.ca.gov trong đó có đầy đủ chi tiết về tất cả các đạo luật và tiến trình thông qua các đạo luật này.

Luật Sư Nguyễn Quốc Lân có văn phòng Lan Quoc Nguyen & Associates tại Quận Cam, số điện thoại (714) 891-1901 begin_of_the_skype_highlighting (714) 891-1901 end_of_the_skype_highlighting và trên lưới điện toán ở địa chỉ www.vietlaw.com

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

BÀ TOÀN BÁNH CUỐN
Ngồi trên máy bay, bà Toàn biết rõ rằng lúc này lòng bà vô cùng thanh thản. Bà đã và đang quyết định một việc vô cùng quan trọng cho cả một gia đình, cho cả một hạnh phúc mà bà đã chắt chiu xây dựng từ mấy chục năm. Đã mấy tháng rồi bà Toàn đau khổ và buồn bã lắm. Bà âm thầm chịu đựng, không dám mở lời than thở với ai, vì bà biết có than cũng chẳng thay đổi được hoàn cảnh mà không chừng lại còn rắc rối thêm.

Bà đau khổ vì ông Toàn, chồng bà thay lòng đổi dạ sau hơn ba chục năm tình nghĩa. Mấy tháng rồi, từ khi người em trai ông, chú Phong, gọi điện thoại báo tin mẹ ông bịnh nặng, muốn có ông bên cạnh thì bà vội vàng lo chuyến đi cho ông và ông thì tất tả mua vé về Việt Nam lo thuốc men cho bà cụ. Bà Toàn chỉ biết câu chuyện bắt đầu từ đấy và đau khổ từ đấy nhưng những gì trước đó bà lại chẳng haỵ
*
Nguồn lợi chính để sống của gia đình bà là cửa hàng bánh cuốn. Bà phải lo tráng bánh để cung cấp cho khách nên không theo chồng về thăm mẹ chồng bịnh được ,nhưng để làm tròn phận làm dâu, bà không tiếc tiền, bà đưa cho ông một số lớn và mua sắm mọi thứ cần thiết rồi nhờ người con lớn, Thông, chở bố ra máy bay. Trước khi đi, bà không quên dặn tới dặn lui:
- Đường xá xa xôi, máy bay đi cả mười mấy tiếng đồng hồ, em lo lắm, về đến nhà, bố gọi ngay cho em nhá.( bà Toàn có thói quen hay gọi chồng bằng bố như bày con của bà)
- Yên tâm, anh sẽ gọi ngay cho em biết tình trạng của má.
Sau hơn hai ngày chờ đợi, tiếng chuông điện thoại reo và Thúy, cô con gái út đưa cho bà điện thoại:
- Mẹ, có phôn của bố nè mẹ.
Bà Toàn vồ lấy chiếc điện thoại trên tay con:
- Bố về đến nhà lúc nào vậy ? sao không gọi ngay, em mong qúa. Mẹ như thế nào rồi ?
Giọng ông Toàn còn ngái ngủ:
- Anh về chiều hôm qua nhưng đến nhà thương thăm mẹ liền. Xong, về nhà mệt qúa, ngủ đến bây giờ mới gọi em được. Tình trạng mẹ bết lắm mà thuốc men ở đây bịnh nhân thường không được hưởng qui chế thuốc như bịnh nhân cán bộ. Muốn có thuốc, phải có tiền. Muốn gặp bác sĩ cũng phải có hai loại quà, một cho y tá và một cho bác sĩ. Quà không gì tốt và quí hơn tiền. Cần thay tấm trải giường hay lau phòng cho sạch cũng phải có tiền dúi vào tay bác lao công, nếu không thì bẩn thỉu kinh khủng lắm. Tóm lại, cái gì cũng phải tiền.
Nghe chồng nói, bà Toàn thở dài:
- Cũng phải chịu vậy thôi anh ạ. Cầu xin bề trên cho cửa tiệm của nhà mình đắt khách thì chúng ta vẫn lo cho mẹ được. Anh đừng hà tiện qúa mà mẹ không được săn sóc tử tế thì tội nghiệp. À, tình trạng mẹ thế thì chừng nào anh về nhà?
- Cái cô này .... mới chân ướt chân ráo đặt đến đây tối hôm qua, nay cô đã hỏi chừng nào về...Tôi đâu biết tình trạng mẹ như thế nào đâu mà nói trước.
Bà Toàn cười:
- Bố hay nhỉ, em chỉ hỏi có thế mà gắt như mắm ấỵ Thôi được, mình cứ lo cho mẹ đi. Nhớ gọi cho em thường. Chừng nào cần thêm tiền thì nói cho em hay. Vợ chồng chú Phong ra sao ? mấy đứa bé lớn lắm hả anh? Chúng nó có thích quà bố mang về không ?
Ông Toàn dịu lại:
- Đã bảo là về anh đến nhà thương thăm mẹ liền rồi về nhà ngủ. Chợt tỉnh anh gọi cho em, chưa có thì giờ gặp mấy đứa con chú Phong nên quà cáp vẫn còn kia...
- Thôi, cái gì cần trước thì lo trước. Vài hôm nữa đưa quà cũng được. Nhớ nói em thăm vợ chồng chú Phong nhé ... À, nhưng mà em dặn này, bố có đi chơi với bạn chút chút thì đi chớ đừng đi bia ôm bia ấp, tắm hơi tắm hướng ,cà phê cà pháo gì đấy nhé....
Ông Toàn cắt ngang:
- Lại rắc rối ! Về chủ đích là chỉ lo cho me.. Chính cô cũng hối tôi về, thế mà vừa về có hai ngày cô đã hỏi han răn đe đủ thứ. Sao cô không cùng về với tôi để giờ cô lắm chuyện...
- Thì em có nói gì đâu, chỉ dặn anh thế thôi mà. Thôi em bận, anh đi thăm mẹ nhớ nói em bận cửa hàng không về được và chúc mẹ mau mạnh nhé.
Bà Toàn cúp máy rồi lẩm bẩm một mình:
- Cái ông này lúc này làm sao ấy, đổi tính đổi nết đến khó chịu. Nói có thế thôi mà gắt ầm lên.
*
Ấy, với bà Toàn ông vẫn theo sách lược ồn ào đàn áp. Nghĩa là mỗi khi nói chuyện với bà, ông không muốn bà đi sâu vào chi tiết việc gì ông muốn giấu hay khi biết mình trái hoặc đuối lý ông thường làm bộ gắt toáng lên để chặn đứng bà tại chỗ. Bản chất một người đàn bà Việt Nam có giáo dục, bà Toàn dịu dàng, hiền, chịu đựng và yêu chồng nên lúc nào cũng nhường nhịn. Nhất là từ tháng tư năm 1975, sau một thời gian dài đi tù cộng sản, ông Toàn sang Mỹ theo diện H.O. và không thích ứng với hoàn cảnh xã hội Hoa Kỳ nhanh như bà nên ông có nhiều mặc cảm. Bà Toàn thì sau khi cùng chồng con đến quê hương mới, bà thấy vùng bà ở có nhiều người Việt nên bà đã nhờ Nhạn, người em gái sang tị nạn từ năm 75 giúp lo mọi thủ tục cần thiết để bà mở cửa hàng bánh cuốn. Bà lấy tên ông đặt cho tên tiệm. Thế là bà thành bà Toàn Bánh Cuốn. Bà Toàn Bánh Cuốn kiêm đủ mọi chân trong cửa hàng, chủ yếu là trong bếp. Ông Toàn trở thành ông Toàn Bánh Cuốn nhưng là người thâu ngân của tiệm và lo việc bên ngoài. Bà tráng bánh rất ngon, mềm và dai, ai ăn cũng nhớ. Nghề này bà học được ở một bà cô họ trong khoảng ông Toàn đi tù cải tạo.

Nhờ trời, bánh bà tráng ngon, ông tiếp đãi khách vui vẻ lịch thiệp nên tiệm bánh cuốn Toàn chẳng bao lâu mà chật khách. Bà phải mướn thêm vài người trong bếp và một người phụ chạy bàn với ông. Chỉ vài năm, ông bà mua được nhà, xe cho mình và các con. Con ông bà ba người, một người mới lập gia đình năm ngoái, còn hai người đang học đại học. Thái và Thúy rất ngoan, đi học về là đến cửa hàng tiếp tay với bố mẹ. Thế là bà Toàn Bánh Cuốn trở thành nguồn cung cấp tài chính, căn bản và dĩ nhiên là quan trọng trong gia đình. Ông Toàn tuy nhàn nhã với chân giữ két của tiệm nhưng đôi khi không giấu được mặc cảm thua kém sự nhanh nhẹn và tài xoay trở của bà. Bà biết thế nên càng thương chồng hơn. Càng thương chồng, bà càng nhịn, có khi bà thấy bà nhịn ngay cả lúc ông trái be trái bét.
*
Ngưng nói chuyện với bà, ông Toàn bỏ điện thoại lên chiếc bàn con cạnh đầu giường rồi quay sang ôm người đàn bà nằm bên cạnh. Đào đang lim dim ngủ, cô đưa một tay ôm ngang bụng ông và rúc đầu vào nách nũng nịu:
- Gớm, mới đi có hai ngày mà nhớ bả rồi hả. Gọi gì mà gọi sớm thế, còn nói chuyện lâu nữa. Coi chừng em giận à nha. Ông Toàn ôm chặt thân thể trẻ của Đào:
- Gọi giờ này thì bả mới rảnh. Cũng phải gọi để bả khỏi nghi chứ em. Bả mà nghi, bả mò về đây thì chúng ta mệt đó.
- Hứ, có anh mệt chứ em sức mấy mà mệt. Anh sợ bả qúa thì anh về đây làm chi ?. Giờ em mới biết vì anh sợ bả qúa nên mấy năm rồi anh chẳng giải quyết được gì ráo. Em chờ đợi hết nổi rồi. Còn thằng Tú nữa, tuy không là con anh nhưng nó yêu thương anh như cha ruột. Nó ước ao được khoe với bạn bè là nó cũng có cha như mấy đứa trẻ cùng tuổi của nó anh thấy hông?. Tội nghiệp thằng nhỏ mới bốn tuổi đầu, nó nghĩ anh là ba nó thật. Bộ anh không thương nó và không thấy nó vui mừng ôm lấy anh khi đón anh ở phi trường hay sao chớ .
Ông Toàn hôn lên tóc người đàn bà dỗ ngọt:
- Anh dừng lại hết công chuyện để về với em, em không thấy sao ? Đừng trách anh làm không khí mất vui đi. Lúc nào anh cũng cố gắng tìm cách hợp thức hoá tình trạng chúng mình để đưa em và thằng Tú qua đó với anh. Vì lo cho em, mỗi tháng anh gởi tiền cho em ăn xài đầy đủ, em không thấy đó là tình yêu và sự cố gắng của anh à ?
Đào dịu giọng:
- Ừ thì anh có gởi tiền đầy đủ thật nhưng em muốn được chính thức làm vợ anh kià. Em muốn lúc nào cũng được ở bên anh, pháp lý và tình cảm. Em yêu anh và cần anh, anh không thấy hả ?

Nghe Đào nói yêu ông, cần ông, được làm vợ ông là điều hạnh phúc nên nàng lúc nào cũng muốn được ở bên ông, ông hài lòng, sung sướng . Tự ái của người đàn ông được vuốt ve tới cùng.. Ở Mỹ, vợ ông tuy giỏi giang tần tảo thật nhưng bà có bao giờ nói là cần ông đâu. Lúc nào bà cũng tất tả quay cuồng với công việc chứ nào có ngó ngàng gì đến ông . Cả năm sáu năm nay, từ ngày bà là nguồn cung cấp chính và duy nhất của gia đình thì ông thấy ít khi nào bà ngồi lâu với ông để nói bà yêu ông, cần ông như Đào thủ thỉ với ông thế này, thậm chí, nhiều khi bà như quên cả có ông hiện diện. Có lẽ tại bà là nguồn thu nhập chính trong gia đình nên bà coi thường ông. Chính ông còn phải lãnh lương của bà nữa kia mà. Gọi là lãnh lương chứ mỗi ngày ông lấy năm bảy chục một trăm thì bà đâu có kiểm soát được. Hơn nữa, bà tuyệt đối tin chồng, tối đến, sau khi đóng cửa tiệm, bà dọn dẹp thì ông đếm tiền. Sau đó ông đưa cho bà bao nhiêu thì bà biết chừng ấy. Ông tiêu tiền thoải mái, muốn mua gì bà không cản nên có bao giờ bà nghĩ chồng mình phải lấy giấu riêng. Tiền giấu bà, ông không dám xài mà gom lại, tháng tháng gởi về cho Đào.

Vì ông Toàn còn mẹ ở Việt Nam, bà Cụ không đi Mỹ khi ông bảo lãnh mà chỉ muốn ở lại với người con út, chú Phong, nên mỗi năm ông đều về thăm bà Cụ một lần. Ông thường đi một mình vì bà Toàn là người tráng bánh. Ở tiệm Bánh Cuốn Toàn , bánh ai tráng cũng không ngon bằng bà nên nếu vắng bà là vắng khách.


Cửa tiệm là nguồn lợi thâu thu duy nhất của gia đình, có trăm thứ phải chi và có hai người con đang học đại học nên cả tuần bà chỉ dám nghỉ ngày thứ haịi.


Mới tháng Sáu ông về thăm mẹ xong thì tháng Tám mẹ ông đau. Bà cụ tuổi già nên đau ốm không tránh được. Nhưng sự đau ốm của bà cụ không nặng như cú điện thoại ông nhờ em ông gọi để báo tin cho vợ ông tuần trước. Trước đó, khi chú Phong gọi ông báo tin mẹ đau, ông bảo chú rằng:
- Mẹ già rồi như ngọn đèn trước gió, nghe tin mẹ đau anh muốn về thăm nhưng ngặt mới về vài tháng trước, bây giờ anh tự ý về chắc chị không vui. Hay là chú gọi chị nói là mẹ đau, mẹ muốn gặp anh cho anh dễ bề ăn nói với bà ấy nhé.

Thế là ông Toàn được vợ lo cho chu đáo từng món quà cho chuyến đi và tiền lo thuốc cho mẹ chồng rất trọng hậu. Người đi đón ông ở phi trường không là chú Phong mà là Đào. Lý do chỉ vì Đào giận dỗi, đòi bỏ ông đi lấy chồng, nếu ông không về ngay để giải quyết chuyện tình của họ nên ông mới có chuyến đi không định trước nàỵy.


*
Hơn ba năm trước, trong một dịp về thăm mẹ, ông đi chơi với ngươì bạn và quen Đào ở tiệm cà phê. Đào còn trẻ lại xinh đẹp. Đào biết ăn nói và biết nhõng nhẽo, biết liếc mắt đưa tình. Gặp Đào , ông mê Đào ngay và đề nghị Đào nghỉ làm ở tiệm cà phê để ở nhà săn sóc thằng Tú, con của Đào và ông sẽ gởi tiền về hàng tháng cho Đào tiêu dùng. Đào đồng ý với đề nghị của ông, cộng thêm lời hứa hẹn là sẽ thu xếp chuyện nhà để chính thức cưới Đào đem nàng đi Mỹ. Từ ngày quen Đào, ông cảm thấy đời có ý nghĩa và thấy mình trẻ lại. Vì thế, ông chăm về thăm mẹ lắm, ông bảo với bà là cụ gìa rồi, nay mai ai biết lúc nào nên có khi một năm ông về đến hai lần, dù mỗi lần chỉ vài tuần.


Cuộc tình giữa ông và Đào êm ả với số tiền một ngàn đô la mỗi tháng gởi về cho Ðào và những lần ông về thăm ngập quà ngoại quốc.


Ở không cả năm, Đào nhớ lại không khí sống động ở tiệm cà phê nên ghé chơi. Chị Năm, chủ tiệm mừng rỡ, rủ Đào đi làm lại. Đào bằng lòng làm cuối tuần và do đó, Đào quen một chàng Nhật Bản. Anh chàng Nhật này trẻ hơn ông Toàn, có việc làm tại VN, Nếu Đào lấy được hắn, với số lương kia, cuộc sống của Đào phong lưu hơn vài bậc. Có nhà đúc, có xe hơi, có người giúp việc. Nhưng vì chưa chắc chắn với anh Nhật và còn chút tình với ông Toàn nên Đào gọi điện thoại cho ông về ngay để giải quyết chuyện của hai người. Ông Toàn về Việt nam ở với Đào nhưng cuối tuần thì Đào viện cớ phải đưa con về ngoại nên ông Toàn đến ở nhà Phong. Bà Toàn ở Mỹ, vẫn cặm cụi tráng bánh, chẳng biết chuyện gì, ngoại trừ chuyện gởi thêm tiền cho ông đến hai lần để ông ... lo cho mẹ đang đau yếu.

Thấm thoắt ông Toàn về Việt Nam đã gần hai tháng. Càng ngày ông lại càng thưa gọi về nhà. Mỗi khi gọi bà, ông có mặc cảm tội lỗi. Ông biết rất rõ việc ông làm là rất không phải với bà nhưng khi bà hỏi chừng nào ông về và sức khoẻ của mẹ chồng ra sao thì ông lại nói quanh co không đầu không cuối. Bà Toàn thấy lạ nhưng vì tin chồng, bà không muốn gọi chú Phong để hỏi, sợ làm mất mặt ông. Nhân tiện có cô Nhạn, em gái bà về ăn đám cưới đứa cháu bên chồng cô, bà Toàn nhờ cô lại thăm mẹ chồng đau nên mới lòi ra cớ sự.

Câu chuyện đổ bể, không còn giấu được. Ông Toàn như người ngồi trên lửa. Một mặt bà Toàn giận không tiếp điện thoại và ba đứa con ông gọi trách hờn khóc lóc. Một mặt Đào đay nghiến hăm dọa đi lấy chồng, ông Toàn cứ rối cả lên, không biết giải quyết cách nào cho ổn. Làm sao ông có đủ can đảm để nói thật với Đào về hoàn cảnh gia đình ông. Bởi ông biết khi ông nói ra, hình ảnh đẹp đẽ của ông trong Đào sẽ tan biến hết. Đó là sự thật mà ông sợ vô cùng. Đào chỉ biết ông là chủ nhà hàng ăn, có mực thu nhập khá cao qua cách ông tiêu xài rộng rãi với Đào. Mỗi tháng ông gởi cho Đào cả ngàn đô để Đào ăn xài thoả thích chứ đâu có hiểu rõ là tiệm bánh cuốn hoàn toàn do công sức của bà. Rời bà và tiệm bánh cuốn ra, ông kiếm ở đâu ra cho đủ tiền nuôi sống bản thân ông và mỗi tháng gởi cho Đào. Vì thế, ông có về nhưng chả giải quyết được gì.

Từ khi biết chuyện, bà Toàn không gởi thêm tiền cho ông nữa. Tiền cạn, Đào nhắc :
- Chừng nào anh mới đi về bên đó thu xếp với bà ấy cho xong để còn lo cho em hả ? Em cho anh thời hạn là ba tháng. Sau ba tháng ấy, anh không lo xong chuyện thì anh đừng gặp em nữa.


Ở bên Đào đã gần ba tháng rồi, ông cũng muốn " về lại bên ấy " như lời Đào nói lắm nhưng về bằng cách nào đây. Bà Toàn thì không bảo ông về, các con ông cũng không gọi ông về mà mỗi lần nói chuyện chỉ kể công lao vất vả của mẹ và trách móc ông bội bạc.

Nhưng Đào không chờ đến ba tháng như cô cho ông thời hạn mà từ khi biết ông khan tiền Đào lạnh lùng ra mặt. Hình như sự thông minh của Đào đã cho cô biết thực lực về nguồn tài chánh của ông. Vì thế, Đào không cần giấu giếm nữa, một buổi chiều ông thấy Đào trang điểm thật đẹp, mặc áo đầm đắt tiền và đi chơi tới gần sáng mới về. Ngay đó, ông và Đào gây lộn và ông đã chua xót đau đớn đến bàng hoàng khi Đào nói thẳng với ông:
- Em nói thật cho anh biết, em đã trên tuổi ba mươi. Em cần có một mái ấm gia đình, cần một người chồng trẻ như em, có đủ điều kiện , đủ khả năng để lo cho em về mọi mặt. Anh, nói anh đừng buồn, chưa chắc anh đã có đủ khả năng lo cho em đâu. Số tiền một ngàn đô anh cho em mỗi tháng đó, nhiều thật nhưng với em, vẫn không đủ cung cấp cho em một đời sống thoải mái như em mong muốn. Lại nữa, anh có vợ. Với vợ anh, anh không dứt khoát được thì làm sao mà em chờ đợi được. Em nghĩ, lúc này là lúc chúng ta nên thành thật với nhau và dứt khoát chia tay. Thôi, anh hãy về với vợ con anh đi và em sẽ nhận lời người khác. Nói thật với anh, tối nay em đi chơi với anh ấy, anh ấy đã cầu hôn với em và em đã nhận lời.


Vừa nói, Đào vừa chìa tay ra. Một chiếc nhẫn kim cương lấp lánh trên ngón tay áp út.

Ông Toàn cảm thấy hoa mắt. Toàn thân ông đóng băng như bị ngâm vào nước đá. Một cảm giác tê tái, thua cuộc giống như cảm giác ông bị cán bộ cộng sản nhục mạ lúc ở trong tù. Giận qúa, không kềm nổi, ông vung tay tát mạnh vào mặt Đào. Đào ngã chúi, cô khóc và chu chéo ầm lên. Công an khu vực ập đến còng tay ông đưa đi nhốt ở trụ sở công an phường trước hàng chục con mắt tò mò bu lại.


Được tin, Phong đến gặp ông. Nhờ có một tên công an vẫn theo đuổi con gái, Phong lãnh được ông về nhưng cũng phải chi cho cả bọn hai ngàn đô cho trắng chuyện. Về đến nhà Phong, ông Toàn ngã bịnh.
*
Phong vừa đi làm về thì tiếng chuông điện thoại reo:
- Chú hả chú ? Cháu chào chú ạ. Chú có biết bố cháu ở đâu không chú. Cháu gọi bố cà hai tuần mà bố không bắt máy.

- Thúy đó hả. Bố đang nằm nghỉ trên lầu. Mấy tuần rồi bố đau Thúy ạ.
Giọng Thúy hốt hoảng:
- Bố cháu đau sao hở chú ? Nặng hay nhẹ ? cháu có thể nói chuyện với bố cháu không?
- Được chứ, Thuý chờ, chú đem phôn vào phòng cho bố.

Cầm phôn, giọng ông Toàn đầy nước mắt:
-Thúy đó hả con. Mẹ có khoẻ không? Mẹ giận bố lắm hả ? Tôị nghiệp mẹ. Bố ân hận qúa con ạ. Càng nghĩ bố càng thấy mình qúa nông nổi và có lỗi với mẹ với các con nhiều. Cũng tại bố cứ nằm mãi trong cái vỏ ốc của mình nên bố đã mặc cảm với sự thành công của mẹ. Mẹ thì bận tối ngày lo sinh kế cho cả nhà, bố không cảm thông cho mẹ mà lại cứ nghĩ mẹ coi thường bố, không còn yêu thương bố như ngày xưa. Bởi thế....khi gặp người nói ngon, nói ngọt, đưa bố lên mây, bố thoả mãn tự ái, bố đã lầm lẫn u mê.....Thôi, con nói với mẹ, bố xấu hổ lắm, bố không dám nhìn mặt mẹ và các con nữa đâu. Bố ở lại đây với bà nội. Khi nào bà nội trăm tuổi, bố sẽ tính sau....

- Muộn rồi, bố. .... Tuần trước chú Phong phôn cho mẹ xin lỗi việc chú nghe lời bố mà gọi mẹ báo tin bà nội cần bố về bên cạnh. Chú nói, nếu chú không gọi bố, thì nay đã không có chuyện xảy ra, và bố đã không bị công an bắt nhốt....Chú giấu không cho bà nội hay chuyện sợ bà nội buồn...

- Con nói không đúng lắm đâu. Chuyện xảy ra từ hơn ba năm nay rồi chứ không phải vài tháng trước. Việc công an bắt nhốt bố chỉ là kết quả của sự lầm lạc của bố mà thôi. Chú không có lỗi. Người có lỗi trong vụ này chỉ là bố. Bố ân hận lắm. Nằm đây, bố suy nghĩ rất nhiều. Bố nhớ thương mẹ và các con vô cùng. Nhưng như bố đã nói, bố ân hận lắm, các con tha lỗi cho bố và bố nhờ con nói lại với mẹ là bố xin lỗi mẹ. Bố xấu hổ lắm, không còn đủ tư cách để gặp lại mẹ và các con nữa đâu....

- Muộn rồi, bố...bố... không có thể ....

Cửa phòng xịch mở, bà Toàn bước vào phòng. Ông Toàn tưởng mình nằm mơ. Chiếc phôn rơi khỏi tay. Như một phản xạ, ông đưa hai tay ra đón lấy bà.
Bà Toàn ngã vào vòng tay chồng. Ông Toàn ôm chầm lấy vợ trong niềm thương yêu và hối hận. Một phút im lặng. Bà cảm thấy xúc động như ngày ông ôm bà lần đầu. Những giọt nước mắt lặng lẽ trào trên má hai người. Ông nâng mặt bà, dùng tay lau những dòng nước mắt trên đôi má đã có vết nhăn và ông cúi xuống hôn lên đó. Bà ngước nhìn ông mỉm cười rồi cùng ngồi xuống:

- Anh ạ, Lúc dì Nhạn nó gọi về nói anh có bồ bên này, em giận lắm, tính trả tự do cho anh đi luôn. Nhưng khi chú Phong gọi phôn xin lỗi và nói hết những gì anh tâm sự với chú thì em suy nghĩ suốt đêm. Em thấy mình có lỗi phân nửa trong việc anh làm. Lỗi của em là em đã vì công việc mà quên đi rằng em còn là người bạn đồng hành của anh nữa. Quên đi rằng đời sống ngắn ngủi và em dù vẫn bên anh nhưng đã để anh cô đơn một đoạn đường. Vì thấy mình có lỗi nên em thu xếp công việc, đóng cửa một tuần để về thăm mẹ và tìm anh. Cũng may mà cô Đào có tính thẳng thắn và dứt khoát chứ không thì cũng khó xử cho chúng ta. Từ nay, mỗi năm em sẽ đóng cửa tiệm hai tuần, dành thì giờ cho riêng các con và cho anh.
À này, nhà mình có tin vui, ông bà Chung hai tuần trước đã đến thăm và xin hỏi con Thúy cho thằng Mẫn. Em nói với họ là chờ anh về thì làm lễ đính hôn. Như vậy, lễ đính hôn sẽ vào trước Tết. Tết này, có thêm chàng rể tương lai, chắc nhà mình vui lắm anh nhỉ ... Mà anh này, em đói lắm. Thôi, anh dậy tắm rửa cho khoẻ rồi mời gia đình chú Phong đi ăn với chúng mình xong tất cả cùng đi thăm mẹ.

Có lẽ đây là lần thứ nhất, từ sau tháng Tư 1975, ông Toàn làm theo lời vợ mà không một tiếng cằn nhằn...

Ngô Minh Hằng

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Những con tắc kè ảo vọng

Hoàng Thanh Trúc
(danlambao)

Image
Nguyễn Đắc Xuân - "Huế: Những ngày tháng sục sôi"
Khác với thông lệ, năm nay tìm đỏ con mắt trên các giai phẩm Báo Xuân không còn thấy bóng dáng hào hùng của vị Anh Hùng dân tộc Quang Trung Hoàng Đế oai phong lẫm liệt trong chiến bào trên lưng tuấn mã, vung gươm chỉ huy ba quân trong ngày đầu Xuân, Bắc Tiến đại phá quân tàu (MãnThanh) xâm lược, giãi phóng Thăng Long thành, ngược lại người ta đọc thấy trên bốn số báo Tuổi Trẻ/tp/HCM liên tiếp (hôm nay 8/1 đăng kỳ 4) có cái tựa “Sinh viên Huế tuyên chiến” trong hồi ký nhiều kỳ mang tên “Huế - Những Tháng Ngày Sục Sôi” của tác giả Nguyễn Đắc Xuân kể lại việc tham gia cùng sinh viên và phật tử miền trung tổ chức chống đối chính quyền VNCH và cố TT Ngô Đình Diệm.

Thật lòng thì rất nhiều, nếu không muốn nói đa phần người trong nước hiện nay không rõ lắm về “ất giáp” của quá khứ này, vì thời gian như lớp bụi phủ mờ và một số đông nhân vật có biết và liên quan sự kiện ấy đang định cư ở nước ngoài. Nhưng qua các chi tiết thuật lại trong hồi ký, chắc hiện nay nhiều người cũng phải thầm “cảm ơn tác giả” đả phát thảo lại cho lớp người trẻ hôm nay thấy và hiểu được như thế nào là quyền “Tự Do” ngôn luận, thể hiện chính kiến của xã hội miền Nam lúc bấy giờ, để tự hỏi, không biết nó có “gấp vạn lần” Tự Do thể hiện chính kiến trong cái thể chế CSXHCN hôm nay chưa? ( nói cho gần với ẩn dụ của bà PCT/ nước Nguyễn thị Doan ) và đến bây giờ qua lời tự thuật ấy, chắc tác giả Nguyễn Đắc Xuân sẽ rất hài lòng để xoa tay tự hào “mình đã góp một phần công lao” cho một cuộc cách mạng Phật Giáo, để bất cứ Chùa Chiềng nào trong cả nước hiện nay cũng phải có một “chi bộ đảng” hay tối thiểu, ít nhất, cũng có một hai “đảng viên thượng tọa” giám sát việc tụng kinh gõ mõ cho nó thêm nồng nàn câu kinh: “yêu Phật Pháp là yêu XHCN”. Và vì vậy chúng ta cũng nên biết qua tác giả Nguyễn Đắc Xuân là ai? để nếu bất chợt có gặp nhau giữa chợ đời mà ngưỡng mộ…. “điểm mặt” với nhau.

– Đắc Xuân! thú vị thật, cái tên thể hiện sự đắc chí viên mãn, thủ đắc được trong mùa Xuân, không biết đó có phải là nhân duyên tiền định,tiền ngộ gì không ? mà ông là một trong những nhân vật nổi bật trong biến cố mùa Xuân Mậu Thân 1968 tại cố đô Huế được đề cập trong Hồi Ký “Giải Khăn Sô Cho Huế” của nữ văn sĩ Nhã Ca, một cây viết gốc Huế đầy uy tín, được nhiều người yêu mến trong văn học Miền Nam Sài gòn trước kia. Và chắc bà con gốc “Thần Kinh” Huế trong và ngoài nước những ngày này bên cạnh “Huế, những tháng ngày sục sôi” thì cũng thầm “cảm ơn” tác giả Nguyễn Đắc Xuân qua bài hồi ký ấy đã nhắc nhỡ mọi người cũng sắp đến Tết rồi cùng nhau sữa soạn cho đám giỗ hơn 8000 vong linh người thân, nhân dân bị tàn sát trong Xuân Mậu Thân để cho: “Huế…Những Ngày Không Thể Nào Quên…”

“Rất tiếc khi vào Googel gỏ tìm tư liệu, thì hầu hết các danh mục, dù có tiêu đề giới thiệu về Nguyễn Đắc Sơn nhưng xuất phát từ Hải Ngoại đều bị chận lại với “Server not found” (trang,máy chủ không tìm thấy ? còn từ trong nước viết thì thoải mái ?? ). Phải “vượt lửa leo tường” thì mới đọc được những gì cần và đáng đọc về nhân vật này... và sở dĩ dưới đây phải giới thiệu nhà văn Nhã Ca vì trong Hồi Ký: Giải Khăn Sô Cho Huế, bà đã chỉ ra nhân vật Nguyễn Đắc Xuân là ai ?.
Image

Trên trang Blogs: Viet Land (Hồi Ký Giải Khăn Sô Cho Huế) của nhà văn nữ Nhã Ca
http://www. vietlandnews. net/forum/showthread. php/5523- nguyen dac xuan toi do giet nhan dan Huê.
Khái quát thân thế sự nghiệp nhà văn : Nhã Ca

Nhã Ca sinh trưởng tại Huế đến năm 1960 vào Sài Gòn nơi bà bắt đầu viết văn. Trong thời gian 1960-1975, 36 tác phẩm của bà được xuất bản gồm nhiều thể loại như thơ,bút ký và tiểu thuyết. Cũng vì nội dung trong những tác phẩm của bà, sau năm 1975, Nhã Ca bị chính quyền CSVN giam cải tạo hai năm vì tội "biệt kích văn hóa" ?. Chồng bà, nhà văn Trần Dạ Từ thì bị giam cải tạo 12 năm. Do sự can thiệp của hội Văn Bút Quốc Tế phối hợp với hội Ân Xá Quốc Tế và thủ tướng Thụy Điển Ingvar Carlsson, bà được sang Thuỵ Điển tỵ nạn. Năm 1992 bà cùng gia đình sang California định cư và lập hệ thống Việt Báo Daily News.

Phim Đất Khổ do Hà Thúc Cần sản xuất và hoàn tất năm 1973, là một phần dựa theo cuốn Giải khăn sô cho Huế và Đêm nghe tiếng đại bác, do Nhã Ca viết đối thoại. Tại hải ngoại, bà tiếp tục sáng tác, như: Hồi ký một người mất ngày tháng-- Đường Tự Do Sài Gòn (2006). Tác phẩm dịch ra ngoại ngữ: Đêm nghe tiếng đại bác đã được dịch sang tiếng Pháp với tựa Le cannon tonnent la nuit, Đoàn nữ binh mùa thu được Barry Hilton dịch sang tiếng Anh với tựa The Short Timers, Phim “Đất Khổ” được hãng Remis phát hành với tên Land of Sorrows (Wikipedia).

Trong Văn Học Miền Nam (quyển "Thơ Miền Nam"), nhà văn Võ Phiến đã nhận định về Nhã Ca như sau: “…Tự do, bà thích nói đến tiếng ấy: tự do trong thể xác, trong đời mình. Và văn chương bà, dù là văn chương viết về tuổi trẻ, vẫn trĩu nặng ưu tư. Nghệ thuật của bà là cuộc đời trước mặt. Ở bà, cá nhân là chính trị, là xã hội. Bà có chân dung đầy góc cạnh nhọn, như những bức tranh của Braque, của Picasso. Nhã Ca là một nhà văn độc lập và bất khuất, bà cũng là một tiêu biểu rõ rệt nhất cho nền văn chương nhân bản của miền Nam trong thời kỳ 1954-1975 ”. ( Wikipedia ).

Sau tết Mậu Thân 1968.. . đến năm 1969 nhà văn Nhã Ca đã cho ra đời Bút ký: "Giải Khăn Sô Cho Huế" và được trao giải thưởng của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu (1970), mới đây tháng 2-2008, sách mới "Giải Khăn Sô Cho Huế" ấn bản đầu tiên tại hải ngoại do Việt Báo ấn hành, sách dày 640 trang, khổ lớn, bìa cứng và đã phát hành tại Mỹ. Cuốn sách là hình ảnh sống động miên tả lại hầu như toàn cảnh của biến cố tết Mậu Thân. Vì tác giả của nó trực tiếp sống và bị cuốn theo dòng chảy của những ngày xảy ra chiến sự gây nên nổi tang tóc kinh hoàng mà lịch sử và nhân dân Huế không thể nào quên…..

“Cám ơn Thầy Từ Thái, một nhân chứng sống, một tăng thân tu học ở chùa Tây Thiên vào thời điểm xẩy ra biến cố Mậu Thân, đã khẳng định xác nhận những ghi chép của nhà văn Nhã Ca trong hồi ký "Giải Khăn Sô cho Huế" là hoàn toàn đúng với sự thật

Xin kính chuyển đến quý Anh Chị nhân mùa Đại-Tang-Tết-Mậu-Thân-Huế”

(Nguyễn Đắc Xuân, ảnh trong hồi ký Giải Khăn Sô Cho Huế )

Nguyễn Đắc Xuân (trái) Hoàng P. Ngọc Tường (phải) liên quan mật thiết đến cái chết hơn 8000 ngàn người dân Huế trong biến cố đau thương “Tết Mậu Thân 1968 (trích Giải khăn Sô Cho Huế : Nữ văn sĩ Nhã Ca ) VietLan Blogs.

Nhã Ca: Hồi Ký Giải Khăn Sô Cho Huế (trích đoạn liên quan Nguyễn Đắc Xuân)

“Nguyễn Đắc Xuân, một sinh viên Huế. Thập niên 60 trong phong trào thanh niên sinh viên bị Việt Cộng nằm vùng giật giây, Nguyễn Đắc Xuân làm thơ, tranh đấu, rồi bỏ vào khu theo Việt Cộng. Để rồi MÙA XUÂN 1968 theo Việt Cộng trở lại Huế có mặt trong những phiên tòa nhân dân, kêu án tử hình hàng loạt người dân Huế với tội “phản cách mạng”. Đích thân Xuân đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích với Xuân từ trước, ra đứng bên hố, để xử tử. Cậu bạn của Nguyễn Đắc Xuân, tên Tý, dơ cái băng đỏ dấu hiệu giải phóng quân lên cao, lạy van Nguyễn Đắc Xuân :

- Em lạy anh. Bây giờ em theo các anh rồi mà. Em có mang băng đỏ rồi mà. Cách mạng muôn năm... Hồ chủ tịch muôn năm...

Nhưng mặc Tý năn nỉ, hoan hô, Nguyễn Đắc Xuân vẫn lạnh lùng nổ súng vào người bạn nhỏ của mình không chút đằng đo...”

Thư của Đặng Văn Âu, bạn thân từ Hải ngoại gửi cho Nguyễn Đắc Xuân (Trích đoạn)

“...Bây giờ mày hãy trả lời câu hỏi chót của tao, trước khi tao trả lời câu hỏi của mày viết trong email gửi cho tao. Có bao giờ mày chứng kiến những người dân chạy nạn trong các cuộc giao tranh giữa hai bên mà họ bỏ chạy về phía“vùng giải phóng” của Việt Cộng không? Hay là họ chạy về phía Ngụy bọn tao? Nếu mày bảo có thì mày giống Hoàng Phủ Ngọc Tường, nói dối như Vẹm. Nếu mày bảo không hề thấy nạn nhân chiến tranh chạy qua “vùng giải phóng Việt Cộng” mà mày cho rằng mày theo Việt Cộng là làm nghĩa vụ lịch sử thì tao không còn gì để nói với mày. Cái khác nhau giữa chế độ ở Miền Nam và ở Miền Bắc là: nếu mày bị An Ninh VNCH bắt thì tao dù chỉ là một Thiếu tá thôi, nhưng có thể ký giấy bảo lãnh cho mày ra tù. Nhưng nếu năm 1975 tao kẹt lại bị tù cải tạo thì “lão thành cách mạng” như Hùm Xám Đặng văn Việt cũng không thể bảo lãnh cho một thằng như tao. Tao sẽ bị bỏ xương nơi rừng thiêng núi thẳm vì cái tính không chịu khuất phục bẩm sinh. Mày nên hiểu, nếu Miền Nam áp dụng chế độ “công an trị” như Miền Bắc thì chẳng bao giờ những thứ như Ngô Bá Thành, Nhất Hạnh, Tôn thất Dương Tiềm, Tôn thất Dương Kỵ, Trí Quang, Nguyễn Ngọc Lan có đất sống! để sau năm 1975 múa may quay cuồng làm những con rối cho CS bắc Việt.

Về cuốn nhật ký của mày, tao được một Đại Úy VNCH cho biết quân đội Hoa Kỳ chuyển giao một số tài liệu Việt Cộng tịch thu được trong một cuộc hành quân lục soát, trong đó lại phát hiện có hồi ký mang tên Nguyễn Đắc Xuân. Nghe đến tên Nguyễn Đắc Xuân, tao liền nhớ đến thầy Lê văn Thi – nguyên giáo sư Lý Hóa trường Quốc Học – bị VC trong đoàn quân mà mày dẫn đường về Huế thảm sát trong Tết Mậu Thân là tao giận sôi gan lên rồi,tao không thèm tò mò đọc làm gì. Tao chỉ hỏi ông Đại Úy VNCH, Nguyễn Đắc Xuân viết cái gì trong hồi ký đó thì được ông ta cho biết mày tường thuật cuộc đánh bom B-52 và kêu lên hai tiếng “Mẹ ơi!” vì quá khiếp đảm.

Nguyễn Đắc Xuân ơi! Mày chọn lầm đường rồi! Chế độ dân chủ của Miền Nam hãy còn phôi thai, chưa phải là chế độ hoàn hảo vì vừa mới thoát ra khỏi bàn tay thực dân, thì bị bọn VC nằm vùng phá hoại và vì bị những hạng trí thức dở hơi toan tính theo đóm ăn tàn tiếp tay cho cộng sản Miền Bắc xâm lăng dưới chiêu bài giải phóng dân tộc. Giữa cái chưa tốt và cái tồi tệ, mày lại đi chọn cái tồi tệ nhất để cho tình trạng nước nhà hôm nay bị suy đồi về mọi mặt từ đạo đức đến giá trị con người. Miền Bắc xâm lăng Miền Nam để hiến toàn cõi đất nước cho Trung Cộng, chứ giải phóng, thống nhất cái quái gì?

Những gì tao viết ở trên, mày đừng nghĩ tao chửi mày. Tao thương mày vì sự mê muội của mày và tao giận mày vì sự ngoan cố của mày tới giờ này mà chưa tỉnh ngộ! Những người đi làm “cách mạng” với mày, năm xưa xúi mày biểu tình đốt tòa Lãnh sự Mỹ giờ trốn biệt đâu hết rồi ? Sao ngày nay mày không tập hợp lại để tái lập chiến đoàn quyết tử Nguyễn Đại Thức, để đốt tòa Đại sứ Trung Cộng như năm xưa hăng say chống Mỹ cứu nước? Những Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng đang bán nước cho kẻ thù truyền kiếp phương Bắc mà sao không thấy nhà “cách mạng”sinh viên nào đăng đàn như năm xưa đọc diễn văn đả đảo quân phiệt Thiệu Kỳ ? Khí thế “cách mạng” bị “đảng ta” nghiền cho nát hết rồi sao? Trương Tấn Sang, người Việt gốc Tầu, mới viết bài cương quyết chống “diễn biến hòa bình” để Việt Nam được sáp nhập vào nước Tầu, mày đã đọc chưa?

Thư viết cho mày đến đây đã khá dài. Hẹn mày thư sau. Nhắc lại, tao không chửi mày. Tao chỉ nói sự thật. Hãy cố gắng mở mắt to ra mà nhìn cho hết sự thật trên đất nước ngày nay ra sao.

Bằng Phong Đặng văn Âu, người bạn học thân thiết năm xưa của mày.
© Đàn Chim Việt

Nhiều người am hiểu sự việc nói trên, mỗi khi có ai nhắc đến, họ tủm tỉm cười nhớ đến câu chuyện “con Tắc Kè”. Sinh ra lớn lên trong rừng cây,bốn mùa xanh tốt, thay đỗi màu da di truyền cho thích nghi với rừng lá, trên ngọn cây, con tắt kè nhìn ra biển cát một màu trắng xóa mênh mông mơ mộng, chỉ phải duy nhất một lần thay đổi màu da và trong cơn bão cát bất chợt, nó nhắm mắt tung mình cho gió cuốn đi,cuốn đi vào biển cát, nó bừng tỉnh trong hoang vắng như sa mạc, nắng nung người và giá buốt đêm thâu, không có lấy một chiếc lá che thân, nó không thể thay một màu da duy nhất để hóa trang lẫn tránh kẻ thù,và biển cát cũng không dung nạp nó vì cái màu loang lỗ trên thân, nó cô đơn trong tuyệt vọng thất thểu mơ về một rừng lá xôn xao….

Hoàng Thanh Trúc
danlambaovn.blogspot.com

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Món nợ đầu xuân

Phạm Hồng Ân

Chợ xã bắt đầu vắng tanh. Người ta vội vã thu xếp hàng hóa, tất bật về nhà để kịp chuẩn bị đón Tết. Hôm nay là ba mươi. Ngày giao thừa. Ngày tống cựu nghinh tân. Gia đình nào nghèo nhất cũng phải có dĩa trái cây, dĩa mứt, hoặc vài lát bánh tét đặt lên bàn thờ. Giờ này, cái đồng hồ quán cà phê chú Tửng chỉ đúng ba giờ trưa. Thế mà, con đường làng đã rợp bóng người. Trai thanh gái tú ăn mặc bóng loáng, kéo nhau đi lũ lượt.

Chỉ có tôi, vẫn còn đứng đây. Giữa khu chợ thưa thớt, với xấp vé số dày cộm. Hôm nay đài Cửu Long. Cái đài khốn kiếp, tuần nào cũng có lô độc đắc vô tay cán bộ. Còn dân, sáng mua chiều vứt. Tội nghiệp, họ cầm đồng tiền chắt chiu để mua những tờ giấy lộn, chết tiệt.

Chiều qua, thằng con tôi đã cảnh cáo:

- Cửu Long là cõng lu. Nặng chình chịch. Ba coi chừng “ôm” đó! Lãnh in ít thôi ông ơi!

Mẹ, nó còn nhỏ, nên ăn chưa no lo chưa tới. Nó chưa biết chi về tục lệ ông bà. Chiều ba mươi Tết, khạp gạo phải đầy tràn. Nước nôi phải lai láng. Tệ lắm, cũng phải có một phong bánh in cúng ông bà, vài cây pháo chuột để đốt đì đạch đón giao thừa chào mừng năm mới. Lãnh in ít thì lấy đách chi mà ăn. Lấy cái gì làm tiền để mua gạo, mua bánh.

Từ Ðây về nhà, tôi nhẩm đếm sẽ leo hết 14 cây cầu khỉ chênh vênh chập chùng. Sẽ lội qua 4 ấp : Phú Bần, Phú Kiệt, Phú Keo và Phú Hàn. Xấp vé số, ít ra cũng vơi hơn phân nửa. Bọn trẻ đang có tiền lì xì. Chúng muốn lấy hên cuối năm. Ở đây, trong cái chốn đồng không mông quạnh này, chúng chỉ còn cách thử thời vận bằng đánh bạc hoặc mua vé số cầu may. Rồi, tôi sẽ lời chút tiền. Trở về căn chòi mục nát ở Phú Hàn, cạnh bờ ao cá tra của chị hai Rớt, thắp nén nhang đầu năm tưởng tiếc ông bà. Rồi, vợ chồng con cái sẽ quây quần bên mâm cơm đạm bạc, ôn cố tri tân, tính toán chuyện tương lai.

- Anh bán vé số ơi, vào đây cho em mua vài vé…

Một cô bé thấp thoáng trong sân vườn. Vạt áo bà ba màu hoàng yến phất phới như đôi cánh nàng tiên nào đó trong huyền thoại.

- Anh lựa hộ dùm em 10 vé, cầu may…

Tôi trao 10 vé cho nàng. Những con số đen đủi, lăn quay một cách hèn hạ trên bàn tay mượt mà, mềm mại của cô bé.

- Em tên Út, con của Tám Bòn, bà con bên vợ với anh đây…

Căn nhà mái ngói trong đám mía đường tịch mịch này đây, bỗng vươn ra, lớn dần, và nhào lộn trong trí nhớ tôi. Hôm ở tù về, vợ tôi có dẫn đến, giới thiệu với cậu tám – một người chủ vườn trung niên, từng lưu lạc khắp nơi trong thời chiến tranh còn ác liệt.

- Ồ, chào cô. Tôi có đến thăm cậu tám một lần, nhưng không gặp cô…

- Em dạy học ở Mỹ Tho, mới về.

- Ồ…thì ra cô…là giáo chức…Rồi, về chơi…chừng nào cô trở lại lớp học?

- Em trốn luôn. Giáo chức…vức cháo dài dài…Em không còn tinh thần phát huy nghề nghiệp nữa…

Tôi ngậm ngùi. Khuôn mặt Út bỗng mập mờ hư ảo trước mắt tôi. Ðó là một khuôn mặt trái soan thanh tú, chỉ tội có nốt ruồi phá tướng nằm vắt ngang môi trên, dưới cánh mũi phập phồng. Thế rồi…nàng sẽ như tôi. Sẽ về vườn làm cỏ, lội mương, chôn cuộc đời son trẻ vào các vũng nước ao tù.

Trong số khách hào phóng mua vé số tôi mỗi ngày, Tư Ðà là một thanh niên có những nét đặc biệt. Hắn thường đến nhà tôi vào lúc gà gáy sớm, lúc sương còn ướt đầm ngọn cỏ. Hoặc khi trời tối mịt, khi bóng đen trùm phủ ấp Phú Hàn, chỉ có ánh đuốc của hắn lập lòe bùng cháy trong đêm.

Hắn đến để rút dăm tờ vé số chết tiệt, rồi ngồi bó gối cùng tôi uống trà, rung đùi kéo những hơi thuốc rê mịt mù sương khói. Ðôi khi, trong cơn mưa dai dẳng buồn nẫu ruột, hắn cắp nách xị đế chạy tìm tôi, rồi hái quách trái bưởi non làm “mồi”, hai anh em ngồi lai rai đến khuya lơ khuya lắc.

Tư Ðà sinh ra và lớn lên tại Phú Hàn. Và chỉ biết có đồng ruộng, con trâu, cùng cỏ cây hoa lá. Ðến tuổi thanh niên, người ta dí vào tay hắn cây AK, rồi đẩy hắn ra bờ sông làm du kích ấp. Tội nghiệp, suốt thời gian đi du kích, hắn chỉ biết trốn chui trốn nhủi trong những căn hầm hôi hám, khi máy bay hoặc tàu thủy của lính Cộng Hòa thi nhau tăng hỏa lực đì đùng. Cứ bị dồn vào chiến cuộc như thế, hắn không có điều kiện cắp sách đến trường, nên dốt đặc cán mai, một chữ i tờ lận lưng cũng chẳng có. Chiến tranh chấm dứt, khi tiếp xúc với đủ thành phần trong ấp Phú Hàn, Tư Ðà cảm thấy thua thiệt. Hắn bắt đầu đau khổ, chán đời, mượn rượu tiêu sầu. Rồi…tìm đến tôi – một kẻ bị đời chán – bầu bạn giải khuây.

Sáng mồng một tết năm nọ, tự dưng, hắn mang đến tặng tôi một gói Samit đầu lọc. Hút thuốc rê khét lẹt đã lâu, bỗng dưng có Samit như bắt được vàng, tôi vội hít vào tận phổi những hơi khói thơm lừng, sảng khoái đưa tâm trí mình về cõi mê hoang, quên mất Tư Ðà đang lúng ta lúng túng mở đề câu chuyện.

- Anh sáu, tui…tui…có chuyện…nhờ anh…

Tôi rung đùi, từ tốn rót tách trà “quạu” cho hắn :

- Chuyện gì? Cứ nói. Bạn bè nhau, khách sáo chi nữa, ông bạn?

Hắn hồi hộp ngó láo liên xung quanh, rồi e dè kề sát tai tôi :

- Tui…nói, anh đừng cười. Tui…tui…thương…cô Út, con Tám Bòn…

Tôi chưng hửng, ngó hắn từ đầu đến chân, từ chân lên đầu.

- Thì…cứ việc tỏ tình. Biểu lộ cho nàng biết tình yêu của mình.

Mắt hắn đỏ hoe, cuống quít nhìn tôi một cách thiết tha :

- Anh hút Samit thêm đi. Rồi…suy nghĩ, viết dùm em lá thư tỏ tình. Anh thông cảm, giúp…em…

Những ngụm thuốc Samit làm tôi hưng phấn, thoải mái tinh thần. Mùi thuốc ngọt lịm, thơm phức…cứ thoang thoáng xung quanh – gây nên cảm giác ngất ngây chất ngất. Gần mười năm qua, tôi đã làm bạn với thuốc rê. Ôi, những sợi thuốc rê đen mun và hăng hắc, hút với giấý nhựt trình chỉ ngửi được mùi giấy khét lẹt. Vậy mà nó cũng kích xúc, cũng tê mê, giải phá cơn sầu. Cám ơn Tư Ðà, người mang đến cho tôi gói samit tuyệt vời giữa chốn khỉ ho cò gáy này.

- Dễ thôi. Tôi viết dùm anh…bây giờ.

Thế rồi, lá thư tình được tôi nắn nót một cách lãng mạn. Tôi “cóp” nguyên xi bài Tình Tuyệt Vọng của nhà thơ trữ tình Pháp Lamartine, được nhà văn Khái Hưng dịch lại bằng lời Việt. Tư Ðà hồi hộp thay tôi sang tận Phú Keo bán vé số. Hắn đột nhập vào đám mía đường tịch mịch, khẩn thiết mời mọc Út mua số, rồi ấp a ấp úng trao lá thư tình.

Vài ngày sau, giữa lúc tôi đang ngồi xếp bằng dưới chiếu, tẩn mẩn ghi lại kết quả xổ số từ radio – Tư Ðà thình lình xuất hiện. Hắn hí hửng đưa cho tôi xem lá thư hồi âm, rồi choàng vòng tay qua vai tôi, biểu lộ lòng biết ơn trìu mến.. Nét chữ mềm mại con gái khiến tim tôi se lại. Hàng loạt kỷ niệm học trò hiện ra miên man, dắt tôi trở lại thời áo trắng xa xưa. Không cầm lòng được, tôi dẹp radio sang một bên, cầm bút viết ngay dòng chữ hồi âm. Thế rồi, thư qua thư lại, thư lại thư qua…ròng rã gần hơn năm trời. Cho tới một hôm, đúng ngay ngày ấp Phú Hàn đồng loạt quết bánh phồng đón tết. Giữa tiếng thình thịch thình thịch vang rân khắp xóm làng, Tư Ðà vui vẻ đến nhà tôi, trịnh trọng trao tấm thiệp cưới với nụ cười rạng rỡ. Như vậy, bắt đầu từ hôm nay, tôi đã chấm dứt nhiệm vụ của một kẻ se duyên. Cầu mong mối tình Tư Ðà và Út trọn đời gắn bó.

Chẳng hiểu hạnh phúc có thật sự đến với cặp tình nhân này hay không? Chỉ biết, khi tôi sắp sửa đi Mỹ, Út vội vã đến tìm tôi, rồi nhanh nhẹn lôi tôi ra phía hàng cam xanh um trĩu trái.

Ðêm ấy cũng là đêm giao thừa. Nhà nào nhà nấy đều đốt đèn thắp nhang đỏ rực cả khu ấp. Dưới bóng tối vây quanh của vườn cam, trong ánh sáng nhờ nhờ của ngọn đèn nhà tôi hắt ra, tôi thấy những giọt nước mắt lả tả rơi não nề trên khuôn mặt Út.

- Có phải những lá thư năm xưa, chính anh là tác giả…Anh viết hộ cho Tư Ðà phải không?

Tôi quính quáng, nghẹn lời :

- Ơ…ơ…

- Anh hại em, hại cả một đời. Tư Ðà không xứng với em. Anh ta mù chữ, dốt tính toán, chẳng giúp cho em được chi hết…

Tôi xót xa nhìn Út, khuôn mặt trái soan mập mờ, lung linh một cách tội tình.

- Ơ…ơ…Anh xin lỗi…

Út úp mặt vào hai bàn tay khóc rấm rức. Bờ vai nhô lên, rung rinh như một cánh buồm trên sóng nước. Ðột nhiên, nàng cất tiếng, quát lớn vào tai tôi :

- Anh ác lắm, tàn nhẫn lắm !…

Rồi vụt bỏ chạy như điên, khuất dần trong bóng đen mịt mùng của ấp Phú Hàn.

Cho tới giờ này, ở phương trời viễn xứ xa lạ, tôi vẫn luôn bị dày vò, vẫn ân hận mãi về chuyện se duyên lá lay này.

Phạm Hồng Ân
San Diego, 5/12/2000

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Người khổng lồ từ 2500 năm trước...

Tran Ho
TranHo1@yahoo.com

Khảo-Cổ Do Thái tìm thấy những bộ hài cốt của người Khổng lồ ...( khoảng 300 năm trước Công-Nguyên ).

Image

Image

Một số xương đã hoá thạch

Image

Image

Image

Image

Người Khổng lồ nầy chết mà bộ răng vẫn còn nguyên vẹn...

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Chiếc xe tang trắng và vụ sinh niệm Mai Thảo (1927-1998)

Viên Linh

1. Chiếc xe tang màu trắng:

Nhà văn Mai Thảo từ trần vào lúc 3 giờ sáng ngày 10 tháng 1, 1998 tại bệnh viện Fountain Valley, quận Cam,
và được an táng tại nghĩa trang Peek Family đường Bolsa thành phố Westminster vào ngày 17 tháng 1
trong một tang lễ trang trọng, với hơn 300 thân hữu, thân nhân, đưa tiễn.

Image
Khởi Hành số 10, 1997: Số báo tưởng niệm Mai Thảo khi Mai Thảo còn sống.

Sinh tại vùng biển muối Văn Lý, Nam Ðịnh vào ngày 8 tháng 6 năm 1927, ông thọ 71 tuổi, và vì không lập gia đình, chiếc xe tang đưa ông đi là một chiếc xe tang màu trắng. Những người yêu thơ chứng kiến cảnh ấy hẳn nhớ tới một bài thơ của Nguyễn Bính khóc nàng trinh nữ yểu mệnh ở Hà Nội xưa kia: “Có một chiếc xe màu trắng đục / Hai con ngựa trắng xếp hàng đôi / Mang đi một chiếc quan tài trắng / Và những vòng hoa trắng lạnh người.”

Không, đám tang Mai Thảo, pháp danh Minh Tâm, không buồn, không ảm đạm như thế. Ông không vướng bận thê nhi. Hồi ở Sài gòn, mấy năm làm Tạp chí Sáng Tạo, ông cư ngụ ngay trong tòa báo, số 133B đường Ký Con, di chuyển bằng một chiếc xe hơi thùng, là một trong những nhà văn đầu tiên đi xe hơi. Sau này làm các báo Kịch Ảnh, Nghệ Thuật, ông thuê một căn gác phía sau Cà Phê Chiều Tím, di chuyển bằng xe xích lô đạp. Một hai người đạp xích lô thường xuyên cho tác giả “Ðêm giã từ Hà Nội” trở thành quen biết người viết bài này, vì hôm thì Mai Thảo quên trên xe hộp thuốc Con Mèo loại 50 điếu, loại hộp tròn bằng sắt; hôm thì đến đón “ổng,” mà ổng bỏ tòa soạn đi đâu chưa về. Lúc ấy Mai Thảo là chủ nhiệm tờ Nghệ Thuật, tôi làm thư ký tòa soạn, tòa báo chỉ vỏn vẹn một căn phòng thuê của Thư Lâm Ấn thư quán, số 233 đường Phạm Ngũ Lão Sài gòn, bên hông ga xe lửa của thành phố. Chính ở đây một buổi chiều thân mẫu nhà văn tới thăm con, ngồi rất lâu, chỉ nói đi nói lại một hai câu, nhằm ý giục ông con trai lấy vợ. Cụ nói, ông con trai vẫn viết. Lâu lắm mới nói: Thôi cụ về đi mà. Cũng chính ở đây một ông già đạp xích lô kể với tôi rằng hôm qua ông suýt chết vì chở Mai Thảo đi chơi Chợ Lớn trong cả buổi chiều. “Mà cậu biết đường sá Chợ Lớn chớ? Ðường lát gạch không hà. Mà lát nghiêng, sống gạch vừa nhọn vừa gằn, chứ nó có lát mặt gạch bằng phẳng cho mình đâu?” “Mà cậu biết không, đâu phải một mình ông ngồi trên xe? Nặng ơi là nặng. Cái cô Cậu biết rồi chứ gì?” “Tôi kể cho mình cậu nghe thôi nhe.”

Tôi gật đầu nghe ông kể.
2. Sinh niệm: Rời chùa Huệ Quang trên đường Magnolia, xe chạy về hướng Nam. Chương trình buổi sáng của nhà văn Mặc Thu và tôi là sau khi tới dự lễ phát tang thân mẫu nhà văn Tưởng Năng Tiến, chúng tôi sẽ đi thăm Mai Thảo. Những ngày gần đây tác giả “Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời” không được khỏe. Từ căn phòng nhỏ trên lầu 2 của khu chung cư Christian Home trên đường Bolsa, anh đã phải dọn xuống tầng dưới, để khỏi phải leo 20 bậc thang mỗi khi lên xuống. Cửa phòng anh từ mấy tháng nay cũng không khóa nữa, để mỗi khi bạn bè tới thăm viếng, anh khỏi phải ngồi dậy ra mở cửa. Một tiếng gõ. Cứ vào. Chia tay ra về, cứ tự động khép cửa lại, chủ nhà khỏi phải ngồi dậy ra đóng. Lê Long Ðĩnh xưa kia ngọa triều thế nào không rõ, bây giờ biết rõ Mai Thảo ngọa triều ra sao. Mà triều đình nhà văn những ngày lưu vong, một tờ Văn đã trao cho Tả thừa tướng Nguyễn Xuân Hoàng, Mai Thảo không còn sống cái không khí hưng vượng của Sáng Tạo hay Nghệ Thuật nơi quê nhà. Quân binh dù vậy vẫn xếp hàng dọc theo mé Long sàng, có các ông Scott, Walker, ông Martell, ông Napoleon, ông Daniels, hết thảy đều sẵn sàng cung phụng cho tới tận đáy lòng chung thủy.

Nhân có anh Mặc Thu mới từ Việt Nam qua, Mai Thảo bảo tôi khui một chai Martell mới, ai đó vừa cho. Ba chúng tôi cụng ly. Anh Mặc Thu, tác giả cuốn sách rầm rộ quảng cáo hồi 1954 ở Sài Gòn, thành viên của Nhật báo Tự Do hồi ấy, đã bàn với tôi từ trước, bảo Mai Thảo: “Làm một số Khởi Hành đặc biệt về Mai Thảo nhé.” Im lặng.

Tại miền Nam các tạp chí văn chương ra một số báo đặc biệt tưởng niệm một nhà văn quá cố là chuyện rất thường. Sáng Tạo từng ra số đặc biệt tưởng niệm nhà thơ Quách Thoại. Tạp chí Văn từng ra các số tưởng niệm Ðinh Hùng, Tchya Ðái Ðức Tuấn, Lê Văn Trương; Tuần báo Khởi Hành từng tưởng niệm Song Linh và các nhà văn chết trẻ; Tạp chí Thời Tập từng ra số tưởng niệm Tam Ích, v.v. Tôi trình bày với Mai Thảo: Anh ra đi chúng tôi cũng sẽ làm số Tưởng Niệm, nhưng lúc đó anh đâu có đọc được? Ðâu biết anh em viết gì về mình? Vậy tại sao không làm một số Tiền Tưởng Niệm? Một số tưởng niệm trong khi nhà văn còn sống? Sinh Niệm. “Ông đi rồi thì cũng phải làm, - tôi nói - Chi bằng làm trước cho ông đọc chơi.”

“Làm thì làm.” Mai Thảo nói.

Mặc Thu và tôi nhìn nhau gật đầu. Thế là tháng 8 năm 1997, Khởi Hành số 10, số “Sinh Niệm Mai Thảo” ra đời. Mai Thảo đã nằm trên giường bệnh ở bệnh viện Fountain Valley, hai tay cầm tờ báo đọc những bài anh em viết về mình, “coi như” mình đã chết.
Image
Viên Vinh và Mai Thảo, 1982.

Ðây có lẽ là tờ báo đầu tiên trong làng báo ra số Tưởng Niệm một nhà văn khi nhà văn còn sống sờ sờ! Ngoài bìa đề: Sinh Niệm Mai Thảo. Dưới tấm hình đẹp trai của Mai Thảo. Ðề: (Mai Thảo (1927- ...)

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng khi đọc tờ báo, đã nổi giận với tôi: “Các ông tàn nhẫn quá!”

Tôi im lặng cho bạn bớt giận. Số báo lạ thường ấy có bài của những người sau đây:

Mặc Thu: Những ngày cuối của Mai Thảo ở Sài Gòn.

Phan Tấn Hải: Với nhà văn Mai Thảo.

Viên Linh: Mai Thảo Riêng Tây.

Và thơ, ý kiến về Mai Thảo của: Tạ Tỵ, Thanh Tâm Tuyền, Ngọc Hoài Phương, Nguyễn Ðạt. Chân dung Mai Thảo của CHÓE.
3 .Ngày giỗ Mai Thảo Nguyễn Ðăng Quý năm 2012: Ðọc lại một đoạn thơ Mai Thảo viết cho tác giả bài này: “Pulau Besar, 14.1.1978

Viên Linh thân,

Ðã viết ngay cho ông khi mới tới đất Mã, chỉ vài ngày sau khi được đưa tới trại Pulau Besar này. Mong thư ông từ 2 tuần nay, hôm qua là ngày phát thư cho toàn trại, nhận được 2 thư ông cùng một lúc, mừng lắm. Tôi rời Sài Gòn, một mình, ngày 4 tháng 12 năm 1977, nằm ở một vùng biển tới đêm 6 tháng 12 thì ra khơi trên một tàu đánh cá, và sau 7 ngày đêm trên biển thì dạt vào một vùng biển Mã Lai Á, tiểu bang Trengganu. Ði thoát sang tới đây, mong gặp các bạn một mặt, nhưng mặt khác ngày nào cũng nhìn và nghĩ ngược đường trở về... Cho tôi gửi lời thăm cô ấy và tụi nhỏ.

MT.”

Post Reply