Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

CHUYỆN NƯỚC PHÁP

Nước Pháp đứng nhất về nhiều phương diện:
1- Thiếu nữ và phụ nữ nào cũng có thân hình thon gọn, nhưng không đẹp như tượng.

Lý do: Ai đi làm, đi học cũng phải chạy thật nhanh để kịp xe điện ngầm! Không có người nào tà tà đi nhởn nhơ, do đó, không có người mập ú, núng na núng nính những khối bưởi, khối bầu...

Thứ hai, thức ăn mắc quá, nên ai cũng ăn ít. Một ổ bánh mì 7 Euro, tương đương US $11,50 một ổ! Một ly cà phê nhỏ xíu xìu xiu cũng 4, 5 Euro, tương đương US $8, 9.00! Môt tô phở 9 hay 10 Euro, gần US $15.00! Ai có đủ tiền ăn nhiều? Một tờ giấy "napkin" giá 1 Euro, nghĩa là US $1.60! (Không phải một lố đâu!) Serious! Nói chung, đồ gì cũng mắc.

2 - Đường xá dơ nhất. Quanh Paris, chỗ nào cũng có phân chó! Tôi từng ở chung với một bà từng làm Tổng Giám Đốc ở Mỹ, bà có 3 con chó, sáng nào cũng dắt chúng đi ... chơi và không bao giờ mang theo bao nylong để đựng phân chó!

3 - Nước Pháp ăn cắp như rươi. Đi chơi ở mấy chỗ công cộng đều được nhắn nhủ là coi chứng móc túi. Dân Parisien móc túi nhanh như điện!

4 - Đường xá thì hẹp. Thang máy nhỏ xíu như cái hộp đồ chơi, chỉ chứa được hai người là nhiều. Xe hơi thì nhỏ xíu để tiện "parking" nửa trên đường, nửa dưới đường! Phòng khách sạn cũng nhỏ. Phòng "toilet" chỉ vừa cho người ốm nhách. Bà nào to con, vào toilet phải đi nghiêng!

5 - Thiếu nước tắm. Các appartment ở Paris không có toilet và phòng tắm cho từng hộ, phải xài chung ở dưới nhà, nên đa số lười. Đi tiểu trong bô dấu dưới giường.
Vậy mà nước Pháp nhất cái gì?

CTT
Những lý do để bạn không nên tới Hà Nội : 1. Tất cả những gì mua ở chợ̣ Đồng Xuân, bạn đều có khả năng mua ở chợ Bến Thành.

2. Khi có một kế hoạch được thông báo, chỉ cần năm phút nữa là xong, bạn cứ yên tâm là ít nhất năm năm nữa.

3. Khi vào tiệm mua một món nào đấy, bạn có thể bị mắng là đừng cậy có tiền.

4. Khi có việc đi xa, bạn không sợ đường xá, mà hãy sợ ông lái xe!

5. Đi bộ trên vỉa hè phải cẩn thận, vì đó là đi trên quầy hàng của người ta. Hoặc đi trong bãi đậu xe máy.

6. Khi ăn bánh cuốn Thanh Trì, phải biết nó được làm ở nhiều nơi, trừ Thanh Trì.

7. Người mặc quần áo đẹp, cả nam lẫn nữ, chưa chắc đã là người không văng tục.

8. Bạn sẽ được gọi là “sếp”, mặc dù chả lãnh đạo ai cả, chỉ cần bước vào một quán karaoke.

9. Bạn sẽ phải bỏ giày hay dép khi vào nhà, nhưng không có gì chắc chắn bạn sẽ nhận lại đúng dép và giày của mình khi đi ra. Hoặc giầy dép biến mất; chủ nhà phải cho mượn sỏ đỡ để khỏi phải đi chân không về nhà.

10. Khi bị ai đó đụng vào – nhất là thanh niên –, để an toàn, bạn nên xin lỗi trước.

11. Ghế đá công viên không phải để ngồi. Nó để nằm. Hoặc ngồi xổm kiểu nước lụt truyền thống.

12. Giấy vệ sinh là giấy chùi đũa hoặc chùi mồm.

13. Đừng nhìn đồng hồ taxi! Hãy nhìn vào túi tiền mình!

14. Đừng tưởng gặp họ hàng, khi có ai đó gọi mình là “anh giai”!

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Image

Cái Loa

Tiểu Tử

Nhà ông Năm ở vùng Cây Quéo, trong một đường đất nhỏ quanh co không ăn thông qua con đường nào khác. Trong cái ngõ cụt đó chỉ có sáu bảy cái nhà cất theo kiểu xưa, kèo cột gỗ, ngói âm dương. Một vài nhà cũng đã được “tân trang” với mặt tiền đúc bê-tông cẩn gạch màu... Điểm đặc biệt là nhà nào cũng có đất chung quanh đầy cây kiểng và cây ăn trái. Cho nên, tuy ở sát nách thành phố mà thấy như ở đâu trong xa miệt vườn vậy ! Và thật là yên tịnh.

Nhà ông Năm có nhiều cây vú sữa. Giống vú sữa này màu tím, chỉ to bằng nắm tay, nhưng giòn và ngọt lịm. Bà Năm trồng vú sữa một thời với những cây ăn trái khác, hồi mới mua nhà đất. Sau này, vú sữa lại là nguồn huê lợi của ông bà Năm, bởi vì năm nào trái cũng sai quằn. Bạn hàng ngoài chợ Bà Chiểu thường hay vào đây “mua mảo cả vườn” khi cây vừa mới trổ bông...

Cây vú sữa lớn nhứt nằm gần hàng rào phía trước, cành gie ra ngoài. Những cành này lại ít trái. Có lẽ tại vì ngoài đường gió nhiều nên làm rụng bớt bông. Đến mùa vú sữa, trẻ con trong xóm hay tới đó thọc vú sữa, nhưng chúng có xin phép đàng hoàng và không bao giờ làm ồn. Chúng có... “tư cách” như vậy là nhờ lời dặn dò của trẻ con những thế hệ trước: “Đừng ăn cắp ! Ông Năm không ưa đâu. Ổng kêu lính bắt chết. Cứ xin là ổng cho hà. Mà cũng đừng làm ồn, ổng ghét lắm !”. Rồi cứ như vậy, trẻ con thế hệ này truyền cho trẻ con thế hệ sau... vv từ không biết bao nhiêu năm, đã thành nếp. Cho nên, khi vú sữa chín tới là hằng ngày nghe giọng trẻ con “đánh tiếng” từ ngoài rào: “Dạ thưa ông Năm cho tụi con xin vài trái vú sữa, nghen”. Có khi nghe tiếng ông Năm “Ừa” vói ra ngoài. Nhưng thông thường, sau khi xin phép như vậy rồi là chúng yên tâm thọc vú sữa. Và ngầm hiểu “Ổng làm thinh là ổng ừa đó !”.

Một hôm, ăn trộm chuyền theo mấy cành vú sữa vào nhà ông Năm. Thời may, người nhà hay kịp nên nó đu người phóng ra ngoài tẩu thoát. Sau lần đó, các con ông Năm định cưa hết mấy cành gie ra ngoài, nhưng ông Năm không chịu. Ông nói: “Má tụi bây trồng mấy chục năm mới được như vậy. Cưa chi uổng. Để đó qua mùa tới cho mấy đứa nhỏ trong xóm nó ăn, nó vui !”. Rồi ông giải quyết vấn đề: “Sợ trộm vô thì tụi bây kéo kẽm gai chằng chịt trên đó, tía thằng nào mà dám trèo ?”. Nhờ vậy, trẻ con trong xóm vẫn được ăn dài dài mỗi mùa vú sữa.

... Tháng tư 1975. Trong bầu không khí hỗn loạn của miền Nam, mấy đứa con ông Năm kéo hết gia đình về tá túc ở nhà ổng để cùng nghe ngóng, bàn tính. Cuối cùng là quyết định di tản. Ông Năm không chịu đi.

- Tao già rồi. Năm nay tám mươi chớ ít đâu. Đi đứng phải chống gậy mà tụi bây biểu tao di tản cái nỗi gì ? Mà cho dầu tao còn sức, tao cũng không đi đâu hết. Nhà cửa đất đai này là của mồ hôi nước mắt của má tụi bây và của tao, bỏ sao được. Còn mồ mả của má tụi bây ở Gò Vấp, ai coi ? Thôi ! Tụi bây đi, đi ! Đừng lo cho tao !

Vậy là ông Năm ở lại với đứa cháu gái gọi ông bằng ông chú. Cô này - năm nay trên ba mươi, chưa có chồng – ở dưới quê lên giúp việc cho ổng, “coi trong coi ngoài”, từ ngày bà Năm mãn phần, nghĩa là đã bốn năm năm...

Trong lúc bên ngoài đường lớn thiên hạ chạy rần rần, nhốn nha nhốn nháo, ông Năm vẫn bình thản nằm trên võng đọc sách, hút thuốc, uống trà. Lâu lâu, chống gậy ra vườn săm soi mấy chậu kiểng, bắt sâu, tỉa nhánh. Xem rất ung dung nhàn hạ !

Thấy cô cháu gái cứ “chạy ra chạy vào”, ông cười:

- Mầy làm cái gì mà như gà mắc đẻ vậy, Hai ?

- rời ơi... Người ta nói Việt Cộng nó vô tới rồi mà ông biểu con không lo sao được ?

- Lo cái gì ? Người ta có chức tước, có vòng vàng, có tài sản to, có cơ sở lớn... mới sợ tụi nó vô nó giết nó lấy. Chớ... cái thứ dân quèn như tao với mầy thì có khỉ gì cho tụi nó lấy ?

- Dạ mà sao con cũng hồi hộp quá hà !

- Cái mà mầy phải lo là coi gạo nước ở nhà còn đầy đủ không.

- Dạ đồ dự trữ mấy cô chú mang lại đây để đầy nhà. Ông với con ăn cả mấy tháng mới hết !

- Ờ ! Vậy là yên tâm một phần. Bởi vì mình không biết cái vụ này nó kéo dài tới bao lâu đây !

“Cái vụ này”, mà ông Năm nói, chỉ kéo dài có mươi hôm rồi chấm dứt vào ngày 30 tháng tư...

Tiếp theo đó là kiểm kê – kiểm kê đủ thứ - là khai báo – khai báo cũng... đủ thứ (biết cũng khai, không biết cũng khai !), là hội họp học tập từ đường lối chủ trương đến sổ hộ khẩu sổ gạo... Ông Năm cứ phải chống gậy đi với con nhỏ cháu nay tới tổ, mai tới phường, bữa khác tới ban... vv. Ông Năm có phàn nàn rằng ông già rồi mà cứ bắt đi tới đi lui, thì được “mấy ông cách mạng” giải thích : “Ai cũng phải học tập hết. Không như thế thì làm sao thông suốt được đường lối chủ trương của Đảng và Nhà Nước, làm sao thực hiện được quyền làm chủ của nhân dân ? Ngoài ra, sự có mặt thường xuyên của các chú các bác trong buổi họp càng làm cho bọn trẻ chúng cháu thêm hồ hởi phấn khởi. Các chú các bác có nhất trí không nào ?”.

Mỗi lần đi họp, về đến nhà là ông Năm ngã người lên võng, vừa đong đưa vừa hút thuốc liên miên, không nói một tiếng. Thấy vậy, một hôm đứa cháu gái an ủi:

- Ai sao mình vậy. Đều trời hết chớ phải có mình mình đâu mà ông buồn.

- Tao đâu có buồn ! Tao giận chớ đâu có buồn ! Cái giống gì mà ăn nói ngang như cua, không biết lễ nghĩa gì hết. Cũng may là xóm mình không có nhà nào di tản, nên tụi nó không có tiếp thu để chen vô ở như mấy xóm ngoài mặt tiền. Nghe nói tụi nó ồn ào và hay dòm ngó lắm. Cái ngõ của mình còn đầy đủ bà con, nhứt là vẫn được yên tĩnh như từ hồi xưa tới giờ, là mình có phước đó !

Một buổi sáng, đang nằm đọc sách, ông Năm bỗng nghe xào xạc trên mấy cành vú sữa phía trước. Bỏ kiếng lão, nhìn ra, thấy gió thổi từng cơn. Yên tâm, ông tiếp tục đọc sách, không để ý đến nữa. Trưa đó, đang thiu thiu ngủ ông bỗng giựt mình hết hồn vì tiếng la chát chúa phát ra từ một cái loa nào đó ngay trước nhà ông: “Chú ý ! Chú ý ! Phòng lương thực chiều nay phân phối rau cải. Mời bà con khẩn trương kẻo rau cải úng thúi chúng tôi không chịu trách nhiệm !”. Tiếng trong loa phát ra nghe điếc con ráy, còn lập đi lập lại nhiều lần, làm ông Năm phát bực. Ông chống gậy bước ra xem. Thì ra “tụi nào” đã gắn một cái loa to trên mấy cành vú sữa ! Ông hậm hực trở vô, đầu gậy chống xuống mặt sân gạch nghe côm cốp, miệng lẩm bẩm: “Đù cha tụi nó ! Quyền gì mà nó gắn loa ở nhà người ta ? Quyền gì mà nó làm mất sự yên tịnh của xóm người ta ?”.

Ông Năm không biết – có đi đâu mà biết – rằng công tác “quan trọng hàng đầu” của nhà cầm quyền là cho gắn loa để đưa tiếng nói của Nhà Nước đến tận... lỗ tai của nhân dân. Để đừng ai trách rằng: “Tôi không hay không biết gì hết !”. Cứ nhét riết vô lỗ tai, nhét rồi nhét nữa, không thể nói là không... nghe ! Mà cho dù không muốn nghe, cuối cùng rồi cũng phải thuộc ! Đó là một quy luật máy móc, nó “vô” trong óc hồi nào không hay. Biết như vậy, nên Nhà Nước cho gắn loa cùng khắp: hang cùng ngõ hẻm, ngã tư ngã ba, chợ búa trường học... thậm chí đến bịnh viện là nơi cần sự yên tịnh ! (Có người nói: chung quanh bịnh viện có bảng “Cấm bóp còi” đàng hoàng mà Nhà Nước không tôn trọng luật lệ gì hết. Nói như vậy là sai, là “lý luận chưa đạt yêu cầu”. Bảng “Cấm bóp còi” chớ có cấm bắt loa nói cho dân nghe đâu ?). Tuy nhiên, có một nơi mà Nhà Nước không cho gắn loa: đó là nghĩa địa. Không phải tại vì Nhà Nước biết tôn trọng “giấc ngủ ngàn thu” của những người quá cố, mà tại vì Nhà Nước sáng suốt, biết rằng có nói ở đó cũng không có... ma nào nghe ! Đỉnh cao trí tuệ có khác !

Chịu trận được mấy hôm, bực mình quá, ông Năm nhứt định đi thưa. Ông chống gậy đi một mình – con cháu gái bận đi họp hội đoàn gì đó.

Đầu tiên, ông đi gặp ông tổ trưởng. Ông này dẫn qua ông tổ phó an ninh. Ở đây, sau một lúc bàn qua tính lại (bởi vì họ cũng không rành cái tổ chức cách mạng quá mới mẻ này), cả ba kéo nhau đến công an phường. Anh này tỏ vẻ sành sỏi, giải thích dông dài thế nào là hàng ngang thế nào là hàng dọc, ta tổ chức có khoa học nên theo hệ thống dọc chớ không theo hệ thống ngang... vân vân, rồi vân vân, rồi vân vân. Để cuối cùng kết luận một cách rất... “bài bản”:

- Đấy ! Rõ như thế đấy !

- Tôi không hiểu gì hết ! Tôi chỉ muốn biết bây giờ anh giải quyết cái loa của tôi làm sao đây ?

- À ! Chuyện này không thuộc diện xử lý của tôi ! Cụ nên đến Ủy ban nhân dân quận xem. Không ! Cụ phải đến Ủy ban nhân dân phường trước. Ta theo hàng dọc, phải đi từ dưới lên trên. Phải...

Ông Năm chán nản xách gậy đi ra, bỏ mặc hai ông tổ trưởng tổ phó ngồi ngẩn ngơ với cái mà họ gọi là “vụ việc quá căng” !

Gọi xích lô, ông Năm đi thẳng lên quận. Ở đây, người ta chỉ ông đi đúng chỗ. Mừng quá, ông thuật lại vụ cái loa của ông cho người thanh niên ngồi sau bàn viết đầy hồ sơ (Anh này có vẻ cán bộ, vì thấy ngồi trong văn phòng mà vẫn đội nón cối xiêng xiêng giống như còn đi dưới nắng !). Rồi ông kết:

- Nhờ cậu giải quyết giùm, tôi cám ơn.

- Bác có làm đơn khiếu nại chưa ?

- Ủa ? Phải làm đơn nữa sao ?

- Coi ? Đi thưa thì phải có đơn. Chớ nói khơi khơi vậy lấy gì mà giải quyết ?

Nghe như vậy, ông xách gậy quay ra đi thẳng.

Tối đó, ông ngồi dưới đèn rị mọ viết đơn. Cả đời ông chưa kiện cáo ai bao giờ, cho nên ông cứ viết rồi xé, xé rồi viết. Đến chừng ông đọc được vừa ý thì đã mất gần hai tiếng đồng hồ !

Sáng hôm sau, ông “vác đơn lên quận”. Gã thanh niên hôm qua mở ra đọc, châm chú. Và có vẻ... nghiền ngẫm từng câu từng chữ hay sao mà thấy đọc khá lâu. Ông Năm chống gậy ngồi chờ. Một lúc sau, gã đứng lên – vẫn đội nón cối xiêng xiêng – cầm lá đơn đi vào phòng trong. “Chắc là để báo cáo cho trưởng phòng” – ông Năm nghĩ như vậy (Nhờ đi họp đi hội liên miên mà ổng bây giờ nghĩ và nói bằng từ ngữ cách mạng một cách... trơn tru, từ lúc nào không hay biết ! Cái hay của chế độ là ở chỗ đó. “Cứ nhai tới nhai lui cho tụi nó nghe riết là tụi nó sẽ nhập tâm thôi”). Độ mười phút sau, gã trở ra với một người cán bộ khác đứng tuổi hơn. Ông ta vui vẻ chào ông Năm, tay cầm lá đơn phe phẩy như cầm quạt:

- Chào bác. Chuyện này các đồng chí đó làm bậy. Rồi ta sửa sai thôi. Bác về đi, yên tâm. Họ sẽ tháo gỡ trong ngày hôm nay cho bác.

Ông Năm cám ơn, rồi ra về. Ngồi trên xích lô, ông nghĩ: “Ít ra, cũng có người biết điều như vậy chớ ! Lâu nay mình nghĩ quấy cho họ cũng tội.”

Lối gần trưa, ông nghe có tiếng xe máy dầu ngừng phía ngoài rào, kế đó là mấy cành vú sữa dao động một lúc lâu rồi yên. Ông vui vẻ nói với đứa cháu gái:

- Rồi ! Họ gỡ rồi ! Mầy thấy không, Hai ? Họ cũng đàng hoàng chớ đâu đến nỗi.

Xế chiều, đang nằm đọc sách trên võng, ông bỗng giựt mình vì tiếng phát thanh chát chúa ình ình ình ình của nhạc tiến quân. Lần này, nghe còn lớn hơn hồi cái loa nằm trên cành vú sữa ! Ông vội vã chống gậy ra ngoài cổng coi là cái gì. Thì ra cái loa bây giờ đã được gắn trên trụ đèn đường nằm ở phía đối diện, miệng loa hướng về phía nhà ông Năm ! “Tiên tổ nó ! Hèn gì !”. Ông Năm hậm hực trở vô thay đồ rồi hối hả gọi xích lô lên quận.

Lần này, ông đòi gặp thẳng ông trưởng phòng. Ông nói với gã thanh niên ngồi ngoài, mà ông dộng đầu gậy xuống sàn gạch nghe côm cốp. Đủ thấy ông bực mình đến đâu !

Nghe to tiếng, ông trưởng phòng bước ra, ngạc nhiên:

- Họ chưa gỡ cái loa cho bác à ?

- Gỡ rồi ! Mà họ đem gắn ở trụ đèn phía bên kia đường thì cũng như vậy thôi.

- Bác nói không đúng ! Sao cũng như vậy được ? Hồi gắn loa trên cây nhà bác mà không có sự đồng ý của bác, đó là sai, là phạm chủ quyền của bác. Tôi nhất trí điều đó. Còn bây giờ gắn trên cột đèn thuộc phạm vi của Nhà Nước, nằm trên lối đi công cộng, là đúng chớ đâu có sai.

- Đành rồi. Nhưng điều mà tôi muốn nói là tôi già rồi, cần được yên tĩnh, mà cái loa nó ồn quá. Tôi...

- À ! Chỗ này là bác hiểu sai. Nhà Nước đâu phải gắn loa để làm ồn. Nhà Nước gắn loa để hằng ngày báo cáo cho nhân dân những gì Nhà Nước đã làm, những thành quả của cách mạng, từng tháng, từng quí, những đường lối chủ trương của đảng đề ra... Bác thấy không ? Quan trọng lắm chớ ! Đó là trách nhiệm hàng đầu của Nhà Nước đối với nhân dân mà bác nói là làm ồn sao được !

Ông Năm không nói thêm một tiếng, chống gậy côm cốp đi ra mà có cảm tưởng như mình vừa nói chuyện với... một bức tường !

Về nhà, ông nằm ngã người lên võng, chửi đổng mà như tự chửi mình:

- Đu mẹ bà nó ! Nếu biết như vầy, hồi đó tao đã di tản cha nó rồi.

Từ đó, trên cái bàn thấp kê gần võng để để trà, thuốc, sách của ông Năm, thấy có hai cục bông gòn nhỏ ! Và lúc nào đi họp đi hội, ông cũng cố ý nhét vô lỗ tai hai cục gòn bự cho người ta thấy ! Có ai ra dấu hỏi thì ông trả lời lớn tiếng như nói với người điếc:

- Từ ngày tôi nghe loa phát thanh của Nhà Nước, tự nhiên tôi bị... thúi lỗ tai. Kỳ quá !

Tiểu Tử

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Những “kỷ lục” của Tiên Lãng và sự …tha hóa
KỲ DUYÊN
Image
Vô cảm và sự quay vòng nhân- quả
Cho dù ngày hôm nay, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có cuộc họp chính thức về vụ cưỡng chế gần 20 héc ta đất của gia đình anh nông dân Đoàn Văn Vươn (xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng), nhưng vụ việc gây phẫn nộ và hiệu ứng quá lớn của nó vẫn để lại trong lòng người vị đắng.

Từ đây, Tiên Lãng thành một khái niệm đặc biệt, không chỉ do tính chất điển hình về sự cưỡng chế đất đai thô bạo, vi phạm pháp luật của chính quyền sở tại, mà còn bởi nó chiếm khá nhiều… kỷ lục.

- Kỷ lục về tính chất nhạy cảm: Đó là cưỡng chế, giải tỏa đất đai, một lĩnh vực chiếm tới 70% vụ khiếu kiện. Đối tượng cưỡng chế lại là người từng được báo chí vinh danh như anh hùng khai khẩn đất hoang, lấn biển.

- Kỷ lục về sự nhẫn tâm: Thời điểm cưỡng chế được chọn một cách có tính toán- trước Tết âm lịch. Theo đạo lý truyền thống của người Việt, đó là dịp người dân chuẩn bị sắm Tết, thờ cúng tổ tiên.

- Kỷ lục về tính chất chính quy: Để cưỡng chế một gia đình nông dân, chính quyền Tiên Lãng huy động tới 100 con người, trong đó có cả lực lượng cảnh sát, quân đội trang bị tận răng.

- Kỳ lục về sự tuyệt vọng và cùng đường: Người bị cưỡng chế- anh nông dân Đoàn Văn Vươn đã dùng cả mìn, đạn hoa cải “sát thương” sáu chiến sĩ cảnh sát, quân đội.

- Kỳ lục về sự cưỡng chế nghiêm khắc: Không chỉ phá tan nhà ở của gia đình Đoàn Văn Vươn, những kẻ thừa hành còn “cưỡng chế” cả hai con chó của gia đình này, cùng đồ dùng, soong nồi, quần áo… khiến dư luận xã hội phẫn nộ, tức giận về hành vi mang chất “lục lâm”, “thảo khấu”.

- Kỷ lục về “mắt kém” và phát ngôn quá ấn tượng: Ngôi nhà hai tầng kiên cố của Đoàn Văn Vươn, đã được ông Đỗ Hữu Ca, Giám đốc Sở CA TP nhìn ra là một cái …chòi.

Đặc biệt, đánh giá kết quả cuộc cưỡng chế, ông cho rằng, đó là một trận đánh …đẹp, có thể viết thành sách! Khiến cho bạn đọc lại sôi lên, bi phẫn …chờ đợi tác phẩm tiếp theo của ông.

-Kỷ lục về sự đổ vấy và nói dối: Trả lời báo chí, theo ông Đỗ Trung Thoại, Phó Chủ tịch UBNDTP Hải Phòng, ngôi nhà của ông Đoàn Văn Vươn, bị người dân bức xúc… cưỡng chế.

Nhưng sự nói dối sớm bị vạch trần, mới đây, người dân xã Vinh Quang đã viết đơn khiếu kiện, tố cáo, người chỉ đạo phá nhà Đoàn Văn Vươn là hai quan xã- ông Phạm Đăng Hoan, Huyện ủy viên, Bí thư Đảng ủy xã và ông Lê Thanh Liêm, Chủ tịch UBND xã Vinh Quang. (VietNamNet, 9/2/2012).

- Kỷ lục về sự quan liêu, ngạo mạn thói ban phát “xin- cho”: Trả lời báo chí, ông Ngô Ngọc Khánh, Chánh Văn phòng UBND huyện Tiên Lãng cho rằng, huyện không biết ai phá nhà ông Vươn, vì gia đình không báo, và báo chí chỉ thông tin chứ không có văn bản cho huyện. Đến nỗi, nhà văn Nguyễn Quang Lập phải có bài viết: “Mất nước, nhà tan phải báo chứ”(!). Chao ôi là tinh thần…vô trách nhiệm của một quan huyện!

Rồi một loạt những phóng sự điều tra mới nhất của nhà văn Nguyễn Quang Vinh cho thấy, sự quan liêu là căn nguyên rất cơ bản dẫn đến những sai phạm nghiêm trọng- thành tội ác của chính quyền Tiên Lãng (từ của nhà văn N.Q.V).

Rất nhiều sai phạm của huyện lại đều chỉ do… nghe thuộc cấp báo cáo lại, không hề xuống hiện trường điều tra.

- Kỷ lục về sự ngang nhiên vi phạm pháp luật của chính quyền Tiên Lãng, khinh dân và ác với dân, qua “3 không”:

+ Không có phương án sử dụng đất sau khi thu hồi để công bố đối với người có đất bị thu hồi.

+ Không thành lập hội đồng đền bù hỗ trợ trước khi thu hồi.

+ Không tổ chức đối thoại với người được giao đất bị thu hồi.

- Kỷ lục về “Những phát ngôn đối ngược” (VietNamNet, ngày 5 và 6/2/2012): Vụ Tiên Lãng vô tình khiến cho bạn đọc được thưởng thức cách “nói đối”- những cách nhìn nhận về anh nông dân Đoàn Văn Vươn và vụ cưỡng chế khác hẳn nhau.

Một bên là các quan chức Tiên Lãng và Hải Phòng.

Một bên là trưởng thôn, cán bộ hưu trí xã, người dân Vinh Quang, các vị nguyên là lãnh đạo cao cấp Nhà nước, cán bộ quản lý, đại biểu Quốc hội, GS. TS: Ông Lê Đức Anh, Nguyễn Quốc Thước, Vũ Mão, Đặng Hùng Võ, Nguyễn Minh Thuyết, Hoàng Xuân Phú…v..v…và…v…v..

- Kỷ lục về sự “đi chậm”: Huyện Tiên Lãng cách thành phố Hải Phòng chỉ 30 ki lô mét, mà phải sau vụ việc đúng 30 ngày, các cấp chính quyền TP Hải Phòng, được tin Thủ tướng sắp về làm việc, mới tíu tít “em về…làng” gặp dân, nắm thông tin. Tính ra tốc độ đi của họ 1 km/ngày

- Kỷ lục về sự phẫn nộ của dư luận xã hội: Hàng nghìn bài báo trên các báo điện tử, báo giấy, trang mạng xã hội lên án và bất bình trước việc thực thi pháp luật thô bạo, mang tính tư lợi và phạm luật của chính quyền Tiên Lãng.

Đến nỗi báo Người lao động (9/2/2011) có hẳn một bài thơ …động viên các quan chức Tiên Lãng: Mau mà rời ghế đi thôi/ Mau mà rời khỏi cái nơi cửa quyền/ Để cho thiên hạ được yên/ Đừng làm dân chúng phát điên cả đầu.

- Kỷ lục về nghĩa đồng bào: Không chỉ các trang mạng lên tiếng ủng hộ gia đình Đoàn Văn Vươn, mà các cá nhân trong nước, người dân Việt kiều ở nước ngoài đã lên tiếng quyên góp hỗ trợ, ủng hộ gia đình Đoàn Văn Vươn vượt qua những sóng gió khủng khiếp đời người.

- Kỷ lục về… báo ứng: Chỉ sau một tháng xảy ra vụ cưỡng chế, hàng loạt cán bộ Tiên Lãng bị kỷ luật. Đó là ông Lê Văn Hiền, Phó Bí thư, Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng, Nguyễn Văn Khanh, Phó Chủ tịch UBND huyện, ông Lê Văn Mải, Trưởng Công an huyện, Phạm Đăng Hoan, Bí thư Đảng ủy và Lê Thanh Liêm, Chủ tịch UBND xã Vinh Quang.

Và mới đây, Liên Chi hội nuôi trồng Thủy sản nước lợ Tiên Lãng (Hải Phòng) có đơn đề nghị cách chức, buộc thôi việc, khai trừ Đảng đối với ông Bùi Thế Nghĩa, Bí thư Huyện ủy, người phải chịu trách nhiệm đầu tiên về Đảng, vì đã “để xảy ra một việc đặc biệt nghiêm trọng”, và 7 vị quan chức khác.

Người ta bảo, thời kinh tế thị trường, luật “nhân- quả” cũng…quay vòng nhanh lắm!

- Kỷ lục về sự quan tâm của các Bộ, ngành chức năng: Đến thời điểm này, có tới sáu bộ, ngành chức năng đã vào cuộc tìm hiểu vụ Tiên Lãng. Đó là Mặt trận Tổ Quốc VN, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hội Nông dân VN, Bộ Công an, Bộ Nông nghiệp- Phát triển nông thôn và Bộ Tư pháp.

Cũng phải chăng, vì ngày 10/2 hôm nay, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì cuộc họp với một số cơ quan chức năng ở TW và UBND TP.Hải Phòng để chỉ đạo, giải quyết dứt điểm vụ việc?

Sự tha hóa và con đường… độc đạo

Ở một góc độ khác, cần phải “khen” chính quyền Tiên Lãng, vì họ đã là một minh họa sinh động cho kết luận của Tổng BT Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị TW 4 trước đó ít ngày: Chỉnh đốn Đảng vì sự tồn vong của chế độ.

Điều đó, đang trở nên khẩn thiết?

Ngày 7 và 8/2/2012 mới đây, VietNamNet có bài phỏng vấn Tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược (Bộ Công an), dưới nhan đề: “Tướng Lê Văn Cương bàn chuyện chỉnh đốn Đảng”…

Theo ông Lê Văn Cương, giống như quy luật xã hội, sự tha hóa của đảng cầm quyền, dù là cộng sản, tư sản hay dân tộc là phổ biến (và đã được tiên đoán). Sự tha hóa của ĐCS không phải là một ngoại lệ.

Nhưng chống lại sự tha hóa, chắc chắn không đơn giản và không dễ. Điều này, thể hiện ở ngay nghị quyết các kỳ ĐH Đảng:

+ ĐH 6 (1986): Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật…, đã nhìn rõ bệnh tật trong Đảng. Và không ai có quyền tự ban cho mình những đặc quyền, đặc lợi.

+ 10 năm sau (1996), ĐH VIII: Nạn tham nhũng đang là một nguy cơ trực tiếp đe dọa đến sự sống còn của hệ thống chính trị.

+ 5 năm sau (2001), ĐH IX: Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy hệ thống chính trị, trong nhiều tổ chức kinh tế, là một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta.

+ 5 năm sau nữa (2006), ĐH X: Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi…,. Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ.

+5 năm tiếp theo (2011), ĐH XI: Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã hội… , làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước.

+ Cuối tháng 12/2011, tại Hội nghị TW 4: Lần đầu tiên, Tổng BT nhận định tư duy nhiệm kỳ, lợi ích nhóm đang làm Đảng ta suy yếu, làm lòng tin của dân với Đảng giảm sút, và cần chỉnh đốn Đảng vì sự tồn vong của chế độ.

Từ đặc quyền, đặc lợi, đến tham nhũng, nạn tham nhũng kéo dài, và hiện nay là tham nhũng và lợi ích nhóm, rõ ràng “con đường” tha hóa trong Đảng chưa bao giờ bị chặn đứng, dừng lại, mà theo như Tướng Lê Văn Cương, ngày càng phát triển tinh vi…

Vì sao? Theo người viết bài này, dường như khi đặt vấn đề chỉnh đốn, thường có sự nhầm lẫn giữa mục tiêu và giải pháp.

Các giải pháp nếu có, lại mang nặng tính duy ý chí, nặng sự hô hào hình thức, hô… khẩu hiệu, nhưng rất thiếu một thiết chế mang tính cải tổ khoa học và hợp quy luật. Rút cục, sự vững mạnh ở cơ sở không mang tính bản chất, thậm chí chứa nhiều ung nhọt.

Đến mức, 15 năm trước, Đảng ủy Quỳnh Phụ (Thái Bình) 10 năm liền trong sạch vững mạnh vậy mà cuối cùng sự kiện Thái Bình 1997 nổ tung, rung chuyển cả xã hội, cho thấy Đảng ủy này chả trong sạch cũng như vững mạnh, gây tổn thất lớn cho uy tín chính trị của Đảng.

Và mới đây thôi, vụ Tiên Lãng bộc lộ hết sự yếu kém về cái tâm, cái tầm của tổ chức Đảng, Chính quyền các cấp, gây phẫn nộ lớn cho nhân dân.

Đó liệu có phải là những mầm họa?

Không ai có thể làm suy yếu Đảng, làm dân mất lòng tin bằng chính sự tha hóa, được đội ngũ cán bộ của Đảng săng sái… “lập công”, như Đảng ủy Quỳnh Phụ trước đây, như chính quyền Tiên Lãng hôm nay, như các quan chức mất phẩm chất tham nhũng, lợi ích nhóm bị lộ và chưa bị lộ?

Là người am hiểu đặc điểm thực tiễn cơ chế chính trị Việt Nam, nghiên cứu sự bại vong của những mô hình, thể chế chính trị trên trường quốc tế, Tướng Lê Văn Cương cũng đã nhìn ra sự tha hóa đó, có nguyên nhân của việc quyền lực không bị giám sát.

Vì vậy theo ông, sự chỉnh đốn cũng là con đường độc đạo đầy đau đớn mà Đảng phải đi…. Và trong điều kiện đặc thù, chỉ một Đảng độc đạo duy nhất, không có đối trọng, thì phải tạo cơ chế để người ta lấy đá ghé chân anh. Cơ chế đó là sự giám sát quyền lực, mà ông Lê Văn Cương đưa ra gồm bẩy điểm.

Như tăng cường hơn nữa sự giám sát của cơ quan lập pháp đối với hành pháp, sự độc lập của cơ quan tư pháp trong xét xử. Như bố trí cán bộ phải qua kiểm tra, chọn lọc. Xây dựng cơ chế tuyển chọn và sử dụng hiền tài vào các vị trí quyết định…Nhưng những điểm đó, nói cho công bằng, không mới. Vì nó đã thấp thoáng ở chỗ này chỗ khác, trong những kiến nghị giải pháp trước đây. Vấn đề là có muốn làm và làm thực chất không?

Còn người viết không dám tin sẽ thành hiện thực. Bởi một điều, có ai tự nguyện để người khác vác đá ghè chân mình?

Ngay cả Tướng Lê Văn Cương cũng chỉ dám tin, sự thay đổi sẽ là một quá trình dài đau đớn.

Vì vậy, với dân tộc Việt, cũng sẽ là một quá trình dài đau đớn, khi muốn phát triển hướng tới dân chủ, công bằng và văn minh!

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

VIỆT KIỀU BIẾN THÀNH DÂN OAN ! Image CÓ NÊN ĐẦU TƯ VÀO KHU ĐÔ THỊ MỚI THỦ THIÊM QUẬN 2, TP HCM?Tập trung lực lượng, đánh chiếm, cướp nhà đất của Cô Hương Ngày 08/12/2011:

Nhà cô LÊ THỊ THU HƯƠNG. Địa chỉ : B8/9 , đường Lương Định Của, khu phố 1, phường Bình Khánh, quận 2, TP HCM.

Cô Hương có chồng là người Hoa Kỳ, hiện đang công tác tại Liên Hiệp Quốc; nó cũng ủi luôn còn thách thức : Bảo chồng mày có giỏi thì thưa ra Liên Hiệp Quốc xem ai chết cho biết, mày tưởng chồng mày là người Mỹ thì ngon lắm hả ,tao ủi luôn xem ai làm con c… gì tao !

( Đó là lời của ông Vũ Hoài Phương, ông Đỗ Huy Thụy chủ tịch và phó chủ tịch UBND phường Bình Khánh, quận 2, TP HCM )
Image
Cô LÊ THỊ THU HƯƠNG, áo đen, đang khiếu nại tại trụ sở UBND TP HCM
Dự án khu đô thị mới Thủ Thiêm theo Quyết Định 367/ TTg ngày 04/ 06/ 1996 Thủ Tướng chính phủ hợp ý Đảng lòng dân . Nhưng bị biến thành dự án cướp đất của dân nghèo ! Làm mất niềm tin của nhân dân ! Làm mất uy tín của đảng và nhà nước ! Là nguyên nhân gây mất ổn định chính trị ! Nếu không kịp thời chấn chỉnh; chắc chắn sẽ có cuộc nổi dậy !

Nhân Dân tố cáo không được xem xét ! Mà còn bị trù dập , bị trả thù và bị khủng bố : Đập phá nhà cửa , cho công an hù dọa , theo dõi rồi chụp mũ : Chống đối Đảng & Nhà Nước và bêu xấu trên loa phát thanh …

Đây là dự án cố tình vi phạm Luật Pháp Nhà Nước ! Để biến thành dự án bóc lột và dùng cường quyền cướp đất của dân nghèo !

Thực tế cho thấy : Những người có chức vụ và trách nhiệm. Đã lợi dụng chức vụ , quyền hạn , tước đoạt quyền lợi chính đáng của nhân dân : Lấy đất của người nghèo , chia cho người giầu ! Lấy đất của dân ! chia cho người có chức vụ , quyền hạn ! Thành phố HCM và Quận 2 hành dân, vô cảm và lừa dối cấp trên , lừa đảo nhân dân , đi ngược lại chính sách của Đảng và Nhà Nước , ngang nhiên phá vỡ quy họach Khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm ! Tự quyền cấp đất cho các công ty gia đình ! Cưỡng chiếm đất đai mà nhân dân đang sử dụng ! Sau đó chia cho nhau : Theo kết luận thanh tra thành phố: Lấy 169 ha chia cho 64 dự án phân lô bán nền ! Tham nhũng lớn như vậy , nhưng được che chắn , bảo vệ , bưng bít ! Nên không được dư luận , báo đài và các cấp thẩm quyền điều tra …!

Image
Nhà cô LÊ THỊ THU HƯƠNG. Địa chỉ : B8/9 , đường Lương Định Của, khu phố 1, phường Bình Khánh, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh.
Chỉ còn là đống gạch vụn và bị cướp ! Nhưng Cô vẫn còn là chủ sở hữu theo Giấy chứng nhận quyển sở hữu nhà ở và đất
ở số : 3479/2000 , do UBND thành phố HCM cấp ngáy7/04/2000
Cho xe ủi, cào bằng nhà Cô Hương để cưỡng chiếm mà không có quyết định thu hồi đất

Theo kết luận thanh tra thành phố số : 445/KL-TTTP-KLI ngày 01/10/2008 :

Mục III Kết luận 1/3 : Không tổ chức phổ biến công khai ranh qui hoạch đến các đơn vị và cá nhân cư trú trong phạm vi qui hoạch là chưa thực hiện Điều 3 của quyết định 13585/KTST-QH .

Kết luận 7 và 8 : Hiện nay đã thu hồi tràn lan tới 8 phường ( An Phú , Cát Lái, Thạnh Mỹ Lợi ) nhưng chỉ mới thu 621,4328 ha theo QĐ 1997. Theo Quyết định 367 và Công Văn 190/CP-NN ngày 22/02/2002 cho phép thu hồi 770 ha đô thị mới và 160 ha tái định cư, thuộc các phường An Lợi Đông , Thủ Thiêm , An Khánh, một phần phường Bình An và Bình Khánh. Thành phố đã làm biến mất 160 ha tái định cư tại 5 phường , để chia cho 64 dự án phân lô bán nền, nên không có đất tái định cư cho dân.

Kết luận 9: Hội Đồng bồi thường quận 2 không lập phương án bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư cho KĐTMTT là chưa thực hiện đúng Điều 32, Nghị Định số 22/1998/NĐ-CP.

Theo Quyết Định 367/ TTg ngày 04/ 06/ 1996 Thủ Tướng chính phủ đã quy định, dùng 160ha để tái bố trí định cư cho dân bị giải toả để xây dựng Khu Đô Thị Thủ Thiêm ! Nếu chia cho 40.000 dân bị giải toả , sẽ được ngay con số : 160ha = 1.600.000.000 m2 , chia cho 40.000 dân bị giải toả , mỗi đầu người được : 40m2 . Thế nhưng Q.2 tự đặt ra , hộ nào có 100 m2 mới được đổi nền đất !

Bất kể nguồn gốc sử dụng đất ra sao , nếu chưa có sổ đỏ , đều bị liệt vào đất công , chỉ được đền bằng 40 % ! Hoặc bị coi là đất chiếm dụng , chỉ được đền bù bằng 30 % giá đền bù do Quận 2 và Thành Phố áp đặt !? với số tiền đền bù này , chỉ đủ để mua được 1/ 10 diện tích đất lúc trước ! Mặc dù đã sử dụng ổn định trước năm 1993 ! Thậm chí công nhận sử dụng trước năm 1975 !

Thủ Tướng Chính Phủ quy định : Khu đô thị mới Thủ Thiêm 930 ha , gồm 5 Phường : An Khánh, 169 ha, Thủ Thiêm 135 ha, An Lợi Đông 385 ha, tổng cộng : 689 ha, (Chỉ mới thu hồi 621 ha )và một phần phường Bình An 169 ha, Bình Khánh 226 ha.. Nhưng thành phố Hồ Chí Minh chỉ quyết định thu hồi có : 621,4328 ha qua Quyết Định số : 1997/QĐ-UB ngày 10/ 05/ 2002 . Nay UBND quận 2 lại tuỳ tiện tăng diện tích thành 7 phường ! Bất kể chỗ nào cũng mượn danh nghĩa khu đô thị mới Thủ Thiêm để thu hồi đất tràn lan , phải lên tới hàng ngàn ha Thu hồi đất của dân mà chưa có quy họach chi tiết !? Không có quyết định thu hồi đất !

Diện tích tự nhiên quận 2 : 5.020 ha . Diện tích bán đảo Thủ Thiêm : 1.348 ha . Nay chỉ qui hoạch 657 ha làm KĐT Thủ Thiêm , còn lại gần 700 ha đã bán hết cho ai mà không còn đất tái định cư cho dân bị giải toả ?

Như vậy KĐTM Thủ Thiêm vừa bất hợp lý và bất hợp Pháp .

Theo lời nhận xét của Kiến Trúc Sư Nguyễn Ngọc Dũng , Uy viên Ban Chấp Hành Hội Kiến Trúc Sư thành phố HCM : Từ trên máy bay nhìn xuống Tp HCM là hình ảnh một đống hộp quẹt nằm lung tung , không theo đường lối rõ ràng ! Với những gì đang diễn ra thì thành phố đang phát triển theo hướng lệch lạc ! Theo kiểu 12 sứ quân ! Để sửa chữa được , phải mất cả thế hệ ! Tốn hao bao tiền bạc của Nhà Nước và Nhân Dân ! Phát biểu ngày 06/ 02/ 2006 .

Cũng theo Tiến Sĩ TRẦN DU LỊCH , Viện trưởng Viện Kinh Tế : Quy trình đô thị hoá tại thành phố HCM là : Biến đất nông nghiệp thành đất hoang !?

Giáo Sư Lê Huy Bá đưa ra cảnh báo chấn động : Trong vòng 10 tới 20 năm nữa , khi nhiệt độ trái đất tăng lên 1 tới 2 độ C , băng ở 2 cực sẽ tan , nước biển dâng lên 50 – 100 cm thì cả vùng Thủ Thiêm sẽ ngập chìm trong nước và cả TP sẽ ngập !

Trách nhiệm của người đứng đầu thành phố tới đâu ? Trách nhiệm giám sát của Đoàn Đại Biểu Quốc Hội , HĐND , MTTQ thành phố HCM khi để sảy ra sai phạm nghiêm trọng này ?

Image
Công An nhân dân dưới sự điều động của chính quyền, đi đánh cướp nhà :
Ông : ĐẶNG QUỐC KHƯƠNG . Việt kiều, quốc tịch CANADA
Địa chỉ : C5/1 , Khu Phố I, phường Bình Khánh, quận 2, thành phố HCM.
Đã bị cưỡng chiếm ngày 27/12/2011
Kiến nghị : Xin cho kiểm toán và thanh tra toàn bộ việc sử dụng đất trên địa bàn Quận 2 ! Nhân dân chúng tôi sẵn lòng đóng góp , hy sinh tài sản để xây dựng khu đô thị Thủ Thiêm ! Nhưng chúng tôi quyết tâm không để mất dù chỉ 1 xu vào túi bọn quan liêu tiêu cực và đặc biệt xin bảo vệ quyền lợi chính đáng của người thuộc diện chính sách, người dân nghèo theo đúng chủ trương của Đảng vả Nhà Nước ! Vì hiện nay chúng tôi đang bị cường quyền , tước đoạt tài sản ! Vì Quận 2 không cần biết và vi phạm Luật Đất Đai ! Cố tình dồn ép dân nghèo để ăn chia lợi nhuận khổng lồ với chủ đầu tư , mà chủ đầu tư toàn công ty tư nhân ! Sau đó có ý đồ sang bán lại cho các công ty nước ngoài ! Nếu không sớm chấn chỉnh sẽ mất lòng dân , thậm chí nhân dân sẽ nổi dậy để bảo vệ Đảng và Nhà Nước , trước thế lực của bè lũ quan liêu tiêu cực ! Trung Ương càng chậm vào cuộc thì sau nay sẽ phải mất rất nhiều tiền của để chỉnh sửa qui hoạch vì hiện nay đã quá lộn xộn ! Nhưng cái mất lớn nhất mà khó lòng gây dựng lại được : LÒNG TIN CỦA NHÂN DÂN !

Hiện nay việc tham nhũng đất đai ở quận 2 là rất rõ ràng , đầy đủ chứng cứ !Nhưng tại sao không ai dám giải quyết !

Thưa vì bọn quan liêu tiêu cực tại thành phố HCM và quận 2 quá lộng hành ! Chúng tạo thành một thế lực đen , cấu kết lại với nhau ! cùng nhau chia chác đất , tiền … tạo nên cảnh cùng hội cùng thuyền , làm ngơ cho nhau , để cùng hưởng lợi !

Nếu không ai dám nhận trách nhiệm giải quyết thì dễ gây hiểu làm trong nhân dân : Bao che hoặc làm ô dù cho quan liêu tiêu cực !!!

Nhân dân chỉ mong ước : Chính Phủ buộc địa phương phải triệt để tuân thủ Pháp Luật , Luật Đất Đai , Luật Khiếu Nại và Tố cáo và chủ trương của Đảng và Nhà Nước : Khi giải tỏa phải đổi nền nhà cho dân tái định cư , sắp xếp cho dân được tái định cư tại chỗ ! Vì chả lẽ xây dựng Khu Đô Thị chỉ giành cho người có chức , có quyền và có tiền!? còn đuổi dân nghèo đi khỏi nơi mà họ yên ổn sinh sống và làm ăn đã bao năm nay !?

Ong Vũ Hùng Việt , Trưởng Ban quản lý Khu Đô Thị Thủ Thiêm tuyên bố : Thị trường sẽ quyết định 130. 000 dân sống ở đây ! Nhưng đền bù thì tự ý áp đặt , đền 1m2 không đủ để mua 0, 1m2 !? Khiến nhân dân lâm cảnh mất nhà , mất đất !

Image
Nhà đất của Ông : ĐẶNG QUỐC KHƯƠNG . Việt kiều, quốc tịch CANADA
Đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở Số; 130/2002

Chưa có quyết định thu hồi đất, hiện Ông vẫn còn là chủ sở hữu nhưng vẫn bị cưỡng chiếm ! Ông Vũ Hoài Phương, ông Đỗ Huy Thụy chủ tịch và phó chủ tịch UBND phường Bình Khánh, quận 2, TP HCM phán : Cứ đập , không cần biết nó là ai !

Người Thủ Thiêm

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Tại sao phải hét to khi tức giận?
Có một vị hiền triết đã hỏi các đệ tử rằng:
“Tại sao trong cơn giận dữ người ta thường phải thét thật to vào mặt nhau?”
Sau một lúc suy nghĩ, một trong những đệ tử ấy đã trả lời:
“Bởi vì người ta mất bình tỉnh, mất tự chủ!”
Vị hiền triết không đồng ý với câu trả lời, ngài bảo:
“Nhưng tại sao phải hét lên trong khi cả hai đang ở cạnh nhau, tại sao không thể nói với một âm thanh vừa phải đủ nghe ?”
Các đệ tử lại phải ngẫm nghĩ để trả lời nhưng không có câu giải thích nào khiến vị thầy của họ hài lòng.

Sau cùng ông bảo:
“Khi hai người đang giận nhau thì trái tim của họ đã không còn ở gần nhau nữa. Từ trong thâm tâm họ cảm thấy giữa họ và người kia có một khoảng cách rất xa, nên muốn nói cho nhau nghe thì họ phải dùng hết sức bình sinh để nói thật to. Sự giận dữ càng lớn thì khoảng cách càng xa, họ càng phải nói to hơn để tiếng nói của họ bao trùm khoảng cách ấy.”

Ngưng một chút, ngài lại hỏi:
“Còn khi hai người bắt đầu yêu nhau thì thế nào? Họ không bao giờ hét to mà chỉ nói nhỏ nhẹ, tại sao? Bởi vì trái tim của họ cận kề nhau. Khoảng cách giữa họ rất nhỏ…”

Rồi ngài lại tiếp tục:
“Khi hai người ấy đã yêu nhau thật đậm đà thì họ không nói nữa, họ chỉ thì thầm, họ đã đến rất gần nhau bằng tình yêu của họ. Cuối cùng ngay cả thì thầm cũng không cần thiết nữa, họ chỉ cần đưa mắt nhìn nhau, thế thôi! Vì qua ánh mắt đó họ đã biết đối phương nghĩ gì, muốn gì ..”

Ngài kết luân:
“Khi các con bàn cãi với nhau về một vấn đề, phải giữ trái tim của các con lúc nào cũng cận kề. Đừng bao giờ thốt ra điều gì khiến các con cảm thấy xa cách nhau… Nếu không thì có một ngày khoảng cách ấy càng lúc càng rộng, càng xa thì các con sẽ không còn tìm ra được đường quay trở về nữa!”

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Lý do đàn ông thích "phở". Nếu xét về "thành phần cấu tạo" thì cơm và phở rất giống nhau, đều được làm chủ yếu từ... gạo tẻ.
Phở có thịt có hành thì cơm có cũng có, đã vậy cơm còn hay hơn vì không bao giờ bị trộn... hàn the. Cơm cũng rẻ hơn và.... no lâu hơn.

Dân gian gọi vợ là cơm, bồ là phở. Nếu xét theo khoa học thì cách gọi đó chẳng xúc phạm ai cả vì hai "món" này đều có giá trị độc lập, chả cái nào cao hơn cái nào.
Nhưng rõ ràng phở luôn luôn tượng trưng cho sự bay bướm Ưu thế của phở so với cơm là quá rõ ràng trong chuyện tình ái, mặc dù nhiều lúc "phở" xấu hoặc già hơn "cơm".

Một số lý do hài hước sau góp phần lý giải việc đàn ông thích phở nhưng vẫn không bỏ được cơm:

Ðàn ông thèm "phở" vì ít được ăn phở. Muốn ăn phở, nhất là phở đặc biệt, thì phải có tiền, có xe, trong khi cơm ngày nào cũng được ăn và phải ăn.

Ðàn ông dùng cơm ở nhà trong không khí quen thuộc, ấm áp đến nhàm chán, còn dùng phở ở xa nhà, trang trí lạ mắt, đôi khi đẹp mắt và có cả âm nhạc.

No thì rất khó ăn thêm cơm. Còn phở, no tới mấy cũng có thể làm thêm một tô.
Ăn phở xong có thể đứng dậy, đi ngang hoặc ngồi, nằm một chút. Còn ăn cơm xong nhiều khả năng phải thu dọn và rửa bát đĩa.

"Phở" không quán nào giống quán nào, thậm chí là không tô nào giống tô nào.
Còn cơm thì có khi bao nhiêu năm vẫn thế, chỉ có nguội hơn.

"Phở" có thể ăn chung với bạn bè. "Cơm" thì rất ít, phần lớn là ăn chung với... bà nấu cơm.

Lúc ăn phở, có thể dễ dàng yêu cầu thêm tý hành, tý bánh hoặc thêm tý ớt cho mặn nồng.
Còn cơm, có gì trên mâm hãy xơi nấy, yêu sách lôi thôi còn bị mắng hoặc bị gắt gỏng "không ăn thì thôi".

Phở tuy cùng một chỗ nhưng có thể ăn tái, chín, nạm, gân.. tùy thực khách quyết định. Cơm thì do mụ nấu cơm quyết định.

Nếu ăn phở nhiều tới mức độ trở thành khách quen, khách có thể ăn... nợ. Còn nếu không đưa tiền lương, "cơm" sẽ dừng ngay

Bỏ tiệm "phở" này, có thể dễ dàng tìm tiệm khác. Còn bỏ "cơm" thì phức tạp vô cùng.

Một lý do nữa là "phở" nhiều Nước, còn "Cơm" thì Khô queo. HaHaHa..!!!

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

TÂM SỰ TUỔI GIÀ.
(Đỗ Hữu Phương)
Từ khi người Việt tị nạn trên thế giới vào năm 1975 đến nay thì thế hệ Cha Mẹ chúng ta, bậc Anh Chị chúng ta đang vui hưởng tuổi già và bây giờ đến lứa tuổi mà người ta gọi là baby boomer cũng đã và đang bắt đầu về hưu rồi.

Đời người thật ngắn ngủi. Nhớ lại vào lứa tuổi đôi mươi, chúng ta
lang thang trong khung viên trường đại học, vui cười vô tư và bây giờ
đã hơn 40 năm trôi qua rồi. Đời người thoáng chốc đã già. Hơn bốn mươi
năm trôi qua, chúng ta đã trải qua một đoạn đời trai trẻ trong một đất
nước chiến tranh. Dầu trực tiếp cầm súng chiến đấu tại mặt trận, hay
gián tiếp chống lại kẻ thù chung, chúng ta đã trải qua những năm tháng
sống nay, chết mai và cuộc sống không có tương lai. Và rồi, những năm
bị đầy đọa cực kỳ gian khổ trong các trại tù hay những ngày lo sợ vì
đói khát, chết chóc trong khi tìm cách vượt biên tìm tự do. Đến được
đất nước thanh bình với một thân thể đã yếu, tinh thần còn vương vấn
những khổ đau trong quá khứ, và rồi phải tiếp tục đi “cầy” để lo cho
cuộc sống trên xứ lạ quê người…

Bây giờ, những năm còn lại trong cuộc đời của một người, chúng ta
cần sống thanh thản, sống thoải mái, sống hạnh phúc. Vì qua một ngày,
chúng ta đã mất một ngày. Vì vậy, một ngày đến, chúng ta vui một
ngày. Vui một ngày…rồi không biết được bao nhiêu ngày nửa. Hạnh phúc
là do chính mình tạo ra, vui sướng cũng do chính mình tìm lấy vì những
niềm vui ấy đã ẩn chứa trong những sự việc nhỏ nhặt xãy ra trong đời
sống. Hạnh phúc là những gì hiện đang ở chung quanh chúng ta, trong
tầm tay chúng ta. Nhà nho Nguyễn Công Trứ quan niệm “ Tri túc, đãi
túc, tiện túc, hà thời túc. Tri nhàn, đãi nhàn, tiện nhàn, hà thời
nhàn”…
Tiền rất quan trọng trong đời sống của con người, nhưng tiền không
phải là tất cả. Đừng quá coi trọng đồng tiền, và cũng đừng lệ thuộc
vào đồng tiền, mặc dù biết rằng nếu không có tiền thi làm sao chúng ta
sống, làm sao để được thoải mái. Ta vẫn biết khi ta ra đời ta đâu có
mang nó đến, và khi ra đi chúng ta cũng không mang nó theo. Đồng tiền
có thể mua một lâu đài to lớn, nhưng đồng tiền không mua được mái ấm
gia đình. Đồng tiền giúp chúng ta mua được nhiều thứ tiện nghi trong
cuộc sống, nhưng đồng tiền không mua được sức khỏe cũng như hạnh phúc
trong đời sống. Quảng đời còn lại thì quá ngắn ngủi, ta phải sống
những ngày tháng cho đáng sống, ta phải làm cho cuộc đời thêm phong
phú. Chúng ta phải thay đổi cuộc sống khổ hạnh thời xa xưa, đừng nghĩ
đến những năm tháng đói, lao động khổ cực trong các trại tù miền Bắc,
hay những ngày tháng đói, khát trên biển cả trong khi đi tìm tự do.
Những gì cần ăn thì cứ ăn, cần mặc thì cứ mua sắm, muốn đi du lịch thì
cứ đi. Tập cho mình có nhiều đam mê, tự tìm niềm vui cho chính mình.
Vào trong internet để gửi thư cho bạn bè, để chia sẻ một tin hay, một
chuyện vui, một bản nhạc, đọc những bài viết có giá trị, hay “chat”
với người quen biết. Chúng ta cần trao dồi bộ óc để trí nhớ vẫn còn
sáng suốt. Nếu có người bạn cần giúp, ta cứ mở lòng nhân ái, tốt bụng
với mọi người. Rảnh rổi đi làm những việc từ thiện ngoài xã hội, giúp
một tay tại những nơi tôn kính như nhà Chùa, nhà Thờ,… lấy việc giúp
người làm niềm vui, đó là những thú vui trong tuổi già.
Hơn nửa đời, chúng ta dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình,
cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho
chính mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho thanh thản, vui vẽ.
Việc gì muốn thì làm, ai nói sao thì mặc kệ vì mình đâu phải sống để
người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình. Sống phải
năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá kiêng cử thì không đủ
chất bổ dưởng, quá nhàn rổi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu…
Cuộc sống tuổi già thật đa nguyên, đa dạng, nhiều màu sắc nên ta
cần có nhiều bạn bè, nhiều nhóm bạn bè hoặc tham dự vào những sinh
hoạt trong các Hội đoàn ái hữu lành mạnh. Gặp bạn, nói ra những điều
phiền muộn cho nhau nghe. Hãy tìm cách gặp gở bạn bè và người thân vì
không còn nhiều thời gian nửa. Một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt
lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi
đến chổ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng.
Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh. Đừng bao giờ nói, hay nghỉ
là: “ Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nửa”. Đừng nói những
lời hay những tư tưởng có ý tuyệt vọng. Người già chỉ sảng khoái khi
được có bạn tâm giao, đó là một lều thuốc bổ mà không Bác sĩ nào có
thể biên toa cho ta mua được.
Ở tuổi hiện tại, chúng ta đừng nghỉ đến đồng tiền, đừng nghỉ đến giàu
hay nghèo nửa và cũng đừng than trách hay hối hận vì những lầm lỗi
trong quá khứ và cũng đừng tự hỏi là tại sao bây giờ ta không có nhiều
tiền. Đừng nói ta không có tiền. Có những thứ hiện đang chung quanh ta
rất quí giá mà có nhiều tiền cũng không mua được, đó là người phối
ngẩu của chúng ta. Nếu có chút ít đồng tiền thì cứ tiêu xài những gì
ta cần vì sẽ có lúc chúng ta để lại cho người khác xài. Nếu hôm nay ta
còn khoẻ mạnh, còn ăn được những món ăn ta thích và ăn biết ngon là ta
đã có một khối tài sản to lớn trong tuổi già. Rồi ta tìm đến những
người bạn cùng nhau uống tách trà nóng, ly cà phê buổi sáng, kể chuyện
năm xưa hay trao đổi những kinh nghiệm trong cuộc sống hiện tại. Cuối
tuần, hẹn nhau với người bạn đi câu cá, hưởng không khí trong lành của
thiên nhiên và cũng để cho tâm tư lắng đọng, tinh thần thanh thản. Đó
là những niềm vui trong cuộc sống cuả tuổi già.



Tứ khoái của tuổi già là: Ăn, ngủ, thể dục và du lịch. Ăn được ngủ được là Tiên. Ăn và ngủ đi đôi với nhau. Người lớn tuổi có nhiều thì giờ nghỉ ngơi, cần có chế độ ăn uống bổ dưởng, cung cấp đủ calories cho cơ thể. Sự luyện tập thể dục là thỏi nam châm của cuộc sống và là kim chỉ nam của tuổi thọ. Đi du lịch để cho cuộc đời thoải mái, trí óc thanh thản và vui sống.
Khi về già, chúng ta thường hay sống về quá khứ, hay nhớ lại chuyện
xưa. Sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói, xa vời. Hẹn
nhau trong những buổi họp mặt để ta có nhiều người bạn tâm tình, kể
lại những kỷ niệm đẹp trong quá khứ…vui cười thích thú. Vợ chồng sống
hạnh phúc bên nhau, luôn luôn yêu thương người bạn đời, gắn bó với nửa
kia của mình, là điều mà chúng ta mong ước. Đưa các cháu đi học, đi
ăn, chơi đùa với các cháu… là thú vui của tuổi già. Ta phải làm thế
nào tuổi già mà tâm không già, thế là già mà không già. Nụ cười là lều
thuốc bổ quí nhất. Chúng ta cần tránh đi những sự cải vã, tranh dành
hơn thua từng lời nói hoặc những tranh chấp vô ích với bất cứ ai.
Chính những lúc cải vã, giận dữ đó đã đánh mất đi những niềm vui trong
cuộc sống, không thích hợp trong tuổi chúng ta, nhất là những người
đang đau yếu. Chúng ta phải đối diện với bệnh tật một cách lạc quan,
tự tin, đừng quá lo âu. Khi đã làm hết khả năng theo tầm tay, sẽ có
thể ra đi mà không hối tiếc. Hãy để Bác Sĩ chăm sóc, luôn luôn giử
bình an trong tâm hồn.
Chúng ta có thể nói là mình có hạnh phúc thật sự khi có sức khỏe tốt,
chịu đi tập thể dục, có cơ hội du lịch thường xuyên, ngủ ngon, ăn uống
ít kiêng cử khi vào tuổi hoàng hôn. Thiên đàng không phải đi tìm đâu
cho xa mà thiên đàng do ta dựng lên và chui vào đó mà hưởng hạnh phúc.
Sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức
nó ra sao. Người hiểu đời rất quí trọng và biết thưởng thức những gì
mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghiã của nó làm cho cuộc
sống vui hơn, giầu ý nghiã hơn.
Hoàn toàn khoẻ mạnh, đó là thân thể khoẻ mạnh, tâm lý khoẻ mạnh và
đạo đức khoẻ mạnh…Tâm lý khoẻ mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ,
biết giao tiếp; Đạo đức khoẻ mạnh là có tình yêu thương, sẳn lòng giúp
người, có lòng khoan dung. Người thích làm điều thiện sẽ sống lâu. Con
người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai, bịt mắt,
nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong xã
hội, thể hiện giá trị cuả mình đó là cách sống lành mạnh.

SINH, LÃO, BỆNH, TỬ là qui luật ở đời, không ai chống lại được. Khi
thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ
thẹn với lương tâm và cuối cùng cuộc đời của một người cũng chỉ là con số không to lớn.

Đỗ Hữu Phương

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

“ Nhà Sư & Nhà Mước
Một hệ thống truyền thông do chính quyền kiểm soát có thể tạo ra một làn sóng thông tin sai lệch, nhưng sẽ chỉ làm gia tăng hiệu ứng ngược khi chính quyền đó đã mất tín nhiệm nơi dân chúng.”

Cái gì chứ chùa chiền, thánh thất là những nơi tôi rất ít khi lai vãng. Nghiêm và buồn thấy mẹ. Tam Bảo, Phật - Pháp - Tăng, tôi cũng đều né tuốt. Vậy mà cả đêm qua tôi lo muốn chết luôn, không ngủ được, nên phải lồm cồm bò dậy - viết vội vài hàng - sau khi đọc bài viết của nhà bình luận thời cuộc Nguyễn Ngọc Già (về một vị tu sĩ) trên diễn đàn Dân Luận:

“Vừa qua, theo loan báo của đài RFA và VOA, bà Loretta Sanchez - dân biểu Mỹ và phóng viên Ỷ Lan (đài RFA) thực hiện cuộc phỏng vấn dân biểu Ramon Tremosa I Balcells - Châu Âu, cả hai vị này đều lên tiếng đề nghị và ủng hộ trao giải thưởng uy tín - giải Nobel Hòa Bình cho người Việt Nam - Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ - nhà đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền trong nước không mệt mỏi suốt gần 40 năm qua. Đó là một tin rất đáng mừng cho người Việt Nam. Nhiều người vẫn không quên Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã từng nhận giải tưởng niệm Thorolf Rafto năm 2006 và là một người được đề cử cho giải Nobel Hòa bình nhiều lần, tuy vậy cho đến nay giải thưởng cao quý đó vẫn chưa đến tay Ngài...”

“Giải thưởng cao quý này nhất định sẽ trở thành một cánh quân quả cảm để người Việt Nam cùng nhau tập hợp lại, phất cao "Lá cờ - Nobel Hòa Bình" mà thế giới trao cho chúng ta như một niềm cổ vũ, như một lời cảm thông và trên hết như một lời hiệu triệu người Việt Nam hãy nắm chặt tay nhau và cùng chuyển thông điệp quan trọng, cấp thiết và dứt khoát đến ĐCSVN rằng: HÃY QUAY VỀ VỚI DÂN TỘC, TỔ QUỐC TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN!”

“Thật lòng, ngoài Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ - Người rất xứng đáng nhận giải thưởng này, tôi mong Ủy ban trao giải tại Oslo hay xem xét, cân nhắc và quan tâm đến một người đủ cả tâm, tài, tuệ, đó chính là ông TRẦN HUỲNH DUY THỨC.”

“Giá như tôi có được một lá phiếu trong tay, người tôi đề cử sẽ là TRẦN HUỲNH DUY THỨC. Bởi xét về quá trình cống hiến có lẽ anh còn thua xa Ngài Thích Quảng Độ, nhưng xét về sức bật và sự đóng góp cho tương lai Việt Nam hòa bình (tôi tin một ngày không xa), anh còn thừa năng lượng để cống hiến cho Việt Nam tất cả tâm, trí, lực với tuổi đời còn đủ trẻ, với khối óc thông minh cùng một tấm lòng lương thiện, yêu nước không mảy may ngờ vực cho bất kỳ ai.”

Tôi tin giải Nobel hòa Bình 2012 sẽ được trao cho người Việt Nam. Tôi tin ngày ấy đang đến. Khởi từ giải thưởng Nobel Hòa Bình trong năm nay - cho TRẦN HUỲNH DUY THỨC HAY ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỘ - chính là cho VIỆT NAM.”

“Miến Điện đang đổi thay từng ngày bởi lòng yêu nước, thương dân nồng nàn của bà Aun Sang Suu Kyi cùng sự quay đầu hối cải của nội các Thein Sein. Sao người Việt Nam không có quyền nghĩ đến điều này và... sớm hơn?”

Chuyện tuốt luốt bên Lèo, bên Miên, hay bên Miến “thay đổi từng ngày” ra sao - nói nào ngay - tôi hoàn toàn mù tịt nên không dám lạm bàn. Còn chuyện giải Nobel đối với với nhà sư và nhà nước ở ta thì (ôi thôi) phiền toái lắm, cho cả hai bên, và cũng cho rất nhiều người!

Mấy năm trước, khi HT Quảng Độ vừa mới nhận giải Thorolf Rafto là báo Nhân Dân đã rẫy nẩy lên như đỉa (phải vôi) rồi: “Đây là một việc hoàn toàn không thích hợp.”

Ủa, sao lại không thích hợp cà?

Phản ứng của Đảng và Nhà Nước, rõ ràng, yếu ớt. Phản bác khơi khơi như vậy (nghe) thiệt là ... trớt qướt, không chỉ mơ hồ mà còn có vẻ hàm hồ nữa. Do đó, để đối phó với tình thế - sau đó - Ban Tuyên Giáo Trung Ương đã ra một công điện khẩn và mật (nguyên con) như sau:

- Trời, tưởng gì chớ “ngậm máu phun người” là hoạt động thường trực của những cây bút trong Hợp Tác Xã Tư Tưởng, ở Việt Nam. Ông vụ trưởng Nguyễn Thế Kỷ còn bầy đặt đóng dấu “khẩn” hay “mật” làm chi, trông cho nó thêm ... kỳ! Không tin thử lật lại vài trang báo cũ coi:

- Thích Quảng Độ kẻ đi ngược lợi ích dân tộc, luôn có thái độ bất mãn, chống đối chính quyền nhân dân, dọa tự thiêu và lợi dụng việc tổ chức “Đại giới đàn” để thuyết giảng, vu cáo chính quyền đàn áp Phật giáo. Đặc biệt nhân vụ sư cô Như Hiền tự vẫn vì có hoang thai, Thích Quảng Độ cùng một số đối tượng khác đã tung tin sai sự thật để phản đối chính quyền. Báo An Ninh Thủ Đô, ngày 26 tháng 8 năm 2007.

- Thích Quảng Độ xuyên tạc thô bạo tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, tạo cớ và tiếp tay của các thế lực hoạt động chống phá Việt Nam từ bên ngoài. Báo Công An Nhân Dân, ngày 27 tháng 8 năm 2007.

- Thích Quảng Độ móc nối các tổ chức cực đoan lưu vong ở hải ngoại để dùng “oán trả ơn” bằng cách thông tin vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, không cho tự do tôn giáo. Báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 28 tháng 8 năm 2007.

- Hành trình 30 năm nay của ông Thích Quảng Độ là một xâu chuỗi những hành vi vu khống, “nằm vạ”, hối lỗi, van xin và sáng nắng chiều mưa, thay đổi chính kiến ngay sau khi được khoan hồng... Lợi dụng những thời điểm thuận tiện để xuất hiện và khoa trương nhằm phục vụ cho lợi ích cá nhân. Báo Tuổi Trẻ, ngày 31 tháng 8 năm 2007.

- Thích Quảng Độ, con người tráo trở, ngựa quen đường cũ. Báo Người Lao Động, ngày 31 tháng 8 năm 2007.

- Đất nước thống nhất mấy mươi năm nhưng ông không mong muốn hòa hợp, cứ muốn tách mình ra khỏi dòng chảy chung chỉ vì những cuồng vọng. Báo Pháp Luật, ngày 16 tháng 5 năm 2009.

- Ông Thích Quảng Độ, người đứng đầu tổ chức không được các tăng ni, phật tử ở Việt Nam công nhận, là "Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất", chẳng hiểu căn cứ vào đâu mà cho rằng việc khai thác bôxít sẽ dẫn đến "nguy cơ huỷ hoại màu xanh Tây Nguyên và đời sống của người Việt cũng như hàng chục dân tộc ít người". Tiếp theo, ông ta "khẩn cấp báo động công luận thế giới về đại nạn sinh thái Tây Nguyên Quả là không thể hiểu nổi, một vị tu hành đến chức Hoà thượng mà lại làm những việc phản dân hại nước đến vậy. Công An Nhân Dân, ngày 18 tháng 4 năm 2009.

Năm nay, dù không phải là thầy bói, tôi cũng đoán được rằng ông Vụ/ hay bà Trưởng Vụ Báo Chí - Xuất Bản đương nhiệm lại sắp sửa ký một công điện (“khẩn” và “mật”) mới, với nội dung y như cũ: “Chuẩn bị sẵn bài viết, phóng sự, hình ảnh, tư liệu về vấn đề này để đấu tranh. Chú ý phỏng vấn, lấy ý kiến người dân, ý kiến các bậc chân tu phản đối việc trao giải, lên án Thích Quảng Độ và các thế lực đen tối khác.”

Thế là “các cơ quan báo chí trong nước” lại sắp phải vất vả “chuẩn bị” để ... ngậm cứt phun người. Uy danh của HT Thích Quảng Độ, tất nhiên, không thể bị ô uế bởi những lời lẽ bẩn thỉu thượng dẫn. Tuy thế, cứ nghĩ đến những cây rừng sẽ phải bị hạ (để tạo ra giấy mực cho chiến dịch bôi bác sắp tới) và tiền thuế của dân chúng (dùng để nuôi sống một đám bồi bút côn đồ) thì tôi không thể nào không cảm thấy vô cùng... sót ruột!

Do vậy, tôi hoàn toàn đồng ý với ông Nguyễn Ngọc Già rằng “mong Ủy ban trao giải tại Oslo hay xem xét, cân nhắc và quan tâm đến một người đủ cả tâm, tài, tuệ, đó chính là ông TRẦN HUỲNH DUY THỨC.”

Cũng như trường hợp của ông Lưu Hiểu Ba, người nhận giải Nobel Hoà Bình năm 2010, ông Trần Huỳnh Duy Thức đang ở trong tù. Việc trao giải thưởng này cho nhân vật này, do đó, sẽ khiến cho công việc bôi bẩn ông sẽ bớt tốn kém hơn. Nhờ vậy, môi sinh cũng đỡ bị tàn phá hơn, và tiền thuế của người dân cũng sẽ đỡ phải tiêu phí hơn - chút xíu!

Tưởng Năng Tiến

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

HỌC LÀM NGƯỜI

Đại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học liền học thạc sĩ, rồi lại học tiến sĩ, sau nhiều năm đèn sách cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui.
Một hôm người đệ tử này trở về, thưa với Đại sư. Thưa thầy nay con đã có học vị tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa? Ngài Tinh Vân bảo: Học làm người, học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được.

1 // Thứ nhất , “học nhận lỗi”.
Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.

2 // Thứ hai, “học nhu hòa”.
Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập.

3 // Thứ ba, ” học nhẫn nhục”.
Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.

4 // Thứ tư, “học thấu hiểu”. Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?

5 // Thứ năm, “học buông bỏ”. Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!

6 // Thứ sáu, “học cảm động”. Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.

7 // Thứ bảy, “học sinh tồn”. Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Đàn ông đang mất giá: Những người đàn ông bị vợ đánh Cái đĩa bằng đồng mô tả cảnh vợ đánh chồng ở châu Âu ở thế kỷ XV (năm 1480)
Một cuộc khảo sát tình trạng bạo hành trong gia đình mới đây ở Moscow đã làm các nhà xã hội học Nga hơi bất ngờ.

Tệ nạn chồng đánh vợ vẫn còn khá phổ biến. 37% bà vợ ở Moscow và các vùng lân cận vẫn còn bị chồng đánh. Tuy nhiên, bên cạnh đó tỉ lệ chồng bị vợ đánh cũng không nhỏ: 35%! So với các năm trước, tỉ lệ này gia tăng khá rõ rệt. So với các vùng còn lại trên khắp nước Nga, tỉ lệ này cao nhất.

Lấy độc trị độc?

Tại sao có chuyện trái khoáy đó? Hãng tin điện tử Pravda.ru, dẫn lời các nhà xã hội học, phân tích rằng, trong đa số các trường hợp, sở dĩ phái đẹp giở trò bạo lực đối với các ông chồng là để phản ứng lại cách ứng xử đầy bạo lực của chồng đối với vợ, con. Nghiên cứu cho thấy 93% phụ nữ đánh chồng có ít nhất một lần bị chồng đánh.

Nhật báo Komsomolskaya Pravda cũng tiết lộ những số liệu thú vị: So với tỉ lệ trung bình cả nước, tỉ lệ vợ bị chồng đánh ở thủ đô Moscow ít hơn 21%. Trong khi đó, các trường hợp chồng bị vợ đánh nhiều hơn 5%. Một trong những nguyên nhân khiến các bà vợ dám hành hung chồng là vì họ dễ xúc động hơn đàn ông. Có nhiều trường hợp, khi xung đột gia đình bắt đầu bùng nổ, người chồng chỉ cần nói một tiếng là êm nhưng đối với phụ nữ ít kiềm chế hơn, họ dễ dàng "nổi cơn xung thiên" bởi vì vốn dĩ hằng ngày thường bị chồng ức hiếp.

Vị trí trong gia đình và xã hội của những người được xem là phái mạnh đang tụt dần so với phái đẹp. "Âm thịnh dương suy" không còn là câu nói vui đùa nữa mà trở thành một hiện tượng xã hội ở các nước phương Tây. Câu nói đó đã được thể hiện trên nhiều lĩnh vực. Những câu chuyện sau đây sẽ minh chứng cho điều nay

Cuộc sống ở thủ đô Moscow và các vùng lân cận căng thẳng vì miếng cơm manh áo hơn so với các vùng khác. Người ta - bất kể nam, nữ - phải làm việc nhiều hơn, bị stress nhiều hơn. Phụ nữ Moscow có đặc điểm thể hiện tính độc lập của mình mạnh bạo hơn. Họ thường cãi vã với chồng bởi nhiều lý do. Thứ nhất, họ bất mãn với các ông chồng thường lơ là công chuyện nhà như giặt giũ, trông con v.v... Mà như thế tức là không thương vợ. Thứ hai, nhiều phụ nữ Moscow cũng có thói quen nhậu như đàn ông. Điều này đã góp phần làm cho các bà mạnh dạn phát huy tinh thần bình đẳng nam nữ sẵn sàng cự cãi với chồng.

Phụ nữ Mỹ thích xài "hàng nóng"

Hiện tượng vợ đánh chồng không phải là độc quyền của phụ nữ Nga. ở Mỹ, xu hướng vợ tấn công chồng cũng đang gia tăng. Cứ theo nhà văn nữ Sheridan Hill thì các bà vợ Mỹ còn có sở thích sử dụng "hàng nóng" hơn so với Nga.

Căn cứ theo cuộc khảo sát 6.000 trường hợp bạo hành trong gia đình của Viện Quốc gia sức khỏe tâm thần Mỹ, từ năm 1975 đến 1985, số vụ chồng hành hung vợ giảm đi đáng kể trong khi các vụ ngược lại có chiều hướng gia tăng. Cụ thể vào năm 1985 có 1,8 triệu trường hợp phụ nữ bị chồng hoặc bạn trai đánh nhưng đàn ông bị vợ hoặc người yêu "nựng" lên đến 2 triệu trường hợp! Số liệu của Bộ Tư pháp Mỹ cũng cho biết trong hai năm 1993 và 1998, tỉ lệ chồng đánh vợ giảm 21% trong khi tỉ lệ vợ đánh chồng không giảm: Mỗi năm có 160.000 vụ.

Các nhà xã hội học Mỹ giải thích hiện tượng nói trên hơi khác với các đồng nghiệp Nga. Họ cũng đồng ý rằng có những trường hợp phụ nữ hành động để tự vệ khi bị chồng hành hung nhưng số này không đáng kể. Theo tạp chí Tư Pháp, năm 1984, trong 6.200 vụ vợ tấn công chồng có đến 86% dùng súng, dao, nước sôi, gạch, đá, gậy bóng chày v.v... Trong khi đó, chỉ có 1/4 đàn ông dùng vũ khí tấn công bạn đời.

Vấn đề ở Mỹ là - cũng giống như ở Nga - cảnh sát và tòa án thường thiên vị phụ nữ, đôi khi chế nhạo cánh đàn ông là thứ "vô tích sự" bị vợ đánh là... đáng đời. Dư luận cũng ít thương xót họ cho nên ngay cả một số nhà chính khách bị vợ đánh không dám nói hay đánh lại. Bà Sheridan kết luận: Đàn ông bây giờ không còn là đáng sợ như cách đây hai ba thập kỷ. Phụ nữ bây giờ học giỏi hơn, có cơ hội thăng tiến nhiều hơn và dám thể hiện sức mạnh của mình hơn.

Post Reply