Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Mời đọc bài của báo công an phê bình ca sĩ hải ngoại.
. . . . . . . . .Bọn xướng ca vô loài này sẽ trở lại Mỹ khi đủ điều kiện lãnh SSI ?! Trong làn sóng hồi hương về nước biểu diễn, ngoại trừ trường hợp một số ca sĩ khi trở về quê hương biểu diễn - như tâm sự thực lòng của họ "được phục vụ khán giả quê nhà bao giờ cũng là ước vọng cả đời"; hoặc "cuộc trở về để giải tỏa nỗi nhớ mảnh đất chôn nhau cắt rốn"…thì cũng không thể phủ nhận một thực tế, có không ít ca sĩ trở về cố quốc vì mục đích mưu sinh...
Nhìn lại các chương trình ca nhạc trong vài năm qua, thấy nổi lên hình ảnh các ca sĩ hải ngoại ồ ạt về nước biểu diễn, với nhiều sô diễn lớn nhỏ, từ phòng trà đến sân khấu lớn ở Tp HCM tới các tỉnh xa. Khán giả không còn xa lạ gì với những cái tên như: Hương Lan, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Ý Lan, Chế Linh, Kim Anh, Lưu Bích, Tuấn Vũ, Thanh Tuyền, Trường Vũ, Mạnh Quỳnh, Minh Tuyết, Họa My... Nghĩa là gần như hầu hết các ngôi sao ca nhạc hải ngoại, chưa kể những người đã về trước đó và ở hẳn quê nhà như Duy Quang, Evis Phương, Giao Linh, Jimi Nguyễn...
Vậy, làn sóng hồi hương ấy nói lên điều gì? Thị trường ca nhạc hiện đang đổi mới hay tụt hậu; hoài cổ hay bế tắc? Căn nguyên mọi chuyện từ đâu?
Câu nói của các cụ "cũ người mới ta" quả đúng với hiện tượng này. Với cộng đồng người Việt ở hải ngoại, đông nhất ở Mỹ cũng chỉ vài triệu người, tha phương hơn 35 năm nay cũng đã ngán các món ăn tinh thần của vài ba trung tâm ca nhạc như Thúy Nga, Vân Sơn, Asia. Loanh quanh vẫn chỉ từng ấy ca sĩ, vẫn một màu hoài hương, sầu muộn, chia ly qua những ca khúc quen thuộc từ ngày còn trong nước. Khán giả rất mệt mỏi vì lâu nay chẳng có mấy điểm mới. Một số gương mặt trẻ chạy theo dòng nhạc hiện đại thì lại không đến nơi đến chốn.
Mới đây, có tin trung tâm Thúy Nga có thể đóng cửa vì thua lỗ. Đó là một thực tế khó cưỡng. Tình trạng băng đĩa lậu ngày càng hoành hành làm cho trung tâm này luôn rơi vào khủng hoảng. Mỗi chương trình lỗ từ 300 đến 500.000 USD. Do đó nhiều show diễn đã không thể thực hiện được. Ngược hẳn cách đây dăm năm, cứ mỗi cuối tuần ca sĩ hạng sao đều kín lịch diễn, bây giờ thì họa hoằn lắm mới được mời. Có một bầu sô lý giải rằng, một phần vì kinh tế suy thoái và cũng một phần vì xu hướng âm nhạc trẻ đã đổi thay, tầng lớp khán giả theo dòng nhạc cũ không còn hồ hởi mua vé đến rạp.
Nỗi cám cảnh đó đồng thời cũng nói lên sự hụt hơi, "về chiều" của hàng loạt ca sĩ nổi danh bấy lâu nay. Họ không còn là sự mong mỏi của khán giả nữa. Dù có níu kéo đến đâu cũng không thể đánh đổ chân lý "thầy già con hát trẻ". Sự cạnh tranh đó đã đẩy bật họ ra khỏi guồng quay là điều tất yếu. Và nhiều ca sĩ đã quay về quê hương kiếm ăn với đúng nghĩa của nó.
Quả là họ đã gặp may khi thị trường ca nhạc trong nước cũng đang hết sức mệt mỏi với sự nhảy nhót, loăng quăng của nhạc trẻ và dòng teen. Trong khi đó, những khán giả hoài cổ lâu nay vẫn thường xuyên mua băng đĩa hải ngoại lại rất hồ hởi chào đón họ, với một tình cảm nồng ấm, mặc dù đều biết rằng những ca sĩ mà mình từng yêu thích giờ đây đã về già, kém cả thanh lẫn sắc. Không những thế, các ông bầu còn nhanh chóng đưa ca sĩ hải ngoại hướng ra Bắc, nhất là ở các thành phố lớn, lâu nay thị trường âm nhạc đang đóng băng để "thăm dò". Cách đây không lâu, thị trường âm nhạc ở Hà Nội bỗng lao đao vì hiện tượng Tuấn Vũ khi giá vé đội lên hàng triệu đồng, với mười đêm diễn. Sau đó ca sĩ này còn lang thang kiếm ăn ở các tỉnh phía Bắc, lịch trình cả thảy kéo dài tới ba tháng trời. Thật là vụ thắng lớn. Tuấn Vũ đã làm gương cho một số ca sĩ khác nhao ra khuấy đảo khán giả Thủ đô một phen.
Ngoại trừ trường hợp một số ca sĩ khi trở về quê hương biểu diễn - như tâm sự thực lòng của họ "được phục vụ khán giả quê nhà bao giờ cũng là ước vọng cả đời"; hoặc "cuộc trở về để giải tỏa nỗi nhớ mảnh đất chôn nhau cắt rốn"…thì cũng không thể phủ nhận một thực tế, có không ít ca sĩ trở về cố quốc vì mục đích mưu sinh. Bao nhiêu năm kiếm ăn ở nơi xa xứ, đã đến lúc họ gặp khó khăn trong cuộc mưu sinh bằng chính nghề của mình, thì việc chuyển hướng về lại quê hương biểu diễn kiếm tiền là một nhu cầu rất tự nhiên. Thậm chí có những ca sĩ còn được nhận cátxê cao hơn ở xứ người. Vậy thì dại gì mà họ không về.
Dù đã về già nhưng các ngôi sao loại một như Elvis Phương, Hương Lan, Lệ Thu…cũng còn được trả trên dưới 1000 USD một show hát; dù chỉ hai bài cho một liveshow, hoặc một đêm hát ở phòng trà. Chủ phòng trà Tiếng Xưa ở Sài Gòn phải kêu trời vì có ca sĩ hạng sao không chịu giảm mức cátxê ngất ngưởng, mặc cho đêm diễn bán vé được hay không. Bà còn kể có show diễn của Tuấn Ngọc, đành chấp nhận lấy công làm lãi vì mức cátxê ca sĩ đòi rất cao so với mặt bằng chung, mặc dù mấy năm nay, khán giả nghe Tuấn Ngọc cũng đã thấy nhàm. Ấy là chưa nói đến trường hợp có ca sĩ còn đòi ở khách sạn hạng sao và đi ôtô xịn trong suốt hành trình "trở về" quê mẹ của mình.
Điều này ngược với ý nghĩa "hát cho quê hương" mà họ từng phát biểu khi trở về. Mặc dù cũng có người đã kết hợp hát và trích tiền làm từ thiện, nhưng trên thực tế, chuyện đòi hỏi cátxê quá cao đã làm lũng đoạn thị trường ca nhạc, đồng thời gây rất nhiều khó khăn cho khán giả bình dân đã từng mến mộ họ. Vé ở nhà hát tới 1.200.000 đồng, hoặc giá vé đêm diễn của Chế Linh tại Nhà hát Hoà Bình (Tp HCM) lên tới 5.000.000 đồng thì ít người dám mơ. Và, ngay đến phòng trà ca nhạc, thí dụ có Lệ Thu hát, tiền phụ thu cũng đã đến 350.000 đồng một người, thì quả là khán giả bình dân phải lắc đầu ngán ngẩm. Thực chất phải nhận thấy trong số đó, không ít giọng hát đã chẳng còn sức thu hút thật sự nữa, mà đây chỉ là những câu chuyện vớt vát cuối đời.
Ngay lập tức, sau những cơn sốt nhạc hải ngoại, đã xuất hiện bao hệ luỵ mà các nhà quản lý văn hóa phải ngó mắt tới. Trước hết, đó là việc trốn thuế thu nhập của nhiều ca sĩ. Ai cũng nhớ cách đây không lâu, có tới 9 ca sĩ về hát bị cấm biểu diễn vì không kê khai thuế thu nhập cá nhân. Có lẽ việc ký hợp đồng "tay bo" giữa bầu sô và ca sĩ đã làm nên những rắc rối khó bề kiểm soát.
Câu chuyện thứ hai mà các nhà quản lý dường như vẫn bị che mắt: Đó là việc ca sĩ hát các ca khúc chưa được phép biểu diễn. Ở đây chủ yếu là các ca khúc một thời bị quy là nhạc vàng. Mặc dù có tới hàng trăm ca khúc đã được biểu diễn, nhưng vẫn có hiện tượng đăng ký một đằng, hát một nẻo. Hoặc, sau khi biểu diễn, các ca sĩ trao tặng hay bán CD, trong đó nội dung ra sao, có bài hát bị cấm hay không cũng khó biết. Sự mập mờ còn xảy ra khi có đoàn đã đi địa phương, nhất là các vùng sâu biểu diễn với giấy phép đã hết hạn.
Cùng với các hệ lụy trên, không ít khán giả còn thắc mắc về một sự "nhập nhằng" cần giải tỏa, ấy là việc không ít ca sĩ từ lâu đã về ở hẳn quê hương, vậy có nên "quảng cáo" họ là "ca sĩ hải ngoại" nữa hay không? Danh sách này khá dài như Elvis Phương, Giao Linh, Hương Lan, Đặng Tuyết Mai (!!!!!), Duy Quang, Thái Hiền, Duy Cường, Thái Thảo, Julie…Kể cả trường hợp mới đây là Dương Triệu Vũ đã trở về và hiện đang là giọng ca độc quyền của công ty "Tiếng hát Việt" của Đàm Vĩnh Hưng. Hơn nữa, các ca sĩ trên hầu hết đều có những hoạt động kinh doanh khác ở Tp HCM, ngoài việc đi hát. Vậy có thể nói họ đã trở thành ca sĩ nội chính hiệu, chẳng còn sự khác biệt để các ông bầu câu khách với cái nhãn "hải ngoại".
Trong thời gian tới, chắc sự hồi hương của các ca sĩ hải ngoại sẽ còn sôi nổi hơn nữa. Thị trường ca nhạc rất sôi động tại quê nhà, với sự cởi mở của các cấp chính quyền sẽ là điểm tựa tinh thần cho nhiều ca sĩ có nguyện vọng trở về biểu diễn. Tuy nhiên, trong sự chuyển động khá rắc rối của thị trường ca nhạc hiện nay, sự quay lại ồ ạt của các ca sĩ hải ngoại thường nảy sinh những điều bất cập như trên đã nói. Đặc biệt là nội dung tác phẩm biểu diễn, đừng để các sàn diễn đã bị rối loạn những bài hát trẻ, đang có chiều hướng "hàng nhảm" như "Yêu bao nhiêu người mà ai cũng gian dối/ Yêu năm ba hôm rồi thôi...", giờ đây lại bị chết lụt bởi cái gọi là "hàng vàng" rên rỉ "Cay đắng bờ môi". Vẫn biết, để thị trường ca nhạc có loại "hàng sạch" thật không dễ dàng chút nào, song đó là đòi hỏi chính đáng của nhiều khán, thính giả phía sau những cuộc "trở về" này
. . . . . . . . .Bọn xướng ca vô loài này sẽ trở lại Mỹ khi đủ điều kiện lãnh SSI ?! Trong làn sóng hồi hương về nước biểu diễn, ngoại trừ trường hợp một số ca sĩ khi trở về quê hương biểu diễn - như tâm sự thực lòng của họ "được phục vụ khán giả quê nhà bao giờ cũng là ước vọng cả đời"; hoặc "cuộc trở về để giải tỏa nỗi nhớ mảnh đất chôn nhau cắt rốn"…thì cũng không thể phủ nhận một thực tế, có không ít ca sĩ trở về cố quốc vì mục đích mưu sinh...
Nhìn lại các chương trình ca nhạc trong vài năm qua, thấy nổi lên hình ảnh các ca sĩ hải ngoại ồ ạt về nước biểu diễn, với nhiều sô diễn lớn nhỏ, từ phòng trà đến sân khấu lớn ở Tp HCM tới các tỉnh xa. Khán giả không còn xa lạ gì với những cái tên như: Hương Lan, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Ý Lan, Chế Linh, Kim Anh, Lưu Bích, Tuấn Vũ, Thanh Tuyền, Trường Vũ, Mạnh Quỳnh, Minh Tuyết, Họa My... Nghĩa là gần như hầu hết các ngôi sao ca nhạc hải ngoại, chưa kể những người đã về trước đó và ở hẳn quê nhà như Duy Quang, Evis Phương, Giao Linh, Jimi Nguyễn...
Vậy, làn sóng hồi hương ấy nói lên điều gì? Thị trường ca nhạc hiện đang đổi mới hay tụt hậu; hoài cổ hay bế tắc? Căn nguyên mọi chuyện từ đâu?
Câu nói của các cụ "cũ người mới ta" quả đúng với hiện tượng này. Với cộng đồng người Việt ở hải ngoại, đông nhất ở Mỹ cũng chỉ vài triệu người, tha phương hơn 35 năm nay cũng đã ngán các món ăn tinh thần của vài ba trung tâm ca nhạc như Thúy Nga, Vân Sơn, Asia. Loanh quanh vẫn chỉ từng ấy ca sĩ, vẫn một màu hoài hương, sầu muộn, chia ly qua những ca khúc quen thuộc từ ngày còn trong nước. Khán giả rất mệt mỏi vì lâu nay chẳng có mấy điểm mới. Một số gương mặt trẻ chạy theo dòng nhạc hiện đại thì lại không đến nơi đến chốn.
Mới đây, có tin trung tâm Thúy Nga có thể đóng cửa vì thua lỗ. Đó là một thực tế khó cưỡng. Tình trạng băng đĩa lậu ngày càng hoành hành làm cho trung tâm này luôn rơi vào khủng hoảng. Mỗi chương trình lỗ từ 300 đến 500.000 USD. Do đó nhiều show diễn đã không thể thực hiện được. Ngược hẳn cách đây dăm năm, cứ mỗi cuối tuần ca sĩ hạng sao đều kín lịch diễn, bây giờ thì họa hoằn lắm mới được mời. Có một bầu sô lý giải rằng, một phần vì kinh tế suy thoái và cũng một phần vì xu hướng âm nhạc trẻ đã đổi thay, tầng lớp khán giả theo dòng nhạc cũ không còn hồ hởi mua vé đến rạp.
Nỗi cám cảnh đó đồng thời cũng nói lên sự hụt hơi, "về chiều" của hàng loạt ca sĩ nổi danh bấy lâu nay. Họ không còn là sự mong mỏi của khán giả nữa. Dù có níu kéo đến đâu cũng không thể đánh đổ chân lý "thầy già con hát trẻ". Sự cạnh tranh đó đã đẩy bật họ ra khỏi guồng quay là điều tất yếu. Và nhiều ca sĩ đã quay về quê hương kiếm ăn với đúng nghĩa của nó.
Quả là họ đã gặp may khi thị trường ca nhạc trong nước cũng đang hết sức mệt mỏi với sự nhảy nhót, loăng quăng của nhạc trẻ và dòng teen. Trong khi đó, những khán giả hoài cổ lâu nay vẫn thường xuyên mua băng đĩa hải ngoại lại rất hồ hởi chào đón họ, với một tình cảm nồng ấm, mặc dù đều biết rằng những ca sĩ mà mình từng yêu thích giờ đây đã về già, kém cả thanh lẫn sắc. Không những thế, các ông bầu còn nhanh chóng đưa ca sĩ hải ngoại hướng ra Bắc, nhất là ở các thành phố lớn, lâu nay thị trường âm nhạc đang đóng băng để "thăm dò". Cách đây không lâu, thị trường âm nhạc ở Hà Nội bỗng lao đao vì hiện tượng Tuấn Vũ khi giá vé đội lên hàng triệu đồng, với mười đêm diễn. Sau đó ca sĩ này còn lang thang kiếm ăn ở các tỉnh phía Bắc, lịch trình cả thảy kéo dài tới ba tháng trời. Thật là vụ thắng lớn. Tuấn Vũ đã làm gương cho một số ca sĩ khác nhao ra khuấy đảo khán giả Thủ đô một phen.
Ngoại trừ trường hợp một số ca sĩ khi trở về quê hương biểu diễn - như tâm sự thực lòng của họ "được phục vụ khán giả quê nhà bao giờ cũng là ước vọng cả đời"; hoặc "cuộc trở về để giải tỏa nỗi nhớ mảnh đất chôn nhau cắt rốn"…thì cũng không thể phủ nhận một thực tế, có không ít ca sĩ trở về cố quốc vì mục đích mưu sinh. Bao nhiêu năm kiếm ăn ở nơi xa xứ, đã đến lúc họ gặp khó khăn trong cuộc mưu sinh bằng chính nghề của mình, thì việc chuyển hướng về lại quê hương biểu diễn kiếm tiền là một nhu cầu rất tự nhiên. Thậm chí có những ca sĩ còn được nhận cátxê cao hơn ở xứ người. Vậy thì dại gì mà họ không về.
Dù đã về già nhưng các ngôi sao loại một như Elvis Phương, Hương Lan, Lệ Thu…cũng còn được trả trên dưới 1000 USD một show hát; dù chỉ hai bài cho một liveshow, hoặc một đêm hát ở phòng trà. Chủ phòng trà Tiếng Xưa ở Sài Gòn phải kêu trời vì có ca sĩ hạng sao không chịu giảm mức cátxê ngất ngưởng, mặc cho đêm diễn bán vé được hay không. Bà còn kể có show diễn của Tuấn Ngọc, đành chấp nhận lấy công làm lãi vì mức cátxê ca sĩ đòi rất cao so với mặt bằng chung, mặc dù mấy năm nay, khán giả nghe Tuấn Ngọc cũng đã thấy nhàm. Ấy là chưa nói đến trường hợp có ca sĩ còn đòi ở khách sạn hạng sao và đi ôtô xịn trong suốt hành trình "trở về" quê mẹ của mình.
Điều này ngược với ý nghĩa "hát cho quê hương" mà họ từng phát biểu khi trở về. Mặc dù cũng có người đã kết hợp hát và trích tiền làm từ thiện, nhưng trên thực tế, chuyện đòi hỏi cátxê quá cao đã làm lũng đoạn thị trường ca nhạc, đồng thời gây rất nhiều khó khăn cho khán giả bình dân đã từng mến mộ họ. Vé ở nhà hát tới 1.200.000 đồng, hoặc giá vé đêm diễn của Chế Linh tại Nhà hát Hoà Bình (Tp HCM) lên tới 5.000.000 đồng thì ít người dám mơ. Và, ngay đến phòng trà ca nhạc, thí dụ có Lệ Thu hát, tiền phụ thu cũng đã đến 350.000 đồng một người, thì quả là khán giả bình dân phải lắc đầu ngán ngẩm. Thực chất phải nhận thấy trong số đó, không ít giọng hát đã chẳng còn sức thu hút thật sự nữa, mà đây chỉ là những câu chuyện vớt vát cuối đời.
Ngay lập tức, sau những cơn sốt nhạc hải ngoại, đã xuất hiện bao hệ luỵ mà các nhà quản lý văn hóa phải ngó mắt tới. Trước hết, đó là việc trốn thuế thu nhập của nhiều ca sĩ. Ai cũng nhớ cách đây không lâu, có tới 9 ca sĩ về hát bị cấm biểu diễn vì không kê khai thuế thu nhập cá nhân. Có lẽ việc ký hợp đồng "tay bo" giữa bầu sô và ca sĩ đã làm nên những rắc rối khó bề kiểm soát.
Câu chuyện thứ hai mà các nhà quản lý dường như vẫn bị che mắt: Đó là việc ca sĩ hát các ca khúc chưa được phép biểu diễn. Ở đây chủ yếu là các ca khúc một thời bị quy là nhạc vàng. Mặc dù có tới hàng trăm ca khúc đã được biểu diễn, nhưng vẫn có hiện tượng đăng ký một đằng, hát một nẻo. Hoặc, sau khi biểu diễn, các ca sĩ trao tặng hay bán CD, trong đó nội dung ra sao, có bài hát bị cấm hay không cũng khó biết. Sự mập mờ còn xảy ra khi có đoàn đã đi địa phương, nhất là các vùng sâu biểu diễn với giấy phép đã hết hạn.
Cùng với các hệ lụy trên, không ít khán giả còn thắc mắc về một sự "nhập nhằng" cần giải tỏa, ấy là việc không ít ca sĩ từ lâu đã về ở hẳn quê hương, vậy có nên "quảng cáo" họ là "ca sĩ hải ngoại" nữa hay không? Danh sách này khá dài như Elvis Phương, Giao Linh, Hương Lan, Đặng Tuyết Mai (!!!!!), Duy Quang, Thái Hiền, Duy Cường, Thái Thảo, Julie…Kể cả trường hợp mới đây là Dương Triệu Vũ đã trở về và hiện đang là giọng ca độc quyền của công ty "Tiếng hát Việt" của Đàm Vĩnh Hưng. Hơn nữa, các ca sĩ trên hầu hết đều có những hoạt động kinh doanh khác ở Tp HCM, ngoài việc đi hát. Vậy có thể nói họ đã trở thành ca sĩ nội chính hiệu, chẳng còn sự khác biệt để các ông bầu câu khách với cái nhãn "hải ngoại".
Trong thời gian tới, chắc sự hồi hương của các ca sĩ hải ngoại sẽ còn sôi nổi hơn nữa. Thị trường ca nhạc rất sôi động tại quê nhà, với sự cởi mở của các cấp chính quyền sẽ là điểm tựa tinh thần cho nhiều ca sĩ có nguyện vọng trở về biểu diễn. Tuy nhiên, trong sự chuyển động khá rắc rối của thị trường ca nhạc hiện nay, sự quay lại ồ ạt của các ca sĩ hải ngoại thường nảy sinh những điều bất cập như trên đã nói. Đặc biệt là nội dung tác phẩm biểu diễn, đừng để các sàn diễn đã bị rối loạn những bài hát trẻ, đang có chiều hướng "hàng nhảm" như "Yêu bao nhiêu người mà ai cũng gian dối/ Yêu năm ba hôm rồi thôi...", giờ đây lại bị chết lụt bởi cái gọi là "hàng vàng" rên rỉ "Cay đắng bờ môi". Vẫn biết, để thị trường ca nhạc có loại "hàng sạch" thật không dễ dàng chút nào, song đó là đòi hỏi chính đáng của nhiều khán, thính giả phía sau những cuộc "trở về" này
Vợ, Người Tình & Hồng Nhan Tri Kỷ
Thế nào là Vợ ? Vợ là người con gái mà bạn tình nguyện giao cả gia tài cho cô ấy cất giữ.
Thế nào là Người Tình ? Người Tình là người con gái mà bạn hẹn hò vụng trộm với cô ấy và sợ Vợ phát hiện.
Thế nào là Hồng Nhan Tri Kỷ ? Hồng Nhan Tri Kỷ là người con gái mà bạn có thể nói với cô ấy tất cả mọi bí mật kể cả điều mà bạn không thể nói được với Vợ hay Người Tình.
Vợ là một sự ràng buộc, ràng buộc bạn không thể tuỳ tiện cặp bồ với một người con gái khác ; Người Tình là một sự bù đắp, bù đắp cho bạn những tình cảm mãnh liệt mà ở người Vợ còn thiếu hoặc bạn không tìm được ở người Vợ ; Hồng Nhan Tri Kỷ là sự chỉ rõ, chỉ rõ sự mê say trong trái tim bạn.
Vợ sống cùng bạn từng ngày, Người Tình tiêu tiền cùng bạn, Hồng Nhan Tri Kỷ nói chuyện cùng bạn. Vợ không thể thay thế Người Tình, vì Vợ không điều khiển được tình cảm như Người Tình ; Người Tình không thể thay thế Vợ, vì Người Tình không có được tình thân như Vợ ; Vợ và Người Tình đều không thay thế được Hồng Nhan Tri Kỷ, vì đó nhu cầu của tâm linh.
Vợ là người con gái không hề có chút quan hệ máu mủ nào với bạn nhưng lại bồn chồn mong nhớ mỗi khi màn đêm đã xuống mà bạn chưa về nhà ; Người Tình là người con gái không hề có chút quan hệ gia đình với bạn nhưng lại làm cho bạn thoả mãn mùi vị ái tình của đấng nam giới ; Hồng Nhan Tri Kỷ là người con gái chẳng có quan hệ gì với bạn cả nhưng lại có thể chia sẻ với bạn những vui buồn phiền muộn, Vợ là một ngôi nhà, là một bến cảng mang cho trái tim nông nổi của bạn sự vỗ về an ủi ; Người Tình là gánh nặng của ngôi nhà, chẳng qua chưa đến nỗi vạn bất đắc kỷ, bạn không muốn vứt bỏ ; Hồng Nhan Tri Kỷ là vật tô điểm cho ngôi nhà, không có cô ấy bạn không thấy cô đơn, nhưng bạn sẽ cảm thấy cuộc sống chẳng có ý nghĩa gì.
Sự quan tâm của người Vợ như một ly nước lọc, có lúc trở thành sự lảm nhảm, chỉ khi bị ốm mới trở thành sự ôn hoà ; sự quan tâm của Người Tình như cốc nước lọc đó bỏ thêm chút đường, dần dần qua một đêm rồi mà vẫn chưa thoả mãn ; sự quan tâm của Hồng Nhan Tri Kỷ giống như cốc cafe khi bạn đang làm việc lúc nửa đêm, càng uống càng tỉnh.
Khi Vợ có bầu thì sẽ hỏi bạn muốn có con gái hay con trai một cách rất tình cảm ; khi Người Tình có bầu với bạn thì sẽ khóc và hỏi bạn phải làm sao bây giờ ? đối với Hồng Nhan Tri Kỷ, bạn sẽ kể cho cô ấy nghe chuyện Người Tình của bạn có bầu và sẽ hỏi cô ấy bạn nên làm thế nào. Ngay đối với người Vợ, chỉ sau khi bị cô ấy phát hiện bạn mới nói rằng "Thật ra, anh đã muốn nói với em sớm hơn" sau đó cố gắng hết sức để giải thích, và giả bộ rất đáng thương.
Khi Vợ về nhà mẹ đẻ một tuần không quay lại bạn cũng không thấy nhớ ; khi Người Tình mới 3 ngày không gặp bạn liền gọi điện cho cô ấy : Em đi đâu đó ? Tối nay chúng mình đến nơi cũ uống cafe được không ? Khi trong lòng cảm thấy buồn khổ, bạn chỉ muốn tìm Hồng Nhan Tri Kỷ để trò chuyện, nói với cô ấy chuyện vận mệnh của bạn giữa Vợ và Người Tình, thực tế không thể chịu đựng được nữa.
Cái mà làm đàn ông không chịu nổi đó là sự lảm nhảm của người Vợ, nước mắt của Người Tình và sự hiểu lầm của Hồng Nhan Tri Kỷ. Sự lảm nhảm của người Vợ làm đàn ông thấy đã rối cả lòng lại càng thêm rối hơn, nước mắt của Người Tình làm cho trái tim của đàn ông mềm yếu hơn, sự hiểu lầm của Hồng Nhan Tri Kỷ làm cho đàn ông thấy bị tổn thương, hụt hẫng.
Người Vợ tốt nhất là người mà đàn ông có thể tìm thấy ở cô ấy Người Tình và Hồng Nhan Tri Kỷ, chỉ là cảm giác thôi mà đàn ông khó có thể tìm thấy. Người Tình tốt nhất là người mà khi mối quan hệ của bạn và cô ấy bị Vợ bạn phát hiện, cô ấy sẽ chủ động rút lui mà không có một yêu cầu gì hết, nhưng khó mà tìm được điểm này của Người Tình. Hồng Nhan Tri Kỷ tốt nhất là người đến một ngày nào đó sẽ trở thành Người Tình, thậm chí thành Vợ của bạn, chỉ là cái suy nghĩ này chẳng có chút hiện thực gì cả.
Nếu như có thể, đàn ông rất muốn biến Hồng Nhan Tri Kỷ thành Người Tình, nếu có thể nữa thì sẽ muốn cô ấy thành người Vợ. Nhưng nếu Hồng Nhan Tri Kỷ trở thành Vợ rồi thì sẽ không còn là tri kỷ nữa, bởi vì rất ít đàn ông muốn biến Vợ thành tri kỷ. Trái tim đàn ông có rất nhiều bí mật không thể tuỳ tiện nói cho Vợ nghe, không thế thì làm sao gọi là đàn ông nữa.
Lấy Vợ là vì sợ người khác nói ra nói vào, tìm một Người Tình là vì muốn thêm chút gia vị vào để điều chỉnh cái cuộc sống tẻ nhạt, muốn có Hồng Nhan Tri Kỷ vì muốn tưới cho tâm hồn trống rỗng của họ một chút canh tươi.
Đàn ông cả đời đi tìm không phải là Vợ, cũng không phải là Người Tình mà là Hồng Nhan Tri Kỷ .
Trên Net
Thế nào là Người Tình ? Người Tình là người con gái mà bạn hẹn hò vụng trộm với cô ấy và sợ Vợ phát hiện.
Thế nào là Hồng Nhan Tri Kỷ ? Hồng Nhan Tri Kỷ là người con gái mà bạn có thể nói với cô ấy tất cả mọi bí mật kể cả điều mà bạn không thể nói được với Vợ hay Người Tình.
Vợ là một sự ràng buộc, ràng buộc bạn không thể tuỳ tiện cặp bồ với một người con gái khác ; Người Tình là một sự bù đắp, bù đắp cho bạn những tình cảm mãnh liệt mà ở người Vợ còn thiếu hoặc bạn không tìm được ở người Vợ ; Hồng Nhan Tri Kỷ là sự chỉ rõ, chỉ rõ sự mê say trong trái tim bạn.
Vợ sống cùng bạn từng ngày, Người Tình tiêu tiền cùng bạn, Hồng Nhan Tri Kỷ nói chuyện cùng bạn. Vợ không thể thay thế Người Tình, vì Vợ không điều khiển được tình cảm như Người Tình ; Người Tình không thể thay thế Vợ, vì Người Tình không có được tình thân như Vợ ; Vợ và Người Tình đều không thay thế được Hồng Nhan Tri Kỷ, vì đó nhu cầu của tâm linh.
Vợ là người con gái không hề có chút quan hệ máu mủ nào với bạn nhưng lại bồn chồn mong nhớ mỗi khi màn đêm đã xuống mà bạn chưa về nhà ; Người Tình là người con gái không hề có chút quan hệ gia đình với bạn nhưng lại làm cho bạn thoả mãn mùi vị ái tình của đấng nam giới ; Hồng Nhan Tri Kỷ là người con gái chẳng có quan hệ gì với bạn cả nhưng lại có thể chia sẻ với bạn những vui buồn phiền muộn, Vợ là một ngôi nhà, là một bến cảng mang cho trái tim nông nổi của bạn sự vỗ về an ủi ; Người Tình là gánh nặng của ngôi nhà, chẳng qua chưa đến nỗi vạn bất đắc kỷ, bạn không muốn vứt bỏ ; Hồng Nhan Tri Kỷ là vật tô điểm cho ngôi nhà, không có cô ấy bạn không thấy cô đơn, nhưng bạn sẽ cảm thấy cuộc sống chẳng có ý nghĩa gì.
Sự quan tâm của người Vợ như một ly nước lọc, có lúc trở thành sự lảm nhảm, chỉ khi bị ốm mới trở thành sự ôn hoà ; sự quan tâm của Người Tình như cốc nước lọc đó bỏ thêm chút đường, dần dần qua một đêm rồi mà vẫn chưa thoả mãn ; sự quan tâm của Hồng Nhan Tri Kỷ giống như cốc cafe khi bạn đang làm việc lúc nửa đêm, càng uống càng tỉnh.
Khi Vợ có bầu thì sẽ hỏi bạn muốn có con gái hay con trai một cách rất tình cảm ; khi Người Tình có bầu với bạn thì sẽ khóc và hỏi bạn phải làm sao bây giờ ? đối với Hồng Nhan Tri Kỷ, bạn sẽ kể cho cô ấy nghe chuyện Người Tình của bạn có bầu và sẽ hỏi cô ấy bạn nên làm thế nào. Ngay đối với người Vợ, chỉ sau khi bị cô ấy phát hiện bạn mới nói rằng "Thật ra, anh đã muốn nói với em sớm hơn" sau đó cố gắng hết sức để giải thích, và giả bộ rất đáng thương.
Khi Vợ về nhà mẹ đẻ một tuần không quay lại bạn cũng không thấy nhớ ; khi Người Tình mới 3 ngày không gặp bạn liền gọi điện cho cô ấy : Em đi đâu đó ? Tối nay chúng mình đến nơi cũ uống cafe được không ? Khi trong lòng cảm thấy buồn khổ, bạn chỉ muốn tìm Hồng Nhan Tri Kỷ để trò chuyện, nói với cô ấy chuyện vận mệnh của bạn giữa Vợ và Người Tình, thực tế không thể chịu đựng được nữa.
Cái mà làm đàn ông không chịu nổi đó là sự lảm nhảm của người Vợ, nước mắt của Người Tình và sự hiểu lầm của Hồng Nhan Tri Kỷ. Sự lảm nhảm của người Vợ làm đàn ông thấy đã rối cả lòng lại càng thêm rối hơn, nước mắt của Người Tình làm cho trái tim của đàn ông mềm yếu hơn, sự hiểu lầm của Hồng Nhan Tri Kỷ làm cho đàn ông thấy bị tổn thương, hụt hẫng.
Người Vợ tốt nhất là người mà đàn ông có thể tìm thấy ở cô ấy Người Tình và Hồng Nhan Tri Kỷ, chỉ là cảm giác thôi mà đàn ông khó có thể tìm thấy. Người Tình tốt nhất là người mà khi mối quan hệ của bạn và cô ấy bị Vợ bạn phát hiện, cô ấy sẽ chủ động rút lui mà không có một yêu cầu gì hết, nhưng khó mà tìm được điểm này của Người Tình. Hồng Nhan Tri Kỷ tốt nhất là người đến một ngày nào đó sẽ trở thành Người Tình, thậm chí thành Vợ của bạn, chỉ là cái suy nghĩ này chẳng có chút hiện thực gì cả.
Nếu như có thể, đàn ông rất muốn biến Hồng Nhan Tri Kỷ thành Người Tình, nếu có thể nữa thì sẽ muốn cô ấy thành người Vợ. Nhưng nếu Hồng Nhan Tri Kỷ trở thành Vợ rồi thì sẽ không còn là tri kỷ nữa, bởi vì rất ít đàn ông muốn biến Vợ thành tri kỷ. Trái tim đàn ông có rất nhiều bí mật không thể tuỳ tiện nói cho Vợ nghe, không thế thì làm sao gọi là đàn ông nữa.
Lấy Vợ là vì sợ người khác nói ra nói vào, tìm một Người Tình là vì muốn thêm chút gia vị vào để điều chỉnh cái cuộc sống tẻ nhạt, muốn có Hồng Nhan Tri Kỷ vì muốn tưới cho tâm hồn trống rỗng của họ một chút canh tươi.
Đàn ông cả đời đi tìm không phải là Vợ, cũng không phải là Người Tình mà là Hồng Nhan Tri Kỷ .
Trên Net
CSVN Kẻ Thù Của Internet
Tác giả : Vi Anh
Ngày 12/03/2012 là Ngày Thế giới Chống Kiểm Duyệt Internet, tổ chức Phóng viên Không Biên giới RSF (Reporters Sans Frontieres), trụ sở tại Paris (Pháp), tiếp tục chỉ mặt đặt tên Cộng sản Việt Nam là kẻ thù của Internet trong năm 2012. Như vậy là chế độ CS Hà nội đã liên tục bị nằm trong sổ bìa đen kẻ thù của Internet trong suốt 10 năm qua kể từ khi RSF lập danh sách Kẻ thù của Internet này cách đây một thập niên.
RSF làm việc này một cách qui mô, đều đặn, công khai qua việc công bố một bản báo cáo. Theo bản báo cáo này cho biết năm 2012, bị coi là kẻ thù của internet gồm các chế độ đang cai trị các nước Ả Rập Xê Út, Bahrain, Belarus, Miến Điện, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba, Iran, Uzbekistan, Syria, Turkmenistan và Việt Nam. Có hai nước Venezuela và Libya có tên trong năm rồi, năm nay được xóa trong danh sách 2012. Và hai nước mới bị ghi vào sổ bìa đen năm nay là Bahrain và Belarus. Miến điện có cải tiến dân chủ nhưng chưa được xóa tên.
Còn ba chế độ CS ở Trung Quốc, Bắc Hàn và Việt Nam - Việt Nam lần này đứng thứ hai sau Trung Quốc - vẫn tiếp tục còn nằm trong danh sách bị coi là kẻ thù của Internet như mấy năm trước. Vì những chế độ CS độc tài đảng trị tòan diện này, một mặt đối với nhân dân siết chặt Internet, kiểm duyệt gắt gao, trấn áp thô bạo đối với những người dùng Intrenet đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền. Mặt khác Đảng Nhà Nước CS dùng Internet để tuyên truyền đen, trắng, xám, kể cả dùng cả binh đòan công an mạng và tin tặc nhà nước (state hackers) đánh phá những người dân dùng Internet đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, chống áp bức, bóc lột, tham nhũng của nhà cầm quyền trên mạng.
Tổ chức Phóng viên Không Biên giới nhận định sở dĩ năm rồi CSVN làm mạnh như thế đối với công dân trên mạng vì CSVN lo sợ ảnh hưởng của các cuộc nổi dậy trong thế giới Ả Rập, lan sang VN. CSVN lo sợ những công dân VN trên mạng làm như những người ở Tunisia, Ai cập, Libya dùng Internet vận động tinh thần yêu tự do, dân chủ, tinh thần yêu nước chống quân Tàu xâm lược, chống nhà cầm quyền CS Hà nội nhu nhược để huy động thành cuộc nổi dậy chống Đảng Nhà Nước CS Hà nội.
CS Hà nội càng lo sợ hơn khi thấy tiến bộ khoa học kỹ thuật Tin Học của thời đại đã giải thóat người dân bị trị, biến tuyên truyền của CS vô tác dụng. Hơn 700 tờ báo, cả trăm đài phát thanh, truyền hình của Đảng tuyên truyền cho Đảng bị bó buộc phải đi “lề phải” để “định hướng” dư luận, dân chúng rất lơ là hầu như không nghe, không nhìn, không đọc. Có địa phương như huyện Hóc môn ở Saigon. dân còn yêu cầu dẹp các hệ thống hàng trăm cái loa làm rộn dân, không ngủ nghệ, ngơi nghỉ được..
Trái lại thông tin, nghị luận ngòai luồng trên Internet, nhứt là blog chánh trị, người dân rất thích thú. Với chiếc máy điện thọai di động, những hành động bạc ác của cán bộ, đảng viên, những cuộc đấu tranh của người dân chỉ trong nháy mắt được loan truyền trong và ngòai nước.
CS thấy kiểm duyệt, ngăn chận không chưa đủ nên ra tay và mạnh tay bắt giữ, trấn áp những người viết blog, công dân mạng và nhà báo, vốn đã khởi động từ vài năm qua, đã gia tăng cường độ trong năm 2011.
Vấn đề đặt ra, là tại sao CS Hà nội hành động như kẻ thù của Internet và liệu CS họ có thắng được những người Việt yêu nước, thương dân, dùng vũ khí Internet để đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN.
Câu trả lời, là CS sợ Internet và blog chánh trị. Các nước trong thế giới Á rập đã dùng Internet tạo được các cuộc nổi dậy, đắc thắng ngay trong chế độ độc tài như ở Tunisia, Ai Cập. Và kể cả Libya, độc tài Gadhafi dùng phi cơ, trực thăng, xe tăng để diệt người dân nổi dậy. Nhưng cách mạng tự do, dân chủ, nhân quyền vẫn thắng. Syria cũng sẽ như thế sớm hay muộn mà thôi dù Tổng Thống Assad dùng quân đội diệt người dân nổi dậy. Người dân ở các nước này thắng chánh yếu là nhờ dùng Internet để kết nối thành phong trào cách mạng quốc gia lật đổ độc tài.
Vì những người dân trên Internet kết nối nhau quá đông, không có nhà nước nào đủ người, đủ phương tiện, đủ trí khôn, kinh nghiệm và thời giờ chống lại những nhà dân báo, những nhà truyền thông dân gian, người yêu tự do nắm vững vũ khi thời đại. Trái lại độc tài mạnh vũ lực chỉ biết đàn áp, khiến bạo lực kêu gọi bạo lực, sức ép càng nhiều, sức bật càng cao. Thế giới luôn binh vực người dân nổi dậy bị đàn áp bằng võ lực.
Tiến bộ khoa học rõ ràng đứng về phía người dân đa số, giải thoát dân chúng khỏi cảnh bị độc tài bịt miệng, bịt tai, trói buộc. Nên khi phong trào biểu tình chống độc tài trong thế giới Á rập bùng lên, TC lo sợ, thủ trước, tăng cường siết Internet trước. TQ có khoảng 450 triệu người dùng Internet. Internet đã đang và sẽ là viện công tố chống Cộng sản bất công, tham nhũng, độc tài. Theo Giáo sư Dương Quốc Tân (Yang Guobin), ở Đại học Columbia Mỹ, thì việc dùng Internet chống tệ nạn xã hội qua Internet là một hiện tượng đang phát triển mạnh tại Trung Quốc.
Tại VNCS, thông tin, nghị luận, hình ảnh Dân Oan bị cướp đất, những nhà dân chủ bị trấn áp, những tham nhũng của đảng viên, cán bộ CS Hà nội quyết tâm bưng bít đều có trên Internet dưới nhiều hình thức được Internet chuyển đi. VN đưa lên Internet.
Internet đã trở thành vũ khí đấu tranh mọi mặt, từ đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, đến trừ gian diệt bạo, lật đổ độc tài. Internet nối kết phong trào cách mạng quốc gia chống độc tài ở Tunisia và Ai cập là tiêu biểu.
Nên không có gì ngạc nhiên khi thấy độc tài lúc nào cũng muốn biến Internet lợi cho họ và bóp chết những gì lợi cho nhân quần xã hội. Hai chế độ CS còn sót lại lớn nhứt ở Á châu là CS Bắc Kinh và lớn nhì là CS Hà nội làm đủ mọi cách để “nắm” Internet. Từ tường lửa ngăn chận vào các lãnh vực cấm kỵ của CS, đến đưa ra hàng binh đoàn tin tặc đánh phá và chim mồi giả dạng chống Cộng cuội, đến áp lực đặt điều kiện với những công ty cung ứng dịch vụ Internet muốn vào làm ăn trong chế độ CS, phải tạo điều kiện cho nhà cầm quyền CS kiềm soát Internet và cho tên họ những ai chống Đảng Nhà Nước CS trên Internet. Thậm chí TC đòi hỏi những nhà sản xuất computers muốn bán ở TC phải cài đặt một bộ phận ngăn cản không vào được những lãnh vực nhà cầm quyền cấm kỵ.
Nhưng người ta thấy càng ngày phong trào và lực lương người dân của các nước dùng Internet chống độc tài càng phát triễn. Phong trào nổi dậy của người dân trong thế giới Á rập là một thí dụ điển hình.
Vi Anh
Tác giả : Vi Anh
Ngày 12/03/2012 là Ngày Thế giới Chống Kiểm Duyệt Internet, tổ chức Phóng viên Không Biên giới RSF (Reporters Sans Frontieres), trụ sở tại Paris (Pháp), tiếp tục chỉ mặt đặt tên Cộng sản Việt Nam là kẻ thù của Internet trong năm 2012. Như vậy là chế độ CS Hà nội đã liên tục bị nằm trong sổ bìa đen kẻ thù của Internet trong suốt 10 năm qua kể từ khi RSF lập danh sách Kẻ thù của Internet này cách đây một thập niên.
RSF làm việc này một cách qui mô, đều đặn, công khai qua việc công bố một bản báo cáo. Theo bản báo cáo này cho biết năm 2012, bị coi là kẻ thù của internet gồm các chế độ đang cai trị các nước Ả Rập Xê Út, Bahrain, Belarus, Miến Điện, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba, Iran, Uzbekistan, Syria, Turkmenistan và Việt Nam. Có hai nước Venezuela và Libya có tên trong năm rồi, năm nay được xóa trong danh sách 2012. Và hai nước mới bị ghi vào sổ bìa đen năm nay là Bahrain và Belarus. Miến điện có cải tiến dân chủ nhưng chưa được xóa tên.
Còn ba chế độ CS ở Trung Quốc, Bắc Hàn và Việt Nam - Việt Nam lần này đứng thứ hai sau Trung Quốc - vẫn tiếp tục còn nằm trong danh sách bị coi là kẻ thù của Internet như mấy năm trước. Vì những chế độ CS độc tài đảng trị tòan diện này, một mặt đối với nhân dân siết chặt Internet, kiểm duyệt gắt gao, trấn áp thô bạo đối với những người dùng Intrenet đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền. Mặt khác Đảng Nhà Nước CS dùng Internet để tuyên truyền đen, trắng, xám, kể cả dùng cả binh đòan công an mạng và tin tặc nhà nước (state hackers) đánh phá những người dân dùng Internet đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, chống áp bức, bóc lột, tham nhũng của nhà cầm quyền trên mạng.
Tổ chức Phóng viên Không Biên giới nhận định sở dĩ năm rồi CSVN làm mạnh như thế đối với công dân trên mạng vì CSVN lo sợ ảnh hưởng của các cuộc nổi dậy trong thế giới Ả Rập, lan sang VN. CSVN lo sợ những công dân VN trên mạng làm như những người ở Tunisia, Ai cập, Libya dùng Internet vận động tinh thần yêu tự do, dân chủ, tinh thần yêu nước chống quân Tàu xâm lược, chống nhà cầm quyền CS Hà nội nhu nhược để huy động thành cuộc nổi dậy chống Đảng Nhà Nước CS Hà nội.
CS Hà nội càng lo sợ hơn khi thấy tiến bộ khoa học kỹ thuật Tin Học của thời đại đã giải thóat người dân bị trị, biến tuyên truyền của CS vô tác dụng. Hơn 700 tờ báo, cả trăm đài phát thanh, truyền hình của Đảng tuyên truyền cho Đảng bị bó buộc phải đi “lề phải” để “định hướng” dư luận, dân chúng rất lơ là hầu như không nghe, không nhìn, không đọc. Có địa phương như huyện Hóc môn ở Saigon. dân còn yêu cầu dẹp các hệ thống hàng trăm cái loa làm rộn dân, không ngủ nghệ, ngơi nghỉ được..
Trái lại thông tin, nghị luận ngòai luồng trên Internet, nhứt là blog chánh trị, người dân rất thích thú. Với chiếc máy điện thọai di động, những hành động bạc ác của cán bộ, đảng viên, những cuộc đấu tranh của người dân chỉ trong nháy mắt được loan truyền trong và ngòai nước.
CS thấy kiểm duyệt, ngăn chận không chưa đủ nên ra tay và mạnh tay bắt giữ, trấn áp những người viết blog, công dân mạng và nhà báo, vốn đã khởi động từ vài năm qua, đã gia tăng cường độ trong năm 2011.
Vấn đề đặt ra, là tại sao CS Hà nội hành động như kẻ thù của Internet và liệu CS họ có thắng được những người Việt yêu nước, thương dân, dùng vũ khí Internet để đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN.
Câu trả lời, là CS sợ Internet và blog chánh trị. Các nước trong thế giới Á rập đã dùng Internet tạo được các cuộc nổi dậy, đắc thắng ngay trong chế độ độc tài như ở Tunisia, Ai Cập. Và kể cả Libya, độc tài Gadhafi dùng phi cơ, trực thăng, xe tăng để diệt người dân nổi dậy. Nhưng cách mạng tự do, dân chủ, nhân quyền vẫn thắng. Syria cũng sẽ như thế sớm hay muộn mà thôi dù Tổng Thống Assad dùng quân đội diệt người dân nổi dậy. Người dân ở các nước này thắng chánh yếu là nhờ dùng Internet để kết nối thành phong trào cách mạng quốc gia lật đổ độc tài.
Vì những người dân trên Internet kết nối nhau quá đông, không có nhà nước nào đủ người, đủ phương tiện, đủ trí khôn, kinh nghiệm và thời giờ chống lại những nhà dân báo, những nhà truyền thông dân gian, người yêu tự do nắm vững vũ khi thời đại. Trái lại độc tài mạnh vũ lực chỉ biết đàn áp, khiến bạo lực kêu gọi bạo lực, sức ép càng nhiều, sức bật càng cao. Thế giới luôn binh vực người dân nổi dậy bị đàn áp bằng võ lực.
Tiến bộ khoa học rõ ràng đứng về phía người dân đa số, giải thoát dân chúng khỏi cảnh bị độc tài bịt miệng, bịt tai, trói buộc. Nên khi phong trào biểu tình chống độc tài trong thế giới Á rập bùng lên, TC lo sợ, thủ trước, tăng cường siết Internet trước. TQ có khoảng 450 triệu người dùng Internet. Internet đã đang và sẽ là viện công tố chống Cộng sản bất công, tham nhũng, độc tài. Theo Giáo sư Dương Quốc Tân (Yang Guobin), ở Đại học Columbia Mỹ, thì việc dùng Internet chống tệ nạn xã hội qua Internet là một hiện tượng đang phát triển mạnh tại Trung Quốc.
Tại VNCS, thông tin, nghị luận, hình ảnh Dân Oan bị cướp đất, những nhà dân chủ bị trấn áp, những tham nhũng của đảng viên, cán bộ CS Hà nội quyết tâm bưng bít đều có trên Internet dưới nhiều hình thức được Internet chuyển đi. VN đưa lên Internet.
Internet đã trở thành vũ khí đấu tranh mọi mặt, từ đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, đến trừ gian diệt bạo, lật đổ độc tài. Internet nối kết phong trào cách mạng quốc gia chống độc tài ở Tunisia và Ai cập là tiêu biểu.
Nên không có gì ngạc nhiên khi thấy độc tài lúc nào cũng muốn biến Internet lợi cho họ và bóp chết những gì lợi cho nhân quần xã hội. Hai chế độ CS còn sót lại lớn nhứt ở Á châu là CS Bắc Kinh và lớn nhì là CS Hà nội làm đủ mọi cách để “nắm” Internet. Từ tường lửa ngăn chận vào các lãnh vực cấm kỵ của CS, đến đưa ra hàng binh đoàn tin tặc đánh phá và chim mồi giả dạng chống Cộng cuội, đến áp lực đặt điều kiện với những công ty cung ứng dịch vụ Internet muốn vào làm ăn trong chế độ CS, phải tạo điều kiện cho nhà cầm quyền CS kiềm soát Internet và cho tên họ những ai chống Đảng Nhà Nước CS trên Internet. Thậm chí TC đòi hỏi những nhà sản xuất computers muốn bán ở TC phải cài đặt một bộ phận ngăn cản không vào được những lãnh vực nhà cầm quyền cấm kỵ.
Nhưng người ta thấy càng ngày phong trào và lực lương người dân của các nước dùng Internet chống độc tài càng phát triễn. Phong trào nổi dậy của người dân trong thế giới Á rập là một thí dụ điển hình.
Vi Anh
Tại Sao CS Thù Internet?
Tác giả : Vi Anh Tổ chức Phóng viên Không Biên giới RSF ( Reporters Sans Frontières), nhơn ngày 12/03/2012 là Ngày Thế giới Chống Kiểm Duyệt Internet, công bố các chế độ sau đây là “kẻ thù của Internet năm 2012”: Ả Rập Xê Út, Bahrain, Belarus, Miến Điện, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba, Iran, Uzbekistan, Syria, Turkmenistan và Việt Nam. Theo bản báo cáo này, cả ba chế dộ CS còn sót lại ở Á châu đều bị gồm CS Bắc Hàn, Việt Nam CS và Trung Cộng. CSVN đã liên tục bị 10 năm rồi, năm nay 2012, VNCS đứng sát sau TC. Cộng sản Trung Quốc, Bắc Hàn và Việt Nam đều sợ Internet, sợ thông tin, nghị luận, sợ blog chánh trị của người dân do xa lộ thông tin tòan cầu Internet chuyển tải. Nên CS đánh phá Internet một cách thô bạo và không ngừng nghỉ.
Tại sao? Phải chăng Internet đang giải thóat Con Người ra khỏi kềm kẹp của độc tài CS, khỏi tuyên truyền của CS. Internet giúp đưa thông tin nghị luận của mọi hình thái truyền thông đại chúng chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp, truyền thông trong luồng hay ngòai luồng giúp cho khán thính, độc giả xem xét nhận định. Nói một cách khác, Internet cung ứng nhu cầu tìm hiểu, nhận xét cho con người, một món ăn tinh thần cho kiến thức, có khi còn quí hơn, cần thiết, thiết yếu hơn nhu cầu giải trí nữa. Vỉ kiến thức là sức mạnh của con người trong thời đại khoa học kỹ thuật cao đương đại.
Muốn hay không muốn truyền thông đại chúng cũng đóng vai trò lớn không chối cãi được trong cuộc sống của thời đại này. Mà Internet là phương tiện chuyên chở mọi lọai hình của truyền thông đại chúng từ phát thanh, phát hình, báo chí truyền thống của cơ quan, tập thể cho đến webs, blog, paltalk của cá nhân, v.v... Để một bên quảng cáo tràn ngập trên các loại hình truyền thông đập vào mắt vào tai mỗi người một ngày không biết bao nhiêu lần, còn có thông tin, nghị luận, và giải trí có thể nói quá phong phú đến thừa mứa nữa. Tạm lấy người Mỹ như một điển hình tiên tiến trong thời đại truyền thông đại chúng vì muốn hay không muốn người Mỹ là người sử dụng và hưởng dụng truyền thông đại chúng nhiều nhứt. Để từ đó thử phân tích tin tức là một thứ giải trí hay là một nhu cầu công ích.
Một, khảo nghiệm của đại học cho biết người Mỹ là người dùng truyền thông nhiều nhứt. Dùng hai phần ba thời gian thức để vô Internet, xem TV, nghe nhạc, hay nói điện thoại. Vừa vào Internet vừa làm việc khác như xem truyền hình, nghe nhạc, xem thư. Đó là kết quả do Trung tâm nghiên cứu của Đại học Indiana làm một cuộc khảo sát khoa học và công phu. Mỗi người đồng ý cho khảo nghiệm được gắn một máy đặc biệt ghi nhận cứ 15 giây một lần những hoạt động suốt 12 tiếng đồng hồ một ngày, tổng cộng 5.000 giờ, với 400 cư dân đồng ý cho khảo nghiệm ở vùng Trung Tây nước Mỹ. Kết quả cho biết trung bình một người Mỹ sử dụng 30% thời gian thức để tiếp cận với truyền thông và 20% để làm việc. Theo nhận xét của Giám đốc Trung Tâm là Ô Michael Bloxham, tham khảo truyền thông có nghĩa thí dụ như xem TV, nghe radio, đọc báo. Kết quả này không có gì đáng ngạc nhiên, nó xác nhận khuynh hướng chung rất phù hợp với những khảo nghiệm những năm trước đây; nó cũng xác nhận vai trò rộng lớn của truyền thông trong đời sống của người Mỹ.
Khảo nghiệm này cũng cho biết trong việc tiếp cận truyền thông đại chúng, có hai loại người. Loại thứ nhứt xem truyền hình trung bình 240 phút (4 giờ đồng hồ) một ngày. Loại thứ hai xem computers 135 phút (2 giờ 15 phút) một ngày. Loại hai xem những gì trình bày, loan tải trên mạng qua Internet, như điện thư, điện tín khẩn, báo chí, nhạc. Và có một điều ngạc nhiên đầy thích thú là thời gian xem computers theo khảo nghiệm bằng với thời gian nghe nhạc mỗi ngày, nghe từ nhiều thứ máy, như radio, nhạc phát từ nhiều chương trình trên mạng.
Và càng thích thú hơn, có người vừa tiếp cận truyền thông vừa làm việc khác. TV là loại hình truyền thông người ta vừa xem vừa làm việc khác nhiều nhứt. Khảo nghiệm kết luận dù thời gian tiếp cận với computers ngày càng tăng, nhưng loại hình truyền thông người ta dành thời giờ nhiều nhứt vẫn là cho TV.
Hai, tiếp cận với truyền thông chánh yếu để giải trí và biết tin tức. Vậy tin tức là một trò giải trí hay một nhu cầu vì công ích. Theo Jim Lehrer, một người dẫn chương trình đáng kính của truyền hình PBS, được mời chất vấn ứng cử viên tổng thống nhiều lần, khẳng định tin tức không phải là một thứ giải trí, mà là một nhu cầu công ích. Cơ quan truyền thông vì thế không phải là nơi làm kỹ nghệ giải trí. Nhưng Victoria Corderi, người dẫn chương trình Dateline của Truyền hình hình NBC nói ngược lại, tin tức là một thứ giải trí.
Bất đồng ý kiến này có lý do. Truyền thông đại chúng bây giờ so với 20 năm trước phát triển thành nhiều loại, báo chí, phát thanh, truyền hình, websites, blogs, v.v... Khán thính giả rộng đường thông tin nghị luận, nhưng cũng có thể tạo cho mình một ốc đảo quan điểm lập trường, cái gì thích thì nghe nhìn, cái gì không thì bỏ qua.
Và khuynh hướng này thấy rõ ở Quốc Hội, là trái tim, khối óc thu gọn của nhân dân Mỹ. Nơi cơ quan quyền lực tối cao của Mỹ này, tả là tả, hữu là hữu, không thỏa hiệp. Điều này không tốt cho chánh quyền dân chủ là chánh quyền cần thỏa hiệp và giám sát kềm chế lẫn nhau.
Vậy tin tức đúng là một nhu cầu công ích để người nghe nhìn có dữ kiện để so sánh, nhận định, tự chọn cho mình một quyết định. Chính vì vậy hơn bao giờ hết, trong thời đại này, tin tức vô tư, trung thực, chính xác, kịp thời là một nhu cầu công ích để tạo niềm tin — là cần thiết hơn bao giờ hết.
Nhưng càng ngày truyền thông càng tỏ ra không thành công với thiên chức đó. Nhiều xì căn đan xảy ra do chính nhà báo gây ra, trong những tơ báo lớn như USA Today, New York Times, và hệ thống truyền hình lớn. Nếu đà này tiếp diễn chắc chắn niềm tin của quần chúng sẽ bị xói mòn. Nhưng truyền thông đại chúng cũng gặp vô vàn khó khăn do thời đại gây ra.
Nhiều bàn tay đang trói chặt truyền thông. Độc giả báo ngày càng bớt. Quảng cáo là nguồn lợi lớn nhứt cho đời sống vật chất của truyền thông. Thêm vào đó một người chỉ cần có một máy quay phim, đóng một số tiền nhỏ mua vùng trên Internet là có thề làm ra vô vàn tin tức.
Chính trong cảnh vàng thau lẫn lộn đó, tin tức đúng đắn hơn lúc nào tỏ ra vô cùng thiết yếu, như nhu cầu công ích vậy. Đúng theo nghĩa theo nghĩa truyền thống là vô tư, độc lập, trung thực, chính xác và kịp thời. Quần chúng cần những thứ đó để biết sự thật. Do vậy tin tức không thể là một trò giải trí. Tin tức là tin tức. Nó có thể tốt, làm vui với người, phe đảng này, nhưng xấu, làm bực người, phe đảng khác. Nhưng cái giá trị cốt yếu của nó là sự thật. Bóp méo sự thật dù một chút thôi để làm vừa lòng phe đảng nào đó, như một thứ giải trí là không còn là tin tức nữa.
Vi Anh
Tác giả : Vi Anh Tổ chức Phóng viên Không Biên giới RSF ( Reporters Sans Frontières), nhơn ngày 12/03/2012 là Ngày Thế giới Chống Kiểm Duyệt Internet, công bố các chế độ sau đây là “kẻ thù của Internet năm 2012”: Ả Rập Xê Út, Bahrain, Belarus, Miến Điện, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba, Iran, Uzbekistan, Syria, Turkmenistan và Việt Nam. Theo bản báo cáo này, cả ba chế dộ CS còn sót lại ở Á châu đều bị gồm CS Bắc Hàn, Việt Nam CS và Trung Cộng. CSVN đã liên tục bị 10 năm rồi, năm nay 2012, VNCS đứng sát sau TC. Cộng sản Trung Quốc, Bắc Hàn và Việt Nam đều sợ Internet, sợ thông tin, nghị luận, sợ blog chánh trị của người dân do xa lộ thông tin tòan cầu Internet chuyển tải. Nên CS đánh phá Internet một cách thô bạo và không ngừng nghỉ.
Tại sao? Phải chăng Internet đang giải thóat Con Người ra khỏi kềm kẹp của độc tài CS, khỏi tuyên truyền của CS. Internet giúp đưa thông tin nghị luận của mọi hình thái truyền thông đại chúng chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp, truyền thông trong luồng hay ngòai luồng giúp cho khán thính, độc giả xem xét nhận định. Nói một cách khác, Internet cung ứng nhu cầu tìm hiểu, nhận xét cho con người, một món ăn tinh thần cho kiến thức, có khi còn quí hơn, cần thiết, thiết yếu hơn nhu cầu giải trí nữa. Vỉ kiến thức là sức mạnh của con người trong thời đại khoa học kỹ thuật cao đương đại.
Muốn hay không muốn truyền thông đại chúng cũng đóng vai trò lớn không chối cãi được trong cuộc sống của thời đại này. Mà Internet là phương tiện chuyên chở mọi lọai hình của truyền thông đại chúng từ phát thanh, phát hình, báo chí truyền thống của cơ quan, tập thể cho đến webs, blog, paltalk của cá nhân, v.v... Để một bên quảng cáo tràn ngập trên các loại hình truyền thông đập vào mắt vào tai mỗi người một ngày không biết bao nhiêu lần, còn có thông tin, nghị luận, và giải trí có thể nói quá phong phú đến thừa mứa nữa. Tạm lấy người Mỹ như một điển hình tiên tiến trong thời đại truyền thông đại chúng vì muốn hay không muốn người Mỹ là người sử dụng và hưởng dụng truyền thông đại chúng nhiều nhứt. Để từ đó thử phân tích tin tức là một thứ giải trí hay là một nhu cầu công ích.
Một, khảo nghiệm của đại học cho biết người Mỹ là người dùng truyền thông nhiều nhứt. Dùng hai phần ba thời gian thức để vô Internet, xem TV, nghe nhạc, hay nói điện thoại. Vừa vào Internet vừa làm việc khác như xem truyền hình, nghe nhạc, xem thư. Đó là kết quả do Trung tâm nghiên cứu của Đại học Indiana làm một cuộc khảo sát khoa học và công phu. Mỗi người đồng ý cho khảo nghiệm được gắn một máy đặc biệt ghi nhận cứ 15 giây một lần những hoạt động suốt 12 tiếng đồng hồ một ngày, tổng cộng 5.000 giờ, với 400 cư dân đồng ý cho khảo nghiệm ở vùng Trung Tây nước Mỹ. Kết quả cho biết trung bình một người Mỹ sử dụng 30% thời gian thức để tiếp cận với truyền thông và 20% để làm việc. Theo nhận xét của Giám đốc Trung Tâm là Ô Michael Bloxham, tham khảo truyền thông có nghĩa thí dụ như xem TV, nghe radio, đọc báo. Kết quả này không có gì đáng ngạc nhiên, nó xác nhận khuynh hướng chung rất phù hợp với những khảo nghiệm những năm trước đây; nó cũng xác nhận vai trò rộng lớn của truyền thông trong đời sống của người Mỹ.
Khảo nghiệm này cũng cho biết trong việc tiếp cận truyền thông đại chúng, có hai loại người. Loại thứ nhứt xem truyền hình trung bình 240 phút (4 giờ đồng hồ) một ngày. Loại thứ hai xem computers 135 phút (2 giờ 15 phút) một ngày. Loại hai xem những gì trình bày, loan tải trên mạng qua Internet, như điện thư, điện tín khẩn, báo chí, nhạc. Và có một điều ngạc nhiên đầy thích thú là thời gian xem computers theo khảo nghiệm bằng với thời gian nghe nhạc mỗi ngày, nghe từ nhiều thứ máy, như radio, nhạc phát từ nhiều chương trình trên mạng.
Và càng thích thú hơn, có người vừa tiếp cận truyền thông vừa làm việc khác. TV là loại hình truyền thông người ta vừa xem vừa làm việc khác nhiều nhứt. Khảo nghiệm kết luận dù thời gian tiếp cận với computers ngày càng tăng, nhưng loại hình truyền thông người ta dành thời giờ nhiều nhứt vẫn là cho TV.
Hai, tiếp cận với truyền thông chánh yếu để giải trí và biết tin tức. Vậy tin tức là một trò giải trí hay một nhu cầu vì công ích. Theo Jim Lehrer, một người dẫn chương trình đáng kính của truyền hình PBS, được mời chất vấn ứng cử viên tổng thống nhiều lần, khẳng định tin tức không phải là một thứ giải trí, mà là một nhu cầu công ích. Cơ quan truyền thông vì thế không phải là nơi làm kỹ nghệ giải trí. Nhưng Victoria Corderi, người dẫn chương trình Dateline của Truyền hình hình NBC nói ngược lại, tin tức là một thứ giải trí.
Bất đồng ý kiến này có lý do. Truyền thông đại chúng bây giờ so với 20 năm trước phát triển thành nhiều loại, báo chí, phát thanh, truyền hình, websites, blogs, v.v... Khán thính giả rộng đường thông tin nghị luận, nhưng cũng có thể tạo cho mình một ốc đảo quan điểm lập trường, cái gì thích thì nghe nhìn, cái gì không thì bỏ qua.
Và khuynh hướng này thấy rõ ở Quốc Hội, là trái tim, khối óc thu gọn của nhân dân Mỹ. Nơi cơ quan quyền lực tối cao của Mỹ này, tả là tả, hữu là hữu, không thỏa hiệp. Điều này không tốt cho chánh quyền dân chủ là chánh quyền cần thỏa hiệp và giám sát kềm chế lẫn nhau.
Vậy tin tức đúng là một nhu cầu công ích để người nghe nhìn có dữ kiện để so sánh, nhận định, tự chọn cho mình một quyết định. Chính vì vậy hơn bao giờ hết, trong thời đại này, tin tức vô tư, trung thực, chính xác, kịp thời là một nhu cầu công ích để tạo niềm tin — là cần thiết hơn bao giờ hết.
Nhưng càng ngày truyền thông càng tỏ ra không thành công với thiên chức đó. Nhiều xì căn đan xảy ra do chính nhà báo gây ra, trong những tơ báo lớn như USA Today, New York Times, và hệ thống truyền hình lớn. Nếu đà này tiếp diễn chắc chắn niềm tin của quần chúng sẽ bị xói mòn. Nhưng truyền thông đại chúng cũng gặp vô vàn khó khăn do thời đại gây ra.
Nhiều bàn tay đang trói chặt truyền thông. Độc giả báo ngày càng bớt. Quảng cáo là nguồn lợi lớn nhứt cho đời sống vật chất của truyền thông. Thêm vào đó một người chỉ cần có một máy quay phim, đóng một số tiền nhỏ mua vùng trên Internet là có thề làm ra vô vàn tin tức.
Chính trong cảnh vàng thau lẫn lộn đó, tin tức đúng đắn hơn lúc nào tỏ ra vô cùng thiết yếu, như nhu cầu công ích vậy. Đúng theo nghĩa theo nghĩa truyền thống là vô tư, độc lập, trung thực, chính xác và kịp thời. Quần chúng cần những thứ đó để biết sự thật. Do vậy tin tức không thể là một trò giải trí. Tin tức là tin tức. Nó có thể tốt, làm vui với người, phe đảng này, nhưng xấu, làm bực người, phe đảng khác. Nhưng cái giá trị cốt yếu của nó là sự thật. Bóp méo sự thật dù một chút thôi để làm vừa lòng phe đảng nào đó, như một thứ giải trí là không còn là tin tức nữa.
Vi Anh
Việt Tân
Trịnh Hội
Thiệt chán dễ sợ. Nói theo kiểu bây giờ là “chán hơn con gián, ngán hơn bột bán”. Chán vì cách xử sự của những người có quyền, có chức ở Việt Nam bây giờ. Và ngán vì họ có thể chụp mũ bất cứ ai đang tranh đấu cho một tương lai tươi sáng cho đất nước bằng cách gán cho họ cái nhãn “‘Việt Tân”. Không cần biết là đương sự có biết đếch gì về tổ chức này hay không. Thích hay không thích. Đã từng tham gia một vài hội nghị do Việt Tân tổ chức hay không. Hay chỉ biết sơ qua các hoạt động của tổ chức này. Như tôi chẳng hạn.
Còn nhớ cách đây đúng 4 năm khi tôi bắt đầu bị các nhân viên công an người Bắc để ý đến để rồi sau đó liên tục bị chất vấn về các hoạt động xã hội mà tôi đã từng tham gia. Cũng như những gì tôi biết về Việt Tân và một số nhà hoạt động xã hội có tiếng trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại như anh Nam Lộc, Nhạc sĩ Trúc Hồ, Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tiến ở Úc, v.v…
Và dĩ nhiên trong đó bao gồm cả những người tôi quen biết hiện đang là thành viên của đảng Việt Tân. Như phát ngôn viên của đảng: Hoàng Tứ Duy.
Thật ra trước đây tôi không quen thân với Duy cho lắm. Duy lớn lên và sống ở Mỹ. Còn tôi thì ở tuốt bên Úc, sau này học ra trường lại sang Philippines làm việc. Vì vậy tôi đã không biết gì nhiều về Duy, nói chi đến các đảng phái, hội đoàn chính trị.
Ngay cả sau này khi tôi lấy vợ, sang Mỹ lập nghiệp tôi cũng không biết rõ hơn về Duy là bao. Ngày tôi chuyển về Việt Nam đi làm vào năm 2007 thật tình tôi cũng chẳng biết Duy là đảng viên của đảng Việt Tân (và ít lâu sau là phát ngôn viên của đảng). Thậm chí tôi cũng chẳng biết Duy sinh năm nào hay đảng Việt Tân hoạt động ra sao. Lúc ấy tôi chỉ có thể đoán chừng Duy khoảng độ tuổi tôi hay nhỏ hơn tôi một, hai tuổi gì đó. Và đảng Việt Tân có khá nhiều đảng viên trẻ tuổi. Họ hoạt động mạnh hơn so với những tổ chức khác.
Tôi chỉ biết có từng ấy. Chỉ quan tâm đến từng ấy.
Vậy mà trong suốt thời gian tôi bị công an Việt Nam tra vấn, họ hỏi về những tổ chức khác thì ít. Nhưng về Duy và đảng Việt Tân thì… hơi bị nhiều. Họ hỏi đi hỏi lại tôi tháng này sang tháng khác về đảng Việt Tân và những hoạt động của họ. Hôm thì nhân viên công an này, sang hôm sau một nhân viên khác cũng hỏi y như thế nên cuối cùng tôi đâm bực.
Một hôm chịu không nổi tôi xẵn giọng: “Mấy anh có thể hỏi tôi về những thằng bạn khác của tôi được không? Duy không phải là thằng bạn thân nhất của tôi. Lại càng không phải là thằng bạn duy nhất. Tôi chỉ có thể trả lời là tôi không biết chính xác Duy bao nhiêu tuổi và hiện có phải là đảng viên của đảng Việt Tân hay không!”
Đáp lại lời tôi là cái giọng Bắc rặt nhà nòi của viên công an đang ngồi trước mặt:
“Anh nói thế mà anh nghĩ chúng tôi tin anh à?”
Tôi ngây thơ đáp: “Tin hay không là quyền của mấy anh. Còn tôi chỉ có thể trả lời những gì tôi biết chắc”.
Thế là chúng tôi lại tiếp tục đối chất, lẩn quẩn với cái mũ Việt Tân. Quay mãi nhưng không thấy tôi chịu đổi ý, họ quay sang hù:
“Anh phải thành thật khai báo đi. Chúng tôi đã có bằng chứng hẳn hoi cả rồi. Cả anh và Hoàng Tứ Duy đều là ủy viên trung ương của đảng Việt Tân. Họ đã khai anh ra hết rồi. Phải biết điều một chút thì chúng tôi mới giúp anh được!”.
Trời! Có thiệt vậy sao? Từ thuở cha sanh mẹ đẻ đến giờ mình chưa bao giờ tham gia vào tổ chức chính trị nào. Bỗng nhiên vào một ngày đẹp trời đùng một cái 2 viên công an cho mình nhảy xổm ngay vào Trung Ương Đảng Việt Tân để làm ủy viên trung ương đảng. Sao số phận mình may mắn được sớm làm lãnh tụ đến thế?
Rất tiếc lúc ấy tôi đã không nói được như vậy. Tôi chỉ biết chống đỡ bằng cách khai báo rất thành khẩn:
“Thưa mấy anh tôi chưa bao giờ vô bất kỳ đảng nào, nói chi đến việc tôi lên làm đến ủy viên. Nếu các anh có bằng chứng thì cứ đưa ra. Xin đừng chụp mũ tôi một cách quá trắng trợn như vậy”.
Nhiều khi nghĩ lại chuyện cũ, tôi thấy quả thật là buồn cười (mặc dù thành tâm mà nói lúc ấy tôi buồn nhiều hơn cười). Một anh luật sư cù bơ cù bất như tôi, chưa bao giờ được ai mời vô đảng nào để làm đảng viên bỗng nhiên từ trên trời rơi xuống được chính các đồng chí công an Việt Nam “chí công vô tư” cho ngồi xổm vào trung ương làm lãnh tụ của một đảng lớn. Thế mới thấy cách làm việc quá ư là nghiêm túc của bộ máy nhà nước Việt Nam hiện tại!
Chụp cái mũ Việt Tân hình như là sự lựa chọn tiện nhất cho các đồng chí điều tra. Vừa dễ chụp vì hầu như ai cũng đã nghe qua cái tên này. Lại dễ làm vừa lòng cấp trên vì đã có điều tra hẳn hoi với nhiều chi tiết cũng nhiều người (nhất là công an) đã nắm rõ.
Có lẽ đó là lý do tại sao phần lớn đối với những ai bị công an theo dõi, rình rập, người Việt ở Việt Nam hay Việt kiều từ nước ngoài về, tất tần tật đều bị dán hai chữ “Việt Tân” lên trán.
Nói thật nếu tôi làm xếp lớn trong Bộ Công an hiện nay thì điều mà tôi thay đổi đầu tiên sẽ là cách điều tra của các cục quản lý, phản gián, v.v…Vì thử hỏi xem nếu như ai cũng bị chụp lên cái mũ “Việt Tân”, bất kể điều đó đúng hay sai, thì sau này nếu thật sự có đảng viên của Đảng Việt Tân bị bắt nhưng không có bằng chứng rõ ràng thì công an phải làm gì? Chả nhẽ cứ tiếp tục nghi ngờ và…chỉ có thế? Nếu vậy thì đến khi nào ông Bộ trưởng Công An mới biết được thật sự thực lực của Đảng Việt Tân nằm ở đâu? Nhờ vào những yếu tố nào mà họ đã và đang thu nạp được rất nhiều những gương mặt trẻ lớn lên ở hải ngoại?
Hơn thế nữa, sự chụp mũ vô tội vạ càng làm cho thanh thế và danh tiếng của Việt Tân đi xa hơn. Hơn cả những gì đảng Việt Tân đang cố gắng tạo dựng. Như trường hợp cá nhân tôi, cũng “nhờ” bị hỏi quá nhiều mà sau này trở qua Mỹ tôi đã muốn tìm hiểu thêm về đảng Việt Tân cũng như chơi thân với Duy hơn.
Khác với sự gán ghép của nhà cầm quyền Việt Nam cho Việt Tân là “tổ chức khủng bố”, tất cả những đảng viên của Đảng Việt Tân mà tôi đã gặp đều là các bạn trẻ gốc Việt lớn lên ở hải ngoại. Họ là những người có lòng, nặng tình, nặng nghĩa nhất đối với với quê hương, với tương lai dân tộc. Duy là một trong những người bạn mà tôi mến trọng nhất. Không chỉ vì Duy có tài, có trí - đặc biệt là cách anh nghiên cứu và phân tích vấn đề - mà hơn thế nữa, Duy là một trong những người bạn trẻ của tôi mà mãi cho đến bây giờ vẫn còn giữ vững một niềm tin mãnh liệt vào lý tưởng cao đẹp.
Đối với riêng tôi, thật lòng mà nói tôi rất mến trọng những ai sống có lý tưởng và vẫn luôn theo đuổi lý tưởng của mình bất kể là có gặp khó khăn đến đâu trong cuộc sống. Hay con đường trước mắt nó có xa đến dường nào.
Cũng thật lòng mà nói nếu như một ngày nào đó tôi quyết định chọn con đường hoạt động chính trị bằng cách xin tham gia vào đảng Việt Tân, tôi sẽ rất hãnh diện với sự lựa chọn của mình. Và sẽ luôn sẵn sàng xác nhận tôi đang làm gì, cho ai.
Chứ chẳng cần phải đợi các đồng chí công an đội lên cho tôi một cái mũ trên đầu là Việt Tân, Việt Kiều hay Việt phản động!
Thế đã nhé.
* Blog của Luật sư Trịnh Hội là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
Trịnh Hội
Thiệt chán dễ sợ. Nói theo kiểu bây giờ là “chán hơn con gián, ngán hơn bột bán”. Chán vì cách xử sự của những người có quyền, có chức ở Việt Nam bây giờ. Và ngán vì họ có thể chụp mũ bất cứ ai đang tranh đấu cho một tương lai tươi sáng cho đất nước bằng cách gán cho họ cái nhãn “‘Việt Tân”. Không cần biết là đương sự có biết đếch gì về tổ chức này hay không. Thích hay không thích. Đã từng tham gia một vài hội nghị do Việt Tân tổ chức hay không. Hay chỉ biết sơ qua các hoạt động của tổ chức này. Như tôi chẳng hạn.
Còn nhớ cách đây đúng 4 năm khi tôi bắt đầu bị các nhân viên công an người Bắc để ý đến để rồi sau đó liên tục bị chất vấn về các hoạt động xã hội mà tôi đã từng tham gia. Cũng như những gì tôi biết về Việt Tân và một số nhà hoạt động xã hội có tiếng trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại như anh Nam Lộc, Nhạc sĩ Trúc Hồ, Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tiến ở Úc, v.v…
Và dĩ nhiên trong đó bao gồm cả những người tôi quen biết hiện đang là thành viên của đảng Việt Tân. Như phát ngôn viên của đảng: Hoàng Tứ Duy.
Thật ra trước đây tôi không quen thân với Duy cho lắm. Duy lớn lên và sống ở Mỹ. Còn tôi thì ở tuốt bên Úc, sau này học ra trường lại sang Philippines làm việc. Vì vậy tôi đã không biết gì nhiều về Duy, nói chi đến các đảng phái, hội đoàn chính trị.
Ngay cả sau này khi tôi lấy vợ, sang Mỹ lập nghiệp tôi cũng không biết rõ hơn về Duy là bao. Ngày tôi chuyển về Việt Nam đi làm vào năm 2007 thật tình tôi cũng chẳng biết Duy là đảng viên của đảng Việt Tân (và ít lâu sau là phát ngôn viên của đảng). Thậm chí tôi cũng chẳng biết Duy sinh năm nào hay đảng Việt Tân hoạt động ra sao. Lúc ấy tôi chỉ có thể đoán chừng Duy khoảng độ tuổi tôi hay nhỏ hơn tôi một, hai tuổi gì đó. Và đảng Việt Tân có khá nhiều đảng viên trẻ tuổi. Họ hoạt động mạnh hơn so với những tổ chức khác.
Tôi chỉ biết có từng ấy. Chỉ quan tâm đến từng ấy.
Vậy mà trong suốt thời gian tôi bị công an Việt Nam tra vấn, họ hỏi về những tổ chức khác thì ít. Nhưng về Duy và đảng Việt Tân thì… hơi bị nhiều. Họ hỏi đi hỏi lại tôi tháng này sang tháng khác về đảng Việt Tân và những hoạt động của họ. Hôm thì nhân viên công an này, sang hôm sau một nhân viên khác cũng hỏi y như thế nên cuối cùng tôi đâm bực.
Một hôm chịu không nổi tôi xẵn giọng: “Mấy anh có thể hỏi tôi về những thằng bạn khác của tôi được không? Duy không phải là thằng bạn thân nhất của tôi. Lại càng không phải là thằng bạn duy nhất. Tôi chỉ có thể trả lời là tôi không biết chính xác Duy bao nhiêu tuổi và hiện có phải là đảng viên của đảng Việt Tân hay không!”
Đáp lại lời tôi là cái giọng Bắc rặt nhà nòi của viên công an đang ngồi trước mặt:
“Anh nói thế mà anh nghĩ chúng tôi tin anh à?”
Tôi ngây thơ đáp: “Tin hay không là quyền của mấy anh. Còn tôi chỉ có thể trả lời những gì tôi biết chắc”.
Thế là chúng tôi lại tiếp tục đối chất, lẩn quẩn với cái mũ Việt Tân. Quay mãi nhưng không thấy tôi chịu đổi ý, họ quay sang hù:
“Anh phải thành thật khai báo đi. Chúng tôi đã có bằng chứng hẳn hoi cả rồi. Cả anh và Hoàng Tứ Duy đều là ủy viên trung ương của đảng Việt Tân. Họ đã khai anh ra hết rồi. Phải biết điều một chút thì chúng tôi mới giúp anh được!”.
Trời! Có thiệt vậy sao? Từ thuở cha sanh mẹ đẻ đến giờ mình chưa bao giờ tham gia vào tổ chức chính trị nào. Bỗng nhiên vào một ngày đẹp trời đùng một cái 2 viên công an cho mình nhảy xổm ngay vào Trung Ương Đảng Việt Tân để làm ủy viên trung ương đảng. Sao số phận mình may mắn được sớm làm lãnh tụ đến thế?
Rất tiếc lúc ấy tôi đã không nói được như vậy. Tôi chỉ biết chống đỡ bằng cách khai báo rất thành khẩn:
“Thưa mấy anh tôi chưa bao giờ vô bất kỳ đảng nào, nói chi đến việc tôi lên làm đến ủy viên. Nếu các anh có bằng chứng thì cứ đưa ra. Xin đừng chụp mũ tôi một cách quá trắng trợn như vậy”.
Nhiều khi nghĩ lại chuyện cũ, tôi thấy quả thật là buồn cười (mặc dù thành tâm mà nói lúc ấy tôi buồn nhiều hơn cười). Một anh luật sư cù bơ cù bất như tôi, chưa bao giờ được ai mời vô đảng nào để làm đảng viên bỗng nhiên từ trên trời rơi xuống được chính các đồng chí công an Việt Nam “chí công vô tư” cho ngồi xổm vào trung ương làm lãnh tụ của một đảng lớn. Thế mới thấy cách làm việc quá ư là nghiêm túc của bộ máy nhà nước Việt Nam hiện tại!
Chụp cái mũ Việt Tân hình như là sự lựa chọn tiện nhất cho các đồng chí điều tra. Vừa dễ chụp vì hầu như ai cũng đã nghe qua cái tên này. Lại dễ làm vừa lòng cấp trên vì đã có điều tra hẳn hoi với nhiều chi tiết cũng nhiều người (nhất là công an) đã nắm rõ.
Có lẽ đó là lý do tại sao phần lớn đối với những ai bị công an theo dõi, rình rập, người Việt ở Việt Nam hay Việt kiều từ nước ngoài về, tất tần tật đều bị dán hai chữ “Việt Tân” lên trán.
Nói thật nếu tôi làm xếp lớn trong Bộ Công an hiện nay thì điều mà tôi thay đổi đầu tiên sẽ là cách điều tra của các cục quản lý, phản gián, v.v…Vì thử hỏi xem nếu như ai cũng bị chụp lên cái mũ “Việt Tân”, bất kể điều đó đúng hay sai, thì sau này nếu thật sự có đảng viên của Đảng Việt Tân bị bắt nhưng không có bằng chứng rõ ràng thì công an phải làm gì? Chả nhẽ cứ tiếp tục nghi ngờ và…chỉ có thế? Nếu vậy thì đến khi nào ông Bộ trưởng Công An mới biết được thật sự thực lực của Đảng Việt Tân nằm ở đâu? Nhờ vào những yếu tố nào mà họ đã và đang thu nạp được rất nhiều những gương mặt trẻ lớn lên ở hải ngoại?
Hơn thế nữa, sự chụp mũ vô tội vạ càng làm cho thanh thế và danh tiếng của Việt Tân đi xa hơn. Hơn cả những gì đảng Việt Tân đang cố gắng tạo dựng. Như trường hợp cá nhân tôi, cũng “nhờ” bị hỏi quá nhiều mà sau này trở qua Mỹ tôi đã muốn tìm hiểu thêm về đảng Việt Tân cũng như chơi thân với Duy hơn.
Khác với sự gán ghép của nhà cầm quyền Việt Nam cho Việt Tân là “tổ chức khủng bố”, tất cả những đảng viên của Đảng Việt Tân mà tôi đã gặp đều là các bạn trẻ gốc Việt lớn lên ở hải ngoại. Họ là những người có lòng, nặng tình, nặng nghĩa nhất đối với với quê hương, với tương lai dân tộc. Duy là một trong những người bạn mà tôi mến trọng nhất. Không chỉ vì Duy có tài, có trí - đặc biệt là cách anh nghiên cứu và phân tích vấn đề - mà hơn thế nữa, Duy là một trong những người bạn trẻ của tôi mà mãi cho đến bây giờ vẫn còn giữ vững một niềm tin mãnh liệt vào lý tưởng cao đẹp.
Đối với riêng tôi, thật lòng mà nói tôi rất mến trọng những ai sống có lý tưởng và vẫn luôn theo đuổi lý tưởng của mình bất kể là có gặp khó khăn đến đâu trong cuộc sống. Hay con đường trước mắt nó có xa đến dường nào.
Cũng thật lòng mà nói nếu như một ngày nào đó tôi quyết định chọn con đường hoạt động chính trị bằng cách xin tham gia vào đảng Việt Tân, tôi sẽ rất hãnh diện với sự lựa chọn của mình. Và sẽ luôn sẵn sàng xác nhận tôi đang làm gì, cho ai.
Chứ chẳng cần phải đợi các đồng chí công an đội lên cho tôi một cái mũ trên đầu là Việt Tân, Việt Kiều hay Việt phản động!
Thế đã nhé.
* Blog của Luật sư Trịnh Hội là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
Người Việt kỳ thị người Việt!
Khánh Hưng Nhân đọc bài viết của một người Nhật nhận xét về người Trung Quốc mà phần bình luận đăng trên Bauxite Việt Nam có liên hệ với đặc tính của người Việt Nam hiện nay, tôi muốn góp nhặt mấy mẩu chuyện tai nghe mắt thấy sau đây.
Năm 2006, một công ty của người gốc Việt ở Mỹ thuê tôi về Việt Nam làm một nghiên cứu cho một dự án đầu tư kinh tế. Vài người quen đưa tôi đi làm việc với chính quyền một vài tỉnh để tìm hiểu các kế hoạch kinh tế của địa phương. Đi đến đâu, tôi cũng nhận được một lời khuyên tương tự là, tôi nên đưa theo một người Mỹ trắng, dù người đó là một nhân viên bảo vệ hay là một lao công cho công ty tôi ở Mỹ, miễn sao người đó nói "xí bô xí ba" gì đó, rồi tôi dịch ra tiếng Việt, thì tôi mới được tiếp đón nồng hậu và nhiệt tình!
Trở lại thành phố Sài Gòn, gặp một cậu "Việt kiều" 26 tuổi, sinh ở Mỹ, tốt nghiệp Cao học Anh ngữ tại Đại học Los Angeles (UCLA). Với nguyện vọng tha thiết được làm việc tại Việt Nam, cậu xin vào dạy tại một trung tâm Anh ngữ trực thuộc một trường Đại học lớn của Việt Nam. Ở đây, người ta trả lương theo giờ cho cậu ít hơn ba lần so với mấy người Tây ba lô. Họ nói, cho dù anh có trình độ và khả năng hơn hẳn mấy người Tây đó, nhưng vì anh là người "gốc Việt" nên không có... giá cao!
Bản thân tôi, trong một lần trú tại một khách sạn của công ty Du lịch Tp Hồ Chí Minh, có hôm tôi gọi tiếp tân yêu cầu cử người giúp sửa đường dây internet, gọi đến lần thư ba vẫn chỉ hứa hẹn. Sau đó, khi tôi gọi và nói chuyện bằng tiếng Anh, thì cô tiếp tân rối rít "Yes, sir" và vài phút sau, một nhân viên xuất hiện! Tương tự, vài lần đi máy bay Vietnam Airlines từ Đài Loan về Việt Nam, tôi đã rút được kinh nghiệm là phải sử dụng tiếng Anh nếu muốn được phục vụ tốt và lịch sự!
Hết biết! Người Việt tự kỳ thị nhau và bị kỳ thị ngay chính ở Việt Nam!
Thế còn người nước ngoài, họ nghĩ gì về Việt Nam?
Một người tôi quen, là cán bộ lãnh đạo của một cơ quan văn hóa thành phố Hồ Chí Minh. Trong một bữa "nhậu", ông ấy vừa nhai ngồm ngoàm cái đùi ếch, vừa thuyết trình với anh bạn người Mỹ bên cạnh tôi (tất nhiên tôi là thông dịch viên bất đắc dĩ), rằng Việt Nam tuy còn nghèo nhưng nhờ có độc lập nên giữ được phẩm giá. Ông lấy ví dụ, vừa rồi, trong một chuyến du lịch ở Mỹ, trong lúc ông bị lạc khi tham quan Hollywood, ông đã được hai viên cảnh sát Mỹ "hết sức lể phép, trân trọng, và nhiệt tình" giúp ông tìm đường. Họ luôn gọi ông bằng "Sir", tức là "ngài". Ông kết luận, vì họ biết ông là cán bộ của Việt Nam, nên họ đã đối xử với ông một cách trọng thị như vậy!
Anh chàng Mỹ ngồi bên cạnh tôi tròn mắt và... không nói gì cả!
Nghe ông cán bộ này nói, tôi nhớ lại ba câu chuyện:
Năm 2005, tôi đưa cậu con trai 4 tuổi, trên đường về thăm Việt Nam, ghé lại tham quan và nghỉ ngơi ở Nhật ba ngày. Chúng tôi trú tại một khách sạn ở Tokyo. Thấy hai cha con chúng tôi trao đổi qua lại bằng tiếng Anh, hầu như tất cả nhân viên làm việc ở đây đều cư xử với chúng tôi một cách hết sức thân tình và trân trọng. Họ nghĩ chúng tôi là người Mỹ gốc Nhật. Thế nhưng, khi nghe tôi cải chính lại là người Việt Nam, thì thái độ họ thay đổi hẳn!
Một anh bạn tôi là một nhà giáo và một nhà báo nghiệp dư ở vùng Vịnh San Francisco kể rằng: Trong chuyến đi du lịch vùng Đông Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc, Nga, ... anh luôn gặp rắc rối vì cái hộ chiếu Việt Nam của vợ anh. Lúc nào vào ra cửa khẩu của các nước này, thì cả đoàn du lịch 20 người có passport Mỹ đều cho qua một cách thoải mái, chỉ duy nhất vợ anh với hộ chiếu Việt Nam là bị tách ra vào phòng riêng xét hỏi. Lần nào anh cũng phải viết giấy bảo lãnh! Mà mấy nước này vốn là "anh em XHCN" của Việt Nam mấy năm trước đây!
Chuyện thứ ba, trong một lần du lịch tại Jakarta, Indonesia, tôi đi với một người bạn địa phương vào một câu lạc bộ khiêu vũ (dancing). Mấy cô vũ nữ nghe tôi nói chuyện bằng tiếng Anh thì vồ vập và tò ra rất tình cảm. Thế nhưng, khi nghe tôi nói là "người Việt Nam", thì mấy cô dần dần lảng ra! Trời, ngay cả mấy cô... bán hoa mà cũng... đối với người Việt Nam như vậy!
Tôi định kể cho ông bạn cán bộ nghe ba câu chuyện này, nhưng lại thôi vì e là ông cũng không hiểu, và nếu hiểu ra thì không khéo ông lại qui cho tôi tội "theo đuôi đế quốc, xúc phạm dân tộc" thì mệt lắm!
Còn người Việt Nam xem người ngoại quốc thế nào?
Vợ chồng người bạn khác của tôi tại Hà Nội đều là "trí thức", thuộc gia đình quyền thế và khá giả tham vấn tôi về kế hoạch mở một trường Mẫu giáo cao cấp, trong đó có qui định là chỉ nhận con em của người nước ngoài da trắng. Tôi hỏi lại vài lần chữ "da trắng' và xin được giải thích thêm. Họ nói rằng, ở Việt Nam đã có hai trường như vậy và đã tồn tại nhiều năm (?!), nói rõ là chỉ nhận học sinh người "da trắng". Người ngoại quốc mà da màu cũng không được, thậm chí ngay cả con cái cán bộ Việt Nam cao cấp hoặc đại gia cũng không được nhận. Vợ chồng anh bạn này khẳng định, tiền bạc chỉ là một vấn đề nhỏ, điều anh chị muốn là thể hiện "đẳng cấp" của anh chị, và của cơ sở do anh chị thành lập!
Tôi sống ở Mỹ, một đất nước do người da trắng thành lập và xây dựng nên, thế nhưng trên cả nước Mỹ, không nơi nào có một trường học với qui định như vậy cả! Nếu ai đó ở Mỹ mà có cái ý tưởng như vậy, thì có lẽ trước khi bị lôi ra tòa án cho phá sản, chắc chắn là sẽ bị dư luận ném xuống loại "đẳng cấp" man rợ! Tôi không biết thật sự ở Việt Nam đang có kiểu trường "quốc tế" như vậy không, nhưng chỉ riêng thái độ tận tụy phục vụ người "da trắng" của hai vị trí thức trẻ và quyền lực Hà Nội cũng đủ để nhận ra một thế hệ "quí tộc" Việt vô cùng... quái đản!
Kề lại những câu chuyện này, một người bạn của tôi nói rằng, trên thế giới hiện nay chỉ có duy nhất một nơi mà người Việt Nam không bị khinh rẻ, đó là nước Mỹ! Thật mỉa mai, nhưng đó là sự thật! Tôi sống ở Việt Nam 30 năm, 15 năm ở Mỹ, và đi đây đó khoảng chục nước, tôi công nhận điều anh bạn này nói. Ít ra, đây cũng là điều an ủi cho những kẻ "tha hương" – người Việt ở Mỹ như chúng tôi. Và đó cũng là lý do, mà tôi đã bỏ ý định trở lại quê hương Việt Nam sau khi học hành xong ở Mỹ, như kế hoạch của tôi ngày ra đi!
K. H.
Khánh Hưng Nhân đọc bài viết của một người Nhật nhận xét về người Trung Quốc mà phần bình luận đăng trên Bauxite Việt Nam có liên hệ với đặc tính của người Việt Nam hiện nay, tôi muốn góp nhặt mấy mẩu chuyện tai nghe mắt thấy sau đây.
Năm 2006, một công ty của người gốc Việt ở Mỹ thuê tôi về Việt Nam làm một nghiên cứu cho một dự án đầu tư kinh tế. Vài người quen đưa tôi đi làm việc với chính quyền một vài tỉnh để tìm hiểu các kế hoạch kinh tế của địa phương. Đi đến đâu, tôi cũng nhận được một lời khuyên tương tự là, tôi nên đưa theo một người Mỹ trắng, dù người đó là một nhân viên bảo vệ hay là một lao công cho công ty tôi ở Mỹ, miễn sao người đó nói "xí bô xí ba" gì đó, rồi tôi dịch ra tiếng Việt, thì tôi mới được tiếp đón nồng hậu và nhiệt tình!
Trở lại thành phố Sài Gòn, gặp một cậu "Việt kiều" 26 tuổi, sinh ở Mỹ, tốt nghiệp Cao học Anh ngữ tại Đại học Los Angeles (UCLA). Với nguyện vọng tha thiết được làm việc tại Việt Nam, cậu xin vào dạy tại một trung tâm Anh ngữ trực thuộc một trường Đại học lớn của Việt Nam. Ở đây, người ta trả lương theo giờ cho cậu ít hơn ba lần so với mấy người Tây ba lô. Họ nói, cho dù anh có trình độ và khả năng hơn hẳn mấy người Tây đó, nhưng vì anh là người "gốc Việt" nên không có... giá cao!
Bản thân tôi, trong một lần trú tại một khách sạn của công ty Du lịch Tp Hồ Chí Minh, có hôm tôi gọi tiếp tân yêu cầu cử người giúp sửa đường dây internet, gọi đến lần thư ba vẫn chỉ hứa hẹn. Sau đó, khi tôi gọi và nói chuyện bằng tiếng Anh, thì cô tiếp tân rối rít "Yes, sir" và vài phút sau, một nhân viên xuất hiện! Tương tự, vài lần đi máy bay Vietnam Airlines từ Đài Loan về Việt Nam, tôi đã rút được kinh nghiệm là phải sử dụng tiếng Anh nếu muốn được phục vụ tốt và lịch sự!
Hết biết! Người Việt tự kỳ thị nhau và bị kỳ thị ngay chính ở Việt Nam!
Thế còn người nước ngoài, họ nghĩ gì về Việt Nam?
Một người tôi quen, là cán bộ lãnh đạo của một cơ quan văn hóa thành phố Hồ Chí Minh. Trong một bữa "nhậu", ông ấy vừa nhai ngồm ngoàm cái đùi ếch, vừa thuyết trình với anh bạn người Mỹ bên cạnh tôi (tất nhiên tôi là thông dịch viên bất đắc dĩ), rằng Việt Nam tuy còn nghèo nhưng nhờ có độc lập nên giữ được phẩm giá. Ông lấy ví dụ, vừa rồi, trong một chuyến du lịch ở Mỹ, trong lúc ông bị lạc khi tham quan Hollywood, ông đã được hai viên cảnh sát Mỹ "hết sức lể phép, trân trọng, và nhiệt tình" giúp ông tìm đường. Họ luôn gọi ông bằng "Sir", tức là "ngài". Ông kết luận, vì họ biết ông là cán bộ của Việt Nam, nên họ đã đối xử với ông một cách trọng thị như vậy!
Anh chàng Mỹ ngồi bên cạnh tôi tròn mắt và... không nói gì cả!
Nghe ông cán bộ này nói, tôi nhớ lại ba câu chuyện:
Năm 2005, tôi đưa cậu con trai 4 tuổi, trên đường về thăm Việt Nam, ghé lại tham quan và nghỉ ngơi ở Nhật ba ngày. Chúng tôi trú tại một khách sạn ở Tokyo. Thấy hai cha con chúng tôi trao đổi qua lại bằng tiếng Anh, hầu như tất cả nhân viên làm việc ở đây đều cư xử với chúng tôi một cách hết sức thân tình và trân trọng. Họ nghĩ chúng tôi là người Mỹ gốc Nhật. Thế nhưng, khi nghe tôi cải chính lại là người Việt Nam, thì thái độ họ thay đổi hẳn!
Một anh bạn tôi là một nhà giáo và một nhà báo nghiệp dư ở vùng Vịnh San Francisco kể rằng: Trong chuyến đi du lịch vùng Đông Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc, Nga, ... anh luôn gặp rắc rối vì cái hộ chiếu Việt Nam của vợ anh. Lúc nào vào ra cửa khẩu của các nước này, thì cả đoàn du lịch 20 người có passport Mỹ đều cho qua một cách thoải mái, chỉ duy nhất vợ anh với hộ chiếu Việt Nam là bị tách ra vào phòng riêng xét hỏi. Lần nào anh cũng phải viết giấy bảo lãnh! Mà mấy nước này vốn là "anh em XHCN" của Việt Nam mấy năm trước đây!
Chuyện thứ ba, trong một lần du lịch tại Jakarta, Indonesia, tôi đi với một người bạn địa phương vào một câu lạc bộ khiêu vũ (dancing). Mấy cô vũ nữ nghe tôi nói chuyện bằng tiếng Anh thì vồ vập và tò ra rất tình cảm. Thế nhưng, khi nghe tôi nói là "người Việt Nam", thì mấy cô dần dần lảng ra! Trời, ngay cả mấy cô... bán hoa mà cũng... đối với người Việt Nam như vậy!
Tôi định kể cho ông bạn cán bộ nghe ba câu chuyện này, nhưng lại thôi vì e là ông cũng không hiểu, và nếu hiểu ra thì không khéo ông lại qui cho tôi tội "theo đuôi đế quốc, xúc phạm dân tộc" thì mệt lắm!
Còn người Việt Nam xem người ngoại quốc thế nào?
Vợ chồng người bạn khác của tôi tại Hà Nội đều là "trí thức", thuộc gia đình quyền thế và khá giả tham vấn tôi về kế hoạch mở một trường Mẫu giáo cao cấp, trong đó có qui định là chỉ nhận con em của người nước ngoài da trắng. Tôi hỏi lại vài lần chữ "da trắng' và xin được giải thích thêm. Họ nói rằng, ở Việt Nam đã có hai trường như vậy và đã tồn tại nhiều năm (?!), nói rõ là chỉ nhận học sinh người "da trắng". Người ngoại quốc mà da màu cũng không được, thậm chí ngay cả con cái cán bộ Việt Nam cao cấp hoặc đại gia cũng không được nhận. Vợ chồng anh bạn này khẳng định, tiền bạc chỉ là một vấn đề nhỏ, điều anh chị muốn là thể hiện "đẳng cấp" của anh chị, và của cơ sở do anh chị thành lập!
Tôi sống ở Mỹ, một đất nước do người da trắng thành lập và xây dựng nên, thế nhưng trên cả nước Mỹ, không nơi nào có một trường học với qui định như vậy cả! Nếu ai đó ở Mỹ mà có cái ý tưởng như vậy, thì có lẽ trước khi bị lôi ra tòa án cho phá sản, chắc chắn là sẽ bị dư luận ném xuống loại "đẳng cấp" man rợ! Tôi không biết thật sự ở Việt Nam đang có kiểu trường "quốc tế" như vậy không, nhưng chỉ riêng thái độ tận tụy phục vụ người "da trắng" của hai vị trí thức trẻ và quyền lực Hà Nội cũng đủ để nhận ra một thế hệ "quí tộc" Việt vô cùng... quái đản!
Kề lại những câu chuyện này, một người bạn của tôi nói rằng, trên thế giới hiện nay chỉ có duy nhất một nơi mà người Việt Nam không bị khinh rẻ, đó là nước Mỹ! Thật mỉa mai, nhưng đó là sự thật! Tôi sống ở Việt Nam 30 năm, 15 năm ở Mỹ, và đi đây đó khoảng chục nước, tôi công nhận điều anh bạn này nói. Ít ra, đây cũng là điều an ủi cho những kẻ "tha hương" – người Việt ở Mỹ như chúng tôi. Và đó cũng là lý do, mà tôi đã bỏ ý định trở lại quê hương Việt Nam sau khi học hành xong ở Mỹ, như kế hoạch của tôi ngày ra đi!
K. H.
Ly nước đã đầy
Huy Phương
“Ly nước đã đầy chờ giọt cuối
Rừng khô đợi ngọn lửa bùng lên!"
Xin nhắc lại một vài chuyện cũ: Vào tháng 8-2010, hằng trăm người dân tại xã Tam Lãnh, Quảng Nam đã kéo nhau đến nhà máy vàng Bồng Miêu đập phá tài sản và cướp đi 5 tấn quặng vàng của nhà máy, trị giá hàng chục tỷ đồng vì một em bé vào bãi thải của nhà máy Bồng Miêu để mót quặng, đã bị công an bắt giữ và đánh bằng roi điện để lại nhiều vết thương trong người. Cuộc tấn công vào nhà máy, thoạt tiên là một cuộc trả thù khi con em của họ bị đánh đập, trở thành một vụ cướp phá cuồng nộ khi dân làng la hét, dùng gạch đá tấn công các cơ sở và cuối cùng cắt kẽm gai tràn vào khu vực chứa, cướp quặng vàng mang đi. Nổi loạn vì bị hà hiếp, bất công và đói khổ, nên người dân vừa đập phá cho hả lòng hả dạ, vừa bị sự nghèo đói thôi thúc trở thành cướp bóc.
Trưa ngày 25/7/2010 hàng chục nghìn người dân huyện Việt Yên – Bắc Giang đã đi theo đám tang, mang quan tài một thanh niên bị công an đánh chết, một số cơ phận của nạn nhân đã bị cắt bỏ, có kèn trống lên thành phố Bắc Giang biểu tình. Công an và người dân đã đối đầu nhau trên đường phố, xe công an đã bị dân chúng tấn công và đập phá. Lực lượng công an tỉnh đã huy động cảnh sát cơ động của thành phố và các huyện tiếp ứng, nổ lựu đạn cay, chặn đường tiến của đoàn biểu tình, bắt đi nhiều người dân.
Ngày 21 tháng 12-2010, lực lượng công an quận Kiến An (Hải Phòng) đã phải huy động cả loại xe bọc sắt mới giải cứu được 5 công an bị hằng trăm người dân bao vây vì bất bình vì cách đối xử của công an với người dân quá tàn bạo. Một đôi thanh niên nam nữ đi xe máy, người ngồi sau không đội mũ bảo hiểm đã bị một tên sĩ quan công an địa phương đuổi theo, dùng chân đạp vào xe hai người này khiến cho họ bị ngã và bị trọng thương. Sau khi 5 tên công an được giải cứu, những người dân sau đó còn tiếp tục kéo đến trụ sở Công an phường Quán Trữ bao vây phản đối, la ó dữ dội.
Ngày 14 tháng 5-2011, hằng trăm người dân đang di chuyển trên đường Hồng Bàng, Saigon, chặn bắt một công an đã vô cớ chặn xe và đánh một người dân bị thương, gây nên cảnh kẹt xe trên đường khoảng một tiếng đồng hồ.
Lâu nay vẫn xảy ra những vụ người dân bị đánh chết tại trụ sở công an như trường hợp thanh niên Nguyễn Văn Nhương ở Bắc Giang, vụ ông Trịnh Xuân Tùng, ở Hà Nội, hay vụ anh Nguyễn Công Nhựt tử vong tại đồn công an Bình Dương…
Chỉ mới ngày 21 tháng 7-2011 gần đây, tại Ba Vì, Hà nội, 3,000 dân địa phương đã tập họp, đắp mô, dùng người già, trẻ em làm chiến lũy sống quyết bám trụ, chặn đường 200 công an cơ động cùng 1 xe ủi dự định cướp đất của dân cho các doanh nghiệp. Cuộc đương đầu kéo dài suốt ngày. Công an Cộng Sản càng ngày càng để rõ mặt là kẻ thù của quần chúng đang bị bóc lột, để bảo vệ cho giới cầm quyền và tư bản đang xâu xé, tàn phá đất nước.
Hiện tượng dân chúng tụ tập, bao vây, chận đường công an, hay đập phá các cơ sở của chính quyền Cộng Sản, thậm chí còn tấn công cướp bóc tài sản của chính phủ, những năm gần đây không còn là một chuyện lạ ở Việt Nam nữa. Thái độ, ngang ngược hống hách của công an, một lực lượng tôi tớ bảo vệ chế độ, đứng đối lập với người dân trong nước càng ngày càng rõ nét. Công an là lực lượng tuyệt đối trung thành với những kẻ cầm quyền có thế lực, trên danh nghĩa là với đảng. Sau năm 1975, để trấn áp dân miền Nam, công an được tuyển mộ từ “đất thánh” Nghệ Tĩnh, về sau lực lượng công an càng ngày càng đông đảo, chọn lọc trong các thành phần trung kiên, ba đời mang ơn đảng. Để tăng cường sự hữu hiệu của lực lượng công an, trên tiêu chuẩn sắt máu, tàn bạo, chế độ này đã không từ nan việc tuyển chọn nhân viên công an từ phường du côn, tội phạm, lấy công chuộc tội, và trung thành là tiêu chuẩn nồng cốt. Theo Vũ Thư Hiên, trong “Đêm Giữa Ban Ngày” thì Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Công An quyền lực đầu tiên của Việt Công nguyên là dân móc túi, gật dọc, trộm cắp được Trường Chinh thu nạp.
“Công an nhân dân” là lực lượng bị người dân căm ghét nhất trong chế độ Cộng Sản. Ở đất Bắc ngày xưa, trai tráng cầm súng vào Nam, để làng xóm, vợ con nghèo đói lại cho bọn công an, thôn xã nhũng lạm, “ngồi mát ăn bát vàng”, nên giữa công an và bộ đội đã có những mâu thuẫn về quyền lợi, thù ghét xung khắc với nhau. Cứ nhìn cảnh những “công an khu vực” hằng ngày “ tác oai, tác quái” trong thành phố của chúng ta sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng sản, mới thấy thế nào là “nghiệp vụ chuyên môn” của chúng. Chúng lùng sục vào mọi nhà, đi từ cửa chính ra nhà sau mà chẳng hề xin phép ai, chúng nhòm ngó đến từng bữa ăn, từng hành động, chuyện đi đứng của từng người. Từ những ngày đói khổ cơm không có ăn ở những vùng đất Bắc xa xôi, vào Nam thời đó, chúng đã tậu nhà cửa, mua xe cộ, phương tiện sống giàu có hơn hẳn bà con lối xóm, nhờ vào mọi thủ đoạn từ cứng rắn như dọa nạt, đòi hối lộ, đến mềm mỏng, “con con, cháu cháu”, xin xỏ một bữa nhậu, hay vòi tiền sửa xe, cha mẹ ốm, về Bắc thăm nhà. Mỗi “công an khu vực” là mỗi ông Vua con!
Trong suốt những năm miền Nam dậy lên phong trào vượt biển, công an là những thành phần “béo bở’ nhất, từ chuyện mua bến bãi, đến các nhà tạm giam, trại “cải tạo” với những chuyện thả người, chuộc người, chạy án. Trẻ em thời “xã hội chủ nghĩa” trong bài luận văn cũng như trong những giấc mơ đều có hình ảnh của “chú công an”: nhà cửa khang trang, ăn nhậu dàn trời, ai cũng nể nang.
Xin đừng quên những chuyện mới: Những năm gần đây, với các cuộc đình công khắp nước, các cuộc biểu tình chống cướp đất đuổi nhà, chống bá quyền Trung Cộng, công an càng ngày càng trở nên hung hãn, mất nhân tính. Chúng dùng vũ lực khóa tay, đạp vào đầu, đánh vào mặt người, kể cả dùng roi diện, dùi cui. Danh hiệu mị dân của chúng là “công an nhân dân”, cũng như chúng thường rêu rao công an là “con cái của nhân dân”, nhưng chúng gọi nhân dân bằng giọng khinh miệt “mày tao”! Cả thế giới đã thấy hình ảnh tênsĩ quan công an Hà Nội đứng trên cửa xe buýt đạp vào mặt một người yêu nước đang bị hai tên công an khác giữ chặt chân tay khiêng lên xe trong ngày biểu tình chống Tàu Cộng mới nhất tại Hà Nội, hay những cảnh công an khiêng, đẩy con người như những con vật.
Trong xã hội Cộng Sản hiện nay, công an là tiêu biểu bộ mặt của chính quyền. Chúng đại diện cho bọn cai trị, được đặc quyền đặc lợi, (chỉ với chúc vụ Giám Đốc Công An Hà Nội đã mang cấp bậc Trung Tướng), chúng có quyền sinh sát, bắt bớ, giam cầm và giết chết những kẻ “phản động”, “chống đối”, “quá khích”, “bị kẻ xấu lôi kéo”, nhưng tiếc thay đó chính là toàn thể nhân dân, hiện nay là kẻ thù của chế độ Cộng Sản. Chống công an, vây đánh công an chính là do sự bất mãn với chế độ, nhất là vì việc cường quyền dung túng cho bọn này đặc quyền sinh sát, đánh đập người dân một cách dã man, thù hận, khốn nạn gấp bội thái độ và hành động của những tên lính “Partisan”, “Marocain” rạch mặt thời Pháp thuộc.
Trước những chuyện người dân trong nước bất bình, uất ức tụ tập, bao vây tấn công đồn, đánh công an trọng thương là chuyện sẽ phải xẩy ra.Tôi muốn mượn lời một người trong nước, giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã Hội Việt Nam cho rằng phản ứng của người dân là “chuyện tức nước vỡ bờ cũng xưa như trái đất này thôi, tích tiểu thành đại, đến một lúc nào đó khi mà sức nước đã dồn, đê yếu thì nó bung ra.”
Cường quyền dùng công an là lực lượng bảo vệ cho mình và là công cụ trấn áp nhân dân, nhưng cuối cùng sẽ nhận những hậu quả do những thành phần này mang lại. Bất công, áp bức, tham nhũng, cướp đất… đã lan tràn. Một cuộc cách mạng trong ngày tới, không thể là một cuộc “cách mạng nhung”, vì thù oán đã chất chồng, oan khuất chưa được giải. Lúc bấy giờ bọn đầu sỏ, quyền lực đã có phương tiện cao bay xa chạy, nhưng chắc chắn những tên côn đồ đội lốt công an như tên Minh đạp vào mặt người dân yêu nước, phải trả món nợ này bằng máu! Giờ này một giọt nước cũng có thể làm tràn ly, một cánh đồng cỏ khô hạn chỉ cần một tia lửa.
Nhà văn Lâm Ngữ Đường đã nói rằng: “Bất bình nhỏ trong lòng, có thể dùng rượu để tiêu sầu; bất bình lớn trong đời, phải dùng gươm để giải quyết.”
Huy Phương
“Ly nước đã đầy chờ giọt cuối
Rừng khô đợi ngọn lửa bùng lên!"
Xin nhắc lại một vài chuyện cũ: Vào tháng 8-2010, hằng trăm người dân tại xã Tam Lãnh, Quảng Nam đã kéo nhau đến nhà máy vàng Bồng Miêu đập phá tài sản và cướp đi 5 tấn quặng vàng của nhà máy, trị giá hàng chục tỷ đồng vì một em bé vào bãi thải của nhà máy Bồng Miêu để mót quặng, đã bị công an bắt giữ và đánh bằng roi điện để lại nhiều vết thương trong người. Cuộc tấn công vào nhà máy, thoạt tiên là một cuộc trả thù khi con em của họ bị đánh đập, trở thành một vụ cướp phá cuồng nộ khi dân làng la hét, dùng gạch đá tấn công các cơ sở và cuối cùng cắt kẽm gai tràn vào khu vực chứa, cướp quặng vàng mang đi. Nổi loạn vì bị hà hiếp, bất công và đói khổ, nên người dân vừa đập phá cho hả lòng hả dạ, vừa bị sự nghèo đói thôi thúc trở thành cướp bóc.
Trưa ngày 25/7/2010 hàng chục nghìn người dân huyện Việt Yên – Bắc Giang đã đi theo đám tang, mang quan tài một thanh niên bị công an đánh chết, một số cơ phận của nạn nhân đã bị cắt bỏ, có kèn trống lên thành phố Bắc Giang biểu tình. Công an và người dân đã đối đầu nhau trên đường phố, xe công an đã bị dân chúng tấn công và đập phá. Lực lượng công an tỉnh đã huy động cảnh sát cơ động của thành phố và các huyện tiếp ứng, nổ lựu đạn cay, chặn đường tiến của đoàn biểu tình, bắt đi nhiều người dân.
Ngày 21 tháng 12-2010, lực lượng công an quận Kiến An (Hải Phòng) đã phải huy động cả loại xe bọc sắt mới giải cứu được 5 công an bị hằng trăm người dân bao vây vì bất bình vì cách đối xử của công an với người dân quá tàn bạo. Một đôi thanh niên nam nữ đi xe máy, người ngồi sau không đội mũ bảo hiểm đã bị một tên sĩ quan công an địa phương đuổi theo, dùng chân đạp vào xe hai người này khiến cho họ bị ngã và bị trọng thương. Sau khi 5 tên công an được giải cứu, những người dân sau đó còn tiếp tục kéo đến trụ sở Công an phường Quán Trữ bao vây phản đối, la ó dữ dội.
Ngày 14 tháng 5-2011, hằng trăm người dân đang di chuyển trên đường Hồng Bàng, Saigon, chặn bắt một công an đã vô cớ chặn xe và đánh một người dân bị thương, gây nên cảnh kẹt xe trên đường khoảng một tiếng đồng hồ.
Lâu nay vẫn xảy ra những vụ người dân bị đánh chết tại trụ sở công an như trường hợp thanh niên Nguyễn Văn Nhương ở Bắc Giang, vụ ông Trịnh Xuân Tùng, ở Hà Nội, hay vụ anh Nguyễn Công Nhựt tử vong tại đồn công an Bình Dương…
Chỉ mới ngày 21 tháng 7-2011 gần đây, tại Ba Vì, Hà nội, 3,000 dân địa phương đã tập họp, đắp mô, dùng người già, trẻ em làm chiến lũy sống quyết bám trụ, chặn đường 200 công an cơ động cùng 1 xe ủi dự định cướp đất của dân cho các doanh nghiệp. Cuộc đương đầu kéo dài suốt ngày. Công an Cộng Sản càng ngày càng để rõ mặt là kẻ thù của quần chúng đang bị bóc lột, để bảo vệ cho giới cầm quyền và tư bản đang xâu xé, tàn phá đất nước.
Hiện tượng dân chúng tụ tập, bao vây, chận đường công an, hay đập phá các cơ sở của chính quyền Cộng Sản, thậm chí còn tấn công cướp bóc tài sản của chính phủ, những năm gần đây không còn là một chuyện lạ ở Việt Nam nữa. Thái độ, ngang ngược hống hách của công an, một lực lượng tôi tớ bảo vệ chế độ, đứng đối lập với người dân trong nước càng ngày càng rõ nét. Công an là lực lượng tuyệt đối trung thành với những kẻ cầm quyền có thế lực, trên danh nghĩa là với đảng. Sau năm 1975, để trấn áp dân miền Nam, công an được tuyển mộ từ “đất thánh” Nghệ Tĩnh, về sau lực lượng công an càng ngày càng đông đảo, chọn lọc trong các thành phần trung kiên, ba đời mang ơn đảng. Để tăng cường sự hữu hiệu của lực lượng công an, trên tiêu chuẩn sắt máu, tàn bạo, chế độ này đã không từ nan việc tuyển chọn nhân viên công an từ phường du côn, tội phạm, lấy công chuộc tội, và trung thành là tiêu chuẩn nồng cốt. Theo Vũ Thư Hiên, trong “Đêm Giữa Ban Ngày” thì Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Công An quyền lực đầu tiên của Việt Công nguyên là dân móc túi, gật dọc, trộm cắp được Trường Chinh thu nạp.
“Công an nhân dân” là lực lượng bị người dân căm ghét nhất trong chế độ Cộng Sản. Ở đất Bắc ngày xưa, trai tráng cầm súng vào Nam, để làng xóm, vợ con nghèo đói lại cho bọn công an, thôn xã nhũng lạm, “ngồi mát ăn bát vàng”, nên giữa công an và bộ đội đã có những mâu thuẫn về quyền lợi, thù ghét xung khắc với nhau. Cứ nhìn cảnh những “công an khu vực” hằng ngày “ tác oai, tác quái” trong thành phố của chúng ta sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng sản, mới thấy thế nào là “nghiệp vụ chuyên môn” của chúng. Chúng lùng sục vào mọi nhà, đi từ cửa chính ra nhà sau mà chẳng hề xin phép ai, chúng nhòm ngó đến từng bữa ăn, từng hành động, chuyện đi đứng của từng người. Từ những ngày đói khổ cơm không có ăn ở những vùng đất Bắc xa xôi, vào Nam thời đó, chúng đã tậu nhà cửa, mua xe cộ, phương tiện sống giàu có hơn hẳn bà con lối xóm, nhờ vào mọi thủ đoạn từ cứng rắn như dọa nạt, đòi hối lộ, đến mềm mỏng, “con con, cháu cháu”, xin xỏ một bữa nhậu, hay vòi tiền sửa xe, cha mẹ ốm, về Bắc thăm nhà. Mỗi “công an khu vực” là mỗi ông Vua con!
Trong suốt những năm miền Nam dậy lên phong trào vượt biển, công an là những thành phần “béo bở’ nhất, từ chuyện mua bến bãi, đến các nhà tạm giam, trại “cải tạo” với những chuyện thả người, chuộc người, chạy án. Trẻ em thời “xã hội chủ nghĩa” trong bài luận văn cũng như trong những giấc mơ đều có hình ảnh của “chú công an”: nhà cửa khang trang, ăn nhậu dàn trời, ai cũng nể nang.
Xin đừng quên những chuyện mới: Những năm gần đây, với các cuộc đình công khắp nước, các cuộc biểu tình chống cướp đất đuổi nhà, chống bá quyền Trung Cộng, công an càng ngày càng trở nên hung hãn, mất nhân tính. Chúng dùng vũ lực khóa tay, đạp vào đầu, đánh vào mặt người, kể cả dùng roi diện, dùi cui. Danh hiệu mị dân của chúng là “công an nhân dân”, cũng như chúng thường rêu rao công an là “con cái của nhân dân”, nhưng chúng gọi nhân dân bằng giọng khinh miệt “mày tao”! Cả thế giới đã thấy hình ảnh tênsĩ quan công an Hà Nội đứng trên cửa xe buýt đạp vào mặt một người yêu nước đang bị hai tên công an khác giữ chặt chân tay khiêng lên xe trong ngày biểu tình chống Tàu Cộng mới nhất tại Hà Nội, hay những cảnh công an khiêng, đẩy con người như những con vật.
Trong xã hội Cộng Sản hiện nay, công an là tiêu biểu bộ mặt của chính quyền. Chúng đại diện cho bọn cai trị, được đặc quyền đặc lợi, (chỉ với chúc vụ Giám Đốc Công An Hà Nội đã mang cấp bậc Trung Tướng), chúng có quyền sinh sát, bắt bớ, giam cầm và giết chết những kẻ “phản động”, “chống đối”, “quá khích”, “bị kẻ xấu lôi kéo”, nhưng tiếc thay đó chính là toàn thể nhân dân, hiện nay là kẻ thù của chế độ Cộng Sản. Chống công an, vây đánh công an chính là do sự bất mãn với chế độ, nhất là vì việc cường quyền dung túng cho bọn này đặc quyền sinh sát, đánh đập người dân một cách dã man, thù hận, khốn nạn gấp bội thái độ và hành động của những tên lính “Partisan”, “Marocain” rạch mặt thời Pháp thuộc.
Trước những chuyện người dân trong nước bất bình, uất ức tụ tập, bao vây tấn công đồn, đánh công an trọng thương là chuyện sẽ phải xẩy ra.Tôi muốn mượn lời một người trong nước, giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã Hội Việt Nam cho rằng phản ứng của người dân là “chuyện tức nước vỡ bờ cũng xưa như trái đất này thôi, tích tiểu thành đại, đến một lúc nào đó khi mà sức nước đã dồn, đê yếu thì nó bung ra.”
Cường quyền dùng công an là lực lượng bảo vệ cho mình và là công cụ trấn áp nhân dân, nhưng cuối cùng sẽ nhận những hậu quả do những thành phần này mang lại. Bất công, áp bức, tham nhũng, cướp đất… đã lan tràn. Một cuộc cách mạng trong ngày tới, không thể là một cuộc “cách mạng nhung”, vì thù oán đã chất chồng, oan khuất chưa được giải. Lúc bấy giờ bọn đầu sỏ, quyền lực đã có phương tiện cao bay xa chạy, nhưng chắc chắn những tên côn đồ đội lốt công an như tên Minh đạp vào mặt người dân yêu nước, phải trả món nợ này bằng máu! Giờ này một giọt nước cũng có thể làm tràn ly, một cánh đồng cỏ khô hạn chỉ cần một tia lửa.
Nhà văn Lâm Ngữ Đường đã nói rằng: “Bất bình nhỏ trong lòng, có thể dùng rượu để tiêu sầu; bất bình lớn trong đời, phải dùng gươm để giải quyết.”

Ăn ít ngon nhiều
Chu Thập
Hưởng được nhiều lợi ích nhứt của thời đại thông tin toàn cầu này có lẽ là tuổi già. Tôi biết có các cụ Việt nam ở đây tuổi quá “thất thập cổ lai hy”, không những có riêng cho mình một trang Facebook mà còn “rủ rê” bạn bè, con cháu chia sẻ hình ảnh rất sôi nổi. Riêng tôi nhận thấy ích lợi của Internet qua kinh nghiệm của các “bạn già” của tôi. Sau mấy chục năm lưu lạc, nhứt là sau biến cố tan đàn xẻ nghé năm 75, mỗi người một nẻo, tưởng chỉ còn hy vọng gặp nhau “trên nước thiên đàng”. Vậy mà đùng một cái, nhờ Internet, những người học trò dưới mái trường xưa “hồi nẳm” khắp thế giới lại bắt liên lạc được với nhau. Đêm ngày rảnh rỗi, chẳng biết làm gì cho hết giờ cho nên vào “meo đàn” để tán gẫu về đủ thứ chuyện, từ kỷ niệm xưa, văn chương, chính trị, tôn giáo, bù khú đến y tế, sức khỏe và tiếu lâm. Văn chương, chính trị, tôn giáo...thì đầy dẫy trên các trang mạng. Tôi chỉ đơn giản bấm vào “delete” cho khỏi mất giờ. Nhưng chuyện y tế, sức khỏe và nhứt là tiếu lâm thì tôi không bao giờ bỏ qua. Xét cho cùng cười vẫn là liều thuốc bổ tốt nhứt.
Mới đây, một ông bạn già của tôi đưa lên “meo đàn” một bài viết về giá trị của trứng gà. Tôi không rõ bài viết xuất xứ từ đâu; không thấy tên tác giả mà cũng chẳng tìm được tạp chí đăng bài viết. Nhưng cách trình bày, lập luận và dẫn chứng cũng khá thuyết phục. Trong vài hàng giới thiệu bài viết, ông bạn già của tôi viết rằng ổng thấy “quá đã” khi đọc bài. Tôi cũng thấy “quá đã” sau khi đọc biết về lợi ích của trứng gà.
Tôi có nuôi năm bảy con gà mái đẻ, loại gà suốt đời “đồng trinh sạch sẽ” chỉ biết đẻ mà không bao giờ biết đến gà trống. Gà mái của tôi không những “chạy bộ” mà còn “leo rừng” nữa. Giáp giới với vườn nhà tôi là lâm viên quốc gia. Năm nay, gặp thời “La Nĩna” kéo dài, mưa liên tu bất tận, cho nên giun dế lúc nhúc, các chị gà của tôi tha hồ đánh chén. Tôi không nhớ rõ đã đọc được ở đâu đó, giống vật nào được nuôi một cách lành mạnh thì thịt của chúng cũng lành mạnh. Gà mái của tôi có một cuộc sống “tốt” cho nên không chỉ thịt mà trứng cũng “tốt”. Nhìn cái lòng đỏ “đỏ au” thì đủ biết trứng gà của tôi lành biết chừng nào. Chỉ có điều, dù cho trứng có ngon đến đâu, từ lâu nay, kể từ khi thế giới bị “ám ảnh” bởi mấy chữ “Cholesterol” (mỡ trong máu) và tôi bắt đầu ý thức về sức khỏe, thì tôi nhìn trứng chẳng khác nào mèo thấy mỡ. Thèm lắm, nhưng thèm mà lại không được và cũng không dám ăn thả cửa.
Thuở nhỏ, cái món trong nhà thường bị tôi ăn cắp nhứt là trứng gà. Nhiều chị gà đẻ một lúc cho nên thỉnh thoảng tôi có chôm một vài cái trứng, mẹ tôi cũng chẳng hay biết. Tôi thèm trứng không chỉ vì thiếu dinh dưỡng, mà vì thấy hễ cứ có trứng gà so thì mẹ tôi lại dành để biếu ông cha sở. Với bà, hễ của ngon vật lạ thì phải dành cho nhà lãnh đạo tinh thần. Trứng gà quả là của ngon vật lạ thật, bởi vì, với tôi, ăn trứng theo dạng nào cũng thấy ngon. Ăn cắp một cái trứng, dùng một cây kim chích vào trứng, bất kể vỏ trứng có được sạch hay không, đưa miệng hút ra cái lòng đỏ thì phải nói như nhà văn Duyên Anh là “sướng rên mé đìu hiu” thôi. Lúc mới đến trại tỵ nạn, chưa nghe người ta đe dọa về cholesterol trong trứng, tôi thích mua trứng, đập vỡ ra, gạn lòng trắng sang một bên, cho lòng đỏ vào một ly “bảy úp” (7 Up), quậy đều rồi thưởng thức. Vừa thấy ngon miệng lại vừa tin rằng đây là thức uống bổ dưỡng nhứt.
Cho tới nay, món ăn vật lạ nào tôi cũng có nếm qua và sẵn sàng từ bỏ vì lý do sức khỏe. Nhưng riêng trứng gà thì phải nói là lúc nào tôi cũng thèm “nhỏ rãi”. Đặc biệt, cái món trứng gà luộc, dầm mắm nêm và chấm với các thứ đọt rau luộc thì chẳng có sơn hào hải vị nào bằng. Vậy mà nhà tôi lúc nào cũng đóng vai “thiên thần hộ thủ” để canh giữ kẻo tôi bị “sa chước cám dỗ” với trứng gà. Mỗi tuần nhà tôi chỉ cho tôi ăn đúng 3 cái trứng mà thôi! Có gân cổ cãi đến đâu cũng không bao giờ được phép vượt qua giới hạn đó!
Tôi thấy “quá đã” khi đọc bài viết về lợi ích của trứng gà mà ông bạn già vừa chia sẻ trên meo đàn. Đọc xong, tôi “mời” nhà tôi lại bên máy vi tính, khoe bài viết và thấy như mình vừa làm được một khám phá mới trong y học.
Tất cả những dữ kiện được đưa ra trong bài viết đều phủ nhận cái mớ kiến thức mà tôi đã tiếp thu được về trứng gà. Chẳng hạn, bài viết khẳng định rằng trứng gà không phải là loại thực phẩm giàu cholesterol. Cholesterol tập trung ở lòng đỏ trứng gà, nhưng là loại cholesterol tốt, rất cần thiết cho cơ thể, nhứt là trong việc sinh sản tế bào. Vậy mà lâu nay tôi cứ tưởng trứng gà là thủ phạm chính tạo ra “máu trong mỡ” dẫn đến các bệnh về tim mạch.
Điểm nhấn trong bài viết mà tôi muốn nhà tôi phải chú ý là số lượng trứng được phép tiêu thụ mỗi ngày. Tác giả bài viết cho biết: theo thống kê hàng năm, trung bình mỗi người Mỹ tiêu thụ 300 quả trứng trong một năm...Cholesterol trong lòng đỏ trứng gà kết hợp với một số yếu tố khác như glycerol, cholin, phosphor và các thứ acid béo để tạo ra lecithin. Lecithin có đặc tính “nhũ tương hóa” rất mạnh, nghĩa là có sức giúp chất béo hòa tan được trong máu cho nên cholesterol hòa vào máu để đi đến những chỗ tế bào bị hư hại và sửa chữa lại, nhờ vậy mà cơ thể không bị tổn thương. Còn lượng cholesterol dư thừa thì lại được đưa về gan để giúp tạo ra muối mật và các nội tiết tố điều hành cơ thể. Như vậy, mỗi ngày ta nên ăn một cái trứng là vừa. Nhưng các chuyên gia dinh dưỡng khuyên mỗi tuần chỉ nên dùng 5 trứng.
Còn một chi tiết khác trong bài viết mà tôi lấy làm đắc ý nhứt đó là: trứng không có hại cho gan. Ngày xưa, khi khoa học còn sơ khai, người ta thí nghiệm bằng cách lấy lòng trắng trứng tiêm vào da thỏ thì thấy da thỏ bị phù, nổi mẩn ngứa cho nên bảo rằng trứng gây dị ứng. Và vì thời đó người ta nghĩ rằng dị ứng là do yếu gan nên qui cho trứng là thủ phạm tác hại đến gan. Gần đây, ở thập niên 1960 trở về trước, các hiểu biết về cholesterol chưa rõ ràng cho nên thấy lòng đỏ trứng có chứa cholesterol thì cho rằng trứng không tốt. Thật ra, từ đầu thập niên 1980 đến nay, người ta đã chứng minh rằng cholesterol của trứng là cholesterol tốt và trứng chẳng những không hại, mà còn có lợi cho gan nữa vì trứng có chứa chất cholin giúp bảo vệ gan.
Cuối cùng, tôi cũng rất lấy làm tâm đắc khi tác giả bài viết khẳng định rằng trứng không làm cho nóng và khó tiêu. Tự nó, trứng không tạo ra cảm giác nóng. Có “nóng” chăng là bởi vì trứng được chiên với nhiều dầu mỡ và nhứt là thức ăn thiếu rau quả và không đa dạng mà thôi.
Bài viết đã hầu như đánh tan được cái mặc cảm “thèm trứng” của tôi. Tôi nghĩ bụng: từ nay tha hồ ăn trứng mà chẳng sợ bất cứ di hại nào! Tôi nhìn nhà tôi với ánh mắt “van lơn”: xin nâng số lượng trứng được phép ăn mỗi tuần cho tôi! Nhưng lạ quá, tôi thấy bài viết chả lay động được nhà tôi một ly ông cụ nào. Trước sau như một, nhà tôi vẫn giữ nguyên cái liều lượng trứng dành cho tôi: mỗi tuần không được quá 3 trứng!
Trong quan hệ vợ chồng, để bảo vệ hạnh phúc lứa đôi, mấy ông bạn già của tôi luôn ứng xử theo hai nguyên tắc: nguyên tắc một, vợ luôn luôn đúng; nguyên tắc hai: nếu vợ sai, hãy trở về nguyên tắc một. Nghe như đùa, nhưng về chuyện vệ sinh, ăn uống và giữ gìn sức khỏe, tôi thấy hai cái nguyên tắc “quái gở” trên đây lại đúng phóc!
Thật ra, bài viết về giá trị của trứng gà trên đây có giải tỏa được nơi tôi một vài “ẩn ức”, nhưng vẫn không có đủ sức thuyết phục tôi từ bỏ cái khuôn vàng thước ngọc của cha ông chúng ta là “liệu cơm mà gắp mắm”. Về sức khỏe và ăn uống thì chẳng có thước đo hay liều lượng chung nào cả. Mỗi cơ thể mỗi khác. Sức chịu đựng và đòi hỏi của cơ thể ông tây bà đầm có khi cũng khác với người Á đông da vàng. Họ ăn bơ sữa và uống rượu “từ trong bụng mẹ” chẳng sao cả. Mình chạy theo là ngất ngư luôn!
Có người uống rượu như hũ chìm. Có người đụng vào là thấy 36 ông sao ngay. Có người uống cà phê thế nước. Có người uống một hớp vào là thấy nóng bụng và trằn trọc suốt đêm. Có người mỗi tháng rước vào cơ thể vài ký lô đường chẳng sao cả. Nhưng có người, chỉ cần mỗi ngày một hai muỗng cà phê đường là thấy có chuyện. Cũng có người cuối tuần nào cũng đình đám hội hè mà người cứ còm nhom. Nhưng có người sau một tiệc cưới là tăng nửa ký lô ngay vòng số 2 ngay lập tức...Nói chung, về sở thích thì không nên tranh luận và cũng chẳng nên thúc ép người ta phải như mình. Về sức khỏe cũng vậy, mỗi người tự “đi guốc” trong bụng dạ mình mà lo kiêng cữ hay tự đặt ra một ranh giới phải tuân giữ.
Thời nào và ở đâu cũng thế, điều độ vẫn được xem là một nhân đức. Minh triết Đông Tây đều dạy rằng “nhân đức nằm ở bậc trung dung” (virtus in medio stat). Có lẽ triết gia Pháp Blaise Pascal cũng nghĩ đến cái mức “trung dung” này chăng khi ông bảo rằng người ở giữa thú vật và thiên thần: “Con người không phải là thiên thần, mà cũng chẳng là thú vật. Ai muốn làm thiên thần đều trở thành thú vật”. Nhân loại bao phen khốn đốn có lẽ cũng vì những người muốn chối bỏ nhân tính để làm thiên thần và cưỡng bách mọi người cũng phải lột xác như thế. Những thiên đường mù hay những quần đảo Gulag là điểm đến tất yếu của những “thiện ý” muốn cải tạo con người như thế.
Là một tín hữu Kitô, tôi thường được khuyên bảo hãy sống tiết độ. Tôi cho rằng tiết độ hoàn toàn khác với khổ chế. Khổ chế là từ bỏ và trốn chạy khỏi cái thế giới vật chất này để đi tìm tự do và niềm vui tinh thần. Tiết độ không hề có nghĩa là từ bỏ hưởng thụ hay là tìm cách hưởng thụ càng ít càng tốt. Người biết sống tiết độ là người vẫn yêu mến cái thế giới vật chất mà Thượng Đế đã xem là “tốt đẹp” khi tạo dựng ra nó. Người biết sống tiết độ là người vui hưởng cuộc sống mà vẫn cố gắng đi tìm sự tự do tinh thần. Với người tiết độ thì như người Việt nam chúng ta vẫn nói “ăn ít ngon nhiều”.
Ba cái trứng mà nhà tôi quy định cho tôi được phép “hưởng dùng” mỗi tuần quả là thước đo của sự tiết độ mà tôi thấy cần phải tuân giữ. Có tiết độ mới thấy được vẻ đẹp và giá trị của cuộc sống. Cuộc sống còn đáng sống là bởi ta còn muốn thèm sống.
Trong Mùa Chay của Kitô giáo, tôi cũng nhận thấy rằng tiết độ trong việc ăn uống không phải là điểm đích mà chỉ là một “thử thách” nhỏ để tập “sống đạo” hay đúng hơn là phương thế, là “bài học vỡ lòng” để đạt được những giá trị khác cao cả hơn. Có những điều cần tập tiết độ hơn như tiết độ trong suy nghĩ, lời nói và nhứt là cái nhìn, nhận thức về người khác. Về mặt này, tiết độ quả là rất khó nhưng thật cần thiết để tạo một bầu khí trong lành cho chính mình và với người khác. Chỉ cần một chút quá đà trong suy nghĩ, người ta dễ rơi vào thành kiến và chủ quan. Mà đã thành kiến và chủ quan thì người khác là zê-rô còn “tui” phải là con số một. Và đó cũng là con đường ngắn nhứt để dẫn đến quá khích, cuồng tín và cực đoan. Cuồng tín và cực đoan trong chính trị và nhứt là trong tôn giáo, xét cho cùng, cũng là một thái độ thiếu tiết độ. Thiếu tiết độ trong suy nghĩ và ứng xử cho nên mới thiếu khoan nhượng, cảm thông, dung hòa và tha thứ.
Tôi vẫn nghĩ: đi hết con đường Mùa Chay mà vẫn không thấy mình suy nghĩ và sống trong tinh thần khoan nhượng, cảm thông và tha thứ hơn thì dù có kiêng khem, dù có luôn ngoan ngoãn “tuân thủ” quy định “ba cái trứng mỗi tuần” cho đến chết đi nữa cũng chẳng “có đạo” hơn!
Chu Thập
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Ba tấm ảnh
“MỘT NỖI BUỒN”
Việt Nhân (HNPĐ) Câu chuyện hôm nay là chuyện của ba tấm ảnh và một nỗi buồn - Nỗi buồn là nỗi buồn chung của chúng ta – Còn ba tấm ảnh thì như tất cả chúng ta đã được thấy, nó xuất hiện trên các trang báo hôm nay, báo giấy cũng như báo mạng.
Tấm thứ nhất là một thanh niên Tây Tạng tự thiêu để phản kháng lãnh đạo cộng sản Tàu là Hồ Cẩm Đào khi ông này đến Ấn Độ, nhìn ảnh mỗ tôi không cầm được cảm xúc. Và chắc chắn không riêng mỗ tôi, tấm ảnh này sẽ làm thế giới xúc động mạnh, người thanh niên còn quá trẻ, tấm ảnh không cần một lời một chữ đính kèm, nhưng ai cũng biết miệng anh đang hét to những lời đòi tự do cho dân anh, độc lập cho đất nước anh. Ngọn lửa đang đốt cháy thân xác anh, anh biết chắc điều đó và anh mong ngọn lửa anh tự thiêu sẽ thiêu rụi chế độ cộng sản Tàu trong tương lai, và nó đang góp sáng ngọn lửa đấu tranh của dân tộc Tạng.
Bức ảnh thứ hai và thứ ba là chụp người Việt mình – Trong bức thứ hai là các cô gái tươi cười, họ háo hức chờ đợi trước cửa một khách sạn ở Hà Nội, anh bảo vệ khá là vất vả để cản họ lại, tay các cô cầm khẩu hiệu bằng chữ Hàn quốc. Đó là các cô gái trẻ cùng trang tuổi thanh niên Tạng tự thiêu, các cô đang chốt ở cửa khách sạn cả giờ đồng hồ để đón “sao Hàn” – Cuối cùng các cô toại nguyện, đã nhìn thấy được người các cô ái mộ, các cô réo gọi í ới tên anh chàng ca sĩ, tay giơ cao khẩu hiệu, xô đẩy, chen lấn để đến gần thần tượng, rõ ràng các cô đang trong cơn phấn khích, cô thì cười rạng rỡ, cô thì sụt sịt trong nước mắt.
Còn bức ảnh cuối là những người bà con nông dân nghèo khổ, quần áo lao động ngồi lê trên vỉa hè - Những người đàn ông đàn bà lam lũ này, mệt mỏi và đầy vẻ nhẫn nhục cam chịu, họ ngồi giống như đang mong đợi một sự bố thí, mà ta thường thấy ở những nơi phát chẩn từ thiện. Trên tay họ cũng cầm biểu ngữ bằng giấy, trong cái nhếch nhác ô hợp đứng ngồi lẫn lộn, họ là dân đi khiếu kiện vì bị quan tham cướp đất. Những người trong tấm ảnh cuối này quả là một sự tương phản với bức nhì, từ quần áo bên ngoài đến nét mặt, cái rõ nhất mỗ tôi nhìn thấy là cái buồn rầu nơi những người dân nghèo lam lũ, nét mặt họ cũng mang một chút gì thẫn thờ tư lự - Không thấy háo hức trên nét mặt, phải chăng họ đã quá quen trong cái trông chờ?.
Còn nỗi buồn của mỗ tôi, không biết nói thế nào cho chính xác, mỗ chỉ biết là mình buồn hiu…
Dưới sự đô hộ của Tầu cộng, giữa hai dân tộc Việt và Tạng, chưa có điều gì cho ta biết được trong hai nước, anh nào bị nặng hơn - Vì ai cũng biết hiện nay tình trạng ở Việt Nam không khác chi Tây Tạng. Nhưng ở Việt Nam mang bộ mặt khác hẵn, và khó xét đoán hơn, bởi vì ở Việt Nam có những tay cam tâm làm “Hán nô”, đó là thứ “tự quản” do Tầu cộng dựng nên, là nhà nước bình phong che đậy, cái thực trạng nô lệ của dân tộc. Và quyền tự chủ của nhà nước Việt Xã Nghĩa, thì rõ rệt càng ngày càng sa sút, bởi công tâm mà nói mức độ lệ thuộc của Việt Nam vào mẫu quốc, chúng ta có thể nhìn thấy khá rõ nét qua mức độ “Tầu hóa” hôm nay của nhà nước trên mọi lãnh vực từ chính trị, kinh tế đến văn hóa.
Còn đất nước Tây tạng, đang trong gông xiềng Hán cộng, và sự đấu tranh của dân tộc Tạng cả thế giới đều biết và quan tâm đến - Nhất là dư luận thế giới đều kính trọng vị lãnh đạo tinh thần Đạt Lai Lạt Ma, cùng ngưỡng mộ lòng yêu nước cao độ của dân tộc Tạng, đã có hơn hai mươi vụ tự thiêu cho độc lập của đất nước. Dân Tây Tạng rất hiền hòa và đang bị Tầu cộng đàn áp thô bạo, ngay cả đi nghe giảng đạo mà cũng bị nhốt cả trăm người vào trại cải tạo, nhưng họ vẫn không khuất phục, ngay cả ngày 22/02/2012 vừa qua đối với với người Tây Tạng là ngày đầu năm mới, bình thường đó phải là ngày vui chơi lễ hội ở các vùng người Tây Tạng, nhưng họ đã quyết định không một tổ chức lễ lạc nào được bày ra.
Vì yêu quí con người, chúng ta không cầu mong nơi người khác, hy sinh mạng sống của họ bằng cách tự thiêu, nhưng phải thành tâm mà nói mỗ tôi thán phục vô cùng, đó là sự hy sinh cao cả, lòng yêu nước phải mãnh liệt lắm, mới có được hành động hy sinh cao quí như vậy. Đã từng là người lính, đã chứng kiến bao nhiêu cái chết ngoài mặt trận của đồng đội, vẫn biết là hy sinh cho đất nước, nhưng cái quặn thắt khi nhìn bạn lúc ra đi đó, nó xót sa vô cùng, đôi lần có cả giọt nước mắt không kềm được đã lặng lẻ rơi, mấy ai trong chúng ta không quí sự sống của con người – Lần này mỗ tôi có lại cái xúc cảm đó khi nhìn bức ảnh cậu trai Tây Tạng tự thiêu.
Cách đây ít lâu tôi có lần được thưa “chuyện quê nhà”, một ông bạn già về thăm xứ sở trở qua, ông buông một câu ”bây giờ tuổi trẻ bên đó đua đòi nhau ăn chơi dữ lắm, giàu thì ăn chơi đã đành, nghèo cũng tìm cách cho bằng với người, nên lắm chuyện vì vậy mà phải tù tội bởi làm chuyện phạm pháp để có tiền ăn chơi. Nhìn người lại nghĩ đến ta - Mỗ chỉ mong sao cho thanh niên Việt, biết nói không với những cái vui mà bọn Hán phỉ và Hán nô, đang giăng ra hòng lôi cuốn mọi người vì vui mà quên đi chuyện mất nước, lẫn cái họa diệt vong đang xiết dần sự sống còn của dân tộc.
Lẩn thẩn mỗ tự hỏi không biết bên quê nhà những hình ảnh tự thiêu như thế này có được phổ biến, hay nó lại là một thứ quốc cấm?. Và tuổi trẻ Việt bên ấy khi xem sẽ nghĩ gì?. Ở bên đây cách nay tuần lễ, mỗ tôi được xem những tấm ảnh, chụp các bạn trẻ bên nhà đã khóc chỉ vì đón “hụt” thần tượng Hàn quốc, có cả chuyện “sao” tránh mặt không cho gặp nên các cô khóc. Các bạn nghĩ gì về những giọt nước mắt đó, về những giọt nước mắt thất vọng, hay vui sướng chỉ vì “sao”?, theo mỗ tôi các bạn đã quá dư cảm xúc với những cái không đáng, mà lại quá vô cảm trước hiện tình đất nước… hay ngôi sao Hàn đó quí hơn tổ quốc của các bạn?.
Lòng yêu nước là truyền thống tốt đẹp ngàn đời của người dân Việt, lịch sử đã nói lên điều đó – Đừng chờ đợi nữa, các bạn trẻ Việt Nam hãy cùng đứng lên - Tổ Quốc chúng ta đang lâm nguy
Việt Nhân (HNPĐ)
Trai nghèo là trai bất tài
Đàn ông mà không đi xe xịn, không mời được bạn gái vào nhà hàng sang trọng ít nhất một lần trong đời,
không có tiền mà lo xông xênh cho vợ con thì đừng nói với mình rằng đó là đàn ông đích thực!
Đạo diễn Nguyễn Quang Dũng: Để vợ con khổ là một cái tội !

Trai nghèo là trai bất tài ! (Ảnh có tính chất minh họa) Đạo diễn Nguyễn Quang Dũng nghĩ gì về vấn đề này?
Bài viết: Đạo diễn Nguyễn Quang Dũng: Để vợ con khổ là một cái tội!
..8-3 vừa rồi, các nàng xinh xinh ở công ty xúng xính khoe nhau quà các chàng đã tặng. Nhiều anh ở văn phòng cứ liếc xéo liếc nghiêng, thỉnh thoảng trề môi khinh bỉ “thằng tình địch đó nó chỉ có tiền chứ đầu rỗng tuếch”! Còn mấy chị “hội người cao tuổi”, cứ chép môi “quà tặng vật chất thì chưa chắc đã hay. Đã có tấm lòng thì cái e-card không cũng cảm động lắm rồi”.
Mình thấy thương thương các lão ấy cứ AQ, vì thật tâm mình tin chẳng có anh nào giàu mà đầu óc rỗng tuếch cả. Thực chất các anh nhiều tiền là do họ luôn nhạy cảm thị trường, biết nắm bắt cơ hội nhanh, quan hệ rộng rãi và tất cả các kiến thức có trong đầu được chuyển hóa hết thành tiền.
Trong khi những anh thạc sỹ, tiến sỹ có khi cả xấp bằng, nhưng chẳng có cái gì chuyển được thành thứ nhìn được, tiêu được!
Còn các chị, có thật các chị nghĩ vậy không? Nếu vẫn còn xuân xanh, xinh đẹp và thông minh, lại học cao biết rộng, các chị có chắc là mình không “rung rinh” với các món quà đắt tiền, với cách chiều chuộng cực kỳ phóng khoáng của một chàng nhà giàu nào đó trong mớ đang theo đuổi, mà chỉ chăm chăm tìm tấm lòng trong những lời tặng trên thiệp hay không?
Nếu có người thật lòng chỉ chọn “tấm lòng” như thế thật thì có lẽ nó chỉ tồn tại ở mấy chị 7x đời cuối mơ mộng và quá lứa mà thôi. Thử hỏi chọn mấy anh đấy làm chồng thì tã giấy hay sữa cho con sau này chắc cũng “ảo” được như ecard đấy nhỉ?
3 loại đàn ông bất tài
Theo mình quan sát, có ba loại đàn ông bất tài.
Loại thứ nhất, rõ ràng nhất là những chàng sau bao năm mà vẫn không có gì trong tay, chẳng có gì trong óc và cóc có gì trong túi. Chạy xe lọc cọc, quần áo xuềnh xoàng, lương tháng thường xuyên chỉ đủ xài đến hết ngày 25, cơm thì chỉ dám ghé chỗ quán bụi. Dạng này thì chị em mình nên tránh xa từ tám kiếp chẳng nên nói đến, dính vào các trai này dù có được cái “mẻ ngoài” kéo lại thì cũng chả để làm gì. Nghèo rớt mùng tơi là chuyện dĩ nhiên không còn gì bàn cãi.
Loại thứ hai là nhiều kiến thức trong đầu nhưng cũng chỉ để “chém gió” cho vui. Loại bất tài này đáng sợ nhất vì họ suốt ngày che giấu sự bất tài của mình và được vô số người bênh vực rằng chỉ vì họ “thiếu may mắn” mà thôi!
Loại thứ ba là những trai giàu “nhà có điều kiện”. Những cậu này được may mắn thừa kế gia tài do cha mẹ để lại, có sẵn cơ sở kinh doanh… nhưng không biết giữ và phát triển, chỉ ăn tiêu phá của, vung tiền qua cửa sổ cho gái bu quanh… Dạng này nói thực cũng chỉ là bất tài mà thôi, chẳng khá khẩm gì.
Chả có tiền nào bẩn!
Nhiều anh và cả chị viết blog thương bọn Lexus co chân lên ghế khi uống café trong quán sang, phỉ nhổ bọn nhà giàu là do tiền “bẩn”, chả có văn hóa, chỉ lươn lẹo và cơ hội, tận dụng quan hệ mà có tiền chứ tài cán gì.
Theo mình thì chỉ có 3 loại tiền, tiền xu, tiền cotton và polymer, và không có loại nào là bẩn cả. Mình thấy anh đi xe hơi nào cũng sạch sẽ, lịch sự, áo tuyệt nhiên không có mùi mồ hôi dầu. Mình cũng thấy họ mở cửa xe và nhường đường cho phụ nữ. Họ ăn uống cũng từ tốn, đặt cái ly xuống bàn cũng thấy đầy tinh tế và lãng mạn. Giày họ đi và cái bút họ ký long lanh hoa tuyết (*) cũng đều đẹp.
Họ lươn lẹo, kiếm tiền bằng chụp giựt, bằng quan hệ… bằng kiểu gì gì đi nữa cũng là nhờ sự khôn ngoan và sáng tạo cả thôi. Thử hỏi không khôn ngoan, khéo ứng xử thì làm sao có quan hệ mà “lợi dụng”?
Hơn nữa, đã là kẻ có tài thì bất kỳ ngành gì, nghề gì thì đều có thể tận dụng để trở thành chuyên gia, nhà tư vấn chuyên môn… kiểu gì cũng kiếm tiền tốt! Chẳng hạn như các bác đạo diễn đi làm giám khảo cho các gameshow truyền hình cũng catse cao ngất đó thôi!
Chẳng biết khi nào dân ta mới bỏ kiểu chụp mũ bảo dân giàu có thừa tiền thường là tiền bẩn. Theo mình muốn giàu, muốn có tiền thì người giàu cũng phải bỏ công ra như ai. Cũng cùng một công như người khác, mà họ kiếm được nhiều tiền hơn, là họ có tài hơn còn gì!!
ANH THƯ
Đàn ông mà không đi xe xịn, không mời được bạn gái vào nhà hàng sang trọng ít nhất một lần trong đời,
không có tiền mà lo xông xênh cho vợ con thì đừng nói với mình rằng đó là đàn ông đích thực!
Đạo diễn Nguyễn Quang Dũng: Để vợ con khổ là một cái tội !

Trai nghèo là trai bất tài ! (Ảnh có tính chất minh họa) Đạo diễn Nguyễn Quang Dũng nghĩ gì về vấn đề này?
Bài viết: Đạo diễn Nguyễn Quang Dũng: Để vợ con khổ là một cái tội!
..8-3 vừa rồi, các nàng xinh xinh ở công ty xúng xính khoe nhau quà các chàng đã tặng. Nhiều anh ở văn phòng cứ liếc xéo liếc nghiêng, thỉnh thoảng trề môi khinh bỉ “thằng tình địch đó nó chỉ có tiền chứ đầu rỗng tuếch”! Còn mấy chị “hội người cao tuổi”, cứ chép môi “quà tặng vật chất thì chưa chắc đã hay. Đã có tấm lòng thì cái e-card không cũng cảm động lắm rồi”.
Mình thấy thương thương các lão ấy cứ AQ, vì thật tâm mình tin chẳng có anh nào giàu mà đầu óc rỗng tuếch cả. Thực chất các anh nhiều tiền là do họ luôn nhạy cảm thị trường, biết nắm bắt cơ hội nhanh, quan hệ rộng rãi và tất cả các kiến thức có trong đầu được chuyển hóa hết thành tiền.
Trong khi những anh thạc sỹ, tiến sỹ có khi cả xấp bằng, nhưng chẳng có cái gì chuyển được thành thứ nhìn được, tiêu được!
Còn các chị, có thật các chị nghĩ vậy không? Nếu vẫn còn xuân xanh, xinh đẹp và thông minh, lại học cao biết rộng, các chị có chắc là mình không “rung rinh” với các món quà đắt tiền, với cách chiều chuộng cực kỳ phóng khoáng của một chàng nhà giàu nào đó trong mớ đang theo đuổi, mà chỉ chăm chăm tìm tấm lòng trong những lời tặng trên thiệp hay không?
Nếu có người thật lòng chỉ chọn “tấm lòng” như thế thật thì có lẽ nó chỉ tồn tại ở mấy chị 7x đời cuối mơ mộng và quá lứa mà thôi. Thử hỏi chọn mấy anh đấy làm chồng thì tã giấy hay sữa cho con sau này chắc cũng “ảo” được như ecard đấy nhỉ?
3 loại đàn ông bất tài
Theo mình quan sát, có ba loại đàn ông bất tài.
Loại thứ nhất, rõ ràng nhất là những chàng sau bao năm mà vẫn không có gì trong tay, chẳng có gì trong óc và cóc có gì trong túi. Chạy xe lọc cọc, quần áo xuềnh xoàng, lương tháng thường xuyên chỉ đủ xài đến hết ngày 25, cơm thì chỉ dám ghé chỗ quán bụi. Dạng này thì chị em mình nên tránh xa từ tám kiếp chẳng nên nói đến, dính vào các trai này dù có được cái “mẻ ngoài” kéo lại thì cũng chả để làm gì. Nghèo rớt mùng tơi là chuyện dĩ nhiên không còn gì bàn cãi.
Loại thứ hai là nhiều kiến thức trong đầu nhưng cũng chỉ để “chém gió” cho vui. Loại bất tài này đáng sợ nhất vì họ suốt ngày che giấu sự bất tài của mình và được vô số người bênh vực rằng chỉ vì họ “thiếu may mắn” mà thôi!
Loại thứ ba là những trai giàu “nhà có điều kiện”. Những cậu này được may mắn thừa kế gia tài do cha mẹ để lại, có sẵn cơ sở kinh doanh… nhưng không biết giữ và phát triển, chỉ ăn tiêu phá của, vung tiền qua cửa sổ cho gái bu quanh… Dạng này nói thực cũng chỉ là bất tài mà thôi, chẳng khá khẩm gì.
Chả có tiền nào bẩn!
Nhiều anh và cả chị viết blog thương bọn Lexus co chân lên ghế khi uống café trong quán sang, phỉ nhổ bọn nhà giàu là do tiền “bẩn”, chả có văn hóa, chỉ lươn lẹo và cơ hội, tận dụng quan hệ mà có tiền chứ tài cán gì.
Theo mình thì chỉ có 3 loại tiền, tiền xu, tiền cotton và polymer, và không có loại nào là bẩn cả. Mình thấy anh đi xe hơi nào cũng sạch sẽ, lịch sự, áo tuyệt nhiên không có mùi mồ hôi dầu. Mình cũng thấy họ mở cửa xe và nhường đường cho phụ nữ. Họ ăn uống cũng từ tốn, đặt cái ly xuống bàn cũng thấy đầy tinh tế và lãng mạn. Giày họ đi và cái bút họ ký long lanh hoa tuyết (*) cũng đều đẹp.
Họ lươn lẹo, kiếm tiền bằng chụp giựt, bằng quan hệ… bằng kiểu gì gì đi nữa cũng là nhờ sự khôn ngoan và sáng tạo cả thôi. Thử hỏi không khôn ngoan, khéo ứng xử thì làm sao có quan hệ mà “lợi dụng”?
Hơn nữa, đã là kẻ có tài thì bất kỳ ngành gì, nghề gì thì đều có thể tận dụng để trở thành chuyên gia, nhà tư vấn chuyên môn… kiểu gì cũng kiếm tiền tốt! Chẳng hạn như các bác đạo diễn đi làm giám khảo cho các gameshow truyền hình cũng catse cao ngất đó thôi!
Chẳng biết khi nào dân ta mới bỏ kiểu chụp mũ bảo dân giàu có thừa tiền thường là tiền bẩn. Theo mình muốn giàu, muốn có tiền thì người giàu cũng phải bỏ công ra như ai. Cũng cùng một công như người khác, mà họ kiếm được nhiều tiền hơn, là họ có tài hơn còn gì!!
ANH THƯ

