QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Cuối Trời Thênh Thang
(Thay vòng hoa tiếc thương Phạm Vương Thục)

“Những sớm mai lửa đạn
Những máu xương chập chùng,
Xin cho một người vừa nằm xuống
thấy bóng Thiên đường cuối trời thênh thang”
TCS

Image

Đã lâu lắm, kể từ buổi trưa u buồn ngày 30/4/75, khi nghe Trịnh Công Sơn hát bài Nối Vòng Tay Lớn trên đài phát thanh Sài gòn, đón mừng những người CS vừa cưỡng chiếm miền Nam, tôi không còn hứng thú để hát nhạc của ông, dù có nhiều bản tình ca tôi từng một thời ưa thích, bỗng dưng chiều nay buột miệng hát lên mấy câu trong bài hát khá xa xưa mà tôi đã quên mất vài lời, khi nghe Bác sĩ Ngô Thế Khanh và cô bạn Phạm Thu Đào báo tin Phạm Vương Thục vừa mới ra đi. Dù đã biết trước điều đau đớn này rồi sẽ xảy ra, tôi vẫn bàng hoàng, có cảm giác cả bầu trời trước mặt và ngay chính trong lòng mình như chỉ còn là một khoảng trống bao la. Tôi hình dung người lead gun phương phi của Phi Đoàn Song Chùy 213 hào hùng ngày nào trên bầu trời khói lửa Vùng I, Hạ Lào, giờ thực sự đang lặng lẽ bay về cuối trời thênh thang. Tôi mơ hồ như văng vẳng đâu đây dư âm của cánh quạt trực thăng vần vũ và tiếng đạn minigun, rocket từng tràng phóng xuống, thét gào, cuồng nộ. Rồi tất cả bỗng lặng yên, tĩnh mịch.

Tôi biết và quen Thục chưa lâu lắm. Câu chuyện “Trên Chiến Trường Xưa” viết về người phi công can trường Phạm Văn Thặng – bào huynh kính yêu của Thục – gãy cánh vào một buổi chiều mùa hè 72 trên vòm trời lửa đạn Kontum trong một phi vụ yểm trợ cho chính đơn vị tôi, đã bắc nhịp cầu cho Thục và tôi cái duyên hạnh ngộ. Những giọt nước mắt của Thục trong lần đầu gặp nhau hôm ấy, làm tôi thực sự cảm động về nghĩa tình đệ huynh của gia đình họ Phạm. Sau đó quen và được gần gũi Thục hơn, mỗi ngày hình ảnh của anh càng in đậm nét trong lòng tôi. Trong con người cao lớn oai phong với hàm râu quai nón, trên đầu lúc nào cũng đội chiếc bê rê đen, hay mũ lưỡi trai nhà binh, trông như một chàng giang hồ lãng tử, lại là một tâm hồn đa cảm hiền hòa, lúc nào cũng mở trọn vòng tay yêu thương và trái tim nhân nghĩa với tất cả anh em, bằng hữu. Phạm Vương Thục là điển hình của một người bạn chân tình tri kỷ. Khó mà tìm ở anh bất cứ một điều gì để có thể không yêu thương, không quí mến. Ở anh, toát lên một nghĩa khí chứa chan hào hiệp ân tình. Mỗi lần nhìn nụ cười niềm nở thánh thiện của anh, trong lòng tôi mơ hồ như đang nở ra bao đóa hoa nhân ái.

Mấy ngày đầu năm Nhâm Thìn trời Cali bỗng dưng trở lạnh. Không khí rộn rịp của các Hội Tết, tiệc tùng Họp Mặt Tân Niên dường như không làm tan đi được áng sương mù ảm đạm trong lòng những người yêu thương Thục. Bạn bè của Thục ở khắp Cali và ở khắp nơi đã dành những ngày Tết cầu nguyện cho Thục.

Từ Bắc Âu tôi đến Cali vào cuối tháng 10. Chưa kịp phôn cho Thục thì anh đã gọi thăm. Anh bảo vừa mới gởi cho vợ chồng tôi thiệp cưới của cháu Phạm Hưng Quốc, cậu con trai cưng quí. Thiệp mời bị bưu điện trả lại vì thiếu số Unit. Nhà chúng tôi ở trong một khu condo. Thục hỏi xin tôi số Unit để gởi lại. Tôi bảo: không cần gởi làm gì cho mất công, bạn chỉ cho tôi biết tên nhà hàng và ngày giờ, nhất định chúng tôi sẽ đến chung vui với ông bà. Thục cười. Sau tiếng cười rộn rã, Thục bảo:
- Tôi mời anh chị, nhưng không chắc tôi sẽ có mặt trong ngày đám cưới cháu. Nhưng dù có tôi hay không, nhất định anh chị phải đến chung vui với gia đình tôi và hai cháu nghe!
Tôi ngạc nhiên:
- Đám cưới con trai cưng mà ông bỏ đi đâu, đừng có đùa cha nội!
Tôi lại nghe tiếng Thục cười, điềm tĩnh:
- Tôi bị cancer gan và mật, coi bộ kẹt lắm! Ngày mai đi bệnh viện chụp hình và lấy test lại để bác sĩ chuyên khoa quyết định phải làm gì.
Im lặng bàng hoàng giây lát, tôi chỉ còn biết trấn an và chúc anh mọi điều may mắn.
Hai hôm sau, nhận điện thoại của Thục, tôi vừa mừng vừa lo. Anh vẫn cười, giọng bình thản:
- Thục đang nằm bệnh viện Kaiser Permanente ở Irvine, phòng 312. Anh có rảnh chạy xuống nói chuyện chơi!
Tôi báo cho Thục biết là tôi sẽ đến ngay với một người bạn. Khoảng 30 phút nữa sẽ gặp Thục. Ở xa đến, không quen đường, chúng tôi bị lạc trên xa lộ 405. Hơn 45 phút sau, Thục gọi lại hỏi tôi đang ở đâu, vì biết tôi bị lạc đường. Nghe giọng Thục hơi yếu. Anh bảo khá mệt, rồi đưa điện thoại cho chị Thục chỉ đường.

Thục nằm trên giường bệnh. Tôi thoáng hốt hoảng khi trông anh tiều tụy, gầy đi nhiều lắm, đang được chuyền sérum và hai ống cao su nhỏ dẫn dưỡng khí vào lỗ mũi. Thục giải thích: tự dưng ruột của anh bị xoắn lại, nên bác sĩ không cho ăn uống gì cả, để ruột được giãn ra, trước khi có thể tiếp tục điều trị cancer bằng các phương pháp khác. Do vậy anh bị yếu sức. Vậy mà gặp tôi, anh rất vui, cầm chặt tay tôi, miệng vẫn cười niềm nở như bao lần gặp nhau, như chưa hề có điều gì phải ưu tư lo lắng. Anh say sưa hết kể về bệnh tình lại sang chuyện bay bổng ngày nào trên chiến trường xưa. Tôi mang theo mấy tờ báo có bài viết của tôi, theo lời dặn của anh, nhưng tôi biết vào lúc này anh không thể nào đọc được. Chị Thục ngồi bên cạnh. Thật tôi nghiệp, cũng tiều tụy hốc hác vì đã lo lắng, chia sẻ nhọc nhằn đau đớn cùng chồng. Chị luôn ở bên anh, nhiều đêm thức trắng.

Ngại anh mệt, tôi định cáo từ, nhưng anh vẫn nắm chặt tay tôi, đôi mắt mệt mỏi bỗng sáng lên, say mê kể lại trận chiến Hạ Lào, Lam Sơn 719, khi ấy anh đang là lead gun của Phi Đoàn 213, gần như mỗi ngày đều có mặt trên vùng trời trận mạc, trong tầm ngắm của đám phòng không địch dày đặc giữa trùng điệp núi rừng. Tôi hiểu được là anh đang trở về với thời quá khứ đẹp đẽ nhất trong đời mình. Một thoáng hạnh phúc hiện lên trên khuôn mặt đã gầy đi vì bệnh hoạn. Tôi ngồi nán lại, với ý nghĩ là để anh tiếp tục cái giây phút hạnh phúc hiếm hoi này mà quên bớt những điều trước mặt.

Khi chào anh và chị Thục, bước ra, tôi thấy anh vẫn nở nụ cười thanh thản. Cũng như lúc kể cho chúng tôi nghe về căn bệnh trầm kha, anh bình tâm như những lần nhìn thấy hỏa tiễn SA-7 đang bay về hướng anh, hay những lần phi cơ trúng đạn, anh phải đáp khẩn cấp xuống các căn cứ hỏa lực đang bị địch quân vây khốn. Có lần anh tâm tình:
- Chữa được thì tốt, không được Thục cũng vui vẻ mà chấp nhận thôi. Bao nhiêu năm vào sinh ra tử mà còn sống tới hôm nay, coi như đã được Chúa thương, cho hưởng nhiều bonus lắm rồi. Thục luôn sẵn sàng vâng theo ý Chúa! Thục sống trong niềm tin Chúa Kitô phục sinh, nên được Chúa gọi về là một niềm hạnh phúc.

Tôi là người ngoại đạo, và chưa trải qua cái giờ phút nằm đợi chờ bên bờ sinh tử, nên không biết cảm giác của mình khi ấy ra sao. Có đủ đức tin, can đảm và bình thản như Thục không? Nhưng tôi chưa thấy một người nào có được cái tâm thanh thản, vui vẻ như Thục trong thời điểm đặc biệt này. Thì ra trong con người can trường, nhân hậu ấy, còn có rất nhiều đức tính và nhất định hơn hẳn tôi ở cái “Ngộ Đạo Đất Trời”. Anh xứng đáng là một tín đồ ngoan đạo, hằng sống với đức tin mãnh liệt vào Đức Kitô.

Mấy hôm sau, một số độc giả đọc được tin và những tâm nguyện sau cùng của Phạm Vương Thục trên trang Cánh Thép, liên lạc tôi, xin cho biết tên Thánh của Thục để cầu nguyện cho anh. Tôi gọi vào cellphone của anh nhưng nghĩ là chị Thục sẽ bốc điện thoại. Sau một hồi chuông reo, tôi bất ngờ nghe tiếng Thục. Yếu ớt, thì thào. Anh bảo là đang nằm ở nhà, mệt lắm, rồi đọc cho tôi tên Thánh. Tôi xúc động, không biết nói lời gì. Và mặc dù không nghe rõ, nhưng tôi không dám hỏi lại anh. Nửa giờ sau, tôi gọi điện thoại nhà, chị Thục bốc máy, đọc lại tên Thánh “Bartholomew” của Thục và cho tôi biết: “anh Thục yếu và mệt lắm, nhưng nghe có anh gọi, đã dành lấy điện thoại để nói chuyện với anh”. Tôi nghẹn ngào xúc động. Tôi chỉ là một người bạn sơ giao, mà anh Thục đã chí tình như thế đó, làm sao tôi có thể ngăn được dòng nước mắt?

Anh nhắm mắt lúc 9 giờ 55 sáng ngày 29/1 trước khi tâm tình dặn dò vợ con bằng hữu. Anh đã chuẩn bị xong cả phần xác lẫn phần hồn, muốn hậu sự phải tổ chức thật đơn giản. Không vòng hoa, phúng điếu. Những bạn bè nào thương anh, xin hãy góp vào Quỹ “Cho Em Một Nụ Cười” do Frère Phong, một người bạn học thời niên thiếu của anh sáng lập nhằm giúp đỡ những em bé mồ côi, đói nghèo tại các vùng hẻo lánh ở Việt Nam và Cam Bốt, mà anh đã tiếp tay phụ lực từ lúc ban đầu. Bao la biết dường nào tấm lòng nhân hậu ấy!

Được tin anh ra đi, tôi thẫn thờ giây lát, nước mắt trào ra, rồi ngồi dậy viết lời Phân Ưu định gởi cho vài tờ báo quen. Trước khi gởi đi, ngại viết tên Thánh của Thục không đúng, tôi vào website Cánh Thép tìm đọc lại các trang Phân Ưu của một số đơn vị, đồng đội của anh. Tôi rất ngạc nhiên, vì tất cả đều biến mất, mặc dù trước đó chỉ mới mười lăm phút, tôi đã đọc kỹ từng lời. Tôi chợt thoáng hiểu ra, khi nghĩ đến đám cưới của cháu Phạm Hưng Quốc, con trai thứ của anh chị sẽ tổ chức vào cuối tuần này. Mọi sự đã chuẩn bị và thiệp mời đã gởi đi, khó mà đình hoãn được. Tôi gọi cho Phạm Thu Đào, cô Hội Trưởng trẻ tuổi tài năng của Phố Núi Pleiku, bạn thân của anh chị Thục. Thu Đào xác nhận những điều tôi vừa suy đoán. Nhớ lần tôi và một người bạn đến thăm Thục, anh vui vẻ dặn dò: “Dù có Thục hay không, các bạn đến chung vui với vợ chồng cháu Quốc, là tôi vui lắm, cứ coi như tôi đang có mặt và cụng ly mừng với các bạn”.

Chiều Thứ Bảy 4/2, vợ chồng tôi đến nhà hàng Seafood Palace dự đám cưới cháu Quốc mà lòng dạ bùi ngùi. Cố nhớ tới lời dặn dò của Thục, để thấy vui hơn. Khoảng trên sáu trăm thực khách trong nhà hàng không còn chỗ trống. Tôi nghĩ có lẽ tất cả khách mời đều không ai vắng mặt. Bởi cũng như chúng tôi, đều thương quí Thục, cảm kích tấm lòng hy sinh lo lắng cho con của Thục. Hôm ấy, tôi ngồi chung bàn với bác sĩ (KQ)Ngô Thế Khanh, chị Phạm Thu Đào, ca sĩ Minh Hạnh (chị của đại tá Nhảy Dù HK Lương Xuân Việt), chị Minh Hương cùng vài anh chị rất thân quen với Thục. Chúng tôi đã kể những kỷ niệm với anh, nói nhiều về anh, về một Phạm Vương Thục rất chí tình, rất dễ thương cùng lòng quí mến mà tất cả bạn bè đã dành cho anh chị.

Buổi chiều ngày Thứ Sáu 10/2, chúng tôi bước vào Thánh Đường La Vang nằm trên đường Harbor để viếng anh lần cuối. Trước nhà thờ tôi gặp đông đủ mọi người. Những người lính Không Quân ở hoàn cảnh nào cũng “không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”. Từ khắp nơi họ về đây để được gần bên anh trước tiễn đưa người huynh đệ một thời hào hiệp và cùng hẹn gặp lại nhau ở vùng trời viễn mộng, không còn khói lửa chiến tranh. Như lời Thục đã âu yếm nói với bạn bè trước lúc ra đi: “Tao đi trước để dọn chỗ cho anh em”. Lời nói chỉ có thể thốt ra từ trong tâm của một người bạn chí tình. Tôi hình dung những lần Thục bay trước vào vùng, bắn dọn bãi đáp thật chu đáo an toàn cho những người bạn cùng phi đoàn đáp xuống đổ, bốc quân, tản thương hay tiếp tế khẩn cấp cho các đơn vị hành quân.

Trong Lễ Đưa Chân, vị linh mục chủ lễ giảng một bài ngắn nhưng thật hay, đầy ý nghĩa. Ông nói về Thục “ Không biết từ hạt bụi nào, tín hữu Bartholomew đã hóa thân, để rồi hôm nay ông lại trở về cát bụi. Tất cả chúng ta rồi ai cũng thế, nhưng điều đặc biệt là khi ra đi, ông Bartholomew đã để lại trong lòng tất cả mọi người tràn ngập những yêu thương tiếc nhớ”

Thục ơi! Ngày mai, đúng lúc gia đình và bạn bè tiễn đưa anh về với Chúa, cũng là lúc vợ chồng tôi bước lên máy bay trở lại Bắc Âu băng giá. Tôi tiếc là không được nghe những lời từ biệt của các niên trưởng, đồng đội ngợi ca và tiếc thương anh, nhưng tôi nghĩ mọi ngôn từ cũng sẽ không thể nói hết được lòng quí trọng mến yêu anh, một phi công, một chiến sĩ đã làm hết sức mình cho Không Gian, cho Tổ Quốc. Chỉ tiếc rằng vận nước sớm điêu linh!
Không có mặt trước giờ phút anh trở về cát bụi, nhưng ở trên bầu trời bao la, chúng tôi sẽ vẫy tay tiễn biệt và cầu nguyện cho anh:

“Vùng trời nào đó anh đã bay qua
Chỉ còn lại đây những thoáng bao la”
……………………………..
Xin cho một người vừa nằm xuống
Thấy bóng thiên đường...cuối trời thênh thang”
…..
Hẹn gặp lại anh. Khi “dọn chỗ cho bạn bè”, xin anh nhớ dành một chỗ cho tôi, gần bên anh, nếu tôi đến được Thiên Đàng.

Viết vội tại Anaheim, đêm 10/2/2012
Phạm Tín An Ninh

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

NGƯỜI LÍNH KHÔNG CÓ SỐ QUÂN
Tác giả: Trần Như Xuyên
Lời tác giả: Nhân 30 tháng 4, để nhớ lại những gương chiến đấu của Quân và Dân miền Nam trong công cuộc chống CS xâm lược, xin có một truyện ngắn nói về sự chiến đấu này, đây là chuyện có thực mà người viết từng tham dự năm xưa. Trân trọng.

x x x

Tối đó, tôi dẫn Đại đội tới điểm đóng quân đêm, đây là ngày đầu tiên tôi nắm Đại đội, sáng nay có cuộc bàn giao ở Tiểu đoàn, người Đại đội trưởng tiền nhiệm,cũng là khóa đàn anh của tôi, có sự vụ lệnh đi học khóa quân chánh.

Ra trường được sáu tháng, từ anh Thiếu úy mới tò te, giờ đã lên nắm Đại đội, quả là thời gian hơi nhanh so với những đứa bạn cùng khóa ở các binh chủng khác như Nhẩy dù, Thủy quân lục chiến..., có lẽ họ vẫn còn đang thực tập ở Trung đội hay là Trung đội trưởng mà thôi. Tôi nắm Đại đội hơi nhanh không phải vì mình tài giỏi gì mà năm 67 khi ra trường, như bao đứa bạn khác chọn đi Bộ binh, các đơn vị rất thiếu sĩ quan, như Tiểu đoàn tôi về chẳng hạn, có Đại đội xử lý là một Chuẩn úy, gọi là xử lý cũng không đúng vì trong cấp số coi Đại đội thì tối thiểu phải là Thiếu úy, nhưng không hiểu sao vào những năm này, sĩ quan quá thiếu, bởi vậy khi vừa tới Trung đoàn, nghe tin có mấy sĩ quan Đà lạt mới ra trường là các đơn vị nhao nhao lên xin, tôi được đưa về Tiểu đoàn 4/46 thì một ông đàn anh khóa 16 đang làm Đại đội trưởng xin ngay tôi về. Ông tên Hồ Trang, khóa 16, ở miền Trung bị thuyên chuyển vào Nam vì dính dáng tới vụ Phật Giáo, ngoài đó ông đã là Tiểu đoàn phó nên vị Tiểu đoàn Trưởng cũng có hơi nể, quay quắt vì việc phải thuyên chuyển xa nhà, bị giam lon, giam chức nên ông gắt gỏng như mắm tôm, ông nghiêm khắc với mọi người nhưng rất chí tình trong việc chỉ bảo cho tôi từng ly, từng tí việc chỉ huy mà dầu sao tôi cũng còn quá mới, quân trường dậy là một chuyện, ra đây đụng với thực tế lại là một chuyện khác.

Cứ như vậy, những lần hành quân, ông cho tôi ở cạnh để học hỏi hoặc cho xuống trung đội để thưc tập, 6 tháng sau, khi thấy tôi đã tàm tạm gọi là đủ lông, đủ cánh bay solo được, ông nói với Tiểu đoàn Trưởng và bàn giao Đại Đội lại cho tôi, trước đó, ông đã thu xếp người Đại đội phó đi học để tôi coi Đ.Đ được danh chính ngôn thuận.

Nói về tối đầu tiên tôi dẫn Đ.Đ đi đóng quân đêm, thường tọa độ đóng quân đêm cùng các điểm phục kích do Tiểu đoàn chấm, tối đó đang di chuyển trên đường tôi thấy có một người đàn bà đi lẫn trong toán đại liên, tôi hỏi Thượng sĩ Hội, thường vụ đại đội, ông ta đi lính hồi tôi còn học Tiểu học:

- Ai vậy ông Hội, sao có đàn bà lẫn lộn vào đây?

- Thưa Thiếu úy, đó là vợ thằng Nở, xạ thủ đại liên, nó ở với Đại Đội lâu rồi, hồi còn Trung úy Trang, ông cũng cấm nhưng chỉ được vài ngày là nó lại lẻn xuống sống với chồng nó.

- Tôi thấy không được rồi đó ông, lỡ đêm Việt cộng tấn công thì làm sao, thằng Nở chỉ lo cho vợ nó thì còn đánh đấm gì được.

- Thiếu uý đừng lo, vợ nó phụ nó rất đắc lực, chị ta biết xử dụng đại liên, biết tiếp đạn cho chồng, rồi Thiếu úy coi, hễ rảnh là nó lại lau chùi cây đại liên nữa.

- Nhưng lỡ có chuyện gì làm sao mình báo cáo.

Hôm sau tôi gọi Nở lên trình diện:

- Sao cậu không để cho vợ cậu ở nhà mà cho đi theo Đại đội như vậy, lỡ có chuyện gì thì sao?

- Thưa Thiếu úy, con Ba nó mồ côi từ nhỏ, không có nhà, em đã đưa nó về với má em rồi nhưng má em không ưng nó, cứ kiếm chuyện với nó hoài, cho nó theo ĐĐ, thấy cũng bất tiện, em biết chứ.

Nở thực hiện lời "em biết chứ", vài ngày sau, tôi không thấy vợ Nở đi chung trong toán đại liên nữa, tôi hỏi Thượng sĩ Hội, ông ta cho biết Nở đưa vợ ra bến xe về quê mấy bữa nay rồi, tôi có hơi băn khoăn nhưng nghĩ vậy cũng phải, lỡ có chuyện gì thì làm sao, rồi má con sẽ phải hòa thuận với nhau chứ.

Một hôm, Hạ sĩ quan quân số cầm về xấp thư của ĐĐ đưa cho tôi, trước đó tôi có dặn anh ta là thỉnh thoảng phải kiểm soát thư từ của binh sĩ xem biết đâu có đứa bị móc nối. Tôi dở xấp thư ra coi thấy có một lá đề tên Nở, khi tôi coi ĐĐ thì Nở không biết chữ, sẵn dịp, tôi hỏi các Trung đội xem còn ai không biết chữ gom tất cả lại, đâu cũng được 5,6 người, tôi nói Trung sĩ Hiển, Hạ sĩ quan CTCT mua tập vở về dậy họ học,"ngày mãn khóa", tôi kêu từng người đưa tờ Chiến sĩ Cộng Hòa cho đọc, ai đọc được, tôi thưởng cho bốn ngày phép, Hạ sĩ Nở biết chữ từ ngày đó.

Có bốn ngày phép, Nở không đi đâu cả, anh ta và vợ quanh quẩn chơi ở mấy nhà quen trong xã, hết bốn ngày, Nở về lại ĐĐ.

Tôi mở lá thư của Nở ra đọc:

Long Xuyên, ngày....

anh hai thương, em diết thơ nầy cho anh là lúc ba giờ phia, em chờ má ngủ mới dám diết cho anh, anh hai ôi, em nhớ anh quá hà, sao số kiếp cứ đài đọa tụi mình hoài, nhớ những lúc điêm tối cùng anh đi đóng quân, dầu gì vợ chồng được gần nhau cũng hơn há anh, hôm anh tiễn em ra bến xe em buồn quá, lúc xe chạy, em thấy như mất mác cái gì quí báo, em khóc ước cả mắt, em cố chìu chuộng má mà má vẫn hổng thương em, thôi để em lên quỳ xinh với ông thiếu úy để em được đi theo anh, liệu được hôn anh, diết thơ nầy xông, mơi sẽ gởi cho anh, anh hai nhớ trả lời em nghe.

Em, Ba.

Một tuần lễ sau khi đọc lá thư của Hạ sĩ Nở, buổi tối dẫn Đại Đội đi đóng quân, tôi lại thấy cái dáng nhỏ bé ấy đi chung với toán đại liên, lẫn vào hàng quân, không biết anh Hai có trả lời, trả vốn gì không hay nhớ chồng lên đại, tôi thấy chị ta cố lẩn vào đám đông, chắc sợ tôi nhìn thấy, hoặc có thể biết tôi đã thấy nhưng làm nước liều, có điều hôm nay không mặc bộ bà ba đen thường lệ mà là bộ đồ trận rộng thùng thình, đầu còn đội nón sắt, chị ta tính ngụy trang che mắt tôi, tôi cười thầm trong bụng khi thấy vợ Nở cuốn nguyên một dây đại liên quanh người, tôi mong chị ta đừng gặp tôi mà xin gì cả, chẳng thà để tôi lờ đi như không biết còn hơn là hợp thức hóa cho khó xử.

Năm 67, các Tiểu đoàn Bộ binh thường có ba Đại đội tác chiến, chia nhau vùng trách nhiệm họat động, hành quân lục soát từng ĐĐ chung quanh bộ chỉ huy TĐ, đôi khi có cuộc hành quân cấp Tiểu đoàn thường là nhẩy trực thăng và xa hơn. Ba Đại đội trưởng tác chiến đều cùng khóa 21 Đà Lạt gồm Th/U Vũ đình Hà (ĐĐ1), Th/U Lê xuân Sơn(ĐĐ2) và tôi ĐĐ3.

Một tối, Đại đội 1 bị tấn công, ĐĐ2 tối đó đóng xa, giữ con đường từ Long Thượng về Cần Giuộc, tôi nằm cách Hà(ĐĐ2) khỏang 500 thước, Tiểu đoàn mất liên lạc với Hà, kêu tôi lên tiếp cứu, chỗ Hà nằm tôi biết rõ vì đã từng đóng quân ở đây, chắc chắn là địch tấn công từ ngã rạch tấn công ra, tôi dẫn Đại đội chạy băng lên vì tình người bạn cùng khóa, tôi cho Đại đội bắn chặn nơi đầu rạch, nhưng vì không liên lạc được với Hà, tôi sợ quân ta bắn lầm quân bạn,, tôi chạy lại cây đại liên, cho chuyển hỏa lực về bên trái, dưới ánh sáng của pháo binh Cần Giuộc, tôi thấy vợ Nở nằm cạnh chồng, tay nâng dây đạn, Nở đang nghiến răng bóp cò, nhả từng loạt đạn về hướng địch.

Như tôi đã nói ở trên, dạo đó ở Long An VC chưa nhiều, chắc khoảng hai chục tên, đợi mình ơ hờ, liều lĩnh tấn công.Cũng tại nơi con rạch này, ít lâu sau, ĐĐ tôi hành quân lục soát ở đây và đụng nặng, sở dĩ đụng nặng vì địch tụ ở đâu về, ém quân trong đám dừa lá dầy đặc như vùng bất khả xâm phạm, chắc chúng tập trung ở đây, đợi đêm xuông có giao liên dẫn chúng xâm nhập Đức Hòa, Đức Huệ rồi qua Campuchia, chúng không ngờ ta lùng sục, chúng buộc phải chống trả.

Đám dừa nước cao ngất che dọc theo con rạch, hướng ĐĐ tiến vào là đồng trống, suốt vùng Long An này chỗ nào cũng vậy, bất ngờ ban đầu làm ta có ba binh sĩ bị thương và một chết, tôi xin pháo binh và Cobra lên vùng, hồi đó gọi máy bay ném bom còn là một điều mới mẻ, vũ khí xử dụng là của thời đệ nhị thế chiến, toàn là Garant, Carbin, cả Thompson nữa, ấy vậy mà cây đại liên 30 của Hạ sĩ Nở cũng có tác dụng. Nở người hơi thấp nhưng rất khỏe, một mình vác cây đại liên cả với chân ba càng, mỗi lần pháo bắn hay trực thăng phóng rocket là anh ta chạy nhào lên cho gần mục tiêu, lúc đó địch còn lo núp. Khi đã rất gần mục tiêu và có gò đất làm điểm tựa chắc chắn, cây đại liên mới phát huy được hiệu quả của nó, từng loạt đạn bắn ra làm bọn VC không ngóc đầu lên được, cộng thêm pháo và trực thăng bắn liên tục, ĐĐ chiếm được mục tiêu lúc gần tối, địch bỏ lại 6 xác và một số vũ khí. Trận đánh như thế này không đáng kể gì so với sau này khi SĐ 25 rời Long An di chuyển về vùng trách nhiêm mới là Tây Ninh, cuộc hành quân vượt biên năm 1970 cũng như ở Bình Long mùa hè đỏ lửa thì chiến trận lên tới cấp Sư đoàn, Quân đoàn.

Sáng hôm sau, Tướng Phan trọng Chinh, Tư lệnh SĐ xuống quan sát trận đánh và gắn huy chương, tôi đề nghị với TĐT thăng cho Nở lên Hạ sĩ nhất nhưng Tướng Chinh là người rất ngặt nghèo trong việc ban thưởng huy chương và thăng cấp, Nở chỉ được cái huy chương đồng, ông bảo huy chương đồng của SĐ 25 bằng huy chương vàng của các nơi khác(!)

Hai ngày sau ĐĐ còn được nghỉ dưỡng quân, tôi xuống tổ đại liên chơi, cả toán đang ngồi ăn cơm, tôi thấy vợ Nở đang mân mê cái huy chương của chồng, thấy tôi, chị có vẻ ngài ngại gật đầu chào rồi bỏ vào trong nhà, tôi nghĩ giá tôi có quyền, tôi sẽ tặng cho chị ấy một cái huy chương của buổi tối yểm trợ cho Vũ đình Hà.

Đầu năm 1968, tôi được đề cử theo học khóa Tác chiến trong rừng ở Mã Lai, tôi còn gắn bó với ĐĐ hơn một tháng nữa. Một buổi sáng, đang đứng trước cửa ĐĐ thì vợ Nở bất chợt ngang qua, chắc đi chợ về, thấy tôi, chị ta khựng lại muốn thối lui nhưng không kịp, chị ta làm bạo bước tới và khi ngang qua tôi, vợ Nở mím môi lại và dơ tay chào theo kiểu nhà binh, tôi ngạc nhiên, trong một phản xạ, tôi chào lại, chào xong, tôi mới ngẩn người ra nghĩ: sao mình lại chào nhỉ, hóa ra ĐĐ này có một nữ quân nhân ư? Có lẽ chị ta thấy mọi người trong ĐĐ chào tôi nên khi gặp, chị cũng chào để cho giống như những người kia chăng! Tôi thấy hình như bụng vợ Nở có hơi to ra. Tôi đem điều này hỏi Thượng sĩ Hội thì ông ta bảo: có vẻ như vậy Trung úy.

Tôi gọi Nở lên: - Vợ cậu có bầu phải không?

- Dạ, thưa Trung úy.

- Vậy thì cậu phải đưa cô ta về với bà già đi chứ, bầu bì rồi đi theo ĐĐ mãi sao được, phải lo sức khỏe cho cô ta.

- Dạ, em cũng tính tháng này lãnh lương xong, Trung úy cho em cái phép để em đưa nó về gởi bà già.

- Được rồi, lúc nào muốn cứ lên đây.

Hai ngày sau, Đại Đội được lệnh đóng quân đêm và tổ chức một cuộc phục kich ở sau lưng quán Năm Ngói, một địa danh nổi tiếng về sự khuấy rối của VC nơi đây, tối đó, ĐĐ chạm địch, một tốp nhỏ bọn chúng gặp toán phục kích, hai tên bị bắn hạ, số còn lại nhập qua toán kia thì đụng phải ĐĐ, nhờ toán phục kích nổ súng trước nên ĐĐ không bị bất ngờ, địch bắn rất rát nhưng không chủ ý tấn công nên sau một hồi, chúng rút lui, hình như có chuyện gì xẩy ra ở cây đại liên vì tôi thấy nó nổ được một chập thì im bặt, tôi đảo nhanh vòng quanh tuyến phòng thủ, không có tổn thất nào, nhưng khi tới cây đại liên, tôi thấy có mấy người lố nhố, linh tính cho tôi biết có chuyện không hay, tôi hỏi giật giọng:

- Gì vậy Nở?

Không có tiếng trả lời, tôi bước vội tới, thấy Nở ôm vợ, y tá Thọ đang loay hoay băng vết thương nơi ngực chị ta, thấy tôi, Nở nghẹn ngào:

- Vợ em nó chết rồi Trung úy ơi!

Tôi ngồi xuống, chị ấy bị trúng đạn ở ngực, máu ướt đẫm cả cái áo trận, y tá Thọ đứng lên:

- Chết rồi Trung úy.

Tiếng thằng Năm trong toán đại liên:

- Súng bị kẹt đạn, thằng Nở kéo mãi đạn không lên, con Ba nó chồm dậy mở nắp cơ bẩm, em la nó nằm xuống nhưng không kịp Trung úy.

Tôi thấy nghèn nghẹn ở cổ họng, từng chứng kiến nhiều cái chết nhưng lần này tôi thật xúc động. Thôi, chị Nở, từ nay chị hết cần phải tránh né tôi nữa rồi, sao tôi lại không cứng rắn hơn nữa với chị, giá tôi đừng tình cờ đọc được lá thư chị viết cho chồng, ừ, đáng lẽ tôi phải cứng rắn hơn, nhất định không cho chị đi theo ĐĐ như vậy.

Tôi báo với Thiếu tá Hải, Tiểu đoàn Trưởng về sự việc xẩy ra, ông có biết vợ chồng Nở, ông cho Sĩ quan CTCT/TĐ mua cái hòm, cấp cho Nở một cái xe Dodge để đưa vợ về quê mai táng. Tôi lấy hết tiền có thể có được, cả tiền quỹ ĐĐ đưa cho Nở, buổi trưa cuối năm, trời hơi lành lạnh, chiếc xe chở Nở và quan tài vợ đi ngang qua ĐĐ, tôi đứng nghiêm chào như một lần chị đã chào tôi, chị chết đi mà cái hòm không có phủ cờ, không được mười hai tháng lương, không cả được lên cấp chỉ vì chị là NGƯỜI LÍNH KHÔNG CÓ SỐ QUÂN.

Mười ngày sau, Nở trở lại đơn vị, trước ít ngày tôi về SG để chuẩn bị đi học, Nở đào ngũ, có lẽ Nở không chịu được cái cảnh mỗi tối vác cây đại liên tới chỗ đóng quân mà không có vợ bên cạnh.

x x x

Chị Nở thân mến, 40 năm sau ngày chị mất, hôm nay tôi ngồi viết lại chuyện này về chị, chỉ là một sự tình cờ thôi, hôm nọ tôi đọc loáng thoáng đâu đó người ta nói về những gương chiến đấu của Quân và Dân miền Nam trong công cuộc chống CS xâm lược trước đây, tôi chợt nhớ tới chị, một người không phải là quân, cũng không hoàn toàn là dân, gọi chị là gì nhỉ, chị lưng chừng ở giữa nhưng đã chiến đấu như một người lính thực thụ và đã hi sinh.

Một lý do nữa để tôi viết về chị là vì mới đây, Cộng Sản Việt Nam đã làm ầm ĩ lên câu chuyện về Đặng thùy Trâm, một nữ cán binh CS xâm nhập vào Nam và đã chết ở chiến trường Quảng Ngãi, cô Trâm này chết ở đây nhưng không ai biết nắm xương khô vùi chôn nơi đâu, một người lính Mỹ hành quân qua nơi cô chết và nhặt được cuốn nhật ký của Đặng thùy Trâm, cuốn nhật ký này, như một kỷ niệm chiến tranh của người lính, anh ta đem nó về Mỹ, mấy chục năm sau, nó mới được đưa ra ánh sáng và trao cho mẹ của Đặng thùy Trâm ở Hà Nội.

Nhà nước CSVN chụp được cơ hội này cho xuất bản cuốn nhật ký, dĩ nhiên với nhiều thêm thắt để khơi động lòng yêu nước của đám thanh niên càng ngày càng rời xa chủ nghĩa CS. Đặng thùy Trâm là một Bác sĩ, nhưng không hiểu có được học hành tử tế để thành một Bác sĩ không, tôi đã đọc được một truyện khi ở tù ngoài Bắc là có một anh công nhân được tặng danh hiệu anh hùng lao động vì đã phục vụ 15 năm trong phòng bào chế thuốc, và vì phục vụ hăng say và lâu như vậy, anh được thăng lên làm dược sĩ vì quen với công việc bào chế, phong dược sĩ xong, anh ta mới đi học bổ túc văn hóa vì anh ta viết chữ cũng chưa gọn ghẽ mấy. Bởi vậy, tôi không biết Bác sĩ Thùy Trâm này trình độ có khá hơn y tá Thọ của Đại Đội mình năm xưa không, hay cũng như mấy bà mụ vườn ở nhà quê.

Thưa chị Nở, cả chị và cô Đặng thùy Trâm này là hai người đàn bà ở hai chiến tuyến chết trong cùng cuộc chiến, trong cùng thời gian và độ tuổi cũng gần như nhau, nhưng hai cái chết mang hai ý nghĩa khác nhau, Thùy Trâm bị bắt buộc và tự đi tìm cái chết, còn chị, chị bị chết vì người ta ở mãi đâu vô đây tìm để giết chị, chị chỉ là tự vệ, chị không hận thù ai, không ai dậy chị oán thù, không ai tuyên truyền với chị về chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ và cũng không nhân danh chủ nghĩa để chém giết người khác, chị rất đôn hậu, còn cái cô Thùy Trâm kia đã từ ngoài đó vào đây, mang trong lòng sự thù hận bởi sự tuyên truyền nhồi nhét, miền Nam này nào có cần ai phải giải phóng đâu, cho mãi nhiều năm sau này, người miền Nam vẫn khẳng định rằng họ không cần ai giải phóng cả.

Chị Nở có thấy điều buồn cười này không là trong cuốn nhật ký, Thùy Trâm viết là sao quân Mỹ Ngụy tàn ác, thích chém giết, chị Nở có thích chém giết ai không hay người ta vào đây tìm giết chị, từ ngoài đó lần mò vào tận trong này để tìm giết người ta lại còn hô hoán là sao người ta thích chém giết mình, thật kỳ lạ. Cũng trong cuốn nhật ký, Thùy Trâm than phiền là phấn đấu đã lâu nhưng chưa được kết nạp đảng, đây cũng là lý do vì sao Thùy Trâm đi B, cố gắng trong công tác để chỉ mong được đảng kết nạp, chị Nở có biết cô ta mong được kết nạp để làm gì không, thưa là để có cơ hội được làm lớn, có đảng mới được làm lớn, có làm lớn thì mới có quyền và có tiền, bây giờ cả cái nước Việt Nam này, đảng Cộng Sản thi nhau vơ vét tiền bạc của người dân, chúng giầu lắm rồi, hồi trước mỵ dân, chúng đem những người giầu có ra đấu tố, gọi họ là địa chủ, giờ thì ai đấu tố chúng? Thùy Trâm này nếu mà không chết và giả như có ô dù, giờ có thể là Bộ trưởng Y tế hay làm Giám đốc một bệnh viện nào đó thì cũng là những con giòi, con bọ đang tham gia đục khoét thân thể Việt Nam.

Cũng là cái chết nhưng chị chết trong vòng tay người chồng, có mồ yên mả đẹp, có nhang, có khói, tội cho cha mẹ cô Thùy Trâm, không biết nắm xương khô con giờ ở chỗ nào, họa chăng là cái bàn thờ với tấm hình cô ấy mà thôi.

Bốn mươi năm đã qua, bây giờ nhiều thay đổi lắm rồi chị Nở ạ, ông Thiếu úy trẻ năm xưa giờ là ông cụ già rồi, vẫn khó tính như trước và đang phiêu bạt nơi xứ người, Thượng sĩ Hội đã mất, Nở từ ngày đào ngũ tôi không gặp lại, chắc đã có vợ khác, xin được tạ lỗi cùng chị là đã không giữ được đất nước để rơi vào tay quân thù, thật không xứng đáng với sự hi sinh của chị, chúng tôi làm mất nước không phải vì hèn kém, không chiến đấu, mất nước vì bị phải mất nước.

Quên kể cho chị nghe,mấy tháng sau ngày chị mất, vũ khí được tối tân hóa, những cây Garant cổ lỗ sĩ được thay bằng súng M16, còn cây đại liên 30 nặng chình chịc chị biết đấy, thay thế bằng đại liên M60, nhẹ hơn, bắn nhanh hơn và không hay bị kẹt đạn nữa chị Nở ạ. Thôi tất cả đã qua, chúng tôi vẫn không bao giờ quên những người đã hi sinh vì mảnh đất miền Nam thân yêu, không bao giờ quên được những gương chiến đấu dũng cảm của quân và dân trong việc chống lại quân Bắc phương xâm lược, hôm nay ngồi viết lại những hàng chữ này như được thắp nén hương trang trọng cho chị, thưa chị Nở.

Trần Như Xuyên

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà
"... Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự ...

Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Quân đội và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hoà ..."

Không biết bắt đầu từ thuở nào có một quy luật hình thành là ở một thể chế chính trị, đều thành lập một lực lượng để bảo vệ mình, lực lượng đó được gọi là quân đội.

Quân đội sinh ra từ chế độ và nó cũng vẽ nên những chân dung của chế độ. Chế độ tốt sẽ xây dựng nên một quân đội tốt. Quân đội tốt sẽ không dung dưỡng một chế độ xấu. Từ hơn hai nghìn năm về trước, người lính Việt Nam với chiếc áo trấn thủ, mang gươm giáo ngàn xưa để gồng gánh trên vai những nhiệm vu giết thù diệt loạn, bảo quốc an dân, giữ gìn cơ nghiệp của tiền nhân. Trải qua bao thăng trầm của đất nước, hình ảnh của người lính thay đổi qua bao thời thế, nhưng trách nhiệm không hề thay đổi.

Người thanh niên tuổi trẻ Việt Nam từ khi bước vào quân trường, khoác vội bộ đồ trận, lưng mang vác ba lô cho tới khi anh đứng nghiêm với lời tuyên thệ Vị Quốc Vong Thân. Người tuổi trẻ đã trở thành người lính. Anh trưởng thành hơn bóng dáng của quê hương. Người lính với chiếc nón sắt xanh đậm tròn tròn như nửa vầng trăng in rõ bóng trên nền trời xanh lơ. Anh đã bước ra, tay ôm súng và chân mang giày trận, anh giẫm mòn nửa vòng đất nước đi canh giữ cho quê hương.

Bắt đầu từ thập niên Sáu Mươi, khi kẻ thù phương Bắc, với xe tăng súng cối, với những chủ thuyết ngoại lai, với những xích cồng nô lệ, đã toan tính nhuộm đỏ quê hương, thì từ đó, người lính đã hiện diện trong tuyến đầu lửa đạn. Anh mang vác hành trang, chiếc ba lô nặng cồng kềnh để chận bước quân thù, để bảo vệ miền Nam.

Ðất nước hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài người lính hầu như không ngủ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn ngày để anh đi từ sáng tinh mơ, chân giẫm ướt ngọn sương mai trên cỏ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm, bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá. Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác vang trời không nghỉ.

Tiếng mưa bom đạn réo bên mình. Tiếng xe tăng nghiền nát đường quê hương. Hai mươi năm, anh đã đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn. Ðã đem hy vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng thân quen. Hay đã đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc. Hai mươi năm chiến tranh có bao ngày anh được ngủ yên trên chiếc giường ngay ngắn. Có bao đêm anh mơ được trọn giấc bình yên. Hay anh đã sống thân quen với đời gian khổ và đánh bạn với gian nguy.

Anh với đầu đội súng và vai mang ba lô, lội qua những vũng sình lầy nước ngang tầm ngực. Anh đã đi qua những địa danh xa lạ: Ashau, Ia Drang, Kontum, Pleime, nơi giơ bàn tay cũng không thấy được bàn tay. Hay anh truy địch ở bờ sông Thạch Hãn lừng lững sương mai, ở phá Tam Giang sóng vỗ kêu gào hay ở Cổ Thành xứ Huế mù sương. Dài dọc xuống Miền Nam với rừng Tràm, rừng Ðước, đến Ðồng Tháp Mười anh đã nghe muỗi vo ve như sáo thổi.

Anh đã đến những nơi mà anh không tưởng, anh đi diệt địch và anh đã ngã xuống địa danh chẳng quen dấu chân anh. Người lính nằm xuống ở Miền Nam xanh tươi ngọn mạ, ở những vùng trầm se rét Miền Trung, hay ở Miền Ðông xác thân thối rửa Từ Ấp Bắc, Ðồng Xoài, Bình Giả... cho tới Tống Lê Chân, An Lộc, Bình Long, người lính đã căng rộng tấm poncho để che kín bầu trời Miền Nam được yên ấm tự do. Nối gót tiền nhân, người lính, mỗi người lính đã đem 3.8 lít máu tươi, tưới cho thắm tươi hoa lá ruộng đồng, đã đem mỗi một 206 lóng xương khổ nạn của mình cắm trăm nẻo đường quê hương muôn ngã, để cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại. Ðể cho người dân quốc gia được sống no ấm ở hậu phương.

Những người dân quốc gia, những người dân quốc gia không hề muốn trở thành dân Cộng Sản, những người quốc gia luôn muốn bỏ chạy khi Cộng Sản tới và núp bóng người lính để được sống an nhàn ở chốn hậu phương. Họ hoàn toàn trao trọng trách bảo vệ quốc gia, ngăn thù dẹp loạn như một thứ công việc và trách nhiệm của người làm nghề lính, như thể không liên quan gì tới họ. Và họ tự trấn an lương tâm rằng người lính sẽ không bao giờ buông súng và sẽ mãi mãi bảo vệ họ tới cùng. Vì thế, họ luôn yên tâm sống ở hậu phương, yên tâm kiếm tiền và tranh đua đời sống xa hoa phè phỡn trên máu xương của người lính.

Và ở hậu phương, người lính đồng nghĩa với nghèo, đời lính tức là đời gian khổ, và tương lai người lính đếm được trên từng ngón taỵ Thế nên, người lính về hậu phương, anh ngỡ ngàng và lạc lỏng. Bỗng hình như anh cảm thấy mình như người Thượng về Kinh. Như vậy thì người ta tội nghiệp người lính và yêu người lính để thể hiện tình quân nhân cá nước trong sách vở, báo chí và truyền hình.

Người lính bị bắt cóc vào văn chương tiểu thuyết là những người lính giấy, vào văn chương để tự phản bội chính mình, để thoả mãn cho những kẻ trông con bò để vẽ con nai, và ngồi phòng khách để diễn tả chiến trường đỏ lửa. Người lính trên trang giấy ngang tàng và hung bạo, chửi rủa chính phủ, chống chính quyền và ghét cấp chỉ huy, lính la cà trong quán rượu, uống rượu chẳng thấy say, và càng say càng đập phá. Người lính xuất hiện trên sân khấu thì phong lưu và đỏm dáng hay trắng trẻo no tròn. Anh mặc đồ trận mới toanh còn nguyên nếp gấp, ngọt ngào chót lưỡi đầu môi anh ca bài ca mời gọi ái tình. à người yêu của anh lính là những cô mắt ướt môi hồng, áo quần xa hoa lộng lẫy, thề non hẹn biển yêu lính trọn kiếp trong ti vi. Như vậy thì quá mỉa mai cho cái gọi là anh trai tiền tuyến, em gái hậu phương.

Trong khi đó, ở ngoài đời những người vợ lính là những người chống giữ thầm lặng ở xã hội hậu phương.
Ðó là những người đàn bà bình dị với tấm áo vải nội hoá rẻ tiền, với đôi guốc vông kẻo kẹt, đóng vai vừa là người mẹ vừa là người cha nuôi con nhỏ dại, gói ghém đời sống bằng lương người chồng lính chỉ vừa đủ mua nửa tháng gạo ăn. Ðó là những người đàn bà tất tả ngược xuôi, lăn lộn thăm chồng ở các Trung Tâm Huấn Luyện, hay ở những nơi tiền đồn xa xôi với vài ổ bánh mì làm quà gặp mặt. Ðó là những người âm thầm và lặng lẽ, chịu đựng và hy sinh để chồng luôn an tâm chống giữ ngoài trận tuyến với đối phương. Hạnh phúc của họ mong manh và nhỏ bé, bất chợt như tình cờ. Có thể ở một thỏi son nhỏ bé mà người lính mang về để tặng vợ, có thể là một chiếc nón bài thơ, hay chút tình cờ ở một buổi tối người lính chợt ghé nhà thăm vợ. Hạnh phúc ở trong chén trà thơm uống vội, hay ở lúc nhìn đứa con bé nhỏ chào đời tháng trước.

Người vợ lính cũng là những người hằng đêm thức muộn để lắng tai nghe tiếng đại bác thâu đêm, rồi định hướng với lo âu trằn trọc. Ðó là những người đàn bà mà sau mỗi lần đơn vị chồng đụng trận, đi thăm chồng giấu giếm mảnh khăn sô. Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm và kỳ vĩ, họ vẫn sống và luôn gắng vượt qua để cho người chồng an tâm cầm súng. Ðể anh, người lính, anh mang sự bất công to lớn, sự bạc đãi phủ phàng, anh vẫn đi và vẫn sống, vẫn chiến đấu oai hùng giữa muôn ngàn thù địch.

Ở chiến trường, anh đối diện với kẻ thù hung ác, ở hậu phương anh bị ghét bỏ khinh khi, trên đầu anh có lãnh đạo tồi, sẵn sàng dẫm xác anh để cầu vinh cho họ, đồng minh anh đợi bán anh để cầu lợi an thân.
Những người dân của anh, những người anh hy sinh để bảo vệ từ chối giúp anh truy lùng kẻ địch, và điềm nhiên để anh lọt vào ổ phục kích của địch quân. Những người dân bán rẻ linh hồn cho quỷ, tiếp tay cho địch thác loạn ở hậu phương, đó là những kẻ chủ trương đòi quyền sống, trong đó không bao gồm quyền sống của anh.

Những kẻ để trái tim rung động tiếc thương cho cái chết của kẻ thù nhưng dửng dưng trước sự ngã xuống của anh. A dua, xu thời là bọn báo chí ngoại quốc thiên tả, lệch lạc ngòi bút, ngây thơ nhận định, mù quáng trong định kiến. ất cả vây quanh anh để tặng cho anh những đòn chí tử. Người lính bi hùng và bi thảm. Anh chống địch mười phương, tận lòng trong đơn độc, anh vẫn hy sinh và chống giữ tới hơi thở cuối cùng.

Ngày Hoà Bình, 28 tháng Giêng năm 1973 hiệp định Paris được ký kết Hoà Bình thật đến trên trang giấy, đến với thế giới tự do. Thế nên, thế giới tự do nâng ly để chúc mừng cho hoà bình của họ và nhận giải Nobel. Nhưng hoà bình đến ở Việt Nam tanh hôi mùi máu, đen ngòm như tấm mộ bia. Và anh, anh là vật thụ nạn trong cái hoà bình bi thảm.

Người lính vẫn tiếp tục ngã xuống, đem xác thân đắp nên thành luỹ để ngăn bước quân thù. Từ Ðông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ ngàn xưa và cho tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số phận bi thương và oai hùng như người lính?

Những người lính chịu uống nước rễ cây và đầu không nhấc thẳng, đi luồn dưới Rừng Sát suốt 30 ngày không thấy ánh mặt trời. Những người lính đi hành quân mà không người yểm trợ để hai ngày ăn được bốn muỗng cơm, hay ăn luôn năm trái bắp sống và những lá cải hư mục ruỗng, miệng thèm một cục nước đá lạnh giữa cái nắng cháy da.

Người lính, người ở địa đạo Tống Lê Chân ăn côn trùng để tử thủ giữ ngọn đồi nhỏ bé. Người nằm xuống ở An Lộc, Bình Long. Và thủ đô, vòm trời thân yêu mà anh mơ ước để tang truy điệu cho anh chỉ có ba ngày. Ba ngày cho sinh mạng của năm ngàn người ở lại. Người ta lại tiếp tục vui chơi và quên đi bất hạnh. Bởi bất hạnh nào đó chỉ là bất hạnh của riêng anh.

Người lãnh đạo anh còn mè nheo ăn vạ. Và anh, anh phải đóng trọn vai trò làm vật hy sinh. Trước nguy nan, lãnh đạo anh tìm đường chạy trốn thì anh vẫn còn cầm súng ở tiền phương. Anh đã chống giữ, chịu đựng từng đợt xung phong ở Ban Mê Thuột mỗi ngày 24 giờ, không có ai yểm trợ, tiếp tế từ hậu phương. Nhưng ở đó, anh vẫn phải tử thủ cho con đường tẩu thoát của cấp lãnh đạo anh tuyệt đối được bình yên.
Và đồng minh của anh, người đồng minh đã từng sát cánh, cùng chia sẻ nỗi gian nguy ở Hạ Lào, Khe Sanh dưới trời mưa pháo, nay lại nghiễm nhiên nhìn anh đi những bước cuối cuộc đời. Phải chăng nhân loại đang trút những hơi thở cuối cùng nên lương tâm con người đang yên nghỉ ?

Cho nên, cả thế giới lặng câm để nhìn anh chết. Không chỉ cái chết riêng cho mỗi mình anh, vì bởi dưới đuờng đạn xuyên qua, xác thân anh ngã xuống thì đau thương đã vụt đứng lên. Cái bi thương có nhân dáng lớn lên và tồn tại suốt ngang tầm trí nhớ. Và người lính, anh vẫn kỳ vĩ và chịu đựng như vị thần Atlas mang vác quả địa cầu, người lính đã mang vác và bảo vệ mấy trăm ngàn người dân trên đường triệt thoái.
Trên những con đường từ Cao Nguyên không thiếu những người lính gồng gánh cho những người cô dân chạy loạn. Tay anh dẫn em thơ, tay dắt mẹ già chạy trong cơn mưa pháo. Và anh đã làm dù, làm khiên đỡ đạn, cho nên thân xác anh đã căng cứng mấy đường cây số, hay xác làm cầu ở tỉnh lộ 7B, anh đã chết ở Cao Nguyên lộng gió và đếm những bước cuối đời ở ngưỡng cửa thủ đô.

Bởi lãnh đạo đầu hàng nên anh nghẹn ngào vất đi súng đạn. Với nham nhở mình trần, anh vẫn chưa tin đời đã đổi thay. Có thật không? Hai mươi năm chiến tranh kết thúc? Giã từ những hy sinh và gian khổ của hôm quả có thật không? gày buông rơi vũ khí, anh mơ được về để an phận kẻ thường dân? Và có thật không? Anh được đi, được sống giữa một quê hương rối loạn tràn ngập bóng quân thù?

Anh đã khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đã khóc nhiều lần cho những xác bơ vơ. Lính khổ lính cười, dân khổ để người lính khóc. Và có ai, từng có ai trong chúng ta đã khóc thương cho đời lính?
Thương cho người lính với trái tim tan vỡ từ lâu. Bởi trái tim anh đã hơn một lần để lại dưới chân Cổ Thành Quảng Trị, ở một mùa Xuân xứ Huế năm nào, ở Hạ Lào, Tống Lê Chân hay ở trong cái nồi treo lủng lẳng trên ba lô khi anh hô xung phong để tiến vào An Lộc? Người lính thật sự trái tim anh tan vỡ từ lâu.

Lịch sử đã sang trang, và loài người đã bắt đầu đi những bước cuối cùng trên trái đất? Thế nên thời trang nhân loại là thứ phấn hương tàn nhẫn, và môi tô trét thứ son vô tình.
Cả thế giới đồng thanh công nhận và gửi điện văn chúc mừng sự thống nhất ở Việt Nam. Và người ta uống chén rượu mừng để truy điệu Việt Nam đi vào cõi chết, chúc mừng Việt Nam có thêm 25 triệu nô lệ mới nhập tên. Hoà bình đã nở hoa trong cộng đồng thế giới, trong đời người Cộng Sản, nhưng hoà bình không thật đến ở Việt Nam.

Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự. Như con giun, con dế sợ ánh sáng mặt trời. Thế nên họ dẫn dắt toàn dân đi xây dựng văn minh thời thượng.

Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Việt Nam Cộng Hoà và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hoà. Người Lính rơi xuống vỡ tan trong lòng đường phố, nhưng từ đó anh mới thực sự đứng lên, đứng thẳng và oai hùng hơn trước trong trái tim của người dân Việt Miền Nam.
Bởi từ khi những người bộ đội Cộng Sản bước chân vào thành phố, thì người dân Quốc Gia mới thật sự hiểu được giá trị của anh. Và những sự lầm lẫn và hối hận hôm nay hình như luôn theo nhau đi vào lịch sử. Vậy thì, khi ta chết trên con đường chạy loạn, khi ta chết ở bãi Tiên Sa, ta vùi thân nơi vùng kinh tế mới hay ta chìm dưới đáy biển Ðông, không phải vì khẩu súng rơi trên tay người lính, mà ta chết bởi viên đạn ích kỷ, viên đạn lãnh đạm và thờ ơ xuất phát từ trái tim bắn ngược lại chính ta. Bởi sự thật về người Cộng Sản đã đi quá tầm tưởng tượng và sự hy sinh của người lính vượt quá nỗi bi thương.

Hai mươi năm chiến tranh, hơn hai trăm ngàn người lính, hơn năm trăm ngàn thương binh đã để lại hai trăm ngàn sinh mạng và năm trăm ngàn những phần cơ thể để lại trên chiến trường khốc liệt. Ðể cho chúng ta có một bầu trời để thở, có một khoảng không gian đi đứng tự do, để cho tuổi thơ của chúng ta không phải đi lượm ve, lượm giấy, không phải đeo khăn quàng đỏ và ngợi ca những điều dối gạt chính mình.
Ðể cho bàn tay thiếu nữ không chạm bùn nhơ thủy lợi, tuổi thanh xuân không phải vùi chôn ở những gốc mì. Ðể cho bà mẹ già không phải ngồi mơ ước miếng trầu xanh, và những giọt nước mắt thôi không cần tuôn chẩy.

Nhưng lịch sử đã sang trang, những trang hồng tươi màu máu cho người Cộng Sản và cũng là những trang đẫm máu và nhơ bẩn nhất cho cả lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Anh, người lính trong thời chiến thành người tù của thời bình. Người lính chịu số phận bi thương của chiến tranh và cũng chịu luôn số phận tàn nhẫn trong thời bình.

Anh người lưu vong trong lòng dân tộc, và lưu đày ở chính quê hương anh. Bởi Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và đẩy anh xuống đáy trầm luân. Cũng chính từ chiến trường Tù Ngục này mà Cộng Sản đã chứng minh được Chúng và Anh không là đồng loại. Chúng, là lũ Cộng Sản cuồng tín, và tàn bạo nhất giữa thế giới Cộng Sản và vô nhân. Chúng lập nên một vương quốc mới mang tên là Lừa Dối, và mở ra một kỷ nguyên giết người theo kiểu mới, giết người bằng những mỹ từ đẹp đẻ, bằng lao động vinh quang, bằng thời gian không thể đếm.

Người lính bước vào trận chiến mới, chiến trường có tên là cải tạo, và anh người tù nhân không có án. Ở đây anh không có lãnh đạo, không có đồng đội, không có hậu phương. Kẻ thù vắt cùng, vắt kiệt sức lực anh trong rừng thẳm. ày đọa sỉ nhục anh dưới hố xí tanh hôi, đem thanh xuân và tài hoa của anh vùi chôn ở những vòng khoai vớ vẩn. Ðặt hy vọng của anh máng vào những mốc thời gian.

Người lính đã trở thành vật thụ nạn thời bình. Anh chết đói bên những vòng xanh nở rộ do chính tay anh cày xới vun trồng. Anh chết khát khi bên ngoài mưa rơi tầm tã. Giữa những trùng vây sóng dữ, giữa bóng tối cô đơn Anh vượt qua sự chết để đem về nghĩa sống. Anh đi xiếc qua những ranh giới tử sinh để chứng minh được phẩm giá con người. Ðôi mắt anh cao ngạo và chân đạp chữ đầu hàng.

Từ trong tăm tối hận thù, anh thắp sáng lên ý nghĩa đời người. Anh đã chiến đấu, để từ trong cõi chết anh bước ra mà sống. Ðể anh trở về từ địa ngục trần gian. Bao đồng đội bất hạnh đã ngã xuống trong rừng thẳm, cuối cùng anh đã trở về: Nước mắt anh không rơi trong ngục tù Cộng Sản, nước mắt anh rơi khi anh được trả tự do. Anh bước về, anh đi giữa lòng quê hương. Anh ngỡ ngàng như thức từ cơn mộng. Có thật chăng đất nước Việt Nam, tàn hơn 30 năm chinh chiến và tù đày, để anh có được một đất nước thanh bình điêu tàn hơn thời chiến? Và tuổi trẻ, những mầm non đất nước hôm nay xa lạ như người không cùng chung dòng giống. Anh đi trên đường phố xưa, đường đã đổi tên. Anh tìm bạn bè cũ, đứa còn đứa mất. Quê hương này không có chỗ cho anh?

Hai mươi năm chiến chinh, mười mấy năm tù đày trên chính quê hương để rồi anh phải tha hương biệt xứ. Người lính, mười bốn năm lính, mười bốn năm tù, tài sẵn có, được trí trá vài đô la, và mái đầu sương điểm để anh bước vào đời lần nữa.

Anh không có quyền bắt đầu, chỉ có quyền tiếp tục trôi theo dòng đời nghiệt ngã. Người lính cũ ngồi bán nước đá bào cho học trò giờ tan học ở chính quê hương. Hay anh, người lính lưu vong ngồi bán thuốc lá lẻ hằng đêm trong những tiệm Seven Eleven trên đường phố Mỹ.

Ba mươi năm vết thương cũ hầu như chưa lần khép kín. Ôi, hai mươi sáu chữ cái bắt đầu từ a, b, c, đ dẫu sắp xếp khéo léo tới đâu vẫn không đủ để viết nên những bi hùng anh đã đạt. Và cần phải thêm vào bao nhiêu chữ nữa mới diễn tả lên sự xót thương anh.

Chúng ta đã quá may mắn, quá vinh dự để trang sử Việt Nam có thêm những anh hùng như người lính Việt Nam Cộng Hoà, những anh hùng vô danh và sống đời thầm lặng, những anh hùng bình thường mà ta chưa có dịp vinh danh.

Nhưng cho tới nay, ta đã làm gì để tri ân người lính Quốc Gia. Chúng ta những người dân Quốc Gia đi chung con thuyền Miền Nam do các anh chèo chống, đưa qua những con sóng dữ Việt Nam. Những người quốc gia đã sang thuyền trong cơn quốc nạn, và đã để mặc anh chìm trong cơn Hồng Thuỷ của Việt Nam.

Chúng ta, những người quốc gia tầm gửi, đã sống nhờ trên máu xương người lính, và chưa lần đóng góp nào cho chính nghĩa quốc gia. Có phải giờ đây, chúng ta tiếc thương người lính bằng đầu môi chót lưỡi, bằng những video, nức nở kêu gào, hay chúng ta khóc cho người lính bằng những trang thơ vớ vẩn? Và có ai, có ai trong chúng ta cảm thấy thẹn khi ta đã đôi lần hãnh diện vì ta nói tiếng Anh trôi chẩy hơn họ, xe ta đẹp, nhà ta to.

Ngày nay, Người Cộng Sản ở quê hương với đôi tay đẫm máu của thuở nào cũng nói lời phản tỉnh. Vậy còn ta, bao nhiêu người Quốc Gia sẽ thức tỉnh để vẽ chân dung kỳ vĩ và nhiệm màu của Người Lính chúng ta. Có ai trong chúng ta sẵn sàng chi tiêu những bữa tiệc đắt tiền trong những nhà hàng danh tiếng, mua những tấm vé vào cửa của đại nhạc hội lừng tên mà ta tiếc bỏ tiền ra để quyên góp, xây lại tượng Người Lính ở thủ đô đã ngã xuống hôm nào.

Ðể một mai, khi quê hương không còn giống Cộng Sản, ta đem anh về trở lại quê hương. Ðể anh được đứng lên chính nơi anh ngã xuống như cùng thời với đất nước lúc hồi sinh.

Bao nhiêu chuyên gia nhóm họp nhan đề "xây dựng lại đất nước trong thời hậu Cộng Sản". Vậy có ai đã đặt kế hoạch tri ân cho người lính ? Bởi, một ngày nào mà ta chưa biết tri ân người lính và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải ở từ lâu, thì làm sao ta có thể xây dựng được một xã hội đáng gọi là nhân bản.

Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà ....

Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc, thì dân tộc ta mới mong có được những truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai ....

Nguyễn thị Thảo An

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Ca sĩ Trần Ngọc Phong ( tự Phong Râu )
Được biết trong "Bữa Cơm Gây Quỹ Yểm Trợ Tù Nhân Lương Tâm" do Nhóm Yểm Trợ Tụ Do Dân Chủ Việt Nam tổ chức từ 3 giờ chiều đến 8 giờ tối ngày Chủ Nhật 9 tháng 5 năm 2010 tại Nhà Hàng Legin, Oregon, diễn giả là Ký Giả Hồng Phúc và Nhà Văn Phan Nhật Nam. Trong phần văn nghệ đặc sắc, độc đáo ngoài vợ chồng Nghệ Sĩ Văn Tiên/ Phương Thủy Dung cùng nhiều Ca Nhạc Sĩ địa phương còn có sự hiện diện lần đầu tiên của Ca Sĩ Trần Ngọc Phong. Với tư cách là một đàn em, một tù hữu của TNP trong bao nhiêu năm, tôi xin phép có đôi dòng giới thiệu về người Ca Sĩ đặc biệt này.

Trần Ngọc Phong, một Ca Sĩ chuyên nghiệp với giọng ca thiên phú, đã nổi tiếng một thời trên xứ Đà Lạt mù sương cuối thập niên 60 và đầu 70. Anh đi hát từ thuở còn đang theo học Đại Học Chính Trị Kinh Doanh, bắt đầu từ Phòng Trà ca nhạc La Tulipe Rouge năm 1964 rồi rất nhiều nơi khác. Anh hát với tất cả đam mê mà anh gọi là "nghiệp dĩ" chứ không hẳn vì tiền bạc. Cái nghiệp dĩ này đã bám chặt theo anh trong suốt cuộc đời sinh viên, binh nghiệp, tù đày...cho đến tận hôm nay trên miền đất tạm dung.

Anh tốt nghiệp Khóa 1 CTKD năm 1968, đang theo học Cao Học nhưng vì biến cố Mậu Thân đưa đến Tổng Động Viên, Anh phải nhập ngũ Khóa 9/68, ra trường đươc chuyển về phục vụ tại Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị với chức vụ Sĩ Quan Phụ Khảo thuộc Khối Văn Hóa Vụ (của Trung Tá Hoàng Minh Hòa) cho đến ngày mất nước.
Trong hơn 8 năm sống trong các trại tù khổ sai CS ngụy trang dưới mỹ từ "Trại Cải Tạo", tôi đã đi với Anh một đoạn đường dài từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vô Nam. Anh đã hát không ngừng nghỉ, hầu như mỗi ngày, mỗi đêm suốt thời gian này. Lúc đầu chỉ hát lén sau khi cổng trại đã khóa kín với vài người canh chừng vì CS cấm hát "Nhạc Vàng", sau dần thành công khai với những bản nhạc thòi VNCH trước kia được chuyển qua Anh Ngữ, bọn cán ngố có hiểu chi mô vì anh em gọi là nhạc "Liên Xô" hay "Cu Ba", đến những năm sau này thì không biết ai đã cải tạo ai, bọn cai tù CS công khai yêu cầu TNP hát "Nhạc Vàng"!!!

Trại Long Giao chúng tôi có một "phòng trà". Đó là một căn phòng bỏ trống bên cạnh nhà bếp. Tối tối anh em tập họp lại, người pha trà, người đóng góp vài cái bánh ngọt, vài cục kẹo, ít thuốc lào, thuốc rê.....đàn guitar tự chế bằng ván ép lượm lặt, dây đàn làm từ giây điện thoại...ghế ngồi bằng những khúc củi....trống là cái can xăng cũ lật ngược. TNP và Nguyễn Anh Tuấn thay phiên nhau hát mỗi đêm 4 năm mươi bài ! Nhà Văn Dương Hùng Cường (tức Dê Húc Càn) tham dự rất thường xuyên, thỉnh thoảng góp thêm vài chuyện tiếu lâm.

Khi bị chuyển ra miền Bắc với kỷ luật chặt chẽ hơn, sắt máu hơn, anh em chuyển qua hát "Nhạc Xanh" tức nhạc "Niên Xô" hay "Cu Má" (=Cu Ba) thực chất là nhạc chuyển ngữ để ngụy trang, đồng thời để ôn lại chút ngoại ngữ cho qua thời gian. Có nhiều chuyên viên ngôn ngữ trong anh em như Nguyễn Văn Ngọc, người nói viết thông thạo bảy (07) ngoại ngữ có thể giải thích tường tận ngữ pháp liên hệ khi có những tranh luận. Anh Ngọc đã giúp tôi chỉnh lại những bài học tiếng Đức khi tôi dịch quyển "Allemand Sans Peine". Hay nhất phải kể đến anh Lê Thành Luận, một Cử Nhân Văn Chương Anh, đã dịch những bài thật xuất sắc. Ví dụ một đoạn trong bài "Xin còn gọi tên nhau":

- Tiếng hát ru em còn nuối trên môi (Love song for you still on my lips)
- Lời nào gian dối cũng xin qua rồi (Please let's forget all what we've lied)
- Để lỡ ngày sau khi ta cần nhau (So that someday we'll meet again)
- Còn nuối chút êm vui ngày đầu (Little hope you're still be mine)
- Cho mình nhớ gọi thầm tên nhau (In our hearts murmur the names)

Và rất nhiều bài khác bằng tiếng Anh, Pháp hay Đức. TNP còn sở trường hàng trăm bài hát tiếng Tây Ban Nha nên rất thoải mái. Mỗi tối, trong khi anh em nằm trăn trở, có người trùm mền nhớ vợ thương con, có người rấm rức...TNP với cây đàn "tự biên tự diễn", anh hát nho nhỏ, cho mình, cho mọi người..có khi đến 1 hai giờ sáng. Anh hát nhạc Xanh, anh hát nhạc Vàng, anh hát những bài do anh sáng tác (hơn 30 bài) ...

bỗng nhiên nghe anh đổi tông qua nhạc Đỏ "nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng..." thì biết ngay anh vừa nhận ra ngoài song sắt thấp thoáng một vệ binh. Một hôm bất ngờ có một tên VC lên tiếng"vừa thôi Anh Phong ơi, tôi đã nghe nhiều bài anh hát nãy giờ rồi, hay lắm, đừng giả vờ nữa, cứ tiếp tục đi, tôi canh cho !!!"...dần dần quen đến độ mỗi tối Anh TNP phụ trách nhạc "yêu cầu" do cán binh CS "biến chất" tự nguyện làm lính canh để TNP tha hồ vi phạm "nội quy Trại". Có lần TNP làm reo:

- tôi sẽ hát bài Cán Bộ yêu cầu với điều kiện.
- điều kiện gì?
- Cán Bộ đưa khẩu AK cho tôi bắn vài phát rồi tôi mới hát !?!?
Anh em trong phòng cười rộ lên! Đùa tí thôi !!!

Ngày mồng một Tết 1978, Trại tập trung mọi người lên Hội Trường để nghe Trại Trưởng "chúc Tết"...trước thềm lục địa năm mới ?!?!...Chúc xong, Trại Trưởng "đề nghị" TNP hát một bài. Anh Phong đứng dậy chậm rãi: vì Trại Trường yêu cầu nên tôi xin hát bài "Hương Xưa", nhạc của Liên Xô (???) do Cung Tiến chuyển ngữ (???). Cả hội trường ngồi im phăng phắc, nổi da gà, rùng mình khi nghe TNP hát tỉnh bơ:'"Ôi những đêm dài lòng vẫn mơ hoài một giấc ai mơ, buồn sớm đưa chân cuộc đời, thời hoàng kim nay đã chìm trong sương mơ, dù có bao phen lắng men đợi chờ....nay đời tàn chết trong hoang vu, oán thù từng giờ.."' người ơi, chiều nào có nắng vàng hiền hòa sưởi ấm nơi nơi, người ơi, chiều nào gió thu về cho tôi nhặt lá thu rơi...!?!" VC làm sao hiểu nhưng tất cả anh em đều nghe rõ tâm sự của Anh, cũng là ước mơ của mọi người.
Cuối năm 1980, đa số anh em thuộc Trại tù Thanh Lâm (Thanh Hóa) được chuyển về Nam. Trước khi lên xe, cứ 2 người bị xiềng chung lại với nhau bằng một sợi dây xích có khóa. TNP bị xích với Nguyễn Văn Sơn (Sơn Lai), tôi "cùng khóa" với Ngô Ta (tên thật một người "đồng hương" của tôi. Cùng trại có anh Ngô Tây và một anh tên Ngô Xứng nhưng anh em cứ kêu "Ngô Sắn" cho đủ bộ tam sên). Dĩ nhiên trong cuộc hành trình gần 4 ngày đêm, những đôi "uyên ương" này không bao giờ rời nhau trong mọi sinh hoạt. Ra đến nhà ga Thanh Hóa lúc 2 giò sáng, anh em nằm vất vưởng trên nền xi măng, căn phòng khóa kín, cố tìm giấc ngủ chập chờn...Cái lạnh như từ trong xương lạnh ra...TNP lại cất tiếng hát, tay bị xiềng vẫn bấm phím đàn, những bài hát gây cảm xúc khó tả, trong đó, một bài mang tên "Babilon" của LM Nhạc Sĩ Nguyên Thanh mà tôi không thể nào quên trong suốt cuộc đời. Khi đoàn tàu vừa vượt qua cầu Hiền Lương, các toa xe đều vang lên những tiếng reo mừng “về quê rồi” "chúng ta đã trở về quê hương""về Nam rồi anh em ơi"...

TNP hát lớn hơn bao giờ, vui hơn bao giờ. Đến Quảng Trị, bỗng một viên đá liệng trúng ngay một tên vệ binh làm hắn rớt nón cối. TNP giả bộ xót xa: chết rồi, dân miền Nam còn căm thù chúng tôi quá, họ ném đá chúng tôi đấy chứ, không ngờ trúng phải cán bộ?!!? Đến ga Huế, rất nhiều em bé bán đủ loại bánh trái trên sân ga. Một em trèo lên toa của tôi: mấy chú mua bánh không? Tôi giơ cánh tay bị xiềng lên: cám ơn cháu, mấy chú là tù làm gì có tiền! Ụa, mấy chú là Sĩ Quan miền Nam hả? Đúng cháu ạ! Em bé lẳng lặng đổ luôn thúng bánh lá xuống sàn rồi la lên: Cha con cũng tù như mấy chú, con tặng mấy chú đó, không lấy tiền đâu. Em nhảy xuống tàu rồi chạy mất hút....Một anh phế binh đang chống nạng khập khễnh bước đi, nghe đối đáp giữa tôi và em bé, anh bỗng đúng nghiêm trên một chân, hai cái nạng rơi ra, tay phải giơ lên chào, tay trái đập mạnh vô đùi, cằm bạnh lên, đôi mắt long lanh....tự nhiên tôi không ngăn được giòng lệ....cám ơn anh, "còn trời. còn đất, còn non nước.." .phải không anh? Dạ, một tiếng dạ thật lớn, thật cương quyết, thật căm hờn...TNP hát lớn : "cười lên đi anh ơi, cười lên dấu những dòng lệ rơi, hãy ngước mặt nhìn đời...." Xe từ từ lăn bánh..anh phế binh vẫn đứng im thật lâu trên một chân, chào một lần nữa rồi ngồi bệt xuống đất, một tay vò đầu, một tay sờ soạng tìm cặp nạng...Khi xe gần đến thành phố Đà Nẵng, vệ binh VC bắt chúng tôi đóng hết các cửa xuống. Lúc bánh xe ngừng hẳn chúng tôi nghe những tiếng đập bên hông tàu:

- mở cửa ra mấy chú ơi, mở cửa ra mấy chú ơi!
- mấy chú là tù, có công an trên xe cấm không cho các chú mở

Các cháu tiếp tục la lớn hơn, đập vào thành xe mạnh hơn. Căng thẳng. Hà Bằng thét lên thật to:

- Trời đất ơi, nóng quá rồi, ngộp thở rồi, mở cửa ra lẹ lên

Tất cả anh em ngồi bên cửa nhìn nhau rồi đồng loạt mở tung lên, mặc những tên vệ binh la hét, nạt nộ, tức thì những ổ bánh mì được ném vào. Tôi nhìn thấy rõ những em bé trên dưới 10 tuổi tay cầm 2 ổ bánh, ném xong lại chạy thật nhanh ra xa xa, nơi đó có vài thiếu phụ đứng bên cạnh những cần xế bánh, nhận 2 ổ khác, tiếp tục hăng hái chạy đi "giao hàng" !!!

Không lẽ họ có tổ chức ?? Thấy vậy, TNP xướng trước, anh em cùng vỗ tay đồng ca bài Việt Nam Việt Nam hùng tráng biết bao. Vài cô gái ngồi trên chuyến tàu bên cạnh yêu cầu, TNP hát liền mấy bài, tiếng vỗ tay, tiếng cười vang vang, ngạo nghễ...

Một số tiếp viên trên tàu lén ra hiệu hay nói nhỏ nếu chúng tôi muốn nhắn tin gia đình, bỏ vô gạt tàn thuốc bên cạnh chỗ ngồi, họ sẽ chuyển giùm cho. Tôi lấy một vỏ bao thuốc lá Mai viết ở mặt sau địa chỉ nhà với dòng nhắn: "Con vẫn khỏe. Đang đươc chuyển về Nam, không biết trại nào, hình như Long Khánh. Chờ tin con" (không ký tên). Hình như tất cả những "thư" nhắn của chúng tôi đều đươc các em các cháu đích thân tìm đưa đến tận nhà. Các anh trên chuyến xe lửa xuôi Nam ngày cuối cùng của năm 1980 có còn nhớ cảm tình này, hình ảnh này không? Ân nghĩa thâm sâu của bà con Huế Đà Nẵng có ai còn nhớ không? Cái chào thân thương của người bạn phế binh hình như vẫn còn đó, anh vẫn còn đang đứng mãi nơi đó, đứng trên một chân, bất động, tay vẫn chào, mắt vẫn còn ngóng theo đoàn tàu, đoàn tàu nay tha hương..vì miếng cơm, manh áo, vì sinh kế sinh tồn, vì mải mê mưu cầu chút hạnh phúc bản thân....có ai, một lúc nào đó, còn nhớ đến anh chăng ? Hay vẫn cứ bình thân an phận thủ thường !?! Chúng tôi về đến Z30A Xuân Lộc Đồng Nai vào lúc 11 giờ đêm, giờ cuối cùng của năm 1980 để bắt đầu ngày 1 tháng 1 năm 1981 tại nhà tù này.
Ngoài tài ca hát, TNP còn rất có duyên kể chuyện. Anh là tác giả của rất nhiều chuyện tiếu lâm châm chọc CS. Chuyện gì anh cũng có thể biến thành hài hước. Ngay những ngày căng thẳng vì phải khai lý lịch, TNP vẫn bình thản. Từ phòng lấy khẩu cung ra, Anh Phong vẫn với nụ cười "vểnh râu" cố hữu: hôm nay tôi được "dạy" một bài học nhớ đời. Thằng cán bộ hỏi:

- Anh Phong, anh khai rằng anh có văn bằng Cử Nhân, vậy bằng Cử Nhân nghĩa là gì?
- Thưa cán bộ, Cử Nhân là Cử Nhân chứ còn là gì nữa.
- Anh học Cử Nhân làm sao?
- À, thì tôi học từ Tiểu Học, lên Trung Học phải thi lấy bằng Tú Tài một, rồi lấy bằng Tú Tài Hai, rồi lên Đại Học học thêm 4 năm nữa, học tốt mới được cấp văn bằng Cử Nhân.

Tay cán bộ lẩm nhẩm tính toán một lúc rồi ra điều "ta đây":

- Như vậy là anh có bằng "Tú Tài sáu" phải không?
- À à, hai cộng bốn là sáu, cũng đươc, cán bộ giỏi quá, biết làm cả tính cộng nữa !!!
- Đúng đấy. Nhưng tôi bảo thật anh nhá, anh học đến Tú Tài 6 mà anh ngu lắm!
- Tôi ngu thế nào cán bộ phải cho tôi biết chứ? TNP chợt sửng cồ lên!
- Anh vểnh tai mà nghe tôi dạy đây. Anh Tú Tài 6 mà anh quá ngu ở chỗ...Nhà anh ở đường Huỳnh Tịnh, Sài Gòn phải không?
- Ơ, ơ...
- Ừ đấy đấy, Huỳnh Tịnh Sài Gòn thì viết Huỳnh Tịnh Sài Gòn, đằng này anh viết Huỳnh Tịnh của Sài Gòn mà chữ "của" anh còn viết "hoa"!?!?
- Chu choa trời đất ơi, trên đời này tôi chưa hề thấy thằng nào ngu như....thằng… tôi ! Cám ơn cán bộ nghe!
- Ừ !! (ghi chú: Nhà anh TNP ở đường Huỳnh Tịnh Của, Tân Định)

TNP còn rất "ga lăng" với phái nữ. Một lần trước mặt anh em, anh lân la đến làm quen với một "nữ cán bộ"

- Không phải tôi thấy người sang bắt quàng làm họ, chứ tôi thấy cán bộ quen lằm? Hình như cán bộ quê "đồng bằng sông Cửu Long"?
- Không, tôi người miền Bắc.
- Thế vậy chắc cán bộ đã vô Nam và sống gần Phi Trường Tân Sơn Nhất?
- Không, tôi chưa hề vào Lam. Tại sao anh hỏi thế?
- Tại tôi thấy cán bộ...bằng phẳng quá. Cán bộ cái nhăn mặt, một lúc mới hiểu ra:
- Im ngay, anh đừng "nếu náo" như vậy.
- Không dám đâu. Xin cán bộ bớt lóng. Cán bộ "vu khống" tôi rồi!!! Xin lỗi xin lỗi !!

(Xin đọc ngược chữ vu khống) Anh em được một phen cười bể bụng!

Một lần cả đội phải đi K5 vác gạo sớm. Sương mù vẫn còn dày đặc. Bên vệ đường có một cục đá lớn trên đó có 2 đứa bé khoảng 9 mười tuổi ốm o gầy giơ xương, trên đầu loe ngoe vài sợi tóc, da mặt nhăn nheo đang ngồi bó gối mà đầu gối cao trên hai tai....

TNP đến trước hòn đá khoanh tay cúi đầu rất lễ phép "cháu xin kính chào hai Cụ ạ".
Vệ binh nạt: anh Phong làm gì vậy?
- Tôi thấy hai Cụ đây giống y chan hình các Ông Tiên trong truyện cổ tích nên định đến xin xỏ vài việc...
- Vớ vẩn, khẩn trương đi đi !!!

Hơn tám năm, biết bao nhiêu chuyện. Quả thật TNP là người tôi rất mến, rất phục. Anh không những trực tiếp nâng tinh thần anh em bằng lời ca tiếng hát, bằng những chuyện tiếu lâm...mà còn bằng chính phong cách hiên ngang của một dũng sĩ dù chiến bại. Ngay trong năm đầu tiên khi vừa bị chuyển ra Đảo Phú Quốc, Anh và 4 người nữa đã tổ chức trốn trại, cả tháng trời băng rừng vượt núi đến tận bờ biển phía tây của đảo, dự định kết bè thả trôi về hướng Thái Lan hay Mã Lai nhưng xui xẻo vào mùa gió Tây nên đành nằm chịu trận để rồi bị bắt lại với bao nhiêu nhục hình tra tấn...

Thế mà lúc nào anh cũng cưới, nụ cười vểnh râu với bộ ria mép bất hủ, với cái nick name thân thương "Phong Râu"!

Nguyễn Thế Thăng
tony.t.nguyen@us.army.mil

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Người lính không số quân
Phạm Hồng Ân

Cách đây vài năm, trên tờ tuần báo ở Santa Ana có in một mẩu nhắn tin đậm nét như sau :

Tìm Anh Phạm Hồng Ân
Qua Mỹ, hiện anh đang ở đâu?
Xin gọi cho em là Trần văn Ðực
Số phone: (714) 602…..


Ồ! Thằng Ðực. Thằng Ðực ngày xưa. Thằng Ðực của cái thời Việt Nam Cộng Hòa đây mà! Dĩ vãng quay về. Khúc phim hiện ra. Tôi còn nhớ như in, năm 1972, lúc giang đoàn tôi hoạt động ở Mộc Hóa, có một cậu bé khoảng 13 tuổi thường mặc tà lỏn đen, áo trắng ngã màu cháo lòng, cài nút vạt thấp vạt cao – lân la xuống bến chiến đỉnh để phụ lau rửa sàn tàu, dọn dẹp sạch sẽ các vật dụng – mỗi khi giang đoàn hành quân trở về căn cứ. Lúc bắt tay vào công việc lau rửa, nó rất siêng năng và tận tụy để cuối cùng chỉ vòng tay lễ phép xin một ít dầu gasoline cho mẹ nấu cơm và thắp đèn. Ban đầu, tôi tỏ vẻ nghi ngờ, có thể việt cộng mưu mô gài thằng bé này xuống đây lấy tin tức tình báo, nên tôi giả vờ thân quen, tìm cách đến nhà nó dò la. Nhưng đó chỉ là một gia đình nghèo, sống trong con hẻm ngay thị trấn. Người Mẹ đi làm cưu mang gánh nặng gia đình, nuôi thêm một ông chồng bệnh lao thời kỳ cuối cùng.

Vì có thời gian giả vờ thân quen, theo sát lẫn nhau, nên tôi và thằng Ðực quen thân thật sự lúc nào cũng chẳng hay. Nó gắn bó với tôi một cách trung thành. Lần nào tàu về bến, không thấy nó, tôi cảm thấy như trống trải thiếu vắng một điều gì. Ngược lại, những lúc tôi cảm mạo, nó lo tôi từng miếng cháo, viên thuốc.

- Ông thầy ăn cháo thấy ngon không? Thấy có khỏe chút nào không?

- Ngon. Cháo này mày nấu hay mẹ mày nấu vậy?

- Em nấu. Ơ, Em học ở mẹ. Em nhìn thấy mẹ nấu cho ba, em nấu theo đấy! Mai mốt đi hành quân, lỡ bị bệnh, ông thầy tự nấu lấy mà ăn. Dễ lắm! Nấu nồi cháo trắng, đập hột gà bỏ vô quậy đều, nêm nước mắm bột ngọt, xong nhắc nó xuống bếp, xắt hành và đâm tiêu đổ vào, quậy đều thêm lần nữa, rồi ăn. Ông thầy nhớ cạo gió nha! Kêu mấy anh thủy thủ cạo gió cho ông thầy.

Có lần, chiến đỉnh về bến, thằng Ðực đang lau rửa con tàu như thường lệ, bỗng từ phía bờ sông bên kia việt cộng pháo kích qua. Tôi vội vã ra lệnh tách chiến đỉnh ra khỏi bến, quay mũi trực chỉ về hướng địch, dùng hỏa lực dập tắt trận pháo kích điên cuồng của cộng quân. Chiến đỉnh tách bến vô tình mang theo thằng Ðực. Nó loay quay trong khói đạn tơi bời, cuối cùng chạy thẳng đến cây đại liên 30 nằm bên hông tàu, hiên ngang chỉa họng súng vào bờ.Tôi hoảng hốt chụp nó lại, ấn mạnh nó xuống hầm tàu.

- Mày tính làm gì đó thằng khỉ? Làm ơn nằm xấp xuống hầm tàu cho tau!

- Em bắn việt cộng. Cho em tiếp tay với ông thầy?

- Bắn? Làm sao bắn? Mày muốn tau ngồi tù hả, thằng khỉ?

- Em có đi với nhóm Nhân Dân Tự Vệ, học bắn súng với họ. Nè! Nhắm lỗ chiếu với đỉnh con ruồi….

- Mẹ, nói trật lất. Lỗ chiếu môn với đỉnh đầu ruồi.

Tôi vừa cú đầu nó, vừa đẩy nó ngã xấp xuống hầm :

- Mày nằm im, không được nhúc nhích. Lạng quạng tau bắn mày trước đó!

Tháng tư năm 1975, đất nước điêu linh, số phận tôi nằm trong vận mệnh của hàng triệu sĩ quan bạc phước vào tù. Tưởng sẽ vĩnh viễn không trở lại Mộc Hóa, vĩnh viễn không gặp lại thằng Ðực nữa, nào ngờ tôi gặp lại nó trong trại tù Xuyên Mộc. Buổi sáng, tôi thường ngồi trước sân nhai bắp để chờ giờ tập họp vào rừng lao động. Tôi bỗng thấy một cậu tù hình sự đang lui cui quét rác ở nhà giam bên kia, dáng dấp nó giống thằng Ðực quá. Tôi đi vội đến hàng rào, ngóng cổ để nhìn cho rõ hơn. Chợt, cậu tù buông chổi, la “á” lên, xong, chạy một mạch về phía tôi.

- Trời ơi! Ông thầy! Em tưởng anh đã “dzọt” mất tiêu rồi chứ!

Tôi cẩn thận ngó khắp hướng, rồi lấy ngón tay trỏ đưa lên môi :

- “suỵt”, giờ này mà còn thầy với bà gì nữa, xưng là anh em đi! Coi chừng tụi “ăng ten” rình rập xung quanh!

- Anh vô đây hồi nào? Sức khỏe ra sao?

- Mới vài tháng. Chưa đến nỗi nào. Còn mày? Sao lại ở đây?

- Em “quánh” thằng 30 tháng tư. Mẹ, nó nịnh việt cộng, nói thêm nói thừa cho mấy ông lính xóm em. Thằng đó bị bể đầu. Còn em, tụi nó “thẩy” vào đây.

Từ ngày gặp lại thằng Ðực, nỗi buồn lao tù của tôi dường như vơi đi rất nhiều. Mỗi chiều, sau khi lao động trở về, Ðực thường mang đến tặng tôi những món lương thực hấp dẫn. Có khi vài ba con cá nhỏ. Có khi vài ba con chim. Có khi một bịt nấm mối hay khoai lang, đậu phọng …v…v… Ngày nào cũng vậy, thằng Ðực tìm cách mưu sinh rất dễ dàng, trong khi đa số tù nhân ở đây thườngđói khát, vì số lượng khoai mì do trại tù ban phát quá hiếm hoi và khiêm tốn.

Lao động quần quật suốt tuần. Ngày chủ nhật cũng được nghỉ ngơi để làm công tác lau dọn sạch sẽ trại tù. Ngày đó, hai anh em tôi có dịp ngồi với nhau ôn lại chuyện đời. Tôi thường hỏi về cách mưu sinh của thằng Ðực, cái thằng tuổi đời quá ít ỏi, sao có được một kinh nghiệm về cuộc sống quá tài ba như thế này! Thằng Ðực tủm tỉm cười :

- Mỗi chiều, trước khi về trại, tụi nó lùa mình xuống sông Ðrây tắm rửa giặt giũ. Lợi dụng thời gian đó, em đi dọc theo các hang đá để bắt cá. Con cá nó khôn lắm anh ơi! Nó lựa những hang hốc nào phủ đầy rong rêu, tăm tối, ít có bóng người lò dò tới mà ẩn náu. Em tìm đúng những hang như thế, thọc mạnh tay vào, tệ nhất cũng bắt được một cặp cá ngon lành.

- Rủi gặp hang rắn, nó cắn chết cha…

- Không. Hang cá, nước ở đó trong vắt. Hang rắn, nước đục ngầu. Vì con rắn lớn và dài. Mọi cử động của nó làm bùn dậy lên.

- Còn chim, còn nấm mối… thì sao?

- Tụi cán bộ ở đây bắt mình phá rừng trồng bắp. Anh nhớ,trước khi gieo bắp, nó phát mình hột bắp và thuốc trừ kiến. Hai thứ trộn chung với nhau, xong, mới đặt hột bắp xuống lỗ, rồi lấp đất lại. Vì tụi nó sợ con kiến cắn hột bắp ăn, hột bắp sẽ thúi và không nẩy mầm lên cây được. Cho nên khi đặt hột bắp xuống, anh đừng lấp đất lại. Chim bay trên trời khi thấy bắp, nó sẽ xà xuống “đớp” liền. Anh cần kiên nhẫn chờ giây lát, chim thấm thuốc, nó sẽ tự động rớt lạch đạch dưới chân anh. Còn nấm mối? Nấm mối chỉ mọc ở hang mối hay gò mối. Ðặc biệt, nó thường mọc vào mùa mưa. Vào thời gian đó, anh cứ đến những nơi này tìm, nhất định sẽ có dịp “trúng” to.

Tôi chấp tay bái phục thằng Ðực :

- Mày quả thật tài ba. Kinh nghiệm sống của mày, thật tình… hơn tau nhiều.

- Không dám đâu ông thầy. Em làm sao có kiến thức cao siêu bằng ông thầy!

Thời gian trôi qua, khi mãn tù, tôi và thằng Ðực không gặp lại nhau nữa. Cho đến khi tôi theo diện HO qua MỸ định cư, hôm nay tình cờ đọc được những dòng nhắn tin của thằng Ðực, tôi mừng đến không tài nào ngủ được.

Tôi và thằng Ðực hẹn nhau ở Phước Lộc Thọ. Cái quán cà phê đầu tiên, ngay lối ra vào. Xa nhau lâu quá, thời gian đã làm hai đứa đổi dạng thay hình, nên dù có chạm mặt nhau… cũng không dễ nhận ra nhau. Vì thế, tôi gợi ý cho thằng Ðực, người nào ngồi ở bàn có cầm tờ tuần báo Sài Gòn Nhỏ phe phẩy quạt, người đó chính là tôi. Chẳng bao lâu, có một vòng tay từ sau choàng qua cổ tôi và thét lên mừng rỡ :

- Ô! Ông thầy! Khoẻ không? Em đây, em là thằng Ðực đây!

Tôi đứng dậy, ôm chầm đôi vai nó, nước mắt tự dưng rớt ra :

- Mày là thằng Ðực đây ư? Trời ơi! Sao bây giờ có vẻ người lớn và mập mạp như xì thẩu vậy?

- Ông thầy cũng vậy. Bụng phệ nữa. Ở xứ sở tự do, con người cảm thấy bình an nên ăn no ngủ khoẻ hở ông thầy?

- Mày qua đây theo diện nào? Bây giờ, làm ăn ra sao?

- Em qua diện Ô Ði Ghe. Vượt biên đó ông thầy. Hiện tại, em là chủ một nhà hàng sushi.

Tôi há hốc mồm:

- Chủ Sushi? Mày tài vậy Ðực?

- Cuốn Sushi còn dễ cuốn hơn chả giò nhiều. Lúc đầu, em chỉ làm công. Một thời gian lăn lóc, em rình mò học lén bí quyết của mấy thằng Nhật… rồi… làm nên sự nghiệp.

- Chủ nhân như vậy, tương lai có dự định gì thêm không? Chẳng hạn mở thêm chi nhánh ở vài chỗ khác…

- Không. Em muốn dẹp nghề, đi lính Mỹ.

Tôi lại há hốc mồm:

- Trời ơi! Ði lính? Ở Việt Nam, cuộc đời tau và mày bị chiến tranh bầm dập muốn tiêu tùng. Bộ mày chưa sợ sao?

- Bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ tự do mà sợ gì ông thầy. Em có máu giang hồ, khoái lang bạt đó đây còn hơn ngồi chôn chân một chỗ.

- Nhưng bây giờ mày ngon lành rồi, phải hưởng chứ, bù lại những năm tháng nghèo nàn khổ sở.

- Vinh thân phì da… tới lúc nào đó… sẽ sinh ra thói hư tật xấu. Em muốn có một lý tưởng, một cái gì để lại cho đời.

Năm tháng đã qua, tự dưng tôi không còn liên lạc với thằng Ðực nữa. Không biết bây giờ nó còn làm chủ nhà hàng Sushi hay đã tự nguyện đầu quân vào lính Mỹ. Dù thế nào đi nữa, cứ mỗi 30 tháng tư hàng năm, tôi đều trầm ngâm nhớ đến nó, và ngồi uống rượu một mình trong căn phòng vắng lặng.

Nếu quan niệm Người Lính là người luôn bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ tự do. Là người hy sinh tới cùng cho đồng đội, cho quê hương… thì thằng Ðực đáng được gọi là người lính, mặc dù nó chưa bao giờ cầm súng trực diện với kẻ thù. Đối với những kẻ phản bội, những tên một mặt hai lòng, những tay bán nước cầu vinh… thằng Đực quả là một người quốc gia chân chính, đáng được tuyên dương và trân trọng.

Phạm Hồng Ân
Escondido, 04/05/2011

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Vô cùng xúc động nhận được tin buồn :
Niên Trưởng Cựu Trung Tá Nguyễn văn Thúy
Cựu SVSQTB Khoá 2 Võ Khoa Thủ Đức
( tức nhà văn Kỳ văn Nguyên )

Cựu quản đốc đài phát thanh Quân Đội
Cựu Trưởng phòng Tâm Lý Chiến Trường Chỉ Huy Tham Mưu Đà lạt .
Chức vụ sau cùng Trưởng khối CTCT / Cục Truyền Tin


Sinh năm 1922
Đã từ trần vào ngày 11 Tháng 3 năm 2012
tại Santa Ana , California
Hưởng thọ 91 tuổi .



Hội cựu SVSQTB Thủ Đức San Diego
thành thực chia buồn đến tang quyến
Nguyện cầu cho linh hồn Niên Trưởng được nghỉ ngơi yên bình nơi cõi phúc


Image

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Image

40 Năm, Một Thời Chinh Chiến
Khoá 4/71 SQTB Thủ Đức “An Lộc” và binh chủng Thủy Quân Lục Chiến


MX Phan Văn Đuông

Khóa 4/71 SVSQ/TBTĐ chính thức khai giảng ngày 7/2/1972 quy tụ 1517 TKS, sau 10 tuần thụ huấn căn bản QS tại TTHL Quang Trung và nhập Trường Bộ Binh Thủ Đức ngày 1/2/1972.

Ngay từ đầu, khóa 4/71 đã có nhiều điều kém may mắn so với hầu hết các khóa SQTB khác. Điển hình nhất là ở cả Quang Trung lẫn Thủ Đức, khóa 4/71 không hề có phép cuối tuần. Ngay cả phép 48 tiếng sau lễ gắn Alpha cũng bị rút xuống còn 36 tiếng (khóa sinh đang đi phép ở Sàigòn thì nghe lệnh đọc trên đài truyền thanh, truyền hình phải tập trung trở về trường gấp vì tình hình khẩn trương!) Thời gian khóa 4/71 có mặt ở Sàigòn lâu nhất là 15 ngày ứng chiến tại Sài Gòn. Tình hình lúc bấy giờ rất là sôi động ở các mặt trận An Lộc, Ban Mê Thuột, KomTum và nhất là Quảng Trị. Các đơn vị đều bị khiếm khuyết lớn đang cần bổ sung, và 1517 tân sĩ quan của khóa 4/71 là một đáp ứng kịp thời cho nhu cầu thiếu hụt sĩ quan đó.

Lễ mãn khóa 4/71 SQTB được tổ chức vào ngày 29/7/1972 và được đặt tên là khóa An Lộc. Ngay sau lễ mãn khóa, các tân SQ vừa chia tay gia đình và bạn bè xong là được từng đoàn xe GMC của các đơn vị nối đuôi đến tiếp đón đưa về thẳng đơn vị chứ không có phép mãn khóa.
100 tân sĩ quan khóa 4/71 tình nguyện về binh chủng TQLC được tiếp nhận và đưa về Trung Tâm Huấn Luyện Rừng Cấm để được huấn luyện căn bản TQLC về kỹ thuật leo lưới, đổ bộ. Ngay sau đó toàn bộ 100 anh em chúng tôi lên đường ngay ra chiến trường bổ sung cho các đơn vị đang chiến đấu tại Quảng Trị, với lời hứa “sẽ được đi phép mãn khoá sau, khi tình hình cho phép”.

Nếu tính đến ngày cuối cùng 30/4/1975 thì khóa 4/71 là khóa có số sĩ quan về binh chủng TQLC đông nhất từ ngày thành lập Sư Đoàn, được chia đều cho các tiểu đoàn và các Đại đội Viễn Thám, trung bình 10 người cho mỗi TĐ, đông nhất là TĐ3 Sói Biển được 16 người, và Viễn Thám nhận 14 người (dù chưa qua khóa Viễn Thám ngày nào).

Số anh em chúng tôi về TĐ 5 Hắc Long có 10 người được đưa ra trình diện Tiểu Đoàn Trưởng Trung tá Hồ Quang Lịch ngay tại ngã ba Long Hưng (đường vào thị xã Quảng Trị). Thủ tục trình diện chưa xong, 10 anh Chuẩn Úy mới còn đang ngơ ngác, chưa nhìn rõ TĐT vì ông chỉ mặc quần đùi và áo thun màu kaki, không thấy cấp bậc (vì đang là mùa hè) thì đạn đại bác 130 ly của VC ồ ạt pháo xuống địa điểm BCH/TĐ. Tiểu Đoàn Trưởng ra lệnh vào hầm trú ẩn, cả bọn chạy theo. Sau đợt pháo kích khi tình hình yên lặng, anh em chúng tôi được chia về các Đại Đội (tôi còn nhớ ĐĐ3 cần 4 người, còn lại chia đều cho các ĐĐ 1, 2 và 4).

Với tình hình cuộc chiến hết sức sôi động lúc đó, các tiểu đoàn thay phiên quần thảo với địch ngày đêm, ngay trong những ngày đầu về đơn vị, khi chưa kịp quen với gạo sấy, thịt hộp nơi hành quân thì một số anh em đã hy sinh. Như Nguyễn Văn Bình, Tô Ngọc Khánh (ĐĐ3/TĐ5) hy sinh cùng lúc tại ngã ba Long Hưng, như Quách Cao Khiêm (TĐ1), Nguyễn Quang Thu (TĐ2), Đỗ Hữu Đôn, Nguyễn Văn Phương, Phan Thanh Xuyên, Nguyễn Văn Hiếu (TĐ3); Đức (TĐ4) không nhớ họ tên, Thượng Văn Bảnh (được anh em đặt cho biệt danh Thượng sĩ Bảnh), Trần Ngọc Dân (TĐ8 ), Phạm Gia Tuấn, Nguyễn Văn Bảo, Nguyễn Văn Niên, Ngô Quốc Cường (TĐ9) Vĩnh Lộc, Lê Văn Nuôi (Viễn Thám).

Sau khi đơn vị tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị ngày 16/9/1972, rồi Cửa Việt ngày 27/1/1973, tưởng rằng hoà bình đã đến nhưng cuộc chiến vẫn tiếp tục và trong hoàn cảnh ngặt nghèo hơn (không được yểm trợ hỏa lực của KQ và PB) nên một số sĩ quan khóa 4/71 là Trung đội trưởng tiếp tục hy sinh vào đầu năm 1973 như Lê Minh Châu (TĐ4) tại Cửa Việt, Nguyễn Hoàng (TĐ5) tại Gia Đẳng. Tiếp theo đó, Nguyễn Thái Bạch (TĐ8) hy sinh tại mặt trận Phong Điền, Thừa Thiên (tháng 8/1974).

Vào những ngày tháng nghiệt ngã cuối cùng của đơn vị, một số SQ khóa 4/71 khác lại ngã xuống cho màu áo như Phùng Minh Mẫn (TĐ7) tại Thuận An, ngày 24/3/1975 và ngay tại cửa ngõ Sài Gòn, Lê Văn Hoà (TĐ16) hy sinh ngày 28/4/1975 tại Long Bình, Sài Gòn. Một số bị thương giải ngũ như Trần Trọng Hồng, TĐ2 cụt hai chân, Nguyễn Văn Sinh, Nguyễn Đức Phùng và còn rất nhiều anh em bị thương và tử trận sau ngày ngưng chiến nhưng chúng tôi không nhớ được hết.

Trong số các SQ khóa 4/71 về SĐTQLC có thể nói Nguyễn Hoàng (TĐ5) ra đi trong hoàn cảnh cay đắng nhất. Anh chết chỉ 2 ngày trước khi nhận phép đặc biệt về Sài Gòn cưới vợ (trước đó anh đã nhận thư của anh em bạn bè trong đơn vị đem về Sài Gòn gửi hộ). Hay như Nguyễn Thái Bạch (TĐ8 ) hy sinh tại đồi 21 Phong Điền, trong khi huy chương và lon đặc cách Trung Úy tại mặt trận đang trên đường đến. Bạch là người thăng cấp sớm nhất khoá 4/71. Như vậy theo lẽ thường thì Bạch phải được truy thăng là “cố đại úy”!

Khi bị CSBV bắt làm tù binh và tập trung cải tạo, Lê Đình Lời (TĐ3) chết vì cuốc đất và gỡ mìn tại trại tù Cồn Tiên, Ái Tử, nơi mìn và lựu đạn được gài trước đó còn lại rất nhiều. Mỗi ngày người tù bị giao cho 25m² đất để cuốc và…. gỡ mìn,anh em chúng tôi đùa với nhau “sống sót qua cơn đó không chết là chuyện phi thường”. Chuyện này còn căng thẳng hơn cả lúc còn đánh nhau ở Cổ Thành. “Quận trưởng Triệu Phong” Lê Đình Lời suốt mùa chiến tranh không sứt mẻ vì đạn VC nhưng chết vì mìn khi cuốc đất ở Cồn Tiên! (biệt danh do anh em đặt cho Lời vì anh được lệnh dẫn trung đội chiếm quận đường Triệu Phong trước giờ ngưng bắn, anh đã hoàn thành nhiệm vụ trước 8 giờ sáng ngày 27/1/1973 dẫn quân vào quận đường đầy xác VC mà không một bóng người. Từ đó Lời có tên là “Quận Trưởng Triệu Phong”). Một cái chết đau thương khác là Mai Xuân Cương (TĐ5) khi phải phá những công sự cũ đã bị sập hầm đất đè đến chết.

Một trường hợp may mắn không chết nhưng không kém khốn khó là Phạm Gia Thuỵ (VT) bị thương nhẹ nơi mắt tại cửa biển Thuận An. Sau khi bị bắt làm tù binh, vì nhiễm trùng, mắt bị thương làm độc. Anh “được” (?) mổ mắt không thuốc tê, chẳng thuốc mê, thiếu dụng cụ y khoa, y công VC dùng chiếc thìa không khử trùng múc bỏ con mắt làm độc nhưng may mắn không chết, chỉ bỏ 1 con ngươi lại nơi núi rừng.

Danh sách các SQ khóa 4/71 An Lộc tình nguyện phục vụ tại SĐTQLC :

Tiểu Đoàn 1 Quái Điểu

Vũ Kim Long
Trần Ngọc Tráng
Trần Thiện,
Trần Văn Phá,
Ngô Văn Phát
Lâm Văn Diệp
Nguyễn Minh Chiến
Nguyễn Phú Châu
* Quách Cao Khiêm (tử trận, Quảng Trị, 1972)

Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên

Bùi Quang Đức
Bùi Văn Bé
Nguyễn Hữu Hạnh,
Mai Ngọc Huyện
Bùi Công Bình,
Ngô Đình Hương,
Hồ ngọc Hiếu
Phạm Bá Long
Nguyễn Trọng Sơn
Nguyễn Đình Long (tù binh VC, Cửa Việt, Quảng Trị, 1972)
* Nguyễn Quang Thu (tử trận, Quảng Trị, 1972)
* Lê Văn Đắc (tử trận, Hải Lăng, Quảng Trị, 1972)

Tiểu Đoàn 3 Sói Biển

Nguyễn Ngọc Tốt
Trần Trung Ngôn
Đinh Tấn Lộc
Lê Văn Lực,
Phan Thái Lựu
Lê Quang Đức
Nguyễn Ngọc Lập
Nguyễn Nhật Thuần,
Nguyễn Huy Sang
Nguyễn Hữu Tú (giải ngũ, 1973)
* Phan Thanh Xuyên (tử trận, Quảng Trị, 1972)
* Nguyễn Văn Hiếu Tử (tử trận, Quảng Trị, 1972)
* Đỗ Hữu Đôn (tử trận Quảng Trị, 28/8/1972)
* Nguyễn Văn Phương (tử trận, Chợ Sải, Quảng Trị,11/1972)
* Lê Đình Lời (chết tại trại tù Bình Điền, 1979)
* Châu Quốc Bình (chết, Việt Nam, 2007)

Tiểu Đoàn 4 Kình Ngư

Phạm Minh Tâm
Trần Hiền
Nguyễn Văn Lâm
Huỳnh Quang Minh
Võ Phước Tiêm
Dương Hồng Phong
Nguyễn Đức Giang
Nguyễn Minh Xuân
* Lê Minh Châu (tử trận, Cửa Việt, Quảng Trị, 1972)
* Đức (không nhớ họ và chữ lót) (tử trận, Quảng Trị, 1972)

Tiểu Đoàn 5 Hắc Long

Phan Văn Đuông
Trần Văn Khỏe
Khúc Chánh Thời
Trần Trọng Hồng thương phế binh cụt 2 chân
* Nguyễn Hoàng (tử trận, Quảng Trị)
*Nguyễn Văn Bình (tử trận, Quảng Trị)
*Tô Ngọc Khánh (tử trận, Quảng Trị, 1972)
* Mai Xuân Cương (chết trong trại tù VC)

Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng

Nguyễn Miển
Lữ Đình Chậm
Nguyễn Tấn Cương
Võ Em
Nguyễn Đức Phùng giải ngũ tháng 9 năm 1972
Nguyễn Văn Sinh giải ngũ 1972
Tiểu Đoàn 7 Hùm Xám
Nguyễn Vĩnh Cương
Nguyễn Hữu Kiếm
Nguyễn Văn Thanh
Nguyễn Mạnh Hùng
Huỳnh Hoa Cương
* Phùng Minh Mẫn (tử trận, Quảng Trị, 2/1975)
* Lê Văn Hòa (tử trận, Long Thành, Biên Hòa với TĐ16 , 28/4/1975)

Tiểu Đoàn 8 Ó Biển

Nguyễn Văn Nên
Bùi Văn Tần
Bùi Thanh Liêm
* Trần Ngọc Dân (tử trận, Quảng Trị, 1972)
* Thượng Văn Bảnh (tử trận, Quảng Trị, 1972)
* Nguyễn Thái Bạch (tử trận, Phong Điền, Thừa Thiên, 1974)
Tiểu Đoàn 9 Mãnh Hổ
Lê Văn Canh
Trần Văn Ngân
Bùi Quang Thịnh
Trần Văn Cường
Hồ Khen
Trương Phước Dĩnh
* Ngô Quốc Cương (tử trận, Quảng Trị, 1972)
* Nguyễn Văn Bảo (tử trận, Quảng Trị, lúc đang trình diện TĐT, 8/1972)
* Nguyễn Văn Niên (tử trận, Quảng Trị, 8/1972)
* Phạm Gia Tuấn (tử trận, Quảng Trị, 10/1972)
* Huỳnh Hữu Lộc (chết khi vượt biên)

Tiểu Đoàn Tổng Dành Dinh-Viễn Thám

Phạm Gia Thụy
Mai Mạnh Thước
Lê Văn Thảo
Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Quang Toản
Nguyễn Minh Hiền
Nguyễn Công Chiếm
Lê văn Quý
Nguyễn Viết Trọng
Ngô đình Hiệp
Nguyễn Xuân Dương
Phạm Ngọc Sơn
* Lê Văn Nuôi (tử trận, Quảng Trị, 1972)
* Vĩnh Lộc (tử trận, Quảng Trị, 1972)
(Còn 2 bạn Mạc Minh Anh và Quang Kim Su không nhớ đã về Tiểu Đoàn nào khi mới ra trường.)

Khóa 4/71 ngoài binh chủng TQLC, phục vụ các đơn vị bạn cũng làm rạng danh cho khóa như :
-Phạm Lê Phong (ND) thủ khoa khóa 4/71 An Lộc, hy sinh tại Quảng Trị và tên anh được đặt cho khóa 1/72 SQTB là khóa Phạm Lê Phong.
-Dương Tùng Lâm (CSDC) cuối cùng cấp bậc Thiếu Tá (cũng là cấp bậc cao nhất khóa trước năm 1975), hiện cư ngụ tại Washington DC.
-Pham Khánh Hoài (TG) cũng là trường hợp khó tìm thấy trong QLVNCH, năm 1972 trên chiến trường Pleiku anh được ân thưởng Đệ ngũ đẳng Bảo Quốc Huân Chương và danh hiệu Chiến sĩ xuất sắc, hiện cư ngụ tại Atlanta, GA.

Có thể nói những SQ khóa 4/71 hy sinh trong những ngày mùa Hè đỏ lửa tại Quảng Trị là những người thiệt thòi nhất. Chưa được đi phép mãn khóa và có những người vĩnh viễn ra đi mà chưa mặc được bộ quân phục “rằn ri”, chưa được đội chiếc mũ xanh của binh chủng họ hằng yêu thích. Lý do vì thật sự họ chưa có được một ngày phép (dù chỉ vỏn vẹn 24 tiếng ở Huế), chưa có một ngày lương để mua chiếc beret xanh và bộ quân phục màu sóng biển (ngày đầu về đơn vị chỉ được cấp quân phục ngụy trang màu hoa rừng của BĐQ).

Nổi trôi theo vận nước, anh em khóa 4/71 bị bắt làm tù binh hoặc bị lùa đi tập trung cải tạo nhưng vẫn sống hiên ngang, không khuất phục, vẫn cố gắng đoàn kết che chở cho nhau trong những hoàn cảnh khó khăn nhất ở các trại tù CS. Khóa 4/71 có Trần Văn Khoẻ vượt trại tù CS ở Phước Long, vượt biển đến trại tỵ nạn Pulau Bidong, Phan Văn Đuông vượt trại ở Ái Tử, Bình Điền, về Sài Gòn lang thang một thời gian rồi vượt biển đến trại tỵ nạn Pulau Galang. Một số khác vượt trại nhưng không vượt biên, vượt biển được đành ở lại Việt Nam rồi sau đó lại không thể đi tỵ nạn chính trị qua chương trình H0 (xin dấu tên), vì không có giấy ra trại tù!

Sau 40 năm nhìn lại, số SQ khóa 4/71 An Lộc chúng tôi về TQLC nay sống tản mác khắp nơi trên thế giới, Mỹ, Canada, Úc, Đức và một số còn ở lại VN, đều hiểu rằng khi tình nguyện về binh chủng TQLC là chấp nhận hy sinh (vì chiến sự đang lúc có những trận đánh khốc liệt nhất), chấp nhận thiệt thòi (vì binh chủng đất hẹp người đông) nhưng anh em vẫn hãnh diện đã một thời được phục vụ trong Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Tình đoàn kết gắn bó, thân thiện của anh em trong đơn vị vẫn như ngày nào khi nhập khóa rồi mãn khóa.

Một bằng chứng thực tế là cho đến hôm nay, mỗi lần tổ chức đại hội khóa 4/71 SQTB anh em khắp nơi trên thế giới về rất đông đủ, có người đầy bệnh tật, có kẻ đau yếu vì tuổi già, vì thương tật cũ thời chiến để lại nhưng vẫn cố gắng về tham dự. Có người đến với đại hội phải bán chiếc xe cũ vừa đủ tiền mua vé phi cơ, có anh phải dùng xe lăn nạng gỗ đến hợp mặt chia sẽ những niềm vui nơi quê người và những nỗi buồn nơi quê nhà, nơi còn nhiều thương phế binh sống cuộc đời sương gió, cơ cực trong đó có cả anh em 4/71 TQLC!

Với trí nhớ kém cỏi cùn mằn của tuổi “mới già”, xin ghi lại những điều vụn vặt còn nhớ và xin được mượn câu “Một ngày TQLC, một đời TQLC” để nhớ đến tất cả những anh em TQLC khóa 4/71 đã hy sinh và còn sống, dù ở quê nhà hay nơi quê người.

MX Phan Văn Đuông
TĐ 5 Hắc Long

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

HAI HÌNH ẢNH - MỘT NGƯỜI LÍNH


Tôi đã gặp anh, một người lính gìa,
Tại những nơi của cộng đồng người Việt,
Đâu có gì lạ mái tóc anh đã bạc,
Mà giữa đám đông tôi vẫn nhận ra anh.
Tôi biết mái tóc này một thuở xuân xanh,
Đã là mây trời trong lòng thiếu nữ,
Mái tóc đã trải qua bao mùa nắng gío,
Bao mùa chiến trường người lính xông pha.
Đâu có gì lạ đôi mắt trầm tư,
Giữa cuộc sống hôm nay và quá khứ,
Dù tôi gặp anh cuộc đời viễn xứ,
Vẫn nhận ra người của một thuở chiến chinh.
Tôi biết đôi mắt này chan chứa ân tình,
Đôi mắt ngày xưa làm hồn ai đắm đuối,
Đôi mắt người lính sáng ngời khi chiến đấu,
Đôi mắt lệ rơi khi đồng đội tử vong.
Đâu có gì lạ bờ vai người đàn ông,
Giữa những bờ vai cùng thời gian khổ,
Không thể lầm với ai. Tôi vẫn nghĩ,
Bờ vai buồn năm tháng đã đi qua.
Tôi biết bờ vai này có lúc nên thơ,
Bờ vai ấm áp của người lính trẻ,
Cô gái yêu anh từng mơ nương tựa,
Chiều hẹn hò anh về phép thăm em.
Đâu có gì lạ, cũng là bước chân,
Của anh, người lính gìa tôi đã gặp,
Dù bây giờ bước anh đi chậm chạp,
Vẫn là một người từng trải chiến tranh..
Thay đổi thế nào tôi vẫn nhận ra anh,
Người lính miền Nam Việt Nam ngày trước,
Tôi biết bước chân anh từng đi khắp chốn,
Giữa tiếng đạn bom sinh tử ai ngờ.
Tôi ngưỡng mộ anh, người lính đã gìa,
Dù mai này thêm tuổi đời, bệnh hoạn,
Dù mai này anh xuôi tay nhắm mắt,
Vẫn còn trong tôi người lính trẻ năm xưa..


Nguyễn Thị Thanh Dương

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image
Tướng Phạm Ngọc Sang

" Tướng : tù với lính…”

nguyễn duy ân
LTG: Mặc dù có thể lên trực thăng để vể Sài Gòn trước lúc Phan Rang chưa bị Cộng quân tràn ngập, hoặc bay ra hạm đội Mỹ, nhưng hai vị Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang đã chọn ở lại với anh em binh sĩ trong những giây phút cận kề nguy khốn nhất, cho đến khi rơi vào tay giặc.

Những vị tướng đã chết để bảo toàn danh tiết, không đội trời chung với giặc Cộng. Những vị tướng đồng cam cộng khổ, cùng sống chết với đồng đội thuộc cấp trong ngục tù CS man rợ. Tất cả đều là anh hùng:

Tưởng niệm Tướng Phạm Ngọc Sang

(Người thề quyết trụ Phan Rang
Thành nguy cố giữ không hàng chẳng lui)

Lý tưởng vì dân trọn nghĩa tình
Tận trung bảo quốc buổi điêu linh
Kiên gan chiến đấu trong nguy biến
Tiết tháo không phai giữa ngục hình
Tướng chết theo thành là hiển hách
Tướng tù với lính đáng tôn vinh
Sáng ngời tên tuổi dù thua bại
Bán nước ! Giặc Hồ thắng cũng khinh!


Tháng 4/ 2003
Nguyễn Duy Ân
(Đã đăng báo Khởi Hành, Lý Tưởng)

Hồi kết cuộc chiến Nam- Bắc, kẻ thắng cũng như người thua, tất cả các mặt tích cực cũng như tiêu cực đã nhanh chóng phơi bày. Giọng lưỡi loài rắn rung chuông Cộng Sản Bắc Việt nào là “Đế quốc Mỹ xâm lược, cướp nước. Nguỵ quyền Miền Nam tay sai bán nước, liếm gót giày Đế quốc Mỹ…”

Sau tháng Tư 1975, đó mới là “Siêu thực dân đế quốc Tầu Cộng chính là bọn cướp nước tinh vi. Việt gian Cộng Sản súc vật, đứng đầu là đại Việt gian HCM chính là bọn giết dân bán nước có hệ thống, chưa từng có tiền lệ trong lịch sử.”

Sau 1975 người dân cả nước VN cũng như thế giới mới thấy VNCH là một thể chế bảo vệ đất nước và người dân. Mỹ không có tham vọng xâm chiếm lãnh thổ nước khác nhưng vì quyền lợi, Mỹ không thực tâm giúp cho một Miền Nam Việt Nam tự do chưa có đủ thời gian kiện toàn, nên đã sớm non yểu. Nhưng đây cũng chỉ là nguyên nhân khách quan. Chủ quan “mất nước là do lỗi tại chúng ta mọi đàng!” Lý tưởng được trang bị cho công dân Việt từ tấm bé : “Tổ quốc trên hết. Dân tộc trước hết!” Nhưng nhiều chính trị gia, nhiều nhà quân sự cao cấp, nhiều đảng phái, tôn giáo… thực chất chỉ vì: “Bản thân trên hết. Gia đình và bè phái trước hết!”

Những người lãnh đạo, những vị tướng lãnh… thật sự vì Tổ quốc vì Dân tộc thì ít và lẻ loi! Cho nên dù có hàng triệu thanh niên nhiệt huyết xả thân, đổ máu ngoài chiến trường cho những chiến thắng tạm thời thì cũng khó cứu vãn tình thế yếu kém trong chiến lược dài lâu.

Bọn VC ma quỷ ngoài việc lợi dụng thể chế tự do dân chủ của Miền Nam để lôi kéo bọn trí nô, giáo gian phá thối khắp các đô thị lớn, chúng còn quỷ quyệt cài cắm gián điệp từ Dinh Độc Lập, Quốc hội, Bộ Quốc phòng trở xuống. Một tên CS chui sâu vào quân đội lên tới Trung tá rồi leo lên Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Thượng viện như Việt gian Đinh Văn Đệ, hoặc lên tới cấp Tướng như Việt gian Nguyễn Hữu Hạnh… mà Miền Nam không “thua” sớm là do tinh thần chiến đấu rất cao của Quân lực VNCH.

Nếu Việt gian CS không thắng thì bọn nầy cứ thế mà ngoi lên, ăn trên ngồi tróc, hưởng đủ thứ danh to lợi lớn.

Bắc Cộng thắng, lòi đủ thứ mặt gian, chúng nổi lều bều như rác trên mặt nước triều dâng, Công giáo gian có Trưong Bá Cần (Trần Bá Cương), Nguyễn Ngọc Lan, Phật giáo gian như Huỳnh Liên, Võ Đình Cường… Văn nô như Vũ Hạnh, Cung Tích Biền, Sơn Nam…Người dân ở nông thôn bị VC cưỡng bức phải nghe theo chúng, có không ít thành phần cò mồi cốt cán, ác ôn mà sau nầy hầu hết trong bọn đã bị vắt chanh bỏ vỏ. Trí nô như bọn Nguyễn Hữu Thọ, Dương Quỳnh Hoa, Lữ Phương, Ngô Bá Thành, Lê Văn Hảo, Tiêu Dao Bảo Cự…hung hăng hí hửng trong những ngày đầu, nhưng chúng đã sớm bị loại bỏ như những miếng giẻ rách!

Bắc Cộng thắng, lòi bản mặt bán nước của đại Việt gian HCM và đồng bọn.

Miền Nam thua, nhiều sự thật cũng đã được phơi bày, xác định rõ ai là người chiến đấu vì Tổ quốc đồng bào. Những kẻ sớm trở mặt thuộc loại “cách mạng 30 Tháng Tư” sách nhiễu hoạnh họe những người thất thế để mong giặc Cộng chiếu cố ban ơn. Những tên đánh thuê cho ngoại bang, với thời gian đã lộ bản chất, chúng sợ chết trước khi CS tiêu vong nên dù đã tháo chạy trước khi giặc đến, nay lục tục quay về quy hàng giặc Cộng, mong chúng bố thí ít tiền lẻ từ nguồn bán nước! Số nầy thì chỉ đếm được trên đầu ngón tay nhưng mức độ ô nhiễm thì vô cùng độc hại cho cuộc đấu tranh giải trừ độc tài CS.

Trong nhà tù CS, có những kẻ đã sớm phản bội đồng cảnh, cam tâm làm chó săn, hăng hái làm “thi đua, tự giác, ăng ten” tố cáo, hành hạ anh em để lấy lòng bọn cai tù. Ra được hải ngoại, nay trở về nước săn gái tơ để “trả thù dân tộc!”, con cái học thành tài xúi về hợp tác làm ăn với giặc. Những loại người nầy tuy không nhiều nhưng tác hại xấu xa thì rất lớn.

*

Hàng năm tới Tháng Tư, Đồng hương tỵ nạn CS khắp nơi lại nhắc nhở, tưởng niệm những vị Tướng, những chiến sĩ đã tự sát khi giặc Cộng tràn vào Sài Gòn và Dương Văn Minh bất lực đầu hàng. Những quan chức, những chiến sĩ VNCH hào hùng, tiết tháo, bất khuất quyết không đội trời chung với giặc Cộng gian manh, phản quốc.

Nhiều vị Tướng, nhiều đơn vị trưởng chiến đấu cùng binh lính cho đến phút cuối cùng rồi rơi vào tay giặc, như hai vị nói trên. Hoặc nhiều vị đã hành xử theo cách khác, tiêu biểu như Thiếu tướng Đỗ Kế Giai: tập họp tất cả thuộc cấp dưới cờ, nói lời chia tay não nề trước khi “Tan hàng, cố gắng!” rồi lặng lẽ cùng binh lính đồng đội, chịu đựng chung cảnh ngộ gian lao khổ nhục trong ngục tù CS. Đều là những vị anh hùng xứng đáng được kính trọng, tôn vinh.


nguyễn duy ân

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

Những giờ phút cuối cùng của Tướng Nguyễn Khoa Nam

Tôi là Trung úy Lê Ngọc Danh, xuất thân Thủ Đức, đã tham dự các cuộc hành quân tại Trung Đoàn 10 Bộ Binh, bị thương nhiều lần. Cơ duyên tình cờ về làm tùy viên cho ông Tư Lệnh từ lúc còn ở Sư Đoàn 7 vào năm 1973 rồi đến cuối năm 1974 thì theo ông về Quân Khu IV tại Cần Thơ.

Trong suốt thời gian làm việc gần tướng Nguyễn Khoa Nam, ông xem tôi như người nhà, đứa con trong gia đình, không bao giờ la rầy hay nặng tiếng. Tôi đã ở với ông cho đến giây phút cuối và xin kể lại từ tháng 4-1975 như sau:

Tháng 4-1975

Tình hình chiến sự vào tháng 4-1975 rất căng thẳng. Vùng 1, Vùng 2 đang đánh lớn còn Vùng 3 và 4 vẫn còn nguyên vẹn. Tư Lệnh đi họp liên tục, lúc thì ở Tổng Tham Mưu, ở Dinh Độc Lập gặp Tổng Thống, lúc ở Dinh Phó Tổng Thống. Thời gian còn lại, Tư Lệnh thường đến thăm các tiểu khu và sư đoàn trực thuộc, nhiều nhất là các tiểu khu Long An, Định Tường, Kiến Tường và Châu Đốc.

Vào đầu tháng 4, Việt cộng tấn công mạnh, nhằm vào Quốc Lộ 4 thuộc hai tiểu khu Định Tường và Long An. Sư Đoàn 7 Bộ Binh chịu trách nhiệm khu vực Tiểu Khu Định Tường còn Sư Đoàn 22 Bộ Binh rút từ Vùng 2 về chịu trách nhiệm khu vực Tiểu Khu Long An.

Vào buổi trưa, Tư Lệnh đến Tiểu Khu Long An để thị sát tình hình tại đây, VC đã pháo một quả hỏa tiễn 122 ly rơi xuống giữa cầu Long An nhưng không gây thiệt hại gì. Địch càng ngày càng tấn công mạnh dọc Quốc Lộ 4, Tư Lệnh ngày đêm đến các đơn vị hay gọi điện thoại khích lệ tinh thần chiến đấu của tất cả sĩ quan cùng binh sĩ. Tư Lệnh đã khen thưởng các đơn vị thuộc Vùng 4 vì không hề bỏ chạy trước địch quân, không để mất một căn cứ nên cho tới bây giờ VC vẫn không chiếm được một vị trí nào cả.

Vào một đêm, địch pháo kích trên 10 hỏa tiễn 122 ly vào thành phố Cần Thơ, mục tiêu chính là Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV và tư dinh Tư Lệnh. Pháo địch xuất phát từ hướng Đông của Chi Khu Bình Minh thuộc Tiểu Khu Vĩnh Long, bay qua dinh Tư Lệnh rớt bên xóm nhà đèn cách dinh độ 300 thước, kết quả tổn thất nhẹ về phía dân chúng.

Tình hình càng ngày càng căng thẳng, dân chúng di tản bằng tàu thủy hay máy bay có nhiều chuyến chở về Quân Đoàn IV đổ dân xuống vùng Tri Tôn, Sa Đéc.

Trong lúc này, công việc của Tư Lệnh rối bời vì lớp lo phòng thủ, lớp lo thăm viếng an ủi dân đã di tản về vùng ngoại ô. Thiếu Tướng ra lệnh các tiểu khu ra sức cứu trợ nạn nhân chiến cuộc. Tư Lệnh chỉ thị các đơn vị sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Quân Đoàn IV và nhất là giữ gìn Quốc Lộ 4 đừng để VC cắt đứt. Tư Lệnh đặc biệt đến thăm Tiểu Khu Châu Đốc, đi bộ thăm vòng đai phòng thủ quy mô của tiểu khu.

Những ngày kế tiếp, Tư Lệnh họp liên tục với các tiểu khu và sư đoàn. Trong lúc tình hình hỗn loạn, nhiều máy bay trực thăng từ hướng Sài Gòn lũ lượt bay về phi trường Trà Nóc và một số bay ra hướng Phú Quốc.

Sáng ngày 24 tháng 4, Tư Lệnh đi họp ở Bộ Tổng Tham Mưu. Qua sáng 25 tháng 4, họp ở Tiểu Khu Định Tường, trong phiên họp này có tướng Trưởng tham dự.

Ngày 27 tháng 4, Tư Lệnh ra lệnh giới nghiêm, các đơn vị ở thế sẵn sàng chiến đấu, không được rời vị trí.

Sáng 28 tháng 4, Tư Lệnh tiếp cố vấn Mỹ tại văn phòng Tư Lệnh.

Sáng ngày 29, Tư Lệnh vẫn đi bay thị sát, buổi chiều 29 về họp với tương Mạch Văn Trường ở Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh gần phi trường Trà Nóc. Trên đường về, tôi thấy dân chúng lao xao, nhớn nhác, chạy lung tung. Có người đi hôi của tại Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ rút đi bỏ lại, giấy vương vãi đầy mặt Đại Lộ Hòa Bình, quần áo, ly tách, đồ hộp, lon bia vất tứ tung.

Áp lực địch vẫn đè nặng ở Quốc Lộ 4, Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Long An xin gặp Tư Lệnh báo cáo tình hình nguy ngập và xin giật sập cầu Long An. Tư Lệnh không cho và ra lệnh các đơn vị tiếp tục phòng thủ. Tư Lệnh viết nhật lệnh đưa Thiếu tá Đức, Chánh Văn Phòng chuyển đến phòng Chiến Tranh Chính Trị để đọc trên Đài Phát Thanh và Đài Truyền Hình Cần Thơ để trấn an dân chúng và anh em binh sĩ.

Vào buổi chiều, tôi thấy được hình Tư Lệnh và kèm theo là bản nhật lệnh của ông, nội dung ngắn gọn nhằm trấn an dân chúng không được bạo động.

Sau khi nghe đọc nhật lệnh trên TV, Tư Lệnh buồn buồn chấp tay sau lưng, đi tới đi lui trong phòng làm việc ở Bộ Tư Lệnh. Sau đó, Tướng Hưng, Tư Lệnh Phó vào gặp Tư Lệnh bàn luận về thời cuộc.

Đêm 29, VC tấn công mạnh ở phi trường thuộc Tiểu Khu Vĩnh Bình. Địch đã nhiều lần đánh rát vào phi trường nhưng bị đẩy lui và thiệt hại nặng. Tư Lệnh bảo tôi gọi Trung tá Sơn, Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Vĩnh Bình để ông nói chuyện. Trong lúc VC tấn công mạnh vào phi trường, tiểu khu xin máy bay yểm trợ nhưng không có máy bay.

Sáng sớm 30 tháng 4, Tư Lệnh bay xuống họp ở Tiểu Khu Định Tường. Cuộc họp chấm dứt nhanh chóng xong ông bay về Cần Thơ.

Thành phố Cần Thơ sáng ngày 30 tháng 4 rất vắng vẻ,dân chúng và xe cộ thưa thớt. Mặc dù địch tăng cường những cuộc tấn công mạnh và tình hình chung đang rất bất lợi cho Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa, tinh thần chiến đấu của binh sĩ thuộc Quân Đoàn IV vẫn hăng say, các đơn vị không nơi nào bỏ vị trí, không nơi nào bị địch chiếm đóng.

Bất chợt, tiếng của Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng cộng sản vang lên trên đài phát thanh. Lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện có đại ý như sau: “Tất cả các đơn vị trưởng và anh em binh sĩ ở yên tại chỗ, bàn giao vị trí cho Chính Phủ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.” Tôi vội xô cửa vào phòng làm việc của Tư Lệnh và nói:

- Tổng thống Dương Văn Minh đã…

Chưa hết câu, Tư Lệnh nhỏ nhẹ cắt ngang lời tôi:

- Qua đã nghe rồi.

Tôi lặng người, quay lưng chầm chậm bước ra ngoài.

Từ lúc này, Tư Lệnh Phó thường vào gặp Tư Lệnh trong văn phòng qua lối cửa chánh. Lần thứ hai, Đại Tá Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Long An xin gặp gấp Tư Lệnh trên điện thoại. Ông muốn xin giật sập cầu Long An để cắt đường tiến quân của VC về Vùng 4. Một lần nữa, Tư Lệnh bảo tôi chuyển lời: “Cầu để yên không được phá sập.”

Khoảng gần trưa 30 tháng 4, tôi được báo cáo là Thiếu Tá Chánh Văn Phòng rời văn phòng bỏ đi theo Đại Tá Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Phong Dinh cùng một số sĩ quan theo lộ trình dọc sông Hậu Giang ra biển. Tôi vội xuống hầm làm việc mới của Tư Lệnh để báo cho ông rõ. Căn hầm này là phòng làm việc thừ hai của Tư Lệnh, nằm ngay dưới chân phòng làm việc chính thức, được xây lúc Vùng 1 và 2 đang xảy ra việc đánh lớn. Hầm rộng và cao, thiết trí giống như phong làm việc ở tầng trên, có lối đi xuống từ văn phong Tư Lệnh. Bước vào hầm, tôi thấy Tư Lệnh đang ngồi viết tại bàn làm việc. Tư Lệnh, như thường lệ, đưa tay kéo lệch cặp mắt kính trề xuống sống mũi, ngước nhìn tôi hỏi:

- Có gì không?

- Trình Thiếu Tướng, Thiếu Tá Chánh Văn Phòng và Đại Tá Tỉnh Trưởng Phong Dinh đã bỏ đi cùng với một số sĩ quan bằng tàu theo sông Hậu.

Tư Lệnh vẫn điềm nhiên, không tỏ chút gì giận dữ, ông nói:

- Đi hả? Đi làm chi vậy?

Nói xong, Tư Lệnh tiếp tục xem giấy tờ, thái độ trầm tĩnh như không có gì quan trọng xảy ra. Tôi bước lên cầu thang về phòng làm việc của mình, lúc này tôi mở Radio 24/24 để theo dõi tình hình ở Sài Gòn. Đang lắng nghe Radio, Tư Lệnh bấm chuông gọi tôi vào và bảo:

- Gọi Đại tá Thiên gặp tôi.

- Dạ.

Rồi Tư Lệnh chỉ định Đại tá Thiên nhận chức vụ Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Phong Dinh kể từ sáng hôm đó. Tức là sau khi đã có lệnh đầu hàng.

Trưa 30 tháng 4, sau khi đi ăn cơm trưa ở Câu Lạc Bộ Cửu Long về, Tư Lệnh đi thẳng vào phòng làm việc. Qua lỗ kiếng nhỏ thông qua phòng làm việc, tôi thấy Tư Lệnh đang soạn một số giấy tờ để trên bàn. Tư Lệnh nhìn từng trang một, rồi từ từ xé nhỏ bỏ vào sọt rác.

Khoảng 2 giờ chiều, Tư Lệnh xuống hầm làm việc. Tôi không biết Tư Lệnh làm gì bởi vì phòng làm việc này kín mít. Tư Lệnh bấm loa gọi tôi:

- Danh, xuống đây tôi bảo.

Tôi xuống cầu thang vào gặp Tư Lệnh. Ông đang ngồi ở Sofa nhìn về hướng bản đồ Vùng 4, thấy tôi, Tư Lệnh nói:

- Danh tháo bỏ tất cả ranh giới và những mũi tên trên bản đồ. Những đường ranh và những mũi tên làm bằng những băng keo màu xanh đỏ.

Tôi từ từ tháo bỏ, nhìn tổng quát, tôi thấy bản đồ chia ra từng ô nhỏ, những mũi tên xanh đỏ châu đầu vào nhau, những răng bừa màu xanh với những mũi tên đỏ chĩa vào. Có thể đây là bản đồ về Hành Quân Mật sẽ thực hiện vào giờ chót theo như tin đồn. Tôi tháo gỡ tất cả những mẩu băng keo bỏ vào sọt rác, tháo xong tôi nói:

- Trình Thiếu Tướng, em đã tháo xong.

- Được rồi.

* * *

Vào khoảng 4 giờ chiều, viên Quân Cảnh ở phòng chờ đợi lên gặp tôi nói:

- Có hai ông VC mặc đồ thường phục, trên dưới 50 tuổi xin vào gặp Tư Lệnh.

Tôi nói:

- Anh bảo họ chờ một chút để tôi trình Tư Lệnh.

Tôi gõ cửa vào gặp Tư Lệnh và nói:

- Trình Thiếu Tướng, có hai VC mặc thường phục xin vào gặp Thiếu Tướng.

- Được, mời họ vào.

Xuống phòng khách, tôi thấy hai người Việt cộng đang chờ ở đây, một người cao ốm nước da trắng, tóc hoa râm độ trên 50 tuổi, ăn mặc thường phục giống như thầy giáo. Một người hơi thấp, nước da ngăm đen cũng mặc thường phục. Họ đi tay không, không mang giấy tờ và vũ khí.

Tôi hướng dẫn hai người này lên bậc tam cấp vào phòng làm việc của Tư Lệnh. Tư Lệnh chào hỏi và mời ngồi nơi Sofa, tôi bước nhanh ra phòng làm việc gọi người hạ sĩ quan mang trà vào. Tôi mang vội khẩu súng Colt 45 và lấy khẩu AR15 lên đan và bước nhanh vào phòng làm việc Tư Lệnh. Tôi đứng sau hai ông VC này cách khoảng 4 thước, với tư thế sẵn sàng nổ súng. Tôi sợ hai ông này ám sát Tư Lệnh nên gườm tay súng chuẩn bị nếu thấy hai ông này có hành vi lạ là tôi bắn liền. Tư Lệnh ngồi đối diện với họ, đang nói chuyện rất nhỏ tôi không nghe được. Bất chợ Tư Lệnh ngước lên, nhìn tôi và bảo:

- Danh đi ra ngoài để tôi nói chuyện.

Tôi ấp úng trả lời:

- Dạ… em ở đây với Thiếu Tướng.

- Được rồi, không sao đâu. Em ra ngoài đi.

- Dạ.

Tôi ra lại phòng làm việc, súng vẫn gườm thủ thế, mắt nhìn về hướng văn phòng theo kẽ hở của cánh cửa đang hé mở. Tôi thấy Tư Lệnh với họ vừa uống trà vừa nói chuyện. Cuộc nói chuyện kéo dài trên 10 phút. Tư Lệnh và hai người chỉ nói chuyện không đưa ra sổ sách hay giấy tờ gì cả. Sau đó, hai người VC đứng dậy từ giã, Tư Lệnh bắt tay, rồi hai người theo cửa trước xuống bậc tam cấp ra về. Tư Lệnh ngồi trên ghế, gương mặt thật buồn. Một lát sau, ông đứng dậy đi qua đi lại trong phòng. Thời gian trôi qua thật chậm, căng thẳng và ngộp thở. Tôi suy nghĩ lung tung: Nếu VC chiếm được Vùng 4 thì Tư Lệnh sẽ ra sao? Tại sao Tư Lệnh vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra? Bây giờ còn đi ngoại quốc kịp không? Còn máy bay không? Hay là Thiếu Tướng có người thân phía bên kia? Những câu tự hỏi đã xoay trong óc tôi. Bất chợt, tôi nghe tiếng la ó vang dậy ở ngoài đường. Nhìn ra ngoài đường, tôi thấy một đoàn người rất đông chạy ngang qua cửa Bộ Tư Lệnh, xuống cầu Cái Khế. Họ vừa chạy vừa la hét vui mừng, thì ra đó là những người tù vừa được thoát trại giam. Tôi thò đầu ra cửa sổ nhìn cho kỹ, tôi thấy bọn tù trên dưới 50 người, quần áo xốc xếch, có người mặc quần cụt, có người cởi trần vừa chạy vừa nhảy lên vừa reo hò vui vẻ nhưng họ không phá phách.

Khoảng 6 giờ rưỡi, Tư Lệnh sửa soạn về tư dinh, Thiếu Tướng nói với tôi:

- Danh chuẩn bị xe để đi thăm bệnh viện Phan Thanh Giản.

- Dạ.

Xe chở Tư Lệnh từ văn phòng đi thẳng vào bệnh viện. Tư Lệnh dến từng giường hỏi thăm thương binh, kẻ nằm người ngồi, băng tay băng đầu, có người mất một chân, chân còn lại quấn dây băng treo lên trên giá. Tư Lệnh đến bên thương binh này hỏi:

- Em tên gì?

- Dạ em tên…

- Em ở đơn vị nào? Có khỏe không?

- Dạ khỏe, em là Địa Phương Quân ở Tiểu Khu Vĩnh Bình.”

Tư Lệnh nói tiếp:

- Em nằm nghỉ dưỡng bệnh.

Tư Lệnh đi từ đầu phòng đến cuối phòng hỏi thăm từng bệnh nhân, rồi Tư Lệnh đi qua dãy kế bên và tiếp tục hơn một giờ thăm viếng thương, bệnh binh buồn tẻ và nặng nề. Gần giường một thương binh, anh cụt hai chân, vải băng trắng xóa, máu còn rịn ra lốm đốm đỏ cuối phần chân đã mất. Tư Lệnh đứng sát bên và hỏi:

- Vết thương của em đã lành chưa?

- Thưa Thiếu Tướng, vết thương mới mấy ngày còn ra máu, chưa lành.

Với nét mặt buồn buồn, Tư Lệnh nhíu mày lại làm cặp mắt kiếng đen lay động. Tư Lệnh chưa kịp nói thêm thì anh thương binh này bất chợt chụp tay Tư Lệnh mếu máo:

- Thiếu Tướng đừng bỏ tụi em nhé Thiếu Tướng.

- Qua không bỏ các em đâu. Qua ở lại với các em.

Qua ánh đèn của bệnh viện, tôi thấy Tư Lệnh đưa ta nâng sửa cặp kính đen và hai giọt nước mắt từ từ chảy lăn dài trên khuôn mặt đau thương của ông. Tư Lệnh cố nén xúc động, nhưng người đã khóc, khóc không thành tiếng và những giọt nước mắt tự nhiên tuôn trào. Tư Lệnh vịn vai người thương binh nói trong nghẹn ngào:

- Em cố gắng điều trị… có qua ở đây.

Tư Lệnh bước nhanh ra cửa bệnh viện, khi ra đến ngoài sân Tư Lệnh dừng lại quay mắt nhìn về bệnh viện. Tư Lệnh đứng yên bất động khoảng một phút rồi bước vội ra xe không nói gì nữa cả. Trên suốt đường về tư dinh, Tư Lệnh không nói một lời nào khiến tôi cảm thấy sự im lặng quá nặng nề.

Về đến tư dinh, tôi thấy Quân Cảnh vẫn còn gác ở cổng, tôi đi một vòng xung quanh, những vọng gác vẫn còn người gác, tuy nhiên tôi thấy ít lính đi tới đi lui như mọi hôm, có lẽ họ đã bỏ đi bớt.

Sau khi cất khẩu Colt đeo trên người, tôi xuống nhà bếp gặp Trung sĩ Hộ quản gia xem hôm nay anh nấu món gì vì hôm nay thăm bệnh viện về trễ. Gặp anh Hộ, tôi nói:

- Anh Hộ, bắt một con gà làm thịt và luộc để Thiếu Tướng dùng!

- Dạ con gà nào Trung Úy?

- Đàn gà nòi Thiếu Tướng nuôi đó! Anh chọn một con!

Lúc này đã hơn 8 giờ tối, về hướng Cồn Cát cách một con sông phía sau dinh, thỉnh thoảng VC bắn bổng những loạt AK đạn lửa bay đỏ xé màn đêm đen nghịt, càng lúc VC bắn càng nhiều. Con gà, anh Hộ làm thịt và nấu xong. Tôi đích thân ra sau Trailer mời Thiếu Tướng vào ăn cơm. Tư Lệnh ngồi vào bàn ăn và nói:

- Danh ngồi ăn cơm cho vui.

Đi các đơn vị hay tiểu khu, tôi ăn cơm chung với Tư Lệnh còn ở dinh, Tư Lệnh thường ăn cơm một mình, vừa ăn cơm vừa xem truyền hình rất lâu. Hôm nay, lần đầu tiên Tư Lệnh mời tôi ăn cơm chung ở dinh, tôi thấy có điều gì khác thường, hơn nữa sự việc xảy ra tùm lum, bụng dạ đâu mà ăn với uống. Tư Lệnh thấy thịt gà xé nhỏ, còn nước luộc gà làm canh, Tư Lệnh hỏi:

- Thịt gà đâu vậy?

Tôi gượng cười nói:

- Dạ mấy con gà Thiếu Tướng nuôi ở sau. Em bảo anh Ngộ làm thịt một con để Thiếu Tướng dùng.

- Làm thịt chi vậy? Ăn cơm thường là được rồi. Thôi, ăn kẻo nguội!

Tư Lệnh không ăn cơm, chỉ dùng vài muỗng canh, vài miếng thịt gà. Còn tôi thì no hơi, ăn hết vô, qua loa vài miếng rồi vội buông đũa và nói:

- Dạ, em ăn xong, Thiếu Tướng dùng tiếp.

Thiếu Tướng nói:

- Ăn tiếp chứ. Sao Danh ăn ít vậy? Thịt còn nhiều.

Vừa nói, Tư Lệnh gắp bỏ cho tôi một miếng thịt xé phay dài. Trời! Ăn gì nổi. Bình thường chắc là ăn thấy ngon, bây giờ ăn thịt gà cũng như nhai gỗ mục. Miệng đắng nghét, tôi cố gắng nuốt trôi hết miếng thịt này, xong xin phép Thiếu Tướng ra phòng làm việc.

Nhìn qua cửa sổ, tôi thấy vắng lạnh, một sự vắng vẻ đáng sợ, một số anh em quân nhân đã bỏ đi, số còn lại một vài người đã mặc thường phục, một số vẫn còn mặc đồ lính. Còn hướng phòng Trung úy Hỉ, sĩ quan bảo vệ cũng vắng ngắt, có lẽ anh cũng đã bỏ đi rồi (nhà Trung úy Hỉ ở gần phi trường Trà Nóc). Còn Trung úy Việt cùng vợ hai con vẫn còn ở tại nhà cạnh bờ sông. Việt và tôi gặp nhau chỉ biết lắc đầu, rồi Tư Lệnh đéᮠbàn làm việc của tôi nói:

- Có liên lạc với Tướng Hưng không hè?

- Dạ điện thoại bị mất liên lạc, có tiếng lạ em không dám gọi.

Ngưng một chút rồi tôi nói tiếp:

- Dạ, Thiếu Tướng muốn nói chuyện với Tư Lệnh Phó?

- Qua muốn nói chuyện.

Tôi nói với Tư Lệnh:

- Để em đi lại Dinh Tư Lệnh Phó nói mở máy PRC25 để Thiếu Tướng nói chuyện.

Tư Lệnh làm thinh, tôi bảo anh Thông tài xế lấy xe Jeep chở tôi qua Dinh Tư Lệnh Phó nằm đối diện với Dinh Tỉnh Trưởng Phong Dinh. Sắp sửa rẽ phải vào Dinh Tư Lệnh Phó thì tôi thấy phía bên trái trước Dinh Tỉnh Trưởng có một tên VC với khẩu AK ở tư thế sẵn sàng, để súng cạnh sườn, mũi súng chĩa lên trời. Anh Thông tài xế kêu tôi và chỉ:

- VC đã vô tới rồi.

Tôi bảo tài xế:

- Quay trở lại đi! Không ổn rồi.

Tài xế lái nhanh về Dinh Tư Lệnh và đóng cửa dinh lại. Tôi xuống xe bảo các anh em binh sĩ còn lại kéo khoảng 4, 5 vòng kẽm gai rào chặn từ cổng vào hướng cột cờ. Rào xong, tôi vào Trailer báo Tư Lệnh:

- Trình Tư Lệnh, VC đã vào đến Dinh Tỉnh Trưởng. Em thấy có một tên VC cầm súng AK đứng trước Dinh Tỉnh Trưởng.

Tư Lệnh lặng thinh không nói gì cả. Khoảng hai phút sau, tôi nói với Thiếu Tướng:

- Em đi lần nữa, để Thiếu Tướng nói chuyện với Tư Lệnh Phó.

Tư Lệnh nhỏ nhẹ nói:

- Thôi đừng đi! Coi chừng nó bắt.

- Dạ không sao.

Nói xong, tôi cởi bỏ áo lính, vẫn mặc quần lính mang giày với áo thun vội ra sân gọi anh tài xế.

- Anh Thông đâu? Đến tôi nhờ một chút.

Tôi la lên, không một tiếng trả lời. Anh Hộ quản gia nói:

- Em vừa thấy anh Thông ra cổng.

“Anh đã bỏ đi rồi.” Tôi nghĩ thầm. Bất chợt, một binh sĩ khác hỏi tôi:

- Trung Úy cần gì em giúp.

- Anh muốn đến Dinh Tư Lệnh Phó.

- Được rồi, để em đưa ông thầy đi.

Anh lính lấy chiếc Honda màu đỏ chạy đến và nói:

- Đi Honda tiện hơn Trung Úy.

Rồi anh chở tôi về hướng Dinh Tư Lệnh Phó, rẽ vào dinh, anh đậu cách đấy khoảng 10 mét bên lề đường.

Dinh Tư Lệnh Phó trước và sau có cổng ra vào bằng cửa sắt, xung quanh xây tường cao độ 2 mét. Cửa trước đối diện với Dinh Tỉnh Trưởng, cửa sau quay ra mặt đường. Cửa trước và sau đều đóng và khóa chặt, từ cửa trước nhìn vào tôi đi sát hông tường bên phải, có một cây ổi mọc từ phía trong xòa nhánh phủ ra bên ngoài. Trong dinh im lặng không một tiếng động, tôi gọi lớn:

- Nghĩa ơi Nghĩa, Phúc ơi Phúc, tao là Danh.

Tôi gọi 4, 5 lần nhưng vẫn không có tiếng trả lời. Tôi linh cảm điều gì không ổn nên gọi tiếp vài lần nữa rồi quay lưng định trở về. Nhưng tôi nghĩ thầm: “Không lẽ mình bỏ cuộc sao?” Tôi nói với qua với anh lính đậu bên kia đường:

- Anh ráng chờ tôi một chút.

Bất chợt có tiếng nổ đùng, có tiếng xôn xao, tiếp theo tiếng khóc. Tôi chạy lại vách tường có nhánh cây ổi xòe ra, tôi quyết định đu nhánh ổi này nhảy vào. Tay phải níu nhánh ổi, tay trái vịn vào vách tường miệng liên tục la lớn: “Tôi Trung úy Danh đây, đừng bắn. Tôi Trung úy Danh, đừng bắn.” Miệng la tay níu nhánh ổi leo vào, tôi lên được đỉnh tường rồi theo đà cây ổi tuột xuống đất. Vừa gặp tôi, anh Nghĩa vừa khóc vừa nói:

- Chuẩn Tướng Hưng tự sát chết rồi Danh.

- Lúc nào?

- Mới đây, chắc có lẽ hồi nãy Danh nghe tiếng súng nổ.

Anh nói tiếp:

- Chuẩn Tướng đang ăn cơm, nghe tiếng động, ông bỏ bàn ăn đứng dậy, bà Tướng chạy theo ông ngăn lại. Tư Lệnh Phó vào phòng đóng cửa lại và bắn vào ngực tự sát.

Đến cửa, thấy cửa phòng hé mở, tôi xô nhẹ cánh cửa bước vào, thấy Tướng Hưng nằm bất động trên giường, bà Hưng đang ôm chầm Tư Lệnh Phó khóc, còn hai đứa con nhỏ đứng kế bên vô tư lự như không có gì xảy ra, kế bên những anh lính đang sụt sùi khóc. Tôi quay ra nói với anh Nghĩa:

- Thôi Danh đi về.

Tôi không nói anh Nghĩa mở tần số máy PRC25 nữa, Chuẩn Tướng Hưng đã chết rồi. Vì tình hình rối ren, bận rộn, tôi không nhờ ai mở cửa mà trèo cây ổi lên đầu tường rồi nhảy ra ngoài. Xuống đến mặt đất, tôi suy nghĩ lung tung: “Tại sao Tư Lệnh Phó tự sát? Nếu Tư Lệnh hay được thì ra sao? Hay là lúc tôi la to gọi anh Nghĩa, Phúc, ở đây tưởng VC vào tới nên Chuẩn Tướng đã tự sát? Hay là…” Tôi vừa suy nghĩ vừa cúi đầu bước dần tới chỗ anh lính đậu xe Honda lúc nãy. Trời! Xe và người biến đâu mất. Tôi đảo mắt nhìn quanh vẫn không thấy bóng dáng anh. Chắc anh bỏ đi rồi. Tôi không trách anh, anh đã giúp tôi như vậy cũng đủ lắm rồi. Tôi lội bộ từ đây cặp theo Đại Lộ Hòa Bình đi thẳng về Dinh Tư Lệnh, trên đường phố vắng hoe không một bóng người lai vãng, chỉ có những mảnh giấy vụn vất bừa bãi đầy đường, thỉnh thoảng bay tứ tung theo cơn gió.

Tôi đi bộ mất khoảng 15 phút mới về đến dinh, anh lính gác vẹt từng vòng kẽm gai cho tôi vào rồi kéo lại vị trí cũ. Tôi đi nhanh về phía sau vào Trailer để trình Tư Lệnh mọi sự việc vừa xảy ra tại tư dinh Tư Lệnh Phó. Vừa thấy Tư Lệnh, tôi nói ngay:

- Trình Thiếu Tướng, em đến Dinh Tư Lệnh Phó, đến nơi thì ông vừa tự sát chết. Tư Lệnh Phó đã bắn vào ngực.

- Tướng Hưng chết hả? Chết làm chi?

Tư Lệnh chỉ nói vậy. Tôi trở ra về nơi làm việc. Ngồi trên Sofa suy nghĩ liên miên: “Tư Lệnh Phó đã tự sát, chắc Tư Lệnh sẽ tự sát theo.” Tôi xuống nhà gặp Trung úy Việt và cho anh biết việc Tư Lệnh Phó đã tự sát. Tôi và Việt thắc mắc về những gì sẽ xảy ra tiếp: Tư Lệnh Phó đã tự sát, còn Tư Lệnh không biết thế nào? Hai đứa tôi suy nghĩ mãi mà không tìm ra được câu trả lời.

Lúc này khoảng 11 giờ đêm, vì lo lắng cho Tư Lệnh nên cứ độ 15 hay 20 phút, tôi lại vào Trailer một lần. Mỗi lần liếc nhìn vào, tôi thấy Tư Lệnh nằm nghỉ nhưng giày vẫn còn mang, tôi lại đỡ lo phần nào. Lần khác, Tư Lệnh ngồi dậy đi về hướng tôi và hỏi:

- Có gì không?

- Em vào xem Thiếu Tướng có sai bảo gì không?

Tư Lệnh nói:

- Sao em không đi ngủ đi! Khuya rồi.

Tôi nhỏ nhẹ nói:

- Trình Thiếu Tướng, nếu VC vào dinh, tụi em được phép đánh không Thiếu Tướng?

- Thôi đừng đánh nhau, họ vào để tôi ra nói chuyện.

Tôi rời Trailer đi ra ngoài. Khoảng 10 phút sau, Tư Lệnh ra phòng làm việc của tôi trao cho tôi một gói hình chữ nhật dài độ 2 tấc, rộng 1 tấc, dầy 5 phân và nói:

- Danh cất tiền này dể dành mà xài. (Có thể đây là tiền lương của Thiếu Tướng không dùng đến nên để dành.)

Đưa gói giấy cho tôi xong, Tư Lệnh đi vào Trailer. Tôi tò mò nên hé mở gói giấy này xem, bên trong toàn giấy bạc 500 đồng, tôi đoán chừng hơn 400 ngàn đồng và tôi để gói giấy vào ngăn kéo nơi bàn làm việc. Tôi tiếp tục rón rén vào Trailer để quan sát, tôi sợ Tư Lệnh tự sát.

Khoảng 12 giờ 30 khuya, Tư Lệnh ra gặp tôi nói:

- Sao Danh không đi ngủ? Thức cả đêm à.

- Dạ em ngủ không được.

Tư Lệnh móc trong túi ra một khẩu súng nhỏ, ngắn hơn gang tay và nói:

- Danh cất khẩu súng này dành để hộ thân.

Tôi nhận khẩu súng bỏ vào ngăn kéo chung với gói tiền lúc nãy. Tôi xuống nói chuyện với anh Việt và anh Hộ:

- Thiếu Tướng đã cho tôi súng, không hiểu Tư Lệnh có ý định gì?

Chúng tôi bàn luận với nhau và có linh cảm là Thiếu Tướng đang sắp xếp việc gì đó.

Khoảng sau 1 giờ sáng, một anh lính hơ hải chạy vào gặp tôi:

- VC tự động mở cửa vào dinh.

- Anh bảo họ chờ tôi một chút.

Tôi vội vã vào Trailer để gặp Tư Lệnh. Thấy Tư Lệnh đang nằm nghỉ, tôi trình:

- Trình Thiếu Tướng, bọn VC đang vào dinh.

- Bảo họ chờ tôi ra nói chuyện.

Tôi đi nhanh ra trước cổng dinh, lúc bấy giờ tôi vẫn mặc áo thun, quần lính, mang giày. Gần đến cổng dinh, tôi thấy lố nhố khoảng 6, 7 người đang vẹt vòng rào kẽm gai đi vào hướng cửa dinh. Đến gần, tôi thấy 4 nam, 1 nữ vấn tóc lủng lẳng phía sau ót và một em bé độ 10 tuổi. Nam trang bị 1 khẩu AK, một người mang khẩu Carbin, một người mang súng lục (súng loại cảnh sát sử dụng) số còn lại tay không, không mang giấy tờ hay máy móc gì cả. Nhóm người này tuổi dưới 40 đã vào đến vòng kẽm gai thứ ba từ ngoài vào, còn hai vòng kẽm gai nữa mới vào đến cửa dinh. Tôi vẹt kẽm gai và gặp họ tại đây. Một người trong nhóm quay qua hỏi tôi:

- Anh làm gì ở đây?

Tôi không dám nói là tùy viên sợ bọn chúng bắn nên trả lời trớ đi:

- Tôi làm quản gia.

Người mang khẩu AK hỏi tiếp:

- Anh cấp bậc gì?

- Tôi Trung Sĩ.

Bất chợt người mang AK lên đạn chỉa mũi súng vào phía sườn tôi và nói như ra lệnh:

- Đi!

Lúc bấy giờ, tôi hồn phi phách tán, nghĩ thầm “chết là cái chắc.” Một người trong nhóm nói:

- Ở đây nó làm lớn không hà, tính nó đi!

Bọn chúng đi từ từ hướng vào cửa dinh, đến gần cột cờ, đứa trẻ con ôm chầm lấy khẩu súng đồng thời Pháp, súng đặt dưới chân cột cờ để làm kiểng, đứa trẻ reo lên:

- Súng ngộ và đẹp quá.

Chị bới tóc tiếp theo:

- Nhờ có dịp này mới được vào dinh Tướng.

Tôi tự nhiên cảm thấy lòng mình se lại. Bất chợt, nhóm người này dừng chân, người mang khẩu AK hất mặt ra dấu cho tôi đi qua hướng nhà bếp, ngang qua phòng ngủ của tôi. Chết rồi! Chắc bọn chúng bắn mình ở đây. Tôi chầm chậm bước đi, đầu ngoái lại nhìn cửa vô dinh. Tôi thấy Tư Lệnh đẩy nhẹ cánh cửa lưới chắn ruồi trước cửa phòng làm việc của ông rồi bước ra. Bọn người này bảo tôi dừng lại, ba người bước vào phòng (một người tay không, một người mang khẩu B38, một người mang khẩu Carbin). Số còn lại lảng vảng phía ngoài, người mang AK vẫn hướng súng về phía tôi. Khoảnh khắc, Trung sĩ Hộ từ phòng Thiếu Tướng bước ra cho biết Tư Lệnh đang nói chuyện với VC và bảo tôi:

- Thiếu Tướng bảo Trung Úy lấy thuốc lá hút.

Có cớ vào gặp Tư Lệnh, người mang AK bỏ thõng súng xuống, tôi lặng lẽ bước đi, nhưng vẫn nơm nớp lo sợ là nó có thể bắn tôi từ đằng sau tới. Vô sự, thế là thoát nạn, vào phòng tôi mở ngăn tủ lấy gói thuốc Capstan đầu lọc mời Thiếu Tướng một điếu, 3 người kia mỗi người một điếu. (Tư Lệnh hút thuốc 555 nhưng thỉnh thoảng cũng hút thuốc Capstan đầu lọc.) Tôi thấy Tư Lệnh ngồi trên Sofa băng dài, người VC không mang vũ khí ngồi trên ghế nhỏ đối diện với Tư Lệnh, người mang khẩu B38 ngồi dưới sàn nhà, tay cầm khẩu súng để trên đầu gối mũi súng hướng về phía Tư Lệnh, còn người mang khẩu Carbin đứng ngay cửa phòng trong tư thế tác chiến.

Xong nhiệm vụ, tôi bước ra ngoài. Người mang AK bên ngoài vẫn ở thế tác chiến nhưng không để ý đến tôi nữa. Sau khoảng mười phút nói chuyện, nhóm VC này rời dinh ra về. Tôi vào phòng thấy Tư Lệnh vừa đứng dậy bước ra ngoài với khuôn mặt có vẻ buồn. Nhìn trên Sofa, tôi thấy điếu thuốc của Thiếu Tướng còn cháy dở dang độ 1/3 điếu nằm trên Sofa bốc khói làm lủng một lỗ nhỏ, tôi nhặt lấy vất đi.

Cuộc nói chuyện này chỉ đơn phương, không có viết giấy tờ hay ký tên gì cả cũng không có máy móc khi hai bên gặp nhau. Tư Lệnh trở vào Trailer nằm nghỉ. Một lúc lâu, tôi vào lần nữa thấy Tư Lệnh nằm yên, chắc Tư Lệnh đã ngủ vì mệt. Trong suốt đêm 30 tháng 4, Tư Lệnh và tôi hầu như không ngủ. Vào khoảng 3 giờ sáng, tôi trở dậy, rón rén vào phòng Tư Lệnh lần nữa, thấy Tư Lệnh đang nằm yên không biết ngủ hay thức vì trong lúc nằm nghỉ, ông vẫn mang cặp kính đen. Tôi cũng quá mệt nên ra phòng làm việc ngã lưng trên Sofa một chút, nghe vang vang bên tai những loạt AK nổ liên hồi, chắc đối phương nổ súng mừng chiến thắng.

Trong lúc nửa tỉnh nửa mê, tôi bỗng nghe tiếng chuông “boong, boong, boong.” Tôi bật mình ngồi dậy, nhìn đồng hồ thấy đã hơn 6 giờ sáng ngày 1 tháng 5. Tôi bước đến bàn thờ Phật, thấy ba cây nhang Tư Lệnh đã đốt và cắm sẵn trên lư hương khói bay nghi ngút.

Đứng trước bàn thờ Phật, Tư Lệnh với quân phục chỉnh tề, đang nghiêng mình xá Phật. Tôi vội đi nhanh về phòng mình làm vệ sinh cá nhân, xong mặc quân phục vào và đến đứng nghiêm chào Thiếu Tướng. Thiếu Tướng vẫn đưa tay lên cỡ tầm ngực đáp lại và hỏi:

- Đêm qua, Danh ngủ được không?

- Mệt quá, em có nằm nghỉ được một chút.

Tư Lệnh vẫn ngồi trên Sofa nơi phòng thờ Phật, tôi đi sang phòng làm việc. Một lúc sau, Tư Lệnh đến bên tôi hỏi:

- Gặp Tướng Trường được không hè?

Lúc này khoảng 6:30 sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975.

- Dạ… dạ. Tôi ấp úng trả lời tiếp:

- Hồi chiều tối hôm qua ở trên lầu em thấy Tướng Trường chạy xe Jeep ngang qua dinh.

Tư Lệnh hỏi:

- Có phải Tướng Trường không?

- Em ở trên lầu hơi xa, em thấy giống Tướng Trường.

- Thôi đừng đi tìm, kẻo bị chúng bắt.

- Dạ.

Rồi Tư Lệnh đi vào Trailer. Một lát sau, Tư Lệnh bước ra hai tay xách hai cái vali gặp tôi và anh Việt ngay ở cửa ra vào phòng thờ Phật. Tư Lệnh đưa cho tôi cái vali màu cam và đưa Trung úy Việt cái màu đen. Tư Lệnh nhìn chúng tôi, giọng buồn buồn:

- Danh giữ cái này, Việt giữ cái này.

Tư Lệnh chỉ nói ngắn gọn như thế mà không nói thêm gì, hình như cổ ông nghẹn lại. Tư Lệnh vội bước đi, được vài bước, Tư Lệnh quay lại nói thêm:

- À, quên chìa khóa.

Rồi Tư Lệnh đi thẳng về phía Trailer, một lúc sau, ông trở ra trao cho tôi hai chìa khóa và nói.

- Cái này của Danh, cái này của Việt.

Tôi linh tính sắp có điều gì xảy ra nên Tư Lệnh mới dặn dò và chia phần cho tôi và Việt như vậy. Tuy thế, chúng tôi không dám hỏi. Tư Lệnh chầm chậm bước theo nấc thang lên tầng trên, tôi và anh Việt nối bước theo sau. Tư Lệnh ra sân thượng, đứng sát bên lan can, mắt nhìn ra Đại Lộ Hòa Bình trước cửa cửa dinh, tôi đứng bên phải Tư Lệnh, anh Việt đứng bên trái. Trên lộ, chỉ có vài chiếc xe qua lại, người thưa thớt, khung cảnh vắng vẻ như chiều 30 Tết. Bất chợt, Thiếu Tướng bật khóc. Tư Lê䮨 cố nén không khóc thành tiếng, nhưng những giọt nước mắt tuôn trào chảy dài trên khuôn mặt đau buồn vì nước mất nhà tan. Tôi cũng khóc theo, anh Việt cũng vậy. Ba người đứng trên sân thượng trước mặt tiền dinh, mặc cho nước mắt tự do tuôn chảy. Tôi không hiểu Tư Lệnh có định đi ngoại quốc không? Nếu muốn, có lẽ Tư Lệnh cũng đi hết kịp rồi. VC vào đây có bắt Tư Lệnh không? Có làm hỗn hoặc bắn Tư Lệnh không? Nếu sự việc xảy ra thì phải giải quyết làm sao? Tôi đang miên man suy nghĩ, Tư Lệnh xoay lưng chầm chậm theo bậc thang xuống tầng dưới.

Từ ngoài nhìn vô bàn Phật, Tư Lệnh ngồi trên ghế Sofa phía bên phải, đôi mắt đăm chiêu nhìn lên bàn thờ. Anh Việt bước ra cửa về nhà thăm vợ con còn Trung sĩ Hộ đang thập thò trước cửa. Tư Lệnh đứng dậy đến bàn thờ lấy ba cây nhang đốt, xá ba xá cắm vào lư hương, gõ ba tiếng chuông “boong, boong, boong” xong xá ba xá nữa rồi ông về ngồi trên Sofa như cũ, hai tay để trên thành gỗ Sofa nhịp nhịp như không có chuyện gì xảy ra. Bất chợt, Tư Lệnh xoay qua bảo tôi:

- Danh ra ngoài bảo Việt dẫn vợ con đi đi.

- Dạ.

Tôi thầm nghĩ Tư Lệnh và tôi độc thân chắc Tư Lệnh nghĩ cách khác. Tôi đẩy nhẹ cánh cửa bước ra sân hướng về phòng Trung úy Việt. Tôi vừa đi khỏi cột cờ một chút nghe tiếng nổ “đùng” phát ra từ hướng bàn thờ Phật, tôi hốt hoảng xoay người chạy trở lại thì Trung sĩ Hộ đã chạy ra la thất thanh:

- Đại Úy ơi! Đại Úy ơi! Thiếu Tướng tự sát chết rồi.

Trong lúc sợ hãi, anh Hộ quýnh lên gọi tôi là Đại Úy. Tôi chạy nhanh vào phòng thờ Phật thấy một cảnh tượng hãi hùng trước mắt mà tôi chưa từng gặp bao giờ. Tư Lệnh ngã ngửa hơi lệch về phía sau Sofa, đầu hơi nghiêng về bên trái, mắt ngước nhìn lên trần nhà. Khẩu Colt 45 vẫn còn trong tay buông thõng xuống lòng Tư Lệnh nhưng những ngón tay cầm súng đã nới lỏng, phát đạn xuyên màng tang phải qua trái. Tư Lệnh chưa chết hẳn, nhưng nói không được, thân hình ông run lật bật, miệng há hốc, từ trong cổ họng nấc lên tiếng “khọc, khọc, khọc” từng chập và từ từ nhỏ dần. Anh Hộ thấy vậy vội ôm lấy Thiếu Tướng nói:

- Thôi mình chở Thiếu Tướng đi bệnh viện.

Tôi cũng ôm chầm lấy xác ông vừa khóc vừa nói:

- Chắc trễ rồi, vết thương ở đầu vô phương cứu chữa, hơn nữa Thiếu Tướng đã quyết định tự sát. Hèn chi hôm qua Thiếu Tướng đi thăm anh em thương binh ở Bệnh Viện Phan Thanh Giản rất lâu và nói với anh em thương binh là: “Qua ở lại với các em.”

Anh Hộ nói tiếp:

- Em đâu dám đến gần Thiếu Tướng. Đứng ở ngoài cửa, em chỉ thấy lưng Thiếu Tướng. Em thấy Thiếu Tướng móc gì từ trong túi ra, em tưởng Thiếu Tướng lấy thuốc hút, nào ngờ Thiếu Tướng móc khẩu súng và tự sát liền, em chạy lại đâu kịp.

Vừa nói anh Hộ vừa khóc nức nở. Chúng tôi vẫn ôm choàng lấy Tư Lệnh khóc ngất. Trong lúc bối rối và hoảng hốt, tôi đâu còn tâm trí để xem đồng hồ, tôi đoán lúc đó vào khoảng 7 giờ 30 sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975.

* * *

Vâng. Đúng như vậy. Tôi là một sĩ quan cấp Úy còn ít tuổi, sống độc thân. Nhờ vậy tôi đã được Tư Lệnh chọn ở bên cạnh ông.

Giờ đây gần 30 năm qua, tôi vẫn còn nhớ mãi từng giây phút cuối cùng của ngày 30 tháng 4-1975.

Với tư cách là Tư Lệnh của chiến trường miền Tây, ông Thiếu Tướng của tôi, vị niên trưởng Thủ Đức đã hết lòng với quân đội và đất nước cho đến cả sau khi nghe lệnh đầu hàng. Ngay cả việc chỉ định Đại tá Thiên thay chức Tỉnh Trưởng Cần Thơ vào trưa 30 tháng 4 cũng nhằm mục đích cần có người trách nhiệm để tình hình ổn định.

Ông là vị tướng đầy lòng nhân ái nên không muốn đổ máu thêm vô ích. Ông không cho phá cầu. Ông không tức tối với những người bỏ đi. Ông không muốn có người chết thêm sau khi Tổng Thống đã đầu hàng.

Sau này tôi mới biết rằng sau khi nghe lệnh Sài Gòn đầu hàng, Tư Lệnh đã có ý định sẽ tự vẫn. Vì vậy ông đã bình tĩnh đi thăm Quân Y Viện Phan Thanh Giản vào buổi chiều. Tại nơi đây tôi đã từng theo ông đến thăm viếng nhiều lần, nhưng lần này ông đã khóc và hứa với những thương binh là ông sẽ ở lại.

Và điều đặc biệt là chính tôi không rõ Tư Lệnh đã nói gì để mà Việt cộng đã hai lần vào gặp ông nhưng đều lặng lẽ lui ra.

Trong quân đội chúng tôi học được bài học về đặc lệnh truyền tin vẫn gọi vị Tư Lệnh là Mặt Trời. Tiếng chuông niệm Phật của ông vào đêm 30 tháng 4 vẫn còn nghe vẳng bên tai. Tôi còn nhớ mãi lúc 3 thầy trò đứng khóc trên lan can nhà lầu vào sáng 1 tháng 5 năm 1975.

Đối với tôi, niên trưởng Nguyễn Khoa Nam muôn đời vẫn còn là Mặt Trời Tháng Tư chói lọi chiếu sáng cả cuộc đời còn lại của Danh. Tôi là Trung úy Lê Ngọc Danh, mãi mãi sẽ là tùy viên của ông. Ông chết đi rồi, chẳng bao giờ có thể ai thay tôi trong chức vụ này nữa. Em luôn luôn là tùy viên của ông Thầy.

Lê Ngọc Danh, Sĩ quan Thủ Đức – 2004

Post Reply