Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Image

Một thời văn-chương
Nguyễn Vy Khanh

1954-1975 là thời gian của một cuộc chiến tranh ý thức hệ quốc gia / cộng sản - đồng thời cũng là huynh đệ tương tàn với áp lực của các cường quốc trong một cuộc đối đầu gọi là chiến tranh lạnh! Việt Nam chia đôi ở vĩ tuyến thứ 17. Cuộc di cư năm 1954 đã thay đổi bộ mặt văn học nghệ thuật miền Nam cho đến thời điểm ấy chủ động bởi người địa phương mà nơi hoạt động mạnh là Huế, Qui Nhơn, Nha Trang, Cần Thơ và nhất là Sài Gòn. Sài Gòn, thủ đô Nam phần, đã là nơi sinh hoạt báo chí và văn học nghệ thuật chủ yếu và nhiều nhà báo và văn nghệ sĩ gốc Trung và Bắc đã đến lập nghiệp hoặc cộng tác từ đầu thế-kỷ.


20 năm văn học này có sự đóng góp của nhiều nhóm văn nghệ, tư tưởng hay tập trung ở các tạp chí như Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn Hóa Ngày Nay, Nhân Loại, Văn Đàn, Bách Khoa, Văn Học, v.v. Vào giai đoạn đầu 1954-1963, một nền văn nghệ tự do sinh hoạt trong một không khí văn hóa, tin tưởng, thì đến giai đoạn sau 1964-1975, văn nghệ đa dạng hơn nhưng cũng đa tạp hơn với những người làm văn nghệ phân hóa, bạo động trong một xã hội thời chiến giá trị văn hóa mất dần.

Sau những đấu tranh văn nghệ cho chính trị ý thức hệ của hai năm đầu 1954-1955, người làm văn nghệ muốn làm nghệ thuật mới, thuần túy nghệ thuật hơn, kiểu nghệ thuật vị nghệ thuật. Sau sẽ rõ ra cũng là một công cụ của chính trị giai đoạn! Tạp chí Sáng Tạo ra đời trong hoàn cảnh mới đó. Số 1 ra tháng 10-1956 và kéo dài được 31 số, ngưng từ tháng 9-1959, đến tháng 7-1960 tiếp tục bộ mới nhưng cũng chỉ ra thêm được 7 số. Mai Thảo, trong số ra mắt tạp chí Sáng Tạo đã phần nào chủ quan nói văn nghệ từ thủ đô Hà Nội đã chuyển vào thủ đô văn hóa Sài Gòn! Nhưng khẳng định của Mai Thảo là một diễn dịch khác của một cơ cấu xã hội và chính trị bị-động, phải đối phó tức thời với kẻ thù cộng sản. Đảng Cần Lao được tổ chức như cơ cấu của kẻ thù, đòi hỏi hy sinh và một lòng, một mục đích.

Với những phương tiện tương đương. Sáng Tạo không đi ra ngoài quỹ đạo đó! Sáng-Tạo ra đời với cái gọi là ý thức văn nghệ mới và làm mới văn học cho thời đó. Tạp chí Sáng Tạo muốn làm đại diện cho nền nghệ thuật mới được gọi là "nghệ thuật hôm nay". Nói đến nhóm "tạp chí Sáng tạo" người ta nghĩ đến nhiều người: Mai Thảo "đầu đàn" với văn nói chung mới và tân cải hình thức, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên và Quách Thoại với thơ tự do, Nguyên Sa với thơ ca tụng tình yêu tân kỳ, Cung Trầm Tưởng, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn) và Trần Tuấn Kiệt làm mới thơ lục bát, Trần Thanh Hiệp và Nguyễn Văn Trung (Hoàng Thái Linh), người lập thuyết, người giới thiệu triết lý thời thượng của Âu châu. Ngoài ra còn có Doãn Quốc Sỹ, Thảo Trường, Viên Linh, Người Sông Thương (Nguyễn Sỹ Tế), Trần Dạ Từ, Thạch Chương (Cung Tiến), Vương Tân (Hồ Nam), Hoàng Anh Tuấn, Mai Trung Tĩnh, Nguyễn Nghiệp Nhượng, Mặc Đỗ, Duy Thanh, Lữ Hồ, Trần Lê Nguyễn,... Sáng Tạo không phải là một văn đàn hay bút nhóm với chủ trương và hoạt động khắng khít như Tự Lực Văn Đoàn và nhóm Hàn Thuyên của thời tiền chiến. Các văn nghệ sĩ hợp tác như Nguyên Sa, Viên Linh, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, vv. sau tách riêng làm văn nghệ hoặc không tiếp tục chủ trương của Sáng Tạo nữa.

Sáng Tạo đã góp phần làm mới văn học về văn cũng như thơ, về hình thức, thể cách cũng như nội dung. Thanh Tâm Tuyền cổ võ thơ Tự do, không vần, bất ngờ về ý và chữ dùng, xuất bản Tôi Không Còn Cô Độc (1956) và Liên, Đêm, Mặt Trời Tìm Thấy (1964). Thơ Thanh Tâm Tuyền dùng ngôn ngữ để phá hủy ngôn ngữ, phó mặc mạch thơ, nhạc điệu cũng như ngôn ngữ thơ, để ngôn từ tự do trôi chảy như sự vật vô tri vô nghĩa từ nguyên thủy. Với Nguyên Sa, thơ tự do là thơ phá thể (1), trong khi Thanh Tâm Tuyền đi xa hơn, "thơ hôm nay không dừng lại ở thơ phá thể, thơ hôm nay là thơ tự do" mà cao điểm sẽ là thơ văn xuôi (2)

. Cổ võ thơ Tự Do và khi tưởng đã thành công gây tiếng vang thuận tiện, nhất là với những người làm thơ mới ra đời, nhóm Sáng Tạo bèn đi xa hơn phủ nhận giá trị thơ văn tiền chiến và kháng chiến. Mai Thảo và nhóm bạn của ông rất dị ứng với quá khứ ! Nhiều nhóm văn nghệ sĩ đã lên tiếng phản đối, nhất là ở Huế. Dù gì thì Thanh Tâm Tuyền rồi Nguyên Sa đã khai pháo mở đường cho dòng thơ sẽ được gọi là Thơ Tự Do, một vận động đã bắt nguồn từ thời kháng chiến nguyên thủy là phản ứng lại thơ mới và thơ thời tiền chiến. Thơ lục bát đã được canh tân với một số nhà thơ thời Thơ Mới, nay trên tạp chí Sáng Tạo, lục bát được tiếp tục hiện đại hóa với ngôn ngữ tân kỳ, hình ảnh mới hơn, bất ngờ, cũng như trong cách dùng chữ, ngắt câu. Khởi xướng bởi Cung Trầm Tưởng, tiếp đó có Sao Trên Rừng, Trần Tuấn Kiệt, Trần Đức Uyển, Hoài Khanh, Kim Tuấn, Hoàng Trúc Ly, ...

Mai Thảo là người đã đóng góp cho một cách làm mới hành văn. Những sáng tạo về ngôn từ, cách chấm câu, văn tùy bút, cảm giác. Cách dùng chữ trang trọng, chấm câu theo tình cảm và diễn tiến câu chuyện. Mai Thảo cổ võ lối viết văn như vẽ tranh. Chỗ chấm phá, chỗ chi tiết. Chỗ nâng cao chỗ xuống thấp. Đêm Giã Từ Hà Nội, Bản Chúc Thư Trên Ngọn Đỉnh Trời cũng như hai tập Tùy Bút và Căn Nhà Vùng Nước Mặn là những thử nghiệm thành công. Những chữ dùng nay đã quen nghe quen thấy, nhưng vào những năm 1956-62 là những cái mới đã làm hơn một người chau mặt !

Truyện Thanh Tâm Tuyền tiêu biểu qua Bếp Lửa (1957) và Khuôn Mặt (1964), coi cuộc đời là một vô nghĩa toàn diện. Con người "hôm nay" lên đường, lữ hành, tự vạch đường, tự thoát khỏi tầm thường và khuôn sáo. Cô đơn trong trừu tượng sâu thẳm của con người, nhưng cuối cùng cái phi lý vẫn bủa vây, đẩy con người lún sâu thêm vào trong thực tại mà ý nghĩa nguyên thủy bất động của sự vật vẫn chưa tìm thấy. Thảo Trường dùng những tra vấn khắt khe nhưng chân thành của con người trí thức có đức tin, để nhìn con người và chiến tranh! Cả ba dụng văn nhưng nếu Mai Thảo làm xiếc với chữ, Thanh Tâm Tuyền khiến con chữ sắc lạnh và Thảo Trường nung lửa cho từng chữ dùng!

Sáng Tạo đã mở đường cho những người làm văn nghệ mới từ nay rủ nhau lên đường: Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Gió Mới, Nghệ Thuật, ... Sáng Tạo có công gây hứng khởi, khai phá những cái mới. Trong phỏng vấn của tạp chí Văn vào năm 1971, Mai Thảo đã nhìn nhận : "Tờ Sáng Tạo là của những thí nghiệm và những mở đường (...) Tôi không nhìn Sáng Tạo như nơi phát xuất và hình thành một dòng văn học nghệ thuật. Lớn chuyện quá. Một tinh thần nào, một cách thế nào thì có" (3). Sau khi đã thử "phóng cái lao ý thức về đằng trước" và chối bỏ đằng sau, những thành quả của văn nghệ tiền chiến - Mai Thảo và nhóm của ông rất dị ứng với quá khứ ! Họ khẳng định:"Những khuynh hướng mới là những trở thành tất yếu và biện chứng của một quá trình đổi thay và tiến hóa của nghệ thuật hiện đại Việt Nam" (4).

15 năm sau, Mai Thảo kể lại những ngày Sáng Tạo : "Chất nổ ném vào. Cờ phất. Xuống núi, xuống đường. Ra biển, ra khơi. Và cuộc cách mạng tất yếu và biện chứng của văn chương đã bắt đầu (.... ). Trong một thực trạng dày đặc những chất liệu của sáng tạo và phá vỡ như vậy, văn học nghệ thuật mặc nhiên không còn là tả chân Nguyễn Công Hoan, lãng mạn lối Thanh Châu, những khái niệm Xuân Thu, những luận đề Tự Lực" (5). Nói chung, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Tô Thùy Yên là những thành công, những mới mẻ - nhưng xét cho cùng Mai Thảo, Tô Thùy Yên vẫn chưa rời cái nền cũ, hồn xưa. Quách Thoại, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế xưa, khuôn phép hơn nữa, còn Duy Thanh, Thạch Chương đã ngừng lại ở những thử nghiệm hiện sinh buông thả như người Âu-châu!

Mặt khác, trong bầu không khí chính trị mới, tự do và dân chủ của sau hiệp định Genève 1954 đó, văn chương của Võ Phiến, Đỗ Tấn, Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Đỗ Thúc Vịnh, Kỳ Văn Nguyên, ..., những con người từng theo kháng chiến, đã góp phần xây dựng chính trị miền đất mới trong giai đoạn đắp nền của thời đệ nhất cộng hòa. Tác phẩm của họ đã đáp ứng những chờ đợi của con người thời đó. Văn chương trở thành vũ khí đấu tranh chính trị với cộng sản, dĩ độc trị độc, cũng như người cộng sản đã đặt văn nghệ thành chính sách. Những chuyện xảy ra ở các liên khu kháng chiến. Trong Người Tù, Kỳ Hoa Tử, Khu Rừng Lau, Mùa Ảo Ảnh, v.v., đấu tranh con người và chính trị là một! Doãn Quốc Sỹ quyết tâm bảo vệ lý tưởng, ý nghĩa đã có, dứt khoát vai trò của người trí thức, phải bỏ chủ nghĩa cộng sản, đề cao dân tộc tính và tình người khi còn có thể. Nguyễn Mạnh Côn nhiệt thành Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử trình bày cho đồng hao và thế hệ trẻ biết những thất vọng của ông về một chủ nghĩa, với kinh nghiệm chính ông Lạc Đường Vào Lịch Sử (1965). Một cách phá đổ huyền thoại kháng chiến đồng thời nhận chân giá trị thực của công cuộc vận động kháng thực đó!

Miền Nam đến cuối thập niên 50 đã có được những cơ cấu chính trị và xã hội nền tảng của một chế độ dân sự hiện đại. Nhưng từ năm 1960, đã bắt đầu có những tiếng nói khác nhịp với chính quyền. Nhóm Caravelle (4-1960), rồi đảo chính ngày 11-11-1960, rồi hai phi công Phạm Phú Quốc, Nguyễn Văn Cử thả bom dinh Độc lập 2-1962, những nỗ lực chính trị của một số người của chế độ muốn cứu nền đệ nhất cộng hòa không kết quả, bàn cờ domino khiến "đồng minh" Hoa Kỳ thiếu kiên nhẫn muốn đi nước cờ theo ý mình, bèn cấu kết đưa đến đảo chính 1-11-1963, rồi chỉnh lý, biểu dương chính trị, tôn giáo, v.v.

Miền Nam bốc lửa, nếp thanh bình tương đối của thời ngưng chiến sau 1954 dần mất. Nhà văn cũng như bao người dân khác, bị thời cuộc xáo trộn, phải đối phó. Sinh hoạt văn hóa cũng bị biến cố thời thế ảnh hưởng, và ảnh hưởng nặng nề. Những Sáng Tạo, Hiện Đại, Thể Kỷ Hai Mươi, ... đề xướng văn nghệ "hôm nay" thì từ 1964, những tạp chí Văn, Văn Học, Nghệ Thuật, Tiếng Nói, v.v. đã "hiện đại" mạnh mẽ hơn! Rồi sự góp mặt của một thế hệ nhà văn trẻ hơn như Lê Tất Điều (Khởi Hành, 1961), Nguyễn Đình Toàn (Chị Em Hải, 1961), Dương Nghiễm Mậu (Cũng Đành, Gia Tài Người Mẹ, xuất bản cùng năm 1963). Người hiểu biết sẽ thấy khi chế độ đệ nhất cộng hòa bị lật đổ, dân chủ bị phản bội - mà những người sinh hoạt chính trị hình như cũng chưa thực hành được dân chủ, chưa chấp nhận "trò chơi" dân chủ - chống Cộng sẽ hết còn dễ dàng. Và một tuổi trẻ năng động trong hành trình trí thức và tâm cảm, nhiều khắc khoải, ưu tư, nhưng họ lại có thể không cùng kinh nghiệm kháng chiến hay chống Cộng, dễ ngây thơ chính trị.

Cái không khí Dostoievski nặng nề và bi quan, cái không khí buồn tột cùng hay bất lực đó đã thấy trong các tác phẩm của Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, ... cũng như cái phi lý dửng dưng trong tác phẩm Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn. Thanh Tâm Tuyền và Nguyễn Đình Toàn chẳng hạn đều đi tìm ý nghĩa của cuộc sống; trong khi Thanh Tâm Tuyền hăm hở mà dửng dưng, tự hào, không cảm tính, thì Nguyễn Đình Toàn chậm chạp khám phá theo cảm tính và tư duy.
Nhóm "Bách Khoa" lúc đầu là nơi tụ tập những người kháng chiến cũ như Huỳnh Văn Lang, Võ Phiến, Phạm Ngọc Thảo,..., nhóm "Nhân Loại" của những người miền Nam tiếp tục ... kháng chiến xoay ra chống chính quyền miền Nam, sau báo đình bản và nhiều người vô bưng theo cộng sản như Lý Văn Sâm, Trang Thế Hy, Lê Vĩnh Hoà hoặc tiếp tục nằm vùng như Vũ Hạnh, Sơn Nam. Ngoài ra đối với giới làm văn nghệ từ đất văn vật vào, Nguyễn Đức Quỳnh đã một thời ảnh hưởng một số trí thức, văn nghệ sĩ và "lý thuyết gia" văn nghệ trong số có những thành viên của Sáng-Tạo hay của nhóm Quan Điểm, qua những buổi gọi là "đàm trường viễn kiến" của họ.
Nhóm Tinh-Việt văn-đoàn gồm Phạm Đình Khiêm, Phạm Đình Tân, Nguyễn Văn Thọ, .... chủ trương đem Đạo vào Đời và Đời vào Đạo. Họ có cơ quan Văn Đàn và từ năm 1958 lập hai giải thưởng văn học Trương Vĩnh Ký và Lecomte de Nouy (6). Nhóm viết và dịch với mục đích phổ biến giới thiệu những tư tưởng mới, nhất là của Thiên Chúa giáo. Hai nhóm khác của Thiên Chúa giáo cũng đã đóng góp nhiều cho nền văn học giai đoạn này: Văn Bút Trần Lục khi di cư vô Nam đã xuất bản hàng trăm tài liệu và tác phẩm, các thành viên của Học-hội Ra Khơi thuộc địa phận Bùi Chu như các linh mục Kim Định, Trần Văn Hiến-Minh, Vũ Ngọc Trác, Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Hoàng Sỹ Quý, Đỗ Quang Chính, Nguyễn Hưng,... đã xuất bản nhiều tác phẩm về triết học Đông Tây, Việt học và ngữ học rất đáng kể. Riêng linh mục Kim Định đã có công đặt nền móng khoa học cho triết học Việt Nam.

Sau những năm bôn ba hoạt động chính trị, làm bộ trưởng và lưu vong, năm 1951, Nhất Linh trở lại quê nhà về sống ẩn ở Đà-Lạt. Năm 1958, ông "xuống núi" gây dựng lại Tự Lực văn-đoàn, nhà xuất bản Đời nay và ra mắt tạp chí Văn Hóa Ngày Nay chủ xướng một văn chương vượt thời gian và không gian. Từ năm 1951, sách Tự Lực văn-đoàn đã được tái bản với tên nhà Phượng Giang, vẫn thành công về số lượng tiêu thụ. Nhưng ngoài công lao khám phá những cây viết mới như Nhật Tiến, Đỗ Phương Khanh, Linh Bảo, Nguyễn Thị Vinh, Duy Lam, Tường Hùng, ... ông cũng như dư vang của Tự Lực văn-đoàn đã không được những người làm văn nghệ mới đón nhận tích cực lắm; trở thành đề tài tranh luận chối bỏ của những người làm văn nghệ "hôm nay" trên Sáng Tạo và cả trên Nghệ Thuật khi nhóm đã rã (7).

Tác phẩm của Tự Lực văn-đoàn được đưa vào chương trình Việt văn, đã được chính yếu đọc bởi giới học sinh. Độc giả nói chung tìm đến những tác giả và tác phẩm mới hơn, trong số có những tác giả mới của nhóm Tự Lực văn-đoàn như đã nói ở trên. Nhất Linh thất bại đến với giới trẻ, hết sinh lực và hợp thời đại, bộ Xóm Cầu Mới cũng như tạp chí Văn Hóa Ngày Nay, nhưng tinh thần gọn sáng được tiếp nối với Nguyễn Thị Vinh, Nhật Tiến. Chính Thế Uyên, một người cháu của Nhất Linh cũng là một nhà văn mới vô nghề cũng đã phủ bác văn chương của Tự Lực văn-đoàn (8 ).

Từ năm 1960 trên các tạp chí văn nghệ Sài-Gòn đã có những bài luận công tội của Nhất Linh đối với văn học! Trong số những hiện tượng phủ nhận vai trò những người làm văn hóa đi trước, còn có Trần Thanh Hiệp lý thuyết gia nhóm Sáng Tạo, diễn thuyết "Về viễn tượng văn nghệ miền Nam" tại Câu Lạc Bộ Văn Hóa (1-8-1960) đã đi quá xa khi xổ toẹt văn học miền Nam trước khi ông di cư vào (9). Văn Đàn của nhóm Tinh Việt Văn Đoàn đã phản ứng mạnh mẽ chống vị luật sư lý thuyết gia "văn nghệ hôm nay" này! Dĩ nhiên nhóm Tinh-Việt văn-đoàn cũng chống cả văn chương hiện sinh ngoại nhập với các giáo sư Nguyễn Văn Trung, Trần Bích Lan, Nguyễn Khắc Hoạch và các nhà văn mới của Sáng Tạo, Hiện Đại và Thế Kỷ Hai Mươi!

Về báo chí, thời này đa dạng, trăm hoa cùng nở; nở theo chính trị và biến động của một miền Nam hết an bình. Nhà báo làm chính trị, "chầu rìa" như một số đảng phái bắt đầu hết hậu thuẫn của dân chúng. Khi chiến tranh và xáo trộn lên cao độ, đã có những tờ báo chui của sinh viên và trí thức, "góp phần" gây xáo trộn thêm miền Nam. Cũng là thời của nhiều nhóm tranh đấu chính trị tập trung quanh các báo Thái Độ, Lập Trường, Hành Trình, Đối Diện, ... với những nhà văn dấn thân như Phan Nhật Nam, Ngô Thế Vinh, Nguyên Vũ, Thế Uyên,... hay phản chiến như Kinh Dương Vương, Nguỵ Ngữ, Trần Hữu Lục, Thái Luân, Thế Vũ, v.v. - những phẫn nộ của họ không được chú tâm của người cùng chiến tuyến, vài người trong số sẽ bị đối phương xử dụng, tác phẩm của họ trở nên vô dụng trong một xã hội quay cuồng bởi những giá trị khác hơn. Về tạp chí văn học, tờ Văn (số 1, 1-1-1964), tương đối sống lâu nhất và đã đóng góp nhiều cho việc hiện đại hóa văn nghệ miền Nam.

Qua ba đời Trần Phong Giao, Mai Thảo và Nguyễn Xuân Hoàng, nhưng thời họ Trần tạp chí phẩm chất cao, có chiều hướng xây dựng một nền văn nghệ mới, hiện đại và đa dạng đông-tây; đã có công giới thiệu các tác giả, công bố nhiều văn liệu đặc biệt và khám phá nhiều cây viết trẻ (như Y Uyên), có những số báo độc đáo về Triều Sơn, Nhất Linh, Nguyễn Đức Quỳnh, Hàn Mặc Tử, Hồ Biều Chánh, v.v. Trần Phong Giao từ 1972 chủ trương tạp chí Giao-Điểm theo hình thức Văn nhưng mất dần ảnh hưởng! Văn Học của Phan Kim Thịnh là tạp chí cũng đã góp nhiều công sức cổ võ một nền văn chương mới và ghi dấu nhiều chủ đề văn học Việt Nam và thế giới.

Về thi-ca, nếu Thơ Mới dù tự do hơn, phóng túng hơn thơ cũ nhưng thường ở trong khuôn tế nhị, thơ mộng thì đến thời này nhất là ở những năm chiến tranh, tâm tình con người giao động nhiều, mất mát thua thiệt nhiều, như bất lực trước tàn bạo của chính trị và chiến tranh, đã có những giọng thơ khinh bạc, như Nguyễn Bắc Sơn, cũng là thời thơ văn bốc lửa của miền Trung địa đầu của miền Nam. Miền Trung đã xôi động với những biến cố Phật giáo 1963, 1965, đại học Huế, nhóm Lập Trường, rồi biến cố Tết Mậu Thân, cổ thành Quảng Trị, v.v. , với những cây viết trẻ Trần Vàng Sao, Thái Luân, Nguyễn Nho Sa Mạc, Luân Hoán, Mường Mán, Hoàng Lộc, Thành Tôn, Thái Tú Hạp,...Miền Trung đã chứng tỏ thiết yếu cho văn học miền Nam; so với tỉ lệ dân số, người đọc ở đó đã nhiều mà người viết cũng nhiều!

Thơ thời này còn có những khuynh hướng triết lý, về phận người và vũ trụ như thơ Phổ Đức, thơ Thiền Bùi Giáng: một phương tiện giải thoát cuộc sống khó khăn hoặc chính trị không lối thoát.

Thơ ảnh hưởng Phật giáo có Phạm Thiên Thư, Nhất Hạnh, Hoài Khanh, Phạm Công Thiện, Xuân Phụng,... Song hành có thơ Vũ Hoàng Chương với Rừng Phong (1954) và nhiều thi tập sau đó lúc đầu còn phong cách, dù vẫn cái buồn chán chường cuộc đời và tâm sự sống sót sau cuộc chiến tranh, nhưng sau thành thù tạc và lạc lõng giữa thời đại hết còn là của thi nhân. Đinh Hùng với Mê Hồn Ca đem đến cho văn học Việt Nam một thế giới huyền sử hoang đường của thời huyền thoại, như cánh tay nối dài của tuyên ngôn Dạ Đài thuở 1943, sẽ trong sáng gần cuộc đời hơn với Đường Vào Tình Sử năm 1961. Thơ tình yêu có hiện tượng Nhất Tuấn với các tập Truyện Chúng Mình, tình ngang trái vì hoàn cảnh phân ly của đất nước nhưng vẫn có chỗ cho hy vọng, không bi thảm, của người thanh niên đã khoác áo lính. Nguyên Sa là một hiện tượng đáng kể khác nhưng chỉ vào đầu giai đoạn. Trần Dạ Từ đã có Thuở Làm Thơ Yêu Em, Phạm Thiên Thư - nhà tu ngắn hạn đa tình dài dài, với Động Hoa Vàng, v.v. Hoàng Trúc Ly, Cung Trầm Tưởng, Kiên Giang, Trần Tuấn Kiệt, Lệ Khánh, Cao Mỵ Nhân, ... đã để lại nhiều bài thơ tình đẹp. Miền Đông có Nguyễn Tất Nhiên đã là hiện tượng với những vần thơ học trò ca tụng tình yêu được phổ nhạc và phổ biến rộng rãi nhất là trong giới học sinh, sinh viên! Về kịch, Bão Thời Đại của Trần Lê Nguyễn, Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan đáng được ghi nhận, bên cạnh những đóng góp của Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Ngô Xuân Phụng, Nghiêm Xuân Hồng, Phan Tùng Mai, v.v.

Ngôn ngữ phong phú ra, nhiều ngành triết học, khoa học, văn chương bành trướng với sự lớn mạnh của các phân khoa Văn Khoa và các viện đại-học công cũng như tư. Triết lý, văn học Phật giáo phát triển với sự thành lập viện đại học Vạn hạnh, với những tạp chí Tư Tưởng, Vạn Hạnh, Giữ Thơm Quê Mẹ, các nhà xuất bản Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao... các tác giả Nhất Hạnh, Võ Hồng, Hoài Khanh, ... Phía Công giáo với các viện đại học Đà-Lạt, Minh Đức, Thụ Nhân,... góp phần phát triển bộ môn triết học và ngôn ngữ học cũng như văn học với các công trình của các giáo sư và linh mục Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Lê Văn Lý, Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Sỹ Quý, Nguyễn Khắc Xuyên, Kim Định, v.v. Về văn học, Bùi Xuân Bào, Bùi Tuân, Võ Long Tê, Phạm Đình Tân, Nguyễn Văn Trung, Thảo Trường, v.v. cũng như các nhóm Nhận Thức (Huế), Tinh-Việt văn-đoàn, Sống Đạo, Phương Đông, Đối Diện, v.v. đã góp phần gây ý thức tôn giáo và góp phần nhận thức trách nhiệm trần gian, bám sát thời sự của chiến tranh và xã hội nhiều giao động.
Ở miền Nam từ sau đệ nhị thế chiến, một luồng gió tự do cá nhân đến từ Âu châu hiện sinh. Cá thể là chính, là khởi điểm đồng thời là trạm tới của mọi giá trị. Ý nghĩa cuộc đời chỉ có thể có từ kinh nghiệm cá nhân mỗi người, và tự do lựa chọn, như một số nhân vật của Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu và Nguyễn Đình Toàn. Nay không còn khuôn mẫu văn hóa chung, phổ quát, trừu tượng, nay chỉ có chủ thể mà không còn khách thể!

Ngôn ngữ trở thành âu lo chính, trở thành sống chết, quan trọng, chứ không phải không có cũng chẳng sao. Văn chương với ngôn ngữ như hình với bóng; có văn chương, ngôn ngữ mới sống và trưởng thành. Ngôn ngữ trong một hoàn cảnh nào đó, có thể đem đến tự tin, nói như Jean-Paul Sartre, văn chương một thời đại vong thân khi tự nó không dứt khoát làm chủ mà còn lệ thuộc những quyền lực đời hoặc một ý thức hệ, khi văn chương tự xem như phương tiện, công cụ thay vì phải là mục đích vô điều kiện. Thành ra văn chương khoác chiếc áo siêu hình, như từ chối hiện thực, đời thường. Đi xa đến những tưởng là vô nghĩa, phi lý, trong thực tế là những tư duy thâm sâu, và chính ngôn ngữ và sáng tạo trong ngôn ngữ đã đem lại tính cách văn chương cho văn, thơ,...

Văn nghệ trở thành phương tiện hành động, phản kháng, trong một cuộc đời phi lý, như chiến tranh, như những cái chết của người thân hay bạn hữu. Người tuổi trẻ nhận ra văn chương không phải là chốn trốn tránh sự thực, thực tại, mà là phải đáp ứng nhu cầu hôm nay và là để thuyết phục. Tiếng bom, những viên đạn lạc, những người bạn nằm xuống vì lựa chọn chiến tuyến hoặc nạn nhân vô tình. Nhiều người làm văn nghệ trẻ thập niên 1960-1970 đã đi đến dấn thân - hoặc tưởng là như vậy, để gạt bỏ những sợ hãi bất tường của đời thường - cái hãi sợ mà Heidegger từng nói đến, đưa cá nhân đến đối đầu với hư vô và sự phi lý trước cái phải lựa chọn! Cuộc kiếm tìm cái nhân cách, một cái tính cách hiện đại hóa, thời thượng, .. Khởi từ ý tưởng định mệnh khó hiểu, cái số mệnh nghịch thường với con người, với tự do chân chính. Con người luôn bị định mệnh đe dọa, vậy thì viết là để xác định tự do vì hãi sợ không có thật!

Văn học miền Nam thời này cũng như của thế kỷ XX nói chung có cái thị kiến to lớn, loại viễn kiến, có tham vọng sâu xa, đụng đến phần sâu thẳm: nền văn học này vì thế có hai đặc điểm trội bật là chính trị và siêu hình, triết lý.

Tình cảnh của một tập thể dù muốn hay không cũng tự chính trị hóa, trong mọi sinh hoạt, kể cả văn chương đã ảnh hưởng chăng? Có thể nói công việc nghị luận, nghiên cứu hay quan sát sinh hoạt văn học cũng là một cách làm văn học, vì tập thể, vì tương lai, mà nội dung cũng có thể tải những tâm tình, nguyện vọng của một thế hệ, của những người chứng. Đưa đến tính cách thời gian của văn học, nhất là văn học ở ngoài nước, vì những công việc văn chương này luôn hàm ý phê phán quá khứ và hiện tại, luôn như tìm cách rọi ánh sáng vào bóng tối ám của bạo lực, của một tập thể chuyên quyền, như tìm cách nói lên tiếng nói bị vùi dập, bị đẩy vào câm lặng tuyệt đối!
Nhiều phương-pháp nghiên cứu và phê-bình được thử nghiệm. Phương pháp phân tâm Freud đi tìm trong tiềm thức, tuổi thơ của tác giả - bỏ ý thức để đi vào lãnh vực tiềm thức, trực giác, những ấn tượng, cảm xúc, ám ảnh đau thương thời thơ ấu của nhà văn thơ chẳng hạn, như Đỗ Long Vân khi viết về Chế Lan Viên (10). Phương pháp xã hội học thì tìm trong bối cảnh kinh tế, chính trị và xã hội chung quanh tác giả để cắt nghĩa tác phẩm. Đi xa và một chiều biến thành phương pháp phê bình duy vật của K. Marx, dựa trên lập trường gọi là giai cấp, cách mạng và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, dựa trên quá trình phát triển của xã hội và của lịch sử. Ở miền Bắc khởi từ Trường Chinh từ những năm 1948, sau đó các vị làm công tác phê bình chỉ việc theo, như Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Lê Đình Kỵ, Hoài Thanh, v.v. Phê bình hiện sinh, nói đến con người như một cái gì do con người tự tạo, một hiện hữu tiên thiên trước yếu tính. Thuyết phê bình văn học "thi tứ không gian" (La poétique de l'espace) của Gaston Bachelard được Lê Tuyên áp dụng trong các giáo trình ở đại học văn khoa Huế vào thập niên 1960, về ca dao tục ngữ, Kiều, Cung Oán ngâm khúc và đã xuất bản tập Chinh Phụ Ngâm Và Tâm Thức Lãng Mạn Của Kẻ Lưu Đày (11) năm 1961 và gần đây ở ngoài nước, cuốn Thể Tánh Của Thi Ca (12).

Cấu trúc luận (Lévi-Strauss, Michel Foucault, ...) từ thập niên 1960 khai tử "tác giả", chỉ nhắm văn bản, cấu trúc của tác phẩm là cái xuất hiện trí thức của tác giả, của con người. Phương pháp chống nhân bản, có thể đưa đến phong trào sinh viên 1968, chống chiến tranh Việt Nam và đưa đến phong trào "tiểu thuyết mới" chủ trì cái chết của tác giả. Người viết mang mặt nạ, cũng là thời của tiểu thuyết thực nghiệm (experimental novels), tiểu thuyết phá thể - gốc gác, dấu vết triết học Marx đặt nặng vai trò sản xuất và vai trò của nó trong lịch sử. Huỳnh Phan Anh ít nhiều xử dụng những phương pháp này. Đỗ Long Vân tìm "con đường tơ lụa" trong Kiều và tìm dấu ấn ngôn ngữ giúp tìm dấu vết con người trong Nguồn Nước Ẩn Trong Thơ Hồ Xuân Hương. Hai thập niên sau có thuyết Hău Cãu trúc luận (Post-Structuralism) chủ trương tách rời tổng thể khỏi cấu trúc, Jacques Derrida đưa ra thuyết Hủy Tạo (Deconstruction) phân tích ký hiệu để giải mã tác phẩm, không phân tích, tác phẩm trở nên bất tri. Phê bình hậu hiện đại cũng chú trọng khía cạnh chính trị. Sau Foucault là F. Jameson, Stanley Fish xem văn chương là một bằng chứng của sự đàn áp. Văn chương bị áp đặt dưới cái nhìn trừ "tà", tố cáo. Vạch màn sương mù để nhìn "thực chất". Phê bình hậu hiện đại phá hủy huyền thoại văn chương, lột trần, đặt lại vấn đề, tra vấn, tìm kiếm "chân lý".

Các phương pháp đó có thể là những phương tiện, những lăng kính, những cách thức để hiểu văn học Việt Nam, sẽ là những đóng góp tốt, như Nguyễn Văn Trung khi nghiên cứu về văn học và tiểu thuyết (13), như Lê Tuyên khi viết về Chinh Phụ Ngâm (11), Đỗ Long Vân khi giải mã thơ Hồ Xuân Hương (14), Huỳnh Phan Anh về nhiều tác giả và tác phẩm (15), ...

Một nền văn nghệ mới khai sinh từ kinh nghiệm thế chiến thứ nhì với những Jean-Paul Sartre, Albert Camus, Simone de Beauvoir, Françoise Sagan,... là một nền văn nghệ có tính chất triết lý "gần" con người và cuộc đời trần gian và xa thần quyền. Nhiều khuynh hướng văn nghệ mới được các giáo sư trẻ du học từ Âu châu về phổ dương, các ông Nguyễn Nam Châu, Nguyễn Văn Trung (Hoàng Thái Linh), Nguyên Sa Trần Bích Lan, Nguyễn Khắc Hoạch,... trên các tạp chí Đại Học của đại học Huế và các tạp chí văn nghệ mới Sáng Tạo, Thế Kỷ Hai Mươi, Hiện Đại, v.v. Nhiều cây viết khác cũng góp phần giới thiệu những trào lưu văn nghệ mới, hiện tượng luận, Heidderger, và siêu hình học, Nietzche,... như Bùi Giáng, Tam Ích, Phạm Công Thiện, Đặng Phùng Quân, Trần Đỗ Dũng, Lê Huy Oanh, Trần Thiện Đạo, Trần Phong Giao, Nguyễn Nhật Duật, Huỳnh Phan Anh, Cô Liêu Vũ Đình Lưu, Hoài Khanh, v.v.
Từ 1964, trong số những người làm văn nghệ xuất hiện một khuynh hướng triệt để hơn. Họ không bằng lòng với thành quả đang đạt được. Một trong những người đó là Nguyên Sa chủ trương nghệ thuật phải hay và không làm văn nghệ theo phe nhóm hẹp hòi hay "múa gậy vườn hoang" (16) như ông viết trong Một Bông Hồng Cho Văn Nghệ. Ông đã nhìn lại quãng đường văn nghệ thời vừa qua, và đã kết án đó là một "nền văn chương trú ẩn" (17). Ông kết tội những người làm văn nghệ thời Sáng tạo trong đó có ông, đã phủ nhận văn học "lãng mạn" của tiền chiến "một cách mù mờ". Ông cho rằng chủ trương văn nghệ mới của Sáng-tạo đã "vội vã, làm giản lược nhãn quan phán xét, làm phủ nhận thiếu vững chắc". Theo ông, các nhà văn thời Sáng Tạo "chỉ chê văn chương lãng mạn. Tức là chúng tôi có thể làm văn chương hiện sinh. Chúng tôi có thể làm văn nghệ dấn thân. Chúng tôi có thể làm tiểu thuyết mới". Tuy nhiên "đó là sự buồn bã ghê gớm của thế hệ năm mươi sáu mươi. Tiền chiến buồn bã bao nhiêu thì chúng ta buồn bã bấy nhiêu.

Bởi vì những động đá trú ẩn. Tiền chiến và năm mươi sáu mươi vẫn là những nền văn nghệ trú ẩn trong những động đá kiên cố. Vẫn là những nền văn nghệ bình an và kỹ lưỡng" vì "chúng ta chỉ yêu mến cái mới đã được chấp nhận. Chúng ta chỉ sáng tạo trong khuôn khổ (...) làm mới trong kích thước của cái mới đã được mang lại bởi những người làm văn học nghệ thuật không phải là chính mình. (...) Ta chỉ là những người học trò tốt " bắt chước hiện sinh, hiện thực xã hội. Nguyên Sa và một số trí thức của tờ Đất Nước đi đến quyết định "Nhớn rồi, ... phải rời bỏ những vùng trú ấn cũ,... những động đá cần thiết cho mùa Đông nhưng tù hãm lắm, tê liệt lắm" để "dấn thân", "dân tộc" "đi về trước mặt. Đi đâu? Chưa biết. Đó là cuộc phiêu lưu". Có thể "sự khám phá thần thánh" mà "cũng có thể là sự gục ngã. Gục ngã vì dại khờ. Gục ngã vì điên loạn. Nhưng trong văn nghệ, cũng như trong tình ái, chẳng thà gục ngã trong dại khờ còn hơn sống mãi trong khôn ngoan. Chết ở chân trời thử thách, chết trong cuộc phiêu lưu còn hơn sống mãi tầm gửi trong động đá trú ẩn êm ấm.". Khi Nguyên Sa viết những dòng trên là lúc văn chương "chính trị" của những Nguyễn Mạnh Côn, Mai Thảo, Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ, v.v. không còn đánh động được người đọc, làm như đã xong nhiệm vụ những năm đầu xây đựng nền tảng của một miền Nam không cộng sản. Thời gian sau đó cũng đã trả lời một cách oái oăm rằng văn chương hướng về dân tộc và tôn giáo sẽ là một thất bại khác - ít ra đã không tạo được những cây bút nỗi tiếng như vào thời cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. Những cây viết thiên tả ở miền Nam như Vũ Hạnh, Lữ Phương, Thế Nguyên, Nguyễn Trọng Văn liên tục theo dõi và tấn công những người làm văn nghệ khác, luôn nhân danh những "giá trị" chính họ không áp dụng. Cô-Liêu Vũ Đình Lưu, Bùi Đức Uyên, Trần Văn Nam, ... có những đóng góp phê bình nghiêm chỉnh hơn!

Khuynh hướng văn chương dấn thân trội bật, từ ý thức đến chính trị. Khởi từ đây những tạp chí Đất Nước, Đối Diện, Trình Bày, Hành Trình, Thái Độ... đối đầu với chính trị và chiến tranh, mở một "chiến trường" chính trị và xã hội hơn, dấn thân sâu hơn. Một số văn nghệ sĩ dấn thân và phản chiến được người đọc theo dõi. Dấn thân có Thảo Trường, Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ, Ngô Thế Vinh, Trần Hoài Thư, ...; phản chiến có Thế Nguyên, Mường Mán, Cung Tích Biền, Trần Vàng Sao,... về sau rõ ra là nằm vùng!

Từ những rã rời, tuyệt vọng do xã hội thời chiến đưa tới, vài năm sau làn sóng hiện sinh thời thượng là mốt "tiểu thuyết mới" đến từ Pháp với Huỳnh Phan Anh, Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Xuân Hoàng,.... Một loại "phản tiểu thuyết", nói như Jean-Paul Sartre, đối thoại và độc thoại cùng tình cảm nội tâm trộn lẫn, thứ tự thời gian đảo lộn, không cần đến cốt truyện, có khi không cả người kể. Nhân vật thường ở ngôi thứ ba (il, elle, on). Một thế giới rất "khách quan", ở ngoài!

Sau khi đất nước chia đôi, đến những ảnh hưởng của những trào lưu hậu chiến như hiện sinh và hiện tượng luận. Hiện sinh xuất phát từ thời đệ nhị thế chiến, ảnh hưởng từ Heidegger và K. Jaspers và nối tiếp tiểu thuyết về thân phận con người, khuynh hướng lớn mạnh từ khi Jean-Paul Sartre xuất bản La Nausée năm 1938 và coi như chấm dứt với Les Mandarins của Simone de Beauvoir năm I954. Các nhà văn thơ miền Nam thuộc nhóm Sáng tạo, tạp chí Văn, Văn Học,.. phản ánh phần nào khuynh hướng tiểu thuyết này. Đời là phi lý, là hố thẳm không thể vượt qua vì luôn hiện hữu giữa con người và thế giới, giữa khát vọng con người và sự bất lực của thế giới bên ngoài thoả mãn cá nhân! Con người xa thần quyền, chỉ biết giá trị của hiện tại và thực tại, lo sống cho cá nhân và hôm nay (Bếp Lửa, Tuổi Nước Độc,..), đời sống thì buồn tẻ mà cá nhân thì xác thịt và cảm tính mạnh hơn (Bốn Mươi, Vòng Tay Học Trò, Tôi Nhìn Tôi Trên Vách, Sám Hối,...). Truyền thống, phong hóa, ... bị rời xa, bị chế diễu, vì phải hiện đại. Sáng Tạo chê bai Tự Lực văn-đoàn. Rồi ảnh hưởng của tiểu thuyết Hoa Kỳ cũng như J. Joyce và Kafka, tiểu thuyết của một thế hệ lạc lõng, nên chưa thất vọng đã chán chường !

Khuynh hướng tiểu thuyết về dấn thân và thân phận con người nổi từ thập niên 30 ở Pháp với André Malraux, Céline, Saint-Exupéry, Bernanos, Montherlant, Aragon,... Một thể loại tiểu thuyết không chấp nhận giải trí xuông, mà đánh động lý trí bằng cách đưa tới phạm trù bi đát của phận người. Nhân vật thường tiêu biểu cho một giá trị. Tiểu thuyết từ nay là một dấn thân, một nếp sống hoạt động. Céline, qua Voyage au bout de la nuit, chống chiến tranh, chủ nghĩa thực dân, chống người Mỹ,... Malraux, viết Les Conquérants và La Condition humaine sau khi đã tham gia những cuộc cách mạng đẩm máu ở Trung-Hoa, trong rừng già Đế Thiên Đế Thích, tìm Đạo (La Voie royale), nhất là với L'Espoir, ông chống phát-xít, cổ võ tự do. Với ông, tiểu thuyết hiện đại là "một phương tiện thích hợp nhất để nói đến cái bi đát, chứ không chỉ là một khám phá cá nhân". Sau Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, khuynh hướng tiểu thuyết dấn thân đậm nét văn học miền Nam từ giữa thập niên 1960 với những Thế Uyên, Phan Nhật Nam, Trần Hoài Thư, Nguyên Vũ, ... trước khi trở thành phản chiến ở đầu thập niên 1970. Dấn thân tự do trình bày, đem cái Tôi, cả trần truồng, trong một thế giới suy đồi, dù tự do, bên cạnh những đòi hỏi giá trị văn hóa hoặc lòng tin. Văn chương thật sự phản kháng khi có đe dọa, bủa vây : Ngô Thế Vinh, Phan Nhật Nam,.. Từ phản kháng, có những nhà văn đi đến đối đầu đòi lật đổ chế độ, sau rõ ra do chỉ thị chứ chẳng lòng thành gì : Vũ Hạnh, Thế Nguyên, Trần Hữu Lục (Cách Một Giòng Sông),... Chúng tôi đã có dịp tổng kết "mảng" tiểu thuyết này trong một nhận định đã xuất bản, Bốn Mươi Năm Văn Học Chiến Tranh (1957-1997).

Kỹ thuật viết thay đổi! Phải chăng có thể nói đến những "thử nghiệm", "tiến bộ", "cải đổi" theo thời gian sự nghiệp và kinh nghiệm? Nguyễn Đình Toàn là một thí dụ điển hình. Tiểu thuyết đầu Chị Em Hải xuất bản năm 1961, cốt truyện, nhân vật rõ rệt và động tác giản dị. Tác giả chi tiết ở những mô tả y phục và cử chỉ nhân vật. Ý tưởng làm nền có thể đạo đức, triết lý, nhưng chỉ mới ở ngưỡng cửa những ý tưởng phi lý, buồn nôn. Tình yêu như một "thú" đau thương. Hải ham đọc sách, thông minh nhưng lãnh đạm đến với tình yêu, lần đầu là căn gác lỡ lầm đáng tiếc! Những người tuổi trẻ này sống với "những khắc khổ đau đớn của cuộc đời vấy lấy họ. Vì họ đọc sách và biết nhiều họ sống lý tưởng nhưng lại biết rõ mình viễn vông và sự thất vọng tàn của họ (...) Họ thu mình trong chiếc vỏ cứng của cô đơn. Đó là một sự kiêu ngạo vô lý. Nhưng chính đó cũng là cứu cánh của họ. Nếu đập vỡ cái vỏ ấy, họ không còn là họ nữa, có thể họ sẽ tự tử vì không chịu nổi cái vô lý của hiện hữu mình...". Đến Những Kẻ Đứng Bên Lề (1964), nhân vật phức tạp hơn, có sinh khí hơn, trong một cuộc sống đày bất trắc của chiến tranh. Thái, nhân vật chính, sống buông thả, sa đọa, nhưng cuối cùng bỏ Sài Gòn để trở về với biển cả. "Tôi là một kẻ viễn vông, ưa suy nghĩ như một cái cây tự mọc lá" (18 ). Con Đường (1967) đánh dấu một chặng đường mới trong việc tìm kiếm kỹ thuật và ngôn ngữ, trước đó, ông "thường bận tâm về vấn đề của cuốn tiểu thuyết sẽ viết, kể từ cuốn Con Đường tôi bận tâm về vấn đề viết chính cuốn tiểu thuyết đó nhiều hơn" như lời ông xác nhận trong một phỏng vấn của tạp chí Văn (19). Đến Áo Mơ Phai (1972), giải thưởng Văn-học Nghệ-thuật 1973, yếu tố "truyện" nhường chổ cho "truyện kể" để tác giả kể hồi ức, kỷ niệm. Tập tiểu thuyết bắt đầu như sau:

"Hà Nội 1954, tháng sáu chưa hết, nhưng mùa Thu đã đầy hơi lạnh. Buổi chiều im trong văn phòng bước ra tới cửa Tòa Đô Chánh, Quang đã có thể trông thấy sương mù trên mặt hồ Gươm".
Và kết thúc ở trang 309 : "Lan ao ước được hòa hợp; được tan biến vào Hà nội, đồng thời nàng cũng hoảng sợ khi tưởng tượng ra nàng đang kề sát mặt mũi mình bên cạnh cái xác chết đang bắt đầu lạnh ngắt.
Nàng cũng mong mỏi một buổi chiều nao ngồi ở bao lơn đó, nàng sẽ trông thấy Quang đi tới. Lan không gọi nhưng Quang cũng sẽ ngửng lên và trông thấy nàng. Họ sẽ phải gặp nhau một lần cuối cùng như thế trong Hà nội, rồi có sẽ gặp nhau ở nơi xa xôi nào khác nữa không, là việc sau.
Lòng mong đợi gay gắt đến nỗi, đã có khi Lan tưởng như nàng sẽ chết thật, sẽ không bao giờ thở được nữa"(20).

Ở giữa là cuộc sống bình thường của những nhân vật vốn là bạn hữu và gia đình trong chốn không gian đó! Mất mát và đợi chờ là nội dung của truyện, nếu người đọc muốn ngừng lại ở một nội dung, một cốt truyện, một thảm kịch. Kỹ thuật tiến đổi, như tác giả xác nhận:
"Mỗi tác phẩm đã viết ra như que diêm đã được đốt cháy, nhà văn có bổn phận phải sang tạo, dù rằng toàn bộ tác phẩm chỉ là sự nối dài từ cuốn đầu tiên. Nhiều người đã nói tôi dùng lối viết quá dài, cả trang không chấm trong Áo Mơ Phai này mới mang đủ sắc thái không khí của Hà Nội. Nhân vật chính trong tác phẩm không phải là những nhân vật được nhắc tới trong sách mà chính là thành phố Hà Nội. Ai sống ở nơi này thường có cái cảm tưởng đang song trong một giấc mơ, có lẽ là giấc mơ không bao giờ phai nhạt với sương mù cơn mưa sướt mướt hơi lạnh của mùa thu... Áo Mơ Phai thoát ra từ cơn mơ đó từ khi tôi xa Hà Nội mới 17 tuổi..." (21).

Kỹ thuật của Dương Nghiễm Mậu trong Đêm Tóc Rối trộn lẫn quá khứ hiện tại và chuyện ao ước hoặc chưa xảy ra; con người ở đây sống trong bất toàn, trái ngang - sống bám, già bám trẻ, trẻ bám đĩ điếm . Với Gia Tài Của Mẹ, Nhan Sắc, cốt truyện chỉ là cái cớ cho những tra vấn trí thức, chính trị - những kỹ thuật từng bị phê phán chung với Thanh Tâm Tuyền là "cố làm vẻ snob, trí thức một cách hợm hĩnh (...) đời sống nội tâm của họ lúc nào cũng bị xâu xé, khích động vì sống trong sự mê sảng chuộng thời thức của tác giả (...) chuyên đề cập tới thân phận con người trong một bộ đồng phục" (22).
Kỹ thuật tiểu thuyết ở những thập niên 1960-1970 trở thành tư tưởng và mỹ học của chính tác giả. Nhà văn triết lý khi miêu tả sự vật, sự việc, khi tả tình và xâm nhập vào đời sống của nhân vật. Đặt nền trên mỹ học, siêu hình của vô thể hay đang-hình-thành! Nguyễn Thị Hoàng nhiều năm sau Vòng Tay Học Trò, tiểu thuyết gợi tò mò nơi người đọc tìm kiếm tiểu sử tác giả của nó, tiểu thuyết làm dáng hiện sinh, đã trở lại gây bất ngờ với Cuộc Tình Trong Ngục Thất (1974) viết về những bi hài của cuộc đời, những thăng trầm của những con người trẻ ham sống, trong khi chiến tranh hoành hành. Địa ngục ở ngay trước mặt, đời sống trở thành ngục thất cho mỗi cá nhân. "trước khi dành đêm cho mình, vợ bảo chồng nhỏ nhẹ Anh hãy mặc quần áo tử tế và thắp nhang lên bàn thờ Phật" (23). Sau 1975, bà xuất bản Nhật Ký Của Im Lặng (1990) như một tổng kết những suy tư triết lý lẫn nhân sinh quan về cuộc đời, tình yêu, hạnh phúc và những đấng tối cao. Nói chung, đối với các tác giả mới này, có hai khuynh hướng: hoặc tiểu thuyết trở thành cái khung, cảnh ít quan trọng và nhân vật thứ yếu hoặc ngược lại, chỉ có nhân vật, thế giới tiểu thuyết chỉ là cái khung vì đó là một không gian nội tâm hóa, cái cớ để suy tư, phân tích nội tâm. Cuộc đời có đấy nhưng không quan trọng, ý nghĩa cuộc đời là do con người gán cho; câu chuyện xoay quanh nhân vật, nhân vật trở thành tâm điểm! Có tàc giả như Thảo Trường đưa thêm yếu tố tinh thần, tâm linh, cho cái không gian vô nghĩa đó! Như vậy, kỹ thuật tiểu thuyết trở nên quan trọng, là cái riêng của mỗi tác giả, trong cách kể, cách viết, trong không khí mà tác phẩm tạo nên được!

20 năm sinh hoạt văn nghệ đó còn có những hiện tượng như tiểu thuyết đăng nhật báo từng kỳ với Bình Nguyên Lộc, Ngọc Linh, Trọng Nguyên, Thanh Thủy, Văn Quang, Dương Hà, Tô Nguyệt Đình, Duyên Anh, Mai Thảo, Hoàng Hải Thủy, ... Duyên Anh đi vào thời sự của báo chí sau khi đã là hiện tượng với tiểu thuyết viết về tuổi thơ và tuổi trẻ, để đời với tập truyện Hoa Thiên Lý và bộ truyện Vẻ Buồn Tỉnh Lỵ. Nhật Tiến với lương tâm nhà giáo và trách nhiệm xã hội, viết nhiều về những đứa trẻ bất hạnh hay những người nghèo khổ và nạn nhân của chiến tranh. Cũng là thời của những nhà văn mà tác phẩm vẫn sống mạnh nơi người đọc: Bình Nguyên Lộc, Võ Hồng, ... Các tiểu thuyết Yêu, Loạn, Ghen, ... của Chu Tử một thời đã là hiện tượng bán chạy cũng như đề tài sống vội sống cuồng theo F. Sagan và mốt hiện sinh! Bùi Giáng là một hiện tượng khác với các tác phẩm triết lý và dịch thuật tài tình, ngoài những tập thơ đổi mới ngôn ngữ và đầy ắp những ý tình khác người!.

Đây cũng là thời giới cầm bút phái nữ đông đảo hiện diện và nổi tiếng về nội dung: Nguyễn Thị Vinh, Đỗ Phương Khanh và Linh Bảo với những khúc mắc của những mảnh đời tương đối an bình, Nguyễn Thị Hoàng với Vòng Tay Học Trò từng làm chau mặt giới giáo dục, đề tài tình yêu "cấm kỵ" ở chốn học đường, một vấn đề của thời đại mới, Túy Hồng tâm tình nóng bỏng phẫn nộ thân phận phụ nữ mà khi xuất hiện đã gây hy vọng làm sống nền văn nghệ mới, Minh Đức Hoài Trinh người nữ lữ hành trong cuộc đời và tình yêu (gây sôi nổi với Sám Hối và Đàn Ông Đàn Bà), Nhã Ca vẽ lại những cuộc đời bị chiến tranh giao động, gây nhiều đổ vỡ, Trùng Dương náo động ngôn ngữ và tâm hồn người nữ, Lệ Hằng no đầy những mối tình sinh viên lãng mạn vẫn khao khát tự do, tìm kiếm, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ viết về hiện thực của thời đại chiến tranh, xã hội xáo trộn, Vân Trang, Minh Quân,... theo khuynh hướng giáo dục, cuối giai đoạn có Trần Thị NgH văn chương quan sát hiện thực. Về thơ có Trần Thị Tuệ Mai, Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, Hoàng Hương Trang, Trần Thy Nhã Ca, ..., đi từ những tình ý ngập ngừng kín đáo đến những nghi vấn khúc mắc, táo bạo!

Trong Nam, có chính sách văn hóa, thông tin thì cũng phải có chế độ kiểm duyệt vì chiến tranh, nhưng không có cưỡng bách hay cô lập kinh tế, tinh thần. Chính quyền còn trợ cấp tài chánh cho Bút Việt (PEN Club VN) từ năm 1957 dù có những vị chủ tịch độc lập và cả đối lập với chính quyền, như chủ tịch Thanh Lãng đã bênh vực nhà văn "nằm vùng" Vũ Hạnh, ... Thời 1954-1963, không khí văn nghệ lịch sự, nhẹ nhàng,... đến 1964-1975 đa dạng, có nạn bè phái nhưng cũng có đối thoại. Các giải thưởng văn học được tổ chức hàng năm để trả công và vinh danh một số người làm văn học nghệ thuật nhưng có những năm gây tranh luận, nghi vấn về vai trò của các giám khảo cũng như giá trị thật sự của những tác phẩm được giải (Nguyễn Hiến Lê từ chối nhận giải; năm 1974 cuốn Đường Một Chiều của Nguyễn Mộng Giác bị nghi thiên vị, v.v.).

Miền Nam lục tỉnh
Văn học thuần Nam lục tỉnh phát khởi từ 1865 đã tiếp tục vững mạnh với sự nhập cuộc của các nhà văn miền Bắc thời 1925-1945, đã dần dà nhường chủ-động cho người làm văn-nghệ cả nước từ nay tập trung ở phía nam vĩ-tuyến 17.
Mai Thảo trong số ra mắt tạp chí Sáng Tạo cho rằng văn nghệ từ thủ đô Hà Nội đã chuyển vào thủ đô văn hóa Sài Gòn (24). Cao Huy Khanh trong loạt bài biên khảo về 20 năm tiểu thuyết miền Nam (1954-1973) đăng nhiều kỳ trên tạp chí Thời Tập trước 1975 đã phân tích nền văn học đó như sự lớn dậy của một con người từ mới sinh đến khi khôn lớn. Họ Cao là người đầu tiên viết về giai đoạn văn học 1954-1973 (ông dùng thời điểm hiệp định Paris) nhưng chỉ mới được 4,5 bài dẫn nhập thì đã xảy ra biến cố 30-4-75, sau đó không thấy ông xuất hiện trên báo chí (25)! Nhà văn Võ Phiến, trong Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam (26), đã có cái nhìn phần nào tổng hợp hơn và dành cho miền Nam "lục tỉnh" một vai trò hình thành và xuất phát cho nền văn học 1954-1975. Tuy nhiên, Võ Phiến đã không đánh giá đúng mức tác phẩm của các nhà văn miền Nam thời kháng Pháp ngay trước đó là thời Sài-Gòn rất sôi động về chính trị và cách mạng trong khi Hà Nội sôi nổi về quân sự. Khuynh hướng văn nghệ đấu tranh này đã lớn mạnh và đa dạng ở Sài-Gòn trong khi văn nghệ kháng chiến ở phía Bắc đã phải chịu sự chỉ đạo trực tiếp của đảng cộng sản ngay từ những ngày đầu; một khuynh hướng nẩy mầm từ những Trương Duy Toản, Lê Hoằng Mưu, Phạm Minh Kiên, Tân Dân Tử, ... của những thập niên 20 và 30 là thời văn học miền Bắc đang lãng mạn đến đẫm lệ và tự tử với những Cành Hoa Điểm Tuyết, Tuyết Hồng Lệ Sử, Tố Tâm, v.v.

Viết về 20 năm văn học này mà cứ nói đến các nhóm Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn Hóa Ngày Nay, v.v. mà quên các nhóm "bản xứ" khác là một thiếu sót lớn! Văn học miền Nam đã có từ 1865, vẫn tiếp tục phát triển song hành hoặc hoà nhập nền văn học Việt Nam nói chung, hay từ năm 1954, miền Nam có văn học khác, mới? Theo thiển ý nên phân biệt ba dòng văn học tại miền Nam từ 1954 đến 1975 mà nếu công bằng ta có thể ghi nhận : một thuần Nam, từ Petrus Ký qua Hồ Biểu Chánh đến Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Vương Hồng Sển, Trang Thế Hy, ... bình dân hoặc trưởng giả trí thức với những đòi hỏi thông thường những giá trị dân chủ của Cách mạng Pháp 1789; một dòng giữa gồm miền Nam cộng với Trung và một ít Bắc đã khởi từ trước 1954, thiên chính trị cách mạng và công bằng xã hội; và dòng cuối là dòng nước mới từ miền Bắc di cư vào từ 1954, dòng trí thức tiểu tư sản và chính trị lý thuyết. Trong hơn 20 năm, ba dòng văn học đó đã sống chung, đã nhập làm một dưới biểu tượng dân chủ và cộng hòa.

Miền Nam của những năm đầu sau 1954 trước hết có nghĩa là tự do. Tự do trong chính trị, tự do của hết chiến tranh. Tự do của tái dựng cuộc đời, của thiên cư dù trong đổi thay đã có những bi kịch cho tập thể và cá nhân. Và tự do trong văn nghệ! Tuy nhiên cái tự do này sẽ bị hoàn cảnh mới về chính trị giảm thiểu đi phần nào, dù vậy vẫn giúp phát triển những cái mới trong văn nghệ như nhóm Sáng Tạo, thơ tự do, thơ lục bát mới, thơ văn xuôi, vv. Để đối phó với đấu tranh chính trị mà miền Bắc vẫn tiếp tục, dù sao thì tổng tuyển cử mà hiệp định đình chiến đã quy định vẫn như lưỡi kiếm Damoclès lơ lững trên sự sống còn của cả miền Nam. Người dân miền đất mới đã phải bắt tay xây nền móng. Một văn nghệ tâm lý chiến phục vụ giai đoạn sẽ nằm trong nỗ lực vô hiệu hóa mũi dùi của cộng sản Hà Nội, nỗ lực sẽ thành công chỉ mấy năm đầu 1954-1959, khiến cho miền Bắc tức tối sẽ thành lập Mặt trận giải phóng miền Nam và gây chiến cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Không khí tự do nói trên sẽ khiến một số nhà văn nghệ phải xét lại những nền tảng văn nghệ theo đuổi như thuyết đệ tứ quốc tế, thuyết giải phóng dân tộc, thuyết quốc dân và chống ngoại xâm, thực dân mới cũ. Dĩ nhiên có nhiều người sẽ tiếp tục "công tác" như trước 1954, sẽ vào tù hoặc vô bưng, tập kết, hay sẽ bị bắn chết khi vượt ngục như Dương Tử Giang. Những nhà đệ tứ Thiên Giang, Thê Húc sẽ đi vào con đường thuần giáo dục, Tam Ích sẽ pha Phật giáo nhưng vẫn bế tắc đến phải tự kết liễu cuộc đời, Hồ Hữu Tường xét lại thuyết của mình sau khi bị tù vì làm quân sư cho tướng Bảy Viễn nhưng sẽ vẫn không thuyết phục được nhiều người, Phú Đức Nguyễn Đức Nhuận, Tô Nguyệt Đình Nguyễn Bảo Hóa, Quốc Ấn, Phi Vân, ... sẽ hoạt động báo chí, Thẩm Thệ Hà sẽ chuyên hơn về giáo khoa, Sơn Khanh, .. sẽ bỏ viết, làm luật sư và thủ tướng, vv. Vũ Anh Khanh sẽ tập kết và vượt tuyến trở lại và sẽ bị bắn chết nơi đất nước bị qua phân. Lý Văn Sâm sẽ vô bưng khi đã lộ, riêng Thái Bạch, Sơn Nam, Trang Thế Hy, ... sẽ tiếp tục "nằm vùng" vững vàng trong một miền Nam quá tin người và "quá" đề cao những giá trị dân chủ, tự do!

Trong bầu không khí đó, các nhà văn thuần lục tỉnh và Sài Gòn sẽ làm gì ? Trước hết, họ tụ tập hoạt động báo chí và xuất bản. Các nhà xuất bản Phạm Văn Tươi, Phù Sa, Bến Nghé, Nam Cường,..., các nhật báo Tiếng Chuông, Sài Gòn Mới, Sài Gòn Mai, Tia Sáng, ... và các tạp chí Vui Sống, Nhân Loại, Đời Mới, Mới, Sinh Lực, Đông Phương, ... sẽ là đất văn nghệ chính của các nhà văn miền Nam này trước khi họ sẽ hội nhập vào dòng văn học "miền Nam cộng hòa" với các tạp chí Phổ Thông, Văn Học, Văn, Bách Khoa, Nghệ Thuật, vv. Tạp chí Nhân Loại ra đời năm 1956 (có thời do Đông Hồ làm giám đốc) chuyên về văn nghệ và ít về nghị luận chính trị. Đời Mới của nhóm Trần Văn Ân, sẽ đóng cửa khi ông Ân bị bắt ở Rừng Sát, là tạp chí có nhiều ảnh hưởng về chính trị cũng như văn học nghệ thuật trong khi tờ Đông Phương của Hồ Hữu Tường chỉ chuyên về chính trị, cổ võ thuyết trung lập. Về sau có thêm báo chí Phật giáo như Giữ Thơm Quê Mẹ, Hải Triều Âm, Vạn Hạnh. Giai đoạn sau tiêu biểu có tờ Hoà Đồng do Hồ Hữu Tường chủ trương tổng hợp văn minh mới và Cấp Tiến của nhóm Nguyễn Văn Bông với chủ trương như một thay thế những thế lực chính trị cổ truyền đã "mỏi mệt"!

Một cách tổng quát, tạm có thể phân biệt một số khuynh hướng chính: phong tục và đời sống nơi vùng đất mới khai hoang và phù sa: Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Phi Vân, Lê Xuyên, Vương Hồng Sển, Mộng-Tuyết thất tiểu-muội, ...; xã hội và đời sống thị tứ : Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Hoài Điệp Tử, ...; chính trị, đấu tranh : Phạm Thái, Thẩm Thệ Hà, Trang Thế Hy, Tô Nguyệt Đình, ...; tình cảm, lãng mạn, diễm tình bình dân : Ngọc Linh, Sĩ Trung, Dương Hà, Phú Đức, bà Tùng Long, Phi Long, Dương Trữ La, Thanh Thủy, Trọng Nguyên... và luận đề, triết lý và tôn giáo: Hồ Hữu Tường, Phạm Công Thiện, Tô Thùy Yên, ...
Last edited by lequyen on Mon Mar 05, 2012 7:33 am, edited 2 times in total.

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Ấn phẩm xám và những người viết trẻ Hai hiện tượng ấn phẩm xám và những người viết trẻ theo thiển ý quan trọng và đáng kể nếu muốn có cái nhìn nghiêm chỉnh về giai đoạn văn học này. Cả hai hiện tượng sống động ở những năm cuối của thập niên 1960 đầu thập niên 70. Khi chiến tranh chính thức chấm dứt ngày 30-4-1975, các nhà văn thơ trẻ chưa kịp phát triển, thi thố hết tài năng đã phải vứt bỏ hết vì ngay bản thân đã còn phải tù tội, cải tạo, đi chui, cả chết chóc, thất tán. Tác phẩm, sách báo của người trẻ cùng chung số phận của cả miền Nam bị kẻ cưỡng chiếm cấm đoán, thủ tiêu.

Hiện tượng thứ nhất văn chương xám qua các tạp chí phần lớn in ronéo và không giấy phép cũng như nạp bản : tờ Hành Trình của nhóm giáo sư Nguyễn Văn Trung (10-1964 đến 12-1965, tức ra được 9 số thì đình bản vì bị bộ Tâm lý chiến ra lệnh tịch thu), Thái Độ (7-1966, các số sau khá hơn được in ấn bản typo nhưng bị kiểm duyệt bôi đen hoặc loang lỗ những đoạn trống) do Thế Uyên chủ động, Trình Bày (10-1966) của Diễm Châu. Cùng với ca nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn, mảng văn học này đã gióng tiếng nói tiêu cực, phản diện, ngược dòng,... cho văn nghệ miền Nam thời chiến tranh cao độ. Học sinh, sinh viên cũng đã có những ấn phẩm thơ truyện và báo chí in ronéo, nhiều người về sau tiếp tục sinh hoạt văn nghệ chung, những "tác phẩm" đầu tay này thường hực lửa hoặc tích cực năng nổ canh tân, làm mới thơ văn cũng như lý luận. Một số "nhà xuất bản" như Đại Nam Văn Hiến của Thế Phong cũng in sách bằng máy ronéo, từ thơ, truyện đến cả biên khảo, dù cá nhân người chủ trương có "hiện tượng" nhưng dù gì thì nhờ phương pháp "xuất bản" này mà Cao Mỵ Nhân có tập Thơ Mỵ đầu tay (1960), Hoàng Khởi Phong có tập Mặt Trời Lên (1967), riêng Thế Phong để lại nhiều tập biên khảo và bút ký văn học đáng kể!

Ở thủ đô, nhà Trình Bày cho ra đời một số tác phẩm "nóng" như truyện của Thế Nguyên (Hồi Chuông Tắt Lửa,..), truyện của Trần Quang Long (Vực Thẳm Và Hy Vọng 1966, Bông Cúc Vàng 1967), truyện dịch của Diễm Châu (Câu Chuyện Năm Mới, dịch A New Year's Fairy Tale của V. Dudintsev, 1966), ... Ở Phan Rang, nhà Ý Thức in ba cuốn Nỗi Bơ Vơ Của Bầy Ngựa Hoang, Ngọn Cỏ Ngậm Ngùi và Những Vì Sao Vĩnh Biệt của Trần Hoài Thư, Cát Vàng của Lữ Quỳnh,.., những "nhà" xuất bản Con Đuông, Sóng Việt ở Cần Thơ cũng in ronéo. Nhà Văn Mới ở Sài-Gòn in truyện, biên khảo cũng như Thi Vũ ở Paris in thơ với chừng một trăm bản để tặng chứ không bán; "ấn bản cho thân hữu" mở một khuynh hướng thụt lùi đáng ngại ngay từ thời đó chứ không riêng gì hiện nay ở hải ngoại cũng như trong nước! Lữ Quỳnh in xong tập thơ, nhắn tin trên tạp chí Văn "Thơ Lữ Quỳnh đã in xong. Các thân hữu liên lạc với tác giả ở KBC 4781 để nhận sách"(Văn, 138, 1969). Nhóm Khai Phá ở Châu Đốc ra tạp chí và xuất bản tác phẩm của Ngô Nguyên Nghiễm như Người Hành Giả Và Khúc Trường Ca Sinh Tử, Dấu Chân Gió Ngược, Ngọn Gió Hơi Cuồng (chung với Lưu Nhữ Thụy), Lên Đồi Hùng Bát Trăng Vàng của Nguyễn Thành Xuân, v.v.

Tạp chí Văn số 51 (1966) tuyển đăng một số nhà thơ trẻ viết về tuổi trẻ, tình yêu và chiến tranh và giới thiệu rằng "Thơ buồn nhưng không có giọng than van. Hình như tuổi trẻ Việt Nam đã tập chấp nhận, đứng thẳng trước mọi hoàn cảnh..." (tr. 143) . Trong số đó có thơ của Lâm Chương, Thành Tôn, Chu Trầm Nguyên Minh, Nhữ Đình Toàn, ... và một số khác mà về sau người đọc không còn nghe nói đến.

"Đêm bắt đầu yên tĩnh trên đồng cỏ xanh / Đêm quấn quýt quanh những vòng thép gai hoen rỉ / Chiếc xe đò vội vàng trở về thành phố / Anh bồi hồi đón chuyến buýt cuối cùng / Hành khách chật thản nhiên như tượng / Không ai nói một lời " (Nhữ Đình Toàn, Trên Xe Ô-Tô-Buýt, Văn, 51, tr. 145).
Cũng tạp chí Văn, số 187 (1-10-1971) với chủ đề Khi Mùa Thu Tới làm một tuyển tập những cây bút trẻ, ban biên tập ghi là nỗ lực giới thiệu sau cùng, trong số này có thơ của Hoàng Lộc, Yên Ngàn, Nguyễn Văn Ngọc, Võ Chân Cửu, Khê Kinh-Kha,... và văn của Nguyễn Mộng Giác, Hồ Minh Dũng và Mường Mán.

Về truyện ngắn, tạp chí Văn số 197 (1-3-1972) giới thiệu sáu người viết trẻ là Trần Hoài Thư (Bệnh Xá Cuối Năm), Mang Viên Linh, Mường Mán, Định Nguyên, Phan Cung Nghiệp, Phạm Quang Phước. Nhà văn đàn anh Mai Thảo khi giới thiệu hiện tượng người viết trẻ truyện ngắn cho rằng họ "làm sống lại thể truyện ngắn, đem lại cho truyện ngắn hơi thở, một kích thước và những triển vọng mới sau một thời gian bị lu mờ trước ngọn triều tràn ngập của thơ tự do và các tác phẩm truyện dài. (...) Chúng ta không chỉ nhìn thấy những nhà văn trẻ sống và viết. Chúng ta còn nhìn thấy họ lên đường. Và mang theo thể truyện ngắn vào một lên đường mới" (tr. 2). Thời Tập cũng làm một tuyển tập nhà văn trẻ (số 7, 6-1974), giới thiệu Nguyễn Mộng Giác, Trần Hoài Thư, Phạm Thiên Thư, Cung Tích Biền, Nguỵ Ngữ, Nguyễn Tôn Nhan, Nguyễn Đạt, Phù Hư, Nguyễn Mai, Hoàng Ngọc Tuấn, Tạp chí Văn trở thành giai-phẩm với luật mới số 007 về kiểm duyệt, trong số áp chót (3-1975), Mai Thảo đã giới thiệu những triển vọng mới, 13 cây viết trẻ nhất của giai đoạn lần đầu xuất hiện, về sau phần lớn không thấy tiếp tục ngoại trừ Phạm Ngũ Yên với truyện ngắn Bóng Mát. Mai Thảo là nhà văn lớp đàn anh có công giới thiệu và khám phá nhiều tài năng mới.

Họ lên đường, không những trên tạp chí Văn và Thời Tập mà cả trên các tạp chí khác như Bách Khoa, Văn Học, Vấn Đề, Khởi Hành, Chủ Đề, Văn Chương, Thời Tập,... nhưng chưa đủ thời gian để thẩm định vai trò, giá trị, thì cả miền Nam chính trị cũng như văn học đã bị xóa bỏ (27).

Thi ca và văn xuôi trước tình cảnh cực đoan, cùng khốn vẫn lớn dậy, vươn lên. Tình yêu, niềm tin và ngậm ngùi cay đắng, bất lực. Phân chia tả hữu không cần thiết vì tiếng nói của họ là tiếng phản kháng, tiếng dân kêu, tiếng nói tuổi trẻ không chỗ đứng, chỗ thở,... Người viết phần lớn không lập thuyết cao siêu, nhưng họ tỏ ra sống những tấn nặng nề của oan khiên lịch sử. Họ đã đứng thẳng trên trường văn thơ (cũng như xã hội), xác định cái tôi, như những người trẻ, và cũng đã nằm xuống đổ máu cho tổ quốc hoặc phải lê lết thân tàn phế trên khắp mọi vùng đất nước lo sống còn. Trẻ ở đây là nói đến hiện tượng xuất hiện, và họ đã đem đến cho văn học lúc bấy giờ tinh thần làm mới, tinh thần trẻ cần thiết cho một văn học và xã hội đang thoái hóa hoặc tự thoả mãn với những thành tựu của lớp văn nghệ đàn anh. Lớp đàn anh này trên các tạp chí như Tin Sách, Bách Khoa, ... đã nhìn những người viết trẻ như những người làm văn nghệ rời rạc, lẻ loi, thiếu hợp tấu, mà ngay Nguyễn Mộng Giác, một cây viết mới xuất hiện thời bấy giờ sớm nhập quỹ đạo Võ Phiến, cũng đã phê bình "lớp người mới lâu lâu gióng lên một tiếng đàn chùng lẻ loi, không thành được một hợp tấu khúc" ("Nghĩ Về Thơ, Truyện 1974".Bách Khoa, Xuân Ất Mão 1975, tr. 27). Bi quan chăng, nhưng chính Võ Phiến lúc bắt đầu cũng đã tự lập nhà xuất bản Bình Minh ở Qui Nhơn để in hai tập truyện đầu tay, sau nhờ văn phong và công việc đúng ngành thông tin, kiểm duyệt, nên nhập vào dòng chính ở thủ đô sớm !

Họ là những ai? Ở đây chúng tôi xin nhắc một số người viết đã có tác phẩm xuất bản : Phạm Cao Hoàng (Đời Như Một Khúc Nhạc Buồn 1972, Tạ Ơn Những Giọt Sương 1974 ), Lữ Quỳnh (Sông Sương Mù, Cát Vàng 1972, Những Cơn Mưa Mùa Đông 1974), Nguyễn Nho Nhượn (Tiếng Nói Giữa Hư Vô, 1972), Phan Nhự Thức (Đốt Tuổi 1969), Nguyễn Bắc Sơn (Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi 1972), Đynh Hoàng Sa (Vùng Trú Ẩn Hoang Đường 1968), Trịnh Bửu Hoài (Thơ Tình 1974), Nguyễn Thanh Trịnh (Ví Dụ Ta Yêu Nhau 1974), Hoàng Khởi Phong (thêm Phục Hồi Quyền Chức Làm Người 1972), Trần Vàng Sao (Khoảng Tói Sau Lưng 1965), Đông Trình (Khi Mùa Mưa Bắt Đầu 1967, Lót Ổ Cho Đại Bác 1968, Rừng Dậy Men Mùa 1972), Lê Văn Thiện (Một Cách Buồn Phiền 1969, Sao Không Như Ngày Xưa 1971), Mang Viên Long (Trên Đỉnh Sa Mù, Mùa Thu Trống Trải, Có Những Mùa Trăng 1972, Như Giọt Sương, Nói Với Người Yêu, Một Đời Mơ Ước), Tô Đình Sự (Vùng Trú Ngụ 1967), Hoàng Ngọc Tuấn (hàng chục cuốn tiểu thuyết trước 1975, phần lớn cho thanh thiếu niên), Trần Hữu Lục (Cách Một Giòng Sông 1969), Cung Tích Biền (Ai Tỉnh Ai Điên 1968, Hoà Bình Nàng Tình Rỗng, 1968, Nỗi Buồn Thắp Sáng 1969,v.v.), ... Mường Mán năm 1974 ra 2 cuốn truyện dài Lá Tương Tư và Một Chút Mưa Thơm. Vũ Hữu Định (1942-1981) lúc bấy giờ chưa có tác phẩm xuất bản, chỉ sau khi ông mất bạn hữu mới in được Còn Một Chút Gì Để Nhớ. Họ tập trung nhiều nhất ở miền Trung nhưng cũng có ở miền Tây cũng như Đông Nam phần. Vùng Quảng Đà tụ được nhiều nhất, như Luân Hoán, Hoàng Lộc, Đông Trình, Thái Tú Hạp, trong đó Nguyễn Nho Sa-Mạc mệnh yểu, mất khi mới 20 tuổi, thơ như oan trái vận vào cuộc đời :
"bằng đôi tay ôm kín nỗi buồn / ta đi trong trời đất hoàng hôn / mà nghe sữa mẹ chan hòa chảy / máu ở buồng tim cũng loạn cuồng / (...) ôi nửa cuộc đời ta đảo điên / đêm nằm ru giấc ngủ cô miên / hai mươi tuổi trong hồ suy tưởng / ngửa mặt nhìn trời đi ngã nghiêng" (Sinh Nhật).

Cao Huy Khanh là cây viết nghiên cứu văn học sáng giá đầu tiên của miền Nam xử dụng những phương pháp hiện đại, tác giả một loạt bài trên tạp chí Thời Tập (Bài đầu với "20 Năm Tiểu Thuyết Việt Nam Từ 1954 đến 1973", số 1, 14-12-1973), và nhiều bài về thi ca và các tác giả miền Nam Bình Nguyên Lộc, Ngọc Linh, Sơn Nam, ...

Tâm sự của một nhân-vật của Nguyễn Phương Đông trong Căn Nhà viết thời 1972 do cơ sở Sóng Văn xuất bản ở hải ngoại năm 1997 với bút hiệu mới Nguyễn Sao Mai : "Đối với đời sống tôi không còn có nhiệt tâm, mà những phỉnh phờ thì càng lúc càng gia tăng đến một mức độ phức tạp. Tôi không nói tới chiến tranh. Cuộc chiến này cũng như một nhát dao chém trên vết thương đã quá sức lở lói. Chiến tranh đã dai dẳng đến một mức độ khiến người ta không còn nghĩ đến sự ngừng dứt" (tr. 59). Nhà thơ Cao Thoại Châu mơ một ngày hoà bình : "hát với ta đi bầy chim mùa hạ / từ hải đảo về đậu bên cửa sổ / làm thức bình minh líu lo líu lo / vòng mắt nhung tròn xanh biếc / hát đi nghe bầy chim đáng yêu / hát đi nghe chân trời mỏi cánh / những hoàng hôn mây đuổi theo chim... " (Trong Cõi Trời Mơ Ước, Nghệ Thuật, 25, 4-1966).

Nói đến địa phương để tạm phân biệt, tìm hiểu, nhưng khó xếp vì các nhà văn thơ trẻ ngoại trừ "học sinh/sinh viên" Nguyễn Tất Nhiên, phần lớn thuộc hai giới quân đội và giáo chức - cũng như các nhà văn lớp trước, nên thường di chuyển công vụ hoặc theo bước quân hành, đó là trường hợp của Luân Hoán, Y Uyên, Doãn Dân, Hoàng Khởi Phong,... bên lính tráng và Trần Hữu Lục, Nguyễn Trung Hối, v.v. bên "gõ đầu trẻ". Nói chung, các nhà văn thơ đều xuất hiện trên các báo và tạp chí ở thủ đô, và xuất bản tác phẩm cũng ở thủ đô ngoại trừ vài trường hợp đặc biệt rất là ngoại lệ của một vài các nhóm kể trên. Y Uyên chết trận ở Phan Thiết khi trong tay đã có sự vụ lệnh đổi vê Sàigòn, Doãn Dân chết trận trong hầm chỉ huy ở Quảng Trị là hai trong số những cây bút có nhiều triển vọng. Y Uyên tác giả các tập truyện Tượng Đá Sườn Non 1966, Quê Nhà 1967 và truyện dài Ngựa Tía 1967. Doãn Dân tác giả hai tập truyện dài Chỗ Của Huệ 1968 và Tiếng Gọi Thầm 1972, nhưng văn tài của ông là ở truyện ngắn đăng trên Chỉ Đạo, Tân Phong và Bách Khoa chưa được xuất bản.

Về phần những người đi tù cải tạo sống sót trở về, kẻ thì lây lất trong cái nghèo đói chung của miền Nam, trí thức văn nghệ sĩ dĩ nhiên cái khốn cùng nó cũng thê thảm hơn! Gượng dậy gặp gỡ bạn hữu thì kẻ còn người mất, kẻ trong người ngoài nước; nói chung tang thương đã lắm và chưa hẳn đã hết!
*
Nhìn chung, chỉ với một thời-gian hiện diện hơn 20 năm, văn học miền Nam 1954-1975 đã chứng tỏ một sức sống mãnh liệt, đa dạng và có một số đặc điểm có thể ghi nhận: - khai phóng, rộng tay và tâm hồn đón nhận những trào lưu và hương hoa văn học thế giới đông-tây; - nhân bản, có nỗ lực đào sâu tâm linh, đặt những vấn-đề căn bản, cấp thiết (phản kháng, ...). Văn học đã gắn liền với vận mạng dân tộc, được coi trọng và trở nên một phần quan trọng của học thuật quốc gia và đã được đưa vào chương trình giáo dục! Về ngôn-ngữ sử-dụng, về hình thức cũng như nội dung, trong mọi thể loại, các tác phẩm văn học đã tiến bước, sâu sắc, xúc tích ra, chứng tỏ có sáng tạo, có mới. Đó là nhờ tiến bộ của khoa học nhân văn và kiến thức thời đại và cũng nhờ kiến thức và tài-năng của người làm văn nghệ, trong một môi trường văn-hóa xã-hội tự-do, dân-chủ và nhân-bản. Nhưng, ngày 30 tháng Tư năm 1975, nền văn-học đó, cũng như cả nước Việt Nam Cộng-hòa, đã bị bức tử!./.

Chú thích:

Nguyên Sa."Kinh nghiệm thi ca", Sáng Tạo, 21, 6-1958.
Thanh Tâm Tuyền. "Nỗi buồn trong thơ hôm nay". Sáng Tạo, 31, 9-1959, tr. 1-6.
Văn (SG), 192, 15-12-1971, tr. 79-87.
Mai Thảo. "Con đường trở thành và tiến tới của nghệ thuật hôm nay". Sáng Tạo, 6, 12-1960 & 1-1961, tr. 4.
"Đứng về phía những cái mới". Tuyển Truyện Sáng Tạo. (Fort Smith, Ark.: Sống Mới, tb 1980?), tr. 11.
Giải thưởng năm 1960 trao cho Trung Dung Tân-khảo của bác sĩ Nguyễn Văn Thọ. Nhóm viết và dịch với mục đích phổ biến giới thiệu những tư tưởng mới, nhất là của Thiên Chúa giáo. Tư tưởng khoa học của Lecomte de Nouy với cuốn Lecomte de Nouy và học thuyết viễn-đích (1968) của bs Nguyễn Văn Thọ. Phổ biến tinh hoa Thiên Chúa giáo: Minh-Đức Vương Thái Phi (1957), Người Chứng Thứ Nhất (1959), Nguyễn Trường Tộ kiến trúc sư tiên khởi của ngành kiến trúc Việt Nam mới (1961), Giáo sĩ Đắc-Lộ Với tác phẩm quốc ngữ đầu tiên (1961),... các cuốn sau đều của Phạm Đình Khiêm.
"Nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở VN". Sáng Tạo, 4, 10-1960, tr. 1-16, với kết luận :"Nghệ thuật là một vận động biện chứng của hủy diệt và sáng tạo"; "Một vòm trời âm u cũ". Nghệ Thuật , 196?
Văn (SG), 14, 15-7-1964.
X. Tạp chí Bách-Khoa, 88, 1-9-1960, tuần báo Văn-Đàn số 20 đến 22, 15 đến 29-10-1960, và Địa Chí Văn Hóa Thành Phố Hồ Chí Minh , Sđd, tr. 219.
Đỗ Long Vân. "Thử phác họa một bản đồ của địa ngục theo Chế Lan Viên". Văn Học (SG) 10-8-1974.
Lê Tuyên. Chinh Phụ Ngâm Và Tâm Thức Lãng Mạn Của Kẻ Lưu Đày. Westminster CA : Văn Nghệ tb, 1988. 203 tr.
Thể Tánh Của Thi Ca. Huntingdon Beach CA: SEACAEF, 2000. 296 tr. Gồm những bài giảng ở đại học Văn khoa Huế trước 1975.
Nguyễn Văn Trung tác giả những bộ sách Xây Dựng Tác Phẩm Tiểu Thuyết (Sài Gòn: Tự Do, 1962) và Lược Khảo Văn Học (Sài Gòn: Nam Sơn, 1963-68. 3 tập).
Đỗ Long Vân. Nguồn Nước ẩn Của Hồ Xuân Hương (Sài Gòn: Trình Bày, 1966. 82 tr.) và Vô Kỵ Giữa Chúng Ta Hay Là Hiện Tượng Kim Dung (Sài Gòn: Trình Bày, 1968. 109 tr.).
Huỳnh Phan Anh tác giả Văn Chương Và Kinh Nghiệm Hư Vô (Sài Gòn: Hoàng Đông-Phương, 1968. 199 tr.), Đi Tìm Tác Phẩm Văn Chương (Sài Gòn: Đồng Tháp, 1972. 352 tr.) và gần đây nhất, Không Gian Và Khoảnh Khắc Văn Chương (TpHCM: Hội Nhà Văn, 1999. 474 tr.) tuyển trích lại những bài từ hai tập kia và một số bài mới về các tác giả ngoại quốc.
Nguyên Sa. "Tình cảnh nhà văn VN những năm 50 và 60". Một Bông Hồng Cho Văn Nghệ (Irwine CA: Đời tb, 1991). Tr. 18.
"Rời bỏ nền văn chương trú ẩn". Đất Nước, 2, 12-1967, tr.1-15.
Những Kẻ Đứng Bên Lề. Sài Gòn : Giao Điểm, 1964, Tr. 25
Văn (SG), 207, 197?, tr 101.
Áo Mơ Phai. NXB Nguyễn Đình Vượng 1972, tr. 7 và 309.
Văn Học (SG), 1974, tr. 94-95.
Hồ Trường An phê bình cuốn Tuổi Nước Độc, Tin Sách, 4-1966, tr. 29 & 30.
Cuộc Tình Trong Ngục Thất. Sài Gòn : Nguyễn Đình Vượng, 1974, tr. 152
Mai Thảo. "Sài gòn, thủ đô văn hóa". Sáng Tạo, 1, 10-1956, tr. 1-5.
Cao Huy Khanh. "20 năm tiểu thuyết miền Nam từ chia cắt đến ngưng bắn". Thời Tập, 14-12-1973, tr. 21-34.

Võ Phiến. Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam 1954-1975. Westminster, CA: Văn Nghệ. 1986 ("Vai trò của miền Nam", tr. 128-135).
Sau này ở hải ngoại, tạp chí Thư Quán Bản Thảo ra đời (số 1, 10-2001) với một mục đích đặc biệt vừa văn chương vừa thân hữu và qua những số đã xuất bản, rõ rệt đã giúp văn hữu có cơ hội viết và đọc tác phẩm nhau và làm sống lại sinh hoạt của những nhà văn trẻ thời cuối thập niên 1960 đầu 1970.

Nguyễn Vy Khanh

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


Cái Vỗ Mông

Sầu Đông

Phẩm là một kẻ ghét Mỹ. Ghét cay, ghét đắng. Hồi ở trên đảo, sau chuyến vượt biên may mắn chỉ kéo dài một đêm, hai ngày rồi được tàu Pháp vớt, chàng đã thề trước mặt nhiều người là không bao giờ thèm nhìn mặt bọn Mỹ, rằng đi xứ nào thì đi, ‘Công-gô’, ‘công-ghoéo’ gì gì cũng được. Chàng bảo: ” Tao cạch mặt bọn Mẽo. Bọn ấy là chúa đểu. Mình xém thành mồi cho cá cũng vì làm đồng minh với chúng! ” Ghét Mỹ vì cái chính trị lắt léo của Mỹ một phần, phần khác là vì sau vụ tết Mậu Thân, một hôm chàng đưa người yêu bé bỏng của chàng đi coi phim về, khi ngang qua góc Tự Do – Lê Thánh Tôn, một thằng lính Mỹ đội bê-rê xanh có lẽ đã xỉn, đã nhè ngay mông người yêu của chàng mà vỗ một phát. Chàng giận điên người, muốn xông vào thọi ngay mặt thằng mất dậy ấy một thọi, nhưng thằng kia đang xỉn, tướng tá to lớn, dữ dằn quá, nên chàng chỉ biết kéo vội người yêu tránh vào Quán Chùa ( La Pagode ) gần đó.Chuyện ghét Mỹ của chàng còn nhiều lý do mà nếu liệt kê ra cho đầy đủ không biết chừng nào mới hết. Sau lần cái mông của người yêu bị thằng lính hỗn chạm vào, chàng nhìn chỗ nào cũng thấy một bọn đồng minh nghênh ngang, hám gái. Cũng may là chàng chưa ghét cùng, ghét cực đến độ bỏ trốn ra bưng đi theo mấy anh ‘cách mạng’. Bọn lính ngờ nghệch Mỹ thù chúng làm chi cho mất công. Chả gì mẹ và chị của chàng nhờ mua bán đồ PX ( quân tiếp vụ của quân đội Mỹ) mà xây được nhà lớn ở ngay con hẻm dẫn vào xóm đạo. Bố chàng làm trùm xứ đạo, vẫn còn nhắc chàng những chuyện khủng bố của bọn cộng sản nơi vùng quê Nghệ Tĩnh năm xưa. Nhưng chàng chả thấy dân chủ của bọn ‘rợ’ Mỹ hay ho ở khoản nào. Chàng bảo với người yêu của chàng những hôm hai đứa đi lễ ngày chủ nhật là cái giàu có, hào nhoáng của xứ Mỹ chỉ là cái vỏ ngoài của một xã hội ruỗng nát về đạo đức. Xứ gì mà lính đóng quân ở đâu là ngay sau đó có nguyên một đạo quân những gái bán ba bao vây. Và trong những trại lính Mỹ, chẳng thiếu những tờ Playboy in toàn hình đầm truồng. Thật ra những lần ngồi trong ban văn thư của quân trường nhìn ra ngoài sân tập của sinh viên sĩ quan, chàng cũng thú vị lén mở một vài trang trong tờ Playboy mà viên trung sĩ dưới quyền bỏ quên trong hộc bàn, nhưng những lần thấy viên sĩ quan cố vấn cao lênh khênh thẳng người đi ngang qua cửa phòng làm việc của chàng, chàng lại liên tưởng đến khuôn mặt lạnh như tiền của Cabot Lodge, hay của mấy viên tướng Mỹ chàng thường thấy xuất hiện trên báo chí: khinh khỉnh, lạnh lùng. Những phiên trực ban, vào lúc thức ngủ lơ mơ, chàng có lúc mơ thấy phi cơ trực thăng chở viên tướng Abrahams rớt ở vùng rừng cao su Trảng Bàng.

Nhưng cô người yêu bé bỏng của chàng xem ra không mấy căm hận về cái phát mông của thằng lính mất dậy ấy. Mỗi lần ngồi nghe chàng hậm hực kể với bạn chuyện cái mông của nàng, mặt nàng chỉ ửng hồng rồi dụi dụi cái đầu vào vai chàng. Không biết là nàng thẹn thùng khi nghe chàng vung tay kể lại chuyện ấy hay là nàng đang hưởng cái thú vị của một người yêu biết là kẻ yêu mình đang ghen, đang tức lắm!

Chàng có một người bạn khá thân, tên Quang, cùng động viên vào một khoá sĩ quan trừ bị Thủ Ðức. Khi ấy họ đều là những thư sinh mặt trắng, hiền lành, cùng trình diện ở quân trấn một ngày. Những ngày trong quân trường họ cùng được xếp vào một trung đội trong một đại đội, cùng chung một cái giường đôi ( bạn chàng nằm tầng trên, chàng tầng dưới), và sau này cùng ngán và nể Lộc Lác. Lộc Lác là một gã sinh viên sĩ quan ngang tàng. Hắn thường bảo: “ đã vào lính thì hoặc xanh cỏ, hoặc đỏ ngực ”. Nó là loại điếc không nghe thấy tiếng đại bác bắn bên tai. Mấy ông sĩ quan cán bộ trung đội còn phải ngán hắn nữa mà. Hắn chui rào trốn trại về thăm bồ của hắn dài dài. Mãn khoá, Lộc Lác qua lực lượng đặc biệt ( cũng đội nón xanh ! ), Quang về một trung đoàn bộ binh, còn chàng chẳng biết dây mơ rễ má thế nào mà được giữ ở lại quân trường.

Một lần Quang được về phép sau trận Mậu Thân, chàng đã hớn hở báo tin quan trọng cho bạn chàng biết là ông trung úy Bạch – đàn em của thiếu tá Vinh ( cựu đại đội trưởng đại đội 17 của họ ) đã ‘khỉa’ ngon một thằng quân cảnh Mỹ khi thằng này đòi còng tay ông Vinh ở nhà hàng Tháp Ngà ( Tour d’Ivoire ) . Chàng bảo ” Tao phục ông Bạch. Phải dạy cho bọn Mẽo biết thế nào là lễ độ và chủ quyền chứ. ” Chàng đã có người trả hận dùm, nhưng vẫn chưa thôi ghét Mỹ.

Ngoài chuyện ghét cay, ghét đắng bọn Mỹ vì cái phát mông cô bồ của chàng, chàng cũng không mấy thiện cảm với người ngoại quốc, đặc biệt với đám người Hoa. Chàng đã chịu một phần ảnh hưởng của những bài học lịch sử những năm đầu trung học: “ Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu ”, nhưng nhiều hơn cả là những cọ sát hàng ngày của gia đình chàng với đám con buôn người Hoa vùng Chợ Lớn, vừa keo kiệt, bủn xỉn với bạn hàng, vừa đầy những mánh lới làm giàu bất lương qua những thủ đoạn mua chuộc, hối lộ, chưa kể thái độ chèn ép có hệ thống, và kỳ thị ra mặt với đám dân buôn người Việt. Chàng cũng đã từng đọc đâu đó là ở xứ Ma-lai-xi-a không xa VN bao nhiêu, dân Tàu chỉ mới được nhập cư chưa tới một thế kỷ, đã hầu như trở thành chủ nhân ông đích thật của xứ này! Ở khắp vùng Đông nam á, đám người Hoa đã làm mưa làm gió trên thương trường và chính trường, và cuối cùng là những thú vui bệnh hoạn như mua trinh gái tơ của các xì thẩu người Hoa.

Ðối với người Pháp, quá khứ tuy gần mà xa. Trước mắt chàng chỉ còn lại những ảnh hưởng tốt đẹp của văn hoá Pháp: những ngôi trường với những tiểu thư xinh đẹp, lịch sự. Cô bồ của chàng là một điển hình. Rồi những nhà thơ như Mallarmé, Beaudelaire, Apollinaire,…những nhà văn, nhà tư tưởng như Voltaire, Montesquieu, … mà chàng đã được cụ Huỳnh Hoà, thầy dạy văn chương Pháp năm đệ tam của chàng, giới thiệu không chỉ là niềm vinh dự của nước Pháp mà còn là của cả nhân loại nữa. Riêng chàng, cô người yêu bé bỏng trường đầm của chàng thỉnh thoảng vẫn nghe chàng ngâm nho nhỏ một câu thơ duy nhất chàng thuộc của Lamartine ” Thời gian ơi! Xin hãy ngừng cánh bay ” ( Oh temps! Suspends ton vol ) sau lần đầu tiên chàng đặt được một nụ hôn nồng lên đôi môi dịu dàng của nàng trong một góc của rạp chiếu bóng Rex. Vì thế khi được tàu Pháp vớt, chàng sung sướng đến lịm người, hệt như linh hồn kẻ thánh thiện vừa được thánh Phao Lồ đón vào nước trời: chàng đã choáng đi mất vài giây.

Với cộng sản, chàng vừa thù vừa ghét. Chàng thù vì ” Ông già tao làm trùm xứ đạo, chỉ biết việc đạo mà chúng nó cũng đem đi nhốt. Ông cụ chết ở trong tù rồi! Xin lãnh xác về chôn, chúng nó cũng làm khó dễ đủ đường!! ;…Tao là lính văn phòng, có đào mả cha nhà chúng nó hồi nào đâu, mà chúng nó nhốt và hành tao đến bảy niên, lại còn nay khai lý lịch, mai khai lý lịch, mốt nó cũng cứ bắt khai lý lịch nữa;… Tù thì nói mẹ nó là tù, lại còn bày đặt mấy tiếng ‘cải tạo viên’. Cải tạo cái con bà nhà chúng nó. Chúng nó vừa độc, lại vừa ác! ” Ðám tù cải tạo đói khổ trong tù; người thân ở bên ngoài cũng khốn khổ chẳng kém, ác liệt nhất là trong những năm liền sau chiến tranh. Quang may mắn hơn hắn về chuyện đi tù, chỉ bị nhốt có ba niên, nhưng ra khỏi tù rồi mới thấy cái xã hội bên ngoài là một trại giam lỏng lớn. Nhà nào cũng xính vính, xác xơ, tan tác. Cái đói, cái nghèo làm nhiều người thay đổi tâm tính. Kinh hãi nhất là cái cùm lớn choàng lên toàn xã hội: đi đứng, nói năng nhất nhất phải cẩn thận. Ôi thôi! Nhắc đến còn ớn lạnh cả người. Ðã có lúc Phẩm tưởng cái hệ thống cùm kẹp ghê gớm ấy sẽ giúp bọn đại ma muôn năm trường trị. Trong tù, chàng có lúc nhớ đến những nhân vật tiểu thuyết của Kim Dung: Ðông Tà, Tây Ðộc. ‘Tây Ðộc’ chàng đã nếm qua, nhưng phải đến lúc gặp ‘Ðông Tà’ chàng mới thấy hết cái độc điạ, khủng khiếp của nó.

Trời đất sắp xếp sao đó mà tới đâu Quang cũng gặp Phẩm: hết ở tổ hợp sơn mài, đến vá xe ở đầu đường Lê Thánh Tôn, rồi cả đạp xích lô nữa! Còn cô bồ xinh đẹp trường đầm ngày xưa của Phẩm ( đã thành vợ Phẩm sau Mùa Hè Ðỏ Lửa) có lẽ may mắn nhờ giáo dục tốt lành nơi giáo xứ của cô, đã không nỡ bỏ chàng và hai đứa con như một vài con bạn đã bỏ chồng trong tù để ôm lấy những kẻ chiến thắng. Vả lại, mới chỉ nói chuyện với vài cán ngố, Loan đã ngấy đến tận cổ, gì đâu mà “tủ lạnh chạy đầy đường!” Mán quá . Nhưng cái số nàng là số vất vả , hồi mới quen nhau đi giung giăng, giung giẻ với Phẩm giữa đường lớn đã bị ngay Mỹ say vỗ đít, đến lúc lấy nhau chưa được bao nả thì quân ta tan hàng. May mà cả hai bên gia đình đều có tí của chìm khiến mấy mẹ con Loan không đến nỗi phải rệu rạo nhai bo bo nhưng nàng thường xuyên bị phường khóm ‘động viên’ đưa các con về vùng kinh tế mới. Năm 75, Loan mới ngoài đôi mươi, tươi rói; vài năm sau ‘giải phóng’ Loan xuống sắc rõ rệt. Còn Phẩm lúc ở tù về và nhất là lúc ngồi vá xe ở đầu đường nhìn không kỹ có người kêu chàng bằng bác, khác hẳn lối gọi xách mé, mất dạy của bọn ở ngoài bắc vào: ông già, bà lão đều bị chúng kêu là “anh”, “chị” ráo trọi. Có lần, sau một cuốc xe chở người nhà của một cán gộc đến trạm hàng không nằm trên đường Phan Ðình Phùng đón người nhà, Quang thất kinh kể cho chàng nghe là đã thấy tận mắt các cán nam, cán nữ cỡ giám đốc trở lên ngồi xổm bên kia đường Phan Ðình Phùng sau khi xe buýt đưa người từ phi trường TSN bỏ xuống tại đây chờ người nhà hay nhân viên ra đón. Quang bảo : ” Các quan lớn mà ngồi kiểu ‘nước lụt’ đó, ăn xôi xong lấy lá chuối chùi mồm, tiện tay quệt luôn vào ống quần thì dân đen thấy ông bà ông vải rồi! ” Gã bảo : ” Trong Nam, thủ tướng như Nguyễn Cao Kỳ cà chớn thật, nhưng nhìn mặt mấy lão Lê Duẩn, Phạm văn Ðồng,… rồi nghe mấy lão chỉ dậy toàn thể nhân dân “có sức người sỏi đá cũng thành cơm” thì có ngày cả nước chống gậy thành…khất sĩ quá ! Thôi, chết cũng ‘dĩ đào vi thượng sách’. ” Và thế là vợ chồng chàng tìm mọi cách đem hai con vượt biển. Bất ngờ là chàng lại gặp lại Quang lúc ở trên đảo. Quang đến sau chàng một tuần. Gia đình chàng đã quyết chí đi Pháp, còn bạn chàng có người em du học ở Canada đứng ra bảo lãnh nên đã được phái đoàn Canada ưu tiên nhận.

***

Quang giới thiệu Tân với vợ chồng Phẩm khi ngồi chung trong một bàn tiệc nhỏ nhân dịp Quang mời vợ chồng Phẩm ở một tiệm ăn của Tây nằm trong khu thương mại ngầm gần trường UQAM ( Université du Québec à Montréal ) trong một dịp Lễ Tạ Ơn. Lúc ấy vợ chồng Phẩm đã qua định cư ở Canada vài năm. Trước khi đưa vợ con qua Canada, vợ chồng chàng đã sống trên đất Pháp gần năm năm.

Tân chưa tiện hỏi lý do khiến vợ chồng bạn của Quang rời Pháp, nhưng Tân nhận ra mối thiện cảm đặc biệt của vợ chồng người bạn của Quang đối với xứ ấy. Khi nghe Quang nói chưa từng một lần qua Châu Âu, Loan bảo : ” Ít nhất một lần trong đời anh cũng nên đi một vòng Châu Âu, đặc biệt đến thăm nước Pháp. Ở Paris và nhiều thành phố trên đất Pháp có rất nhiều di tích văn hoá và lịch sử, và dân Pháp thật lịch sự ”. Phẩm cẩn thận bảo : ” Ðàn ông Pháp giỏi nịnh đầm, nhiều tên buôn bán khéo nói đến kiến trong lỗ cũng phải bò ra; nhưng nước Pháp là một trong những cái nôi lớn của nền văn minh nhân bản hiện đại.”

Tân mới quen biết Quang khi được nhận vào làm ở chi nhánh ngân hàng nơi Quang đã làm nhiều năm. Quang phụ trách kế toán. Tân lo về những khách hàng đầu tư. Cả hai là những nhân viên gốc Việt trong một chi nhánh có đến phân nửa là dân ‘còi’ ( québécois/québécoise/ ) nhưng họ không thấy xa lạ với các đồng nghiệp. Trên thực tế họ không gặp khó khăn nào trong công việc cũng như trong giao tiếp. Tân bảo: ” Cái quan trọng trong giao tiếp là thông cảm. Ngôn ngữ là nhịp cầu tương giao chính; nhân loại ngày nay đã gần nhau lắm rồi, trừ những anh quá cực đoan về chính trị, tôn giáo, hay chủng tộc.” Không rõ có phải vì chuyến vượt biên hãi hùng xảy đến cho Quang hay không mà sau khi đến định cư ở Canada Quang đã có lúc có ý định xin vào tịnh tu trong một ngôi chùa trong vùng. Tuy vậy, cách hôm khoản đãi vợ chồng Phẩm không lâu, Tân đã thấy Quang dìu một em da trắng, tóc vàng, mắt xanh dạo trong công viên gần nhà. Lúc khoản đãi vợ chồng Phẩm, Tân không thấy Quang dắt theo em đầm nào, nhưng gã bạn ấy đã có phần vui tính trở lại.

Tân còn nhớ trong buổi tiệc họp mặt nho nhỏ ấy Quang đã nháy mắt với Tân giới thiệu : ” Ông bạn tôi đây là người ghét Mỹ vô cùng, ông ấy đã từng thề không bao giờ thèm đặt chân lên đất Mỹ, nhưng mới hôm qua thôi, ông ấy đã đổi ý; đúng là ‘quân tử nhất ngôn là quân tử dại, quân tử nói đi, nói lại là quân tử khôn’. Bạn tôi đang muốn qua đất Mỹ đái lên xứ ấy nữa. ” Tân được biết sau nhiều năm định cư ở Canada Phẩm chưa từng một lần qua Mỹ. Phẩm bảo : ” Công việc bận quá và cũng chưa muốn đi, mới chỉ có cô ấy qua Cali. vài lần thăm mấy bà chị trong vài năm gần đây ”. Có vẻ như chàng vẫn còn căm bọn Mỹ lắm. Tân bỗng nổi hứng tiếp lời: ” Phải đái cho lụt xứ chúng nó chứ, cho chúng nó biết xứ của chúng chẳng thơm tho, tốt lành gì. Báo chí của chúng còn dám mạt sát trong lúc Miền Nam đang dầu sôi lửa bỏng ‘Sàigòn là một ổ điếm’ cơ mà. Tôi sẵn sàng chở quí vị qua đái ở bên ấy. Từ đây qua đất Mỹ chỉ khoảng 40 phút lái xe, ngay gần biên giới có một cái chợ bán rau trái, thịt thà rất rẻ.” Vợ của Phẩm, trước và sau 75 ở bên nhà, trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt, dù là dân trường đầm, nhưng chắc đã chứng kiến không ít cảnh lộn xộn ngoài đường mà chính nàng đã có lúc phải chịu, nên khi ba anh đàn ông nói những câu xông mùi như thế nàng cũng không nhăn mặt mà còn vui vẻ đồng tình. Ðược trớn, Phẩm làm tới : ” Em cũng phải tưới cho chúng nó chết lụt luôn chớ ”. Ngày hôm ấy là một ngày rất vui của cả bốn người, có lẽ là vui nhất sau nhiều chục năm chịu nhiều những tai ương, hoạn nạn. Họ đã cụng với nhau những ly Rosé de Provence, Bourgogne générique, cùng với phó mát Neufchâtel và Suisse canadien, đã ăn với nhau một bữa cơm Tây đã khẩu.

Tuần lễ sau đó chỉ có ba tay đàn ông chạy xe qua Mỹ. Vợ Phẩm phải ở nhà sửa soạn đón một bà chị từ Cali. qua chơi vào ngày hôm sau. Phẩm cho biết mấy bà chị vợ ở Cali. cứ khuyên gia đình chàng xin di dân qua Mỹ. Loan bảo các bà ấy nói xứ Mỹ cái gì cũng nhất, nhất là cơ hội. Cơ hội cho mình và cho các con. Cả cơ hội làm giàu nữa. Nhưng trong ba bà chị thì hai bà đã bỏ chồng Việt để lấy chồng Mỹ. Các bà này lúc ở Việt Nam chẳng bà nào có cái xui xẻo bị lính Mỹ vô kỷ luật sờ mông cả. Nay thì hai bà ấy cho chồng Mỹ sờ thả dàn. Chồng cũ của các bà ấy có người là kỹ sư, có người là sĩ quan quân đội cũ. Quang bảo : ” Ðồng ý, nhưng cơ hội sa ngã cũng kinh hoàng lắm. Ở mấy xứ tự do cũng phải có bản lãnh, nội công tu dưỡng thâm hậu mới sống nghiêm chỉnh được ”. Nghe bạn nói, Tân ngờ ngợ rồi ra sẽ có ngày bạn chàng sẽ vào nhà chùa thật.

Khi đã qua thủ tục trình thẻ quốc tịch, xe vào hẳn đất Mỹ. Quang vỗ vai Phẩm : ” Nhớ đừng vào nhà cầu nghe ông bạn, để dành cái bong bóng thật căng, đến giữa đường rồi xuống xe hẵng xả, chẳng lụt nhiều cũng lụt ít”. Tân ngạc nhiên khi thấy Phẩm cười, đáp : ” Ngày xưa mình ghét chúng nó thật nhiều vì thật tình lúc ấy chúng nó là đồng minh nhưng chơi cha mình quá, mà phiá mình mấy anh tướng đầu trò cũng ẹ quá chừng. Ðúng là bị chúng nó dắt mũi, làm nhục mà không sao phản ứng hữu hiệu được. Báo chí Mỹ chúng nó mạnh quá. Nó hướng dẫn dư luận dân Mỹ. Nó ảnh hưởng cả đến dân chúng nhiều nước. Làm dân xứ nhỏ, nghèo đã khổ mà giới lãnh đạo phải liên minh với anh nhà giàu hùng mạnh thật chẳng sung sướng và dễ dàng gì. Lúc ấy mình cũng còn trẻ quá đâu có hiểu biết chi nhiều về chính trị quốc tế này nọ, nhìn các ông lớn nhà mình thấy oai phuông lẫm liệt, nhưng lạng quạng với đồng minh chi viện cho mình thì có khi chết không kịp ngáp. Thật tình những lúc tức quá mình nói cho đã cái miệng, nhưng ở đây mà đứng đái giữa đường thì chắc chắn cảnh sát Mẽo nó vồ ngay tức thì, rồi nó sẽ đưa vào bịnh viện tâm thần, và trục xuất sau đó”. Nói xong, Phẩm cười khà khà. Ðúng là đi một ngày đàng học một sàng khôn. Cả ba chàng sau đó chẳng có chàng nào đái đường, chẳng có chàng nào làm lụt nước Mỹ, nhưng khi nào cần ‘xả xú bắp’, họ lựa cái quán cà phê Starbucks sạch sẽ, vào đó tìm chỗ xả. Phải nói thêm là xả ở những chỗ sạch sẽ thơm tho như thế nó đã cách gì!

Trên đường trở về Montréal vào buổi chiều, khi Quang lái xe chạy ngang một làng quê Mỹ êm ả vùng giáp biên với Canada có những con đường thật sạch cùng những căn nhà xinh xắn, Tân bỗng thấy hai cô gái đi dọc bên đường cùng chiều xe, Tân từ ghế sau rướn người lên nói đùa ” tiện tay vỗ mông mấy con Mỹ non một cái chơi nào ”. Phẩm ngồi ở ghế trước lật đật quay lại chặn tay Tân ” Ấy! ấy!! chớ có dại!!! vỗ mông một phát phải trả giá nặng lắm; vỗ vào mông bọn trẻ vị thành niên có thể ngồi bóc vài cuốn lịch . Mình là dân có văn hoá, không thể cư xử như bọn rừng rú được ”. Quang và Tân đều cười. Quang bảo ” Nước Mỹ không thiếu bọn rừng rú nhưng đừng có dỡn mặt cảnh sát; biết cách sờ thì êm; còn em nhăn mặt, búa của quan toà khện nặng lắm”.

Trước khi qua biên giới Mỹ trở về, Phẩm chỉ lá cờ Mỹ với những ngôi sao trắng trên một nền xanh nước biển nhỏ bên góc trái cùng với những xọc trắng, đỏ đang tung bay phất phới; chàng khen ” cờ của xứ Mỹ rất đẹp, màu sắc tươi tắn, hài hoà; nhìn màu cờ thấy tươi tỉnh, hăng hái ra. Cờ của hai anh cộng sản Tàu, Việt chỉ thấy toàn sắc máu đỏ lòm, mê không được.”

Nghe chàng nói biết là chàng đã hoà giải với dân xứ ấy rồi. Trên đường về Tân hỏi Phẩm lý do gia đình chàng dời qua Canada mà không định cư hẳn ở Pháp. Phẩm cho biết mấy năm đầu ở Pháp khá vất vả. Ðời sống kinh tế của Pháp khó so bì được với của Bắc Mỹ, giá sinh hoạt cao, thuê nhà rất khó,mua nhà còn khó hơn. Nhưng mối lo nhất của chàng là việc học của con cái. Lối học hành, thi cử bên Tây không mấy khác với lối thi cử ở Miền Nam xưa. Vào được các trường đại học, nhất là những trường lớn cũng trầy vi tróc vảy, và cơ may tốt nghiệp đại học đối với con em di dân thật chẳng dễ dàng. Chàng bảo hệ thống giáo dục Bắc Mỹ có phần thoáng và thực tế hơn. Con em cũng có nhiều cơ may tốt nghiệp đại học hơn. Với chàng cái quan trọng đối với con cái là cần có căn bản đại học; sau đó muốn làm gì thì làm. Phẩm thấy gia đình chàng hợp với đời sống ở Montréal, và cuộc sống gia đình dễ chịu hơn lúc ở Pháp nhiều, phần lớn nhờ công ăn việc làm ổn định và giá sinh hoạt không cao như ở bên Pháp. Ngoảnh đi ngoảnh lại hai đứa con đã gần xong đại học; một đứa học dược, cứ đến hè là làm cho một tiệm thuốc trong hệ thống cửa hàng Jean Coutu ; đứa kia học về tài chánh. Vợ chồng Phẩm thấy nhẹ nhõm đi nhiều. Loan giữ một chân thư ký trong văn phòng một công ty nhập cảng ở mạn bắc Montréal . Phẩm bảo: ” Có vợ đẹp cũng lo. Ðàn bà đẹp đi làm ở đâu cũng có mấy thằng già dịch thả dê. Toàn những thằng chó chết ngon lành hơn mình! Mẹ kiếp.” May là Loan vẫn còn giữ được tí nề nếp con nhà và cái giáo dục gia đình thiên về tôn giáo còn thấm ở trong người . Tân bảo ” Mừng cho anh”. Quang thầm nghĩ : vậy là cuối cùng gia đình bạn ta cũng đã ổn định. Có điều Phẩm vẫn còn rất buồn một đôi lần nhắc lại cái chết của ông cụ trong tù, và việc người chị mất tích trên Biển Ðông.

***

Tân đang ngồi trong phòng khách nhà một người bạn trong vùng Pasadena, Cali. thì bất ngờ thấy Phẩm dừng xe ngoài hàng rào, rồi đi tới đi lui có ý tìm số nhà. Tân từ trong nhà chạy ra ” Hello, anh Phẩm ” – ” Anh Tân ! ” – ” Ði đâu mà lạc vào vùng này vậy? ” – ” Ði tìm nhà một bạn học cũ, dân HNC xưa. Ông ấy nhắn chiều nay lại chơi, nghe nói các bạn học cũ họp nhau vui lắm”. Tân bảo : ” Từ hôm gặp anh chị, có dịp ngồi chung trong một tiệm ăn với anh chị và anh Quang đến nay dễ cũng đến hai năm hơn rồi đấy nhỉ. Thời gian trôi nhanh quá.” – ” Vâng, mấy chục năm qua cái vèo. Hai năm bõ bèn gì. Anh cũng qua đây chơi? ”- Tân : ” Tôi đã đổi sở làm. Tôi tính ở hẳn bên này. Tôi mới lập gia đình được nửa năm nay. Vợ tôi có quốc tịch Mỹ . Cô ấy về VN thăm ông bà già rồi, cuối tháng mới trở lại” – ” Sao đám cưới anh không báo cho chúng tôi một tiếng. Cũng chẳng thấy anh Quang nói gì cả.” – ” Chuyện vợ chồng là cái duyên, cái số anh chị ạ. Việc cưới xin của chúng tôi cũng đơn giản lắm, chỉ có vài người trong gia đình hai bên chớ không có rình rang ra ngoài. Xin anh chị thông cảm. Tôi nhận được việc ở bên Mỹ này sau lần đưa anh qua chơi bên biên giới Mỹ chừng hai tháng. Từ đó tới nay, bận việc quá, tôi chưa về lại Montréal lần nào.” Loan : ” Bận vợ thì có ấy chứ. ”

Chưa kịp hỏi han gì thêm đã thấy chủ nhà từ trong nhà bước ra: ” Hello bạn hiền, cách mấy chục năm nay giờ mới lại gặp nhau đây. Ấy quên, chào chị. Xin giới thiệu ngay với chị, tôi là bạn học cùng trường với anh từ giữa những năm 60 kià. Tôi tên Trứ. Mời anh chị vào nhà, trong nhà cũng đã có một vài anh chị tới rồi.” Loan đứng khựng trước căn nhà có lá quốc kỳ VNCH rất lớn treo ngay trong sân nhà. Loan bảo: ” Trông căn nhà này chẳng khác toà lãnh sự của VNCH trên đất Mỹ, còn khá hơn toà đại sứ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghiã Việt Nam ở Ottawa bên Canada. Toà đại sứ gì mà ngó như cái chuồng chim. Rõ chán.’’

Chủ nhà đưa khách vào nhà: ” Xin giới thiệu với các anh, các chị, đây là anh chị Phẩm. Anh Phẩm cũng dân HNC chúng mình, trên tôi một lớp.” Khi mọi người đã đến đông đủ, Phẩm đếm được 15 người.

Chủ nhà chỉ vào bà vợ vừa mới trang điểm lại, sau khi bận rộn trong nhà bếp, từ phòng riêng bước ra: ” Xin giới thiệu với các anh, các chị đây là bà chủ của tôi. Xin giới thiệu với bà chủ đây là các bạn cùng trường cũ với tôi”. Bà chủ tươi tắn nhéo tay ông chồng ” Tôi đã được hân hạnh biết phần lớn quí vị ở đây rồi. Lần này là lần thứ ba mình gặp nhau trong năm nay. Chỉ có ba vị ngồi gần cái truyền hình là tôi chưa được biết.” Mọi người quay lại nhìn vợ chồng Phẩm, và Tân. Chủ nhà cười cười: ” Một ông bạn thân của tôi là ông Quang cùng lớp ở HNC, hiện ở Montréal, qua điện thư báo cho biết một hiền nhân mặc áo lính ngày xưa là anh Phẩm đây, cũng cùng phe ta, lần đầu tiên chính thức đến viếng xứ Mỹ tự do loạn xạ này. Ðược biết anh Phẩm ra khỏi VN đã nhiều năm, giờ mới chịu đáo xứ này, còn đây là bạn Tân, lớp bên cạnh tôi năm 1964. Anh Tân làm cho một ngân hàng cách nhà này khoảng một tiếng lái xe.”

Sau màn giới thiệu lỉnh kỉnh với đủ thứ lễ nghi quân cách, mọi người ngồi quanh hai vuông chiếu lớn đã bày biện đủ các món truyền thống: giò lụa, chả chiên, giò bì, nem nướng, cuốn bì, bánh cuốn, bánh tráng, rau sống, rau thơm các loại, dưa leo, chuối chát,… Các món ăn ê hề, bia bọt đủ cả. Chủ nhà : ” Xin quí vị cứ ‘tự nhiên như người Hà Nội’. Mừng là chúng ta lại có những dịp gặp mặt nhau trò chuyện, trao đổi kinh nghiệm sống và hội nhập trên đất Mỹ, cùng ôn lại những kỷ niệm thời học trò xa xưa. Các chị đừng khách sáo gì nhé. Cánh đàn ông chúng tôi nếu có lỡ nói năng bừa bãi cũng xin các chị bỏ qua.” Có tiếng một bà: ” Ông này mở bài rào trước đón sau như vậy là có ý gì đây, nghe thấy ghê quá. Tôi đề nghị cấm không được nói tục ”. Mọi người cười ồ ồ. Một bà khác : ” Toàn dân ăn học đàng hoàng cả, chắc toàn là nói chuyện lành mạnh, chớ không đến nỗi dữ dằn kiểu XXX” – ” Thế chị đã coi XXX chưa? ” – ” Ðừng có hỏi”. Mọi người lại cười.

Sau khi mọi người đã cụng ly, Tân nhìn qua vợ chồng Phẩm, rồi nhìn quanh chiếu tiệc: ” Các anh chị có mặt ngày hôm nay phải biết ơn anh chị Phẩm đây thật nhiều”. Mọi người đều ngớ ra chẳng hiểu mô tê chi cả.

Vợ Phẩm: ” Chúng tôi mới lần đầu gặp các anh, chị đây mà ”. Phẩm ngờ ngợ Tân muốn chọc quê mình nhưng chưa đoán ra được Tân tính nói chuyện gì. Chàng ngồi yên lặng lẽ chiêu một ngụm bia. Có nhiều tiếng lao xao : ” Người nhà cả mà, anh Tân nói lẹ lên chớ, sốt ruột lắm rồi”. Tân: ” Các anh, chị ở Mỹ mà thoát một trận lụt lớn là nhờ anh chị Phẩm đây ”. Loan : ” Ðừng có tào lao thiên địa nghe anh Tân ”. Phẩm : ” Cứ để cho hắn nói ”. Tân : ” Ông bạn thân của chúng tôi ở Montréal mà chủ nhà và một vài anh, chị đây đều biết đã vượt biển vào năm 84, và cùng ở trên một đảo với anh chị Phẩm . Anh Phẩm đã từng thề là không bao giờ đặt chân lên đất Mỹ, và đã từng bảo “ ông thì cứ đái vào xứ chúng mày ” – “ Ðúng vậy không anh Phẩm? ”. Phẩm bảo: “ Quả có thế thật ”. Mọi người lăn ra cười. Loan cười : ” Cái nhà anh Tân này kỳ cục quá ”. Tân: ” Mấy năm trước anh ấy đã đổi ý, và khi có dịp đưa anh ấy qua đất Mỹ cách Montréal khoảng 40 phút lái xe, anh ấy đã đại xá cho cả xứ Mỹ. Ðó ! các anh, chị thấy chưa, các anh chị là may mắn lắm đấy nhá.” – ” Rõ khỉ cái nhà anh này, đang ăn uống mà nói chuyện gì linh tinh thế, chả thanh tao tí nào ” – ” Có sao đâu, lụt thế quái nào được, ông ấy có uống hết cả vài két bia ở đây giỏi lắm cũng chỉ một vũng là nhiều”. Lại có tiếng nhiều người cười. Một bà : ” Mỹ nó làm gì anh mà anh ghét nó đến thế? ” Mặt Loan đỏ hồng. Phẩm chắc lưỡi : ” Ta đã tha rồi mà ”. Nhiều tiếng : ” Chuyện hấp dẫn đây ”. Phẩm nhìn vợ rồi nói thật nhanh : ” Chuyện xưa rồi, cái thằng lính Mỹ say rượu đi ngang sơ ý quẹt vào mông bà ấy ” – ” Thế thì có gì phải tức đến muốn làm lụt nước Mỹ; ở đây đi những chốn đông người nhiều chị đầm còn mong có người vô ý như vậy nữa kià ” – ” Bà này ‘phăng’ ra như vậy chứ làm gì có chuyện ấy, mà dẫu có muốn mấy gã đàn ông cũng đâu dám ẩu, lạng quạng nó đưa ra toà thì có mà mọt gông ” – Bà chủ nhà: ” Thế là hiểu nước Mỹ rồi đó. Hồi 75 lúc mới ở trại tạm cư được nhà thờ bảo lãnh ra mình cứ tưởng không còn hy vọng gì gặp lại người thân còn kẹt ở bên nhà, và VC đừng hòng đặt chân lên đất Mỹ. Vậy mà nay đám thần thế qua đây du lịch cả đống, và con cái mấy thằng ‘tư bản đỏ’ nằm đầy trong các trường đại học ”. Chủ nhà: ” Ấy đấy, cái xứ dân chủ nó như vậy đấy. Có quan hệ ngoại giao trở lại thì nó cứ chiếu theo luật pháp xứ nó mà nó thi hành. Ở xứ này luật là luật mà ” . Có tiếng phản đối : ” Không đơn giản như vậy đâu, Mỹ đâu có ngu và dốt; nếu không, xứ Mỹ đâu có giàu có nhất thế giới được. Cái lũ quái gở bên kia đại dương tưởng chúng là anh hùng, là khôn ngoan lắm, đánh thắng tới ba thằng thực dân, đế quốc lận. Thắng cái khỉ mốc gì mà tính cả hai miền chết hơn ba triệu người, hàng triệu thương binh, và tỉ lệ người bệnh tâm thần trong dân chúng có thể là cao vào bậc nhất hoàn cầu! Và nay lại ngửa tay xin xỏ bàn dân thiên hạ.” – ” Thôi đi mà ! Mình ăn uống cho vui vẻ, đừng mất công bàn tới, bàn lui mấy vấn đề chính trị nữa, nhức đầu lắm ” – ” Cũng phải bàn đến chứ, mình muốn tránh nó, nó cũng không tránh mình mà, ngay chuyện bầu cử ở đây, nếu thuyết phục được cử tri gốc Việt đi bầu đông đủ thì cộng đồng người mình cũng có thể ảnh hưởng tới các quyết định liên quan đến quyền lợi của mình chứ ”- Một ông có lẽ dạy học ngày trước lên tiếng: ” Tôi nghe nói có gã giáo sư trung học dạy triết nào đó mới qua Mỹ ít lâu dám lớn lối mở miệng bảo là nước Mỹ không có triết học. Ðúng là ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung ”. Có tiếng người cười sặc xụa : ” Những người làm nghiên cứu của những trường đại học Mỹ, nhất là những trường lớn như Yale</, Stanford,… phải lao động trí óc khiếp lắm mới mong giữ được chân giáo sư, không phải khơi khơi đâu. Thú thật là tôi ngờ cái học của chả ấy quá. Không chừng đọc nguyên tác của những tác giả Anh, Pháp còn ú ớ , chứ nói gì đọc bằng tiếng Ðức, Hán hay tiếng Phạn,.. .” – Một ông hắng giọng: ” Tôi chẳng đọc gì nhiều, chỉ đọc vài cuốn của các cụ Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, hay một vài cuốn sách dịch của Phùng Khánh xem ra cũng tạm đủ…để loè thiên hạ rồi. Mấy lúc gần đây, tôi có đọc sách dịch từ VN đưa qua nhưng chịu không thấu: đọc nhưng chẳng hiểu họ viết những gì. Tôi cứ ngờ ngợ là các trự ấy còn vất vả nhai, và nghiền ngẫm nhiều năm may ra mới hiểu nổi nguyên tác. Ngày xưa khi đi học tôi có đọc sách giáo khoa viết cho học sinh các lớp đệ nhất của linh mục Trần văn Hiến Minh, có nghe loáng thoáng về Saint Thomas d’ Aquin. Mới đây có dịp đọc một ít sách do nhiều tác giả năm châu viết, rất nhiều người dẫn lời của ông thánh ấy. Ðến khi mon men vào thư viện tìm đến khu triết học, nhìn đến sách ông ấy viết mình mới tá hoả. Chẳng hiểu trong đầu ông ấy nghĩ những gì mà viết ghê quá, cuốn nào cuốn nấy dày như bách khoa từ điển Mỹ ấy . ”

Chủ nhà nhìn người ngồi bên cạnh vừa mới nói, lên tiếng: ”Tôi phải nói là rất hânh hạnh giới thiệu gia đình anh chị Phúc đây là một trong những gia đình hiếm hoi mà các cháu học hành thành đạt hết sức xuất sắc. Tôi được biết anh chị có một cháu vừa vào làm việc ở John Hopkins. Ông Phúc hãnh diện: ” Cám ơn anh Trứ, cháu mới ra trường kỳ hè vừa rồi, nhưng học thêm chuyên khoa tai-mũi-họng .” Chủ nhà tiếp lời: ” Anh Phúc thật ra học trên chúng mình tới năm lớp, là đàn anh của tụi mình, mà bây giờ lại là đàn anh lớn nữa. Anh chị ấy khiêm tốn không nói ra nhưng tôi rất muốn giới thiệu sự thành công của gia đình anh chị ấy: bốn cháu học Harvard ; hai trong số ấy sắp ra trường về ngành y, một chuyên về tai-mũi-họng như tôi đã giới thiệu, một chuyên về nội thương, một đang học ngành nha, chuyên về các bệnh của nướu răng, và một cháu mới được nhận vào trong năm nay. Thằng út cũng tốt nghiệp xuất sắc ở trung học, cũng đang có dự tính xin học dự bị y khoa. ” Nhiều tiếng xuýt xoa trổi lên. Có tiếng một ông: ” Ðàn anh có bí quyết gì chia xẻ cho đàn em với. Nhà chúng em ba đứa mà nói chẳng có đứa nào chịu nghe mình cả. Chúng nó toàn học văn chương với nghệ thuật, hễ cứ đến 18t. là chúng nó tếch khỏi nhà, hệt như Mỹ con. Chán quá đàn anh ơi! ” Tiếng chủ nhà: ” Thì ông bớt đi đánh bài, bớt coi phim chưởng, bớt đi nhảy đầm đi, và đừng có lái xe đua chạy sau váy mấy con đĩ ngựa…ở mấy cái quán cà phê dưới Los. nữa.” Chủ nhà vừa nói xong bỗng la oai oải: ” Í! đau quá, làm cái gì kì vậy, cho tôi nói nữa chớ; anh em trong nhà cả mà. ” Cả chiếu tiệc lại cười nghiêng ngả. Bà chủ nhà đang nheo tai ông chồng. Bà vợ ông bạn bị tố : ” Chả dạy em đánh bài, nhảy đầm, và hát ka-ra-ô-kê nữa đó các anh, các chị. Nói thật tình thì con ảnh hai đứa, con em một đứa, còn con chung chưa có đứa nào. Bác sĩ bảo là em hết trứng rồi. ” Cả chiếu tiệc lại cười nghiêng ngả.

Tiệc tan, mọi người vui vẻ chào tạm biệt. Ông Phẩm ngồi trên xe quay sang bà vợ: ” Thật không ngờ con em trong nhiều gia đình bạn học cũ của mình thành công quá sức. Cũng may là mình thoát được ra khỏi VN, chớ nằm kẹt ở lại thì giờ này dù chúng nó có mở cửa toang hoác, mình cũng vẫn cứ tiêu điều. Những người còn kẹt lại sống với đám ấy mới thật là những kẻ bị lưu đày.”

***

Vợ chồng ông Phẩm ra khỏi nhà thờ nằm trên đường Saint Hubert sau thánh lễ chủ nhật. Bà Loan nhìn chồng: ” Anh coi kià, ngay bên kia đường là một cửa tiệm bán các dụng cụ làm tình, chướng quá ”. Ông Phẩm nói đùa với vợ: ” Cái này là ma quỉ chọc ghẹo các thánh, muốn quấy phá các thánh nhưng không xong. Nhà thờ của mình lớn và bề thế còn cái tiệm của mấy con quỉ mắt xanh bên kia đường chưa bằng góc cái nhà cầu ở tầng dưới nhà thờ ”. Bà tiếp: ” Mới hôm nào ở Nam Cali. vui quá mà đến nay đã mấy tháng rồi, biết vậy mình nhờ vợ chồng chị Tâm bảo lãnh từ Pháp qua thì giờ này đã ở luôn bên ấy rồi.” Ông Phẩm: ” Mỹ hay Canada đâu có khác gì nhau, khí hậu bên mình đây mùa đông có gắt nhưng cũng chẳng khác bao nhiêu so với vùng đông bắc Mỹ, và thành phố này cũng có cái êm đềm của nó. Với lại ở xứ tự do mình muốn đi đâu thì đâu, chả bị phép tắc phiền toái như sống với mấy cha nội ác ôn bên mình.” Bà Loan : ” Hôm ở nhà ông Trứ ở Pasadena em nghe mấy bà ấy nói là có cả cà phê ôm quanh vùng Little Saigon ; nghe đâu đám cà phê ôm ấy phần lớn từ Sàigòn qua Mỹ trong mấy năm gần đây. Mấy con nhỏ ấy nó khai thác khách hàng dữ lắm. Ðứa nào đứa nấy đều chơi xe thật láng ” – ” Nghề của chúng nó mà, bên Montréal mình còn có cả nữ sinh viên hành nghề đầm truồng để trả chi phí đại học nữa. Nhưng coi vậy mà chẳng phải vậy: số người có ý chí dùng số tiền kiếm được để đạt đến mục đích tốt lành của mình không nhiều. Phần đông bị môi trường cuốn đi, rồi cũng đua đòi, cũng phi xì ke, chưa kể những thủ đoạn bất lương của bọn ma cô.” Bà Loan: ” Ghê quá anh nhỉ. Xứ tự do có nhiều cái thú vị nhưng không cẩn thận cũng ‘tiêu tán đường’ – ” Thì mình làm mình hưởng, mình làm mình chịu, chứ đâu có chuyện mình không làm mà nó choàng đủ thứ tội lên đầu mình. ” Bà bỗng nhiên đi sát vào ông: ” Anh có nhớ hôm nay là ngày gì của em không nào?” Ông cười: ” Làm gì mà chẳng nhớ, nhưng về đến nhà anh mới bật mí được”

Lái xe về đến nhà, đẩy cửa vào nhà, ông vào phòng trong mở tủ lấy ra một gói quà ông mới mua chiều hôm kia nhưng không cho bà biết. Ông để lên bàn: ” Chiều nay chắc hai đứa chúng nó mới về. Quà sinh nhật của mình đây.” Khi bà mở gói quà bà thấy một chiếc áo ngủ bằng lụa màu mỡ gà trông giống loại lụa tơ tằm vùng Bảo Lộc nơi bà đã sống những năm tuổi thơ trước khi dời xuống Sàigòn. Bà mừng rỡ và hạnh phúc: ” Cám ơn mình thật nhiều.” Lúc ấy ông choàng hai tay ôm lấy bà, hôn lên môi và nhớ đến nụ hôn ông đặt lên môi bà trong góc rạp Rex năm nào. Bỗng nhiên ông nhớ lại cái phát vào mông của bà lúc hai người từ rạp Rex đi về phiá góc đường Tự Do – Lê Thánh Tôn. Ông ghé vào tai bà: ” Hôm nay là sinh nhật của mình làm sao anh quên được, lại trùng vào ngày Lễ Tạ Ơn, và hẳn mình còn nhớ chúng mình lần đầu tiên vào rạp Rex nữa chứ,…”

Ông nheo mắt cười với vợ, một tay vỗ nhè nhẹ lên mông bà. Rồi ông làm một động tác bất ngờ; ông xoay người qua phiá sau lưng bà, quì xuống hôn phớt lên đúng phiá mông phải: mông của bà hình như mềm và thơm hơn bất cứ lúc nào.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Nhà văn Nhật Tiến: ‘60 năm cầm bút, vui ít, buồn nhiều...’

Ðinh Quang Anh Thái/Người Việt
Nhật Tiến là một tên tuổi lớn trong làng văn Việt Nam. Cầm bút từ lúc còn là học sinh trung học ở Hà Nội, tiếp tục viết khi vào Nam sau 1954, ông vẫn in tác phẩm khi ra hải ngoại. Nhật Tiến viết nhiều thể loại, truyện dài, truyện ngắn, kịch, viết cho tuổi thơ và đã xuất bản trên 20 tác phẩm, trong đó nổi tiếng nhất là “Những Người Áo Trắng,” “Thềm Hoang,” “Người Kéo Màn,” “Chim Hót Trong Lồng,” “Giấc Ngủ Chập Chờn”... Một số truyện ngắn của ông cũng đã được dịch ra Anh và Pháp ngữ. Ở tuổi ngoài 70, ông vẫn tiếp tục nghiệp chữ nghĩa, và vừa hoàn tất hai cuốn “Hành Trình Chữ Nghĩa” và “Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác Dưới Mái Nhà Trường Xã Hội Chủ Nghĩa.” Nhân dịp này, ông dành cho Người Việt cuộc trò chuyện văn học sau đây. Cuộc phỏng vấn do Ðinh Quang Anh Thái thực hiện.

Image
Nhà văn Nhật Tiến. (Hình: Nhật Tiến cung cấp)
Người Việt: Nhìn lại những bến bờ chữ nghĩa trên nửa thế kỷ cầm bút, ông cảm nhận như thế nào?

Nhật Tiến: Cũng chẳng khác chi “vạn nẻo đời thường,” những “bến bờ chữ nghĩa” trong tâm khảm của tôi cũng ghi nhiều dấu ấn lắm lúc chẳng hay ho gì: vui ít, buồn nhiều, ngọt ngào cũng có, nhưng cay đắng thì luôn ngự trị trong đầu. Rồi tham vọng thì lớn, mà thực hiện thì chẳng được bao nhiêu. Ấy vậy mà sau một chặng đường dài dễ có đến 60 năm, tôi lại cũng vẫn không muốn thoát ra, để rồi vẫn cứ còn bị vướng mắc bởi những dằn vặt của chữ nghĩa.

Người Việt: Từ lúc còn là học trò, ông đã có bài đăng trên báo chí ở Hà Nội, bước đầu viết văn của ông ra sao?

Nhật Tiến: Từ hồi còn học lớp Nhất ở trường Hàng Vôi, Hà Nội, tôi đã có lòng yêu mến văn chương chữ nghĩa. Có thể nói, ngay từ hồi đó tôi đã đọc rất nhiều, đặc biệt là những tác phẩm của các nhà văn tiền chiến như Lê Văn Trương, Khái Hưng, Nhất Linh, Trần Tiêu, Nguyên Hồng, Nam Cao, Trương Tửu... Có lẽ rồi từ đó khiến tôi nẩy ra cái ý thích viết văn và bắt đầu sinh hoạt trong các bút nhóm học trò. Một thời gian sau thì tôi có truyện ngắn đầu tiên được in năm 1952 trên tờ Giang Sơn của Bác Sĩ Hoàng Cơ Bình xuất bản ở Hà Nội.

Người Việt: Những bạn văn cùng thuở thiếu thời của ông, còn bao nhiêu người tiếp tục cầm bút?

Nhật Tiến: Sau 1954, bọn học sinh chúng tôi nhiều người cũng di cư vào Nam, và phải nói rằng chính miền Nam sau này mới là nơi khiến cho những tinh hoa văn nghệ tiềm ẩn từ thuở còn cắp sách ở trong họ được đơm hoa kết trái. Tôi có thể kể: Thế Phong, Huy Sơn, Nguyễn Ðình Toàn, Dương Vy Long, Song Hồ, Vũ Mai Anh, Hùng Phong Nguyễn Ðức Cầu...

Người Việt: Riêng cuốn “Giấc Ngủ Chập Chờn,” ông cho thấy thân phận bèo bọt của người dân trong chiến tranh, trong khi chế độ Hà Nội lên án cuốn này là “cực kỳ phản động,” xin nghe ý kiến ông?

Nhật Tiến: Cuốn này tôi viết về đời sống của dân chúng tại một vùng “xôi đậu,” tức là một vùng không do Quốc Gia hay Việt Cộng kiểm soát hoàn toàn. Vì thế, nhiều hoạt cảnh ở phía sau cuộc chiến được phơi bày mà qua đó nêu lên được đời sống khắc nghiệt và thân phận đớn đau của dân chúng miền quê ở những vùng đang chìm trong khói lửa. Chính điều này đã làm lộ rõ cái chiêu bài bịp bợm, giả trá về “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là do quần chúng miền Nam nổi dậy chống ách xâm lược Mỹ” mà Bắc Việt vẫn rêu rao trên chính trường quốc tế. Và đây là lý do khiến “Giấc Ngủ Chập Chờn” bị phê phán rất nặng sau khi CS tiến chiếm Sài Gòn.

Người Việt: Khi ông còn trong nước sau năm 75, hải ngoại có vài bài viết nói rằng Nhà văn Nhật Tiến “đeo băng đỏ, dẫn công an đi bắt những người cầm bút miền Nam,” sự thật của vấn đề này là thế nào, thưa ông?

Nhật Tiến: Ðây là một sự bịa đặt trắng trợn của một ngòi bút tự nhận mình là nhà văn, mang bút hiệu Nguyễn Thiếu Nhẫn và tôi rất lấy làm tiếc là nó lại được đăng trên một tờ báo của một nhà thơ rất có uy tín và vốn cũng là chỗ tôi được hân hạnh quen biết cả hai vợ chồng.

Ðó là tờ Saigon Times xuất bản ở Los Angeles của nhà thơ Thái Tú Hạp. Vào thời điểm 1995 khi chuyện bịa đặt ấy xảy ra, nhiều văn nghệ sĩ còn đang nằm trong tù, tôi làm sao mà cãi được? Nhưng đến nay, 2012, tức hơn 20 năm qua rồi, các nhà văn, nhà thơ đi tù đã được thả hết và nhiều người đã ra sinh sống ở hải ngoại. Từ bấy đến nay có ai lên tiếng tố cáo là tôi “đeo băng đỏ, dẫn công an nhân dân đi bắt văn nghệ sĩ ” đâu! Ngoài ra, nếu cần thì ai cũng có thể gọi phone đến hỏi từng người đã ra tù để tìm hiểu, tuy sẽ chẳng có ai xác nhận điều đó đâu. Lý do dễ hiểu là chuyện đó đã hoàn toàn được bịa đặt bởi một người mà tôi nghĩ là chưa có đủ tư cách để cầm bút.

Người Việt: Sau khi ông vượt thoái khỏi Việt Nam rồi đến Mỹ định cư, một bài báo Việt ngữ viết rằng, ông quay về Việt Nam mang theo cả chục ngàn đô la để hợp tác xuất bản sách trong nước, nhưng rốt cuộc sách không có, tiền thì mất tăm; xin nghe ý kiến của ông về bài báo này?

Nhật Tiến: Ðây là lý do mà khi trả lời câu hỏi ở trên tôi đã nói rằng khi nhìn những “bến bờ chữ nghĩa” trong tâm khảm của tôi cũng ghi nhiều dấu ấn lắm lúc chẳng hay ho gì . Ở hải ngoại, tự do tuy là quý nhưng nó đã bị lạm dụng đến độ quái gở. Ông Nguyễn Hữu Nghĩa, chủ bút tờ Làng Văn ở Canada đã loan tin rằng tôi quyên góp $18,000 của văn nghệ sĩ ở hải ngoại, đem về nộp cho ông Hoàng Lại Giang của nhà xuất bản Văn Học ở Sài Gòn để xin in một tuyển tập văn chương hải ngoại mà bài vở của tuyển tập này, tôi cũng đem cắt xén, kiểm duyệt bớt để làm vừa lòng chính quyền CS. Rồi cũng vẫn theo Nguyễn Hữu Nghĩa thì tuyển tập đã không ra mắt, mà tiền cũng mất tăm luôn!

Sự thực là: Việc thực hiện tuyển tập này do họa sĩ Khánh Trường chủ trương. Ông thu thập bài vở của 35 văn nghệ sĩ ở hải ngoại để sẽ in một tuyển tập văn chương (với điều kiện là chính tác giả tự lựa chọn bài của mình và nhà xuất bản không được sửa một chữ nào khi in). Ấn phí là $2,000 quyên góp được của bạn bè, thân hữu, gửi về VN chờ khi in thì mới xuất ngân. Nhưng về sau, vì đám bảo thủ trong nước cấm cản sao đó, sách không ra được, nên tiền lại đã gửi ra cho họa sĩ Khánh Trường để ông hoàn trả các nơi đã quyên góp. Nhà văn Hoàng Lại Giang, giám đốc nhà xuất bản Văn Học ở phía Nam trong thực tế chưa cầm một xu teng nào, trái hẳn với câu chuyện dựng đứng của Nguyễn Hữu Nghĩa.

Người Việt: Ông có nghĩ văn chương là một cái “nghiệp”?

Nhật Tiến: Thi hào Nguyễn Du từng viết:

Ðã mang lấy nghiệp vào thân

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa....

Người Việt: Ông có tâm sự nào muốn nói thêm với độc giả Người Việt?

Nhật Tiến: Trong số bạn đọc nhật báo Người Việt, tôi đoán là cũng có một số vị từng là độc giả của tôi. Tôi chỉ xin gửi gắm vài lời rằng, trong 60 năm cầm bút, tôi chưa bao giờ thấy hối tiếc về những gì mình đã viết ra và tôi sẽ vẫn tiếp tục không làm phụ lòng những độc giả đã yêu mến, đã theo dõi hay đã âm thầm cảm thông với tôi trong nhiều vấn đề liên quan tới đất nước.

Người Việt: Cám ơn ông dành thời gian cho chúng tôi.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Con gái tuổi Dần
(Truyện này không biết của ai nhưng thấy hay hay, chia sẻ cùng nhau đọc. )

Lần đầu gặp mặt, Hân ngỡ ngàng khi "đối tượng" là một thanh niên mặt búng ra sữa. Thế nhưng, hắn luôn mồm xưng anh và gọi cô là em.

Hân quen Khương trên một trang web hò hẹn online. Tất cả khởi đầu từ một đoạn giới thiệu mang đầy tính khiêu khích: "Trần Lê Ngọc Hân, viết lách tự do, sinh năm 1974, tuổi Dần. Ai không sợ bị thịt thì cứ nhào vô".

Ba ngày sau khi đăng hai câu giới thiệu ấy. Hân nhận được rất nhiều thư nhưng cô khá ấn tượng trước một lá thư khiêu khích không kém trong hộp mail: "Nguyễn Đăng Khương, thiết kế nội thất, tuổi Mèo. Mèo là chú của cọp nên không sợ bị thịt, sẵn sàng nhào vô".

Đọc e-mail, Hân khinh khỉnh: "Nhỏ hơn một tuổi à? Cũng không đến nỗi".

Thế nhưng, Khương chỉ mới 20 xuân xanh, thua Hân 13 tuổi, vẫn đang học đại học. Cũng là Mèo nhưng đi sau Hân hơn một con giáp. Buổi hẹn hò offline đầu tiên ở Hands, quán cà phê yêu thích của Hân nhìn khuôn mặt búng ra sữa của Khương, Hân suýt té ghế. "Em trêu tôi đấy à?", Hân gằn giọng.

Khương tỉnh queo: "Ban đầu định là vậy nhưng bây giờ thì không. Chị đẹp hơn em nghĩ", Hân xô ghế đứng dậy, quay đi không thèm ngó lại.

Thế nhưng Khương không dễ bảo như Hân nghĩ. Một tháng sau buổi hẹn hò thất bại ấy, Khương xuất hiện trước mặt Hân, cũng tại Hands, với dáng vẻ hoàn toàn khác. Tóc húi cua, hàm râu quai nón gọn gàng, vóc dáng cao ráo, săn chắc nổi bật trong chiếc áo pull màu đỏ vang và quần bò bạc thếch. Trước ánh mắt sững sờ của Hân, Hương nhe răng: "Sao? Bây giờ tôi xưng anh với Hân được chưa?".

Hân tự rủa sả mình sao lại tiết lộ quán cà phê Hands và cả thói quen ngồi đồng ở đây để Khương biết đường mò đến. Cô đốp chát ngay: "Trừ khi em tẩy được cả giấy khai sinh".

"Giấy tờ không quan trọng, một người làm việc tự do, chẳng bao giờ ký hợp đồng như em hẳn phải hiểu điều đấy chứ", Khương đốp chát lại.

"Nhưng như vậy không có nghĩa em có thể lớn lên bằng tôi", Hân phản bác.

Khương gân cổ cãi: "Cũng không có nghĩa là anh nhỏ hơn em, phải không? Thôi thì em cứ xem anh như là một con mèo, còn em là một con cọp, bỏ qua chuyện tuổi tác, được không?". "Chị không rảnh để chơi với em, nhóc à!". "Vậy có rảnh để yêu không?". "Không, chỉ rảnh để cưới thôi".

Khương im lặng. Hân vẫn giữ gương mặt điềm tĩnh nhưng trong bụng hò reo chiến thắng . Đàn ông nào cũng vậy, nghe đám cưới là rụt vòi, huống chi Khương chỉ mới 20 tuổi, còn thích bay nhảy. Thật tình, Hân cũng thấy tiếc cậu chàng đẹp trai này nhưng giá 20 nhân thêm cho hai thì còn có cơ may...

Đột ngột, Khương lên tiếng: "Em hứa đấy nhé, rảnh để cưới, ghi cho anh địa chỉ nhà em, mai anh sang nhà hỏi cưới".

Hân sa sầm nét mặt: "Đùa đủ rồi đấy, cậu làm tôi bực rồi đấy!".

Khương vẫn kiên nhẫn: "Người ta bảo con gái tuổi Dần thường muộn chồng. Nếu lấy chồng sớm thế nào cũng goá bụa. Em bây giờ lấy chồng được rồi, anh cũng không sợ bị em khắc chết".

Hân bật cười, không thể nghĩ ra thêm lý do để xua đuổi con mèo si tình từ trên trời rơi xuống này. Vậy là yêu nhau!

Một ngày mưa, Hân nằm cuộn tròn tấm chăn mỏng, gối đầu lên ngực Khương, thì thầm: "Em muốn sinh con", Khương ngái ngủ: "Bao giờ?".

Ngay bây giờ, em muốn làm tình không dùng bao cao su". Khương giật mình, tỉnh cả ngủ, mắt mở to: "Em đùa à?".

"Không, em nói thật. Em đã hơn 30 tuổi rồi, cũng đã đến lúc sinh con". Khương im lặng. Hân lại tiếp: "Anh không cần lo. Em tôn thờ chủ nghĩa độc thân nên chỉ muốn sinh con chứ chẳng ràng buộc trách nhiệm gì ở anh cả. Nếu thích, anh có thể đến thăm con, không thì thôi, em chẳng mang con đến mè nheo hay làm phiền anh đâu".

Khương vẫn im lặng.

"Chắc lại sắp vùng ra khỏi chăn và bỏ chạy. Rồng hay mèo hay ngựa thì cũng nhát như nhau cả, ôi đàn ông". Hân nghĩ một cách ca thán. Trải qua vài ba mối tình, Hân không còn ngạc nhiên hay đau lòng trước phản ứng hiện giờ của Khương. Những người tình trước của cô có say đắm đến mấy cũng bỏ chạy khi nghe đến chuyện sinh con.

Khương bước ra khỏi chăn thật nhưng không khoác áo và rời khỏi phòng như những anh chàng khác.

Anh lặng lẽ rít thuốc hồi lâu rồi bảo: "Mình cưới nhé!". Hân tưởng mình nghe lầm: "Sao?". Khương quay lại nhìn cô, cười dịu dàng: "Đám cưới, anh nói là mình làm đám cưới". Đến lượt Hân im lặng, cô chưa lường trước tình huống này.

Nhìn vẻ mặt của Khương, Hân biết anh không đùa. Hân khinh khỉnh: "Anh không cần vì đứa con mà cưới cả con vợ già đâu. Em nói rồi, em tôn thờ chủ nghĩa độc thân".

Khương bật cười, dụi đầu vào ngực Hân: "Anh không vì đứa con mà cưới em. Anh muốn dùng đám cưới để hợp thức hoá mong ước sinh con của em, không được sao? Bỏ quách cái chủ nghĩa độc thân của em đi, cũng đã đến lúc em cần một gia đình đúng nghĩa rồi đấy cưng" và anh hôn cô thật nồng nàn.

Khương nói là làm nên ngay tuần sau, anh đưa cô về ra mắt mẹ và xin cưới. Bố Khương mất từ khi anh còn nhỏ, nhà chỉ có hai mẹ con. Mẹ Khương đón Hân bằng ánh mắt sắc sảo pha chút lạnh lùng.

Khương chỉ mới hơn 21 tuổi, chưa đến lúc lập gia đình, bà tự hỏi ở cô gái này có điều gì khiến con trai mình say mê đến vậy. Hân rợn người khi mẹ Khương đưa mắt "chiếu tướng" cô từ đầu đến chân mình.

Cô chưa từng biết sợ ai hay điều gì nhưng giờ đây, tim cô đang đập mạnh. Rõ ràng, mẹ Khương không như những trở ngại mà Hân từng đối đầu.

Sau mấy phút căng thẳng, bà tằng hắng hỏi: "Cháu là người ở đâu?". "Dạ, cháu sinh ra ở Sài Gòn nhưng cả nhà cháu đã qua Mỹ định cư, chỉ còn mình cháu ở đây thôi ạ".

"Sao cháu không đi theo họ?".

"Dạ, tại vì cháu thích ở Việt Nam", Hân đáp hơi khiên cưỡng, không lý nào lại nói với mẹ chồng tương lai rằng mình ở lại Việt Nam lúc ấy chẳng qua vì mối tình đầu với một anh chàng kiến trúc sư.

"Cháu bao tuổi rồi?".

Hân lúng túng. Yêu Khương đã hơn năm nhưng cô vẫn ngại khi thú nhận với ai đó cô hơn anh 13 tuổi, dù sau khi Khương nỗ lực thay đổi ngoại hình, trông cô chẳng đến nỗi già hơn anh.

Ngay lập tức, Khương đỡ lời cho người yêu: "Dạ, cô ấy tuổi Dần ạ".

Gương mặt mẹ Khương bỗng biến sắc, bà gằn giọng: "Tuổi Dần thì không được, không cưới xin gì cả". Khương thảng thốt: "Sao vậy mẹ?".

Sao trăng gì? Con gái tuổi Dần lấy chồng sớm có số sát phu, con thừa biết mà".

Trời ơi, đó chỉ là chuyện vớ vẩn. Sao mẹ tin được".

Không vớ vẩn, nếu muốn, hai đứa chờ mười năm sau, bước qua tuổi 30 rồi cưới". Mẹ Khương nói với giọng đắc thắng, bà thừa biết chẳng đứa con gái nào chịu điều kiện vô lý này.

Khương cũng đắc thắng đáp ngay mà quên mất điều mình đang cố giấu: "Cô ấy đã qua ba mươi rồi mẹ ơi". Nhìn đôi mắt mở to của mẹ Khương lúc ấy, Hân rên thầm trong bụng: "Thôi rồi".

Sau ngày hôm ấy, sóng gió phủ chụp lên mối tình của họ. Mẹ Khương kiên quyết phản đối, thậm chí lấy cái chết để doạ con. Khương cố gắng thuyết phục mẹ nhưng vô ích. Sợ Hân buồn, anh khuyên cô kiên nhẫn cho anh thêm thời gian.

Trước mặt Khương, Hân luôn tỏ ra điềm tĩnh nhưng đêm về, cô ôm gối khóc. Đã lâu lắm rồi từ sau mối tình đầu tan vỡ cũng bởi định kiến tuổi Dần, Hân mới khóc vì một người đàn ông.

Nửa năm sau, mẹ Khương tìm gặp Hân. Cô hẹn bà ở Hands vào ngày 28 Tết, ngày làm việc cuối cùng trước Tết Nguyên Đán của Hands. Năm nào cũng vậy, Hands luôn đóng cửa vào 28 Tết và khai trương lại vào mùng Bốn. Hân vẫn còn nhớ ngày đầu tiên mình lồng tay vào tay Khương cũng là 28 Tết.

Hands nằm cuối một con hẻm nhỏ yên tĩnh giữa trung tâm thành phố sầm uất. Người không biết khó có thể tìm ra Hands giữa những con đường ngoằn ngoèo và chi chít như bàn cờ. Hands nhỏ, có chưa đến năm cái bàn nhưng nhờ vậy mà tuyệt đối yên tĩnh. Hân vẫn thường một mình đến Hands với chiếc laptop, ngồi vào chiếc bàn kê sát ô cửa sổ trắng và gõ lóc cóc viết bài. Và giờ đây, cô cũng đang ngồi ở chiếc bàn ấy, đối diện với mẹ Khương.

Mẹ Khương mở đầu chuyện một cách nhẹ nhàng: "Cháu có thật sự muốn làm con dâu của bác không?".

Hân im lặng, cân nhắc hồi lâu và khẽ đáp: "Cháu thật sự muốn làm vợ Khương và cháu mong bác đồng ý".

Vẫn giữ vẻ tự nhiên, bà hỏi: "Cháu nghĩ Khương muốn cưới cháu vì điều gì?". Hân im lặng, cô muốn trả lời vì tình yêu nhưng không hiểu sao không thể thốt nên lời. Mẹ Khương mỉm cười ý nhị: "Cháu không đủ can đảm để trả lời vì tình yêu, đúng không?". Hân mím chặt môi: "Bác muốn nói gì?".

Mẹ Khương vẫn điềm tĩnh: "Bác muốn cháu chủ động rời xa Khương trong một năm, không liên lạc và không giải thích bất kỳ điều gì cả. Nếu nó thật sự yêu cháu, nó sẽ vượt qua khoảng thời gian ấy và sẵn lòng chờ cháu quay về. Khi ấy, bác sẽ không phản đối chuyện đám cưới nữa. còn ngược lại, tình cảm hiện giờ nó dành cho cháu chỉ là đam mê nhất thời và hai đứa nên kết thúc. Bác cũng đang thắc mắc liệu cháu có thật sự tin là Khương yêu mình không hay chỉ đang say mê một phụ nữ từng trải và có chút nhan sắc. Sao? Cháu có tự tin để thử không?".

Bằng những nhận xét tinh tế của mình, bà thừa hiểu Hân là cô gái ngang tàng và có lòng tự tôn rất cao. Bà biết mình đã đánh trúng đòn và chắc chắn Hân sẽ đồng ý. Một cách chậm chạp, Hân khẳng định lại điều bà đang nghĩ: "Quyết định như vậy, bác nhé!".

Một năm trôi qua, Hân đang ngồi trên taxi đến Hands. Cây kim giờ trên tay của cô đang nhích dần đến số 11. Đêm đã khuya nhưng Sài Gòn vẫn chưa muốn ngủ. Hôm nay là 28 Tết. "Lại là ngày 28, không biết nên yêu thương hay nguyền rủa nó đây?", Hân vừa nghĩ vừa nhìn mông lung.

Không khí hội hè phủ khắp nơi nhưng lòng Hân trống rỗng. Cô vừa mong gặp lại Khương vừa sợ mình sẽ thất vọng.

Một năm qua, giữ đúng lời hứa vời mẹ Khương, Hân bẻ sim điện thoại, thay đổi chỗ ở, đóng cửa Facebook, không đến Hands và bất cứ nơi nào khác mà Khương có thể tìm đến. Cô vác ba lô đi khắp nơi, từ Đà Lạt, Nha Trang đến Hà Nội, Sa Pa... Cô đi vừa để viết bài vừa để quên đi nỗi cô đơn đang giày vò mình.

Hân biết ở Sài Gòn, Khương đang điên cuồng tìm cô. Hân đau lòng khi nghĩ đến gương mặt hốc hác và đôi mắt trũng sâu của anh. Ngày nào, Khương cũng gửi e-mail cho Hân và giăng trên Facebook lời van xin tha thiết: "Hân, em đang ở đâu? Đừng tránh mặt anh nữa!". Hân đọc hết, biết hết nhưng im lặng. Cô chỉ biết động viên chính mình và đánh dấu chéo vào quyển lịch cầm tay khi mỗi ngày trôi qua.

Đã có lúc Hân tưởng mình bỏ cuộc khi những lá e-mail của Khương thưa dần rồi mất hẳn. Dòng chữ tha thiết trên Facebook đã được thay bằng những câu cập nhật cuộc sống thường ngày của anh.

Thỉnh thoảng, Khương lại khoe những tấm ảnh anh chụp khi đi du lịch đâu đó, vây quanh anh luôn có những cô gái xinh đẹp và trẻ trung. Hình ảnh đó làm Hân vừa ghen vừa có cảm tưởng mình như bị xóa sổ khỏi cuộc đời của Khương.

Những lúc ấy, Hân ngồi lặng câm trước laptop và nhếch mép: "Đàn ông..." nhưng nước mắt lại rơi trên má cô nóng hổi. Hân quệt đi ngay, dù gì, đây cũng không phải lần đầu tiên cô không được lựa chọn.

Là con gái tuổi Dần, Hân đã khá quen với điều này. Người tình đầu của Hân cũng đã không thể vượt qua định kiến của gia đình và bỏ rơi cô chỉ vì hai chữ "tuổi Dần". Với những người tình sau, Hân chẳng bao giờ đặt quá nhiều hy vọng vào họ. Rồi cũng như nhau cả thôi!

Thế nhưng lần này khác, Hân biết mình yêu Khương, yêu thật sự kể từ sau mối tình đầu nên cô không thể dễ dàng bỏ cuộc. Máy bay bà già thì đã sao? Tuổi Dần thì đã sao? Chẳng lẽ cô không được quyền yêu như bao người phụ nữ khác? Và Hân vẫn ôm ấp một hy vọng nhỏ nhoi, vẫn đánh dấu chéo vào quyển lịch cầm tay khi mỗi ngày trôi qua. Cô chờ ngày được gặp lại Khương.

Chiếc taxi đỗ xịch trước con hẻm nhỏ cắt ngang những dòng suy nghĩ của Hân. Cô thanh toán cước phí rồi lặng lẽ gõ chân trên con đường lồi lõm quen thuộc. Bây giờ là 11 giờ rưỡi đêm 28 Tết và cô đang đến Hands. Nếu thật sự yêu và còn nhớ Hân, Khương chắc chắn đang đợi cô ở Hands, ít nhất là qua 12 giờ đêm nay.

Hands không khác một năm trước là mấy. Vẫn một mảng tường trắng in đầy những dấu tay bằng sơn đủ màu của các vị khách, vẫn những chiếc bàn gỗ mộc mạc được lau chùi sạch sẽ đến bóng loáng, vân những cây mai giả nhỏ xíu đặt trên bàn và những phong bao lì xì đỏ đính lục lạc đong đưa reo vui bên ô cửa sổ...

Hân đưa mắt tìm kiếm chiếc bàn kê sát ô cửa sổ trắng. Tim cô như rơi tõm xuống. Chiếc bàn trống không. Hân đưa mắt nhìn quanh. Hands vẫn còn lác đác dăm vị khách nhưng tuyệt nhiên không có người cô muốn tìm.

Hân tưởng như mình không đứng vững. Một cơn khó thở dâng lên khiến tim Hân đau thắt. Cô ôm lấy lồng ngực, lê chân khó nhọc về phía chiếc bàn quen thuộc và gọi một ly cappuchino. Mọi vật trước mắt cô nhoè đi. Hân biết mình đang khóc. Cô quệt nước mắt và cố gượng cười với cô phục vụ, nhưng nụ cười của cô phản chiếu xuống vệt nước trên mặt bàn trông méo mó và thảm hại như nụ cười của anh hề vào ngày rạp xiếc vắng khách.

Cô phục vụ ái ngại hỏi: "Chị không sao chứ?". Hân lắc đầu, cố pha trò: "Không, chỉ là tôi có hẹn một người quan trọng nhưng lại bị cho leo cây".

Cô phục vụ cợt vỗ tay lên trán: "à, thì ra là chị" rồi quày quả đi về phía quầy bar. Cô gái trở lại với một chiếc máy MP3 và bảo: "Sáng nay, có một anh chàng cũng nói câu tương tự như chị vậy. Anh ấy nhờ tôi trao lại thứ này cho cô gái nào ngồi ở chiếc bàn kê sát cửa sổ và cũng bị người ta cho leo cây".

Hân đón chiếc máy từ tay cô phục vụ, tim cô đập mạnh liên hồi. Tay run run, cô gắn tai nghe và nhấn nút play. Giọng Khương vang lên trầm ấm như đang ở thật gần: "Em đang khóc vì anh đã không đến, có phải không? Anh đã chờ em suốt một năm qua ở Hands và lần nào, anh cũng thất vọng ra về. Anh liên lạc với em bằng mọi cách nhưng vô ích. Anh biết em vẫn quan sát anh từng ngày, anh van xin em rồi khiêu khích em trên Facebook để em xuất hiện nhưng tất cả đều công cốc".

Anh tự hỏi mình đã làm gì sai để em phải xa lánh anh như vậy? Sáng nay, anh đến Hands từ rất sớm và chờ em đến tận trưa. Em vẫn mất hút. Anh thật sự không đủ kiên nhẫn nữa. Khi em nghe được những lời này, anh đã ngồi trên máy bay sang Pháp. Anh sẽ làm việc ở đó trong ba năm và có thể lâu hơn. Có lẽ chúng ta không còn gặp lại nhau. Chúc em mạnh khoẻ và hạnh phúc".

Những lời cuối của Khương như nhoè đi. Hai tai Hân lùng bùng, cô ngồi phỗng như tượng rồi đột ngột đứng bật dậy.

Không thể như thế! Mình phải ra sân bay", Hân hốt hoảng vùng chạy. Cô va mạnh vào chiếc bàn và đánh đổ ly cappuchino. Dòng cà phê nóng rẫy đổ trên tay cô nhức buốt nhưng Hân không quan tâm.

Cô luýnh quýnh chạy đi nhưng vấp phải chiếc ghế và ngã sõng soài. "Mình và Khương không thể kết thúc như vậy, không thể", Hân bật khóc ngon lành như một đứa trẻ.

Chợt một đôi tay mạnh mẽ nâng cô dậy và ôm siết cô vào lòng. Mùi da thịt quen thuộc khiến Hân như bừng tỉnh. Trước khi Hân kịp nhận biết điều gì đang xảy ra, một nụ hôn nồng nàn gắn chặt lên môi cô và giọng Khương thầm thì: "Em là cọp mà sao mít ướt thế? Anh mới trêu một tí đã khóc, vậy mà nỡ bỏ anh đi suốt một năm trời?".

Hân lắp bắp:"Anh... anh... không phải là anh...". Khương mỉm cười dịu dàng: "Anh chẳng đi đâu cả, có đi cũng phải tha con cọp này cùng đi. Anh chờ em ở đây suốt một năm qua. Em ác lắm, thoả thuận với mẹ mà chẳng nói với anh câu nào".

Anh biết hết rồi sao?".

Sáng nay, mẹ đã kể hết cho anh nghe và dặn anh phải đến đây đón em. Mẹ biết chúng ta yêu thương nhau thật lòng nên không phản đối nữa. Về nhà thôi em, mẹ đã làm thức ăn khuya, chờ con dâu tương lai về đó".

Hân cứ tưởng như mình đang mơ. Cô khẽ dụi đầu vào ngực Khương, miệng cười mà mắt đỏ hoe. Những bao lì xì đỏ đính lục lạc đang đong đưa reo vui như chia sẻ niềm hạnh phúc cùng họ. Mùa xuân đã ở khắp mọi nơi.


Vô tình lướt trên facebook và thấy câu chuyện này...khá là hay...đặc biệt pages này chỉ có số lượng member 3000 thôi nhưng số lượt bấm like gần 12k và 1000 lượt share+ vs 3000 lượt comment....bạn thấy sao...mình chúc cho các bạn gái tuổi Dần sẽ tìm được tình yêu như ý nhé.


Vô tình lướt trên facebook và thấy câu chuyện này...khá là hay...đặc biệt pages này chỉ có số lượng member 3000 thôi nhưng số lượt bấm like gần 12k và 1000 lượt share+ vs 3000 lượt comment....bạn thấy sao...mình chúc cho các bạn gái tuổi Dần sẽ tìm được tình yêu như ý nhé

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Người Bạn

Tác giả : Phạm Hồng Ân
Tác giả là một nhà thơ quân đội. Trước 1975, ông là một sĩ quan hải quân, từng tu nghiệp tại Mỹ. Sau năm 1975, ông trở thành người tù chính trị và định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. Ông cũng tham dự nhiều sinh hoạt cộng đồng tại San Diego và đã có nhiều bài tham dự Viết Về Nước Mỹ ngay từ những năm đầu tiên. Sau đây là bài viết mới của ông.

***

Tiếng chuông cửa reo vang, tôi chưa kịp đứng lên, chợt thấy bóng người đàn ông dán sát bên tấm cửa sắt từ lúc nào. Triều lật đật quay ngược tấm bìa xuống bàn, rồi chạy ào ra hướng cửa, mở khóa cót két.
- Ê, Thuần. Khỏe không? Ma quỉ nào chỉ lối dẫn đường, hôm nay lại đi lạc xuống khu bình dân này vậy?
Người đàn ông cười hề hề.
- Đi mời đám cưới. Còn có đứa con gái út, xin mời ông bà đến tham dự đưa cháu về nhà chồng. Mấy hôm nay cháu buồn rười rượi. Con gái mà...lần đầu xa cha mẹ...
Triều ngó qua tôi, trỏ vào người đàn ông.
- Thuần đó! Anh ta thuộc Hội Thánh Tin Lành Linda Vista. Làm hãng, nhưng có nghề tay trái là nhiếp ảnh. Anh đã tạo nhiều tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng trong cộng đồng.
Triều nhào đến Thuần, kéo tay hắn gắn chặt vào tay tôi.
- Thằng này là thằng Ân. Chắc mày cũng biết? Tau đang vẻ tranh bìa cho tập thơ của nó.
Thuần lại cười hề hề. Giọng cười buông thả. Tiếng nói chầm chậm, an lành...làm tôi nhớ đến một người bạn tù ngày xưa.
- Mẹ, Phải mày là Thuần Cạo không? Thuần trại tù Cao Lãnh chứ gì? Chuyên môn vác túi đi cạo gió, châm cứu cho các bạn tù bệnh hoạn chứ gì?
Thuần nhào tới, ôm tôi vào lòng.
- Đúng rồi. Thuần Cạo đây! Mày là Ân Ghẻ phải không?
Hai bạn tù gặp lại nhau, lòng bùi ngùi nhắc lại kỷ niệm xưa. Thế là, dỉ nhiên, tôi có một tấm thiệp cưới tham dự vào ngày vui của con gái bạn mình.

*
Trại tù Cao Lãnh nguyên là trung tâm huấn luyện Trần Quốc Toản của quân đội cộng hòa ngày trước. Sau ngày "xập tiệm", hàng ngàn sĩ quan miền nam bị đưa vào đó để tự khai tự kiểm, sau đó cộng sản mới phân loại đưa ra Bắc hoặc đi lao động khắp nơi. Tôi gặp Thuần ở đây.
Chúng tôi ngủ khác "sam" nhau, nhưng cùng chung một đội. "Sam" Thuần và "sam" tôi nằm nối tiếp theo đường dọc, chỉ cách nhau bởi một khoảnh sân đầy đá cục lởm chởm. Đội tù chúng tôi là đội tù cấp úy. Còn cấp tá thì "đóng đô" phía bên kia đường, ngó ra cái tiểu lộ đìu hiu dầy đặc ổ gà. Một hôm, bên đội tù cấp tá lao nhao lên vì có một ông trung tá nào đó treo cổ tự tử. Đội tù cấp tá lao nhao kéo đội tù cấp úy lao nhao theo. Khí tiết anh hùng của quân đội cộng hòa vẫn tiếp diễn, nối tiếp nhau cho đến khi bị cầm tù. Đội tù lau nhau, chỉ có Thuần lặng lẽ một mình rút lui ra cây trứng cá, tìm một chỗ vắng vẻ ngồi xếp bằng im lìm, mắt nhắm lại, mặt bất động...lạnh như đá. Thấy lạ, tôi phóng theo Thuần, lắc vai bạn.
- Mày cảm thấy thế nào? Có sao không Thuần?
Thuần mở mắt ra, nhìn tôi buồn buồn.
-Tau đang cầu nguyện cho ông trung tá vừa mất ở đội tù bên kia. Mày ngồi xuống đây, hiệp lực cầu nguyện với tau, nhanh lên!
Tôi loay hoay, lúng túng. Nào có biết cầu nguyện là ra làm sao? Nhưng cũng ngồi xuống với bạn, khấn vái theo ý niệm của mình.
Từ đó, tôi mới biết Thuần theo đạo Tin Lành. Đạo Tin Lành là đạo thờ Chúa. Tôi không biết những tín hữu theo đạo này đều có phong cách giống Thuần không? Riêng ở Thuần, anh quá hiền lành, quá độ lượng. Anh moi thùng rác chứa đồ phế thải của trung tâm huấn luyện ngày xưa tìm từng tấm thẻ bài, để dành cạo gió cho các bạn tù. Anh lượm những dây điện thoại hư hỏng, cắt từng khúc làm thành những cây kim châm cứu giúp người. Gặp việc khó, anh không từ nan. Lúc bực mình, không hề nóng nảy, giận dữ. Giọng nói anh luôn luôn chầm chậm, từ tốn mang an lành đến với mọi người. Nụ cười anh bao giờ cũng hề hề, thứ tha và bao dung trong mọi hoàn cảnh.
Rồi có một ngày thăm nuôi, đội tôi lại lao nhao vì cái tin vợ Thuần bỏ chồng đi lấy người khác. Tụi nó đồn um lên, vợ Thuần dắt người chồng mới đến giới thiệu, rồi nói lời chia tay với Thuần từ đây. Tôi bán tín bán nghi, vội chạy tìm Thuần hỏi ra sự thật. Thuần đang lui cui soạn mớ đồ nghề cho vào túi, chuẩn bị qua "sam" láng giềng châm cứu cho người bệnh.
- Sao? Thăm nuôi có gì vui không? Chị nhà vẫn khỏe?
Thuần cười hề hề.
- Cũng bình thường thôi. Bả vẫn khỏe re như con bò kéo xe.
- Bò kéo xe mà sao khỏe re, cha nội?
Thuần lại cười hề hề.
- Nó khỏe re nên nó mới kéo xe. Mà này, tau vừa có được thuốc Xuân Lộc ngon lắm, để tau chia cho mày một nửa.
- Được rồi, vụ đó sẽ tính sau. Bây giờ, xin hỏi ông một chuyện. Có trật thì bỏ qua. Có trúng thì chia xẻ với nhau. Đồng ý?
Thuần lại cười hề hề.
- Chuyện gì quan trọng thế? Bạn cứ hỏi mình đi!
- Vợ ông đã chia tay với ông, phải không?
Giọng Thuần chùng xuống, chầm chậm một cách nhẹ nhàng.
- Bà xã tôi có chồng khác rồi. Tội nghiệp, trước đây cô ta là học trò nghèo. Lấy tôi, cũng là thằng lính nghèo. Ông biết, thời buổi này, không nghề ngỗng gì, lại ôm thêm hai thằng con dại. Cô ta đành nương tựa vào người khác, đó là điều tất nhiên.
- Trời đất! Điều tất nhiên. Có nghĩa là ông không buồn đau, không than trách chi hết? Nhưng còn hai thằng con? Tệ nhất, ông cũng phải thương xót chúng nó chứ?
- Cô ấy nói, người đó hứa bảo bọc dưỡng nuôi hai đứa nhỏ một cách đàng hoàng. Mình lo không được, có người lo dùm. Mình chưa có dịp cám ơn họ, ở đó mà còn than với trách?
Bỗng dưng, Thuần kéo tôi vào lòng, vỗ nhẹ vào vai thân mật.
- Thôi, mình dẹp chuyện rắc rối này qua một bên đi. Biết đâu đây là ý Chúa. Biết đâu Chúa đang thử thách tôi đó!
- Sao Anh biết đây là ý Chúa?
Thuần cười hề hề.
- Mình phải có đức tin chứ! Đức tin là ngọn đuốc, soi đường cho mình đi tới. Không có đức tin, chúng ta dễ mù quáng trong cuộc đời...

*
Đám cưới con gái Thuần tưng bừng và thân mật. Khách tham dự đa số là dân HO. Số còn lại là tín hữu, các đồng nghiệp và các bạn nhiếp ảnh nghệ thuật. Hai ông xui, ngày trước, chung cảnh ngộ tù đày... nên dễ cảm thông nhau, hợp cùng hai bà xui ra tận cổng nhà hàng chào đón bà con cô bác đến chung vui. Đêm đó, Thuần sáng tác một bản nhạc tiễn cô con gái thân yêu về nhà chồng. Bản nhạc do chính cô dâu ca với tất cả tấm lòng. Lời và nhạc quyện vào nhau báo hiệu hạnh phúc mới đang tràn ngập ở phía trước, nhưng cũng nhắc nhở nỗi đau còn ràn rụa ở phía sau... khiến người ca tuôn rơi nước mắt, bồi hồi xúc động trước tình khúc của cha mình.
Tôi ngồi với Triều nơi góc cuối của nhà hàng nhìn Thuần tất bật tiếp đãi bà con một cách nồng hậu. Thuần lúc nào cũng vậy. Thành thật, hiền từ và hết lòng với mọi người. Trong tù cũng như ngoài đời, anh luôn cống hiến tài năng và sự hiểu biết của mình để giúp đỡ xã hội.
Nhắc đến cảnh tù, tự dưng quá khứ lại hiện về trong tôi một cách xót xa. Thuần bị vợ bỏ ngay từ lúc còn ở trại tù Cao Lãnh, vậy bà vợ này là bà vợ thứ hai của Thuần? Nếu là bà vợ thứ hai thì hai đứa con gái sau này là con ai? Vì nếu tính tuổi của con gái út thì năm cháu sinh ra cũng là năm Thuần nằm sầu đời trong trại tù?
Tôi đem những thắc mắc này chia xẻ với Triều. Triều ngó tôi xuýt xoa, thằng Thuần tốt lắm tốt lắm, ngày mai có dịp tau sẽ giải thích cho mày...

*
Ra tù, Thuần về thẳng tá túc nhà cha mẹ ruột, khi biết chắc vợ mình đang sống hạnh phúc với người đàn ông khác. Nhà cha mẹ Thuần cách nhà vợ không xa, cả hai đều nằm chung trong khu Xóm Chùa Tân Định. Hai đứa con trai bây giờ đã lớn, mỗi ngày đến trường đều đi ngang qua nhà Thuần. Hai đứa đều biết mặt cha, vì từ nhỏ Mẹ đã nhiều lần dẫn con về Cao Lãnh thăm nuôi Thuần. Mỗi tuần, các cháu về thăm ông bà nội một lần. Lần nào, chúng cũng quây quần bên cha, hoặc ăn uống vui vẻ và sẵn sàng đi đây đi đó với cha suốt ngày. Thời gian sống với người đàn ông khác, vợ Thuần cho ra đời thêm hai đứa con gái nữa. Mười bốn năm đằng đẵng trôi qua, Thuần chỉ biết đạp xích lô mưu sinh. Sáng nào cũng vậy, trước khi thả ra Sài Gòn tìm mối, Thuần đạp một hơi qua nhà vợ cũ, chở hai đứa con ruột và hai đứa con của người đàn ông kia đi học. Buổi trưa, canh giờ tan học, Thuần quành về cổng trường, chở các cháu trả về nhà vợ.
Tôi ngồi bên tách cà phê đã lạnh tanh nghe Triều kể chuyện. Câu chuyện thương tâm đến nỗi tôi muốn uống rượu để dằn cơn đau xót, thay vì nhắp tách cà phê đậm đà hương vị. Cuối cùng, tôi đẩy cái tách sang một bên, vội vàng đứng dậy, đi về phía cánh cửa.
- Rồi diện HO mở rộng. Lý do nào vợ Thuần lại trở về với Thuần, rồi cùng nhau đi Mỹ, có cả hai đứa con gái của người đàn ông kia?
- Còn lý do nào khác ngoài tình thương và lòng nhân từ. Đó là điểm tốt của Thuần. Một người rất hiếm có ở xã hội chúng ta.
- Người đàn ông kia thì thế nào? Ông ta không có ý kiến nào hết?
Triều tiến đến gần tôi, vỗ lên vai độp độp.
- Ông thơ ngây quá! Sau 30 tháng tư năm 1975, ở miền nam, không có thằng "cốm" việt cộng nào không có vợ con đùm đề. Người đàn ông kia cũng vậy, hắn nhào vô vợ Thuần cũng chỉ để "vui chơi" một thời gian thôi. Tội nghiệp, hai đứa cháu gái chẳng khác nào hai giọt máu rơi của hắn.
- Vậy là Thuần thương vợ thương con, thương luôn cả hai giọt máu rơi đó, nên đã đứng ra làm giấy tờ đưa tất cả qua Mỹ?
- Chưa hết. Qua đây, Thuần làm luôn hai "ca" nuôi bốn đứa con ăn học. Hôm nay, bốn đứa thành tài, tất cả đều có nghề nghiệp ngon lành. Đặc biệt, bây giờ hai đứa con gái lại thương và chăm sóc Thuần hơn hai đứa con ruột.
Tôi chợt nhớ có lần đọc đâu đó những lời răn của Đức Chúa Trời.
- Ê, Ông biết Thuần có đạo Chúa. Tôi nhớ mài mại là...một trong những điều răn của đạo... đại khái có một câu như vầy: Hãy yêu thương mọi người như yêu thương chính bản thân mình.
Triều giả giọng Thuần cười hề hề.
- Yêu thương luôn kẻ thù của mình.

*

Thuần thân, Tau muốn viết chuyện này từ lâu, nhưng mỗi lần khởi sự, tau cảm thấy ngần ngại, rồi dừng lại. Mấy chục năm rồi, vết thương dường như đã thành sẹo, tau không muốn khơi lại quá khứ đau thương, tau không muốn làm mày xót xa, nhức nhối khi nhắc lại. Nhưng càng ngày, hình ảnh và tấm lòng cao quí của mày cứ thôi thúc, cứ bức rức trong tau, khiến tau không thể không viết lên chuyện này.
Thuần thân, biết đâu câu chuyện thương tâm này sẽ góp một phần nào vào dòng lịch sử tang thương của dân tộc, sau 30 tháng tư năm 1975. Nếu không, câu chuyện cũng sẽ là tấm gương cho bọn đàn ông của cả hai chiến tuyến. Và nếu không nữa, tau xin thật tình vô vàn tạ lỗi cùng mày...

PHẠM HỒNG ÂN

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Tuổi Già Đất Khách

Huy Phương

Trong chúng ta, đến tuổi xế chiều, nhiều người đang sống với con, còn vợ, còn chồng bên cạnh còn thấy buồn, nhưng nghĩ đến những vị cao niên, cô độc trong những căn nhà già thiếu sinh khí, nhiều khi không nghe một tiếng nhạc, không nghe một tiếng nói, một tiếng cười trẻ thơ, nỗi buồn ấy càng lớn biết bao !

Ông già cô độc : 27 năm tù, 25 năm xa xứ

Toà nhà màu hồng 11 tầng mang số 901 nằm ở góc đường First-Flower, thành phố Santa Ana, như những bao diêm xếp đều đặn, trông có vẻ thiếu sinh khí, buồn nản. Cũng như những chung cư dành cho người cao niên khác, trong những toà nhà này, vì sống đơn lẻ một mình, nhiều người đã qua đời mà không ai hay biết. Hầu hết chủ nhân những căn phòng trong cư xá là người Việt Nam, một ông hay bà đơn độc hơn là có đũa có đôi. Ðây là loại “nhà già” cho những người cao niên còn đủ sức khoẻ, không cần người hỗ trợ hay chăm sóc về y tế hằng ngày. Qua phòng khách, tôi thấy có 4 bà đều là dân Nam Mỹ, đang ngồi móc hoặc đan len với nhau. Chúng ta ít thấy người Việt tụ tập trò chuyện hay ngồi với nhau trong phòng khách, hình như người mình thích sống một mình và có những sinh hoạt riêng tư, thường đi ra ngoài hay ở trong phòng một mình. Trên đường lên thang máy, tôi gặp một bà cụ đi walker chậm rãi, yên lặng trên dẫy hành lang đèn sáng. Hành lang dẫn đến những căn phòng trải thảm sạch sẽ, không kém gì những khách sạn hạng sang ở Las Vegas, đèn đuốc sáng trưng, nhưng im lìm, vắng lặng.

Ở chung cư Flower Park Plaza này có một ông già người Việt đơn độc, sống ở đây đã hơn 5 năm ở tầng lầu thứ 10. Ông không có gia đình, con cái hay thân thích ở quanh đây, tuổi già đau yếu, lại sống một mình trên đất khách, ông mang nỗi buồn tha hương, dù là sống giữa một cộng đồng người Việt đông đúc nhất nước Mỹ.

Tôi muốn nhắc tên một người mà độc giả có lẽ ai cũng biết hay đã từng gặp ông, đó là ông Nguyễn Chí Thiện, một người làm thơ và đã trải qua một đoạn đường cay đắng, chông gai, không có tuổi thanh xuân, không có tình yêu và ngay cả những ngày cuối cuộc đời khi ông được đến Mỹ, xứ sở của tự do, Nguyễn Chí Thiện cũng phải chịu nhiều cơn sóng gió, vùi dập ông như một cánh bèo trôi giạt trên sông những ngày mưa bão.
Image
Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện

Ông chưa bao giờ lập gia đình như những người bình thường khác, vì năm 22 tuổi đã vào tù lần đầu 2 năm rưỡi, lần thứ hai 11 năm rưỡi, lần thứ ba khi Trung Cộng đánh vào biên giới Việt Bắc, chính sách tập trung những người nguy hiểm đã đưa ông vào lại nhà tù thêm 14 năm nữa, tổng cộng 27 năm. Thuộc thành phần phản động, chống chế độ, lại bệnh tật thường xuyên, cuộc đời của ông không hề có chỗ cho một cuộc hôn nhân, có quyền được một mái gia đình riêng êm ấm. Ông Nguyễn Chí Thiện thổ lộ, ông chẳng còn thời gian để yêu ai, mà trên đời này cũng chẳng có ai đem lòng yêu ông. Tấm thân ông, cuối đời lại lang bạt quê người, liệu còn ai cô đơn hơn ông nữa.

Trong những thời gian cách khoảng khi ông không ở trong nhà tù là những ngày đói khổ phải lo miếng ăn, mơ ước chuyện vượt biên vào Nam, nhưng phương tiện không có, nghìn người ra đi thì may ra chỉ có một người bơi được qua sông trót lọt. Ý nghĩ của ông Nguyễn Chí Thiện ngày đó là một người đang sống mất tự do không khác gì hơn là một người đang bị chôn sống.

Ra tù năm 1991, bốn năm sau ông được người anh ruột là cựu trung tá ngành tình báo Nguyễn Công Giân, bị tù « cải tạo » 13 năm, đi Mỹ theo chương trình H.O. bảo lãnh cho ông đến Virginia. Năm 1998, cùng với nhà văn Vũ Thư Hiên, ông được cơ quan Nghị Viện Quốc Tế Các Nhà Văn ( International Parliamentary Writers) đài thọ sang “bồi dưỡng” để lấy lại sức khoẻ ba năm tại Paris. Cuốn hồi ký Hoả Lò được viết trong thời gian này. Năm 2001, ông Nguyễn Chí Thiện trở về Virginia với gia đình ông Giân, nhưng khí hậu ở đây không thích hợp với bệnh tật kinh niên của ông là bệnh phổi, nên ông quyết định về sinh sống tại Nam Cali, nói rõ hơn la tại vùng Little Saigon. Ông trôi nổi đời ở trọ từ căn nhà nhỏ của nhạc sĩ Hồ Văn Sinh, rồi tới căn Mobilhome với nhà văn Phan Nhật Nam, rồi trở lại với Hồ Văn Sinh, ở đâu cũng có một chiếc giường nhỏ, cái TV và cái bàn viết. Ông tự giặt giũ và thổi cơm lấy cho hai bữa ăn của mình, lẽ cố nhiên là đơn giản đến mức như một người chay tịnh. Cuối năm 2009, ông Nguyễn Chí Thiện được về trú ngụ trong căn chung cư này trên đường First, một căn studio, sở hữu một cái tủ lạnh và tiện nghi bếp núc, phòng tắm riêng cho mình.

Một ngày của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện

06 giờ sáng đã thức giấc, nhưng đến 09 giờ mới ra khỏi giường, vì đêm nào cũng phải phải ba giờ sáng ông mới ngủ được. Làm vệ sinh cá nhân xong, pha cho mình một bình trà, ông ngồi vào máy computer đọc báo và nhận gởi thư tín cho đến trưa. Khoảng 13:00 ông mới vo gạo nấu nồi cơm điện rồi hâm thức ăn đã làm sẵn để trong tủ lạnh. Tí bắp cải, tí cà chua, chút cá, chút trứng cho qua bữa, nhiều khi mệt mỏi, buồn bã ông không muốn gượng dậy vào bếp để nấu và ăn cho xong bữa cơm.

Tôi đến thăm ông lúc 15:00 giờ, vào căn bếp để quan sát ông ăn uống ra sao, cho bài phóng sự, chứ không phải tò mò nhìn vào nếp sống riêng tư của ông. Bên bếp chỉ có một nồi cơm nhão khoảng một « cup », chưa có dấu cơm được bới ra, trên bếp là một chiếc « xoong » nhôm để không, còn sạch sẽ. Như vậy là hôm nay, từ sáng ông chưa ăn gì, chỉ mới gượng gạo vò cúp gạo, nấu nồi cơm, rồi ... để đó. Nhà báo chưa đám mở tủ lạnh ra để xem chiều nay ông có gì để ăn không.

Ông cho rằng bây giờ ăn chỉ còn là « nghĩa vụ », không còn thấy thích, vì vậy mỗi ngày phải thường uống thêm nhiều thứ thuốc bổ và ăn bột protein. Ăn trưa xong thì ông đọc sách hay mặc áo quần thật ấm, xuống đường đi bộ loanh quanh vài vòng cho giãn gân cốt. Ông có nhiều bạn bè trong giới văn chương còn nhớ đến ông, thinh thoảng ghé qua chở ông đi dự một hai sinh hoạt cộng đồng cần thiết hay ra ngoài ăn bát phở để thay đổi không khí tù túng của một căn phòng chật hẹp.

Những lúc cần đi mua ít thức ăn, ông xuống đường, lấy chuyến xe bus trên đường First đi về hướng West xuống chợ ABC mua ít thức ăn rồi trở về. Ông cũng chọn bác sĩ gia đình và nhà thuốc ngay trên tuyến đường này.

Từ xưa đến nay, ông chưa bao giờ lái hay sở hữu một chiếc xe hơi vì mắt ông rất kém. Mười lăm năm nay, ông chỉ đi nhờ xe bạn bè, dùng xe bus hay cuốc bộ.

Tôi hỏi ông, là một nhà thơ nổi tiếng, được nhiều người hâm mộ, có ai ưu ái, thấy ông sống một mình, không vợ không con, đem thức ăn đến nuôi ông không. Ông Thiện cho biết có vài vợ chồng đến thăm, cũng như một cô cháu xa, thấy ông vụng chuyện nấu nướng nên thỉnh thoảng mang lại cho một món ăn, chứ không có « bà già » nào thuộc « diện tình cảm » cả. Buổi chiều, mệt mỏi, ông Nguyễn Chí Thiện lên giường khoảng 10, 11 giờ nhưng không ngủ được trước ba giờ đêm. Trong câu chuyện không lúc nào tôi không thấy ông cười. Ông có vẻ mệt mỏi, gầy yếu, da xanh mướt và hình như ông đang có một nỗi buồn lớn lao nào đó chế ngự tâm hồn ông.

Tuổi già đất khách : "Ðêm nảo đêm nao tớ cũng buồn ! "

Ông Nguyễn Chí Thiện không có bệnh tật gì trầm trọng, cũng cao máu, cao mỡ như những vị cao niên khác, nhưng cuộc đời ông đã phải 27 năm nằm trong nhà tù, mà lại nhà tù Cộng Sản, 15 năm ra hải ngoại sống một mình, ăn uống thất thường, tình cảm lại cô đơn, lúc nào ông cũng cảm thấy mệt mỏi, buồn bã. Về Mùa Ðông, ông lại hay bị cảm, chóng mặt, nhưng có lẽ tinh thần làm ông xuống sức. Ðó là nỗi buồn dai đẳng theo ông.

Không những thấy buồn, ông Nguyễn Chí Thiện tâm sự lúc nào lòng cũng thấy bồn chồn lo lắng, phải chăng đó là dấu hiệu của bệnh trầm uất, nhất là của một người sống một mình, không có ai bên cạnh để chia sẻ nỗi vui buồn, và càng ngày càng đắm chìm trong nỗi buồn riêng tư ấy. Có khi người ta buồn những cái buồn vô cớ, nhưng cũng có những nỗi buồn có tên đeo đẳng chúng ta suốt cuộc đời. Ðối với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, ông canh cánh bên lòng nỗi buồn về quê hương.

Năm 1991 khi Liên Bang Xô Viết tan rã, ông Thiện tiên đoán “chậm lắm là năm 2001, nghĩa là 10 năm sau, đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ đi vào bóng tối và Việt Nam sẽ được dân chủ hoá”.

Bây giờ đã năm 2011, chưa có dấu hiệu gì đất nước thoát khỏi sự cai trị của đảng Cộng Sản, mà thân nhân, bà con, bạn bè lần lượt ra đi. Việc hy vọng có một ngày nào được trở lại để thăm làng quê, mồ mả, thân quyến họ hàng càng ngày càng xa, trong lúc đó, tuổi càng ngày càng cao, sức khoẻ mỗi ngày một yếu. Cả một thời tù đày, vất vả, ngay cả miền Bắc ông cũng không biết nhiều, cả cố đô Huế cũng chưa được đến. Nhưng lẽ cố nhiên, nhà thơ chống Cộng này sẽ trở lại Việt Nam khi đất nước có được dân chủ tự do, nhưng với tuổi đời và bệnh tật của ông, hy vọng này càng ngày càng mong manh, vì vậy mà nỗi buồn lớn vẫn còn. Nhận định về tình hình tranh đấu dân chủ trong nước, ông Nguyễn Chí Thiện cho rằng, cá nhân thì có, nhưng tạo được một phong trào quần chúng thì chưa. Nói về những công việc trước mắt và những chuyện chưa làm được, cá nhân nhà thơ Nguyễn Chí Thiện mong sẽ hoàn thành cuốn hồi ký, nhưng chỉ cô đọng trong vòng 300 trang. Trở ngại là khi ông ngồi trước máy computer lâu để đọc hay viết, mắt đau nhức và ông có cảm tưởng như mắt bị lồi ra.

Ðời sống của một người già ở Mỹ được săn sóc thuốc men, trợ cấp, nhà cửa, thực phẩm đầy đủ, nói chung là không còn phải lo đến cái ăn, cái mặc, nhưng về mặt tinh thần, một người già sống xa quê hương, không gia đình, bà con, thân thích như ông, phải nói là đơn độc, buồn nản. Ðêm nào khó ngủ, ông cũng buồn như nỗi buồn thế sự của nhà thơ Trần Tế Xương : “Ðêm nảo đêm nao tớ cũng buồn !”.

Cũng chịu cảnh tù đầy 27 năm, Nelson Mandela của Nam Phi ra tù, ông có đủ gia đình, vợ con và danh vọng của một tổng thống. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cũng ở tù vì tranh đấu chống cường quyền, ra tù, ông chịu cảnh lưu vong, ốm đau và cô đơn trên xứ người.

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Trung Tâm Vân Sơn thu hình tại Chicago

Ðức Tuấn/Người Việt

HAMMOND, IN (NV) - Nghệ sĩ hài Vân Sơn cũng là chủ nhân của trung tâm ca nhạc Vân Sơn vừa khẳng định với nhật báo Người Việt
về hai buổi diễn, thu hình tại chỗ cho tác phẩm DVD Vân Sơn 48: “Vân Sơn In Chicago Land - Những Ngày Nắng Ðẹp” sẽ được mở màn lúc
9 giờ tối Thứ Bảy, 31 Tháng Ba và 9 giờ tối ngày Chủ Nhật, 1 Tháng Tư, tại đại hí viện Venue-Horseshoe Casino, 777 Casino Center Dr.,
Hammond, IN 46320.

Image
Ca sĩ Tina Tình. (Hình: Trung Tâm Vân Sơn cung cấp)


“Chỉ còn một hai tuần nữa là đến ngày thu hình của chương trình 'Vân Sơn In Chicago Land - Những Ngày Nắng Ðẹp' nên hiện nay chúng tôi đang ráo riết đưa ca sĩ vào studio để thu âm trước,” ông chủ Vân Sơn chia sẻ với phóng viên Người Việt về những công việc cần thiết trước khi đoàn anh chị em nghệ sĩ lên đường sang Chicago.

Ðược biết thành phần ca nghệ sĩ tham gia hai đêm diễn vẫn không có gì thay đổi như: Chế Linh, Thanh Tuyền, Tuấn Ngọc, Giang Tử, Trường Vũ, Kasim Hoàng Vũ, Cát Tiên, Thu Minh, Linda Chou, Tinna Tình, Hoàng Thục Linh, Dương Ngọc Thái, Triệu Minh, Lê Nguyên, Lê Nhựt Minh, Trần Khúc Minh.

Gần như đã trở thành thói quen tốt, cứ mỗi lần trước khi đưa quân đến bất cứ thành phố, đất nước nào mới để thực hiện chương trình thu hình thì Trung Tâm Vân Sơn đều chuẩn bị phần thu hình ngoại cảnh, tìm hiểu những nét đẹp, truyền thống văn hóa lâu đời của từng địa danh và đó được xem là những thước phim tài liệu hiếm quý được chiếu ngay sau hay trước chương trình ca nhạc chính của Trung Tâm Vân Sơn.

Lần này cũng thế theo nghệ sĩ Vân Sơn cho biết anh và đoàn làm phim đã tốn một vài tuần để đến Chicago tìm hiểu và quay ngoại cảnh về đời sống ở đó, một số khán giả, fans của trung tâm Vân Sơn đã cho biết họ rất thích phần phim ngoại cảnh này vì giống như họ đã có cơ hội đi du lịch, hiểu biết thêm về một nơi chốn mới trên thế giới hay trên nước Mỹ.

Theo phần giới thiệu về các diễn viên hài trên poster thì không thấy để riêng tên mà lại đứng chung với các MC như: Jennifer Phạm, Vân Sơn, Bảo Chung, Quang Minh & Hồng Ðào, Kiều Oanh, Lê Huỳnh, Minh Nhí, Hữu Nghĩa.

Giá vé không thấy trong poster đề cập đến là bao nhiêu? Nhưng để liên lạc mua vé xin gọi: Trung Tâm Vân Sơn: (714) 799-1566.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Tiếng Huế, Một Ngoại Ngữ Người bạn đời gốc Bắc của (nhà văn) Túy Hồng có lần đã phát biểu cảm nghĩ về tiếng Huế như sau:

"Người Huế nói chuyện với nhau bằng ngoại ngữ Huế, người Nam người Bắc đứng ở ngoài nghe, không làm sao chen vào được một câu" . (Túy Hồng, Áo Rộng Khăn Vành, Tiếng Sông Hương 1990, t.14) .

Mới nghe qua, tưởng như đùa, nhưng đem đối chiếu với kinh nghiệm thực tế qua giao tiếp thì quả ý kiến ấy không phải là không có lý, tuy hơi cường điệu một chút. Ai trong người Huế trên bước đường tha hương lại không hơn một lần gây bối rối cho người đồng hương khác xứ khi đối thoại với rặt giọng sông Hương?

Sau năm 1954, hơn một triêu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam để tránh hiểm họa Đỏ, đã sống rải rác khắp mọi miền dưới vĩ tuyến 17. Dù ở đâu, dù mấy chục năm đã trôi qua, họ vẫn giữ nguyên giọng Bắc, chỉ thay đổi một vài thổ ngữ cho dễ chuyện trò thông cảm.

Còn Huế mình, khi tha hương, đa số đều đổi giọng, hoặc Nam hoặc Bắc; nếu không được khéo léo rặt ròng như Bắc Nam chính cống thì cũng lơ lớ cho người khác xứ dễ nghe, chứ không còn rặt Huế nữa, ngoại trừ khi nói chuyện trong gia đình hay với đồng hương Cơm Hến.

Việc không đổi giọng của đồng bào miền Bắc di cư và việc đổi giọng hay pha giọng của người Huế tha hương, có người cho rằng đó là dấu hiệu của mặc cảm về giọng nói. Tôi không nghĩ như thế.

Đồng bào miền Bắc tha hương vẫn giữ nguyên giọng nói, không phải do mặc cảm tự tôn, tự cho rằng đó là một giọng nói hay, không việc gì phải đổi. Mặt khác, người Huế tha hương thường đổi giọng cũng không phải vì mặc cảm giọng nói của mình trọ trẹ khó nghe. Tất cả chỉ là sự đáp ứng thực tế của cuộc sống, sự thích nghi với hoàn cảnh.

Việc gì đồng bào miền Bắc phải đổi giọng khi giọng nói ấy không gây trở ngại nào trong đối thoại? Tại sao mình cứ khăng khăng giữ nguyên giọng Huế trong giao tiếp, khiến đồng bào khác xứ không hiểu gì cả, phải tốn công lặp đi lặp lại, giải thích này nọ, mất thì giờ? Như vậy làm sao dễ cảm thông với nhau cho được? Không đổi hay đổi, tất cả chỉ là thế. Không mặc cảm, không gượng gạo.

"Thương nhau thương cả đường đi . . ." . Thanh Nam quen với "nhỉ, nhé, hộ, gì cơ, làm sao . . . " nhưng vì yêu Túy Hồng nên phải ráng nghe và hiểu "hí, nghe, giúp, cái chi rứa, làm răng . . . " . Còn người dưng nước lã với nhau, lấy gì làm áp lực để buộc người ta phải hiểu điều mình nói?

Nói mà người khác không hiểu hay khó hiểu là một nhược điểm nên tránh trong giao tiếp. Vì vậy, sự điều chỉnh cho thích ứng với nhu cầu thực tế là sự thích nghi hoàn cảnh một cách khôn ngoan . Người Tàu tới nơi nào cũng sống được và sống giàu sống mạnh, là nhờ tinh thần hội nhập thực tế . Tuy vậy, không bao giờ đánh mất bản chất Trung Hoa của họ . Hòa mà không hùa là thế .

Ai cũng biết Tổng Thống Ngô Đình Diệm vốn quê Lệ Thủy, Quảng Bình nhưng sinh trưởng ở Huế. Nói chuyện với người Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, ông nói tiếng Huế nhưng khi nói trước công chúng, khi đọc diễn văn hay thông điệp, bao giờ ông cũng dùng giọng Nam. Ông mang mặc cảm giọng Huế trọ trẹ chăng? Hiển nhiên là không.

Trong nước, ông là người có quyền lực nhất, nhưng không vì quyền lực đó để buộc quốc dân phải nghe cho được giọng Huế khó nghe của ông. Ông cần được hết thảy người dân của mọi miền đất nước nghe, hiểu và thông cảm. Đổi giọng, vì thế là một sự cần thiết để đáp ứng nhu cầu thực tế.

Trong bài viết nói trên, Túy Hồng có một nhận xét rất đúng: "Giọng Huế không phải là giọng nói trước đám đông, mà có thể chỉ là một giọng nói trong phòng khách" . Đó cũng là một trong những lý do trong sự đổi giọng của Tổng Thống Diệm, trong việc giả giọng Bắc của Hoàng Thi Thơ khi điều khiển các chương trình ca nhạc, của Như Hảo trên đài phát thanh và truyền hình v.v...

Nói trước đám đông thì dở nhưng rỉ rả trong phòng khách thì rất dễ lọt tai. Có lẽ cũng vì cái ưu điểm "giọng nói trong phòng khách" đó nên nhiều chàng trai khác xứ đã lăn xả vào làm rể xứ Huế chăng ?

Tôi không phải là một nhà ngữ học . Vì vậy, những điều trình bày ở đây chỉ là những ý kiến rất thô thiển, có tính cách thường nghiệm của một kẻ bình thường . Đứng trước một thực tế là giọng Huế khó nghe, tiếng Huế khó hiểu ("ngoại ngữ Huế ") đối với đồng bào các miền khác, có nên chăng thử đặt câu hỏi tại sao ? Để dễ thông cảm .

Ở đây xin tạm hiểu "giọng" là nói về thanh âm phát ra từ người nói và "tiếng" dùng để chỉ về ý nghĩa của chữ dùng . Đôi khi, trong "tiếng" bao gồm luôn cả "giọng", chẳng hạn cái tiêu đề tạm dùng ở trên .

Giọng Huế khó nghe đối với đồng bào khác xứ, phải chăng vì thanh âm do người Huế phát ra thuộc một âm vực khó nhận ra ? Tôi có cảm tưởng như khi phát âm, người Bắc thiên về giọng thấp, người Nam đi giọng cao, còn người Huế thì bình bình .

Phải chăng cái đặc tính bình thanh này khiến nó trở thành khó nghe ? Điều này xin để bàn tay chuyên môn của các nhà âm ngữ học can thiệp . Riêng tôi nghĩ rằng nếu miền Bắc và miền Nam có giọng nói dễ nghe, họ lại rất khó giả giọng miền khác . Trái lại, nếu âm vực giọng Huế thuộc loại bình bình, trung tín, khó nhận ra đối với người ngoài, thì cũng chính nhờ đặc điểm trung tín này đã giúp người Huế có thể giả giọng khắp mọi miền không mấy khó khăn .

Giọng Bắc, giọng Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Saigon . . . người Huế đều giả được tuốt . Cũng tỉ như nước lã không màu; nước không màu chứa trong ly thủy tinh trong suốt khó thấy; muốn cho người ta dễ thấy thì pha màu, và muốn pha màu gì cũng được .

Nghĩ sao nói vậy, chứ tôi biết rằng ý kiến trên sẽ bị bà con khác xứ chỉnh ngay, vì đã hơn một lần anh bạn người Nam nói với tôi rằng "Con gái Huế thì thanh tao, nhẹ nhàng, nhưng tiếng Huế của mấy ông nghe nặng lắm ."

Người Huế phát âm không phân biệt dấu hỏi dấu ngã; không phân biệt có "g" với không "g", "c" với "t" . Nếu từ Quảng Nam trở vào người ta khó phân biệt "b" và "p", đến nỗi khi đánh vần thường hỏi nhau "bê bò hay pê phở" và ngay cả đến những bậc khoa bảng tiếng Tây như gió cũng có lúc nói âm "pê phở" chưa chỉnh, thì ở Huế, tại vùng quê và ngay đối với lớp người già sống tại thành phố, người ta không phân biệt âm "gi", "d" và "nh" . "Người già" và "người nhà" đều được nói giống nhau .

Sau khi làm xong cái nhà, tôi nói chuyện với ông chú già: "Mặc dù cháu tính khá kỹ, vậy mà cuối cùng cũng phải mượn thêm của bạn bè mới đủ, vì số chi phí vượt quá mức dự trù" .

Ông cụ thản nhiên đáp: "Cháu không nghe à, ôn mệ mình từ xưa nay đã nói là làm già (đồng hóa làm nhà và làm già, nghĩa là làm đôi ra, làm nhiều hơn) chớ có nói làm non mô; mà đã làm già thì hụt tiền thôi ."

Trộn lẫn giữa âm thanh và ý nghĩa quả thật là một lối chơi chữ rặt kiểu Huế, các bạn khác miền e khó mà thưởng thức .

Tôi không biết chắc khi một người ngoại quốc học tiếng Việt, cái khó nhất đối với họ là gì ? Cách phát âm với năm thanh (sắc, huyền, nặng, hỏi, ngã và không dấu) bằng trắc khác nhau, nghe như điệu hát chăng ? Văn phạm chăng ? . . .

Riêng đối với người Việt, có lẽ việc đánh dấu hỏi, ngã cho đúng cũng đã là một vấn đề . Hồi còn học tiểu học, thầy dạy lớp Nhất đã truyền cho lũ nhóc đệ tử chúng tôi một bí quyết để viết hỏi ngã cho đúng, với "câu thần chú ":

"Anh Huyền ngã nặng, hỏi con dao có sắc không ?"

Ý thầy muốn chúng tôi phải nhớ rằng trong một từ kép, hễ chữ nào đi với chữ có dấu huyền hay dấu nặng thì đánh dấu ngã; còn chữ nào đi với chữ có dấu sắc hay không dấu thì đánh dấu hỏi, trừ một vài ngoại lệ phải thuộc lòng . Chẳng hạn:

- Nghĩ ngợi / nghỉ ngơi
- Sừng sững, sửng sốt

Thần chú như thế kể cũng linh nghiệm thật, nhưng khi viết chính tả cũng phải tốn công suy nghĩ, hơi . . . mệt . Tôi vái trời khi đi thi tiểu học được gặp một thầy giáo hay cô giáo người Bắc, vì tôi nghiệm ra rằng người Bắc phát âm dấu hỏi dấu ngã rất đúng . Ấy là nhờ gần gũi với một ông Hà Nội đang tán bà chị tôi .

Cho đến bây giờ vẫn thế, bộ óc tôi ghi nhận rằng khi phát âm dấu ngã thì người Bắc nói nghe như dấu sắc (nghĩ ngợi . . . nghí ngợi) và dấu hỏi nghe như dấu nặng (nghỉ ngơi . . . nghị ngơi) .

Giả giọng Bắc mà không biết qui luật này sẽ đánh dấu hỏi ngã sai bét và lòi đuôi "giả cầy" ngay . Một ông nhạc sĩ nọ gốc miền Trung, thường nói giọng Bắc trên TV, trước 75 có lần bị báo chí diễu là "người nói giọng Bắc hay nhất nước" cũng chỉ vì không để ý điều đó .

Cách đây non 30 năm, lần đầu tiên khi đọc một cuốn truyện (không nhớ tên) của một văn sĩ người Bắc (không nhớ bút hiệu) đến đoạn đối thoại của một nhân vật nữ người Huế, tôi vừa cười thích thú , vưa giận . Thích thú, vì tác giả viết rất có duyên . Giận là giận mấy ông thợ nhà in sắp chữ (tôi đinh ninh thế) .

Ai đời "Thôi em về hí", lại sắp chữ thành "Thôi, em về hỉ" . . . Chữ "hí" của người ta viết với dấu sắc, nghe dịu dàng êm ái như rứa, đem sửa lại thành "hỉ" với dấu hỏi, nghe lãng xẹt, vô duyên như ăn cơm hến thiếu ruốc .

Trong lời nói thường nhật của người Huế, HÍ là một từ đệm, đóng vai trò như NHÉ hay NHỈ tiếng Bắc và NHA tiếng Nam . . . Tôi cứ thầm cằn nhằn và giải thích như thế với mấy ông ấn công vô danh; mãi sau mới có dịp biết rằng mình đã nghĩ oan cho họ . Hầu như trong các truyện có dính líu đến ngôn ngữ của xứ Huế, chữ HÍ đệm ở cuối câu đều được nghe và viết thành HỈ .

Khi người Huế phát âm những chữ thuộc về dấu sắc, người Bắc và người Nam đều nghe thành dấu hỏi hoặc dấu nặng . Đó là lý do HÍ biến thành HỈ . Điều đáng nói là sai lầm này cũng hiện diện trong những tác phẩm do chính người Huế viết ra . Lỗi ở ấn công chăng ? Nếu không, đó là điều khó hiểu .

Trong bài "Tôi Không Yêu Tiếng Huế" (Tiếng Sông Hương 1990), tác giả Phàm Phu đã viết rất dí dỏm về những trở ngại do giọng Huế và tiếng Huế gây ra trên chốn giang hồ, vì người khác xứ nghe dấu khác đi .

Một thiếu nữ Hà Thành khi nghe một thanh niên Huế ngỏ lời: "Cô cho tôi xin một cái bóng (tấm hình) của cô để làm kỷ niệm . . ." đã ngơ ngác hỏi lại "Thưa, anh bảo cái bọng gì cơ ạ ?" (t. 45) .

Một ông người Huế khi vào hội tứ sắc đã hỏi làng "Hôm nay tui biết tui hên nên muốn đánh lớn . Mấy bà có chịu hai cắc (một lệnh) không ?" Câu nói này đã làm cho một bà người Nam giận dữ bỏ chơi, vì nghe lầm dấu sắc ra dấu nặng, tưởng ông kia ăn nói xí xọn (t. 46) .

Thời gian ở tù Cộng Sản trong trại "cải tạo", được sống gần gũi với anh em người Quảng Nam, tôi mới biết giọng Huế đã được nghe như thế nào . Buổi tối, trong khi chờ tới giờ ngủ, anh em thường tụ tập chơi cờ hoặc kể chuyện vui cho đỡ buồn . Có lần một anh bảo tôi: "Đố anh nói to và đúng câu 'Đem vở vô buồng, học đủ rồi ra ' " .

Dĩ nhiên là tôi đáp ứng ngay, dõng dạc, rõ ràng . Câu nói vừa dứt, lập tức tiếng vỗ tay và tiếng cười khoái trá nổi lên . Có cả tiếng hô "hay, hay ! nói tiếp đi" . Tôi ngơ ngác không hiểu, vì không tin rằng câu nói đơn giản đó lại có hiệu lực chọc cười đến thế . Ông bạn ăn chung mâm vừa cười vừa cắt nghĩa "Tụi tui nghe người Huế nói dấu hỏi thành dấu nặng cả, nên mới phịa ra câu đó để chọc anh đó" . À ra thế !

Giọng Huế tuy khó nghe với người khác xứ nhưng rất dễ chỉnh: trong lúc nói chuyện, chỉ cần đổi "tông" lơ lớ đi một chút là người nghe thoải mái ngay . Tiếng Huế mới là cả vấn đề, bởi vì khi nói đến giọng là chỉ mới đề cập tới hình thức, còn đi vào tiếng là đi vào nội dung, đi vào đời sống văn hóa .

Ngôn ngữ chẳng qua là qui ước về âm thanh do con người phát ra . Vì vậy, cùng một âm thanh phát ra giống nhau nhưng do qui ước khác nhau nên mỗi dân tộc hiểu theo một nghĩa riêng .

Tác giả Phàm Phu (TSH 90, đã dẫn) kể rằng trong một lần dạo phố Bangkok, thấy cô người Thái cực kỳ xinh đẹp, bèn chụp ảnh để kỷ niệm . Vừa đưa máy ảnh lên nhắm, vừa hỏi ý kiến ông bạn đồng hương làm hướng đạo: "Chụp hí ?" (Chụp nhé ?) thì mỹ nhân hoảng hốt bỏ chạy, còn tác giả bị bạn mắng như tát nước là ăn nói thô tục đối với phụ nữ ngoại quốc . Lý do là trong tiếng Thái "chụp" có nghĩa là "hôn", còn "hí" là "cái ấy" của phụ nữ .

Hai tiếng Huế vô tội đã trở thành ngôn ngữ sàm sỡ ở Bangkok . Hồi còn ở tù "cải tạo" tại trại Tiên Lãnh (Quảng Nam), tôi và một anh bạn đã làm cho mấy phụ nữ Kàtu bỏ chạy trong cơn mưa .

Sau một ngày vất vả đốn cây rồi đốt thành than, tổ chúng tôi bốn người quảy bốn gánh than đầy ắp về trại . Nửa đường, trời đổ mưa, bèn ghé vào một cái chòi trong rẫy lúa bỏ hoang để tạm núp mưa, cho than khỏi ướt .

Một lát, thấy có bốn năm phụ nữ Thượng, người Kàtu, từ phía suối lúp xúp chạy về chòi chúng tôi, ý hẳn cũng để đụt mưa . "Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm . . .", sợ mấy phụ nữ sẽ bị trợt té trên con đường dốc dẫn vào lều đã trở thành trơn trợt, anh bạn và tôi la lên "Coi chừng té ! Té !" .

Kỳ lạ, câu nói vừa dứt thì nghe mấy người đàn bà đó ré lên chí chóe gì đó và đổi hướng không chạy vào lều nữa . Trong tổ, có anh bạn gốc Trà Mi (quận miền núi ở Quảng Nam) nhẩn nha giải thích "Nói như mấy ông thì cho vàng tụi hắn cũng không vô núp mưa . 'Té ', tiếng Kàtu có nghĩa là đ.., biết chưa ? Lần sau gặp tụi đàn bà con gái ở đây đừng có nói bậy như vậy nữa, coi chừng có ngày ăn rựa" . Hú vía !

Giữa các dân tộc, qui ước thanh âm khác nhau dẫn đến ý nghĩa khác nhau đã đành, mà ngay trong cùng một nước ngôn ngữ cũng thay đổi theo địa phương . Cùng một từ, mỗi miền có thể hiểu một nghĩa khác nhau . Cùng chỉ một vật hay một việc, mỗi miền có một lối gọi khác nhau .

Chẳng hạn chữ "đồ" cũng có ý nghĩa khác nhau giữa hai miền Bắc Nam . Trong khi miền Nam, miền Trung dùng chữ đồ một cách hồn nhiên để chỉ về đồ vật thì người Bắc lại dùng nó để chỉ bộ phận sinh dục của phái nữ . Vì vậy, khi thấy ba ông bạn cùng chụp chung một tấm hình (chữ Hán gọi là đồ) với một cô đầm, ông nào ngó cũng chễm chệ, phong lưu, Tú Xương đã ỡm ờ vịnh ngay:

Ba bác chung nhau một cái đồ
. . .
Thôi đừng chê nhỏ lại cười to !

Cùng chỉ một vật dùng để chứa thức ăn, ở Bắc gọi là bát, Huế gọi là đọi, Nam gọi là tô . Cùng chỉ động tác rơi xuống đất vì mất thăng bằng, người Bắc gọi là ngã, Huế gọi là bổ, Nam gọi là té .

Sự đa dạng trong ngôn ngữ của một dân tộc là điều tự nhiên; bao giờ trong cái chung cũng có cái riêng và thấp thoáng trong cái riêng là hình ảnh cái chung .

Hình như địa lý và lịch sử đã kết hợp với nhau để tạo nên cho Huế một môi trường dễ làm nảy sinh nhiều thổ âm và thổ ngữ hơn các miền khác, đến độ có người đã nói là có thể sưu tập thành một tiểu tự điển tiếng Huế .

Trong TSH 93, qua bài "Thử nói về ảnh hưởng cung đình trong phong cách Huế", tôi đã có dịp khái quát về ảnh hưởng của ngôn ngữ cung đình trong ngôn ngữ Huế . Điều đáng nêu lên ở đây là: tại sao tiếng Bắc, tiếng Nam không gây trở ngại khi giao tiếp như tiếng Huế ? Ngoài giọng Huế khó nghe, như đã nói ở trên, phải chăng vì tiếng Huế quá đặc thù ? Phải chăng vì ngôn ngữ Huế ít được phổ biến ? Hay vì tiếng Huế khúc mắc khó hiểu ? Thiết nghĩ có lẽ do tất cả .

Người khác xứ có thể dễ dàng quen thuộc với "răng, ri, mô, tê, rứa, hè, hí" vì tính cách phổ thông của chúng, nhưng quả tình khó mà thông cảm với những lối nói đặc thù khác .

Tôi có anh bạn người Nam, sống ở Huế khá lâu . Trong một buổi trà dư tửu hậu, anh tuyên bố rằng "Bây giờ người Huế nói cách chi tui cũng hiểu" . Nghe vậy, một anh bạn khác liền hỏi ngay: "Thiệt hả ? Rứa thì anh có biết vụ hai đứa con ông Bảy bựa qua ngầy lộn rồi lôi giau từ trong chờn ra trữa cươi đập chắc, một đứa bể mỏ, một đứa u trốt. Mạ hắn can không được, đứng trữa cươi la làng như quạ quạ bẻ bắp" .

Anh bạn người Nam ngẩn tò te, chịu thua . Đây là chìa khóa mật mã:

- Bựa qua: hôm qua
- Lôi giau: lôi nhau
- Ngầy lộn: gây gỗ
- Chắc: với nhau
- Chờn: giường
- Trữa cươi: giữa sân
- Bể mỏ: vỡ mồm, dập miệng
- U trốt: u đầu

Mới chỉ có một câu nói ngắn như vậy mà cần phải giải thích đến tám chữ mới làm cho người ngoài hiểu được, và thực ra, đó mới chỉ là những chữ nặng về hình thức hơn ý nghĩa .

Nếu đi vào ý nghĩa thì sự khúc mắc càng thể hiện rõ rệt hơn . Thành ngữ "tào lao xịt bộp" là một thành ngữ phổ thông ở Huế, dùng để chỉ lời nói hay việc làm không đâu vào đâu, không có chủ đích, không ý nghĩa, kiểu "nghe qua rồi bỏ" .

Trong một cuộc tiếp kiến Toàn Quyền Đông Dương, Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (mẹ vua Bảo Đại) đã làm cho một vi quan lúng túng khi phải thông dịch câu nói rặt Huế của bà "Tôi tra rồi, ăn nói tào lao xịt bộp . . ." (Nguyễn Đặng, TSH 93), chỉ vì ông không phải là người Huế .

"La ngầy" hay "ngầy" có nghĩa là "la rầy" nhưng "ngầy lộn" lại có nghĩa là "gây gỗ" với nhau . "Mụ nớ" có nghĩa là "người đàn bà kia" (không có ý kính trọng) nhưng khi một người đàn ông được gọi là "Mụ" hay "Mệ", có nghĩa ông ta là người trong hoàng tộc .

Có một thực tế mà dường như ít ai để ý . Ấy là kể từ ngày chữ quốc ngữ trở thành văn tự chính thức, thay thế cho chữ Hán thì lối viết theo cách phát âm của người Bắc là lối viết chính thức của nước ta .

Thực vậy, từ giấy tờ hành chánh cho đến tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học . . . phổ biến qua hình thức văn tự, hầu như tất cả đều được viết theo cách phát âm này . Ngoại trừ một Hồ Biểu Chánh của hồi đầu thế kỷ và sau này có thêm Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc và hiện nay Hồ Trường An, là viết văn theo rặt giọng Nam, còn tất cả, bất cứ người cầm bút thuộc lãnh vực nào, xuất thân từ địa phương nào, đều viết theo phong thái âm giọng miền Bắc .

Bình Nguyên Lộc viết tiểu thuyết theo giọng Nam nhưng khi viết "Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt Nam", một tác phẩm biên khảo, cũng viết theo cách phát âm miền Bắc . Số học giả, thi sĩ, văn sĩ người Huế trong nền văn chương quốc ngữ đông biết mấy, thế nhưng không vì vậy mà "răng, ri, mô, tê, rứa, ni, nớ . . ." được chính thức đi vào văn học như "sao, thế này, đâu, kia, vậy, này, ấy . . ."

Tiếng Việt theo cách phát âm miền Bắc hầu như đã trở thành lối viết chính thức, có lẽ do truyền thống lập quốc và Nam Tiến .

Trong âm nhạc, ta cũng thấy hiện tượng tương tự . Khi hát tân nhạc, tất cả ca sĩ đều phát âm theo giọng Bắc, bất kể người miền nào . Nhiều danh hề đã chọc cười khán giả một cách thành công khi thỉnh thoảng hát tân nhạc theo giọng Nam . Ban AVT nhờ có Vân Sơn đệm giọng Huế mà trở thành hài hước có duyên .

Từ thập niên 60, một số nhà văn nữ người Huế quả có đưa tiếng Huế vào tác phẩm nhưng cũng chỉ có tính cách mắm muối thêm duyên, kiểu như Vân Sơn đệm giọng Huế trong AVT chứ chưa tạo được sắc thái địa phương như Hồ Biểu Chánh hay Hồ Trường An .

Giọng Bắc, giọng Nam dễ nghe, đó là lý do tại sao đồng bào miền Bắc, miền Nam không gặp trở ngại với người khác xứ . Trái lại, bên cạnh giọng nói thuộc về một âm vực khó nghe, người Huế lại nói và viết không giống nhau . Thêm vào đó, Huế lại quá phong phú thổ âm, thổ ngữ, cả về số lượng cũng như ý nghĩa .

Tất cả những cái đó đã biến tiếng Huế trở thành "ngoại ngữ" ! Muốn hiểu rành "ngoại ngữ" đó, chỉ có cách hãy sống với Huế . Ai không tin, thử hỏi mấy ông rể Huế, biết ngay .

Võ Hương An

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Trịnh Công Sơn: Mật ngọt trên môi, mật đắng trong đời
(GDVN) - "Huế là một tình yêu bất tận, tôi yêu anh Sơn như yêu Huế, bây giờ Huế đối với tôi là một quê hương thứ hai, là một phần trong cuộc đời của tôi”, Diễm nói.

Trong ca khúc “Lặng lẽ nơi này” của Trịnh Công Sơn có câu: “Tình yêu mật ngọt, mật ngọt trên môi/ Tình yêu mật đắng, mật đắng trong đời”. Trịnh cũng từng viết: “Có người yêu thì hạnh phúc, có người yêu thì đau khổ. Nhưng dù đau khổ hay hạnh phúc thì con người vẫn muốn yêu… Tôi đã có dịp đứng trên hai mặt của tình yêu và dù sao chăng nữa, tôi vẫn muốn giữ lại trong lòng một ý nghĩa bền vững: Cuộc sống không thể thiếu tình yêu”. Với Trịnh Công Sơn, tình yêu là vậy, dù đắng, dù ngọt vẫn là mật.

Sinh thời Trịnh Công Sơn không có bạn đời, nhưng là một nghệ sĩ nhạy cảm, dễ xúc động, ông có nhiều mối tình. Đó là những người con gái mang vẻ đẹp cả hình thức lẫn tâm hồn, là những người tạo cho Trịnh Công Sơn những xúc cảm đặc biệt, là nguồn cảm hứng để ông viết nên rất nhiều ca khúc. Bên cạnh đó còn là những "chuyện tình" được chính một số người thêu dệt nên mà đến bây giờ mọi người đều biết không phải là thực. Nhưng cuối cùng rồi thì khi cát bụi trở về với cát bụi, chỉ còn lại đó những tình khúc mãi mãi với những NGƯỜI YÊU.

Nhân sắp đến dịp tưởng niệm 11 năm ngày mất Trịnh Công Sơn, trong loạt bài này, Giáo dục Việt Nam điểm lại những "mật ngọt", "mật đắng" trong đời Trịnh và đặc biệt là chia sẻ của những bóng hồng đã đi qua đời, âm nhạc của ông...
Image
Với Trịnh Công Sơn, ngọt hay đắng đều là mật.
"Diễm" chưa bao giờ "Xưa"

Có lẽ trong số những bóng hồng đi qua cuộc đời Trịnh Công Sơn thì Diễm là người được biết tới nhiều nhất. Chẳng thế mà sau này, bất cứ người con gái nào được nhạc sĩ họ Trịnh cảm mến đều được gọi với một danh từ chung là “Diễm của Trịnh”. Hơn thế, giai thoại tình yêu của Trịnh Công Sơn với Diễm còn trở thành một câu phổ biến dùng trong giao tiếp hàng ngày, khi cần nói tới chuyện (đặc biệt là chuyện tình cảm) đã qua, người ta thường dùng câu “Diễm rồi” hoặc “Xưa như Diễm”, hoặc “Diễm của những ngày xưa”…

Trước đây, vẫn tồn tại một câu hỏi lớn trong cộng đồng người yêu nhạc Trịnh, rằng Diễm Xưa là một nhân vật có thật hay chỉ là một mộng tưởng vô thực nào đó đã giúp Trịnh viết nên nhiều ca khúc. Những bạn bè thân tình với Trịnh Công Sơn đều biết Diễm Xưa là có thật.

Chân dung Diễm Xưa

Diễm tên là Ngô Vũ Bích Diễm, là con gái của một thầy giáo dạy Pháp văn tại trường Đồng Khánh và trường Quốc học Huế.

Mối tình của Trịnh Công Sơn với Diễm bắt đầu từ những buổi Trịnh Công Sơn đứng ngắm các nữ sinh trường Đồng Khánh tan trường. Đó là khoảng những năm 1962, khi ấy gia đình Trịnh Công Sơn mới chuyển đến ở một căn hộ ở tầng 1 dãy nhà mới xây ở đầu cầu Phủ Cam (nhà số 11/3 Nguyễn Trường Tộ). Hằng ngày, chàng trai Trịnh Công Sơn (khi ấy ở độ tuổi đôi mươi) đứng trên lầu ngắm các cô nữ sinh đi qua cầu Phủ Cam, đi dọc theo đường Nguyễn Trường Tộ đến trường học. Một cô gái có dáng người dong dỏng cao, nét mặt thanh tú, bước đi thong thả nhẹ nhàng đã khiến Trịnh Công Sơn thầm thương trộm nhớ. Đó chính là Ngô Vũ Bích Diễm. Ngày ngày người con gái mang tên Diễm trong chiếc áo lụa trắng vẫn đi về ngang qua nhà Trịnh tới 4 lần. Hình ảnh người con gái kín cổng cao tường, thùy mị đó đã khiến Trịnh Công Sơn không ngày nào không nhìn xuống đường chờ đợi một vạt áo, một bước hài.
Image
Ngô Vũ Bích Diễm thời đi học.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân - một người bạn Huế cùng thời đã kể lại: “Anh (Trịnh Công Sơn) yêu Diễm mê mệt. Những ngày không thấy Diễm đi qua anh đau khổ vô cùng, và trông thấy con đường trước nhà dài hun hút cho mắt thêm sâu”.

Không chỉ lồng ghép những cảm xúc của mình trong nhiều nhạc phẩm mà Trịnh Công Sơn sáng tác, ông còn dùng những lời đẹp như thơ để viết về Diễm. “Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến trường. Nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi qua dưới những vòm cây long não”. Trịnh Công Sơn đã ngắm nhìn Diễm như thế trong khoảng thời gian dài, qua bao ngày tháng “Có rất nhiều mùa nắng và mùa mưa cũng theo qua. Những mùa nắng, ve râm ran mở ra khúc hát mùa hè trong lá. Mùa mưa Huế, người con gái ấy đi qua nhạt nhòa trong mưa giữa hai hàng cây long não mờ mịt…”

“Từ ban công nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận”. Trịnh Công Sơn đã quan sát, nhìn ngắm Diễm thật kĩ để rồi cứ ngỡ đó là một cảnh hư vô của một giấc mơ: “Trong không gian tĩnh mịch và mơ màng đó, thêm chìm đắm vào một khí hậu loáng thoáng liêu trai, người con gái ấy vẫn đi qua đều đặn mỗi ngày dưới hai hàng cây long não để đến trường. Đi đến trường mà đôi lúc dường như đi đến một nơi vô định. Định hướng mà không định hướng bởi vì những bước chân ngày nào ấy dường như đang phiêu bồng trên một đám mây hoang lạc của giấc mơ”.
Image
Chân dung Bích Diễm do Trịnh Công Sơn vẽ năm 1963
Tình yêu tuổi mười tám đôi mươi

Ấy vậy mà chuyện tình Trịnh - Diễm gặp rất nhiều cách trở. Thời đó, các cô gái đẹp ở Huế thường được cha mẹ gả cho những người đã thành đạt, có sự nghiệp vững chắc. Rất hiếm có chuyện những anh chàng học hành chưa tới mà “cưa” được người yêu đẹp, con nhà gia giáo. Thân sinh ra Bích Diễm lại là một ông giáo gốc Bắc nghiêm khắc. Ông giáo Ngô Đốc Khánh không thể chấp nhận chuyện một anh chàng chưa có bằng Đại học, tóc dài chuyện trò với các cô con gái của ông.

Khi ấy, họa sĩ Đinh Cường có thuê nhà gần nhà Diễm làm xưởng vẽ. Trịnh Công Sơn thường tới xưởng vẽ của bạn chơi, chờ lúc ông giáo bận giờ dạy, mà Diễm đang ở nhà thì liều mình qua chơi. Trong những lần thăm ấy, có lần Diễm tiếp, có khi không. Diễm biết Trịnh Công Sơn yêu mình và trái tim cô nhiều khi cũng rung động. Nhưng lúc ấy Diễm không thể vượt qua được sự nghiêm khắc của gia đình để nói cho người viết ca khúc “Diễm xưa” biết điều đó.

Một lần, Trịnh Công Sơn ốm nặng, Bích Diễm biết tin mà không làm sao đi thăm được. Nhân lúc có một người bạn gái tới chơi, Diễm đã rủ người bạn gái ra vườn, để người bạn gái ngồi đó, giả vờ như hai người đang nói chuyện với nhau, còn Diễm trốn mợ chạy tới thăm Trịnh Công Sơn. Trên đường đi, nàng ngắt vội một cành hoa trồng sát hàng rào nhà láng giềng. Chạy tới chung cư nhà Trịnh Công Sơn ở, Diễm chỉ đứng bên ngoài cửa sổ song sắt, hỏi “anh Sơn, anh Sơn đã đỡ chưa?”, rồi đặt cành hoa bên song cửa và chào ra về.

Nhành dạ lan thầm lặng

Có lần, Trịnh Công Sơn đã nói về mối tình với Bích Diễm: “Ngày xưa dường như cả thế hệ tôi là vậy, yêu một mái tóc một dáng hình, một ngày chỉ cần nhìn thấy mặt nhau, thấy em qua khung cửa sổ là cả ngày thấy vui”.

Còn Bích Diễm đã giữ im lặng mấy chục năm, chỉ tới năm 2010, trong một lần họp mặt các nữ sinh trường Đồng Khánh, Bích Diễm mới từ Mỹ trở về, và lần đầu tiên chia sẻ về chuyện tình với Trịnh Công Sơn.“Tôi sinh ra ở Hà Nội, nhưng lớn lên ở Huế và vào học ở Sài Gòn, với tôi Huế là một tình yêu bất tận, tôi yêu anh Sơn như yêu Huế, bây giờ Huế đối với tôi là một quê hương thứ hai, là một phần trong cuộc đời của tôi”.

Bích Diễm cũng kể giữa bà và Trịnh Công Sơn có những kỷ niệm rất khó nói:“Cái bóng của anh Sơn quá lớn nên Diễm chọn cách im lặng để nghe người ta nói, còn tình cảm của Diễm đối với anh ấy là mãi mãi”.

Ngô Vũ Bích Diễm cũng kể những kỉ niệm với Trịnh Công Sơn một cách chừng mực: “Lần đầu tôi gặp anh Sơn ngay tại nhà tôi. Anh đi theo anh Đinh Cường đến thăm Nguyễn Việt Hằng, một người bạn than của tôi lúc đó đang ở lại nhà tôi để học hè. Sau đó thấy anh Sơn một mình quay trở lại. anh viết nhạc và có tặng tôi mấy bài. Hồi đó còn trẻ lắm nên cũng biết lơ mơ vậy thôi… Sau này tôi mới biết thong qua hai người em của anh Sơn về câu chuyện nhánh dạ lan hương mà tôi tặng anh đã gây một chấn động mạnh nơi anh. Đó là một kỉ niệm thật đẹp, thật liêu trai…!”
Image
Bút tích ca khúc "Diễm xưa" của do Trịnh Công Sơn viết
Có thể nói, trong mối tình với Diễm, Trịnh dường như chưa kịp nói lời yêu, mà chỉ thổ lộ tình cảm qua những ca khúc tặng Diễm, và Diễm cũng vì cách trở mà không giám đáp lại tình cảm của Trịnh. Có lẽ mối tình ấy đẹp như một nụ hoa mãi e ấp. Nhưng từ mối tình ấy, Trịnh Công Sơn đã có nhiều nhạc phẩm bất hủ. Nổi tiếng và được nhiều người biết hơn cả là “Diễm xưa”.

“Diễm xưa” được dịch ra tiếng Nhật với cái tên Utsukushii mukashi, từng được bình chọn là một trong 10 tình ca hay nhất mọi thời đại của Nhật Bản, được đưa vào chương trình giáo dục trong môn Văn hóa và Âm nhạc của trường ĐH Kansai của Nhật. Và dù “Diễm xưa” có viết về mối tình với Bích Diễm, là viết về Huế, hay là về những cảm xúc nào theo suy tưởng của từng người, thì Diễm vẫn chưa bao giờ xưa cũ, Diễm luôn đẹp, luôn mới trên môi mỗi người cất lên tiếng hát.

Post Reply