Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Chuyện tình Trịnh Công Sơn và em gái ruột của Diễm Xưa (GDVN) - Năm 2011, kỷ niệm 10 năm ngày mất Trịnh Công Sơn, cuốn sách “Thư tình gửi một người” được xuất bản gây “chấn động” trong cộng đồng yêu nhạc Trịnh. Lúc này, người ta mới biết tới Dao Ánh - người mà Trịnh Công Sơn đã gửi gắm tình yêu qua hàng trăm bức thư cùng nhiều kỉ vật được cô gìn giữ như những vật báu...

Trong ca khúc “Lặng lẽ nơi này” của Trịnh Công Sơn có câu: “Tình yêu mật ngọt, mật ngọt trên môi/ Tình yêu mật đắng, mật đắng trong đời”. Trịnh cũng từng viết: “Có người yêu thì hạnh phúc, có người yêu thì đau khổ. Nhưng dù đau khổ hay hạnh phúc thì con người vẫn muốn yêu… Tôi đã có dịp đứng trên hai mặt của tình yêu và dù sao chăng nữa, tôi vẫn muốn giữ lại trong lòng một ý nghĩa bền vững: Cuộc sống không thể thiếu tình yêu”. Với Trịnh Công Sơn, tình yêu là vậy, dù đắng, dù ngọt vẫn là mật.

Sinh thời Trịnh Công Sơn không có bạn đời, nhưng là một nghệ sĩ nhạy cảm, dễ xúc động, ông có nhiều mối tình. Đó là những người con gái mang vẻ đẹp cả hình thức lẫn tâm hồn, là những người tạo cho Trịnh Công Sơn những xúc cảm đặc biệt, là nguồn cảm hứng để ông viết nên rất nhiều ca khúc. Bên cạnh đó còn là những "chuyện tình" được chính một số người thêu dệt nên mà đến bây giờ mọi người đều biết không phải là thực. Nhưng cuối cùng rồi thì khi cát bụi trở về với cát bụi, chỉ còn lại đó những tình khúc mãi mãi với những NGƯỜI YÊU.

Nhân sắp đến dịp kỷ niệm 11 năm ngày mất Trịnh Công Sơn, trong loạt bài này, Giáo dục Việt Nam điểm lại những "mật ngọt", "mật đắng" trong đời Trịnh và đặc biệt là chia sẻ của những bóng hồng đã đi qua đời, âm nhạc của ông...
Image
Trịnh Công Sơn thời yêu Dao Ánh

Mối tình tưởng như siêu thực với Dao Ánh, em gái ruột của Diễm Xưa
(Xem lại: "Diễm" chưa bao giờ "Xưa")

Ngô Vũ Dao Ánh sinh ngày 24/5/1948, là con gái trong một gia đình gia giáo và là em gái ruột của Ngô Vũ Bích Diễm. Khi mối tình Trịnh - Diễm không thành do trắc trở, khi biết chị mình không vượt qua được những ngăn cách và chia tay Trịnh Công Sơn, Dao Ánh đã viết thư nhờ Vĩnh Ngân - em ruột của Trịnh Công Sơn đem về cho ông (Trịnh Công Sơn có 7 người em: Trịnh Xuân Tịnh, Trịnh Quang Hà, Trịnh Vĩnh Thúy, Trịnh Vĩnh Tâm, Trịnh Vĩnh Ngân, Trịnh Hoàng Diệu và Trịnh Vĩnh Trinh). Bức thư là những lời động viên và tình cảm thân thương của Dao Ánh dành cho chàng trai thất tình. Trịnh Công Sơn viết thư trả lời, và từ đó hai người thường thư qua, tin lại cho nhau. Khi ấy là năm 1963, Trịnh Công Sơn 24 tuổi, còn Dao Ánh mới 15 tuổi.

Duyên chị tình em

Dao Ánh dù sống ở Huế nhưng vẫn nói giọng Bắc, là một cô gái cao, gầy, duyên dáng, sang trọng và tính tình rất đỗi dịu dàng. Dao Ánh không thích ồn ào, không thích đám đông và kín đáo, sống nội tâm. Gia đình Dao Ánh nghiêm khắc, thường kiểm soát sinh hoạt của các cô con gái rất gắt gao. Vì thế, việc gửi thư của Trịnh - Dao Ánh phải nhờ tới những cô em gái của Trịnh, đồng thời là bạn cùng lớp, cùng trường với Dao Ánh.

Trịnh Vĩnh Trinh - một trong những cô em làm “bồ câu đưa thư” đã kể lại: “Ba chị em (Vĩnh Ngân, Vĩnh Thúy, Vĩnh Trinh) thay phiên nhau xin anh Sơn được mang thư qua nhà chị Ánh… Mỗi khi tới nơi, Trinh thường lấp ló ngoài cổng hoặc núp sau gốc cây một lát. Chị Ánh thì đã quen với khoảng thời gian có người đưa thư cuối ngày, khi trời sập tối, nên chị cứ canh giờ ấy là đảo mắt nhìn xem có ai ngoài cửa hay không. Khi biết Trinh hoặc chị Ngân đã tới, thì chị Ánh lẻn ra bằng cửa bên hông để nhận thư và giấu vào người…”. Thư qua thư lại, tình cảm dần nảy sinh giữa Trịnh Công Sơn và Dao Ánh.
Image
Dao Ánh năm 16 tuổi, phía sau là Trịnh Công Sơn

Hơn 300 bức thư tình gửi một người

Năm 1964, Trịnh Công Sơn 25 tuổi, sau khi tốt nghiệp trường Sư phạm Quy Nhơn, Trịnh đã tới thị trấn B’lao, Lâm Đồng để dạy học. Những nhớ nhung, tâm sự, tình yêu được trao gửi qua những cánh thư đi về giữa B’lao và Huế. Trong suốt 3 năm 1964-1967, vị nhạc sĩ tài hoa ấy đã viết tới hơn 300 bức thư tình lãng mạn gửi Dao Ánh.

Trịnh âu yếm gọi Dao Ánh với nhiều tên khác nhau, khi thì là tên một loài hoa: dao - ánh - hướng - dương, khi ông gọi tên “Dao Ánh Sương mù”. Ông bày tỏ sự nhớ nhung tới người yêu trong lá thư viết ngày 26.10.1964: “Ánh ơi, bỗng nhiên anh thấy nhớ Ánh mênh mông… Sao con đường không ngắn hơn để anh có thể quay về đó thường xuyên nhìn thấy Ánh. Nhìn Ánh cười, Ánh buồn, Ánh nói, Ánh đi… Giờ này Huế có mưa không. Mùa đông đã về chưa cho bàn tay Ánh lạnh như một đêm mưa nào anh đã giữ bàn tay Ánh và bảo lạnh vô cùng. Ánh ơi anh còn gọi đến bao giờ như thế. Cầu mong Ánh bình an và thản nhiên như núi rừng, mặt trời và toumesol - hoa hướng dương”.

Trịnh Công Sơn viết thư cho Dao Ánh hàng ngày, có ngày viết tới mấy lần, buổi trưa, chiều, và tối. Đi tới 1 vùng khác, ông cũng viết thư cho Dao Ánh. Viết xong một tình khúc, Trịnh lại báo tin cho Ánh: “Anh vừa viết xong một bản nhạc cho Ánh: Ru mãi ngàn năm, Ru em từng ngón xuân nồng” (thư B’lao 26.2.1965).

Từ Huế, Dao Ánh cũng hàng ngày hồi âm bằng những bức thư thấm đầy sáp nến được viết lúc đêm khuya. Dao Ánh ép cả lá long não gửi vào cho Trịnh. Những bức thư từ B’lao là niềm mong đợi nhớ nhung, niềm vui, hạnh phúc của Dao Ánh suốt tuổi 16, qua tuổi 17, sang tuổi 18 của cô. Khi Dao Ánh vào Sài Gòn học, Trịnh Công Sơn mỗi lần về thăm Huế đều ghé Sài Gòn thăm Dao Ánh. Cũng như bao tình yêu khác, mối tình Trịnh- Ánh cũng có những giận hờn, trách móc. Một lần về Huế, hẹn gặp Dao Ánh nhưng vì lỡ hẹn, Trịnh đã viết thư gửi Dao Ánh và trách “Gửi người yêu bạc bẽo nhất cuộc đời anh”, nhưng càng về sau, bức thư càng dâng tràn nỗi nhớ, để rồi hờn giận đã nguôi từ khi nào.
Image
Một bức thư Trịnh Công Sơn viết gửi Dao Ánh

Tình yêu vô thực

Hai người với hai tính cách lãng mạn ấy đã yêu nhau bằng một tình yêu vô cùng trong sáng, lý tưởng. Dao Ánh vốn giỏi tiếng Pháp, từng viết cho Trịnh những câu trong các nhạc phẩm của Pháp do Richard Anthony hát: “Em sẽ đợi giông tố và gió mưa về để khóc. Em mãi yêu anh nhưng anh chẳng màng gì tới nỗi buồn của em. Và em sẽ khóc dưới mưa đây”. Trịnh Công Sơn cùng gửi đáp Dao Ánh bằng một câu trích dẫn trong cuốn “Khung cửa hẹp” của Andre Gide: “Ngày ngày ngọn gió đời vẫn thổi nhưng chưa bao giờ thổi tắt được tình yêu”.

Mối tình lãng mạn tưởng như vô thực của họ cuối cùng kết thúc vào năm 1967. Trịnh Công Sơn viết một bức thư chính thức nói lời chia tay Dao Ánh. Trong thư chia tay, Trịnh viết “Bây giờ đã quá khuya… anh cũng phải quyết định một lần cho Ánh lẫn cho anh…. Anh cam đành là kẻ bội bạc để mở ra cho Ánh sự ngạt thở bấy lâu trong đó người này hay kẻ kia đã cố gắng đóng cho trọn vai trò của mình. Cho đến phút này anh vẫn cảm thấy chỉ riêng mình anh đã sống thật hồn nhiên trong tình yêu đã qua. Chúng mình chấm dứt tình yêu đó ở đây. Hãy xem mọi lầm lỗi đều ở anh cả… Cũng đành vậy thôi. Anh đã nhìn tình yêu ở độ cao nhất của thủy triều. Anh xin cảm ơn bốn năm ròng rã nâng niu tình yêu đó. Cũng xin cảm ơn những buổi đợi chờ thật dịu dàng không bao giờ còn có được…”

Trịnh Vĩnh Trinh, em út của Trịnh Công Sơn kể lại, trong cuộc tình phải chia tay với Dao Ánh, anh Sơn luôn nhận lỗi về mình, bởi lúc đó anh không thể mang lại một cuộc hôn nhân trọn vẹn cho người mình yêu, vì thế anh chưa nghĩ tới việc lập gia đình.
Image
Lá dã quỳ được Trịnh ép khô gửi tặng Dao Ánh, được Dao Ánh giữ gìn cẩn thận
Nặng tình, đa đoan

Dao Ánh sau đó sang Mỹ học và lập gia đình. Cô vẫn giữ liên lạc với gia đình Trịnh Công Sơn, vốn là những người bạn gái học chung trường với cô thuở nào. Tết năm 1993, Dao Ánh về Việt Nam thăm người tình cũ. Trịnh đã viết ca khúc “Xin trả nợ người” tặng Dao Ánh, dưới bản nhạc còn để lại câu thơ nhói lòng: “Nỗi buồn xin lỗi bàn tay/ Tấm thân hiu quạnh ngồi say một mình…”. Dao Ánh đã ly dị chồng sau cuộc tái ngộ đó.
Image
Trịnh Công Sơn và Dao Ánh trong một lần tái ngộ
Những ngày ốm nặng không thể viết, Trịnh Công Sơn vẫn đọc cho người bạn gõ máy tính gửi email tới Dao Ánh, vẫn những lời lẽ dịu dàng, ân cần. Những ngày cuối đời của Trịnh, Dao Ánh về Việt Nam, ngày nào cũng tới ngồi bên giường của Trịnh từ sáng tới tối, chỉ biết nhìn nhau.

Dao Ánh đã nhiều lần từ chối xuất hiện trong các chương trình tưởng nhớ Trịnh, nhưng rồi cuối cùng bà quyết định công bố hơn 300 bức thư của Trịnh Công Sơn cùng những kỉ vật tình yêu. Bà cho biết, đó không phải là việc làm để công bố đời tư của một người, mà bà muốn mọi người biết tới những trang văn đẹp và những cảm xúc trong sáng của một con người tài hoa. Cuốn sách “Thư tình gửi một người” còn cho in lại cả những chiếc lá, cành hoa mà Trịnh Công Sơn ép gửi tặng Dao Ánh, được Dao Anh gìn giữ cẩn thận, luôn mang theo bên mình.

Mối tình Trịnh Công Sơn - Dao Ánh quá lãng mạn, tới độ tưởng như là vô thực trên đời. Không gắn bó với nhau nhưng họ vẫn tiếp tục giữ tình cảm đẹp về nhau. Để rồi khi gặp gỡ, liên lạc lại, những yêu thương họ dành cho nhau dường như vẫn còn đâu đó, lại tràn về, cùng nỗi buồn, tình yêu của những người đa đoan.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Quê hương ngạo nghễ

Ðỗ Quý Toàn

“Ðường Việt Nam ôi vô cùng vô tận!” Ðó là câu đầu một bài hát thời rất trẻ. Nguyễn Ðức Quang kể đã đặt bài ca Ðường Việt Nam
trong lúc đang đi, trên con đường từ Ðà Lạt xuống Sài Gòn.

Image
Du Ca Nguyễn Ðức Quang trong một sinh hoạt âm nhạc tại Hoa Kỳ.
Ði một mình, vừa ngắm cảnh núi đồi, làng mạc, vừa hát lên từng câu, sửa, chọn từng tiếng, cho đến khi hoàn thành ca khúc, trên chiếc xe đạp cũ, chiếc xe đi học không phải loại xe leo núi. Vừa đi vừa hát, gọi đúng tên là du ca. “Ði dựng lấy thiên đường! Giống da vàng này là vua đấu tranh!” Bài hát kết thúc như vậy.

Với tốc độ đạp xe của một thanh niên 16, 17 tuổi, chuyến đi chắc phải kéo dài 15 hay 20 tiếng đồng hồ. Ðến khi hát những câu sau cùng này, chắc chàng nhạc sĩ đã thở hào hển, đẫm mồ hôi. Nhưng vẫn nhất định đi dựng lấy thiên đường. Vẫn tự nhận giống dân mình là vua đấu tranh!

Câu chuyện này là tiêu biểu cho nguồn cảm hứng và lối sáng tác của Nguyễn Ðức Quang. Cảm hứng đến trong khi Quang đang sống. Sống thật, sống khỏe mạnh. Sống hết mình và sống cùng với núi sông đất nước, sống giữa bè bạn, quê hương, đồng bào. Sống và sáng tác, đối với Nguyễn Ðức Quang, tuy hai mà một.
Năm 1964 Nguyễn Ðức Quang hát bài “Tôi chót sinh ra làm thân nhược tiểu...” Một người bạn tôi nghe rồi phê bình: Tại sao lại nói “chót sinh ra”? Phải hãnh diện được sinh ra làm người Việt Nam chứ? Nhưng Nguyễn Ðức Quang không phải là một nhạc sĩ “lên gân.” Không tự kiểm duyệt. Không sáng tác theo một lập trường, quan điểm, hay chủ trương giai đoạn nào cả. Không ai được chọn nơi mình sinh ra. Người nghệ sĩ ý thức thân phận một người Việt Nam, một thanh niên lớn lên trong một quốc gia đã bị các cường quốc bắt tay nhau đem cắt đôi, để phân chia ảnh hưởng. Và ý thức số phận đồng bào mình đang giết nhau, quê hương bị chiến tranh đang tàn phá. Ý thức như vậy, nhưng không để thở than, trách móc. Vì cuối cùng, mỗi người sinh ra ở nước Việt Nam đều hãnh diện “chọn nơi này làm quê hương.” Một lựa chọn có ý thức. Rồi ngẩng đầu lên hát “Việt Nam Quê hương ngạo nghễ!” Bây giờ các thanh niên người Việt ở khắp nơi vẫn còn vỗ tay mà hát: “Ta như nước dâng, dâng chẳng có bao giờ tàn! Ðường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang!”

Thế hệ thanh niên lớn lên ở các thành phố trong miền Nam Việt Nam trong thập niên 1960 đều chia sẻ tâm trạng “thân nhược tiểu” này. Một dân tộc vừa giành được độc lập đã bị cắt đôi, kẹp giữa hai khối tư bản và cộng sản. Và đang được hai khối đó đưa cho khí giới giết lẫn nhau, nhân danh những chủ nghĩa, những thiên đường! Trong khung cảnh đó có hai phản ứng khác nhau.

Nhiều người chỉ thở than, tuyệt vọng, hoặc tìm lãng quên. Nguyễn Ðức Quang có một tâm hồn tích cực, vẫn tìm thấy con đường sống lạc quan, yêu đời. Một phần có thể vì từ thuở nhỏ Quang đã thuộc điều luật thứ 8: Hướng đạo sinh gặp nỗi khó khăn vẫn vui tươi! Nhưng không phải chỉ có thế. Toàn thể con người Nguyễn Ðức Quang ngập đầy sức sống; không còn chỗ nào cho những tình cảm tiêu cực chen vào.

Sống trong cảnh “Xương sống ta đã oằn xuống” Nguyễn Ðức Quang không chịu thua, không buông xuôi, không ủ rũ tìm nguồn vui trong mơ mộng siêu hình. Vì bản chất Quang rất mạnh. Tâm hồn Quang tràn đầy nam tính, nam tính chiếm hết chỗ rồi, không còn chỗ chứa những trạng thái u sầu, ủy mị nữa. Ngay cả khi viết một điệu hát buồn, như khi nhớ đến những “đàn bé em biến đâu rồi, này bé sao không đùa chơi,” thì Nguyễn Ðức Quang vẫn mở đầu bài ca bằng ánh sáng tin tưởng: “Trời sáng tươi đã lên rồi! Trời sáng tươi trong lòng tôi!” Bởi vì “Cặp mắt sâu sau đêm dài, tìm quanh đây một ngày vui!”
Image
Từ trái: Trần Ðại Lộc, Phương Oanh, Nguyễn Ðức Quang, tại Sài Gòn.
Một điều may mắn là con người với bản chất tích cực như Quang lại gặp được một môi trường đúng với bản chất tích cực lạc quan để phát triển dòng nhạc của mình.

Ðúng khi Quang bước vào tuổi 20 thì xã hội miền Nam đang thay đổi. Từ năm 1964, một phong trào thanh niên nổi lên ở các thành phố, họ rủ nhau đi làm công tác giúp đồng bào. Ðặc biệt là những đồng bào ở nông thôn và những nạn nhân chiến tranh. Giúp ích, một khẩu hiệu của Hướng Ðạo, không phải là một hiện tượng mới. Ngay trong những năm 1950, mỗi lần có đám cháy lớn ở Sài Gòn là người ta thấy từng đoàn hướng đạo mặc đồng phục đến tiếp tay các anh “lính cứu hỏa” và giúp đỡ các nạn nhân. Sau đó, các đoàn hướng đạo và học sinh đi xây dựng lại nhà cho các nạn nhân; vật liệu và dụng cụ do bộ Xã Hội cung cấp. Những “công tác xã hội” tự nguyện đó là hình thức cộng tác giữa nhà nước và xã hội công dân, gồm các tổ chức tư hoàn toàn tự nguyện.

Kể từ năm 1964, một phong trào thanh niên bột phát. Người ta thành lập các hội đoàn, đặc biệt là trong giới trẻ, và đặc biệt với mục đích giúp ích. Bắt đầu từ những tổ chức thanh niên trong tôn giáo; rồi tới các hội tự nguyện của học sinh, giáo chức và sinh viên. Rồi những thanh niên thuộc nhiều hội gặp gỡ nhau lập ra từng chương trình chung, như “Liên hội công tác nông thôn.”

Khi bão năm Thìn đánh vào miền Trung vào cuối năm 1964, các hội cùng nhau tổ chức chương trình “Cứu Lụt,” đưa học sinh, sinh viên ra các tỉnh từ Bình Ðịnh ra Quảng Nam. Chính quyền lúc đó là cụ Phan Khắc Sửu, bộ Xã Hội do Bác Sĩ Phan Quang Ðán cầm đầu, họ tiếp các sinh viên, nghe trình bày dự án, rồi tận tâm giúp đỡ mà không đặt một điều kiện nào cả. Không cần bộ máy chính quyền thúc đẩy hay “hướng dẫn,” các thanh niên đi tìm cơ hội phục vụ đồng bào. Những sinh hoạt thanh niên này cần những điệu ca tập thể mới.
Nguyễn Ðức Quang đã trở thành tiếng hát của phong trào này. “Người thanh niên Việt Nam quay về với xóm làng, tiếng reo vui rộn trong lòng!... Cùng đi biến ruộng hoang ra lúa thơm!.. Ta đắp bồi cho mẹ cha.”

Rồi tới Chương Trình Hè 65, một tổ chức quy mô trên tất cả 40 tỉnh toàn quốc. Với hàng chục hội đoàn tham dự, huynh trưởng phần lớn là các giáo sư, họ huy động hàng chục ngàn học sinh đi giúp ích. Tất cả mọi người tham dự đều tự nguyện, không ai được thù lao, không ai bị ép buộc. Hoàn toàn đứng ngoài chính quyền, không thuộc một khuynh hướng chiến tranh hay tôn giáo nào (nhưng vẫn bị chính quyền ngầm theo dõi). Chưa bao giờ có một phong trào thanh niên tự nguyện, vô vị lợi, phi chính phủ hoạt động với quy mô lớn như vậy; và khi kết thúc chương trình thì giải tán.

Sang năm 1996, Bộ Giáo Dục đã tiếp tục nuôi dưỡng phong trào này với Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên Học Ðường (viết tắt CPS). Ngoài việc huấn luyện tính khí và phương pháp tổ chức công việc, một mục tiêu chính của các sinh hoạt thanh niên này, là huấn luyện lối sống dân chủ tự do cho thanh thiếu niên. Ðó chính là một phương pháp xây dựng nền tảng cho một xã hội công dân, mà bất cứ quốc gia tự do dân chủ nào cũng cần phát triển.

Chính khi dấn thân trong môi trường những công tác thanh niên tự nguyện đó, Nguyễn Ðức Quang đã có cảm hứng viết những bài ca tập thể mà chúng ta đang hát hôm nay. Khi Quang hát “những nhát cuốc...” thì thật sự Quang đã đi cuốc đất hay sống giữa đám bạn bè đang cuốc đất. Trong khi đổ mồ hôi tại trại công tác tên là “Công trường Cam Lộ” kéo dài mấy tháng ở Quảng Trị Nguyễn Ðức Quang đã hát “Ðường về công trường là đường vào quê hương.” Trong khung cảnh tự do phục vụ đó, người thanh niên yêu đời, tự yêu mình, và yêu đồng bào. Họ ngẩng đầu lên hát Việt Nam Quê hương Ngạo nghễ!

Khi các bạn thanh niên sau này hát lại những ca khúc của Nguyễn Ðức Quang, xin các bạn hãy nhớ những thế hệ đàn anh trong thời gian 1965 đã hát những bài hát đó trong khi đi xây dựng quê hương bằng bàn tay của mình. Hoàn toàn tự nguyện. Hoàn toàn tự do. Không vì lợi, không vì danh, không nhắm đến quyền hành chính trị. Những bài ca của Nguyễn Ðức Quang là tiếng nói của thế hệ thanh niên đó. Ước chi, đó cũng là tiếng nói của các thế hệ thanh niên Việt Nam bây giờ và mai sau. Chúng ta sẽ cùng nhau hát mãi: Việt Nam Quê hương Ngạo nghễ!

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG, NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG ÂM NHẠC

Nguyễn Mạnh Trinh
Có nhiều người cho rằng thơ phổ nhạc không còn chất thơ nguyên thủy nữa bởi vì nhạc sẽ làm giảm đi cái nét thâm trầm sâu sắc mà thơ phải chuyên chở. Một người chủ trương như vậy là nhà văn Tạ Tỵ. Khi được hỏi về những bài thơ phổ nhạc mà có sự ví von là nhạc chắp cánh cho thơ trong đó có bài “Thương về 5 cửa ô xưa” của ông.

Nhưng có nhiều người thì nghĩ khác. Như nhạc sĩ Anh Bằng, người đã phổ hàng trăm bài thơ thì cho rằng thơ phổ nhạc là một nét đặc thù của văn nghệ Việt Nam. Trong khi nói chuyện với tôi ông đã tỏ ra rất trân trọng những bài thơ phổ nhạc của nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cho rằng đó là một nhạc sĩ phổ thơ hya nhất của âm nhạc Việt nam.

Riêng với tôi, nghe lại những bản nhạc phổ từ thơ của người ca sĩ chủ chốt của ban hợp ca Thăng Long Hoài Bắc, tôi đã bị lôi cuốn vào một thế giới âm nhạc tuyệt vời. Từ những bài thơ nổi tiếng, nhạc đã mở ra thành những thế giới riêng và cất cao lên những cung bậc ngân nga trong tâm não. Thơ Quang Dũng (Đôi mắt người Sơn Tây) như có phả vào trong nhạc Pham Đình Chương những nỗi niềm sầu xứ riêng của một người yêu quê hương tha thiết. Thơ Thanh Tâm Tuyền (Lệ đá xanh) những câu thơ tự do trúc trắc lại trở thành những cung bậc mượt mà và hình như trong từng nốt nhạc từng lời ca được chọn lọc trong thơ có một điều gì sẻ chia đồng cảm. Với thi ca, nhạc Phạm Đình Chương là bạn đồng hành.

Và mỗi khi buồn, những bản nhạc tình của Phạm Đình Chương đã làm tôi da diết hơn nỗi đau và nhức buốt thêm nỗi nhớ. Tha thiết, lãng mạn, như nghe Nửa hồn thương đau, nghe “Người đi qua đời tôi”, những lời và nhạc quyện vào nhau. Ngân lên. Réo rắt.

Phạm Đình Chương, người nhạc sĩ tài hoa đã làm phong phú cho gia tài âm nhạc Việt Nam. So với các nhạc sĩ nổi tiếng khác số lượng sáng tác của ông không nhiều lắm nhưng đã có rất nhiều ca khúc đã đi vào cõi bất tử. Nhạc của ông còn có tuổi thọ hơn ông nhiều lần. Những ca khúc đã nổi tiếng đến nỗi thành quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người Việt Nam.

Riêng với cá nhân tôi, mỗi lần nghe lại những bản nhạc như “Sáng Rừng” hay trường ca “Hội Trùng Dương”, tôi lại bồi hồi nhớ đến những ngày xưa lúc mới lên trung học. Ở ngôi trường mà trước đây là chỗ nuôi ngựa của quân đội Nhật sau sửa chữa thành Trung Tâm Học Liệu, nơi chúng tôi đã học hát những bài này với thầy Chung Quân ròng rã những năm đệ thất, đệ lục. Những bài hát đã tạo ấn tượng rất mạnh cho tôi từ ngôn ngữ đến âm điệu. Những bài hát làm tôi yêu mến hơn quê hương đất nước tôi. Tôi nhớ cả lớp tôi chia làm hai bè và những câu hát cứ đuổi theo nhau như lượn sóng ào ạt cuồn cuộn: “… Sóng muôn triền tới sóng xô về tới như muôn tình mới vươn sức người. Bừng giữa đời…” Chúng tôi cứ thế mà hào hứng hát trong cái kích động vô cùng của chuyển khúc nhạc… Thầy Chung Quân, tác giả của ca khúc nổi tiếng “Làng tôi“ thì không hết lời giảng giải với bọn học trò chúng tôi những nét hay ý đẹp của những ca khúc này. Thành ra, tuy tôi chưa gặp mặt bao giờ nhưng lại vô cùng quen thuộc khi nghe nhắc tới tên tuổi của nhà nhạc sĩ Phạm Đình Chương…Hình như trong tiềm thức của tôi, đã có một vóc dáng nhạc sĩ cực kỳ to lớn. Những lờica hằn trong tâm thức và một lúc nào, có chất xúc tác, bùng vỡ cảm xúc như trôi theo suối, theo sông…

Rồi thời gian trôi, tôi lớn lên, vào đại học rồi đi lính, đi tù, rồi vượt biên, rồi lưu lạc xứ người, mãi thời gian khoảng thập niên 80 tôi mới gặp lại ông. Và hình như, cái vóc dáng ngày xưa mà tôi tưởng tượng dường như không sai biệt mấy. Trong một buổi họp mặt văn nghệ ở quán Doanh Doanh của anh chị Thái Tú Hạp, ông hát bản nhạc mới sáng tác phổ từ thơ Du Tử Lê “Đêm nhớ trăng Sài Gòn“ và bản “Hạt bụi nào bay qua “ từ thơ Thái Tú Hạp. Dáng ông cao gầy, nói chuyện có duyên với giọng thật đặc biệt Bắc Kỳ Sơn Tây, mặc dù lúc đó hơi men đã ngấm. Ông hát rất truyền cảm và tạo được những phút giây lắng đọng trước khi chấm dứt làm người nghe ngưng một giây sững sờ trước khi vỗ tay vang dội… Trong tiếng nhạc, có tâm sự tỏ bầy. Trong lời ca, có mênh mông những khung trời quá khứ…

Theo tài liệu của nhạc sĩ Phạm Thành là con ruột ông thì nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh ngày 14 tháng 11 năm 1929 tại Bạch Mai. Quê nội ông ở Hà Nội và quê ngoại ở Sơn Tây. Gia đình ông là một gia đình nghệ sĩ, thân phụ ông đánh đàn tranh rất tuyệt trong khi thân mẫu ông chơi đàn bầu cũng rất hay. Thành ra nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, tác giả Nắng Chiều đã rất hữu lý khi phát biểu rằng nhạc của Phạm Đình Chương đã biểu lộ được những tinh túy của âm điệu ngũ cung. Sống trong một gia đình nghệ sĩ “nòi “ như vậy thì hấp thụ được những tinh hoa của nguồn nhạc dân tộc tính là chuyện dĩ nhiên. .

Ông bắt đầu học nhạc lý từ khi còn thơ ấu. Lúc mười bẩy tuổi ông đã sáng tác bản nhạc đầu tay “Ra đi khi trời vừa sáng“ với lời nhạc trong sáng nhịp điệu vui tươi tới bây giờ vẫn còn nhiều người hát. Thí dụ như Đài phát thanh Little Sài Gòn ở Orange County đã dùng làm bản nhạc khởi đầu chương trình “Chào bình minh“ mỗi buổi sáng.

Thời kháng chiến chống Pháp sau năm 1945, cũng như những chàng trai Hà Nội yêu nước, ông gia nhập vào các đoàn văn nghệ lưu động của Liên khu 4 và Liên khu 3. Ông đi đến nhiều nơi: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa thiên... Thời kỳ này, ông sáng tác những bài hát kích động tinh thần yêu nước, chấp nhận những khó khăn, có bóng dáng của chiến tranh nhưng không hận thù chém giết. Như ca khúc “Được Mùa“ âm điệu vui tươi, chứa chan tình cảm với lòng tin tưởng vào tương lai. Trong khi những bản nhạc cùng thời sáng tác như “Ngày Mùa“ của Văn Cao, “Gánh Lúa “ của Phạm Duy, hay “Dân Ca Lúa Vàng“ của Mặc Thy, thì lời ca tiếng nhạc có bóng dáng của chém giết chiến tranh hơn.

Nhà văn Mai Thảo khi còn sinh tiền hay thường kể về những ngày tháng đầy hào hứng của tuổi trẻ của những thanh niên lớp tuổi ông và Phạm Đình Chương, vai đeo bạc đà tay bút tay đàn rộn rã với sinh hoạt văn nghệ thời kỳ toàn dân chống giặc. Nhà văn Tạ Tỵ trong hồi ký viết về các văn nghệ sĩ mà ông quen biết cũng nhắc đến quán cà phê của gia đình Ban Hợp Ca Thăng Long thuở ấy. Vừa lưu diễn vừa sáng tác, tay đàn tay bút, từ đồng nội đến núi rừng, sinh lực tuổi trẻ và tâm tình yêu nước đã thể hiện trong từng ca khúc của Phạm Đình Chương.

Sau chính sách Cải cách Ruộng Đất và những ngày rèn cán chỉnh quân, bộ mặt Cộng sản dần dần ló dạng, ông và gia đình trở về thành và vào Sài Gòn sinh sống. Ở đây, ông cùng với anh ruột là nhạc sĩ Hoài Trung, chị ruột là ca sĩ Thái Hằng, anh rể là nhạc sĩ Phạm Duy, em ruột là ca sĩ Thái Thanh lập thành Ban Hợp ca Thăng Long. Đôi khi còn tăng cường ca sĩ Khánh Ngọc. Ban hợp ca Thăng Long đã hoạt động liên tục trong một thời gian dài. Có khi trình diễn ở Hà Nội thì đổi tên là Ban Hợp Ca Gió Nam với sự góp mặt của nhạc sĩ Nam Tiến (tức Trần Văn Trạch) Kỷ niệm những ngày lưu diễn này nhạc sĩ Trần Văn Trạch đã nhắc đến và tâm sự nhiều lần trước khi qua đời và coi như một kỷ niệm đẹp trong đời ca hát của người nghệ sĩ lão thành này.

Những ngày ở miền Nam là những ngày sáng tác sung mãn của ông. ‘Ly rượu mừng” bài hát vui tươi tràn dầy mộng ước, là lời chúc rất nhân bản đã trở thành một bài hát mở đầu cho những buổi họp mặt của hầu hết mọi người dòng dã mấy chục năm về sau. Hay “Tiếng dân chài”, theo lời kể của tác giả là một sáng tác từ cảm hứng trên bờ sông Mã khi mục kích sinh hoạt của những người dân chài lưới.
Thời kỳ này Ban Hợp ca Thăng Long nổi tiếng đến nỗi bìa của giai phẩm xuân “Đời Mới” của nhà báo kiêm chính khách Trần Văn Aân có hình ban Thăng Long có hai cô Thái một cô Khánh (Thái Thanh, Thái Hằng, Khánh Ngọc) phải in thêm để có đủ số lượng bán.

Là linh hồn của Ban Thăng Long, những sáng tác của ông đã góp phần làm rạng rỡ những thành công vượt bực. Như Sáng Rừng, như Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng, như Tiếng Dân Chài, như Bài Ca Tuổi Trẻ,
Như Anh Đi Chiến Dịch, như Ly Rượu Mừng, … Những bài hát đã thật quen thuộc đến trở thành một phần đời sống của những người dân ở miền Nam Việt Nam.

Nhưng một gia sản to lớn cuả nhạc sĩ để lại cho âm nhạc Việt Nam là trường ca “Hội Trùng Dương”. Theo Phạm Thành cho biết thì thời gian sáng tác để hoàn tất là bốn năm dòng dã. Nhiều người đã xếp hạng “Hội Trùng Dương” ngang hàng với những “Trường Ca Sông Lô“ của Văn Cao hay “ Hòn Vọng Phu“ của Lê Thương, những nỗi niềm và những khát vọng của dân tộc được thể hiện. Sáng tác trong thời gian đất nước bị chia đôi, ông muốn nói lên cái tâm tư Bắc Nam là một và những dòng sông rồi cũng xuôi về biển Mẹ. Sông Hồng, với thao thiết âm thanh Quan Họ. Sông Hương, với đồng vọng giọng hò mái đẩy xứ thần kinh. Sông Cửu Long, với tiếng dân ca mộc mạc. Tất cả, trộn lẫn lại để thành tiếng hát đầy tình tự dân tộc và trong sáng. Thấp thoáng trong nốt nhạc, lời ca là sự lạc quan của những người tin tưởng vào tương lai của đất nước.

Năm 1967, ông nhận tổ chức và điều khiển phòng trà Đêm Mầu Hồng (cũng là tên của một ca khúc mà ông phổ nhạc từ thơ của Thanh Tâm Tuyền). Những sáng tác nổi danh của ông và sự trình diễn điêu luyện của Ban Hợp Ca Thăng Long đã biến phòng trà này một chỗ nổi tiếng nhất và là nơi tụ tập của những nghệ sĩ hàng đầu của đô thành Sài Gòn.

Trong nhạc Phạm Đình Chương, thi ca đóng một vai trò quan yếu. Hình như bắt nguồn từ sự đồng cảm với thi sĩ, nhạc đã tháp cánh cho thơ vút cao. Những vần thơ của Đinh Hùng, Hoàng Anh Tuấn, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Quang Dũng, Trần dạ Từ, … trước năm 1975 hay Du Tử Lê, Kim Tuấn, Thái Tú Hạp, … sau năm 1975 ở hải ngoại đã thành những ca khúc có sức lôi cuốn mạnh mẽ và nói lên được tâm tư của thời đại. Thơ, với chất lãng mạn sẵn có, hợp cùng âm điệu của nhạc để thành những nhớ lại từ liên tưởng những cuộc tình, những phận người. Để rồi có sự chia sẻø với suy nghĩ, vớiø ngôn ngữ, với thanh âm, đã mở hướng đi xa đến vời vợi hơn những cửa ngõ này, những chân trời kia…

Nhạc sĩ Vũ Thành đã có lần nhận xét rằng phổ thơ như Phạm đình Chương từ bài thơ “Tự Tình Dưới Hoa“ của Đinh Hùng thành “Mộng Dưới Hoa“ là việc hình thành một “tuyệt tác đáng phục“. Nhạc sĩ khéo léo phổ toàn bộ bài thơ với một ngôn ngữ óng mượt trữ tình và kỹ thuật chuyển âm tuyệt diệu. Nhất là, chất lãng mạn được giữ nguyên nếu không nói là tăng thêm bội phần.

Một trường hợp khác, ông đã phổ thành công những bài thơ của thi sĩ Thanh Tâm Tuyền. Nhiều nhạc sĩ nhận xét rằng phổ những bài thơ tự do, âm điệu phóng túng, với nhiều vần trắc, như thơ Thanh Tâm
Tuyền không phải là việc dễ dàng. Thế mà, với Dạ Tâm Khúc, với Bài Ngợi Ca Tình Yêu, với Đêm Mầu Hồng, cái ý thơ cảm được nhưng khó diễn tả bằng lời đã được truyền cảm trọn vẹn. Thơ, đi gần tới hơn đối tượng và bằng nhịp điệu lôi cuốn người nghe với nghệ thuật riêng của nhịp cầu âm điệu. Không biết thành công này có phải bắt nguồn từ sự đồng cảm giữa thi sĩ và nhạc sĩ qua mối thâm giao lâu đời chăng?

Biến cố tháng tư năm 1975 khiến ông phải làm nhân chứng cho một cuộc đổi đời. Sống ở Saigòn những năm tháng nghẹt thở rồi sau cùng ông và gia đình vượt biển năm 1979 rồi sang định cư ở xứ người. Đời sống thúc bách của sinh kế không làm ông ngưng sáng tác.

Tâm sự một người lưu lạc chất ngất nỗi niềm khiến cho ông cảm thấy gần gũi với những vần thơ của thi sĩ Du Tử Lê. Những bài thơ như “Khi tôi chết hãy mang tôi ra biển”, ”Đêm, nhớ trăng Sài gòn“, hay “Quê hương là người đó“ được phổ nhạc trong sự chia sẻ ấy. Quê hương mới đây mà đã cách biệt ngàn trùng. Những không gian, thời gian đã xa mất hút nhưng sao còn gần gũi. Tâm sự chúng ta đôi khi khác nhau nhưng vẫn cùng mẫu số. Mẫu số của một thời đại lưu vong.

Có lẽ trong những nhà thơ, Du Tử Lê là người có duyên với các nhạc sĩ nhất cũng như thi sĩ Đinh Hùng thời trước. Gần một trăm bài thơ được phổ nhạc với rất nhiều ca khúc gần như “bất tử“ phải là một hiện tượng trong đời sống văn học Việt Nam.

Nhà văn Mai Thảo đã viết về người bạn tâm giao của mình với dẫn chứng từ những tài năng âm nhạc khả tín:
“… Trên một tầm cao hơn, thuần túy nhạc lý và nhạc tính hơn, những điểm xuất sắc của cõi nhạc, nét nhạc Phạm Đình Chương cũng được những kiến thức có thẩm quyền hết lời khen ngợi. Như một nhận xét tổng quát của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi. Là đường nét của âm điệu (ligne melodique) cách thế hòa âm, tiết điệu và bố cục từ khúc, mặt nào ở Phạm Đình Chương cũng cao sang, điêu luyện và thuần phục. Cao và sang nhưng không khó không xa rất hợp rất gần với tâm hồn đại chúng. Như một phân tích tóm gọn của nhạc sĩ Lê trọng Nguyễn là Phạm Đình Chương xử dụng ngũ cung tài giỏi, cấu trúc và kỹ thuật nhạc hiện đại, tiền tiến nhưng vẫn giữ dược âm điệu, yếu tính (essence) và tâm hồn Việt Nam… “

Riêng tôi, qua hơn sáu chục ca khúc cho một khoảng hơn bốn mươi lăm năm sáng tác, tôi đã nhìn thấy rõ một vóc dáng nhạc sĩ lớn. Là người ngợi ca tình yêu, với những ca khúc để đời : Mộng Dưới Hoa, Ngợi Ca Tình Yêu, Người Đi Qua Đời Tôi, Mầu Kỷ Niệm... Là người yêu quê hương, tin tưởng vào tương lai dân tộc, với Tiếng Dân Chài, với Được Mùa, với trường ca Hội Trùng Dương, … Là người lưu lạc tha hương, nhớ về chốn cũ nhà xưa, với Mưa Saigòn, Mưa Hà Nội, với Đêm, Nhớ Trăng Saigòn, với Khi Tôi Chết Hãy Mang Tôi ra Biển, … Là người nhạc sĩ yêu đời mang nghững bài ca tươi thắm với Sáng Rừng, với Trăng Rừng, với Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng, … Tất cả, thành một vóc dáng âm nhạc đa diện. Ở mặt nào, cũng là đặc sắc. Ở cõi nào, cũng là khai phá bước chân. Mỗi mỗi, là những hiển lộng nghệ thuật. , những dụng công tinh vi. Âm nhạc và đời sống có những bổ túc để thành một nhất quán cho sáng tác.

Dù nhạc sĩ đã qua đời vào năm 1991, nhưng tuổi thọ của những ca khúc hầu như bất tử sẽ còn dài hơn rất nhiều 62 tuổi hưởng thọ. Đã có những chương trình hát và tưởng niệm cố nhạc sĩ. Đã có những ca khúc được trình bày như một cách thế cảm tạ những công trình mà có người gọi là những bông hoa tô điểm cho đời.

Ngày trước, cụ Tiên Điền Nguyễn Du đã than thở rằng “bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như”. Bây giờ, với những cõi nhạc như Phạm Đình Chương, có lẽ đến vài thế kỷ sau vẫn còn đồng vọng những ca khúc như Hội Trùng Dương hay Mộng Dưới Hoa chăng? Có thể lắm chứ sao không? Đã gần nửa thế kỷ rồi mà lời nhạc vẫn xanh và bóng mát vẫn tỏa cùng trên quê hương mà âm điệu còn vang xa ra trên phần đất mà con dân Việt nam sinh sống trên toàn thế giới !!!

Nguyễn Mạnh Trinh.

Riêng cá nhân tôi, ngòai những bản nhạc kể trên, tôi còn thích bản nhac Đêm Mầu Hồng do Thái Hiền hát

Đôi Mắt Người Sơn Tây, Thái Thanh hát


Hội Trùng Dương, Thái Thanh hát


Ly Rượu Mừng


Nửa Hồn Thương Đau, Thái Thanh hát


Mộng Dưới Hoa

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Image

Một Kẻ Lạ, Rất Quen
Năm 1967, tôi đang học Đai Học Luật tại Sài Gòn, cha tôi từ ngoài quê Tam Kỳ gởi thư vào báo tin, ‘ địch đã đánh xuống tận quê mình rồi, cha mẹ phải tản cư xuống quận lỵ ở, bỏ ruộng bỏ vườn, bỏ đất bỏ đai, con ráng tự túc mà theo học’. Tôi buồn bã và lo lắm. Hàng ngày, tôi tìm trong các nhật báo Chính Luận, Công Luận, ở trang Cần Người, tôi đi dạy kèm, đi giặt và phơi áo quần cho một hãng thầu Mỹ. Cũng chẳng được bao nhiêu tiền mà thời gian làm việc choáng hết thời gian học. Tôi bèn nộp đơn lên Bộ Giáo Dục xin đi dạy giờ. Mấy tháng sau tôi được bổ về dạy tại trường Trung Học Mộ Đức, Quảng Ngãi.

Trường Trung Học Mộ Đức là trường mới mở, chỉ có từ lớp đệ thất đến lớp đệ ngũ. Giáo sư có đâu được 4, 5 người. Thầy Quả, hiệu trưởng, thầy Trung dạy toán, tôi dạy Việt văn và Lý hóa. Còn mấy thầy nữa tôi quên tên dạy Pháp Văn, Vạn Vật. Tôi dạy ở đó cũng hơn một năm.

Ở đây tôi gặp một thầy giáo tiểu học tên Lê Văn Thí. Thí là giáo viên tốt nghiệp trường sư phạm Quy Nhơn, dạy trường tiểu học quận lỵ. Thí có giọng hát hay, làm thơ cũng hay nữa, tôi khoái Thí, kết bạn, rồi thuê nhà ở chung, ăn cơm tháng chung.

Hồi nầy nhạc Trịnh Công Sơn đang dấy lên như là một phong trào, từ Tình Khúc Trịnh Công Sơn đến Ca Khúc Da Vàng. Lê Văn Thí hay hát nhạc Trịnh Công Sơn cho tôi nghe và đưa tôi đọc những bài thơ anh mới viết. Thơ anh có hồn, tôi đọc thích lắm. Tôi cũng đã từng làm thơ, thơ đã được đăng báo ở Sài Gòn, nhưng là báo lá cải, như Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tuần San Thứ Tư. Lúc đó, dĩ nhiên tôi cũng biết phân biệt tờ báo nào có giá trị, nhất là các tạp chí văn học như Văn, Văn Học, Bách Khoa… Tôi biết, nhưng chưa dám gởi bài tới những tạp chí nầy.

Bây giờ thì tôi ăn cơm tháng với Thí, ngủ chung một phòng với Thí và chúng tôi cùng thích một người con gái. Ở trường tiểu học quận lỵ Mộ Đức có hai chị em cùng giáo viên. Hai chị em là cô Tín và cô Tưởng. Cô Tưởng đẹp hơn cô Tín nên hai đứa chúng tôi cùng khoái cô. Lê Văn Thí có lợi thế hơn tôi là dạy cùng trường với cô Tưởng ( và cả cô Tín nữa), Thí biết tôi cũng thích cô Tưởng nên ‘bỏ nhỏ’ với tôi và khuyến khích tôi hãy ‘ vô’ cô Tín, nhường cô Tưởng cho anh, nhưng tôi cũng như Thí (chỉ thích cô Tưởng). Nếu không ‘vô’ cô Tưởng thì không ‘vô’ ai hết. Vì thế, tôi tự nguyện đứng ra ngoài vòng chiến, để cho Thí tự do ‘khoái’ cô Tưởng. Tôi không biết mối tình sau nầy đã đi đến đâu?

Những lúc riêng tư, Lê Văn Thí thường ‘nổ’ với tôi, là chàng đã làm thơ đăng trên nhiều tờ báo văn học có tầm cở ở Sài Gòn, đã cộng tác với tờ Trước Mặt ở Quảng Ngãi, tờ Cùng Khổ ơ Đà Nẵng. Tôi ‘lé’ mắt. Rồi Thí còn hứa hẹn, một ngày đẹp trời nào đó, khi về thị xã Quảng Ngãi, sẽ dẫn tôi đến gặp một số ‘bạn văn nghệ’ của Thí, những tên tuổi nầy tôi đã nghe và đã phục, như Hà Nguyên Thạch, Phan Nhự Thức, Đinh Hoàng Sa, Luân Hoán, Khắc Minh, Vương Thanh... tôi cũng vui trong bụng vì mình làm thơ, mà được gặp những bậc ‘đàn anh trong thi ca’ nầy thì sẽ vui biết mấy.

Rồi ngày đẹp trời hứa hẹn của Thí cũng đến. Một ngày cuối tuần, tôi chở Thí về Thị Xã trên chiếc xe Suzuki cà khổ của tôi. Tôi nhớ tụi tôi có đi uống rượu ở đâu đó, rồi lái xe đến Khách Sạn Việt Nam, nơi tụ họp của anh em văn nghệ Quảng Ngãi. Tôi hồi hộp đến ngộp thở, dù trước đó, để lấy can đảm, tôi đã ‘nạp’ ba, bốn lon bia Ham Mỹ vào bao tử, đầu óc tôi quay cuồng, nhưng cái rung động vẫn tồn tại, vì tôi sẽ gặp những anh em văn nghệ Quảng Ngãi, những tên tuổi tôi đã đọc một số bài thơ ở đâu đó, trong Văn, Văn Học hay Bách Khoa cũng nên, các tên tuổi quen thuộc.

Hôm đó là ngày gần cuối năm, nên các anh em văn nghệ nầy định ra một tờ Đặc San Tết. Nghiêu Đề lấy tên ‘Người Ngồi Đội Mũ’. Tôi không hiểu tại sao lại lấy tên đó, tôi không dám hỏi vì tôi là cắc ké. Hôm đó tôi đã ‘thấy’ Họa sĩ Nghiêu Đề, nhà thơ Phan Nhự Thức, Hà Nguyên Thạch, nhà văn Vương Thanh và chàng đại úy Thiết Giáp tên Nghĩa, (sau anh Nghĩa đã tử thương ở trận Hạ Lào).

Bạn tôi, Lê Văn Thí, bút hiệu Xuân Thao, mù khuất giữa đám đông tên tuổi Quảng Ngãi ồn ào hôm đó.

Tôi vẫn không thấy Luân Hoán xuất hiện, dù nhiều người đã nhắc đến tên anh. Tôi rất mong gặp anh, thơ anh tôi đã đọc một số bài. Tên anh thì tôi rất nhớ, cái tên rất quen với tuổi học trò tiểu học. Hồi học tiểu học, trong lớp, tụi tôi học có một quyển sổ gọi là sổ luân hoán, sổ được chuyền luân phiên cho mỗi học trò chép bài vào sỗ ấy mỗi ngày. Học trò tiểu học đứa nào cũng biết tên cái sổ ấy, nên tôi nhớ cái tên Luân Hoán là vậy.

Từ đó và sau đó, tôi quen với một số bạn văn nghệ (trong đám bạn văn nghệ thuở ấy) như Nghiêu Đề, Phan Như Thức, Hà Nguyên Thạch và đọc thơ Luân Hoán thật nhiều, kể cả ngày Luân Hoán bị thương đứt một bàn chân trái ở Quảng Ngãi tôi cũng biết, anh sau nầy có tập thơ ‘Nén Hương cho bàn chân trái’ , nhưng tôi vẫn chưa gặp mặt anh một lần.

Sau nầy, nghe tin anh giải ngũ, về làm đâu ở Hội Thương Phế Binh Đà Nẵng và thành lập nhà xuất bản Da Vàng (1)cho đến mãi đến ngày tan hàng ‘cố gắng’.

Bẵng đi sáu bảy năm đi ở tù trở về, tôi rạc rày và tôi biết anh em văn nghệ ai cũng rạc rày thấy rõ. Tôi gặp Phan Như Thức bán bún bò, bán cơm, bán cà phê ở những con hẻm Sài Gòn, gặp Hà Nguyên Thạch đi lang thang, gặp Huy Tưởng bán cà phê ở đường bà Lê Chân, gặp một số anh em làm thơ ( mới mà cũ ) như Trần Dzạ Lữ, giữ xe đạp và bán rau muống ở chợ Trần Hữu Trang, Đinh Trầm Ca làm công nhân hãng kem đánh răng, Hà Nguyên Dũng làm công nhân trong hãng dệt tư nhân, tôi có hỏi về Luân Hoán thì được biết, Luân Hoán đã vượt biên ra nước ngoài , Canada(2). Tôi rất mừng cho anh.

Có một lần, tôi nghe trộm đài BBC, trong mục tạp chí Văn Học thì phải, có giới thiệu Luân Hoán với một bài thơ của anh, bài thơ anh viết về ngày đi trình diện ( hay bị bắt ) tập trung cải tạo ở Đà Nẵng, một bài thơ tự do ( tôi nhớ mang máng vậy ), đọc lên nghe u uất nhưng đầy hào khí. Hồi đó, ở trong nước nhìn ra nước ngoài, nghe đọc thơ Luân Hoán trên đài BBC, tôi phục Luân Hoán lắm.

Năm 1995, tôi đi Mỹ theo diện HO. Năm 1997, tôi cùng anh Thành Tôn chung làm một tờ Đặc San, viết về một ngôi trường học cũ, trường Trung học Trần Cao Vân. Tôi tìm tòi địa chỉ Luân Hoán và xin thơ anh. Anh gởi cho tôi một bài thơ viết về ngôi trường anh theo học chỉ 48 tiếng đồng hồ. Bài thơ hay, tôi rất thích, nay tôi xin viết lại ra đây để hầu bạn đọc:

LẴNG HOA GỞI MỘT TRƯỜNG XƯA

Nhớ đến Tam Kỳ là nhớ trường trần Cao Vân
Một miếng đời tôi đã có lần
Bốn tám giờ hơn ngồi trong cửa lớp
Tay ngủ trên bàn, mắt chạy ngoài sân

Nhớ Trần Cao Vân nghĩa là đang nhớ
Cái trống, trụ cờ, tiếng guốc trong hiên
Con chim sẻ nâu lạc vào cửa sổ
Nhánh tóc nhung run che mặt làm duyên

Nhớ Trần Cao Vân nghĩa là đang nhớ
Một cậu Đà thành được chuyển trường xa
Mới nức mắt ra đã toan mê gái
Để bị cách ly, phạt phải xa nhà.

Nhớ Trần Cao Vân nghĩa là đang nhớ
Chí quyết đòi về, lãng học làm reo
Những mắt bồ câu quay nhìn ái ngại
Lòng chợt chao nghiêng giữa ở hay về

Bốn tám giờ hơn trong đầu niên khóa
Có được trở thành một cựu học sinh
Xin phép cho tôi gởi về đầu cổng
Một lẵng thơ, quỳ, tạ lỗi, tạ ơn.

Tôi viết thư xin thơ, mấy tuần sau Luân Hoán gởi tôi bài thơ trên, tôi cảm thấy như Luân Hoán làm thơ dễ lắm, làm thơ như nói, hay là xuất khẩu thành thơ vậy. Lần đó, hình như tôi có điện thoại cho Luân Hoán, anh nói chuyện với tôi qua ống nghe, giọng anh nhẹ nhàng, hiền lành, còn đặc âm Quảng Nam Đà Nẵng. Anh có cái nhu hòa, không có cái phách lối của kẻ làm thơ ngồi ghế trên. Tôi cảm tưởng như vậy.

Khi đọc qua tiểu sử anh ở một số tập thơ anh, tôi biết anh đã in 17 tập thơ, tôi cúi đầu bái phục. Lúc đó, năm 1997, tôi chỉ có một tập thơ hồi còn học ở Đà Lạt, mà tập thơ in chung với bạn bè, tôi biết in một tập thơ đâu phải là dễ dàng gì, cả về hai mặt, phẩm và lượng. Thế mà Luân Hoán đã in 17 tập thơ , mà tập thơ nào cũng hay và đẹp. Thật là dễ nễ.

Sau nầy, tôi đứng ra làm tờ Đặc San Quảng Nam cho Hội Đồng Hương Quảng Nam Đà Nẵng, nam California, tôi xin địa chỉ Web site của anh. Tôi đọc ở Web site Luân Hoán, thật là một công trình đồ sộ. Trên Web, ngoài chuyện cá nhân, gia đình, tình yêu, vợ con, Luân Hoán còn có một số trang viết về Quê Hương Quảng Nam Đà Nẵng và một danh sách gần đầy đủ tiểu sử của tất cả văn nghệ sĩ Việt Nam, nhất là Văn Thi Sĩ rất đầy đủ. Trong Đặc San Quảng Nam, tôi ‘cóp’ các Tác Giả Quảng Nam ở đây. Tôi ‘cóp’ trước rồi xin phép sau, anh cười hiền lành qua ống nghe, tôi nghĩ là anh đang gật đầu.

Sau nầy, mỗi năm tôi làm một số Đặc San Quảng Nam, tôi đều lục tìm thơ anh, khi thì trong tập Cỏ Hoa Gối Đầu, khi thì trong tập Ngơ Ngác Cõi Người, tìm xem có bài nào tôi khoái, thấy thích hợp với tình yêu, với quê hương xứ Quảng, là tôi trích ra đăng. Nghĩa là có thơ Luân Hoán, thơ Hoàng Lộc, thơ Thành Tôn trong Đặc San, tự nhiên tập Đặc San Quảng Nam có giá trị thêm lên một chút, tôi nghĩ thế mà chắc là đúng thế.

Trong đầu óc tôi và tình cảm tôi, vẫn nghĩ đến một Luân Hoán đa tình trong thơ, yêu người. yêu đời rất mực. Với Thơ, anh tha thiết hơn bao giờ hết, suốt đời anh tận tụy với thơ, cặm cụi với thơ ( không tận tụy, cặm cụi sao đươc với 17 tập thơ đã trình làng, bây giờ con số có thể đã hơn ). Có thể nói thơ là đời sống, là hơi thở của anh được không, hở anh Luân Hoán?

Trong lần tiếp xúc với anh gần đây, qua e.mail rồi qua điện thoại, tôi vẫn nghe giọng nói anh thật là hiền. Thơ anh hay và anh nổi tiếng, ai cũng biết vậy, nhưng trong cách nói chuyện của anh, anh có sự khiêm nhường cùng sự khiêm tốn đáng yêu và đáng kính. Với tôi, tôi chỉ là một kẻ đi sau, là đàn em trong văn nghệ, tôi kính trọng anh, cả về thơ và con người khi đọc anh, qua tiếp xúc, tôi càng có cảm tình với anh nhiều hơn. Giọng nói anh thật hiền, nhỏ nhẹ. Và kể cả phong cách nói, cũng nhẹ nhàng, hiền lành như vậy.

Khi nói chuyện xong, tôi nghĩ là Luân Hoán rất quen thân với tôi, mấy mươi năm rồi, từ ngày ở Quảng Ngãi 66-67, từ ngày ở Đà Nẵng 71, 75. Rồi qua Mỹ, tôi vẫn thấy Luân Hoán gần gụi tôi quá.

Thơ anh đăng rất nhiều trên các tạp chí văn học và cả những tờ báo chợ khắp thế giới. Anh lúc nào cũng hiện diện quen thân như vậy, và như là chúng tôi đã thân thiết nhau lâu đời lắm vậy.

Nhưng đến bây giờ, tôi vẫn chưa gặp Luân Hoán một lần. Đi ra đường, nếu bất thần Luân Hoán qua Cali, tôi gặp Luân Hoán ở Phước Lộc Thọ hay ở Phố Bolsa, hay ở đâu đó, chạm mặt nhau, tôi vẫn không biết Luân Hoán là ai, không biết đó là Luân Hoán.

Anh vẫn là kẻ lạ. Một kẻ lạ rất quen

TRẦN YÊN HÒA
( Cali tháng 6/04 )

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Anh xin đưa em đi đến cuối cuộc đời

Khi gả về nhà anh, chị mười sáu, anh lên năm tuổi.
Anh là con độc đinh, cha mẹ quý hơn vàng, chỉ tiếc anh quá nhiều bệnh tật.

1. Cảnh nghèo

Ông nội ở ngoài buôn bán nhỏ, gom được tí tiền. Bà nội tin Phật, một lòng thành kính, một lần bà nội xin được một quẻ xăm giữa miếu ngụt khói hương, nói phải cưới một cô vợ hơn tuổi cho thằng cháu đích tôn thì nó mới qua được vận hạn.

Bà nội đương nhiên tin vào lời Phật dạy chúng sinh nơi khói hương vòng quanh chuông chùa ngân nga, bởi thế ông bà nội bàn tính, đưa lễ hậu, kháo tin quanh vùng tìm mối nhân duyên cho anh.

Nhà chị năm miệng ăn, trông vào mấy sào ruộng bạc màu, chỉ đủ miếng cháo, mùa đông, cha chị vì muốn kiếm thêm ít đồng ra đồng vào, theo người ta lên núi đập đá, tiền chưa kiếm được, nhưng bị đá vỡ dập lưng, tiêu hết cả gia sản, bán sạch cả lương thực, bệnh không khỏi.

Hằng ngày cha chị chỉ có thể nằm trên giường, muốn chết mà chẳng chết cho. Hai đứa em trai còn chưa đủ tuổi lớn. Nỗi khổ sở của gia đình, nỗi ai oán của mẹ, làm những năm thời con gái của chị mang một gánh nặng tâm tư.

Vì thế bà mối đến, réo rắt: "Gả cô nhà đi, tiền thì để dưỡng bệnh cho cha,
còn đỡ đần được tiền tiêu trong nhà".

Mẹ chị lắc đầu, nào có ai muốn đẩy đứa con gái thơ dại của mình vào lò lửa? Nhưng chị xin: "Mẹ, cho con đi nhé, chỗ tiền ấy có lẽ chữa khỏi cho cha!".

Tiếng kèn đón dâu thổi váng đầu ngõ trước ngôi nhà nhỏ của chị.

Bố chị nằm trên giường tự đấm ngực mình; Con gái phải đem đổi tuổi thanh xuân, chấp nhận lấy một người chả xứng với mình chỉ vì cứu tôi và cứu gia đình này thôi ư!

Mẹ chị chảy nước mắt, tự tay mình cài lên tóc con gái cây trâm gài.

Chị mặc áo đỏ đi giày thêu cúi lạy cha mẹ, tự buông tấm khăn đỏ che đầu mình, nước mắt lúc đó mới chảy ra, trộn phấn má hồng.

Từ đó, số phận cuộc đời chị và hôn nhân giao cả về tay một đứa con nít vô tri.

2. Cười xót xa

Bà mẹ chồng trẻ tuổi không phải là người khắt khe khó tính, bố chồng ở xa cũng chẳng cần chị tam khấu cửu bái, lạy chào dạ vâng.

Anh vâng lời mẹ gọi chị là chị gái.

Hằng ngày, chị ngoài việc giúp mẹ chồng chăm ruộng rau và làm xong việc nhà, thì cắt thuốc cho chồng, sắc thuốc, may áo cho chồng, giặt giũ, cho chồng chơi, cho chồng ngủ, có lúc, anh ho suốt đêm, sốt cao, chị thức cả đêm chườm khăn hạ sốt, cho anh uống nước, uống thuốc.

Trong tim chị, chị coi anh như một đứa em trai.

Hàng xóm láng giềng gặp chị, chị thường cúi đầu lặng lẽ, không nói, vội vã đi qua. Không biết là ứng với quẻ xăm của Phật, hay nhờ chính sức mình mà anh vượt qua được bệnh tật, dưới sự chăm chút của chị, anh lần lượt chiến thắng mọi cơn bệnh tật lớn nhỏ: Ho gà, viêm màng não, lở loét v.v...

Dần dà, những tình cảm anh dành cho chị vượt quá tình cảm dành cho mẹ mình. Giữa những kẽ hở lúc bận rộn, hoặc khi anh đã ngủ say, chị thường khóc nước mắt nóng rồi thờ thẫn tự hỏi mình:

"Đây là hôn nhân của mình ư, đây là chồng của mình ư?".

Đến tuổi đi học, chị may cho anh một chiếc túi xách, dắt tay anh đến lớp. Những đứa trẻ trong và ngoài thôn thường vây lấy chị hát to:

"Cô con dâu, cô con dâu, làm cái gì? Tắt đèn, thổi nến, lên giường..."

Chị không biết trong lòng mình là nỗi đau hay nỗi buồn, cúi gằm xuống, mặt đỏ lên rồi trắng bệch, trắng rồi đỏ. Một buổi tối, anh nằm trong chăn nói:

"Chị ơi, em yêu chị!".

Chị lại là vợ. Vợ lại là chị. Chị nhìn gương mặt ngây thơ non nớt của anh, im lặng. Lần đầu tiên chị cười đau khổ.

3. An ủi nhỏ nhoi

Cha anh ở ngoài buôn bán nhiễm phải thói cờ bạc, chỉ vài ngày mà thua sạch bách bao gia sản tích cóp khổ sở lâu nay.

Sau khi bố mẹ chồng chửi bới cãi vã ầm trời, bố chồng chị dứt áo bỏ nhà ra đi, từ đó không ai gặp lại ông nữa, nghe người ta nói khi đó ông bị lính bắt đi làm phu. Lúc đó trên người mẹ chồng chị còn vài thứ trang sức, cầm đi đổi lấy vài đồng tiền.

Mẹ chồng và chị bàn nhau mua lấy ba mẫu đất. Không thể mượn người làm nữa rồi, mẹ chồng con dâu xoay ra xắn ống quần lên lội ruộng, ngày còn ở nhà chị từ nhỏ đã giúp cha mẹ làm ruộng, khổ sở gì chị cũng đã nếm trải qua.

Chỉ khổ cho bà mẹ chồng chị xưa nay chưa từng phải trồng lúa bao giờ.

Một nhà vốn giàu có bỗng chốc hóa bần cùng, đàn ông bỏ đi không tăm tích, bà mẹ chồng vừa đau vừa hận, lại thêm việc làm ruộng nặng nhọc, làm bà kiệt quệ, ốm rồi không dậy nổi.

Trước lúc lâm chung, bà kéo tay chị, gần như van vỉ nói:

"Nó hãy còn nhỏ dại, xin cô chăm sóc nó, nếu cô muốn ra đi, xin hãy đợi lúc nó trưởng thành".

Chị nắm chặt tay anh. Từ đó, số mệnh của anh lại bị chị dắt đi.

Chị là người phụ nữ trọng tình nghĩa, chưa từng hứa gì, nhưng chị vẫn cùng anh như cũ. Từ đó về sau, ngay cả chính chị cũng không nhận ra mình rốt cuộc là vợ, là chị hay là mẹ của anh?

Chị quần quật không ngày không đêm, làm việc để anh tiếp tục đi học.

Cuộc sống của họ trôi qua khổ nhọc nhưng bình lặng giữa tình chị em sâu nặng, tình yêu bao la như tình mẫu tử bền chặt.

Khi anh tốt nghiệp trung học thi đỗ vào một trường Đại học Sư phạm, chị thay anh thu xếp hành lý, lại một lần nữa đưa anh tới trường.

Chị nhìn cậu con trai trẻ măng vừa qua tuổi dậy thì, do chính tay mình nuôi lớn từ nhỏ đến giờ, chị chỉ dặn anh hãy cố mà học hành, ngoài ra chị không nói thêm điều gì nữa.

Nhưng anh vẫn nói: "Chị, chờ tôi quay về nhé!".

Tim chị đập nhẹ một nhịp, nhưng mặt vẫn bình thường, có điều khóe miệng ẩn một nụ cười hân hoan rất nhẹ mà người khác khó nhìn thấy. Khóe cười ấy không phải vì câu nói của anh, mà vì những gì chị bỏ ra, đã được đáp đền lần đầu.

4. Kiếp này

Chị vẫn làm ruộng như trước, nhịn ăn nhịn mặc dành tiền gửi đi.

Hai năm đầu, nghỉ hè và nghỉ Tết anh đều về quê giúp chị làm việc.

Nhưng năm thứ ba đại học, anh viết thư về nói: Chị đừng gửi tiền nữa.

Và kỳ nghỉ tôi cũng không về nữa đâu. Tôi muốn ra ngoài kiếm việc làm thêm, đỡ gánh nặng cho chị.

Lúc đó chị đã 29 tuổi.

Ở quê, người như chị đã là mẹ của mấy đứa con. Người trong làng đều bảo, chị nuôi anh lớn khôn, lại còn cho anh thoát ly đi học, thế coi như là đã quá tốt với anh rồi, chị già hơn anh mười một tuổi, thôi đừng chờ chồng nữa.

Bây giờ anh đã đi xa, ở ngoài thế giới bao nhiêu xanh đỏ tím vàng, biết chồng mình có về nữa hay là không về nữa!

Chị cũng không biết trong lòng mình là đang thủ tiết, giữ đạo phu thê: Dù sao thì mười mấy năm trước chị cũng là một cô dâu gả cưới đàng hoàng về nhà anh; hay là mình đang vì câu nói trước ngày anh lên đường đi xa: "Chị, chờ tôi quay về nhé!"; hay là chị đang lo âu như người mẹ không yên tâm về đứa con nhỏ của mình đang ở xa; chị cứ chờ.

Chị cứ giữ sự yên tĩnh và ít lời như mấy chục năm nay đã từng.

Cuối cùng cũng đã đến lúc anh tốt nghiệp. Anh quay về.

Anh đã là một người đàn ông trưởng thành có phong cách và khí chất,

dáng dấp một người đàn ông nho nhã hiểu biết.

Còn chị, dãi nắng dầm sương, gương mặt nhọc nhằn lao khổ đã sớm bay hết những nét đẹp thời trẻ, là một người đàn bà nhà quê đích thực.

Trong lòng chị chỉ còn coi anh là một đứa em trai thân yêu.

Chị không dám ngờ anh đã nói với chị:

"Chị, tôi đã trưởng thành, giờ chúng ta có thể thành thân!".

Chị nhìn anh, như đang nằm mơ, chị sợ mình đang nghe nhầm. Anh cũng là một người đàn ông trọng tình trọng nghĩa như chị?

Chị cười, tự đáy lòng dâng lên miệng cười rạng rỡ, cũng để rơi xuống những giọt nước mắt đẹp đẽ nhất đời người.


5. Xin lỗi

Anh ở lại thị trấn dạy học, chị ở nhà làm ruộng.

Họ có với nhau một con trai một con gái.

Sau này, anh đến khu mỏ dầu dạy học, lên chức hiệu trưởng một trường Trung học nhờ vào bằng cấp và kinh nghiệm dạy học của mình.

Vì hộ khẩu, con cái vẫn để ở nhà cho chị nuôi nấng.

Sau khi nhập được hộ khẩu, anh về quê đưa vợ con lên trường.

Các giáo viên trong trường đến giúp hiệu trưởng dọn nhà.

Có một giáo viên bộc tuệch chạy ra nói:

"Hiệu trưởng, sao anh đón mẹ và em trai lên ở mà không đón cả chị nhà và các cháu luôn?".

Một sự im lặng bao trùm, mọi người đều ngoái đầu nhìn chị.

Lúc ấy, mặt chị sượng trân trân, không biết nên nói gì, chị cười méo mó, nhìn anh biết lỗi.

Anh ngoái đầu nhìn chị, nói với tất cả mọi người với giọng chắc nịch:

"Chị các chú đây. Có cô ấy mới có tôi ngày hôm nay, thậm chí cả tính mạng tôi".

Chị nghe anh nói, mắt chị dâng lên toàn là nước mắt.

6. Năm tháng như bài ca, tình yêu như ngọn lửa

Bây giờ chị đã bảy mươi hai, vì làm việc nặng nhọc quá nhiều, sức khoẻ kém, bệnh phong thấp làm chị đi tập tễnh. Anh sáu mươi mốt, đã về hưu từ lâu.

Hai năm nay họ dọn về khu nhà này ở, nếu hôm nào trời không mưa gió, hoặc ngày quá lạnh, đều có thể gặp bóng dáng họ ở khu sân chơi, bồn hoa; chị nắm gậy chống, anh đỡ một bên, đi chậm chạp từng bước một về phía trước, như đang dìu một đứa trẻ tập đi, chăm sóc như thế, ân cần như thế.

Những người biết chuyện của họ đều nhìn theo, cảm động bởi mối tình sâu nặng và bền chặt của anh và chị, mang nghĩa đủ tình đầy đi dọc một kiếp người. Anh nói:

"Cô ấy mang cho tôi sinh mệnh, cho mẹ tôi sự ấm áp, cho tôi một mái nhà, bây giờ, tôi dành nửa cuối đời tôi chăm sóc cô ấy".

Anh dắt tay chị, như ngày đó chị dắt tay đứa bé năm tuổi, họ cùng mỉm cười, đẹp như nét mây chiều êm ái nơi chân trời mùa hạ.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Hai nửa hy sinh
Khi cô giật mình tỉnh dậy giữa đêm vì lạnh, anh thường ôm chặt cô vào lòng, dùng hơi ấm của cơ thể sưởi cho cô.

Cô vốn là một người con gái xinh đẹp. “Vệ tinh” xung quanh cô nhiều không kể xiết, nhưng cô bỏ ngoài tai tất cả để chọn anh – một công
nhân làm việc ở nhà máy, thu nhập còn không đủ cho 3 bữa ăn hàng ngày.
Cô chấp nhận từ bỏ cả gia đình, thậm chí là công việc đầy tương lai của mình để cưới anh.

Sau khi kết hôn, anh và cô mượn được nhà kho của một người bạn, họ sắp xếp lại thành một tổ ấm giản dị. Mùa đông đến, căn nhà kho trống trải
hút gió lại càng trở nên lạnh giá. Khi ấy chưa đủ tiền mua chăn, cô thường bị giật mình tỉnh dậy giữa đêm vì lạnh. Những lúc đó, anh chỉ biết ôm chặt cô vào lòng, dùng hơi ấm của cơ thể sưởi ấm cho cô.

Một ngày cô trở về nhà với vẻ mặt thất thần nhợt nhạt, anh lo lắng hỏi cô có phải bị bệnh rồi không? Cô chỉ mỉm cười nói: “Em hơi mệt thôi!” rồi hân hoan rút từ trong túi ra một tờ bạc nhét vào tay anh: “Chúng mình có tiền rồi anh ạ, mình đi mua một chiếc chăn thật ấm để đắp nhé.”
Anh sững người ngạc nhiên nhìn tờ tiền trong tay cô, giọng run run: “Làm sao em lại có nhiều tiền vậy?”
Cô vui vẻ kể lại cho anh tiền là do cô kiếm được khi đi phát tờ rơi. Cô phải đứng từ sáng đến tối mới được trả ngần ấy tiền. Nói rồi cô vội vàng kéo anh ra khỏi nhà, không cho anh hỏi thêm điều gì nữa. Họ mua môt cái chăn vừa tầm tiền.
Từ đó, giữa đêm cô không còn bị giật mình thức giấc nữa.

Vài năm sau, anh tìm được công việc tốt hơn, rồi kiếm được nhiều tiền, tự mở công ty. Không bao lâu anh đã xây cho cô một ngôi nhà khang trang, mua ô tô cùng rất nhiều đồ dùng đắt tiền khác. Anh nói muốn dành cho cô một cuộc sống ấm no đầy đủ bù đắp lại những tháng ngày khó khăn vất vả trước đây. Cuộc sống bỗng vụt thay đổi khiến cô có phần
bàng hoàng chưa kịp thích nghi với điều kiện mới.

Ngày chuyển nhà, anh bảo những đồ đạc cũ trong căn nhà kho của họ trước đây anh đều muốn vứt đi không giữ lại bất cứ cái gì. Nhưng cô khăng khăng nói muốn giữ lại cái chăn để đắp. Và rồi một thời gian dài nữa họ vẫn dùng cái chăn cũ ấy, giờ đây nó đã trở nên xù xì cũ kĩ, còn bị rách khá nhiều chỗ.
Anh không ngừng phàn nàn với cô: “Thôi bỏ cái chăn cũ này đi em, mình có thể mua một cái chăn mới ấm áp và tốt hơn rất nhiều. Em xem cả nhà mình toàn những đồ đắt tiền, nhìn cái chăn cũ
này trong nhà trông thật chướng mắt”.
Nhưng cô vẫn cố chấp nhất quyết giữ lại cái chăn cũ ấy, vì chỉ khi đắp nó cô mới cảm thấy ấm áp và
được che chở.

Một hôm, anh về nhà mang theo một cái chăn mới và nhất quyết bảo cô bỏ cái chăn cũ đi. Lần này dù không nỡ nhưng cô vẫn nghe theo lời anh. Từ
đó, hàng đêm cô ngủ không còn ngon giấc nữa, trong lòng cô lúc nào cũng cảm thấy thấp thỏm lo lắng khiến cô lại không ngừng giật mình giữa đêm. Và mỗi lần tỉnh dậy như thế, hai mắt cô lại đầm đìa nước.
Anh vốn không biết rằng để mua được cái chăn đó cô đã phải đi bán máu lấy tiền chứ không phải đi phát tờ rơi như cô nói với anh. Lần đầu tiên bán máu, biết bao đau đớn, cũng chỉ vì muốn có cái chăn này. Vậy mà anh lại nỡ vất bỏ nó. Cô dần cảm thấy anh không còn yêu cô như xưa nữa.

Một ngày anh có việc gấp phải ra ngoài, quên mang theo máy tính xách tay quen thuộc. Trên màn hình của anh vẫn hiện lên trang blog anh viết hàng ngày. Và cô bất chợt đọc được dòng chữ anh hình như mới viết không lâu.

“Ngày hôm ấy em từ đâu về khuôn mặt tái xanh nhợt nhạt khiến cho tôi lo lắng vô cùng. Rồi em nói em đi phát tờ rơi để mua chăn cho hai đứa.
Tối hôm đó chúng tôi nằm ngủ ấm áp trong chiếc chăn mới, thấy em nằm cuộn tròn trong lòng tôi say trong giấc ngủ, tôi thương em biết bao.
Đã bao đêm rồi em không được ngủ ngon đến vậy. Và rồi tình cờ tôi nhìn thấy trên tay em có một vết sưng nhỏ, dường như bị kim tiêm đâm vậy.
Tôi bỗng hiểu ra tất cả. Hóa ra em nói dối tôi em đi phát tờ rơi, thực ra em đã đi bán máu để có tiền mua chăn, chỉ vì một cái chăn mà em đã phải khổ sở đau đớn đến vậy. Đêm đó tôi đã khóc vì thương em và cũng thầm hứa sẽ cố gắng làm việc, phấn đấu trở thành một người thành đạt, để có thể bù đắp lại những ngày tháng khốn khó này cho em. Và giờ đây tôi đã thực hiện được lời thề đó. Hôm qua tôi quyết định đến trạm hiến máu, tôi chỉ muốn cảm nhận một chút nỗi đau em từng trải qua. Khi chiếc kim tiêm đâm vào mạch máu, một cảm giác nhói buốt lan dọc khắp cơ thể. Nhưng tôi không thấy đau, ngược lại, rất hạnh phúc. Tôi lấy tiền bán máu và đi mua chiếc chăn mới này. Tôi muốn nó là món quà bất ngờ dành cho em…”

Nước mắt cô đã ướt đẫm tự độ nào. Hóa ra tình yêu của anh dành cho cô vẫn sâu đậm và lớn lao đến vậy. Mùa đông năm nay anh đã đổi máu của
mình tặng cho cô chiếc chăn ấm, có lẽ đó cũng sẽ là chiếc chăn ấm áp nhất cô có trong đời…

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Khánh Ly công bố sự thật mối tình với Trịnh Công Sơn
Có một thời, Trịnh sáng tác chỉ để Khánh Ly ca. Mười năm gắn bó duyên tình âm nhạc để làm nên một "nữ hoàng chân đất", một Khánh Ly hát nhạc Trịnh mãi về sau khó có giọng ca nào vượt qua.

Giọng ca Đà Lạt thành... "nữ hoàng chân đất"

Nhớ về Trịnh, Khánh Ly tiết lộ, Trịnh Công Sơn gặp chị trong hộp đêm Tulipe Rouge tại Đà Lạt. Thời gian ấy, nhiều người nói, Trịnh Công Sơn đang đắm say với giọng hát Thanh Thuý "liêu trai", nhưng khi nghe giọng hát Khánh Ly, ông đã bị hút hồn và tìm cách gặp chị.

Những bạn bè của Trịnh cũng từng xác nhận chuyện này, vào năm 1965 tại Đà Lạt mộng mơ, Trịnh Công Sơn tình cờ nghe được giọng hát Khánh Ly. Ông biết ngay giọng hát của cô ca sỹ này hợp với những bản nhạc của mình nên mời chị tham gia. Thời gian sau, Khánh Ly rời Đà Lạt xuống Sài Gòn và trở thành giọng ca chuyên hát nhạc Trịnh Công Sơn.

Khi Trịnh Công Sơn gặp Khánh Ly, chị chưa nổi tiếng, đến cuối năm 1965, họ có buổi ra mắt đầu tiên tại trường Đại học Văn khoa với hàng ngàn sinh viên và trí thức. Bằng chiếc đàn thùng đơn giản, Khánh Ly hát say xưa những bài tự tình quê hương và thân phận con người đã làm đắm say hàng ngàn khán giả cuồng nhiệt đêm đó.

Cứ thế, những buổi biểu diễn liên tiếp tại các trường đại học, các tụ điểm ca nhạc công cộng khiến Trịnh Công Sơn và Khánh Ly trở thành hiện tượng âm nhạc, và trở thành thần tượng của giới trẻ khi ấy.
Image
Khánh Ly và Trịnh Công Sơn thời trẻ

Trịnh Công Sơn và Khánh Ly thường đi hát không công, không thù lao chủ yếu cho khán giả trẻ nơi giảng đường của các trường đại học. Trịnh Công Sơn dáng người mảnh khảnh, cặp kính trắng, giọng nói nhỏ nhẹ xứ Huế với cuộc sống của một lãng tử. Khánh Ly khi hát đi chân đất, khiến khán giả quen, yêu quý mà gọi chị là "nữ hoàng chân đất".

Chị hát bằng cả tấm lòng người nghệ sỹ yêu hết mình những giai điệu của nhạc Trịnh. Nhiều văn nghệ sỹ khi ấy, coi họ là một hình ảnh lý tưởng cho nghệ thuật, nhất là nghệ thuật ca hát - mang lý tưởng nhân đạo và tình yêu thể hiện sự dấn thân.

Kể lại thời kỳ những năm 60 cơ cực, đói khổ nhưng đầy hạnh phúc ấy, Khánh Ly nói: "Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào. Thời ấy, tôi phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết đến ai cả, mà vẫn cảm thấy mình cực kỳ hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn".

Hai người đi với nhau tạo thành hình ảnh "lứa đôi", một đôi trai gái trong tình bạn trong sáng, hồn nhiên. Khánh Ly - Trịnh Công Sơn tạo thành một đôi bạn trẻ muốn phá vỡ quan niệm xưa cũ. Trong dư luận khi ấy, không ít người tò mò, định kiến, nhưng Trịnh là người tiếng tăm mà không tai tiếng, ngay từ thời đó, Trịnh khẳng định: "Tôi và Khánh Ly chỉ là hai người bạn. Thương nhau vô cùng, trên tình bạn".

Mấy năm gần đây, danh ca hải ngoại về nước biểu diễn ngày càng nhiều, khán giả trong nước đã chờ sự trở về của Khánh Ly.

Khi tôi có cuộc trò chuyện với danh ca Thanh Tuyền và hỏi về đời sống của các ca sĩ hải ngoại trước năm 1975, (nhất là Khánh Ly sao chưa về nước) chị nói: "Khánh Ly đã 67 tuổi rồi, cũng mong được về nước để hát trên mảnh đất quê hương. Chị ấy muốn về trước khi quá muộn".

Trong cuộc trò chuyện với tôi qua điện thoại, Khánh Ly cũng cho biết cuộc sống gia đình giờ đã quá ổn định, các con đã trưởng thành và cũng mong ngày trở về.

Bóng dáng ngập tràn nhưng không có... cuộc tình

Trong những tuyệt phẩm của Trịnh luôn có những bóng hồng, khi sâu sắc, lúc thoáng qua như hư ảo. Nhưng những bóng hồng ấy vẫn gọi được thành tên, gọi chung cho những cuộc tình đôi khi chỉ là chút tình nghệ sỹ đơn phương hay nhè nhẹ như chút nắng cuối thu. Riêng Khánh Ly không có cuộc tình với Trịnh Công Sơn, song định mệnh đã gắn kết hai người bằng tình yêu ca hát. Khánh Ly giã từ Đà Lạt theo Trịnh Công Sơn về Sài Gòn khi mới hơn 20 tuổi.

Nhiều người đã cho rằng trời sinh ra Khánh Ly để hát nhạc Trịnh Công Sơn. Chị yêu thương Trịnh như một người bạn, một người anh, một người thầy.... Đôi khi trước mặt những người khác, Trịnh vẫn la rầy Khánh Ly như một cô học trò nhỏ. Khánh Ly cũng chỉ biết cười buồn.

Không duyên tình lứa đôi, nhưng Khánh Ly và Trịnh Công Sơn gắn bó với nhau bằng định mệnh. Hơn 17 năm, sau ngày Khánh Ly rời Việt Nam, họ gặp lại nhau tại Canada. Đối diện với Trịnh, chị vẫn nhỏ bé như ngày xưa, luôn yêu thương và kính trọng...

Khánh Ly nhớ lại: "Chúng tôi ôm choàng lấy nhau, lúc này tôi mới cảm nhận chúng tôi thật sự có nhau, không phải trong một giấc mơ kéo dài 17 năm. Hình như chúng tôi có cách nói mà chỉ hai chúng tôi mới hiểu được. Một cách nói ở bốn con mắt im lặng... Tất cả những điều cần nói, chính là những điều không bao giờ nói bằng lời".

Họ đi dạo, im lặng bên trời Tây xa lạ mà cảm thấy gần gũi nhau như thuở người từ Sài Gòn ra Huế thăm nhau. Khánh Ly đã chia sẻ về buổi gặp nhau ấy: "Bao nhiêu ngày tháng đi qua giữa chúng tôi. Anh vẫn không bao giờ thay đổi, tôi cũng thế. Cả hai không thắc mắc về đời sống của nhau bởi 30 năm trước không hỏi thì 30 năm sau cũng không hỏi... Tôi quý những giây phút ở bên anh và tôi nghĩ, anh sẽ nói với tôi điều cần nói, nếu có".
Image

Với Trịnh Công Sơn, một điều chắc chắn bất cứ một người con gái nào đến với ông, đem đến cho ông dù một chút tình vẫn được ông nâng niu đón nhận. Còn riêng với Khánh Ly, ông coi đó là cuộc gặp gỡ của định mệnh vĩnh viễn yêu thương nhau. Một người hát cho một thời vừa lãng mạn vừa đau thương trong chiến tranh - hay nhất. Cảm nhận điều ấy, Khánh Ly luôn khẳng định ở họ là "mối liên hệ cao hơn, đẹp đẽ hơn, thánh thiện hơn là những tình cảm đời thường".

Mười năm bên cạnh Trịnh Công Sơn, Khánh Ly đã gắn với tên tuổi của Trịnh đến nỗi không thể tách rời. Khánh Ly vẫn nói: "Tuy không có một ca khúc nào của Trịnh Công Sơn viết riêng cho tôi, nhưng tôi vẫn có cảm tưởng hầu hết những ca khúc của Trịnh Công Sơn đều được viết cho Khánh Ly". Cũng có lẽ vì thế, Khánh Ly là một trong số những người hiểu rất rõ ca từ, cũng như tâm ý phần lớn ca khúc của Trịnh.

Sau năm 1975, Khánh Ly ra hải ngoại, đi khắp thế giới với nghiệp cầm ca nhưng không bao giờ chị rời bỏ tên Trịnh Công Sơn bên cạnh cuộc đời của mình. Ngày 1/4/2001, khi Trịnh Công Sơn nằm xuống, Khánh Ly từng nói: “Tôi đã chết nửa cuộc đời theo Trịnh Công Sơn!”.

Cuộc điện thoại nửa vòng trái đất nghe Khánh Ly mở lòng:

Khánh Ly tên thật là Nguyễn Thị Lệ Mai sinh năm 1945 tại Hà Nội. Từ nhỏ chị theo gia đình vào sinh sống tại Đà Lạt và hiện đang sống tại Mỹ. Cách nhau nửa vòng trái đất, tôi gọi điện cho Khánh Ly khi ấy ở Việt Nam đã gần trưa cũng là lúc gần khuya của giờ Mỹ ngày hôm trước. Giọng nói truyền cảm của Khánh Ly, qua điện thoại rõ ràng, không khác là bao khi chị cất giọng hát trên sân khấu.

Tôi hỏi thăm sức khoẻ, Khánh Ly cho biết, chị vẫn tham gia những chương trình ca nhạc ở hải ngoại. "Dù đã có tuổi, nhưng khán giả vẫn thương, mỗi tuần Khánh Ly vẫn nhận show và đi diễn khắp nơi như ở Mỹ, châu úc, châu Âu. Chương trình gần nhất, Khánh Ly sẽ đi hát cho kiều bào ở Thái Lan", Khánh Ly cho biết. Khánh Ly cũng chia sẻ, trong những chương trình chị biểu diễn khán giả vẫn muốn được nghe những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn. Mỗi lần cất lên lời ca của nhạc Trịnh, cho dù ông đã đi xa, Khánh Ly thể hiện như một tấm lòng tri ân với người mà "từ ông tôi thành danh và quan trọng hơn cả là tôi được thành nhân", chị nói.

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Vì đó là em Ở cái tuổi 32, Nguyên đã có nhiều thứ làm người khác ganh tị. Anh cao ráo, dễ nhìn, là chủ của một một công ty 'ăn nên làm ra', có bạn gái xinh xắn và là người mẫu nhiều triển vọng. Mọi thứ thật tốt đẹp và hoàn hảo, đôi khi, Nguyên cũng cho rằng mình được ngôi sao may mắn ưu ái. Cuộc sống sẽ cứ như thế cho đến một ngày cô xuất hiện.

Hôm ấy, Hùng - người bạn thân và là đối tác của Nguyên, hẹn anh ra một quán cafe để bàn về một bản hợp đồng mới. Khi Hùng ra về, Nguyên đứng dậy, cho cái laptop vào cặp để chuẩn bị đi đón cô bạn gái, Trúc Ly. Bỗng, một đôi tay bé nhỏ ôm lấy chân anh, kèm theo tiếng gọi khẽ của một đứa bé:
- Ba... con với mẹ kiếm ba lâu lắm!

Theo phản xạ anh vội xoay người và cúi xuống. Trước mặt anh là một bé gái xinh xắn chừng năm tuổi tóc cài nơ chuột mickey màu hồng nhạt, đôi mắt trong veo ngân ngấn nước đang nhìn anh. Với tình huống bất ngờ chưa gặp như thế này, anh không biết phải làm sao ngoài cách đưa mắt nhìn như tìm kiếm người đi cùng bé. Đúng lúc đó thì cô xuất hiện, cô để vội hai ly kem trên tay lên bàn đi tới gỡ tay bé ra khỏi chân anh và nói với anh:
-Xin lỗi anh, bé nhận nhầm người...

Anh ngước mắt lên nhìn, đó là một người phụ nữ chừng 27 tuổi, ăn mặc giản dị. Qua cử chỉ của cô, dễ dàng nhận ra cô là mẹ của đứa bé. Nhưng điều anh quan tâm là hình như ánh mắt của cô ấy khi nghiêng nghiêng nhìn rất quen. Hình như anh đã gặp ở đâu rồi nhưng nhất thời anh không nhớ ra. Khi anh còn đang lục tìm trong trí nhớ thì cô đã dẫn bé gái đi mất. Mặc cho mẹ kéo đi, bé gái vẫn dõi ánh mắt như một dấu hỏi về phía anh.

Hai tuần sau, vào một ngày thứ bảy rảnh rỗi, khi đang đi siêu thị mua đồ, anh chợt giật mình vì lại bị ôm chân như ở quán cafe. Khi nhìn xuống, anh ngạc nhiên vì vẫn là bé gái xinh xắn ấy cùng câu nói cũ. Và cô cũng xuất hiện sau đó với vẻ mặt ngại ngùng cùng chiếc xe đẩy đồ đang mua dở dang. Nhưng lần này, mặc cô kéo, đứa bé vẫn cố ôm lấy anh. Cô bé vùng vẫy và khóc oà lên khi bị mẹ kéo:
- Con cần ba, con với mẹ nhớ ba lắm! Ba... ba không thương mẹ với con sao?

Trước những cái nhìn tò mò của những người chung quanh, mắt cô long lanh bối rối. Lại ánh mắt quen thuộc đó khiến anh chợt nhớ cần phải hỏi cô vài điều. Để tránh cho cô phải khó xử trước đám đông, anh bước tới, đưa tay ẵm đứa bé lên, nói nhanh là muốn giúp cô và mời cô ly cafe vì anh có chuyện muốn hỏi. Khi ngồi yên vị trong quán, anh nói cô rất quen, anh đã gặp rồi, anh đoán chắc như thế. Những thắc mắc của anh được cô nhanh chóng giải thích:

- Em là Phương, em biết anh tên Nguyễn Hoàng Nguyên. Mười năm trước, vào một buổi chiều, khi đi học về ngang sân vận động của trường đại học kinh tế, vô tình trái banh do anh đá bay trúng vào mặt em khiến em ngã nhào, bể kính mắt và quần áo lấm lem. Anh đã đưa em về xin lỗi ba mẹ em và sau đó mua kính khác đền cho em. Anh không nhận ra em cũng đúng vì bây giờ em dùng kính sát tròng. Đây là con em, bé Yến Oanh được 5 tuổi. Ba bé không còn. Vì anh giống ba bé nên mới có những chuyện xảy ra như thế. Em xin lỗi.

Anh đoán không sai mà, cô đúng là người quen cũ. Anh hỏi thăm thì biết cô đang sống ở một căn nhà thuê nho nhỏ cũng gần khu nhà anh. Cô nói cô trở lại thành phố bởi muốn bé Oanh có điều kiện học hành tốt hơn. Cô mời anh có rảnh thì tới chơi. Lúc ra về, khi trao đổi số điện thoại cho cô, anh muốn nói với cô, "ngày xưa anh rất có ấn tượng với cô. Sau đó, anh có trở lại nhà cô tìm kiếm nhưng người ta nói gia đình cô đã dọn đi nơi khác". Có điều, anh ngập ngừng, lại không dám nói.

Thời gian sau đó, thỉnh thoảng anh vẫn hẹn cô cafe như những người bạn. Bé Oanh luôn được cô dẫn theo và bé vẫn kêu anh là ba như cũ. Anh ngăn cô, cứ để như thế, đừng cấm cản con bé. Cô cười khi nghe anh nói "coi như cho anh cơ hội trải nghiệm thử việc làm cha một đứa trẻ xinh xắn, đáng yêu như thế".

Một buổi chiều, khi đi làm về ngang một cái shop đồ chơi trẻ em, thấy con gấu bông màu hồng rất dễ thương, anh ghé vào mua và tới nhà cô. Khi anh gọi điện thoại, cô nói đang cùng bé Oanh chơi với nhau ở công viên. Anh ra đến nơi thì thấy mẹ con đang chơi trò cầu trượt và cùng cười vang trong buổi chiều nhạt nắng. Anh đứng khựng lại, tự nhiên anh thấy có cái gì đó len vào tim anh, anh thấy cô và bé thật đẹp.

Cả tuần nay, anh mất ngủ vì lô hàng nhập khẩu có vấn đề, phải chờ kiểm tra. Cứ nghĩ tới cái ngày vỡ hợp đồng, phải bồi thường thì anh toát cả mồ hôi. Nguy cơ phá sản lơ lửng trên đầu, chẳng hy vọng gì cứu vãn. Tối hôm đó, ra khỏi công ty, anh thấy sao lòng trĩu nặng, rẽ tay lái, anh chạy xe đến nhà Trúc Ly. Khi anh tới nhà, Trúc Ly đang say sưa hát hò và ăn uống với đám bạn gái. Anh lặng lẽ quay ra, anh không biết phải đi về đâu trong khoảnh khắc buồn phiền này... Anh chợt nhớ tới cô và bé Oanh.

Nghe tiếng chuông, cô chạy ra mở cửa. Bắt gặp anh trong bộ dạng thiểu não như thế, cô không hỏi anh chuyện gì, chỉ lặng lẽ đi nấu bữa ăn tối. Sau bữa cơm, trời đổ mưa tầm tả. Cô nhỏ nhẹ nói với anh, nếu anh không ngại, anh có thể ở lại. Cô biết anh đang gặp khúc mắc. .Khi ba mẹ cô di dân, đoàn tụ với anh trai ở nước ngoài, có để lại cho cô một căn nhà, hiện cô đang cho thuê. Nếu anh đồng ý thì ngày mai cô mang đi thế chấp ngân hàng số tiền đó coi như cô đầu tư vào công ty anh.

Trong khi anh còn đang chần chừ, sợ thất bại thì cô đã động viên anh. Thật ra thì số tiền đó cũng chẳng thể giúp anh giải quyết hết vấn đề hiện tại nhưng nhìn ánh mắt đầy niềm tin của cô, anh thấy mình như được tiếp thêm nghị lực. Tối hôm đó, khi cô kể chuyện "Cô Bé Lọ Lem" cho bé Oanh nghe. Anh nằm trên sofa nhà cô tận hưởng khung cảnh yên bình mà hình như trong cuộc sống của mình, anh thiếu từ lâu lắm! Anh chìm dần vào giấc ngủ.

Sáng hôm sau, anh tới công ty với tâm trạng bình thản, chờ đợi những điều xấu nhất có thể xảy ra. Trưa hôm đó, anh hẹn Trúc Ly đi ăn cơm và nói lời chia tay, mặc cho cô giận dữ và nói là sẽ trả đũa, chẳng bỏ qua như thế cho anh. Khi cô đi rồi, anh cười nhẹ và tự hỏi không hiểu tại sao bao năm qua, anh có thể cùng Trúc Ly làm thành một đôi? Anh hiểu rõ không phải cô yêu thương hay hối tiếc khi chia tay anh vì có khối người săn đón ngoài kia. Cô yêu "cái tôi" của chính mình nên cô không chấp nhận khi người nói lời chia tay lại là anh.

Ngay trong tuần đó, vào một đêm khuya, chuông điện thoại của anh đổ dồn, nhìn thấy số của cô, anh vội vã nghe. Trong tiếng ngắt quãng, cô nói cho anh biết bé Oanh bỗng nhiên đau bụng vật vã, cô đang trên taxi đưa tới bệnh viện và cô thấy sợ hãi. Khi anh tới bệnh viện, nhìn dáng nhỏ bé của cô khi ngồi chờ trước phòng cấp cứu, lòng anh ngập tràn niềm thương xót. Anh không nói gi, lặng lẽ đến ngồi bên cô, nắm bàn tay cô siết nhẹ. Cô tựa đầu vào vai anh khóc nức nở. Đó là lần đầu tiên anh thấy cô khóc.

Không biết có phải ông trời thương anh hay không, một tháng sau, lô hàng của anh được chứng minh không có liên quan hay vi phạm pháp luật. Mọi việc ổn thỏa. Buổi chiều, hết giờ làm việc, anh ghé mua bánh kem cho bé Oanh. Từ ngày bị nhập viện cảm lạnh đến nay, con bé chưa được ăn lại món bánh ưa thích.

Nhớ đến nụ cười của cô và khung cảnh ba người lại ríu rít bên bàn ăn như thời gian qua, anh nhấn ga cho chiếc xe lao nhanh về phía trước. Khi tới nhà cô, mặc cho anh nhấn chuông nhiều lần, căn nhà vẫn tràn ngập trong bóng tối. Anh gọi điện thoại cho cô... không liên lạc được. Anh lo lắng, sốt ruột... đi tới đi lui thì gặp bác hàng xóm bên cạnh, bạn sợ sệt nói:

- Sáng nay có một cô người cao cao, nhìn rất đẹp, đi cùng vài người nữa đến đây. Không biết chuyện gì mà họ đập phá và chửi bới cô Phương là nạ dòng, đi giật người yêu của kẻ khác. Khi lối xóm xúm lại can ngăn, họ mới chịu bỏ đi. Trưa, tôi thấy cô Phương mắt đỏ hoe, kéo vali và dẫn theo bé Oanh. Cô ấy có sang nhà tôi gửi chìa khóa, nhờ tôi nói với chủ nhà là cô ấy không thuê nữa khi hết hợp đồng và nếu gặp cậu thì đưa cho cậu lá thư này.

Không khó khăn để anh đoán biết cô gái ấy là Trúc Ly và đám bạn cơm rượu. Anh thắt lòng khi nghĩ đến cảnh cô phải chịu thiệt thòi khi gặp những người như vậy. Anh nhanh chóng mở bức thư ra đọc ngay. Những con chữ nhảy múa trong mắt anh:

''Khi anh đọc lá thư này, chắc em đi xa rồi. Anh đừng kiếm tìm phí công bởi khi quyết định ra đi, em đã biết làm sao để anh không thể tìm thấy. Em cảm ơn anh trong thời gian qua đã đối xử rất tốt với mẹ con em. Thật ra có một điều em không nói lâu nay. Nếu tình yêu đến từ cái nhìn đầu tiên thì mười năm trước em đã yêu anh rồi, ngốc ạ! Vào ngày đầu tiên anh đá trái banh vào trúng em đấy. Nhưng em nhút nhát không dám nói. Khi ba mẹ em chuyển đi nơi khác, em muốn liên lạc với anh nhưng em mặc cảm vì mình tầm thường và nhỏ bé trong khi anh thì nổi trội và xuất sắc. Bao năm qua, em vẫn âm thầm dõi theo từng bước chân của anh.

Ngày anh đạt danh hiệu là một trong những doanh nghiệp trẻ tiêu biểu, em đã có mặt ở hàng ghế trong khán phòng với bó hoa. Em muốn chúc mừng anh nhưng em lại lặng lẽ quay ra khi thấy những cô gái xinh đẹp khác ôm chầm lấy anh. Cũng đúng thôi, anh xứng được như thế. Em tầm thường và mờ nhạt thì đâu có lý nào được anh chú ý tới, em chỉ có thế đứng từ xa mà nhìn. Khi biết anh có người yêu là cô người mẫu Trúc Ly, em tuy buồn nhưng vẫn mừng thầm cho anh. Em không di dân cùng ba mẹ bởi trong thẳm sâu con tim, em còn nuôi hy vọng mong manh là ngày nào đó có thể ở cạnh anh dù tư cách là một người bạn.

Còn đây là điều bí mật mà em chưa nói, bé Oanh không phải là con của em. Bé không có cha bởi mẹ bé là một cô gái đáng thương mà em tình cờ biết khi làm tình nguyện viên trong một chương trình đường phố thời còn sinh viên gần ra trường. Mẹ bé bị hậu sản mất đi. Lúc đó, ba mẹ em di dân, em sống một mình nên cũng không bị ràng buộc gi,# em đem bé về nuôi. Khi lớn một chút, bé hỏi về ba thì em lấy những hình ảnh của anh do chính em âm thầm thu thập được, nói ba là anh và đi làm ăn xa. Khi bé lớn, em sẽ dẫn đi tìm ba. Muốn bé như bao đứa trẻ khác, không phải bị mặc cảm về quá khứ nên em không cho bất cứ ai biết chuyện của bé và nhầm đảm bảo bí mật của mình nên em chuyển trở lại thành phố này sinh sống. Sau đó, em dẫn bé đi ăn kem thì vô tình gặp anh trong quán cafe dạo trước. Em không ngờ rằng bé có thể nhận ra anh là người trong bức ảnh và mọi chuyện xảy ra cho đến nay.

Em thừa nhận là em không tốt bởi không nói ra hết những điều này sớm hơn bởi em sợ khi anh biết thì anh không quan tâm đến em nữa. Nhưng hôm nay, em hiểu rồi anh ạ! Tình yêu không bao giờ có cái kết khi chỉ từ một phía, Trúc Ly - cô ấy nói đúng , anh chỉ cảm thấy mang ơn và thương hại, tội nghiệp hoàn cảnh của hai mẹ con em mà thôi. Em còn ở gần anh thì chỉ làm hại anh. Dư luận sẽ cười nhạo anh vì qua lại với một người mẹ đơn thân như em. Anh vốn là thứ em đánh cắp của người khác thì tới lúc em phải hoàn trả lại. Có những giấc mơ thật ngắn nhưng mà thật vui...''.

Mắt anh nhoè đi, anh xếp lá thư lại không đọc tiếp, tự mình thì thầm: ''Giá như anh nói ra với em là anh đã chia tay Trúc Ly. Phải chi em biết anh chưa bao giờ tội nghiệp hay thương hại em. Anh không dám nói ra bởi anh sợ em nghĩ anh thừa nước đục thả câu. Sợ em từ chối và tránh né. Bây giờ anh biết tìm em ở đâu đây?".

Một năm sau, vào buổi tối chủ nhật yên ả ở tỉnh nhỏ. Có một người phụ nữ trẻ dẫn theo đứa con gái, họ ngồi ăn kem trong một quán nhỏ cạnh bờ hồ. Gần đó là chiếc radio đang phát chương trình nhạc yêu cầu buổi tối. Giọng truyền cảm của cô phát thanh viên vang đều đều:

- Sau đây xin mời qúy thính giả nghe ca khúc "Vì đó là em" được yêu cầu bởi anh Nguyễn Hoàng Nguyên gửi cho vợ mình là chị Trần Ngọc Phương kèm với lời nhắn: ''Phương à, bây giờ em với con đang ở đâu vậy? Anh muốn nói với em, anh vẫn chờ em, không phải chỉ một năm mà mười năm hay cả đời này vì anh yêu em".

Trong khi giọng ca sĩ vang lên và mọi người thả hồn theo giai điệu, từng giọt nước mắt trong suốt chảy trên đôi má của người phụ nữ. Đứa bé gái không biết vì sao mẹ khóc, bé hồn nhiên hỏi mẹ:
- Sao mẹ khóc, mẹ nhớ ba hả? Con cũng nhớ ba nữa. Mẹ dẫn con đi gặp ba được không? Con muốn ba mẹ ở chung với nhau như ba mẹ của mấy bạn trong lớp của con.
Cô ôm con vào lòng, khẽ gật đầu.

Sáng thứ hai, khi tan cuộc họp thông lệ đầu tuần, anh trầm ngâm nhìn ra cửa sổ, dưới tán cây có những con chim sâu thoăn thoắt chuyền cành. Anh bâng khâng thầm hỏi bây giờ cô đang ở đâu, có vui không, có biết một năm qua anh tìm kiếm và nhớ cô cháy cả lòng? Nhà cũ của cô, anh đã thuê lại, những lúc nhớ cô, anh tới đó ngồi hàng giờ nhìn đồ đạc mà hình dung cô và con.

"Anh còn cơ hội gặp lại em không, mình có có thể bắt đầu không?"... Chợt điện thoại reo lên cắt ngang dòng suy nghĩ của anh. Một số điện thoại lạ, không có trong danh bạ. Anh bật máy. Đầu dây bên kia im lặng, ngập ngừng chừng mười giây và một giọng nói nhỏ quen thuộc cất lên:
- Em cùng bé Oanh đang ngồi trên xe khách lên thành phố. Chừng một giờ nữa thì tới, anh ra bến xe đón em với con được không?

Sáu tháng sau, vào một ngày nắng đẹp hòa cùng nền nhạc tân hôn dìu dặt, bé Oanh với trang phục thiên thần cùng nụ cười rạng rỡ, tung những cánh hoa hồng đỏ thắm trong chiếc lẵng hoa xinh xắn vào không trung. Phía sau bé là chú rể và cô dâu với vẻ mặt ngập tràn hạnh phúc tiến vào sảnh cưới. Tiếng vỗ tay chào mừng của bạn bè và người thân vang lên.

Hôm nay là... ngày cưới của anh và cô.


Song Nhi

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image


Những Ngày Tù Chung Với Ông Đạo Dừa
Tác giả: Hòang Ngọc Giao
Tôi biết về ông Đạo Dừa rất ít.
Trước kia, có một dạo tôi hiểu lầm ông. Nói hiểu lầm thì không đúng lắm : Tôi đã đánh giá sự đấu tranh của ông một cách phiến diện, hời hợt. Tôi được biết ông tên Nguyễn Thành Nam, một nhà trí thức tân tiến, đỗ bằng kỹ sư Canh Nông ở Pháp, có tinh thần ái quốc cao. Ông thành tài về nước, không làm việc cho Pháp, dấn thân vào cuộc cách mạng dân tộc. Vào thuở tôi còn mài đũng quần nơi những lớp trung học Pháp, tên tuổi của ông đã lẫy lừng, tương lai rạng ngời hào quang. Người Pháp ở Đông Dương rất ưu đãi dân thuộc địa thông thạo Pháp ngữ. Từ các công sở đến tòa án, hễ ai nói thông được tiếng Pháp kể như nắm được chiếc chìa khóa vàng trong tay, vào cửa nào cũng thông cũng lọt. Huống chi đối với những nhà khoa bảng xuất thân từ những đại học ở "chánh quốc" áo gấm về nước ! Với cái tài ấy, cái thế ấy, giá khéo luồn lọt một tí, làm gì chẳng thừa miếng đỉnh chung ?
Nhưng ông kỹ sư Nam ấy lại không đem cái tài học của ông làm việc cho Pháp. Ông cũng không dùng cái vốn liếng văn hóa Tây phương gây lợi cá nhân, cho có được vợ đẹp con ngoan, cho có trang trại giàu sang trưởng giả, hoặc khai khẩn dinh điền màu mỡ cò bay thẳng cánh... Ông đã rũ bỏ cảnh phồn hoa quyến rũ, dứt lìa văn minh vật chất ông có thể thụ hưởng thừa thãi, để về một cồn vắng... trèo lên ngồi trên ngọn cây dừa mà tu, và thành là ông Đạo Dừa !
Tôi từng nghe mấy người anh bà con, cùng ở Pháp về chuyến tàu với ông, không ngớt bàn tán về hành động ấy của ông:
- Kỹ sư Nam ở Bến Tre tính gì thế ? Toan làm chính trị ? Hay muốn chóng nổi danh ?
- Hắn bất hợp tác với nhà cầm quyền ư ? Chủ trương tranh đấu bất bạo động như thánh Gandhi bên Ấn Độ à ? Bối cảnh chính trị ở Việt Nam khác xa với bên ấy lắm cơ mà !
- Hay hắn lập dị ? Cũng muốn tỏ ra ta đây anh hùng cách mạng ?
Tôi nghe nói mà chán ngắt cho mấy ông anh họ ấy. Họ còn ham thụ hưởng, có dám dấn thân như thế đâu. Cũng có kẻ xu thời, làm chính trị sa lông. Thứ chánh trị không tốn kém gì, không hy sinh nguy hiểm gì, mà lại được tiếng là kẻ thức thời.
Tôi là lớp trẻ vừa trưởng thành, vừa mới hiểu biết, trong thập niên 30-40. Chúng tôi thường thao thức theo tiếng gọi thức tỉnh của hồn nước, của các bậc tiền bối yêu nước như cụ Phan Bội Châu, cụ Huỳnh Thúc Kháng, ông Phan Châu Trinh, Tăng Bạt Hổ... Và cái chết oanh liệt của các bậc anh hùng Yên Bái Nguyễn Thái Học, Ký Con...đã khơi dậy lòng yêu nước khắp nơi.
Chúng tôi sống trong ký túc xá, giữa bốn bức tường kín học đường, song cũng biết được đại khái những hoạt động của các ông Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm, Trần Văn Ân, Hồ Hữu Tường, Hồ Văn Ngà... và vô số nhà trí thức Trung Nam Bắc... đã không chạy theo vinh hoa phú quý thuở bấy giờ mà lại dấn thân làm quốc sự. Những quyển sách quốc cấm như Phan Đình Phùng, Con hùm Yên Thế Hoàng Hoa Thám, Giặc Cờ Vàng... được chúng tôi lén lút chuyền tay nhau, nửa đêm chun vào cầu tiêu, xem mê mệt không thôi. Phong Trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục với những tổ chức đưa thanh niên du học nước ngoài, những trường bí mật đào tạo nhân tài đất nước đã nhiều đêm là mộng trắng canh trường của lòng trai háo hức dấn thân vào phiêu lưu của chúng tôi. Chúng tôi không còn lòng học hành nữa. Cái học trong nước, dẫu đến cao đẳng, cũng chỉ để làm nô lệ. Chúng tôi từng chứng kiến, căm hờn và ứa lệ, khi trông thấy đang trong giờ giảng bài, vị giáo sư đáng kính mến bỗng bị lính kính, mật thám Pháp vào lớp, xích tay lại dẫn ra xe ...
Giữa cái buổi giao thời đặc biệt ấy của đất nước, bọn thực dân cai trị cố tình bên trên đè ép xuống, dân chúng ở dưới ngộp ngạt trôi mình, có một số thanh niên Tây học, đâm ra hoang mang mất hướng. Một số bỏ sở làm lương to, đi lên núi Cấm tu hành, hoặc toan luyện bùa phép chống lại súng đạn, hoặc toan tìm hậu duệ các tiền bối kháng Pháp thời xưa ? Một số lại ủy mị hơn, tìm quên lãng hận mất nước trong làn khói phù dung ! Một số tìm đường trốn ra nước ngoài, cố sao móc nối được một anh thủy thủ ngoại quốc có tàu buông neo ở Nhà Rồng, năn nỉ sao cho anh ta thương tình dấu dưới hầm tầu để đi được thoát. Nếu rủi ra khơi rồi mà thuyền trưởng hay được, bất quá hắn xiềng chân lại, chờ đến một bến cảng nào đó thì tống khứ lên bờ, miễn đừng trong thuộc địa của Pháp thôi, là cũng sướng đời rồi ! Tuy không nói nhiều ngoại ngữ, chỉ biết tiếng Pháp rất hạn chế trong thương trường quốc tế, nhưng những thanh niên mạo hiểm vẫn tin tưởng ở sức lực và bàn tay tháo vát của mình để có thể kiếm được cái ăn qua buổi, miễn không ngửa tay xin ăn. Mà dù không kiếm sống được, chết đói xứ lạ là cùng, còn hơn sống nô lệ nơi quê nhà vốn nổi tiếng vựa lúa Châu Á !
Tôi có một số bạn bắt mối được với một bạn thủy thủ tàu buôn Pháp, bọn này đòi 50 đồng mới cho xuống tàu. Ba đứa đều là học sinh, còn trong cảnh cơm cha áo mẹ, làm sao có đến một số bạc to lớn như thế ? Bán cả đồ đạc, quyên góp khắp bạn bè mãi mới được 40 đồng, định sẽ năn nỉ xin bớt, chắc bọn chúng cũng chịu, nhưng khi đem tiền ra bến, hỡi ôi, con tàu buôn hôm nọ đã nhổ neo, ra lòng sông Sài Gòn rồi !
Sở dĩ tôi nói lên việc này là để cùng quý bạn hình dung lại thời điểm ấy của những công dân Việt Nam, như dòng sông Cửu Long đợt sóng này nối tiếp đợt sóng khác, đã ý thức được những việc cần phải làm của người bị trị. Quyền yêu nước không phải ở một người, ở một đảng phái nào. Bây giờ, người ta tha hồ tô hồng, chuốt lục lịch sử đảng họ. Bẻ cong cả lịch sử. Phủ nhận công ơn của những người ngoài đảng ta ! Các văn sĩ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nc thành đạo. Theo họ, họ bảo tu cho đất nước hòa bình, con người thương yêu con người hơn. Chỉ có tình thương yêu mới khai trừ họa chiến tranh. Chỉ có tình thương yêu, mới san sớt đồng đều, mới thông cảm nhau, không cần đấu tranh giai cấp !
Tôi hỏi người đệ tử của ông Đạo Dừa:
- Nghe nói Thầy anh muốn làm người hòa giải ?
- Phải. Cậu Hai yêu nước thương dân, không nỡ nhìn triệu triệu thanh niên ở hai phía bị nướng thiêu trong nạn nồi da xáo thịt. Chiến tranh đã hơn ba mươi năm, dân chúng điêu linh, xã hội tàn hoại, đất nước nghèo khổ lắm rồi, sao người ta lại không chịu ngưng tay ?
- Thấy anh tin là hai bên có thể ngồi lại với nhau?
- Cậu Hai tin ai cũng có lòng yêu nước thật sự. Lòng yêu nước đứng trên quyền lợi của bè cánh, đảng phái.
- Và Thầy anh tin "bác Hồ" sẽ từ bỏ đảng cộng sản? Hay đặt quyền lợi của đảng, của Nga Sô, của Trung cộng ra ngoài để cứu nước cứu dân ?
- Nếu ông Hồ yêu nước, ông phải làm như vậy !
Tôi khẽ thở dài:
- Thầy anh chủ trương tốt, nhưng tình hình chính trị phức tạp lắm, lại thêm lòng dạ tham lam của con người, tham vọng của quốc tế... Không như việc Thầy anh nuôi con mèo chung với con chuột một lồng...
- Thú vật còn biết dung nhau, con người lại không thể sao? Việc nước nhà mình đã đến lúc mình phải tính với nhau, không cần đến anh Mỹ, anh Nga, anh Tàu chen vào nếu họ không có thiện chí giúp đỡ !
- Tôi sợ Thầy anh ôm mãi cái không tưởng ấy. Giá mà thành được như thế, người dân Việt nào lại không thích ?
Về sau, tôi lại nghe tin ông Đạo Dừa trở về Cồn Phụng, tức là cái cồn đất ông trèo lên ngồi trên cây dừa mấy mươi năm về trước. Khi ấy cồn đã có đông dân cư tụ tập. Nhà ở khang trang. Dân tình dễ sống. Có văn hóa. Có tình người. Có trật tự. Có cả mấy người Mỹ tu ở đấy. Ai trông thấy tướng đi lênh khênh của họ trong bộ quần áo bà ba màu vàng may rộng khổ mà vẫn thấy túm bó, với đôi bàn chân đi đất rón rén của họ, đều phải che miệng cười. Nhưng là cái cười đầy thiện cảm, thân ái. Họ gặp ai cũng chắp tay cúi đầu, nói trọ trẹ :
- Chào ông !... Chào bà !... Chào anh !... Chào chị !... Mạnh giỏi !
Nơi Cồn Phụng còn treo một biểu ngữ to Bất Chiến Tự Nhiên Thành. Đó là một câu sấm xưa từ mấy trăm năm, mà người ta cho là trong bài sấm Trạng Trình, tiên đoán về hậu vận nước nhà. Nhưng không ai hiểu câu sấm ấy ứng vào thời kỳ nào? Sao không đánh nhau mà thành? Và cái thành ấy có lợi cho phe nào? Tôi thầm nghĩ ông Đạo Dừa đưa lên câu biểu ngữ để kêu gọi ngưng chiến.
Nơi bến cồn có đậu một chiếc tàu sắt mà ông Đạo Dừa cho trang trí theo mỹ thuật Việt Nam và đặt tên là thuyền Bát Nhã. Trên con thuyền rộng lớn ấy, nơi phía trước, ông bầy ra nhiều hàng ghế sắt cho du khách ngồi. Nhiều phái đoàn ngoại quốc đến phỏng vấn ông, thu băng, quay phim. Ông ngồi nơi chiếc ghế đặt phía trước, có hai đệ tử đứng hai bên. Chính hai đệ tử nọ trả lời những câu hỏi của khách, thỉnh thoảng ông mới biên vào giấy cho họ phát biểu thêm những chi tiết.
Tôi đến nhằm lúc hết giờ phỏng vấn, nhưng cũng được đệ tử của ông nói về chánh kiến của đạo. Ông nhận ra tôi, chỉ mỉm cười. Nụ cười hiền hòa và thân thiết. Ông vẫn không ngớt tay lẫy những hột bắp, để sau đó tự ông nấu lấy ăn. Trước kia ông chỉ uống nước dừa. Dạo sau này, vì làm việc nhiều, vì đệ tử khuyên lơn, ông mới ăn thêm buổi ngọ (buổi trưa) bằng bắp nấu. Tôi trông thấy ông gầy ốm quá, thân hình nhỏ thó, đôi tay khẳng khiu, mặt thỏn như trẻ nít, song đôi mắt tinh anh sáng rực khác thường. Các phóng viên truyền hình ngoại quốc không ngớt tỏ vẻ kinh ngạc và thán phục trước một ông già ốm tong teo như cây sậy mà lại có một mãnh lực chịu đựng kiên cường. Tự ông làm ra thức ăn cho ông, tuy rằng đệ tử của ông rất đông. Nếu ông để cho họ phục dịch, chắc họ sung sướng lắm. Nhưng ông chủ trương có làm mới có ăn, ông phải tự tay làm lấy thức ăn cho ông. Nếu ông bị rủi ro nằm bệnh ngày nào, ngày đó ông nhịn đói. Không ai khuyên lơn, năn nỉ ông được một miếng nào. Tôi trông thấy những việc ông làm, lòng vơi bớt đi những thành kiến thắc mắc về ông. Ông thật sự thể hiện tình thương yêu to lớn. Ông xót xa đau đớn khi thấy chiến tranh kéo dài, dân tộc điêu linh tang tóc, đất nước kiệt quệ tài nguyên, lẽ ra có thể làm dân giàu, nước mạnh! Nhưng giữa khi đôi bên say chiến, nhất quyết một được một thua, tiếng gọi hòa bình của ông chỉ là tiếng gào khản trong sa mạc! Rồi đây, Cồn Phụng của ông, nơi ông tạo được một xã hội kiểu mẫu nho nhỏ ấy có được yên? Thân phận của ông và bầy đệ tử rồi sẽ nổi trôi, chìm ngụp thế nào trong cảnh biến loạn tang thương của đất nước ?
Đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, cái ngày uất hận của người Việt tự do ! Cộng sản đã thôn tính được miền Nam Việt Nam, và chỉ qua một thời gian ngắn đã làm cho toàn quốc đói rách và sa đọa hơn bao giờ hết ! Tôi lại gặp ông Đạo Dừa trong ngục thất Cần Thơ. Đầu tiên, tôi trông thấy ông, cũng như tôi, bị liệt kê vào thành phần tối nguy hiểm và bị biệt giam. Tức là nhốt trong co-nét, thùng sắt to tướng đựng đồ viện trợ của Mỹ hồi xưa. Mỗi người một co-nét. Nằm ngồi, ăn uống, ỉa đái -- xin lỗi độc giả -- cũng tại chỗ. Cửa co-nét đóng lại, mình một mình trong tối bưng, trơ trọi và... thối bung ! Không trông thấy ánh sáng mặt trời, mặt trăng. Không biết ngày tháng, thời khắc. Thỉnh thoảng mới được chúng mở cửa co-nét dọn dẹp vệ sinh. Ôi mừng ơi là mừng. Mừng trông thấy được ánh sáng. Trông thấy những vật cử động sao lạ mắt quá chừng ! Mới biết rằng mình còn sống ở nhân gian !
Bọn cai tù, bọn cán bộ, đối xử rất tàn nhẫn. Chúng ngoài miệng nói khoan hồng mà lòng thâm như rắn độc. Vô cớ cũng chửi rủa hạ nhục. Chúng như thể rửa hờn giai cấp bằng trút lên đầu kẻ sa cơ, thất thế dưới tay chúng. Chúng oán ghét ông Đạo Dừa vô cùng. Chỉ có ổng thản nhiên và coi thường chúng. Chúng càng đọa đầy ông bao nhiêu, ông càng quyết liệt và quật cường bấy nhiêu. Quyết không chịu thua chúng. Và lắm lần hành hạ ông mãi không xong, chúng phải chịu thua ông. Ông phản đối chúng bằng cách gõ cái ca uống nước vào cửa co-nét... xèng xèng... xèng xèng... có khi cả ngày không ngớt tiếng...
Tên lính gác bực mình quát hỏi :
- Làm gì om sòm thế ? Giờ này khuya rồi, làm thế ai ngủ được ?
Tiếng nói chậm rãi và rắn rỏi của ông Đạo Dừa đưa ra sau cửa co-nét:
- Cậu ơi, tôi thương cậu lắm...
- Tôi chả cần ông thương !
- Có ai ngăn trở được tình thương ? Cậu không cần tôi thương là quyền cậu. Còn tôi thương cậu là quyền tôi. Tôi thương cậu chỉ là một kẻ tay sai. Như thiên lôi, lịnh trên bảo đánh đâu là phải làm vậy thôi. Thương cậu chiến đấu mấy năm trời, vào sanh ra tử biết bao lần, rốt cuộc cũng chỉ là anh lính gác, thương cậu chức vụ bé nhỏ quá, không làm sao giải quyết nổi chuyện của tôi ...
- Nhưng ông muốn gì ?
- Thương cậu quá ! Cậu không giải quyết nổi, hỏi làm gì. Cậu kêu người lớn hơn cậu lại cho tôi nói chuyện.
- Giờ này mấy đồng chí cán bộ ngủ cả rồi.
- Tôi thương cậu quá ! Nhưng khỏi cần nói chuyện với cậu.
Ông Đạo Dừa lại gõ lanh canh... lanh canh... Gõ nhịp đều như tiếng mõ hồi một. Mấy người bạn tù gần đấy giật mình thức giấc, thì thầm bảo nhau :
- Cậu Hai lại tranh đấu nữa rồi Bọn quản giáo, cán bộ rồi đây khổ sở với cậu không ít !
Những người bị "học tập cải tạo" bất đắt dĩ ấy tuy phải làm lụng cực nhọc ban ngày, ban đêm cần giấc ngủ cho lại sức, song không phiền hà khi phải thức giấc vì tiếng khua lon của ông Đạo Dừa. Trái lại, họ rất thích cảnh ông Đạo Dừa chống báng lại bọn hung tàn giết người không gớm tay ấy. Chỉ có ông Đạo Dừa mới dám làm, mới không biết sợ, không khuất phục trước uy vũ. Ông gõ lon gọi mãi cho đến khi tên lính canh phải đi gọi tên cán bộ cai tù đến. Tên này quát tháo lên :
- Ông muốn gì ?
Giọng nói của ông Đạo Dừa từ trong co-nét đưa ra, mềm mỏng, ngọt ngào :
- Tôi thương chú cán bộ quá. Thương chú đang ngủ ngon giấc mà bị dựng dậy vì tôi. Nhưng đành phải gọi chú nửa đêm, nửa hôm như thế này là vì tôi bị... bỏ đói !
Bọn quản giáo, thường ngày hay sừng sộ, mắng chửi phạm nhân. Với ai dầu già lão, bạc phơ tóc trắng, chúng cũng gọi là anh, tức là tử tế lắm rồi. Song đặc biệt chúng lại gọi ông Đạo Dừa là ông.
Tên cán bộ bực tức bảo :
- Ai bỏ đói ông ?
- Không bỏ đói tôi, sao không cho tôi uống nước dừa ?
Tên cán bộ mở cửa co-nét, chỉ tay về ổ bánh mì và lon sữa :
- Không có nước dừa nhưng có bánh tây và sữa đây thôi !
- Tôi không ăn những thứ đó. Tôi chỉ uống nước dừa.
Ông trả lời rất quả quyết. Tên cán bộ cầm ổ bánh mì lên xem có bị cắn mất miếng nào hay chăng ? Lại bưng lon sữa xem xét tỉ mỉ. Hắn nghi ông Đạo Dừa giả bộ không ăn, nhưng kỳ thật đã nhấp nháp chút ít rồi giả bộ làm khó. Nhưng ổ bánh mì vẫn y nguyên, cả lon sữa cũng vẫn còn đầy. Mùi bánh và mùi sữa đưa vào mũi hắn, thơm ngon đến nỗi hắn phải nuốt nước bọt đến đánh ực một cái trong cổ họng. Hắn ăn no đầy đủ thế mà thấy ổ bánh và sữa ngọt bùi, béo bổ phải thèm rỏ dãi, thế mà lão già ốm nhom kia lại có gan cóc tía, đã đói rã ruột, vẫn chẳng thèm rớ tới.
Gã dằn ổ bánh mì và lon sữa xuống nền sắt co-nét, sầm nét mặt bảo :
- Ngon bổ thế này mà ông chê. Chả có thứ khác đâu !
Ông Đạo Dừa vẫn ngọt ngào :
- Tôi thương chú cán bộ ! Chú nhỏ chức quá, không giải quyết được vấn đề của tôi. Thương đã làm mất giấc ngủ của chú. Thôi chú về ngủ lại đi. Để tôi gọi cấp trên của chú. Tôi thương chú ít quyền quá !...
Và rồi ông lại gõ lanh canh... lanh canh... Gõ đến sáng vẫn không dứt tiếng. Tên trưởng trại phải đến gặp ông :
- Ông đòi hỏi chuyện ngoài luật lệ của nhà tù.
- Mấy chú bỗng dưng giam cầm tôi, giam cầm hàng ngàn người vô tội, có theo luật lệ nào không ?
- Mấy người có nợ máu với nhân dân. Còn ông là tay sai của CIA.
- Chú có biết CIA là thế nào mà mở miệng ra là buộc tội cho mọi người. Ai làm sở Mỹ là CIA ? Tiếp xúc với người Mỹ là CIA ? Biết tiếng Ăng-lê cũng là CIA ? Học thức một chút cũng CIA. Chỉ có bần cố nông mới không là CIA ? Thế hồi Việt Minh còn ở chiến khu Việt Bắc, có Mỹ trợ lực cho cũng là CIA ? Bác Hồ lúc ấy cũng CIA ?
- Này ông đừng nói bậy mà khốn !... Cứ nói đến việc ông kêu đói. Tại ông chê thức ăn đặc biệt của nhà tù cho ông dùng....
- Ê, không phải à. Thức ăn đó Tín hữu của tôi gởi cho. Tôi thương chú Trưởng trại nói sai. Cố tình bóp méo sự thật. Tín hữu của tôi sợ tôi bị bỏ đói chết nên mới gởi vào cho dừa nước, bánh mì, sữa ... Tôi không ăn bánh mì sữa, chỉ muốn nước dừa thôi. Tôi thương Trưởng trại không giải quyết nổi việc này, thì tôi gọi cấp Đảng ủy của quản giáo vậy!
Và ông lại gõ lanh canh... lanh canh.... Bọn cai tù nghiến răng căm tức lắm mà không làm gì đặng ông. Chúng không muốn ông bị chết đói để khỏi bị mang tiếng. Nhưng ông Đạo Dừa cũng biết như vậy, vẫn kiên trì mà sống. Như thể thi gan luôn cả đến cái chết. Trưởng trại và bọn quản giáo phải họp khẩn cấp. Dừa trái thì có sẵn do đệ tử của ông Đạo Dừa gởi vào, nhưng ai chặt cho ông uống? Lũ răng đen mã tấu chặt đầu người thì sành, nhưng chặt quả dừa đâu có biết ! Chúng đâu dám phát dao cho ông. Nhỡ ông lấy dao rạch bụng tự tử thì sao ? Bàn cãi mãi, chúng mới nẩy ý kiến tìm trong số tù gốc người Bến Tre ra chặt dừa cho ông. Chúng gọi anh NVA ra, bảo đem dừa đến cho ông uống. Anh này ngơ ngác, bảo :
- Tôi có biết chặt dừa đâu ?
- Anh là dân Bến Tre mà không biết chặt dừa ư ?
- Tôi chèo đò. Có vườn dừa đâu mà biết chặt.
Có anh TVT tình nguyện ra. Anh này trước có bán dừa, biết cách thức. Anh chỉ cần dựng đứng trái dừa, bổ ba nhát dao, chặt xéo nơi núm dừa thành tam giác, bật tung núm dừa ra, không một giọt nước sóng sánh ra ngoài. Anh bưng quả dừa đến bên ông Đạo. Tuy anh không phải là đệ tử, anh cũng cung kính bảo nhỏ:
- Cậu Hai uống đi để mà sống.
- Cám ơn em. Tụi này bạo phát, bạo tàn. Qua sẽ không sống đến ngày đó. Qua biết chúng quyết làm cho qua chết. Nhưng thể xác thời chết chứ tinh thần thời không !
Bọn Việt cộng hành hạ ông Đạo Dừa đủ cách. Chúng lôi ông ra để tắm rửa cho ông:
Ông ở dơ quá không chịu tắm rửa, không thay đổi quần áo, hôi hám kinh tởm quá. Lại chí rận, bọ chét cùng mình, lây bịnh nguy hiểm cho cả khám !
Chúng cầm vòi nước xịt vào ông. Nước xịt rất mạnh, làm ông té lăn lốc. Ông cố gắng bò dậy. Lại bị nước bắn tung người đi, lăn cuồng như bông vụ. Ông không hề rên rỉ, than van một tiếng. Vẫn gượng ngồi dậy, lại té lăn. Chúng cười ầm lên. Ông vẫn cương quyết không khuất phục. Bọn tù chúng tôi nhìn ông, xót thương biết mấy, và khâm phục ông không lời nào cho xiết. Ông bao giờ cũng ngẩng cao đầu không cúi luồn. Cả đời ông bị tù đầy cũng lắm, ông sợ gì lũ trẻ ranh muốn giết ông mà khỏi mang tiếng này ! Chả bù trong khám, biết bao kẻ xưa kia giầu sang danh giá, oai quyền hống hách, bây giờ khúm núm sợ sệt trước lũ cán bộ ngu dốt :
- Dạ bẩm thưa cán bộ, em lỡ lầm, lần sau không dám. Xin cán bộ rộng lòng tha thứ một phen.
Một điều dạ thưa, vâng bẩm, khúm núm, sợ sệt, như muốn thun người nhỏ bớt đi. Uốn lưng khòm cong lại, cầu an, tắc trách, thủ phận mình, quên đồng bạn. Lại còn một hạng khác, ti bỉ hơn, cam làm ăng-ten cho thù. Phản bạn, bội tình đồng ngũ, nghĩa bạn bè, để được một lời hứa sẽ cứu xét cho về sớm, hoặc được một vài ân huệ cỏn con... Ôi, điếm nhục !
Tôi nhìn gương can cường của ông mà lại xấu hổ cho mình. Mới bị tù đầy vài bận thôi mà tôi tưởng rằng hãnh diện lắm. Tù Pháp thuộc tôi có ở. Tù Nhật Bổn tôi cũng đã nếm mùi. Rồi lại tù Việt Minh vào măn 1945, lại còn hai năm vướng mắc trong nhà tù của chế độ trước vì chống nạn độc tài tham nhũng nữa ! Nay lại vào khám Cần Thơ, bị liệt vào thành phần biệt giam nguy hiểm, biết chừng nào được ra? So với các bậc cách mạng xả thân tranh đấu thời trước, tôi nào có ăn nhằm gì ?
Trừ lúc ở tù Việt cộng những năm ấy ra, cảnh ngồi tù Nhật Bổn là đáng nhớ nhất. Năm ấy 1942, tôi bị Hiến binh Nhật bắt giam ở "Chambre de Commerce" ở bến sông Sài gòn, sau này là Thượng Nghị Viện của chế độ trước. Vì tội rải truyền đơn chống thực dân, cả Pháp lẫn Nhật, mà bọn Hiến binh nghi tôi là gián điệp Trùng Khánh. Chúng giam vào phòng Thương Mại ấy, hai bên là chỗ giam người có song gỗ chắn trước mặt, chừa một lối đi ở giữa. Mỗi sáng, 7 giờ, tụi Nhật cho chúng tôi đem thùng vệ sinh ra đổ xong lại bưng vào căn phòng giam hẹp của mình. Chúng bắt ngồi xếp bằng, thẳng lưng lên, tay để nơi đầu gối, không được nhúc nhích. Sáng ngồi tới 12 giờ trưa, được nghỉ ngơi cơm nước. Cơm thì được phát một chén gạo Thái Lan dẻo như nếp, có nêm tí muối. Chiều 2 giờ ngồi đến 6 giờ mới được nghỉ ngơi, cơm nước như khi trưa. Tối lại phải ngồi từ 7 giờ đến 9 giờ mới có quyền nằm xuống. Khi ngồi, phải ngồi yên như pho tượng. Nếu mỏi mệt khom lưng, nghiêng quẹo người, hay lệch đầu qua bên là bị một côn gỗ gõ đánh cốp trên đầu như bị sét đánh, tá hỏa tam tinh! Đó là thằng đội Trâu, thân hình trùng trục như con trâu nước, đầu vấn khăn lông trắng, dưới bẹn thắt cái khố, đi qua lại nơi khoảng đường giữa, vai vác cây gậy gỗ tròn và nặng. Nó thường đập chẩy máu đầu tội nhân. Đấy là chỉ trừng phạt sơ sài về tội ngồi không thẳng thắn thôi. Còn khi bọn Nhật tra khảo để lấy lời cung khai thì thật kinh khủng rởn cả tóc gáy. Cứ hai thằng Nhật thân hình như hộ pháp quần một phạm nhân; vật, ném, tung, hứng... nạn nhân của chúng như quả bóng rổ ! Thường thì có máu đổ, nạn nhân chết giấc năm ba phen mới tạm được buông tha cho về khám. Khi ấy tôi còn trẻ, háo động, làm sao ngồi yên tĩnh như thế từ giờ này sang giờ khác được. Nên cũng đã nếm mùi côn gỗ bao nhiêu phen.
Một hôm tôi trông thấy có một con gián bò ở kẹt song gỗ. Tôi mừng như bắt được vàng. Có được một sự sống động dưới mắt. Trông nó chạy tới chạy lui, cũng đỡ buồn trong cảnh hoang lương, tịch mịch. Dầu rằng khít bên đó cũng có nhiều bạn đồng cảnh, nhiều pho tượng sống ! Tôi khi ấy chưa biết trầm tĩnh, nhẫn nhục của người luyện công tĩnh tọa. Dẫu có nén lắm, lòng vẫn xôn xao không định.
Đến nay, trông thấy ông Đạo Dừa nhẫn nại, trầm tĩnh và xem thường bạo tàn, vũ lực của chúng, tôi mới thấy đó làm gương cho mình. Quyết không ủy mị, buồn rầu, khổ đau, rên rỉ dưới bạo tàn. Ông Đạo Dừa bị xịt nước ướt loi ngoi, nằm im trong vũng nước lênh láng, da thâm tím lại. Nhưng một lát sau ông lại lồm cồm bò dậy. Lại ngồi xếp bằng ngay ngắn, ngẩng cao đầu. Trông thấy hình dáng gầy gò, ốm nhom của ông, da bọc trơ xương như cái xác ướp khô mà đôi mắt vẫn linh động, vẫn ảnh hiện tình nhân đạo, vị tha bao la ...
Ông thường chống đối bọn Việt cộng :
- Các anh mà cách mạng cái gì ? Cách mạng gì không biết thương dân, yêu nước, cam làm tay sai ngoại bang. Cách mạng gì mà giam cầm hàng triệu người vô tội ? Làm hằng triệu người tán gia bại sản, tan nát gia đình ? Làm cho sáu mươi triệu đồng bào phải rách rưới đói nghèo, không trông thấy ánh sáng hy vọng nào, một tương lai tốt đẹp nào. Thiên đường hứa hẹn của cộng sản các anh là hố thẳm muôn đời chôn vùi dân tộc !
Bọn chúng giam nhốt ông vào chuồng chó. Đó là một nơi nhỏ hẹp bên vòng rào, có mái thiếc che thấp, có giây chì gai bao quanh. Trước kia nơi đó nhốt chó nên có danh từ chuồng chó. Ban ngày nắng rọi xuống mái thiếc nung nóng như lò lửa. Đêm đêm về, gió khuya lạnh buốt như cắt da. Đến chó ở đấy còn chịu không nổi huống chi con người. Nhưng ông Đạo Dừa vẫn bền bỉ chịu đựng. Mềm dẻo như cây sậy giữa phong ba. Dầu cho cuồng phong, nghịch khí đến đâu, cây sậy tạm thời phải cong, phải ngả nghiêng, oằn oại trước bạo lực đàn áp hung tàn, nhưng không đổ gẫy !
Bọn Cộng sản chỉ muốn ông Đạo Dừa khuất phục chúng, thốt ra lời hứa hẹn với chúng không tranh đấu nữa, không chống đối nữa. Chúng chẳng những buông tha ông, còn cho ông những ơn huệ đặc biệt, hậu hĩ hơn người. Xưa kia, Pháp không mua nổi ông, Nhật không dụ dỗ ông nổi, Việt cộng nào đáng gì để ông nghe theo !
Cuối năm đó tôi bị chuyển trại. Khi đi ngang qua chỗ ông ngồi, tôi khẽ cúi đầu như chuyển lời nói qua tâm tưởng với ông:
- Cậu Hai ráng gượng sống...
Ông mỉm cười nhân hậu. Nụ cười ngậm ngùi vĩnh biệt!
Mấy năm sau, tôi được trả tự do. Không tội gì, mà mất tự do rồi được trả ! Và sau ba chuyến vượt biên cam go, tôi thoát ra được nơi vùng trời tự do. Nhờ vẫn đeo đuổi chí hướng phục quốc, tôi lê một giò qua nhiều nơi Âu, Mỹ, cả Á Châu. Khi đến địa phương nào có trồng cây dừa, tôi bất giác nhìn lên ngọn cây, liên tưởng đến ông Đạo Dừa. Hình bóng của người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Thành Nam hiện ra mờ ảo trước mắt tôi. Gầy gò ốm yếu, tưởng chừng gió thổi cũng bay như ông, ngờ đâu lại có lòng sắt đá kinh người ! Tôi nghe như văng vẳng bên tai những lời nhỏ nhẹ của ông:
- Tôi thương mấy chú lắm, mấy chú Việt Cộng ơi. Mấy chú ngu dại lắm. Mấy chú không biết bạo tàn, bạo diệt ! Chỉ có nhân nghĩa mới trường tồn !
Năm 1988, tôi gặp một người bạn mới vượt biên sang, bảo rằng ông Đạo Dừa đã tịch ! Tôi bỗng nhiên cay xè mắt, đôi giòng lệ tiếc thương chan hòa ... Cộng sản Việt Nam phạm rất nhiều lỗi lầm đối với Quốc gia, Dân tộc, trong đó có sự giết hại nhà chí sĩ hiếm có Nguyễn Thành Nam. Ông Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam là người trí thức cuối cùng đã hạ mình xuống tin tưởng vào thiện chí của Việt Cộng, dẫu sao cũng có lòng xúc động trước cảnh huynh đệ tương tàn... Nhưng ông đã mang mối thất vọng đấy xuống tuyền đài ...

Đến hôm nay, trong cộng đồng người Việt hải ngoại, có một thiểu số trí thức thơ ngây cụ hoặc hoạt đầu, đang toan luồn lưng, cụp gối hòa hợp, hòa giải với Cộng Sản Việt Nam bá quyền và ngoan cố. Các vị ấy có biết chăng đang vô tình nối giáo cho giặc ? Cùng a tòng vào tội phản dân, hại nước ? Xin hãy xem gương chiến đấu can cường của ông Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam và vô số chiến sĩ cách mạng đã bị Việt cộng hãm hại chết, để làm đài soi lại lương tâm mình !
Kẻ hèn này, cùng đồng bào trong và ngoài nước, rất mong được vậy lắm thay !


Hoàng Ngọc Giao

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Nhớ Nguyễn Đức Quang với Chuyện Quê Ta
Tác giả : Bùi Văn Phú
Chương trình đúng ra chấm dứt với bản đồng ca nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (1944-2011), bài “Việt Nam quê hương ngạo nghễ”, nhưng theo lời yêu cầu của một số người tham dự, Đoàn Du ca Bắc California đã quay trở lại sân khấu nhỏ của Hội An Bistro để cùng hát “Đường Việt Nam”, một ca khúc khác cũng dâng trào hào khí đấu tranh của thanh niên Việt trong thế kỉ trước.

Nhưng càng mưa giông càng vươn tới
Bước chân hùng còn đi rất hăng
Đi dựng lấy quê nhà
Giống da vàng nầy là vua đấu tranh…

Bài hát kết thúc sinh hoạt kỉ niệm một năm ngày người anh cả của phong trào du ca Việt Nam qua đời. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang giã từ cõi trần vào cuối tháng Ba năm ngoái, để lại cho tuổi trẻ, cho quê hương Việt Nam nhiều bài ca sinh hoạt toát lên tình tự quê hương và tấm lòng dấn thân của thanh niên đối với đất nước trong những năm của thập niên 1960 và 70 ở thế kỉ trước.

Image
Nguyễn Quyết Thắng và Minh Chiến đến từ Hoà Lan. (ảnh Bùi
Văn Phú)


Nhân kỉ niệm một năm ngày mất Nguyễn Đức Quang, tuần trước đó dưới miền nam California đã có sinh hoạt tưởng nhớ anh, hôm nay đến lượt San Jose. Trong một buổi tối trời mưa, một trăm con tim với những yêu thương nồng ấm dành cho Nguyễn Đức Quang đã đến với nhau, hát cho nhau nghe và cùng hát bên nhau.

Với tấm lòng đó, có những du ca đến từ phương xa, tận mãi Hoà Lan, là anh Nguyễn Quyết Thắng và hiền thê là chị Minh Chiến.

Anh Thắng cũng là một trong những huynh trưởng du ca Việt Nam với nhiều bài hát đã đi vào lòng người, được biết đến nhiều nhất có lẽ là bài “Nằm vắt tay lên trán” mà chị Xuân Liên, chủ quán, trong lời giới thiệu đã nói dù ngày xưa còn bé, chưa tham gia phong trào nhưng chị cũng đã biết đến lời ca đó.

Hôm nay anh Nguyễn Quyết Thắng và chị Minh Chiến hát những phiên khúc và mọi người đồng ca điệp khúc:

Nằm vắt tay lên trán
ta nghĩ đến chuyện cuộc đời
Ngồi bấm đốt ngón tay
ta nghĩ đến chuyện ngày mai.
Image
Nguyễn Thiện Cơ (bên phải) và Trần Anh Kiệt với “Nỗi buồn nhược tiểu.” (ảnh Bùi Văn Phú)

Sau đó anh chị cũng hát bản tình ca quen thuộc của Nguyễn Đức Quang “Người yêu tôi bệnh”:

Nắng nóng cháy da đã về rồi
Trên thân người đẹp tôi
Bão tố buốt xương cũng về rồi
Cho thêm tàn phai…
Giờ còn có nhau
Giúp nhau cho thật nhiều
Ngày nào mất nhau
Sớt chia chẳng được đâu.

Lời ca ôi sao mang tính nhân bản, nhắn nhủ con người nâng đỡ, đùm bọc khi còn bên nhau. Trong những lần Nguyễn Đức Quang hát lời ca này, anh nói người yêu của anh chính là quê hương Việt Nam trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng đầy những gian truân của thập niên 1960.

Sinh hoạt tưởng nhớ Nguyễn Đức Quang có sự tham dự của nhiều người của cộng đồng, giới quân nhân như cựu sĩ quan Bùi Đức Lạc, Nguyễn Mộng Hùng, Thái Văn Hoà; luật sư Nguyễn Thành là người thày của Nguyễn Đức Quang ở Đại học Đà Lạt đã đưa anh vào sinh hoạt học đường. Có nhà văn Thanh Thương Hoàng, nhà thơ Hải Phương, giáo sư Nguyễn Châu, bác sĩ Huỳnh Quan Minh. Giới nghệ sĩ có hoạ sĩ Trương Thị Thịnh, Quế Hương, các nhạc sĩ Trần Quảng Nam, Trần Chí Phúc. Những nhân vật cộng đồng như ủy viên giáo dục Vân Lê, ông Đỗ Hùng, các ứng viên hội đồng thành phố San Jose là Tâm Trương và Jimmy Nguyễn.

Image
Đoàn du ca Bắc California trong đêm hát “Chuyện quê ta” kỉ niệm một năm ngày mất Nguyễn Đức Quang. (ảnh Bùi Văn Phú)

Cũng đến từ phương trời rất xa là du ca Nguyễn Thiện Cơ, sau nhiều năm ở Hoa Kỳ đã trở về Việt Nam sinh sống. Anh trở lại Mỹ để tham gia những sinh hoạt tưởng niệm một người anh. Nguyễn Thiện Cơ và Nguyễn Đức Quang là bạn từ thuở thanh niên, cùng nhau ôm đàn hát ca, sang Mỹ ôm máy tính làm báo, tiếp tục sinh hoạt du ca. Sau những năm làm báo Người Việt của anh Đỗ Ngọc Yến, hai anh ra riêng làm tờ Viễn Đông. Nhưng làm báo không phải là đam mê nên các anh bỏ nghề.

Anh Nguyễn Thiện Cơ, cùng với chị Bích Hạnh là người gần gũi với anh Quang trong những ngày cuối đời đến tham dự có đem theo vài chục tập nhạc “Những ca khúc cuối cùng” và DVD/Karaoke “Ca khúc Nguyễn Đức Quang” để phổ biến và đã được sự ủng hộ nhiệt tình của khách.

Tối nay anh Cơ ôm đàn hát “Nỗi buồn nhược tiểu”, cùng với du ca Trần Anh Kiệt, trầm buồn và hùng tráng như quê hương, như con người Việt Nam:

Tôi trót sinh ra làm dân nhược tiểu
Vú mẹ gầy cơm chẳng nuôi thân
Vắt tình này thôi máu mẹ nuôi con…
Hãy đứng dậy hỡi anh này
Hãy đứng dậy hỡi em này
Bao người con Việt Nam
Cùng tay cầm tay dựng xây đất nước
Cho đất Việt hết điêu tàn
Cho nước Việt hết nguy nàn
Cùng chung lưng nhìn quê hương
Tiến bước lên nhịp nhàng.

Sinh hoạt tưởng nhớ Nguyễn Đức Quang tối thứ Năm 12/4 với chủ đề “Chuyện quê ta” do Đoàn Du ca Bắc California tổ chức. Trong vài năm qua đoàn có những sinh hoạt nhằm khơi động tinh thần du ca trong giới trẻ. Hướng dẫn đoàn có anh Nguyễn Tâm, anh Trương Xuân Mẫn nguyên đoàn phó Du ca Đà Nẵng. Gần đây có sự tham gia của anh Trần Anh Kiệt, nguyên đoàn trưởng Du ca Phù Sa, An Giang.

Image
DVD với 15 ca khúc của Nguyễn Đức Quang được nhiều người biết đến như “Anh em tôi”, “Không phải là lúc”, “Đường Việt Nam.”
(ảnh Bùi Văn Phú)

Tiếng hát du ca bắc California cất lên xen kẽ nhau, với đồng ca khai mạc “Đoàn ta ra đi” là hiệu ca của phong trào, với “Người anh du ca”, sáng tác của Tâm Nguyên ghi lại cảm nhận khi hay tin Nguyễn Đức Quang qua đời.

Đồng Thảo, Trần Anh Kiệt và Nguyên Nhu cùng hát “Lìa nhau”. Nguyên Nhu với “Một giấc chiêm bao”, Đồng Thảo hát “Cần nhau”, Mây Lan với “Im lặng là đồng lõa”, “Có những khi”, Anh Thư qua “Bên kia sông”.

Anh Nguyễn Thiện Cơ sau “Nỗi buồn nhược tiểu” còn hát “Chắc là em đã” và “Hàng ngàn cây số”:

Vì tôi đã xa quê hương cả ngàn cây số
Và tôi vẫn rất chán ghét nghe tiếng còi tàu…
Bài hát phảng phất âm điệu bài dân ca Hoa Kỳ “500 Miles”.

Anh Nguyễn Quyết Thắng và hiền thê, sau những bài ca rất phổ thông của Nguyễn Đức Quang, đã đóng góp cho chương trình với những sáng tác của chính anh như “Về miền gian nan” phỏng theo một điệu dân ca Israel và “Những nụ bông cau” từ ý thơ Đoàn Minh Khánh cảm tác sau một lần lấy khẩu cung một bà mẹ trong trại tạm cư Ban Mê.

Những bản đồng ca được đoàn viên du ca cất lên: “Về với mẹ cha”, “Ngày ấy đất nước hồi sinh”, “Đường Việt Nam” luôn tạo hào khí trong lòng người vì những tâm tình đó còn đọng lại trong trí nhớ nhiều người Việt ở hải ngoại được tự do ca hát. Có một khách ngồi đối diện, mới từ Việt Nam sang thăm Hoa Kỳ, tuổi chừng trên dưới 40, khi chúng tôi hát những bài đồng ca quen thuộc, tôi quan sát vị khách đó thấy như không có chút gì thân quen với ca từ của Nguyễn Đức Quang.

Nhìn lên sân khấu nhỏ, đoàn du ca đứng trước cảnh Chùa Cầu ở Hội An, tôi vừa cất tiếng hát vừa thả hồn bay xa về nơi quê nhà, tưởng tượng rồi tự hỏi bao giờ chúng tôi và những người trẻ Việt Nam được quây quần ở đó, hát vang:

Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông miệt mài
Từng giờ qua, cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng.
© 2012 Buivanphu.wordpress.com

Bùi Văn Phú

Post Reply