Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Hồn Sài Gòn trong từng món đồ cũ
Trịnh Cung
Chúng ta - mỗi người Sài Gòn cũ, dù là lưu vong ở xứ người hay đang lưu vong ngay trên quê hương mình, cũng đều rất giống nhau ở nỗi niềm hoài cổ luôn muốn tìm lại một thời đáng yêu, một thời huy hòang, kiêu hãnh và những năm tháng đầy bi tráng đã qua, như một cách để quên đi cái hiện tại đang làm mình hư hao, chết mòn.

Image
“Con Ốc Sên,” gốm xưa, thuộc dòng gốm Lái Thiêu của miền Nam Việt Nam
mà tác giả tìm thấy trên vỉa hè Sài Gòn. (Hình: Trịnh Cung)

Một trong những con đường đưa tôi về lại, dù chỉ là phút giây, với “Sài Gòn đẹp lắm Sài Gòn ơi!” thời chưa bị đổi chủ thay tên đó chính là những món đồ cũ, những ngôi nhà cũ, những con đường cũ, những hàng quán cũ, những bài ca cũ và cả những con người cũ, còn rơi rớt lại sau trận đại hồng thủy 1975.


Đã 36 năm trôi qua, một quãng thời gian đủ để những người “chiến thắng” vùi chôn, xóa sổ sạch mọi vết tích tồn tại của “đồng bào” thù địch khỏi tầm mắt. Và chút Sài Gòn ít ỏi còn sót ấy, tất nhiên, cũng đang trên con đường bị họ triệt tiêu hoặc đang tự triệt tiêu mình trên lộ trình già nua, hư hỏng của thời gian.

Image
Hủ gốm Cây Mai -Sài Gòn, trong bộ sưu tập của Trần Tiến Dũng. (Hình: Trịnh Cung)

Vui sướng và đau buồn – hai trạng thái trái ngược nhau ấy là những cảm xúc thường bắt gặp mỗi khi tôi đối diện với chúng đây đó trên các nẻo đường Sài Gòn. Khi là một ngôi nhà kiểu Pháp xây dựng từ đầu thế kỷ 19 vốn từ lâu đã là biểu tượng cho cái đẹp Sài Gòn nay bị đập phá để xây một cao ốc mới; khi là một bình gốm Cây Mai – Chợ Lớn như những kiều nữ nằm chờ khách trong những tủ kính của khu phố đồ cổ Lê Công Kiều; có khi là một chiếc máy nghe nhạc Akai đang ủ rũ , héo hắc với cuộn băng Sơn Ca 7 trong xó góc của một tiệm bán đồ cũ trên đường Âu Cơ.


Văn hào Dostoievski từng nói “Cái Đẹp cứu chuộc thế giới.” Tôi vốn cả tin vào lời các vĩ nhân và luôn rất muốn tin vào lý tưởng đẹp đẽ đó. Nhưng trong hòan cảnh Việt Nam bây giờ, có thể tin vào chân lý đó không, khi nhiều người Sài Gòn cũ đã phải chứng kiến cảnh những hàm cá mập sắt khổng lồ của những chiếc máy ủi máy xúc cạp nát từng mảng những di sản kiến trúc cổ, quật ngã những cây cổ thụ trăm năm tuổi của công viên Mê Linh thuộc khu nhà Bộ Giáo Dục VNCH để thay vào đó một cao ốc thương mại chuyên bán hàng hiệu mà bộ vó kiến trúc của nó như một gã khổng lồ vai u thịt bắp, vừa cực kỳ thô thiển vừa dương oai tự đắc!


Rồi nạn nhân bị hành quyết tiếp sau đó: khu nhà Eden, địa chỉ văn hóa bậc nhất của Sài Gòn không chỉ vì vẻ đẹp kiến trúc thời thuộc địa và sự phồn thịnh về thương mại, mà hơn hẳn, nó là một icon văn hóa - chính trị của Sài Gòn với những thương hiệu lớn như cà phê Givral, nhà sách Xuân Thu, rạp Ciné Eden, cà phê La Pagode,…? Đó là còn chưa nói đến những điều to tát hơn thế nhiều. Thật vậy, khu Eden này còn là một địa chỉ lịch sử Việt Nam từ thời Tiền Thuộc Địa cho đến trước cái chết oan nghiệt của chế độ Việt Nam Cộng Hòa bởi người CSVN.
Image
Tượng Phật Bà Quan Âm cầm giỏ dâu, gốm Biên Hoà, trong bộ sưu tập
của Trần Tiến Dũng. (Hình: Trịnh Cung
Có lẽ đạo diễn Phillip Noyce là người đã tiên thị được và cảnh báo về cái chết tòan diện của Sài Gòn cũ sẽ xảy ra trong một tương lai gần khi ông lấy khu phố gồm có tòa nhà Eden, khách sạn Continental và Nhà Hát Thành Phố để tái hiện lại cảnh chính trị bất ổn của Sài Gòn thời những năm 40 thế kỷ trước trong phim “Người Mỹ Trầm Lặng” (dựa theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Anh, Graham Greene). Đây là sự kiện văn hóa hiếm có sau cùng của khu đất-vàng-lịch-sử này.


Mỗi ngày tôi đều nghe đâu đó tiếng gọi từ những con đường Sài Gòn như thể tiếng gọi của một cuộc hẹn hò tình tứ, hoặc như thể là tiếng kêu cứu của một tòa kiến trúc cũ, của từng gốc cây cũ đang bị xóa sổ mà cũng không biết rồi ngày mai sẽ đến biểu tượng cho Cái Đẹp Sài Gòn cũ nào sẽ đến phiên phải chịu chung một số phận tiêu vong? Ôi, Cái Đẹp cứu rỗi thế giới nhưng nó đang từng ngày bị hạ sát ở chốn nhỏ nhoi này, thưa Ngài Dostoievski!


Lịch-sử-chiến-thắng giết lịch-sử-chiến-bại là như thế, và tất nhiên, nó đang tiếp tục con đường của nó trên đất nước này. Tôi, ở đây, những người Sài Gòn cũ đang ở đây hằng ngày, bị dạy cho bài học đau đớn này mỗi khi đi qua những đống đổ nát hoặc những tòa nhà mới mọc vừa sừng sững thô lỗ vừa cực kỳ ngạo mạn mà đành bụng bảo dạ: “Thôi hết thật rồi!”


Tuy nhiên, liệu người ta có thể thủ tiêu hết tất di sản của Sài Gòn cũ? Di sản Sài Gòn cũ đâu chỉ là những ngôi nhà, những công viên, những quán cà phê, những hiệu sách, những gallery,…? Trở lại cát bụi chỉ là số phận của những di sản vật thể không thể tháo chạy thóat thân khỏi cuộc truy nã trường kỳ của kẻ chiến thắng luôn thấm nhuần tư tưởng “diệt tận gốc,” nhưng những thứ thuộc về “linh hồn Sài Gòn cũ” thì có thể bức hại dễ dàng thế không? Những bản nhạc cũ đang phục sinh; những bức tranh của danh họa Sài Gòn đang được tìm mua; những tác phẩm văn học và tạp chí xuất bản ở Sài Gòn trước 1975, như Sáng Tạo, Hiện Đại, Văn… hầu như vắng bóng tại những hiệu sách cũ vì sự ưa chuộng của nhà sưu tập; những tác phẩm gốm của các lò như Cây Mai-Chợ Lớn, Lái Thiêu-Bình Dương, Biên Hòa sản xuất trước 1975, đang được sưu tầm như báu vật; ngay cả những máy hát đĩa than và máy nghe nhạc hiêu Akai của Nhật cũng không dễ tìm thấy. Điều khá lý thú là những của hiếm ấy nay lại thường được những tay chơi ở Hà Nội, những người đã một thời từng luôn mồm chửi bới miệt thị văn hóa Sài Gòn-VNCH là đồi trụy, là nô dịch, tìm mua, đặt hàng với giá đắt đỏ. Đây mới là câu trả lời chính xác cho sự hiển linh của linh hồn văn hóa Sài Gòn cũ.


Và như thế, tôi đã trở thành một “fan” của những món đồ cũ ấy. Trong những lần lang thang qua các cửa hàng đồ cổ, tôi luôn dừng lại rất lâu trước những bình gốm Cây Mai men xanh với những họa tiết đắp nổi hình cành hoa, chim thú; trước những sản phẩm gốm Lái Thiêu với men màu da lươn độc đáo và những bình, tượng Phật Quan Âm với kỹ thuật rót khuôn bằng thach cao, một kỹ thuật gốm học được từ trường phái gốm Pháp rất hòan hảo. Trong một lần như thế, bất ngờ tôi bắt gặp một tượng gốm thuộc dòng Lái Thiêu già (cách gọi để phân loại tuổi gốm của dân chơi gốm), nó có hình con ốc sên, đang nằm phơi nắng trên vỉa hè phố Lê Công Kiều. Tôi thích quá nhưng không mua nổi với giá người bán đưa ra. Tôi bỏ đi nhưng không đi xa đươc, đành phải quay lai để ôm được nó về nhà bằng tất cả số tiền còn trong túi. Về đến nhà, tôi đặt con ốc sên ấy trên bàn viết bên cửa sổ phòng khách và hạnh phúc ngắm nó. Nó như cũng long lanh hạnh phúc nhìn tôi, hơi chút bùi ngùi như gặp lại bạn cũ lâu ngày. Và buổi chiều hôm đó, tôi đã cao hứng dành cho nó một bài thơ…


Gặp Lại Ốc Sên


Tao đã rửa nhớt của mày bằng muối
Ướp mày bằng ngũ vị hương
Nấu mày trong ống bơ
Ăn mày những ngày đói ở trại tù sĩ quan ngụy Xuân Lộc
Tao ăn mà sợ sợ
Hỏi thằng tù bác sĩ:
Có sao không Hải?
“Chỉ chậm chạp qua đời…”
Đói nên không dám ói


36 năm rồi
Tao chưa chết
Để gặp lại mày
Trên vỉa hè phố đồ cổ Lê Công Kiều chiều nay
Đời mày phơi nắng dầm mưa bao lâu rồi
Mày đến từ lò thiêu Biên Hòa, Cây Mai hay Lái Thiêu không ai còn biết
Nay mày rụng hết tai mù hết mắt miệng hết mở
Cũng như tao hồi đó hay sao
Thằng bán mày chắc cũng không mấy được no
Mua bán chầm chày may rủi
Từ những gánh ve chai
Từ những cái túi lấm la lấm lét

Cái số mày với tao
36 năm không chết còn gặp lại nhau
Trong một chiều hiếm khi
Tao phải đưa mày về nhà

Và thằng bán mày chiều nay có bữa lai rai.

TRỊNH CUNG

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Vì sao “phở” hấp dẫn hơn “cơm”?

Đàn ông ngoại tình vì họ luôn cho rằng, những cô tình nhân trẻ giống như bát phở thơm lừng, hấp dẫn và ngon miệng. Còn những người vợ đầu tắt mặt tối ở nhà chẳng khác nào tô cơm nguội nhạt thếch, có khi lại còn thiu.

- Đàn ông thèm được ăn “phở” vì “phở” lạ miệng, lâu lâu mới được ăn; trong khi “cơm” ngày nào cũng được ăn và bắt buộc phải ăn.

- Vợ ngày nào cũng gặp nên tất cả những thói hư tật xấu đều bị phơi bày. Trong khi đó, bồ không phải lúc nào cũng được gặp, bởi vậy người đàn ông luôn thấy “phở” có thật nhiều ưu điểm và điểm nào cũng đẹp, cũng đáng yêu.

- Điều quan tâm của “cơm” là chăm lo thật tốt cho gia đình, còn điều quan tâm của “phở” là chăm lo thật tốt cho người đàn ông họ đang có. Chính vì như vậy nên cánh đàn ông luôn cảm thấy họ thật quan trọng trong mắt của “phở”; còn với “cơm”, họ chẳng là gì cả!

- Người đàn ông khi gặp rắc rối trong công việc, họ thường nghe “cơm” càu nhàu, phê phán rằng mình sai chỗ này mình, yếu chỗ kia. Trong khi đó, “phở” lúc nào cũng an ủi, vỗ về, tìm đủ lý lẽ để trấn an khiến họ cảm thấy thật bình yên.

- Đã rất lâu rồi, “cơm” không thèm làm mới chuyện chăn gối; thậm chí còn tìm cách né tránh với trăm ngàn lý do hoặc cự nự khi chồng đòi hỏi. Trong khi đó, “phở” luôn hết lòng chìu chuộng và quan tâm gần như tuyệt đối tới vấn đề này khiến những người đàn ông chỉ muốn ở luôn với “phở”!

Và còn vô vàn lý do khác nữa. Vì vậy, nếu không muốn chồng mải miết đi tìm “phở” mà bỏ “cơm” thì các bà vợ cần phải:

- Chú ý chăm sóc và làm mới mình: Bạn đừng bao giờ cho rằng, chỉ cần duyên dáng, lịch sự, mềm mỏng với người bên ngoài; còn “người nhà” với nhau thì chẳng cần phải màu mè, kiểu cách. Suy nghĩ đó rất nguy hiểm. Nên nhớ là đừng bao giờ quá lôi thôi hay xuề xòa trước mặt chồng, ngay cả khi ở nhà.

- Tương kính như tân: Đối đãi với chồng như khách quý, đừng bao giờ có tư tưởng cho rằng mình đã sở hữu anh ấy thì không cần phải khó nhọc làm gì để giữ gìn.

- Bỏ bớt thói lắm lời: Trong cuộc sống, ai cũng có những khuyết điểm, đã là bạn đời thì phải chân thành, thẳng thắn nhưng tinh tế, dịu dàng; không bốp chát, càu nhàu, nói dai, nói khó nghe…

- Tuyệt đối không được sao nhãng chuyện gối chăn: Chẳng những vậy mà còn phải làm mới mình trong mắt anh ấy ngay cả khi lên giường. Người phụ nữ tươm tất, sạch sẽ, thơm tho luôn có sức quyến rũ đối với đàn ông.

- Vợ chồng là “bạn đời”, là “đối tác” chứ không phải “đối thủ” nên đừng bao giờ “ăn thua đủ” với chồng. Mọi chuyện cần phải bàn bạc, thống nhất trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau.

Phương N

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Image

1000 viên bi !

Càng lớn tuổi, tôi càng thấy thích thưởng thức những buổi sáng Thứ Bảy. Có lẽ là do bầu không khí yên lặng, tĩnh mịch cùng với việc là người đầu tiên thức dậy, hay cũng có thể là do niềm vui khi không phải đi làm. Dù sao đi nữa, vài giờ đầu của sáng Thứ Bảy luôn luôn mang lại cho tôi những cảm xúc thích thú nhất.

Cách đây vài tuần, vào một buổi sáng Thứ Bảy, tôi ngồi thưởng thức ly cà phê còn bốc khói, đọc báo và nghe radio. Từ radio đang phát ra một giọng nói vô cùng ấm áp, hấp dẫn, chất giọng vàng của một người đàn ông đã đứng tuổi đang nói với một ai đó tên là Tom về câu chuyện một ngàn viên bi gì đó...
Tò mò, tôi ngừng đọc báo và lắng nghe ông nói. "Này Tom, hình như anh đang rất bận với công việc của anh thì phải. Tôi chắc rằng họ trả lương cho anh cũng khá lắm phải không, nhưng thật không đáng nếu anh cứ phải luôn luôn vắng nhà và xa gia đình vì công việc như vậy. Không thể tin được một người trẻ tuổi như anh lại cứ quần quật làm việc mỗi tuần từ 60 đến 70 tiếng để trang trải mọi thứ. Thật đáng tiếc anh đã không tham dự được buổi biểu diễn của con gái anh”.

Ông tiếp tục, "để tôi kể cho anh nghe điều này anh Tom ạ, một điều đã giúp tôi ý thức về những gì ưu tiên trong cuộc sống của mình”. Và ông bắt đầu giải thích lý thuyết của ông về “một ngàn viên bi”.

"Anh biết không, một ngày nọ tôi đã ngồi làm thử một bài toán nhỏ. Mỗi người trung bình sống được khoảng 75 năm. Tôi biết cũng có người sống thọ hơn và cũng có người chết sớm hơn nhưng trung bình, người ta sống được khoảng 75 năm”.

"Sau đó, tôi nhân 75 năm đó với 52 tuần thì ra con số 3900, là tổng số ngày Thứ Bảy mà mỗi người có được trong cả cuộc đời của họ. Này anh Tom, hãy tập trung và lắng nghe, tôi đang dẫn giải đến phần quan trọng rồi đây”.

"Phải đến năm 55 tuổi tôi mới biết suy nghĩ về mọi việc kỹ càng như vậy”, ông tiếp tục, "và cho tới lúc đó, tôi đã sống qua hơn 2800 ngày Thứ Bảy của đời mình.

Và nếu tôi sống được đến năm 75 tuổi, tôi sẽ chỉ còn được hưởng khoảng 1000 ngày Thứ Bảy nữa mà thôi”.

"Và rồi tôi đi tới một cửa hàng đồ chơi, mua tất cả những viên bi họ có, và phải đi tới ba cửa hàng tôi mới mua được đủ 1000 viên bi cho mình. Tôi đem chúng về nhà, bỏ vào chiếc hộp nhựa lớn, ngay cạnh chỗ tôi thường ngồi. Từ đó, khi mỗi ngày Thứ Bảy qua đi, tôi lại lấy một viên bi ra và ném bỏ đi”.

"Tôi nhận ra rằng, khi nhìn số lượng những viên bi trong hộp ngày càng giảm dần, tôi đã biết tập trung hơn cho những điều thật sự quan trọng trong cuộc sống. Không gì thức tỉnh bằng việc nhìn thời gian còn lại trên trái đất của mình cứ ngắn dần và nó sẽ giúp bạn biết ý thức về những ưu tiên của mọi việc”.
"Bây giờ, tôi sẽ nói cho anh Tom nghe một điều cuối cùng trước khi tôi ngừng cuộc trò chuyện này của chúng ta để đưa người vợ yêu quý của tôi đi ăn sáng.
Sáng nay, tôi đã lấy viên bi cuối cùng ra khỏi chiếc hộp. Tôi hình dung nếu tôi có thể giữ nó cho tới sáng Chủ Nhật hôm sau nữa thì tức là Chúa đã ban cho tôi thêm một chút thời gian để được ở lại bên những người thân yêu…

"Thật tốt khi được trò chuyện với anh, anh Tom ạ, tôi mong anh sẽ dành nhiều thời gian hơn cho những người thân yêu của anh và tôi cũng hy vọng, một ngày nào đó sẽ gặp lại anh. Chúc buổi sáng tốt đẹp!”.

Không một tiếng động khi ông ấy kết thúc cuộc trò chuyện. Tôi nghĩ ông ấy đã khiến tất cả chúng ta phải suy nghĩ rất nhiều.

Sáng hôm đó, tôi đã định làm một số việc, nhưng rồi, tôi quyết định chạy lên lầu, đánh thức vợ tôi bằng một cái hôn.

"Dậy thôi em yêu, anh sẽ đưa em và các con đi ăn sáng”.

"Có chuyện gì đặc biệt hả anh?”, vợ tôi hỏi với một nụ cười.

"Không, không có gì đặc biệt cả”, tôi nói, "Chỉ vì đã lâu lắm rồi hai vợ chồng mình không có thời gian với nhau và với các con. À, trên đường đi mình dừng lại ở cửa hàng đồ chơi một chút nhé, anh cần mua một vài viên bi”.

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Những chuyện hay thật ngắn

Bệnh và Lười

Cũng như các bà vợ khác ở hải ngoại, vợ tui kỳ này làm biếng quá. Đi làm về là nằm trên giường xem phim bộ, chẳng chịu nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa gì ráo. Tôi có la, nó ấp úng trả lời:
-Em thấy mệt quá, chẳng làm gì được cả. Nằm nhưng không ngủ được nên mới bật máy xem phim, chứ không cố ý xem phim.
Con vợ tui chơi chữ ghê, xem mà không xem, nó biện hộ kiểu này ai nghe cho được.
Tui định bụng hôm nay về mà bếp núc lạnh tanh, sẽ đập tan cái TV ra cho biết mặt. Về nhà, quả nhiên cơm canh không có, đứa con nhỏ hoảng hốt:
-Ba ơi, anh Hai đưa má vào bệnh viện rồi, má bị xỉu phải cấp cứu.
Tui vội vã vào nhà thương. Người ta đã chẩn bệnh xong. Vợ tui có lẽ bị ung thư xương. Hèn chi mấy tuần nay nó đau nhức, than thở mà tui nghĩ nó giả bộ nên không thèm nghe, cũng chẳng đưa đi bác sĩ.
Bệnh ung thư phát mạnh quá, sau vài tuần, bác sĩ cho biết nó không còn ở với tui được bao lâu nữa. Ung thư ngực thì cắt vú, ung thư xương không biết cắt ở đâu! Phổi vợ tui cũng có vấn đề, vì bao năm qua phải hửi mùi thuốc lá tui hút. Tui không dám nói với nó tui đã nghĩ xấu và giận nó không chịu nấu cơm, dọn dẹp. Cô vợ đầu ấp tay gối bao nhiều năm mà nó đau đớn, bịnh nặng tui cũng không biết. Vậy mà nó vẫn cố gắng đi làm kiếm tiền, chỉ khi về mới nằm liệt ra thôi. Tui hối hận quá chừng, trốn vào nhà vệ sinh của bệnh viện khóc rấm rứt. Thằng Tây đen nhìn tui ái ngại, hỏi tui có OK không. Tui không biết than thở cùng ai, nên dù tiếng Anh dở ẹt, cũng sổ một tràng. Nó có vẻ thông cảm nhưng chỉ phán được một tiếng “sorry” rồi đi ra.
Tui trở vào phòng thăm vợ. Mới mấy tuần mà nó ốm nhom xanh lè, tay chân dây rợ, kim chích chằng chịt. Nó thì thầm:
-Ở đây buồn và ồn quá, em muốn về nhà. Em sẽ nấu món giả cày mà anh thích đó.
Tui vỗ về:
-Em ráng lo nghỉ ngơi, đừng bận tâm.
Tui ráng nấu mấy món ngon đem vào nhà thương, nhưng nó không ăn được nữa. Tui lại khóc. Lạ ghê, trước giờ tui rất oai phong, la mắng vợ con mỗi ngày, uy quyền lắm mà bây giờ mít ướt quá sức …

Kỷ niệm Giáng Sinh

Tôi có đọc câu chuyện, đại khái người mẹ bị ung thư, phải chữa trị bằng chemo nên rụng hết tóc. Ngày con gái ở xa về thăm, bà sợ con buồn nên đội tóc giả. Đứa con biết mẹ bệnh, không còn tóc nên để tỏ lòng thông cảm, cô đã húi cua ngắn ngủn. Khi gặp nhau, hai mẹ con đều ứa nước mắt cảm động. Người đáng lẽ tóc dài thì lại cụt ngủn, người đáng lẽ trọc lóc lại có tóc giả thật dài.
Giáng Sinh vừa qua hai mẹ con tôi cũng dở khóc dở cười. Con gái tôi cũng đi học xa, bận rộn và không đủ tiền nên quyết định không về nhà ăn Noel. Tôi thương con nên dù khó khăn, cũng ráng dành dụm tiền để mua vé máy bay đi thăm con. Tôi muốn cháu ngạc nhiên nên không cho cháu biết trước, nhưng cũng thật là ngạc nhiên, trước ngày tôi lên đường, cháu lại bất ngờ về nhà. Tôi phải bỏ vé máy bay của mình, tiếc tiền lắm nhưng cháu an ủi:
-Mẹ con mình đã được gặp nhau, mình quan tâm cho nhau là chuyện quan trọng. Chút tiền có mất nhưng con sẽ nhớ mãi kỷ niệm này. Con không muốn mẹ ăn Giáng Sinh một mình, bên đó con còn có bạn, mẹ ở đây chẳng có ai!
Tôi rưng rưng nước mắt. Cuộc đời người đàn bà bị chồng bỏ, phải nuôi con một mình cũng được chút ủi an.

Bộ quần áo cũ

Sống chung với một ông bố chồng già yếu, bướng bỉnh là chuyện không dễ. Ông hay than phiền, hỏi những câu không đúng lúc và từ chối các món ăn cần thiết. Ông hãnh diện về thời trai trẻ, cứ kể đi kể lại các câu chuyện của thời vàng son. Hồi đó, là chỉ huy trong quân đội...ông luôn đặt lý trí lên trên tình cảm. Tôi biết ông là người tốt, nhưng có cảm giác ông sống vì khối óc chứ không vì con tim, thiếu sự thông cảm.
Hôm nay đưa ông đi lễ ở nhà thờ, một lần nữa ông lại mặc bộ đồ vest cũ sờn rách mang từ Việt Nam sang. Tôi nhẹ nhàng:
-Bố nên thay bộ đồ con mua hôm trước, bộ quần áo này cũ quá.
-Nhưng bố thích mặc bộ này!
Tôi bắt đầu cau có:
-Nhưng mặc như vậy đi chỗ đông người rất kỳ, người ta sẽ nghĩ tụi con bỏ bê không chăm sóc bố.
Ông già buồn rầu, lập lại:
-Bố thích bộ quần áo này lắm.
Tôi cũng cương quyết:
-Bố nên thay ngay kẻo trễ, con không thấy có lý do gì để bố thích nó.
Ông già trả lời rất gọn ghẽ, chân thành, lâu nay ít khi nào tôi thấy ông minh mẫn như vậy:
-Chính mẹ đã tặng bố bộ quần áo này để mặc ngày kỷ niệm thành hôn. Khi chồng con ra trường, bố cũng mặc bộ quần áo này. Ngày đưa mẹ con ra nghĩa trang, bố cũng mặc bộ đồ này, bố thấy thật vui và xúc động khi mặc nó.
Nước mắt ông già hoen trên mi, rơi xuống gò má nhăn nheo. Tôi hụt hẫng và hết sức bối rối. Bố chồng tôi sống tình cảm và có lý hơn tôi nghĩ.
Trước khi quyết đoán người nào đó khô khan không có trái tim, tôi nên xét lại trái tim mình đã.


Tình vợ chồng

Chị thắc mắc:
-Anh có còn thương em không?
-Tại sao phải hỏi?
-Từ ngày lấy nhau, mình hết thơ mộng, anh hết lãng mạn với em rồi.
-Bận thấy mồ, còn lo cho con, nhưng anh chẳng thấy gì khác.
-Em thấy khác!
-Anh đi sửa cửa sổ đây.
-Em ghét anh, anh giả bộ bận rộn.
Trời bỗng đổ mưa, nước tạt vào nhà, may quá chồng chị vừa sửa xong cánh cửa.

Lời cầu nguyện

Tôi rất sợ phải nghe ba mẹ cãi nhau. Tôi thường phải làm quan tòa và lẫn lộn không biết nên nghĩ gì. Mẹ hay nói:
-Con thấy ba kỳ cục không, nếu gặp người đàn bà khác, bà ta đã đập tan mọi thứ trong nhà ra rồi.
Ngược lại ba hỏi:
-Con gái, tuy con còn bé nhưng con thấy ba chịu đựng mẹ như thế nào. Ba phải làm sao đây?
Tôi hay nhìn những tấm hình ba mẹ chụp thời mới cưới treo trên tường, hai người nhìn nhau tươi cười hạnh phúc làm sao. Họ đã từng yêu nhau thắm thiết, tại sao tình yêu lại thay đổi mau chóng và thê thảm như vậy. Họ rất khó quên, khi gây gỗ thường kể đi kể lại những chuyện giận hờn xảy ra năm xửa năm xưa, rồi từ từ nặng lời với nhau. Tôi và em gái cũng hay có chuyện vì giành đồ chơi, hay vì phân công dọn dẹp nhà cửa không đều, nhưng chỉ chút sau là chúng tôi quên và tiếp tục chơi với nhau vui vẻ. Tôi muốn gia đình hòa thuận, êm ấm như hồi tôi còn bé. Lâu rồi chúng tôi không được đi picnic, đi câu cá với nhau.
Ngày ba tôi đập tan những tấm hình đám cưới treo trên tường, là ngày ông bà quyết định ly dị. Ba mẹ gọi hai chị em tôi vào phòng, chúng tôi đứng trên những mảnh vụn và được hỏi:
-Hai đứa con phải quyết định, đứa nào muốn ở với mẹ, đứa nào muốn ở với ba. Chúng ta phải chia hai.
Tôi và em gái chỉ biết khóc. Cách đây mấy tháng, tôi cũng giúp ý kiến thằng Tâm để nó chọn lựa bố hay mẹ. Bây giờ tới phiên nó sẽ giúp tôi?!!! Tôi biết Tâm rất khổ, trong lớp nó không còn muốn chơi với ai cả ngoại trừ tôi. Cô giáo và những bạn hiểu chuyện nói lời an ủi, thương hại cũng làm nó bực mình, muốn lẩn tránh. Nó trở nên ít nói và không cười nữa. Tôi sẽ phải trải qua những chuyện y như vậy. Tôi rất sợ.
Đêm hôm đó tôi không ngủ được, chạy sang phòng em thấy nó còn thức, tôi rủ nó ra bàn thờ cùng đọc kinh. Chúng tôi chỉ thuộc kinh Lạy cha và Kính mừng, tôi ước gì có thể đọc được những kinh thật dài như người ta đã đọc trong nhà thờ để Chúa hiểu và lắng nghe chúng tôi hơn. Một chút sau ba má tôi cũng ra phòng khách cùng quỳ đọc kinh với chúng tôi - có lẽ vì nửa đêm tiếng cầu kinh của chị em tôi lớn quá làm họ không ngủ được. Thật là nhiệm mầu, ba má tôi xin lỗi nhau và quyết định không ly dị nữa. Tất cả chúng tôi cùng khóc.
Tôi nghe mẹ tôi kể với bạn của bà, nhờ sự thành khẩn của hai đứa tôi trong lần đọc kinh đó mà bà đã suy nghĩ lại. Tình trạng gia đình tôi khá hẳn. Ba đã treo lại những tấm hình đám cưới lên tường và treo thêm tấm bốn người vừa chụp ở tiệm.
Tôi tin lời cầu nguyện sẽ luôn được Chúa chấp nhận nếu mình cầu xin hết lòng và ở trong một hoàn cảnh thật sự cần giúp đỡ. Tôi cũng an tâm không cần phải học nhiều kinh dài và mới, Lạy cha và Kính mừng có thể tạm đủ.

Thiếu sót

Chúng tôi đi xem văn nghệ do trường Trung Học của con trình diễn. Mỗi năm trường đều có International Night để các học sinh thuộc các sắc dân phô bày văn hóa, âm nhạc đặc thù của dân tộc mình. Tôi thích thú theo dõi, tới phần học sinh Việt Nam , tôi bật cười vì thấy các cháu mặc áo dài đi cấy lúa. Có đứa lại mặc áo dài với quần jean, mang giày thể thao. Đa số các quan khách, học sinh ngoại quốc đều vỗ tay tán thưởng vì động tác nhịp nhàng, vành nón lá xinh tươi, âm nhạc vui nhộn ca ngợi cảnh thanh bình trên đồng lúa. Tối về, tôi hỏi:
-Sao tụi con lại mặc áo dài đi cấy lúa. Dân quê phải mặc áo bà ba chứ.
Cháu cười hồn nhiên:
-Hôm rồi tổng dợt ở nhà mình, tụi con có mặc áo dài múa thử, sao lúc đó mẹ không nói?
Tôi không trả lời được. Bận rộn quá, tôi đâu có giờ để ý.
Trách nhiệm dạy con biết về quê hương, văn hóa cội nguồn không phải dễ, còn rất nhiều điều tôi đã thiếu sót

Đôi giày trắng

Ngày cưới có lẽ là ngày bận rộn, có nhiều chuyện vui nhất trong đời. Tôi biết có cô dâu mang theo áo dài để thay, nhưng quên mang quần.
Hôm đám cưới tôi, mọi người đều rộn ràng. Tôi cũng chiều vợ, sáng mặc bộ vest trắng đi nhà thờ, chiều thay bộ vest đen tới tiệc. Tới nhà hàng tôi mới hết hồn, vì biết mình quên không mang theo đôi giày đen. Chú rể xúng xính trong bộ đồ đen, chân mang giày trắng bóng, coi sao đưọc! Chưa biết tính sao thì thằng bạn lên tiếng :
-Trễ rồi, thôi mang giày của tui đi. Mới tậu hôm qua đó, chắc là vừa.
Tôi mang ơn thằng bạn này hết sức. Cứu người như cứu hỏa. Nó cũng biết mắc cỡ, dấu đôi chân mang giày trắng dưới gầm bàn, không dám đi đâu, kể cả vào nhà vệ sinh vì nó cũng mặc vest đen.
Sau này khi có đứa con trai đầu lòng, tôi nhờ thằng bạn này làm bố đỡ đầu. Nó rất vui và hãnh diện vì lần đầu tiên được lên chức God Father, tôi chọc nó:
-Hôm rửa tội con tui, nếu anh dám mặc đồ đen và đi giày trắng, tui sẽ đãi thêm một chầu seafood ở nhà hàng nổi tiếng Toronto .
Nó nhìn tôi ấm ức, nhưng nó biết tôi vẫn nhớ và cám ơn thật nhiều.
Giúp người vào lúc người đó gặp hoàn cảnh khó khăn, nguy ngập nhất là chuyện nên làm. Lý do, hậu quả như thế nào sẽ tính sau.

Nói thật

Thái ơi!
Miên xấu hổ quá, không nói được nên viết email này cho Thái giải thích việc hôm qua nhé. Mình là bạn trai, bạn gái của nhau, đáng lẽ Miên nên thành thật nói rõ hơn về gia đình mình.
Nhà Miên nghèo lắm, ba má mới sang Mỹ diện HO nên còn rất vất vả xây dựng cuộc sống. Người đàn ông cắt cỏ trước sân nhà Thái ngày hôm qua là ba của Miên đó. Khi tới nhà Thái chơi, Miên hoàn toàn không nghĩ tới chuyện gặp ba trong hoàn cảnh này. Ba trong bộ quần áo làm vườn cũ kỹ, cặm cụi cắt cỏ, tỉa cây. Khi Thái rủ Miên ra sân chơi trả tiền cho ba, Miên trốn vào nhà vệ sinh nói mình bị đau bụng và bỏ về. Tối qua Miên mất ngủ, vừa thấy mình có lỗi với ba, vừa xấu hổ vì đã nói dối với Thái. Miên tệ quá phải không? Bây giờ Thái biết sự thật rồi đó, Thái bỏ Miên, Miên cũng không buồn đâu. Miên sẽ cố gắng học giỏi để lo cho ba má, giúp gia đình vượt qua cái nghèo. Xứ này ai cố gắng thì sẽ thành công thôi.
Chúc Thái luôn vui và tìm được người bạn khác xứng đáng hơn. Xin lỗi Thái thật nhiều....

Mày Tao

Có lần giận con quá vì nó nói dối, tôi đã quát to :
-Mày là đứa nói láo, không ai thương mày nữa!
Thằng nhỏ mếu máo trả lời :
-Mẹ có thể đánh con, nhưng đừng gọi con là mày!
Tôi giật mình, nó sanh ra và lớn lên ở Mỹ, tiếng Việt không giỏi nhưng sao hiểu được chữ « mày » là rất nặng, rất xấu. Tôi xấu hổ lắm và từ đó về sau không gọi con là mày nữa, dù giận tới đâu.
Có những người chồng hay quát nạt, gọi vợ là mày, mắng chửi nặng lời. Nếu có quyền, tôi sẽ gạch bỏ chữ « mày, tao » trong tự điển tiếng Việt.

Hờ hững

Chị mỉm cười nhìn cô cháu gái được người yêu âu yếm nâng bàn chân lên xem, khi cháu đạp phải vật gì nhọn dưới đất. Chị nói với bạn bè chung quanh:
-Thời của mình qua rồi, nhìn đôi tình nhân trẻ kia thấy mà ham, bây giờ mình có đạp phải đinh chảy máu mấy ổng cũng không quan tâm, có khi còn chửi mình sớn xác nữa!
Hôm sau chị và chồng có dịp ghé thăm tiệm Nail của người bạn, anh ân cần quỳ xuống xem chân chị và hỏi ý chị bạn làm sao chữa được những cục chai trên bàn chân chị. Chị cảm động lắm và nhận ra mình rất nhậy cảm ở ... bàn chân. Chồng chị không hờ hững như chị hằng nghĩ.
Sau này mỗi lần đi ngang tiệm Nail, chị đều muốn được ghé vào, không phải để làm móng tay, nhưng để anh giúp chị làm mòn những cục chai.

Trịnh Tây Ninh



Tình yêu mất đi khi bạn ngừng quan tâm .
Tình bạn mất đi khi bạn ngừng chia sẻ (ST)

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Đại Hạ Giá
Nguyễn Tường

Image

Thời buổi này còn cái gì không hạ giá nhỉ? Sách vở, quần áo, đồ điện tử v…v… hạ giá! Tôi cầm mảnh bằng đại học cạ cục mãi chưa tìm ra việc làm, cũng nhào ra vỉa hè bán sách đại hạ giá. Từ Victor Hugo, Lev Tolstoy, Tagore, Dostoievski… đến Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng… cả thảy đều bị “hạ” nằm la liệt. Lắm lúc ngồi chồm hổm nhìn xuống các tên tuổi từng “vang bóng một thời”, tôi thầm hỏi:
- Nên cười hay nên khóc, thưa chư liệt vị?
Cách đây ít lâu, một ông lão hình dáng tiều tụy mang đến bán hai pho sách dày. Một cuốn là “Hán Việt Từ Điển” của Đào Duy Anh do Khai Trí tái bản. Cuốn kia là “Petit Larousse Illustré” in tại Paris năm 1973. Sách còn tinh tươm lắm, hẳn chủ nhân đã xài rất kỹ. Thấy giá rẻ, tôi mua. Loại ấn bản này đây, gặp loại khách biên biết, bán cũng được lời.


Ngoài bìa và một số trang ruột của mỗi cuốn, đều có ấn dấu son hình ellipse: “Bibliothèque – Đô Bi – Professeur”. À, té ra ông lão vốn từng là giáo chức. Thảo nào! Cất tiền vào ví rồi mà ông cứ dùng dằng nuối tiếc, ngoảnh lại nhìn những tài liệu – tài sản phải đứt ruột bán đi. Ngoái mãi mấy lần rồi ông mới dắt chiếc xe đạp cà tàng đạp về. Mắt ông đỏ hoe. Lòng tôi chợt se lại!
Chiều 25 Tết. Ngồi cạnh các danh tác tôi vẫn lim dim, thấp thỏm, chồm hổm ra đấy. Qua đường không ai thấy, lá vàng rơi trên giấy. Sài Gòn chả có mưa bụi cho đủ khổ thơ Vũ Đình Liên. Nhưng bụi đường thì tha hồ, đủ khổ thứ dân lê lết vệ đường như tôi.
- Anh mua bánh bò, bánh tiêu?
Một chị hàng rong đến mời. Tôi lắc đầu. Bỗng chị sững người chăm chú nhìn vào hai bộ từ điển. Chị ngồi thụp xuống, đặt sề bánh bên cạnh, cầm hết cuốn này đến cuốn kia lật lật. Rồi chị hỏi giá cả hai. Ngần ngừ lúc lâu, chị nói:
- Anh có bán… trả góp không?
- Trời đất ơi! Người ta bán trả góp đủ thứ, chứ sách vở, sách đại hạ giá ai đời bán trả góp? Vả lại, tôi nào biết chị là ai, ở đâu?
- Tôi cần mua cả hai – chị nói tiếp – xin anh giữ, đừng bán cho người khác. Khi nào góp đủ, tôi sẽ lấy trọn. Anh thông cảm làm ơn giúp tôi.
Thấy lạ, tôi hỏi chuyện mới vỡ lẽ. Đô Bi chính là thầy cũ của chị hàng rong. Chị Tám (tên chị) bất ngờ thấy có dấu son quen, hiểu ra hoàn cảnh của thầy, bèn nảy ý chuộc lại cho người mình từng thọ ơn giáo dục. Song, bán bánh bò bánh tiêu nào được bao nhiêu, lại còn nuôi con nhỏ, không đủ tiền mua một lần nên chị xin trả góp.
Tôi cảm động quá, trao ngay hai bộ từ điển cho chị Tám:
- Chị hãy cầm lấy, kịp làm quà Tết cho thầy. Tôi cũng xin lại đúng số vốn mà thôi, chị à.
- Nhưng…
- Đừng ngại, chị trả góp dần sau này cũng được.
Chị lấy làm mừng rỡ, cuống quít trả tôi một ít tiền.
- Chao ôi, quý hóa quá! Cảm ơn… cảm ơn… anh nhá!
Mai lại, chị Tám trả góp tiếp. Chị kể :
- Thầy Bi thảm lắm… Gần Tết, cô lại ngã bệnh… Thầy nhận sách, mừng mừng tủi tủi tội ghê, anh à!… Thầy cũ trò xưa khóc, khóc mãi!
Tôi vụt muốn nhảy cỡn lên và thét to:
“Hỡi ông Victor, ông Lev, ông Dostoievski… ơi! Ông Khái, ông Vũ, ông Ngô… ơi! Có những thứ không bao giờ hạ giá được! Có những người bình thường, vô danh tiểu tốt nhưng có những kiệt tác không hạ giá nổi, đó là ‘Tấm lòng’ ”
(Mồng 3 Tết Nhâm Thìn)

Image

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Không thể xây dựng đất nước trên lừa đảo, dối trá, kinh hoàng và bạo lực
Trong những ngày vừa qua Hội Đồng Giám Mục Cộng Hòa Dân Chủ Congo đã công bố thư mục vụ mạnh mẽ lên án bầu khí lừa đảo, gian đối và kinh hoàng thống trị đất nước. Các Giám Mục mời gọi giới hữu trách chính trị can đảm nhìn nhận sự thật, và các vị định nghĩa các gian đối lừa đảo trong cuộc bầu cử tổng thống năm qừa qua là một hổ nhục cho dân tộc và đất nước Congo. Các Giám Mục khẳng định rằng không thể xây dựng đất nước trên lừa đảo, dối trá, kinh hoàng, sử dụng quân đội và vi phạm quyền tự do ngôn luận của người dân được.

Như đã biết, các cuộc bầu cử tổng thống tại Cộng Hòa Dân Chủ Congo đã diễn ra ngày 28 tháng 11 năm 2011 vừa qua. Ngay trong các ngày tranh cử đã xảy ra nhiều cuộc đụng độ giữa các đảng phái khác nhau trong thủ đô Kinshasa và nhiều tỉnh lớn khác. Các căng thẳng khiến cho người ta nhớ tới các xung đột trong cuộc bầu cử hồi năm 2006 khiến cho hàng trăm người thiệt mạng. Trong ngày tranh cử cuối cùng hàng ngàn người thuộc các đảng phái khác nhau đã ném đá gạch, một vài người đã nổ súng khiến cho cảnh sát phải bắn lựu đạn cay để giải tán; đã có vài người chết và nhiều người bị thương. Trước tình hình căng thẳng chính quyền đã quyết định ngưng cuộc tranh cử và hủy bỏ cuộc diễn thuyết tranh cử của ông Etienne Tshisekedi, 79 tuổi đối thủ chính của tổng thống mãn nhiệm Joseph Kabila, 40 tuổi.

Sau cuộc kiểm phiếu ngày 9 tháng 12 năm 2011, Tòa thượng thẩm đã xác nhận là ông Kabila được 49% tổng số phiếu, trong khi ông Tshisekedi được 32%. Ông Tshisekedi đã phản đối tố cáo các gian lận, và yêu cầu hủy bỏ kết qủa của cuộc đầu phiếu. Trước sự khước từ của Tòa thượng thẩm, ông tự tuyên bố mình là tổng thống tân cử. Các dụng độ kéo dài nhiều tuần sau đó giữa hai phe đã khiến cho hàng chục người chết, hàng trăm người bị thương và khiến cho bầu khí xã hội vô cùng hỗn loạn. Sự kiện cuộc bỏ phiếu đã có nhiều điều không bình thường cũng đã được các quan sát viên quốc gia và quốc tế xác nhận, trong đó có các quan sát viên của tổ chức Carter và Liên Hiệp âu châu. Đức Hồng Y Laurent Monsengwo Pasinya, Tổng Giám Mục Kinshasa, cũng không tin vào sự trong sáng và liêm chính của cuộc bầu cử. Ngài tuyên bố với giới báo chí rằng: ”sau các phân tích kết qủa cuộc bầu cử do Ủy ban bầu cử quốc gia độc lập công bố ngày mùng 9 tháng 12 vừa qua, chúng ta có thể thực sự kết luận rằng các kết qủa đó không phù hợp với sự thật và công lý”. Chính trong bối cảnh này mà sau phiên họp khoáng nhóm tại Kinshasa trong các ngày 9-12 tháng giêng vừa qua, Hội Đồng Giám Mục Congo đã công bố thư mục vụ nghiêm khắc phê bình hiện tình đất nước.
Cộng Hòa dân chủ Congo rộng hơn 2 triệu 345 cây số vuông, có 72 triệu dân, 45% theo Công Giáo, 35% theo Tin Lành và 20% theo đạo thờ vật linh. Trên bình diện chủng tộc đa số dân Congo thuộc chủng tộc Bantu, gồm 300 bộ lạc khác nhau, trong đó có các bộ lạc chính như Teke, Twa, Hutu, Ngbandi, Mongo và Luba. Từ sau khi được độc lập năm 1960, Congo Zair đã trải qua 2 cuộc nội chiến giữa các năm 1996-1997, 1998-2003. Cuộc nội chiến thứ nhất kết thúc với việc lật đổ chế độ độc tài của tổng thống Mobutu Sese Seko; cuộc nội chiến thứ hai dưới thời tổng thống Laurent Desiré Kabila và Joseph Kabila, khiến cho 4 triệu người thiệt mạng. Là quốc gia có rất nhiều tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là các quặng mỏ, kể cả Uranium, vàng và bạc, đặc biệt trong vùng Kivu, Cộng hòa dân chủ Congo có khả thể trở thành một nước hùng mạnh. Nhưng rất tiếc cho tới nay các tài nguyên ấy đã không được sử dụng một cách đúng đắn để thăng tiến cuộc sống của người dân, mà chỉ làm giầu cho thiểu số lãnh đạo và các tổ chức siêu quốc.

Mở đầu thư mục vụ, các Giám Mục Congo xin Chúa chúc lành và ban hòa bình cho dân nước Congo nhân dịp đầu năm mới 2012 này. Trong phiên họp các Giám Mục đã phân tich bản tường trình quan sát bầu cử của ủy ban giám mục và từ đó rút tỉa ra các bài học cho tín hữu và nhân dân toàn nước. Các vị ca ngợi quyết tâm của người dân đã tích cực tham gia cuộc bầu cử tổng thống ngày 28 tháng 11 năm ngoái 2011, thường khi trong các điều kiện khó khăn. Nó là bằng chứng cho thấy sự trưởng thành và ý thức dân sự của người dân. Các vị cũng chúc mừng chính quyền trong cố gắng tài trợ phần lớn các cuộc bầu cử. Điều này cho thấy chúng ta có thể thành công khi đầu tư các phương tiên và thiện chí. Các Giám Mục cũng ghi nhận công khó của Ủy ban tổ chức bầu cử, phải đương đầu với nhiều thách đố của các cơ cấu hạ tầng truyền thông thiếu thốn, cũng như sự hy sinh của các quan sát viên bầu cử.

Tuy nhiên, không thể bỏ qua các thực tại tiêu cực đè nặng trên xã hội Congo. Trong sứ điệp công bố ngày 25-2-2011 tựa đề ”Năm bầu cử: chúng ta phải làm gì?”, các Giám Mục đã cầu mong các cuộc đầu phiếu diễn ra trong sự trong sáng, sự thật và hòa bình, để cho đất nước Congo được kể vào số các quốc gia đáng kính phục. Trong lời kêu gọi ngày 3-12-2011 các Giám Mục cũng mời gọi toàn dân và các giới chức chính trị tôn trọng sự thật. Và trong thông cáo ngày 8-12-2011 các Giám Mục Congo đã ghi nhận các bất thường và sai lầm của tiến trình bầu cử. Lời Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Kinshasa tố cáo việc không phù hợp với sự thật và sự bất công của các kết qủa bầu cử cũng nằm trong cùng luận lý ấy của Hội Đồng Giám Mục. Hôm nay bản tường trình đúc kết của Ủy ban quan sát bầu cử của Hội Đồng Giám Mục, các chứng từ thu thập đươc trong các giáo phận và nhiều nguồn tin khác, cho thấy tại nhiều nơi cuộc bầu cử đã diễn ra trong bầu khí hỗn loạn. Có nhiều sai sót và các vụ lừa đảo được sắp đếp trước, nhiều đụng độ gây thiệt mạng cho cử tri, các lộn xộn, và tại một vài nơi bầu khí kinh hoàng được duy trì và khai thác để nhồi cho đầy các thùng phiếu. Những gì xảy ra trong việc thu thập các kết qủa bầu cử không thể chấp nhận được. Thật là một nỗi xấu hổ cho đất nước chúng ta. Dựa trên những sự kiện trên đây, chúng tôi đoán rằng tiến trình bầu cử đã bị vấy bẩn bới các bất bình thường nghiêm trọng, khiến đặt vấn nạn liên quan tới các kết qủa đã công bố. Chúng tôi yêu cầu các người tổ chức có can đảm và liêm chính đưa ra các kết luận cần phải có. Nhưng nếu người ta liều lĩnh tiếp tục cai tri đất nước này bởi sự thách thức, các căng thẳng bên trong ít nhiều đè nén được trong thời gian ngắn, thì sớm muộn gì chúng cũng sẽ đạt tột định với một cuộc khơủng hoảng trầm trọng và khó mà tháo gỡ nổi.Trong một cố gắng bao quát, cần phải lựa chọn con đường đối thoại vì ích lợi lớn hơn của đất nước Congo. Đây là giờ của sự can đảm của chân lý.

Tiếp tục thư mục vụ các Giám Mục Congo nhắc lại sứ mệnh của mình là những người canh gác dân Chúa (Ed 3,17). Từ tiến trình bầu cử này các vị nhân ra nhiều thách đố đối với tương lai của một chính thể pháp quyền và hạnh phúc của người dân. Các vị không đứng ra tranh đấu chính trị để xây dựng một xã hội công bằng hơn, cũng không bênh vực một đảng phải chính trị nào. ”Bởi vì, như Đức Thánh Cha Biển Đức XVI khẳng định, Giáo Hội không thể và không phải thay thế Nhà nước, nhưng cũng không thể và không được đứng ngoài trân chiến cho công lý”. Chính vì thế trong nhiệm vụ ngôn sứ của mình Giáo Hội hiện diện tại những nơi nhân loại đang đau khổ, và là tiếng vang lời kêu than thinh lặng của các người vô tội bị bách hại, hay của các dân tộc có các chính quyền cầm thế hiện tại và tương lai đất nước nhân danh các lợi lộc cá nhân. ”Để được như thế, các Giám Mục Congo viết, chúng tôi sẽ không mệt mỏi tố cáo tất cả những gì gây nguy hiểm cho việc xây dựng một quốc gia dân chủ. Không thể xây dựng một quốc gia pháp quyền trong một nền văn hóa lừa đảo, dối trá và kinh hoàng, sử dụng quân sự và ngang nhiên vi phạm quyền tự do phát biểu được. Nếu dân chủ là một quyền của nhân dân, do dân và vì dân, thì phải tôn trọng nhân dân. Trong hối cảnh hiện nay nhân dân bị bầm dập và tước đoạt, bất lực chứng kiến một tiến trình không luôn luôn phản ánh ý muốn của mình, và tại nhiều nơi nó giống như là một sự giàn xếp giữa vài diễn viên chính trị với nhau.

Giáo Hội có sứ mệnh phục vụ sự thật. Tiến trình bầu cử phải cho phép củng cố nền văn hóa dân chủ và bình định đất nước. Chúng tôi muốn hòa bình. Nhưng hòa bình có các đòi buộc không thể vi phạm được, nhất là sự thật, công lý và tôn trọng người dân. Chính nhân danh hòa bình mà Giáo Hội Congo không ngừng mời gọi giới lãnh đạo thực thi công lý và yêu mến sự thật. Giới trẻ của chúng ta sẽ tràn đầy các giá trị nào, nếu suốt ngày họ chỉ được cống hiến các điều ngược lại?

Tiếp tục thư mục vụ các Giám Mục Congo mạnh mẽ lên án chiến dịch mạ lị xúc phạm tới Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Kinshasa, cũng như các lời chửi bới và đe dọa Đức Cha chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Congo, các đe dọa thể lý, các vi phạm nhân quyèn, các vụ bắt cóc, các vụ tịch thu phương tiện truyền thông. Các Giám Mục Congo kêu gọi tín hữu công giáo và nhân dân toàn nước bất bạo động, vì bạo động kêu mời bạo động, gây ra cảnh tàn phá và bần cùng. Các vị xin toàn dân Congo không nhượng bộ sự bi quan, thất vọng, hay bạo lực, tính duy bộ tộc và bài người nước ngoài, nhưng hiệp nhất chung quanh các giá trị kitô và dân chủ, công lý và sự thật, trưởng thành trong ý thức hiệp nhất quốc gia và quyền tối thượng của nó để thực thi quyền đó trong tất cả sự tỉnh thức và sự hợp pháp. Các vị yêu cầu các giới chức chính trị làm chứng cho sự trưởng thành chính trị, có khả năng tổ chức và hoàn toàn lãnh nhận trách nhiệm của mình, chấm dứt các lăng mạ và dối trá, lo cho công ích, lo cho nền giáo dục dân sự và hạnh phúc của người dân.
Các Giám Mục Congo cũng yêu cầu Ủy ban bầu cử có can đảm sửa chữa các lầm lẫn nghiêm trọng, làm sao để tái chiếm sự tin tưởng của nhân dân, nếu không thì phải từ chức.

Riêng đối với Quốc hội, các vị yêu cầu cấp tốc duyệt xét lại các thành phần của Ủy ban bầu cử, không còn được nhân dân tín nhệm nữa, và chỉ định các đại diện mới thuộc xã hội dân sự để được đôc lập hơn, và phải nhớ rằng nhân dân sẽ không chấp nhận việc thay đổi các điểu khoản của Hiến Pháp.
Còn đối với chính quyền các Giám Mục Congo yêu cầu rút tỉa ra các bài học của cuộc bầu cử thất bại này, và dự trù cách thức cho các cuộc bầu cử trong tương lai và thực hiện kịp thời để chúng được tiến triển tốt đẹp, chám dứt việc dùng của công cho các lợi lộc cá nhân, và ý thức rằng người dân muốn có các thay đổi.

Các Giám Mục cũng yêu cầu lực lượng cảnh sát quốc gia và quân đội che chở dân chúng và đừng tuân hành các mệnh lệnh bất công. Tòa Thượng Thẩm cần phải hoàn toàn khách quan và độc lập trong việc phán xứ các tranh luận bầu cử. Sau cùng các vị xin cộng đồng quốc tế ưu tiên bênh vực quyền lợi của nhân dân Congo, và ủng hộ họ trong nỗ lực kiếm tìm công lý, hòa bình và tôn trọng sự tự quyết của họ.

Kết luận thư mục vụ các Giám Mục Congo khẳng định đất nước đang trải qua một giai doạn bất ổn và âu lo. Nhưng niềm tin nơi Thiên Chúa và sự tin tưởng nơi con người, được tạo dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa, có thể giúp thắng vượt chúng, qua việc thay đổi con tim, tâm thức và các thực hành. Cần phải có tình yêu đối với quê hương, ý chí khước từ các lợi lộc ích kỷ, để biết đối thoại và tìm ra các con đường giúp xây dựng hòa bình tại Cộng Hòa Dân Chủ Congo. Nhưng nền hòa bình, mà chúng ta muốn, là nền hòa bình bắt nguồn từ công lý và lòng yêu mến sự thật. Vì hòa bình không công lý chỉ là ảo tưởng và mau tàn phai… Chính tình yêu và sự can đảm của chân lý vạch ra con đường của công lý và hòa bình đích thật, mà các Giám Mục muốn cho dân nước Congo được hưởng. Các vị xin Đức Trinh Nữ Maria rất thánh, Nữ Vương hòa bình và là Đức Bà dân nước Congo, củng cố mọi sáng kiến hòa giải đối thoại, và xác nhận mọi cố gắng trợ giúp nước Congo đang đói khát công lý và hòa bình.

Linh Tiến Khải
Nguồn: Vietvatican.net

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Cuộc đối thoại giữa Người và Phật về chuyện ngoại tình! Ðêm khuya, trong một ngôi đền, một Người một Phật, Phật ngồi Người đứng...

Người : Thưa Ðức Phật thánh minh, con là một người đã có vợ, con hiện đang yêu say đắm 1 người đàn bà khác, con thật không biết nên làm thế nào.

Phật : Con có thể xác định người đàn bà con đang yêu hiện nay là người đàn bà cuối cùng duy nhất trong cuộc đời con không?

Người : Thưa vâng.

Phật : Con ly hôn, sau đó lấy cô ấy.

Người : Nhưng vợ con hiện nay dịu dàng , lương thiện, thảo hiền. Con bỏ cô ấy liệu có phần tàn nhẫn không, có mất đạo đức không, thưa Ðức Phật?

Phật : Trong hôn nhân không có tình yêu mới là tàn nhẫn và mất đạo đức.Con hiện giờ đã yêu người khác, không yêu vợ nữa.Con làm như thế là đúng.

Người : Nhưng vợ con rất yêu con, quả thật yêu con lắm ,thưa Ðức Phật.

Phật : Vậy thì vợ con hạnh phúc.

Người : Sau khi con chia tay vợ lấy người khác,vợ con sẽ rất đau khổ, tại sao lại hạnh phúc, thưa Ðức Phật?

Phật : Trong hôn nhân, vợ con vẫn có tình yêu đối với con, còn con đã mất đi tình yêu đối với vợ con, bởi vì con đã yêu người khác, chính vì có hạnh phúc, mất đi mới đau khổ, cho nên người đau khổ là con.

Người : Nhưng con cắt đứt vợ, sau đó cưới nguời khác, vậy là cô ấy đã mất con, cô ấy mới là người đau khổ.

Phật : Con nhầm rồi, con chỉ là người vợ con yêu thật sự trong hôn nhân.Khi một người như con không tồn tại, thì tình yêu thực sự của vợ con sẽ tiếp nối sang một người khác, bởi vì tình yêu thực sự của vợ con trong hôn nhân xưa nay chưa từng mất, cho nên vợ con mới hạnh phúc, con mới là người đau khổ.

Người : Vợ con đã từng nói, kiếp này chỉ yêu một mình con, cô ấy sẽ không yêu ai khác.

Phật : Con cũng đã từng nói thế phải không?

Người : Con...con...con...

Phật : Bây giờ con nhìn 3 ngọn nến trong lư hương trước mặt, xem ngọn nào sáng nhất?

Người : Quả thật con không biết, hình như đều sáng như nhau.

Phật : Ba ngọn nến ví như ba người đàn bà, một ngọn trong đó là người đàn bà hiện giờ con đang yêu. Ðông đảo chúng sinh, đàn bà đâu chỉ là mười triệu trăm triệu...Ngay đến một trong ba ngọn nến, ngọn nào sáng nhất con cũng không biết, cũng không tìm được người con hiện đang yêu, thì làm sao con xác định được người đàn bà con đang yêu hiện nay là người đàn bà cuối cùng và duy nhất trong cuộc đời con?

Người : Con...con...con...

Phật : Bây giờ con cầm một cây nến đặt ở trước mắt, để tâm nhìn xem ngọn nào sáng nhất?

Người : Ðương nhiên ngọn trước mắt này sáng nhất.

Phật : Bây giờ con đặt nó về chỗ cũ, lại xem xem ngọn nào sáng nhất.

Người : Quả thật con vẫn không nhìn ra ngọn nến nào sáng nhất.

Phật : Thật ra cây nến con vừa cầm giống như người đàn bà cuối cùng con đang yêu hiện nay, tình yêu nảy sinh từ trái tim, khi con cảm thấy yêu nó, để tâm ngắm nghía, con sẽ thấy nó sáng nhất, khi con để nó về chỗ cũ, con lại không tìm được một chút cảm giác sáng nhất. Thứ gọi là tình yêu cuối cùng và duy nhất của con chỉ là hoa trong gương trăng dưới nước, suy cho cùng chỉ là con số không, một cuộc tình trống rỗng.

Người : Ồ, con hiểu rồi, không phải Ðức Phật bảo con phải ly hôn với vợ, Ðức Phật đang niệm chú làm cho con ngộ đạo.

Phật : Nhìn thấu sẽ không nói trắng ra, con đi đi!

Người : Bây giờ con đã biết thật sự con yêu ai, người đó chính là vợ con hiện nay , thưa Ðức Phật.

Phật : A di đà phật...

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Ngụy

Tiểu Tử

Trong ngôn ngữ thông thường miền Nam Việt Nam trước tháng tư 1975, tiếng "ngụy" nghĩa là "giả" ít thấy có ai dùng tới.
Cái gì không phải thứ thiệt, không phải thứ "chánh cống", không phải thứ "có cầu chứng tại tòa"... là người ta gọi hoạch tẹt là "đồ giả", chớ không ai gọi là "đồ ngụy" hết. Ví dụ như rượu giả, thuốc giả, vú giả, bạc giả, v.v.
Bởi vì từ ngữ hồi đó rất... thật!
Sau tháng Tư 1975, tiếng "ngụy" đã theo gót... dép râu (Xin lỗi! Chỗ này văn chương nghe chỏi lỗ tai một chút, nhưng rất... tả chân. Không thể viết "theo gót giầy" như xưa nay thường viết, vì đối tượng ở đây toàn mang dép râu cả!) quân nón cối và quân mũ tai bèo vào Nam làm cách mạng...
Sau biến cố, toàn dân miền Nam đều phải đi "học tập" ba hôm. Chính trong ba hôm đó người ta mới nghe lần đầu tiên tiếng "ngụy". Và nghe... đầy lỗ tai!
Vậy là đầu hôm sớm mai, tiếng "ngụy" được nhét vào ngôn ngữ miền Nam một cách "ngang xương", không cần phổ thông đầu phiếu! Mới đầu nghe lạ hoắc, không hiểu ý nghĩa sâu đậm của nó. Cũng chẳng có ai giải thích. Mà ví dụ có ai to gan lớn mật đặt câu hỏi thì cán bộ cũng chỉ giải thích... ngang như cua thôi!
Thành ra nhân dân miền Nam hiểu tiếng "ngụy" một cách rất... tự do, và sử dụng tiếng "ngụy" rất... rộng rãi (Được "giải phóng", có khác!). Thôi thì cái gì của miền Nam cũng đều biến thành "ngụy" ráo. Để phân biệt với "cách mạng"!.. Thằng ngụy, vợ ngụy, con ngụy, lính ngụy, chánh quyền ngụy, cơ sở ngụy, xí nghiệp ngụy, công nhân ngụy, "hàm-bà-lằng" ngụy... Và người ta nghĩ một cách rất đơn giản, rất thật thà: "Hễ thấy không có đóng con dấu ngôi sao đỏ thì cứ xếp vào đồ ngụy, là ăn chắc!".
Thật ra, khi dán cái nhãn "ngụy" lên miền Nam, "Đảng và Nhà Nước" muốn nhân dân "chủ yếu là nhân dân miền Bắc" hiểu theo định nghĩa "ngụy" là giả, "giả nhân giả nghĩa, giả đạo đức, giả yêu nước thương dân, "ngụy" là đoạt của người ta mà nói là của mình, là bịp, là láo, là phiến loạn...
Về sau, khi nhân dân cả hai miền đều... mở mắt, tiếng "ngụy" ít thấy dùng tới. Nhưng bây giờ thì mọi người đều nhận ra ai mới đúng là ngụy. Lớp ngụy trang bị rơi xuống, những ngụy ngôn bị vạch trần, thì chân tướng ngụy lòi ra rõ rệt, đến người mù cũng phải thấy!
Viết dài dòng để... "đả thông tư tưởng" trước khi vào chuyện.
Ông H là thiếu tá quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Ông làm việc ở Tổng Tham Mưu.
Ông thuộc gia đình trung lưu. Hồi 1945, cha và anh của ông đi kháng chiến rồi đi luôn ra Bắc. Từ đó, không được tin tức gì hết.
Mẹ của ông là giáo viên tiểu học, xem việc dạy dỗ trẻ con là một thiên chức. Bà thường nhắc về người cha và người anh vắng mặt, nhứt là người anh với những kỷ niệm đẹp của thời mà hai anh em còn ở chung với nhau: "Anh Hai của con thương con lắm. Đi học về là cởi trần rồi cõng con chạy cà bồng cà bồng quanh sân vừa chạy vừa hí rân như ngựa làm cho con cười hắc hắc. Mà con thì hay nhõng nhẽo với anh Hai con, đi đâu cũng bắt nó cõng hết. Còn khi nào con đòi cái gì không được, con hay vừa khóc vừa la để ba tưởng là anh Hai chọc con, ba rầy ảnh! Tội nghiệp! Những lúc thấy con sắp sửa làm trận như vậy, anh Hai con thường đưa đầu biểu con đánh nó đi chớ đừng khóc la, sợ ba rầy!". Rồi bà kết luận: "Tánh tình nó tốt lắm!".
Ông lớn lên trong vòng tay người mẹ, được giáo dục bằng tình thương, xem gia đình là căn bản, lấy đạo đức làm phương châm. Và ông giữ mãi trong lòng sự mến mộ "người anh Hai lúc nào cũng làm vui lòng em, lo lắng cho em, bảo vệ em".
Mãi đến năm 1973, mới được tin qua một người bà con rằng cha mất đã lâu và người anh bây giờ là tướng của "ngoài đó". Thật là bàng hoàng. Mẹ ông khóc hết nước mắt. Thời gian sau, bà nói: "Mẹ chỉ mong cho mau hết giặc, để anh em con về sống bên mẹ yên vui như ngày xưa. Chừng đó, mẹ mãn nguyện để theo ông theo bà...".
Mẹ ông qua đời vào giữa năm 1974, chưa kịp thấy cảnh "hết giặc" ra làm sao và chưa kịp gặp đứa con làm tướng...
Mấy hôm sau ngày 30 tháng tư 1975, ông tướng nhờ người bà con đưa lại nhà ông H. Xa cách đã ba mươi năm, nhưng hai anh em vẫn nhìn ra được nhau. Bởi vì họ giống nhau như đúc. Sau mấy giây ngỡ ngàng, họ xà vào ôm lấy nhau siết chặt. Cả hai đều không cầm được nước mắt. Bà H và bốn đứa con "ba trai một gái, đã lớn hết, hai đứa đại học và hai đứa trung học cấp hai" đứng nhìn cảnh hai anh em ôm nhau, cũng bồi hồi xúc động...
Sau đó là bữa cơm gia đình để hai anh em kể cho nhau nghe những biến thiên của đời mình, của thời cuộc. Tiếp theo là ông tướng mang hành trang lại ở với gia đình ông H, để có anh có em.
Ông bà H có hai cái nhà. Cái mà ông bà đang ở với hai con học trung học, là loại vi-la lầu có sân lót gạch và vườn cây kiểng hồ cá trang trí theo kiểu Nhựt. Nhà này do ông bà tự cất lấy hồi thời các con còn nhỏ. Về sau, ông được thuyên chuyển ra miền Trung một thời gian. Ông đem hết gia đình ra ngoài đó, để nhà cho Mỹ mướn. Nhờ vậy, mấy năm sau, ông mua thêm một căn phố nhỏ cho hai đứa con trai lớn ở, khi chúng nó vừa vào đại học.
Sau khi đi xem nhà, ông anh bảo:
- To thế thì ở làm gì cho hết? (Bây giờ ông anh nói pha giọng Bắc rất nhiều). Nguyên cái buồng ngủ thôi cũng chứa cả môt hộ bốn năm người đấy!
Hôm sau, ông H được người anh khuyên:
- Chú làm cái vườn như thế này là phí đất. Đào lên đi để trồng trọt khoai bắp cho các cháu có mà ăn. Phải biết tăng gia chứ!
Mới đầu, ông hơi phật ý. Nhưng, khi nhìn sang hàng xóm thấy nhà nào cũng đào cũng xới kể cả dải đất hẹp té nằm dọc theo chân tường rào phía ngoài đường, ông nghĩ: "Mình cũng phải làm như thiên hạ, cho yên thân".
Vậy là cha con ông hè hụi đập nạy cạy khượi, gạch, bê-tông, hồ cá... cho lòi đất rồi trỉa đậu trồng mì! Khu vườn Nhụt Bổn mà ông Bà H đã tự tay xây đắp, bây giờ tan hoang lồi lõm giống như bãi đổ... xà bần. Nhà ông H bây giờ mới thật sự mang nét cách mạng!
Ông anh "tên R" làm việc ở đâu, hỏi không bao giờ nói. Chỉ thấy mỗi sáng có xe của cơ quan đến rước, chiều đưa về. Ông H, sau khi khai lý lịch ở tòa đô chánh, tối ngày ngồi nghe tin tức qua ra-đi-ô. Bà H không dám nấu nướng trong bếp bằng lò ga. Bà sợ làm như vậy nó... ngụy quá đi, nên bà dựng ở hàng ba mấy cục gạch rồi nấu bằng than củi bằng lá khô... Bà kê cạnh đó một cái bàn thấp để chén đũa mắm muối, còn nồi niêu dao thớt thì cứ bỏ nằm lỏng chỏng dưới đất bên cái thau nhôm lớn đựng nước để dùng cho việc nấu nướng rửa ráy. Nước lấy từ ống cao su trước đây dùng tưới vườn. Nước dơ thì cứ tạt... cha nó ra sân. Bà H ngồi chồm hổm làm bếp, chổng khu thổi lửa khói bay um tùm làm đôi khi bà nhớ thời thơ ấu – bốn mươi mấy năm về trước – hồi ở dưới quê với bà ngoại, bà hay nhìn bà ngoại nấu cơm như bà làm bây giờ. Chỉ khác là hồi đó chưa có cách mạng! Ông anh có vẻ hài lòng về tác phong của bà H, nên khen: "Cô thật là sớm giác ngộ!".
Một hôm, đài phát thanh gọi các sĩ quan ngụy đi trình diện học tập. Và nói rõ: "Đem theo tiền ăn cho một tháng". Ông H lo lắng, hỏi ý kiến ông anh thì được trả lời:
- Chú cứ yên tâm đi học tập. Anh bảo đảm không sao hết.
Vậy là ông H hun vợ con, xách ba-lô lên đường, còn dặn:
- Ở nhà có bác Hai. Mẹ con bây cần gì thì nhờ bác, nghen.
Một tháng sau, không thấy ông về, bà H hỏi ông anh thì được trấn an một cách rất bình thản:
- Cô yên tâm. Vài hôm là về thôi!
Cứ thế, vài hôm rồi vài hôm... dài dài... Bà H nóng lòng, chạy đi gặp mấy bà bạn cũng là vợ sĩ quan, mới hay rằng có thể chồng đã bị chở đi luôn ra ngoài Bắc. Bà lau nước mắt, về quây quần với mấy con, ngồi đợi ông anh. Gặp ông, bà mếu máo:
- Họ chở nhà tôi đi mất rồi...
- Đi đâu mà mất? Còn tập trung cải tạo ở trong Nam chứ phải biệt xứ đâu mà mất? Đi học tập chứ đi tù đâu mà cô sợ.
- Nghe đồn trong trại khổ lắm. Nhờ anh can thiệp cho nhà tôi về. Dù gì anh cũng là tướng và cha đã hy sinh vì cách mạng.
- Cách mạng không phải như ngụy đâu cô! Không có chuyện móc ngoặc bè phái. Không có chuyện tư vị nể nang. Luôn luôn xử sự có tình có lý. Chú ấy cứ học tập tốt là về ngay thôi! Nói thế chứ... để tôi xem có làm gì được không.
Một hôm, ông anh họp các con ông H lại, khuyên:
- Ba các cháu là ngụy. Cách mạng khoan hồng gởi đi học tập cải tạo. Ba các cháu có sớm được trả về hay không là còn tùy thuộc ở thái độ học tập của ba các cháu. Và cũng tùy thuộc ở trình độ giác ngộ cách mạng của má các cháu và các cháu nữa.
- Vậy, mình phải làm sao?
- Dễ thôi! Bác sẽ giới thiệu các cháu vào đội thanh niên xung phong, nếu các cháu muốn giúp ba các cháu.
- Vô đó để làm cái gì, thưa bác?
- Để phục vụ nhân dân theo khả năng của mình. Nếu các cháu có tinh thần phục vụ cao, Nhà Nước sẽ cho điểm tốt trong việc cứu xét trường hợp của ba các cháu.
Sau một lúc bàn tính, cả bọn bốn đứa đều đồng ý... xung phong.
Bốn đứa được thâu nhận nhưng không cùng ở chung một đơn vị. Phân tán chúng nó ra, cô lập từng đứa một, để dễ theo dõi kiểm soát, tránh mầm móng phản loạn... Nhà Nước đi một nước cờ thật cao!
Chúng nó được đưa đi đào đất đắp nền ở các vùng kinh tế mới hay đi đào kinh làm thủy lợi. Lâu lâu mới về thăm nhà một vài hôm. Nhưng không bao giờ cùng về một lúc. Và đứa nào về cũng xác xơ hốc hác, tay chân ghẻ lở giống như bị đi đày! Đứa con gái trước đây học năm thứ bảy dương cầm ở quốc gia âm nhạc, bây giờ tay cứng còng, không đánh nổi một bài tầm thường của hồi đó. Bà H nhìn các con mà đứt ruột. Cho nên mỗi lần đứa nào về, bà cũng chạy lo thuốc men và nấu nướng cho ăn uống tẩm bổ. Chỉ có ông anh là hài lòng và cho rằng đó là thành quả tốt đẹp của lao động!
Một hôm, ông anh bảo người em dâu:
- Bây giờ các cháu đã có Nhà Nước lo. Cô giữ làm gì đến hai cái nhà? Đây là lúc mà cô phải chứng tỏ trình độ giác ngộ cách mạng của mình bằng cách hiến cái nhà này cho Nhà Nước để làm cơ quan phục vụ nhân dân. Như vậy, chú ấy có cơ được về sớm.
Sau vài phút suy nghĩ, bà H chỉ bằng lòng cho Nhà Nước mượn thôi.
- Ừ! Thì cho mượn cũng được, tôi nghĩ thế. Để tôi liên hệ với các đồng chí ấy xem sao.
Vậy là tuần lễ sau, bà dọn về căn phố nhỏ ở cách đó độ mười lăm phút xe đạp, nhưng thuộc về một quận khác. Sự chuyển hộ (nghĩa là dời chỗ ở, địa chỉ) không gặp khó khăn, nhờ ông anh cách mạng (Trong thời này, muốn chuyển hộ phải làm đơn xin phép nơi mình sắp dọn đến. Phải "có lý do chánh đáng" và điều này phải được chứng nhận bởi chánh quyền nơi mình đang ở!
Khi đã được chấp thuận (có ký tên đóng dấu) đương sự phải vác đơn đó về trình cho chánh quyền nơi đang ở để... xin phép được di chuyển. Khi được chấp thuận - ký tên đóng dấu- mình mới được quyền dọn đi!
Rắc rối như vậy nên lúc nào cũng có một sự giải thích rất "có trình độ": "Đằng kia có cho anh vô thì ở đây tôi mới cho anh ra. Chớ tôi cho anh ra mà đằng kia không cho anh vô thì anh... đi đâu?".
Rõ như vậy, nhưng nhiều khi vác đơn đến "đằng kia" trước, thì bị từ chối và dĩ nhiên được giải thích cũng rất "có trình độ" không kém: "Anh phải xin phép nơi anh đang ở trước rồi mới đến đây sau. Anh có được cho đi thì tôi mới nhận cho anh đến. Chớ bảo tôi nhận cho anh đến, trong lúc anh chưa được cho đi thì làm sao được? Phải có đi rồi mới có đến chớ! Dễ hiểu thôi!".
Cứ lẩn quẩn loanh quanh như vậy nên việc chuyển hộ thật là khó khăn.
Trong trường hợp chuyển từ tỉnh sang tỉnh hay từ vùng sang vùng thì khỏi nói, thật là "trần ai gian khổ"!).
Ông tướng có "động viên" một số đồng chí trẻ trong cơ quan đến phụ dọn nhà cho bà H. Và có cho mượn một chiếc xe cam-nhông-nét (cũng của cơ quan) nên việc dọn nhà cũng nhanh. Sau đó, ông anh cho bà ký tên tờ ủy quyền để ông anh thay mặt bà quản lý cái nhà lớn mà ông đang ở. Bởi vì bây giờ, bà đã chuyển hộ thì mặc nhiên ông anh trở thành chủ hộ ở ngôi nhà đó, mà muốn sử dụng cái nhà thì phải có sự ủy quyền của chủ nhà.
Mười lăm ngày sau, bà H được biết là nguyên cả tầng trệt nhà của bà đã trở thành "tổ gạo", còn ông anh thì vẫn ở một mình trên lầu. Nghe nói bà tướng có vào thăm chồng một lần, ở độ mười lăm hôm rồi trở về Hà Nội. Không hiểu sao ông tướng không có đưa bà vợ lại thăm cô em dâu. Cách mạng có khác!
Bẵng đi một thời gian dài gần cả năm, một hôm ông anh ghé nhà thăm bà H để báo tin đã tìm ra trại cải tạo của người em ở ngoài Bắc và chỉ vẽ cho bà cách thức xin đi thăm nuôi, đường đi nước bước, xe cộ vv... và nhứt là những thứ cần thiết như lương khô quần áo. Nghe như vậy, bà H đã đoán ra phần nào đời sống của chồng ở ngoài đó, nên bà rớt nước mắt hỏi:
- Sao trước đây anh không nói rõ để tôi lo cho nhà tôi có đầy đủ phải hơn không?
- Chuyện Nhà Nước, đâu nói ra được. Cô phải hiểu như thế chứ!
- Cái gì cũng che đậy. Cái gì cũng giấu diếm. Nhưng lần hồi thiên hạ đều biết hết. Bộ anh tưởng thiên hạ đui sao?
Đến đây bỗng nghe tiếng bà hàng xóm la lớn: "Đi đâu đó nữa? Mấy bữa nay tao nói mầy kê lại dùm mấy ông Táo kẻo mấy ổng sụm xuống thì không còn khỉ gì để nấu nướng... mà mầy cứ ăn rồi là xách đít đi hà!".
Giọng người con trai: "Bộ má tưởng con đi chơi hả?".
Giọng bà hàng xóm: "Chớ đi đâu mà ngày nào cũng đi, mầy nói tao nghe coi!". Giọng người con, có vẻ hảnh diện, nói rời ra từng tiếng: "Con-đi-phục-vụ-nhân-dân!".
Giọng bà hàng xóm, tức tối: "Phục vụ nhân dân! Phục vụ nhân dân! Con gái mẹ mầy cũng là nhân dân đây nè! Mầy phục vụ cho nó đi! Kẻo không chổi chà nó đơm lên đầu bây giờ!".
Ngừng một lúc, lại nói: "Cha... Lúc này nói giọng cách mạng quá há! Phải mà! Con mẹ buôn gánh bán bưng này hăm mấy năm nay nó kềm kẹp mầy quá mà! Nó nhét cho mầy ăn để mầy lớn! Nó ép mầy học để mầy khôn! Nó ác ôn quá phải hông? Nó ngụy quá phải hông? Nó giả nhơn giả nghĩa quá phải hông?"
Nghe đến đây, ông tướng nhăn mặt:
- Ăn với nói! Rõ là không có trình độ!
Rồi ông đứng lên:
- Tôi phải vào cơ quan. Bao giờ cô được phép đi thăm nuôi, gặp chú ấy nhớ bảo tôi nhắn chú ấy luôn vững tin vào sự sáng suốt của Đảng và Nhà Nước. Ta khác ngụy ở chỗ xử sự có tình có lý và lúc nào cũng khoan hồng đối với những người biết quay về với nhân dân.
Bà H làm thinh, nhưng nhìn người anh chồng chỉ có nửa con mắt!
Lúc đó, nghe tiếng thằng con trai nhà hàng xóm: "Rồi đó! Con kê lại mấy ông Táo rồi đó!". Giọng bà mẹ, vẫn còn hậm hực: "Dữ hôn! Có bao nhiêu đó mà cũng phải đợi tao nhắc năm lần bảy lượt! Thôi! Mầy đi phục vụ nhân dân của mầy, đi. Chiều, vác mỏ về, con mẹ ngụy này nó nấu cơm cho mà ăn".
Từ ngày dọn về đây, bà H đi làm ở tổ hợp may thêu gần đó. Cũng phải đi làm như thiên hạ để đừng bị để ý theo dõi, chớ thật ra bà chưa đến nỗi túng thiếu nhờ đã cất giữ nữ trang trong nhà thay vì gởi ở ngân hàng. Bây giờ, lâu lâu bà bán một vài chỉ...
Bà hàng xóm (tên là bà Năm) có cái sạp cháo lòng ở đầu ngõ. Sáng nào, bà cũng đi bộ theo thằng con trai đạp xe ba bánh chở thùng tô dĩa muỗng đũa, thùng lòng dồi gia vị, nồi cháo lớn bằng nhôm, lò dầu hôi và mấy can nhựa đựng nước rửa chén... ra cây trứng cá nằm trên lề đường Phan Đăng Lưu (tức là đường Chi Lăng hồi trước).
Ở đây, có cái sạp gỗ dựng đứng và bốn năm cái ghế gỗ nhỏ được... xiềng vào gốc cây trứng cá. Hai mẹ con mở ống khóa, hạ cái sạp rồi kê ngay ngắn dưới tàn cây. Xong, thằng con về nhà lấy xe đạp, đạp đi "phục vụ nhân dân" cho tới tối. Thành ra, đến trưa khi bán hết nồi cháo - bà chỉ bán có buổi sáng - bà thâu xếp dọn dẹp một mình ên, rồi đẩy xe ba bánh chở đồ nghề về nhà (Bà không đạp vì không biết đi xe đạp!).
Cứ vài bữa, bà lại mang biếu bà H một tô cháo lòng. Bà biết bà H là vợ thiếu tá quốc gia và chồng đi học tập nên bà hay tới lui thăm viếng để an ủi. Bà H thật cảm động. Có hôm bà nhắc chừng:
- Bà Năm cẩn thận. Có thể tụi nó theo dõi.
- Ối... Cái lũ cô hồn đó tôi đâu có sợ, cô Hai. Hồi tụi nó mới vô, bắt mình làm tờ "báo công báo tội". Tôi phát ghét nên khai là tôi tội lỗi đầy đầu bởi vì gần hai chục năm nay tôi bán cháo lòng cho ngụy ăn chớ không cho cách mạng ăn! Vậy mà có thấy thằng nào đụng tới tôi đâu, cô Hai!
- Coi vậy chớ cũng nên coi chừng, bà Năm à! Nhứt là khi bà rầy la thằng nhỏ, nói đụng chạm tới họ quá, không nên.
- Tụi nó đã coi mình là ngụy thì cứ thí mạng cùi chửi cho sướng miệng. Tội vạ gì mà nín thinh? Há?
Nói xong, bà Năm nhếch mép cười, làm như bà đang thách đố cách mạng vậy!
Khi bà H được giấy phép đi thăm nuôi chồng, bà báo tin cho bà Năm và nhờ bà Năm coi chừng nhà giùm. Bà Năm mừng rỡ, làm như ông H là người nhà:
- Dữ hôn! Tới bây giờ mới cho con người ta đi thăm nuôi. Quân ác ôn! Được rồi, cô Hai cứ yên tâm, tôi giữ nhà cho. Mà chừng nào cô Hai định đi?
- Chắc mười hôm nữa, bà Năm à. Để có thì giờ lo cho đầy đủ. Chớ gấp rút quá thì quên trước quên sau...
- Cô Hai nói phải đó. Đi ra tới ngoài Bắc chớ bộ gần gụi gì hay sao?
Ngừng một chút, bà Năm cầm tay bà H lắc nhẹ:
- Cần gì thì cứ nói nghe cô Hai, đừng ngại. Mình với nhau mà...
Bà H xúc động, lí-nhí "cám ơn" mà nước mắt chảy quanh.
Lạ quá! Chỉ có mấy tiếng "mình với nhau" mà sao nghe ấm cúng vô cùng. Nhứt là trong hoàn cảnh này, trong giai đoạn này. "Mình với nhau" là sự nhận diện của những người cùng đứng về một phía. "Mình với nhau" nói lên sự cảm thông của những người cùng cảnh ngộ, cần nương tựa vào nhau, nâng đỡ nhau để sinh tồn. "Mình với nhau" là tình người không dị biệt giai cấp. Cho nên, khi mở rộng vòng tay, bà Năm cháo lòng chỉ cần nói có mấy tiếng đó thôi là quá đầy, quá đủ...
Hai hôm trước ngày bà H khăn gói đi thăm chồng, bà Năm qua nhà đưa một lon ghi-gô được ràng chằng chịt bằng dây thun:
- Cô Hai cho tôi gởi ổng lon thịt chà bông. Tôi làm có hơi mặn để ăn cho lâu. Tôi ém chặt và ràng kỹ, cô Hai đừng lo đường xa nó sút sổ. Cô cho tôi gởi lời thăm ổng, nghen.
Bà H "cám ơn"mà có cảm tưởng như bà Năm là người trong quyến thuộc!
Trong khi đi ra cửa, bà Năm còn quay lại nói:
- Cô Hai đi yên tâm. Tụi nhỏ của cô có về chơi thì tôi lo cơm nước cho hết. Cô nhớ viết ít chữ để lại cho tụi nó biết, nghen!
Bà H gật gật đầu, nhìn theo mà thấy bà bán cháo lòng đó còn cao cả gấp mấy mươi lần người anh chồng làm tướng của cách mạng!
Đi thăm chồng về, bà H như già đi năm bảy tuổi. Mắt bà sưng húp, tóc tai rối bời, mặt mũi hốc hác. Bà Năm nhìn bà H, động lòng chảy nước mắt. Ngồi xuống bên bà H, bà Năm hỏi:
- Sao, cô Hai? Khổ lắm phải không?
Bà H mếu máo khóc, chỉ gật gật đầu chớ không nói được một lời. Bà Năm nhích lại gần, choàng tay ôm vai bà H, chửi đổng:
- Mẹ bà nó! Quân ác ôn!
Bà H bỗng quay sang ôm chầm lấy bà Năm, khóc nức nở. Vừa khóc vừa cố gắng nói, câu nói đứt ra từng khúc:
- Ảnh... ốm... đến nỗi... tôi... nhìn... ảnh... không ra...
Đến đây, bà Năm cảm động nghẹn lời. Bà chỉ còn biết vuốt vuốt lưng bà H, giống như bà đang dỗ về người em gái.
Hôm sau, bà H đội nón lá cầm cái thơ ông H viết cho người anh để gởi gắm vợ con, đi bộ về cái vi-la của bà ở quận kế bên. Bà cố tình đi bộ, vì bà nghĩ đến chồng. Đối với những gian khổ cùng cực mà chồng bà đã chịu đựng từ bao nhiêu năm nay - theo lời kể lại của ông H - thì sự đi bộ của bà không thấm thía vào đâu hết. Nhưng, khi bà đi bộ, bà tưởng chừng như bà đang chia xẻ một phần nào những khổ dịch của chồng, người tù cải tạo.
Vi-la của bà, bây giờ thấy khác trước. Tường rào đã xây lên cao. Cổng song sắt được gắn thêm lưới sắt ô vuông. Nhìn vào trong không còn tổ gạo, mà sân thì đã được tráng xi-măng lót gạch khía sạch sẽ.
Thấy có bóng người, bà H bấm chuông. Có giọng đàn bà hỏi vọng ra, giọng Bắc:
- Ai đấy?
- Dạ... tôi.
Một bà cỡ tuổi bà H bước ra hất hàm:
- Chị muốn gì?
- Thưa... Tôi muốn tìm ông R. Nhà tôi có viết cho ổng cái thơ...
- Đồng chí R à? Đồng chí ấy đã phục viên lâu rồi. Đồng chí bán nhà cho chúng tôi, xong, dọn hết về thủ đô. Thế... chị là gì của đồng chí ấy?
Bà H choáng váng mày mặt, chỉ còn kịp tỳ người vào trụ cổng để khỏi quị xuống. Tuy nhiên, bà vẫn nghe tiếng mình nói:
- Dạ... Tôi... À... Không!
Rồi câm luôn. Thấy bên ngoài làm thinh, bà người Bắc bỏ đi vào trong, nhưng vẫn nói vói ra:
- Đồng chí R hiện ở đâu, tôi cũng không biết. Thôi, chị về đi!
Phải một lúc lâu sau, bà H mới hoàn hồn. Bà đứng thẳng nhìn vào trong. Bà bỗng thấy bà đã biến thành một người khác. Một người cứng rắn hơn, lì lợm hơn. Một người sẽ dám nhìn thẳng vào mặt kẻ địch mà chửi như bà Năm cháo lòng. Ví dụ có người anh chồng đứng trước mặt bây giờ, bà sẽ xáng cho anh ta một bạt tai – điều mà trước đây bà chẳng bao giờ dám làm dám nghĩ!
Bà H vẫn đứng thẳng, nhìn vào trong. Mắt mở to, ráo hoảnh. Môi mím chặt. Tay bà vò nát cái thơ của chồng viết. Bà vò nó mà bà không hay! Bà chỉ cảm thấy một sự căm thù đang dâng lên làm bà trạo trực. Bà nghe buồn nôn!
Phải rồi! Bà muốn nôn mửa lên những giả dối gian manh mà bọn chúng nó thằng nào cũng có sẵn trong đầu. Bà muốn nôn mửa lên những lời lẽ giả nhân giả nghĩa mà bọn chúng nó thằng nào cũng có sẵn trên đầu môi chót lưỡi.
Bà muốn nôn mửa lên những thủ đoạn xảo quyệt được ngụy trang bởi những chiêu bài yêu nước thương dân, có nghĩa có tình... mà bọn chúng nó thằng nào cũng sẵn sàng hành động. Bà muốn... Bà muốn...
Bà H liệng cái thơ nhàu nát xuống đất, phun nước miếng nghe cái phụt một cách khinh bỉ, rồi cúi lượm cái nón lá bỏ rơi khi nãy đội lên đầu, đi thẳng.
Mấy năm sau, ông H vẫn "còn được cải tạo", bà H lâu lâu vẫn lặn lội đi thăm nuôi chồng, hai thằng con lớn vượt biên rồi định cư ở Úc, đứa con gái lấy chồng đánh cá ở Minh Hải, thằng con út cặp với con bạn cùng xóm mở quán cà phê vỉa hè cạnh hàng cháo của bà Năm. Còn bà Năm vẫn bán cháo lòng, lâu lâu vẫn chửi thằng con mà giống như bà chửi Nhà Nước!...

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Hà Nội Ăn và Tiêu
Vũ Thanh Bình - Lâm Hoài

Ăn sáng bằng một tô phở 650.000 đồng, ăn tối trong một căn phòng vàng và đêm đến thì ngủ ở một khách sạn với giá 6.200 US đô la một đêm...? Hà Nội là nơi có thể thỏa mãn bất cứ ai có tiền bằng những dịch vụ đắt tiền như thế.
Trên những con phố Hà Nội chật chội, ngột ngạt vì kẹt xe, vỉa hè ngập tràn những quán vịt om sấu hay bún ốc, ít ai ngờ rằng thủ đô có những chốn “xứng danh kim tiền” đến vậy.

Ấn tượng đầu tiên về khách sạn Grand Plaza Hà Nội khánh thành mới đây trên đường Trần Duy Hưng, gần Trung tâm hội nghị quốc gia, là từ sảnh lớn cho tới nhà vệ sinh đều dát kim loại màu vàng. Khách sạn có 618 phòng khách cao cấp và phòng hạng sang cùng nhiều nhà hàng mang nhiều phong cách ẩm thực, phòng tiệc, hội nghị...

Có hai phòng tổng thống với giá cao ngất: phòng 325m2 giá 3.900 USD/đêm, còn phòng 410m2 giá 6.200 USD/đêm, tức hơn 125 triệu đồng. Kim loại màu vàng dát đầy trên các chi tiết trang trí trong phòng, theo như lời kể của ban quản lý khách sạn. Bước vào căn phòng này, sờ tay vào cái giường ngủ của “tổng thống”, ta có cảm giác như mình đang bước vào một bảo tàng kim hoàn.

Nếu đã ở phòng “tổng thống” thì sao không đi ăn tối theo kiểu “hoàng đế”, với một phòng ăn được gọi là phòng vàng tại nhà hàng Long Đình trên phố Quán Sứ? Nhà hàng này nhìn bên ngoài cũng khá bình thường, nhưng có thêm những phòng ăn đặc biệt gọi là phòng vàng, phòng bạc. Những ly tách muỗng nĩa trên bàn lấp lánh màu của kim tiền. Thực đơn của quán toàn những món với tên gọi hào nhoáng và tiền thì tất nhiên cũng... xả láng. Cô Phạm Thị Vân Anh, phụ trách PR của công ty sở hữu nhà hàng này, cho biết một bát xúp vi cá giá 72 USD, một bữa tiệc có giá ít nhất cũng 800 USD.

Anh Việt, một doanh nhân Hà Nội từng mời bạn hàng Trung Quốc đến nhà hàng Long Đình, kể: “Người ta đến đây để hưởng cảm giác yến tiệc hơn là để ăn. Hôm đó năm người, tôi phải thanh toán hết gần 2.000 đô...” - anh cười. Cung cách phục vụ như thế nào là tùy theo ý muốn của khách, nhưng theo giới thiệu của nhà hàng thì khi ngồi ở phòng vàng, thực khách được phục vụ như “hoàng đế”.

Bát phở giá bằng cả tạ thóc

Bát phở bò này có giá 650.000 đồng, bằng giá một tạ thóc nếu tính giá cao 6.500 đồng/kg. Nhưng “có người sáng nào cũng ăn, có người kéo cả gia đình ba bốn thế hệ đến thưởng thức, thanh toán tiền ăn sáng hết vài triệu đồng là chuyện bình thường” - ông Tô Lâm, tổng giám đốc khách sạn Vườn Thủ Đô kiêm ông chủ nhà hàng trong khuôn viên khách sạn, nơi duy nhất ở Hà Nội bán loại phở bò đắt khủng khiếp này, kể về khách hàng của mình. Bãi đỗ xe nhà hàng chật ních những loại xe sang trọng, đắt tiền như Porche, Lexus...
Có gì khác biệt giữa hai loại phở? Phở Sagagyu 650.000 đồng được đặt trong tô bằng sứ có mạ vàng với một cái muỗng cong, còn bát phở bò Mỹ 125.000 đồng đặt trong tô thường, muỗng thẳng. Cũng khác biệt so với phở thường nữa là ở chỗ nhân viên chỉ mang bát phở có nước dùng ra, phần thịt bò được thái mỏng bằng máy và bọc trong một đĩa riêng để khách hàng tự tay nhúng. Khi cho vào bát phở chỉ sau chốc lát thịt bò đã chuyển từ màu đỏ sang màu sẫm. Cho vào miệng nhai có cảm giác miếng thịt tan rất nhanh, mềm, đậm đà và thơm. Ngoài ra còn có loại phở Kobe giá 500.000 đồng chế biến từ thịt bò Kobe, hoặc “mềm” hơn là phở Wagyu với thịt bò Úc có giá 220.000 đồng.

Làm khách sạn hơn 20 năm, bán phở đã năm năm nhưng chỉ hơn một năm trở lại đây ông Lâm mới bán phở bò Kobe . Ban đầu ông chỉ có mong muốn đơn giản là mang đến cho khách hàng những món ăn truyền thống đậm đà hương vị xứ Bắc. Nhận thấy thị hiếu khách hàng đất Hà thành ngày càng cao, ông quyết làm một bước đột phá: bán loại phở bò thượng hạng. Không ngờ món phở bò “quý tộc” này lại thu hút nhiều khách hàng đến vậy.

Ông Tô Lâm cho biết mặc dù đắt đỏ là vậy, nhưng nhiều hôm cả ba nhà hàng của khách sạn phục vụ 150 suất ăn một lúc vẫn bị quá tải. Lượng khách thưởng thức món phở này khá phong phú nhưng theo lời ông Lâm, hầu hết là giới doanh nhân tiếp đối tác, bàn chuyện làm ăn. Khách cuối tuần thường là gia đình giàu có.
Đứng dậy cầm hóa đơn thanh toán, dù biết trước giá cả nhưng chúng tôi không khỏi “xót ruột” khi trả hơn 800.000 đồng cho hai bát phở bữa sáng. Chợt nghĩ tới hóa đơn thanh toán của những người kéo cả gia đình đến ăn sáng bằng phở bò Kobe . Giá tiền trả cho một bát phở Sagagyu có thể đủ cho một bữa tiệc 5-6 người với vịt om sấu và rượu vodka - món ăn thuộc loại thịnh hành nhất trên vỉa hè Hà Nội hiện nay.

Hà Nội còn rất nhiều thứ xa hoa khác đang phô diễn trên những “ngõ nhỏ, phố nhỏ”, từ những chiếc xe siêu sang cho đến những cửa hiệu thời trang dành cho người có thu nhập rất cao. Những thương hiệu thời trang danh tiếng nhất trên thế giới khi vào Việt Nam vẫn chọn Hà Nội là điểm đến đầu tiên. Chẳng hạn như nhãn hiệu Hermes tại Việt Nam hiện chỉ có ở Hà thành, trong một khách sạn nổi tiếng nhất tại trung tâm thành phố. Và bây giờ là khách sạn 6.200 USD/đêm, là bữa tiệc vàng...

Còn bò Kobe hay Sagagyu? Vấn đề khiến người ta ngỡ ngàng không phải ở chỗ nó là món thịt đắt nhất vì chúng vẫn được bán nhiều trong các nhà hàng khác ở Việt Nam đấy thôi, mà là chuyện nó nằm trong một tô phở - món ăn vẫn bán đầy vỉa hè ngoài kia. Chẳng đâu xa, chỉ cần bước ra khỏi Vườn Thủ Đô mấy trăm mét, ta gặp ngay một cái bàn ven đường dưới tấm vải bạt, nơi những sinh viên, công nhân đang xì xụp những tô phở 15.000-20.000 đồng nghi ngút khói.

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Image

Ghiền Internet
[/align]


Ngày nay việc sử dụng Internet được xem như là một phần trong sinh hoạt hằng ngày của đa số chúng ta. Internet là tai mắt và đồng thời cũng là sợi dây liên lạc (email, chat) giữa mọi người với nhau.

Chúng ta, trong đó có bạn và cả tôi nữa, đều ít nhiều đều ghiền Internet chẳng khác nào mình ghiền...một loại ma túy tinh thần nào đó.
Lợi ích của Internet thì đã quá rõ ràng rồi, tuy nhiên nó cũng đã bị một số người chỉ trích và kết án thậm tệ như là một trong nhiều nguyên nhân gây nên tội phạm trong xã hội.

Ngoài ra, nó còn bị American Psychiatric Association gán thêm cho một tội khác nữa, đó là việc lạm dụng Internet một cách thái quá có thể làm cho người sử dụng bị xáo trộn về tâm thần, một hiện tượng mà các nhà tâm lý học gọi là Internet addiction disorder hay IAD. Cũng may là American Medical Association đã không nhìn nhận IAD là chẩn đoán của một bệnh lý thật thụ.

ĐÚNG LÀ GHIỀN RỒI

Gần đây, một khảo cứu về việc sử dụng Internet và cell phone do JWT survey thực hiện trên 1011 người Hoa kỳ từ 18 tuổi trở lên gồm có 42% đàn ông và 58% đàn bà, đã đi đến kết luận là dân Mỹ đứng đầu thế giới về vụ ghiền Internet.

Cell phone và Internet chiếm một chỗ đứng quan trọng trong đời sống của người Mỹ, bởi vậy nếu hỏi họ có thể chịu đựng được bao lâu nếu không có Internet thì, 21% trả lời hai ngày, 19% trả lời vài ngày, một trong năm người trả lời là có thể chịu đựng được một tuần lễ.

Bất luận tuổi tác, 59% đàn ông và 50% đàn bà đều có thể chịu đựng tình trạng thiếu Internet chỉ trong vài ba ngày mà thôi. Cảm giác chung của họ là nếu vì lý do nào đó mà không có Internet khi họ muốn, thì họ có cảm tưởng như thiêu thiếu một cái gì đó rất quan trọng.

Nói chung, 28% người được thăm dò cho biết họ nhìn nhận họ để rất ít thời gian cho những sự tiếp xúc trực tiếp mặt đối mặt, vì họ bận xem Internet hoặc Cell phone hoặc nghe nhạc mp3 hay bận chơi games điện tử. Còn 20% thú nhận dành ít thời gian hơn lúc xưa cho những chuyện vợ chồng!

XEM EMAIL BẤT CỨ CHỖ NÀO

- 25% thú nhận thường đem Internet lên tận giường ngủ (laptop hoặc cell phone) để xem.

Trước khi ngủ, họ check email cuối cùng và đôi khi họ ngủ quên mà trong tay vẫn còn cầm cái cell phone.

- 43% cho biết họ để email mở thường trực cạnh bên giường để có thể nhận biết giữa đêm nếu có ai gởi mail đến.
- 59% người Mỹ đọc email khi vừa về tới nhà.
- Đọc ở nhà chưa đủ, một số 12% còn xách laptop hoặc mang cell phone theo vô nhà thờ để check email trong lúc Cha đang làm lễ ở phía trước.
- 37% check email lúc họ đang lái xe.
- 53% check email luôn cả lúc họ đang ở trong phòng tắm.

CHƠI GAMES VÀ NGHE NHẠC

Thật không ngờ chính phái nữ có nhiều máy để chơi games nhất: 44% ở phụ nữ so với 39% ở nam giới.
34% người được thăm dò cho biết họ có iPod hoặc dụng cụ cá nhân khác để nghe nhạc.
Đa số là giới trẻ chiếm 49% so với 15% những người trên 55 tuổi.

INTERNET THAY ĐỔI LỐI SỐNG CỦA NHIỀU NGƯỜI

- 73% người được thăm dò cho biết họ đã thay đổi cách mua sắm của họ. Càng ngày họ càng có khuynh hướng mua sắm kiểu online nghĩa là qua Internet.
- Internet được rất nhiều người ưa thích vì tính tiện dụng của nó.
- Internet giúp chúng ta phương tiện trau dồi kiến thức và sự hiểu biết qua hai công cụ tìm kiếm rất thực tiển đó là Google và Yahoo. Kế đến, email cá nhân thường được tham khảo qua cái computer cá nhân ở nhà.
Có một điểm tiện lợi là các địa chỉ Hotmail và Gmail có thể được mở ra xem ở bất cứ một computer nào khác hoặc kể cả qua cell phone. Giới trẻ thường trau đổi tin tức cho nhau qua email.
Các sites Facebook, MySpace không được dân Mỹ chiếu cố cho lắm nên được xếp vào hàng thứ 7 sau những sites như MyYahoo hay iGoogle và những sites có chuyên đề cá nhân như thể thao, nhạc, chụp ảnh, kỹ thuật, nhật báo và tạp chí điện tử, v.v…

KẾT LUẬN

Gọi là Ghiền Internet có đúng hay không? Chắc là đúng thôi, nhưng không phải là một loại ghiền ghê gớm bệnh hoạn như ghiền rượu, ghiền thuốc lá, ghiền đi casino, v.v…
Ghiền Internet có thể giúp chúng ta giải tỏa stress, giải khuây, thoát ly, thêm nhiều bạn bè mới, du lịch trong không gian, giúp chúng ta mở rộng tầm nhìn, tăng thêm kiến thức,v.v…

Nhờ đó, nó còn giúp chúng ta hiểu được thêm nhiều khía cạnh của nhân sinh cũng như các hỉ nộ ái ố cay đắng ngọt bùi trong cuộc sống! Nhưng cũng đôi khi có một số bà vợ lại ghen với cái computer mới là lạ chớ.
Internet là con dao hai lưỡi, có mặt tốt nhưng cũng có mặt xấu của nó, điều quan trọng là chúng ta phải biết lựa chọn nó cho đúng mà thôi…Mà thế nào là đúng, thật khó biết?
Câu trả lời là cũng còn tùy theo hoàn cảnh và cá tánh của mỗi người nữa.
Thôi, nếu thích thì cứ việc…ghiền, nhưng hãy nhớ câu...cái gì thái quá đều không tốt…hay nói theo Tây là «Toutes les extrêmes sont mauvais».

Post Reply