Bình Luận Thời Sự
Huynh Đệ Tương Tàn
Tác giả : Trần Khải Trong những ngày tháng tư, có một câu hỏi thường được nêu ra: Bản chất cuộc chiến Việt Nam là gì?
Đã có rất nhiều xương máu đổ ra cho cuộc chiến một thời bi thảm nhất trong lịch sử Việt, và câu hỏi này vẫn liên tục nêu ra cho nhiều thế thế. Nhiều nhà văn ở cả hai miền bây giờ đã cùng công nhận rằng: Cuộc Chiến Việt Nam thực sự là cuộc chiến huynh đệ tương tàn.
Nhà văn Trần Viết Đại Hưng, từ Lawndale, Los Angeles, trong bài viết vào trung tuần tháng 4-2001 mang tựa đề “Sự Oan Trái Của Tình Ruột Thịt” đã nói thẳng bản chất cuộc chiến, rằng đây là huynh đệ tương tàn.
Bài viết trích:
“Cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam trong suốt hai mươi mốt năm (1954 -1975) được gọi dưới nhiều tên khác nhau. Có người gọi đây là một cuộc chiến ủy nhiệm, Mỹ ủy nhiệm cho miền Nam cái nhiệm vụ bảo vệ tiền đồn của thế giới tự do; Trung Cộng và Nga Sô ủy nhiệm cho Miền Bắc nhiệm vụ của thế giới vô sản là tấn công vào thành trì của tư bản (Miền Nam) do Mỹ ủng hộ. Cộng Sản Bắc Việt coi đây là một chiến tranh giải phóng; Miền Nam coi là một cuộc chiến tranh tự vệ chống lại sự xâm lăng từ miền Bắc. Nhạc sĩ Trịnh công Sơn vừa mới qua đời coi cuộc chiến này là "hai mươi năm nội chiến từng ngày". Thật ra, cuộc chiến Quốc -Cộng hôm nay không giống như cuộc phân tranh Trịnh-Nguyễn mấy trăm năm trước mà đã có sự nhúng tay giật giây can thiệp của những thế lực quốc tế . Dù cuộc nội chiến ngày hôm nay có khác với nội chiến Trịnh- Nguyễn ngày xưa thì nói chung đây cũng chỉ là một cuộc chiến nồi da xáo thịt. Nước mắt mẹ già Việt Nam đã chảy không ngừng nghỉ khi những đứa con của mẹ mang chủ nghĩa ngoại lai về để rồi bôi mặt đá nhau làm cho quê hương Việt Nam tan nát. Hoàn cảnh chiến tranh đã gây ra nhiều chuyện oan trái cho nhiều gia đình Việt Nam, trong đó có khi hai anh em đứng về phía đối nghịch nhau, lại có trường hợp cha con lại đối địch nhau. Những chuyện oan trái đau lòng này không hẳn đã chấm dứt sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Có thể kể trong giới nhà văn những trường hợp tiêu biểu sau. Nhà văn Võ Phiến có người em ruột là nhà văn Lê vĩnh Hòa, vốn là nhà văn của Miền Bắc. Nhà văn Phan nhật Nam có cha ruột đi tập kết...
... Em Võ Phiến là Lê vĩnh Hòa bị tử trận trong khi công tác cho Cộng Sản. Ông Hòa cũng có vài tập truyện được Miền Bắc xuất bản. Võ Phiến trong những bài viết phê bình văn học, cũng có nhắc đến em mình với lời lẽ nhẹ nhàng. Thương em nhưng ông không vì thế để đi ca ngợi cái chế độ Cộng sản bất nhân, tàn ác mà em ông phục vụ...”(hết trích)
Và 30 năm sau, từ một vị trí đội quân người chiến thắng, nhà hoạt động dân chủ Nguyễn Khắc Toàn qua bài nhan đề “Nhìn Lại 30 Năm Trước” đăng trên Bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận số 2 (www.tdngonluan.com) đã nói thẳng rằng đây là huynh đệ tương tàn, không thể khác hơn.
Nhà hoạt động Nguyễn Khắc Toàn kể, trích:
“Thấm thoát thế mà đã một phần ba thế kỷ đã trôi qua, kể từ khi thế hệ chúng tôi những thanh niên Hà Nội rời ghế nhà trường vượt dãy Trương Sơn hàng ngàn cây số vào Nam chiến đấu...
Cuộc chiến tranh "Huynh đệ tương tàn - nồi da nấu thịt" ấy đã để lại trong tôi những chấn thương về cả tinh thần lẫn thể xác. Về phương diện tinh thần, tôi đã có cái nhìn rất khác so với nhiều đồng đội của mình là những người xuất phát đa phần từ nông dân, sinh trưởng từ nông thôn miền Bắc Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu...
...Cả ngày và đêm 30-4-1975, tôi cùng đồng đội tiến vào các thị xã, thị trấn thuộc tỉnh Long Châu Hà (là địa danh của 2 tỉnh Long Xuyên - Châu Đốc và thị trấn Hà Tiên mà quân đội miền Bắc gọi tắt)....
Cuối năm 1975, tôi được đưa lên Sài Gòn (lúc đó đã được chế độ mới đổi tên là TP Hồ Chí Minh) nằm chữa bệnh ở tầng 9, phòng dành riêng cho cán bộ, chiến sỹ quân đội miền Bắc bị thương tại bệnh viện Chợ Rẫy- Sài Gòn. Thời gian chữa bệnh ở thành phố hoa lệ được mệnh danh là hòn ngọc Viễn Đông này, tôi còn choáng ngợp và sửng sốt hơn nữa về cuộc sống ở đây: cửa hàng, cửa tiệm buôn bán tấp nập nhịp sống của người dân hối hả. Ở ngoại ô thành phố, khu công nghiệp Biên Hòa của các nhà tư sản dân tộc Việt và Hoa các xí nghiệp, nhà máy san sát chạy dài hàng chục cây số. Tôi có cảm giác như lạc vào một thành phố công nghiệp sầm uất nào đó của một quốc gia tư bản ở Á châu...
...Mô hình chế độ chính trị Nhà nước Việt Nam Cộng Hòa trước đây, khi ở miền Bắc tôi được nghe tuyên truyền rằng, đó là một loại hình chủ nghĩa “thực dân kiểu mới” do đế quốc Mỹ dựng nên làm tiền đồn và bàn đạp để tấn công miền Bắc và phe XHCN do Liên Xô và Trung Quốc là những nước anh em đứng đầu.Và các cơ quan tuyên truyền ở miền Bắc còn nói: về kinh tế, Miền Nam Việt Nam là một thị trường để tiêu thụ hàng hóa tư bản ế thừa của các nước phương Tây. Đây cũng là nơi mà bọn tư bản và đế quốc nước ngoài vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của nhân dân. Về đời sống văn hóa, xã hội, giáo dục…, thì mảnh đất màu mỡ ở miền Nam Việt Nam là nơi để gieo mầm cho văn hóa nô dịch của đế quốc, ngoại bang nảy nở, phát triển. Trên báo, đài phát thanh, sách văn học, sách giáo khoa dạy trong các trường học ở miền Bắc thì đầy dẫy những tuyên truyền về miền Nam là cả “một nhà tù lớn, một trại tập trung khổng lồ”. Ở nông thôn thì nông dân bị kìm kẹp trong các ấp chiến lược với lớp lớp hàng rào dây thép gai bao quanh, với nhiều chòi canh có lính được trang bị súng đạn tối tân canh gác đêm ngày v.v . và . v...
Nhưng trên thực tế, khi tôi đã tiếp xúc với rất nhiều người bà con gia đình hai bên nội, ngoại di cư từ quê hương miền Bắc vào miền Nam từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954. Qua việc đó, giúp tôi có một nhận thức rất khác về đời sống xã hội, kinh tế và chế độ chính trị ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Đó là một xã hội mà cuộc sống nhân dân được hưởng nhiều cởi mở và tự do. Người dân từ nông thôn đến thành thị được sống tự do dân chủ, được hưởng rất nhiều quyền Con người căn bản hơn, như: Có tự do báo chí, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do biểu tình - mít tinh, tự do hội họp, tự do sinh hoạt đảng phái chính trị, tự do xuất dương và cư trú trong nước, tự do mưu sinh, tự do ứng cử và bầu cử...” (hết trích)
Tương tự, nhà văn Dương Thu Hương trả lời phỏng vấn của nhà báo Đinh Quang Anh Thái trên báo Việt Tide năm 2007 kể rằng bà đã khóc khi nhận ra sự thật.
Bài phỏng vấn nhan đề “Dương Thu Hương: Tôi Khóc Ngày 30-4 Vì Thấy Nền Văn Minh Đã Thua Chế Độ Man Rợ” trong đó, trích:
“...Việt Tide: Bà từng viết rằng, ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi các phụ nữ khác trong đoàn quân của bà trầm trộ trước sự phát triển vật chất của miền Nam thì bà ngồi khóc trên lề đường Sài Gòn. Bà có thể nhắc lại tâm trạng của bà lúc đó?
Dương Thu Hương: (thở dài) Điên rồ thì tôi có nhiều thứ điên rồ. Khóc thì tôi có hai lần khóc.
Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ. Ông Thái đừng quên rằng, ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ. . . nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải.”
Có cách nào nói khác hơn về cuộc chiến này? Người ta có thể định danh nhiều cách, nhưng bản chất vẫn là một. Không thể khác hơn được. Ngay cả đời sau cũng sẽ nhìn như thế, khi đọc lại sử Nam Bắc phân tranh của hậu bán thế kỷ 20: Rằng đây là cuộc chiến huynh đệ tương tàn, và nền văn minh Miền Nam đã thua chế độ man rợ Miền Bắc.
Không thể khác hơn.
Tác giả : Trần Khải Trong những ngày tháng tư, có một câu hỏi thường được nêu ra: Bản chất cuộc chiến Việt Nam là gì?
Đã có rất nhiều xương máu đổ ra cho cuộc chiến một thời bi thảm nhất trong lịch sử Việt, và câu hỏi này vẫn liên tục nêu ra cho nhiều thế thế. Nhiều nhà văn ở cả hai miền bây giờ đã cùng công nhận rằng: Cuộc Chiến Việt Nam thực sự là cuộc chiến huynh đệ tương tàn.
Nhà văn Trần Viết Đại Hưng, từ Lawndale, Los Angeles, trong bài viết vào trung tuần tháng 4-2001 mang tựa đề “Sự Oan Trái Của Tình Ruột Thịt” đã nói thẳng bản chất cuộc chiến, rằng đây là huynh đệ tương tàn.
Bài viết trích:
“Cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam trong suốt hai mươi mốt năm (1954 -1975) được gọi dưới nhiều tên khác nhau. Có người gọi đây là một cuộc chiến ủy nhiệm, Mỹ ủy nhiệm cho miền Nam cái nhiệm vụ bảo vệ tiền đồn của thế giới tự do; Trung Cộng và Nga Sô ủy nhiệm cho Miền Bắc nhiệm vụ của thế giới vô sản là tấn công vào thành trì của tư bản (Miền Nam) do Mỹ ủng hộ. Cộng Sản Bắc Việt coi đây là một chiến tranh giải phóng; Miền Nam coi là một cuộc chiến tranh tự vệ chống lại sự xâm lăng từ miền Bắc. Nhạc sĩ Trịnh công Sơn vừa mới qua đời coi cuộc chiến này là "hai mươi năm nội chiến từng ngày". Thật ra, cuộc chiến Quốc -Cộng hôm nay không giống như cuộc phân tranh Trịnh-Nguyễn mấy trăm năm trước mà đã có sự nhúng tay giật giây can thiệp của những thế lực quốc tế . Dù cuộc nội chiến ngày hôm nay có khác với nội chiến Trịnh- Nguyễn ngày xưa thì nói chung đây cũng chỉ là một cuộc chiến nồi da xáo thịt. Nước mắt mẹ già Việt Nam đã chảy không ngừng nghỉ khi những đứa con của mẹ mang chủ nghĩa ngoại lai về để rồi bôi mặt đá nhau làm cho quê hương Việt Nam tan nát. Hoàn cảnh chiến tranh đã gây ra nhiều chuyện oan trái cho nhiều gia đình Việt Nam, trong đó có khi hai anh em đứng về phía đối nghịch nhau, lại có trường hợp cha con lại đối địch nhau. Những chuyện oan trái đau lòng này không hẳn đã chấm dứt sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Có thể kể trong giới nhà văn những trường hợp tiêu biểu sau. Nhà văn Võ Phiến có người em ruột là nhà văn Lê vĩnh Hòa, vốn là nhà văn của Miền Bắc. Nhà văn Phan nhật Nam có cha ruột đi tập kết...
... Em Võ Phiến là Lê vĩnh Hòa bị tử trận trong khi công tác cho Cộng Sản. Ông Hòa cũng có vài tập truyện được Miền Bắc xuất bản. Võ Phiến trong những bài viết phê bình văn học, cũng có nhắc đến em mình với lời lẽ nhẹ nhàng. Thương em nhưng ông không vì thế để đi ca ngợi cái chế độ Cộng sản bất nhân, tàn ác mà em ông phục vụ...”(hết trích)
Và 30 năm sau, từ một vị trí đội quân người chiến thắng, nhà hoạt động dân chủ Nguyễn Khắc Toàn qua bài nhan đề “Nhìn Lại 30 Năm Trước” đăng trên Bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận số 2 (www.tdngonluan.com) đã nói thẳng rằng đây là huynh đệ tương tàn, không thể khác hơn.
Nhà hoạt động Nguyễn Khắc Toàn kể, trích:
“Thấm thoát thế mà đã một phần ba thế kỷ đã trôi qua, kể từ khi thế hệ chúng tôi những thanh niên Hà Nội rời ghế nhà trường vượt dãy Trương Sơn hàng ngàn cây số vào Nam chiến đấu...
Cuộc chiến tranh "Huynh đệ tương tàn - nồi da nấu thịt" ấy đã để lại trong tôi những chấn thương về cả tinh thần lẫn thể xác. Về phương diện tinh thần, tôi đã có cái nhìn rất khác so với nhiều đồng đội của mình là những người xuất phát đa phần từ nông dân, sinh trưởng từ nông thôn miền Bắc Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu...
...Cả ngày và đêm 30-4-1975, tôi cùng đồng đội tiến vào các thị xã, thị trấn thuộc tỉnh Long Châu Hà (là địa danh của 2 tỉnh Long Xuyên - Châu Đốc và thị trấn Hà Tiên mà quân đội miền Bắc gọi tắt)....
Cuối năm 1975, tôi được đưa lên Sài Gòn (lúc đó đã được chế độ mới đổi tên là TP Hồ Chí Minh) nằm chữa bệnh ở tầng 9, phòng dành riêng cho cán bộ, chiến sỹ quân đội miền Bắc bị thương tại bệnh viện Chợ Rẫy- Sài Gòn. Thời gian chữa bệnh ở thành phố hoa lệ được mệnh danh là hòn ngọc Viễn Đông này, tôi còn choáng ngợp và sửng sốt hơn nữa về cuộc sống ở đây: cửa hàng, cửa tiệm buôn bán tấp nập nhịp sống của người dân hối hả. Ở ngoại ô thành phố, khu công nghiệp Biên Hòa của các nhà tư sản dân tộc Việt và Hoa các xí nghiệp, nhà máy san sát chạy dài hàng chục cây số. Tôi có cảm giác như lạc vào một thành phố công nghiệp sầm uất nào đó của một quốc gia tư bản ở Á châu...
...Mô hình chế độ chính trị Nhà nước Việt Nam Cộng Hòa trước đây, khi ở miền Bắc tôi được nghe tuyên truyền rằng, đó là một loại hình chủ nghĩa “thực dân kiểu mới” do đế quốc Mỹ dựng nên làm tiền đồn và bàn đạp để tấn công miền Bắc và phe XHCN do Liên Xô và Trung Quốc là những nước anh em đứng đầu.Và các cơ quan tuyên truyền ở miền Bắc còn nói: về kinh tế, Miền Nam Việt Nam là một thị trường để tiêu thụ hàng hóa tư bản ế thừa của các nước phương Tây. Đây cũng là nơi mà bọn tư bản và đế quốc nước ngoài vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của nhân dân. Về đời sống văn hóa, xã hội, giáo dục…, thì mảnh đất màu mỡ ở miền Nam Việt Nam là nơi để gieo mầm cho văn hóa nô dịch của đế quốc, ngoại bang nảy nở, phát triển. Trên báo, đài phát thanh, sách văn học, sách giáo khoa dạy trong các trường học ở miền Bắc thì đầy dẫy những tuyên truyền về miền Nam là cả “một nhà tù lớn, một trại tập trung khổng lồ”. Ở nông thôn thì nông dân bị kìm kẹp trong các ấp chiến lược với lớp lớp hàng rào dây thép gai bao quanh, với nhiều chòi canh có lính được trang bị súng đạn tối tân canh gác đêm ngày v.v . và . v...
Nhưng trên thực tế, khi tôi đã tiếp xúc với rất nhiều người bà con gia đình hai bên nội, ngoại di cư từ quê hương miền Bắc vào miền Nam từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954. Qua việc đó, giúp tôi có một nhận thức rất khác về đời sống xã hội, kinh tế và chế độ chính trị ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Đó là một xã hội mà cuộc sống nhân dân được hưởng nhiều cởi mở và tự do. Người dân từ nông thôn đến thành thị được sống tự do dân chủ, được hưởng rất nhiều quyền Con người căn bản hơn, như: Có tự do báo chí, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do biểu tình - mít tinh, tự do hội họp, tự do sinh hoạt đảng phái chính trị, tự do xuất dương và cư trú trong nước, tự do mưu sinh, tự do ứng cử và bầu cử...” (hết trích)
Tương tự, nhà văn Dương Thu Hương trả lời phỏng vấn của nhà báo Đinh Quang Anh Thái trên báo Việt Tide năm 2007 kể rằng bà đã khóc khi nhận ra sự thật.
Bài phỏng vấn nhan đề “Dương Thu Hương: Tôi Khóc Ngày 30-4 Vì Thấy Nền Văn Minh Đã Thua Chế Độ Man Rợ” trong đó, trích:
“...Việt Tide: Bà từng viết rằng, ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi các phụ nữ khác trong đoàn quân của bà trầm trộ trước sự phát triển vật chất của miền Nam thì bà ngồi khóc trên lề đường Sài Gòn. Bà có thể nhắc lại tâm trạng của bà lúc đó?
Dương Thu Hương: (thở dài) Điên rồ thì tôi có nhiều thứ điên rồ. Khóc thì tôi có hai lần khóc.
Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ. Ông Thái đừng quên rằng, ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ. . . nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải.”
Có cách nào nói khác hơn về cuộc chiến này? Người ta có thể định danh nhiều cách, nhưng bản chất vẫn là một. Không thể khác hơn được. Ngay cả đời sau cũng sẽ nhìn như thế, khi đọc lại sử Nam Bắc phân tranh của hậu bán thế kỷ 20: Rằng đây là cuộc chiến huynh đệ tương tàn, và nền văn minh Miền Nam đã thua chế độ man rợ Miền Bắc.
Không thể khác hơn.
Liên Hợp Quốc siết chặt trừng phạt Triều Tiên
Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc hôm qua tiến hành siết chặt các lệnh trừng phạt nhằm vào Triều Tiên sau vụ phóng tên lửa thất bại mới đây,
đồng thời cảnh báo sẽ có hành động tiếp theo nếu Bình Nhưỡng thử hạt nhân lần ba.

Một tên lửa của Triều Tiên trong cuộc duyệt binh hôm 15/4. Ảnh: AFP
Tất cả 15 thành viên thường trực và không thường trực của Hội đồng, trong đó có cả Trung Quốc, nhất trí thông qua một tuyên bố lên án mạnh mẽ vụ phóng tên lửa hôm 13/4, AFP đưa tin. Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc cho rằng hành động này gây nên những quan ngại an ninh nghiêm trọng ở châu Á.
Hội đồng yêu cầu "những đối tượng và khoản mục mới" sẽ được đưa thêm vào danh sách các lệnh trừng phạt vốn được đưa sau khi Triều Tiên có các vụ thử hạt nhân hồi năm 2006 và 2009. Hội đồng cũng yêu cầu ủy ban các lệnh trừng phạt xem xét lại các cá nhân, doanh nghiệp và đối tượng ở Triều Tiên phải chịu các biện pháp trừng phạt quốc tế.
Theo Hội đồng Bảo an, vụ phóng tên lửa của Triều Tiên là sự vi phạm nghiêm trọng các nghị quyết 1718 và 1874 của Liên Hợp Quốc. Tên lửa Ngân Hà-3 (Unha-3) nổ tung sau 81 phút được phóng lên. Các mảnh vỡ của nó rơi xuống Hoàng Hải.
Bình Nhưỡng khẳng định vụ phóng tên lửa là nhằm đưa vệ tinh Quang Minh Tinh-3 (Kwangyongsong-3) lên quỹ đạo phục vụ mục đích nghiên cứu và dự báo thời tiết. Tuy nhiên, Mỹ và nhiều nước khác cho rằng đây thực chất là một cuộc thử tên lửa tầm xa.
Hội đồng Bảo an yêu cầu Triều Tiên ngừng bất cứ một cuộc phóng tên lửa sử dụng công nghệ tên lửa đạn đạo, ngừng tất cả các hoạt động liên quan tới chương trình tên lửa đạn đạo và giữ lời hứa tạm ngừng phóng các tên lửa. Hội đồng cũng sẽ có hành động tiếp theo trong trường hợp Bình Nhưỡng tiến hành thử hạt nhân lần thứ ba.
Trong một diễn biến khác, Choson Sinbo, tờ báo Nhật thân Triều Tiên, hôm qua trích lời một quan chức giấu tên cho hay Bình Nhưỡng sẽ phát triển một tên lửa lớn hơn Ngân Hà-3. Tại cuộc duyệt binh mừng 100 năm ngày sinh của cố chủ tịch Kim Nhật Thành hôm 15/4, Triều Tiên đã giới thiệu một loại tên lửa mới gây được nhiều sự chú ý.
Nhật Nam
Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc hôm qua tiến hành siết chặt các lệnh trừng phạt nhằm vào Triều Tiên sau vụ phóng tên lửa thất bại mới đây,
đồng thời cảnh báo sẽ có hành động tiếp theo nếu Bình Nhưỡng thử hạt nhân lần ba.

Một tên lửa của Triều Tiên trong cuộc duyệt binh hôm 15/4. Ảnh: AFP
Tất cả 15 thành viên thường trực và không thường trực của Hội đồng, trong đó có cả Trung Quốc, nhất trí thông qua một tuyên bố lên án mạnh mẽ vụ phóng tên lửa hôm 13/4, AFP đưa tin. Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc cho rằng hành động này gây nên những quan ngại an ninh nghiêm trọng ở châu Á.
Hội đồng yêu cầu "những đối tượng và khoản mục mới" sẽ được đưa thêm vào danh sách các lệnh trừng phạt vốn được đưa sau khi Triều Tiên có các vụ thử hạt nhân hồi năm 2006 và 2009. Hội đồng cũng yêu cầu ủy ban các lệnh trừng phạt xem xét lại các cá nhân, doanh nghiệp và đối tượng ở Triều Tiên phải chịu các biện pháp trừng phạt quốc tế.
Theo Hội đồng Bảo an, vụ phóng tên lửa của Triều Tiên là sự vi phạm nghiêm trọng các nghị quyết 1718 và 1874 của Liên Hợp Quốc. Tên lửa Ngân Hà-3 (Unha-3) nổ tung sau 81 phút được phóng lên. Các mảnh vỡ của nó rơi xuống Hoàng Hải.
Bình Nhưỡng khẳng định vụ phóng tên lửa là nhằm đưa vệ tinh Quang Minh Tinh-3 (Kwangyongsong-3) lên quỹ đạo phục vụ mục đích nghiên cứu và dự báo thời tiết. Tuy nhiên, Mỹ và nhiều nước khác cho rằng đây thực chất là một cuộc thử tên lửa tầm xa.
Hội đồng Bảo an yêu cầu Triều Tiên ngừng bất cứ một cuộc phóng tên lửa sử dụng công nghệ tên lửa đạn đạo, ngừng tất cả các hoạt động liên quan tới chương trình tên lửa đạn đạo và giữ lời hứa tạm ngừng phóng các tên lửa. Hội đồng cũng sẽ có hành động tiếp theo trong trường hợp Bình Nhưỡng tiến hành thử hạt nhân lần thứ ba.
Trong một diễn biến khác, Choson Sinbo, tờ báo Nhật thân Triều Tiên, hôm qua trích lời một quan chức giấu tên cho hay Bình Nhưỡng sẽ phát triển một tên lửa lớn hơn Ngân Hà-3. Tại cuộc duyệt binh mừng 100 năm ngày sinh của cố chủ tịch Kim Nhật Thành hôm 15/4, Triều Tiên đã giới thiệu một loại tên lửa mới gây được nhiều sự chú ý.
Nhật Nam
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Obama-Romney: Bắt Đầu Cuộc Song Đấu
Vi Anh Sau ba tháng tưởng như huynh đệ tương tàn của những chuẩn ứng cử viên Cộng Hòa, thế của Romney kể như đã vững chắc sau khi Ô. Santorum tuyên bố ngưng vận động để lo cho con gái nhỏ bệnh hoạn. Ô. Romney tập trung tòan sức lực song đấu với ứng cử viên tồng thống Dân Chủ tái tranh cử là TT Obama trên con đường giành lại Nhà Trắng cho Đảng Cộng Hòa trong cuộc bầu cử quan trọng và lớn lao nhứt, bốn năm một lần, kỳ này vào ngày 6 tháng 11 năm 2012. Quan niệm và quyết tâm hành quân của Ô. Romney là, “Chúng ta cần phải loại ông ấy [TT Obama] khỏi chức vụ tổng thống! Ông ấy không hiểu những gì đang xảy ra trên đất nước này.” Và “Điều quan trọng nhứt là để những thất bại của ba năm rồi và đưa nước Mỹ trở lại con đường phồn thịnh.”
Sở dĩ Ô. Romney nói mạnh như vậy vì Ông Romney, Cựu Thống Đốc Massachusetts, đã kiếm được 656 đại biểu cử tri đòan trên túc số 1.144 cần thiết để được đảng Cộng Hòa chỉ định làm ứng cử viên của Đảng. Ông đã hơn ba người anh em kia, Santorum chỉ có 272, M. Gingrich 140 và M. Paul 67. Romney hầu như đã đạt được tất cả những điều kiện để đảng Cộng Hòa chỉ định trong đại hội đảng vào cuối tháng Tám ở Tampa (Florida).
TT Obama cũng không phải tay vừa, đã sẵn sàng cho trận đánh tay đôi với nhà triệu phú Romney. TT Obama ba mặt giápcông Romney. Quân sư là TT Clinton khuyên Obama là đổ cho người tỉền nhiệm tức Tổng Thông Bush của Cộng hòa, về những suy thóai kinh tế, cho rằng Obama lên là lãnh di sản của nền kinh tế suy sụp từ năm 2009.
Và Obama hứng “Các chính sách mà chúng ta đã có từ ba năm qua [tức thời TT Obama chấp chánh] đang bắt đầu thấy kết quả, do đó chúng ta không thể quay lại với các chính sách đã đưa chúng ta gặp quá nhiều vấn đề.”
Kế đó là tham mưu trưởng hành quân của Ô Obama, giám đốc chiến dịch của Obama, Jim Messina, dùng thế đà đao, hồi mã thượng để chia rẽ lực lượng địch thủ Cộng hòa. Ông nói Ông đã từng đánh giá không có gì “ngạc nhiên sau cùng Romney đã thành công trong việc xô những người cạnh tranh với Ông dưới một đống đất chùi đầy những quảng cáo tiêu cực”.
Tiếp theo là đại quân do Ô. Obama dẫn đến. Ông dùng lợi thế của tổng thống đương nhiệm tái ứng cử. Ông khai thác tối đa khối quần chúng cử tri phụ nữ và trung lưu. Các phân tích bầu cử sơ bộ của Cộng Hòa cho thấy Romney chưa được hai giới này ủng hộ. Obama đánh hai cuộc chiến một lần tại chiến trường quốc hội.
TT Obama tuyên bố phụ nữ không phải là nhóm quyền lợi đặc biệt khi chuyển trình dự thảo luật Lilly Ledbetter Fair Pay Act cho Quốc Hội, TT Obama tuyên bổ,"Tôi cảm thấy sốc và bất bình khi nghe Mitt Romney không đứng lên vì phụ nữ và gia đình..” TT Obama cho rằng "Phụ nữ chỉ kiếm 67 cents cho mỗi đô là đàn ông kiếm được.”
Và Ô. Romney phản công phụ nữ bị mất 92.3% việc làm dưới thời Obama.
Một họat náo viên tranh cử của Dân Chủ chê bà Romney không làm gì cả. Bà Obama thấy vận động quá đà phản tác dụng, phải tương kế tựu kế binh vực Bà Romney, nói làm mẹ là một việc làm khó khăn, lớn lao nhứt của người phụ nữ, Bà Romney là một ngưởi mẹ sanh duỡng dục năm con rất đáng kính.
TT Obama trình dự thảo luật lợi cho giới trung lưu, là “Quy luật Buffett,” mang tên nhà tỷ phú Warren Buffett, người đã từng tuyên bố cá nhân ông đóng thuế ít hơn thơ ký của Ông nữa, tức là giới trung lưu Mỹ lại đóng quá nhiều.Dự luật này qui định người nào có thu nhập một năm từ một triệu đôla trở lên phải đóng ít nhất 30% thuế.
Ô. Obama thừa biết dù Thượng Viện với Dân Chủ đa số khít khao có thề thuận nhưng chắc sẽ bị chận lại ở Hạ Viện nơi mà đảng Cộng Hòa chiếm đa số. Vấn đề thuế khóa là diều Cộng Hòa tòan đảng chống Obama. Cộng Hòa cho Quy luật Buffett làm các doanh nghiệp nhỏ phải đóng thuế cao và không giúp tạo thêm việc làm và cũng chẳng giúp ích gì nhiều cho tình trạng thâm hụt ngân sách quá lớn hiện nay.
Ngay khi đi công du Nam Mỹ, dự hội nghị thượng đỉnh 33 nước Châu Mỹ ở Colombia, Ô Obama cũng không quên tấn công Ô. Romney ở ngọai quốc. Đó là một điều chánh trị gia tránh không làm như một qui ước bất thành văn và mã thượng, không đem chuyện tranh cử nói ở ngọai quốc, không phê bình đối thủ chánh trị ở hải ngọai. Do đó cuộc nói chuyện riêng về bầu cử Ô. Obama nói với tổng thống Nga khi không biết loa còn mở, là một vấn đề công luận rất đàm tiếu Ô Obama khiến phát ngôn viên phủ tổng thống phải giải trình.
Ở Columbia, TT Obama tuyên bố trên truyền hình Univision được phát tại nhiều nước Châu Mỹ La tinh, khu vực có nhiều người nhập cư tại Hoa Kỳ. Ông nói nếu ông được bầu lại cho nhiệm kỳ thứ nhì, ông sẽ vận động mạnh để cải tổ luật di trú. Ông nói ông sẽ không làm như ứng cử viên Cộng Hòa Mitt Romney, là người đã tuyên bố luật di trú của tiểu bang Arizona có thể làm mẫu cho toàn nước Mỹ. Ông Obama cũng chỉ trích ông Romney về thuế, một đề tài tranh cử quan trọng khác.
Không phải TT Obama mới tấn công Ô. Romney gần đây. TT Obama chỉa mũi dùi vào Ô. Romney từ lâu rồi. TT Obama biết ứng cử viên Romney là tay lợi hại, đối thủ đáng gờm. Trong số bốn ứng cử viên Cộng Hòa tranh nhau để được đảng Cộng Hòa chọn làm ứng cử viên tổng thống cho đảng Cộng Hòa. Ô. Romney là người bị TT Obama “chiếu cố” tấn công nhiều nhứt và mạnh nhứt.
Trong chánh trị tranh cử, yếu của người này là mạnh của người kia nếu biết khai thác. Trong tương lai chiền dịch Obama còn sẽ tấn công Ô Romney nhiều nữa. Sẽ khai thác chia rẽ khối cử tri trung dung với Ô Romney sau khi ông đã cố gắng thu phục cảm tình của phe bảo thủ trong các cuộc bầu cử sơ bộ.
Ô. Romney phải chạy nước rút để san bằng khỏang cách với Ô Obama. Theo thăm dò Washington Post và đài ABC cùng thực hiện cho thấy Tổng thống Obama có 51% người ủng hộ trong khi ông Romney có 41%. Các cuộc thăm dò khác cũng cho thấy Tổng thống Obama dẫn trước ở những tiểu bang quan trọng, những tiểu bang có thể làm thay đổi kết quả.
Ông Peter Brown, nhà thăm dò công luận của trường đại học Quinnipiac cho rằng nếu ông Romney muốn lật ngược thế cờ, ông phải tìm cách chen chân vào thành phần phụ nữ và thành phần người gốc châu Mỹ Latinh, hai thành phần đang ủng hộ Tổng thống Obama và thường có xu hướng nghiêng về phia đảng Dân chủ.
Và Ô. Romney phải khai thác những thất bại kinh tế của TT Obama. Thăm dò của Washington Post và ABC cũng cho thấy cử tri không tin tưởng cách Tổng thống Obama giải quyết tình hình kinh tế trong nước; cuộc thăm dò cho rằng kinh tế và công ăn việc làm vẫn là những bận tâm nhiều nhất của các cử tri khi họ bước vào phòng phiếu vào tháng 11.
Từ đây tới 6 tháng 11 năm 2012, đường còn dài. Cuộc tranh cử như đá banh, trái banh còn lăn thì thì còn nhiều đổi thay. Người dân cử tri Mỹ sẽ là trọng tài tối hậu. Sau tiếng còi chung cuộc, có kết quả ai thắng ai, người thua theo thông lệ mã thượng của nền dân chủ Mỹ sẽ gọi khen ngợi người thắng và người thắng sẽ cảm ơn nhân dân và điều hành chuyện nước việc dân như một tổng thống Mỹ, Cái hay, cái đẹp của chánh quyền tự do, dân chủ, vì dân, do dân, của dân là ở chỗ đó./.
Vi Anh
Vi Anh Sau ba tháng tưởng như huynh đệ tương tàn của những chuẩn ứng cử viên Cộng Hòa, thế của Romney kể như đã vững chắc sau khi Ô. Santorum tuyên bố ngưng vận động để lo cho con gái nhỏ bệnh hoạn. Ô. Romney tập trung tòan sức lực song đấu với ứng cử viên tồng thống Dân Chủ tái tranh cử là TT Obama trên con đường giành lại Nhà Trắng cho Đảng Cộng Hòa trong cuộc bầu cử quan trọng và lớn lao nhứt, bốn năm một lần, kỳ này vào ngày 6 tháng 11 năm 2012. Quan niệm và quyết tâm hành quân của Ô. Romney là, “Chúng ta cần phải loại ông ấy [TT Obama] khỏi chức vụ tổng thống! Ông ấy không hiểu những gì đang xảy ra trên đất nước này.” Và “Điều quan trọng nhứt là để những thất bại của ba năm rồi và đưa nước Mỹ trở lại con đường phồn thịnh.”
Sở dĩ Ô. Romney nói mạnh như vậy vì Ông Romney, Cựu Thống Đốc Massachusetts, đã kiếm được 656 đại biểu cử tri đòan trên túc số 1.144 cần thiết để được đảng Cộng Hòa chỉ định làm ứng cử viên của Đảng. Ông đã hơn ba người anh em kia, Santorum chỉ có 272, M. Gingrich 140 và M. Paul 67. Romney hầu như đã đạt được tất cả những điều kiện để đảng Cộng Hòa chỉ định trong đại hội đảng vào cuối tháng Tám ở Tampa (Florida).
TT Obama cũng không phải tay vừa, đã sẵn sàng cho trận đánh tay đôi với nhà triệu phú Romney. TT Obama ba mặt giápcông Romney. Quân sư là TT Clinton khuyên Obama là đổ cho người tỉền nhiệm tức Tổng Thông Bush của Cộng hòa, về những suy thóai kinh tế, cho rằng Obama lên là lãnh di sản của nền kinh tế suy sụp từ năm 2009.
Và Obama hứng “Các chính sách mà chúng ta đã có từ ba năm qua [tức thời TT Obama chấp chánh] đang bắt đầu thấy kết quả, do đó chúng ta không thể quay lại với các chính sách đã đưa chúng ta gặp quá nhiều vấn đề.”
Kế đó là tham mưu trưởng hành quân của Ô Obama, giám đốc chiến dịch của Obama, Jim Messina, dùng thế đà đao, hồi mã thượng để chia rẽ lực lượng địch thủ Cộng hòa. Ông nói Ông đã từng đánh giá không có gì “ngạc nhiên sau cùng Romney đã thành công trong việc xô những người cạnh tranh với Ông dưới một đống đất chùi đầy những quảng cáo tiêu cực”.
Tiếp theo là đại quân do Ô. Obama dẫn đến. Ông dùng lợi thế của tổng thống đương nhiệm tái ứng cử. Ông khai thác tối đa khối quần chúng cử tri phụ nữ và trung lưu. Các phân tích bầu cử sơ bộ của Cộng Hòa cho thấy Romney chưa được hai giới này ủng hộ. Obama đánh hai cuộc chiến một lần tại chiến trường quốc hội.
TT Obama tuyên bố phụ nữ không phải là nhóm quyền lợi đặc biệt khi chuyển trình dự thảo luật Lilly Ledbetter Fair Pay Act cho Quốc Hội, TT Obama tuyên bổ,"Tôi cảm thấy sốc và bất bình khi nghe Mitt Romney không đứng lên vì phụ nữ và gia đình..” TT Obama cho rằng "Phụ nữ chỉ kiếm 67 cents cho mỗi đô là đàn ông kiếm được.”
Và Ô. Romney phản công phụ nữ bị mất 92.3% việc làm dưới thời Obama.
Một họat náo viên tranh cử của Dân Chủ chê bà Romney không làm gì cả. Bà Obama thấy vận động quá đà phản tác dụng, phải tương kế tựu kế binh vực Bà Romney, nói làm mẹ là một việc làm khó khăn, lớn lao nhứt của người phụ nữ, Bà Romney là một ngưởi mẹ sanh duỡng dục năm con rất đáng kính.
TT Obama trình dự thảo luật lợi cho giới trung lưu, là “Quy luật Buffett,” mang tên nhà tỷ phú Warren Buffett, người đã từng tuyên bố cá nhân ông đóng thuế ít hơn thơ ký của Ông nữa, tức là giới trung lưu Mỹ lại đóng quá nhiều.Dự luật này qui định người nào có thu nhập một năm từ một triệu đôla trở lên phải đóng ít nhất 30% thuế.
Ô. Obama thừa biết dù Thượng Viện với Dân Chủ đa số khít khao có thề thuận nhưng chắc sẽ bị chận lại ở Hạ Viện nơi mà đảng Cộng Hòa chiếm đa số. Vấn đề thuế khóa là diều Cộng Hòa tòan đảng chống Obama. Cộng Hòa cho Quy luật Buffett làm các doanh nghiệp nhỏ phải đóng thuế cao và không giúp tạo thêm việc làm và cũng chẳng giúp ích gì nhiều cho tình trạng thâm hụt ngân sách quá lớn hiện nay.
Ngay khi đi công du Nam Mỹ, dự hội nghị thượng đỉnh 33 nước Châu Mỹ ở Colombia, Ô Obama cũng không quên tấn công Ô. Romney ở ngọai quốc. Đó là một điều chánh trị gia tránh không làm như một qui ước bất thành văn và mã thượng, không đem chuyện tranh cử nói ở ngọai quốc, không phê bình đối thủ chánh trị ở hải ngọai. Do đó cuộc nói chuyện riêng về bầu cử Ô. Obama nói với tổng thống Nga khi không biết loa còn mở, là một vấn đề công luận rất đàm tiếu Ô Obama khiến phát ngôn viên phủ tổng thống phải giải trình.
Ở Columbia, TT Obama tuyên bố trên truyền hình Univision được phát tại nhiều nước Châu Mỹ La tinh, khu vực có nhiều người nhập cư tại Hoa Kỳ. Ông nói nếu ông được bầu lại cho nhiệm kỳ thứ nhì, ông sẽ vận động mạnh để cải tổ luật di trú. Ông nói ông sẽ không làm như ứng cử viên Cộng Hòa Mitt Romney, là người đã tuyên bố luật di trú của tiểu bang Arizona có thể làm mẫu cho toàn nước Mỹ. Ông Obama cũng chỉ trích ông Romney về thuế, một đề tài tranh cử quan trọng khác.
Không phải TT Obama mới tấn công Ô. Romney gần đây. TT Obama chỉa mũi dùi vào Ô. Romney từ lâu rồi. TT Obama biết ứng cử viên Romney là tay lợi hại, đối thủ đáng gờm. Trong số bốn ứng cử viên Cộng Hòa tranh nhau để được đảng Cộng Hòa chọn làm ứng cử viên tổng thống cho đảng Cộng Hòa. Ô. Romney là người bị TT Obama “chiếu cố” tấn công nhiều nhứt và mạnh nhứt.
Trong chánh trị tranh cử, yếu của người này là mạnh của người kia nếu biết khai thác. Trong tương lai chiền dịch Obama còn sẽ tấn công Ô Romney nhiều nữa. Sẽ khai thác chia rẽ khối cử tri trung dung với Ô Romney sau khi ông đã cố gắng thu phục cảm tình của phe bảo thủ trong các cuộc bầu cử sơ bộ.
Ô. Romney phải chạy nước rút để san bằng khỏang cách với Ô Obama. Theo thăm dò Washington Post và đài ABC cùng thực hiện cho thấy Tổng thống Obama có 51% người ủng hộ trong khi ông Romney có 41%. Các cuộc thăm dò khác cũng cho thấy Tổng thống Obama dẫn trước ở những tiểu bang quan trọng, những tiểu bang có thể làm thay đổi kết quả.
Ông Peter Brown, nhà thăm dò công luận của trường đại học Quinnipiac cho rằng nếu ông Romney muốn lật ngược thế cờ, ông phải tìm cách chen chân vào thành phần phụ nữ và thành phần người gốc châu Mỹ Latinh, hai thành phần đang ủng hộ Tổng thống Obama và thường có xu hướng nghiêng về phia đảng Dân chủ.
Và Ô. Romney phải khai thác những thất bại kinh tế của TT Obama. Thăm dò của Washington Post và ABC cũng cho thấy cử tri không tin tưởng cách Tổng thống Obama giải quyết tình hình kinh tế trong nước; cuộc thăm dò cho rằng kinh tế và công ăn việc làm vẫn là những bận tâm nhiều nhất của các cử tri khi họ bước vào phòng phiếu vào tháng 11.
Từ đây tới 6 tháng 11 năm 2012, đường còn dài. Cuộc tranh cử như đá banh, trái banh còn lăn thì thì còn nhiều đổi thay. Người dân cử tri Mỹ sẽ là trọng tài tối hậu. Sau tiếng còi chung cuộc, có kết quả ai thắng ai, người thua theo thông lệ mã thượng của nền dân chủ Mỹ sẽ gọi khen ngợi người thắng và người thắng sẽ cảm ơn nhân dân và điều hành chuyện nước việc dân như một tổng thống Mỹ, Cái hay, cái đẹp của chánh quyền tự do, dân chủ, vì dân, do dân, của dân là ở chỗ đó./.
Vi Anh
Khởi Thủy Địa Ngục Trần Gian
Tác giả : Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh Mảnh đất Afghanistan ở phía cuối của Trung Đông, nơi bị quân Liên Sô chiếm đóng sau Đệ nhị Thế chiến là gốc rễ của Địa ngục trần gian. Nơi đây chính là địa bàn đầu tiên trùm Khủng bố Osama bin Laden tổ chức 2 thành phần ma quỷ: 1) Khủng bố al-Qaida và 2) Du kích Taliban. Nhưng bọn trùm Cộng sản mê muội đã vô tình để mặc cho Osama bin Laden tạo ra 2 thành phần võ trang chưa từng thấy trong lịch sử loài người.
Năm 1987 quân Liên Sô rút khỏi Afghanistan, quân đội Đồng minh NATO tiến vào đó với mục đích xây dựng một chế độ tự do dân chủ. Đây cũng là một sai lầm khác của thời đại. Ngày nay với những bước tiến mau lẹ của Thế kỷ 21, người ta đã thấy rõ một sự thật phũ phàng: chế độ chính trị của một nước không phải từ bên ngoài đem đến mà phải do chính dân chúng nước đó xây dựng. Nước ngoài chỉ có thể giúp đỡ, nhưng không thể làm giùm. Và từ nhiều tuần qua, Afghanistan có loạn lớn.
Đầu tuần này, tin tức từ thủ đô Kabul cho biết một loạt những đợt sóng tấn công của quân phiến loạn đã đánh vào các trung tâm ngoại giao, chính phủ ở Kabul và 3 tỉnh phía Đông. Loạn quân dùng mọi thứ vũ khí phức tạp, kể cả bom tự sát, và chúng đã chiếm giữ các dinh thự hàng giờ trước khi rút đi. Trong trận đánh vào ngày chủ nhật vừa qua, bọn loạn quân đã chiếm đóng nhiều tòa nhà ở ngay trong khu vực Thủ đô được coi là an toàn nhất.
Nhưng điều quan ngại nhất là bọn loạn quân đã đánh bom tự sát. Ngay sau các vụ khởi loạn hồi tháng 9 năm ngoái đã có bom tự sát lẻ tẻ,nhưng không làm chết được nhiều người. Hồi đầu tháng 4 năm nay, Zabiullah Mujahid, một phát ngôn nhân của Taliban đã ra tuyên ngôn với các phóng viên báo chí, xác nhận trách nhiệm về các cuộc tấn công đó và nói thêm: “Chúng tôi phái bom tự sát đến Kabul và nay họ đã chiếm tòa nhà Quốc hội, Sứ quán Mỹ và mọi tòa nhà ngoại giao khác.
Đây chỉ là một sự hăm dọa chăng? Trong một vụ tấn công khác, có 3 kẻ đeo bom tự sát bị Cảnh sát ở Pol-I-Charki phiá Đông Kabul bắt giữ. Cảnh sát cho biết đầu tuần này, một số kẻ đeo bom tự sát vẫn còn ẩn núp và tiếp tục kháng cự.
Trong tỉnh Paktia, 3 tay súng đeo bom tự sát xông vào một tòa nhà đối diện với Trung tâm Huấn luyện Cảnh sát ở Gardez. Abdul Rahman Mangal, phó Thống đốc Paktia đã cho biết như trên.
Bọn này đã dùng súng lớn và nhỏ bắn vào tòa nhà Học viện Cảnh sát. Tất cả có 4 người bị thương.
Tại Jalalabad, miền Đông Afghanistan, các tay súng đeo bom tự sát đã bắn vào bộ Tư lệnh Quân đội Quốc gia Afghanistan, ngay gần phi trường quốc tế. Cảnh sát trưởng Nangahar đã cho biết như trên.
Và trong tỉnh Logar, phiá Đông Kabul, các giới chức nói 4 tay súng đeo bom tự sát đã xông vào tòa nhà của Bộ Hầm mỏ, trong khi 2 tên khác chiếm một tòa nhà khác nhằm mục đích chuẩn bị tấn công Văn phòng Thống đốc và bộ An ninh quốc gia, cùng với trụ sở bộ Cảnh sát Afghanistan.
Trong khi cả nước rối loạn như vậy, thử hỏi Tổng Thống Karzai của nước Afghanistan đang làm gì vậy? Chỉ thấy im lặng. Những biến cố đang xẩy ra và có thể còn xẩy ra trong ngày gần đây sẽ còn tạo ra những chuyện bất ngờ nhất cho các thủ đoạn đeo bom tự sát. Dù vậy loài người trên Trái Đất này đã bước sang Thế kỷ 21, chúng tôi tin rằng một quá khứ tệ hại nhất về sự chém giết lẫn nhau sẽ không còn kéo dài nữa.
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Tác giả : Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh Mảnh đất Afghanistan ở phía cuối của Trung Đông, nơi bị quân Liên Sô chiếm đóng sau Đệ nhị Thế chiến là gốc rễ của Địa ngục trần gian. Nơi đây chính là địa bàn đầu tiên trùm Khủng bố Osama bin Laden tổ chức 2 thành phần ma quỷ: 1) Khủng bố al-Qaida và 2) Du kích Taliban. Nhưng bọn trùm Cộng sản mê muội đã vô tình để mặc cho Osama bin Laden tạo ra 2 thành phần võ trang chưa từng thấy trong lịch sử loài người.
Năm 1987 quân Liên Sô rút khỏi Afghanistan, quân đội Đồng minh NATO tiến vào đó với mục đích xây dựng một chế độ tự do dân chủ. Đây cũng là một sai lầm khác của thời đại. Ngày nay với những bước tiến mau lẹ của Thế kỷ 21, người ta đã thấy rõ một sự thật phũ phàng: chế độ chính trị của một nước không phải từ bên ngoài đem đến mà phải do chính dân chúng nước đó xây dựng. Nước ngoài chỉ có thể giúp đỡ, nhưng không thể làm giùm. Và từ nhiều tuần qua, Afghanistan có loạn lớn.
Đầu tuần này, tin tức từ thủ đô Kabul cho biết một loạt những đợt sóng tấn công của quân phiến loạn đã đánh vào các trung tâm ngoại giao, chính phủ ở Kabul và 3 tỉnh phía Đông. Loạn quân dùng mọi thứ vũ khí phức tạp, kể cả bom tự sát, và chúng đã chiếm giữ các dinh thự hàng giờ trước khi rút đi. Trong trận đánh vào ngày chủ nhật vừa qua, bọn loạn quân đã chiếm đóng nhiều tòa nhà ở ngay trong khu vực Thủ đô được coi là an toàn nhất.
Nhưng điều quan ngại nhất là bọn loạn quân đã đánh bom tự sát. Ngay sau các vụ khởi loạn hồi tháng 9 năm ngoái đã có bom tự sát lẻ tẻ,nhưng không làm chết được nhiều người. Hồi đầu tháng 4 năm nay, Zabiullah Mujahid, một phát ngôn nhân của Taliban đã ra tuyên ngôn với các phóng viên báo chí, xác nhận trách nhiệm về các cuộc tấn công đó và nói thêm: “Chúng tôi phái bom tự sát đến Kabul và nay họ đã chiếm tòa nhà Quốc hội, Sứ quán Mỹ và mọi tòa nhà ngoại giao khác.
Đây chỉ là một sự hăm dọa chăng? Trong một vụ tấn công khác, có 3 kẻ đeo bom tự sát bị Cảnh sát ở Pol-I-Charki phiá Đông Kabul bắt giữ. Cảnh sát cho biết đầu tuần này, một số kẻ đeo bom tự sát vẫn còn ẩn núp và tiếp tục kháng cự.
Trong tỉnh Paktia, 3 tay súng đeo bom tự sát xông vào một tòa nhà đối diện với Trung tâm Huấn luyện Cảnh sát ở Gardez. Abdul Rahman Mangal, phó Thống đốc Paktia đã cho biết như trên.
Bọn này đã dùng súng lớn và nhỏ bắn vào tòa nhà Học viện Cảnh sát. Tất cả có 4 người bị thương.
Tại Jalalabad, miền Đông Afghanistan, các tay súng đeo bom tự sát đã bắn vào bộ Tư lệnh Quân đội Quốc gia Afghanistan, ngay gần phi trường quốc tế. Cảnh sát trưởng Nangahar đã cho biết như trên.
Và trong tỉnh Logar, phiá Đông Kabul, các giới chức nói 4 tay súng đeo bom tự sát đã xông vào tòa nhà của Bộ Hầm mỏ, trong khi 2 tên khác chiếm một tòa nhà khác nhằm mục đích chuẩn bị tấn công Văn phòng Thống đốc và bộ An ninh quốc gia, cùng với trụ sở bộ Cảnh sát Afghanistan.
Trong khi cả nước rối loạn như vậy, thử hỏi Tổng Thống Karzai của nước Afghanistan đang làm gì vậy? Chỉ thấy im lặng. Những biến cố đang xẩy ra và có thể còn xẩy ra trong ngày gần đây sẽ còn tạo ra những chuyện bất ngờ nhất cho các thủ đoạn đeo bom tự sát. Dù vậy loài người trên Trái Đất này đã bước sang Thế kỷ 21, chúng tôi tin rằng một quá khứ tệ hại nhất về sự chém giết lẫn nhau sẽ không còn kéo dài nữa.
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Dương Thu Hương: “30 tháng Tư 75, nền văn minh đã thua chế độ man rợ”.
Dương Thu Hương nổi tiếng không những về những tác phẩm như Thiên Ðường Mù, Bên Kia Bờ Ảo Vọng, Khải Hồn Mơn, Chốn Vắng… mà còn do thái độ can đảm và thẳng thắn phê bình giới lãnh đạo cộng sản Hà Nội. Bà từng bị chế độ giam giữ gần một năm và bị công an đe dọa “nghiền nát như tương.” Hiện nay, Dương Thu Hương tỵ nạn tại thủ đô Paris của nước Pháp. Dù xa quê nhà, bà vẫn luôn thao thức về tình hình tại Việt Nam. Tháng Tư năm 2000, nhà văn Dương Thu Hương đã trả lời cuộc phỏng vấn sau đây do Đinh Quang Anh Thái (ĐQAT) thực hiện và phát thanh trên làn sóng của đài Little Saigon Radio ở California.

Nhà văn Dương Thu Hương tại ngôi nhà của bà ở Paris (Hình: Đinh Quát)
-ĐQAT: Năm 1968, khi bà quyết định đi vào Nam chiến đấu – như trong sách của bà nói là bà tham dự cùng các bạn cùng lứa tuổi “xẻ Trường Sơn đánh Mỹ” –, tâm tư của bà lúc đó như thế nào?
-Dương Thu Hương: Tâm tư của tôi lúc đó hoàn toàn là của một người Việt cổ. Tôi liều thân cứu nước vì tôi quan niệm đây là một cuộc chiến tranh chống quân xâm lược; và chống quân xâm lược thì người tử tế phải xông ra chiến trường chứ không thể để mặc cho người khác hy sinh; và không thể mưu cầu một cuộc sống yên ấm khi người khác lâm nguy.
-ĐQAT: Không phải là theo tiếng gọi của đảng cộng sản Việt Nam?
-Dương Thu Hương: (cười khẩy)Ðó là cái điều lầm lẫn lớn nhất của các nhà báo nước ngoài cũng như tại Việt Nam (cười). Tại vì những người ấy có chịu lắng nghe đâu. Các ông ấy toàn nghĩ theo kiểu các ông ấy thôi. Cứ hàm hồ chụp lên đầu người khác suy nghĩ của mình.
-ĐQAT: Bà có thể nói rõ hơn?
-Dương Thu Hương: Tôi chả coi đảng cộng sản Việt Nam là cái gì cả. Ðối với một gia đình như gia đình tôi, bố tôi từng là đại đội trưởng Ðội Bá Vụ, phụ trách vấn đề liên lạc vô tuyến và làm trực tiếp dưới quyền ông Võ Nguyên Giáp, nhưng bố tôi không bao giờ vào đảng vì bà của tôi là địa chủ. Bố tôi chịu nhiều bất công, vì ông cống hiến rất nhiều mà chả được gì cả. Khi tôi lớn lên thì tôi không được thi vào đại học bởi vì lý lịch của bố tôi và gia đình tôi không thuộc thành phần cốt cán. Tôi vào trường Lý Luận Nghiệp Vụ vì lúc đó họ tuyển năng khiếu diễn kịch, hát múa; và tôi vào được vì do cơ may tôi có một người họ hàng làm thầy giáo của trường. Tôi còn nhớ lúc xẩy ra chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, ngay trước cửa nhà tôi là một người bị chết treo và lúc 8 tuổi, tôi đã phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến các cuộc đấu tố địa chủ. Sau lưng nhà tôi, ngay đường xe hỏa, một người khác bị vu là địa chủ nên tự tự bằng cách đặt cổ vào đường ray cho xe lửa cán chết. Thật khủng khiếp. Khi 8 tuổi, buổi sáng khi đi tưới rau, tôi thấy cảnh những người chết như thế và điều đó làm cho tôi vô cùng khủng khiếp. Cho nên tôi nhắc lại, năm 68 tôi vào tiền tuyến là vì tôi tuân thủ truyền thống cứu nước của dân tộc Việt Nam chứ không vì đảng cộng sản.
-ĐQAT: Theo chỗ tôi biết, bà lập gia đình trong giai đoạn chiến tranh và hai con của bà sinh ra ngay tại tiền tuyến; có đúng không ạ?
-Dương Thu Hương: Vâng, đúng như vậy.
-ĐQAT: Bà có thể cho biết hoàn cảnh sống của các con của bà tại tiền tuyến khi cuộc chiến bắt đầu vào thời điểm khốc liệt năm 1968?
-Dương Thu Hương: Chúng tôi sống như những người nông dân và tất cả mọi người đều chịu sự tàn phá của bom đạn chiến tranh. Thức ăn thức uống vô cùng khan hiếm, thậm chí rau cũng không có. Gạo ở bên kia sông, chỉ vì mấy cân gạo có thể mất mạng, vì bom Mỹ ném liên tục. Một điều nữa, ngay trong chiến tranh, năm – bẩy trăm người chết nhưng không bao giờ tin tức được loan báo. Vì tất cả đều chấp nhận cái chết đương nhiên. Và không thể loan tin vì suy nghĩ lúc bấy giờ ta là dân tộc anh hùng chiến thắng tất cả mọi kẻ thù nên không thể cho biết sự tổn thất. Hai con tôi sinh ra trong hoàn cảnh như vậy. Khi chúng nằm ở trong hầm, dưới mặt ván vài gang là nước và rắn bò lóp ngóp. Ðứa con gái của tôi khi vừa được ba tháng, rắn ngủ ở dưới đít của nó. Vì rắn tìm chỗ ấm mà! May mà sáng ra rắn tuồn xuống nước chứ không cắn con bé. Mà đấy là rắn độc. Cho nên mấy ông dân chài sống chung quanh bảo rằng con tôi được thần độ mạng. Tôi tin con người có số thật. Bởi vì sống dưới bom đạn, đói khát, rắn rết như vậy mà hai đứa con tôi, dù không được tươi da thắm thịt như con cái những người sống trong hoàn cảnh bình thường, nhưng chúng cũng không đến nỗi bị què quặt.
-ĐQAT: Khi lớn lên, các con của bà có bị ám ảnh bởi hồi ức lúc sống trong chiến tranh bom đạn không ạ?
-Dương Thu Hương: Trong chiến tranh chúng nó còn rất nhỏ cho nên khi lớn lên ấn tượng về cuộc chiến cũng mờ nhạt. Nhưng khi chúng lớn lên thì chúng chịu một cuộc chiến tranh khác còn tàn khốc hơn cuộc chiến thời 1968: Mẹ chúng nó làm giặc. Cho nên chúng nó bị nhiều thiệt thòi lắm.
-ĐQAT: Thưa bà, các cháu bị thiệt thòi ra sao ạ?
-Dương Thu Hương: Tôi đã nói rất rõ với các con tôi, rằng con đường làm giặc là phải chịu tất cả mọi khổ đau; cho nên tất cả mọi người trong gia đình, nghĩa là bố tôi, mẹ tôi, anh em tôi và con cái, nếu ai muốn thì tôi sẵn sàng viết giấy với tòa án là không có quan hệ với tôi nữa để tránh cho họ khỏi bị di lụy. Còn nếu những người muốn tiếp tục đứng với tôi thì phải chấp nhận khổ đau, thua thiệt và không bao giờ được nói với tôi một lời can thiệp vào việc tôi làm. Bởi vì tôi biết chắc chắn cộng sản sẽ dùng những người thân thuộc để gây sức ép. Nhiều trường hợp đã xẩy ra đối với những người đấu tranh dân chủ tại Việt Nam. Vợ con, anh em của họ bị công an áp lực phải khuyên can họ không được đấu tranh nên một số người đành bỏ cuộc. Bản thân tôi đã lường trước điều đó nên tôi tuyên bố sòng phẳng rằng, cả tuổi xuân của tôi, tôi đã hy sinh để nuôi con rồi, nên bây giờ tôi an tâm lao vào cuộc chiến chống lại bọn cường quyền. Tôi bảo các con tôi có thể về sống với bố của chúng hay với một người mẹ khác. Còn nếu chọn sống với tôi thì phải chấp nhận khổ đau, vì chắc chắn chúng sẽ không có chỗ đứng trong chế độ này. Hai con tôi đứa nào cũng hai bằng đại học nhưng vẫn không có việc làm. Con trai lớn của tôi phải sống bằng tất cả mọi việc, từ bồi bàn cho đến gác cổng. . .và bây giờ đi quay phim thuê cho một hãng tư. Cháu gái thì bán sơn.
-ĐQAT: Các cháu có chia sẻ lý tưởng của mẹ không?
-Dương Thu Hương: Không! Ðối với chúng nó, tôi là một người điên. Nhưng dầu sao chăng nữa thì cũng là tình mẹ con, nhất là tôi đã giao hẹn là nếu chấp nhận tôi thì không được can ngăn việc tôi làm, nếu can thiệp thì tôi sẽ cắt đứt ngay tức khắc, thành ra chúng nó đành chấp nhận thôi.
-ĐQAT: Từ một người dấn thân “xẻ Trường Sơn đánh Mỹ”, bây giờ bà trở thành một người “làm giặc” ngay tại Hà Nội; tại sao vậy, thưa bà?
-Dương Thu Hương: Tôi là người yêu nước khi tôi tham gia cuộc chiến tranh và đến tận bây giờ tôi vẫn là người yêu nước. Vì thế tôi mới làm giặc. Hai hành động đó (vào tiền tuyến năm 68 và bây giờ làm giặc) thống nhất với nhau.
-ĐQAT: Tư tưởng “làm giặc” của bà nhen nhúm từ lúc nào?
-Dương Thu Hương: Từ năm 1969. Lúc đó, nếu tôi còn chút ảo tưởng nào về chủ nghĩa cộng sản thì tôi đã trở thành đảng viên rồi. Họ mở rộng cánh cửa mời tôi vào đảng cơ mà. Nhưng vì tôi được dậy dỗ trong một gia đình lấy đạo đức làm tiêu chuẩn cho nên tôi không thể xếp tôi đứng vào hàng ngũ với những người mà tôi khinh bỉ. Ðơn giản như vậy thôi.
-ĐQAT: Bà từng viết rằng, ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi các phụ nữ khác trong đoàn quân của bà trầm trộ trước sự trù phú vật chất của miền Nam thì bà ngồi khóc trên lề đường Sài Gòn. Bà có thể nhắc lại tâm trạng của bà lúc đó?
-Dương Thu Hương: (thở dài)Ðiên rồ thì tôi có nhiều thứ điên rồ. Khóc thì tôi có hai lần khóc.
Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giất mơ. Ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ . . .nếu người ta muốn. Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Ðó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Ðó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải.
Lần thứ hai tôi khóc là năm 1984 khi tôi đến Mascơva. Tất cả những người Việt Nam khác đến đấy đều hớn hở, sung sướng. Riêng tôi thì nhục nhã không thể tả được. Vì khi ở trong nước, tôi vẫn có ấn tượng dân tộc mình là dân tộc anh hùng và là một dân tộc cũng có được một cuộc sống xứng đáng. Nhưng khi đến Mascơva trong một phái đoàn điện ảnh trẻ thì tôi mới nhìn thấy ra rằng, người Việt Nam bị khinh bỉ. Người Việt Nam đầu đen chỉ xếp hàng trong các đội quân dài dặc các bà già Nga bụng to để mua nồi áp xuất, bàn là điện nhằm gởi về nước. Những người bán hàng họ mắng cho như là mắng khỉ ấy. Họ mắng cũng đúng vì người mình khuân hàng đống nồi, hàng đống sản phẩm của người ta để tuồn về nước. Khi đứng ở khách sạn Peking nhìn xuống đường, tôi thấy những đoàn đại biểu Việt Nam trong những bộ quần áo complet gớm giếc trông như những đàn bò đi trong thành phố. Tôi hoàn toàn vỡ mộng và tôi khóc. Một nhà văn Nga mắng tôi. Anh ta bảo rằng, “người ta đi Nga người ta sung sướng, còn bà thì tại sao bà lại khóc như cha chết vậy. Sao lại vớ vẩn thế”. Anh ta không biết nỗi đau đớn của tôi khi thấy thân phận của người Việt Nam.
-ĐQAT: Từ đó bà lao vào cuộc đấu tranh?
-Dương Thu Hương: Ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã là một ngả rẽ trong đời tôi. Ðúng ra, ngã rẽ này đã bắt đầu từ năm 1969 khi lần đầu tiên tôi gặp những toán tù binh người miền Nam ở Quảng Bình. Lúc đó tôi làm công tác ở các binh trạm và những tù binh lần đầu tiên tôi gặp không phải là người Mỹ mà chính là người Việt Nam, cũng đầu đen mắt đen, cũng lùn và da vàng mũi tẹt như tôi, và nói tiếng Việt Nam như tôi. Cho nên tôi mới hồ nghi rằng tất cả những điều người ta nói đây là cuộc chiến tranh chống quân xâm lược thì đó là láo toét. Tuy nhiên vì lúc đó là chiến tranh và tất cả đều lao vào một guồng máy và bị cỗ xe khổng lồ nó cuốn đi. Cho đến năm 75, với thời gian (giọng ngậm ngùi, xúc động),tất cả mọi ngờ vực trong tôi đã chín muồi. Năm 75, tôi hiểu rằng đây là thời điểm quyết định và là ngã rẽ dứt khoát trong tư tưởng của mình.
-ĐQAT: Cám ơn bà đã dành thì giờ trả lời phỏng vấn của chúng tôi.
Dương Thu Hương nổi tiếng không những về những tác phẩm như Thiên Ðường Mù, Bên Kia Bờ Ảo Vọng, Khải Hồn Mơn, Chốn Vắng… mà còn do thái độ can đảm và thẳng thắn phê bình giới lãnh đạo cộng sản Hà Nội. Bà từng bị chế độ giam giữ gần một năm và bị công an đe dọa “nghiền nát như tương.” Hiện nay, Dương Thu Hương tỵ nạn tại thủ đô Paris của nước Pháp. Dù xa quê nhà, bà vẫn luôn thao thức về tình hình tại Việt Nam. Tháng Tư năm 2000, nhà văn Dương Thu Hương đã trả lời cuộc phỏng vấn sau đây do Đinh Quang Anh Thái (ĐQAT) thực hiện và phát thanh trên làn sóng của đài Little Saigon Radio ở California.

Nhà văn Dương Thu Hương tại ngôi nhà của bà ở Paris (Hình: Đinh Quát)
-ĐQAT: Năm 1968, khi bà quyết định đi vào Nam chiến đấu – như trong sách của bà nói là bà tham dự cùng các bạn cùng lứa tuổi “xẻ Trường Sơn đánh Mỹ” –, tâm tư của bà lúc đó như thế nào?
-Dương Thu Hương: Tâm tư của tôi lúc đó hoàn toàn là của một người Việt cổ. Tôi liều thân cứu nước vì tôi quan niệm đây là một cuộc chiến tranh chống quân xâm lược; và chống quân xâm lược thì người tử tế phải xông ra chiến trường chứ không thể để mặc cho người khác hy sinh; và không thể mưu cầu một cuộc sống yên ấm khi người khác lâm nguy.
-ĐQAT: Không phải là theo tiếng gọi của đảng cộng sản Việt Nam?
-Dương Thu Hương: (cười khẩy)Ðó là cái điều lầm lẫn lớn nhất của các nhà báo nước ngoài cũng như tại Việt Nam (cười). Tại vì những người ấy có chịu lắng nghe đâu. Các ông ấy toàn nghĩ theo kiểu các ông ấy thôi. Cứ hàm hồ chụp lên đầu người khác suy nghĩ của mình.
-ĐQAT: Bà có thể nói rõ hơn?
-Dương Thu Hương: Tôi chả coi đảng cộng sản Việt Nam là cái gì cả. Ðối với một gia đình như gia đình tôi, bố tôi từng là đại đội trưởng Ðội Bá Vụ, phụ trách vấn đề liên lạc vô tuyến và làm trực tiếp dưới quyền ông Võ Nguyên Giáp, nhưng bố tôi không bao giờ vào đảng vì bà của tôi là địa chủ. Bố tôi chịu nhiều bất công, vì ông cống hiến rất nhiều mà chả được gì cả. Khi tôi lớn lên thì tôi không được thi vào đại học bởi vì lý lịch của bố tôi và gia đình tôi không thuộc thành phần cốt cán. Tôi vào trường Lý Luận Nghiệp Vụ vì lúc đó họ tuyển năng khiếu diễn kịch, hát múa; và tôi vào được vì do cơ may tôi có một người họ hàng làm thầy giáo của trường. Tôi còn nhớ lúc xẩy ra chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, ngay trước cửa nhà tôi là một người bị chết treo và lúc 8 tuổi, tôi đã phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến các cuộc đấu tố địa chủ. Sau lưng nhà tôi, ngay đường xe hỏa, một người khác bị vu là địa chủ nên tự tự bằng cách đặt cổ vào đường ray cho xe lửa cán chết. Thật khủng khiếp. Khi 8 tuổi, buổi sáng khi đi tưới rau, tôi thấy cảnh những người chết như thế và điều đó làm cho tôi vô cùng khủng khiếp. Cho nên tôi nhắc lại, năm 68 tôi vào tiền tuyến là vì tôi tuân thủ truyền thống cứu nước của dân tộc Việt Nam chứ không vì đảng cộng sản.
-ĐQAT: Theo chỗ tôi biết, bà lập gia đình trong giai đoạn chiến tranh và hai con của bà sinh ra ngay tại tiền tuyến; có đúng không ạ?
-Dương Thu Hương: Vâng, đúng như vậy.
-ĐQAT: Bà có thể cho biết hoàn cảnh sống của các con của bà tại tiền tuyến khi cuộc chiến bắt đầu vào thời điểm khốc liệt năm 1968?
-Dương Thu Hương: Chúng tôi sống như những người nông dân và tất cả mọi người đều chịu sự tàn phá của bom đạn chiến tranh. Thức ăn thức uống vô cùng khan hiếm, thậm chí rau cũng không có. Gạo ở bên kia sông, chỉ vì mấy cân gạo có thể mất mạng, vì bom Mỹ ném liên tục. Một điều nữa, ngay trong chiến tranh, năm – bẩy trăm người chết nhưng không bao giờ tin tức được loan báo. Vì tất cả đều chấp nhận cái chết đương nhiên. Và không thể loan tin vì suy nghĩ lúc bấy giờ ta là dân tộc anh hùng chiến thắng tất cả mọi kẻ thù nên không thể cho biết sự tổn thất. Hai con tôi sinh ra trong hoàn cảnh như vậy. Khi chúng nằm ở trong hầm, dưới mặt ván vài gang là nước và rắn bò lóp ngóp. Ðứa con gái của tôi khi vừa được ba tháng, rắn ngủ ở dưới đít của nó. Vì rắn tìm chỗ ấm mà! May mà sáng ra rắn tuồn xuống nước chứ không cắn con bé. Mà đấy là rắn độc. Cho nên mấy ông dân chài sống chung quanh bảo rằng con tôi được thần độ mạng. Tôi tin con người có số thật. Bởi vì sống dưới bom đạn, đói khát, rắn rết như vậy mà hai đứa con tôi, dù không được tươi da thắm thịt như con cái những người sống trong hoàn cảnh bình thường, nhưng chúng cũng không đến nỗi bị què quặt.
-ĐQAT: Khi lớn lên, các con của bà có bị ám ảnh bởi hồi ức lúc sống trong chiến tranh bom đạn không ạ?
-Dương Thu Hương: Trong chiến tranh chúng nó còn rất nhỏ cho nên khi lớn lên ấn tượng về cuộc chiến cũng mờ nhạt. Nhưng khi chúng lớn lên thì chúng chịu một cuộc chiến tranh khác còn tàn khốc hơn cuộc chiến thời 1968: Mẹ chúng nó làm giặc. Cho nên chúng nó bị nhiều thiệt thòi lắm.
-ĐQAT: Thưa bà, các cháu bị thiệt thòi ra sao ạ?
-Dương Thu Hương: Tôi đã nói rất rõ với các con tôi, rằng con đường làm giặc là phải chịu tất cả mọi khổ đau; cho nên tất cả mọi người trong gia đình, nghĩa là bố tôi, mẹ tôi, anh em tôi và con cái, nếu ai muốn thì tôi sẵn sàng viết giấy với tòa án là không có quan hệ với tôi nữa để tránh cho họ khỏi bị di lụy. Còn nếu những người muốn tiếp tục đứng với tôi thì phải chấp nhận khổ đau, thua thiệt và không bao giờ được nói với tôi một lời can thiệp vào việc tôi làm. Bởi vì tôi biết chắc chắn cộng sản sẽ dùng những người thân thuộc để gây sức ép. Nhiều trường hợp đã xẩy ra đối với những người đấu tranh dân chủ tại Việt Nam. Vợ con, anh em của họ bị công an áp lực phải khuyên can họ không được đấu tranh nên một số người đành bỏ cuộc. Bản thân tôi đã lường trước điều đó nên tôi tuyên bố sòng phẳng rằng, cả tuổi xuân của tôi, tôi đã hy sinh để nuôi con rồi, nên bây giờ tôi an tâm lao vào cuộc chiến chống lại bọn cường quyền. Tôi bảo các con tôi có thể về sống với bố của chúng hay với một người mẹ khác. Còn nếu chọn sống với tôi thì phải chấp nhận khổ đau, vì chắc chắn chúng sẽ không có chỗ đứng trong chế độ này. Hai con tôi đứa nào cũng hai bằng đại học nhưng vẫn không có việc làm. Con trai lớn của tôi phải sống bằng tất cả mọi việc, từ bồi bàn cho đến gác cổng. . .và bây giờ đi quay phim thuê cho một hãng tư. Cháu gái thì bán sơn.
-ĐQAT: Các cháu có chia sẻ lý tưởng của mẹ không?
-Dương Thu Hương: Không! Ðối với chúng nó, tôi là một người điên. Nhưng dầu sao chăng nữa thì cũng là tình mẹ con, nhất là tôi đã giao hẹn là nếu chấp nhận tôi thì không được can ngăn việc tôi làm, nếu can thiệp thì tôi sẽ cắt đứt ngay tức khắc, thành ra chúng nó đành chấp nhận thôi.
-ĐQAT: Từ một người dấn thân “xẻ Trường Sơn đánh Mỹ”, bây giờ bà trở thành một người “làm giặc” ngay tại Hà Nội; tại sao vậy, thưa bà?
-Dương Thu Hương: Tôi là người yêu nước khi tôi tham gia cuộc chiến tranh và đến tận bây giờ tôi vẫn là người yêu nước. Vì thế tôi mới làm giặc. Hai hành động đó (vào tiền tuyến năm 68 và bây giờ làm giặc) thống nhất với nhau.
-ĐQAT: Tư tưởng “làm giặc” của bà nhen nhúm từ lúc nào?
-Dương Thu Hương: Từ năm 1969. Lúc đó, nếu tôi còn chút ảo tưởng nào về chủ nghĩa cộng sản thì tôi đã trở thành đảng viên rồi. Họ mở rộng cánh cửa mời tôi vào đảng cơ mà. Nhưng vì tôi được dậy dỗ trong một gia đình lấy đạo đức làm tiêu chuẩn cho nên tôi không thể xếp tôi đứng vào hàng ngũ với những người mà tôi khinh bỉ. Ðơn giản như vậy thôi.
-ĐQAT: Bà từng viết rằng, ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi các phụ nữ khác trong đoàn quân của bà trầm trộ trước sự trù phú vật chất của miền Nam thì bà ngồi khóc trên lề đường Sài Gòn. Bà có thể nhắc lại tâm trạng của bà lúc đó?
-Dương Thu Hương: (thở dài)Ðiên rồ thì tôi có nhiều thứ điên rồ. Khóc thì tôi có hai lần khóc.
Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giất mơ. Ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ . . .nếu người ta muốn. Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Ðó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Ðó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải.
Lần thứ hai tôi khóc là năm 1984 khi tôi đến Mascơva. Tất cả những người Việt Nam khác đến đấy đều hớn hở, sung sướng. Riêng tôi thì nhục nhã không thể tả được. Vì khi ở trong nước, tôi vẫn có ấn tượng dân tộc mình là dân tộc anh hùng và là một dân tộc cũng có được một cuộc sống xứng đáng. Nhưng khi đến Mascơva trong một phái đoàn điện ảnh trẻ thì tôi mới nhìn thấy ra rằng, người Việt Nam bị khinh bỉ. Người Việt Nam đầu đen chỉ xếp hàng trong các đội quân dài dặc các bà già Nga bụng to để mua nồi áp xuất, bàn là điện nhằm gởi về nước. Những người bán hàng họ mắng cho như là mắng khỉ ấy. Họ mắng cũng đúng vì người mình khuân hàng đống nồi, hàng đống sản phẩm của người ta để tuồn về nước. Khi đứng ở khách sạn Peking nhìn xuống đường, tôi thấy những đoàn đại biểu Việt Nam trong những bộ quần áo complet gớm giếc trông như những đàn bò đi trong thành phố. Tôi hoàn toàn vỡ mộng và tôi khóc. Một nhà văn Nga mắng tôi. Anh ta bảo rằng, “người ta đi Nga người ta sung sướng, còn bà thì tại sao bà lại khóc như cha chết vậy. Sao lại vớ vẩn thế”. Anh ta không biết nỗi đau đớn của tôi khi thấy thân phận của người Việt Nam.
-ĐQAT: Từ đó bà lao vào cuộc đấu tranh?
-Dương Thu Hương: Ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã là một ngả rẽ trong đời tôi. Ðúng ra, ngã rẽ này đã bắt đầu từ năm 1969 khi lần đầu tiên tôi gặp những toán tù binh người miền Nam ở Quảng Bình. Lúc đó tôi làm công tác ở các binh trạm và những tù binh lần đầu tiên tôi gặp không phải là người Mỹ mà chính là người Việt Nam, cũng đầu đen mắt đen, cũng lùn và da vàng mũi tẹt như tôi, và nói tiếng Việt Nam như tôi. Cho nên tôi mới hồ nghi rằng tất cả những điều người ta nói đây là cuộc chiến tranh chống quân xâm lược thì đó là láo toét. Tuy nhiên vì lúc đó là chiến tranh và tất cả đều lao vào một guồng máy và bị cỗ xe khổng lồ nó cuốn đi. Cho đến năm 75, với thời gian (giọng ngậm ngùi, xúc động),tất cả mọi ngờ vực trong tôi đã chín muồi. Năm 75, tôi hiểu rằng đây là thời điểm quyết định và là ngã rẽ dứt khoát trong tư tưởng của mình.
-ĐQAT: Cám ơn bà đã dành thì giờ trả lời phỏng vấn của chúng tôi.
Bạc Hy Lai Trong Sa Lậu
Tác giả : Nguyễn Xuân Nghĩa
Đồng thuận Bắc Kinh bỗng rung rinh vì Trùng Khánh...
Như dòng cát chảy trong cái bình đồng hồ, mà dân Tầu gọi là "sa lậu", hay vụ án Trùng Khánh hay chuyện Bạc Hy Lai ngã ngựa và bà vợ là Cốc Khai Lai có khi vào tù, tiếp tục nhỏ xuống và tràn ra những tin ghê người về sự nghiệp và hành vi của cựu Bí thư Trùng Khánh cùng gia đình.
Kỳ trước, trong bài "Trùng Khánh Trùng Trùng" cột báo này đã trình bày bối cảnh của nội vụ và suy đoán về lý do thật khiến Bạc Hy Lai bay chức Bí thư Trùng Khánh rồi bị đuổi khỏi Bộ Chính trị cùng Ban Chấp hành Trung ương đảng Khoá 17. Lý do thật là sự chọn lựa sinh tử của đảng Cộng sản Trung Hoa về chiều hướng lãnh đạo trong tương lai. Chuyện ấy nay đã rõ.
Nhiều dịp trước đó, người viết cũng giới thiệu và phê bình mô hình phát triển của thành phố Trùng Khánh, có thời xem là mẫu mực và còn được sáu trong chín Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị ngợi khen. Nó giúp Bạc Hy Lai trở thành khuôn mặt sáng của thế hệ lãnh đạo thứ năm, sẽ thăng quan tiến chức trong Đại hội 18 sắp tới.
Chuyện ấy cũng đã xong khi lãnh đạo Bắc Kinh đang cho điều tra lại tình trạng tham ô và nợ nần của Trùng Khánh lẫn hành tung của Bạc Hy Lai khi còn là Bí thư tỉnh Liêu Ninh hiu quạnh rồi Bộ trưởng Thương mại rất nổi cộm.
Nhưng, ngoài các chi tiết hấp dẫn được phanh phui, người ta còn cần nhìn ra nhiều chứng tật bẩm sinh của mô thức chính trị Trung Quốc mà bên ngoài gọi là "Đồng thuận Bắc Kinh", hay "Beijing Consensus". Từ nguyên thủy, xin nhắc lại rằng đó là một chữ do doanh nghiệp du thuyết – chuyên về "lobby" – của Henry Kissinger đặt ra từ năm 2004 với dụng ý ngợi khen và gây ấn tượng tốt đẹp về mô thức Trung Quốc so với các mô thức khác.
Trong hoàn cảnh khó khăn chung từ bốn năm nay của các nước đi theo kinh tế thị trường, chính trị dân chủ và xã hội cởi mở - chủ yếu là ba khối kinh tế Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật Bản - giải pháp chủ động phát triển với vai trò lãnh đạo của nhà nước có thể đạt kết quả khả quan hơn, như trường hợp Trung Quốc, với mức tăng trưởng tột bậc.
Vì vậy, mô thức Trung Quốc có sức cám dỗ rất cao cho nhiều quốc gia chậm tiến và các chế độ độc tài. Thậm chí, việc nhà nước can thiệp nhiều hơn vào thị trường cũng được nhiều nước dân chủ đề cao, như ta đang thấy ngay tại Hoa Kỳ, với chủ trương của Chính quyền Barack Obama và đảng Dân Chủ.
Nhưng chuyện Bạc Hy Lai đang chết kẹt trong cái bình sa lậu là cơ hội cho chúng ta nhìn lại....
Trước hết, trên nguyên tắc, khi được đề cử vào Bộ Chính trị, 25 người cầm đầu đảng Cộng sản Trung Hoa đều mặc nhiên cam kết là khi nào họ còn tại chức thì bản thân không liên hệ vào bất cứ một cơ sở kinh doanh nào. Lý do lý tưởng ở đây là nhờ vậy, họ có thể ở vào vị trí khách quan để thẩm xét những chọn lựa chiến lược về quốc kế dân sinh, chứ không vì tư lợi.
Trong thực tế, gia đình và thân tộc của họ vẫn có quyền và nhờ đó có cái thế tham gia vào việc kinh doanh trong một hệ thống kinh tế mà các doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo và được ưu đãi. Nhưng trên nguyên tắc, đám thân tộc này vẫn được gọi là "tư doanh" và còn được giới đầu tư quốc tế ve vãn qua các công ty môi giới, hay doanh nghiệp thuyết khách, và các tay cò mi quốc tế.
Doanh gia Neil Heywood bị tình nghi là đánh độc dược bằng thạch tín là một loại cò mồi đó – mà vẫn chỉ là cò con – và thi hài được lật đật hoả táng, cho đến khi Giám đốc Công an Trùng Khánh phanh phui làm Bạc Hy Lai và gia đình ngã ngựa.
Hiện tượng Bạc Hy Lai, con trai của Bạc Nhất Ba, một trong "bát đại nguyên lão" – các đồng chí cách mạng thời Mao Trạch Đông – hay bà vợ là Cốc Khai Lai, con gái của một viên sĩ quan lừng danh năm xưa khi "cho Việt Nam một bài học" năm 1979, cùng nhiều nhân vật khác trong "Thái tử đảng" không là hy hữu mà là quy luật.
Khi vụ Trùng Khánh đổ bể, người ta biết thêm về vai trò "doanh gia" của anh và em Bạc Hy Lai như Bạc Hy Dũng, Bạc Hy Thành, hay các chị em của Cốc Khai Lai là Cốc Hoàng Giang, Cốc Hoàng Ninh, v.v.... Chẳng những vậy, con cháu những Đặng Tiểu Bình, Lý Bằng – công trình sư của vụ thảm sát Thiên an môn năm 1989 – hay rất nhiều lãnh tụ khác trong khu Trung Nam Hải, kể cả Ôn Vân Tùng, con trai của Tổng lý Quốc vụ viện, là đương kim Thủ tướng Ôn Gia Bảo, đều là loại doanh gia thành công và rất được quốc tế trọng vọng.
Sự cấu kết giữa "tư doanh" có thế lực và quan hệ với các tập đoàn nhà nước trong một chế độ tư bản nhà nước tất nhiên dẫn đến "chủ nghĩa tư bản thân tộc", "crony capitalism", một ấn bản hiện đại hơn của quy luật châu Á nay hết là độc quyền Á châu: một người làm quan cả họ được nhờ.
Đấy là sự bất công của hệ thống tư bản nhà nước "với màu sắc Trung Hoa" hay "theo định hướng xã hội chủ nghĩa" vì tạo ra một sân chơi bất bình đẳng. Nhưng... nhập gia tùy tục, tư bản quốc tế vẫn nhảy vào sân chơi đó với cái đòn bảy là mối quan hệ cùng thân tộc của lãnh đạo.
Nhiều người còn tô màu ngũ sắc cho sự cấu kết mờ ám bằng khẩu hiệu "Đồng thuận Bắc Kinh".
Điều mà người ta ém nhẹm bên dưới là nhìn từ quan điểm quyền lợi của bá tánh hay sự vững bền của mô thức phát triển, các nhóm quyền lợi đó tác động vào sự chọn lựa của lãnh đạo ở trên. Họ thực tế cản trở việc cải cách và đưa xứ sở vào "bẫy xập" là điều mà chính đám trí thức của chế độ đã báo động: Trung Quốc hết dám cải cách khi chiến lược phát triển đã đi hết giới hạn của sự vận hành khả quan từ 30 năm qua. Nay đang bị nguy cơ khủng hoảng!
Đấy là lúc không nên thoái lui về chủ trương bảo thủ của Mao Trạch Đông do Bạc Hy Lai minh diễn với sự hùng hồn của một nghệ sĩ. Nhưng vấn đề không chỉ có khía cạnh kinh tế chính học học nhờ nhờ màu đỏ như vậy!
Vấn đề sâu xa hơn thế: với quyền lực tuyệt đối của đảng và con mắt tinh tường của Ban Kỷ luật Trung ương, cơ chế tối cao về nhân sự và kỷ cương trong đảng, còn cao hơn cả Ban Tổ chức Trung ương lẫn Ban Chính pháp Trung ương, vì sao một nhân vật như Bạc Hy Lai đã có thể vọt lên như ngôi sao băng?
Phải chăng, thành tích hay tỳ vết của họ Bạc khi còn là Bí thư tỉnh Liêu Ninh rồi Bộ trưởng Thương mại trước khi về lãnh đạo Trùng Khánh năm năm về trước là những gì mà ở trên không biết? Hoặc đã biết một cách lệch lạc nên mới sớm đề bạt và còn ngợi ca? Bây giờ Ban Kỷ luật mới lại mở cuộc điều tra - mà càng điều tra càng thấy giật mình.
Tệ nạn tham nhũng của họ Bạc đã có từ thời ở Liêu Ninh và thành tích "đả hắc" tại Trùng Khánh – diệt trừ các tổ chức tội ác của xã hội đen – đã che giấu nạn thủ tiêu đối lập và cấu kết với mafia! Ngoài Bạc Hy Lai, còn những ai khác ở nơi khác có thể đang ở trong trường hợp này?
Nếu Vương Lập Quân không bò ra và bỏ chạy vào tòa Tổng lãnh sự Mỹ ở Thành Đô để tìm cõi sống, thì trung ương có biết không? Mà có bao giờ mà người dân được biết không?
Ngoài cái nạn tư bản thân tộc và việc kiểm tra nhân sự, chuyện thứ ba, còn gai góc hơn cho "Đồng thuận Bắc Kinh" là việc chuyển giao quyền lực.
Với cái nhìn lạnh lùng về mọi cuộc đấu tranh giành quyền lực ở mọi thời, mọi nơi, người ta đều phải có thể kết luận một cách phiến diện rằng vụ Bạc Hy Lai là một biểu hiện của chuyện tranh quyền.
Có thể họ Bạc được hậu thuẫn của Trưởng ban Chính pháp Chu Vĩnh Khang hoặc một số tướng lãnh, kể cả con trai duy nhất còn lại của Lưu Thiếu Kỳ là Tướng Lưu Nguyên, nhưng gặp trở ngại từ nhiều nhân vật lãnh đạo khác trong Bộ Chính trị. Họ là những ai? Chúng ta khó biết được.
Họ có thể là Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo hay Hạ Quốc Cường, Trưởng ban Kỷ luật, là những người thuộc lớp lãnh tụ sắp về hưu. Hay Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường, là hai người sẽ lên thay thế cặp Hồ-Ôn. Hoặc Bí thư Quảng Đông là Uông Dương, một cựu Bí thư Trùng Khánh và nhân vật đang hy vọng ngồi vào ghế "thất hiền", bảy Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị sau Đại hội 18.
Xuyên qua đó, ta có thể đoán ra một số thế lực bên trong "cái đa số thầm lặng" này.
Nhưng hãy nhìn sân khấu chính trị Trung Quốc trong viễn cảnh sâu xa hơn.
Từ năm 1981, Đặng Tiểu Bình đề ra nguyên tắc đồng thuận là tập thể lãnh đạo phải giữ vẻ thống nhất – không công khai hóa những dị biệt về quan điểm hay chủ trương – và tuyệt đối gạt bỏ tệ sùng bái cá nhân như dưới thời Mao. Ông ta cũng đề ra nguyên tắc chuyển giao quyền lực một cách ôn hoà khi lãnh đạo chọn trước những người sẽ lên thay thế trong thập niên tới.
Vậy mà họ Đặng đã tuột tay trong vụ khủng hoảng Thiên An Môn năm 1989 khiến mấy ngàn người bị tàn sát và đương kim Tổng Bí thư là Triệu Tử Dương bị quản thúc tại gia cho đến chết.
Lần đó, các tướng lãnh đã được điều vào thay thế Quân khu Thủ đô để dẹp loạn tại Bắc Kinh. Nhờ đó, Giang Trạch Dân và Kiều Thạch cùng Lý Bằng đã lên ngôi, trong khi cũng theo ý họ Đặng mà chọn trước Hồ Cẩm Đào sẽ lên thay thế trong Đại hội 16 vào năm 2002. Nhưng rồi từ 1991, Trung Quốc đã bảo đảm được sự chuyển quyền tương đối êm ả trong hai chục năm.
Thế rồi vụ Bạc Hy Lai bị đột ngột hạ bệ cho thấy nhược điểm của lối tuyển chọn âm thầm đó.
Có âm thầm là có mờ ám! Sự mờ ám này làm đảng Cộng sản Trung Hoa đang bị khủng hoảng khi chuyển giao lãnh đạo cho thế hệ thứ năm và chuẩn bị người thay thế trong thế hệ lãnh đạo thứ sáu.
So sánh với tiến trình tranh cử ồn ào, tèm lem và đầy bất ngờ của các nền dân chủ, sự ổn định ở bề mặt của mô thức Trung Quốc mới là một bất trắc sinh tử! Sinh tử nhất, nếu ta không mắc bệnh quên trí nhớ là vụ Thiên an môn bùng nổ vì một nguyên nhân đầu tiên: dân chúng biểu tình phản đối nạn tham nhũng và mối lo về lạm phát. Chuyện đấu tranh cho dân chủ chỉ là hậu quả, đến sau.... Sinh tử vì tham nhũng hay lạm phát cũng đang là mối lo hiện đại của lãnh đạo vì là sự bất mãn của quần chúng.
Vấn đề ấy dẫn ta về hiện tại là chuyện thứ tư là sự đổi thay của xã hội.
Khi Đặng Tiểu Bình còn tại thế, xã hội Trung Quốc chưa lãnh cuộc cách mạng tín học và làn sóng thông tin có thể gọi là vô cương, không biên giới.
Nhờ khả năng bưng bít thông tin và tuyên truyền có định hướng, các lãnh tụ ở trên đã có thể âm thầm và nham hiểm kiểm soát nhận thức của mọi người như những đạo diễn có tài, vì mọi diễn viên trong hậu trường đều theo sát kịch bản đồng thuận đã được tập thể chọn lựa. Nhưng qua thế kỷ 21, hiện tượng thông tin vô cương và mạng lưới xã hội điện tử toàn cầu đã đảo lộn trò chơi hắc ám này.
Khi nội vụ đổ bể từ hôm mùng bảy Tháng Hai – là lúc Vương Lập Quân đồng ý ra khỏi toà Tổng lãnh sự Mỹ tại Thành Đô để được giải về trung ương là Bắc Kinh thay vì có thể bị tay chân họ Bạc thủ tiêu ngay tại Trùng Khánh – làn sóng thông tin đã phá vỡ những bức vách ngăn cách của lãnh đạo.
Ban đầu, các lãnh tụ Bắc Kinh còn tương kế tựu kế mà cho loan truyền một số tin tức có chọn lọc và dụng ý về Vương Lập Quân rồi Bạc Hy Lai. Nhưng trong hai tháng liền, qua các mạng lưới thông tin chằng chịt ở trong và ngoài Trung Quốc, làn sóng đó đã gây phản tác dụng theo đúng quy luật "lộng giả thành chân": có nơi loan tin về nguy cơ đảo chánh quân sự và có nơi phát động phong trào đề cao Mao Trạch Đông – để bênh vực Bạc Hy Lai.
Chuyện đồng thuận và âm thầm bỗng dưng chấm dứt và nhiều người loan tin trong các blog bị cầm tù. Vì trò chơi của trung ương mở ra nguy cơ tranh luận công khai không chỉ trên thượng tầng mà ngay trong quần chúng và cả... quân đội.
Kết cuộc thì y như trong vụ Lâm Bưu tử nạn năm 1971 sau một vụ đảo chánh hụt và bị phản đảo chánh, các tướng lãnh phải lên tiếng thề bồi là Quân đội Giải phóng vẫn tuyệt đối trung thành với đảng!
Khi nhìn lại toàn vụ, từ chuyện tư bản nhà nước, tư bản thân tộc đến tham nhũng và tranh quyền, từ việc kiểm tra nhân sự đến tuyển chọn lãnh đạo và điều hướng dư luận, mô thức Trung Quốc hay cái gọi là "Đồng thuận Bắc Kinh" chỉ là bi kịch của xã hội đen khoác áo đỏ.
Xét cho cùng thì cũng chẳng khác chi tuồng hát đang tưng bừng ở Hà Nội.
Tác giả : Nguyễn Xuân Nghĩa
Đồng thuận Bắc Kinh bỗng rung rinh vì Trùng Khánh...
Như dòng cát chảy trong cái bình đồng hồ, mà dân Tầu gọi là "sa lậu", hay vụ án Trùng Khánh hay chuyện Bạc Hy Lai ngã ngựa và bà vợ là Cốc Khai Lai có khi vào tù, tiếp tục nhỏ xuống và tràn ra những tin ghê người về sự nghiệp và hành vi của cựu Bí thư Trùng Khánh cùng gia đình.
Kỳ trước, trong bài "Trùng Khánh Trùng Trùng" cột báo này đã trình bày bối cảnh của nội vụ và suy đoán về lý do thật khiến Bạc Hy Lai bay chức Bí thư Trùng Khánh rồi bị đuổi khỏi Bộ Chính trị cùng Ban Chấp hành Trung ương đảng Khoá 17. Lý do thật là sự chọn lựa sinh tử của đảng Cộng sản Trung Hoa về chiều hướng lãnh đạo trong tương lai. Chuyện ấy nay đã rõ.
Nhiều dịp trước đó, người viết cũng giới thiệu và phê bình mô hình phát triển của thành phố Trùng Khánh, có thời xem là mẫu mực và còn được sáu trong chín Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị ngợi khen. Nó giúp Bạc Hy Lai trở thành khuôn mặt sáng của thế hệ lãnh đạo thứ năm, sẽ thăng quan tiến chức trong Đại hội 18 sắp tới.
Chuyện ấy cũng đã xong khi lãnh đạo Bắc Kinh đang cho điều tra lại tình trạng tham ô và nợ nần của Trùng Khánh lẫn hành tung của Bạc Hy Lai khi còn là Bí thư tỉnh Liêu Ninh hiu quạnh rồi Bộ trưởng Thương mại rất nổi cộm.
Nhưng, ngoài các chi tiết hấp dẫn được phanh phui, người ta còn cần nhìn ra nhiều chứng tật bẩm sinh của mô thức chính trị Trung Quốc mà bên ngoài gọi là "Đồng thuận Bắc Kinh", hay "Beijing Consensus". Từ nguyên thủy, xin nhắc lại rằng đó là một chữ do doanh nghiệp du thuyết – chuyên về "lobby" – của Henry Kissinger đặt ra từ năm 2004 với dụng ý ngợi khen và gây ấn tượng tốt đẹp về mô thức Trung Quốc so với các mô thức khác.
Trong hoàn cảnh khó khăn chung từ bốn năm nay của các nước đi theo kinh tế thị trường, chính trị dân chủ và xã hội cởi mở - chủ yếu là ba khối kinh tế Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật Bản - giải pháp chủ động phát triển với vai trò lãnh đạo của nhà nước có thể đạt kết quả khả quan hơn, như trường hợp Trung Quốc, với mức tăng trưởng tột bậc.
Vì vậy, mô thức Trung Quốc có sức cám dỗ rất cao cho nhiều quốc gia chậm tiến và các chế độ độc tài. Thậm chí, việc nhà nước can thiệp nhiều hơn vào thị trường cũng được nhiều nước dân chủ đề cao, như ta đang thấy ngay tại Hoa Kỳ, với chủ trương của Chính quyền Barack Obama và đảng Dân Chủ.
Nhưng chuyện Bạc Hy Lai đang chết kẹt trong cái bình sa lậu là cơ hội cho chúng ta nhìn lại....
Trước hết, trên nguyên tắc, khi được đề cử vào Bộ Chính trị, 25 người cầm đầu đảng Cộng sản Trung Hoa đều mặc nhiên cam kết là khi nào họ còn tại chức thì bản thân không liên hệ vào bất cứ một cơ sở kinh doanh nào. Lý do lý tưởng ở đây là nhờ vậy, họ có thể ở vào vị trí khách quan để thẩm xét những chọn lựa chiến lược về quốc kế dân sinh, chứ không vì tư lợi.
Trong thực tế, gia đình và thân tộc của họ vẫn có quyền và nhờ đó có cái thế tham gia vào việc kinh doanh trong một hệ thống kinh tế mà các doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo và được ưu đãi. Nhưng trên nguyên tắc, đám thân tộc này vẫn được gọi là "tư doanh" và còn được giới đầu tư quốc tế ve vãn qua các công ty môi giới, hay doanh nghiệp thuyết khách, và các tay cò mi quốc tế.
Doanh gia Neil Heywood bị tình nghi là đánh độc dược bằng thạch tín là một loại cò mồi đó – mà vẫn chỉ là cò con – và thi hài được lật đật hoả táng, cho đến khi Giám đốc Công an Trùng Khánh phanh phui làm Bạc Hy Lai và gia đình ngã ngựa.
Hiện tượng Bạc Hy Lai, con trai của Bạc Nhất Ba, một trong "bát đại nguyên lão" – các đồng chí cách mạng thời Mao Trạch Đông – hay bà vợ là Cốc Khai Lai, con gái của một viên sĩ quan lừng danh năm xưa khi "cho Việt Nam một bài học" năm 1979, cùng nhiều nhân vật khác trong "Thái tử đảng" không là hy hữu mà là quy luật.
Khi vụ Trùng Khánh đổ bể, người ta biết thêm về vai trò "doanh gia" của anh và em Bạc Hy Lai như Bạc Hy Dũng, Bạc Hy Thành, hay các chị em của Cốc Khai Lai là Cốc Hoàng Giang, Cốc Hoàng Ninh, v.v.... Chẳng những vậy, con cháu những Đặng Tiểu Bình, Lý Bằng – công trình sư của vụ thảm sát Thiên an môn năm 1989 – hay rất nhiều lãnh tụ khác trong khu Trung Nam Hải, kể cả Ôn Vân Tùng, con trai của Tổng lý Quốc vụ viện, là đương kim Thủ tướng Ôn Gia Bảo, đều là loại doanh gia thành công và rất được quốc tế trọng vọng.
Sự cấu kết giữa "tư doanh" có thế lực và quan hệ với các tập đoàn nhà nước trong một chế độ tư bản nhà nước tất nhiên dẫn đến "chủ nghĩa tư bản thân tộc", "crony capitalism", một ấn bản hiện đại hơn của quy luật châu Á nay hết là độc quyền Á châu: một người làm quan cả họ được nhờ.
Đấy là sự bất công của hệ thống tư bản nhà nước "với màu sắc Trung Hoa" hay "theo định hướng xã hội chủ nghĩa" vì tạo ra một sân chơi bất bình đẳng. Nhưng... nhập gia tùy tục, tư bản quốc tế vẫn nhảy vào sân chơi đó với cái đòn bảy là mối quan hệ cùng thân tộc của lãnh đạo.
Nhiều người còn tô màu ngũ sắc cho sự cấu kết mờ ám bằng khẩu hiệu "Đồng thuận Bắc Kinh".
Điều mà người ta ém nhẹm bên dưới là nhìn từ quan điểm quyền lợi của bá tánh hay sự vững bền của mô thức phát triển, các nhóm quyền lợi đó tác động vào sự chọn lựa của lãnh đạo ở trên. Họ thực tế cản trở việc cải cách và đưa xứ sở vào "bẫy xập" là điều mà chính đám trí thức của chế độ đã báo động: Trung Quốc hết dám cải cách khi chiến lược phát triển đã đi hết giới hạn của sự vận hành khả quan từ 30 năm qua. Nay đang bị nguy cơ khủng hoảng!
Đấy là lúc không nên thoái lui về chủ trương bảo thủ của Mao Trạch Đông do Bạc Hy Lai minh diễn với sự hùng hồn của một nghệ sĩ. Nhưng vấn đề không chỉ có khía cạnh kinh tế chính học học nhờ nhờ màu đỏ như vậy!
Vấn đề sâu xa hơn thế: với quyền lực tuyệt đối của đảng và con mắt tinh tường của Ban Kỷ luật Trung ương, cơ chế tối cao về nhân sự và kỷ cương trong đảng, còn cao hơn cả Ban Tổ chức Trung ương lẫn Ban Chính pháp Trung ương, vì sao một nhân vật như Bạc Hy Lai đã có thể vọt lên như ngôi sao băng?
Phải chăng, thành tích hay tỳ vết của họ Bạc khi còn là Bí thư tỉnh Liêu Ninh rồi Bộ trưởng Thương mại trước khi về lãnh đạo Trùng Khánh năm năm về trước là những gì mà ở trên không biết? Hoặc đã biết một cách lệch lạc nên mới sớm đề bạt và còn ngợi ca? Bây giờ Ban Kỷ luật mới lại mở cuộc điều tra - mà càng điều tra càng thấy giật mình.
Tệ nạn tham nhũng của họ Bạc đã có từ thời ở Liêu Ninh và thành tích "đả hắc" tại Trùng Khánh – diệt trừ các tổ chức tội ác của xã hội đen – đã che giấu nạn thủ tiêu đối lập và cấu kết với mafia! Ngoài Bạc Hy Lai, còn những ai khác ở nơi khác có thể đang ở trong trường hợp này?
Nếu Vương Lập Quân không bò ra và bỏ chạy vào tòa Tổng lãnh sự Mỹ ở Thành Đô để tìm cõi sống, thì trung ương có biết không? Mà có bao giờ mà người dân được biết không?
Ngoài cái nạn tư bản thân tộc và việc kiểm tra nhân sự, chuyện thứ ba, còn gai góc hơn cho "Đồng thuận Bắc Kinh" là việc chuyển giao quyền lực.
Với cái nhìn lạnh lùng về mọi cuộc đấu tranh giành quyền lực ở mọi thời, mọi nơi, người ta đều phải có thể kết luận một cách phiến diện rằng vụ Bạc Hy Lai là một biểu hiện của chuyện tranh quyền.
Có thể họ Bạc được hậu thuẫn của Trưởng ban Chính pháp Chu Vĩnh Khang hoặc một số tướng lãnh, kể cả con trai duy nhất còn lại của Lưu Thiếu Kỳ là Tướng Lưu Nguyên, nhưng gặp trở ngại từ nhiều nhân vật lãnh đạo khác trong Bộ Chính trị. Họ là những ai? Chúng ta khó biết được.
Họ có thể là Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo hay Hạ Quốc Cường, Trưởng ban Kỷ luật, là những người thuộc lớp lãnh tụ sắp về hưu. Hay Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường, là hai người sẽ lên thay thế cặp Hồ-Ôn. Hoặc Bí thư Quảng Đông là Uông Dương, một cựu Bí thư Trùng Khánh và nhân vật đang hy vọng ngồi vào ghế "thất hiền", bảy Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị sau Đại hội 18.
Xuyên qua đó, ta có thể đoán ra một số thế lực bên trong "cái đa số thầm lặng" này.
Nhưng hãy nhìn sân khấu chính trị Trung Quốc trong viễn cảnh sâu xa hơn.
Từ năm 1981, Đặng Tiểu Bình đề ra nguyên tắc đồng thuận là tập thể lãnh đạo phải giữ vẻ thống nhất – không công khai hóa những dị biệt về quan điểm hay chủ trương – và tuyệt đối gạt bỏ tệ sùng bái cá nhân như dưới thời Mao. Ông ta cũng đề ra nguyên tắc chuyển giao quyền lực một cách ôn hoà khi lãnh đạo chọn trước những người sẽ lên thay thế trong thập niên tới.
Vậy mà họ Đặng đã tuột tay trong vụ khủng hoảng Thiên An Môn năm 1989 khiến mấy ngàn người bị tàn sát và đương kim Tổng Bí thư là Triệu Tử Dương bị quản thúc tại gia cho đến chết.
Lần đó, các tướng lãnh đã được điều vào thay thế Quân khu Thủ đô để dẹp loạn tại Bắc Kinh. Nhờ đó, Giang Trạch Dân và Kiều Thạch cùng Lý Bằng đã lên ngôi, trong khi cũng theo ý họ Đặng mà chọn trước Hồ Cẩm Đào sẽ lên thay thế trong Đại hội 16 vào năm 2002. Nhưng rồi từ 1991, Trung Quốc đã bảo đảm được sự chuyển quyền tương đối êm ả trong hai chục năm.
Thế rồi vụ Bạc Hy Lai bị đột ngột hạ bệ cho thấy nhược điểm của lối tuyển chọn âm thầm đó.
Có âm thầm là có mờ ám! Sự mờ ám này làm đảng Cộng sản Trung Hoa đang bị khủng hoảng khi chuyển giao lãnh đạo cho thế hệ thứ năm và chuẩn bị người thay thế trong thế hệ lãnh đạo thứ sáu.
So sánh với tiến trình tranh cử ồn ào, tèm lem và đầy bất ngờ của các nền dân chủ, sự ổn định ở bề mặt của mô thức Trung Quốc mới là một bất trắc sinh tử! Sinh tử nhất, nếu ta không mắc bệnh quên trí nhớ là vụ Thiên an môn bùng nổ vì một nguyên nhân đầu tiên: dân chúng biểu tình phản đối nạn tham nhũng và mối lo về lạm phát. Chuyện đấu tranh cho dân chủ chỉ là hậu quả, đến sau.... Sinh tử vì tham nhũng hay lạm phát cũng đang là mối lo hiện đại của lãnh đạo vì là sự bất mãn của quần chúng.
Vấn đề ấy dẫn ta về hiện tại là chuyện thứ tư là sự đổi thay của xã hội.
Khi Đặng Tiểu Bình còn tại thế, xã hội Trung Quốc chưa lãnh cuộc cách mạng tín học và làn sóng thông tin có thể gọi là vô cương, không biên giới.
Nhờ khả năng bưng bít thông tin và tuyên truyền có định hướng, các lãnh tụ ở trên đã có thể âm thầm và nham hiểm kiểm soát nhận thức của mọi người như những đạo diễn có tài, vì mọi diễn viên trong hậu trường đều theo sát kịch bản đồng thuận đã được tập thể chọn lựa. Nhưng qua thế kỷ 21, hiện tượng thông tin vô cương và mạng lưới xã hội điện tử toàn cầu đã đảo lộn trò chơi hắc ám này.
Khi nội vụ đổ bể từ hôm mùng bảy Tháng Hai – là lúc Vương Lập Quân đồng ý ra khỏi toà Tổng lãnh sự Mỹ tại Thành Đô để được giải về trung ương là Bắc Kinh thay vì có thể bị tay chân họ Bạc thủ tiêu ngay tại Trùng Khánh – làn sóng thông tin đã phá vỡ những bức vách ngăn cách của lãnh đạo.
Ban đầu, các lãnh tụ Bắc Kinh còn tương kế tựu kế mà cho loan truyền một số tin tức có chọn lọc và dụng ý về Vương Lập Quân rồi Bạc Hy Lai. Nhưng trong hai tháng liền, qua các mạng lưới thông tin chằng chịt ở trong và ngoài Trung Quốc, làn sóng đó đã gây phản tác dụng theo đúng quy luật "lộng giả thành chân": có nơi loan tin về nguy cơ đảo chánh quân sự và có nơi phát động phong trào đề cao Mao Trạch Đông – để bênh vực Bạc Hy Lai.
Chuyện đồng thuận và âm thầm bỗng dưng chấm dứt và nhiều người loan tin trong các blog bị cầm tù. Vì trò chơi của trung ương mở ra nguy cơ tranh luận công khai không chỉ trên thượng tầng mà ngay trong quần chúng và cả... quân đội.
Kết cuộc thì y như trong vụ Lâm Bưu tử nạn năm 1971 sau một vụ đảo chánh hụt và bị phản đảo chánh, các tướng lãnh phải lên tiếng thề bồi là Quân đội Giải phóng vẫn tuyệt đối trung thành với đảng!
Khi nhìn lại toàn vụ, từ chuyện tư bản nhà nước, tư bản thân tộc đến tham nhũng và tranh quyền, từ việc kiểm tra nhân sự đến tuyển chọn lãnh đạo và điều hướng dư luận, mô thức Trung Quốc hay cái gọi là "Đồng thuận Bắc Kinh" chỉ là bi kịch của xã hội đen khoác áo đỏ.
Xét cho cùng thì cũng chẳng khác chi tuồng hát đang tưng bừng ở Hà Nội.
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Iran đang 'sao chép' phi cơ do thám của Mỹ
Các kỹ sư Iran đang chế tạo bản sao chiếc máy bay do thám không người lái tối tân của Mỹ bị bắn hạ vào năm ngoái,
một tướng Iran thông báo hôm qua.

Tướng Amir Ali Hajizadeh nghe một sĩ quan nói về chiếc máy bay RQ-170 Sentinel của Mỹ vào ngày 8/12/2011. Ảnh: AP.
Tướng Amir Ali Hajizadeh, tư lệnh bộ phận Hàng không Vũ trụ thuộc Lực lượng Vệ binh Cộng hòa Iran, nói rằng, các chuyên gia của Iran đã khôi phục được toàn bộ dữ liệu của chiếc phi cơ do thám RQ-170 Sentinel của Mỹ, BBC cho biết.
"Các chuyên gia của chúng tôi đã hiểu toàn bộ chức năng và chương trình của chiếc máy bay", tướng Hajizadeh phát biểu trên đài truyền hình quốc gia.
AP cho hay, ông Hajizadeh công bố, một số mẫu dữ liệu mà các kỹ sư Iran đã khôi phục từ chiếc máy bay, chẳng hạn như thời gian của những lần bay thử và bảo dưỡng. Theo ông, máy bay tới Afghanistan vào ngày 18/10/2010. Sau vài chuyến bay một sự cố kỹ thuật phát sinh và các chuyên gia Mỹ không thể khắc phục. Vào tháng 12/2010, nó trở về thành phố Los Angeles để các kỹ sư kiểm tra hệ thống cảm biến.
"Nếu không giải mã được các phần cứng và phần mềm của máy bay, chúng tôi sẽ không thể biết những thông tin như thế. Hầu như không còn bộ phận nào trong máy bay là bí mật đối với chúng tôi. Các chuyên gia còn khôi phục được cả những dữ liệu đã bị xóa", tướng Hajizadeh nhấn mạnh.
Chiếc phi cơ RQ-170 Sentinel từng thu thập dữ liệu về ngôi nhà của Osama bin Laden, trùm khủng bố quốc tế bị lính đặc nhiệm Mỹ tiêu diệt năm ngoái, ở phía tây bắc Pakistan, tướng Hajizadeh cho biết. Nó bay qua ngôi nhà hai tuần trước khi bin Laden bị tiêu diệt.
Quân đội Iran từng khẳng định, họ khống chế được chiếc máy bay RQ-170 Sentinel, loại máy bay do thám không người lái tối tân của Mỹ, khi nó xâm phạm không phận phía đông của Iran vào tháng 12 năm ngoái. Tuy nhiên, Mỹ nói rằng chiếc máy bay rơi vì trục trặc kỹ thuật. Đích thân Tổng thống Mỹ Barack Obama yêu cầu Iran trao trả máy bay, song Tehran từ chối với lý do nó đã trở thành tài sản quốc gia của Iran.
Việt Linh
Các kỹ sư Iran đang chế tạo bản sao chiếc máy bay do thám không người lái tối tân của Mỹ bị bắn hạ vào năm ngoái,
một tướng Iran thông báo hôm qua.

Tướng Amir Ali Hajizadeh nghe một sĩ quan nói về chiếc máy bay RQ-170 Sentinel của Mỹ vào ngày 8/12/2011. Ảnh: AP.
Tướng Amir Ali Hajizadeh, tư lệnh bộ phận Hàng không Vũ trụ thuộc Lực lượng Vệ binh Cộng hòa Iran, nói rằng, các chuyên gia của Iran đã khôi phục được toàn bộ dữ liệu của chiếc phi cơ do thám RQ-170 Sentinel của Mỹ, BBC cho biết.
"Các chuyên gia của chúng tôi đã hiểu toàn bộ chức năng và chương trình của chiếc máy bay", tướng Hajizadeh phát biểu trên đài truyền hình quốc gia.
AP cho hay, ông Hajizadeh công bố, một số mẫu dữ liệu mà các kỹ sư Iran đã khôi phục từ chiếc máy bay, chẳng hạn như thời gian của những lần bay thử và bảo dưỡng. Theo ông, máy bay tới Afghanistan vào ngày 18/10/2010. Sau vài chuyến bay một sự cố kỹ thuật phát sinh và các chuyên gia Mỹ không thể khắc phục. Vào tháng 12/2010, nó trở về thành phố Los Angeles để các kỹ sư kiểm tra hệ thống cảm biến.
"Nếu không giải mã được các phần cứng và phần mềm của máy bay, chúng tôi sẽ không thể biết những thông tin như thế. Hầu như không còn bộ phận nào trong máy bay là bí mật đối với chúng tôi. Các chuyên gia còn khôi phục được cả những dữ liệu đã bị xóa", tướng Hajizadeh nhấn mạnh.
Chiếc phi cơ RQ-170 Sentinel từng thu thập dữ liệu về ngôi nhà của Osama bin Laden, trùm khủng bố quốc tế bị lính đặc nhiệm Mỹ tiêu diệt năm ngoái, ở phía tây bắc Pakistan, tướng Hajizadeh cho biết. Nó bay qua ngôi nhà hai tuần trước khi bin Laden bị tiêu diệt.
Quân đội Iran từng khẳng định, họ khống chế được chiếc máy bay RQ-170 Sentinel, loại máy bay do thám không người lái tối tân của Mỹ, khi nó xâm phạm không phận phía đông của Iran vào tháng 12 năm ngoái. Tuy nhiên, Mỹ nói rằng chiếc máy bay rơi vì trục trặc kỹ thuật. Đích thân Tổng thống Mỹ Barack Obama yêu cầu Iran trao trả máy bay, song Tehran từ chối với lý do nó đã trở thành tài sản quốc gia của Iran.
Việt Linh
Vụ Bạc Hy Lai ở TC
Tác giả : Vi Anh Vụ Ô. Bạc Hy Lai ngày 15 tháng Ba bị CS Bắc Kinh cất chức Bí thư Thành ủy Trùng Khánh, đình chỉ chức vụ ủy viên Bộ Chính trị, và vợ ông, bà Cốc Khai Lai, bị cáo buộc giết doanh nhân người Anh Neil Heywood - là vụ án kỷ luật thanh trừng làm chấn động Trung Cộng và gây nhiều dư luận trên thế giới. Có nhiều tin đồn loan truyền ở TQ, sẽ có đảo chính. Báo chí Tây Phương và dư luận trên các trang mạng tư nhân ở Trung Quốc bình luận liên tục nhiều tuần, tốn rất nhiều giấy mực, thời lượng phát thanh, phát hình, và nhiều chỗ trên các trang mạng trên Internet. Đảng Nhà Nước CS Bắc Kinh ra sức thắt chặt kiểm soát tin tức trên internet trong thời gian qua, đóng cửa vài chục trang web, xóa hàng trăm ngàn bài đăng trên các trang mạng xã hội, và bắt giữ hàng chục người loan truyền thông tin, nghị luận liên quan đến vụ Bạc Lai Hy và đảo chánh. Thực ra vụ Bạc Hy Lai chẳng có gì mới lạ trong sinh họat chánh trị kín hơn hội kín, trong xã hội bế tắc của Đảng Nhà Nước CS. Đó là hệ quả tất yếu của một số luật chết cứng, trước sau như một của Đảng CS dù CS ở Âu hay Á.
Thực vậy, sau khi Liên xô sụp đổ, ở Trung Quốc cũng như ở VN, Đảng CS có nhiều thay đổi. Chủ nghĩa CS có chuyển hệ tư duy về kinh tế sang kinh tế thị trường, mở cửa cho đầu tư ngọai quốc vào. Cán bộ đảng viên lên đồ lớn, đi xe sang, có người du học ngọai quốc rất cao. Thời đại CS đã đến thế hệ thư ba hay tư, nhiều hòang tử đỏ. Cán bộ đảng viên CS đã thành một giai cấp mới, tư bản đỏ ở thành thị và cường hào ác bá đỏ ở nông thôn.
Nhưng có một điều không đổi trong đảng CS. Trời gầm Đảng CS cũng không nhả, không thay đổi; đó là luật thanh trừng nội bộ. Luật thanh trừng tàn bạo, ác nghiệt vô cùng, điều mà ông giáo làng sau lên làm vua CS Tàu là Mao trạch Đông đã thường ví von “đả lạc thủy cẩu» (khi con chó rơi xuống nước thì đó là lúc phải đánh nó).
Xã hội CS theo xã hội học là một xã hội bế tắc. Họ giải quyết mâu thuẫn, xung đột phe đảng bằng cách “thịt” nhau. Làm tiêu sinh mạng chánh trị hay mạng sống của nhau, chớ không có vấn đề tương nhượng thỏa hiệp như trong chánh trị tự do, dân chủ, cởi mở, minh bạch.
Trong vòng bố thiết, tuyệt đối không khai phóng đó của CS, hỏi phe đảng theo tư tưởng Đặng tiểu Bình, như Hồ cẩm Đào, Ôn gia Bảo và người sắp kế nghiệp là Tập cận Bình làm sao để cho một người như Bạc Hy Lai chủ trương, phát biểu và hành động làm sống lại tư tưởng Mao trạch Đông. Và tối kỵ nhứt là gây thanh thế cá nhân bằng kiểu ấy để chen vào Thường Vụ Bộ Chánh trị Đảng CS Trung Quốc.
Tuy bề ngòai phe Đặng tiểu Bình và những người kế nghiệp bằng mặt vẫn treo hình Mao Trạch Đông để giữ thế chánh thông công quyền nhưng bên trong đâu có bằng lòng thái độ và hành động của Mao trạch Đông, người đã hãm hại, ám hại bao người cụ thể như Ô. Đăng tiểu Bình.
Những người đang ở ngôi cửu ngũ, là chín người thường vụ của Bộ Chánh trị là những người từng bị Mao đày đọa, cách mạng Văn Hóa của Ô. Mao truy quét làm sao để Ô. Bạc hy Lai mới là ủy viên Bộ Chánh trị lại tự tung tự tác chủ trương trở lại thời Mao, khơi lại Cách mạng Văn hóa.
Cũng như ở VNCS, làm sao những người như Nguyễn tấn Dũng, Nguyễn minh Triết, Trương tấn Sang và một số khác ở Miển Bắc để cho Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ tuy là một hòang tử đỏ nhưng dám “giỡn mặt với tử thần”, đòi kiện, đòi Quốc hội bất tín nhiệm Thủ Tường Nguyễn tấn Dũng. Bộ Chánh trị bằng nhiều cách, trong đó có cách dơ dáy là phao vu Tiến sĩ “quan hệ bất chánh” đối với phụ nữ để bước dầu bắt giam và sau đó đổi tội danh đại hình “lợi dụng tự do tuyên truyền chống phá nhà nước, lật đổ chánh quyền, và xử “tù mọt gông”. Việc quan hệ bất chánh là việc làm như cơm bữa của đảng viên cán bộ CS có chức có quyền. Ô Hồ làm đối với gái vị thành niên khăn quàng đỏ và làm rồi cho người giết để bịt miệng người mà Ông đã thòa mãn sắc dục. Ô Lê Duẫn, Ô. Lê đức Thọ cũng làm thời Việt Minh khi vào Nam chỉ đạo phong trào kháng chiến. Nhà văn Vy Thanh nói nhiều lần trên truyền hình, viết rất rõ trong tác phẩm “Lớn Lên Với Đất Nước”. Bộ Chánh trị của Đảng CSVN làm đối với Ts Vũ so vai vế và chức vụ, còn mạnh và bạo hơn TC làm đối với Bạc Hy Lai.
Bạc hy Lai tiêu diêu sinh mạng chánh trị vì là một bánh xe nhưng không vận hành theo guồng máy và đà máy chạy của Đảng CS. Ông dám tạo uy tín cá nhân bằng hành động thân dân, trừ gian, diệt bạo trong hàng ngũ mafia trong đảng nhà nước. Ông gây thanh thế cá nhân để "vận động tranh cử" vào Thường Vụ Bộ Chánh Trị, chớ không chịu “xếp hàng chờ ngày” theo “biên chế” trong chế độ CS vẫn vận hành theo kiểu đồng thuận, bí mật.
Thành ra những người theo dõi và có kinh nghiệm CS không lấy làm lạ khi thấy trong vụ Bạc hy Lai bị Đảng CS nhổ cỏ thỉ nhổ tận gốc. Chính Ô Bạc hy Lai cũng làm thế đối với cánh tay phải của Ông là ông Vương Lập Quân trong chiến dịch thanh lọc Đảng Nhà Nước ở Trùng Khánh để gây uy tín trong dân cho Ô Bạc hy Lai. Lúc bấy giơ Ông Quân là người nắm ngành công an, mật vụ, nhân vật số ba trong thường vụ tỉnh và thành ủy Đảng Trùng Khánh. Ông Quân bị chuyển qua làm Phó Chủ Tịch Ủy Ban mà cũng không yên. Ông phải chạy vào tòa tổng lãnh sự Hoa Kỳ ở Thành Đô, được cho là xin tị nạn và nhưng bị bắt đưa về Đảng xét xử. Tin đài VOA tiếng nói chánh thức của chánh quyền Mỹ ngày 16-4 cho biết Ô. Quân vào tòa tổng lãnh sự Mỹ rất bối rối, lo sợ, xin tỵ nạn chánh trị. Các giới chức của cơ quan đại diện Mỹ này tranh luận gay go nên hay không nên cho, và sau đó Bộ ngọai Giao Mỹ quyết định từ chối nhưng không giao Ô. Quân cho công an Trùng Khánh mà giao cho nhà cầm quyền CS Bắc Kinh. Ô Quân sợ người “thủ trưởng” chí thân của mình là Ô Bạc lai Hy “thịt” vì một lý do giản dị do chính trung ương Đảng sau này khui ra, Ô. Quân biết vợ Ông Hy dính líu với cái chết của doanh gia Anh đội lốt tình báo.
Trong chế độ CS, trong đảng CS và trong bộ máy công quyền nhà nước CS, cán bộ đảng viên chỉ là con ốc, bánh xe của guồng máy mà máy cái là Bộ Chánh trị gom lại một số ít là thường vụ Bộ chánh trị, ở TC chỉ có 9 người trong ngôi cửu ngũ như của Vua Tàu ngày xưa.
Bất cứ ai đi khác cách vận hành, chệch hướng của guồng máy, có sáng kiến, có phương pháp cá nhân vươn lên khác lối mòn của Đảng là bị guồng máy cán nát dù cá nhân đó là hòang hay thái tử đỏ..
Một sai lầm lớn của những chánh tri gia Tây Phương là coi trọng cá tính, quan niệm riêng của người lãnh đạo CS. Sai lầm kế tiếp là nghe những lời tuyên bố có tính phong trào của CS. Nhiều khi đó là những lời tuyên truyền hay khai khiếu cho trăm hoa đua nở, để cho những người bất mãn xì xú páp rồi sau đó bắn phe mạnh trong Đảng sẽ diệt ngầm. Người có kinh nghiệm CS thường nói, CS nói vậy, chớ không phải vậy, mà còn tệ hơn vậy nữa; nên đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn những gì CS làm./.
Tác giả : Vi Anh Vụ Ô. Bạc Hy Lai ngày 15 tháng Ba bị CS Bắc Kinh cất chức Bí thư Thành ủy Trùng Khánh, đình chỉ chức vụ ủy viên Bộ Chính trị, và vợ ông, bà Cốc Khai Lai, bị cáo buộc giết doanh nhân người Anh Neil Heywood - là vụ án kỷ luật thanh trừng làm chấn động Trung Cộng và gây nhiều dư luận trên thế giới. Có nhiều tin đồn loan truyền ở TQ, sẽ có đảo chính. Báo chí Tây Phương và dư luận trên các trang mạng tư nhân ở Trung Quốc bình luận liên tục nhiều tuần, tốn rất nhiều giấy mực, thời lượng phát thanh, phát hình, và nhiều chỗ trên các trang mạng trên Internet. Đảng Nhà Nước CS Bắc Kinh ra sức thắt chặt kiểm soát tin tức trên internet trong thời gian qua, đóng cửa vài chục trang web, xóa hàng trăm ngàn bài đăng trên các trang mạng xã hội, và bắt giữ hàng chục người loan truyền thông tin, nghị luận liên quan đến vụ Bạc Lai Hy và đảo chánh. Thực ra vụ Bạc Hy Lai chẳng có gì mới lạ trong sinh họat chánh trị kín hơn hội kín, trong xã hội bế tắc của Đảng Nhà Nước CS. Đó là hệ quả tất yếu của một số luật chết cứng, trước sau như một của Đảng CS dù CS ở Âu hay Á.
Thực vậy, sau khi Liên xô sụp đổ, ở Trung Quốc cũng như ở VN, Đảng CS có nhiều thay đổi. Chủ nghĩa CS có chuyển hệ tư duy về kinh tế sang kinh tế thị trường, mở cửa cho đầu tư ngọai quốc vào. Cán bộ đảng viên lên đồ lớn, đi xe sang, có người du học ngọai quốc rất cao. Thời đại CS đã đến thế hệ thư ba hay tư, nhiều hòang tử đỏ. Cán bộ đảng viên CS đã thành một giai cấp mới, tư bản đỏ ở thành thị và cường hào ác bá đỏ ở nông thôn.
Nhưng có một điều không đổi trong đảng CS. Trời gầm Đảng CS cũng không nhả, không thay đổi; đó là luật thanh trừng nội bộ. Luật thanh trừng tàn bạo, ác nghiệt vô cùng, điều mà ông giáo làng sau lên làm vua CS Tàu là Mao trạch Đông đã thường ví von “đả lạc thủy cẩu» (khi con chó rơi xuống nước thì đó là lúc phải đánh nó).
Xã hội CS theo xã hội học là một xã hội bế tắc. Họ giải quyết mâu thuẫn, xung đột phe đảng bằng cách “thịt” nhau. Làm tiêu sinh mạng chánh trị hay mạng sống của nhau, chớ không có vấn đề tương nhượng thỏa hiệp như trong chánh trị tự do, dân chủ, cởi mở, minh bạch.
Trong vòng bố thiết, tuyệt đối không khai phóng đó của CS, hỏi phe đảng theo tư tưởng Đặng tiểu Bình, như Hồ cẩm Đào, Ôn gia Bảo và người sắp kế nghiệp là Tập cận Bình làm sao để cho một người như Bạc Hy Lai chủ trương, phát biểu và hành động làm sống lại tư tưởng Mao trạch Đông. Và tối kỵ nhứt là gây thanh thế cá nhân bằng kiểu ấy để chen vào Thường Vụ Bộ Chánh trị Đảng CS Trung Quốc.
Tuy bề ngòai phe Đặng tiểu Bình và những người kế nghiệp bằng mặt vẫn treo hình Mao Trạch Đông để giữ thế chánh thông công quyền nhưng bên trong đâu có bằng lòng thái độ và hành động của Mao trạch Đông, người đã hãm hại, ám hại bao người cụ thể như Ô. Đăng tiểu Bình.
Những người đang ở ngôi cửu ngũ, là chín người thường vụ của Bộ Chánh trị là những người từng bị Mao đày đọa, cách mạng Văn Hóa của Ô. Mao truy quét làm sao để Ô. Bạc hy Lai mới là ủy viên Bộ Chánh trị lại tự tung tự tác chủ trương trở lại thời Mao, khơi lại Cách mạng Văn hóa.
Cũng như ở VNCS, làm sao những người như Nguyễn tấn Dũng, Nguyễn minh Triết, Trương tấn Sang và một số khác ở Miển Bắc để cho Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ tuy là một hòang tử đỏ nhưng dám “giỡn mặt với tử thần”, đòi kiện, đòi Quốc hội bất tín nhiệm Thủ Tường Nguyễn tấn Dũng. Bộ Chánh trị bằng nhiều cách, trong đó có cách dơ dáy là phao vu Tiến sĩ “quan hệ bất chánh” đối với phụ nữ để bước dầu bắt giam và sau đó đổi tội danh đại hình “lợi dụng tự do tuyên truyền chống phá nhà nước, lật đổ chánh quyền, và xử “tù mọt gông”. Việc quan hệ bất chánh là việc làm như cơm bữa của đảng viên cán bộ CS có chức có quyền. Ô Hồ làm đối với gái vị thành niên khăn quàng đỏ và làm rồi cho người giết để bịt miệng người mà Ông đã thòa mãn sắc dục. Ô Lê Duẫn, Ô. Lê đức Thọ cũng làm thời Việt Minh khi vào Nam chỉ đạo phong trào kháng chiến. Nhà văn Vy Thanh nói nhiều lần trên truyền hình, viết rất rõ trong tác phẩm “Lớn Lên Với Đất Nước”. Bộ Chánh trị của Đảng CSVN làm đối với Ts Vũ so vai vế và chức vụ, còn mạnh và bạo hơn TC làm đối với Bạc Hy Lai.
Bạc hy Lai tiêu diêu sinh mạng chánh trị vì là một bánh xe nhưng không vận hành theo guồng máy và đà máy chạy của Đảng CS. Ông dám tạo uy tín cá nhân bằng hành động thân dân, trừ gian, diệt bạo trong hàng ngũ mafia trong đảng nhà nước. Ông gây thanh thế cá nhân để "vận động tranh cử" vào Thường Vụ Bộ Chánh Trị, chớ không chịu “xếp hàng chờ ngày” theo “biên chế” trong chế độ CS vẫn vận hành theo kiểu đồng thuận, bí mật.
Thành ra những người theo dõi và có kinh nghiệm CS không lấy làm lạ khi thấy trong vụ Bạc hy Lai bị Đảng CS nhổ cỏ thỉ nhổ tận gốc. Chính Ô Bạc hy Lai cũng làm thế đối với cánh tay phải của Ông là ông Vương Lập Quân trong chiến dịch thanh lọc Đảng Nhà Nước ở Trùng Khánh để gây uy tín trong dân cho Ô Bạc hy Lai. Lúc bấy giơ Ông Quân là người nắm ngành công an, mật vụ, nhân vật số ba trong thường vụ tỉnh và thành ủy Đảng Trùng Khánh. Ông Quân bị chuyển qua làm Phó Chủ Tịch Ủy Ban mà cũng không yên. Ông phải chạy vào tòa tổng lãnh sự Hoa Kỳ ở Thành Đô, được cho là xin tị nạn và nhưng bị bắt đưa về Đảng xét xử. Tin đài VOA tiếng nói chánh thức của chánh quyền Mỹ ngày 16-4 cho biết Ô. Quân vào tòa tổng lãnh sự Mỹ rất bối rối, lo sợ, xin tỵ nạn chánh trị. Các giới chức của cơ quan đại diện Mỹ này tranh luận gay go nên hay không nên cho, và sau đó Bộ ngọai Giao Mỹ quyết định từ chối nhưng không giao Ô. Quân cho công an Trùng Khánh mà giao cho nhà cầm quyền CS Bắc Kinh. Ô Quân sợ người “thủ trưởng” chí thân của mình là Ô Bạc lai Hy “thịt” vì một lý do giản dị do chính trung ương Đảng sau này khui ra, Ô. Quân biết vợ Ông Hy dính líu với cái chết của doanh gia Anh đội lốt tình báo.
Trong chế độ CS, trong đảng CS và trong bộ máy công quyền nhà nước CS, cán bộ đảng viên chỉ là con ốc, bánh xe của guồng máy mà máy cái là Bộ Chánh trị gom lại một số ít là thường vụ Bộ chánh trị, ở TC chỉ có 9 người trong ngôi cửu ngũ như của Vua Tàu ngày xưa.
Bất cứ ai đi khác cách vận hành, chệch hướng của guồng máy, có sáng kiến, có phương pháp cá nhân vươn lên khác lối mòn của Đảng là bị guồng máy cán nát dù cá nhân đó là hòang hay thái tử đỏ..
Một sai lầm lớn của những chánh tri gia Tây Phương là coi trọng cá tính, quan niệm riêng của người lãnh đạo CS. Sai lầm kế tiếp là nghe những lời tuyên bố có tính phong trào của CS. Nhiều khi đó là những lời tuyên truyền hay khai khiếu cho trăm hoa đua nở, để cho những người bất mãn xì xú páp rồi sau đó bắn phe mạnh trong Đảng sẽ diệt ngầm. Người có kinh nghiệm CS thường nói, CS nói vậy, chớ không phải vậy, mà còn tệ hơn vậy nữa; nên đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn những gì CS làm./.
Ước chi... thời đó!
Ngô Nhân Dụng Ðang tìm hiểu lý do tại sao, sau một ngàn năm Bắc thuộc, nước Việt Nam không thành một tỉnh của Trung Quốc, chúng tôi có dịp đọc sách sử cũ, thấy có mấy chuyện đáng kể lại trong lúc này.
Cuốn Mân Thành Tạp Thảo của Lý Văn Phức kể chuyến đi Phúc Kiến của ông năm 46 tuổi. Mân Việt là tên của tỉnh Phúc Kiến thời xửa thời xưa; trong cùng lúc người Trung Hoa gọi nước ta là Lạc Việt. Ông Lý Văn Phức đi sứ sang Tàu bốn lần, chưa kể một lần sang Phi Luật Tân (đảo Lucon) và hai lần qua Bengal. Chuyến đi năm Tân Mão (1831) có lý do nhân đạo. Cả gia đình một người Trung Hoa tên là Trần Khải đi biển gặp bão, thuyền trôi dạt vào hải phận Việt Nam. Vua Minh Mạng sai cả một phái bộ dùng đường biển đưa cả gia đình này về nguyên quán. Lý Văn Phức phụ trách việc này, nhân đó có dịp gặp gỡ và đối đáp, đã “tranh đấu ngoại giao” với viên tổng đốc họ Tôn ở đó, về những vấn đề có tính cách nghi thức thù tiếp nhưng lại đụng chạm tới thể diện quốc gia. Ngay hôm đầu tiên, được đưa kiệu đến trước cửa ngôi nhà tạm trú, Lý Văn Phức đã lùi lại, không vào. Vì trên cửa là tấm giấy ghi: “Việt Nam quốc Di sứ Công quán.” Di là chữ người Trung Hoa gọi tên các giống dân “man rợ.” Quan địa phương chịu gỡ tấm bảng đi, ông mới bước vào. Ngày hôm sau, họ phải viết một tấm bảng khác: “Việt Nam quốc Sứ quan Công quán.” Sứ quan, chứ không phải Di sứ!
Mấy ngày sau, Lý Văn Phức viết một bài “Biện Di Luận,” bàn luận về “Di.” Sau khi mô tả nước Việt Nam biển rộng sông dài, ra đến các đảo ở Ðại Hải; lại kể ra các phong tục tập quán, và nền giáo dục, thi cử ở nước ta không thua kém gì bên Tàu; ông hỏi: “Như thế mà lại gọi là Di được hay sao?” Lý Văn Phức lại lục lọi sách sử cũ Trung Hoa ra, trích dẫn nguyên văn: “Vua Thuấn vốn là người Ðông Di, Văn Vương vốn là người Tây Di; truyện sử có chép như thế.” Hai ông đế, ông vương được kính trọng nhất nước Tàu, cũng gốc người “sắc tộc thiểu số!”
Chưa hết, Lý Văn Phức còn phân tích thêm để “nói móc” cho họ phải ngượng. Bài văn viết: Có phải các ông gọi một sắc tộc là Di vì cách ăn mặc và tiếng nói của họ hay không? Nếu vậy thì trong xứ Mân Thành này, quý vị ăn mặc không giống, nói tiếng nói không giống các tỉnh khác của Trung Quốc; quý vị có phải là Di hay không?
Nói vậy là đụng tới một nỗi xấu hổ của người xứ Mân. Hai ngàn năm trước, cũng như Việt Nam, họ không hề thuộc vào nước Tàu. Triệu Ðà là ông tướng đầu tiên đánh chiếm Mân Việt. Bây giờ họ đã biến thành một tỉnh, bị đồng hóa thành người Trung Quốc! Còn chúng tôi, người Việt Nam thì vẫn là một nước độc lập!
Bài Biện Di Luận được Lý Văn Phức viết, đem treo trước công quán, thầy giáo, học trò kéo nhau đến đọc, có người chép lại đem về nhà giữ. Ông kể lại, có một viên quan lo về giáo dục (huấn đạo) tên là Lý Chấn Nhân đã tự giật mũ, ném xuống đất, nói: “Chúng ta là Di mà lại còn gọi người khác là Di làm gì!” Chi tiết “giật mũ ném xuống đất” này quan trọng. Vì một trong những thứ mà người Trung Hoa đời thượng cổ tự hào hơn các giống Di, Ðịch, là họ biết đội mũ! Hậu Hán Thư đã kể công hai ông thái thú Tích Quang và Nhâm Diên dạy dỗ dân Giao Chỉ, Cửu Chân thay đổi trang phục, với việc “chế vi quan, lý” - tức là chế tạo ra mũ đội và làm dép để đi vào chân. Người Phúc Kiến vẫn quen quấn khăn chứ không đội mũ, đó là một phong tục cũng được Lý Văn Phức nêu ra trong bài văn! Ðọc tới đó, người ta phải thấy xấu hổ, giựt mũ ném xuống đất là phải!
Lý Văn Phức xứng đáng làm một người đại diện cho nước Việt Nam ra nước ngoài, để bảo vệ thể diện dân tộc. Nếu ngày nay có người có tài trí và đảm lược như ông thì đỡ biết mấy! Mân Thành Tạp Thảo còn kể nhiều cuộc đối đầu lý thú giữa ông sứ thần nước ta với một quan tổng đốc Trung Quốc; nhưng còn một câu chuyện của một tác giả khác, sống trước Lý Văn Phức nửa thế kỷ, cũng đáng kể lại.
Mùa Xuân năm Canh Tuất (1790) Quang Trung cử Phan Huy Ích làm sứ thần đưa một vị võ tướng giả đóng vai nhà vua sang Trung Quốc triều kiến vua Càn Long nhà Thanh. Trước đó một năm quân ta mới đánh Tôn Sĩ Nghị tơi tả ở trận Ðống Ða. Phái đoàn gồm 150 người, có cả một đoàn văn nghệ 10 nhạc sĩ và ca sĩ, bái biệt vua ở Nghệ An ngày 29 Tháng Ba (Âm lịch), đến Tháng Bẩy mới đến Bắc Kinh. Ngày 11 Tháng Bẩy, phái bộ được vua Càn Long tiếp tại nhà nghỉ mát ở Nhiệt Hà, làm thơ xướng họa với nhau. Ba ngày sau gặp lại gặp, Càn Long tặng cho “quốc vương giả” Phạm Công Trí và nhân viên sứ bộ nhiều món quà quý giá. Ðặc biệt, ông vua nhà Thanh nhờ phái bộ chuyển một món quà gồm “hai tấm đoạn,” đem về cho một vị trưởng đồn người Việt Nam, tên là Phạm Quang Chương.
Ông Phạm Quang Chương đã làm gì mà được vua nhà Thanh tặng quà như vậy? Cuốn hồi ký Tinh Sà Kỷ Hành của Phan Huy Ích tường thuật chuyến đi, cho biết lý do. Trước đó ba ngày vị “đồn tướng” Phạm Quang Chương, trong lúc đi tuần trên biển, đã cứu được một chiếc thuyền của người Trung Hoa trong lúc họ đang bị cướp biển tấn công. Tin đưa về Bắc Kinh rất nhanh, Càn Long tạ ơn ngay.
Ước chi lúc này có được những vị đồn trưởng như ông Phạm Quang Chương thời đó. Ông có thể cứu những ngư phủ Việt Nam bị cướp biển tấn công ngay trong hải phận nước mình. Mà bọn cướp đó lại là quân sĩ của những người ngồi kế vị trên ngai vàng các vua nhà Thanh ở Bắc Kinh, là đảng Cộng Sản Trung Quốc!
Nghe tin 21 đồng bào đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi đi biển bị lính tráng Tàu bắt cóc từ Tháng Ba, bị tra tấn, bỏ đói trong hơn một tháng giam cầm mới được thả về, sau khi đã bị cướp hết thuyền bè, dụng cụ đánh cá, người Việt ở nơi nào cũng phải rớt nước mắt. Mà đây không phải lần đầu tiên ngư dân mình bị trấn lột, hành hạ như vậy. Bọn “cướp biển” mặc đồng phục Trung Quốc đã tung hoành như thế từ bao nhiêu năm nay rồi. Hàng ngàn đồng bào Việt Nam đã bị họ cướp, đánh, nhiều người còn bị giết. Ông Phạm Quang Chương ơi, cứu chúng tôi với! Ông Phạm Quang Chương ơi, ông ở đâu rồi?
Tại sao những người lính Trung Cộng có thái độ và hành vi khinh thường dân Việt Nam như vậy? Phải hỏi những vị quan to trong Câu Lạc Bộ Ba Ðình để nhờ các ông bà giải đáp cho dân chúng tôi nghe.
Trong mấy ngày qua, hai nước Philippines và Việt Nam đều phản đối bản “Quy hoạch bảo vệ hải đảo toàn quốc” của chính phủ Trung Quốc. Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam chỉ nói một cách giản dị là nó “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.” Và yêu cầu Trung Quốc phải hủy bỏ ngay bản quy hoạch nêu trên, không có thêm hành động nào làm phức tạp tình hình ở Biển Ðông. Nói xong rồi, không có một hành động nào khác. Vẫn tụng đọc 16 chữ vàng mỏi miệng, chờ coi các “đồng chí anh em” sẽ làm gì tiếp thì lại nói thêm vài câu nữa!
Chính phủ Philippines cũng phản đối Trung Quốc như vậy; nhưng họ còn làm nhiều hơn. Họ cho phép giới quân sự lên tiếng “Quân đội Philippines sẽ không lùi bước!” Philippines còn “kêu gọi các nước phương Tây và Châu Á tỏ rõ lập trường” về tình hình Biển Ðông, để cùng đối đầu với một “mối đe dọa.” Tức là đề nghị quốc tế hóa vấn đề Biển Ðông. Khi tổng thống Philippines tuyên bố nước ông sẽ “không gây chiến với Trung Quốc ở Biển Ðông” thì người ta hiểu rằng họ sẵn sàng chờ đợi nếu cần phải chống cự bất cứ một cuộc gây hấn nào, dù là chiến tranh! Trung Quốc yêu cầu Philippines rút con tàu khảo cổ đang vớt lên một con tàu đắm gần bãi đá ngầm Scarborough ở Biển Ðông, chính phủ Manila cương quyết từ chối.
Có vị tướng lãnh nào ở Việt Nam được phép lên tiếng về vấn đề Biển Ðông hay không? Hay là các ông tướng còn đang lo các biện pháp đối phó với “Cơn sóng Ðoàn Văn Vươn” đang dâng trào; khi đồng bào Hưng Yên ào ào kéo nhau biểu tình đòi đền bù đất đai bị “cưỡng chế,” lại được đồng bào từ Bắc Ninh đến hỗ trợ?
Không cần hỏi tại sao những người lính Trung Quốc ngang nhiên cướp bóc ngư dân Việt Nam, khinh rẻ mạng sống, tài sản của người Việt Nam. Nhà dột từ nóc dột xuống!
Năm 1992 cả một đoàn lãnh đạo Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam xin phép kéo nhau sang triều yết Ðặng Tiểu Bình để xin được làm “đồng chí anh em” như cũ. Ðặng Tiểu Bình không thèm tiếp, còn không cho được đến Bắc Kinh. Bắt gặp gỡ ở Thành Ðô, tuốt muốt ở Tứ Xuyên, một tỉnh ở góc nước Trung Hoa vĩ đại. Ðặng Tiểu Bình còn đòi bằng được phải đưa cả ông Phạm Văn Ðồng sang gặp, dù ông cựu thủ tướng này không còn chức vụ nào nữa. Bởi vì chính ông Phạm Văn Ðồng là người đã ký lá thư năm 1958 công nhận bản tuyên bố về hải phận của Trung Quốc, trong đó nói họ làm chủ cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa! Cứ như vậy mà cả sứ bộ Cộng Sản Việt Nam lục tục kéo sang chầu để xin giải hòa, thề từ nay ngưng không chửi bới “Trung Quốc xâm lược” nữa! Chẳng còn chút thể diện nào cả! Làm sao người ta không khinh được?
Ước chi lúc này có được những nhà ngoại giao như Lý Văn Phức thời đó! Ước chi lúc này có được những vị đồn trưởng như ông Phạm Quang Chương thời đó!
Ngô Nhân Dụng Ðang tìm hiểu lý do tại sao, sau một ngàn năm Bắc thuộc, nước Việt Nam không thành một tỉnh của Trung Quốc, chúng tôi có dịp đọc sách sử cũ, thấy có mấy chuyện đáng kể lại trong lúc này.
Cuốn Mân Thành Tạp Thảo của Lý Văn Phức kể chuyến đi Phúc Kiến của ông năm 46 tuổi. Mân Việt là tên của tỉnh Phúc Kiến thời xửa thời xưa; trong cùng lúc người Trung Hoa gọi nước ta là Lạc Việt. Ông Lý Văn Phức đi sứ sang Tàu bốn lần, chưa kể một lần sang Phi Luật Tân (đảo Lucon) và hai lần qua Bengal. Chuyến đi năm Tân Mão (1831) có lý do nhân đạo. Cả gia đình một người Trung Hoa tên là Trần Khải đi biển gặp bão, thuyền trôi dạt vào hải phận Việt Nam. Vua Minh Mạng sai cả một phái bộ dùng đường biển đưa cả gia đình này về nguyên quán. Lý Văn Phức phụ trách việc này, nhân đó có dịp gặp gỡ và đối đáp, đã “tranh đấu ngoại giao” với viên tổng đốc họ Tôn ở đó, về những vấn đề có tính cách nghi thức thù tiếp nhưng lại đụng chạm tới thể diện quốc gia. Ngay hôm đầu tiên, được đưa kiệu đến trước cửa ngôi nhà tạm trú, Lý Văn Phức đã lùi lại, không vào. Vì trên cửa là tấm giấy ghi: “Việt Nam quốc Di sứ Công quán.” Di là chữ người Trung Hoa gọi tên các giống dân “man rợ.” Quan địa phương chịu gỡ tấm bảng đi, ông mới bước vào. Ngày hôm sau, họ phải viết một tấm bảng khác: “Việt Nam quốc Sứ quan Công quán.” Sứ quan, chứ không phải Di sứ!
Mấy ngày sau, Lý Văn Phức viết một bài “Biện Di Luận,” bàn luận về “Di.” Sau khi mô tả nước Việt Nam biển rộng sông dài, ra đến các đảo ở Ðại Hải; lại kể ra các phong tục tập quán, và nền giáo dục, thi cử ở nước ta không thua kém gì bên Tàu; ông hỏi: “Như thế mà lại gọi là Di được hay sao?” Lý Văn Phức lại lục lọi sách sử cũ Trung Hoa ra, trích dẫn nguyên văn: “Vua Thuấn vốn là người Ðông Di, Văn Vương vốn là người Tây Di; truyện sử có chép như thế.” Hai ông đế, ông vương được kính trọng nhất nước Tàu, cũng gốc người “sắc tộc thiểu số!”
Chưa hết, Lý Văn Phức còn phân tích thêm để “nói móc” cho họ phải ngượng. Bài văn viết: Có phải các ông gọi một sắc tộc là Di vì cách ăn mặc và tiếng nói của họ hay không? Nếu vậy thì trong xứ Mân Thành này, quý vị ăn mặc không giống, nói tiếng nói không giống các tỉnh khác của Trung Quốc; quý vị có phải là Di hay không?
Nói vậy là đụng tới một nỗi xấu hổ của người xứ Mân. Hai ngàn năm trước, cũng như Việt Nam, họ không hề thuộc vào nước Tàu. Triệu Ðà là ông tướng đầu tiên đánh chiếm Mân Việt. Bây giờ họ đã biến thành một tỉnh, bị đồng hóa thành người Trung Quốc! Còn chúng tôi, người Việt Nam thì vẫn là một nước độc lập!
Bài Biện Di Luận được Lý Văn Phức viết, đem treo trước công quán, thầy giáo, học trò kéo nhau đến đọc, có người chép lại đem về nhà giữ. Ông kể lại, có một viên quan lo về giáo dục (huấn đạo) tên là Lý Chấn Nhân đã tự giật mũ, ném xuống đất, nói: “Chúng ta là Di mà lại còn gọi người khác là Di làm gì!” Chi tiết “giật mũ ném xuống đất” này quan trọng. Vì một trong những thứ mà người Trung Hoa đời thượng cổ tự hào hơn các giống Di, Ðịch, là họ biết đội mũ! Hậu Hán Thư đã kể công hai ông thái thú Tích Quang và Nhâm Diên dạy dỗ dân Giao Chỉ, Cửu Chân thay đổi trang phục, với việc “chế vi quan, lý” - tức là chế tạo ra mũ đội và làm dép để đi vào chân. Người Phúc Kiến vẫn quen quấn khăn chứ không đội mũ, đó là một phong tục cũng được Lý Văn Phức nêu ra trong bài văn! Ðọc tới đó, người ta phải thấy xấu hổ, giựt mũ ném xuống đất là phải!
Lý Văn Phức xứng đáng làm một người đại diện cho nước Việt Nam ra nước ngoài, để bảo vệ thể diện dân tộc. Nếu ngày nay có người có tài trí và đảm lược như ông thì đỡ biết mấy! Mân Thành Tạp Thảo còn kể nhiều cuộc đối đầu lý thú giữa ông sứ thần nước ta với một quan tổng đốc Trung Quốc; nhưng còn một câu chuyện của một tác giả khác, sống trước Lý Văn Phức nửa thế kỷ, cũng đáng kể lại.
Mùa Xuân năm Canh Tuất (1790) Quang Trung cử Phan Huy Ích làm sứ thần đưa một vị võ tướng giả đóng vai nhà vua sang Trung Quốc triều kiến vua Càn Long nhà Thanh. Trước đó một năm quân ta mới đánh Tôn Sĩ Nghị tơi tả ở trận Ðống Ða. Phái đoàn gồm 150 người, có cả một đoàn văn nghệ 10 nhạc sĩ và ca sĩ, bái biệt vua ở Nghệ An ngày 29 Tháng Ba (Âm lịch), đến Tháng Bẩy mới đến Bắc Kinh. Ngày 11 Tháng Bẩy, phái bộ được vua Càn Long tiếp tại nhà nghỉ mát ở Nhiệt Hà, làm thơ xướng họa với nhau. Ba ngày sau gặp lại gặp, Càn Long tặng cho “quốc vương giả” Phạm Công Trí và nhân viên sứ bộ nhiều món quà quý giá. Ðặc biệt, ông vua nhà Thanh nhờ phái bộ chuyển một món quà gồm “hai tấm đoạn,” đem về cho một vị trưởng đồn người Việt Nam, tên là Phạm Quang Chương.
Ông Phạm Quang Chương đã làm gì mà được vua nhà Thanh tặng quà như vậy? Cuốn hồi ký Tinh Sà Kỷ Hành của Phan Huy Ích tường thuật chuyến đi, cho biết lý do. Trước đó ba ngày vị “đồn tướng” Phạm Quang Chương, trong lúc đi tuần trên biển, đã cứu được một chiếc thuyền của người Trung Hoa trong lúc họ đang bị cướp biển tấn công. Tin đưa về Bắc Kinh rất nhanh, Càn Long tạ ơn ngay.
Ước chi lúc này có được những vị đồn trưởng như ông Phạm Quang Chương thời đó. Ông có thể cứu những ngư phủ Việt Nam bị cướp biển tấn công ngay trong hải phận nước mình. Mà bọn cướp đó lại là quân sĩ của những người ngồi kế vị trên ngai vàng các vua nhà Thanh ở Bắc Kinh, là đảng Cộng Sản Trung Quốc!
Nghe tin 21 đồng bào đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi đi biển bị lính tráng Tàu bắt cóc từ Tháng Ba, bị tra tấn, bỏ đói trong hơn một tháng giam cầm mới được thả về, sau khi đã bị cướp hết thuyền bè, dụng cụ đánh cá, người Việt ở nơi nào cũng phải rớt nước mắt. Mà đây không phải lần đầu tiên ngư dân mình bị trấn lột, hành hạ như vậy. Bọn “cướp biển” mặc đồng phục Trung Quốc đã tung hoành như thế từ bao nhiêu năm nay rồi. Hàng ngàn đồng bào Việt Nam đã bị họ cướp, đánh, nhiều người còn bị giết. Ông Phạm Quang Chương ơi, cứu chúng tôi với! Ông Phạm Quang Chương ơi, ông ở đâu rồi?
Tại sao những người lính Trung Cộng có thái độ và hành vi khinh thường dân Việt Nam như vậy? Phải hỏi những vị quan to trong Câu Lạc Bộ Ba Ðình để nhờ các ông bà giải đáp cho dân chúng tôi nghe.
Trong mấy ngày qua, hai nước Philippines và Việt Nam đều phản đối bản “Quy hoạch bảo vệ hải đảo toàn quốc” của chính phủ Trung Quốc. Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam chỉ nói một cách giản dị là nó “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.” Và yêu cầu Trung Quốc phải hủy bỏ ngay bản quy hoạch nêu trên, không có thêm hành động nào làm phức tạp tình hình ở Biển Ðông. Nói xong rồi, không có một hành động nào khác. Vẫn tụng đọc 16 chữ vàng mỏi miệng, chờ coi các “đồng chí anh em” sẽ làm gì tiếp thì lại nói thêm vài câu nữa!
Chính phủ Philippines cũng phản đối Trung Quốc như vậy; nhưng họ còn làm nhiều hơn. Họ cho phép giới quân sự lên tiếng “Quân đội Philippines sẽ không lùi bước!” Philippines còn “kêu gọi các nước phương Tây và Châu Á tỏ rõ lập trường” về tình hình Biển Ðông, để cùng đối đầu với một “mối đe dọa.” Tức là đề nghị quốc tế hóa vấn đề Biển Ðông. Khi tổng thống Philippines tuyên bố nước ông sẽ “không gây chiến với Trung Quốc ở Biển Ðông” thì người ta hiểu rằng họ sẵn sàng chờ đợi nếu cần phải chống cự bất cứ một cuộc gây hấn nào, dù là chiến tranh! Trung Quốc yêu cầu Philippines rút con tàu khảo cổ đang vớt lên một con tàu đắm gần bãi đá ngầm Scarborough ở Biển Ðông, chính phủ Manila cương quyết từ chối.
Có vị tướng lãnh nào ở Việt Nam được phép lên tiếng về vấn đề Biển Ðông hay không? Hay là các ông tướng còn đang lo các biện pháp đối phó với “Cơn sóng Ðoàn Văn Vươn” đang dâng trào; khi đồng bào Hưng Yên ào ào kéo nhau biểu tình đòi đền bù đất đai bị “cưỡng chế,” lại được đồng bào từ Bắc Ninh đến hỗ trợ?
Không cần hỏi tại sao những người lính Trung Quốc ngang nhiên cướp bóc ngư dân Việt Nam, khinh rẻ mạng sống, tài sản của người Việt Nam. Nhà dột từ nóc dột xuống!
Năm 1992 cả một đoàn lãnh đạo Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam xin phép kéo nhau sang triều yết Ðặng Tiểu Bình để xin được làm “đồng chí anh em” như cũ. Ðặng Tiểu Bình không thèm tiếp, còn không cho được đến Bắc Kinh. Bắt gặp gỡ ở Thành Ðô, tuốt muốt ở Tứ Xuyên, một tỉnh ở góc nước Trung Hoa vĩ đại. Ðặng Tiểu Bình còn đòi bằng được phải đưa cả ông Phạm Văn Ðồng sang gặp, dù ông cựu thủ tướng này không còn chức vụ nào nữa. Bởi vì chính ông Phạm Văn Ðồng là người đã ký lá thư năm 1958 công nhận bản tuyên bố về hải phận của Trung Quốc, trong đó nói họ làm chủ cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa! Cứ như vậy mà cả sứ bộ Cộng Sản Việt Nam lục tục kéo sang chầu để xin giải hòa, thề từ nay ngưng không chửi bới “Trung Quốc xâm lược” nữa! Chẳng còn chút thể diện nào cả! Làm sao người ta không khinh được?
Ước chi lúc này có được những nhà ngoại giao như Lý Văn Phức thời đó! Ước chi lúc này có được những vị đồn trưởng như ông Phạm Quang Chương thời đó!
Bạc Hy Lai bị nghi nghe lén lãnh đạo cấp cao
Có thêm một sự lý giải nữa cho việc ông Bạc Hy Lai bị đình chỉ hết các chức vụ trong đảng và chính quyền
tạo ra vụ bê bối lớn nhất của nền chính trị Trung Quốc trong nhiều năm qua.

Bạc Hy Lai trong cuộc họp quốc hội đầu năm nay, ngay trước khi ông bị cách chức. Ảnh: AFP
Khi chủ tịch Hồ Cẩm Đào, lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc, nhấc điện thoại lên vào tháng 8 năm ngoái để nói chuyện với quan chức chống tham nhũng cấp cao đang ở thăm Trùng Khánh, một thiết bị đặc biệt đã phát hiện ra rằng ông bị nghe lén. Hành động nghe trộm này được cho là do các quan chức địa phương của thành phố miền tây nam Trung Quốc thực hiện.
Phát hiện trên và phát hiện về các vụ nghe lén khác dẫn đến cuộc điều tra chính thức dẫn đến sự ra đi của bí thư thành ủy Trùng Khánh, Bạc Hy Lai, tạo nên vụ chấn động chính trị lớn tại Trung Quốc trong nhiều năm qua.
Cho đến nay, việc ông Bạc bị đình chỉ hết mọi chức vụ được cho là có liên quan đến những chiến dịch truy quét tội phạm quá mạnh tay, thêm vào đó là việc vợ của ông bị tình nghi giết người. Tuy nhiên, thông tin lần đầu được tiết lộ về những máy nghe trộm, cho thấy có thêm một lý do nữa cho sự sụp đổ của ông Bạc.
Hàng chục người có quan hệ gần gũi với đảng, cung cấp thông tin cho The New York Times tuy nhiên đề nghị giấu tên. Những người này xác nhận có việc nghe trộm quan chức cấp cao và có mạng lưới nghe trộm ở Trùng Khánh nhưng các công bố chính thức của Trung Quốc "bỏ sót" điều này.
Các công bố chính thức chỉ tập trung chủ yếu vào cái chết của doanh nhân người Anh Neil Heywood hồi tháng 11 năm ngoái sau khi ông Vương Lập Quân, cựu giám đốc công an Trùng Khánh, đến xin tị nạn ở Lãnh sự quán Mỹ và tiết lộ các chi tiết về cái chết của Heywood.
Có liên quan đến vụ án giết người là lý do không thể cứu vãn được cho sự nghiệp chính trị của ông Bạc, nhưng những nguồn tin cho biết nghe lén mới là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đi của ủy viên trung ương. Đây cũng được cho là một trong những toan tính của ông Bạc để thăng tiến trong nhiệm kỳ tới. Tuy nhiên, nó lại làm cho ông Bạc không còn được tin tưởng và không thể được ngồi vào các vị trí quan trọng trong mùa thu này.
"Các quan chức đều củng cố bộ máy của mình với mục đích duy trì vị thế, nhưng không ai dám theo dõi các lãnh đạo của ủy ban trung ương cả", một quan chức về truyền thông của chính phủ bình luận về nghe trộm.
Theo những thành viên cao cấp của đảng gồm các nhà báo, học giả và những người có quan hệ với quân đội thì Bạc Hy Lai đã bắt đầu mạng lưới nghe trộm từ vài năm nay, trong chương trình nâng cấp hệ thống giám sát do nhà nước đầu tư, dưới vỏ bọc truy quét tội phạm và đảm bảo ổn định chính trị cho địa phương.
Người thực hiện là Vương Lập Quân, cánh tay phải của ông Bạc từ khi ở Liêu Ninh cho đến Trùng Khánh. Họ kết hợp với nhau để tạo nên một "hệ thống theo dõi hỗn hợp từ điện thoại đến Internet".
Một trong những chuyên gia an ninh mạng mà họ mời làm việc là Phương Tân Hưng (Fang Binxing), hiệu trưởng trường đại học Bưu điện và truyền thông Bắc Kinh, người được biết đến với tư cách là cha đẻ của hệ thống tường lửa, kiểm duyệt quốc gia nổi tiếng, Great Firewall. Mới đây, ông Phương vẫn khuyên Trùng Khánh nên sử dụng một số công nghệ mới và ông Vương thì có tên trong danh sách giáo viên thỉnh giảng của trường đại học của Phương.
Nhờ đó, ông Bạc và ông Vương đã tung ra một chiến dịch triệt hạ những điều các ông cho là đường dây phạm tội, kiểm soát phần lớn đời sống kinh tế ở Trùng Khánh. "Trên điện thoại, chúng không tôi dám nhắc đến tên Bạc Hy Lai hoặc Vương Lập Quân", một người kinh doanh bất động sản chạy trốn ra nước ngoài kể lại. Thay vào đó, ông này cũng những người kinh doanh khác viết tay những ký hiệu nguệch ngoạc, tháo pin điện thoại di động và dùng sim rác để trốn tránh sự kiểm soát.
Lý Trương, một luật sư có tiếng ở Bắc Kinh, kể lại việc một số người họ hàng của một khách hàng mà ông đại diện đưa cho ông một chồng sim rác, cảnh báo ông về việc nghe lén. Bất chấp những sự đề phòng này, cảnh sát Trùng Khánh vẫn lần ra luật sư này ở ngoại ô Bắc Kinh, cách Trùng Khánh 900 km, sau khi ông gọi cho vợ của thân chủ để đến thăm bà tại bệnh viện.
"Họ như có một cuộc phục kích vậy", ông Lý nói đồng thời gọi Vương Lập Quân là "kẻ nghe lén xấu xa".
Một nhà phân tích chính trị có mối quan hệ với các quan chức cấp cao, trích dẫn thông tin có được từ một đại tá mà ông có dịp tiếp xúc gần đây nói rằng Bạc Hy Lai đã cố gắng ghi lại các cuộc điện thoại của tất cả các nhà lãnh đạo cấp cao đến thăm Trùng Khánh trong những năm trở lại đây, bao gồm cả Chu Vĩnh Khang. Chu Vĩnh Khang là ủy viên bộ chính trị, bí thư Ủy ban Chính trị-Pháp luật của Trung Quốc, được cho là người chống lưng cho Bạc Hy Lai và ông Bạc sẽ thay thế vị trí của ông này trong nhiệm kỳ tới.
"Ông Bạc muốn biết chắc thái độ của các lãnh đạo cấp cao đối với mình như thế nào", nhà phân tích nói.
Nguồn tin từ hai nhà báo cho biết một ví dụ khác trong năm ngoái là những công nhân thao tác bị bắt quả tang chặn cuộc gọi giữa văn phòng của ông Hồ Cẩm Đào với ông Lưu Quang Lỗi, quan chức quân đội. Vương Lập Quân chính là người kế nhiệm chức vụ giám đốc công an của ông Lưu. Ông Lưu từng là cấp dưới của ông Hồ Cẩm Đào thời những năm 1980 ở tỉnh Quý Châu.
Đầu năm nay, Ủy ban kiểm tra của Trung Quốc đã cử 4 tổ điều tra đến Trùng Khánh, trong đó hai đội điều tra bí mật, nhà phân tích dẫn nguồn của Ủy ban điều tra cho hay. Một tổ sẽ tiến hành điều tra vai trò của ông Vương khi là giám đốc công an Liêu Ninh trong vụ án nhận hối lộ của cảnh sát ở đây.
Ngoài lý do chuyến thăm thường lệ, hiện chưa rõ tại sao Bộ trưởng bộ giám sát Mã Văn, người gọi điện thoại cho chủ tịch Hồ Cẩm Đào, lại đến Trùng Khánh. Chuyến đi bí mật của bà Mã và các cuộc điện thoại của bà từ nhà khách Trùng Khánh đến điện thoại của ông Hồ Cẩm Đào được theo dõi chặt chẽ theo chỉ đạo của ông Bạc.
Nội dung của cuộc điện thoại không được biết đến, nhưng dường như cũng không quan trọng. Phần lớn những cú điện thoại không còn được bảo đảm nên những thông tin quan trọng sẽ được trao đổi trực tiếp hoặc qua văn bản mật. Tuy nhiên, việc ông Bạc ghi âm cuộc trò chuyện của ông Hồ, dù có cố ý hay không, là không thể chấp nhận được, và thể hiện sự yếu thế của trung ương trước địa phương, khiến Bắc Kinh tức giận.
"Ông Bạc muốn đổ tội cho Vương Lập Quân vì Vương không dám nói rằng đó là ý đồ của ông Bạc", một quan chức cao cấp trong ngành truyền thông cho biết. Tuy nhiên, trước khi chạy trốn khỏi Trùng Khánh, ông Vương được cho là đã viết hai đơn khiếu nại lên Ủy ban trung ương, một bức giấu tên, bức thứ hai ghi tên thật, một nguồn tin có quan hệ với ông Bạc cho hay.
Nội dung chủ yếu của đơn khiếu nại là về ông Bạc đã "chống lại trung ương", bao gồm việc yêu cầu nghe lén các vị lãnh đạo cấp cao. Những yêu cầu điều tra ông Bạc đã bị từ chối vào thời điểm đó. Theo nguồn tin trên, ông Bạc khi đó nói rằng ông có thể chống chọi được với những lời cáo buộc của ông Vương.
Ông Vương đến Lãnh sứ quán Mỹ xin tị nạn, nói về một số chi tiết liên quan đến cái chết của doanh nhân người Anh tuy nhiên không nói về vấn đề nghe lén với các nhân viên ngoại giao Mỹ. Tuy nhiên, thực sự có tồn tại mâu thuẫn giữa hai người này khi ông Bạc phát hiện ra ông Vương ghi âm cả ông Bạc và vợ mình, nguồn tin này cho hay. Sau khi ông Vương bị bắt giữ hồi tháng 2, Bạc Hy Lai đã bắt giữ chuyên viên kỹ thuật về nghe lén của Vương ở Liêu Ninh.
Tài liệu lưu hành nội bộ trong đảng nói rằng nghe lén là hành vi phạm tội nghiêm trọng nhất mà ông Bạc mắc phải. Một bản cáo trạng sơ bộ hồi tháng 3 cáo buộc ông Bạc gây tổn thất cho sự đoàn kết trong đảng bằng cách thu thập những tài liệu của các nhà lãnh đạo khác. Tuy nhiên, các quan chức trong đảng nói sẽ còn tổn thất hơn nhiều nếu công bố việc nghe lén nên nhiều người dự đoán rằng trong kết quả điều tra cuối cùng sẽ không có nội dung này mà chỉ tập trung chủ yếu vào các tội về kinh tế và giết người, nguồn tin là một quan chức về truyền thông nói.
Vũ Hà (theo NYT)
Có thêm một sự lý giải nữa cho việc ông Bạc Hy Lai bị đình chỉ hết các chức vụ trong đảng và chính quyền
tạo ra vụ bê bối lớn nhất của nền chính trị Trung Quốc trong nhiều năm qua.

Bạc Hy Lai trong cuộc họp quốc hội đầu năm nay, ngay trước khi ông bị cách chức. Ảnh: AFP
Khi chủ tịch Hồ Cẩm Đào, lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc, nhấc điện thoại lên vào tháng 8 năm ngoái để nói chuyện với quan chức chống tham nhũng cấp cao đang ở thăm Trùng Khánh, một thiết bị đặc biệt đã phát hiện ra rằng ông bị nghe lén. Hành động nghe trộm này được cho là do các quan chức địa phương của thành phố miền tây nam Trung Quốc thực hiện.
Phát hiện trên và phát hiện về các vụ nghe lén khác dẫn đến cuộc điều tra chính thức dẫn đến sự ra đi của bí thư thành ủy Trùng Khánh, Bạc Hy Lai, tạo nên vụ chấn động chính trị lớn tại Trung Quốc trong nhiều năm qua.
Cho đến nay, việc ông Bạc bị đình chỉ hết mọi chức vụ được cho là có liên quan đến những chiến dịch truy quét tội phạm quá mạnh tay, thêm vào đó là việc vợ của ông bị tình nghi giết người. Tuy nhiên, thông tin lần đầu được tiết lộ về những máy nghe trộm, cho thấy có thêm một lý do nữa cho sự sụp đổ của ông Bạc.
Hàng chục người có quan hệ gần gũi với đảng, cung cấp thông tin cho The New York Times tuy nhiên đề nghị giấu tên. Những người này xác nhận có việc nghe trộm quan chức cấp cao và có mạng lưới nghe trộm ở Trùng Khánh nhưng các công bố chính thức của Trung Quốc "bỏ sót" điều này.
Các công bố chính thức chỉ tập trung chủ yếu vào cái chết của doanh nhân người Anh Neil Heywood hồi tháng 11 năm ngoái sau khi ông Vương Lập Quân, cựu giám đốc công an Trùng Khánh, đến xin tị nạn ở Lãnh sự quán Mỹ và tiết lộ các chi tiết về cái chết của Heywood.
Có liên quan đến vụ án giết người là lý do không thể cứu vãn được cho sự nghiệp chính trị của ông Bạc, nhưng những nguồn tin cho biết nghe lén mới là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đi của ủy viên trung ương. Đây cũng được cho là một trong những toan tính của ông Bạc để thăng tiến trong nhiệm kỳ tới. Tuy nhiên, nó lại làm cho ông Bạc không còn được tin tưởng và không thể được ngồi vào các vị trí quan trọng trong mùa thu này.
"Các quan chức đều củng cố bộ máy của mình với mục đích duy trì vị thế, nhưng không ai dám theo dõi các lãnh đạo của ủy ban trung ương cả", một quan chức về truyền thông của chính phủ bình luận về nghe trộm.
Theo những thành viên cao cấp của đảng gồm các nhà báo, học giả và những người có quan hệ với quân đội thì Bạc Hy Lai đã bắt đầu mạng lưới nghe trộm từ vài năm nay, trong chương trình nâng cấp hệ thống giám sát do nhà nước đầu tư, dưới vỏ bọc truy quét tội phạm và đảm bảo ổn định chính trị cho địa phương.
Người thực hiện là Vương Lập Quân, cánh tay phải của ông Bạc từ khi ở Liêu Ninh cho đến Trùng Khánh. Họ kết hợp với nhau để tạo nên một "hệ thống theo dõi hỗn hợp từ điện thoại đến Internet".
Một trong những chuyên gia an ninh mạng mà họ mời làm việc là Phương Tân Hưng (Fang Binxing), hiệu trưởng trường đại học Bưu điện và truyền thông Bắc Kinh, người được biết đến với tư cách là cha đẻ của hệ thống tường lửa, kiểm duyệt quốc gia nổi tiếng, Great Firewall. Mới đây, ông Phương vẫn khuyên Trùng Khánh nên sử dụng một số công nghệ mới và ông Vương thì có tên trong danh sách giáo viên thỉnh giảng của trường đại học của Phương.
Nhờ đó, ông Bạc và ông Vương đã tung ra một chiến dịch triệt hạ những điều các ông cho là đường dây phạm tội, kiểm soát phần lớn đời sống kinh tế ở Trùng Khánh. "Trên điện thoại, chúng không tôi dám nhắc đến tên Bạc Hy Lai hoặc Vương Lập Quân", một người kinh doanh bất động sản chạy trốn ra nước ngoài kể lại. Thay vào đó, ông này cũng những người kinh doanh khác viết tay những ký hiệu nguệch ngoạc, tháo pin điện thoại di động và dùng sim rác để trốn tránh sự kiểm soát.
Lý Trương, một luật sư có tiếng ở Bắc Kinh, kể lại việc một số người họ hàng của một khách hàng mà ông đại diện đưa cho ông một chồng sim rác, cảnh báo ông về việc nghe lén. Bất chấp những sự đề phòng này, cảnh sát Trùng Khánh vẫn lần ra luật sư này ở ngoại ô Bắc Kinh, cách Trùng Khánh 900 km, sau khi ông gọi cho vợ của thân chủ để đến thăm bà tại bệnh viện.
"Họ như có một cuộc phục kích vậy", ông Lý nói đồng thời gọi Vương Lập Quân là "kẻ nghe lén xấu xa".
Một nhà phân tích chính trị có mối quan hệ với các quan chức cấp cao, trích dẫn thông tin có được từ một đại tá mà ông có dịp tiếp xúc gần đây nói rằng Bạc Hy Lai đã cố gắng ghi lại các cuộc điện thoại của tất cả các nhà lãnh đạo cấp cao đến thăm Trùng Khánh trong những năm trở lại đây, bao gồm cả Chu Vĩnh Khang. Chu Vĩnh Khang là ủy viên bộ chính trị, bí thư Ủy ban Chính trị-Pháp luật của Trung Quốc, được cho là người chống lưng cho Bạc Hy Lai và ông Bạc sẽ thay thế vị trí của ông này trong nhiệm kỳ tới.
"Ông Bạc muốn biết chắc thái độ của các lãnh đạo cấp cao đối với mình như thế nào", nhà phân tích nói.
Nguồn tin từ hai nhà báo cho biết một ví dụ khác trong năm ngoái là những công nhân thao tác bị bắt quả tang chặn cuộc gọi giữa văn phòng của ông Hồ Cẩm Đào với ông Lưu Quang Lỗi, quan chức quân đội. Vương Lập Quân chính là người kế nhiệm chức vụ giám đốc công an của ông Lưu. Ông Lưu từng là cấp dưới của ông Hồ Cẩm Đào thời những năm 1980 ở tỉnh Quý Châu.
Đầu năm nay, Ủy ban kiểm tra của Trung Quốc đã cử 4 tổ điều tra đến Trùng Khánh, trong đó hai đội điều tra bí mật, nhà phân tích dẫn nguồn của Ủy ban điều tra cho hay. Một tổ sẽ tiến hành điều tra vai trò của ông Vương khi là giám đốc công an Liêu Ninh trong vụ án nhận hối lộ của cảnh sát ở đây.
Ngoài lý do chuyến thăm thường lệ, hiện chưa rõ tại sao Bộ trưởng bộ giám sát Mã Văn, người gọi điện thoại cho chủ tịch Hồ Cẩm Đào, lại đến Trùng Khánh. Chuyến đi bí mật của bà Mã và các cuộc điện thoại của bà từ nhà khách Trùng Khánh đến điện thoại của ông Hồ Cẩm Đào được theo dõi chặt chẽ theo chỉ đạo của ông Bạc.
Nội dung của cuộc điện thoại không được biết đến, nhưng dường như cũng không quan trọng. Phần lớn những cú điện thoại không còn được bảo đảm nên những thông tin quan trọng sẽ được trao đổi trực tiếp hoặc qua văn bản mật. Tuy nhiên, việc ông Bạc ghi âm cuộc trò chuyện của ông Hồ, dù có cố ý hay không, là không thể chấp nhận được, và thể hiện sự yếu thế của trung ương trước địa phương, khiến Bắc Kinh tức giận.
"Ông Bạc muốn đổ tội cho Vương Lập Quân vì Vương không dám nói rằng đó là ý đồ của ông Bạc", một quan chức cao cấp trong ngành truyền thông cho biết. Tuy nhiên, trước khi chạy trốn khỏi Trùng Khánh, ông Vương được cho là đã viết hai đơn khiếu nại lên Ủy ban trung ương, một bức giấu tên, bức thứ hai ghi tên thật, một nguồn tin có quan hệ với ông Bạc cho hay.
Nội dung chủ yếu của đơn khiếu nại là về ông Bạc đã "chống lại trung ương", bao gồm việc yêu cầu nghe lén các vị lãnh đạo cấp cao. Những yêu cầu điều tra ông Bạc đã bị từ chối vào thời điểm đó. Theo nguồn tin trên, ông Bạc khi đó nói rằng ông có thể chống chọi được với những lời cáo buộc của ông Vương.
Ông Vương đến Lãnh sứ quán Mỹ xin tị nạn, nói về một số chi tiết liên quan đến cái chết của doanh nhân người Anh tuy nhiên không nói về vấn đề nghe lén với các nhân viên ngoại giao Mỹ. Tuy nhiên, thực sự có tồn tại mâu thuẫn giữa hai người này khi ông Bạc phát hiện ra ông Vương ghi âm cả ông Bạc và vợ mình, nguồn tin này cho hay. Sau khi ông Vương bị bắt giữ hồi tháng 2, Bạc Hy Lai đã bắt giữ chuyên viên kỹ thuật về nghe lén của Vương ở Liêu Ninh.
Tài liệu lưu hành nội bộ trong đảng nói rằng nghe lén là hành vi phạm tội nghiêm trọng nhất mà ông Bạc mắc phải. Một bản cáo trạng sơ bộ hồi tháng 3 cáo buộc ông Bạc gây tổn thất cho sự đoàn kết trong đảng bằng cách thu thập những tài liệu của các nhà lãnh đạo khác. Tuy nhiên, các quan chức trong đảng nói sẽ còn tổn thất hơn nhiều nếu công bố việc nghe lén nên nhiều người dự đoán rằng trong kết quả điều tra cuối cùng sẽ không có nội dung này mà chỉ tập trung chủ yếu vào các tội về kinh tế và giết người, nguồn tin là một quan chức về truyền thông nói.
Vũ Hà (theo NYT)

