Quán Sinh Tố
Moderator: khieulong
Câu chuyện về hai vị thiền sư
Có một vị thiền sư trú trong túp lều tranh ở trên núi, một buổi tối khi đi thiền hành trở về, nhìn thấy một tên trộm đang chiếu cố túp lều tranh của mình nhưng tìm không được vật gì cả. Ngài bèn cởi chiếc áo ngoài đang mặc trên người và đứng ngoài cửa đợi tên trộm ra, vì ngài sợ làm kinh động tên trộm.
Tên trộm vừa quay ra thì gặp thiền sư, trong lúc tên trộm hốt hoảng vị thiền sư liền nói: “Anh bạn! đường sá xa xôi vất vả lên núi thăm tôi, tôi không đành lòng để anh về tay không, đêm khuya rồi, khoác chiếc áo này mà về cho đỡ lạnh.
Nói xong ngài cầm chiếc áo khoác lên thân tên trộm.
Tên trộm xấu hổ, cúi đầu rồi chạy thẳng xuống núi không dám nhìn lại.
Thiền sư nhìn dáng tên trộm khuất dần trong núi rừng mờ mịt, không ngừng thương cảm nói: “ rất đáng thương, tôi muốn tặng cho anh cả vầng trăng để chiếu sáng con đường cho anh xuống núi.
Vài hôm sau, khi thiền sư đang mở to đôi mắt nhìn ánh bình minh xuất hiện, thì nhìn thấy chiếc áo mà ngài khoác lên thân tên trộm mấy hôm trước đó được xếp rất ngay ngắn đặt trước cổng, thiền sư vui vẻ nói :
“ Cuối cùng thì ta cũng đã tặng anh ta cả vầng trăng sáng rồi”.
Lại có câu chuyện khác cũng tương tự.
Trong thiền viện của thiền sư Tiên Nhai, có một vị học tăng rất ham chơi, vị này không chịu nổi cái cảnh vắng lặng yên bình của chốn thiền môn.
Vào những buổi tối vị tăng sinh này thường ra vách tường sau chùa, đặt một cái ghế để leo qua tường ra bên ngoài chơi.
Sau khi thiền sư biết được, ngài không nói với ai.
Một lần, vị tăng sinh này trèo tường trốn đi chơi, ngài đi theo phía sau và đem chiếc ghế để qua một bên rồi ngồi vào chỗ đó đợi vị học tăng trở về.
Đêm khuya vắng vẻ, vị học tăng trở về, không biết chiếc ghế đã bị di chuyển nên vẫn leo qua vách tường và thò chân xuống ghế như mọi khi để vào chùa, nhưng khi vừa đặt chân xuống thì cảm thấy chiếc ghế dưới chân mình sao mềm mại là lạ, cúi xuống nhìn thì hoá ra mình đang đứng trên vai vị thiền sư thầy mình.
Lập tức vị học tăng hồn bay phách tán quỳ xuống nói không ra lời.
Thiền sư liền đỡ vị học tăng đứng lên và nhẹ nhàng nói :
“Đêm khuya sương nhiều, cẩn thận chứ ướt lạnh hãy nhanh vào phòng nghỉ ngơi."
Sau khi về phòng vị tăng sinh cứ phập phồng lo sợ không yên, trắng đêm không ngủ, lo sợ thiền sư sẽ trách phạt mình trước mặt đại chúng.
Nhưng sự việc thì ngược lại, cứ ngày ngày trôi qua, thiền sư không nhắc đến chuyện, cũng không nói cho ai biết.
Vị tăng trẻ tự trong lòng cảm thấy rất hổ thẹn vô cùng, từ đó về sau không dám trốn ra ngoài chơi mà quyết chí tu học, cuối cùng trở thành một vị tăng nổi tiếng đương thời.
Nếu bạn là thiền sư bạn sẽ xử lý thế nào với hai sự việc như thế?
Tôi nghĩ, trong câu chuyện thứ nhất.
Những người bình thường thì sẽ cùng tên trộm vật lộn hoặc sẽ la lớn lên “Trộm, trộm…”. Câu chuyện thứ hai, đối những với người bình thường thì sẽ đem lỗi của vị học tăng nói trước mặt mọi người, sau đó sẽ có hình thức trách mắng quở phạt riêng cho vị ấy.
Nếu làm như vậy kết quả sẽ như thế nào nhỉ?
Tôi nghĩ có thể xảy ra hậu quả thế này, câu chuyện thứ nhất: Tên trộm sẽ đánh bị thương hoặc giết chết vị thiền sư hoặc có thể vị thiền sư đánh tên trộm bị thương và tên trộm sẽ trở lại trả thù thiền sư vào một ngày gần đó.
Câu chuyện thứ hai, sau khi vị học tăng bị quở phạt trước mọi người sẽ cảm thấy rất xấu hổ với bạn bè, trong lòng buồn phiền thối chí tu học cuối cùng trở thành con người bình thường, và có thể từ bỏ lối sống thiền môn.
Hai vị thiền sư này xử sự không giống những người bình thường như chúng ta, mà lấy sự khoan dung đại trí, đại bi để thay đổi một tên lãng tử thành vị danh tăng.
Con người không phải là thánh nhân nên tất nhiên có những sai trái, đối với những người phạm lỗi chúng ta nên có thái độ rộng lượng khoan dung. Im lặng mà hơn cả to tiếng trách móc đây là phương pháp giáo dục tốt nhất. Khoan dung là một phẩm chất đạo đức tốt, khoan hồng tha thứ lỗi cho người giống như ngọn gió mùa xuân mang mưa xuân đến thấm nhuần cây cỏ làm vạn vật thêm xanh tươi. Khoan dung còn hơn cả vàng, khoan dung là một phẩm chất không thể thiếu trong mỗi con người chúng ta.
Có một vị thiền sư trú trong túp lều tranh ở trên núi, một buổi tối khi đi thiền hành trở về, nhìn thấy một tên trộm đang chiếu cố túp lều tranh của mình nhưng tìm không được vật gì cả. Ngài bèn cởi chiếc áo ngoài đang mặc trên người và đứng ngoài cửa đợi tên trộm ra, vì ngài sợ làm kinh động tên trộm.
Tên trộm vừa quay ra thì gặp thiền sư, trong lúc tên trộm hốt hoảng vị thiền sư liền nói: “Anh bạn! đường sá xa xôi vất vả lên núi thăm tôi, tôi không đành lòng để anh về tay không, đêm khuya rồi, khoác chiếc áo này mà về cho đỡ lạnh.
Nói xong ngài cầm chiếc áo khoác lên thân tên trộm.
Tên trộm xấu hổ, cúi đầu rồi chạy thẳng xuống núi không dám nhìn lại.
Thiền sư nhìn dáng tên trộm khuất dần trong núi rừng mờ mịt, không ngừng thương cảm nói: “ rất đáng thương, tôi muốn tặng cho anh cả vầng trăng để chiếu sáng con đường cho anh xuống núi.
Vài hôm sau, khi thiền sư đang mở to đôi mắt nhìn ánh bình minh xuất hiện, thì nhìn thấy chiếc áo mà ngài khoác lên thân tên trộm mấy hôm trước đó được xếp rất ngay ngắn đặt trước cổng, thiền sư vui vẻ nói :
“ Cuối cùng thì ta cũng đã tặng anh ta cả vầng trăng sáng rồi”.
Lại có câu chuyện khác cũng tương tự.
Trong thiền viện của thiền sư Tiên Nhai, có một vị học tăng rất ham chơi, vị này không chịu nổi cái cảnh vắng lặng yên bình của chốn thiền môn.
Vào những buổi tối vị tăng sinh này thường ra vách tường sau chùa, đặt một cái ghế để leo qua tường ra bên ngoài chơi.
Sau khi thiền sư biết được, ngài không nói với ai.
Một lần, vị tăng sinh này trèo tường trốn đi chơi, ngài đi theo phía sau và đem chiếc ghế để qua một bên rồi ngồi vào chỗ đó đợi vị học tăng trở về.
Đêm khuya vắng vẻ, vị học tăng trở về, không biết chiếc ghế đã bị di chuyển nên vẫn leo qua vách tường và thò chân xuống ghế như mọi khi để vào chùa, nhưng khi vừa đặt chân xuống thì cảm thấy chiếc ghế dưới chân mình sao mềm mại là lạ, cúi xuống nhìn thì hoá ra mình đang đứng trên vai vị thiền sư thầy mình.
Lập tức vị học tăng hồn bay phách tán quỳ xuống nói không ra lời.
Thiền sư liền đỡ vị học tăng đứng lên và nhẹ nhàng nói :
“Đêm khuya sương nhiều, cẩn thận chứ ướt lạnh hãy nhanh vào phòng nghỉ ngơi."
Sau khi về phòng vị tăng sinh cứ phập phồng lo sợ không yên, trắng đêm không ngủ, lo sợ thiền sư sẽ trách phạt mình trước mặt đại chúng.
Nhưng sự việc thì ngược lại, cứ ngày ngày trôi qua, thiền sư không nhắc đến chuyện, cũng không nói cho ai biết.
Vị tăng trẻ tự trong lòng cảm thấy rất hổ thẹn vô cùng, từ đó về sau không dám trốn ra ngoài chơi mà quyết chí tu học, cuối cùng trở thành một vị tăng nổi tiếng đương thời.
Nếu bạn là thiền sư bạn sẽ xử lý thế nào với hai sự việc như thế?
Tôi nghĩ, trong câu chuyện thứ nhất.
Những người bình thường thì sẽ cùng tên trộm vật lộn hoặc sẽ la lớn lên “Trộm, trộm…”. Câu chuyện thứ hai, đối những với người bình thường thì sẽ đem lỗi của vị học tăng nói trước mặt mọi người, sau đó sẽ có hình thức trách mắng quở phạt riêng cho vị ấy.
Nếu làm như vậy kết quả sẽ như thế nào nhỉ?
Tôi nghĩ có thể xảy ra hậu quả thế này, câu chuyện thứ nhất: Tên trộm sẽ đánh bị thương hoặc giết chết vị thiền sư hoặc có thể vị thiền sư đánh tên trộm bị thương và tên trộm sẽ trở lại trả thù thiền sư vào một ngày gần đó.
Câu chuyện thứ hai, sau khi vị học tăng bị quở phạt trước mọi người sẽ cảm thấy rất xấu hổ với bạn bè, trong lòng buồn phiền thối chí tu học cuối cùng trở thành con người bình thường, và có thể từ bỏ lối sống thiền môn.
Hai vị thiền sư này xử sự không giống những người bình thường như chúng ta, mà lấy sự khoan dung đại trí, đại bi để thay đổi một tên lãng tử thành vị danh tăng.
Con người không phải là thánh nhân nên tất nhiên có những sai trái, đối với những người phạm lỗi chúng ta nên có thái độ rộng lượng khoan dung. Im lặng mà hơn cả to tiếng trách móc đây là phương pháp giáo dục tốt nhất. Khoan dung là một phẩm chất đạo đức tốt, khoan hồng tha thứ lỗi cho người giống như ngọn gió mùa xuân mang mưa xuân đến thấm nhuần cây cỏ làm vạn vật thêm xanh tươi. Khoan dung còn hơn cả vàng, khoan dung là một phẩm chất không thể thiếu trong mỗi con người chúng ta.
Về Thăm Bidong, Galang
Tác giả : Ngọc Hân (Sydney) Nhân kỷ niệm 37 năm Ngày Saigon thất thủ, Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam sẽ tổ chức 2 chuyến đi “Về Bến Tự Do” để thăm lại các Trại Tị Nạn xưa và thu thập kỷ vật cho Bảo Tàng Viện Thuyền Nhân.
Thấm thoát mà đã 37 năm kể từ khi Sài Gòn thất thủ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Như thông lệ hàng năm, cộng đồng người Việt ở nước ngoài tổ chức nhiều Lễ Kỷ Niệm và meeting phản đối. Ngoài việc tham gia vào các sinh hoạt đó, Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (một tổ chức bất vụ lợi, đặt cơ sở tại Melbourne, Australia) còn tổ chức 2 chuyến đi trở về Malaysia và Indonesia vào giữa tháng 5 cho đến đầu tháng 6 – gọi là Về Bến Tự Do – để thăm lại các trại tị nạn xưa, trùng tu nghĩa trang cho những thuyền nhân xấu số – và hi vọng tìm kiếm thêm những di tích, kỷ vật, hình ảnh cho một Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân Việt Nam trong tương lai.

Bích chương.
Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam được thành lập hồi năm 2005. Theo ông Trần Đông, Giám Đốc của Tổ Chức, sinh hoạt của VKTNVN được chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là 6 năm đầu tiên và giai đoạn thứ 2 là từ nay đến năm 2015, khi cộng đồng người Việt ở nước ngoài kỷ niệm 40 năm định cư.
Mục tiêu của VKTNVN trong 10 năm đầu tiên là trùng tu các khu nghĩa trang và mộ phần Thuyền nhân VN ở các quốc gia Đông Nam Á và công tác nầy sẽ chấm dứt vào năm 2015. Cùng lúc đó, VKTNVN cũng sưu tập những di tích lịch sử, kỷ vật, hình ảnh cho mục tiêu dài hạn là xây dựng Bảo Tàng Viện Thuyền Nhân Việt Nam.
Ngọc Hân phỏng vấn ông Trần Đông về các sinh hoạt trung hạn và dài hạn nầy.
Ngọc Hân: Thưa anh Trần Đông, Văn Khố Thuyền Nhân VN sắp tổ chức 2 chuyến đi từ giữa tháng 5 đến đầu tháng 6 năm 2012, gọi là “Về Bến Tự Do”. Ngoài mục đích trùng tu nghĩa trang của các thuyền nhân, chuyến đi nầy có hi vọng làm được gì khác hay không?
Trần Đông: Thưa chị Ngọc Hân và tất cả quý vị, một trong những công việc quan trọng trong năm 2012 nầy của VKTNVN là tổ chức hai chuyến đi về thăm di tích tị nạn Việt Nam. Chuyến thứ nhất đi về vùng quần đảo Anambas, tức đến các trại Kuku, Air Raya và Galang ở Indonesia. Chuyến thứ nhì là đi về thăm một số di tích tị nạn Việt Nam tại Malaysia, trong đó điểm dừng chính là đảo Bidong . Mục đích chính của hai chuyến đi là để tảo mộ. Song song với vấn đề trùng tu mộ thuyền nhân, chúng tôi cũng đi thăm và tìm hiểu về di tích thuyền nhân Việt Nam ở tất cả các nơi nói trên và đồng thời cũng sưu tập về hình ảnh và kỷ vật cũng như tài liệu liên quan đến vấn đề thuyền nhân. Công tác tìm kiếm và sưu tập tài liệu cũng sẽ được tiếp tục thực hiện trong giai đoạn 2, tức là từ 2012 đến 2015.

Tượng đàì bị đập bể ở Galang, Indonesia. Ngọc Hân: Như vậy, ý định lâu dài của VKTNVN là gì? Thành lập một Bảo Tàng Viện Lịch Sử Thuyền Nhân phải không?
Trần Đông: Hiện giờ thì chúng tôi chỉ nghĩ đến nỗ lực tìm kiếm thật nhiều, càng nhiều càng tốt, các chứng từ cũng như hồ sơ, di vật liên quan đến biến cố thuyền nhân. Chúng tôi chỉ nghĩ đến việc sưu tập (collect) và chuyển những hồ sơ đó sang dạng kỹ thuật số (digitalize) có thể giữ lại được trong máy điện toán để đưa vào trong các hệ thống văn khố (archive). Tuy nhiên, cũng không loại bỏ trường hợp là sau năm 2015 thì chúng ta tiến đến giai đoạn thực hiện một Bảo Tàng Viện Thuyền Nhân VN, có thể tại Úc hay một nơi nào đó, để trưng bày những hình ảnh, di vật về thuyền nhân. Đồng thời cũng là nơi giúp mọi người – không riêng gì người Việt - mà kể cả người bản địa (như Úc, Mỹ, Pháp…) – có thể biết được về giai đoạn gian khổ của người Việt và lịch sử hình thành của cộng đồng người Việt tại các quốc gia nầy.
Ngọc Hân: Ngoài công tác quan trọng và dài hạn như anh vừa nói, Tổ chức VKTNVN có xây dựng tượng đài kỷ niệm không? Chẳng hạn như tại Úc hay tại các nơi khác?
Trần Đông: Trong giai đoạn đầu tiên vừa qua, cũng là giai đoạn mà VKTNVN tổ chức chuyến đi đầu tiên năm 2005 trở về thăm di tích tị nạn ở Indonesia và Malaysia. Trong chuyến đi đó chúng tôi đã dựng lên hai tấm bia tưởng niệm ở tại hai đảo Bidong và Galang. Hai tấm bia này ở Galang và Bidong về sau đã bị đập vỡ, bị phá hoại…
Ngọc Hân: Vì lý do gì mà hai tấm bia tưởng niệm thuyền nhân tại Galang và Bidong bị đập vỡ, bị phá hoại, thưa anh?
Trần Đông: Do áp lực của Hà Nội, hai tấm bia tưởng niệm thuyền nhân tại Galang và Bidong bị đập bỏ. Sau sự đập bỏ đó thì đồng bào của mình ở khắp nơi cảm thấy rất phẩn uất vì sự tàn bạo của nhà cầm quyền Hà Nội cho nên đã có nhiều tượng đài thuyền nhân khác được xây dựng lên ở nhiều nơi; thí dụ như là ở tại Nam Cali, như ba tượng đài thuyền nhân ở tại nước Đức, rồi tượng đài thuyền nhân ở tại Bỉ, tại Pháp và tại Thụy Sĩ. Đó là những tượng đài thuyền nhân được đồng bào mình dựng lên ở các nơi sau khi hai bia tưởng niệm ở Bidong và Galang bị đập vỡ.

Cầu tàu ở Bidong. Ngọc Hân: Còn tại Úc, thưa anh?
Trần Đông: Hiện nay tại Úc, có Tượng đài do VKTNVN dựng lên ở Melbourne, bên cạnh đó cũng có Tượng đài Thuyền Nhân của Cộng Đồng Người Việt Tự Do NSW dựng lên ở Sydney. Trong tương lai cũng sẽ có một số tượng đài khác dựng lên ở vài nơi khác tại nước Úc nữa.
Ngọc Hân: Xin cảm ơn anh Trần Đông, Giám đốc VKTNVN, về cuộc phỏng vấn ngắn này.
Tác giả : Ngọc Hân (Sydney) Nhân kỷ niệm 37 năm Ngày Saigon thất thủ, Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam sẽ tổ chức 2 chuyến đi “Về Bến Tự Do” để thăm lại các Trại Tị Nạn xưa và thu thập kỷ vật cho Bảo Tàng Viện Thuyền Nhân.
Thấm thoát mà đã 37 năm kể từ khi Sài Gòn thất thủ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Như thông lệ hàng năm, cộng đồng người Việt ở nước ngoài tổ chức nhiều Lễ Kỷ Niệm và meeting phản đối. Ngoài việc tham gia vào các sinh hoạt đó, Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (một tổ chức bất vụ lợi, đặt cơ sở tại Melbourne, Australia) còn tổ chức 2 chuyến đi trở về Malaysia và Indonesia vào giữa tháng 5 cho đến đầu tháng 6 – gọi là Về Bến Tự Do – để thăm lại các trại tị nạn xưa, trùng tu nghĩa trang cho những thuyền nhân xấu số – và hi vọng tìm kiếm thêm những di tích, kỷ vật, hình ảnh cho một Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân Việt Nam trong tương lai.

Bích chương.
Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam được thành lập hồi năm 2005. Theo ông Trần Đông, Giám Đốc của Tổ Chức, sinh hoạt của VKTNVN được chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là 6 năm đầu tiên và giai đoạn thứ 2 là từ nay đến năm 2015, khi cộng đồng người Việt ở nước ngoài kỷ niệm 40 năm định cư.
Mục tiêu của VKTNVN trong 10 năm đầu tiên là trùng tu các khu nghĩa trang và mộ phần Thuyền nhân VN ở các quốc gia Đông Nam Á và công tác nầy sẽ chấm dứt vào năm 2015. Cùng lúc đó, VKTNVN cũng sưu tập những di tích lịch sử, kỷ vật, hình ảnh cho mục tiêu dài hạn là xây dựng Bảo Tàng Viện Thuyền Nhân Việt Nam.
Ngọc Hân phỏng vấn ông Trần Đông về các sinh hoạt trung hạn và dài hạn nầy.
Ngọc Hân: Thưa anh Trần Đông, Văn Khố Thuyền Nhân VN sắp tổ chức 2 chuyến đi từ giữa tháng 5 đến đầu tháng 6 năm 2012, gọi là “Về Bến Tự Do”. Ngoài mục đích trùng tu nghĩa trang của các thuyền nhân, chuyến đi nầy có hi vọng làm được gì khác hay không?
Trần Đông: Thưa chị Ngọc Hân và tất cả quý vị, một trong những công việc quan trọng trong năm 2012 nầy của VKTNVN là tổ chức hai chuyến đi về thăm di tích tị nạn Việt Nam. Chuyến thứ nhất đi về vùng quần đảo Anambas, tức đến các trại Kuku, Air Raya và Galang ở Indonesia. Chuyến thứ nhì là đi về thăm một số di tích tị nạn Việt Nam tại Malaysia, trong đó điểm dừng chính là đảo Bidong . Mục đích chính của hai chuyến đi là để tảo mộ. Song song với vấn đề trùng tu mộ thuyền nhân, chúng tôi cũng đi thăm và tìm hiểu về di tích thuyền nhân Việt Nam ở tất cả các nơi nói trên và đồng thời cũng sưu tập về hình ảnh và kỷ vật cũng như tài liệu liên quan đến vấn đề thuyền nhân. Công tác tìm kiếm và sưu tập tài liệu cũng sẽ được tiếp tục thực hiện trong giai đoạn 2, tức là từ 2012 đến 2015.

Tượng đàì bị đập bể ở Galang, Indonesia. Ngọc Hân: Như vậy, ý định lâu dài của VKTNVN là gì? Thành lập một Bảo Tàng Viện Lịch Sử Thuyền Nhân phải không?
Trần Đông: Hiện giờ thì chúng tôi chỉ nghĩ đến nỗ lực tìm kiếm thật nhiều, càng nhiều càng tốt, các chứng từ cũng như hồ sơ, di vật liên quan đến biến cố thuyền nhân. Chúng tôi chỉ nghĩ đến việc sưu tập (collect) và chuyển những hồ sơ đó sang dạng kỹ thuật số (digitalize) có thể giữ lại được trong máy điện toán để đưa vào trong các hệ thống văn khố (archive). Tuy nhiên, cũng không loại bỏ trường hợp là sau năm 2015 thì chúng ta tiến đến giai đoạn thực hiện một Bảo Tàng Viện Thuyền Nhân VN, có thể tại Úc hay một nơi nào đó, để trưng bày những hình ảnh, di vật về thuyền nhân. Đồng thời cũng là nơi giúp mọi người – không riêng gì người Việt - mà kể cả người bản địa (như Úc, Mỹ, Pháp…) – có thể biết được về giai đoạn gian khổ của người Việt và lịch sử hình thành của cộng đồng người Việt tại các quốc gia nầy.
Ngọc Hân: Ngoài công tác quan trọng và dài hạn như anh vừa nói, Tổ chức VKTNVN có xây dựng tượng đài kỷ niệm không? Chẳng hạn như tại Úc hay tại các nơi khác?
Trần Đông: Trong giai đoạn đầu tiên vừa qua, cũng là giai đoạn mà VKTNVN tổ chức chuyến đi đầu tiên năm 2005 trở về thăm di tích tị nạn ở Indonesia và Malaysia. Trong chuyến đi đó chúng tôi đã dựng lên hai tấm bia tưởng niệm ở tại hai đảo Bidong và Galang. Hai tấm bia này ở Galang và Bidong về sau đã bị đập vỡ, bị phá hoại…
Ngọc Hân: Vì lý do gì mà hai tấm bia tưởng niệm thuyền nhân tại Galang và Bidong bị đập vỡ, bị phá hoại, thưa anh?
Trần Đông: Do áp lực của Hà Nội, hai tấm bia tưởng niệm thuyền nhân tại Galang và Bidong bị đập bỏ. Sau sự đập bỏ đó thì đồng bào của mình ở khắp nơi cảm thấy rất phẩn uất vì sự tàn bạo của nhà cầm quyền Hà Nội cho nên đã có nhiều tượng đài thuyền nhân khác được xây dựng lên ở nhiều nơi; thí dụ như là ở tại Nam Cali, như ba tượng đài thuyền nhân ở tại nước Đức, rồi tượng đài thuyền nhân ở tại Bỉ, tại Pháp và tại Thụy Sĩ. Đó là những tượng đài thuyền nhân được đồng bào mình dựng lên ở các nơi sau khi hai bia tưởng niệm ở Bidong và Galang bị đập vỡ.

Cầu tàu ở Bidong. Ngọc Hân: Còn tại Úc, thưa anh?
Trần Đông: Hiện nay tại Úc, có Tượng đài do VKTNVN dựng lên ở Melbourne, bên cạnh đó cũng có Tượng đài Thuyền Nhân của Cộng Đồng Người Việt Tự Do NSW dựng lên ở Sydney. Trong tương lai cũng sẽ có một số tượng đài khác dựng lên ở vài nơi khác tại nước Úc nữa.
Ngọc Hân: Xin cảm ơn anh Trần Đông, Giám đốc VKTNVN, về cuộc phỏng vấn ngắn này.

Khi bạn gửi đi một nụ cười Có 1 cô gái cười với một người lạ rầu rĩ, nụ cười làm cho anh ta phấn chấn hơn.Anh nhớ tới sự tử tế của 1 người bạn cũ và viết cho người ấy 1 lá thư cảm ơn.
Người bạn này vui sướng vì nhận được thư của người bạn cũ lâu ngày không gặp đến nỗi sau bữa trưa anh ta boa một món tiền lớn cho chị hầu bàn.
Chị hầu bàn ngạc nhiên vì món tiền boa quá lớn, đã wuyết định mang món tiền đi mua vé số. Và trúng số.
Ngày hôm sau chị đi nhận giải và cho 1 người ăn mày trên phố 1 ít tiền lẻ.
Người ăn mày rất biết ơn vì đã 2 ngày nay anh ta chưa ăn gì.Sau bữa tối anh ta trở về căn phòng tối tăm của mình.Trên đường về, anh ta thấy 1 chú chó con đang rét run cầm cập, anh mang nó về nhà để sưởi ấm cho nó.Chú chó con rất vui mừng vì được cứu thoát khỏi cơn bão tuyết sắp đến gần.
Đêm ấy, trong khi mọi người đang say ngủ, thì ngôi nhà bốc cháy, chú chó con sủa róng riết.Chú sủa cho đến khi đánh thức mọi người dậyvà mọi người đã thoát chết.
Một trong những chú bé được cứu thoát đêm ấy sau này trở thành bác sĩ tìm ra 1 loại vắc-xin chữa khỏi 1 căn bệnh vô cùng nguy hiểm cho loài người.
Đừng ngại ngần trao nhau những nụ cười bạn nhé bới giá trị nó mang lại không chỉ dừng lại ở một nụ cười…!
Theo điều tra khảo sát thực tế của người Việt
(tại ViệtNam) :
1. Ai cũng có việc làm nhưng không ai làm việc.
2. Ai cũng không làm việc nhưng ai cũng có lương.
3. Ai cũng có lương nhưng không ai đủ sống.
4. Ai cũng không đủ sống nhưng ai cũng sống.
5. Ai cũng sống nhưng không ai hài lòng.
6. Ai cũng không hài lòng nhưng ai cũng giơ tay "đồng ý"!
Và: ...
Giàu đi xe hơi uống bia ôm
Còn Nghèo đi xe ôm uống bia hơi
(tại ViệtNam) :
1. Ai cũng có việc làm nhưng không ai làm việc.
2. Ai cũng không làm việc nhưng ai cũng có lương.
3. Ai cũng có lương nhưng không ai đủ sống.
4. Ai cũng không đủ sống nhưng ai cũng sống.
5. Ai cũng sống nhưng không ai hài lòng.
6. Ai cũng không hài lòng nhưng ai cũng giơ tay "đồng ý"!
Và: ...
Giàu đi xe hơi uống bia ôm
Còn Nghèo đi xe ôm uống bia hơi

Kỹ thuật cấp cứu CPR mới nhất rất đơn giản. http://ahsc.arizona.edu/node/730
Một đoạn video rất quan trọng liên quan đến thủ tục hô hấp nhân tạo mới nhất. Quan trọng đối với tất cả mọi người!

27 lý do khiến chúng ta phải cười mỗi ngày
1- Cười là một thần dược trị được cả bệnh thể xác lẫn bệnh tâm hồn. -
2- Cười làm cho ta cởi mở bao dung và có một tinh thần lạc quan yêu đời.
3- Cười làm tăng hồng huyết cầu và lá lách hoạt động tích cực hơn.
4- Cười làm tăng sinh lực, khiến ta vui vẻ lanh lợi và thêm lòng yêu thương.
5 -Cười làm cánh cửa cảm thông rộng mở thật dễ dàng với mọi người.
6- Cười mím, cười nụ, cười ra tiếng làm khuôn mặt chúng ta dễ mến hơn.
7- Cười làm thư giãn các bắp thịt trên mặt, tan biến những căng thẳng.
8- Cười làm toàn thân được nhẹ nhàng thanh tịnh, thư thái và an lạc.
9- Cười giúp ta tránh được tâm trạng cay đắng khổ đau, phản ứng kịp thời.
10- Cười giúp cho tâm hồn lành mạnh và thêm khả năng sáng tạo mọi việc.
11- Cười nhiều giúp ta biết tự kỷ có trách nhiệm và thực tế hơn.
12- Cười nhiều tránh được buồn nản, dễ thành công vì tiếng cười là trí tuệ.
13- Cười là khoảng cách ngắn nhất giữa hai tâm hồn, là biết nghệ thuật sống.
14- Cười dễ vui theo cái vui của người khác, hoan hỉ như mình thành đạt vậy.
15- Cười có thể làm tan di nỗi bực mình, buồn phiền của người đối diện.
16- Cười giúp ta vui sống hiện tại, quên hết quá khứ và lo lắng về tương lai.
17- Cười giúp ta trở về với chính mình, tức là thực sự trở về đời sống mới.
18- Cười có nhiều lợi ích cho ta về sức khỏe, tinh thần và cảm xúc tâm linh.
19- Cười giúp hồn nhiên tươi sáng,có nhiều khả năng chống lại bệnh tật.
20- Cười giúp các tế bào loại T trong máu tăng lên, có sức đề kháng mạnh.
21- Cười làm giảm phong thấp, các khớp xương đỡ bị sưng và chống sưng.
22- Cười làm giảm các chất hóc môn (cortisone) trong thận, sẽ sống khỏe hơn.
23- Cười tránh được nhức đầu, đau tim, cao huyết áp và mỡ trong máu.
24- Cười giúp tống khứ các khí dơ, thêm nhiều dưỡng khí cho bộ não thông minh.
25- Cười làm tăng máu, chống viêm khớp, làm con người luôn tỉnh táo.
26- Cười tạo điều kiện cho ánh sáng nội tâm thể hiện, thấu suốt mọi sự vật.
27- Cười giúp những nét phiền muộn tan biến, gương mặt trở nên tươi trẻ ra.
Sưu Tầm Trên Net

CHUYÊN CẢM ĐÔNG
Cô y tá đưa một thanh niên với vẻ lo âu , mệt mỏi đến bên giường bệnh của một ông lão. Cô cuối xuống thì thầm với bệnh nhân : " Con trai của ông đã đến đây rồi ". Cô phải lặp lại câu nói trên nhiều lần, người bệnh mới mở mắt ra được và đưa cái nhìn mệt nhọc về phía chàng trai đang đứng bên ngoài bình trợ thở. Ông đã được cho uống nhiều thuốc an thần, bởi những cơn đau tim thường xuyên hành hạ.
Ông đưa bàn tay ra và người thanh niên nắm chặt những ngón tay gầy guộc của ông, truyền một thông điệp về niềm tin, sự khích lệ. Cô y tá mang chiếc ghế đặt cạnh bên giường. Suốt đêm đó, chàng trai ngồi cạnh bệnh nhân, nắm tay ông và nói với ông những lời dịu dàng, động viên ông vượt qua bệnh tật. Siết chặt tay đứa con trai, người bệnh không thốt lên tiếng nào . Bình minh hôm đó, ông lão qua đời. Chàng trai đặt bàn tay không còn sức sống kia xuống giường và đi báo tin cho cô y tá. Anh ta vẫn đợi, trong khi cô y tá đi thực hiện các công việc cần thiết. Sau đó, cô quay trở lại và nói lời chia buồn cùng chàng trai. Thế nhưng,cô thực sự ngạc nhiên, khi nghe chàng trai hỏi:"Ông cụ đó là ai vậy?", "Tôi nghĩ đó là bố của anh..."
"Không, ông ta không phải là bố tôi!". Chàng trai trả lời. "Tôi chưa từng nhìn thấy ông trong đời". "Thế tại sao anh không nói gì khi tôi đưa anh đến gặp ông ta?". Cô y tá hỏi.
Chàng trai chậm rãi nói:"Tôi biết ông ta đang cần gặp con trai của mình. Ông bệnh quá nặng nên không nhận ra tôi là người lạ. Tôi không nỡ nói sự thật, vì biết ông rất cần tôi trong giờ phút lâm chung".
Huỳnh Văn Ái
'Tiếng thét' lập kỷ lục với 120 triệu USD
Bức họa nổi tiếng "The Scream" (Tiếng thét) của danh họa người Na Uy Edvard Munch lập kỷ lục
là bức tranh được bán với giá cao nhất thế giới, 120 triệu USD.

Tuyệt phẩm "The Scream" (Tiếng thét) của danh họa Edvard Munch. Ảnh: Telegraph
Bức họa, được vẽ vào năm 1895, đã thuộc về một người giấu tên đấu giá qua điện thoại sau khi nhà đấu giá Sotheby's ở thành phố New York đem ra bán. Mức giá 120 triệu USD của "The Scream" đã vượt qua kỷ lục bức họa "Nude, Green Leaves and Bust" của họa sĩ thiên tài Pablo Picasso với giá tiền 106 triệu USD vào tháng 5/2010.
Trước khi đấu giá, "The Scream" được dự đoán sẽ vượt mức 80 triệu USD và có thể được bán với giá cao bất ngờ.
Phiên đấu giá diễn ra tối qua. Chỉ sau 10 phút với mức giá khởi điểm là 40 triệu USD, tuyệt phẩm của danh họa người Na Uy Edvard Munch đã xác lập kỷ lục mới.
Mức giá ban đầu được hai người đấu giá giấu tên qua điện thoại đưa ra là 80 triệu USD. Sau mấy lần ra giá, bức họa cuối cùng được bán với giá gần 120 triệu USD bao gồm cả phí bảo hiểm của người mua.
Bức họa được doanh nhân người Na Uy Petter Olsen rao bán. Gia đình của Olsen có quen biết với Munch và đã giữ bức họa này từ những năm 1930.
"The Scream" được Munch vẽ ra làm 4 bản, 3 trong số đó được đặt ở các bảo tàng. Tuy nhiên hai bức đã bị trộm khi đang được trưng bày và hiện đã được phục hồi.
Telegraph đưa tin bức họa được bán đấu giá ngày hôm qua là bức duy nhất thuộc về một cá nhân và được xem là bức được săn lùng nhiều nhất do trên đó có bài thơ chính tay chủ nhân của nó viết về bức tranh.
Bài thơ được tạm dịch: "Tôi đang đi trên đường cùng với hai người bạn. Lúc đó là hoàng hôn, bầu trời bỗng chuyển sang màu đỏ như máu. Bỗng tôi thấy chán nản. Tôi đứng lại, cảm giác mệt mỏi vô cùng. Cả thành phố như chìm trong máu và lửa. Các bạn tôi đã đi trước, chỉ còn lại mình tôi run rẩy và sợ hãi. Tôi nghe như có tiếng thét lớn trong thiên nhiên - EM".
"The Scream" là một trong những tác phẩm nghệ thuật mang tính hình tượng nhất thế giới. Nó tạo nguồn cảm hứng cho nhiều nghệ sĩ khác trên thế giới trong đó có họa sĩ lừng danh người Mỹ Andy Warhol. Nhiều bộ phim kinh dị cũng ra đời dựa trên bức họa này, trong đó có cảnh kẻ giết người đeo một chiếc mặt nạ với hình khuôn mặt đang la hét.
Phan Tâm
Bức họa nổi tiếng "The Scream" (Tiếng thét) của danh họa người Na Uy Edvard Munch lập kỷ lục
là bức tranh được bán với giá cao nhất thế giới, 120 triệu USD.

Tuyệt phẩm "The Scream" (Tiếng thét) của danh họa Edvard Munch. Ảnh: Telegraph
Bức họa, được vẽ vào năm 1895, đã thuộc về một người giấu tên đấu giá qua điện thoại sau khi nhà đấu giá Sotheby's ở thành phố New York đem ra bán. Mức giá 120 triệu USD của "The Scream" đã vượt qua kỷ lục bức họa "Nude, Green Leaves and Bust" của họa sĩ thiên tài Pablo Picasso với giá tiền 106 triệu USD vào tháng 5/2010.
Trước khi đấu giá, "The Scream" được dự đoán sẽ vượt mức 80 triệu USD và có thể được bán với giá cao bất ngờ.
Phiên đấu giá diễn ra tối qua. Chỉ sau 10 phút với mức giá khởi điểm là 40 triệu USD, tuyệt phẩm của danh họa người Na Uy Edvard Munch đã xác lập kỷ lục mới.
Mức giá ban đầu được hai người đấu giá giấu tên qua điện thoại đưa ra là 80 triệu USD. Sau mấy lần ra giá, bức họa cuối cùng được bán với giá gần 120 triệu USD bao gồm cả phí bảo hiểm của người mua.
Bức họa được doanh nhân người Na Uy Petter Olsen rao bán. Gia đình của Olsen có quen biết với Munch và đã giữ bức họa này từ những năm 1930.
"The Scream" được Munch vẽ ra làm 4 bản, 3 trong số đó được đặt ở các bảo tàng. Tuy nhiên hai bức đã bị trộm khi đang được trưng bày và hiện đã được phục hồi.
Telegraph đưa tin bức họa được bán đấu giá ngày hôm qua là bức duy nhất thuộc về một cá nhân và được xem là bức được săn lùng nhiều nhất do trên đó có bài thơ chính tay chủ nhân của nó viết về bức tranh.
Bài thơ được tạm dịch: "Tôi đang đi trên đường cùng với hai người bạn. Lúc đó là hoàng hôn, bầu trời bỗng chuyển sang màu đỏ như máu. Bỗng tôi thấy chán nản. Tôi đứng lại, cảm giác mệt mỏi vô cùng. Cả thành phố như chìm trong máu và lửa. Các bạn tôi đã đi trước, chỉ còn lại mình tôi run rẩy và sợ hãi. Tôi nghe như có tiếng thét lớn trong thiên nhiên - EM".
"The Scream" là một trong những tác phẩm nghệ thuật mang tính hình tượng nhất thế giới. Nó tạo nguồn cảm hứng cho nhiều nghệ sĩ khác trên thế giới trong đó có họa sĩ lừng danh người Mỹ Andy Warhol. Nhiều bộ phim kinh dị cũng ra đời dựa trên bức họa này, trong đó có cảnh kẻ giết người đeo một chiếc mặt nạ với hình khuôn mặt đang la hét.
Phan Tâm

Khác Biệt Giữa Ngày Và Ðêm
Một vị đạo sĩ Ấn Giáo nọ hỏi các đệ tử của ông như sau: "Làm thế nào để biết được đêm đã tàn và ngày bắt đầu?"
Một người đệ tử trả lời như sau: "Khi ta trông thấy một con thú từ đằng xa và ta có thể nói: đó là con bò hay con ngựa".
Câu trả lời trên đây đã không làm cho nhà đạo sĩ ưng ý chút nào...
Người đệ tử thứ hai mới lên tiếng nói: "Khi ta thấy một cây lớn từ đằng xa vàta có thể nói nó là cây xoài hay cây mít".
Vị đạo sĩ cũng lắc đầu không đồng ý. Khi các đệ tử nhao nhao muốn biết câu giải đáp, ông mới ôn tồn nói như sau: "Khi ta nhìn vào gương mặt của bất cứ người nào và nhận ra người anh em của ta trong người đó thì đó là lúc đêm tàn và ngày mới bắt đầu. Nếu ta không phân biệt được như thế, thì cho dù đêm có tàn, ngày có bắt đầu, tất cả mọi sự không có gì thay đổi".
Ngày 25 tháng 12, lễ Thần Mặt Trời của dân ngoại đã được Giáo Hội chọn làm ngày sinh của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu quả thực là Mặt Trời Công Chính. Ngài xuất hiện để báo hiệu Ðêm đã tàn và Ngày Mới bắt đầu.
Nhân loại đã chìm ngập trong đêm tối của tội lỗi, đêm tối của trốn chạy khỏi Thiên Chúa và chối bỏ lẫn nhau giữa người với người. Chúa Giêsu đã đến để xóa tan đêm tối ấy và khai mở ngày mới trong đó người nhận ra người, người trở về với Thiên Chúa.
Quả thực, chỉ trong Ðức Giêsu Kitô, mầu nhiệm con người mới được sáng tỏ. Trong đêm tối âm u của khước từ Thiên Chúa và chóii bỏ lẫn nhau, con người đã không biết mình là ai, mình sẽ đi về đâu. Trong ánh sáng của Chúa Giêsu Kitô, con người nhận dạng được chính mình cũng như nhìn thấy người anh em của mình.
Nhận ra người anh em nơi một người nào đó chính là nhìn thấy hình ảnh của Thiên Chúa nơi mọi người cũng như phẩm giá vô cùng cao quý của người đó.
Nhận ra người anh em nơi một người nào đó là nhìn thấy ra niềm vui, nỗi khổ, sự bất hạnh và ngay cả lỗi lầm của người đo so như của chính mình.
Nhận ra người anh em nơi một người nào đó chính là sẵn sàng tha thứ cho người đó ngay cả khi người đó xúc phạm đến ta và không muốn nhìn mặt ta.
Nhận ra người anh em nơi một người nào đó cũng có nghĩa là không thất vọng về khả năng hướng thiện của người đó.
Nhận ra người anh em nơi một người nào đó cũng có nghĩa là muốn nói với người đó rằng, cách này hay cách khác, ta cần người đó để được sống xứng với ơn gọi làm người hơn.

Trong tất cả kỳ quan của thế giới,
Trái tim của người mẹ là một
kỳ quan tuyệt vời và hùng vĩ nhất.
Chuyện thật ngắn
Nồi cá bống kho tiêu Ba mươi tuổi đầu, lận đận chiến chinh, chưa kịp lấy vợ thì trời sập. Đi tù .
Mẹ thăm nuôi 6 tháng một lần .Quà chỉ có nồi cá bống kho tiêu và nước mắt thương con.
Được 3 năm thấy mẹ già đi, tóc bạc phơ. Thương mẹ, hắn bảo mẹ đừng lên thăm nữa.
Nhưng đến kỳ thăm lại đi ra đi vào ,trông ngóng mẹ. Suốt hai năm không thấy mẹ lên thăm.
Được tha, về nhà mới hay khi mẹ về gặp mưa bị cảm nặng trong lần thăm nuôisau cùng và đã qua đời hai năm rồi.
Giỗ mẹ, hắn đi chợ mua cá bống về kho tiêu. Giỗ xong bưng chén cơm và đĩa cá bống kho tiêu cúng mẹ xuống ăn, hình như có vị mặn của nước mắt.
" Mỗi năm cứ đến ngày oan trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương."
Thanh Nam

