Bình Luận Thời Sự
Gầm gừ giữa Israel và Iran
Bùi Tín (Nguồn: VOA)
Nhiều dự đoán cho rằng trong năm 2012, mối quan hệ căng thẳng giữa Israel và Iran sẽ ngày càng gay gắt và có thể nổ ra chiến tranh. Báo The Washington Post đầu tháng 2, 2012 còn dự báo cụ thể là chiến tranh giữa 2 nước sẽ nổ ra vào tháng 4 tới.
Iran là một nhà nước độc đáo, không giống ai. Ðó là nhà nước - giáo quyền độc đoán toàn trị theo đạo Hồi, được coi là quốc giáo. Hiện nay lãnh đạo tối cao của Iran là Ayatollah (giáo chủ) Ali Khamenei, 73 tuổi, được Hội Ðồng Chuyên Gia của giáo hội gồm 86 chức sắc cao nhất bầu tháng 7, 1989; Hội đồng này cứ 8 năm được bầu lại một lần. Trước đó ông Ali Khamenei là tổng thống dân chủ đầu tiên sau khi lật đổ Vua Reza Palavi đầu năm 1979 và sau cuộc trưng cầu ý dân ngày 1 tháng 4, 1979 lập nên nước Cộng Hòa Hồi Giáo Iran.Theo Hiến Pháp năm 1979, lãnh đạo tối cao đồng thời là tổng tư lệnh lục hải không quân, chỉ đạo bộ máy an ninh quốc gia, là người duy nhất quyết định hòa bình và chiến tranh, còn có quyền chỉ định chánh án ngành tư pháp, các viên chức đầu ngành truyền thanh, vô tuyến truyền hình quốc gia, tư lệnh cảnh sát. Tổng thống hiện nay là ông Mahmoud Ahmadinejad được bầu năm 2005, tái cử năm 2009, thay cho ông Mohammad Khatami. Ông Khatami từng nổi tiếng là một nhà chính trị dân chủ, cởi mở theo hướng xã hội công dân, thị trường tự do, còn ông Ahmadinejad theo đường lối bảo thủ, cứng rắn, làm cho quan hệ với Hoa Kỳ xấu đi, quan hệ với Israel rất căng thẳng, đặc biệt là từ 2 năm nay, khi kinh tế khó khăn.
Vấn đề bột phát trong quan hệ giữa Iran với Israel là vấn đề sản xuất vũ khí hạt nhân của Iran. Phía Iran luôn luôn khẳng định là chỉ phát triển năng lượng hạt nhân cho mục tiêu hòa bình, luôn luôn cam kết sẽ không sản xuất mọi thứ vũ khí sát thương hàng loạt.
Nhưng thực tế quan sát cho thấy Iran rất quan tâm nghiên cứu, sưu tầm, tìm hiểu, do thám, mua lén với giá cao những thiết bị kỹ thuật, kinh nghiệm, kiến thức liên quan đến vũ khí hạt nhân. Có thể Iran đã sản xuất được một vài cốt lõi nhỏ theo mô hình bom nguyên tử, và đang cố hoàn thiện. Hiện Iran đang ở trước ngưỡng cửa có tính chất quyết định: chế tạo ra quả bom A có sức công phá như những quả bom Hoa Kỳ đã thả xuống Nhật Bản tháng 8 năm 1945. Một số nhà báo và chuyên gia tình báo phương Tây cho rằng ngưỡng cửa ấy là năm 2012, chậm lắm là năm 2013. Hầu hết các quốc gia phương Tây và nhiều nước thuộc khối Ả Rập tin rằng phải chặn trước khả năng này của Iran, nếu không sẽ là thảm họa cho cả nhân loại.
Không ảnh cho thấy có nhiều cơ sở thí nghiệm mọc lên hàng loạt trong vùng rừng núi rất hiểm trở, với nhiều hầm ngầm. Từ 2,000 máy ly tâm lớn đắt tiền, Iran đang dùng đến 8,000 máy với công suất và thời gian sử dụng cao.
Thỉnh thoảng sau khi thanh minh là không hề có ý định sản xuất vũ khí hạt nhân, một số lãnh đạo ở Tehran lại lên giọng úp úp mở mở rằng mỗi nước có chủ quyền thiêng liêng, tự do làm mọi chuyện trên đất nước mình, không ai được nhòm ngó, can thiệp, cấm đoán. Ngày 3 tháng 1, 2012, Tướng Ataollah Salehi, tổng tư lệnh quân đội Iran, dưới quyền Lãnh đạo Tối cao Ali Khamenei, trong trả lời phỏng vấn của báo Ðức, huênh hoang tuyên bố “Iran sẽ tiêu diệt Israel trong 11 ngày.”
Ai cũng biết Israel tuy chỉ có 8 triệu dân nhưng toàn xã hội theo tác phong quân sự chặt chẽ, vũ khí rất hiện đại, có vũ khí nguyên tử chiến thuật, lại rất thiện chiến. Và Israel liên minh chặt chẽ toàn diện với Hoa Kỳ, cường quốc quân sự số 1 của thế giới, và với các nước dân chủ khác.
Ðiều gì làm cho Iran trở nên hung hăng táo tợn? Có nhiều nguyên nhân. Trước hết là nguyên nhân lịch sử. Iran, trước đây thường được gọi là Ba Tư, do phiên âm tiếng Trung Hoa của chữ “Perse,” là một vương quốc thống nhất lớn, hình thành từ thế kỷ thứ VII trước Công nguyên. Iran theo chế độ quân chủ lập hiến từ năm 1906, đến năm 1953 trở lại quân chủ chuyên chế của dòng họ Vua (Shah) Palavi. Ðến năm 1979 cuộc cách mạng dân chủ lật đổ triều đại Palavi, lập ra nước Cộng Hòa Hồi Giáo, thực tế là một nhà nước giáo quyền chuyên chế, theo phái Hồi Giáo Shia, thống nhất tiếng nói Iran.
Iran rất rộng lớn, diện tích hơn 1.6 triệu km2, bằng các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha và Ðức cộng lại. Dân số gần 80 triệu, gần bằng dân số Việt Nam.
Iran có vị trí địa lý đặc biệt, ở giữa vùng Trung Ðông, lại nằm ngay trung tâm lục địa Âu-Á, ở ngã tư giao thông quốc tế. Iran có cả một nền văn minh cổ sớm phát triển rực rỡ một thời về văn học, triết lý, toán học, chiêm tinh, hàng hải... Dân tộc Iran đã qua nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài với nhiều võ công hiển hách, chống xâm lược Hy Lạp, La Mã, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Mông Cổ.
Từ tự hào, hãnh diện dẫn đến kiêu ngạo, liều lĩnh, có thể thành mù quáng. Nhất là gần đây uy tín của chế độ xuống thấp do sự Thức tỉnh Hồi giáo của cuộc nổi dậy Ả Rập mang lại, dội mạnh vào Iran, làm lung lay quyền uy tuyệt đối của Lãnh đạo Tối cao Ali Khamenei và của tổng thống bảo thủ Mahmoud Ahmadinejad. Cuộc bầu lại tổng thống năm nay vào tháng 3 tới sẽ có nhiều bất ngờ theo dự đoán của chính dư luận Iran. Thanh niên Iran, sinh viên Tehran khao khát tự do theo dõi rất sát tình hình Bắc Phi và Trung Ðông, muốn có báo chí, truyền thanh và truyền hình phong phú, cởi mở, tự do.
Cũng cần biết Iran coi Israel là kẻ tử thù, chưa bao giờ công nhận nước này, và hiện vẫn không có quan hệ ngoại giao chính thức với Hoa Kỳ. Giới Hồi Giáo bảo thủ oán hận Hoa Kỳ đã tiếp sức cho cuộc cách mạng dân chủ 1979 lật đổ triều đại Palavi.
Israel luôn có quan hệ căng thẳng với các nước láng giềng Ả Rập, công khai coi các nước Lebanon, Syria, Saudi Arabia, Iraq, Yemen và Iran là quốc gia thù địch, cấm công dân mình đến. Ở Israel, báo chí cánh hữu công khai bàn luận việc nên sớm tiến công Iran nếu không sẽ là quá muộn. Họ phỏng đoán sẽ là cuộc đột kích táo bạo chớp nhoáng, bất ngờ, ồ ạt không cho đối phương trở tay, một cuộc tiến công như phẫu thuật chính xác, không gây thiệt hại cho dân thường, đồng thời đưa cánh đổi mới của ông Mohammad Khatami được trí thức thanh niên quý trọng trở lại cầm quyền, mang mùa Xuân đến.
Cuộc tiến công chớp nhoáng còn là cuộc chiến tranh trên mạng truyền thông Internet cực nhạy, bịt mắt, bịt tai, nhiễu loạn hệ thống chỉ huy và lãnh đạo, tung tin hỏa mù, chia cắt cô lập từng khu vực của đối phương. Một đặc điểm của chiến trường là 2 nước không chung biên giới, lại cách nhau rất xa, khoảng 1,200 km. Phía nào sẽ là chiến trường chính? Không quân, trực thăng, tên lửa, quân đột kích nhảy dù, biệt kích, đặc công sẽ chiếm vị trí nổi bật. Yếu tố thời gian, phỏng chừng bao lâu? Một tuần? một tháng? chưa ai biết. Nhưng sẽ không thể kéo dài, như cuộc chiến tranh Iran-Iraq suốt 8 năm, chết hơn 1 triệu nhân mạng đôi bên.
Chiến tranh hiện đại giữa 2 nước còn là đòn cân não. Có lúc tưởng như nổ ra ngày một, ngày hai. Thời gian gần đây lại bớt căng. Tổng Thống Obama ngày cuối năm 2011 đưa ra đòn hiểm, đánh vào khối tiền thu nhập dầu khí của Iran trong các ngân hàng quốc tế. Cả cộng đồng quốc tế phong tỏa chặt mọi ngân khoản thu chi xuất nhập của Iran. Iran cay cú dọa là giá dầu sẽ vọt lên gấp đôi. Nhưng suốt 1 tháng giá dầu chỉ nhích 4%. Ðòn hiểm bắt đầu ngấm. Sau khi nhà quân sự cao nhất dọa “tiêu diệt Israel trong 11 ngày,” nhà ngoại giao cao nhất - Ngoại Trưởng Akbar Salehi xuống hẳn giọng, nói với ngoại trưởng Thổ Nhĩ Kỳ đang có mặt ở Tehran rằng “chúng tôi sẵn sàng trở lại bàn hội nghị để thảo luận về chương trình hạt nhân của Iran.”
Mềm, cứng, nóng, lạnh, bắt tay rồi dọa tiêu diệt nhau, mỉm cười rồi gầm gừ... giữa 2 nước xung khắc nhau về bản chất sẽ còn tiếp diễn. Cần cảnh giác. Kẻ yếu có khi nghĩ liều mạng cũng có thể là thế mạnh.
Một điều chắc chắn là loài người tiến bộ văn minh quyết không thể để cho một chế độ toàn trị - như Iran ở Trung Ðông hay Bắc Triều Tiên ở Ðông Á, nắm trong tay vũ khí hạt nhân tử sát thương hàng loạt nhằm thao túng nền an ninh khu vực và thế giới.
Bùi Tín (Nguồn: VOA)
Nhiều dự đoán cho rằng trong năm 2012, mối quan hệ căng thẳng giữa Israel và Iran sẽ ngày càng gay gắt và có thể nổ ra chiến tranh. Báo The Washington Post đầu tháng 2, 2012 còn dự báo cụ thể là chiến tranh giữa 2 nước sẽ nổ ra vào tháng 4 tới.
Iran là một nhà nước độc đáo, không giống ai. Ðó là nhà nước - giáo quyền độc đoán toàn trị theo đạo Hồi, được coi là quốc giáo. Hiện nay lãnh đạo tối cao của Iran là Ayatollah (giáo chủ) Ali Khamenei, 73 tuổi, được Hội Ðồng Chuyên Gia của giáo hội gồm 86 chức sắc cao nhất bầu tháng 7, 1989; Hội đồng này cứ 8 năm được bầu lại một lần. Trước đó ông Ali Khamenei là tổng thống dân chủ đầu tiên sau khi lật đổ Vua Reza Palavi đầu năm 1979 và sau cuộc trưng cầu ý dân ngày 1 tháng 4, 1979 lập nên nước Cộng Hòa Hồi Giáo Iran.Theo Hiến Pháp năm 1979, lãnh đạo tối cao đồng thời là tổng tư lệnh lục hải không quân, chỉ đạo bộ máy an ninh quốc gia, là người duy nhất quyết định hòa bình và chiến tranh, còn có quyền chỉ định chánh án ngành tư pháp, các viên chức đầu ngành truyền thanh, vô tuyến truyền hình quốc gia, tư lệnh cảnh sát. Tổng thống hiện nay là ông Mahmoud Ahmadinejad được bầu năm 2005, tái cử năm 2009, thay cho ông Mohammad Khatami. Ông Khatami từng nổi tiếng là một nhà chính trị dân chủ, cởi mở theo hướng xã hội công dân, thị trường tự do, còn ông Ahmadinejad theo đường lối bảo thủ, cứng rắn, làm cho quan hệ với Hoa Kỳ xấu đi, quan hệ với Israel rất căng thẳng, đặc biệt là từ 2 năm nay, khi kinh tế khó khăn.
Vấn đề bột phát trong quan hệ giữa Iran với Israel là vấn đề sản xuất vũ khí hạt nhân của Iran. Phía Iran luôn luôn khẳng định là chỉ phát triển năng lượng hạt nhân cho mục tiêu hòa bình, luôn luôn cam kết sẽ không sản xuất mọi thứ vũ khí sát thương hàng loạt.
Nhưng thực tế quan sát cho thấy Iran rất quan tâm nghiên cứu, sưu tầm, tìm hiểu, do thám, mua lén với giá cao những thiết bị kỹ thuật, kinh nghiệm, kiến thức liên quan đến vũ khí hạt nhân. Có thể Iran đã sản xuất được một vài cốt lõi nhỏ theo mô hình bom nguyên tử, và đang cố hoàn thiện. Hiện Iran đang ở trước ngưỡng cửa có tính chất quyết định: chế tạo ra quả bom A có sức công phá như những quả bom Hoa Kỳ đã thả xuống Nhật Bản tháng 8 năm 1945. Một số nhà báo và chuyên gia tình báo phương Tây cho rằng ngưỡng cửa ấy là năm 2012, chậm lắm là năm 2013. Hầu hết các quốc gia phương Tây và nhiều nước thuộc khối Ả Rập tin rằng phải chặn trước khả năng này của Iran, nếu không sẽ là thảm họa cho cả nhân loại.
Không ảnh cho thấy có nhiều cơ sở thí nghiệm mọc lên hàng loạt trong vùng rừng núi rất hiểm trở, với nhiều hầm ngầm. Từ 2,000 máy ly tâm lớn đắt tiền, Iran đang dùng đến 8,000 máy với công suất và thời gian sử dụng cao.
Thỉnh thoảng sau khi thanh minh là không hề có ý định sản xuất vũ khí hạt nhân, một số lãnh đạo ở Tehran lại lên giọng úp úp mở mở rằng mỗi nước có chủ quyền thiêng liêng, tự do làm mọi chuyện trên đất nước mình, không ai được nhòm ngó, can thiệp, cấm đoán. Ngày 3 tháng 1, 2012, Tướng Ataollah Salehi, tổng tư lệnh quân đội Iran, dưới quyền Lãnh đạo Tối cao Ali Khamenei, trong trả lời phỏng vấn của báo Ðức, huênh hoang tuyên bố “Iran sẽ tiêu diệt Israel trong 11 ngày.”
Ai cũng biết Israel tuy chỉ có 8 triệu dân nhưng toàn xã hội theo tác phong quân sự chặt chẽ, vũ khí rất hiện đại, có vũ khí nguyên tử chiến thuật, lại rất thiện chiến. Và Israel liên minh chặt chẽ toàn diện với Hoa Kỳ, cường quốc quân sự số 1 của thế giới, và với các nước dân chủ khác.
Ðiều gì làm cho Iran trở nên hung hăng táo tợn? Có nhiều nguyên nhân. Trước hết là nguyên nhân lịch sử. Iran, trước đây thường được gọi là Ba Tư, do phiên âm tiếng Trung Hoa của chữ “Perse,” là một vương quốc thống nhất lớn, hình thành từ thế kỷ thứ VII trước Công nguyên. Iran theo chế độ quân chủ lập hiến từ năm 1906, đến năm 1953 trở lại quân chủ chuyên chế của dòng họ Vua (Shah) Palavi. Ðến năm 1979 cuộc cách mạng dân chủ lật đổ triều đại Palavi, lập ra nước Cộng Hòa Hồi Giáo, thực tế là một nhà nước giáo quyền chuyên chế, theo phái Hồi Giáo Shia, thống nhất tiếng nói Iran.
Iran rất rộng lớn, diện tích hơn 1.6 triệu km2, bằng các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha và Ðức cộng lại. Dân số gần 80 triệu, gần bằng dân số Việt Nam.
Iran có vị trí địa lý đặc biệt, ở giữa vùng Trung Ðông, lại nằm ngay trung tâm lục địa Âu-Á, ở ngã tư giao thông quốc tế. Iran có cả một nền văn minh cổ sớm phát triển rực rỡ một thời về văn học, triết lý, toán học, chiêm tinh, hàng hải... Dân tộc Iran đã qua nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài với nhiều võ công hiển hách, chống xâm lược Hy Lạp, La Mã, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Mông Cổ.
Từ tự hào, hãnh diện dẫn đến kiêu ngạo, liều lĩnh, có thể thành mù quáng. Nhất là gần đây uy tín của chế độ xuống thấp do sự Thức tỉnh Hồi giáo của cuộc nổi dậy Ả Rập mang lại, dội mạnh vào Iran, làm lung lay quyền uy tuyệt đối của Lãnh đạo Tối cao Ali Khamenei và của tổng thống bảo thủ Mahmoud Ahmadinejad. Cuộc bầu lại tổng thống năm nay vào tháng 3 tới sẽ có nhiều bất ngờ theo dự đoán của chính dư luận Iran. Thanh niên Iran, sinh viên Tehran khao khát tự do theo dõi rất sát tình hình Bắc Phi và Trung Ðông, muốn có báo chí, truyền thanh và truyền hình phong phú, cởi mở, tự do.
Cũng cần biết Iran coi Israel là kẻ tử thù, chưa bao giờ công nhận nước này, và hiện vẫn không có quan hệ ngoại giao chính thức với Hoa Kỳ. Giới Hồi Giáo bảo thủ oán hận Hoa Kỳ đã tiếp sức cho cuộc cách mạng dân chủ 1979 lật đổ triều đại Palavi.
Israel luôn có quan hệ căng thẳng với các nước láng giềng Ả Rập, công khai coi các nước Lebanon, Syria, Saudi Arabia, Iraq, Yemen và Iran là quốc gia thù địch, cấm công dân mình đến. Ở Israel, báo chí cánh hữu công khai bàn luận việc nên sớm tiến công Iran nếu không sẽ là quá muộn. Họ phỏng đoán sẽ là cuộc đột kích táo bạo chớp nhoáng, bất ngờ, ồ ạt không cho đối phương trở tay, một cuộc tiến công như phẫu thuật chính xác, không gây thiệt hại cho dân thường, đồng thời đưa cánh đổi mới của ông Mohammad Khatami được trí thức thanh niên quý trọng trở lại cầm quyền, mang mùa Xuân đến.
Cuộc tiến công chớp nhoáng còn là cuộc chiến tranh trên mạng truyền thông Internet cực nhạy, bịt mắt, bịt tai, nhiễu loạn hệ thống chỉ huy và lãnh đạo, tung tin hỏa mù, chia cắt cô lập từng khu vực của đối phương. Một đặc điểm của chiến trường là 2 nước không chung biên giới, lại cách nhau rất xa, khoảng 1,200 km. Phía nào sẽ là chiến trường chính? Không quân, trực thăng, tên lửa, quân đột kích nhảy dù, biệt kích, đặc công sẽ chiếm vị trí nổi bật. Yếu tố thời gian, phỏng chừng bao lâu? Một tuần? một tháng? chưa ai biết. Nhưng sẽ không thể kéo dài, như cuộc chiến tranh Iran-Iraq suốt 8 năm, chết hơn 1 triệu nhân mạng đôi bên.
Chiến tranh hiện đại giữa 2 nước còn là đòn cân não. Có lúc tưởng như nổ ra ngày một, ngày hai. Thời gian gần đây lại bớt căng. Tổng Thống Obama ngày cuối năm 2011 đưa ra đòn hiểm, đánh vào khối tiền thu nhập dầu khí của Iran trong các ngân hàng quốc tế. Cả cộng đồng quốc tế phong tỏa chặt mọi ngân khoản thu chi xuất nhập của Iran. Iran cay cú dọa là giá dầu sẽ vọt lên gấp đôi. Nhưng suốt 1 tháng giá dầu chỉ nhích 4%. Ðòn hiểm bắt đầu ngấm. Sau khi nhà quân sự cao nhất dọa “tiêu diệt Israel trong 11 ngày,” nhà ngoại giao cao nhất - Ngoại Trưởng Akbar Salehi xuống hẳn giọng, nói với ngoại trưởng Thổ Nhĩ Kỳ đang có mặt ở Tehran rằng “chúng tôi sẵn sàng trở lại bàn hội nghị để thảo luận về chương trình hạt nhân của Iran.”
Mềm, cứng, nóng, lạnh, bắt tay rồi dọa tiêu diệt nhau, mỉm cười rồi gầm gừ... giữa 2 nước xung khắc nhau về bản chất sẽ còn tiếp diễn. Cần cảnh giác. Kẻ yếu có khi nghĩ liều mạng cũng có thể là thế mạnh.
Một điều chắc chắn là loài người tiến bộ văn minh quyết không thể để cho một chế độ toàn trị - như Iran ở Trung Ðông hay Bắc Triều Tiên ở Ðông Á, nắm trong tay vũ khí hạt nhân tử sát thương hàng loạt nhằm thao túng nền an ninh khu vực và thế giới.
Chế độ lấy ghế che mặt
Ngô Nhân Dụng
Nhìn cảnh một anh công an chìm nâng chiếc ghế lên che mặt khi kỹ sư Ðỗ Nam Hải đưa máy lên chụp hình khiến người coi phải động lòng trắc ẩn. Nó chứng tỏ người công an này biết xấu hổ.
Anh bạn trẻ này không muốn phơi bộ mặt cho mọi người biết mình là công an. Không muốn đi đâu cũng có người nhận ra mà hỏi: Anh chính là anh công an vẫn “canh cửa” nhà ông Ðỗ Nam Hải phải không, sao tôi thấy giống quá? Anh cũng không muốn đám con anh bị bạn bè trong trường dò hỏi: Bố mày làm công an hả? Hay vợ anh đi chợ bị người ta chỉ trỏ: Vợ công an đấy!

Công an theo dõi Ðỗ Nam Hải bị chụp hình. Một tên công an lấy ghế che mặt để không bị chụp hình.
(Hình do nạn nhân cung cấp)
Hà Sĩ Phu có lần phân tích tình trạng nước ta bây giờ đầy tham nhũng, trấn lột, thấy một nguyên nhân là trong xã hội nhiều người không còn biết xấu hổ nữa. Cho nên khi một anh công an còn biết xấu hổ, chúng ta phải mừng. Và thương cảm. Phản ứng nhanh chóng cho thấy anh công an này biết xấu hổ thật! Các cụ nói: “Xấu hổ lấy rổ mà che, lấy nong mà đè, lấy đấu mà đong” (Trong Ca Dao Nhi Ðồng, do Doãn Quốc Sĩ sưu tầm). Ngồi trên lề đường giữa thành phố không kiếm ra cái rổ, anh công an của Ðỗ Nam Hải lấy ngay cái ghế mình ngồi đưa lên che mặt. Ghế là đồ dùng để ngồi lên, đem ghế che mặt là vạn bất đắc dĩ, cũng không khác gì lấy cái đũng quần mà che lên mặt. Mạnh Tử coi tính biết xấu hổ là một dấu hiệu của tính Thiện bẩm sinh trong mỗi người. Biết xấu hổ là một trong bốn đầu mối (Tứ Ðoan) của các đức tính Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí. Mạnh Tử viết: “Tu ố chi tâm, Nghĩa chi đoan dã.”
Khi kỹ sư Ðỗ Nam Hải điện thoại cho Trung Tá Nguyễn Văn Tâm, trưởng phòng công an 35 thành phố trình bày mình bị một công an canh cửa tấn công, thì bị ông này hỏi: “Anh có chắc thằng đó là công an không?” Ông hỏi một câu con nít nghe cũng phải bật cười! Rõ ràng là ông trung tá này không thèm lấy cái gì che mặt hết. Buột miệng hỏi như vậy mà không tự thấy ngượng miệng. Nhưng cũng chẳng nên phê phán ông Nguyễn Văn Tâm. Ông ta phản ứng đúng với vai trò một trung tá công an. Khi thấy dân tố cáo bất cứ cái gì, phải chối ngay, phải lấp liếm, bịa đặt, bưng bít, bằng bất cứ cách nào, không bao giờ nhận lỗi. Nó cũng giống như phản ứng của ông Ðỗ Trung Thoại, phó chủ tịch thành phố Hải Phòng khi bị nhà báo hỏi về vụ đem công an, bộ đội kéo theo côn đồ đến phá sập nhà ông Ðoàn Văn Vươn. Ông Thoại cũng nói xưng xưng: Nhân dân “bức xúc” đến phá đấy!
Những phản ứng nhanh chóng này cũng không phải vì các ông Tâm, ông Thoại sáng trí, nhanh miệng. Nó là do hệ thống đã đào luyện cho họ, tạo thành một phản xạ do điều kiện, như những con chó của Pavlov nghe tiếng chuông là chảy nước bọt. Hệ thống bảo phải bất chấp mọi thủ đoạn gian dối, vu cáo, ngụy tạo, che đậy, gian trá, không cần biết phải trái, chỉ cần bảo vệ quyền lợi của đảng. Gian dối không phải một tính xấu của một vài cá nhân mà là một thứ “Lỗi hệ thống”. Nó nằm trong cốt tủy các chế độ cộng sản, từ xưa đến nay vẫn vậy. Lại nhắc lời nhà văn Solzhenitsyn nói về chế độ độc tài cộng sản ở Nga: Một hệ thống đàn áp luôn luôn phải đi kèm với một hệ thống dối trá để bưng bít, che đậy những cái ác.
Phản ứng xạ nhấc ngay cái ghế che lên mặt cũng là do thói quen che đậy, bưng bít mà các cán bộ học được trong hệ thống đó. Ông Ðỗ Trung Thoại đưa “Nhân dân” ra làm cái ghế che mặt ngay lập tức. Bởi vì ông đã được đào tạo như thế từ trong lò của hệ thống. Không riêng gì anh công an gác cửa nhà kỹ sư Ðỗ Nam Hải, mà tất cả các cán bộ đảng viên cộng sản chân chính đều phải thấm nhuần chủ nghĩa lấy ghế che mặt.
Như trong vụ cướp đất của gia đình Ðoàn Văn Vươn chẳng hạn. Một bản kiến nghị do Luật Sư Phạm Vũ Hải đã vạch ra là anh em ông Ðoàn Văn Vươn là nạn nhân của một trình tự vi phạm pháp luật “có hệ thống”. Hơn nữa, còn sự “toa rập” của cả hệ thống tòa án từ huyện lên tỉnh. Ðây là một vụ ăn cướp có hệ thống, do hệ thống sinh đẻ ra. Ông Nguyễn Tấn Dũng đã cố làm dịu nỗi phẫn uất nổi lên khắp nước Việt Nam bằng lời thú nhận là nhà nước sai lầm từ đầu đến cuối. Cho phép ông Ðoàn Văn Vươn dùng một phần đất đã sai luật. Ra lệnh lấy lại đất lại còn sai hơn. Ðem lính tráng, con đồ, súng ống đến cướp đất, phá nhà càng sai hơn nữa.
Nhưng ông Nguyễn Tấn Dũng cũng biết đem ngay một cái ghế đưa lên che mặt. Cái ghế này là việc đổ tội cho đám quan chức cấp dưới ở Hải Phòng. Gọi là cái ghế không ngoa. Ông Dũng ngồi trên cái ghế thủ tướng là vì ông đang làm đại biểu Quốc Hội. Ông được bầu vào Quốc Hội là nhờ đám quan chức Hải Phòng, Tiên Lãng “cơ cấu” cho các lá phiếu. Ông dùng họ như một phương tiện để leo lên ngồi ghế thủ tướng. Chính đám này là những cái chân trong cái ghế thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng. Trước cuộc tấn công của dư luận cả nước vì vụ Ðoàn Văn Vươn, Nguyễn Tấn Dũng đã đưa cái ghế đó lên che mặt.
Nhưng cái ghế đó lủng. Nó thủng lỗ chỗ, những lỗ thủng rất to. Nó không che đậy được cái mặt của mạng lưới lạm dụng quyền hành chia chác quyền lợi riêng tư giữa đám tham quan, từ xã, từ huyện lên thành phố, lên đến trung ương! Cái ghế lủng đó càng bất lực không che đậy được cả chủ trương không cho phép nông dân làm chủ ruộng đất của họ. Nó không che đậy được một hệ thống gian trá tham tàn đang lợi dụng mồ hôi nước mắt của dân Việt Nam để làm giầu.
Cuộc họp báo “trấn an” của Nguyễn Tấn Dũng không che đậy được cái mặt thật của chế độ, mà còn kéo dài thêm tình trạng bất an. Bởi vì nó “đánh bùn sang ao,” như nhiều người mô tả. Nó không giải quyết những oan ức của các nạn nhân là gia đình Ðoàn Văn Vươn. Nó không xác định những kẻ gây ra tội lỗi phải chịu trách nhiệm gì. Bọn họ chỉ cần kiểm điểm trong nội bộ với nhau! Những lệnh thu hồi đất bị thù hồi vì sai luật, nhưng những mảnh đất do gia đình Ðoàn Văn Vươn khai khẩn vẫn có thể bị mất bất cứ lúc nào. Gia đình đó vẫn không được coi là chủ đất. Chỉ có nhà nước làm chủ. Họ chỉ cần sửa lại mấy quyết định cũ, làm sao cho nó đúng luật hơn là gia đình Ðoàn Văn Vươn lại có thể mất hết. Cũng như hàng triệu nông dân Việt Nam khác. Không những thế, Ðoàn Văn Vươn còn có thể đi tù nữa! Tất cả chứng tỏ vụ án lịch sử Ðoàn Văn Vươn sẽ còn kéo dài chưa biết bao giờ xong. Cái ghế mà ông Nguyễn Tấn Dũng đưa lên che mặt không chỉ bị lủng không thôi. Nó đang rách nát cả rồi.
Chính miệng ông thủ tướng còn vu oan giá họa cho gia đình Ðoàn Văn Vươn tội “giết người”. Không có ai bị giết làm sao có tội giết người? Súng hoa cải bắn ra vì phẫn uất trước những hành động phi pháp, làm sao súng đó giết được người? Sáu trăm nhà trí thức lên tiếng yêu cầu phải xóa bỏ tội danh “giết người” của ông Ðoàn Văn Vươn. Mấy trăm nông dân nạn nhân bị cường hào cướp đất đã kéo đến thăm nơi gia đình Ðoàn Văn Vươn ở, họ đến từ những tỉnh Hà Ðông, Hưng Yên. Bao giờ thì những nạn nhân cướp đất này kéo nhau về Hà Nội, đem theo hình ảnh ông Ðoàn Văn Vươn đi biểu tình? Bao giờ nông dân Việt Nam đứng lên đòi phải xóa bỏ chế độ cướp đất của nông dân mà đảng Cộng Sản đã bắt đầu từ khi thi hành chính sách tập thể hóa nông nghiệp của Stalin và cải cách ruộng đất của Mao Trạch Ðông? Không cái ghế nào đưa lên che được bộ mặt đó.
Ngô Nhân Dụng
Nhìn cảnh một anh công an chìm nâng chiếc ghế lên che mặt khi kỹ sư Ðỗ Nam Hải đưa máy lên chụp hình khiến người coi phải động lòng trắc ẩn. Nó chứng tỏ người công an này biết xấu hổ.
Anh bạn trẻ này không muốn phơi bộ mặt cho mọi người biết mình là công an. Không muốn đi đâu cũng có người nhận ra mà hỏi: Anh chính là anh công an vẫn “canh cửa” nhà ông Ðỗ Nam Hải phải không, sao tôi thấy giống quá? Anh cũng không muốn đám con anh bị bạn bè trong trường dò hỏi: Bố mày làm công an hả? Hay vợ anh đi chợ bị người ta chỉ trỏ: Vợ công an đấy!

Công an theo dõi Ðỗ Nam Hải bị chụp hình. Một tên công an lấy ghế che mặt để không bị chụp hình.
(Hình do nạn nhân cung cấp)
Hà Sĩ Phu có lần phân tích tình trạng nước ta bây giờ đầy tham nhũng, trấn lột, thấy một nguyên nhân là trong xã hội nhiều người không còn biết xấu hổ nữa. Cho nên khi một anh công an còn biết xấu hổ, chúng ta phải mừng. Và thương cảm. Phản ứng nhanh chóng cho thấy anh công an này biết xấu hổ thật! Các cụ nói: “Xấu hổ lấy rổ mà che, lấy nong mà đè, lấy đấu mà đong” (Trong Ca Dao Nhi Ðồng, do Doãn Quốc Sĩ sưu tầm). Ngồi trên lề đường giữa thành phố không kiếm ra cái rổ, anh công an của Ðỗ Nam Hải lấy ngay cái ghế mình ngồi đưa lên che mặt. Ghế là đồ dùng để ngồi lên, đem ghế che mặt là vạn bất đắc dĩ, cũng không khác gì lấy cái đũng quần mà che lên mặt. Mạnh Tử coi tính biết xấu hổ là một dấu hiệu của tính Thiện bẩm sinh trong mỗi người. Biết xấu hổ là một trong bốn đầu mối (Tứ Ðoan) của các đức tính Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí. Mạnh Tử viết: “Tu ố chi tâm, Nghĩa chi đoan dã.”
Khi kỹ sư Ðỗ Nam Hải điện thoại cho Trung Tá Nguyễn Văn Tâm, trưởng phòng công an 35 thành phố trình bày mình bị một công an canh cửa tấn công, thì bị ông này hỏi: “Anh có chắc thằng đó là công an không?” Ông hỏi một câu con nít nghe cũng phải bật cười! Rõ ràng là ông trung tá này không thèm lấy cái gì che mặt hết. Buột miệng hỏi như vậy mà không tự thấy ngượng miệng. Nhưng cũng chẳng nên phê phán ông Nguyễn Văn Tâm. Ông ta phản ứng đúng với vai trò một trung tá công an. Khi thấy dân tố cáo bất cứ cái gì, phải chối ngay, phải lấp liếm, bịa đặt, bưng bít, bằng bất cứ cách nào, không bao giờ nhận lỗi. Nó cũng giống như phản ứng của ông Ðỗ Trung Thoại, phó chủ tịch thành phố Hải Phòng khi bị nhà báo hỏi về vụ đem công an, bộ đội kéo theo côn đồ đến phá sập nhà ông Ðoàn Văn Vươn. Ông Thoại cũng nói xưng xưng: Nhân dân “bức xúc” đến phá đấy!
Những phản ứng nhanh chóng này cũng không phải vì các ông Tâm, ông Thoại sáng trí, nhanh miệng. Nó là do hệ thống đã đào luyện cho họ, tạo thành một phản xạ do điều kiện, như những con chó của Pavlov nghe tiếng chuông là chảy nước bọt. Hệ thống bảo phải bất chấp mọi thủ đoạn gian dối, vu cáo, ngụy tạo, che đậy, gian trá, không cần biết phải trái, chỉ cần bảo vệ quyền lợi của đảng. Gian dối không phải một tính xấu của một vài cá nhân mà là một thứ “Lỗi hệ thống”. Nó nằm trong cốt tủy các chế độ cộng sản, từ xưa đến nay vẫn vậy. Lại nhắc lời nhà văn Solzhenitsyn nói về chế độ độc tài cộng sản ở Nga: Một hệ thống đàn áp luôn luôn phải đi kèm với một hệ thống dối trá để bưng bít, che đậy những cái ác.
Phản ứng xạ nhấc ngay cái ghế che lên mặt cũng là do thói quen che đậy, bưng bít mà các cán bộ học được trong hệ thống đó. Ông Ðỗ Trung Thoại đưa “Nhân dân” ra làm cái ghế che mặt ngay lập tức. Bởi vì ông đã được đào tạo như thế từ trong lò của hệ thống. Không riêng gì anh công an gác cửa nhà kỹ sư Ðỗ Nam Hải, mà tất cả các cán bộ đảng viên cộng sản chân chính đều phải thấm nhuần chủ nghĩa lấy ghế che mặt.
Như trong vụ cướp đất của gia đình Ðoàn Văn Vươn chẳng hạn. Một bản kiến nghị do Luật Sư Phạm Vũ Hải đã vạch ra là anh em ông Ðoàn Văn Vươn là nạn nhân của một trình tự vi phạm pháp luật “có hệ thống”. Hơn nữa, còn sự “toa rập” của cả hệ thống tòa án từ huyện lên tỉnh. Ðây là một vụ ăn cướp có hệ thống, do hệ thống sinh đẻ ra. Ông Nguyễn Tấn Dũng đã cố làm dịu nỗi phẫn uất nổi lên khắp nước Việt Nam bằng lời thú nhận là nhà nước sai lầm từ đầu đến cuối. Cho phép ông Ðoàn Văn Vươn dùng một phần đất đã sai luật. Ra lệnh lấy lại đất lại còn sai hơn. Ðem lính tráng, con đồ, súng ống đến cướp đất, phá nhà càng sai hơn nữa.
Nhưng ông Nguyễn Tấn Dũng cũng biết đem ngay một cái ghế đưa lên che mặt. Cái ghế này là việc đổ tội cho đám quan chức cấp dưới ở Hải Phòng. Gọi là cái ghế không ngoa. Ông Dũng ngồi trên cái ghế thủ tướng là vì ông đang làm đại biểu Quốc Hội. Ông được bầu vào Quốc Hội là nhờ đám quan chức Hải Phòng, Tiên Lãng “cơ cấu” cho các lá phiếu. Ông dùng họ như một phương tiện để leo lên ngồi ghế thủ tướng. Chính đám này là những cái chân trong cái ghế thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng. Trước cuộc tấn công của dư luận cả nước vì vụ Ðoàn Văn Vươn, Nguyễn Tấn Dũng đã đưa cái ghế đó lên che mặt.
Nhưng cái ghế đó lủng. Nó thủng lỗ chỗ, những lỗ thủng rất to. Nó không che đậy được cái mặt của mạng lưới lạm dụng quyền hành chia chác quyền lợi riêng tư giữa đám tham quan, từ xã, từ huyện lên thành phố, lên đến trung ương! Cái ghế lủng đó càng bất lực không che đậy được cả chủ trương không cho phép nông dân làm chủ ruộng đất của họ. Nó không che đậy được một hệ thống gian trá tham tàn đang lợi dụng mồ hôi nước mắt của dân Việt Nam để làm giầu.
Cuộc họp báo “trấn an” của Nguyễn Tấn Dũng không che đậy được cái mặt thật của chế độ, mà còn kéo dài thêm tình trạng bất an. Bởi vì nó “đánh bùn sang ao,” như nhiều người mô tả. Nó không giải quyết những oan ức của các nạn nhân là gia đình Ðoàn Văn Vươn. Nó không xác định những kẻ gây ra tội lỗi phải chịu trách nhiệm gì. Bọn họ chỉ cần kiểm điểm trong nội bộ với nhau! Những lệnh thu hồi đất bị thù hồi vì sai luật, nhưng những mảnh đất do gia đình Ðoàn Văn Vươn khai khẩn vẫn có thể bị mất bất cứ lúc nào. Gia đình đó vẫn không được coi là chủ đất. Chỉ có nhà nước làm chủ. Họ chỉ cần sửa lại mấy quyết định cũ, làm sao cho nó đúng luật hơn là gia đình Ðoàn Văn Vươn lại có thể mất hết. Cũng như hàng triệu nông dân Việt Nam khác. Không những thế, Ðoàn Văn Vươn còn có thể đi tù nữa! Tất cả chứng tỏ vụ án lịch sử Ðoàn Văn Vươn sẽ còn kéo dài chưa biết bao giờ xong. Cái ghế mà ông Nguyễn Tấn Dũng đưa lên che mặt không chỉ bị lủng không thôi. Nó đang rách nát cả rồi.
Chính miệng ông thủ tướng còn vu oan giá họa cho gia đình Ðoàn Văn Vươn tội “giết người”. Không có ai bị giết làm sao có tội giết người? Súng hoa cải bắn ra vì phẫn uất trước những hành động phi pháp, làm sao súng đó giết được người? Sáu trăm nhà trí thức lên tiếng yêu cầu phải xóa bỏ tội danh “giết người” của ông Ðoàn Văn Vươn. Mấy trăm nông dân nạn nhân bị cường hào cướp đất đã kéo đến thăm nơi gia đình Ðoàn Văn Vươn ở, họ đến từ những tỉnh Hà Ðông, Hưng Yên. Bao giờ thì những nạn nhân cướp đất này kéo nhau về Hà Nội, đem theo hình ảnh ông Ðoàn Văn Vươn đi biểu tình? Bao giờ nông dân Việt Nam đứng lên đòi phải xóa bỏ chế độ cướp đất của nông dân mà đảng Cộng Sản đã bắt đầu từ khi thi hành chính sách tập thể hóa nông nghiệp của Stalin và cải cách ruộng đất của Mao Trạch Ðông? Không cái ghế nào đưa lên che được bộ mặt đó.
Cuộc đấu tranh chính trị ở Nga trước ngày bầu cử tổng thống
Nguyễn Minh Cần
Có thể nói, từ ngày 4 tháng 12 năm 2011 đến ngày 24 tháng 12 năm 2011, tức là trong thời gian diễn ra ba cuộc biểu tình lớn của dân chúng Nga phản đối cuộc bầu cử Quốc Hội gian lận (cuộc đầu tiên ngày 5.12.2011 trên đại lộ Chisty prudy với trên 5 nghìn người; cuộc thứ hai ngày 10.12.11 trên quảng trường Bolotnaya với 80 nghìn người; cuộc thứ ba ngày 24.12.2011 trên đại lộ Sakharov với 104 nghìn người ở thủ đô Moskva; đó là chưa nói đến các cuộc biểu tình ở St. Petersburg và trên 100 thành phố khác khắp nước Nga), phe chính quyền hoàn toàn bất ngờ và bị động trước phong trào phản kháng mạnh mẽ của dân chúng.

Một cuộc biểu tình ở Moscow chống Putin. (Hình: Andrey Smirnov/AFP/Getty Images)
Ngoài những luận điệu tuyên truyền của các kênh truyền hình, truyền thanh nhà nước và những lời tuyên bố của Putin, Medvedev vu khống những người đứng ra tổ chức biểu tình là làm tay sai cho Mỹ và phương Tây, người ta không thấy phản ứng gì mạnh mẽ của phe chính quyền. Các nhà quan sát khách quan thấy rõ đằng sau những lời tuyên bố đó là sự lúng túng và bối rối của họ.
Nhưng, từ cuộc biểu tình lớn thứ tư của dân chúng Moskva ngày 4.2.2012 trên quảng trường Bolotnaya, phe chính quyền bắt đầu tích cực phản công và cố sức giành lại thế chủ động. Lần đầu tiên, phe thân Putin tổ chức cuộc phản biểu tình cũng trong ngày 4.2. trên Poklonya gora (Ðồi tưởng niệm) ở Moskva với những khẩu hiệu cổ động cho ứng viên tổng thống Vladimir Putin. Nếu khẩu hiệu của biểu tình phản kháng là “Vì cuộc bầu cử trung thực”, “Nước Nga không có Putin” và “Không một lá phiếu nào cho Putin”, thì phe chính quyền đưa ra nhiều khẩu hiệu “Hãy bỏ phiếu cho Putin”, “Nước Nga không có Putin = Nước Nga không có tương lai”, v.v... Ðể đánh vào tâm trạng của giới cầm quyền và các giới được ưu đãi dưới chế độ của Putin sợ bị “mất địa vị, mất tiền của”, sợ “cách mạng màu nâu”, sợ “bọn tay sai của Mỹ và phương Tây” xâm phạm đến quyền lợi nước Nga, phe ủng hộ Putin còn đưa ra những khẩu hiệu, như “Chúng ta có cái gì để mất!”, “Chống lại cách mạng màu nâu”, “Bảo vệ nước Nga!” Ngay bản thân ông Putin trong nhiều lần phát biểu cũng nhấn mạnh đến sự can thiệp của Mỹ và phương Tây vào công việc nội bộ của Nga và vu khống những người cầm đầu phong trào phản đối đã nhận tiền của nước ngoài và làm tay sai cho Mỹ và phương Tây.
Nhiều người nhận thấy rằng hiện đang diễn ra “cuộc chiến tranh về những con số”, nói cụ thể là: Khi giới báo chí đánh giá cuộc biểu tình ngày 4.2.2012 của phe phản kháng có 134 nghìn người (ban tổ chức đánh giá là 140 nghìn), thì Bộ Nội Vụ cho rằng chỉ khoảng 50 nghìn thôi; còn cuộc biểu tình của phe thân Putin hôm đó theo đánh giá của báo chí khoảng 80 nghìn thì Bộ Nội Vụ lại đánh giá là 140 nghìn, riêng tòa thị chính Moskva thì đưa ra con số 190 nghìn người (!),cốt để chứng minh rằng số người ủng hộ Putin chiếm đa số. Từ sau ngày 4.12.2011, khi bị tố cáo gian lận trong cuộc bầu cử vừa qua, đảng Nước Nga Thống nhất của ông Putin đã mất uy tín nặng nề, nên đảng này phải giấu mặt không dám công khai danh xưng đứng ra tổ chức biểu tình mà dùng danh nghĩa của tổ chức công đoàn. Ðể huy động người tham gia biểu tình, người ta dựa vào các tổ chức chính quyền, phân bổ số nhân viên phải đi biểu tình, nếu không đi thì bị xử phạt, còn ai đi thì sẽ được cho nghỉ bù một hay hai ngày, thậm chí có nơi còn hứa hẹn trả tiền cho mỗi người đi biểu tình ủng hộ Putin là 500 rúp. Phe chính quyền cho rằng những tin tức đó là lối khiêu khích của những người chống đối. Nhưng, điều này thực ra không phải là do phe đối lập nói ra, mà chính một số người ở công đoàn giáo viên, bưu điện, các cơ quan phục vụ nhà ở đã tố cáo là họ bị ép buộc, bị gây áp lực. Một số người được hứa hẹn trả tiền mà không được trả cũng đã tố cáo với dư luận. Gần đây, có vài người bị đuổi việc cũng đã tố cáo. Nhiều nhà phân tích cho rằng nếu cứ theo đà này - hai phe đối chọi nhau bằng các cuộc biểu tình - thì cuối cùng phe chính quyền sẽ khó tránh khỏi bị phản đối ngầm của các cử tri bị ép buộc phải đi biểu tình ủng hộ Putin mà chưa chắc họ sẽ bỏ phiếu cho ông ta...
Từ nay đến sau ngày bầu cử tổng thống, cuộc đấu tranh chính trị giữa phe đối lập và phe chính quyền bước sang thời kỳ quyết liệt hơn. Phe chính quyền dự định nhân dịp lễ “Ngày bảo vệ Tổ quốc” 23.2.2012 sẽ tổ chức một cuộc biểu tình 200 nghìn người ngay tại trung tâm thủ đô trên quảng trường Manezh gần điện Kremli để ủng hộ Putin với những khẩu hiệu “Bảo vệ Tổ quốc!”, “Chống lại cách mạng màu nâu”, “Ðập tan mô hình của phương Tây”... Phe ủng hộ Putin coi đây sẽ là một đòn nặng cân đánh lại phe đối lập, vì họ muốn lợi dụng tinh thần “bảo vệ Tổ quốc” để chống lại những người đứng đầu phe đối lập mà họ vu cáo là tay sai của Mỹ và phương Tây. Phe chính quyền còn dự định tổ chức một cuộc biểu tình lớn ở St. Petersburg trên quảng trường Cung điện là quảng trường lớn nhất của thành phố. Luận điệu tuyên truyền của đám bồi bút trên các kênh truyền hình nhà nước ra rả vu khống là cuộc biểu tình lớn của dân chúng Nga phản đối cuộc bầu cử Quốc hội gian lận là do Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tổ chức và kêu gọi mọi người đấu tranh chống “nạn dịch màu nâu”. Cũng nên nói thêm, phụ họa theo luận điệu này của Putin và phe cánh, còn có cả Ziuganov, ứng viên tổng thống của ÐCS Liên bang Nga, và Zhirinovski, ứng viên của đảng cực hữu tự xưng là “tự do dân chủ”.
Thấy rõ là mình đã giảm sút uy tín nặng đối với giới trẻ, trí thức và các tầng lớp trung lưu ở thành phố, Putin đang cố ve vãn các cử tri tỉnh lẻ còn đầu óc bảo thủ (mà những người này chỉ biết tình hình đất nước qua các đài truyền thanh và truyền hình của nhà nước) bằng cách đánh vào “lòng yêu nước” và kêu gọi “đoàn kết chống kẻ thù bên ngoài”. Có thể nói đây là chiến lược vận động bầu cử của ông Putin.
Mặt khác, âm mưu của phe chính quyền muốn chia rẽ giữa những người lãnh đạo phong trào đối lập, nhưng đến nay họ chưa đạt được kết quả gì cụ thể.
Chiến thuật mà họ đang dùng là hứa, nhưng không chắc sẽ thực hiện hoặc kéo dài sự thực hiện lời hứa, hay thực hiện một cách khác hẳn, không đúng như ý của phe đối lập, thậm chí hứa mà không thực hiện. Dễ thấy điều đó qua mấy việc cụ thể sau đây: Một là, sau những phản ứng mạnh mẽ của dân chúng Moskva trước những gian lận của đảng cầm quyền trong cuộc bầu cử Quốc Hội, Tổng Thống Medvedev đã tuyên bố sẽ mở rộng dân chủ, sẽ sửa đổi luật các đảng để cho nhiều đảng được đăng ký và tham gia cuộc bầu cử, sẽ để cho nhân dân trực tiếp bầu cử các tỉnh trưởng, v.v... Nhưng hình như lời hứa hẹn đó chỉ để xoa dịu lòng bất bình của quần chúng, vì đến nay đã gần hai tháng qua mà vẫn chưa có động tĩnh gì về việc đưa ra những dự luật này cho Quốc Hội thảo luận cả. Hai là, sau cuộc biểu tình lớn trên quảng trường Bolotnaya, Thủ Tướng Putin tuyên bố sẵn sàng đối thoại với đối lập, nhưng sau lời tuyên bố đó, ông chẳng có một bước cụ thể nào để chính thức mời đối lập đối thoại - thế thì làm sao có thể đối thoại được? - mặc dầu phe đối lập tuyên bố rõ là họ sẵn sàng nói chuyện. Ba là, Tổng Thống Medvedev tuyên bố ngày 20.2 sẽ gặp những người đứng đầu các đảng không được đăng ký để bàn về hai dự luật nhằm giảm nhẹ điều kiện đăng ký và giảm nhẹ việc lấy chữ ký để tham gia ứng cử tổng thống, nhưng đến nay vẫn chưa thấy mời ai cụ thể, dù nhiều người nghĩ rằng có thể là nhà cầm quyền muốn nhân việc này để chia rẽ phe đối lập, hoặc tổng thống e ngại gặp những người trong ban tổ chức biểu tình phản kháng thì họ sẽ đưa ra năm yêu sách trong quyết nghị của hai cuộc mít tinh lớn ở Moskva thì ông sẽ khó ăn nói chăng?
Nhiều người cho rằng các dự luật mà ông Medvedev hứa hẹn chắc rồi cũng sẽ không thoát khỏi cơ chế “xin-cho” thường thấy ở các chế độ độc tài giả danh dân chủ. Chuyện cụ thể sau đây chứng minh cho điều đó: Ðảng Cộng Hòa Nga do Vladimir Ryzhkov đứng đầu, năm 2006 không được Bộ tư pháp Nga cho đăng ký, và đến năm 2007, Tòa án tối cao Liên bang Nga đã quyết định giải thể đảng này. Ông Vladimir Ryzhkov đã kiện lên Tòa án nhân quyền Châu Âu. Hồi tháng 4.2011, tòa án nhân quyền Châu Âu đã có kết luận coi quyết định giải thể Ðảng Cộng Hòa Nga là không hợp pháp. Sau đó, ngày 23.1.2012, Tòa án tối cao Liên bang Nga đã công nhận quyết định năm 2007 là không hợp pháp và đã chính thức xóa bỏ quyết định giải thể đảng Cộng Hòa Nga. Nhưng... Bộ Tư Pháp Nga đã phản đối quyết định đó của Tòa án tối cao Liên bang Nga và nhất định không cho đảng Cộng Hòa Nga được đăng ký! Thật là một chuyện phi lý, kỳ quái trong lịch sử pháp lý! Các nhà phân tích khách quan cho rằng chung quy chỉ vì ở Nga không có tòa án độc lập, và ngành tư pháp thì phục vụ ý chí của một người đứng đầu đảng cầm quyền!
Ðó là chưa nói đến việc, gần đây các quan chức của chính quyền bắt đầu quấy nhiễu các tổ chức phi thương mại như “Golos” (một tổ chức theo dõi các cuộc bầu cử) tìm cách đuổi văn phòng của tổ chức này ra khỏi nhà đã thuê, và hiện Bộ Tư Pháp Nga đã có kế hoạch kiểm tra các tổ chức phi chính phủ quan trọng, đồng thời làm áp lực đối với những người sử dụng Internet, nhất là các blogger đối lập, gây áp lực cá nhân hoặc làm mất uy tín những người lãnh đạo các tổ chức phản kháng, v.v...
Phe chính quyền, nhất là ông Putin, ngày càng dùng những luận điệu xuyên tạc để tấn công phong trào phản kháng. Ngoài việc buộc cho họ tội nhận tiền của nước ngoài, tay sai của Mỹ và phương Tây họ lại tung thêm lời vu khống là những người đứng đầu phong trào muốn quay lại thời những năm 90 làm sụp đổ đất nước và gây ra khó khăn cho đời sống của nhân dân. Nhưng các nhà phân tích khách quan cho rằng, nếu dựa vào cuộc thăm dò ý kiến tại cuộc biểu tình lớn trên đại lộ Sakharov, thì 82% số người đi biểu tình có trình độ đại học, trong số đó 44% là các chuyên gia cấp cao, 15% là những người lãnh đạo các doanh nghiệp, chủ nhân các hãng và công ty, đó là tinh túy của xã hội mới ở Nga, họ đã từng có kinh nghiệm chính trị, kinh tế và xã hội của 20 năm qua. Như vậy, xét về tiềm lực cán bộ của phong trào phản kháng thì rất cao, họ có đủ khả năng đảm nhiệm công việc quốc gia. Lớp người tinh túy này chính là bảo đảm cho tiền đồ tốt đẹp của nước Nga, chứ không phải để “làm sụp đổ đất nước”. Cho nên luận điệu tuyên truyền trên của phe Putin là hoàn toàn không có cơ sở.
Ngày 13.2, ông Putin cho công bố bài báo có tính “cương lĩnh” của ông với tựa đề “Sự xây dựng công bằng. Chính sách xã hội cho nước Nga”, trong đó ông hứa sẽ tăng lương cho các bác sĩ, giáo viên, sẽ tái sinh lại “tầng lớp công nhân quý tộc” và hứa hẹn giải quyết vấn đề nhà ở cho người dân. Ðây là chương trình tranh cử quan trọng của ứng viên tổng thống Putin. Các nhà phân tích lưu ý rằng đã 12 năm qua, các nhà cầm quyền nước Nga đã nhiều lần đặt ra những vấn đề này rồi, nhưng kết quả thực tế không thấy rõ. Phản ứng đối với bài báo này khá nhiều, người viết chỉ xin trích ý kiến của ông Vsevolod Lukhovitski, thành viên hội đồng công đoàn ngành giáo dục liên khu vực: “Theo quan điểm của tôi, đáng lẽ thủ tướng phải làm như Yeltsin hồi năm 1999 đã hối hận và xin lỗi trước các công dân của mình. Yeltsin đã có đủ can đảm để làm điều đó thì Putin cũng nên xin lỗi, chẳng hạn, trước các học sinh, các phụ huynh của họ, trước các nhà giáo vì cuộc cải cách giáo dục kéo dài nhiều năm chỉ làm cho tình hình tồi tệ hơn. Ông ta đáng lẽ phải xin lỗi trước tất cả các công nhân viên ăn lương ngân sách mà từ Mùa Hè năm nay sẽ chuyển qua thực hiện đạo luật 83” (tức là luật liên bang chia các cơ quan thị chính thành cơ quan tự trị có ngân sách riêng với quyền hạn rộng hơn và các cơ quan nhà nước - chú thích của người viết). Nếu ông muốn thắng một cách trung thực trong cuộc bầu cử thì đáng lẽ ông phải nói “khi nào tôi trở thành tổng thống thì tôi sẽ veto ngay lập tức đạo luật 83”.
Bây giờ, chúng ta hãy xem phe đối lập sẽ tiếp tục làm gì trong thời gian tới. Chủ trương chung được nhất trí giữa các người lãnh đạo các đảng phái và phong trào là phải kiên trì tiếp tục đấu tranh chính trị ôn hòa, không bạo lực để đạt cho được năm yêu sách đã nêu ra trong nghị quyết của các cuộc biểu tình, cụ thể là đòi: 1. ân xá các tù nhân chính trị, trước mắt là cho 40 người; 2. trong thời hạn một năm tổ chức bầu cử lại Quốc Hội; 3. cho đăng ký các đảng đối lập; 4. sửa đổi luật bầu cử, giảm nhẹ điều kiện lấy chữ ký ra ứng cử tổng thống để trong thời hạn hai năm sẽ tổ chức bầu cử lại tổng thống; 5. cách chức chủ tịch Ủy ban bầu cử Churov. Phe đối lập coi đây là bước đấu tranh cụ thể để chuyển hóa chế độ độc đoán toàn trị theo hướng dân chủ hóa. Chính vì thế họ đề nghị các ứng viên tổng thống chấp nhận ba điều cơ bản sau đây khi được bầu làm tổng thống: 1. ân xá các tù nhân chính trị theo danh sách đã lập rồi; 2. thông qua những luật dân chủ mới, có nghĩa là cải cách hệ thống chính trị của đất nước; 3. trong vòng một năm tổ chức bầu cử Quốc Hội và trong vòng hai năm tổ chức bầu cử tổng thống, các cuộc bầu cử đó phải tự do. Trong số ứng cử viên, chỉ có Prokhorov đã tham gia cuộc biểu tình phản kháng của dân chúng ngày 4.2 trên quảng trường Bolotnaya và đã đồng ý thực hiện hai điều, còn điều thứ ba thì chỉ đồng ý trong vòng một năm tổ chức bầu lại Quốc Hội. Phong trào phản kháng sẽ tùy theo thái độ của ứng viên đối với ba điều trên đây để vận động bỏ phiếu cho ứng viên nào.
Phe đối lập còn tích cực vận động quần chúng ghi tên làm quan sát viên ở các phòng bỏ phiếu. Theo lời một người trong ban tổ chức biểu tình, đến nay đã có gần 20 nghìn người ghi tên. Sắp tới sẽ có cuộc tập hợp để huấn luyện, phát giấy chứng minh cho họ và phân công họ làm việc ở các phòng bỏ phiếu. Tin tức mới nhất ngày 13.2 cho biết, ở St. Petersburg, chính quyền ở đây đã gây khó khăn cho việc đăng ký quan sát viên.
Ban tổ chức đang chuẩn bị những cuộc biểu tình phản kháng tiếp. Rút kinh nghiệm cuộc “biểu tình” có tên gọi là “Vòng đai trắng” ngày 29.1.2012, với 2000 chiếc ô tô mang bóng trắng và dải băng trắng chạy trong thành phố, lần này “Liên đoàn cử tri” cũng dự định tổ chức “Vòng đai trắng”, nhưng ô tô sẽ chạy theo đường khác trong thành phố vào ngày 19.2 tới (hiện nay ở Nga không có luật cấm biểu tình bằng ô tô, nên người ta muốn dùng hình thức đó để không phải xin phép). Ban tổ chức cũng đang chuẩn bị biểu tình lớn trong ngày 26.2.2012, lần này gọi là “Tống tiễn mùa đông Putin”. Chúng tôi thấy cần nói rõ hơn để bạn đọc hiểu về cái tên hơi lạ này: ở Nga, hàng năm có lễ hội dân gian gọi là “Maslenitsa”, năm nay lễ hội này nhằm vào ngày 26.2. Ðó là lễ hội “Tống tiễn mùa đông” bao giờ cũng rất đông vui, kết thúc lễ hội bằng việc dân chúng vui mừng đốt con nộm “Mùa đông” để chuẩn bị đón mùa xuân. Còn biểu tình “Tống tiễn mùa đông Putin” cũng sẽ kết thúc bằng việc dân chúng đốt con nộm “Putin”. Ý nghĩa của nó là kết thúc thời đại Putin bằng cách không bỏ phiếu cho ông ta để đón mùa xuân dân chủ!
Ban tổ chức cũng đã dự kiến những cuộc đấu tranh sau ngày bầu cử tổng thống 4.3... Nhiều nhà phân tích e ngại rằng, với não trạng của Tổng thống mới, với “thói quen” của ông thích sử dụng các lực lượng gọi là công lực (tiếng Nga gọi là siloviki) thì khó tránh những cuộc “va chạm” dữ dội với cảnh sát và bộ đội đặc nhiệm trong các cuộc đấu tranh sau ngày bầu cử. Nhưng phe đối lập sẵn sàng đương đầu với những “va chạm” đó vì họ tin tưởng ở sức mạnh của xã hội dân sự và họ không thể không bày tỏ cho cả nước Nga và cho chính tổng thống mới được “bầu” thấy rằng cuộc bầu cử vừa qua là không chính thống, bởi lẽ Ủy ban bầu cử cũng như Tòa án tối cao đã theo lệnh “một ứng viên” mà gạt bỏ ứng viên khác là ông Grigori Yavlinski có khả năng cạnh tranh với mình; không chính thống vì các ứng viên không được bình đẳng trong việc vận động bầu cử, vì một người đương quyền được sử dụng toàn bộ phương tiện thông tin đại chúng mà những người kia thì không được, chính vì thế Tổng thống được “bầu” trong một cuộc bầu cử như vậy mất tính chính thống và không được đa số dân chúng tin cậy. Ngày 13.2, “Liên đoàn cử tri” đã ra tuyên bố đòi nhà cầm quyền chấm dứt việc cổ động trắng trợn chỉ cho một ứng viên của đảng cầm quyền trên các đài truyền thanh và truyền hình của nhà nước.
Tóm lại, có thể thấy trước nước Nga trong những ngày tháng sắp tới khó tránh được những chấn động chính trị và xã hội nặng nề, khi ông Putin lại được “bầu” làm tổng thống lần nữa trong một cuộc bầu cử không công bằng, không trung thực và không chính đáng. Nước Nga sẽ ngập sâu hơn trong cuộc khủng hoảng chính trị và có nguy cơ bùng nổ xã hội, nếu những người cầm quyền không biết tìm lối thoát giải quyết mâu thuẫn với xã hội dân sự bằng cách đối thoại hòa bình và chấp nhận cải cách, mà ngoan cố đi theo con đường dùng bạo lực theo kiểu Lukashenko hay Bashar el-Assad. Chỉ mong sao những người cầm quyền nước Nga có đủ khôn ngoan và mềm dẻo trong thời điểm cực kỳ quan trọng này của lịch sử.
Nguyễn Minh Cần
Có thể nói, từ ngày 4 tháng 12 năm 2011 đến ngày 24 tháng 12 năm 2011, tức là trong thời gian diễn ra ba cuộc biểu tình lớn của dân chúng Nga phản đối cuộc bầu cử Quốc Hội gian lận (cuộc đầu tiên ngày 5.12.2011 trên đại lộ Chisty prudy với trên 5 nghìn người; cuộc thứ hai ngày 10.12.11 trên quảng trường Bolotnaya với 80 nghìn người; cuộc thứ ba ngày 24.12.2011 trên đại lộ Sakharov với 104 nghìn người ở thủ đô Moskva; đó là chưa nói đến các cuộc biểu tình ở St. Petersburg và trên 100 thành phố khác khắp nước Nga), phe chính quyền hoàn toàn bất ngờ và bị động trước phong trào phản kháng mạnh mẽ của dân chúng.

Một cuộc biểu tình ở Moscow chống Putin. (Hình: Andrey Smirnov/AFP/Getty Images)
Ngoài những luận điệu tuyên truyền của các kênh truyền hình, truyền thanh nhà nước và những lời tuyên bố của Putin, Medvedev vu khống những người đứng ra tổ chức biểu tình là làm tay sai cho Mỹ và phương Tây, người ta không thấy phản ứng gì mạnh mẽ của phe chính quyền. Các nhà quan sát khách quan thấy rõ đằng sau những lời tuyên bố đó là sự lúng túng và bối rối của họ.
Nhưng, từ cuộc biểu tình lớn thứ tư của dân chúng Moskva ngày 4.2.2012 trên quảng trường Bolotnaya, phe chính quyền bắt đầu tích cực phản công và cố sức giành lại thế chủ động. Lần đầu tiên, phe thân Putin tổ chức cuộc phản biểu tình cũng trong ngày 4.2. trên Poklonya gora (Ðồi tưởng niệm) ở Moskva với những khẩu hiệu cổ động cho ứng viên tổng thống Vladimir Putin. Nếu khẩu hiệu của biểu tình phản kháng là “Vì cuộc bầu cử trung thực”, “Nước Nga không có Putin” và “Không một lá phiếu nào cho Putin”, thì phe chính quyền đưa ra nhiều khẩu hiệu “Hãy bỏ phiếu cho Putin”, “Nước Nga không có Putin = Nước Nga không có tương lai”, v.v... Ðể đánh vào tâm trạng của giới cầm quyền và các giới được ưu đãi dưới chế độ của Putin sợ bị “mất địa vị, mất tiền của”, sợ “cách mạng màu nâu”, sợ “bọn tay sai của Mỹ và phương Tây” xâm phạm đến quyền lợi nước Nga, phe ủng hộ Putin còn đưa ra những khẩu hiệu, như “Chúng ta có cái gì để mất!”, “Chống lại cách mạng màu nâu”, “Bảo vệ nước Nga!” Ngay bản thân ông Putin trong nhiều lần phát biểu cũng nhấn mạnh đến sự can thiệp của Mỹ và phương Tây vào công việc nội bộ của Nga và vu khống những người cầm đầu phong trào phản đối đã nhận tiền của nước ngoài và làm tay sai cho Mỹ và phương Tây.
Nhiều người nhận thấy rằng hiện đang diễn ra “cuộc chiến tranh về những con số”, nói cụ thể là: Khi giới báo chí đánh giá cuộc biểu tình ngày 4.2.2012 của phe phản kháng có 134 nghìn người (ban tổ chức đánh giá là 140 nghìn), thì Bộ Nội Vụ cho rằng chỉ khoảng 50 nghìn thôi; còn cuộc biểu tình của phe thân Putin hôm đó theo đánh giá của báo chí khoảng 80 nghìn thì Bộ Nội Vụ lại đánh giá là 140 nghìn, riêng tòa thị chính Moskva thì đưa ra con số 190 nghìn người (!),cốt để chứng minh rằng số người ủng hộ Putin chiếm đa số. Từ sau ngày 4.12.2011, khi bị tố cáo gian lận trong cuộc bầu cử vừa qua, đảng Nước Nga Thống nhất của ông Putin đã mất uy tín nặng nề, nên đảng này phải giấu mặt không dám công khai danh xưng đứng ra tổ chức biểu tình mà dùng danh nghĩa của tổ chức công đoàn. Ðể huy động người tham gia biểu tình, người ta dựa vào các tổ chức chính quyền, phân bổ số nhân viên phải đi biểu tình, nếu không đi thì bị xử phạt, còn ai đi thì sẽ được cho nghỉ bù một hay hai ngày, thậm chí có nơi còn hứa hẹn trả tiền cho mỗi người đi biểu tình ủng hộ Putin là 500 rúp. Phe chính quyền cho rằng những tin tức đó là lối khiêu khích của những người chống đối. Nhưng, điều này thực ra không phải là do phe đối lập nói ra, mà chính một số người ở công đoàn giáo viên, bưu điện, các cơ quan phục vụ nhà ở đã tố cáo là họ bị ép buộc, bị gây áp lực. Một số người được hứa hẹn trả tiền mà không được trả cũng đã tố cáo với dư luận. Gần đây, có vài người bị đuổi việc cũng đã tố cáo. Nhiều nhà phân tích cho rằng nếu cứ theo đà này - hai phe đối chọi nhau bằng các cuộc biểu tình - thì cuối cùng phe chính quyền sẽ khó tránh khỏi bị phản đối ngầm của các cử tri bị ép buộc phải đi biểu tình ủng hộ Putin mà chưa chắc họ sẽ bỏ phiếu cho ông ta...
Từ nay đến sau ngày bầu cử tổng thống, cuộc đấu tranh chính trị giữa phe đối lập và phe chính quyền bước sang thời kỳ quyết liệt hơn. Phe chính quyền dự định nhân dịp lễ “Ngày bảo vệ Tổ quốc” 23.2.2012 sẽ tổ chức một cuộc biểu tình 200 nghìn người ngay tại trung tâm thủ đô trên quảng trường Manezh gần điện Kremli để ủng hộ Putin với những khẩu hiệu “Bảo vệ Tổ quốc!”, “Chống lại cách mạng màu nâu”, “Ðập tan mô hình của phương Tây”... Phe ủng hộ Putin coi đây sẽ là một đòn nặng cân đánh lại phe đối lập, vì họ muốn lợi dụng tinh thần “bảo vệ Tổ quốc” để chống lại những người đứng đầu phe đối lập mà họ vu cáo là tay sai của Mỹ và phương Tây. Phe chính quyền còn dự định tổ chức một cuộc biểu tình lớn ở St. Petersburg trên quảng trường Cung điện là quảng trường lớn nhất của thành phố. Luận điệu tuyên truyền của đám bồi bút trên các kênh truyền hình nhà nước ra rả vu khống là cuộc biểu tình lớn của dân chúng Nga phản đối cuộc bầu cử Quốc hội gian lận là do Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tổ chức và kêu gọi mọi người đấu tranh chống “nạn dịch màu nâu”. Cũng nên nói thêm, phụ họa theo luận điệu này của Putin và phe cánh, còn có cả Ziuganov, ứng viên tổng thống của ÐCS Liên bang Nga, và Zhirinovski, ứng viên của đảng cực hữu tự xưng là “tự do dân chủ”.
Thấy rõ là mình đã giảm sút uy tín nặng đối với giới trẻ, trí thức và các tầng lớp trung lưu ở thành phố, Putin đang cố ve vãn các cử tri tỉnh lẻ còn đầu óc bảo thủ (mà những người này chỉ biết tình hình đất nước qua các đài truyền thanh và truyền hình của nhà nước) bằng cách đánh vào “lòng yêu nước” và kêu gọi “đoàn kết chống kẻ thù bên ngoài”. Có thể nói đây là chiến lược vận động bầu cử của ông Putin.
Mặt khác, âm mưu của phe chính quyền muốn chia rẽ giữa những người lãnh đạo phong trào đối lập, nhưng đến nay họ chưa đạt được kết quả gì cụ thể.
Chiến thuật mà họ đang dùng là hứa, nhưng không chắc sẽ thực hiện hoặc kéo dài sự thực hiện lời hứa, hay thực hiện một cách khác hẳn, không đúng như ý của phe đối lập, thậm chí hứa mà không thực hiện. Dễ thấy điều đó qua mấy việc cụ thể sau đây: Một là, sau những phản ứng mạnh mẽ của dân chúng Moskva trước những gian lận của đảng cầm quyền trong cuộc bầu cử Quốc Hội, Tổng Thống Medvedev đã tuyên bố sẽ mở rộng dân chủ, sẽ sửa đổi luật các đảng để cho nhiều đảng được đăng ký và tham gia cuộc bầu cử, sẽ để cho nhân dân trực tiếp bầu cử các tỉnh trưởng, v.v... Nhưng hình như lời hứa hẹn đó chỉ để xoa dịu lòng bất bình của quần chúng, vì đến nay đã gần hai tháng qua mà vẫn chưa có động tĩnh gì về việc đưa ra những dự luật này cho Quốc Hội thảo luận cả. Hai là, sau cuộc biểu tình lớn trên quảng trường Bolotnaya, Thủ Tướng Putin tuyên bố sẵn sàng đối thoại với đối lập, nhưng sau lời tuyên bố đó, ông chẳng có một bước cụ thể nào để chính thức mời đối lập đối thoại - thế thì làm sao có thể đối thoại được? - mặc dầu phe đối lập tuyên bố rõ là họ sẵn sàng nói chuyện. Ba là, Tổng Thống Medvedev tuyên bố ngày 20.2 sẽ gặp những người đứng đầu các đảng không được đăng ký để bàn về hai dự luật nhằm giảm nhẹ điều kiện đăng ký và giảm nhẹ việc lấy chữ ký để tham gia ứng cử tổng thống, nhưng đến nay vẫn chưa thấy mời ai cụ thể, dù nhiều người nghĩ rằng có thể là nhà cầm quyền muốn nhân việc này để chia rẽ phe đối lập, hoặc tổng thống e ngại gặp những người trong ban tổ chức biểu tình phản kháng thì họ sẽ đưa ra năm yêu sách trong quyết nghị của hai cuộc mít tinh lớn ở Moskva thì ông sẽ khó ăn nói chăng?
Nhiều người cho rằng các dự luật mà ông Medvedev hứa hẹn chắc rồi cũng sẽ không thoát khỏi cơ chế “xin-cho” thường thấy ở các chế độ độc tài giả danh dân chủ. Chuyện cụ thể sau đây chứng minh cho điều đó: Ðảng Cộng Hòa Nga do Vladimir Ryzhkov đứng đầu, năm 2006 không được Bộ tư pháp Nga cho đăng ký, và đến năm 2007, Tòa án tối cao Liên bang Nga đã quyết định giải thể đảng này. Ông Vladimir Ryzhkov đã kiện lên Tòa án nhân quyền Châu Âu. Hồi tháng 4.2011, tòa án nhân quyền Châu Âu đã có kết luận coi quyết định giải thể Ðảng Cộng Hòa Nga là không hợp pháp. Sau đó, ngày 23.1.2012, Tòa án tối cao Liên bang Nga đã công nhận quyết định năm 2007 là không hợp pháp và đã chính thức xóa bỏ quyết định giải thể đảng Cộng Hòa Nga. Nhưng... Bộ Tư Pháp Nga đã phản đối quyết định đó của Tòa án tối cao Liên bang Nga và nhất định không cho đảng Cộng Hòa Nga được đăng ký! Thật là một chuyện phi lý, kỳ quái trong lịch sử pháp lý! Các nhà phân tích khách quan cho rằng chung quy chỉ vì ở Nga không có tòa án độc lập, và ngành tư pháp thì phục vụ ý chí của một người đứng đầu đảng cầm quyền!
Ðó là chưa nói đến việc, gần đây các quan chức của chính quyền bắt đầu quấy nhiễu các tổ chức phi thương mại như “Golos” (một tổ chức theo dõi các cuộc bầu cử) tìm cách đuổi văn phòng của tổ chức này ra khỏi nhà đã thuê, và hiện Bộ Tư Pháp Nga đã có kế hoạch kiểm tra các tổ chức phi chính phủ quan trọng, đồng thời làm áp lực đối với những người sử dụng Internet, nhất là các blogger đối lập, gây áp lực cá nhân hoặc làm mất uy tín những người lãnh đạo các tổ chức phản kháng, v.v...
Phe chính quyền, nhất là ông Putin, ngày càng dùng những luận điệu xuyên tạc để tấn công phong trào phản kháng. Ngoài việc buộc cho họ tội nhận tiền của nước ngoài, tay sai của Mỹ và phương Tây họ lại tung thêm lời vu khống là những người đứng đầu phong trào muốn quay lại thời những năm 90 làm sụp đổ đất nước và gây ra khó khăn cho đời sống của nhân dân. Nhưng các nhà phân tích khách quan cho rằng, nếu dựa vào cuộc thăm dò ý kiến tại cuộc biểu tình lớn trên đại lộ Sakharov, thì 82% số người đi biểu tình có trình độ đại học, trong số đó 44% là các chuyên gia cấp cao, 15% là những người lãnh đạo các doanh nghiệp, chủ nhân các hãng và công ty, đó là tinh túy của xã hội mới ở Nga, họ đã từng có kinh nghiệm chính trị, kinh tế và xã hội của 20 năm qua. Như vậy, xét về tiềm lực cán bộ của phong trào phản kháng thì rất cao, họ có đủ khả năng đảm nhiệm công việc quốc gia. Lớp người tinh túy này chính là bảo đảm cho tiền đồ tốt đẹp của nước Nga, chứ không phải để “làm sụp đổ đất nước”. Cho nên luận điệu tuyên truyền trên của phe Putin là hoàn toàn không có cơ sở.
Ngày 13.2, ông Putin cho công bố bài báo có tính “cương lĩnh” của ông với tựa đề “Sự xây dựng công bằng. Chính sách xã hội cho nước Nga”, trong đó ông hứa sẽ tăng lương cho các bác sĩ, giáo viên, sẽ tái sinh lại “tầng lớp công nhân quý tộc” và hứa hẹn giải quyết vấn đề nhà ở cho người dân. Ðây là chương trình tranh cử quan trọng của ứng viên tổng thống Putin. Các nhà phân tích lưu ý rằng đã 12 năm qua, các nhà cầm quyền nước Nga đã nhiều lần đặt ra những vấn đề này rồi, nhưng kết quả thực tế không thấy rõ. Phản ứng đối với bài báo này khá nhiều, người viết chỉ xin trích ý kiến của ông Vsevolod Lukhovitski, thành viên hội đồng công đoàn ngành giáo dục liên khu vực: “Theo quan điểm của tôi, đáng lẽ thủ tướng phải làm như Yeltsin hồi năm 1999 đã hối hận và xin lỗi trước các công dân của mình. Yeltsin đã có đủ can đảm để làm điều đó thì Putin cũng nên xin lỗi, chẳng hạn, trước các học sinh, các phụ huynh của họ, trước các nhà giáo vì cuộc cải cách giáo dục kéo dài nhiều năm chỉ làm cho tình hình tồi tệ hơn. Ông ta đáng lẽ phải xin lỗi trước tất cả các công nhân viên ăn lương ngân sách mà từ Mùa Hè năm nay sẽ chuyển qua thực hiện đạo luật 83” (tức là luật liên bang chia các cơ quan thị chính thành cơ quan tự trị có ngân sách riêng với quyền hạn rộng hơn và các cơ quan nhà nước - chú thích của người viết). Nếu ông muốn thắng một cách trung thực trong cuộc bầu cử thì đáng lẽ ông phải nói “khi nào tôi trở thành tổng thống thì tôi sẽ veto ngay lập tức đạo luật 83”.
Bây giờ, chúng ta hãy xem phe đối lập sẽ tiếp tục làm gì trong thời gian tới. Chủ trương chung được nhất trí giữa các người lãnh đạo các đảng phái và phong trào là phải kiên trì tiếp tục đấu tranh chính trị ôn hòa, không bạo lực để đạt cho được năm yêu sách đã nêu ra trong nghị quyết của các cuộc biểu tình, cụ thể là đòi: 1. ân xá các tù nhân chính trị, trước mắt là cho 40 người; 2. trong thời hạn một năm tổ chức bầu cử lại Quốc Hội; 3. cho đăng ký các đảng đối lập; 4. sửa đổi luật bầu cử, giảm nhẹ điều kiện lấy chữ ký ra ứng cử tổng thống để trong thời hạn hai năm sẽ tổ chức bầu cử lại tổng thống; 5. cách chức chủ tịch Ủy ban bầu cử Churov. Phe đối lập coi đây là bước đấu tranh cụ thể để chuyển hóa chế độ độc đoán toàn trị theo hướng dân chủ hóa. Chính vì thế họ đề nghị các ứng viên tổng thống chấp nhận ba điều cơ bản sau đây khi được bầu làm tổng thống: 1. ân xá các tù nhân chính trị theo danh sách đã lập rồi; 2. thông qua những luật dân chủ mới, có nghĩa là cải cách hệ thống chính trị của đất nước; 3. trong vòng một năm tổ chức bầu cử Quốc Hội và trong vòng hai năm tổ chức bầu cử tổng thống, các cuộc bầu cử đó phải tự do. Trong số ứng cử viên, chỉ có Prokhorov đã tham gia cuộc biểu tình phản kháng của dân chúng ngày 4.2 trên quảng trường Bolotnaya và đã đồng ý thực hiện hai điều, còn điều thứ ba thì chỉ đồng ý trong vòng một năm tổ chức bầu lại Quốc Hội. Phong trào phản kháng sẽ tùy theo thái độ của ứng viên đối với ba điều trên đây để vận động bỏ phiếu cho ứng viên nào.
Phe đối lập còn tích cực vận động quần chúng ghi tên làm quan sát viên ở các phòng bỏ phiếu. Theo lời một người trong ban tổ chức biểu tình, đến nay đã có gần 20 nghìn người ghi tên. Sắp tới sẽ có cuộc tập hợp để huấn luyện, phát giấy chứng minh cho họ và phân công họ làm việc ở các phòng bỏ phiếu. Tin tức mới nhất ngày 13.2 cho biết, ở St. Petersburg, chính quyền ở đây đã gây khó khăn cho việc đăng ký quan sát viên.
Ban tổ chức đang chuẩn bị những cuộc biểu tình phản kháng tiếp. Rút kinh nghiệm cuộc “biểu tình” có tên gọi là “Vòng đai trắng” ngày 29.1.2012, với 2000 chiếc ô tô mang bóng trắng và dải băng trắng chạy trong thành phố, lần này “Liên đoàn cử tri” cũng dự định tổ chức “Vòng đai trắng”, nhưng ô tô sẽ chạy theo đường khác trong thành phố vào ngày 19.2 tới (hiện nay ở Nga không có luật cấm biểu tình bằng ô tô, nên người ta muốn dùng hình thức đó để không phải xin phép). Ban tổ chức cũng đang chuẩn bị biểu tình lớn trong ngày 26.2.2012, lần này gọi là “Tống tiễn mùa đông Putin”. Chúng tôi thấy cần nói rõ hơn để bạn đọc hiểu về cái tên hơi lạ này: ở Nga, hàng năm có lễ hội dân gian gọi là “Maslenitsa”, năm nay lễ hội này nhằm vào ngày 26.2. Ðó là lễ hội “Tống tiễn mùa đông” bao giờ cũng rất đông vui, kết thúc lễ hội bằng việc dân chúng vui mừng đốt con nộm “Mùa đông” để chuẩn bị đón mùa xuân. Còn biểu tình “Tống tiễn mùa đông Putin” cũng sẽ kết thúc bằng việc dân chúng đốt con nộm “Putin”. Ý nghĩa của nó là kết thúc thời đại Putin bằng cách không bỏ phiếu cho ông ta để đón mùa xuân dân chủ!
Ban tổ chức cũng đã dự kiến những cuộc đấu tranh sau ngày bầu cử tổng thống 4.3... Nhiều nhà phân tích e ngại rằng, với não trạng của Tổng thống mới, với “thói quen” của ông thích sử dụng các lực lượng gọi là công lực (tiếng Nga gọi là siloviki) thì khó tránh những cuộc “va chạm” dữ dội với cảnh sát và bộ đội đặc nhiệm trong các cuộc đấu tranh sau ngày bầu cử. Nhưng phe đối lập sẵn sàng đương đầu với những “va chạm” đó vì họ tin tưởng ở sức mạnh của xã hội dân sự và họ không thể không bày tỏ cho cả nước Nga và cho chính tổng thống mới được “bầu” thấy rằng cuộc bầu cử vừa qua là không chính thống, bởi lẽ Ủy ban bầu cử cũng như Tòa án tối cao đã theo lệnh “một ứng viên” mà gạt bỏ ứng viên khác là ông Grigori Yavlinski có khả năng cạnh tranh với mình; không chính thống vì các ứng viên không được bình đẳng trong việc vận động bầu cử, vì một người đương quyền được sử dụng toàn bộ phương tiện thông tin đại chúng mà những người kia thì không được, chính vì thế Tổng thống được “bầu” trong một cuộc bầu cử như vậy mất tính chính thống và không được đa số dân chúng tin cậy. Ngày 13.2, “Liên đoàn cử tri” đã ra tuyên bố đòi nhà cầm quyền chấm dứt việc cổ động trắng trợn chỉ cho một ứng viên của đảng cầm quyền trên các đài truyền thanh và truyền hình của nhà nước.
Tóm lại, có thể thấy trước nước Nga trong những ngày tháng sắp tới khó tránh được những chấn động chính trị và xã hội nặng nề, khi ông Putin lại được “bầu” làm tổng thống lần nữa trong một cuộc bầu cử không công bằng, không trung thực và không chính đáng. Nước Nga sẽ ngập sâu hơn trong cuộc khủng hoảng chính trị và có nguy cơ bùng nổ xã hội, nếu những người cầm quyền không biết tìm lối thoát giải quyết mâu thuẫn với xã hội dân sự bằng cách đối thoại hòa bình và chấp nhận cải cách, mà ngoan cố đi theo con đường dùng bạo lực theo kiểu Lukashenko hay Bashar el-Assad. Chỉ mong sao những người cầm quyền nước Nga có đủ khôn ngoan và mềm dẻo trong thời điểm cực kỳ quan trọng này của lịch sử.
TT Obama Đắc Lợi
Vi Anh Cộng Hòa tương tranh, ngư ông Obama đắc lợi; điều này thấy rõ trong hai tuần lễ chánh trị bầu cử Mỹ mới đây.
Một tuần lễ là chuyện bình thường của người bình dân Mỹ. Nhưng một tuần lễ có thể là một đổi thay lớn; hai tuần lễ có thể là cả thời đại vật đổi sao đời của những ứng cử viên tranh cử, nhứt là trong cuộc bầu cử lơn và quan trọng là bầu cử tổng thống Mỹ bốnn năm một lần. Điều này có thể thấy qua hòan cảnh và tình hình thăng trầm của 4 ứng cử viên còn lại của đảng Cộng Hòa, đặc biệt là của hai ứng cử viên tranh nhau gay gắt trong các cuộc bầu cử sơ bộ để được Đảng Cộng Hòa chỉ định làm ứng cử viên tổng tổng.
Từ ngày 6 tháng Hai, Ô. Mitt Romney, Cựu Thống đốc Massechussetts, một người theo đạo Mormon, kinh tài giỏi, thắng áp đảo các ửng viên khác, hết Florida đến Nevada. Coi như Ông phon phon trên con đường bầu cử sơ bộ để được đảng đề cử ra chạy đua với TT Obama vào Nhà Trắng trong cuộc bầu cử ngày 6 tháng 11 năn, 2012.
Nhưng chỉ trong hai tuẩn lễ thôi, một ứng viên khác đồng đảng Cộng Hòa với Ông, là Ông Rick Santorum, CựuTNS Pennsylvania, một người Công Giáo bảo thủ, nhờ lập trườøng kiên định chống hôn nhân đồng tính, chống phá thai, từ hạng ba vọt lên nhanh, qua mặt Ông Mitt Romney, tại ba cuộc bầu cử sơ bộ ở ba tiểu bang Minnesota, Missouri và Colorado. Gallup thăm dò tòan quốc cho biết, Santorum cao hơn Romney tám điểm dân ủng hộ.
Các chuyên viên quan sát, phân tích bầu cử nhận định nếu Ô Romney thua Ô. Santorum trong cuộc bầu cử sơ bộ ngày 28 tháng Hai ở Michigan, là tiểu bang nhà của Ô Romney, thì coi như Ông không mong gì vọt lên được trong các cuộc bầu cử sơ bộ kế tiếp và trong Đại Hội Đảng Cộng Hòa rất gay go Tháng Tám từ 27 đến 30 để chỉ định ứng cử viên tổng thống của Đảng.
Ô. Santorum vọt qua Ô. Romney như đã thấy, là nhờ lập trường kiên định bảo thủ, kiên định chống hôn nhân đồng tính, chống phá thai. Còn Ô Romney thua vì dĩ vãng cấp tiến, hay nghiêng ngả trong hai lập trường cốt lõi chống phá thai và hôn nhơn đồng tính này của Cộng Hòa, khiên Ông khó đi vào lòng cử tri Cộng Hòa bảo thủ hữu khuynh.
Nếu Ô. Romney không vọt lên được, thế mạnh gây quỹ, tài tổ chức giỏi, kinh nghiệm kinh tế của Ông vượt hơn các ứng viên đồng đồng khác, những thế mạnh đó để đua tranh với TT Obama, Cộng Hòa bị mất.
Đó là chưa nói từ 9 ứng cử viên Cộng Hòa đấu đá nhau, lăm khi chơi trò dơ dáy dươi lưng quần, đằng sau lưng, nay chỉ còn 4. Đảng Cộng Hòa khó mà tìm người mới. Có tìm đuợc thì cũng qua trễ tràn rồi.
Tương tranh của các ứng viên Cộng Hòa bất lợi cho Cộng Hòa trong cuộc tranh cử vối TT Obama. Và trong chánh trị bất lợi của đối thủ là lợi cho bên kia. Ngao sò tương tranh, ngư ông đắc lợi. TT Obama ở đường chạy của liếc nhìn Cộng Hòa đấu đá nhau, Ông lím môi, cười nụ. Ông thảnh thơi một mình dùng sức phục hồi của kinh tế vận động tầng lớp trung lưu Mỹ, khối cử tri lớn nhứt, mạnh nhứt của xã hội Mỹ.
Thêm nữa, Ô. Obama dùng thời gian “hoãn xung” của Cộng Hòa vì bận đấu đá nhau để bồi bỗ sức lực, sức người và sức của đã mất của Ông sau mấy năm làm tổng thống. Hiện thời sức gây quỹ của Ông cho cuộc bầu cử năm 2012 yếu hơn hồi còn làm thương nghị sĩ gây quỹ ra ứng cử thổng thống năm 2008. Năm 2008, Ông gây quỹ được 745 triệu. Kỳ tái ứng cử này dù có ưu thế, lợi thể của vị tổng thống đưong nhiệm tái ứng cử, có nhiều dầu chỉ Ông khó gây quỹ đuợc như hồi 2008. Mà số tiền gây quỹ là một dấu chỉ quan trọng của việc đắc cử.
Theo Hội Đồng Bầu cử Liên bang, tháng 1 năm 2012, Ông Obama mới gây quỹ được 29 triệu ( 12 dành cho cuộc tranh cử và 17 dành cho đảng Dân Chủ). Số này ít hơn số thu được cho kỳ ứng cử tổng thống đầu của Ông hồi tháng 1 năm 2008, lúc bấy giờ Ông thu được 37 triệu.
Nếu so sánh tổng số tiền gây quỷ được của các ứng cử viên, các đảng, các siêu ủy ban vận động chánh trị (super PACs là nững ủy ban gọi là độc lập có thể gây quỹ và chi xài số tiền vô hạn giúp cho ứng cử viên), thì phía Cộng Hòa có số tiền là 409 triệâu thu góp hồi năm 2011, còn phía Dân Chủ chỉ được 366 triệu thôi.
Vì lẽ đó người ta thấy TT Obama sử dụng tối đa lợi thế đương kim tổng thống, dùng những chuyến thăm dân cho biết sự tình băng phương tiện nhà nước, để gây quỹ. Chẳng những thế Ông còn tạo điều kiện cho những cố vấn tiếp tay gây quỹ cho những "Super PAC" của Ông.
Dù cố gắng như thế, trong hàng ngũ Bộ tham Mưu tranh cử của Ông, Tòa Bạch Ốc cũng không còn nói nhiều về con số sẽ gây quỹ một tỷ Đô để vận động tranh cử kỳ này nữa, khi Ông tuyên bố ra tái ứng cử cách đây một năm.
Nhưng nhờ các ứng cử viên Cộng Hòa đấu đá nhau mà TT Obama trở thành nổi bật, con đường tái đắc cử hạnh thông, hy vọng đắc cử dễ và lớn. Dân chúng Mỹ nói chung coi các ứng cử viên Cộng Hòa cấu xé nhau vì vấn dề nội bộ của Đảng, chớ không phải vì nước vì dân Mỹ. Mà tổng thống theo chánh trị chánh trực phải là tổng thống của tòan dân Mỹ.
Dân chúng Mỹ nói chung chán ngán những ứng cử viên Cộng Hòa cứ loay hoay đấu đá nhau về những lập trường cố hữu, cũ rích, biến các cuộc vận động bầu cử sơ bộ Cộng Hòa thành một mớ hồ lốn đảng phái, hổn độn phe phái, xà bần chuyện riêng của các viên trong đảng Cộng Hòa. Vì thế người ta thấy Cộng Hòa chưa có người đối thủ ngang tầm đấu với TT Obama
Nhờ thề TT Obama trở thành ứng cử viên gần như không đối thủ. Cuộc tái cử của Ông cho đến bay giờ tỏ ra dễ và hy vọng thắng cử lớn. Nhứt là Ông được Phủ Tổng Thống, cả nội các tiếp hơi làm nổi bật đà kinh tế phục hồi, tỷ lệ thất nghiệp giảm thấp nhứt trong mấy năm trở lại đây.
Vi Anh Cộng Hòa tương tranh, ngư ông Obama đắc lợi; điều này thấy rõ trong hai tuần lễ chánh trị bầu cử Mỹ mới đây.
Một tuần lễ là chuyện bình thường của người bình dân Mỹ. Nhưng một tuần lễ có thể là một đổi thay lớn; hai tuần lễ có thể là cả thời đại vật đổi sao đời của những ứng cử viên tranh cử, nhứt là trong cuộc bầu cử lơn và quan trọng là bầu cử tổng thống Mỹ bốnn năm một lần. Điều này có thể thấy qua hòan cảnh và tình hình thăng trầm của 4 ứng cử viên còn lại của đảng Cộng Hòa, đặc biệt là của hai ứng cử viên tranh nhau gay gắt trong các cuộc bầu cử sơ bộ để được Đảng Cộng Hòa chỉ định làm ứng cử viên tổng tổng.
Từ ngày 6 tháng Hai, Ô. Mitt Romney, Cựu Thống đốc Massechussetts, một người theo đạo Mormon, kinh tài giỏi, thắng áp đảo các ửng viên khác, hết Florida đến Nevada. Coi như Ông phon phon trên con đường bầu cử sơ bộ để được đảng đề cử ra chạy đua với TT Obama vào Nhà Trắng trong cuộc bầu cử ngày 6 tháng 11 năn, 2012.
Nhưng chỉ trong hai tuẩn lễ thôi, một ứng viên khác đồng đảng Cộng Hòa với Ông, là Ông Rick Santorum, CựuTNS Pennsylvania, một người Công Giáo bảo thủ, nhờ lập trườøng kiên định chống hôn nhân đồng tính, chống phá thai, từ hạng ba vọt lên nhanh, qua mặt Ông Mitt Romney, tại ba cuộc bầu cử sơ bộ ở ba tiểu bang Minnesota, Missouri và Colorado. Gallup thăm dò tòan quốc cho biết, Santorum cao hơn Romney tám điểm dân ủng hộ.
Các chuyên viên quan sát, phân tích bầu cử nhận định nếu Ô Romney thua Ô. Santorum trong cuộc bầu cử sơ bộ ngày 28 tháng Hai ở Michigan, là tiểu bang nhà của Ô Romney, thì coi như Ông không mong gì vọt lên được trong các cuộc bầu cử sơ bộ kế tiếp và trong Đại Hội Đảng Cộng Hòa rất gay go Tháng Tám từ 27 đến 30 để chỉ định ứng cử viên tổng thống của Đảng.
Ô. Santorum vọt qua Ô. Romney như đã thấy, là nhờ lập trường kiên định bảo thủ, kiên định chống hôn nhân đồng tính, chống phá thai. Còn Ô Romney thua vì dĩ vãng cấp tiến, hay nghiêng ngả trong hai lập trường cốt lõi chống phá thai và hôn nhơn đồng tính này của Cộng Hòa, khiên Ông khó đi vào lòng cử tri Cộng Hòa bảo thủ hữu khuynh.
Nếu Ô. Romney không vọt lên được, thế mạnh gây quỹ, tài tổ chức giỏi, kinh nghiệm kinh tế của Ông vượt hơn các ứng viên đồng đồng khác, những thế mạnh đó để đua tranh với TT Obama, Cộng Hòa bị mất.
Đó là chưa nói từ 9 ứng cử viên Cộng Hòa đấu đá nhau, lăm khi chơi trò dơ dáy dươi lưng quần, đằng sau lưng, nay chỉ còn 4. Đảng Cộng Hòa khó mà tìm người mới. Có tìm đuợc thì cũng qua trễ tràn rồi.
Tương tranh của các ứng viên Cộng Hòa bất lợi cho Cộng Hòa trong cuộc tranh cử vối TT Obama. Và trong chánh trị bất lợi của đối thủ là lợi cho bên kia. Ngao sò tương tranh, ngư ông đắc lợi. TT Obama ở đường chạy của liếc nhìn Cộng Hòa đấu đá nhau, Ông lím môi, cười nụ. Ông thảnh thơi một mình dùng sức phục hồi của kinh tế vận động tầng lớp trung lưu Mỹ, khối cử tri lớn nhứt, mạnh nhứt của xã hội Mỹ.
Thêm nữa, Ô. Obama dùng thời gian “hoãn xung” của Cộng Hòa vì bận đấu đá nhau để bồi bỗ sức lực, sức người và sức của đã mất của Ông sau mấy năm làm tổng thống. Hiện thời sức gây quỹ của Ông cho cuộc bầu cử năm 2012 yếu hơn hồi còn làm thương nghị sĩ gây quỹ ra ứng cử thổng thống năm 2008. Năm 2008, Ông gây quỹ được 745 triệu. Kỳ tái ứng cử này dù có ưu thế, lợi thể của vị tổng thống đưong nhiệm tái ứng cử, có nhiều dầu chỉ Ông khó gây quỹ đuợc như hồi 2008. Mà số tiền gây quỹ là một dấu chỉ quan trọng của việc đắc cử.
Theo Hội Đồng Bầu cử Liên bang, tháng 1 năm 2012, Ông Obama mới gây quỹ được 29 triệu ( 12 dành cho cuộc tranh cử và 17 dành cho đảng Dân Chủ). Số này ít hơn số thu được cho kỳ ứng cử tổng thống đầu của Ông hồi tháng 1 năm 2008, lúc bấy giờ Ông thu được 37 triệu.
Nếu so sánh tổng số tiền gây quỷ được của các ứng cử viên, các đảng, các siêu ủy ban vận động chánh trị (super PACs là nững ủy ban gọi là độc lập có thể gây quỹ và chi xài số tiền vô hạn giúp cho ứng cử viên), thì phía Cộng Hòa có số tiền là 409 triệâu thu góp hồi năm 2011, còn phía Dân Chủ chỉ được 366 triệu thôi.
Vì lẽ đó người ta thấy TT Obama sử dụng tối đa lợi thế đương kim tổng thống, dùng những chuyến thăm dân cho biết sự tình băng phương tiện nhà nước, để gây quỹ. Chẳng những thế Ông còn tạo điều kiện cho những cố vấn tiếp tay gây quỹ cho những "Super PAC" của Ông.
Dù cố gắng như thế, trong hàng ngũ Bộ tham Mưu tranh cử của Ông, Tòa Bạch Ốc cũng không còn nói nhiều về con số sẽ gây quỹ một tỷ Đô để vận động tranh cử kỳ này nữa, khi Ông tuyên bố ra tái ứng cử cách đây một năm.
Nhưng nhờ các ứng cử viên Cộng Hòa đấu đá nhau mà TT Obama trở thành nổi bật, con đường tái đắc cử hạnh thông, hy vọng đắc cử dễ và lớn. Dân chúng Mỹ nói chung coi các ứng cử viên Cộng Hòa cấu xé nhau vì vấn dề nội bộ của Đảng, chớ không phải vì nước vì dân Mỹ. Mà tổng thống theo chánh trị chánh trực phải là tổng thống của tòan dân Mỹ.
Dân chúng Mỹ nói chung chán ngán những ứng cử viên Cộng Hòa cứ loay hoay đấu đá nhau về những lập trường cố hữu, cũ rích, biến các cuộc vận động bầu cử sơ bộ Cộng Hòa thành một mớ hồ lốn đảng phái, hổn độn phe phái, xà bần chuyện riêng của các viên trong đảng Cộng Hòa. Vì thế người ta thấy Cộng Hòa chưa có người đối thủ ngang tầm đấu với TT Obama
Nhờ thề TT Obama trở thành ứng cử viên gần như không đối thủ. Cuộc tái cử của Ông cho đến bay giờ tỏ ra dễ và hy vọng thắng cử lớn. Nhứt là Ông được Phủ Tổng Thống, cả nội các tiếp hơi làm nổi bật đà kinh tế phục hồi, tỷ lệ thất nghiệp giảm thấp nhứt trong mấy năm trở lại đây.
Con gái ông Nguyễn Tấn Dũng nắm trọn 4 công ty
Monday, February 20, 2012 6:59:22 PM
SÀI GÒN (NV) -Nguyễn Thanh Phượng, cô con gái duy nhất của thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng, vừa chính thức giữ chức chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt (Viet Capital Bank)

Nguyễn Thanh Phượng (bên trái), con gái ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, ký tên vào tấm áo thun khổng lồ hưởng ứng chiến dịch gây quỹ
giúp trẻ em VN hở hàm ếch. Bà Phượng bây giờ nắm trọn 4 công ty có tiếng tại Việt Nam. (Hình: VietCapital)
Bản tin của Ngân hàng Bản Việt phổ biến ngày 19 tháng 2, 2012 loan báo thành phần nhân sự mới của Hội Ðồng Quản Trị (HÐQT) cũng như Ban Giám Ðốc điều hành, cho biết như vậy.
Bình thường, chuyện thay đổi nhân sự, chuyển nhượng tài sản hay mua qua bán lại của một công ty tư nhân thường chỉ thấy trong các tờ báo tài chính chuyên môn. Nhưng cái tin bà Nguyễn Thanh Phượng, 31 tuổi, trở thành chủ tịch HÐQT của một ngân hàng chỉ đáng chú hơn hẳn khi người ta biết bà là con gái ông Nguyễn Tấn Dũng.
Báo Dân Trí và một hai tờ báo khác loan tin này không đề cập đến chi tiết bà là con ông thủ tướng.
Khi lên làm chủ tịch HÐQT của ngân hàng Bản Việt, như vậy, bà Phượng nắm trong tay tới 4 công ty khác nhau cùng có tên là Bản Việt (tức Viet Capital) gồm cả công ty đầu tư chứng khoán Bản Việt, công ty quản lý quỹ đầu tư Bản Việt và công ty bất động sản Bản Việt.
Ngân hàng Bản Việt vốn là Ngân hàng Gia Ðịnh được đổi tên sau khi bà Phượng mua lại một lượng đáng kể cổ phần của ngân hàng này rồi trở thành thành viên Hội Ðồng Quản Trị mới hồi đầu tháng 11 năm ngoái cùng với việc ngân hàng tăng vốn điều lệ từ 2,000 tỉ đồng lên thành 3,000 tỉ đồng (tương đương 150 triệu đô la).
Với cổ phần áp đảo và cầm đầu 4 ngành kinh doanh tài chính khác nhau, bà Phượng là người trẻ tuổi và hiếm hoi gom trong tay nhiều quyền hành nhất trong lãnh vực kinh doanh tư nhân tại Việt Nam. Không biết trên thế giới được mấy người con gái thủ tướng như thế.
Bà Phượng từng nhìn nhận trong một cuộc phỏng vấn của báo Người Lao Ðộng trước đây rằng là con gái của một ông thủ tướng đương quyền, có nhiều cái lợi thế.
Tháng 7 năm ngoái, Ngân hàng Gia Ðịnh bán 100 triệu cổ phiếu với giá 10,000 đồng/cổ phiếu nhằm tăng thêm 1,000 tỉ đồng vốn điều lệ. Công ty chứng khoán Bản Việt của bà Phượng đứng ra lãnh vai trò tư vấn phát hành cổ phiếu. Không thấy tin nào cho biết bà mua bao nhiêu cổ phần vào dịp này.
Theo bản tin ngày 15 tháng 11, 2011 của VinaCapital, ngày 8 tháng 11, 2011, ông Trần Bảo Toàn bán cho bà Phượng 2,430,000 cổ phần (16.2% vốn điều lệ) của Công ty Quản lý Quỹ đầu tư Chứng khoán Bản Việt cho bà Nguyễn Thanh Phượng. Từ đây, bà Phượng nắm tổng cộng 43.25% vốn điều lệ của công ty với tổng cộng 6,480,000 cổ phần. Trước đó bà chỉ giữ 27% cổ phần.
Nguyễn Bảo Hoàng, chồng của bà Phượng, là tổng giám đốc của quỹ đầu tư IDG Ventures Việt Nam, một quỹ đầu tư vào lãnh vực công nghệ thông tin tại Việt Nam từ năm 2003.
Khác với người anh (Nguyễn Thanh Nghị) và người em (Nguyễn Minh Triết) theo cha đi vào chính trị, bà Phượng tuy cũng là đảng viên đảng CSVN lại đi vào con đường tài chính, lợi dụng kiến thức đã được học ở đại học về ngành này.
Năm 2006, bà Phượng đã làm giám đốc đầu tư của công ty Vietnam Holding Asset Management, quản trị số vốn đầu tư $112 triệu USD của các nhà đầu tư Thụy Sĩ, khi mới có 25 tuổi. Ðến tháng 11 của năm này làm chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ đầu tư Chứng khoán Bản Việt (Viet Capital Assets Management) quản trị số vốn đầu tư tài chính hàng trăm tỉ đồng của các cá nhân và doanh nghiệp tư nhân Việt Nam.
Trong bản công điện của Tổng Lãnh Sự Seth Winnick gửi từ Sài Gòn về Hoa Thịnh Ðốn đưa ra nhận xét lý do tại sao người ta giao những số tiền rất lớn vào tay một cô gái rất trẻ, không có bao nhiêu kinh nghiệm?
“Tất nhiên, về mặt chính trị, giao quỹ đầu tư cho cô con gái cưng của thủ tướng quản lý, là một điều khôn ngoan, nhất là khi quỹ này tập trung vào việc đầu tư trong những ngành mà nhà nước kiểm soát như dầu khí, ngân hàng và công nghệ thông tin.” Ông Winnick viết trong công điện ngày 26 tháng 12, 2006 được Wikileaks tiết lộ.
Bản báo cáo thường niên công bố trên web của Ngân hàng Bản Việt chỉ thấy công bố đến năm 2010 tức khi còn là Ngân hàng Gia Ðịnh. Vốn điều lệ là 2,000 tỉ đồng, tổng tài sản 8,255.4 tỉ đồng, tiền khách hàng gửi 3,181.3 tỉ đồng, cho vay 3,626 tỉ đồng, lợi nhuận sau thuế là 56.6 tỉ đồng.
Bây giờ, ngân hàng nằm trong tay cô con gái của thủ tướng, nó có nhiều cơ hội ăn trùm thiên hạ. (TN)
Monday, February 20, 2012 6:59:22 PM
SÀI GÒN (NV) -Nguyễn Thanh Phượng, cô con gái duy nhất của thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng, vừa chính thức giữ chức chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt (Viet Capital Bank)

Nguyễn Thanh Phượng (bên trái), con gái ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, ký tên vào tấm áo thun khổng lồ hưởng ứng chiến dịch gây quỹ
giúp trẻ em VN hở hàm ếch. Bà Phượng bây giờ nắm trọn 4 công ty có tiếng tại Việt Nam. (Hình: VietCapital)
Bản tin của Ngân hàng Bản Việt phổ biến ngày 19 tháng 2, 2012 loan báo thành phần nhân sự mới của Hội Ðồng Quản Trị (HÐQT) cũng như Ban Giám Ðốc điều hành, cho biết như vậy.
Bình thường, chuyện thay đổi nhân sự, chuyển nhượng tài sản hay mua qua bán lại của một công ty tư nhân thường chỉ thấy trong các tờ báo tài chính chuyên môn. Nhưng cái tin bà Nguyễn Thanh Phượng, 31 tuổi, trở thành chủ tịch HÐQT của một ngân hàng chỉ đáng chú hơn hẳn khi người ta biết bà là con gái ông Nguyễn Tấn Dũng.
Báo Dân Trí và một hai tờ báo khác loan tin này không đề cập đến chi tiết bà là con ông thủ tướng.
Khi lên làm chủ tịch HÐQT của ngân hàng Bản Việt, như vậy, bà Phượng nắm trong tay tới 4 công ty khác nhau cùng có tên là Bản Việt (tức Viet Capital) gồm cả công ty đầu tư chứng khoán Bản Việt, công ty quản lý quỹ đầu tư Bản Việt và công ty bất động sản Bản Việt.
Ngân hàng Bản Việt vốn là Ngân hàng Gia Ðịnh được đổi tên sau khi bà Phượng mua lại một lượng đáng kể cổ phần của ngân hàng này rồi trở thành thành viên Hội Ðồng Quản Trị mới hồi đầu tháng 11 năm ngoái cùng với việc ngân hàng tăng vốn điều lệ từ 2,000 tỉ đồng lên thành 3,000 tỉ đồng (tương đương 150 triệu đô la).
Với cổ phần áp đảo và cầm đầu 4 ngành kinh doanh tài chính khác nhau, bà Phượng là người trẻ tuổi và hiếm hoi gom trong tay nhiều quyền hành nhất trong lãnh vực kinh doanh tư nhân tại Việt Nam. Không biết trên thế giới được mấy người con gái thủ tướng như thế.
Bà Phượng từng nhìn nhận trong một cuộc phỏng vấn của báo Người Lao Ðộng trước đây rằng là con gái của một ông thủ tướng đương quyền, có nhiều cái lợi thế.
Tháng 7 năm ngoái, Ngân hàng Gia Ðịnh bán 100 triệu cổ phiếu với giá 10,000 đồng/cổ phiếu nhằm tăng thêm 1,000 tỉ đồng vốn điều lệ. Công ty chứng khoán Bản Việt của bà Phượng đứng ra lãnh vai trò tư vấn phát hành cổ phiếu. Không thấy tin nào cho biết bà mua bao nhiêu cổ phần vào dịp này.
Theo bản tin ngày 15 tháng 11, 2011 của VinaCapital, ngày 8 tháng 11, 2011, ông Trần Bảo Toàn bán cho bà Phượng 2,430,000 cổ phần (16.2% vốn điều lệ) của Công ty Quản lý Quỹ đầu tư Chứng khoán Bản Việt cho bà Nguyễn Thanh Phượng. Từ đây, bà Phượng nắm tổng cộng 43.25% vốn điều lệ của công ty với tổng cộng 6,480,000 cổ phần. Trước đó bà chỉ giữ 27% cổ phần.
Nguyễn Bảo Hoàng, chồng của bà Phượng, là tổng giám đốc của quỹ đầu tư IDG Ventures Việt Nam, một quỹ đầu tư vào lãnh vực công nghệ thông tin tại Việt Nam từ năm 2003.
Khác với người anh (Nguyễn Thanh Nghị) và người em (Nguyễn Minh Triết) theo cha đi vào chính trị, bà Phượng tuy cũng là đảng viên đảng CSVN lại đi vào con đường tài chính, lợi dụng kiến thức đã được học ở đại học về ngành này.
Năm 2006, bà Phượng đã làm giám đốc đầu tư của công ty Vietnam Holding Asset Management, quản trị số vốn đầu tư $112 triệu USD của các nhà đầu tư Thụy Sĩ, khi mới có 25 tuổi. Ðến tháng 11 của năm này làm chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ đầu tư Chứng khoán Bản Việt (Viet Capital Assets Management) quản trị số vốn đầu tư tài chính hàng trăm tỉ đồng của các cá nhân và doanh nghiệp tư nhân Việt Nam.
Trong bản công điện của Tổng Lãnh Sự Seth Winnick gửi từ Sài Gòn về Hoa Thịnh Ðốn đưa ra nhận xét lý do tại sao người ta giao những số tiền rất lớn vào tay một cô gái rất trẻ, không có bao nhiêu kinh nghiệm?
“Tất nhiên, về mặt chính trị, giao quỹ đầu tư cho cô con gái cưng của thủ tướng quản lý, là một điều khôn ngoan, nhất là khi quỹ này tập trung vào việc đầu tư trong những ngành mà nhà nước kiểm soát như dầu khí, ngân hàng và công nghệ thông tin.” Ông Winnick viết trong công điện ngày 26 tháng 12, 2006 được Wikileaks tiết lộ.
Bản báo cáo thường niên công bố trên web của Ngân hàng Bản Việt chỉ thấy công bố đến năm 2010 tức khi còn là Ngân hàng Gia Ðịnh. Vốn điều lệ là 2,000 tỉ đồng, tổng tài sản 8,255.4 tỉ đồng, tiền khách hàng gửi 3,181.3 tỉ đồng, cho vay 3,626 tỉ đồng, lợi nhuận sau thuế là 56.6 tỉ đồng.
Bây giờ, ngân hàng nằm trong tay cô con gái của thủ tướng, nó có nhiều cơ hội ăn trùm thiên hạ. (TN)
Iran trên bờ vực
Ngô Nhân Dụng
Tổng thống Iran, ông Mahmoud Ahmadinejad, đang làm nhiều người trên thế giới lo chiến tranh sẽ xẩy ra. Chính ông Ahmadinejad được lợi gì khi gây ra tình trạng căng thẳng này hay không? Ðưa Iran vào thế đương đầu với cả thế giới là một hành động nhằm bảo vệ uy tín và địa vị của chính ông ta, một người bị cả hai phía cấp tiến và bảo thủ chống đối.
Giáo sĩ Khamenei đứng đầu Hội Ðồng Tối Cao không ưa vị tổng thống bị coi là lộng quyền, nhiều lần qua mặt các giáo sĩ lãnh đạo. Năm ngoái phe bảo thủ đã đề nghị đàn hặc ông Ahmadinejad khi ông tự ý thay đổi thành phần chính phủ mà không xin Quốc Hội chấp thuận, và đòi điều tra việc chi tiêu không đúng ngân sách do Quốc Hội phê chuẩn. Ông đã cách chức Heydar Moslehi, người đứng đầu Bộ Tình Báo, nhưng vì áp lực của các giáo sĩ lãnh đạo, lại phải phục chức cho ông ta. Kinh tế Iran suy yếu vì bị cấm vận, lạm phát lên cao, các phong trào đòi tự do dân chủ đang sôi lên vì Mùa Xuân Á Rập. Nhưng trước mối đe dọa bị Israel tấn công phá các lò nguyên tử và trước cảnh Iran đang đối đầu với Mỹ và các nước Châu Âu, không ai ở Iran dám tính chuyện lật đổ ông Ahmadinejad.
Không phải chỉ tấn công dư luận thế giới bằng lời nói, Iran còn làm cho giá dầu lửa tăng lên, từ giá 76 đô la một tùng vào Tháng Mười năm ngoái, lên 105 đô la vào đầu tuần này. Ahmadinejad có thể tính rằng áp lực giá dầu lửa sẽ làm cho chính phủ Mỹ phải nới lỏng việc cấm vận và bớt đòi hỏi Iran phải ngưng các hoạt động về năng lượng nguyên tử. Ahmadinejad biết rằng trong một năm dân Mỹ đi bỏ phiếu, không một ông tổng thống Mỹ nào muốn giá xăng dầu tăng lên. Ðầu năm 2012, Tổng Thống Barack Obama đã được Quốc Hội đồng ý triển hạn việc bớt thuế an sinh xã hội, với kết quả là mỗi người Mỹ đi làm sẽ có thêm trung bình 50 đô la mỗi tháng để tiêu xài. Nhưng nếu giá xăng tiếp tục tăng lên như một tháng nay thì số tiền đó không đủ bù lại với tiền trả thêm khi mua xăng! Làm cho giá dầu tăng lên, không những Iran hy vọng thu được nhiều đô la và đồng Euro hơn, mà còn làm cho kinh tế cả thế giới suy yếu trong lúc nó vẫn chưa hồi phục hẳn. Ðó là một mối đe dọa mà ông Ahmadinejad biết cả Mỹ và Âu Châu đều muốn tránh.
Ông Ahmadinejad cũng biết tấn công đúng chỗ khi ra lệnh ngưng bán xăng cho mấy nước Âu Châu. Khác với hồi chiến tranh Iraq năm 2003, năm nay các nước Âu Châu đều ủng hộ Mỹ trong cuộc cấm vận Iran, và còn tỏ thái độ cứng rắn hơn. Ngưng bán xăng cho Pháp và Anh thì không gây ảnh hưởng nào, vì các nước đó không nhập cảng dầu thô của Iran. Nhưng trong 6 nước mới bị đưa vào danh sách cấm bán dầu, có 4 nước đang trên đà suy yếu kinh tế. Trong số dầu Iran xuất cảng sang Âu Châu, 70% bán cho Tây Ban Nha và Ý. Một phần ba số dầu Hy lạp mua là từ Iran. Nếu các nước đó và Bồ Ðào Nha phải đi mua ngay dầu từ nơi khác, giá đắt hơn, thì tình trạng thâm thủng mậu dịch và ngân sách sẽ lôi kéo cơn khủng hoảng kinh tế ở Âu Châu kéo dài hơn nữa. Nghĩa là kinh tế Mỹ và cả thế giới cũng bị ảnh hưởng lây.
Iran đang theo thủ đoạn của Nga trước đây, dùng vũ khí ngưng bán dầu và hơi đốt để ép các nước Âu Châu không can thiệp vào các xung đột giữa Nga và mấy nước láng giềng. Nếu chỉ chỉ mới đe dọa ngưng bán dầu cho mấy nước mà đã làm giá dầu thô nhập cảng vào Âu Châu tăng lên tới 119 đô la một thùng, thử tưởng tượng nếu có chiến tranh giữa Iran và Israel thì giá dầu thế giới sẽ lên tới bao nhiêu? Vì vậy, các nước Âu Châu có đủ lý do để tránh không cho một cuộc chiến như vậy xẩy ra.
Nhưng liệu chiến tranh có thể xẩy ra không? Rất khó. Mặc dù đã đe dọa sẽ “tấn công trước” nếu thấy nguy cơ bị đánh, nhưng ông Ahmadinejad sẽ không dại gì gây chiến. Nếu Iran đánh Israel trước, các nước Âu Châu và Mỹ sẽ bảo vệ Israel và ỷ có lý do cùng Israel đánh thẳng vào Iran, lực lượng hai nước đó sẽ đè bẹp quân đội Iran. Mỹ có thể chỉ dùng Không quân và Hải quân, mà không cần dùng Bộ binh chiếm đóng vì đã có quân Israel làm việc đó. Các nước Á Rập chung quanh đều phản đối việc Israel đánh Iran trước; nhưng họ đều ghét và sợ Iran. Ngoài ra, không nước Á Rập nào muốn thấy Iran có bom nguyên tử. Khoảng cách từ thủ đô Iran đến thủ đô Saudi chỉ có 1,300 cây số, mà hiện nay Iran có những hỏa tiễn bắn xa 1,500 cây số. Các nước Á Rập có thể đưa quân qua Iran sau khi Mỹ và Israel đánh đợt đầu, để trừ bỏ một chế độ theo Hồi Giáo nhưng thuộc phái Shi A khác họ. Các nước Nga, Trung Quốc sẽ phải làm ngơ vì Iran gây chiến, Trung Quốc đã phản đối Iran ngay sau khi nước này ngưng bán dầu cho Anh, Pháp. Không một nước nào sẽ cứu Iran nếu có chiến tranh.
Cuộc chiến tranh dù diễn ra cách nào cũng sẽ làm kinh tế Iran suy sụp, và dù nước Iran không bị chiếm đóng cũng không tránh khỏi một cuộc cách mạng thay đổi chế độ. Chỉ có một người khùng mới chọn con đường đó. Các lời lẽ gây hấn của chính phủ Iran chỉ cốt đe dọa thế giới bằng hình ảnh “thằng khùng,” để các nước bảo nhau đừng ai đẩy nó đến chân tường. Và tất nhiên các lời lẽ và hành động gây hấn chỉ củng cố địa vị của ông Ahmadinejad ở trong nước Iran.
Nhưng chính phủ Mỹ có mong một cuộc chiến tranh mới ở vùng Trung Ðông hay không? Chắc cũng không. Chiến tranh sẽ không chỉ giới hạn trong phạm vi Iran với Israel mà thôi. Iran sẽ tấn công các nước sản xuất dầu trong vùng vịnh, từ Á Rập Saudi, qua Kuwait, và tất cả các tầu chở dầu đi qua eo biển Hormuz. Một cuộc hải chiến sẽ không tránh khỏi, Iran sẽ bị Mỹ đánh bại, nhưng hậu quả kinh tế sẽ mất nhiều năm mới xóa được.
Cho nên, con đường chính phủ Mỹ đang chọn là tăng cường cuộc cấm vận Iran để đẩy nước này đến chỗ suy kiệt. Chính phủ Mỹ sẽ trừng phạt các công ty và ngân hàng các nước khác nếu làm ăn với Iran, sẽ cấm họ hoạt động trong nước Mỹ; nhưng áp dụng tùy trường hợp. Biện pháp đó ngày hôm qua đã đưa tới quyết định của ba nước Ấn Ðộ, Nhật Bản, Trung Quốc cắt bớt số nhập cảng dầu từ Iran. Hiện nay đó là những nước mua dầu của Iran nhiều nhất. Riêng Trung Quốc mua 22% số dầu do Iran xuất cảng, Nhật Bản mua 15%, Ấn Ðộ mua 14%; ba nước đó mua một nửa số dầu Iran bán trong khi cả Âu Châu chỉ mua 18%. Năm nay Trung Quốc sẽ cắt bớt 14% số mua của họ, sau khi chính phủ Mỹ đã bị cảnh cáo một lần. Cắt giảm nhiều nhất là công ty Unipec, vì Unipec và chi nhánh của họ tại Singapore đang đầu tư rất nhiều ở Mỹ. Nhật Bản đang thương thuyết với Mỹ để cắt 10% số dầu mua của Iran, và xin miễn trừ cho số còn lại, vì kinh tế Nhật chưa hồi phục. Nam Hàn, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đang mua, lần lượt, 10% và 7% số dầu thô của Iran, hai nước đồng minh này của Mỹ chắc cũng sẽ cắt bớt. Cộng tất cả các nước đó lại, cùng với Âu Châu, số dầu Iran bán ra có thể sẽ giảm bớt 8% đến 10%.
Tiền bán dầu chiếm 80% số ngoại tệ mà Iran thu được mỗi năm. Nếu các nước mua nhiều dầu nhất của Iran cắt bớt 10%, và số bán sang Âu Châu cũng giảm, thì ngoại tệ sẽ thiếu hụt, cán cân thương mại thâm thủng và lạm phát sẽ tăng lên. Chính nước Iran cũng đang phải nhập cảng dầu chế biến, vì mặc dù là nước xuất cảng dầu thô lớn thứ ba, sau Á Rập Saudi và Nga, công nghệ chế biến dầu lửa của Iran còn rất thô sơ.
Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Leon Panetta đã đoán là Israel có thể sẽ tấn công phá các lò nguyên tử của Iran trong khoảng từ Tháng Ba đến Tháng Năm năm nay. Nhưng cả tổng thống Mỹ và chính phủ các đồng minh Anh, Pháp đều khuyên Israel phải kiên nhẫn chờ kết quả cuộc cấm vận; sẽ đến lúc buộc chính phủ Iran nhượng bộ về việc thanh tra các lò nguyên tử. Hiện phái đoàn thanh tra Liên Hiệp Quốc vẫn tới Iran làm việc.
Nếu Israel cứ tấn công Iran, cưỡng lại các lời khuyên của Mỹ và Anh, Pháp, cùng sự chống đối của các nước trong vùng Trung Ðông, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Ấn Ðộ và Trung Quốc, thì một cuộc chiến tranh có thể sẽ nổ ra. Nhưng nếu tình trạng này cứ kéo dài thì cuộc cấm vận sẽ tiếp tục thắt chặt hơn nữa, có ngày sẽ đưa chính phủ Iran tới chỗ phải nhượng bộ. Ông Mahmoud Ahmadinejad cũng phải thấy chiến tranh là đại họa cho nước ông, và sẽ xóa bỏ cả địa vị của chính cá nhân. Mà ông ta cũng không thể làm tổng thống Iran mãi mãi.
Ngô Nhân Dụng
Tổng thống Iran, ông Mahmoud Ahmadinejad, đang làm nhiều người trên thế giới lo chiến tranh sẽ xẩy ra. Chính ông Ahmadinejad được lợi gì khi gây ra tình trạng căng thẳng này hay không? Ðưa Iran vào thế đương đầu với cả thế giới là một hành động nhằm bảo vệ uy tín và địa vị của chính ông ta, một người bị cả hai phía cấp tiến và bảo thủ chống đối.
Giáo sĩ Khamenei đứng đầu Hội Ðồng Tối Cao không ưa vị tổng thống bị coi là lộng quyền, nhiều lần qua mặt các giáo sĩ lãnh đạo. Năm ngoái phe bảo thủ đã đề nghị đàn hặc ông Ahmadinejad khi ông tự ý thay đổi thành phần chính phủ mà không xin Quốc Hội chấp thuận, và đòi điều tra việc chi tiêu không đúng ngân sách do Quốc Hội phê chuẩn. Ông đã cách chức Heydar Moslehi, người đứng đầu Bộ Tình Báo, nhưng vì áp lực của các giáo sĩ lãnh đạo, lại phải phục chức cho ông ta. Kinh tế Iran suy yếu vì bị cấm vận, lạm phát lên cao, các phong trào đòi tự do dân chủ đang sôi lên vì Mùa Xuân Á Rập. Nhưng trước mối đe dọa bị Israel tấn công phá các lò nguyên tử và trước cảnh Iran đang đối đầu với Mỹ và các nước Châu Âu, không ai ở Iran dám tính chuyện lật đổ ông Ahmadinejad.
Không phải chỉ tấn công dư luận thế giới bằng lời nói, Iran còn làm cho giá dầu lửa tăng lên, từ giá 76 đô la một tùng vào Tháng Mười năm ngoái, lên 105 đô la vào đầu tuần này. Ahmadinejad có thể tính rằng áp lực giá dầu lửa sẽ làm cho chính phủ Mỹ phải nới lỏng việc cấm vận và bớt đòi hỏi Iran phải ngưng các hoạt động về năng lượng nguyên tử. Ahmadinejad biết rằng trong một năm dân Mỹ đi bỏ phiếu, không một ông tổng thống Mỹ nào muốn giá xăng dầu tăng lên. Ðầu năm 2012, Tổng Thống Barack Obama đã được Quốc Hội đồng ý triển hạn việc bớt thuế an sinh xã hội, với kết quả là mỗi người Mỹ đi làm sẽ có thêm trung bình 50 đô la mỗi tháng để tiêu xài. Nhưng nếu giá xăng tiếp tục tăng lên như một tháng nay thì số tiền đó không đủ bù lại với tiền trả thêm khi mua xăng! Làm cho giá dầu tăng lên, không những Iran hy vọng thu được nhiều đô la và đồng Euro hơn, mà còn làm cho kinh tế cả thế giới suy yếu trong lúc nó vẫn chưa hồi phục hẳn. Ðó là một mối đe dọa mà ông Ahmadinejad biết cả Mỹ và Âu Châu đều muốn tránh.
Ông Ahmadinejad cũng biết tấn công đúng chỗ khi ra lệnh ngưng bán xăng cho mấy nước Âu Châu. Khác với hồi chiến tranh Iraq năm 2003, năm nay các nước Âu Châu đều ủng hộ Mỹ trong cuộc cấm vận Iran, và còn tỏ thái độ cứng rắn hơn. Ngưng bán xăng cho Pháp và Anh thì không gây ảnh hưởng nào, vì các nước đó không nhập cảng dầu thô của Iran. Nhưng trong 6 nước mới bị đưa vào danh sách cấm bán dầu, có 4 nước đang trên đà suy yếu kinh tế. Trong số dầu Iran xuất cảng sang Âu Châu, 70% bán cho Tây Ban Nha và Ý. Một phần ba số dầu Hy lạp mua là từ Iran. Nếu các nước đó và Bồ Ðào Nha phải đi mua ngay dầu từ nơi khác, giá đắt hơn, thì tình trạng thâm thủng mậu dịch và ngân sách sẽ lôi kéo cơn khủng hoảng kinh tế ở Âu Châu kéo dài hơn nữa. Nghĩa là kinh tế Mỹ và cả thế giới cũng bị ảnh hưởng lây.
Iran đang theo thủ đoạn của Nga trước đây, dùng vũ khí ngưng bán dầu và hơi đốt để ép các nước Âu Châu không can thiệp vào các xung đột giữa Nga và mấy nước láng giềng. Nếu chỉ chỉ mới đe dọa ngưng bán dầu cho mấy nước mà đã làm giá dầu thô nhập cảng vào Âu Châu tăng lên tới 119 đô la một thùng, thử tưởng tượng nếu có chiến tranh giữa Iran và Israel thì giá dầu thế giới sẽ lên tới bao nhiêu? Vì vậy, các nước Âu Châu có đủ lý do để tránh không cho một cuộc chiến như vậy xẩy ra.
Nhưng liệu chiến tranh có thể xẩy ra không? Rất khó. Mặc dù đã đe dọa sẽ “tấn công trước” nếu thấy nguy cơ bị đánh, nhưng ông Ahmadinejad sẽ không dại gì gây chiến. Nếu Iran đánh Israel trước, các nước Âu Châu và Mỹ sẽ bảo vệ Israel và ỷ có lý do cùng Israel đánh thẳng vào Iran, lực lượng hai nước đó sẽ đè bẹp quân đội Iran. Mỹ có thể chỉ dùng Không quân và Hải quân, mà không cần dùng Bộ binh chiếm đóng vì đã có quân Israel làm việc đó. Các nước Á Rập chung quanh đều phản đối việc Israel đánh Iran trước; nhưng họ đều ghét và sợ Iran. Ngoài ra, không nước Á Rập nào muốn thấy Iran có bom nguyên tử. Khoảng cách từ thủ đô Iran đến thủ đô Saudi chỉ có 1,300 cây số, mà hiện nay Iran có những hỏa tiễn bắn xa 1,500 cây số. Các nước Á Rập có thể đưa quân qua Iran sau khi Mỹ và Israel đánh đợt đầu, để trừ bỏ một chế độ theo Hồi Giáo nhưng thuộc phái Shi A khác họ. Các nước Nga, Trung Quốc sẽ phải làm ngơ vì Iran gây chiến, Trung Quốc đã phản đối Iran ngay sau khi nước này ngưng bán dầu cho Anh, Pháp. Không một nước nào sẽ cứu Iran nếu có chiến tranh.
Cuộc chiến tranh dù diễn ra cách nào cũng sẽ làm kinh tế Iran suy sụp, và dù nước Iran không bị chiếm đóng cũng không tránh khỏi một cuộc cách mạng thay đổi chế độ. Chỉ có một người khùng mới chọn con đường đó. Các lời lẽ gây hấn của chính phủ Iran chỉ cốt đe dọa thế giới bằng hình ảnh “thằng khùng,” để các nước bảo nhau đừng ai đẩy nó đến chân tường. Và tất nhiên các lời lẽ và hành động gây hấn chỉ củng cố địa vị của ông Ahmadinejad ở trong nước Iran.
Nhưng chính phủ Mỹ có mong một cuộc chiến tranh mới ở vùng Trung Ðông hay không? Chắc cũng không. Chiến tranh sẽ không chỉ giới hạn trong phạm vi Iran với Israel mà thôi. Iran sẽ tấn công các nước sản xuất dầu trong vùng vịnh, từ Á Rập Saudi, qua Kuwait, và tất cả các tầu chở dầu đi qua eo biển Hormuz. Một cuộc hải chiến sẽ không tránh khỏi, Iran sẽ bị Mỹ đánh bại, nhưng hậu quả kinh tế sẽ mất nhiều năm mới xóa được.
Cho nên, con đường chính phủ Mỹ đang chọn là tăng cường cuộc cấm vận Iran để đẩy nước này đến chỗ suy kiệt. Chính phủ Mỹ sẽ trừng phạt các công ty và ngân hàng các nước khác nếu làm ăn với Iran, sẽ cấm họ hoạt động trong nước Mỹ; nhưng áp dụng tùy trường hợp. Biện pháp đó ngày hôm qua đã đưa tới quyết định của ba nước Ấn Ðộ, Nhật Bản, Trung Quốc cắt bớt số nhập cảng dầu từ Iran. Hiện nay đó là những nước mua dầu của Iran nhiều nhất. Riêng Trung Quốc mua 22% số dầu do Iran xuất cảng, Nhật Bản mua 15%, Ấn Ðộ mua 14%; ba nước đó mua một nửa số dầu Iran bán trong khi cả Âu Châu chỉ mua 18%. Năm nay Trung Quốc sẽ cắt bớt 14% số mua của họ, sau khi chính phủ Mỹ đã bị cảnh cáo một lần. Cắt giảm nhiều nhất là công ty Unipec, vì Unipec và chi nhánh của họ tại Singapore đang đầu tư rất nhiều ở Mỹ. Nhật Bản đang thương thuyết với Mỹ để cắt 10% số dầu mua của Iran, và xin miễn trừ cho số còn lại, vì kinh tế Nhật chưa hồi phục. Nam Hàn, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đang mua, lần lượt, 10% và 7% số dầu thô của Iran, hai nước đồng minh này của Mỹ chắc cũng sẽ cắt bớt. Cộng tất cả các nước đó lại, cùng với Âu Châu, số dầu Iran bán ra có thể sẽ giảm bớt 8% đến 10%.
Tiền bán dầu chiếm 80% số ngoại tệ mà Iran thu được mỗi năm. Nếu các nước mua nhiều dầu nhất của Iran cắt bớt 10%, và số bán sang Âu Châu cũng giảm, thì ngoại tệ sẽ thiếu hụt, cán cân thương mại thâm thủng và lạm phát sẽ tăng lên. Chính nước Iran cũng đang phải nhập cảng dầu chế biến, vì mặc dù là nước xuất cảng dầu thô lớn thứ ba, sau Á Rập Saudi và Nga, công nghệ chế biến dầu lửa của Iran còn rất thô sơ.
Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Leon Panetta đã đoán là Israel có thể sẽ tấn công phá các lò nguyên tử của Iran trong khoảng từ Tháng Ba đến Tháng Năm năm nay. Nhưng cả tổng thống Mỹ và chính phủ các đồng minh Anh, Pháp đều khuyên Israel phải kiên nhẫn chờ kết quả cuộc cấm vận; sẽ đến lúc buộc chính phủ Iran nhượng bộ về việc thanh tra các lò nguyên tử. Hiện phái đoàn thanh tra Liên Hiệp Quốc vẫn tới Iran làm việc.
Nếu Israel cứ tấn công Iran, cưỡng lại các lời khuyên của Mỹ và Anh, Pháp, cùng sự chống đối của các nước trong vùng Trung Ðông, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Ấn Ðộ và Trung Quốc, thì một cuộc chiến tranh có thể sẽ nổ ra. Nhưng nếu tình trạng này cứ kéo dài thì cuộc cấm vận sẽ tiếp tục thắt chặt hơn nữa, có ngày sẽ đưa chính phủ Iran tới chỗ phải nhượng bộ. Ông Mahmoud Ahmadinejad cũng phải thấy chiến tranh là đại họa cho nước ông, và sẽ xóa bỏ cả địa vị của chính cá nhân. Mà ông ta cũng không thể làm tổng thống Iran mãi mãi.
Vì sao ông Nguyễn Phú Trọng không lên tiếng vụ Tiên Lãng?
Lê Anh Hùng
(Nguồn: Bauxite Việt Nam)
Vụ cưỡng chế thu hồi đất của chính quyền huyện Tiên Lãng, Hải Phòng đối với gia đình anh Ðoàn Văn Vươn vừa qua
đang thu hút sự chú ý đặc biệt của công luận cả ở trong nước lẫn ngoài nước.
Tổng Bí Thư Ðảng CSVN Nguyễn Phú Trọng. (Hình: Hoàng Ðình Nam/AFP/Getty Images)
Tuy nhiên, điều khiến nhiều người không khỏi ngạc nhiên là một vụ việc gây xôn xao dư luận như thế, đặt ra những vấn đề hệ trọng liên quan đến nền tảng của chế độ như thế mà ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư BCHTW Ðảng CSVN, lại im như thóc, tuyệt nhiên không hề hé răng lấy nửa lời, mặc dù ông vẫn đang kêu gào thống thiết về cái gọi là “chỉnh đốn đảng.”
Lẽ dĩ nhiên, ở đời thì cái gì cũng có nguyên do của nó cả. Và những lý do dưới đây dường như là lời giải thích hợp lý nhất cho thái độ “ngậm hột thị” của ngài TBT:
1. Ông không tin vào vụ việc ở Tiên Lãng:
Ông Nguyễn Phú Trọng được đánh giá là đã đề cập tới hai “căn bệnh trầm kha” của Việt Nam: lợi ích nhóm và tư duy nhiệm kỳ.
Trong buổi làm việc với Trung Ương Hội Nông Dân Việt Nam ngày 13 tháng 9, 2011, ông Nguyễn Phú Trọng đã nhận xét: “Nhiều khi tôi vẫn nói đùa là ở trên này nghe rất nhiều chuyện đau đầu nhưng về với nông dân là thấy khác. Không phải được tất cả mà cơ bản là được.”
Từ đó mà suy, ông sẽ cho rằng những vụ việc như ở Tiên Lãng, Hải Phòng kia chắc chắn là do các “thế lực thù địch” dàn dựng để bôi xấu chế độ XHCN ưu việt, chứ nông thôn Việt Nam ở “thời đại Hồ Chí Minh” thì “về cơ bản là được,” quyết không thể xảy ra những chuyện động trời như thế.
2. Ông vẫn đang nghiên cứu Luật Ðất Ðai một cách thận trọng, kết quả nghiên cứu thế nào ông sẽ bàn giao cho TBT khóa sau để nghiên cứu tiếp:
Cũng trong buổi làm việc với Trung Ương Hội Nông Dân nói trên, khi đề cập đến các kiến nghị, đề xuất của Hội Nông Dân, ông tổng bí thư khẳng định là có nhiều việc sẽ còn phải nghiên cứu tiếp thu, không thể giải quyết nhanh được. Chẳng hạn, vấn đề sửa Luật Ðất Ðai sẽ cần phải được nghiên cứu thận trọng. Nhiều vấn đề đang còn tranh luận, chẳng hạn, khái niệm về sở hữu toàn dân. Cho dù Quốc Hội đã nhiều lần đề xuất đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhưng thảo luận mãi vẫn chưa chốt lại được.
Khiếu kiện liên quan đến đất đai mới chỉ chiếm 70% số vụ khiếu kiện thôi nhé, chưa việc gì phải cuống quýt lên như thế!
3. Ông không muốn sửa đổi Luật Ðất Ðai, vì sợ “sửa rồi mai kia lại vênh”:
Dự thảo cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH do BCHTW Ðảng khóa X trình Ðại hội Ðảng CSVN lần thứ XI (1/2011) nêu rõ, xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.” Tại đại hội, khi nhiều đại biểu đưa ra ý kiến phản bác “đặc trưng” ấy, và đòi trở về với định nghĩa trong Văn kiện Ðại hội X (2006) là “có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên nền sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” thì ngài GS.TS chuyên ngành “xây dựng đảng” lại biện bạch thế này: “Những vấn đề đã rõ, đã chín, đã được thực tiễn chứng minh là đúng và đã có sự thống nhất tương đối rồi thì hãy sửa. Còn những vấn đề nào chưa đủ rõ, chưa đủ chín, thực tiễn còn đang vận động, ý kiến còn khác nhau thì xin phép chưa sửa đổi, sửa rồi mai kia lại vênh.”
Rõ ràng, với tư cách là người từng đảm trách cương vị chủ tịch Hội Ðồng Lý Luận Trung Ương và giờ đây là tổng bí thư BCHTW đảng, hơn ai hết, ông là người hình dung ra rõ nét nhất hình hài của CNXH ở Việt Nam. Chính vì thế mà ông sợ rằng một khi CNXH đột ngột hiện ra, khiến nhân dân Việt Nam không kịp trở tay, thì Luật Ðất Ðai đã sửa đổi kia sẽ “vênh” với một nguyên lý chủ đạo của CNXH như tổ sư Marx của ông đã từng phán. Và việc ông không muốn sửa đổi Luật Ðất Ðai, hay không muốn sửa đổi Dự thảo Văn kiện Ðại hội XI của đảng như đã nói ở trên, chính là sự thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của một nhà lãnh đạo tài ba xưa nay hiếm. Nếu ai đó nhận định rằng đất nước chúng ta đang đi trên một cỗ xe không phanh với một người lái không biết lùi mà cứ băm băm lao vào một tương lai đầy rủi ro thì hoặc là hàm hồ hoặc là đang “tự diễn biến” đấy.
Hiện nay, khi mà vụ việc ở Tiên Lãng đang khiến cho ý chí của ngay cả một đảng viên trung kiên nhất cũng phải lung lay, khi mà nền kinh tế nước nhà thường xuyên lạm phát vào hàng quán quân Châu Á, khi mà bối cảnh khu vực và thế giới đang biến chuyển nhanh chóng và khó lường, con thuyền đất nước quả rất cần một “người cầm lái vĩ đại” như ông.
Lê Anh Hùng
(Nguồn: Bauxite Việt Nam)
Vụ cưỡng chế thu hồi đất của chính quyền huyện Tiên Lãng, Hải Phòng đối với gia đình anh Ðoàn Văn Vươn vừa qua
đang thu hút sự chú ý đặc biệt của công luận cả ở trong nước lẫn ngoài nước.
Tổng Bí Thư Ðảng CSVN Nguyễn Phú Trọng. (Hình: Hoàng Ðình Nam/AFP/Getty Images)
Tuy nhiên, điều khiến nhiều người không khỏi ngạc nhiên là một vụ việc gây xôn xao dư luận như thế, đặt ra những vấn đề hệ trọng liên quan đến nền tảng của chế độ như thế mà ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư BCHTW Ðảng CSVN, lại im như thóc, tuyệt nhiên không hề hé răng lấy nửa lời, mặc dù ông vẫn đang kêu gào thống thiết về cái gọi là “chỉnh đốn đảng.”
Lẽ dĩ nhiên, ở đời thì cái gì cũng có nguyên do của nó cả. Và những lý do dưới đây dường như là lời giải thích hợp lý nhất cho thái độ “ngậm hột thị” của ngài TBT:
1. Ông không tin vào vụ việc ở Tiên Lãng:
Ông Nguyễn Phú Trọng được đánh giá là đã đề cập tới hai “căn bệnh trầm kha” của Việt Nam: lợi ích nhóm và tư duy nhiệm kỳ.
Trong buổi làm việc với Trung Ương Hội Nông Dân Việt Nam ngày 13 tháng 9, 2011, ông Nguyễn Phú Trọng đã nhận xét: “Nhiều khi tôi vẫn nói đùa là ở trên này nghe rất nhiều chuyện đau đầu nhưng về với nông dân là thấy khác. Không phải được tất cả mà cơ bản là được.”
Từ đó mà suy, ông sẽ cho rằng những vụ việc như ở Tiên Lãng, Hải Phòng kia chắc chắn là do các “thế lực thù địch” dàn dựng để bôi xấu chế độ XHCN ưu việt, chứ nông thôn Việt Nam ở “thời đại Hồ Chí Minh” thì “về cơ bản là được,” quyết không thể xảy ra những chuyện động trời như thế.
2. Ông vẫn đang nghiên cứu Luật Ðất Ðai một cách thận trọng, kết quả nghiên cứu thế nào ông sẽ bàn giao cho TBT khóa sau để nghiên cứu tiếp:
Cũng trong buổi làm việc với Trung Ương Hội Nông Dân nói trên, khi đề cập đến các kiến nghị, đề xuất của Hội Nông Dân, ông tổng bí thư khẳng định là có nhiều việc sẽ còn phải nghiên cứu tiếp thu, không thể giải quyết nhanh được. Chẳng hạn, vấn đề sửa Luật Ðất Ðai sẽ cần phải được nghiên cứu thận trọng. Nhiều vấn đề đang còn tranh luận, chẳng hạn, khái niệm về sở hữu toàn dân. Cho dù Quốc Hội đã nhiều lần đề xuất đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhưng thảo luận mãi vẫn chưa chốt lại được.
Khiếu kiện liên quan đến đất đai mới chỉ chiếm 70% số vụ khiếu kiện thôi nhé, chưa việc gì phải cuống quýt lên như thế!
3. Ông không muốn sửa đổi Luật Ðất Ðai, vì sợ “sửa rồi mai kia lại vênh”:
Dự thảo cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH do BCHTW Ðảng khóa X trình Ðại hội Ðảng CSVN lần thứ XI (1/2011) nêu rõ, xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.” Tại đại hội, khi nhiều đại biểu đưa ra ý kiến phản bác “đặc trưng” ấy, và đòi trở về với định nghĩa trong Văn kiện Ðại hội X (2006) là “có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên nền sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” thì ngài GS.TS chuyên ngành “xây dựng đảng” lại biện bạch thế này: “Những vấn đề đã rõ, đã chín, đã được thực tiễn chứng minh là đúng và đã có sự thống nhất tương đối rồi thì hãy sửa. Còn những vấn đề nào chưa đủ rõ, chưa đủ chín, thực tiễn còn đang vận động, ý kiến còn khác nhau thì xin phép chưa sửa đổi, sửa rồi mai kia lại vênh.”
Rõ ràng, với tư cách là người từng đảm trách cương vị chủ tịch Hội Ðồng Lý Luận Trung Ương và giờ đây là tổng bí thư BCHTW đảng, hơn ai hết, ông là người hình dung ra rõ nét nhất hình hài của CNXH ở Việt Nam. Chính vì thế mà ông sợ rằng một khi CNXH đột ngột hiện ra, khiến nhân dân Việt Nam không kịp trở tay, thì Luật Ðất Ðai đã sửa đổi kia sẽ “vênh” với một nguyên lý chủ đạo của CNXH như tổ sư Marx của ông đã từng phán. Và việc ông không muốn sửa đổi Luật Ðất Ðai, hay không muốn sửa đổi Dự thảo Văn kiện Ðại hội XI của đảng như đã nói ở trên, chính là sự thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của một nhà lãnh đạo tài ba xưa nay hiếm. Nếu ai đó nhận định rằng đất nước chúng ta đang đi trên một cỗ xe không phanh với một người lái không biết lùi mà cứ băm băm lao vào một tương lai đầy rủi ro thì hoặc là hàm hồ hoặc là đang “tự diễn biến” đấy.
Hiện nay, khi mà vụ việc ở Tiên Lãng đang khiến cho ý chí của ngay cả một đảng viên trung kiên nhất cũng phải lung lay, khi mà nền kinh tế nước nhà thường xuyên lạm phát vào hàng quán quân Châu Á, khi mà bối cảnh khu vực và thế giới đang biến chuyển nhanh chóng và khó lường, con thuyền đất nước quả rất cần một “người cầm lái vĩ đại” như ông.
Chỉ cần báo chí được tự do
Song Chi/Người Việt
Khi vụ Tiên Lãng qua đi, sẽ có rất nhiều điều để ghi nhớ về sự kiện này. Cho dù ở cái xã hội Việt Nam bát nháo, hỗn loạn như hiện tại, mỗi ngày,
trong khắp mọi lĩnh vực, đều tràn ngập những vụ việc bê bối, sai trái khiến người ta bị bội thực thông tin và rất dễ quên.
Một trong những điều đáng ghi nhớ nhất, dấu son đậm nhất trong vụ Tiên Lãng cho đến nay là vai trò của báo chí truyền thông.
Mọi người đều thấy rõ khi báo chí được “cởi trói” thì hiệu quả sẽ khác hẳn. Từng hành động, phát ngôn sai trái, coi thường pháp luật, nhân dân...
của chính quyền huyện Tiên Lãng và thành phố Hải Phòng cho đến toàn bộ diễn biến của vụ việc được phơi bày.
Nông dân Hưng Yên biểu tình trước trụ sở Ủy Ban Dân Nguyện Quốc Hội Việt Nam tố cáo bị cướp đất đai.
Chỉ cần báo chí Việt Nam được tự do, lập tức hình ảnh và tiếng nói của họ
sẽ tràn ngập trên mặt báo.
(Hình: CAT BARTON/AFP/Getty Images)
Sự thật được phơi bày
Khác với hàng ngàn hàng vạn vụ cưỡng chế đất đai mà người nông dân phải chịu oan ức trong bóng tối, những vụ công an đánh chết người bị chìm xuồng, những vụ án có liên quan đến những người bất đồng chính kiến, hoặc những vụ đàn áp tôn giáo... Ở đây người dân thấp cổ bé miệng là gia đình ông Vươn ông Quý đã có thể lên tiếng trên mặt báo chính thức. Không bị bịt miệng, không bị cắt xén lời nói, bôi nhọ, vu khống...
Những lời nói, việc làm của cả hai bên-người bị cưỡng chế đất và những người thi hành cưỡng chế được đưa ra cho người đọc tự nhận xét, bình luận. Báo chí đã có thể thực hiện phần nào chức năng, vai trò là chỉ phản ánh không gì khác ngoài sự thật và sự thật, được trả lại phần nào “quyền lực thứ tư” của mình.
Ðáng nói hơn là sức mạnh của các diễn đàn độc lập, trang blog cá nhân. Qua vụ Tiên Lãng, chắc chắn sẽ có những người chưa từng đọc blog cũng muốn tìm hiểu thêm kênh thông tin nhạy bén, trung thực này. Và một số trang blog cùng chủ nhân của nó, như trang Anh Ba Sàm, blog Quê Choa của nhà văn Nguyễn Quang Lập, blog Cu Vinh của nhà văn Nguyễn Quang Vinh, blog của Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện... càng thêm nổi tiếng.
Mâu thuẫn về đất đai giữa người nông dân với chính quyền cũng như sự dốt nát, tham lam, tàn ác, trịch thượng, coi thường luật pháp... của một số quan chức huyện Tiên Lãng và thành phố Hải Phòng nói riêng và quan chức Việt Nam nói chung, đều ở mức báo động đỏ.
Ðây chẳng phải lần đầu tiên người dân Việt Nam được nghe/thấy những lời nói, hành vi bộc lộ cái quan trí quá thấp của các quan chức Việt Nam từ cấp huyện, xã cho đến cấp cao nhất, cỡ thủ tướng, chủ tịch nước hay tổng bí thư đảng. Cái kiểu ngồi xổm lên luật pháp, coi nhân dân như trẻ nít, nói lấy được, cãi chầy cãi cối ấy từ lâu đã trở thành thói quen hành xử của rất nhiều quan to quan nhỏ trong hệ thống đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam.
Thế nhưng người dân vẫn “sốc” trước phát ngôn của các quan chức huyện Tiên Lãng và thành phố Hải Phòng. Và ngậm ngùi tự hỏi một bộ máy mà có quá nhiều những con người như vậy ngồi ở những vị trí lãnh đạo thì đất nước này không đi xuống hố mới là lạ.
Vụ Tiên Lãng cũng được coi như một vụ PR chính trị thành công nhất từ trước đến nay của ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng kể từ khi lên nắm chính quyền. Nếu không kể những sự hoài nghi của người dân vẫn còn đâu đó và những lời bàn của đám dân báo rỗi chuyện, chế diễu cái hệ thống chính trị, luật pháp lẫn tư pháp ở Việt Nam đã tạo điều kiện cho ông thủ tướng nhúng tay vào một vụ việc cấp huyện để nhân đó đánh bóng cho cá nhân!
Những tưởng sau bản kết luận của ông thủ tướng mọi chuyện sẽ êm xuôi. Nhưng chính quyền thành phố Hải Phòng vẫn chưa chịu thua.
Phát biểu của ông bí thư thành ủy Hải Phòng Nguyễn Văn Thành trong buổi nói chuyện liên quan tới “vụ việc Tiên Lãng” ngày 17 tháng 2, trước khoảng 500 cán bộ hưu trí trung, cao cấp tại câu lạc bộ Bạch Ðằng, Hải Phòng là một ví dụ.
Nhiều người cho rằng vụ Tiên Lãng không đơn giản. Thường ở VN khi một vụ nào đó mà báo chí được “bật đèn xanh” cũng là có lý do cả. Phía sau là những mâu thuẫn đấu đá dữ dội trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam- giữa các cá nhân, phe phái trong “triều đình”, giữa trung ương và địa phương. Những dấu hiệu rạn vỡ của chế độ cũng ngày càng rõ. Khi ngay cả lời nói của một ông thủ tướng hám quyền lực và có nhiều quyền lực như Nguyễn Tấn Dũng cũng bị một bí thư thành phố lật ngược, không nể nang.
Cũng đã có người cảnh báo các nhà báo, blogger, người dân hãy cẩn thận coi chừng một sự trở cờ lật ngược tình thế như vụ PMU18 trước đây. Bởi phải có lực lượng nào đó chống lưng thì Hải Phòng mà cụ thể là ông Bí thư Thành mới dám phát ngôn trái với kết luận của ông thủ tướng.
Sự im lặng của các ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng... cũng khiến dư luận thắc mắc. Phải chăng có những sự “khó nói” nào đó và chỗ chống lưng cho chính quyền thành phố Hải Phòng là từ một trong những vị này.
Nhưng vụ Tiên Lãng nếu muốn lật ngược dư luận e cũng khó. Ðất đai là chuyện ảnh hưởng tới nông dân, mà tỷ lệ dân số nông thôn ở Việt Nam vẫn đang chiếm hơn 70% dân số cả nước. Những sai lầm, bất cập trong trong chính sách đất đai của nhà nước Việt Nam từ bao lâu nay và trong vụ Tiên Lãng, đã quá rõ ràng.
Thời buổi bây giờ chẳng phải như ngày xưa nữa. Vụ phát biểu của ông bí thư thành ủy Hải Phòng nói trên cũng vậy.
Dù ông chủ tịch CLB Bạch Ðằng Trần Văn Thức đã có bản báo cáo bênh vực “khẳng định những thông báo của đồng chí bí thư thành ủy không có gì trái với kết luận của thủ tướng chính phủ và kết luận của ban thường vụ thành ủy...” Gần như phủ nhận toàn bộ nội dung lá thư kiến nghị gửi lên các lãnh đạo đảng vả nhà nước của một số cán bộ lão thành, thành viên CLB về phát biểu của ông Nguyễn Văn Thành trước đó. Ngay lập tức, một số tờ báo và trang blog đã đưa lên mạng video clip phát biểu của ông Thành. Rành rành hết chối cãi.
Cái may mắn cho người dân sống trong những chế độ độc tài thời bây giờ là như vậy. Bất cứ ai, chỉ cần một cái điện thoại là cũng có thể quay phim, thu âm, trở thành nhân chứng đồng thời là nhà báo. Chỉ trừ khi Việt Nam quay ngược lại trở thành Bắc Hàn, đóng cửa với cả thế giới.
Ðó là khi báo chí chỉ mới phần nào được thực hiện đúng vai trò của mình. Còn nếu Quốc Hội, tòa án, chính phủ thực sự là những cơ quan độc lập kiểm soát lẫn nhau như các nước có hệ thống dân chủ tam quyền phân lập thì mọi chuyện càng rõ ràng, minh bạch. Chuyện chống tham nhũng không còn là bất khả như từ bao lâu nay.
Và những con người bất tài coi thường luật pháp, nhân dân như các ông Lê Văn Hiền - chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng, Lê Thanh Liêm - chủ tịch UBND xã Vinh Quang, Ngô Ngọc Khánh - chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng, Ðỗ Trung Thoại - phó chủ tịch UBND TP. Hải Phòng, Ðại Tá Ðỗ Hữu Ca - giám đốc công an TP. Hải Phòng và bây giờ là Nguyễn Văn Thành, bí thư thành ủy Hải Phòng... Sẽ không còn có thể leo lên những vị trí như đang ngồi hoặc sẽ nhanh chóng buộc phải từ chức.
Ðứng về phía nhà nước Việt Nam, nếu để cho báo chí được tự do hơn, chính báo chí và công luận sẽ hỗ trợ họ đắc lực trong việc chống tham nhũng, làm sạch bộ máy chính quyền. Loại ra những con sâu mọt hại dân hại nước và hại cho chính cái chế độ của họ, chứ chả phải lực lượng thù địch nào.
Ðồng thời nhà nước Việt Nam cũng không còn mang tiếng xấu là một trong những nhà nước độc tài kẻ thù của Internet, với chế độ kiểm duyệt báo chí khắt khe, với số nhà báo, blogger, luật sư, bác sĩ, doanh nhân... bị bắt chỉ vì thực hiện quyền tự do ngôn luận ngày càng nhiều.
Nhưng đó chỉ là nói cho vui. Họ không thể trao cho báo chí và nhân dân quyền tự do ngôn luận bởi một khi người dân được sống trong một xã hội tự do thông tin, họ sẽ nhận ra sự khác biệt và ích lợi, từ đó dẫn đến sự khao khát được sống trong một xã hội tự do, dân chủ về mọi mặt. Là điều mà mọi chế độ độc tài sợ hãi nhất.
Cái quyền ấy tự các nhà báo và nhân dân phải giành lấy cho mình. Như trong vụ Tiên Lãng vừa qua.
Song Chi/Người Việt
Khi vụ Tiên Lãng qua đi, sẽ có rất nhiều điều để ghi nhớ về sự kiện này. Cho dù ở cái xã hội Việt Nam bát nháo, hỗn loạn như hiện tại, mỗi ngày,
trong khắp mọi lĩnh vực, đều tràn ngập những vụ việc bê bối, sai trái khiến người ta bị bội thực thông tin và rất dễ quên.
Một trong những điều đáng ghi nhớ nhất, dấu son đậm nhất trong vụ Tiên Lãng cho đến nay là vai trò của báo chí truyền thông.
Mọi người đều thấy rõ khi báo chí được “cởi trói” thì hiệu quả sẽ khác hẳn. Từng hành động, phát ngôn sai trái, coi thường pháp luật, nhân dân...
của chính quyền huyện Tiên Lãng và thành phố Hải Phòng cho đến toàn bộ diễn biến của vụ việc được phơi bày.
Nông dân Hưng Yên biểu tình trước trụ sở Ủy Ban Dân Nguyện Quốc Hội Việt Nam tố cáo bị cướp đất đai.
Chỉ cần báo chí Việt Nam được tự do, lập tức hình ảnh và tiếng nói của họ
sẽ tràn ngập trên mặt báo.
(Hình: CAT BARTON/AFP/Getty Images)
Sự thật được phơi bày
Khác với hàng ngàn hàng vạn vụ cưỡng chế đất đai mà người nông dân phải chịu oan ức trong bóng tối, những vụ công an đánh chết người bị chìm xuồng, những vụ án có liên quan đến những người bất đồng chính kiến, hoặc những vụ đàn áp tôn giáo... Ở đây người dân thấp cổ bé miệng là gia đình ông Vươn ông Quý đã có thể lên tiếng trên mặt báo chính thức. Không bị bịt miệng, không bị cắt xén lời nói, bôi nhọ, vu khống...
Những lời nói, việc làm của cả hai bên-người bị cưỡng chế đất và những người thi hành cưỡng chế được đưa ra cho người đọc tự nhận xét, bình luận. Báo chí đã có thể thực hiện phần nào chức năng, vai trò là chỉ phản ánh không gì khác ngoài sự thật và sự thật, được trả lại phần nào “quyền lực thứ tư” của mình.
Ðáng nói hơn là sức mạnh của các diễn đàn độc lập, trang blog cá nhân. Qua vụ Tiên Lãng, chắc chắn sẽ có những người chưa từng đọc blog cũng muốn tìm hiểu thêm kênh thông tin nhạy bén, trung thực này. Và một số trang blog cùng chủ nhân của nó, như trang Anh Ba Sàm, blog Quê Choa của nhà văn Nguyễn Quang Lập, blog Cu Vinh của nhà văn Nguyễn Quang Vinh, blog của Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện... càng thêm nổi tiếng.
Mâu thuẫn về đất đai giữa người nông dân với chính quyền cũng như sự dốt nát, tham lam, tàn ác, trịch thượng, coi thường luật pháp... của một số quan chức huyện Tiên Lãng và thành phố Hải Phòng nói riêng và quan chức Việt Nam nói chung, đều ở mức báo động đỏ.
Ðây chẳng phải lần đầu tiên người dân Việt Nam được nghe/thấy những lời nói, hành vi bộc lộ cái quan trí quá thấp của các quan chức Việt Nam từ cấp huyện, xã cho đến cấp cao nhất, cỡ thủ tướng, chủ tịch nước hay tổng bí thư đảng. Cái kiểu ngồi xổm lên luật pháp, coi nhân dân như trẻ nít, nói lấy được, cãi chầy cãi cối ấy từ lâu đã trở thành thói quen hành xử của rất nhiều quan to quan nhỏ trong hệ thống đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam.
Thế nhưng người dân vẫn “sốc” trước phát ngôn của các quan chức huyện Tiên Lãng và thành phố Hải Phòng. Và ngậm ngùi tự hỏi một bộ máy mà có quá nhiều những con người như vậy ngồi ở những vị trí lãnh đạo thì đất nước này không đi xuống hố mới là lạ.
Vụ Tiên Lãng cũng được coi như một vụ PR chính trị thành công nhất từ trước đến nay của ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng kể từ khi lên nắm chính quyền. Nếu không kể những sự hoài nghi của người dân vẫn còn đâu đó và những lời bàn của đám dân báo rỗi chuyện, chế diễu cái hệ thống chính trị, luật pháp lẫn tư pháp ở Việt Nam đã tạo điều kiện cho ông thủ tướng nhúng tay vào một vụ việc cấp huyện để nhân đó đánh bóng cho cá nhân!
Những tưởng sau bản kết luận của ông thủ tướng mọi chuyện sẽ êm xuôi. Nhưng chính quyền thành phố Hải Phòng vẫn chưa chịu thua.
Phát biểu của ông bí thư thành ủy Hải Phòng Nguyễn Văn Thành trong buổi nói chuyện liên quan tới “vụ việc Tiên Lãng” ngày 17 tháng 2, trước khoảng 500 cán bộ hưu trí trung, cao cấp tại câu lạc bộ Bạch Ðằng, Hải Phòng là một ví dụ.
Nhiều người cho rằng vụ Tiên Lãng không đơn giản. Thường ở VN khi một vụ nào đó mà báo chí được “bật đèn xanh” cũng là có lý do cả. Phía sau là những mâu thuẫn đấu đá dữ dội trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam- giữa các cá nhân, phe phái trong “triều đình”, giữa trung ương và địa phương. Những dấu hiệu rạn vỡ của chế độ cũng ngày càng rõ. Khi ngay cả lời nói của một ông thủ tướng hám quyền lực và có nhiều quyền lực như Nguyễn Tấn Dũng cũng bị một bí thư thành phố lật ngược, không nể nang.
Cũng đã có người cảnh báo các nhà báo, blogger, người dân hãy cẩn thận coi chừng một sự trở cờ lật ngược tình thế như vụ PMU18 trước đây. Bởi phải có lực lượng nào đó chống lưng thì Hải Phòng mà cụ thể là ông Bí thư Thành mới dám phát ngôn trái với kết luận của ông thủ tướng.
Sự im lặng của các ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng... cũng khiến dư luận thắc mắc. Phải chăng có những sự “khó nói” nào đó và chỗ chống lưng cho chính quyền thành phố Hải Phòng là từ một trong những vị này.
Nhưng vụ Tiên Lãng nếu muốn lật ngược dư luận e cũng khó. Ðất đai là chuyện ảnh hưởng tới nông dân, mà tỷ lệ dân số nông thôn ở Việt Nam vẫn đang chiếm hơn 70% dân số cả nước. Những sai lầm, bất cập trong trong chính sách đất đai của nhà nước Việt Nam từ bao lâu nay và trong vụ Tiên Lãng, đã quá rõ ràng.
Thời buổi bây giờ chẳng phải như ngày xưa nữa. Vụ phát biểu của ông bí thư thành ủy Hải Phòng nói trên cũng vậy.
Dù ông chủ tịch CLB Bạch Ðằng Trần Văn Thức đã có bản báo cáo bênh vực “khẳng định những thông báo của đồng chí bí thư thành ủy không có gì trái với kết luận của thủ tướng chính phủ và kết luận của ban thường vụ thành ủy...” Gần như phủ nhận toàn bộ nội dung lá thư kiến nghị gửi lên các lãnh đạo đảng vả nhà nước của một số cán bộ lão thành, thành viên CLB về phát biểu của ông Nguyễn Văn Thành trước đó. Ngay lập tức, một số tờ báo và trang blog đã đưa lên mạng video clip phát biểu của ông Thành. Rành rành hết chối cãi.
Cái may mắn cho người dân sống trong những chế độ độc tài thời bây giờ là như vậy. Bất cứ ai, chỉ cần một cái điện thoại là cũng có thể quay phim, thu âm, trở thành nhân chứng đồng thời là nhà báo. Chỉ trừ khi Việt Nam quay ngược lại trở thành Bắc Hàn, đóng cửa với cả thế giới.
Ðó là khi báo chí chỉ mới phần nào được thực hiện đúng vai trò của mình. Còn nếu Quốc Hội, tòa án, chính phủ thực sự là những cơ quan độc lập kiểm soát lẫn nhau như các nước có hệ thống dân chủ tam quyền phân lập thì mọi chuyện càng rõ ràng, minh bạch. Chuyện chống tham nhũng không còn là bất khả như từ bao lâu nay.
Và những con người bất tài coi thường luật pháp, nhân dân như các ông Lê Văn Hiền - chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng, Lê Thanh Liêm - chủ tịch UBND xã Vinh Quang, Ngô Ngọc Khánh - chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng, Ðỗ Trung Thoại - phó chủ tịch UBND TP. Hải Phòng, Ðại Tá Ðỗ Hữu Ca - giám đốc công an TP. Hải Phòng và bây giờ là Nguyễn Văn Thành, bí thư thành ủy Hải Phòng... Sẽ không còn có thể leo lên những vị trí như đang ngồi hoặc sẽ nhanh chóng buộc phải từ chức.
Ðứng về phía nhà nước Việt Nam, nếu để cho báo chí được tự do hơn, chính báo chí và công luận sẽ hỗ trợ họ đắc lực trong việc chống tham nhũng, làm sạch bộ máy chính quyền. Loại ra những con sâu mọt hại dân hại nước và hại cho chính cái chế độ của họ, chứ chả phải lực lượng thù địch nào.
Ðồng thời nhà nước Việt Nam cũng không còn mang tiếng xấu là một trong những nhà nước độc tài kẻ thù của Internet, với chế độ kiểm duyệt báo chí khắt khe, với số nhà báo, blogger, luật sư, bác sĩ, doanh nhân... bị bắt chỉ vì thực hiện quyền tự do ngôn luận ngày càng nhiều.
Nhưng đó chỉ là nói cho vui. Họ không thể trao cho báo chí và nhân dân quyền tự do ngôn luận bởi một khi người dân được sống trong một xã hội tự do thông tin, họ sẽ nhận ra sự khác biệt và ích lợi, từ đó dẫn đến sự khao khát được sống trong một xã hội tự do, dân chủ về mọi mặt. Là điều mà mọi chế độ độc tài sợ hãi nhất.
Cái quyền ấy tự các nhà báo và nhân dân phải giành lấy cho mình. Như trong vụ Tiên Lãng vừa qua.
Miệng Lưỡi Nguyễn Thanh Sơn
Phạm Trần
Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam Ở Nước ngoài (NVNONN) nhìn nhận với Báo Điện tử Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam rằng công tác “biến” kiều bào thành “bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam, bà con phải là bộ phận được Nhà nước bảo hộ như đối với người trong nước” chưa thành công sau 8 năm thi hành Nghị quyết 36 về “công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.”
Sơn nói: “Công tác nắm tình hình ở nhiều địa bàn chưa sâu, chưa có biện pháp hữu hiệu trong việc củng cố các hội đoàn tích cực, phát triển lực lượng nòng cốt làm cơ sở để vận động tập hợp kiều bào. Chưa mạnh dạn mở rộng diện tiếp xúc, đấu tranh trực diện với một số đối tượng có các hoạt động đi ngược lại lợi ích của cộng đồng và đất nước.
Công tác thông tin, tuyên truyền đối với cộng đồng NVNONN tiếp tục được đẩy mạnh hơn so với trước, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn và đa dạng của kiều bào.” (Báo điện tử ĐCSVN, 20-01-2012)
Tại sao như thế ?
Ông Nguyễn Di Niên, nguyên Bộ trưởng Ngọai giao là người có nhiều công trong việc hình thành Nghị quyết 36 giải thích với Báo Việt Nam Net ngày 23/01/2012 : “ Cái quan trọng nhất là làm thế nào để sự phân biệt giảm đi và người trong nước phải gần gũi hơn, chìa bàn tay ra để kéo lại. Như chuyện anh muốn vỗ tay thì phải vỗ bằng hai tay, chứ không thể một tay. Nó phải từ hai phía. Hai phía phải tìm cách để cùng gặp nhau. Cần thúc đẩy, làm mạnh hơn như tạo điều kiện cho kiều bào đầu tư rộng rãi hơn.”
Ông Niên nhìn nhận con đường kéo được người Việt ở nước ngòai về hợp tác với Nhà nước CSVN còn dài.
Ông nói : “Gần tròn 10 năm thực hiện Nghị quyết, nhìn lại, không thể phủ nhận đã có những bước rất tốt nhưng đoạn đường còn phải đi tiếp vẫn dài lắm. Nhưng sau 10 năm thì thực tiễn cũng cho thấy cần những đổi mới, bổ sung trong triển khai trên thực tế, có những điều phải sửa, phải chấn chỉnh và quyết liệt hơn.”
Nhưng phải đổi mới như thế nào để cho người Việt xa quê hương và bất đồng chính kiến với đảng CSVN có thể chấp nhận ngồi chung một bàn làm việc với nhau để xây dựng đất nước chứ không phải cứ mãi nghêng ngang thái độ “muốn về thì phải làm theo lệnh chúng tao” như vẫn đang nuôi trong nhiều cái đầu hủ bại ở Việt Nam, dù trình độ và khả năng không bằng ai.
Vì vậy Lãnh đạo đảng, nhà nước và Nguyễn Thanh Sơn hãy vảnh tai ra mà nghe Giáo sư Nguyễn Quốc Vọng thuộc Đại học danh tiếng Kỹ thuật và Thiết kế RMIT của Úc Đại Lợi giải thích tại sao cho đến nay vẫn có rất ít trí thức Việt kiều trở về nước phục vụ ?
Ông nói: “Qua thực tiễn 2 năm trở về nước được làm việc, tôi thấy có những nguyên nhân chính sau đây:
- Việt Nam chưa thực sự thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa khoa học kỹ thuật và phát triển kinh tế, nên một số chính sách và cơ chế để thu hút trí thức không được nghiêm chỉnh thực hiện. Một khi trí thức trong nước chưa được sử dụng đúng mức thì việc trở về của trí thức Việt kiều sẽ không bao giờ xảy ra vì họ đang được làm việc trong điều kiện tốt nhất của nước sở tại;
- Chưa làm tốt việc cung cấp thông tin về những vấn đề nhạy cảm (ví dụ như biên giới biển đảo, Hoàng Sa Trường Sa, quặng mỏ bauxit Tây Nguyên...) nên trí thức Việt kiều không thấy được Việt Nam đã có sự thay đổi, tiến bộ về mặt dân chủ, phản biện, tự do tôn giáo, từ đó đâm ra hoang mang, lo sợ… không muốn trở về nước;
- Chưa có đầu mối để tìm tòi, liên lạc, mời gọi… do chính trí thức Việt kiều đảm trách vì trong hàng trăm, hàng ngàn công nghệ cao của thế giới, phải là người có kiến thức mới có thể lựa chọn những công nghệ tốt nhất, thích hơp nhất và có lợi nhất cho đất nước;
- Thủ tục giấy tờ về nước phải thông qua nhiều Bộ ngành nên rất rườm rà, mất thời gian;
- Tinh thần “vọng ngoại” của một số ít người trong nước vẫn thích “mắt xanh mũi lõ” dù rằng có nhiều khi “mắt xanh mũi lõ” lại ở trình độ khoa học kỹ thuật thấp hơn, không hiểu Việt Nam hơn trí thức Việt kiều;
- Tính “địa phương” và “trong ngoài” còn khá phổ biến, môi trường làm việc dựa nhiều vào cảm tính nên nhiều khi không công bằng, thiếu tin tưởng làm trí thức Việt kiều trở thành những thứ trang trí, không có thực quyền và cơ hội đóng góp sở trường khoa học kỹ thuật của mình.
Giáo sư Vọng kết luận bài viết của ông trên Tạp chí Tia Sáng (Bộ Khoa học và Công nghệ) ngày 07/09/2010 : “Từ những năm 1970 Hàn Quốc đã mạnh dạn triển khai chính sách mời gọi trí thức Hàn kiều ở Mỹ trở về đóng góp. Ba mươi năm sau Hàn Quốc vươn lên trở thành nền kinh tế thứ 13 của thế giới. Cũng thế Trung Quốc đã ứng dụng chính sách ưu đãi mời gọi trí thức Hoa kiều, và họ cũng đã tiến rất nhanh trong công cuộc hiện đại hoá công nghiệp hoá đất nước, trở thành nền kinh tế thứ ba trên thế giới. Chỉ có Việt Nam, đã hơn ba mươi năm sau ngày giải phóng, mà vẫn còn loay hoay mãi với câu hỏi về trí thức Việt kiều.”
Như thế đã đủ chưa hay cần phải có thêm người viết ra những tư duy bảo thủ, lạc hậu và chậm tiến hơn của những người có trách nhiệm nhưng không thật lòng, che dấu sự thật, hành động láu cá láu tôm trong cư xử, kỳ thị, nghi ngờ giữa người trong và kẻ ngòai đảng thì mới thấy được hết mặt trái của những lời mời gọi trí thức hải ngoại về giúp nước ?
Đấy là nói về mặt giáo dục và khoa học. Còn mặt chính trị đã nhích được bước nào chưa hay thái độ “kẻ thắng” phải là người duy nhất có tòan quyền sinh sát vận mệnh của đất nước, dân tộc là kim chỉ nam cho mọi hành động không bao giờ thay đổi của đảng CSVN ?
Thái độ này do chính Nguyễn Thanh Sơn viết trong Báo Quân đội Nhân dân ngày 12/09/2011: “Các cơ quan đại diện (của Chính phủ ở nước ngòai) cần mạnh dạn mở rộng diện tiếp xúc cộng đồng, kết hợp công tác vận động cộng đồng với vận động chính quyền, bạn bè sở tại nhằm phân hóa cô lập các phần tử cực đoan. Đồng thời, tăng cường phối hợp với các cơ quan liên quan, chủ động trong công tác đấu tranh với các phần tử lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá đất nước.”
Giấc mơ hão huyền muốn cô lập cộng đồng người Việt ở nước ngòai bằng thủ đọan chính trị ấu trĩ này chỉ chuốc lấy thất bại vì nhà nước CSVN không có khả năng “phân hoá cô lập” những người chống chính sách và đường lối cai trị độc tài, độc đảng, đòi dân chủ và các quyền tự do đã quy định trong 4 bản Hiến pháp từ 1946 đến 1992.
NGƯỢC DÒNG THỜI GIAN
Thái độ hằn học và xuyên tạc lập trường của người Việt chống chính quyền CSVN của Sơn không mới, dù người chống luôn luôn bị vu khống “chống phá đất nước” và “nhân dân ta” thay vì chống chủ trương và chính sách cai trị phi dân chủ, độc quyền và độc đảng của những người vẫn còn lạc hậu bám vào chủ nghĩa phá sản Mác-Lênin.
Hãy đọc cuộc đối thọai giữa Sơn và Minh Hòa của Đài Tiếng Nói Việt Nam ngày 02/11/2010 :
PV: Thưa Thứ trưởng, được biết là ông sẽ đích thân có các cuộc gặp gỡ các phần tử đi ngược lại các lợi ích của dân tộc. Xin ông cho biết cụ thể các cuộc gặp đã được tiến hành như thế nào?
Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn: Trong quá trình quá trình hòa giải, hòa hợp dân tộc, chúng ta không muốn đặt các tổ chức, cá nhân này ra khỏi vị trí với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vì chúng ta muốn cảm hóa họ, cùng họ nhìn nhận một cách khách quan thực chất phát triển của đất nước, nhìn nhận khách quan vị thế phát triển của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Những người này có thể ra đi bằng nhiều con đường khác nhau, họ được tuyên truyền về những nỗi kinh hoàng không có hoặc không tưởng, họ bị nhồi nhét vào đầu quá nhiều những tư tưởng hận thù… “
“…Hiện nay, còn lại bộ phận không nhiều những người đi ngược lại lợi ích dân tộc và họ càng bị phân hóa, bị yếu đi bởi khi chúng ta tổ chức càng nhiều hoạt động ở trong và ngoài nước, bà con càng có nhiều thông tin, càng hướng về quê hương đất nước, hiểu về quê hương đất nước thì càng không tin họ. Chính vì vậy, số lượng dù còn ít nhưng họ lại rất quyết liệt, kiên quyết chống phá chúng ta vì họ đang hoảng loạn trước nguồn cung cấp tài chính của quốc gia sở tại và chính vị thế và uy tín của họ đang bị giảm sút.
Không có lý gì mà chúng ta không giành thế chủ động, chìa bàn tay với những người còn hiểu lầm về đất nước, còn mơ hồ về việc họ có thể lật đổ chế độ chúng ta. Chúng tôi đã quyết định có đoàn liên ngành cùng với các cơ quan báo chí trong nước đi công khai, gặp gỡ những phần tử còn chống đối quyết liệt nhất, cố tình không hiểu tình hình trong nước. Chúng tôi đã nêu công khai với Đại sứ quán Mỹ, thông qua cơ quan đại diện Ngoại giao ở các quốc gia như Mỹ, Canada... để có thông tin đến các tổ chức, cá nhân này. Họ rất bất ngờ trước kế hoạch này và lúng túng, cố tình không gặp.
Khi nào họ thực sự muốn gặp công khai như họ nói (nhưng thực ra khi yêu cầu gặp công khai họ lại không dám gặp), thì chúng tôi sẽ sẵn sàng gặp. Chúng tôi đang muốn gặp họ công khai với sự chứng kiến của phóng viên trong và ngoài nước, bà con kiều bào để tìm hiểu xem vì sao họ còn hận thù với đất nước. Và cũng để họ hiểu rõ rằng, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn mở rộng vòng tay đối với họ, nếu họ thực sự muốn hướng về Tổ quốc, mang lại lợi ích cho cộng đồng và cho đất nước.”
Có lẽ Sơn phải là người hiểu rõ tại sao nhà nước Việt Nam đã thất bại trong kế họach không thật lòng này mới đúng. Lý do vì đảng CSVN chỉ muốn “hòa hợp” mà không muốn “hòa giải”. Nhà nước chỉ muốn “hội nhập” mà không muốn bị “hòa tan”, chủ trương “đổi mới” mà kiên quyết “không đổi màu” thì lập trường này chỉ gây chia rẽ và khơi rộng thêm vết thương dân tộc.
Trả lời câu hỏi : “Qua một số kênh báo chí quốc tế, một số đối tượng Việt Nam ở nước ngoài phản ánh về việc khó khăn trong xin visa về nước. Xin ông cho biết đối tượng nào không được giải quyết và chúng ta có công bố rõ ràng không?
Sơn đáp: “ Trước hết, những đối tượng bị cấm nhập cảnh Việt Nam, chúng ta đã có danh sách cụ thể. Đó là những đối tượng công khai tham gia các tổ chức hoạt động chống lại Chính phủ và Nhà nước Việt Nam với âm mưu lật đổ chính quyền. Phần lớn đây là những người chủ chốt, cầm đầu các Đảng phái phản động đang tìm cách chống đối lại chúng ta, đi ngược lại với lợi ích nhân dân. Chúng tôi đã phối hợp với các cơ quan chức năng ở nước ngoài nắm danh sách cụ thể của từng người.
Số còn lại không nằm trong danh sách chủ chốt, chúng ta vẫn cho về bình thường, để họ khỏi không thể bao biện rằng Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền hay cư trú đi lại. Con số này chúng ta cũng đã có con số thống kê chính xác và biết rõ họ về nước làm gì.
Có thể khẳng định, số người đến cơ quan đại diện nhận được visa hoặc không nhận được visa là do có tham gia hay không vào các tổ chức phản động chống phá đất nước. Còn tất cả các công dân làm ăn sinh sống bình thường ở nước ngoài, trở về nước hết sức dễ dàng vì đã có quy định của Thủ tướng năm 2007 là miễn visa cho những người còn hộ chiếu Việt Nam….”
Như thế rõ ràng là Nguyễn Thanh Sơn đã nhìn nhận có đối lập chính trị với đảng CSVN trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngòai và cả với một số không nhỏ người ở trong nước. Nhưng nếu đảng và nhà nước chỉ muốn thi hành Nghị quyết 36 để đem lợi cho mình và buộc những người bất đồng chính kiến với mình phải “đầu hàng” vô điều kiện thì qủa thật những người cầm đầu đảng đã chũi đầu xuống cát.
Và đây cũng là lý do tại sao đảng đã mất 13 năm xây dựng, chỉnh đốn đảng mà tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” , “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” lại lan rộng và nhanh trong cán bộ, đảng viên.
Vậy miệng lưỡi Nguyễn Thanh Sơn có còn cần cho công tác thi hành Nghị quyết 36 nữa không hay chính những cán bộ có trách nhiệm đưa Nghị quyết này đến thành công cũng đã “tự biến” từ trong đầu, nói chi đến một vài “Việt kiều” đang xum xoe làm cái việc cong lưng “bắc cầu” cho Sơn qua sông?
Phạm Trần
Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam Ở Nước ngoài (NVNONN) nhìn nhận với Báo Điện tử Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam rằng công tác “biến” kiều bào thành “bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam, bà con phải là bộ phận được Nhà nước bảo hộ như đối với người trong nước” chưa thành công sau 8 năm thi hành Nghị quyết 36 về “công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.”
Sơn nói: “Công tác nắm tình hình ở nhiều địa bàn chưa sâu, chưa có biện pháp hữu hiệu trong việc củng cố các hội đoàn tích cực, phát triển lực lượng nòng cốt làm cơ sở để vận động tập hợp kiều bào. Chưa mạnh dạn mở rộng diện tiếp xúc, đấu tranh trực diện với một số đối tượng có các hoạt động đi ngược lại lợi ích của cộng đồng và đất nước.
Công tác thông tin, tuyên truyền đối với cộng đồng NVNONN tiếp tục được đẩy mạnh hơn so với trước, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn và đa dạng của kiều bào.” (Báo điện tử ĐCSVN, 20-01-2012)
Tại sao như thế ?
Ông Nguyễn Di Niên, nguyên Bộ trưởng Ngọai giao là người có nhiều công trong việc hình thành Nghị quyết 36 giải thích với Báo Việt Nam Net ngày 23/01/2012 : “ Cái quan trọng nhất là làm thế nào để sự phân biệt giảm đi và người trong nước phải gần gũi hơn, chìa bàn tay ra để kéo lại. Như chuyện anh muốn vỗ tay thì phải vỗ bằng hai tay, chứ không thể một tay. Nó phải từ hai phía. Hai phía phải tìm cách để cùng gặp nhau. Cần thúc đẩy, làm mạnh hơn như tạo điều kiện cho kiều bào đầu tư rộng rãi hơn.”
Ông Niên nhìn nhận con đường kéo được người Việt ở nước ngòai về hợp tác với Nhà nước CSVN còn dài.
Ông nói : “Gần tròn 10 năm thực hiện Nghị quyết, nhìn lại, không thể phủ nhận đã có những bước rất tốt nhưng đoạn đường còn phải đi tiếp vẫn dài lắm. Nhưng sau 10 năm thì thực tiễn cũng cho thấy cần những đổi mới, bổ sung trong triển khai trên thực tế, có những điều phải sửa, phải chấn chỉnh và quyết liệt hơn.”
Nhưng phải đổi mới như thế nào để cho người Việt xa quê hương và bất đồng chính kiến với đảng CSVN có thể chấp nhận ngồi chung một bàn làm việc với nhau để xây dựng đất nước chứ không phải cứ mãi nghêng ngang thái độ “muốn về thì phải làm theo lệnh chúng tao” như vẫn đang nuôi trong nhiều cái đầu hủ bại ở Việt Nam, dù trình độ và khả năng không bằng ai.
Vì vậy Lãnh đạo đảng, nhà nước và Nguyễn Thanh Sơn hãy vảnh tai ra mà nghe Giáo sư Nguyễn Quốc Vọng thuộc Đại học danh tiếng Kỹ thuật và Thiết kế RMIT của Úc Đại Lợi giải thích tại sao cho đến nay vẫn có rất ít trí thức Việt kiều trở về nước phục vụ ?
Ông nói: “Qua thực tiễn 2 năm trở về nước được làm việc, tôi thấy có những nguyên nhân chính sau đây:
- Việt Nam chưa thực sự thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa khoa học kỹ thuật và phát triển kinh tế, nên một số chính sách và cơ chế để thu hút trí thức không được nghiêm chỉnh thực hiện. Một khi trí thức trong nước chưa được sử dụng đúng mức thì việc trở về của trí thức Việt kiều sẽ không bao giờ xảy ra vì họ đang được làm việc trong điều kiện tốt nhất của nước sở tại;
- Chưa làm tốt việc cung cấp thông tin về những vấn đề nhạy cảm (ví dụ như biên giới biển đảo, Hoàng Sa Trường Sa, quặng mỏ bauxit Tây Nguyên...) nên trí thức Việt kiều không thấy được Việt Nam đã có sự thay đổi, tiến bộ về mặt dân chủ, phản biện, tự do tôn giáo, từ đó đâm ra hoang mang, lo sợ… không muốn trở về nước;
- Chưa có đầu mối để tìm tòi, liên lạc, mời gọi… do chính trí thức Việt kiều đảm trách vì trong hàng trăm, hàng ngàn công nghệ cao của thế giới, phải là người có kiến thức mới có thể lựa chọn những công nghệ tốt nhất, thích hơp nhất và có lợi nhất cho đất nước;
- Thủ tục giấy tờ về nước phải thông qua nhiều Bộ ngành nên rất rườm rà, mất thời gian;
- Tinh thần “vọng ngoại” của một số ít người trong nước vẫn thích “mắt xanh mũi lõ” dù rằng có nhiều khi “mắt xanh mũi lõ” lại ở trình độ khoa học kỹ thuật thấp hơn, không hiểu Việt Nam hơn trí thức Việt kiều;
- Tính “địa phương” và “trong ngoài” còn khá phổ biến, môi trường làm việc dựa nhiều vào cảm tính nên nhiều khi không công bằng, thiếu tin tưởng làm trí thức Việt kiều trở thành những thứ trang trí, không có thực quyền và cơ hội đóng góp sở trường khoa học kỹ thuật của mình.
Giáo sư Vọng kết luận bài viết của ông trên Tạp chí Tia Sáng (Bộ Khoa học và Công nghệ) ngày 07/09/2010 : “Từ những năm 1970 Hàn Quốc đã mạnh dạn triển khai chính sách mời gọi trí thức Hàn kiều ở Mỹ trở về đóng góp. Ba mươi năm sau Hàn Quốc vươn lên trở thành nền kinh tế thứ 13 của thế giới. Cũng thế Trung Quốc đã ứng dụng chính sách ưu đãi mời gọi trí thức Hoa kiều, và họ cũng đã tiến rất nhanh trong công cuộc hiện đại hoá công nghiệp hoá đất nước, trở thành nền kinh tế thứ ba trên thế giới. Chỉ có Việt Nam, đã hơn ba mươi năm sau ngày giải phóng, mà vẫn còn loay hoay mãi với câu hỏi về trí thức Việt kiều.”
Như thế đã đủ chưa hay cần phải có thêm người viết ra những tư duy bảo thủ, lạc hậu và chậm tiến hơn của những người có trách nhiệm nhưng không thật lòng, che dấu sự thật, hành động láu cá láu tôm trong cư xử, kỳ thị, nghi ngờ giữa người trong và kẻ ngòai đảng thì mới thấy được hết mặt trái của những lời mời gọi trí thức hải ngoại về giúp nước ?
Đấy là nói về mặt giáo dục và khoa học. Còn mặt chính trị đã nhích được bước nào chưa hay thái độ “kẻ thắng” phải là người duy nhất có tòan quyền sinh sát vận mệnh của đất nước, dân tộc là kim chỉ nam cho mọi hành động không bao giờ thay đổi của đảng CSVN ?
Thái độ này do chính Nguyễn Thanh Sơn viết trong Báo Quân đội Nhân dân ngày 12/09/2011: “Các cơ quan đại diện (của Chính phủ ở nước ngòai) cần mạnh dạn mở rộng diện tiếp xúc cộng đồng, kết hợp công tác vận động cộng đồng với vận động chính quyền, bạn bè sở tại nhằm phân hóa cô lập các phần tử cực đoan. Đồng thời, tăng cường phối hợp với các cơ quan liên quan, chủ động trong công tác đấu tranh với các phần tử lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá đất nước.”
Giấc mơ hão huyền muốn cô lập cộng đồng người Việt ở nước ngòai bằng thủ đọan chính trị ấu trĩ này chỉ chuốc lấy thất bại vì nhà nước CSVN không có khả năng “phân hoá cô lập” những người chống chính sách và đường lối cai trị độc tài, độc đảng, đòi dân chủ và các quyền tự do đã quy định trong 4 bản Hiến pháp từ 1946 đến 1992.
NGƯỢC DÒNG THỜI GIAN
Thái độ hằn học và xuyên tạc lập trường của người Việt chống chính quyền CSVN của Sơn không mới, dù người chống luôn luôn bị vu khống “chống phá đất nước” và “nhân dân ta” thay vì chống chủ trương và chính sách cai trị phi dân chủ, độc quyền và độc đảng của những người vẫn còn lạc hậu bám vào chủ nghĩa phá sản Mác-Lênin.
Hãy đọc cuộc đối thọai giữa Sơn và Minh Hòa của Đài Tiếng Nói Việt Nam ngày 02/11/2010 :
PV: Thưa Thứ trưởng, được biết là ông sẽ đích thân có các cuộc gặp gỡ các phần tử đi ngược lại các lợi ích của dân tộc. Xin ông cho biết cụ thể các cuộc gặp đã được tiến hành như thế nào?
Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn: Trong quá trình quá trình hòa giải, hòa hợp dân tộc, chúng ta không muốn đặt các tổ chức, cá nhân này ra khỏi vị trí với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vì chúng ta muốn cảm hóa họ, cùng họ nhìn nhận một cách khách quan thực chất phát triển của đất nước, nhìn nhận khách quan vị thế phát triển của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Những người này có thể ra đi bằng nhiều con đường khác nhau, họ được tuyên truyền về những nỗi kinh hoàng không có hoặc không tưởng, họ bị nhồi nhét vào đầu quá nhiều những tư tưởng hận thù… “
“…Hiện nay, còn lại bộ phận không nhiều những người đi ngược lại lợi ích dân tộc và họ càng bị phân hóa, bị yếu đi bởi khi chúng ta tổ chức càng nhiều hoạt động ở trong và ngoài nước, bà con càng có nhiều thông tin, càng hướng về quê hương đất nước, hiểu về quê hương đất nước thì càng không tin họ. Chính vì vậy, số lượng dù còn ít nhưng họ lại rất quyết liệt, kiên quyết chống phá chúng ta vì họ đang hoảng loạn trước nguồn cung cấp tài chính của quốc gia sở tại và chính vị thế và uy tín của họ đang bị giảm sút.
Không có lý gì mà chúng ta không giành thế chủ động, chìa bàn tay với những người còn hiểu lầm về đất nước, còn mơ hồ về việc họ có thể lật đổ chế độ chúng ta. Chúng tôi đã quyết định có đoàn liên ngành cùng với các cơ quan báo chí trong nước đi công khai, gặp gỡ những phần tử còn chống đối quyết liệt nhất, cố tình không hiểu tình hình trong nước. Chúng tôi đã nêu công khai với Đại sứ quán Mỹ, thông qua cơ quan đại diện Ngoại giao ở các quốc gia như Mỹ, Canada... để có thông tin đến các tổ chức, cá nhân này. Họ rất bất ngờ trước kế hoạch này và lúng túng, cố tình không gặp.
Khi nào họ thực sự muốn gặp công khai như họ nói (nhưng thực ra khi yêu cầu gặp công khai họ lại không dám gặp), thì chúng tôi sẽ sẵn sàng gặp. Chúng tôi đang muốn gặp họ công khai với sự chứng kiến của phóng viên trong và ngoài nước, bà con kiều bào để tìm hiểu xem vì sao họ còn hận thù với đất nước. Và cũng để họ hiểu rõ rằng, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn mở rộng vòng tay đối với họ, nếu họ thực sự muốn hướng về Tổ quốc, mang lại lợi ích cho cộng đồng và cho đất nước.”
Có lẽ Sơn phải là người hiểu rõ tại sao nhà nước Việt Nam đã thất bại trong kế họach không thật lòng này mới đúng. Lý do vì đảng CSVN chỉ muốn “hòa hợp” mà không muốn “hòa giải”. Nhà nước chỉ muốn “hội nhập” mà không muốn bị “hòa tan”, chủ trương “đổi mới” mà kiên quyết “không đổi màu” thì lập trường này chỉ gây chia rẽ và khơi rộng thêm vết thương dân tộc.
Trả lời câu hỏi : “Qua một số kênh báo chí quốc tế, một số đối tượng Việt Nam ở nước ngoài phản ánh về việc khó khăn trong xin visa về nước. Xin ông cho biết đối tượng nào không được giải quyết và chúng ta có công bố rõ ràng không?
Sơn đáp: “ Trước hết, những đối tượng bị cấm nhập cảnh Việt Nam, chúng ta đã có danh sách cụ thể. Đó là những đối tượng công khai tham gia các tổ chức hoạt động chống lại Chính phủ và Nhà nước Việt Nam với âm mưu lật đổ chính quyền. Phần lớn đây là những người chủ chốt, cầm đầu các Đảng phái phản động đang tìm cách chống đối lại chúng ta, đi ngược lại với lợi ích nhân dân. Chúng tôi đã phối hợp với các cơ quan chức năng ở nước ngoài nắm danh sách cụ thể của từng người.
Số còn lại không nằm trong danh sách chủ chốt, chúng ta vẫn cho về bình thường, để họ khỏi không thể bao biện rằng Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền hay cư trú đi lại. Con số này chúng ta cũng đã có con số thống kê chính xác và biết rõ họ về nước làm gì.
Có thể khẳng định, số người đến cơ quan đại diện nhận được visa hoặc không nhận được visa là do có tham gia hay không vào các tổ chức phản động chống phá đất nước. Còn tất cả các công dân làm ăn sinh sống bình thường ở nước ngoài, trở về nước hết sức dễ dàng vì đã có quy định của Thủ tướng năm 2007 là miễn visa cho những người còn hộ chiếu Việt Nam….”
Như thế rõ ràng là Nguyễn Thanh Sơn đã nhìn nhận có đối lập chính trị với đảng CSVN trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngòai và cả với một số không nhỏ người ở trong nước. Nhưng nếu đảng và nhà nước chỉ muốn thi hành Nghị quyết 36 để đem lợi cho mình và buộc những người bất đồng chính kiến với mình phải “đầu hàng” vô điều kiện thì qủa thật những người cầm đầu đảng đã chũi đầu xuống cát.
Và đây cũng là lý do tại sao đảng đã mất 13 năm xây dựng, chỉnh đốn đảng mà tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” , “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” lại lan rộng và nhanh trong cán bộ, đảng viên.
Vậy miệng lưỡi Nguyễn Thanh Sơn có còn cần cho công tác thi hành Nghị quyết 36 nữa không hay chính những cán bộ có trách nhiệm đưa Nghị quyết này đến thành công cũng đã “tự biến” từ trong đầu, nói chi đến một vài “Việt kiều” đang xum xoe làm cái việc cong lưng “bắc cầu” cho Sơn qua sông?
Tại sao Việt Nam mở thêm casino?
Ngô Nhân Dụng
Ông Nguyễn Mại, nguyên phó chủ nhiệm Ủy Ban Nhà Nhà Nước về hợp tác và đầu tư, mới trả lời cuộc phỏng vấn của đài Á Châu Tự Do (RFA), tỏ ý ngạc nhiên vì, “Tôi không hiểu người ta căn cứ vào đâu để đưa ra những dự án (đầu tư) khổng lồ như vậy?” Ông nêu ra ba dự án lớn, tổng cộng lên 10 tỷ đô la Mỹ.
Nghe nói có thêm đầu tư vào Việt Nam, đáng lẽ chúng ta phải mừng. Nhưng Tiến sĩ Nguyễn Mại không tỏ vẻ vui mừng mà lại chỉ ngạc nhiên. Lý do, vì đó là những dự án xây cất casino, khu giải trí và sòng bài vĩ đại! Công ty bài bạc Las Vegas Sands đang thảo luận hai casino, ở Hà Nội và Sài Gòn, trị giá 6 tỷ. Công ty Mã Lai Genting sẽ đầu tư vào Vân Ðồn, tỉnh Quảng Ninh với hơn 4 tỷ! Trận Vân Ðồn này có vẻ thắng lớn hơn Hà Nội!
Việt Nam đã từng có casino rồi. Ở miền Bắc có một casino ở Lợi Lai, Móng Cái; một casino ở Ðồ Sơn Hải Phòng, đã hoạt động 17, 18 năm nay. Cốt nhắm vào du khách Trung Quốc; người Việt trong nước không được vào casino chơi bài. Nhưng khách vắng quá, vì người Trung Quốc không đến chơi bao nhiêu. Thời đại Nguyễn Tấn Dũng có thể gọi là thời đại Casino. Vì ông đã cho phép mở thêm rất nhiều sòng bài, và nay đang thương thuyết với các sòng bài lớn nhất thế giới để mở thêm nữa. Năm 2008, casino ở Hồ Tràm, Vũng Tàu đã được khởi công. Tỉnh Kiên Giang, nơi có nhà thờ tổ tiên của ông thủ tướng, đã được chấp thuận xây casino ở Phú Quốc; mà điều kiện là nhà đầu tư nước ngoài phải cam kết làm casino cỡ lớn, tốn ít nhất 4 tỷ đô la. Ðài RFA viết: “Nếu kê đủ thì danh sách xin đầu tư vào ngành cờ bạc còn dài hơn nữa... Cũng giống như trước đây, thời đầu tư sân golf, hiện nay các địa phương ra sức tô hồng cho những dự án casino.” Ðài này còn ghi nhận: Các nước khác ở Châu Á “Thái Lan, Hồng Kông, ngay Trung Quốc cũng không có casino!”
Tất cả mọi người Việt Nam phải tự hỏi: Tại sao chính phủ Nguyễn Tấn Dũng bỗng dưng quan tâm đến các casino như vậy? Câu trả lời đầu tiên là: Thâu ngoại tệ. Casino sẽ thu hút khách du lịch, khách du lịch sẽ đem tiền vào, một số người Việt Nam sẽ có công việc làm. Phong trào làm sân golf cũng được nêu ra nhằm mục đích tương tự? Cho tới cuối năm 2009, đã có khoảng 80 dự án sân golf; các sân cù này “ăn” mất 8,000 hecta đất nông nghiệp. Số “dân oan” mất ruộng, mất đất đi khiếu nại còn kéo dài cho tới bây giờ. Nhưng hậu quả kinh tế của các sân golf đó như thế nào? Tạo ra bao nhiêu công việc làm cho người dân? Có bao nhiêu du khách ngoại quốc đến Việt Nam để chơi golf? Thu được bao nhiêu đô la? Số tiền đó dùng làm gì, hay vào túi những ai? Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng chưa cho biết kết quả của sáng kiến làm sân golf ào ạt khắp nước như thế nào, đã đâm vào một phong trào mới: Mở casino!
Một người có thể cố vấn cho khuyên ông Nguyễn Tấn Dũng mở casino là Jackson Chang. Ông ta nói: “Một trong những yếu tố khiến tỷ lệ khách nước ngoài đến Việt Nam chưa cao là vì thiếu casino, trong khi lãnh vực này có thể mang về nguồn ngoại tệ rất lớn cho Việt Nam.” Ông Jackson Chang nói như thế, vì ông là chủ tịch cơ quan phụ trách đầu tư nước ngoài của Ma Cao! Ma Cao, còn gọi là Áo Môn, là một thành phố thuộc địa của Bồ Ðào Nha, cho đến năm 1999 được trả về Trung Quốc. Bắc Kinh cho phép thành phố này có quy chế riêng, dân Trung Hoa lục địa phải xin chiếu khán (visa) mới được vào đó.
Và kỹ nghệ duy nhất của Ma Cao là sòng bài! Nếu bỏ các sòng bài, thì chắc thành phố này sẽ “đi về nơi hoang dã!” Ngoài nghề cờ bạc, một nghề cũng phát triển mạnh ở Ma Cao là mại dâm. Bên cạnh hai nghề đó, tất nhiên các băng đảng tội ác sinh sôi nẩy nở!
Nước Việt Nam có giống như Ma Cao, các thành phố Hà Nội, Sài Gòn có giống như Ma Cao hay không? Bộ nước Việt Nam không có cơ hội nào khác để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, cho nên phải dùng đến hạ sách là mở casino? Nước mình không có tài nguyên nào đáng kể, không có hàng chục triệu công nhân thông minh, chăm chỉ, sẵn sàng làm việc, để tạo cơ hội đầu tư cho người ngoại quốc hay sao? Ai cũng biết ở đâu có casino thì ở đó cũng sinh ra hàng ngàn thứ bệnh cho xã hội. Giáo Sư Trần Ngọc Thêm, Ðại Học Quốc Gia ở Sài Gòn cảnh cáo: “Cái nguy hiểm của casino nó chẳng khác gì thuốc phiện, chẳng khác gì ma túy cả.” Ông giáo sư chưa nói đến một phó sản của casino: Ở Ma Cao, thanh niên nam nữ lớn lên không thiết vào đại học mất công làm gì. Vì đi làm trong sòng bài, chia bài, đấm bóp, chạy bàn, giải trí cho khách, đồng lương cao hơn, cuộc sống phởn phơ hơn! Cờ bạc và đĩ điếm luôn luôn đi đôi với nhau. Nếu các dự án mở casino thành công, thành công, đại thành công, thì thời đại Nguyễn Tấn Dũng sẽ đánh dấu một khúc quanh mới trong lịch sử đảng Cộng Sản Việt Nam: Ðảng ta bước vào giai đoạn “chứa thổ, đổ hồ” trong thời kỳ quá độ tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội!
Nhưng chắc Trung Ương Ðảng và Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản đã suy nghĩ kỹ càng khi tính cho mở casino nhiều như thế. Chắc chắn quyết định này phải đáp ứng một nhu cầu lớn lao của giới lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam. Vì Ma Cao còn có thể cho chúng ta một bài học khác về việc mở casino: Ðó là một trung tâm rửa tiền! Hiện nay các sòng bài ở Ma Cao là những cửa ngõ chuyển tiền từ Trung Hoa lục địa ra ngoài. Từ đó, tiền sẽ được chuyển qua các trương mục ở Thụy Sĩ, Hoa Kỳ, New Zealand, Úc, Canada, vân vân.
Một bản báo cáo của Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ ở Hồng Kông về Bộ Ngoại Giao vào tháng 12 năm 2009 (năm ngoái Wikileaks tiết lộ) nói rõ ràng Ma Cao là một trung tâm rửa tiền. Các định chế tài chánh Mỹ đã bị cấm không được giao dịch với ngân hàng Banco Delta Asia của Ma Cao, vì họ rửa tiền cho cha con Kim Chính Nhật.
Giữa năm 2011, Ngân Hàng Nhân Dân Bắc Kinh đã đưa lên mạng chính thức của ngân hàng trung ương một bản nghiên cứu nói rằng trong năm trước đó, có 18,000 quan chức đã bỏ trốn ra nước ngoài, mang theo 120 tỷ đô la, những đồng tiền tham ô. Nhưng ôm tiền đi trốn là vạn bất đắc dĩ; vì một khi ra đi là mất luôn những cơ hội kiếm thêm tiền. Cho nên, số tiền ôm đi theo chỉ là một phần trong số tài sản được tẩu tán.
Có nhiều cách đem tiền ra ngoài một cách hợp pháp. Các vị lãnh đạo những công ty quốc doanh có thể dùng thủ đoạn kế toán. Thổi phồng chi phí kinh doanh, ghi số tiền mua máy móc thiết bị ở nước ngoài tăng lên hơn giá thật, là một. Khai bớt số tiền thu được khi bán ra nước ngoài, để công ty lỗ lã triền miên, là hai. Số sai biệt giữa số tiền thực và sổ sách, những đồng tiền đó được giữ lại ở ngoại quốc. Các doanh nghiệp nhà nuớc cứ việc lỗ, nhưng trương mục của các quan chức ở nước ngoài cứ lớn lên. Không biết trong một vụ Vinashin vỡ nợ ba năm sau khi vay 4 tỷ đô la, những đồng đô la đó chạy đi đâu?
Nhưng làm sổ sách man như vậy cũng tốn công sức các quan nhiều lắm. Lại phải đút đây, đút đó, để các quan trên nữa ngoảnh mặt làm ngơ. Thị trường chứng khoán và thị trường địa ốc là những ngả khác để các quan rửa tiền. Có những trương mục mở ra để mua bán chứng khoán, đứng tên một người nước ngoài, chỉ một thời gian khóa sổ rút ra những món tiền khổng lồ. Khách nước ngoài, một “Việt Kiều Yêu Bạc” cũng được, có quyền đem tiền đi! Nhưng các trận đánh như thế vẫn còn phức tạp và vẫn phải ăn chia để tránh các cuộc điều tra! Con đường giản dị nhất là đi qua các sòng bài; như kinh nghiệm Ma Cao. Khi một người đứng dậy, đem các con sẩu, chip, ra két đổi lấy tiền mặt, thì đồng tiền đi không để lại dấu vết nào cả!
Vì thế mà, bản báo cáo của người Mỹ cho biết, hiện nay các sòng bài tại Ma Cao có số thu tổng cộng lớn gấp bốn lần số thu của thủ đô cờ bạc thế giới Las Vegas! Nhưng số tiền đánh bài trong các “câu lạc bộ tư” còn lớn gấp 10 lần tiền thu chính thức của các sòng bài (chỉ có 24 tỷ đô la)! Những không phải tất cả các đồng tiền lấy ra từ các sòng bài ở Ma Cao đều chuyển đi ngoại quốc. Nhiều đồng tiền còn được đem trở lại Trung Quốc dưới mã “đầu tư ngoại quốc,” một hình thức đầu tư được ưu đãi và bảo đảm trong lục địa Trung Hoa.
Chính quyền Bắc Kinh không thể nào kiểm soát được biên giới giữa Trung Quốc và Ma Cao. Có những người xách một túi bạc đi vào Ma Cao, tới thẳng các sòng bài. Nhưng có một phương pháp tiện lợi hơn nhiều. Ðó là những tổ chức du lịch và tín dụng bên cạnh các sòng bài, gọi là “Junkets.” Một quan chức ở Thượng Hải có thể đem tiền nhân dân tệ đến nộp cho họ, mua một chuyến du lịch. Sang Ma Cao, được họ đưa vào khách sạn sang trọng nhất, trên lầu các sòng bài. Cần thêm tiền, họ sẽ cho vay. Sau này cần trả, sẽ trả trong nước, bằng đồng nguyên. Trong thời gian mấy ngày du lịch đó, du khách có thể gửi tiền, đô la Mỹ, vào một ngân hàng Ma Cao. Rồi những đồng đô la đó sẽ được chuyển đi các ngân hàng quốc tế khác! Người Mỹ ước tính 70% số tiền đánh bạc ở Ma Cao là do các đại gia (super rich) từ Trung Quốc đem tới!
Một điều khiến các nhà ngoại giao Mỹ quan tâm là các tổ chức du lịch này là do các băng đảng Mafia điều khiển. Giới điều tra tài chánh của chính phủ Mỹ, theo dõi các tài khoản đi lại trong hệ thống ngân hàng quốc tế, đã ước tính mỗi năm có khoảng 230 tỷ đô la được chuyển đi từ Trung Quốc ra các nước khác, qua ngả Ma Cao không thôi.
Báo The Guardian ở Anh Quốc nhận xét, trong khi các công nhân Trung Hoa đổ mồ hôi được trả đồng lương rẻ mạt, thì những đồng đô la họ kiếm ra được chở bằng xe buýt tới các sòng bài đầy khói thuốc; còn các ông quản đốc doanh nghiệp được chở bằng trực thăng tới các câu lạc bộ VIP sang trọng ở Ma Cao! Khi ông Ðặng Tiểu Bình bắt đầu “đổi mới kinh tế” ông ta đâu có tiên liệu đến cơ sự này!
Trình độ kỹ thuật rửa tiền của người Việt Nam còn rất thô sơ, không thể so sánh với các đồng chí anh em bên Trung Quốc. Năm 2006, Australia đã đưa ra tòa hai người Việt Nam họ Huỳnh, cô Hằng và anh Phát, với tội cung cấp dịch vụ trong việc rửa tiền tại Melbourne và Sydney. Một phi công Vietnam Airlines cũng bị bắt. Tòa nghe lời khai là trong một năm trước đó, hãng hàng không quốc gia của Việt Nam đã chuyển 10 triệu đô la qua Úc.
Những kỹ thuật cổ lỗ đó chắc chắn không đáp ứng đủ cho nhu cầu rửa tiền của các nhà tỷ phú mới ở Việt Nam. Vì việc mở casino sẽ được các đại gia hoan nghênh nhiệt liệt. Khi các sòng bài được mở ra, dù cấm không cho người bản xứ được vào đánh bài, thì cả một chân trời mới sẽ rộng mở cho dịch vụ rửa tiền. Ít nhất, nó sẽ chứng tỏ dân lắm tiền ở Giao Chỉ có tài năng không thua kém gì các đồng chí bên Trung Quốc vĩ đại!
Ngô Nhân Dụng
Ông Nguyễn Mại, nguyên phó chủ nhiệm Ủy Ban Nhà Nhà Nước về hợp tác và đầu tư, mới trả lời cuộc phỏng vấn của đài Á Châu Tự Do (RFA), tỏ ý ngạc nhiên vì, “Tôi không hiểu người ta căn cứ vào đâu để đưa ra những dự án (đầu tư) khổng lồ như vậy?” Ông nêu ra ba dự án lớn, tổng cộng lên 10 tỷ đô la Mỹ.
Nghe nói có thêm đầu tư vào Việt Nam, đáng lẽ chúng ta phải mừng. Nhưng Tiến sĩ Nguyễn Mại không tỏ vẻ vui mừng mà lại chỉ ngạc nhiên. Lý do, vì đó là những dự án xây cất casino, khu giải trí và sòng bài vĩ đại! Công ty bài bạc Las Vegas Sands đang thảo luận hai casino, ở Hà Nội và Sài Gòn, trị giá 6 tỷ. Công ty Mã Lai Genting sẽ đầu tư vào Vân Ðồn, tỉnh Quảng Ninh với hơn 4 tỷ! Trận Vân Ðồn này có vẻ thắng lớn hơn Hà Nội!
Việt Nam đã từng có casino rồi. Ở miền Bắc có một casino ở Lợi Lai, Móng Cái; một casino ở Ðồ Sơn Hải Phòng, đã hoạt động 17, 18 năm nay. Cốt nhắm vào du khách Trung Quốc; người Việt trong nước không được vào casino chơi bài. Nhưng khách vắng quá, vì người Trung Quốc không đến chơi bao nhiêu. Thời đại Nguyễn Tấn Dũng có thể gọi là thời đại Casino. Vì ông đã cho phép mở thêm rất nhiều sòng bài, và nay đang thương thuyết với các sòng bài lớn nhất thế giới để mở thêm nữa. Năm 2008, casino ở Hồ Tràm, Vũng Tàu đã được khởi công. Tỉnh Kiên Giang, nơi có nhà thờ tổ tiên của ông thủ tướng, đã được chấp thuận xây casino ở Phú Quốc; mà điều kiện là nhà đầu tư nước ngoài phải cam kết làm casino cỡ lớn, tốn ít nhất 4 tỷ đô la. Ðài RFA viết: “Nếu kê đủ thì danh sách xin đầu tư vào ngành cờ bạc còn dài hơn nữa... Cũng giống như trước đây, thời đầu tư sân golf, hiện nay các địa phương ra sức tô hồng cho những dự án casino.” Ðài này còn ghi nhận: Các nước khác ở Châu Á “Thái Lan, Hồng Kông, ngay Trung Quốc cũng không có casino!”
Tất cả mọi người Việt Nam phải tự hỏi: Tại sao chính phủ Nguyễn Tấn Dũng bỗng dưng quan tâm đến các casino như vậy? Câu trả lời đầu tiên là: Thâu ngoại tệ. Casino sẽ thu hút khách du lịch, khách du lịch sẽ đem tiền vào, một số người Việt Nam sẽ có công việc làm. Phong trào làm sân golf cũng được nêu ra nhằm mục đích tương tự? Cho tới cuối năm 2009, đã có khoảng 80 dự án sân golf; các sân cù này “ăn” mất 8,000 hecta đất nông nghiệp. Số “dân oan” mất ruộng, mất đất đi khiếu nại còn kéo dài cho tới bây giờ. Nhưng hậu quả kinh tế của các sân golf đó như thế nào? Tạo ra bao nhiêu công việc làm cho người dân? Có bao nhiêu du khách ngoại quốc đến Việt Nam để chơi golf? Thu được bao nhiêu đô la? Số tiền đó dùng làm gì, hay vào túi những ai? Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng chưa cho biết kết quả của sáng kiến làm sân golf ào ạt khắp nước như thế nào, đã đâm vào một phong trào mới: Mở casino!
Một người có thể cố vấn cho khuyên ông Nguyễn Tấn Dũng mở casino là Jackson Chang. Ông ta nói: “Một trong những yếu tố khiến tỷ lệ khách nước ngoài đến Việt Nam chưa cao là vì thiếu casino, trong khi lãnh vực này có thể mang về nguồn ngoại tệ rất lớn cho Việt Nam.” Ông Jackson Chang nói như thế, vì ông là chủ tịch cơ quan phụ trách đầu tư nước ngoài của Ma Cao! Ma Cao, còn gọi là Áo Môn, là một thành phố thuộc địa của Bồ Ðào Nha, cho đến năm 1999 được trả về Trung Quốc. Bắc Kinh cho phép thành phố này có quy chế riêng, dân Trung Hoa lục địa phải xin chiếu khán (visa) mới được vào đó.
Và kỹ nghệ duy nhất của Ma Cao là sòng bài! Nếu bỏ các sòng bài, thì chắc thành phố này sẽ “đi về nơi hoang dã!” Ngoài nghề cờ bạc, một nghề cũng phát triển mạnh ở Ma Cao là mại dâm. Bên cạnh hai nghề đó, tất nhiên các băng đảng tội ác sinh sôi nẩy nở!
Nước Việt Nam có giống như Ma Cao, các thành phố Hà Nội, Sài Gòn có giống như Ma Cao hay không? Bộ nước Việt Nam không có cơ hội nào khác để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, cho nên phải dùng đến hạ sách là mở casino? Nước mình không có tài nguyên nào đáng kể, không có hàng chục triệu công nhân thông minh, chăm chỉ, sẵn sàng làm việc, để tạo cơ hội đầu tư cho người ngoại quốc hay sao? Ai cũng biết ở đâu có casino thì ở đó cũng sinh ra hàng ngàn thứ bệnh cho xã hội. Giáo Sư Trần Ngọc Thêm, Ðại Học Quốc Gia ở Sài Gòn cảnh cáo: “Cái nguy hiểm của casino nó chẳng khác gì thuốc phiện, chẳng khác gì ma túy cả.” Ông giáo sư chưa nói đến một phó sản của casino: Ở Ma Cao, thanh niên nam nữ lớn lên không thiết vào đại học mất công làm gì. Vì đi làm trong sòng bài, chia bài, đấm bóp, chạy bàn, giải trí cho khách, đồng lương cao hơn, cuộc sống phởn phơ hơn! Cờ bạc và đĩ điếm luôn luôn đi đôi với nhau. Nếu các dự án mở casino thành công, thành công, đại thành công, thì thời đại Nguyễn Tấn Dũng sẽ đánh dấu một khúc quanh mới trong lịch sử đảng Cộng Sản Việt Nam: Ðảng ta bước vào giai đoạn “chứa thổ, đổ hồ” trong thời kỳ quá độ tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội!
Nhưng chắc Trung Ương Ðảng và Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản đã suy nghĩ kỹ càng khi tính cho mở casino nhiều như thế. Chắc chắn quyết định này phải đáp ứng một nhu cầu lớn lao của giới lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam. Vì Ma Cao còn có thể cho chúng ta một bài học khác về việc mở casino: Ðó là một trung tâm rửa tiền! Hiện nay các sòng bài ở Ma Cao là những cửa ngõ chuyển tiền từ Trung Hoa lục địa ra ngoài. Từ đó, tiền sẽ được chuyển qua các trương mục ở Thụy Sĩ, Hoa Kỳ, New Zealand, Úc, Canada, vân vân.
Một bản báo cáo của Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ ở Hồng Kông về Bộ Ngoại Giao vào tháng 12 năm 2009 (năm ngoái Wikileaks tiết lộ) nói rõ ràng Ma Cao là một trung tâm rửa tiền. Các định chế tài chánh Mỹ đã bị cấm không được giao dịch với ngân hàng Banco Delta Asia của Ma Cao, vì họ rửa tiền cho cha con Kim Chính Nhật.
Giữa năm 2011, Ngân Hàng Nhân Dân Bắc Kinh đã đưa lên mạng chính thức của ngân hàng trung ương một bản nghiên cứu nói rằng trong năm trước đó, có 18,000 quan chức đã bỏ trốn ra nước ngoài, mang theo 120 tỷ đô la, những đồng tiền tham ô. Nhưng ôm tiền đi trốn là vạn bất đắc dĩ; vì một khi ra đi là mất luôn những cơ hội kiếm thêm tiền. Cho nên, số tiền ôm đi theo chỉ là một phần trong số tài sản được tẩu tán.
Có nhiều cách đem tiền ra ngoài một cách hợp pháp. Các vị lãnh đạo những công ty quốc doanh có thể dùng thủ đoạn kế toán. Thổi phồng chi phí kinh doanh, ghi số tiền mua máy móc thiết bị ở nước ngoài tăng lên hơn giá thật, là một. Khai bớt số tiền thu được khi bán ra nước ngoài, để công ty lỗ lã triền miên, là hai. Số sai biệt giữa số tiền thực và sổ sách, những đồng tiền đó được giữ lại ở ngoại quốc. Các doanh nghiệp nhà nuớc cứ việc lỗ, nhưng trương mục của các quan chức ở nước ngoài cứ lớn lên. Không biết trong một vụ Vinashin vỡ nợ ba năm sau khi vay 4 tỷ đô la, những đồng đô la đó chạy đi đâu?
Nhưng làm sổ sách man như vậy cũng tốn công sức các quan nhiều lắm. Lại phải đút đây, đút đó, để các quan trên nữa ngoảnh mặt làm ngơ. Thị trường chứng khoán và thị trường địa ốc là những ngả khác để các quan rửa tiền. Có những trương mục mở ra để mua bán chứng khoán, đứng tên một người nước ngoài, chỉ một thời gian khóa sổ rút ra những món tiền khổng lồ. Khách nước ngoài, một “Việt Kiều Yêu Bạc” cũng được, có quyền đem tiền đi! Nhưng các trận đánh như thế vẫn còn phức tạp và vẫn phải ăn chia để tránh các cuộc điều tra! Con đường giản dị nhất là đi qua các sòng bài; như kinh nghiệm Ma Cao. Khi một người đứng dậy, đem các con sẩu, chip, ra két đổi lấy tiền mặt, thì đồng tiền đi không để lại dấu vết nào cả!
Vì thế mà, bản báo cáo của người Mỹ cho biết, hiện nay các sòng bài tại Ma Cao có số thu tổng cộng lớn gấp bốn lần số thu của thủ đô cờ bạc thế giới Las Vegas! Nhưng số tiền đánh bài trong các “câu lạc bộ tư” còn lớn gấp 10 lần tiền thu chính thức của các sòng bài (chỉ có 24 tỷ đô la)! Những không phải tất cả các đồng tiền lấy ra từ các sòng bài ở Ma Cao đều chuyển đi ngoại quốc. Nhiều đồng tiền còn được đem trở lại Trung Quốc dưới mã “đầu tư ngoại quốc,” một hình thức đầu tư được ưu đãi và bảo đảm trong lục địa Trung Hoa.
Chính quyền Bắc Kinh không thể nào kiểm soát được biên giới giữa Trung Quốc và Ma Cao. Có những người xách một túi bạc đi vào Ma Cao, tới thẳng các sòng bài. Nhưng có một phương pháp tiện lợi hơn nhiều. Ðó là những tổ chức du lịch và tín dụng bên cạnh các sòng bài, gọi là “Junkets.” Một quan chức ở Thượng Hải có thể đem tiền nhân dân tệ đến nộp cho họ, mua một chuyến du lịch. Sang Ma Cao, được họ đưa vào khách sạn sang trọng nhất, trên lầu các sòng bài. Cần thêm tiền, họ sẽ cho vay. Sau này cần trả, sẽ trả trong nước, bằng đồng nguyên. Trong thời gian mấy ngày du lịch đó, du khách có thể gửi tiền, đô la Mỹ, vào một ngân hàng Ma Cao. Rồi những đồng đô la đó sẽ được chuyển đi các ngân hàng quốc tế khác! Người Mỹ ước tính 70% số tiền đánh bạc ở Ma Cao là do các đại gia (super rich) từ Trung Quốc đem tới!
Một điều khiến các nhà ngoại giao Mỹ quan tâm là các tổ chức du lịch này là do các băng đảng Mafia điều khiển. Giới điều tra tài chánh của chính phủ Mỹ, theo dõi các tài khoản đi lại trong hệ thống ngân hàng quốc tế, đã ước tính mỗi năm có khoảng 230 tỷ đô la được chuyển đi từ Trung Quốc ra các nước khác, qua ngả Ma Cao không thôi.
Báo The Guardian ở Anh Quốc nhận xét, trong khi các công nhân Trung Hoa đổ mồ hôi được trả đồng lương rẻ mạt, thì những đồng đô la họ kiếm ra được chở bằng xe buýt tới các sòng bài đầy khói thuốc; còn các ông quản đốc doanh nghiệp được chở bằng trực thăng tới các câu lạc bộ VIP sang trọng ở Ma Cao! Khi ông Ðặng Tiểu Bình bắt đầu “đổi mới kinh tế” ông ta đâu có tiên liệu đến cơ sự này!
Trình độ kỹ thuật rửa tiền của người Việt Nam còn rất thô sơ, không thể so sánh với các đồng chí anh em bên Trung Quốc. Năm 2006, Australia đã đưa ra tòa hai người Việt Nam họ Huỳnh, cô Hằng và anh Phát, với tội cung cấp dịch vụ trong việc rửa tiền tại Melbourne và Sydney. Một phi công Vietnam Airlines cũng bị bắt. Tòa nghe lời khai là trong một năm trước đó, hãng hàng không quốc gia của Việt Nam đã chuyển 10 triệu đô la qua Úc.
Những kỹ thuật cổ lỗ đó chắc chắn không đáp ứng đủ cho nhu cầu rửa tiền của các nhà tỷ phú mới ở Việt Nam. Vì việc mở casino sẽ được các đại gia hoan nghênh nhiệt liệt. Khi các sòng bài được mở ra, dù cấm không cho người bản xứ được vào đánh bài, thì cả một chân trời mới sẽ rộng mở cho dịch vụ rửa tiền. Ít nhất, nó sẽ chứng tỏ dân lắm tiền ở Giao Chỉ có tài năng không thua kém gì các đồng chí bên Trung Quốc vĩ đại!

