Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Biển Đông, Dầu, Ngư Dân

Tác giả : Trần Khải
Lòng tham của con người thật vô lượng. Đặc biệt là khi mang chiếc áo chủ nghĩa dân tộc. Đó là lý do nền kiêu hãnh Đại Hán đã thúc đẩy chính Phủ Trung Quốc lấn biển của Việt Nam, của Phi Luật Tân, kể cả biển của Nhật, Nam Hàn... Bất kể, như trường hợp VN, đó là biển truyền thống của nhiều đời ngư dân Việt, như ở Hoàng Sa, Trường Sa.

Bản tin Bloomberg hôm Thứ Tư 21-3-2012 cho biết, ông Robert Hormats, Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ đặc trách về phát triển kinh tế, năng lượng và môi trường, nói hôm Thứ tư trong một buổi họp ở Hà Nội, rằng, “Quý vị đang có một trở ngại tại một khu vực đang cần năng lượng, vậy mà có quá nhiều tranh chấp lãnh thổ hay khu vực xám trong đó ngăn trở sản xuất [năng lượng]. Đây là các đầu tư dài hạn, do vậy quý vị thực sự cần khởi sự bây giờ nếu quý vị muốn có dầu sản xuất ra vào 5 năm hay 10 năm tới.”

Bản tin Bloomberg nhắc rằng những lô dầu ngoài biển VN mà Exxon Mobil Corp. (của Mỹ) và Gazprom (Nga) đang thám sát lại nằm trong vùng biển mà Trung Quốc đòi chủ quyền.

Không chỉ gây rối, công ty thám sát dầu ngoaì khơi lớn nhất TQ là CNOOC Ltd. đã cho đấu giá năm ngoaí để mời các công ty quốc tế khai thác 19 lô dầu gần Đảo Hoàng Sa, nơi truyền thống là của VN.

Không chỉ như thế, ngư dân cũng bị Hải Quân TQ bắt cóc, bị đòi tiền...

Bản tin TTXVN từ Hà Nội hôm 21-3-2012 viết:

“Trung Quốc xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền VN.

Ngày 21/3, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc phía Trung Quốc đã bắt và hiện đang giam giữ 21 ngư dân và 2 tàu cá của Việt Nam mang số hiệu QNg66101TS và QNg 66074TS, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị nêu rõ:

“Quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Việc Trung Quốc bắt giữ, cản trở ngư dân Việt Nam đang hoạt động nghề cá tại vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, các quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.

Việt Nam kiên quyết phản đối hành động này của phía Trung Quốc, yêu cầu phía Trung Quốc thả ngay và vô điều kiện các ngư dân và tàu cá nói trên, chấm dứt việc bắt giữ, cản trở ngư dân Việt Nam tại các vùng biển của Việt Nam.”

Tuy nhiên, vấn đề cần thắc mắc, rằng ngư dân việt bị bắt, bị đòi tiền chuộc là từ 3 tuần trước, tại sao bây giờ chính phủ CSVN mới phản đối? Có phải chỉ vì cán bộ tỉnh Quảng Ngãi đã lộ ra tin này hôm Thứ Ba 20-3-2012...”Bản tin báo Dân Trí viết hôm Thứ Tư 21-3-2012:

“Giới chức huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) cho biết hai tàu cá cùng 21 ngư dân Việt Nam đã bị Trung Quốc bắt vào ngày 3/3 vừa qua tại vùng biển Hoàng Sa và bị giam giữ từ đó đến nay.

Báo Sài Gòn Tiếp Thị dẫn lời ông Trần Ngọc Nguyên, chủ tịch UBND huyện Lý Sơn (Quảng Ngãi) vào chiều ngày 20/3, xác nhận địa phương có hai tàu và 21 ngư dân đang bị Trung Quốc bắt giữ.

Đó là tàu QNg 66074 TS của ông Trần Hiền, trên tàu có 11 lao động và tàu cá QNg 66101 TS của ông Lê Dinh, trên tàu có 10 lao động.

Theo ông Nguyên, cách đây hơn nửa tháng, hai tàu cá này vừa ra đến vùng biển của quần đảo Hoàng Sa đánh cá thì bị tàu Trung Quốc bắt và đưa về đảo Phú Lâm giam giữ. Cách nay khoảng một tuần, Trung Quốc cho ngư dân trên tàu liên lạc về nhà báo tin bị giam ở đảo Phú Lâm. Tuy nhiên, sau lần liên lạc này, người nhà tìm cách liên lạc cho ngư dân trên hai tàu nói trên đang bị giam giữ trên đảo Phú Lâm nhưng không được.

Trong khi đó, trả lời câu hỏi của hãng thông tấn AFP, bà Phạm Thị Hương, thuộc Ủy ban nhân dân huyện đảo Lý Sơn, cho biết các ngư dân bị bắt vào ngày 3/3.

“Thuyền trưởng đã được nói chuyện với gia đình và nói những người Trung Quốc đang đòi 70.000 Tệ (11.000USD) để thả”, bà cho biết. Bà cũng không rõ số tiền này là cho một hay hai tàu.

Bà cũng cho biết giới chức trách khuyên gia đình không nên trả tiền và đã đề nghị cấp trên can thiệp.

Hồi cuối tháng 2 vừa qua, Trung Quốc cũng ngăn chặn 11 ngư dân Việt Nam vào Hoàng Sa để tránh gió...”

Bản tin đài VOA hôm Thứ Tư cho thấy thêm:

“...Trong một vụ việc riêng rẽ khác, cũng trong ngày thứ Tư, Trung Quốc đã phản đối kế hoạch đưa các nhà sư của Việt Nam ra quần đảo Trường Sa để lập lại một một ngôi chùa đã bị bỏ hoang.

Một bài xã luận đăng trên báo Global Times viết rằng Việt Nam đang sử dụng “chiêu bài tôn giáo” để tuyên bố chủ quyền vĩnh viễn đối với quần đảo Trường Sa.

Hồi đầu tháng này, Việt Nam loan báo sẽ đưa các nhà sư ra trụ trì tại các ngôi chùa ở Trường Sa trong ít nhất 6 tháng bắt đầu từ tháng Tư. Những ngôi chùa này đã bị bỏ hoang từ năm 1975 và gần đây đã được trùng tu lại như một phần trong nỗ lực tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa.

Ngay sau loan báo này của phía Việt Nam, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã lập tức lên tiếng khẳng định chủ quyền ở quần đảo Trường Sa và các vùng lãnh hải lân cận.

Phát ngôn nhân Lưu Vị Dân nói Trung Quốc hy vọng phía Việt Nam tuân thủ tinh thần bản Tuyên bố ứng xử ở Biển Đông cũng như Thỏa thuận về những Nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển mà hai nước Việt-Trung đã ký kết nhằm tăng cường sự hợp tác và ổn định trên Biển Đông thay cho các hành động làm phức tạp thêm tình hình.”

Hiển nhiên, chơi với Trung Quốc y hệt như là trẻ em chơi dao... thế nào cũng có ngày đứt tay.

Vấn đề là, ngư dân Việt đang trở thành con tin trên vùng biển của mình... và chính phủ Hà Nội luôn luôn ém tin, cho tới khi lộ ra mới chịu nhìn nhận là có tàu lạ bắt cóc ngư dân Việt.

Quả là chính phủ Hà Nội cũng là một chính phủ rất là lạ dị thường.

Trần Khải

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Israel sẽ hoãn binh chờ Iran

Israel không đủ kiên nhẫn để chờ đợi sự thay đổi từ chương trình hạt nhân của Iran nhưng vẫn sẽ
"hoãn binh" vài tháng nữa để tạo điều kiện cho các biện pháp hòa bình.

Image
Bộ trưởng Quốc phòng Ehud Barak. Ảnh: AP

AP cho hay trong cuộc phỏng vấn với Israel Radio, Bộ trưởng Quốc phòng Ehud Barak lặp lại sự quan ngại rằng Iran sẽ tiến tới việc chế tạo bom nguyên tử. Israel không đủ khả năng để tiếp tục chờ đợi trong bối cảnh tình hình như thế.

Tuy nhiên, ông cho biết Tel Aviv có thể trì hoãn hành động thêm vài tháng nữa để các lệnh trừng phạt và đàm phán phát huy tác dụng. Trong thời gian đó, việc Iran có định dừng chương trình hạt nhân gây tranh cãi hay không sẽ sáng tỏ.

Theo Bộ trưởng Barak, khả năng quân sự vượt trội và vị thế cường quốc khiến Washington nhận thức khác Israel về mối đe dọa hạt nhân từ Iran. Mỹ đã thuyết phục nước đồng minh Trung Đông "hoãn binh" và chờ đợi kết quả từ các biện pháp trừng phạt áp đặt lên Tehran. Trong khi đó, Tel Aviv cảm thấy đang bị đe dọa trực tiếp từ một nước Iran hạt nhân.

Trong một cuộc phỏng vấn khác với truyền hình Đức, ông Barak cho rằng năm 2012 là năm "chín muồi" để tiến hành oanh kích và suy đoán rằng khoảng thời gian can thiệp quân sự không thể chỉ vài tuần nhưng cũng không đến vài năm.

Iran khẳng định phát triển năng lượng hạt nhân chỉ nhằm mục đích dân sự nhưng Mỹ, Israel và các nước phương Tây nghi ngờ đằng sau đó là động cơ quân sự. Ông Barak cho biết Israel và Mỹ đều nhất trí phải ngăn chặn Tehran chế tạo bom nguyên tử nhưng lại bất đồng quan điểm về thời điểm can thiệp vào Iran.

Hôm qua, một cuộc khảo sát cho thấy phần đa người dân Israel không muốn chính phủ tấn công Iran mà không có sự hỗ trợ quân sự của Mỹ, chỉ có 23% ủng hộ Israel tấn công đơn phương. Cuộc khảo sát với sự tham gia của 500 người do một trung tâm thống kê thực hiện cho kênh truyền hình Channel 10 của Israel.

Anh Ngọc

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Nhật triển khai tên lửa đánh chặn chống Triều Tiên

Bộ trưởng Quốc phòng Nhật hôm nay ra lệnh cho hệ thống phòng thủ tên lửa chuẩn bị sẵn sàng để có thể bắn hạ tên lửa tầm xa
của Triều Tiên nếu sự an toàn của Nhật Bản bị đe dọa.

Image
Hệ thống tên lửa lá chắn của Nhật Bản được triển khai tại căn cứ ở thành phố Akita năm 2009. Ảnh: AFP

"Tôi đã yêu cầu các quan chức chuẩn bị triển khai hệ thống tên lửa đất đối không PAC-3 và tàu khu trục mang tên lửa lớp Aegis", AFP dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Naoki Tanaka, nhắc đến các tên lửa đánh chặn và tàu khu trục có triển khai tên lửa.

"Chúng tôi đang làm việc với chính quyền các địa phương có liên quan để triển khai công việc này", ông Tanaka cho biết thêm.

Hệ thống lá chắn tên lửa đất đối không được triển khai trên quần đảo phía nam Nhật Bản. Tuy nhiên nước này cũng khẳng định rằng quyết định bắn hạ tên lửa Nhật phải được thủ tướng Yoshihiko Noda đích thân thông qua.

Tuần trước, Triều Tiên tuyên bố sẽ phóng tên lửa mang theo vệ tinh lên quỹ đạo vào tháng 4, một động thái mà Mỹ và các nước phương Tây cho là vỏ bọc cho một cuộc thử tên lửa tầm xa. Vệ t inh sẽ được phóng đi từ một địa điểm phía tây Triều Tiên. Đường đi của tên lửa hướng xuống phía nam, với các tầng tên lửa dự kiến rơi ở biển Hoàng Hải và ngoài khơi phía đông bắc Philippines.

Các quan chức Nhật cho biết, tên lửa của Triều Tiên có thể bay qua khu vực đảo Okinawa của Nhật.

Sự chuẩn bị của Nhật diễn ra trong bối cảnh nguyên thủ của nhiều nước trên thế giới sắp họp mặt tại Seoul để thảo luận về vấn đề an ninh hạt nhân. Chương trình hạt nhân của Bình Nhưỡng được dự kiến thảo luận bên lề hội nghị.

Năm 2009, Nhật cũng từng ra lệnh cho quân đội vào tư thế sẵn sàng trước khi Triều Tiên phóng tên lửa và vệ tinh. Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã ra nghị quyết cấm Triều Tiên phóng tên lửa đạn đạo và áp đặt các lệnh trừng phạt sau đó. Tên lửa mà Triều Tiên phóng lên năm đó bay qua lãnh thổ Nhật Bản mà không gặp sự cố nào và cũng không vấp phải sự bắn hạ của Nhật.

Vũ Hà

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Bảo hiểm Y tế ra Tòa Án Tối Cao

Ngô Nhân Dụng
Tuần tới, hai phe chống và bênh đạo luật Cải tổ Y tế của chính phủ Obama sẽ có cơ hội trình bày luận cứ của mình trước Tối Cao Pháp Viện Mỹ.

Phải mấy tháng nữa tòa mới phán quyết; nhưng vấn đề này đã trở thành một đề tài tranh cử sôi động. Nếu Tòa Án Tối Cao bác bỏ điều quan trọng nhất trong đạo luật này, là khoản bắt tất cả mọi người phải có bảo hiểm y tế, thì uy tín của Tổng Thống Barack Obama sẽ bị xuống rất nhiều; đảng Cộng Hòa sẽ được lợi thế lớn trong mùa tranh cử năm nay.

Một điều ít người còn nhớ, trừ các nhà báo: Chính ông Obama đã từng phản đối điều khoản “bảo hiểm bắt buộc” trên! Ðó là vào Tháng Hai năm 2008, khi ông đang giành để được đảng Dân Chủ đưa ra tranh cử. Chính bà Hillary Clinton nêu ý kiến phải làm luật bắt buộc ai cũng phải được bảo hiểm y tế. Lúc đó có tới 46 triệu người Mỹ không có bảo hiểm. Bây giờ con số đã lên tới 50 triệu, vì thêm nhiều người mất việc làm và mất bảo hiểm; trong khi điều khoản trên đến năm 2014 mới bắt đầu áp dụng.

Năm 2008 ông Obama phản đối bà Clinton với lý lẽ rất hùng hồn: “Nếu mọi chuyện dễ dàng như vậy thì tôi có thể làm luật bắt ai cũng phải mua nhà; như vậy sẽ giải quyết được nạn vô gia cư luôn. Nhưng không giải quyết được;” ông nói trong một cuộc phỏng vấn trên ti vi. Năm đó ông đề nghị một chương trình khiêm tốn hơn: Làm sao cho tất cả trẻ em phải được bảo hiểm y tế.

Nếu ông Obama cứ giữ vững lập trường sau khi vào Tòa Bạch Ốc, thì ông không phải sống qua cơn bão chính trị trong mấy tháng tới. Vấn đề sẽ được Tối Cao Pháp Viện xét xử không phải là tất cả đạo Luật Cải tổ Y tế. Vụ xét xử nhắm vào một điều khoản: Quốc Hội liên bang có quyền làm luật “ra lệnh” mọi công dân phải mua bảo hiểm y tế hay không? Những người khiếu kiện (có 26 tiểu bang, đang do đảng Cộng Hòa lãnh đạo) cho rằng đạo luật trên đã vượt khỏi quyền hạn của Quốc Hội như viết trong bản hiến pháp Hoa Kỳ. Nếu Tối Cao Pháp Viện đồng ý với ý kiến bên nguyên, thì điều khoản “mệnh lệnh” (mandate) sẽ bị xóa. Tổng thống Mỹ hay Quốc Hội không thể cưỡng lại tòa án. Tuy nhiên, các điều khoản khác không liên can đến “mệnh lệnh” vẫn còn hiệu lực và tiếp tục thi hành. Nhưng Quốc Hội sẽ phải họp, bàn, đưa ra các điều khoản mới thay thế những gì do mệnh lệnh “bắt buộc có bảo hiểm” dẫn tới. Chắc chắn phải chờ đến Quốc Hội sắp được bầu cho khóa tới.

Cuộc tranh luận về vụ này liên hệ đến một điều khoản trong hiến pháp Mỹ, nói rằng chính quyền liên bang có quyền hạn trên những vấn đề “thương mại” giữa các tiểu bang. Chúng ta biết rằng khi thành lập nước Mỹ, đại biểu của 13 tiểu bang để cho chính quyền liên bang rất ít quyền hành, vì muốn bảo vệ quyền của họ. Từ đó tới nay, đã có rất nhiều lần các tiểu bang kiện liên bang về vấn đề giới hạn quyền hành. Mỗi lần, câu hỏi mà các quan tòa, từ cấp dưới lên đến cấp tối cao, phải quyết định là đạo luật liên bang bị kiện có theo đúng với “điều khoản về thương mại” (commerce clause) hay đã đi quá xa, vượt ra ngoài?

Trong tuần tới người Mỹ sẽ được nghe luật sư hai bên trình bày luận cứ; các bài thuyết trình sẽ đều nhằm trả lời vào câu hỏi này. Bên nguyên sẽ nói: Ðạo luật Y tế vượt ngoài “điều khoản thương mại,” chính phủ Obama sẽ cố chứng minh nó vẫn nằm trong phạm vi được hiến pháp quy định. Tòa Án Tối Cao đã cho phép hai bên trình bày ý kiến trong sáu giờ, suốt ba ngày, một thời gian dài nhất cho việc tham khảo ý kiến trước khi xét xử, kể từ 45 năm nay.

Trong chín vị thẩm phán tối cao hiện nay, có 5 vị do các tổng thống đảng Cộng Hòa đề cử, trong đó có 2 người do cựu Tổng Thống Georges W. Bush. Bốn vị khác do các tổng thống Dân Chủ đề cử, hai người là do ông Obama. Các quan tòa tất nhiên không bỏ phiếu theo tinh thần đảng phái, nhưng quan điểm pháp lý của họ thường giống các vị tổng thống đề cử họ. Ðảng Cộng Hòa thường chủ trương giới hạn quyền của liên bang hơn đảng Dân Chủ.

Hiện nay các chuyên gia theo dõi Tối Cao Pháp Viện đang nghiên cứu ý kiến của các vị thẩm phán tối cao trong các vụ xét xử trước đây, tất cả đều liên quan đến “điều khoản thương mại,” để đoán xem họ nghĩ thế nào về điều “bắt buộc có bảo hiểm” trong luật Y tế.

Thí dụ, Thẩm Phán Anthony M. Kennedy, do Tổng Thống Cộng Hòa Reagan cử, năm 1995 đã đứng trong đa số bác bỏ một đạo luật liên bang cấm mang súng gần các trường học; vì nó đi quá quyền hạn của “điều khoản thương mại”. Nhưng trong một vụ khác năm 2010, ông đứng trong đa số giữ lại một đạo luật bị kiện, theo đó chính quyền có quyền giữ những “tội phạm nguy hiểm” về tình dục sau khi mãn án. Trong vụ trên, Chánh Án Tối Cao John G. Roberts, Jr do cựu Tổng Thống Bush đề cử, cũng đồng ý quyền hạn của liên bang được nới rộng như vậy.

Ông Kennedy còn đưa ra ý kiến rằng “Quốc Hội có quyền làm luật trong phạm vi thương mại với giả thiết rằng chúng ta sống chung trong cùng một thị trường và cùng muốn tạo ra một nền kinh tế toàn quốc ổn định.” Chính phủ Obama sẽ vin vào ý kiến này mà trình bày rằng Y tế đang là một hoạt động kinh tế chiếm 17% tổng sản lượng nội địa (GDP); để chứng tỏ đạo luật nằm trong khuôn khổ “điều khoản thương mại”.

Thẩm Phán Antonin Scalia là người thâm niên nhất, được Tổng Thống Reagan để cử năm 1986, xưa nay luôn luôn nghiêng về ý kiến giới hạn quyền của chính phủ và Quốc Hội liên bang. Nhưng năm 2005, ông đã đồng ý lối giải thích “điều khoản thương mại” khá rộng rãi, cho phép Quốc Hội liên bang có quyền làm một đạo luật cấm sử dụng cần sa vào mục đích y tế, dù người ta trồng lấy và hút ở trong nhà mình. Ông Scalia viết thêm ý kiến trong vụ án đó, nói rằng, “Quốc Hội có thể làm luật về các hoạt động không thuộc phạm vi kinh tế nếu luật lệ đó cần thiết trong một đạo luật rộng hơn về thương mại giữa các tiểu bang”.

Coi ý kiến ba vị thẩm phán tối cao có khuynh hướng Cộng Hòa trên đây, người ta không thể đoán chắc được họ sẽ bỏ phiếu thế nào vào giờ phút quyết định của vụ án Cải tổ Y tế hiện nay. Nếu cả ba bác bỏ điều khoản bắt buộc bảo hiểm, thì họ sẽ có đa số 5 trên 4. Nếu một trong hai ông Kennedy hoặc Scalia bỏ phiếu chấp nhận đạo luật thì chắc ông Roberts cũng sẽ thuận; vì một vị chánh án tối cao thường không muốn đứng trong phe thiểu số. Luật Sư Ðoàn Toàn Quốc (American Bar Association) đã tham khảo một nhóm luật gia hoạt động trong lãnh vực đại học và viết báo; nhóm này tiên đoán rằng Tòa Tối Cao có thể không bác bỏ đạo luật Y tế. Nhưng không ai có thể đoán trước kết quả như thế nào; vì cách nhìn và lối suy luận của mỗi thẩm phán đều rất tinh vi, tế nhị, khó đoán trúng ý kiến họ.

Ðáng lẽ Tổng Thống Barack Obama có thể không lâm vào hoàn cảnh này, nếu ông cương quyết giữ ý kiến đã đưa ra khi tranh cử năm 2008. Theo nhật báo Wall Street, một tờ báo nghiêng về đảng Cộng Hòa, sau khi vào Tòa Bạch Ốc, ông Obama đã họp một nhóm chuyên gia nghiên cứu vấn đề này. Họ thấy một đạo luật với một mệnh lệnh bắt buộc sẽ có thêm 32 triệu người có bảo hiểm, trong số 46 triệu lúc bấy giờ. Họ nghiên cứu một giải pháp khác, có tính cách tình nguyện không bắt buộc, và thấy sẽ chỉ thêm được 16 triệu người có bảo hiểm mà thôi. Nhưng, khi nhìn đến chi phí thì lại thấy chương trình thứ hai cũng tốn bằng ba phần tư cái thứ nhất. Thế là, ông Obama tính toán lợi, hại, và thay đổi ý kiến, nghiêng về giải pháp “mệnh lệnh”. Nếu đừng tính toán chi phí, nếu ông Obama cứ theo linh tính chính trị của ông lúc tranh cử, thì chắc sẽ không có vụ kiện hiện nay.

Hơn nữa, người ta có thể viết đạo luật Y tế một cách khác để không đụng tới “điều khoản thương mại”. Thay vì nói: “Mọi người phải có bảo hiểm y tế, nếu không sẽ bị phạt tiền” thì có thể nói rằng: “Những người không có bảo hiểm y tế sẽ phải đóng thêm một thứ thuế.” Viết dưới hình thức một mệnh lệnh bắt buộc (mandate) câu chuyện thành rắc rối. Tất cả mọi người Mỹ đi làm hiện nay đều phải đóng Thuế Sổ Lương, để có bảo hiểm hưu bổng (Social Security) và sức khỏe khi về hưu (Medicare); những thuế bắt buộc, từ nửa thế kỷ nay rồi. Trên căn bản, hai chương trình đó cũng là những chính sách “bảo hiểm bắt buộc”.

Nếu Tối Cao Pháp Viện bác bỏ điều khoản bắt buộc của đạo luật Y tế, việc thay đổi sẽ kéo dài rất lâu. Nhiều điều khoản đã áp dụng rồi, chắc sẽ không thay đổi. Thí dụ, cho phép con cái đến tuổi 26 vẫn được giữ bảo hiểm của bố mẹ đang đi làm, thay vì mất. Hay là các công ty bảo hiểm không được từ chối bán bảo hiểm y tế vì quá khứ tật bệnh của thân chủ. Nhưng cuộc vận động tranh cử tổng thống và Quốc Hội đang bắt đầu. Ðảng Cộng Hòa muốn xóa bỏ tất cả đạo luật Y tế Obama, và không phải chỉ mình ông Obama bị công kích. Ứng cử viên Mitt Romney hôm qua viết một bài hứa sẽ xóa bỏ đạo luật Y tế. Nhưng các đối thủ của ông trong đảng Cộng Hòa luôn luôn nhắc lại rằng một đạo luật tương tự ở tiểu bang Massachussetts mà ông Romney đã ký cũng không khác gì đạo luật Y tế Obama. Nếu ông Romney ứng cử cho đảng, ông Santorum nói, thì bên Cộng Hòa sẽ mất luôn một vũ khí tranh cử rất mạnh!

Cuộc tranh luận về chính trị sẽ còn tiếp tục. Nhưng quyết định quan trọng nhất, cuối cùng sẽ do tòa án.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Romney: Nga Là Địch Thủ Địa Lý Chính Trị Số 1 Của Mỹ
SAN DIEGO - Ứng viên TT Mitt Romney tuyên bố hôm Thứ Ba: Nga, không phải Iran hay Bắc Hàn, là địch thủ số 1 về địa lý chính trị của Hoa Kỳ.

Cựu thống đốc Romney đưa ra nhận xét như trên trong cuộc phỏng vấn của Wolf Blitzer phát qua làn sóng truyền hình CNN trong đó ông nhắc tới các lời lẽ của TT Obama bị bắt gặp qua microphone đang mở.

Trong cuộc đàm đạo, ông Obama cho TT Nga biết : sau bầu cử ông có thể mềm dẻo hơn với kế hoạch lá chắn phi đạn.

Ông Romney xác nhận ông rất quan ngại về phát biểu của TT Obama, vì Nga không là 1 nhân vật thân thiện trên sân khấu quốc tế - theo ông, không cần phải hỏi, Nga là địch thủ số 1 về địa lý chính trị. Ông nhấn mạnh "Người Nga tranh đấu cho lý lẽ của các đấu thủ tệ hại nhất thế giới - ý định sẽ mềm dẻo với Nga của TT Obama là thực sự rất, rất phiền".

Khi ký giả Blitzer hỏi dồn: Nga có là đối thủ lớn hơn Trung Quốc hay Iran, ông Romney tìm cách giải thích, nhưng không rút lại lý lẽ - ông nói đại ý "Tôi nói về mặt địa lý chính trị, quốc gia nào đứng về phe các đấu thủ tệ hại nhất dĩ nhiên là mối đe dọa lớn nhất mà thế giới đối diện, như nước Iran theo đuổi nguyên tử và Bắc Hàn đang gây đủ rắc rối - nhưng, khi những đấu thủ ghê gớm này theo đuổi định hướng của họ và chúng ta đến LHQ tìm cách ngăn cản họ. Chẳng hạn như khi lãnh tụ Assad giết dân, chúng ta đến LHQ, và ai là kẻ luôn hậu thuẫn các đấu thủ tệ hại nhất".

Ông Romney nói tiếp "Luôn là Nga, với Trung Quốc bên cạnh, và trong điều kiện của 1 địch thủ địa lý chính trị, 1 nước là thành viên HĐ Bảo An, có thế lực tại HĐ Bảo An".

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Medvedev yêu cầu Romney 'dùng đầu suy nghĩ'

Tổng thống Nga thẳng thắn đề nghị ứng viên đảng Cộng hòa Mỹ Mitt Romney hãy dùng cái đầu để suy nghĩ
xem ông đang sống ở thời đại nào, sau khi Romney tuyên bố Nga là kẻ thù địa chính trị số một của Mỹ.

Image
Tổng thống Nga Dmitry Medvedev. Ảnh: AP

Trong một cuộc phỏng vấn với CNN hôm 26/3, ứng viên tranh cử tổng thống hàng đầu của đảng Cộng hòa Mỹ Mitt Romney đã xếp Nga vào hàng "những nước tồi tệ nhất thế giới" và là "kẻ thù lớn nhất của Mỹ xét về địa chính trị". Ông Romney cũng chỉ trích cuộc trò chuyện riêng giữa Tổng thống Barack Obama với Tổng thống Dmitry Medvedev về chuyện bất đồng quanh hệ thống lá chắn tên lửa Mỹ ở châu Âu.

Theo AP, trong cuộc họp báo sau Hội nghị An ninh hạt nhân tại Seoul hôm qua, Tổng thống Medvedev cho rằng những phát ngôn của ông Romney "sặc mùi Hollywood" và cứ như được đưa ra từ thời Chiến tranh Lạnh.

Ông Medvedev khuyên các ứng viên chạy đua vào Nhà Trắng, trong đó có Romney, hãy "dựa vào lý lẽ, sử dụng cái đầu để suy xét", và "việc đó không gây hại gì cho một ứng viên tổng thống đâu".

"Đây là năm 2012, không phải giữa những năm 1970, dù ông thuộc đảng nào đi nữa thì cũng phải nắm bắt thực tế hiện tại", nhà lãnh đạo Nga nói.

Hệ thống phòng thủ tên lửa của NATO do Mỹ đứng đầu từ lâu đã là trở ngại trong mối quan hệ giữa Washington và Moscow. Nga không cho rằng lá chắn tên lửa Mỹ ở châu Âu là cần thiết để ngăn chặn tên lửa từ Iran và quan ngại rằng hệ thống này thậm chí có thể đe dọa an ninh Nga.

Trong cuộc gặp bên lề Hội nghị An ninh hạt nhân hôm 26/3 ở Seoul, ông Obama nói rằng đây là lần cuối ông tranh cử và sau cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, ông sẽ linh hoạt hơn về vấn đề lá chắn tên lửa. Ông Medvedev đáp lại bằng tiếng Anh rằng sẽ chuyển lời đến Tổng thống mới đắc cử Vladimir Putin, người sẽ tuyên thệ nhậm chức vào tháng 5 tới. Cuộc trao đổi trên giữa hai nhà lãnh đạo vô tình bị lộ khi các micro xung quanh vẫn mở mà hai người không hay biết.

Tuy nhiên, sau sự cố trên, ông Obama cho hay ông muốn dành thời gian còn lại của nhiệm kỳ này để giải quyết những vấn đề kỹ thuật liên quan đến tranh cãi phòng thủ tên lửa với Nga, và không có gì ngạc nhiên khi thỏa thuận giữa hai bên khó có thể thông qua sớm.

Ông Medvedev cũng lên tiếng rằng "không có bí mật gì ở đây cả và không có gì đáng ngạc nhiên khi một số vấn đề được giải quyết tốt hơn trong một tình huống chính trị đặc biệt".

"Có những khoảng thời gian phù hợp và không phù hợp để giải quyết các vấn đề", ông nói. "Rõ ràng khi tất cả các lực lượng chính trị ổn định là thời điểm tốt nhất để giải quyết tranh cãi".

Medvedev cũng thêm rằng trong khi ông Obama chú trọng vào lợi ích của Mỹ, ông vẫn là một đối tác tốt, góp phần tạo ra một cuộc đối thoại "thân thiện và chân thành".

"Điều quan trọng nhất trong một cuộc đối thoại là các bên lắng nghe lẫn nhau, và ông ấy là một đối tác rất dễ chịu trong trường hợp này".

Anh Ngọc

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Medical cũng ra tòa

Ngô Nhân Dụng

Dù quý vị không phải người Mỹ, vụ Tối Cao Pháp Viện Mỹ xử về đạo luật cải tổ y tế cũng đáng theo dõi. Vì muốn hiểu chế độ tự do dân chủ thì một cách hay nhất là xem hệ thống tư pháp độc lập của một nước dân chủ hoạt động như thế nào.

Như đã tường trình trong bài trước, 9 vị thẩm phán Tối Cao Pháp Viện đang nghe lập luận của luật sư của 26 tiểu bang và một hội tư doanh đứng thưa kiện, và luật sư của chính phủ Obama trong ba ngày liền. Ngày Thứ Hai 25 Tháng Ba 2012 không sôi nổi lắm, vì bên nguyên và bên bị đều đồng ý vấn đề chính trước tòa là cần xét xử ngay, không nên trì hoãn. Ngày Thứ Ba đáng chú ý nhất, vì câu hỏi quan trọng nhất được nêu ra: Ðạo luật Y tế có vi hiến hay không? Nói rõ hơn, điều khoản bắt buộc mọi người Mỹ phải có bảo hiểm y tế có vượt quá quyền hạn của Quốc Hội liên bang, tức là chính phủ liên bang, được ấn định qua “điều khoản về thương mại” (commerce clause) trong hiến pháp Mỹ hay không? Sang hôm nay, Thứ Tư 28 Tháng Ba, Tòa Án Tối Cao sẽ nghe các lý lẽ về những điều khoản mở rộng chương trình Y tế giúp người nghèo (Medicaid, ở California gọi là Medical). Trong hai ngày chót này, hai bên nguyên, bên bị sẽ đưa ra các lý lẽ quan trọng nhất, quyết định số phận của luật Cải tổ Y tế, một thành tích của chính quyền Obama trong hai năm đầu nhiệm kỳ.

Mặc dù có những cuộc biểu tình trước cửa Tối Cao Pháp Viện Mỹ từ cuối tuần cho đến hôm nay, với những người chống cũng như ủng hộ đạo luật, nhưng đó là hoạt động bình thường trong xã hội Mỹ. Ðiều đáng quan sát nhất là ở trong tòa án, phải lắng nghe các câu hỏi và ý kiến của các thẩm phán tối cao biểu lộ trong lúc đặt câu hỏi cho luật sư hai bên; vô tình có thể để lộ ý kiến của chính họ. Dân Mỹ rất kính trọng Tối Cao Pháp Viện, không gọi quý vị này là “judge” (thẩm phán, quan tòa) như bình thường, mà gọi là “justice” (thẩm phán tối cao, cũng có nghĩa là công lý). Mặc dù 5 vị thẩm phán tối cao hiện nay do các cựu tổng thống Cộng Hòa bổ nhiệm, không ai nghĩ là quý vị đó sẽ phán xét theo tinh thần đảng phái. Chính quyền Obama (đảng Dân Chủ) cũng không lo sẽ chỉ có 4 vị thẩm phán tối cao thiểu số cùng quan điểm với họ; mà hy vọng sẽ được thêm một, hai vị khác đồng ý việc giữ lại đạo luật.

Các thẩm phán tối cao không quan tâm đến ý nghĩa, hậu quả chính trị của một đạo luật, mà chỉ xét xem nó có đúng với sự phân chia quyền hành trong hiến pháp nước Mỹ hay không. Ở đây là vấn đề phân quyền giữa chính quyền liên bang (chính phủ cùng với Quốc Hội liên bang) và các tiểu bang; như viết trong “điều khoản về thương mại”. Phán quyết sau cùng sẽ tùy vào cách các vị thẩm phán tối cao hiểu “commerce clause” theo nghĩa rộng tới đâu, hay hẹp như thế nào.

Phía phản đối đạo luật lý luận rằng bắt buộc mọi người đều phải mua bảo hiểm không phải là một hành động “điều tiết thị trường” như hiến pháp cho phép. Ðó là “bắt buộc” người ta phải mua một thứ dù họ muốn hay không! Chính phủ có quyền bắt mọi người phải mua giầy, hay mua xe hơi không? Bên chính phủ cãi lại: Ðạo luật này không bắt buộc ai phải tham dự vào thị trường (bảo hiểm y tế) bởi vì tất cả mọi người ở Mỹ đều ở trong thị trường y tế, dù sớm hay muộn. Mỗi năm nước Mỹ chi 2,600 tỷ đô la về y tế, chiếm 18% tổng sản lượng nội địa. Tính bình quân, một người Mỹ chi 8,400 đô la về y tế một năm. Các bệnh viện chi hàng chục tỷ đô la một năm để chữa trị những người không có bảo hiểm. Bắt buộc ai cũng phải có bảo hiểm sẽ làm cho thị trường công bằng hơn!

Ngày hôm qua, Thứ Ba, các thẩm phán tối cao đặt những câu hỏi gắt gao cho luật sư cả hai bên. Ông Stephen Breyer, các bà Ruth Bader Ginsburg, Sonia Sotomayor and Elena Kagan (đều do các tổng thống Dân Chủ đề cử) cho thấy họ nghĩ “bảo hiểm bắt buộc” không vượt ra ngoài phạm vi của “điều khoản thương mại” trong hiến pháp. Trong số năm vị khác, hai người tỏ ý nghi ngờ là các ông Antonin Scalia và Samuel Alito. Ông Scalia nói với luật sư của chính phủ Obama: “Thế thì quyền hành của Quốc Hội và chính phủ liên bang có còn giới hạn nào không? Hay là vô giới hạn?” Ông Clarence Thomas xưa nay vẫn quan niệm quyền hạn của chính phủ liên bang rất hẹp, thế nào ông cũng phán đạo luật Y tế đã vi phạm hiến pháp; hôm qua ông không đặt câu hỏi nào cả (hơn sáu năm nay ông vẫn như vậy trong tất cả các phiên tòa). Hai vị được chú ý nhất là hai ông John Roberts và Anthony Kennedy, cả hai đều do các tổng thống Cộng Hòa đề cử; nhưng chính quyền Obama hy vọng họ sẽ không thấy đạo luật Y tế là vi hiến.

Ông Kennedy tỏ ý lo ngại quyền hạn của chính phủ mở ra quá rộng, sẽ thay đổi mối tương quan giữa người cai trị và người dân một cách nặng nề. Nhưng ông cũng nhận xét rằng những người trẻ tuổi không chịu trả tiền mua bảo hiểm y tế sau cùng cũng vẫn được chữa trị. Ông Roberts tỏ ý lo ngại Quốc Hội xen vào các cuộc trao đổi thương mại giữa các cá nhân, khi một bên muốn rút ra không trao đổi nữa. Những ý kiến trên đây khiến cả hai bên đều đoán hai vị thẩm phán tối cao này có thể sẽ nghiêng về phía mình. Cho nên, mọi người sẽ phải đợi đến Tháng Sáu, coi các đa số quan tòa tối cao nghĩ ra sao!

Ngày hôm nay, Thứ Tư, luật sư hai bên sẽ trình bày luận cứ về một vấn đề tiêu biểu về vấn đề phân quyền giữa chính quyền liên bang và các tiểu bang, liên can đến chương trình Medicaid (Medical ở California). Không ai phản đối việc đạo luật Y tế sẽ mở rộng chương trình này, vào năm 2014; nhưng các nguyên đơn xin Tối Cao Pháp Viện phán các điều khoản trong đạo luật “cưỡng ép” các tiểu bang phải mở rộng là vi hiến. Vì theo đạo luật Y tế của chính phủ Obama, những tiểu bang không áp dụng sẽ “bị phạt,” không được trợ cấp nữa.

Một chuyện rất dễ hiểu ở nước Mỹ: Ðồng tiền có áp lực. Dọa cắt trợ cấp có nghĩa là “ép buộc.” Trong nước Mỹ có 60 triệu người hưởng Medicaid, Medical; họ gồm các gia đình nghèo đông con, những người khuyết tật, nhiều cụ già trong nhà dưỡng lão, phụ nữ nghèo mang thai, vân vân. Với đạo luật của ông Obama sẽ có thêm 15 triệu người nữa được hưởng Medicaid, Medical. Số tiền chi cho mỗi người sẽ lên tới 15,400 đô la một năm!

Chính phủ liên bang chi 60% cho các chương trình Medicaid, Medical. Nhưng số còn lại mà các tiểu bang phải chi cũng là một gánh nặng cho ngân sách của họ, California là một thí dụ điển hình. Tiểu bang có thể giảm số cảnh sát, bớt số giáo viên, nhưng tiền chi cho Medical thì không bỏ được. Nếu mở rộng thêm cho nhiều người, làm sao cân bằng ngân sách?

Vì vậy, một số tiểu bang đã kiện đạo luật Y tế, vì “cưỡng chế” họ phải mở rộng Medicaid, nếu không thì sẽ mất luôn số tiền trợ cấp vẫn nhận được từ liên bang.

Cuối cùng, các thẩm phán tối cao sẽ phán điều trên có phải là “liên bang cưỡng chế các tiểu bang,” vi phạm sự phân quyền trong hiến pháp hay không?

Một điều đáng chú ý là trong tất cả các lần đạo luật Y tế bị ra tòa trước đây, ở các tòa dưới không quan tòa nào coi là đạo luật đó vi hiến. Thẩm Phán Roger Vinson ở Pensacola, Florida, người duy nhất đã phán đạo luật này vi phạm điều khoản thương mại, cũng bác bỏ đơn kiện về Medicaid. Trong hiến pháp không có điều nào cấm chính phủ liên bang dùng áp lực đồng tiền để buộc các tiểu bang nhận tiền phải theo chương trình của mình. Thẩm Phán Winson nói, “Vào lúc viết bản hiến pháp, các vị quốc phụ không bao giờ nghĩ được là có lúc chính phủ liên bang lại có nhiều tiền như bây giờ để mà cấp cho các tiểu bang, rồi dùng tiền làm áp lực.”

Vì vậy, chính phủ Obama đang hy vọng Tối Cao Pháp Viện cũng nghiêng về ý kiến đó. Bởi vì hầu hết các số tiền do liên bang cấp cho các tiểu bang đều có khoản bắt buộc kèm theo. Các tiểu bang muốn có tiền tu bổ đường sá, phải làm luật lệnh cấm thiếu niên dưới 18 tuổi uống rượu. Chính phủ liên bang sẽ chỉ trợ cấp tiền cho các trường đại học, cao đẳng, nếu không kỳ thị đối với nữ giới trong việc học cũng như trong các hoạt động thể thao. Nhiều món tiền trợ cấp cho nhà ở giúp người nghèo (housing), cảnh sát, giao thông, giáo dục, đều có những khoản ép buộc các tiểu bang phải thi hành!

Bà JudyAnn Bigby, bộ trưởng y tế tiểu bang Massachusetts thì cho rằng tình trạng “cưỡng chế” đã có từ lâu rồi, chẳng có gì mới. Bao lâu nay, các tiểu bang vẫn phải làm theo các quy tắc của liên bang khi nhận tiền Medicaid!

Trong dư luận dân Mỹ thì có 51% coi điều khoản “bắt buộc bảo hiểm y tế” là vượt ngoài quyền hạn mà hiến pháp trao cho chính phủ liên bang; chi có 45% nghĩ là không vi phạm. Nhưng đại đa số dân Mỹ ủng hộ các điều khoản khác của đạo luật này, thí dụ cho con cái quá 26 tuổi vẫn được hưởng bảo hiểm của cha mẹ. Tuy nhiên, nếu điều khoản “bắt buộc bảo hiểm y tế” bị bác vì vi hiến thì rất nhiều điều khác cũng bị bác bỏ theo, ngay cả điều cấm các công ty bảo hiểm từ chối những thân chủ đã bị bệnh từ trước, được nhiều người Mỹ ủng hộ.

Cuối cùng, chúng ta cũng không thể đoán trước các thẩm phán tối cao sẽ quyết định ra sao. Dù thế nào, dân Mỹ cũng sẽ tuân theo quyết định của họ. Trong một chế độ dân chủ tự do tất cả đề tôn trọng quyết định của tòa án. Xây dựng được niềm tin và lòng kính trọng đối với các quan tòa phải mất hàng trăm năm, sau khi tất cả đồng ý quyền tư pháp phải độc lập!

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Biển Đông: Nguyên Tử?

Tác giả : Trần Khải
Thế giới nhiều chuyện lạ: Trung Quốc hăm dọa sẽ xài vũ khí nguyên tử tại Biển Đông? Trên nguyên tắc là không, bởi vì nếu có làm nổ một quả bom nguyên tử như thế, vùng đảo Hoàng Sa mà TQ đang chiếm giữ, và cả vùng huyện Tam Sa nơi có tòa hành chánh ở đảo Hải Nam sẽ ngập tràn phóng xạ... Như thế sẽ thiệt hại cả cho dân chúng và quân đội TQ, và cả nền kinh tế đang cần du khách của Hải Nam, nơi trên bản đồ có thể ngó sang vùng Quảng Nam Đà Nẵng cuả VN...

Vậy thì, tại sao có chuyện xài hay không xài bom nguyên tử ở Biển Đông?

Tất nhiên, nêu lên vấn đề nguyên tử là từ phía đàn anh TQ, chứ còn phía VN chẳng ai dám nói gì chuyện đó.

Nhà văn Hà Văn, từ báo Văn Hóa Nghệ An (vanhoanghean.com.vn) hôm Thứ Tư có bài viết nhan đề “Cam kết hay đe doạ trắng trợn?” có những đoạn văn nêu rõ ngôn ngữ hăm dọa và hung hiểm của phía Trung Quốc, trích:

“Trang mạng của Nhân dân Nhật báo (Cơ quan ngôn luận chính thức của ĐCS Trung Quốc) hôm 27.3.2012, đăng lời của Khúc Tinh - Viện trưởng Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế, Tổng Thư ký Hiệp hội điều khiển quân sự và giải trừ quân bị Trung Quốc rằng “TQ sẽ không sử dụng vũ khí hạt nhân trong quan hệ quốc tế, trong vấn đề Nam Hải” (tức Biển Đông, phía TQ gọi là Nam Hải).

Về nguyên tắc hình thức, đây là một cam kết (miệng) đầy “thiện chí”(!), có vẻ như tuyên bố với thế giới là TQ rất yêu chuộng hoà bình”. Thế nhưng, nếu suy ngẫm đầy đủ thì lời tuyên bố trên của Khúc Tinh (tức ĐCS TQ) vừa nguy hiểm, vừa trắng trợn.

Đó là thông điệp rất rõ ràng muốn nhắn gửi với Việt Nam rằng TQ đã bàn bạc, hoạch định rất rõ khả năng sử dụng vũ khí hạt nhân “trong vấn đề Nam Hải”. Cụ thể, thông qua tuyên bố trên, TQ khẳng định họ đã tính đến tất cả các phương án trong âm mưu muốn dạy cho Việt Nam một bài học nữa. Nói cách khác, TQ đã tỏ rõ lập trường lì lợm đen tối là họ sẽ không từ bất kỳ thủ đoạn nào để đạt mục đích.

Ai cũng biết Việt Nam và các quốc gia xung quanh Biển Đông không có vũ khí hạt nhân và không hề có bất kỳ ý định nào đối với việc muốn sở hữu vũ khí đó. Vì thế, một khi TQ nói họ sẽ tự vệ bằng vũ khí hạt nhân để giáng trả đòn tấn công hạt nhân trong các vấn đề quốc tế là điều có thể chấp nhận được... Thế nhưng, chẳng ai lại “tự vệ” bằng vũ khí hạt nhân với các nước không có thứ vũ khí đó(!)...” (hết trích)

Ngôn ngữ hăm dọa hung hiểm đó của TQ được ghi nhận cùng ngày với một tin rất buồn cho ngữ dân Việt: Báo Dân Việt hôm 28-3-2012 loan bản tin ngắn gọn:
“Quảng Ngãi: Một tàu cá bị tàu lạ đâm chìm

Chiều 27.3, UBND xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ cho biết, tàu cá do anh Đinh Quang Ngọc (SN 1973, ở xã Phổ Thạnh) làm thuyền trưởng khi đang hành nghề giã cào trên vùng biển gần đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị), đã bị một tàu lạ đâm chìm.

Trên tàu lúc đó còn có ngư dân Nguyễn Hữu Vươn (SN 1986). Hai người đã được một tàu cá cùng xã đang hoạt động gần đó cứu vớt kịp thời.”

Tàu lạ này có vẻ như là taù TQ, bởi vì lúc đó là buổi chiều bị tàu lạ đâm chìm... chứ không phải ban đêm tối thui.

Một ngang ngược khác nữa là: TQ ra giá phạt ngư dân Việt cao gấp trăm lần nhà nước VN ra giá phạt thủy thủ TQ đi tàu lạc vào biển VN.

Bản tin từ thông tấn nhà nước TTXVN ghi rằng, Mạng Tin tức Trung Quốc ngày 27/3 dẫn lời Phó Cục trưởng Cục Ngư chính Nam Hải Lưu Thiêm Vinh cho biết phía Trung Quốc quyết định xử phạt mỗi ngư dân Việt Nam 70,000 Yuan (khoảng 11,000 Mỹ kim-hơn 220 triệu đồng).

TTXVN cho biết Trung Quốc đã bắt và hiện đang giam giữ 21 ngư dân và 2 tàu cá của Việt Nam mang số hiệu QNg66101TS và QNg 66074TS.

Cũng theo TTXVN, này 21/3, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao CSVN Lương Thanh Nghị nêu rõ Việt Nam kiên quyết phản đối hành động bắt giữ tàu và ngư dân Việt Nam của phía Trung Quốc, yêu cầu phía Trung Quốc thả ngay và vô điều kiện các ngư dân và tàu cá nói trên, chấm dứt việc bắt giữ, cản trở ngư dân Việt Nam tại các vùng biển của Việt Nam.

Câu hỏi là, mỗi đầu ngư dân Việt bị phạt 11,000 đôla Mỹ, vậy thì mỗi thủy thủ TQ lạc vào biển VN bị phạt bao nhiều? Hiện nay, Biên Phòng Khánh Hòa đang bắt giữ 2 tàu TQ và 9 thuyền viên TQ ở Nha Trang.

Trang web Xuân Diện (http://xuandienhannom.blogspot.com) hôm Thứ Tư đăng bài viết của nhà văn Phan Tất Thành cho biết phía VN dự kiến sẽ phạt rất nhẹ với các thủy thủ TQ này, trích:

“...Trong lúc tạm giữ hai tàu cùng chín người Trung Quốc ở Nha Trang, lãnh đạo Biên phòng Khánh Hòa được dẫn lời nói sẽ tham mưu để xử phạt hành chính hai tàu này vì vi phạm. Hai lỗi này là "đi biển Việt Nam không mang theo giấy tờ tàu và vào vùng biển quân sự Việt Nam không xin phép Nhà nước Việt Nam'. Hiện cơ quan biên phòng vẫn chưa biết nguồn gốc hai tàu Cha Le 01 và Cha Le 58...

...Thuyền trưởng Trung Quốc chưa giải thích rõ mục đích của hai tàu này ở Việt Nam, nhưng về số tiền phạt thì “ Số tiền phạt đề xuất được biết vào khoảng trên mười triệu đồng Việt Nam mỗi tàu (20 triệu: 9 người = 2,2222 triệu một người Trung Quốc).” (hết trích)

Nghĩa là, ngư dân Việt bị TQ phạt tiền gấp trăm lần ngư dân TQ bị nhà nước VN phạt.

Nhưng 9 thủy thủ TQ này vào biển VN làm gì? Tại sao lại đi 2 tàu lớn vào biển VN mà lại 'xâm nhập vùng biển quân sự' VN’, theo bản tin BBC?
Bản tin BBC cho biết 2 tàu này thuôc5 loaạ khổng lồ:

“...Bộ đội biên phòng đã kiểm tra và xác định đây là hai tàu chuyên dụng dùng để nạo vét và hút bùn và có kích thước lớn hơn tàu đánh bắt hải sản bình thường.

Mỗi tàu dài 100 mét, rộng 22 mét và có công suất trên 400 kW.

Thuyền trưởng là hai ông Zhang Jiang Ming, 54 tuổi, và Zeng Wang Yuan, 53 tuổi.” (hết trích)

Tàu dài 100 mét, rộng 22 mét... Nghĩa là tàu loơn cỡ tàu đổ bộ của Hải Quân, chứ không phải ghe đánh cá.

Có phải 2 tàu này muốn dò độ sâu các vùng biển VN để chuẩn bị cho các cuộc đổ bộ tương lai khi chiến tranh bùng nổ?

Tại sao lại nghĩ tới chuyện đổ bộ để tấn công VN? Có phải vì không xài tới bom nguyên tử, nên mới cần tới đổ bộ để tấn công?

Biển Đông... thấy rõ là quan ngại, bất kể là nguyên tử sẽ không xài tới.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Mỹ: 'Thời gian đối thoại với Iran sắp hết'
Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton hôm qua tuyên bố thời gian dành cho các biện pháp ngoại giao đối với chương trình hạt nhân của Iran sắp hết, và việc đàm phán nhằm ngăn chặn tham vọng hạt nhân này sẽ bắt đầu giữa tháng 4.

AP đưa tin bà Clinton tham dự hội nghị cấp bộ trưởng đầu tiên của Hội nghị Hợp tác Chiến lược vùng Vịnh-Mỹ tại Arab Saudi hôm qua. Phát biểu sau hội nghị, Ngoại trưởng Mỹ khẳng định cơ hội giải quyết chương trình hạt nhân của Iran bằng biện pháp hòa bình "không phải là vô tận". Bà cũng nghi ngờ Tehran không hề có ý định đối thoại với Mỹ, Israel và nhiều nước khác nhằm tìm ra một giải pháp thỏa mãn yêu cầu của các bên liên quan.

"Chính sách của Mỹ là ngăn chặn. Chúng tôi quyết tâm ngăn chặn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân", bà Clinton nói.
Image
Ngoại trưởng Hillary Clinton phát biểu tại hội nghị bộ trưởng của Hội đồng Hợp tác Chiến lược vùng vịnh-Mỹ hôm 31/3.
Ảnh: AFP

Tuyên bố của bà Clinton được đưa ra đúng một ngày sau khi Tổng thống Mỹ Barack Obama thông báo Washington sẽ triển khai các biện pháp mới nhằm làm giảm thu nhập từ hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của Iran, đồng thời hợp tác với các nước vùng Vịnh để đảm bảo lượng cung dầu mỏ toàn cầu sẽ được duy trì sau khi Iran bị cấm xuất khẩu dầu mỏ.

Ngoại trưởng Mỹ hối thúc các chính phủ vùng Vịnh phát triển chiến lược quốc phòng chung để ngăn chặn nguy cơ bị Iran tấn công bằng tên lửa. Bà nói Mỹ và các nước vùng Vịnh cũng nên hợp tác để cải thiện an ninh hàng hải.

Chương trình hạt nhân của Iran là chủ đề gây tranh cãi giữa Tehran và cộng đồng quốc tế. Mỹ, Israel và các nước đồng minh cho rằng Iran có tham vọng chế tạo vũ khí hạt nhân, còn Tehran một mực khẳng định chương trình hạt nhân của họ phục vụ các mục đích hòa bình.

Đại diện của Iran và Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nga và Trung Quốc đã gặp nhau tại thủ đô Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ 14 tháng trước để đàm phán về chương trình hạt nhân. Nhưng các cuộc đàm phán kết thúc sau hai ngày dù các đoàn đại biểu chưa nhất trí được những vấn đề cần thảo luận.

Chí Linh

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Sự Hối Hận Muộn Màng

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Trước khi Khmer Đỏ vào Phnom Penh, ngày 12-4-1975, ông Đại Sứ Mỹ tại Cambodia, John Gunther Dean, đưa ra đề nghị mời các giới chức hàng đầu trong Chính Phủ Cộng Hòa Khmer đi tỵ nạn tại Mỹ, nhưng các ông Sirik Matak, Long Boret, và Lon Non , cùng với các thành viên trong Nội Các Lon Non từ chối, mặc dù các ông Long Boret và Sirik Matak đã có tên trong danh sách tử hình “7 Kẻ Phản Bội’ của Khmer Đỏ. Ông Sirik Matak viết thư trả lời ông Đại Sứ Mỹ như sau:

Tôi thành thực cám ơn lá thư của ngài cùng với lời đề nghị đưa tôi đi tị nạn. Rất tiếc, tôi không thể ra đi một cách hèn nhát như thế được. Về phần ngài và đặc biệt về phần quốc gia vĩ đại của ngài, tôi không bao giờ mảy may tin rằng quí vị lại có ý bỏ rơi một dân tộc đã chọn lựa tự do. Quí vị đã từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng làm gì được. Quí vị rời bỏ chúng tôi và tôi xin cầu mong cho ngài và đất nước của ngài tìm được hạnh phúc dưới bầu trời. Xin ngài ghi nhớ điều này là, nếu tôi có chết ngay lập tức tại đây trên quê hương của tôi mà tôi yêu dấu, thì đó là điều quá tồi tệ, bởi vì tất cả chúng ta đều sinh ra và một ngày nào đó phải chết. Tôi chỉ phạm phải một sai lầm là đã tin vào quí ngài, những người Mỹ. Thưa ngài Đại Sứ, người bạn quí mến của tôi, xin ngài nhận nơi đây tình cảm chân thành và tha thiết của tôi.

Hoàng Thân Sirik Matak (*)

Thủ tướng Cam Bốt Sirik Matak và cả chính phủ của ông Lon Non vì tin vào Mỹ nên mất nước và bị Khmer Đỏ phanh thây. Nhiều người VN cho đến bây giờ vẫn còn trông chờ Mỹ giúp họ đánh đuổi VGCS. Nhân mùa Quốc Hận tưởng niệm ngày 30-4-1975, nhắc lại sự kiện Sirik Matak để học hỏi và tìm hiểu xem người Mỹ thực sự chống cộng sản ra sao thiết nghĩ cũng chẳng phải là chuyện vô bổ. Người viết xin mở một dấu ngoặc để lưu ý bạn đọc. Chữ “người Mỹ” chúng tôi dùng trong bài là để chỉ chính quyền và các tập đoàn tư bản Mỹ chứ không nói nhân dân Hoa Kỳ.

Mỹ và Liên Sô

Tháng 5-1943, quân đội Đồng Minh đã đẩy được quân Đức Quốc Xã ra khỏi Phi Châu. Sau đó một tháng, Đồng Minh đổ bộ lên đảo Sicily, và ngày 3-9 các lực lượng Đồng Minh chiếm toàn bộ nước Ý. Nhưng đột nhiên và bất ngờ, quân Đồng Minh bị buộc phải dừng lại chỉ còn cách biên giới phía Nam nước Đức vài trăm dặm. Guồng máy chiến tranh kinh khủng -danh từ đại tướng Mark Clark thường gọi quân Đồng Minh- tiến lên hướng Bắc xuyên qua Ý kéo dài cuộc chiến đấu mấy tháng trời vô lý không thể tan vỡ được. Trong cuốn sách viết năm 1950 “Calculated Risk”, ông tuyên bố: “Một chiến dịch có thể làm thay đổi lịch sử liên hệ giữa Tây Phương và Nga Sô đã bị mờ dần. Đó là những quyết định từ cấp thượng tầng và vì những lý do ngoài thẩm quyền và hiểu biết của tôi. Không phải theo ý kiến của tôi, mà của một số các chuyên gia cận kề với vấn đề, việc giảm cường độ chiến dịch tại Ý, thay vì tiến quân vào Balkan, là một trong các lầm lỗi chính trị nổi bật của cuộc chiến.” Sự trì hoãn được giải thích là để tập trung quân đánh vào miền Bắc nước Pháp 9 tháng sau đó, thực ra đã cho Liên Sô có thì giờ thanh toán quân đội Đức trong chiến dịch Barbarossa đã bị đánh tơi tả để tiến về phía Tây Âu.

Quyết định rút các sư đoàn tác chiến khỏi mặt trận Ý Đại Lợi ngay lúc họ có thể thọc mũi dùi vào chỗ hiểm yếu của quân Đức đã được hoạch định từ Hội Nghị Đồng Minh ở Quebec năm 1943. Ở đó Churchill muốn từ phía Nam tấn công thẳng vào nước Đức, chiếm Trung Âu và vùng Balkan trước khi các vùng này kịp rơi vào chế độ nô lệ đỏ. Nhưng Churchill đã bị Hoa Kỳ gạt đi. Hoa Kỳ nhấn mạnh rằng, những đơn vị rút khỏi Ý sẽ được sử dụng để đổ bộ Pháp lần thứ hai. Sau cuộc đổ bộ lên Normandy nước Pháp tháng 6-1944, quân Đồng Minh được đặt dưới quyền chỉ huy của Eisenhower, một vị tướng mà hoạn lộ như diều gặp gió và là chuẩn thành viên của Hội Đồng Liên Lạc Ngoại Giao CFR (Council on Foreign Relations). Ông tướng trận này được cố vấn bởi Bernard Baruch, một nhà tài chánh, cố vấn của các TT Wilson và Roosevelt thời Đệ I và Đệ II Thế Chiến. Hiểu rõ được sự liên hệ này, người ta có thể hiểu được cuộc chiến, và lý do tại sao Đông Âu lại được trao cho Liên Sô.

Tướng Wrangel chỉ huy đoàn quân Bạch Nga ở miền Nam đang chiến thắng bọn Bolsheviks thì được lệnh từ phía Đồng Minh buộc phải rút lui về khu vực Biển Đen và bỏ nước Nga. Nếu từ chốị ông sẽ bị cắt đứt tiếp liệu và quân lính sẽ bị nguy hiểm. Những nhân viên tình báo Đồng Minh phá hủy những máy bay mà ông tự sắm lấy. Tướng Wrangel rơi vào tình trạng bó buộc phải từ bỏ việc giải phóng nước Nga.

Thống chế Kolchak cũng ở vào tình trạng tương tự. Ông lãnh đạo lực lượng chống cộng tại mặt trận phía Đông. Ông cũng bị cắt đứt tiếp tế trong khi đang chiến thắng Hồng Quân Liên Sô.

Trên mặt trận miền Đông, quân Liên Sô được tự do. Sự tiến quân của Nga chạy đua với các lực lượng Tây Âu, mặc dù các lực lượng này, dưới quyền chỉ huy của tướng Eisenhower, bị giữ chân ở nhiều điểm như Prague chẳng hạn. Sự thể đã cho phép Liên Sô đoạt được những vùng mà lực lượng Hoa Kỳ có thể chiếm giữ trước một cách dễ dàng. Tuớng Patton cũng như tướng Clark của Đồng Minh đều không tưởng tượng được tại sao các miền Đông Âu lại bị nhường cho quân đội Nga.

Nhưng chuyện bí mật vĩ đại này không thể che giấu được dưới ánh sáng mặt trời. Lý do là vì Hội Đồng Liên Lạc Ngoại Giao CFR (Council on Foreign Relations) giữ một vai trò trong yếu trong nền chính trị Hoa Kỳ. Người ta nói Hội Đồng là người ngồi ghế tài xế của chiếc xe. Mục sư Jim Shaw, một cựu hội viên Hội Tam Điểm bậc 33 sau khi rút lui khỏi hội Tam Điểm, trong một cuộc phỏng vấn năm 1989 đã tiết lộ về bức tranh nổi tiếng Roosevelt, Churchill, và Stalin tại Hội Nghị Yalta. Ông nói, bởi vì cả ba tay tổ này lúc đó đều là hội viên của hội Tam Điểm (Masonry.)

Có một ngưòi nào đó, người viết không nhớ tên, khẳng định: Có thể nói không ngoa rằng Liên Bang Sô Viết được dựng lên từ Hoa Kỳ. Thật vậy, có rất nhiều chứng cớ cho thấy, các Cơ Sở (Foundation) Ford, Rockefeller, và Carnegie đã yểm trợ cho cái gọi là cuộc Cách Mạng Vô Sản tại Nga và tài trợ cho CS Liên Sô.

- Tờ New York Journal-American ngày 3-2-1949 tiết lộ, Jacob Schiff đã đổ vào cho chiến thắng cuối cùng của cách mạng Bolshevik 20 triệu dollars. Ngoài ra có nhiều phát giác về các tập đoàn tư bản Hoa Kỳ làm ăn với Liên Bang Sô Viết trong thời chiến cũng như trong thời bình.

- Trong cuộc điều trần năm 1953, khi nghị sĩ Norman Dodd khi đọc bản báo cáo viết rằng các nhà kỹ nghệ Hoa Kỳ đã thu được khoảng 200 triệu lợi nhuận từ cuộc Thế Chiến II, ông đã muốn té nhào khỏi chiếc ghế. Ông nói: Sau Thế Chiến I, Quĩ Dự Trữ Liên Bang đã cho nền độc tài Sô Viết vay 200 triệu khi chúng mới lên nắm quyền. Và ông tự hỏi, tại sao những nhà giầu trong thế giới tài chánh lại ủng hộ CS là chế độ công khai muốn tiêu diệt thế giới tư bản. Còn tác giả Phyllis Schlafly viết: Tôi càng nghiên cứu càng cảm thấy hồ đồ (confused), không hiểu tại sao những người càng giầu có càng thích làm việc với kẻ thù của chúng ta.

Tổng thống Roosevelt tuyên bố vói Martin Dies, chủ tịch một Ủy Ban Đặc Biệt Hạ Viện Hoa Kỳ, và được ông này tường thuật lại trước Hạ Viện rằng, Tổng Thống không tin vào CS cũng như chúng ta, nhưng theo ông, không có gì sai trái về những người CS trên xứ sở này. Một số bạn thân nhất của tổng thống cũng là CS …. Quả thật về sau, viên cố vấn hàng đầu của TT Roosevelt, Alger Hiss, thành viên CFR, đã bị toà án kết tội làm tình báo cho Liên Sô.

Mỹ và Trung Cộng

Phần đông người ta đã quên những chuyện kỳ lạ xẩy ta dưới thời TT Harry Truman (người kế vị TT Roosevelt). Trước hết, sau khi ông ký Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, bản văn thừa nhận cơ quan quốc tế này là một Chính Phủ Toàn Cầu. Sau đó ông nhường quyền kiểm soát Đông Âu và Trung Hoa cho CS. Khi công luận bắt đầu nêu thắc mắc tại sao ông phản bội hàng trăm triệu con người để làm thân phận nô lệ, thì ông đã đưa đẩy rằng cuộc chiến tại Á Châu không thắng được. Khi đại tướng MacArthur nói với một vị dân biểu rằng ông không được phép chiến thắng trong cuộc chiến Triều Tiên, thì TT Truman cách chức tư lệnh của ông. Tướng Lâm Bưu, tư lệnh quân đội Trung cộng tham chiến tại Bắc Triều Tiên thừa nhận rằng đã có một thỏa thuận bí mật ngăn chận quân lực Mỹ chiến thắng tại Triều Tiên. Lâm Bưu viết: Tôi không bao giờ tấn công để phải hy sinh binh sĩ và danh tiếng của tôi, nếu tôi không được bảo đảm rằng Washington hạn chế những biện pháp trả đũa tương xứng của tướng MacArthur nhắm vào những tuyến đường tiếp liệu và truyền tin của chúng tôi.

Cuối năm 1945, khi tướng Marshall đi Trung Hoa, cán cân quyền lực nghiêng về phía quốc gia, và giữ nguyên cho đến tháng 6-1946. Những sư đoàn của Tưởng Giới Thạch đang dồn CS về phía Bắc và cơ hội chiến thắng của phía quốc gia cao hơn bao giờ hết. Nhưng, khi tướng Marshall tới Trung Hoa, ông có ý định thành lập sự phối hợp chỉ huy. Kế hoạch bị thất bại khi liên minh thất bại. Khi chính quyền Trung Hoa không thực hiện sự liên minh, thì vào mùa hè 1946, Hoa Kỳ chấm dứt viện trợ quân sự cho Trung Hoa. Hoa Kỳ không chỉ ngưng gởi tiếp tế quân dụng cho Trung Hoa, mà còn ra lệnh ngưng các chuyến tầu chở quân dụng do chính phủ Trung Hoa đã mua. Chính phủ Trung Hoa cũng đã mua các quân dụng ở Okinawa và nhiều nơi khác trên Thái Bình Dương. Những hàng hoá này cũng bị đình chỉ, và lệnh cấm vận hoàn toàn có hiệu lực vào mùa hè năm 1946. Lệnh này kéo dài tới tháng 5-1947. Tướng Chennault xác nhận rằng chuyến tầu đầu tiên chỉ đến Thượng Hải tháng 12-1948. Hơn nữa ông tướng này còn quả quyết rằng các chiến cụ đuợc gởi đến Trung Hoa sau lệnh cấm vận đã không được chở tới đúng lúc để giúp quân đội quốc gia ở ngoài chiến trường. Thống chế Cook xác nhận nhiều sư đoàn của Tưởng Giới Thạch đưọc trang bị bằng vũ khí của Hoa Kỳ. Khi nguồn tiếp liệu do Hoa Kỳ bị ngưng, các đơn vị này không còn sức chiến đấu và bị đánh bại. Dù sau khi Quốc Hội Khóa 80 đã chấp thuận viện trợ 125 triệu cho phe quốc gia, các chuyến tầu chở tiếp liệu vẫn bị trễ, và khi vũ khí tới được viên tư lệnh của vùng Bắc Trung Hoa, thì súng ống lại thiếu cơ bẩm và trở thành vô dụng.

Tại sao Bộ Ngoại Giao lại gởi vũ khí không có cơ bẩm cho người Trung Hoa quốc gia? Đó có phải là việc làm vô tình không? Tiến sĩ Stanley Monteith viết trong cuốn Brotherhood of Darkness: người ta không thể đọc hết bản báo cáo của Ủy Ban Điều Tra McCarran mà không đi đến kết luận rằng, Chính quyền Truman đã phản bội người Trung Hoa Quốc Gia để đưa Mao Trạch Đông lên cầm quyền tại Trung Hoa.

Để theo dõi việc cộng sản thống trị toàn Trung Hoa năm 1950, Thượng Viện Mỹ đã chỉ định một Ủy Ban Đặc Biệt do Dân Biểu Carrol Reece cầm đầu để điều tra xem tại sao Bộ Ngoại Giao lại ra lệnh cấm vận vũ khí cho phe Quốc Gia Tầu và đưa Mao Trạch Đông lên cầm quyền tại Trung Hoa. Ủy Ban Điều Tra đã khám phá ra rằng hai tổ chức Rockefeller Foundation và Ford Foundation đã tài trợ cho các chương trình phát thanh tuyên truyền của CS nhiều năm trước khi Trung Hoa sụp đổ. Ủy Ban bèn điều tra các tổ chức được miễn thuế này để xác định người ta tài trợ cho CS bằng cách nào. Có nhiều khía cạnh bị điều tra, nhưng những việc liên quan trực tiếp đến chiến tranh quốc cộng tại Trung Hoa, DB Reece khám phá ra hai sự kiện:

Thứ nhất, có nhiều tổ chức lớn (large foundation) đã thực sự cổ võ chủ nghĩa cộng sản và Xã Hội Chủ Nghĩa.

Thứ hai, các tổ chức (foundations) đã gây ảnh hưởng đến chính sách của Bộ Ngoại Giao, và do đó phải chịu trách nhiệm phần lớn việc đưa CS lên nắm chính quyền tại Trung Hoa.

Một nhóm các nhà đại tư bản lập kế hoạch ngăn chận cuộc điều tra của Ủy Ban Reece. Reece khám phá ra rằng nhũng tổ chức được miễn thuế này đã hoạt động sát cánh với tập đoàn (trust) Rhodes. Các học giả của tập đoàn này được điều phối vào các vị trí chiến lược trong chính quyền Hoa Kỳ. Nhiều người có thế lực đem hết cố gắng chống lại cuộc điều tra của DB Reece. Họ áp lực lên các nhà lãnh đạo Quốc Hội phải chấm dứt cuộc điều trần. Kết quả như ông René Wormser, cố vấn của Ủy Ban Reece viết: Tôi cảm thấy công việc còn để lại nhiều vấn đề chưa được trả lời, trong đó điều quan trọng nhất là, với ý đồ gì, nếu có, các tổ chức lớn lại đem tiền bạc giúp và tiếp tay cho các khuynh hướng Marxist tại Mỹ và làm tàn lụi đi sư yêu mến lối sống của họ mà người dân Mỹ nên có?

Mỹ và Việt Nam

Còn câu hỏi Hoa Kỳ có thực tâm giúp người VN chống VGCS không thì người viết khỏi cần phải dài dòng. Mỗi người VN dù lớn hay nhỏ đều đã có đủ hiểu biết và tài liệu để tự trả lời cho chính mình.

Thời Đệ I Cộng Hòa, khi người Mỹ ngỏ ý muốn trực tiếp can thiệp bằng vũ lực trước vấn đề CS miền Bắc xâm lăng VNCH. Họ muốn đổ quân đội Mỹ vào VN để đánh CS. TT Ngôi Đình Diệm yêu cầu giữa Hoa Kỳ và Việt Nam cần phải ký kết một bản Hiệp Ước An Ninh hỗ tương thì vấn đề đó mới danh chánh ngôn thuận, và CSVN không xuyên tạc được, nhưng Mỹ từ chối. Sự thể cho thấy ngay từ đầu cái dã tâm đen tối của người Mỹ, nên TT Ngô Đình Diện từ chối. Từ đó người Mỹ quyết tâm diệt trừ TT Diệm để thực hiện âm mưu của mình. Khi loại trừ được TT Ngô Đình Diệm rồi, Mỹ ngang nhiên đổ quân vào VN mà không cần có một chính quyền VNCH nào cho phép. Người Mỹ tự ý vào, rồi tự ý nắm quyền chủ động cuộc chiến, cũng như sau này việc thương thuyết hòa bình. Trong cuộc chiến, nước Mỹ đã mất 58 ngàn quân sĩ tử trận, nhưng điều bỉ ổi nhất mà nhiều người không biết là 80% đồ tiếp tế của Liên Sô cho VGCS trong thời gian chiến tranh là do các hãng Hoa Kỳ đầu tư và sản xuất tại Nga. Như thế có phải là chính người Mỹ đã gián tiếp giết người Mỹ không?

Khi người Mỹ đã hoàn tất mục tiêu thầm kín của mình rồi thì họ tìm cách rút chân ra khỏi VN. Bằng nhiều cách và nhiều thủ đoạn, người Mỹ đã thực hiện ý định nhiều khi khá lộ liệu. Cuộc hành quân Lam Sơn 79 Quân Lực VNCH đánh sang Nam Lào, người Mỹ đã bí mật thông báo kế hoạch và phóng đồ hành quân cho Hànội. Mục đích của hành động tồi bại này là để làm suy yếu khả năng chiến đấu của các đại đơn vị tinh nhuệ và thiện chiến nhất của QLVNCH. Ý đồ phản bội miền Nam rõ rệt nhất của Mỹ là năm 1972, khi Kissinger sang thăm Bắc Kinh, y đã nói với Mao Trạch Đông rằng nước Mỹ sẵn sàng chấp nhận một nước VN thống nhất dưới quyền cai trị của CS miền Bắc. Mao ngu gì mà không chịu? Để thực hiện ý đồ nàỵ, chính quyền Mỹ đã giàn dựng cả một chiến dịch ta thưòng gọi là “phong trào phản chiến” bôi nhọ và vu cáo miền Nam, làm cho dư luân Mỹ chán ghét chiến tranh để lấy cớ rút lui. Biện pháp cuối cùng là cắt viện trợ và “embargo” quân dụng và vũ khí đạn dược cho QLVNCH. Biện pháp xẩy ra giống y chang như Mỹ đã làm đối với quân đội của Tưởng Giới Thạch. Để che mắt thế giới, và để đánh lừa cái lương tâm bất chính của mình, người Mỹ đã muối mặt chở đến Saigon 6 chuyến máy bay vận tải toàn đồ quân trang như bi đông đựng nước, giầy trận, áo mưa v.v. Vào những giờ phút sinh tử của cuộc chiến, người Mỹ chở súng không có cơ bẩm cho người Trung Hoa. Nay người Mỹ chở poncho, bidong v.v. cho VN thay vì vũ khí đạn dược. Trên thế giới này có lẽ chỉ có người Mỹ mới có cái tính khôi hài qua việc làm bôi bác như thế mà thôi.

Nước láng giềng Cambodia của chúng ta cũng giống như chúng ta: bị người Mỹ bịp, và vì thế ông Sirik Matak mới có lá thư gởi cho ông đại sứ Mỹ như chúng tôi ghi lại trên trang đầu của bài viết. Phần đông chúng ta vẫn tưởng nước Mỹ thay đổi chính sách mỗi khi có một tổng thống mới lên cầm quyền. Vì thế mới bị lầm, và bị lầm rồi mà vẫn cứ hy vọng. Nghị sĩ Barry Goldwater cho biết: khi một tổng thống lên nắm quyền, đó chỉ là vấn đề thay đổi nhân sự, nhưng chính sách không thay đổi. Ông đưa ra thí dụ, thời TT Nixon Cộng Hòa, Henry Kissinger là thành viên CFR, người được Nelson Rockefeller đỡ đầu, nắm chính sách ngoại giao. Khi Jimmy Carter Dân Chủ đắc cử, Kissinger được thay thế bởi Brzezinski. Brzezinski cũng là thành viên CFR và được David Rockefeller che chở.

Với những dẫn chứng lịch sử trên, và với kinh nghiệm bản thân của mỗi người VN, chúng ta có thể khẳng định rằng chính sách của nước Mỹ đối vói cộng sản không thay đổi. Chính sách đó như Ts Stanley Montieth cho biết là: Cộng sản và tư bản luôn luôn cộng tác với nhau, bởi vì cả hai cùng được thúc đẩy bởi một đông lực tinh thần, và cả hai cùng tìm kiếm một mục tiêu (communists and capitalists have always worked together because they are motivated by the same spiritual force, and they seek the same goal.) Người viết xin thêm vào một ý kiến riêng để câu nói được trọn nghĩa: mục tiêu đó là khống chế toàn bộ đời sống con người và xã hội.

Kết luận

Không biết dân tộc Khmer có được mấy trăm, mấy ngàn năm văn hiến mà sản sinh ra được cả một nội các chính phủ đáng kính và đáng khâm phục như thế. Họ thà chết chứ không chạy theo những kẻ đã lừa bịp họ. Thế mà trước đó báo chí Mỹ la rùm beng chính quyền Lon Non tham những số một trên thế gian này. Nếu quả như báo chí dòng chính Mỹ tố cáo, các ông Lon Non, Sirik Matak v.v. đem tiền bạc tham nhũng sang Mỹ hưởng vinh hoa phú quí không sướng hơn ở lại để mất đầu hay sao! Biết chắc chắn mình sẽ không thọ khi rơi vào tay Khmer Đỏ, trước khi chết thủ tướng Sirik Matak đã bầy tỏ sự hối tiếc vì tin vào người Mỹ.

Thực ra, không phải chỉ có ông Matak tin vào người Mỹ, mà cả nước Việt Nam (VNCH) chúng tôi tin vào người Mỹ. Nhưng khi ông mở mắt bừng tỉnh thì đã quá muộn rồi. Ông Sirik Matak phạm sai sầm, nhưng cuối cùng khi nhận ra mình sai lầm, ông đã thành khẩn nhận sai lầm và tỏ ra hối hận. Chỉ có người VN, chưa thấy ai nhận ra sự sai lầm của mình và tỏ ra hối hận như ông sirik Matak. Tệ hại hơn nữa là cho đến bây giờ vẫn còn có rất nhiều người u mê tin rằng người Mỹ chống cộng, và trông đợi hão huyền rằng người Mỹ sẽ giúp người VN chống Trung Cộng, đòi đất, đòi biển.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

(*) I thank you very sincerely for your letter and for your offer to transport me towards freedom. I cannot, alas, leave in such a cowardly fashion. As for you and in particular for your great country, I never believed for a moment that you would have this sentiment of abandoning a people which has chosen liberty. You have refused us your protection and we can do nothing about it. You leave us and it is my wish that you and your country will find happiness under the sky. But mark it well that, if I shall die here on the spot and in my country that I love, it is too bad because we are all born and must die one day. I have only committed the mistake of believing in you, the Americans. Please accept, Excellency, my dear friend, my faithful and friendly sentiments.
Prince Sirik Matak

Post Reply