Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Đứa Con Dâu

Tác giả: Tràm Cà Mau
Bà Năm rất hãnh diện vì Tâm, đứa con trai học hành chăm chỉ. Tâm tốt nghiệp bằng bác sĩ y khoa, thực tập tại bệnh viện sắp xong, và chuẩn bị đi làm việc.

Tâm thường ôm đàn, búng tưng tưng và hát nghêu ngao. Tâm thường lập đi lập lại những câu hát ca ngợi “người em gái” nào đó. Lời rất dịu dàng, êm ái. Bà Năm nghe Tâm hát mãi, nói rằng:
“Em gái của anh, thì anh la mắng, nạt nộ, sai làm chuyện nầy, bảo làm chuyện kia, còn bắt phạt, bắt quỳ. Còn em gái người ta, thì bốc lên thấu tận trời xanh.”
Tâm trả lời yếu đuối:
“Bài hát mà má. Thì rồi em Hương nhà mình, cũng sẽ được mấy anh con trai dại dột khác, bốc lên thấu trời xanh thôi.”
“Sao anh không bốc em của anh lên một chút, cho nó vui, sung sướng. Có hơn là đi bốc thiên hạ không?”

Bà Năm thường làm hết mọi việc trong nhà ngoài ngõ. Anh con trai chưa bao giờ mó tay vào làm bất cứ chuyện nhỏ nhặt nào trong gia đình nầy, từ rửa chén bát, hút bụi nhà, sứa cái bóng đèn đứt dây, cắt cỏ, quét lá trong vườn. Anh như một người khách thuê khách sạn, trong ngoài, mọi sự đã có người khác lo.

Một buổi sáng chủ nhật, bà Năm thấy Tâm đem máy ra, cắt cỏ sân trước. Bà ngạc nhiên, há hốc miệng đứng nhìn đứa con trại đang hì hục, vụng về đẩy chiếc xe cắt cỏ. Xưa nay, anh chưa hề đụng đến việc nhà. Anh đã quen thói. Có nhờ được anh cũng khó khăn, và chưa chắc đã làm. Anh cứ lần khân mãi, rồi quên việc người khác nhờ. Hôm nay bà thấy Tâm cắt có cẩn thận, cắt đi, cắt lại, nghiêng đầu nhìn ngắm mãi, cho đến khi vừa lòng mới thôi. Bà Năm đứng chống nạnh, âu yếm nhìn con:
“Sao hôm nay Tâm giói thế? Cắt cỏ giúp cho bố mẹ. Lại cắt cẩn thận, cắt đẹp nữa!”
Tâm nhìn mẹ cười, và nói tỉnh bơ:
“Tuần trước, Lam ghé đậy chơi, thẩy cỏ cao, bảo con sao không cắt cho đẹp vườn .”
“Lam là ai?”
“Là bạn gái của con”
Bà Năm hừ một tiếng nhỏ tức tối. Con của bà sinh ra, nuôi nấng, thưong yêu, bà nhờ không được, bà nói không nghe, thế mà cái con Lam nào đó, mới mở miệng một tiếng, thì nó lại răm rắp làm. Trong lòng bà, bỗng thấy không ưa cái con Lam kia. Bà cảm thấy hơi buồn.
Sáng chủ nhật, bà pha cà phê cho chồng, và pha luôn cho Tâm một ly. Bà biết hai bố con đều ghiền, buổi sáng không có ly cà phê thì xem như mở mắt không ra.
Thấy anh con trai không buồn động đến ly cà phê thơm, bà hỏi:
“Sao con không uống liền đi, để nguội mất ngon, hương thơm cà phê bay đi hết.”
“Thôi, con không uống cà phê nữa má à. Con đang tập bỏ cà phê.”
“Sao vậy ?”
“Lam bảo con bỏ cà phê! Uống cà phê không tốt.”
Nghe con nói, mà bà điên tiết, muốn lộn máu lên.
Lam là đứa nào, có quyền lực gì, mà làm cho thằng con trai cưng, thương yêu của bà răm rắp tuân lời? Bà thưong con, muốn cho con vui, bà ra lệnh:
“Uống đi. Mę đã pha ra rồi. Đừng uống quá nhiều thì thôi, chứ vừa phái, cà-phê cũng tốt cho sức khỏe.”

Anh con trai cưng của bà, đánh trống lảng, rồi bỏ lên lầu, không đụng đến ly cà phê bà đã pha. Bà Năm bực bội, quậy ly cà phê và uống từng ngụm nhỏ. Bà nói với chồng:
“Thằng Tâm nhà mình thê mà dại gái. Cha mẹ nói cho rát họng, thì không nghe, cái con nhỏ vất vơ nào đó, nói cái gì, thì nó răm rắp nghe theo như kinh điển. Thiệt là bực. Con mình sinh ra, dạy dỗ, nuôi nấng, mà nó không xem mình bằng...”
Ông chồng bà cắt ngang:
“Thôi bà ơi. Nó cũng đã lớn rồi, khi mới yêu, thì ai cũng vậy, mai mốt sẽ khác. Bà có nhớ không, hồi xưa khi tôi mới yêu bà, tôi cũng nghe theo bà răm rắp ...”
“Bây giờ thì ông không thèm nghe theo tôi bất cứ chuyện gì nữa. Lại còn nat nộ, gầm gừ.”
“Có chứ, khi nào bà nói đúng thì tôi nghe theo, chứ bà sai, mà bắt tôi theo sao được? Ngay cả bà nội tôi, nếu nói sai, thì tôi cũng phải thưa lại cho đúng, chứ huống chi là vợ?”
“Ừ, bây giờ anh có tôi rồi, thì xem thưởng nhé!”
“Vẫn quý vợ như thường. Nhưng đúng sai, phải làm cho ra lẽ.”
Một lần bà thấy Tâm không hót tóc theo kiểu cũ, lối tóc xửng ra như rễ tre, mà hớt lối mới trông gọn gàng, lịch sự hơn. Bà khen Tâm. Tâm nói rằng Lam không thích kiểu tóc cũ. Nghe mà bà giận, bực mình. Nhưng bà công nhận kiểu tóc mới, con bà trông đàng hoàng hơn.
Mấy tuần sau, khi Hương đi chơi về, báo cho bà Năm biết:
“Mẹ ơi. Con gặp anh Tâm đang bưng thức ăn cho khách tại tiệm Hưong Bình. Anh còn cắt rau, nhặt tôm, phụ bếp nữa.”
“Mẹ không hiếu con nói gì.”
“Tiệm của bố mẹ chị Lam ấy mà! Anh ấy đến đó làm việc, lấy điểm với ông bà già chị Lam.”

Bà Năm nhăn nhó mặt mày, thở dài, thất vọng nói:
“Tiền bạc nó đâu có thiếu. ở nhà thì chưa bao giờ rửa cái bát. Chưa bao giờ nấu nồi nước sôi giúp mẹ. Chắc cũng làm không công. Thế mà, thế mà ...”
Ngay tức thì, bà kêu Hưong lái xe cho bà đi xem mặt mũi cái con Lam kia ra thế nào, mà sai khiến được ông con cưng của bà như vậy. Bà Năm hầm hầm đi theo con gái, miệng mím lại. Hương dặn bà đừng vào tiệm, đi ngang qua bên ngoài dòm vô thôi. Hai mẹ con lấm lét rình mò, đi qua tiệm nhiều lần. Khi được nhìn thẩy mặt đứa con gái tên Lam, bà càng giận hơn. Trở lại nhà, bà bứt rứt, đi lui đi tới, chờ anh con trai cưng về. Bà sẽ cho một trận tơi bời cho đã giận. Khi Tâm về nhà, chưa kịp thay áo, đã bị bà Năm gào to :
“Khôn nhà dại chợ, việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng. Việc nhà không đụng móng tay vào, ra ngoài thì làm mọi không công cho thiện hạ. Học hành cho giỏi, đỗ đạt bằng cấp nầy nọ, mà vẫn cứ ngu dại như thưởng”

“Thưa mẹ, mẹ nói gì?”
“Thằng ngu! Cái con Lam đó, xấu xí, da ngăm, trán ngắn, mắt hí, mũi xẹp, miệng móm, ngực lép, mông teo. Đã ăn phải bùa mê thuốc lú của nó chưa, mà đi làm mọi cho gia đình nó? Nếu nó đẹp đẽ, nghiêng nước nghiêng thành, mà mê nó, thì không nói làm chi. Xấu xí như vậy, mà cũng mê muội, mới tức chứ. Cha mẹ nói thì không nghe, lại nghe lời đứa con gái vất vơ đó. Tưởng cành vàng, lá ngọc, con vua, cháu chúa chi cho cam, con nhà tiệm ăn...”
“Mẹ đừng kỳ thị. Mẹ từng nói với con, nghề nào cũng quý. Sao bây giờ mẹ chê nghề tiệm ăn? Mẹ thấy Lam xấu, mà con thấy đẹp thì sao? Tùy theo khiếu thẩm mỹ của mỗi người”
Bà Năm cười chán nản, và chê nhạo. Lặp lại một lần nữa, cái nhận xét của bà vê cô Lam:
“Ừ, cái khiếu thẩm mỹ của anh lạ lắm, đen đủi, trán ngắn, mắt hí, mũi xẹp, miệng móm, người lép kẹp, là đẹp, đẹp lắm. Hà ha ha ...”
“Nhưng tổng hợp tất cả lại, thì nhìn rất có duyên mẹ à. Con gái, có duyên thì thu hút và hấp dẫn hon đẹp. Con không cần vợ đẹp. Mấy cô đẹp, thì kênh kiệu, vác cái mặt lên, đòi hỏi đủ điều, và tham vọng không bao giờ ngừng. Họ khó khăn, họ tưỏng đâu có cái đẹp, là có quyền hành như bà hoàng. Lấy mấy cô nầy làm vợ, mệt lắm, và chưa chắc đã được lâu bên.”

Bà Năm há miệng ra vì ngạc nhiên, nhìn ông con trai của bà chòng chọc. Bà nói:
“Khiếp, ăn nói như cụ già tám mươi. Ai dạy cho anh những điều đó? Thôi, anh đã khôn đến vậy, thì mẹ chịu thua.”
“Thì ba mẹ vẫn thường nói vậy, và kinh nghiệm riêng của con cũng thấy thê.”
Thương và cưng con, bà không muốn con bà thương ai hơn, nghe lời ai hơn là nghe lời bà. Cái ác cảm với cô Lam không làm sao vơi được trong lòng bà.
Những khi Tâm mời Lam về nhà chơi, bà Năm cố tình làm mặt lạnh nhạt, và để lộ ra rằng, bà không ưa cô.

Bà còn nói bóng gió xa gần rằng, đàn bà không có ngực, sau nầy khó nuôi con. Đàn bà vòng mông nhỏ, sinh con khó, hiếm muộn. Lam vẫn vui vẻ, bình thường, làm như không biết bà Năm đang ám chỉ cô. Thấy thái độ của mẹ, Tâm không đám đem Lam về thăm nhà thường xuyên.

Ông Năm khuyên vợ rằng:
“Bà càng tỏ ra chống đối, thì chúng nó càng khắng khít. Tình yêu là một thứ kỳ cục, càng có nhiều trắc trở, thì càng nhiều nồng nàn, cháy bỏng. Tình yêu xuôi chèo thuận mái quá, thì cũng không bền. Bà cứ để cho chúng nó tự do tìm hiểu nhau, đừng gây trắc trở, khó khăn, mà sau nầy có hậu quá không tốt, con dâu nó xa lánh gia đình chồng, và mình cũng mất con luôn.”
Bà Năm cũng hiểu thế. Nhưng cái ghét bỏ cô Lam vẫn tiềm tàng trong lòng bà. Có lẽ tại vì Tâm nghe lời cô nầy răm rắp, mà không nghe lời bà, là người mẹ đã dành hết yêu thưong cho con. Nó coi người khác quan trọng hơn bà. Ông Năm nói rằng, việc chi mà ganh tị tình thưong ? Khi còn trẻ, thì ganh với bà mẹ chồng, bây giờ thành bà mẹ chồng, thì lại ganh với con dâu. Cứ cái vòng luẩn quẩn quay đi quay lại mãi, không được gì, mà chỉ gây thêm sứt mẻ, lộn xộn. Dân Á đông, thì mẹ chông nàng dâu lục đục. Dân Âu Mỹ, thì mẹ vợ và con rể không ưa nhau. Có cà ngàn câu chuyện chế diễu bà mẹ vợ do các ông viêt ra. Như chuyện diễu về ông Adam, thủy tổ loài người, bảo rằng ông nầy là người đàn ông sung sướng nhất, vì ông không có một bà mẹ vợ.
Dù cho bà Năm có bóng gió, nói xấu cô Lam đến mấy, anh con trai cưng của bà vẫn không suy suyển cái tình si dành cho cô nầy. Bà mẹ có dàn cảnh, giới thiệu cho anh bao nhiêu cô gái khác, đep hơn, anh cũng không màng liếc mắt đến. Bà Năm cán răng chấp nhận cho Tâm cưới cô Lam. Bà tiếc rằng, từ nay những bà bạn có con gái đến tuổi cặp kê, hết o bế bà, bót nồng nàn, tử tế như xưa.

Sau đám cưới, bà Năm xuống nước năn nỉ Tâm khoan dọn ra riêng. Anh con trai không trả lời dứt khoát, và cho biết tùy theo ý kiến của vợ. Bà Năm phải nói thẳng với cô con dâu rằng, nếu các con khoan dọn ra riêng, thì sẽ tiết kiệm được một số tiền, mua nhà sớm hơn, và tốt hơn. Cô con dâu vui vẻ trả lời rằng, nếu ba mẹ cho chúng con ở chung trong thời gian đầu, thì chúng con mừng lắm, được ba mẹ cho ở, cho ăn, và gia đình sum vầy, thì vui hơn là tách biệt ra. Câu nói của đứa con dâu làm bà mát ruột.

Sau thời gian đầu bỡ ngỡ, đứa con dậu dần dần thích nghi với sinh hoạt của gia đình. Ban đầu, bà Năm nghĩ rằng, lại phái hầu ha thêm một “cô nương” nữa. Bà không ngại, miễn sao giữ anh con trai cưng của bà lại trong gia đình là được. Mỗi khi cô con dâu tự ý làm giúp cho ông bà việc gì, bà Năm nói nhỏ với chồng: “Cô dâu nầy, ưa làm màu lắm.” Ông chồng bà trả lời: “Thà có đứa con dâu làm màu, còn hơn là đứa ngang ngạnh, không coi ai ra gì.”
Nhiều buổi sáng rất sớm, bà nám nghe tiếng thở phì phò, tiếng huỳnh huỵch ngoài phòng khách, bà tưởng hai vợ chồng anh con trai đang làm trò khỉ. Một lần bà hé cứa nhìn xuống lầu, thấy Tâm và Lam đang múa tay, múa chân tập thể dục. Bà lắc đầu. Con trai bà, chưa thấy tập thế dục bao giờ, nay vì vợ mà tập. Bà cho rằng, con trai mà nghe lời vợ quá, cũng không tốt. Bà thử múa tay, uốn éo thận mình theo các cử động của hai người, bà nghe khoái cảm trong bắp thịt, xương cốt, và tiêu tan bớt rất nhiều mỏi mệt. Không lâu sau đó, nhiều buổi sáng, bà tập thể dục theo con, Và cả ông Năm cũng tham gia. Trong phòng khách buổi sáng, theo tiếng hô của Lam, bốn người nhịp nhàng múa tay chân, hít thở trong vòng hai mươi phút trước khi ăn điếm tâm và đi làm việc. Mỗi sáng thứ bảy, chủ nhật, Tâm lái xe ra công viên rất sớm, cùng cha mẹ và vợ, chạy bộ vòng quanh sân cỏ, hít thở không khí trong lành, tập những động tác uyển chuyến.

Sau đó, cùng đi ăn sáng. Bà Năm cảm thấy, nhờ có đứa con dâu mà tình mẹ con của bà gần gũi hơn, sau bao nhiêu năm gần như gián đoạn, kế từ ngày anh bước vào tuổi mười tám, hai mươi.

Hai ông bà Năm trở nên mê cái món cháo gạo lức, nấu đặc rền, ăn với cá nục kho khô, rướn cong, mặn, có tiêu ớt. Ăn vào buổi sáng, do cô con dâu nấu. Ban đầu bà Năm cười cái món ăn nầy của người nhà quê. Nhung cô dâu nói rằng, đây là món ăn vua chúa, chứ không phải món nhà quê. Sử sách có chép rõ, các ông vua triều Nguyễn rất khoái ăn cháo trắng buổi sáng. Ông bà Năm cũng phải công nhận ăn cháo vừa ngon, vừa tốt cho sức khỏe, bớt được chất béo, chất đưòng.

Mỗi buổi chiều, bà Năm về nhà trước con dâu chừng nửa giờ. Bà vào bếp chuẩn bị, cắt rau, cắt thịt. Cô con dâu vất xong cái cặp vào phòng, chạy vội xuống bếp, phụ mẹ chồng sửa soạn cơm tối. Thời gian đẩu, cô phụ làm các việc lặt vặt, chỉ làm những chuyện mẹ chồng sai bảo. Có cô con dâu phụ bếp, dù không phụ được gì nhiều, nhưng bà Năm thấy vui, tự ái của bà không bị tổn thưong. Bà có thể hầu chồng, hầu con, chứ không muốn mang tiếng làm mọi cho cả con dâu. Nhìn thấy cô con dâu vui vẻ, hát hò trong khi làm bếp, bà cũng vui lây. Thì ra, cô làm với tấm lòng, với sự chia xẻ, chứ không phái miễn cưỡng. Cô con dâu múa dao lia lịa, cắt hành, cắt rau, ót, nhanh như các anh đầu bếp tàu chiếu trên truyền hình. Thỉnh thoáng, cô con dâu đề nghị bà Năm nấu món ngon cho cá nhà, ăn chơi cho vui, ăn chơi ngon hơn ăn thật, cô lãnh trách nhiệm nấu các món nầy. Cô nấu phở, bún bò, cháo lòng, hủ tiếu, bánh canh, bún riêu, mỗi chiều ăn một món thay cơm. Cà nhà vui vẻ hơn, ông Năm nói rằng, nấu ở nhà ngon như thế nầy, thì đi tiệm làm gì. Bà Năm học thêm được những bí quyết nấu ăn của cô dâu, và cộng thêm kinh nghiệm cũ, bà nấu càng ngon hon. Bà mời bạn bè chồng đến, trổ tài nấu nướng.

Nhiều người khen và khuyến khích bà ra mở tiệm ăn. Bà con, bạn bè đòi hùn vốn mở tiệm. Bà Năm sung sướng và quyết định thôi việc, ra làm kinh doanh. Trong một bữa ăn, cô con dâu nói với ông bà:
“Dì Chính báo rằng, nếu mình ghét ai thậm tệ, muốn trả thù, thì cứ đem tiền cho mượn, xúi họ mở tiệm ăn, cho họ khổ, bỏ ghét. Làm tiệm ăn, khách ít thì lo, khách đông thì khổ, làm một ngày mười sáu, mười tám giờ cũng không hết việc. Nắng cũng lo, mưa cũng lo. Cực lắm, đầu bếp cũng cực, phụ bếp cũng cực, chủ tiệm còn cực hon. Dì Thu bạn của mẹ con mở tiệm phở, bị ông đầu bếp bóp cổ, phải kêu cánh sát can thiệp. Ông đầu bếp mệt và cực quá, mà dì thì quá lo lắng, thúc hối, hỏi han. Ông nổi khùng, bóp cổ dì. Bố mẹ con, lỡ mở tiệm, không lui được nữa, cực lắm lắm, ông bà mệt quá, gây gổ nhau hoài. Nếu mẹ muốn mở tiệm ăn, thì hãy suy nghĩ cho kỹ lại. Ít nhất cũng giả vờ đi làm công cho thiên ha, phụ bếp hoặc làm đầu bếp vài ba tháng cho biết đá biết vàng rồi quyết định.”

Nghe con dâu nói, bà sợ hoảng hồn. Không dám ra làm kinh doanh nữa.
Nhiều hôm, cô con dâu hớt hải chạy về kêu bà Năm thay áo quần ra xe đi gấp, xuống phố mua hàng với cô. Vì hàng hạ giá, chỉ còn một hôm nữa là hết hạn. Cô ríu rít khoe rằng có người mách cho biết, hàng hạ xuống trên bảy mươi lăm phần trăm, không mua uống lắm. Bà vui vẻ ngồi bên đứa con dâu, cô vừa lái xe vun vút trên xa lộ, vừa nói chuyện vui vẻ. Khi vào tiệm, cô ép bà thử áo nầy, thử váy kia, tíu tít. Rồi cô con dâu dành trả tiền mua áo quần cho mẹ chồng. Để bà khỏi thắc mắc, cô nói:
“Tiền nầy do anh Tâm làm ra, mẹ có quyên xài. Anh Tâm sẽ rất vui, khi biết mẹ dùng tiền nầy.” Sau đó, hai mẹ con rủ nhau đi ăn, ngồi nói chuyện trong quán, và mua thức ăn về cho cả nhà.

Mỗi năm đến ngày sinh nhật của bà, ông Năm đưa cả gia đình ra tiệm ăn gần nhà. Như để trả nợ quỷ thần, để bà khỏi cằn nhằn, than vãn, kêu rêu. Vì ông nghĩ rằng, sinh ra là khổ, sao lại phải mừng. Thắp cho bà mấy cây nến to, mỗi cây tương trưng cho năm mười tuổi, không dám thắp nhiều như đám cháy rừng, sợ bà buồn. Năm nay cô con dâu xin được tổ chức sinh nhật cho mẹ chồng.

Chính tay cô làm cái bánh lớn. Trang hoàng nhà cửa, và viết thiệp mời bà con. Thức ăn do cô đặt tại các tiệm mang về. Bà con đông đảo tham dự, cười nói, vui tươi.

Khoảng thời gian giữa tiệc, có tiếng gõ cửa, một cô vũ công múa bụng xuất hiện. Ðầu cô cài lông công, mang sắc phục sặc sỡ theo lối Trung đông, toàn người lóng lánh như có dát kim cương. Tiếng nhạc trối lên eo éo, thanh sắc, cao. Cô vũ công uốn người, lắc mông, bụng chuyển động xoay tròn không ngừng. Ông Năm chăm chú, ngồi há hốc miệng ra mà xem, đến nỗi một giải nước bọt bò ra từ miệng ông lúc nào mà ông không hay.
Bà Năm thấy vậy, tức mình phát vào lưng ông một cái thật mạnh, ông giật mình hốt hoảng quay qua nhìn bà, và cười cầu tài. Tối đó, bà Năm giận chồng, và giận luôn cá cô con dâu, bày trò bậy bạ.

Có lần bà Năm giận ông chồng, ngồi khóc. Cô con dâu đến ôm bà, vuốt ve và hôn lên trán bà mà an ủi. Cô kéo bà đứng dậy, rủ bà lên San Francisco chơi. Hai mẹ con đi bộ long rong qua chợ phố tàu. Khi đã mỏi chân, cô con dâu cùng bà vào quán cà phê, ngồi ở dãy bàn dọn trên lề đưòng cùng uống trà, ăn kem. Ngồi nhìn thiên hạ qua lại. Cô con dâu nói:
“Ngồi đây, đôi khi cũng thấy tâm hồn thư giãn. Nhìn cái tất bật của thiên hạ, thây cái nhàn nhã của mình, rồi biết quý cái hạnh phúc đon sơ mà mình đang có.”
Bà Năm cũng thấy vui vui, và quên bớt đi cái giận hờn ông chồng. Cô dâu nói với bà:
“Trời có khi nắng khi mưa, vợ chồng có khi vui, khi buồn. Rồi mọi sự đều qua. Khi nào buồn, con đem mẹ đi chơi, giải trí. Hôm nào hai mẹ con mình rủ nhau đi xem chóp bóng, khuya mới về, để cho các ông ớ nhà chờ, và đói một bữa chơi. Như vậy, các ông mới biết quý cái không khí ấm áp của bữa cơm bình thường mỗi ngày trong gia đình.”

Mỗi buổi sáng, ông Năm đều nhắc rằng, nhờ có cái máy cà phê áp suất do cô con dâu mua tặng, nên ông có cà phê ngon mà uống. Ðến sở khỏi phái tốn tiền mua cà phê bên góc đường.

Nhiều hôm cô con dâu mua thức ăn ngon bên ngoài đem về. Ríu rít nói là cô ăn ngon quá, mua về cho cá nhà ăn cho vui. Không cần ăn ngon hay dở, nghe thế là bà Năm đã cảm động. Xưa nay, con bà, chồng bà, chưa hề thấy ngon mà mua về cho bà.
Sau một thời gian ở chung với cô con dâu, đi đâu, bà Năm cũng khoe là bà có thêm một đứa con gái, có thêm một người bạnthân để tâm sự khi vui buồn. Bà nói thêm, từ ngày anh con trai có vợ, gia đình thấy vui vẻ, hạnh phúc và thưong yêu nhau hơn. Bà khen anh con trai khôn ngoan và khéo chọn bạn trăm năm. Bà không còn chê cô dâu là trán ngắn, mắt hí, miệng móm nữa.

Một hôm đã khuya, bà Năm thức giấc xuống lầu uống nước, thẩy có bóng người thấp thoáng ở sân sau nhà, bà ghé mắt nhìn. Trăng vầng vặc trái ánh vàng xuống khắp vườn. Bà thẩy Tâm quàng tay qua vai vợ ngồi tựa ngửa, chân gác lên ghê. Bà nghe tiếng thì thầm:
“Đôi khi thấy mẹ anh thương, và bênh em, làm anh phát ghen lên. Em làm gì mà mê hoặc được mẹ anh đến thế?”
Tiếng cô con dâu trong trẻo đáp lại:

“Thương yêu và thông cảm. Ðem hết tấm lòng mình ra mà đãi người, rồi sẽ được đáp lại bằng tấm lòng. Nhờ em biết thưong yêu ba mẹ anh như ba mẹ ruột, thì ông bà mới thưong yêu em như con ruột. Em có thêm một ông bố, một bà mẹ, một cô em, có thêm nhiều tình thương. Từ đó, vợ chồng mình hòa thuận hon, thưong yêu nhau hon, và lâu bên hơn, hạnh phúc hơn.”
Bà Năm len lén trở lại phòng, chép miệng và nghĩ rằng, bà đã già một đời mà còn ngu dại, cứ ganh ghét với gia đình chồng, ganh ghét với con dâu. Bọn trẻ con ngày nay, có nhiều đứa khôn nứt hạt./.


Trích trong "Hương cố nhân"
Tràm Cà Mau.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Những Viên Đạn Hợp Âm Sau khi nghe cuộc phỏng vấn Nhạc Sĩ Trúc Hồ trên đài SBTN với những lời nói nghẹn ngào như muốn rơi nước mắt khi nói đến người bạn trẻ Nhạc Sĩ Việt Khang đã can đảm dám ký bản án tử tù bằng một nhạc phẩm “Anh Là Ai”. Với một nghĩa cử anh hùng đó không chỉ Nhạc Sị Trúc Hồ rướm nước mắt, mà chính chúng tôi và những đồng hương cũng rơi lệ khi nghe Nhạc phẩm “Anh Là Ai”. Chúng tôi là những người lớn tuổi, niềm hy vọng đã tiêu mòn theo năm tháng, nhưng hôm nay người Nhạc Sĩ trẻ Việt Khang đã bật sáng chiếc que diêm trong trái tim chúng tôi một lần nữa sau Nhạc Phẩm “Việt Nam Tôi Đâu” cũng như Nhạc Sĩ Trúc Hồ trong Nhạc phẩm “Đáp Lời Sông Núi” Hoàng Nhật Thông với “Tuổi trẻ Việt Nam & Nỗi Đau Quê Hương đã khơi lại trong lòng mọi người một trách nhiệm, một bổn phận của người Việt yêu nước.

Hôm nay chúng tôi muốn chia xẻ những suy tư đó với những ai còn ưu tư đến Tố Quốc dân tộc và sự vẹn toàn lãnh thổ.
Tôi gọi Việt Khang là một anh hùng dân tộc vì anh làm những điều mà nhiều người không dám làm, anh dám hy sinh tính mạng cho quê hương Tổ Quốc, anh dám hy sinh cuộc sống tuổi trẻ, tương lai và gia đình của anh cho dân tộc thì xin hỏi chừng đó không đủ là một anh hùng sao? Nếu so sánh với một số Ca Sĩ hải ngoại được cộng đồng nuôi dưỡng, thành danh và kiếm được nhiều tiền, nhưng họ phản bội lại đồng bào về nước ca hát tuyên truyền cho chế độ, thử hỏi chúng ta nên ủng hộ hay cần phải tẩy chay họ? Ca Nhạc sĩ Việt Khang đang sống trong nước, không được tự do, nhưng anh dám cất lên lời hát để biểu lộ tình cảm của mình, để điểm mặt chế độ tàn ác CS. Tại sao anh dám làm vì anh có liêm sĩ, có lương tâm, biết tự trọng không quay về bưng bô cho CS và ngụy biện là chúng tôi là nghệ sĩ làm nghệ thuật.(Chế Linh, Lệ Thu, Elvis Phuơng, Hương Lan, Tuấn Ngọc, Quan Lê..v.v.)

Nhạc Sĩ Việt Khang hơn các Ca Sĩ dỏm đó nhiều lắm, chúng ta không cần phải nói nhiều những người chỉ biết sống vì đồng tiền, không trái tim, không thể cảm hóa họ được. Nếu đem so sánh Việt Khang với nhưng người chiến sĩ thì anh cũng xứng đáng là một anh hùng, anh không có cơ hội chiến đấu bằng súng đạn để bắn kẻ thù, nhưng anh có cây đàn, nốt nhạc, có ngòi bút để trực diện đâm thẳng vào trái tim địch. Chúng tôi là những người đã từng chiến đấu trên chiến trường, nhiều vị là tướng lãnh là những anh hùng dân tộc, dám chết vì không giữ được thành, đó là chuyện tự nhiển, nhưng dù sao thì các ông ấy cũng có ít nhất một thời gian hưởng bổng lộc của chức vị, cuộc sống, còn Việt Khang chưa được hưởng những ngày tháng của lứa tuổi thanh xuân của mình mà tự nguyện dâng hiến cuộc đời cho Dân tôc, chấp nhận đứng trước họng súng của bạo quyền. Thật cao qúi thay cho những người trẻ hôm nay. Anh đã can đảm dùng tài mọn của mình để gào thét nỗi đau của dân tộc đang trong hiểm họa xăm lăng của Tàu Cộng phương Bắc. Anh biết hành động đó sẽ đẩy anh vào tù, sẽ bị đánh đâp, sẽ tử hình dưới họng súng của bạo tàn. Nhưng anh cương quyết đánh đổi số mệnh như một Mohamed Buoazizi ở lứa tuồi 26 tại Tunisia Bắc Phi, (North Africa) hay những người trẻ ở Libya, Yenmen, Bahrain, Jordan, Algeria, Maroc.v.v đã làm cho những bạo quyền thay đổi đường lối cai trị.

Những nốt nhạc của Việt khang sẽ là tiếng chuông báo động, đánh thức tuổi trẻ VN đứng lên đáp lời sông núi, đánh đổ bạo quyền và giải phóng dân tộc. Anh đã đốt lên ngọn đuốc, hy vọng ngọn đuốc này sẽ nung đúc cho hằng triệu trái tim VN vùng dậy. Chúng tôi hy vọng đây là một biểu tượng khơi đầu cho cuộc cách mạng Hoa Sen , Hoa Lài, Hoa cãi, Hoa Hồng nào đó.v.v ở VN. Các bạn trẻ ở Bắc Phi, ở Trung Đông họ dám hy sinh cho đất nước họ thì tại sao các bạn không làm được? các bạn có sẳn lòng kiêu hãnh là con rồng cháu tiên, có lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến, có hằng trăm anh hùng bất khuất thì chẳng nhẽ đành cam phận tôi đày. Chúng tôi cả quyết với các bạn, với con tim và nhiệt huyết tuổi trẻ hôm nay các bạn có thể đánh sập chiếc ngai vàng kiên cố của các nhà độc tài, độc đảng cai trị bằng bạo lực, sẽ bẻ cong họng súng của bọn CSVN. Các bạn hãy nhìn xem, Tổng Thống Zine El Abidine Ben Ali chưa đầy 30 ngày đã phải trốn chạy, một Muammar Kadhafi, phải chết trong cống rãnh, một Bouteflika của Algeria phải run sợ, lòng dân là sức mạnh của bão tố vô địch. Các bạn đừng sợ sẽ bị đàn áp, dù là CS hay Phát xít, Công An hay Quân Đội họ đều còn một chút nhân tính, chúng tôi còn nhớ câu nói của một vị tướng Liên Sô Yazov:Khi đứng trước một khối lượng hàng trăm ngàn người dân chúng ở Moskva xuống đường bảo vệ chính quyền dân chủ, tôi cảm thấy cái trách nhiệm của mình quá lớn trước lịch sử, nên tôi không muốn quân đội do tôi chỉ huy phải bắn giết nhân dân tôi và cuối cùng tôi đã ra lệnh rút ra khỏi Moskva. Tôi nghĩ bọn CS sẽ còn chút lương tâm sẽ không dám nhận cái tội ác giết đồng bào mình trước lịch sử và để nhân loại thế giới nguyền rủa khinh khi.

Các bạn phải mạnh dạn đứng lên để tự do dân chủ về với dân tộc, với nhân loại. Chúng tôi thiết nghĩ đây là lúc thời cơ đã đến, hãy nắm bắt cơ hội để toàn dân đồng đứng lên lật đổ bạo quyền CS cứu nguy dân tộc. Các bạn trẻ trong và ngoài nước hãy noi gương anh hùng Việt Khang đứng lên giải phóng quê hương thoát khỏi gông cùm CS. Hãy noi gương các anh hùng dân tôc Quang Trung, Hưng Đạo Vương, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi. Lê lợi, Ngô Quyền, Nguyễn Thái Học, Hai bà Trưng, Triệu.v.v để không hổ thẹn với tổ tiên. Thà chết vinh còn hơn sống nhục.

Hoàn cảnh hôm nay chúng ta đừng nói hoa mỹ hai tiếng tự hào dân tôc mà hãy làm những điều mà dân tộc tự hào. Các bạn trẻ hãy cùng nhau đứng thằng người, tay trong tay, đi bằng đôi chân và con tim can trường của các bạn đến Quãng Trường Ba Đình, vứt xác tên tội đồ dân tộc Hồ Chí Minh vào xọt rác và chưởi thẳng vào mặt bọn chớp bu ở Ba Đình đừng hút máu dân lành, đừng mị dân để bán nước. Các bạn trẻ trong quân đội hãy quay súng lại làm lịch sử, bắn vào đầu những tên bán nước, dâng đất, dâng biển cho Tàu Cộng. Tôi cam chắc nhân dân sẽ đứng về phía bạn, một người làm, một Tiểu Đội làm, một Đại Đội làm và toàn Quân lực sẽ làm để cứu nguy đất nước. Nước mất các bạn sẽ mất tất cả. Đừng đắng đo, thời gian không còn để chúng ta chọn lựa, hãy hành động để VN còn tồn tại trên bản đồ thế giới, các bạn có muốn đất nước chúng ta trở thành như Tân Cương, Tây Tạng, Nội Mông và hiện nay VN mất Ải Nam Quan, Bản Giốc, Lạng Sơn. Xin các bạn hãy đi một vòng từ Ải Nam Quan đến tận mũi Cà Mau, các bạn có thấy gì không? có bao nhiểu Tầu Cộng đang lộng hành trên quê hương đất nước chúng ta từ Cao Nguyên đến duyên hải? Họ đã làm chủ quá nhiều đất đai tài sản. Họ xuất nhập tự do không cần giấy thông hành(Visa), xin hỏi các bạn, bao lâu nữa thì chúng ta sẽ không còn đất sống? Các bạn trẻ hãy đứng lên làm lịch sử để con cháu các bạn không hổ thẹn và nguyền rủa vì cha ông hèn nhát.

Chúng ta thường tự hào một dân tôc anh hùng, dám sống, dám chết cho lý tưởng thì hôm nay là cơ hội cho các bạn chứng tỏ thế giới thấy điều đó, là niềm hy vọng của Tổ Quốc, các bạn đừng trở thành con giun nằm khoanh trong chiếc lá, hay một con ruồi chỉ đậu quanh quẩn trên hạt cơm. Đời người quá ngắn hãy sống sao cho cuộc sống mình có ý nghĩa, Hãy trở thành một quả bom nổ giữa lòng đất mẹ để cứu vớt toàn dân. Các bạn hãy nhìn tuổi trẻ trên thế giới họ hành động ra sao, chẳng lẽ họ không biết qúi mạng sống của họ sao, nhưng vì Tồ Quốc dân tôc họ chấp nhận hy sinh để lương tâm họ không xấu hổ là con dân của một đất nước biết yêu chuộng tự do, công bằng và dân chủ.

Hãy mang nhạc phẩm “Anh Là Ai” của Việt Khang để làm ngòi nổ giữa lòng dân tộc, một tác phẩm xứng đáng và hay nhất thế kỷ. Nhạc phẩm này còn hay gắp ngàn lần những tác phẩm của tay bưng bô Phạm Duy, tay nằm vùng Trịnh Công Sơn. Quí vị nghĩ lại xem tên Việt Gian Phạm Duy có xứng đáng để so sánh với Việt Khang không? chắc chắn là không, không thể đem kẻ tiểu nhân mà luận anh hùng. Các bạn hãy tưởng tượng xem, nếu hôm nay Đại Nhạc Sĩ Phạm Duy nghe được nhạc phẩm Anh Là Ai của Việt Khang, ông sẽ cảm nhận thế nào? đây có phải là một gáo nước lạnh của thế hệ con cháu tát vào mặt ông ở cuối đời! Dù là một nghệ sĩ ở tầm mức nào, điều quan trọng để mọi người quí trọng là phải có liêm sỉ, tự trọng, biết hy sinh và trái tim chân chính không tráo trở.

Hởi đồng bào trong và ngoài nước, các tôn giáo nghĩ gì khi đất nước điêu linh? Chúng tôi cảm thấy xấu hổ cho chính mình vì thiếu trách nhiệm với cộng đồng với dân tộc. Có bao giờ qúi vị nghĩ rằng trong nhiều năm qua chúng ta sống như một ký sinh trùng không mang lợi ích cho tha nhân. Có người đã nói: “Cái nhục không phải là cái khiếp sợ trước cường quyền Cộng sản đàn áp, nhưng cái ghê tởm nhất là cái thờ ơ vô cảm của con người hèn nhát bị Cộng Sản nhồi sọ, đe dọa trước sự đánh đập dã man, giết người vô tôi của cán bộ CS…mà chính mình ngoảnh mặt làm ngơ..”

Xin qúi vị lãnh đạo tôn giáo, những người mệnh danh là kẻ tu hành, chẳng lẽ đi tu chúng ta chỉ biết gõ mõ, đọc kinh để mau lên Thiên Đàng, Niết Bàn, như vậy có ích kỷ lắm không ? chúng ta hãy hiệp lực để cứu nguy dân tôc. Nếu qúi vị cố tình ngoảnh mặt làm ngơ, không hy sinh cứu nhân độ thế thì qúi vị sẽ không bao giờ thăng hoa đến nơi nào tốt hơn đâu. Hãy dấn thân như một Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Linh Mục Nguyễn Văn Khải, Mục Sư Nguyễn Hồng Quang, LM Phan Văn Lợi và nhiều Mục Sư khác, hay như các nhà tranh đấu Nguyễn Văn Đài, Lê Quốc Quân, Trần Văn Bá, Phạm Hồng Sơn, Hồ Thị Bích Khương, LS Lê Trần Luật, Nguyễn Bắc Tuyển, LS Lê Thị Công Nhân, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, Luật Gia Phạm Thế Hải, Bùi Thị Minh Hằng, Bloger Điếu cày.v.v. Hãy một lòng đứng lên để tìm chút tự do cho dân tộc. Đạo nào cũng tiến đến mục đích chân thiện mỹ, nhưng đạo mà không hy sinh để giải phóng con người, cho nhân loại thì khi chết đi khó đạt được miền cực lạc hay Thiên Đàng vì lòng chúng ta còn quá nhiều ích kỷ. Tôi còn nhớ trước năm 75 nhiều vị dám xuống đường hàng chục ngàn người, dám tự thiêu trên đường phố để phản đối những gì qúi vị không thích. Chính phủ thời đó thật ra chưa đến nỗi nào như chế độ gian ác, tàn bạo hôm nay, nhưng qúi vị dám xuống đường. Hôm nay thì sao, quí vị sợ gì? Súng đạn, tiền bạc hay ham sống? Sự thật sẽ giải phóng con người, hành động để giải thoát nỗi trầm luân, khổ đau của dân tộc, nếu tất cả các tôn giáo cùng đứng lên thì ngọn sóng thần sẽ cuốn trôi bạo quyền trong chớp mắt.

Xin qúi vị hãy biết độ lượng, cảm thông, yêu thương tha nhân và thấy được nỗi bất hạnh của đất nước. Hiện nay đất nước VN đang bị bọn CS đàn áp dân lành, đang cướp công cướp của, cướp ruộng đất và giết chóc người dân vô tội. Chúng ta nghĩ sao với 90 triệu người VN đang bức hại hiện nay? Liệu chúng ta có lên Thiên Đàng hay Niết Bàn khi chúng ta ngoảnh mặt làm ngơ trước thời cuộc đảo điên của vận nước? đường lên Thiên Đàng hay Niết Bàn không thể bằng tiền bạc cúng dường thật nhiều, lần hạt mỗi đêm, gõ mõ mỗi giờ để được ghi danh lên với Chúa với Phật. Tôi tin chắc không phải thế, trời Phật muốn chúng ta hành thiên cứu thế như Nhạc Sĩ Việt Khang, Nhạc sĩ Hoàng Nhật Thông như Cha Nguyễn Văn Lý, như Trần Văn Bá, như anh Đoàn Văn Vươn không khíếp sợ trước bạo quyền, mới xứng đáng lên cõi trên. Cất chùa, nhà thờ thật nhiều, thật to để làm gì khi con người xung quanh ta đang khổ đau, đang đưa tay nhờ ta cứu giúp. Đừng đọc những lời cầu nguyện mà hãy làm những gì trong lời cầu nguyện đó mới thực đi tu cứu nhân độ thế.

Chúng ta là những người may mắn sống ở nước ngoài có đầy đủ tự do, dân chủ, nhân quyền. Chúng ta no cơm ấm áo, con cái chúng ta học hành thành đạt gắp trăm ngàn lần những người trong nước. Nhưng có bao giờ chúng ta tự hỏi, hay nói với con cháu biết lý do tại sao chúng ta có mặt tại đây không? Thậm chí, có nhiều người chối từ căn cước tị nạn CS của mình, khi được trời cho chút may mắn ăn nên làm ra, có chút danh vọng đã quên cội nguồn, dân tộc và ngoảnh mặt trước khổ đau của đồng bào ruột thịt. Họ đã quên những uất hận đầy máu và nước mắt của những đêm đào đất chôn vài lít dầu, mướn ghe để tìm đường vượt biên. Chúng ta là ai? là những người tị nạn CS hay vì kinh tế?

Hôm nay, khi con người quá đầy đủ thì lòng thương xót cũng vơi đi. Chúng tôi đã nhìn thấy trong những sinh hoạt tranh đấu cho đồng bào, cho đất nước lâm nguy, còn rất nhiều người vô cảm đến rợn người, thậm chí còn buông lời chê trách. Những ánh mắt, những hành động thờ ơ trước thời cuộc với đồng bào, với Tồ Quốc, thật không còn gì đau xót cho bằng. Thậm chí có một vài bạn trẻ đã thành công nơi xứ người, Bác Sĩ, Kỹ Sư, nhưng họ đã mau quên dĩ vãng của mình, sự ra đi đầy nước mắt và máu của cha mẹ mà buông lời miệt thị những người già trong những cuộc xuống đường tranh đấu. Cũng như có một số người trong Cộng Đồng chúng ta, khi sinh hoạt không dám nói, không dám hô hào, không lên tiếng, né tránh chụp hình, camera vì sợ có hình ảnh trên báo chí không về được VN. Thử hỏi có những con người như thế thì làm sao ngọn lửa đấu tranh có thể bùng cháy được, làm sao có cơ hội cứu đất nước? Hãy nhìn Việt Khang dám anh dũng trước họng súng của bạo tàn.

Nhạc Sĩ Việt Khang thật sự là một anh hùng, anh không cần khoác lên mình bất cứ một thứ nhãn hiệu nào, anh không sợ bị bỏ tù, không sợ chết vì trong anh có trái tim can trường biết hy sinh vì dân tộc, anh không cần khoe khoang bề ngoài, không cần ai vinh danh, không cần ghi ơn, không cần phủ cờ tuyên dương công trạng, mà anh cần sự hy sinh đề cứu đất nước dân tộc. Tiếng Việt Khang gào thét bằng trái tim chân tình của một người trẻ VN ưu tư vận nước. Anh mang dòng máu Lạc long không muốn hổ thẹn cùng núi sông, cùng đồng bào và tiền nhân, Tổ Quốc, trong khi có nhiều người không biết mình là ai.

Xin hỏi anh là ai?
sao bắt tôi, tôi làm điều gì sai
Xin hỏi anh là ai?
sao đánh tôi, chẳng một chút nương tay
Xin hỏi anh là ai?
không cho tôi xuống đường để tỏ bày
tinh yêu quê hương này
dân tộc này đã quá nhiều đắng cay.

Xin hỏi anh ở đâu?
ngăn bước tôi, chống giặc tàu ngoại xâm
Xin hỏi anh ở đâu?
sao mắng tôi, bằng giọng nói dân tôi
dân tộc anh ở đâu?
sao đan tâm, làm tay sai cho tàu
để ngàn sau ghi dấu
bàn tay nào, nhuộm đầy máu đồng bào.

Tôi không thể ngồi yên
khi nước việt nam đang ngã nghiên
dân tộc tôi, sấp phải đắm chìm
một ngàn năm hay triền miên tăm tối
Tôi không thể ngồi yên
để đời sau cháu con tôi làm người
cội nguồn ở đâu?
khi thế giới này đã không còn
Việt Nam.
Tôi không thể ngồi yên
khi nước việt nam đang ngã nghiên
dân tộc tôi sấp phải đắm chìm
một ngàn năm hay triền miên tăm tối
Tôi không thể ngồi yên
để đời sau cháu con tôi làm người
cội nguồn ở đâu?
khi thế giới này đã không còn Việt Nam.

Xin hỏi có tiếng kêu nào thống thiết hơn của những người trẻ hôm nay, một tiếng kêu vì số phận quê hương nghiệt ngã, một bất công của xã hội, của một chính phủ độc tài đảng trị. Nhạc Sĩ Việt Khang và Hoàng Nhật Thông đã hỏi chúng ta phải làm gì cho Tổ Quốc? chúng ta còn chút tình tự dân tộc để tranh đấu mang lại chút công lý, dân chủ, nhân quyền cho quê hương. Những uất hận hôm nay có làm chúng ta đau xót ngậm ngùi? Nếu chúng ta thờ ơ, vô cảm thì một ngày không xa VN sẽ không còn tên gọi trên thế giới như những nốt nhạc Việt Khang đã viết: Khi thế giới này đã không còn Việt nam

Linh Vũ

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

NGÀY TÌNH YÊU Valentine’ s Day

Nguyễn Quý Đại
Trái đất nầy nếu không có tình yêu sẽ khô cằn sỏi đá hơn. Chúng ta phải bon chen, chạy đua theo nhu cầu đời sống đi cày trả nợ áo cơm, nhưng tình yêu luôn nhắc đến để sưởi ấm lòng người. Mỗi năm vào ngày 14.2 Valentine's Day 14.2, là ngày tình yêu, tình yêu đôi lứa, tình yêu gia đình vợ chồng con cái và tình yêu hướng về Thiên Chúa .
Valentine’ s day bắt nguồn từ đức tin tôn giáo. Người đã để lại cho thế gian ngày tình yêu là một nhà tu Thiên Chúa giáo thánh thiện, có tên là Thánh Valentine (St. Valentine). Valentine được mừng vào ngày 14 tháng 02 hàng năm, chính vị Thánh Valentine đã cho nhân loại món qùa Valentine's Day chứa chan tình yêu thương nhân ái.

Thánh Valentine sinh sống và hành đạo tại Roma trong khoảng năm 270 sau Thiên Chúa. Sự xung đột giữa niềm tin Giáo quyền La Mã và Thượng Ðế của Công giáo. Vua của đế quốc La Mã hùng mạnh trong thời gian này là Claudius II, rất nghiêm khắc, cấm truyền bá đạo Thiên Chúa, cả người giảng đạo lẫn theo đạo đều sẽ bị bắt cầm tù, giống như thời gian cấm đạo tại Việt Nam

Chính quyền La Mã đã giết chết nhiều Tông đồ của Chúa Jesus trên thập tự giá, thậm chí có vị bị treo ngược đầu. Ðế quốc La Mã với bản chất hiếu chiến luôn luôn cần một đạo quân đông và mạnh.

Trong thời Claudius II, ông rất buồn bực vì nhận thấy một khi người lính Ý lập gia đình, thì an phận lo cho tình yêu gia đình. Vì vậy nhà vua ra lệnh thật kỳ quái không cho binh sĩ La Mã lấy vợ trong thời gian tại ngũ, cấm các Linh Mục, Giáo sĩ Thiên Chúa giáo làm phép hôn phối cho ai còn đang phục vụ trong quân đội La Mã, trái lệnh trên đều bị bắt đem ra pháp trường chém đầu.!!

Thánh Valentine kiên quyết không chấp nhận cái lệnh vô luân lý và khắc nghiệt đó. Ngài đã đem tính mạng của mình ra thách đố với bạo lực, bằng cách vẫn bí mật làm phép chủ hôn cho những đôi trai gái yêu nhau nên vợ chồng, điều đó trong Kinh Thánh không cấm, khuyến khích con người được tự do yêu nhau, lập gia đình tạo thành xã hội lành mạnh và đạo đức ở thế gian.

Thánh Valentine trái luật đã ban hành của vua Claudius II nên ngài bị bắt ở tù. Khi ngài được dẫn đến trước vua Claudius II, nhà Vua ra điều kiện nếu ngài chịu bỏ đạo và tôn thờ những thần thánh La Mã thì ngài sẽ được tha chết .Thánh Valentine không chịu bỏ Chúa còn nhắc lại đoạn Kinh Thánh hay nhất để cải hóa con người. Nhưng Claudius nổi trận lôi đình truyền quân dẫn Thánh Valentine vào ngục tối chờ ngày ra pháp trường chém đầu, để bảo vệ luật đã ban hành

Theo lịch sử Thánh Valentine bị giam trong ngục, có cô bé mù con người cai ngục, nghe tiếng ngài ngoài đời là một ông già nhân từ, rất yêu thương trẻ con và thường hay hái hoa đẹp trong vườn của ngài tặng cho các em, nên cô cũng thường đem hoa đến ném qua khung cửa sắt để tặng ngài và cho biết một vài tin tức bên ngoài. Cô tin tưởng rằng một nhà Tu Thánh Thiện như ngài, sẽ có quyền năng cầu xin Chúa cho cô được nhìn thấy được ánh sáng, màu sắc xinh tươi huy hoàng của hoa lá.

Thánh Valentine nhận lời cầu xin của cô bé, ngài bắt đầu cầu nguyện hàng ngày. Thật huyền diệu, Chúa Cha đã đem ánh sáng tình thương xuống trần thế cứu giúp cho những con người đau khổ. Trong đó có cô bé đáng yêu kia được sáng mắt trong những giây phút cuối cùng, để chỉ kịp nhỏ những giọt nước mắt ràn rụa nhìn Thánh Valentine là một ông già râu tóc bạc phơ phải bước lên giàn gỗ pháp trường. Đau buồn nhất vào ngày 14.2. trước khi bị tử hình, ngài đã gửi một bức thư từ giã cô bé „Valentine của cháu“ (From your Valentine).

Ðể tri ân và vinh danh Thánh Valentine, từ đó mỗi năm cứ vào ngày 14.2 người ta tặng cho nhau những đóa hoa hồng, hay loại hoa Violet tím gửi cho nhau những lời yêu thương hay thân ái. Những người trẻ đang yêu nhau viết trên những thiệp “Anh yêu em „

Tình yêu xưa và nay luôn được quý trọng bởi vì con người sống không thể thiếu tình yêu, cái thiệp cổ lâu đời nhất viết vào năm 1415 còn giữ trong viện bảo tàng Anh Quốc của một người Pháp có tên là Charles bị quân Anh bắt làm tù binh đã viết cho vợ những vần thơ tình có nhắc đến tên Thánh Valentine.

Đến 1800 người Anh mới bắt đầu dùng thiệp Valentine, từ năm 1925, với sự ra đời của công ty Sir Adolph Tuck, rồi phát triển với nhiều kiểu cách đa dạng cho mãi đến ngày nay. Cũng như ảnh hưởng bối cảnh lịch sử khi quân đội La Mã đổ bộ lên Anh Quốc mang theo những tập tục lễ hội truyền thống của người Ý, và người Anh đã ảnh hưởng từ đó.

Ở Bắc Mỹ trong những thế kỷ đầu khi người Âu châu là những di dân đầu tiên đến lập nghiệp, vì mãi bận rộn khai phá, chiến đấu với những khắc nghiệt của hoang dã khó khăn nên người di dân không quan tâm mấy đến ngày Valentine. Đến thế kỷ thứ 18 cuộc sống ổn định, người ta bắt đầu đón nhận ngày Valentine. Người trẻ gửi thiệp Valentine cho nhau lúc đó dùng những tờ giấy cắt thành những thiệp đơn giản có hình trái tim, biểu tượng của tình yêu viết những hàng chữ như My heart is filled with my love, My love is endless you can see, Happy Valentine to all of you v.v..

Lịch sử thiệp Valentine ở Hoa kỳ bắt nguồn từ một cô nữ sinh Esther Howland ở Massachusstts. Năm 1847 cô ta nghĩ cách tự sản xuất thiệp cho ngày Valentine khỏi nhập cảng. Cô cùng người em trai làm ra những cái thiệp đầu tiên được nhiều người mua, và từ đó cô là người cho sản xuất đầu loại thiệp nầy ở Hoa Kỳ. Có tài liệu cho rằng cô Esther là người đầu tiên nghĩ ra cách sản xuất theo kiểu dây chuyền (assembby line) ? trước ông vua xe hơi Herry Ford

Có một sự trùng hợp ngẫu nhiên, ngày Thánh Valentine vinh thăng thiên đàng lại trùng với ngày lễ hội truyền thống vinh danh Thần Lupercus, là vị thần bảo vệ súc vật và mùa màng cho người Ý, gọi là Ngày Luperculia. Trong Trước Ngày Luperculia các cô gái trẻ viết tên mình trên một mảnh giấy rồi cho vào một cái chậu nhỏ. Ðêm 13.2 các chàng trai đến bóc hú họa một mảnh, cô gái có tên trong mảnh giấy sẽ đương nhiên là người bạn gái duy nhất của anh chàng trong những vũ hội hay lễ lạt trọn năm đó. Có rất nhiều cặp đã nên duyên vợ chồng. Nếu không vừa ý nhau, năm tới, chàng trai sẽ xù người bạn gái cũ và đến bóc một cái tên mới, với hy vọng tìm được người tâm đầu ý hợp hơn. Hơn một trăm năm sau, khi Công giáo đã trở thành quốc giáo của người Ý, dần dần người ta đổi Ngày Luperculia thành ngày Valentine, kết hợp chúng thành ngày của mùa màng sung túc và của tình yêu lứa đôi.

Hàng năm nhắc lại ngày lễ tình yêu, dư âm của tình yêu nào đó một thời đã qua !! Nhưng tình yêu còn lại ngày hôm nay là tình của gia đình, tình nghiã vợ chồng dù theo thời gian tuổi đời thêm chồng chất, nhưng tình yêu không bao giờ già „gừng càng già càng cay“ Thi sĩ Vô Tình ở Houston Texas, anh vào rừng hái những cánh lan về tặng vợ, Houston trời nóng lan có thể mọc trong rừng. ở Munich mùa đông thời tiết lạnh với tuyết trắng không thể tìm được những cánh lan màu tím về tặng bà xã !! Sau giờ làm việc về ghé tiệm mua một bó hoa hồng để nhớ rằng là tình yêu của chúng ta không bao giờ già

Valentine giữa tháng hai
Vinh danh luyến ái, là Ngày tình yêu
Ông già bà lão xế chiều
Thanh niên thiếu nữ mỹ miều tuổi xuân

Valentine cho trẻ đã đành
Cho người già cả - Vinh danh tình người
Luyến lưu kỹ niệm tình yêu
Trước khi họ sẽ dắt dìu đi xa

Riêng tôi kỷ niệm tình già
Tặng người yêu dấu chùm hoa lan rừng
Nhận từ nàng một nụ hôn
Valentine như thế cho hồng thế gian
Vô Tinh Houston Texas

Thời xa xưa chúng ta phải nắn nót suy nghĩ viết những thư tình trên giấy học trò hay loại giấy màu xanh hy vọng, thời đó chúng ta không biết ý nghiã ngày Valentine là gì !! chúng ta chưa một lần viết cuối thư From Your Valentine.! Nhưng chúng ta đã yêu nhau cho đến tóc đã bạc màu.

Lịch sử đổi đời từ ngày 30/4/1975 nhiều người phải bỏ vợ con vào trại cải tạo, ngồi gở lịch từ Nam ra Bắc, những người vợ hiền ở nhà lo nuôi, giáo dục con cái, phụ dưỡng mẹ già, tảo tầng làm việc dành tiền mua qùa đi thăm chồng !! Tình yêu cao quý đó cần phải ghi vào một trang lịch sử đẹp, oi hùng để vinh danh những người Đàn-Bà-Việt-Nam với tình yêu gia đình thật tuyệt vời !! đã chịu đựng nhiều khổ đau và trách nhiệm. Sau ngày 30/4/1975 là những ngày Valentine gói trọn tình yêu dành cho thế hệ chúng ta và mãi mãi.

Ngày Lễ tình yêu sẽ là ngày ý nghĩa trân trọng, mỗi năm một lần mỗi đóa hoa chính là một đại sứ tình yêu, mang thông điệp lành từ trái tim đến trái tim. Những đoá hoa ngày Valentine hàm chứa nhiều ý nghiã, không chỉ đơn thuần là một món quà, mà chúng còn chở đầy những ngôn từ lãng mạn say đắm ..

14 tháng 2 ngày lễ đặc biệt để tưởng nhớ về thánh Valentin. Phong tục này truyền thống có từ Đức, Ý, Anh đến Mỹ ở Việt Nam ngày nay lễ Valentin cũng được phổ biến sâu rộng tại các thành phố như Sài Gòn Hà Nội. Valentine mang nét dễ thương để những cặp tình nhân trao cho nhau đóa hoa nói lên tấm lòng của mình, và mỗi người có thể trao cho nhau biểu tượng của tình yêu và mộng ước.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Gió Tiên Lãng

Kính tặng anh em người anh hùng khởi nghĩa Đoàn Văn Vươn
Trần Mạnh Hảo
(Danlambao)
lần đầu trong thời cộng sản
một người nông dân
bắn vào chính quyền
đã chiến thắng

Đoàn Văn Vươn
gió Tiên Lãng thổi anh ra khắp nước
lấy mạng sống giữ ruộng vườn
khi chính quyền thành bọn cướp
từ thân phận con lươn
anh nổ súng trước
để được làm con người
đất của dân máu và nước mắt
sao cướp ngày đến cướp mồ hôi ?

chính quyền đối thoại với dân bằng súng
cướp nhà cướp đất quen rồi
vụ cướp đầm tôm xã Vinh Quang, Tiên Lãng
súng của dân đã cất lời
cả nước bênh người nông dân liều mạng
lịch sử bừng hoa cải gió xuân ơi

ông thủ tướng phải về Hải Phòng
tháo ngòi nổ
nông dân bị đẩy tới chân tường
trời tích bão nén cuồng phong phẫn nộ
tiếng súng bắn vào chính quyền Đoàn Văn Vươn
lại thành cơ may cứu chế độ
trả lại dân ruộng vườn
trả biển lại cho lòng dân sóng vỗ

Đoàn Văn Vươn
anh phải bắn để còn chân lý
chứng tỏ mình còn là người
khi lòng dân biến thành vũ khí
chính quyền sao nhốt được gió trời ?

Đoàn Văn Vươn
không ai nhốt được lịch sử
không ai bỏ tù được quê hương
gió Tiên Lãng dựng biển bờm sư tử
gió hoa cà hoa cải gió tình thương…

Sài Gòn 14/02/2012
Trần Mạnh Hảo

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image
Việt Dũng Một Nghệ Sĩ Với Tài Năng Vượt Bực
Tiểu Sử:

Tên thật: Nguyễn Ngọc Hùng Dũng
Ngày sinh: 8 tháng 9 năm 1958
Nơi sinh: Sài Gòn, Việt Nam

Những trường đã theo học: Lasalle Taberd (Sài Gòn), Wood River High School (Nebraska), University of Nebraska at Omaha (UNO), University of Houston (Texas).
Nhạc khí sử dụng: Piano, Guitar

Sở thích: Âm nhạc
Màu ưa thích: Màu đen, màu xanh
Con số ưa thích: 13
Thức ăn ưa thích: Hải sản và các thức ăn khác.
Môn thể thao ưa thích: Thich xem football trên truyền hình .......

***

Suốt ba mươi năm nay, Việt Dzũng là một cái tên quen thuộc với hầu hết mọi người Việt đang sinh sống ở hải ngoại, kể cả rất nhiều người dân trong nước cũng biết đến tên anh. Nhưng cho tới nay vẫn chưa có ai viết cho thật đầy đủ về người nghệ sĩ đa tài này và những đóng góp to lớn của anh trên nhiều lãnh vực khác nhau, nhứt là trong địa hạt ca nhạc và truyền thông đại chúng. Bên cạnh đó, anh cũng thường xuyên là đề tài cho các tờ báo trong nước tấn công từ hơn hai chục năm nay, với những lời vu cáo, mạ lỵ nhằm dìm anh xuống đáy vực sâu. Nhưng người nghệ sĩ và chiến sĩ tranh đấu cho nhân quyền này vẫn mane dạn vượt qua tất cả những khổ nạn chập chùng, oan khiên chất ngất và càng ngày anh càng được nhiều người yêu mến anh thêm.

Cũng chính biến cố 30 tháng tư năm 1975 cùng với sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam đã đưa Việt Dzũng rời xa quê hương mà cho đến nay chưa một lần nào anh đặt chân trở lại. Cùng với 36 người chen chúc nhau trên một chiếc tàu nhỏ bé, mong manh, Việt Dzũng và bà ngoại của anh đã vĩnh viễn rời xa gia đình và đất nước Việt nam. Sau 22 ngày trên biển khi không còn thức ăn, nước uống, cũng như phải chứng kiến biết bao nhiêu cảnh đau thương trên biển cả, tàu của họ mới cập được bến Singapore. Nhưng liền sau đó, tất cả lại bị chuyển qua một chiếc tàu khác và thẳng đường tới trại tị nạn Subic ở Phi Luật Tân. Chính những kinh nghiệm sống trên đường vượt biển tìm tự do này đã khiến cho anh sáng tác rất thành công các ca khúc để đời sau này,
mà tiêu biểu nhất vẫn là “Lời Kinh Đêm” với những câu ca:

... “Thuyền trôi xa ... về đâu ai biết ? Thuyền có về ...ghé bến tự do ? Trời cao xanh ... hay trời oan nghiệt Trời có buồn ... hay trời vẫn làm ngơ ?...

... Người buông xuôi về nơi đáy nước Người có mộng một nấm mồ xanh ? Biển ngây ngô hay biển man rợ Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ ...?”

Chưa đầy 17 tuổi mà đã rời xa mái ấm gia đình, bỏ lại sau lưng tất cả những người thân yêu, bè bạn, mái trường yêu dấu với những sinh hoạt vui tươi của tuổi học trò. Chắc chắn là có những khoảnh khắc anh Nguyễn Ngọc Hùng Dũng chợt nhớ lại quãng đời niên thiếu ngập tràn kỷ niệm của mình, đã bỏ lại sau lưng tận bên kia bờ Thái Bình Dương.

Từ nhỏ anh đã là một học sinh xuất sắc của trường Lasalle Tabert ở Sài Gòn, cũng như anh trai và đứa em trai kế của anh. Người chị lớn của anh thì đang du học bên Nhật Bản về ngành giáo dục. Ba của anh là bác sĩ Nguyễn Ngọc Bảy, cựu Dân Biểu của nền đệ nhị cộng hoà Việt Nam và cũng là Thiếu Tá Y sĩ trưởng Bộ Tổng Tham Mưu và Sư đoàn 5 QLVNCH. Mẹ của anh là giáo sư trường nữ trung học Gia Long ở Sài Gòn. Việt Dũng đã yêu thích âm nhạc từ khi còn rất trẻ và được các sư huynh ở trường Lasalle Tabert chỉ dạy rất tận tình. Trong lúc gia đình mong cho anh sau này trở thành Bác sĩ để nối nghiệp cha, thì Việt Dzũng lại đam mê ca hát, văn nghệ văn gừng. Anh thường cùng các bạn học trình diễn ca nhạc ở những buổi văn nghệ liên trường. Việt
Dzũng đã từng chiếm giải nhất ở cuộc thi văn nghệ của trường Tabert và đại diện trường đi tham dự các buổi hát ủy lạo chiến sĩ VNCH, cũng như tham dự vào những đại hội nhạc trẻ khắp nơi bên cạnh những tên tuổi nổi danh thời bấy giờ như Trường Kỳ, Nam Lộc, Jo Marcel, Tùng Giang, Đức Huy, Elvis Phương.v.v.. Đó là khoảng thời gian từ năm 1971 cho tới tháng tư năm 1975.

Giờ đây (tháng 6-1975), tại trại tạm cư Subic, chàng thanh niên trẻ Việt Dzũng tạm quên đi những kỷ niệm thật đẹp ở quê nhà mà bắt tay ngay vào đời sống mới. Với số vốn Anh ngữ học được ở trung học và tính tình hoạt bát, Việt Dzũng liền tham gia hoạt động trong ban tổ chức và điều hành trại, đón tiếp và giúp đở nhiều chuyến tàu tị nạn lần lượt cặp bến Subic cho đến khi trại này đóng cửa. Rời trại tị nạn này, Việt Dzũng cùng bà ngoại được đưa sang đảo Guam, rồi chuyển sang trại Ft. Chaffee ở tiểu bang Arkansas. Trong thời gian này Việt Dzũng hoạt động không ngừng nghỉ, từ việc đón tiếp đồng bào tị nạn mới tới, sinh hoạt trong hội Hồng Thập Tự, hội USCC, cộng tác với tờ báo của trại, chương trình phát thanh của trại, làm
thông dịch viên giúp đỡ rất nhiều người chung quanh. Ở lại trại gần đến ngày cuối cùng trước khi trại đóng cửa, anh được Đức cha Bernard Law, Giám Mục địa phận Springfield, Missouri, bảo trợ và gởi đến tạm trú trong một gia đình người Mỹ.

Năm 1976, Việt Dzũng tiếp tục học lớp 11 ở trường trung học St. Agnes, Missouri và tự trau dồi thêm về âm nhạc theo như sở thích và đam mê từ nhỏ của anh. Tại đây, anh bắt đầu sinh hoạt ca hát với các anh chị em thuộc cộng đồng Việt Nam. Anh cũng từng xuất hiện trên đài truyền hình KOZK21 ở Springfield. Một năm sau (1977), Việt Dzũng được đoàn tụ với gia đình ở Wood River, tiểu bang Nebraska. Năm đó anh tốt nghiệp trung học tại trường Wood River.

Năm 1978, Việt Dzũng chính thức bước vào lãnh vực âm nhạc khi cùng một người bạn học chung trường tên là Vernon Larsen lập ban song ca để hát theo lối du ca (troubrador) của Mỹ, tên “Firebirds” (Chim Lửa). Đôi song ca này chuyên hát nhạc đồng quê của Hoa Kỳ (American country music). Việt Dzũng sử dụng tây ban cầm và cùng người bạn Mỹ đi trình diễn khắp nơi ở vùng Trung Mỹ, kể cả các club nhạc của dân địa phương. Nhiều người Mỹ đã tỏ ra rất ngạc nhiên khi thấy một thanh niên Á châu hát nhạc đồng quê rất thành thạo, trôi chảy nên đã dành cho anh thật nhiều thiện cảm.

Cũng năm 1978 này, Việt Dzũng đoạt giải nhất về sáng tác nhạc country music tại cuộc thi Iowa Grand Old Orphy. Thật ngạc nhiên khi anh là người Việt Nam đầu tiên, mà cũng là người Á châu đầu tiên chiếm giải nhất về bộ môn sáng tác country music với bài hát hoàn toàn bằng Anh ngữ. Ngay sau đó, một hãng dĩa về country music đã mời anh cộng tác để thực hiện một Album nhạc đồng quê, nhưng anh đã từ chối vì muốn tiếp tục học ở Đại học theo ý muốn của song thân. Cũng trong năm này, Việt Dzũng bắt đầu sáng tác nhạc Việt với bài hát đầu tiên là “ Sau Ba Năm Tỵ Nạn Tại Hoa Kỳ”, viết về thân phận người dân xa xứ với những đau đớn chia lìa. Bài hát thứ hai là “Một Chút Quà Cho Quê Hương” đã trở thành một ca khúc lẫy lừng nhất của Việt Dzũng,
được mọi người yêu thích cho đến tận hôm nay. Đó là thời gian người Việt tỵ nạn bắt đầu gửi quà về cho thân nhân ở quê nhà, chia sẻ những khổ đau chất ngất, đọa đày dưới chế độ mới như những lời ca sau đây:

“Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay ... Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may Mẹ may hộ con tim gan quá đoạ đày ...

Gởi về cho chị hộp diêm nhóm lửa Chị đốt cuộc đời trong hoang lạnh mù sương Gởi về cho mẹ dăm gói trà xanh Mẹ pha hộ con nước mắt đã khô cằn ....

Con gởi về cho cha một manh áo trắng Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây Gởi về Việt Nam nước mắt đong đầy Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình ...”

Nhớ lại những ngày đầu tiên làm quen với sinh hoạt văn nghệ của người Việt tha hương, khi Việt Dzũng theo người chú họ về San Antonio, Texas thăm gia đình người bạn nhân dịp tết Nguyên Đán 1979. Tại Hội Chợ Tết nơi đây, anh đã lên sân khấu, ôm đàn guitar trình bày hai ca khúc mà anh vừa sáng tác. Hát xong, nhìn xuống khán giả thì mọi người đã đầm đìa nước mắt và túa ra ôm ấy anh khi anh rời sân khấu. Việt Dzũng đã chinh phục bà con đồng hương nơi đây kể từ lúc này.

Năm sau 1980, Việt Dũng trình diễn tại một đại nhạc hội ở Omaha, Nebraska với Sĩ Phú và Mai Lệ Huyền. Sau đó anh đã hát với Khánh Ly, Hoàng Oanh, Trung Chỉnh ở Denver, Colorado những bài hát do anh sáng tác. Ngay lúc đó, Khánh Ly đã chọn ba bài hát của anh là: “Lời Kinh Đêm, Mời Em Về, Một Chút Quà Cho Quê Hương” đem về California thâu vào băng nhạc “Một Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa” (nhà văn Mai Thảo viết lời giới thiệu). Ba bài hát này đã là những bài hát nằm lòng của hàng triệu người Việt nhiều năm sau đó (kể cả ở trong nước).

Năm 1980, là năm mà số người Việt bỏ nước ra đi cao nhất, Việt Dzũng đã cho ra mắt cuồn băng nhạc đầu tay “Kinh Tỵ Nạn” do Trung Tâm Nhã Nhạc tại Houston, Texas thực hiện. Ngay tuần lễ đầu băng nhạc này đã được đón nhận nhiệt liệt từ California đến tận Canada, số bán sau đó đã lên đến cả trăm ngàn ấn bản. Lúc đó, Việt Dzũng đã quyết định chính thức di chuyển qua California sinh sống và sinh hoạt văn nghệ để có thể phát triển tài năng của anh nhiều hơn. Đầu tiên, anh được nhạc sĩ Ngọc Chánh mời hát cho đại nhạc hội ở Orange County và tiếp tục lưu diễn khắp nơi. Anh cũng đã hoàn thành cuồn băng nhạc thứ nhì tên là “Lưu Vong Khúc” vào giai đoạn này.

Trước đó, vào năm 1978 anh đã gặp ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh tại Đại Hội Thanh Niên Cách Mạng Việt tại thủ đô Washington DC và hai người liền kết nghĩa chị em. Cả hai cùng sáng tác chung một đường lối và họ đã kết hợp thành một đôi song ca trình diễn khắp nơi trên thế giới, chỉ trừ các nước cộng sản mà thôi. Tại Mỹ, họ đã lưu diễn hầu hết 50 tiểu bang, kể cả những tiểu bang có rất ít người Việt sinh sống. Tại Á châu, họ đã hát ở Nhật hơn ba lần, hát cho các phái đoàn ngoại giao, tòa tổng lãnh sự, sứ quán Mỹ ở nhiều nước như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, v.v...Nhưng chuyến lưu diễn ở Âu Châu của Việt Dzũng và Nguyệt Ánh phải coi là một chuyến lưu diễn lịch sử. Đã có hàng ngàn người Việt từ khắp nơi đón xe lửa đến
gần địa điểm trình diễn, cắm trại nằm chờ trước hai ba ngày khai mạc để gặp hai thần tượng của họ. Ở Úc Châu khán giả cũng nhiệt liệt đón chào Việt Dũng và Nguyệt Ánh. Họ đã đi hết những thành phố có người Việt cư trú kể cả những nơi hẻo lánh như Perth và Darwin. Đã có nhiều bài báo và cả hai cuốn sách xuất bản ở Úc được viết ra để ca tụng cho lý tưởng đấu tranh chống cộng và ước mơ ngày về quang phục quê hương của đôi nghệ sĩ này. Ngay lúc đó, chính quyền Cộng Sản Việt Nam liền lên án Việt Dzũng và Nguyệt Ánh là hai kẻ phản động số một, tuyệt đối cấm phổ biến tất cả các nhạc phẩm của họ trong nước. Trong một phiên tòa sau đó, CSVN đã kết án tử hình khiếm diện hai nghệ sĩ này.

Ngày 1 tháng Tư năm 1985, hai nghệ sĩ này đã kết hợp với những ca nhạc sĩ khác để thành lập Phong Trào Hưng Ca Việt Nam, dùng âm nhạc làm vũ khí đấu tranh chống lại kẻ thù. Cho đến nay, Phong Trào Hưng Ca Việt Nam vẫn còn hoạt động đều đặn với những tên tuổi khác như Huỳnh Lương Thiện, Trương Sĩ Lương, Xuân Nghĩa, Tuấn Minh, Tuyết Mai, Lưu Xuân Bảo..v.v..Trong suốt thời gian hơn 25 năm này, Việt Dzũng vẫn tiếp tục có những hoạt động đều đặn, liên tục và bền bỉ để tranh đấu cho người tị nạn Việt Nam. Từ những buổi văn nghệ gây quỹ cho các con tàu với người vượt biển như Cape D’Anamur, chương trình SOS Boat People, vận động chống lại chương trình cưỡng bách hồi hương người tị nạn, tranh đấu với quốc tế tại Genève, Thụy Sĩ, tại Liên
Hiệp Quốc...Có thể nói, bất cứ nơi nào có người tị nạn Việt Nam là có bước chân Việt Dzũng mang tiếng đàn, tiếng hát của anh để binh vực cho họ, sưởi ấm tấm lòng của họ, mang niềm tin yêu và hy vọng cho họ vượt qua những khổ cực, đau buồn và mất mát trên đường vượt biên. Anh đã có mặt hầu hết các trại tị nạn ở vùng Đông Nam Á để thăm viếng, ủy lạo đồng bào, giúp đở trẻ em không thân nhân và hàng ngàn công tác xã hội khác mà không hề biết mệt.

Cũng trong năm 1985 này, Việt Dzũng đã cho ra đời một băng nhạc hoàn toàn bằng Anh ngữ “Children of the Ocean”. Đây cũng là album nhạc đầu tiên của người Việt hải ngoại bằng tiếng Anh. Các tờ báo Orange County Register, Los Angeles Times, Washington Post đều có những bài viết khen ngợi cuốn băng này. Riêng tờ Austin-American- Stateman đã gọi Việt Dzũng là “người nghệ sĩ nổi tiếng nhất của cộng đồng người Mỹ gốc Việt, và là một tấm gương sáng giá, chứng tỏ là người tỵ nạn có thể hội nhập vào đời sống mới, trong khi vẫn giữ được nguồn gốc của quê hương mình.”

Về truyền thông, Việt Dzũng đã mở ra một cánh cửa khác để cho thấy một tài năng thiên phú và đa dạng ở anh. Sau một thời gian dài làm báo, tháng 7 năm 1993 Việt Dzũng được mời làm xướng ngôn viên chính cho chương trình phát thanh tiếng Việt đầu tiên ở Nam California, phát thanh 6 tiếng đồng hồ mỗi ngày là đài Little Saigon. Cũng cần nhắc lại là trước đó các đài phát thanh đều làm chương trình theo kiểu ngày xưa, nghĩa là thâu thanh trước đàng hoàng, kỹ càng từng tiết mục và tới giờ là cho phát thanh lên. Nhưng lần đầu tiên, Việt Dzũng đã tạo ra một phong cách mới: anh đưa ra những chương trình trực tiếp truyện trò cùng thính giả (talk back) trong buổi phát thanh. Nên không khí rất vui nhộn và hào hứng, náo nhiệt vô cùng. Sau này các đài phát thanh ở
Mỹ và ngay cả ở bên Việt Nam cũng bắt chước theo lối này. Kể cả các đài BBC, VOA phát thanh về Á Châu, cũng thay đổi cách làm việc như cho xướng ngôn viên được phép đùa giởn với thính giả chớ không đọc tin một cách nghiêm trang như ngày xưa.

Ngoài việc phổ biến tin tức, âm nhạc, thể thao cuối tuần, giải trí cuối tuần, tin tức Hollywood ...VD còn thực hiện chương trình đặc biệt nhất là chương trình “Tâm tình với nghệ sĩ” được rất nhiều thính giả ưa thích. Chương trình này lúc đầu phát từ 11 đến 12 giờ trưa hàng ngày trên làn sóng 967 FM của đài KWIZ. Sau đó mỗi tuần phát hai ngày thứ hai và thứ tư. Trong vòng hơn hai năm, mà Việt Dzũng đã phỏng vấn trên 350 nghệ sĩ. Từ những ca sĩ nổi tiếng như Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Chế Linh, Lệ thu, Ý Lan, Vũ Khanh ...cho đến những ca sĩ mới xuất hiện ở hải ngoại sau này như Mạnh Đình, Dạ Nhật Yến, Thanh Trúc, Phi Nhung ... Những nghệ sĩ đến từ các tiểu bang xa cũng được mời phỏng vấn như Hà Thanh, Từ Công Phụng, Trường Kỳ, Châu Hà, Văn
Phụng .v.v...Trong tất cả các chương trình phỏng vấn này, nóng bỏng nhất và đặc biệt nhất phải nói là chương trình phỏng vấn nữ ca sĩ Ngọc Lan. Vì từ trước tới nay, Ngọc Lan không nhận lời cho ai phỏng vấn cả (vào thời điểm đó), chỉ có một lần cô trả lời trên đài VOA; và Việt Dzũng là người duy nhất phỏng vấn được Ngọc Lan vào tháng 10 năm 1994.

Bốn năm sau( 1996), Việt Dzũng cùng các bạn đứng ra thành lập một chương trình phát thanh độc lập, đó là đài Radio Bolsa, phát thanh trên ba làn sóng khác nhau ở Nam California, Bắc California và Houston, Texas. Hiện nay (2006), Radio Bolsa đang phát sóng trên 106.3 FM, 1190 AM (Nam California) và 1430 AM (San Jose) với Việt Dzũng và Minh Phương là hai xướng ngôn viên chủ lực cùng với các xướng ngôn viên khác như Nguyễn Phú, Uyên Thy, Mai Trang...Việt Dzũng đã tạo sự gần gũi, thân mật giữa xướng ngôn viên với thính giả từ trẻ đến già, ở nhà cũng như đang lái xe đi làm với những chương trình đa dạng và phong phú hàng ngày. Dĩ nhiên là với kỷ thuật phát thanh digital, mọi người trên khắp thế giới cũng có thể nghe được các chương trình phát thanh này trên mạng thông tin toàn
cầu bất cứ lúc nào. (http://www.levanduyet.net/cgi-bin/yabbS ... oBolsa.com)

Tuy công việc hàng ngày của anh thật bận rộn như vậy, nhưng ngoài thời gian làm việc ở đài phát thanh, Việt Dzũng còn chứng tỏ là anh có khả năng làm báo rất thành công. Kể từ năm 1980, anh đã cộng tác với tờ Người Việt (trang song ngữ Tuổi Trẻ). Sau đó anh về làm Tổng Thư Ký cho tờ Nhân Chứng năm 1982. Tờ Tay Phải (của Du Tử Lê) năm 1983. Về Houston làm Tổng Thư ký cho tờ Việt Nam Thương Mại năm 1988. Trở lại California làm thư ký cho tờ Sài Gòn Nhỏ một thời gian và sau đó cộng tác với tờ tuần báo Diễm từ năm 1990. Năm 1992 trở thành Thơ ký toà soạn cho tờ nguyệt san Hồn Việt cho đến bây giờ. Việt Dzũng cũng là cộng tác viên của nhiều cơ quan truyền thông khắp nước Mỹ như tờ Phố Nhỏ (Washington DC), Thế Giới Mới (Dallas, PL), Phương Đông
(Seattle, WA), Mõ Magazine (San Jose, Sacramento, San Francisco & Oakland), Làng Văn (Canada), Nhân Quyền (Úc), Tin Điển (Đức) .v.v.

Hầu như lúc nào Việt Dzũng cũng có những dự tính và dự án trước mặt, nhưng không làm sao có đầy đủ thời giờ để lo cho xuể. Chỉ nói riêng về mặt sáng tác âm nhạc thì cho đến nay Việt Dzũng đã sáng tác hơn 450 bài hát về đủ mọi thể loại. Những bài hát về tỵ nạn đã được phổ biến rộng rãi trong hai tập nhạc “Kinh Tỵ Nạn (1980) và “Lưu Vong Khúc” (1982). Những bài hát này được viết ra như một thôi thúc về những điều phải nói ra trong những năm lạc lõng của đời lưu vong nơi xứ người. Sau đó là các ca khúc đấu tranh, quang phục quê hương. Nhưng nhiều nhất vẫn là tình ca, sáng tác rất nhiều nhưng chưa phổ biến hết. Những bản tình ca nổi tiếng của Việt Dzũng có thể kể ra như Bài Tango Cuối Cùng, Thung Lũng Chim Bay, Khóc Ru Đời Trinh
Nữ, Bên Đời Hiu Quạnh, Có Những Cuộc Tình Không Là Trăm Năm, Và Em Hãy Nói Yêu Anh, Tình Như Cây Cà-Rem...

Năm 1990, Việt Dzũng thành lập riêng cho mình Trung Tâm Việt Productions, chuyên sản xuất các CD nhạc với tiếng hát của anh và bằng hữu như các CD: Ru Em Sông Núi Đợi Chờ, Thánh Ca Vào Đời, Hùng Ca Quật Khởi, Quê Hương Và Em, Mình Ơi Đưa Em Về Quê Hương, Thắp Lửa Yêu Thương, Lên Đường, Bên Em Đang Có Ta, Tuổi Trẻ Về Nguồn, Hát Cho Tự Do, Thắp Lửa Tự Do, Trái Tim Ở Lại, Anh Vẫn Còn Thương, Vuốt Mặt, Bên Bờ Đại Dương ...

Sau hai mươi năm hoạt động không ngừng nghỉ trên mọi lãnh vực và được nổi danh khắp nơi, được hàng triệu người ái mộ (nhứt là giới trẻ ở hải ngoại), nhưng cũng có lúc Việt Dzũng cảm thấy rất cô đơn. Anh đã từng bày tỏ cảm nghĩ của riêng anh trong một lần phỏng vấn năm 1995 với nhà báo Trường Kỳ như sau:

“Nhìn vào đời sống nghệ sĩ, ai cũng cũng chỉ thấy những rực rỡ của ánh đèn sân khấu, của những tràng pháo tay và của nhữNg rộn rịp âm thanh. Đời sống của nghệ sĩ không phải chỉ có vậy. Còn có những giọt nước mắt âm thầm mỗi đêm, những đắng cay tủi nhục và những cám dỗ chập chùng đi kèm. Cá nhân Việt Dzũng không bao giờ muốn trở thành ca sĩ. Chỉ muốn làm một nhạc sĩ ghi lại những nỗi suy tư của một đời người, và những rung động mà mình bất chợt tìm thấy. Vì thế, nên khi nghe một ca khúc, khi thưởng thức một nhạc phẩm nào, hãy nghe bằng sự rung động của chính tâm hồn mình. Bạn sẽ thấy người nhạc sĩ đó đang mang trái tim của họ trải rộng cho bạn nhìn, như một tấm tranh vẽ. Có thể bạn sẽ bắt kịp những nét chấm phá
trong tranh. Có thể bạn chỉ ơ hờ lướt mắt qua rồi thôi. Nhưng dù gì đi nữa, mỗi ca khúc hay mỗi bức tranh vẫn là một hiện diện trong đời sống. Và hãy cảm ơn sự hiện diện đó, vì nếu không cuộc đời sẽ chỉ là những vô nghĩa kéo dài. (Việt Dzũng trong “Tuyển Tập Nghệ Sĩ”, 1995)

Thực ra, nỗi cô đơn ấy cũng chỉ thoáng qua mà thôi. Những dự án, kế hoạch vẫn được anh theo đuổi càng lúc càng nhiều, choáng ngộp. Việt Dzũng tâm sự là anh mong cho một ngày dài thêm 48 tiếng đồng hồ, thay vì chỉ có 24 giờ để anh có thể hoàn thành bao nhiêu công việc đang vây bủa lấy anh. Ngày tháng vẫn trôi nhanh, trôi nhanh. Những hoạt động của anh gần đây thì nhiều vô số kể. Chỉ nói riêng về sinh hoạt với Phong Trào Hưng Ca Việt Nam thôi, thì những lần công tác nổi bật nhất là:

Phát động chiến dịch “Tưởng Niệm 50 năm Hiệp Định Genève (1954-2004)”, biểu tình trước trụ sở Liên Hiệp Quốc tại Genève (Thụy Sĩ) ngày 3-4-2004

Đại nhạc hội Cứu Trợ Nạn Nhân Bão Lụt Katrina tổ chức ở Houston (17.9.2005), sau chương trình “Chén Gạo Tình Thương” do Phong Trào Hưng ca phát động từ ngày 9.9.2005.

Đại nhạc hội “Đêm Tình Thương” phối hợp với cộng đồng người Việt ở Dallas Fortworth va Trung Tâm ca nhạc Asia (tháng 9-2005)

Chương trình văn Nghệ gầy quỹ cứu trợ nạn nhân cơn bão Katrina tổ chức ở Wichita.

Những chương trình Đại Nhạc Hội gây quỹ giúp Thương Phế Binh VNCH ở khắp nơi ....

Trong những chương trình gây quỹ từ thiện và văn nghệ đấu tranh đó, Việt Dzũng đã đến với đồng hương bằng cung cách rất bình dị thân thương. Luôn luôn có những bạn trẻ vây quanh, tíu tít thăm hỏi, chụp hình chung với anh. Có những bà mẹ già vẫy tay gọi anh lại gần chỉ để được nắm tay anh, nói vài ba câu thăm hỏi với niềm rưng rưng cảm xúc.

Nhưng tài năng đặc biệt nhất và nổi bật của anh là kể từ năm 1996 khi anh cộng tác với Trung Tâm Ca Nhạc Asia để làm MC hướng dẫn các chương trình video và đại nhạc hội trực tiếp thu hình. Anh cũng cộng tác với đài truyền hình SBTN trong việc soạn và đọc tin tức hàng ngày, cùng nhiều tiết mục khác cho chương trình phát hình liên tục 24 giờ mỗi ngày. Trước đó anh cũng đã từng nhiều lần làm MC cho các buổi đại nhạc hội, các buổi biểu tình, những lần gây quỹ từ thiện ...Riêng ở các chương trình của Trung Tâm Asia thì anh đã hợp tác viết thuyết minh và giới thiệu cho các chủ đề, các tài năng mới trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Vì từ lâu nay Trung Tâm Asia là một trong hai trung tâm hàng đầu về ca nhạc ở hải ngoại được tiếng là
luôn luôn có nhiều sáng kiến mới lạ và nâng đở cho những tài năng trẻ tuổi trong lãnh vực ca hát. Rất nhiều chương trình Video của Asia có các chủ đề đầy tình người, không nhằm mục đích thương mại, nhưng rất thành công như “Người Lính”, “Những Tình Khúc Thời Chinh Chiến”, “Tình Ca Anh Bằng”. Vài năm gần đây lại có những chương trình Asia video thật giá trị như “Âm Nhạc Vòng Quanh Thế Giới" (phát hành 27/2/2004), "Tiếng Hát Trái Tim" (thu hình 20/3/2004), "Mùa Hè Rực Rỡ 2005" (thu hình 22/7/2005). Nhưng đặc biệt nhất là video “Hành Trình Tìm Tự Do”( phát hành 24/6/2005), khán giả đã thực sự xúc động khi thấy Việt Dzũng trở lại các đảo tị nạn ở Đông Nam Á để làm phóng sự video, gợi nhớ cảnh vượt biển của những thuyền nhân tỵ nạn liều
chết ra đi tìm tự do ngày xưa.

Cũng chính những chương trình video này, khi được chuyển về Việt Nam cùng với các DVD khác như “Cuộc Đổi Đời Bi Thảm, Triệu Đóa Hồng Cho Người Phụ Nữ VN, Cuộc Khổ Nạn của Người VN (Dạ Lan), và gần đây là Asia 50 "Vinh Danh Nhật Trường" và Asia 51 "Nhạc Vàng, Tình Khúc Sau Cuộc Chiến" ... đã khiến nhà cầm quyền Việt Nam vô cùng tức tối, khi nhìn thấy Việt Dzũng vẫn tiếp tục xuất hiện trong vai trò làm MC. Nên vào ngày 18/9/2006 tờ báo Công An Thành Phố HCM đã bắt đầu đăng hai bài viết với đủ thứ ngôn từ hạ cấp nhằm mạ lỵ, phỉ báng và bôi nhọ cá nhân Việt Dzũng thật nặng nề. Có thể nói lần này là lần anh bị những người Cộng Sản VN “đánh” nặng nhứt từ trước đến nay. Nhưng cũng chính những bài báo này đã khiến cho mọi người
càng thấy rõ bộ mặt nham hiểm, quỷ quyệt của Cộng Sản VN như thế nào và cũng làm cho nhều người thông cảm, yêu mến và chia sẻ nhưng oan khiên, thống khổ của người nghệ sĩ này nhiều hơn.

Với tất cả những mũi tên tẩm thuốc độc bắn thẳng vào anh, Việt Dzũng chỉ im lìm, không lên tiếng biện minh hay viết bài đính chính. Anh vẫn âm thầm tiếp tục thực hiện những dự án và càng hăng say hoạt động, cống hiến tài năng của mình cho đồng hương như anh đã làm suốt hơn ba mươi năm nay. Lúc nào cũng vậy, anh vẫn luôn luôn là một đứa con cưng của tổ quốc và quê hương Việt Nam. Anh vẫn tiếp tục con đường tranh đấu cho nhân quyền và quang phục quê hương trong niềm tin rằng chế độ Cộng sản sẽ cáo chung trong một tương lai rất gần.

Duy-Khiêm

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Tầm quan trọng của Jeremy Lin
Chọi với hàng chục năm kỳ thị đàn ông gốc Á

[size=16] Dịch thuật: Triệu Phong/Người Việt[/size]

Từ khi tạo được tiếng vang trong cả nước chỉ vừa 2 tuần nay, ngôi sao bóng rổ Jeremy Lin đội New York Knicks chứng tỏ
anh không phải chỉ là chuyện một người lật ngược thế cờ. Câu chuyện Jeremy Lin là một câu chuyện rất cụ thể, rất độc nhất vô nhị.

Image
Một Jeremy Lin đang giúp đánh đổ hàng chục năm thành kiến kỳ thị đối với đàn ông con trai Mỹ gốc Á.
(Hình: Nathaniel S. Butler/NBAE via Getty Images)

Câu chuyện này làm tôi nhớ một cảnh trong phim “White Men Can't Jump.” Trong đó, Wesley Snipes nói với Woody Harrelson, “Anh có nghe Jimi (Hendrix) đàn đấy, nhưng anh không nghe ra những gì Jimi nói trong tiếng đàn.”

Ðể “nghe cho ra” câu chuyện Jeremy Lin, phải trở lại tới năm 1984 - bốn năm trước khi Jeremy ra đời - và một cuốn phim ăn khách của đạo diễn John Hughes, phim “Sixteen Candles” của John Hughes. Một cuốn phim dễ thương về đời học sinh trung học với hai diễn viên tiêu biểu của thập niên 1980, Molly Ringwald và Anthony Michael Hall.

Thế nhưng, không vì lý do nào khác ngoài diễu cợt kiểu kỳ thị chủng tộc, Hughes nhét vào câu chuyện hình ảnh một nam du học sinh Á Châu đến từ một quốc gia không tên ở Châu Á (và do đó ám chỉ tất cả các nước châu lục đó). Nhân vật này bị gán tên Long Duk Dong, đôi lúc lảm nhảm, đôi lúc ngu ngơ, tiếng Anh thì nói ngọng, nhưng luôn luôn đeo đuổi con gái “Mỹ.”

Muốn thực sự hiểu rõ giá trị và cảm được niềm vui về những gì Jeremy Lin đạt được hôm nay, và để hiểu tại sao rất nhiều nam giới Mỹ gốc Á đều mặc áo Knicks số 17 giống anh và gào lớn tên anh, bạn đã phải từng rùng mình ghê rợn khi cuốn phim cho gióng tiếng chiêng chùa mỗi lúc Long Duk Dong xuất hiện. Bạn phải từng bị người khác gọi bằng tên của Dong nhưng giả bộ không thấy bị chạm tự ái, ngược lại vẫn cười a dua với họ. Bạn phải cố nuốt hận để cho cái nỗi ô nhục đó cháy tiêu dần trong tâm khảm.

Nói chung là bạn bị vác thập tự giá mà “Dong” phải vác.

Và cái thập tự đó là gì? Trong lịch sử văn hóa Mỹ, đó là lúc thì bị làm lơ như không hề có, lúc thì bị miêu tả một cách sỉ nhục hết mức.

Ðiều này có nghĩa là bạn không bao giờ được làm vai chính, mà luôn luôn là vai ké (Kato, Sulu, Mike Chang).

Bạn được dùng để biểu lộ cái gì đó nhập ngoại, rồi để được đặt vào hàng kẻ ác hoặc vật trang trí (The Fast and the Furious).

Bạn không được dẫn đầu ban nhạc mà chỉ được đứng bên hông sân khấu đàn ké (Smasking Pumpkings, Airborne Toxic Event).

Bạn không bao giờ được miêu tả như một người đàn ông thực thụ, đẹp trai, hào hoa.

Bạn sẽ chẳng bao giờ được hôn cô gái ấy cả. (Trong phim “Romeo Must Die” Jet Li không hề hôn cô đào Aaliyah và trong “The Replacement Killers,” Châu Nhuận Phát cũng không hề hôn Mira Sorvino. Tôi khinh bỉ Hollywood trong nhiều năm sau những lỗi đó.)

Và, tới tối Thứ Sáu, bạn sẽ bị lấy tên tuổi hình ảnh để tạo ra một đống tiền quảng cáo cho truyền hình (đài ESPN) để rồi bị đài truyền hình dùng từ ngữ miệt thị chủng tộc trong tựa bài viết về trận đầu tiên đội của bạn thua sau suốt 8 trận (cũng lại ESPN).

Gần đây, có được một số tiến bộ. Trong thể thao, chúng ta có Ichiro và Yao, nhưng vì họ vẫn còn gắn bó sâu đậm với văn hóa Nhật và Trung Quốc, điều này khiến họ không tới gần được bản sắc văn hóa Mỹ của chúng ta.

Gần đây, nhóm nhạc rap Far East Movement là nhóm ban nhạc Mỹ gốc Á đầu tiên được công chiếu lên truyền hình. Và nay mọi người đều được biết con trai gốc Á nhảy rất giỏi, qua các chương trình TV như “So You Think You Can Dance” và “America's Best Dance Crew.”

Dĩ nhiên, chúng ta có được một nhân vật nổi bật trong văn hóa, có lẽ là cho tới nay chỉ có mỗi một người nam giới Mỹ gốc Á mà làm chúng ta hãnh diện về mình: Lý Tiểu Long. Nhưng tôi thấy có lẽ rằng, trong thâm tâm, chúng ta vẫn có điều ngần ngại: “Ờ thì ổng tài giỏi thật, nhưng mà uổng một cái lại là võ thuật. Có cần phải rập khuôn thành kiến như vậy không?”

Trước khi có Jeremy, nam giới Mỹ gốc Á bị xem như một thứ ma cà rồng. Chúng ta nhìn vào tấm gương của văn hóa bình dân Mỹ, và không thấy gì hết!

Ngày nay, 26 năm sau phim “Sixteen Candles,” Jeremy Lin xuất hiện trên sân đấu tầm cỡ nhất của môn bóng rổ, và chứng minh rằng chúng ta không chỉ hiện hữu mà chúng ta còn có thể thành công trong vai trò thể thao nhà nghề, trong một trong 3 môn thể thao hàng đầu trên ESPN.

Ðó chính là sức mạnh của truyền thông đại chúng, phải không? Khiến có hơn 300 triệu người Mỹ nhìn vào đấy và thấy một hình ảnh tập thể tiêu biểu cho tất cả chúng ta.

Ôi và cái hình ảnh mới đẹp làm sao. Qua thành tích, Jeremy phá tan được nhiều thành kiến nặng nề về đàn ông gốc Á. Anh không lùn, cũng không yếu. Anh sinh ra ở Mỹ và phát âm không có giọng ngoại quốc (mà nếu có nói giọng ngoại quốc thì đã có sao đâu!). Anh có tình cảm, anh biết biểu lộ. Anh có cái thái độ, cái điệu bộ của người biết nghề. Anh không biết sợ, không lùi bước trên sân.

Trở lại với câu của Snipes trong White Men: “Bạn có nghe Jimi đàn, nhưng bạn không nghe ra những gì Jimi nói trong tiếng đàn.”

Hãy tin tôi đi: Chúng tôi, những người nam giới Mỹ gốc Á, nghe ra hết tất cả những gì mà từng cú dội banh, dộng banh, ném banh, ghi bàn, của Jeremy Lin, nói lên về chúng tôi.

Ai ai cũng được tham gia vào hội những người hâm mộ Jeremy Lin, nhưng không phải tự nhiên mà có khu vực VIP dành riêng cho nam giới Mỹ gốc Á. Và vì chúng tôi đều là những người rất “cool,” chúng tôi hoan nghênh Long Duk Dong nếu muốn vào. (TP)

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

'The Artist' đại thắng tại giải thưởng Cesar


Bộ phim câm của Pháp đạt 6 giải, trong đó có giải thưởng quan trọng - Phim Pháp hay nhất của năm.

Ngay trước thềm Oscar, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Pháp vinh danh "The Artist"
của đạo diễn Michel Hazanavicius với 6 giải thưởng tại lễ trao giải Cesar lần thứ 37 vào tối 24/2 ở Paris.

Image
Hình ảnh trong phim "The Artist". Ảnh: Hollywood Reporter.
Hazanavicius chiến thắng ở hạng mục Đạo diễn xuất sắc. Khi lên nhận giải thưởng, ông không quên cảm ơn người bạn đời, Berenice Bejo, nữ diễn viên sau đó cũng được vinh danh với giải Nữ diễn viên xuất sắc cho vai diễn trong phim.

Sau đêm trao giải Cesar, cặp vợ chồng nghệ sĩ này lập tức lên đường sang Mỹ tham dự Oscar 2012, nơi "The Artist" có 10 đề cử, trong đó có Phim xuất sắc, đạo diễn và diễn viên xuất sắc.

"The Artist" đã được công chiếu tại 300 rạp trên khắp nước Pháp trong năm nay. Từ sau khi đoạt giải Quả cầu vàng tại Bafta 2012, bộ phim đã bán được hơn 2,1 triệu vé tại Pháp và giành hơn 70 giải thưởng trên toàn cầu. Với những chiến thắng này, "The Artist" đoạt kỷ lục về số lượng giải thưởng trong lịch sử điện ảnh Pháp.

Cesar là giải thưởng thường niên của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Pháp. Lễ trao giải Cesar lần thứ 37 diễn ra tại nhà hát Chatelet, Paris, Pháp. Diễn viên - đạo diễn Guillaume Canet - chủ trì lễ trao giải.

Các giải thưởng chính tại Lễ trao giải Cesar 2012.

Phim hay nhất: "The Artist," Michel Hazanavicius

Đạo diễn xuất sắc: Michel Hazanavicius, "The Artist"

Nam diễn viên xuất sắc: Omar Sy, "Intouchables"

Nữ diễn viên xuất sắc: Berenice Bejo, "The Artist"

Nam diễn viên phụ xuất sắc: Michel Blanc, "The Minister"

Nữ diễn viên phụ xuất sắc: Carmen Maura, "Service Entrance"

Nam diễn viên trẻ triển vọng: Gregory Gadebois, "Angele et Tony"

Nữ diễn viên trẻ triển vọng: Naidra Ayadi, "Polisse"và Clotilde Hesme, "Angele et Tony"

Phim đầu tay xuất sắc: Sylvain Estibal, "When Pigs Have Wings"

Kịch bản gốc hay nhất: Pierre Schoeller, "The Minister"

Kịch bản chuyển thể hay nhất: Yasmina Reza, Roman Polanski, "Carnage"

Phim nước ngoài xuất sắc: "A Separation," Asghar Farhadi

Quay phim xuất sắc: Guillaume Schiffman, "The Artist"

Phim hoạt hình xuất sắc: "The Rabbi's Cat," Joann Sfar, Antoine Delesvaux

Phim tài liệu hay nhất: "Tous au Larzac," Christian Rouaud

Nhạc phim xuất sắc: Ludovic Bource, "The Artist"


Hoàng Anh

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Buồn vào hồn không tên

Tưởng Năng Tiến


Image
Nhạc sĩ Trúc Phương (1933-1995)

Có lần, tôi nghe giáo sư Nguyễn Văn Lục phàn nàn:

“Người cộng sản có một sự sắp xếp rất máy móc, đơn giản về con người và sự việc. Hoặc họ coi là bạn, hoăc là kẻ thù của họ. Miền Nam sau 1975 có chiến dịch đi ‘tìm thù’ và biến miền Nam thành mảnh đất hung bạo với những ngữ từ quen thuộc như: Quét sạch, đánh phá, truy lùng, tố cáo.”

Gần bốn mươi năm sau, sau cái chiến dịch “tìm thù” bắt đầu từ năm 1975, có bữa tôi đang ngồi lơ tơ mơ hút thuốc thì chuông điện thoại reo:

- Tiến hả?
- Dạ…
- Vũ Đức Nghiêm đây…
- Dạ…
- Anh buồn quá Tiến ơi, mình đi uống cà phê chút chơi được không?
- Dạ …cũng được!

Tôi nhận lời sau một lúc tần ngần nên tuy miệng nói “được” mà cái giọng (nghe) không được gì cho lắm. Tôi cũng thuộc loại người không biết làm gì cho hết đời mình nên thường rảnh nhưng không rảnh (tới) cỡ như nhiều người trông đợi. Sống ở Mỹ, chớ đâu phải Mỹ Tho mà muốn đi đâu thì đi, và muốn đi giờ nào cũng được – mấy cha?

Khi Mai Thảo và Hoàng Anh Tuấn còn trên dương thế, thỉnh thoảng, tôi cũng vẫn nghe hai ông thở ra (“anh buồn quá Tiến ơi”) y chang như thế. Chỉ có điều khác là ông nhà văn khi buồn thì thích đi uống rượu, ông thi sĩ lúc buồn lại đòi đi … ăn phở, còn bây giờ thì ông nhạc sĩ (lúc buồn) chỉ ưa nhâm nhi một tách cà phê nóng. Ai sao tui cũng chịu, miễn đến chỗ nào (cứ) có bia bọt chút đỉnh là được!

Vũ Đức Nghiêm sinh sau Mai Thảo và trước Hoàng Anh Tuấn. Ông chào đời vào năm 1930. Hơn 80 mùa xuân đã (vụt) trôi qua. Cả đống nước sông, nước suối – cùng với nước mưa và nước mắt – đã ào ạt (và xối xả) chẩy qua qua cầu, hay trôi qua cống. Những dịp đi chơi với ông (e) sẽ cũng không còn nhiều lắm nữa. Tôi chợt nghĩ như thế khi cho xe nổ máy.

Quán cà phê vắng tanh. Nhạc mở nhỏ xíu nhưng tôi vẫn nghe ra giai điệu của một bài hát rất quen:

Gọi người yêu dấu bao lần.
Nhẹ nhàng như gió thì thầm.
Làn mây trôi gợi nhớ chơi vơi thương người xa xôi.
Gọi người yêu dấu trong hồn.
Ngập ngừng tha thiết bồn chồn.
Kỷ niệm xưa mơ thoáng trong sương cho lòng nhớ thương…

- Hình như là nhạc Vũ Đức Nghiêm … Anh nghe xem có đúng không? Tôi đùa.
- Em nói nghe cái gì?
- Anh thử nghe nhạc coi…
- Nhạc của ai?

Tôi chợt nhớ ra là ông anh đã hơi nặng tai nên gọi cô bé chạy bàn:

- Cháu ơi, người ngồi trước mặt chúng ta là tác giả của bản nhạc Gọi Người Yêu Dấu mà mình đang nghe đó. Cháu mở máy lớn hơn chút xíu cho ổng … sướng nha!

Thấy người đối diện có vẻ bối rối vì cách nói vừa dài dòng, vừa hơi quá trịnh trọng của mình nên tôi cố thêm vào một câu tiếng Anh (vớt vát) nhưng ngó bộ cũng không có kết quả gì. Đúng lúc, chủ quán bước đến:

- Cháu nó mới từ Việt Nam sang, ông nói tiếng Mỹ nó không hiểu đâu. Ông cần gì ạ?
- Dạ không, không có gì đâu. Never mind!

Tôi trả lời cho qua chuyện vì chợt nhận ra sự lố bịch của mình. Cùng lúc, bản nhạc của Vũ Đức Nghiêm cũng vừa chấm dứt. Tôi nhìn anh nhún vai. Vũ Đức Nghiêm đáp lại bằng một nụ cười hiền lành và … ngơ ngác!

Tự nhiên, tôi thấy gần và thương quá cái vẻ ngơ ngác (trông đến tội ) của ông. Tôi cũng bị nhiều lúc ngơ ngác tương tự trong phần đời lưu lạc của mình. Bây giờ hẳn không còn ai, ở lứa tuổi hai mươi – dù trong hay ngoài nước – còn biết đến tiếng “Gọi Người Yêu Dấu” (“ngập ngừng tha thiết bồn chồn”) của Vũ Đức Nghiêm nữa. Thời gian, như một giòng sông hững hờ, đã vô tình bỏ lại những bờ bến cũ.

Vũ Đức Nghiêm, tựa như một cây cổ thụ hiếm hoi, vẫn còn đứng lại bơ vơ bên bờ trong khi bao nhiêu nhạc sĩ cùng thời đều đã ra người thiên cổ. Trúc Phương là một trong những người này. Qua chương trình Bẩy Mươi Năm Tình Ca Trong Tân Nhạc Việt Nam, nhà phê bình âm nhạc Hoài Nam đã cho biết nhiều chi tiết vô cùng thê thiết về cuộc đời của người viết nhạc (chả may) này.

Trang sổ tay hôm nay, chúng tôi xin được nắn nót ghi lại đây những nhận xét của Hoài Nam, và mong được xem như một nén hương lòng (muộn màng) gửi đến một người đã khuất:

“Trúc Phương là một trong những nhạc sĩ gốc miền Nam được yêu mến nhất, từng được mệnh danh là ông vua của thể điệu Bolero tha thiết trữ tình. Ông tên thật là Nguyễn Thiện Lộc, ra chào đời năm 1939 tại xã Mỹ Hoà, quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, tức Vĩnh Bình – một xứ Chùa Tháp thu nhỏ ở vùng hạ lưu sông Cửu Long…”

“Nhạc của Trúc Phương thường buồn, rất buồn. Trong số những ca khúc của ông, hình như, chỉ có hai bản vui. Đó là: Tình Thắm Duyên Quê và Chiều Làng Em. Riêng bản Chiều Làng Em nói rằng vui là so sánh với những sáng tác khác của ông. Chứ Thực ra, bản nhạc này tuy có nội dung êm đềm trong sáng nhưng giai điệu của nó cũng man mác buồn. Không hiểu vì cuộc đời của Trúc Phương vốn nhiều chuyện buồn và đã được ông gửi gấm vào dòng nhạc hay vì ông thích sáng tác nhạc buồn nên riết rồi nó ám vào người, chỉ biết những sáng tác phổ biến nhất, nổi tiếng nhất của ông đều là những ca khúc buồn: Chiều Cuối Tuần, Nửa Đêm Ngoài Phố, Tầu Đêm Năm Cũ, Bóng Nhỏ Đường Chiều …”

Tháng 4 năm 1975, Trúc Phương bị kẹt lại. Năm 1979, ông vượt biên nhưng bị bắt và bị tù. Sau khi được thả, cuộc sống của ông trở nên vô cùng thê thảm về thể xác vật chất cũng như tinh thần. Trong một đoạn video phỏng vấn ông, được Trung Tâm Asia phổ biến tại hải ngoại, Trúc Phương cho biết:.

“Sau cái biến cố cuộc đời, tôi sống cái kiểu rài đây mai đó,’bèo dạt hoa trôi’… Nếu mà nói đói thì cũng không đói ngày nào, nhưng mà no thì chẳng có ngày nào gọi là no…Tôi không có cái mái nhà, vợ con thì cũng tan nát rồi, tôi sống nhà bạn bè, nhưng mà khổ nổi hoàn cảnh họ cũng bi đát, cũng khổ, chứ không ai đùm bọc ai được…đến nửa lúc đó thì vấn đề an ninh có khe khắc, lúc đó thì bạn bè tôi không ai dám “chứa” tôi trong nhà cả, vì tôi không có giấy tờ tùy thân, cũng chẳng có thứ gì trong người cả.Tôi nghĩ ra được một cách..là tìm nơi nào mà có khách vãng lai rồi mình chui vào đó ngủ với họ để tránh bị kiểm tra giấy tờ…Ban ngày thì lê la thành phố, đêm thì phải ra xa cảng thuê một chiếc chiếu, 1 chiếc chiếu lúc bấy giờ là 1 đồng…thế rồi ngủ cho tới sáng rồi xếp chiếc chiếu trả người ta..thế là mình lấy 1 đồng về….như là tiền thế chân…Một năm như vậy, tôi ngủ ở xa cảng hết 9 tháng…Mà nói anh thương…khổ lắm….Hôm nào mà có tiền để đi xe lam mà ra sớm khoảng chừng năm giờ có mặt ngoài đó thế rồi thuê được chiếc chiếu trải được cái chỗ lịch sự chút tương đối vệ sinh một tí mà hôm nào ra trễ thì họ chiếm hết rồi, những chỗ sạch vệ sinh họ chiếm hết rồi ,tôi đành phải trải chiếu gần chỗ ‘thằng cha đi tiểu vỉa hè’, thế rồi cũng phải nằm thôi.Tôi sống có thể nói là những ngày bi đát…mà lẽ ra tôi nên buồn cho cái hoàn cảnh như thế nhưng tôi không bao giờ buồn …Tôi nghĩ mà thôi , còn sống cho tới bây giờ và đó cũng là một cái chất liệu để tôi viết bài sau này…”

Chất liệu, rõ ràng, đã có (và có quá dư) nhưng cơ hội để Trúc Phương viết bài sau này (tiếc thay) không bao giờ đến – vẫn theo như lời của nhà phê bình âm nhạc Hoài Nam:

“Vào một buổi sáng năm 1996, Trúc Phương không bao giờ thức dậy nữa. Ông đã vĩnh viễn ra đi. Tất cả gia tài để lại chỉ là một đôi dép nhựa dưới chân. Thế nhưng xét về mặt tinh thần Trúc Phương đã để lại cho chúng ta một di sản vô giá.”

“Chúng ta ở đây là những người yêu nhạc, trong nước cũng như hải ngoại, bên này cũng như bên kia chiến tuyến. Bởi vì hơn ba mươi ca khúc nổi tiếng của ông cho dù có một hai bài có nhắc đến chữ ‘cộng hoà’ vẫn phải được xem là những tình khúc viết cho những con người không phải cho một chế độ chính trị nào. Những con người sinh ra và lớn lên trong một cuộc chiến không lối thoát với niềm khắc khoải chờ mong một ngày thanh bình . Cuối cùng thanh bình đã tới nhưng không phải là thứ thanh bình mà những ‘con tim chân chính’ trong nhạc của Lê Minh Bằng hằng mơ ước mà là thứ thanh bình của giai cấp thống trị, của một thiểu số may mắn nào đó. Chính cái thanh bình ấy đã cướp đi bao nhiêu sinh mạng trong đó có người Việt Nam xấu số đáng thương tên Nguyễn Thiện Lộc, tức nhạc sĩ Trúc Phương nổi tiếng của chúng ta.”

Thôi thì cũng xong một kiếp người! Và dòng đời, tất nhiên, vẫn cứ lạnh lùng và mải miết trôi. Sáng nay, tôi lại chợt nhớ đến Trúc Phương sau khi tình cờ đọc được một mẩu tin ngăn ngắn – trên báo Pháp Luật số ra ngày 1 tháng 2 năm 2012:

“Ngày 31-1, một số cán bộ hưu trí, người dân ở phường Bình Hưng Hòa B (quận Bình Tân, TP.HCM) bức xúc phản ánh cuộc họp mặt đầu năm do phường tổ chức … Ngay phần khai mạc lúc gần 9 giờ sáng, trên nền nhạc hip hop, hai phụ nữ ăn mặc hở hang, thiếu vải lên nhún nhảy, múa những động tác khêu gợi. Hai thanh niên múa phụ họa. Quan sát đoạn video chúng tôi thấy nhiều cán bộ hào hứng xem tiết mục ‘lạ mắt’ này. Có cán bộ còn dùng điện thoại quay lại cảnh hai cô gái biểu diễn, ưỡn người và ngực về phía khán giả. Nhiều người tham gia rất hào hứng, chỉ trỏ, thì thầm vào tai nhau…

Chúng tôi tiếp tục liên lạc với bà Nguyễn Thị Bích Tuyền, Phó Chủ tịch phường kiêm Chủ tịch Công đoàn phường … bà Tuyền lý giải: ‘Tiết mục múa chỉ diễn ra gần 3 phút và đây là vũ điệu theo phong cách Hawaii nên hơi lạ…”

Nếu ngay sau khi chiếm được miền Nam mà qúi vị cán bộ cộng sản cũng có được cách “lý giải” tương tự thì thì Mai Thảo, Hoàng Anh Tuấn … đã không phải bỏ thân nơi đất lạ. Vũ Đức Nghiêm cũng đã tránh được những giây phút bơ vơ, ngơ ngác, lạc lõng ở xứ người. Và Trúc Phương thì chắc chắn vẫn sẽ còn ở lại với chúng ta, vẫn có những đêm khắc khoải buồn vào hồn không tên, thay vì nằm chết cong queo trong đói lạnh – trên một manh chiếu rách – với tài sản duy nhất còn lại chỉ là một đôi dép nhựa.

Mọi cuộc cách mạng luôn luôn có cái giá riêng của nó. Riêng cái thứ cách mạng (thổ tả) của những người cộng sản Việt Nam thì đòi hỏi mọi người đều phải trả cái giá (hơi) quá mắc mà thành quả – xem ra – không có gì, ngoài tội ác!

Tưởng Năng Tiến

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Cuối Mùa Nhan Sắc
Nguyễn Ngọc Tư

Nhà Buổi Chiều nằm ở tận cùng con hẻm Cây Còng. Hẻm cụt. Nhà toàn người già, là chỗ trú ngụ cho những nghệ sĩ cải lương, nghệ sĩ hát bội một thời vang bóng. Tính ra, chỉ có ông già Chín Vũ là vô danh tiểu tốt. Nhưng ông là một trong những người sáng lập ra nhà Buổi Chiều, tự ông còn đặt tên cho nó. Hỏi sao không gọi là Hoàng Hôn hay Chạng Vạng gì đại loại vậy, ông bảo, buổi chiều còn nắng, người nghệ sĩ còn có ý nghĩa sống trên đời. Nhà Buổi Chiều nghèo, chi phí dựa vào kinh phí từ trên quận, từ lòng hảo tâm của bà con gần xa, cơm bữa nhiều ơi là nhiều rau mà ít xịu thịt. Vậy mà ai nấy đều vui, bởi cuộc sống trước đây của họ còn nghèo hơn, nghèo không thể tả, nghèo rớt mồng tơi. Người ở chùa, người bán vé số, người ngủ công viên, người hát rong, ít ai có nhà để về. Sum họp ở Buổi Chiều, có khổ một tí mà còn được hát. Nghệ sĩ mà, miễn được hát, miễn hát mà có người nghe là sướng rồi.

Ðể kiếm chút đỉnh tiền phụ thêm thịt cá cho bữa ăn, ông già Chín đi bán vé số, vừa có tiền vừa tìm tung tích của anh chị em đang còn lưu lạc. Ðào Hồng lại gánh chè đi tận hang cùng ngõ ngách. Thấy mọi người ái ngại, đào Hồng bảo: "Cứ để em làm, em với anh Chín còn trẻ, còn sức khỏe..." Nói trẻ là trẻ ở trong nhà Buổi Chiều chớ ông Chín Vũ đã bảy mươi, đào Hồng cũng sáu mươi bốn. Buổi sáng, ông Chín gánh gánh chè đưa đào Hồng ra đầu hẻm, dừng dưới gốc cây còng già cóc già kiết, già tới mức nó hổng thèm trổ hoa nữa. Ông già trao đòn gánh lại cho bà, rồi đứng tần ngần nhìn bóng bà xa dần trên đại lộ, tiếng rao chè buổi sớm nghe ngọt lịm, vút cao. Sau lưng bà, còn thấy mấy tờ giấy gói bánh mì ố màu nước cà bay xà quần trên đường rồi sẵn gió đi tao tác. Ông già tạt vô quán cà phê chú Tư Bụng, kêu: "Mấy đứa bưng cho tao năm trăm đồng trà nóng coi". Có người hỏi, sao bữa nay không uống cà phê, ông Chín Vũ cười cười, lắc đầu, cười tiếp với cái vẻ không muốn nói mà thèm nói quá trời đi:
- Ðể dành tiền mua cho cổ chai dầu thơm.

Ông già trịnh trọng thì thào. Cả quán rộ lên cười:

- Già mà còn yêu.
- Mắc yêu thì yêu - ông già cự lại, vẻ mặt sương sương không giận gì ai - Bây thì biết gì, tình xưa đó, mà mình thương người ta mà người ta đâu có thương mình.

Cạn bình trà, ông già dằn tờ giấy bạc năm trăm dưới đít ly đứng lên xếp ghế lại ngay ngắn, từ tốn rút trong túi ra xấp vé số dày, trước khi đi ông quay đầu lại:

- Tối nay lại chỗ tao coi cải lương, nghe bây.
- Tối nay tuồng gì, chú Chín?
- Lữ Bố Hí Ðiêu Thuyền.
- Í tuồng đó hát rồi. Hát Nửa Đời Hương Phấn đi.
- Bây nói sao tao chiều vậy, mà tuồng đó tao có nhớ miếng nào đâu.
- Chú cần gì nhớ, chú toàn đóng vai quân sĩ với người hầu không à. Có hát hò gì đâu.

Ông già cười khà khà, quay đi, cái lưng cong cong gù gù từ từ mịt mù.

Người trong hẻm không ai làm nghề viết văn nhưng đã biết mình nhớ cái gì khi đi xa nó, nhiều lắm, nhiều không thể kể, nhưng trong đó, chắc chắn nhớ tiếng hát là đà tỏa ra từ nhà Buổi Chiều.

Những con người tính từng ngày qua để lắt lay thêm một tuổi nữa, vậy mà hát coi cũng ngon lành. Sân khấu là cái hàng ba trông ra sân rộng, luống nào trồng bông sao nhái, bông mười giờ thì trồng, chỗ trống giành cho bà con ngồi. Dàn đờn gồm cây ghi ta thùng, cây nhị cũ mè. Không micrô, nghệ sĩ ca bằng giọng của trời cho, nghiệp đãi. Ðào Phỉ tám mươi chín tuổi, đứng không nổi, diễn vai gì cũng ngồi trên ghế, ngồi trên ghế mà lẫy roi sải ngựa coi lạ hết biết. Có bữa bà lỡ ca rớt nhịp, ngồi than: "Kiểu này chắc tui sống hổng thọ quá". Bà con trong hẻm cười cái rần, "sống tới cỡ đó còn than hổng thọ nỗi gì". Ông già Chín không biết hát hò gì, chạy đi chạy lại, lúc thì nhắc cái ghế cho đào Phỉ, lúc thì trèo lên thay cái đèn đứt bóng tối thui, kêu quân sĩ đâu thì ông dạ, chỉ khi đào Hồng hát, ông mới ngồi nép vào đám bông lồng đèn nào đó lặng người đi, thấy đào Hồng nhớ đào Hồng, thấy đó mà nhớ đó.

Ông già Chín Vũ biết đào Hồng từ năm bà mới hai mươi mốt tuổi. Bây giờ hỏi gia cảnh ông ngày trước như thế nào, ông chỉ cười, không nói. Nụ cười nhẹ nhàng trôi trôi, chừng như ông không luyến tiếc gì. Nghe nói, hồi đó, nhà ông giàu có khét tiếng xứ Bạc Liêu. Ông là cháu nội đích tôn của Hội Đồng Nguyên. Từ nhỏ, gia tộc đã dành sẵn cho ông một cuộc sống no đủ, giàu sang mà không phải làm gì, cả nhà chiều chuộng. Ðược cái là ông hào sảng, rộng rãi thương người từ tấm bé. Bữa cúng đình ông mời gánh hát Sài Gòn về hát chơi. Ông thương đào Hồng từ cái giây phút đầu tiên. Người đâu mà đẹp quá chừng, đẹp tới đứng tim người ta. Ðào Hồng chưa uống cạn ly trà ông đã hỏi thẳng, không cưỡng lòng được: "Vậy chứ cô Hồng có muốn lấy chồng chưa?". Ðào Hồng cười: "Tôi đã nguyện với Tổ cả đời theo nghiệp hát". Chín Vũ nghe vậy, thôi không nói nữa, nhưng vẻ mặt suy tính dữ lắm. Hôm sau, khi gánh Kim Tiêu trở lại Sài Gòn, có ông công tử bỏ nhà, bỏ phú quý đi theo. Không biết hát hò, tướng mạo cục mịch, nhỏ con, ông không được lên sân khấu. Kêu quân sĩ thì ông dạ, kêu "bây đâu" ông cũng dạ, tối ngày lụi hụi kéo màn, dựng cảnh. Ăn cơm quán, ngủ sàn diễn. Cực mấy cũng chịu, miễn là ngày ngày được nhìn thấy đào Hồng đi ra đi vô, đào Hồng hát. Ông vẫn thường khì khịt bảo rằng mình bị Tổ nhập, ba ông hoàng tử Càn, Chơn, Chất đó, cũng vì đam mê nghệ thuật sân khấu mà bỏ cung son, trốn tránh triều đình, cuối cùng chết trên cây vông nem đó, thấy chưa. Có người cười, thằng Vũ bị tình nhập chớ Tổ gì nhập vô nó nổi. Nghĩ lại, tỷ dụ có cái gọi là kiếp trước, hẳn kiếp trước ông Chín nợ bà Hồng cái gì đó, lớn lắm, nên kiếp này, ông trả hoài, trả không hết.

Ông Chín đã cùng đào Hồng đi qua những năm tháng cơ cực, đắng cay. Ðào Hồng có thai, ông bầu dọa đuổi, ông Chín đứng ra năn nỉ, biểu: "Em lỡ dại...". Ông bầu hỏi: "Của mầy à?". Ông Chín cười: "Dạ, của em chớ của ai". "Chắc không?". Ông bảo chắc mà lòng buồn rượi, đâu phải đứa nhỏ trong bụng đào Hồng là của ông. Ông biết ba đứa nhỏ là ai nhưng không tiện nói. Vì đào Hồng bảo: "Có biết, xin anh Chín cũng đừng nói, tội nghiệp, ảnh còn nhiệm vụ, còn công việc quan trọng phải làm". Cô hẳn yêu người ta lắm, nên một mực bảo vệ cho người ta. Sau nầy, con đào Hồng một tay ông giữ, ông bồng. Ông dạy nó kêu ông bằng ba, đào Hồng nhìn ông rơi nước mắt. Ðó là sự biểu lộ tấm thịnh tình đầu tiên mà đào Hồng dành cho ông suốt hai năm đi theo đoàn Kim Tiêu.

Không khí Sài Gòn bắt đầu khê đặc mùi chiến tranh, buổi sáng, ngồi quán uống cà phê mà toàn nghe sặc sụa từ đám quân cảnh mùi thuốc súng. Cũng một buổi sáng, ông Chín bị cảnh sát gô cổ trói đem đi. Cái thời sao mà bất công, tai bay vạ gởi, quân cảnh thấy buồn bắt người chơi cho vui vậy. Tụi nó nghe có người tố cáo đoàn Kim Tiêu có Việt Cộng nằm vùng, coi đi coi lại không thấy ai có lý do vô đoàn lạ như ông. Tụi nó hỏi: "Vậy đang sống giàu có đi theo đoàn làm gì?". Ông mắc cười thiếu điều nhỉ nước đái, cái tụi nầy, mình nói mình lưu lạc tại vì mình thương đào Hồng chắc gì tụi nó tin, tụi nó có biết tình người là gì đâu. Mười ngày sau, ông được thả. Chỉ mười ngày thôi nhưng phải đợi đến nửa đời sau ông mới gặp lại đào Hồng.

Gánh hát rã nhanh, đào Hồng không đợi ông về. Nghe bà con bán đậu phộng, thuốc lá trong rạp kể lại, kép Thường Khanh bị quân cảnh bắt, đào Hồng ôm con bỏ trốn, ở lại, chỉ sợ vướng cô rồi lòng người cô yêu lung lạc. Ông Chín quay quắt đi tìm, mà người thì tản lạc đâu đâu. Nhiều lúc ông Chín tự hỏi, làm sao đào Hồng có thể sống nổi đến từng ấy năm mà không có ông đỡ đần một vai gánh mỏi.

Sau nầy, về nhà Buổi Chiều, có đêm trăng sáng, ngồi bên rổ khoai lang luộc, đào Hồng có kể chuyện mình. Mọi người chung quanh đều sụt sùi, sao mà hoàn cảnh của nó y hệt mình vậy cà, hổng lẽ đời đào hát là phải vậy. Có người không lấy chồng cho thỏa nghiệp, có người như đào Hồng có con rồi, vì mê hát, vì chiến tranh mà gởi con cho người ta, đến nước nó không thèm nhìn mình nữa. Ông Chín Vũ ngồi rầu rầu, hậm hực. "Biết vậy hồi đó tui bóp mũi nó cho rồi". Ðào Hồng bảo: "Anh Chín đừng nói vậy em thương nó không hết chớ có trách nó bao giờ. Có lúc em nghĩ, con nó có nhìn em cũng không chịu, mình nghèo quá làm gì lo cho nó nổi hả anh?" Bà không bao giờ nhắc tới Thường Khanh như chưa từng quen biết con người đó trong cuộc đời. Nhưng những nỗi nhớ niềm thương chắc còn day dứt trong lòng làm cho bà quắt queo, tàn héo. Ông Chín giật mình, cái nhan sắc ngày xưa đã đi đâu mất biệt rồi, rồi tự nhủ lòng, mình nhớ cổ đâu chỉ vì nhan sắc, vậy thì thắc mắc, đau lòng làm chi.

Ðào Hồng là người duy nhất trong mấy chị em ở nhà Buổi Chiều không bao giờ lên sân khấu mà chưa hóa trang, chưa son phấn. Những ngày mới về đây, biểu bà hát, bà lắc đầu. Ai tra gạn, bà không nói, bảy chị em ai cũng nghèo, có người có son phấn cũng không dám hỏi. Ông già Chín đi theo hỏi hoài, bà nói thiệt. Ông đập con heo đất, đi chợ mua cho bà thỏi son với hộp phấn bông mai. Xong còn kêu cô bán hàng gói lại, chít bông cho cẩn thận. Bà cảm động, nhưng vẻ mặt buồn hiu, "Anh tốt với tôi chi mà tốt hoài vậy?", làm cho ông Chín cũng buồn. Ông nghĩ: "Mình sống làm gì tới từng tuổi nầy mà không hiểu được nhau, Hồng ơi là Hồng".

Trách thì oan, lắm khi ông cũng đâu hiểu được bà. Hồng vẫn thường soi cái gương cũ viền đồng có cán để cầm, mặt gương đã ố lấm tấm. Ông Chín thấy thương lắm, ông lén mua về tráo gương mới vào chỗ bệ cửa sổ rồi lấy cái cũ cất đi. Bà biết ngay là ông, bà giận lắm, mặt lạnh tanh: "Anh tài khôn làm gì, tui đâu có cần gương mới". Ông cố cãi: "Nhưng cái cũ nó mờ lắm...". "Mờ mờ tui mới thích", bà nạt ngang. Không biết tại sao bà lại có ý thích kỳ cục vậy.

Lần đó, ông già Chín buồn, buổi chiều thôi không còn đón bà ở đầu hẻm để gánh giúp gánh chè về nhà, mà ông vẫn thường nói, dù ngắn, ông cũng muốn đỡ đần cho bà một đoạn đời. Ông biết bà còn chờ một cái gì đó, mơ hồ lắm, tiếc là bà không tâm sự với ông. Nghĩ cho cạn, bây giờ đào Hồng cũng như ngày xưa thôi, người ta có khác gì đâu mà mình giận. Sống khép kín, ít nói, ít cười, ít biểu lộ nỗi lòng lên mặt. Chỉ trên sân khấu, đào Hồng mới thỏa thuê khóc, thỏa thuê cười, mà cười sang sảng như Thái Hậu Dương Vân Nga vậy nghen. Cái cười mở lòng mở dạ người ta ra.

Cái bữa cả nhà Buổi Chiều được xe hơi đón đi giỗ Tổ ở nhà hát thành phố, ông Chín giữ nhà. Hôm đó có ông già lại tìm đào Hồng. Ông già tóc trắng như mây, dáng thong thả, chậm rãi, cốt cách sang trọng thấy mà ham. Ông Chín hỏi ông già kia quen sao với đào Hồng, nghe trả lời cũng như không: "Tôi với cổ là người quen cũ. Không biết ngày xưa ông đã từng quen biết đào Hồng? Có à? Ừ, thì tôi hỏi ông nè, cái nhan sắc đó làm sao mà người ta quên được, ha? Vừa rồi tôi đọc báo, thấy người ta viết về nhà Buổi Chiều, tôi mừng như vừa sống dậy, thể nào cũng gặp được cố nhân". Ông Chín ngồi tần ngần, day day cái chung trà trên tay, lòng bối rối nên nói chuyện trớ he: Ừ, tụi tui thấy vậy mà được lên báo hoài thôi" Ðến lúc khách từ giã về, ông Chín cũng không có biểu hiện gì là mình đã nhận ra người quen cũ. Thường Khanh đã già đi (ai mà chẳng vậy) nhưng cái phong thái tao nhã ung dung vẫn như ngày xưa. Sương gió cuộc đời không làm gì được ông khi ông đã sống khác cuộc sống của những người nghệ sĩ ở đây, một cuộc sống không chia ly, khổ đau, dằn vặt. Ông Chín chờ hoài, sao không nghe ông Khanh nhắc tới chuyện ngày xưa ông và Hồng từng có một đứa con, người ta dễ quên vậy sao?

Khách chờ không được, từ giã về rồi, ông Chín ngồi chèm bẹp ngoài cửa rào, nghĩ, rồi mình sẽ mất cô Hồng một lần nữa, từng tuổi nầy còn để mất nhau mà coi được sao. Ông tự nhủ lòng, thôi, bà Hồng về ông không thèm nói lại đâu.

Không nói nhưng thèm nói, lương tâm biểu phải nói, ông Chín bảo: "Không biết cô Hồng còn nhớ Thường Khanh, ảnh mới lại đây kiếm cô" . Ðào Hồng vừa xổ mái tóc cỗi cằn xơ xác ra, lặng người, tay cầm rưng rưng cái đầu tóc mượn. Lâu lắm, bà mới lơ láo ngó lên, đôi mắt ráo khô "tôi đi giặt bộ đồ". Ra tới lu nước bà tựa người vào đó, mặt soi xuống nước bật khóc. Ước gì nước đừng trong như vậy để khỏi phải hiện lên một nhan sắc tàn phai. Không nhìn đằng sau mình nhưng bà biết, ông Chín đang chạy theo nhìn mình, bà nói khẽ: "Mai người ta tới đừng nói tôi ở đây nghen, tôi... tôi không muốn gặp". Ông Chín đứng đó, trong lòng vừa mừng (tại cô Hồng không muốn gặp chớ không phải tại tôi ích kỷ à nghen) vừa thắt thẻo thương bà, ông bảo: "Không tránh được hoài đâu, cô à, mà có gì phải tránh né nhau, người ta, sống ở đời cốt là ở tấm lòng".

Tránh làm sao được khi kịch bản cuộc đời đã bày ra một cảnh gặp nhau. Ông Khanh gặp bà Hồng ở đầu hẻm, lúc trời chạng vạng, khi bà quang gánh trở về. Nhìn thấy ông, bà mỉm cười, giở nón, bà hỏi: "Nghe nói ông tìm tôi?" Ông Khanh đứng chết lặng, ngẩn người ra, lòng ông đau đớn. Ðó không phải là cái nhan sắc mà ông nhớ thương, chờ đợi. Không phải đào Hồng, dứt khoát không phải đào Hồng mà ông đã ôm trong tay ấp trong lòng, đã từng che chở, bao bọc cho ông những ngày xưa cũ.

Có những vẻ đẹp không phải ai cũng nhìn thấy được. Ông Chín nói với bà Hồng như vậy, ông biểu bà đừng buồn, bà cười bảo: "Tôi có buồn gì đâu", nhưng nước mắt bà nhỏ xuống trong khe. Người ở hẻm Cây Còng không thấy ông già sang trọng đi xe hơi tìm vào nhà Buổi Chiều nữa.

Bắt đầu những cơn mưa mùa ràn rạt trên mái nhà, đập ầm ầm vào hai bên vách đóng bằng thiếc cũ. Không thấy bà Hồng gánh chè ra ngõ, không còn nghe tiếng rao ngọt ngào thánh thót mà buồn thiệt là buồn của bà, cũng không thấy ông già Chín Vũ ghé quán chú Tư Bụng uống năm trăm đồng nước trà.

Ðào Hồng bệnh nặng. Ông Chín thắt lòng khi biết trong người bà nhiều bệnh như vậy. Bà như trái bầu khô chỉ còn nhờ vào chút chờ đợi mỏng manh của tình yêu thời son trẻ làm cái vỏ cứng cáp ở bên ngoài. Rồi cũng từ ngày sự thất vọng xui cái vỏ thấm mưa nắng mục ruỗng đi. Bà nhắc tới cái chết hoài, đào Phỉ nạt, "tao sống tới từng tuổi nầy mà còn không chết, bây mà chết chóc gì".
Rằm tháng ba, như thường lệ là cữ hát của nhà Buổi Chiều. Ðào Hồng ốm sát chiếu nhưng vẫn đòi ra hát. Ông Chín vẽ chân mày, tô phấn thoa son cho bà rồi dìu bà ra ghế. Bà ngồi ghế mà hát. Bà hát cho Thái Hậu Dương Vân Nga trước ngổn ngang nợ nước tình nhà, hát cho nàng Quỳnh Nga bên cầu dệt lụa, cho nàng Thoại Khanh hiếu thảo róc thịt nuôi mẹ chồng, cho nàng Châu Long tảo tần nuôi Dương Lễ, Lưu Bình ăn học và cho Tô Thị trông chồng hóa đá vọng phu...

Ðào Hồng hát đến lịm tiếng đi. Bà ngồi trên sân khấu gục đầu. Cái gánh nặng tâm tư này, không mang nổi nữa rồi. Khi ông Chín dìu bà xuống giường, bà đã hôn mê. Người ta hát vở cuối cho bà, cho một người nghệ sĩ chân chính. Ðào Hồng đã gặp lại rất nhiều người thân thuộc cũ, bà nghe con trai bà gọi má, nghe ba má bà nói lên lời tha thứ vì đứa con gái đã bỏ nhà theo nghiệp xướng ca, lời tha thứ bà chờ đợi ngót năm mươi năm ròng rã. Bà sung sướng trở về nhà thơ ấu, đi bắt chuồn chuồn đậu trên hàng bông bụt, cạnh mé mương...

Bông trang rụng ngoài sân.

... Có lần, ghé quán cà phê chú Tư Bụng, tôi quen với ông Chín Vũ. Ông Chín người gầy nhom, nhỏ thó, nhưng tốt bụng, xởi lởi. Ông nói với tôi rằng bỏ cả đời đi theo đoàn hát cũng không uổng, bởi vì đời ông thực có ý nghĩa. Lần đầu tiên ông đóng được vai chính, người ta hỏi vai gì, ông bảo vai con của đào Hồng, phút lâm chung của người đàn bà suốt đời ông yêu thương, ông gọi: "Má ơi!" và thấy bà mỉm cười. Chỉ vậy thôi à.. Ừ chỉ vậy thôi. Nhưng tụi trẻ bây thì biết gì chuyện tình cảm của người lớn...

Chú ý: Ngôi nhà Buổi Chiều dành cho nhưng người ở cuối mùa duyên sắc. Ở đó có một ông già nói rằng "...tụi trẻ bây thì biết gì chuyện tình cảm của người lớn..."

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image

Họ Nguyễn lọt vào top 10 họ phổ biến nhất thế giới
Họ Nguyễn của Việt Nam xếp thứ 4 trong danh sách 10 họ phổ biến nhất trên thế giới, ước tính khoảng 40% dân số nước ta mang họ này, theo xếp hạng của trang web Theworldgeography.com.

Dưới đây là danh sách 10 họ thông dụng nhất trên thế giới:

1. Li hoặc Lee - Hơn 100 triệu người
Đây là tên họ khá phổ biến tại Trung Quốc, với khoảng 9% dân số có họ này. Con tại Hàn Quốc, đây cũng là họ phổ biến thứ 2 (sau họ Kim), phiên âm theo tiếng Latinh là Lee. Tại Việt Nam, họ Lý này cũng khá thông dụng. Cũng vì thế, Li trở thành họ phổ biến nhất trên thế giới.

2. Zhang - Khoảng 100 triệu người
Sách Kỷ lục Guinness thế giới xuất bản vào năm 1990 cũng ghi nhận đây là họ có nhiều người mang nhất trên thế giới. Đầu năm 2006, Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc cũng xếp hạng đây là họ thông dụng đứng thứ 3 tại quốc gia đông dân nhất thế giới này. Họ Zhang được sử dụng từ cách đây trên 4.000 năm.

3. Wang - Hơn 93 triệu người
Wang cũng là một họ phổ biến nhất tại Trung Quốc, với gần 93 triệu người. Dịch sang tiếng Anh, thì Wang có nghĩa đen là "Vua" hoặc "Vương". Họ này cũng có mặt tại một số nước như Hàn Quốc, Nhật Bản và cả Việt Nam (gọi là họ Vương).

4. Nguyễn - Hơn 36 triệu người
Nguyễn là tên họ phổ biến nhất tại Việt Nam, khoảng 40% dân số có họ này. Làn sóng di cư đã đưa họ Nguyễn đến Australia và trở thành họ phổ biến thứ 7 tại quốc gia này, tại Pháp là vị trí thứ 54 và tại Mỹ là vị trí thứ 57.

5- García - Hơn 10 triệu người
García là một họ phổ biến tại khu vực châu Mỹ, Philippines và Tây Ban Nha. Có một vài giả thiết về nguồn gốc của họ này nhưng có thể nó bắt nguồn từ xứ Basque của Tây Ban Nha. Từ này có nghĩa là "trẻ". Đây là họ phổ biến nhất tại Tây Ban Nha, với 3,32% dân mang họ này và cũng là họ phổ biến thứ 2 tại Cuba. 4,1 triệu người Mexico cũng có họ Garcia.

6. González - Hơn 10 triệu người
Đây là một họ có nguồn gốc từ Tây Ban Nha và cũng là họ phổ biến thứ 2 tại quốc gia này (chỉ sau Garcia). Tại các nước châu Mỹ Latinh khác như Chile, Argentina, Venezuela và Paraguay, González là họ phổ biến nhất. Tại Mỹ, họ này cũng đứng vị trí thứ 23 trong số những họ thông dụng nhất.

7. Hernández - Hơn 8 triệu người
Có từ thế kỷ 15, Hernández là họ phổ biến tại Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Nó có nghĩa là "con trai của Hernán" hoặc đôi khi là "con trai của du khách". Họ này cũng phổ biến tại Mỹ, Mexico, Chile, Cuba, Argentina...

8. Smith - Hơn 4 triệu người
Họ này có nguồn gốc từ Anh và cũng là họ phổ biến nhất tại quốc gia này cũng như tại Australia và Mỹ. Tại Canada, đây cũng là họ thông dụng thứ hai và tại Ireland thì đứng thứ 5. Họ Smith đặc biệt phổ biến trong số những người gốc Anh và Ireland và cũng là họ phổ biến của những người Mỹ gốc Phi. Ít nhất 3 triệu người Mỹ mang họ này.

9. Smirnov - Hơn 2,5 triệu người
Theo điều tra dân số năm 2002 tại Nga thì Smirnov (con trai) hoặc Smirnova (con gái) là họ phổ biến tại đất nước này. Biến thể phiên âm của họ này là: Smirnoff hoặc Smyrnov.

10. Müller - Hơn một triệu người
Trong tiếng Đức, Müller nghĩa là "thợ xay". Đây là họ phổ biến nhất tại Đức và Thụy Điển, phổ biến thứ 5 tại Áo... Biến thể của nó có thể là "Miller", chủ yếu ở miền nam nước Đức, Áo và Thụy Điển và "Möller" tại miền bắc và trung nước Đức và Phần Lan.


Source: http://www.theworldgeography.com/2012/0 ... world.html

Post Reply