Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Bài giảng của Đức Giám mục Nguyễn Văn Long cho ngày 30 tháng 4
Xin giới thiệu toàn văn bài giảng chúa nhật 29.04.2012 của Đức cha Vincent Nguyễn Văn Long, Giám mục phó Tổng giáo phận Melbourne (Úc Đại Lợi) để quý Cha, quý thầy và anh chị em khắp nơi có cơ hội hiệp thông.

Kính thưa toàn thể qúy ông bà anh chị em,

Một lần nữa, ngày 30 tháng 4, ngày ghi sâu trong ký ức của toàn dân Việt Nam như một ngày Quốc Nạn lại trở về với chúng ta, nhất là những người Việt tỵ nạn cộng sản ở khắp nơi trên thế giới. Có nhiều người nói rằng chúng ta không nên nhìn về qúa khứ nữa, chúng ta không nên tưởng niệm ngày quốc nạn hay quốc hận nữa mà hãy hướng về tương lai. Có không ít người còn nói rằng: “Việt Nam bây giờ đã đổi mới, chính thể Cộng Sản đã thay đổi với thời đại, đâu còn gì để chúng ta phải ôn lại dĩ vãng xa xưa, hãy bắt tay vào việc xây dựng tương lại của đất nước trong tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc”.

Nhưng làm sao chúng ta có thể tiến về tương lai nếu chúng ta không biết nhận ra những bài học của lịch sử? Có “ôn cố mới biết tri tân”. Tôi thiển nghĩ rằng, không ai thiết tha với vận mệnh của dân tộc Việt Nam có thể làm ngơ trước những bài học của lịch sử. Nếu lịch sử là một dòng sông thì những bế tắc trong chiều dài của nó phải được đả thông cặn kẽ. Lúc đó dòng sông mới được chảy đều và làm tươi mát phì nhiêu cho đất Việt thân yêu; lúc đó chúng ta mới mong có tương lai tươi sáng.

Biến cố 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu một khúc ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam cận đại. Nó cũng đánh dấu một bế tắc dẫn đến một sự băng hoại toàn bộ cho cả đất nước và dân tộc Việt Nam. Khi bao nhiêu bom đạn của cuộc chiến ý thức hệ đã gây chết chóc thương tích và tàn phá trên những người dân vô tội; khi bao nhiêu những chiến sĩ bỏ mình nơi chiến trận, phơi thây không một nấm mồ hay chết dần mòn tức tưởi trong các trại cải tạo; khi những phương phế binh bị ruồng bỏ trong một xã hội vô nhân bản; khi cả triệu người phải bỏ nước ra đi, làm nạn nhân trên biển cả trong bao tủi nhục đắng cay; khi cả khối dân Việt tại quốc nội phải sống trong một xã hội hoàn toàn băng hoại, bị cai trị bởi một chính thể đã bị đào thải trong thế giới tiến bộ; khi những người dân lưu vong tại hải ngoại chưa có cơ hội đóng góp vào tiến trình canh tân đất nước. Đây chẳng phải là những mệnh đề của người nhìn dưới lăng kính của kẻ chiến bại hay một nhóm người còn mang đầu óc hận thù chia rẽ. Nhưng đây là những bế tắc của lịch sử mà chỉ khi được khai thông mới mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc.

Kính thưa toàn thể qúy vị và nhất là các bạn trẻ,

Hôm nay chúng ta cùng “ôn cố tri tân” trong niềm tin vào tiến trình tất yếu của lịch sử. Lịch sử sẽ đào thải những gì không còn thích hợp. Dù có ngoan cố cưỡng lại, không ai có thể ngăn cản thế lực của lịch sử, cũng như không chính thể nào có thể làm ngược lòng dân mà tồn tại. Hôm nay chúng ta tưởng nhớ đến những nạn nhân trước và sau 30 tháng 4 năm 1975. Chúng ta cùng ôn lại những bài học của lịch sử. Nhưng trên hết, chúng ta hãy góp một bàn tay khai thông những bế tắc hầu cùng với toàn thể dân tộc mở ra một kỷ nguyên mới cho quê hương Việt Nam.

Lời Chúa hôm nay cho chúng ta sự an ủi và niềm tin vào một tương lai tươi sáng, một bình minh mà bóng tối của tà thần sẽ không chế ngự được. Thánh Phêrô đã dùng lời Thánh Vịnh để nói với dân chúng về Đức Kitô rằng “Phiến đá mà người thợ xây loại bỏ đã trở nên tảng đá góc tường”. “Người thợ xây” trong bối cảnh này chính là những con người tượng trưng cho thế lực của bóng tối và tội lỗi. “Người thợ xây” đây là Giuda, là quân dữ, là những kỳ mục, là Philatô, là Cêsarê và đồng thời là tất cả những ai đứng về phía của sự dữ. Họ đã loại bỏ Đức Kitô, tức là loại bỏ ánh sáng và sự sống, công lý và sự thật cùng tất cả những giá trị nhân bản và siêu nhiên. Nhưng Đức Kitô là phiến đá bị họ loại bỏ đã trở nên tảng đá góc tường. Ngài đã chiến thắng trên tà thần và tội lỗi. Chiến thắng của Ngài vượt không gian và thời gian, để rồi những ai đứng về phía công lý và sự thật đều được thông phần vào chiến thắng của Ngài. Qủa thế, dù cho thế lực của sự dữ lấn án sự lành, dù cho những kẻ cường bạo giết hại những bậc chí nhân, nhưng chúng ta có thể tin chắc vào sự viên mãn của công lý và sự thật trong Chúa Giêsu Kitô, viên đá tảng của niềm tin và niềm hy vọng chúng ta.

Trong bối cảnh của đất nước chúng ta hôm nay, “người thợ xây” là ai nếu không phải là chế độ phi nhân vong bản; “người thợ xây” là ai nếu không phải là những công cụ đàn áp cưỡng chiếm đất đai của người dân vô tội như công an, cảnh sát cơ động và côn đồ. Và “phiến đá bị họ loại bỏ” là ai nếu không phải là những người đấu tranh cho công lý và sự thật, là người giáo dân Thái Hà với lá cây vạn tuế, là Đồng Chiêm với một cây thánh giá, là Cồn Dầu với một nghĩa trang thiêng liêng, là anh Việt Khang với một bài ca ái quốc,hay là dân oan với chỉ những tiếng kêu than vô vọng. Như Thiên Chúa đã thực hiện qua sự khổ nhục, sự chết và sự sống lại của Đức Kitô, Ngài cũng sẽ thực hiện nơi những ai đứng về phía của công lý và sự thật. Chúng ta hãy vững tin và liên đới với nhau trong cùng một lý tưởng, một giấc mơ, một mục đích là ngày khải hoàn của chân thiện mỹ trên quê hương mến yêu.

“Ta là mục tử nhân lành. Ta hiến mạng sống vì chiên ta”. Lời Chúa trong bài Phúc Âm hôm nay nói lên một chân lý bất hủ là chỉ có tình yêu hiến thân cho người khác mới là lẽ sống của người tín hữu. Sứ mạng của Đức Kitô cũng chính là hiến thân để sự sống viên mãn được thể hiện nơi con người. Hôm nay, một cách đặc biệt, chúng ta tưởng nhớ đến những người con của tổ quốc đã vì nước vong thân. Họ đã chẳng màng danh vọng, vinh quang, phú qúy hay trường thọ. Họ hy sinh chính mạng sống ngay trong tuổi thanh xuân để quê hương có ngày tươi sáng. Chúng ta nghiêng mình kính cẩn trước những gương anh linh của tổ quốc. Chúng ta hãy cùng nhau hướng về mục đích mà chính họ đã làm những viên gạch lót đường: đó là sự sống viên mãn cho tha nhân, sự phục hưng cho dân tộc và sự trường tồn của cơ đồ tổ quốc.

Kính thưa qúy ông bà anh chị em,

Ngày 30 tháng 4 không chỉ là một ngày quốc hận hay quốc nạn. Nó là ngày mà chúng ta, nhất là những thế hệ trẻ phải “ôn cố tri tân”. Nó là ngày chúng ta cùng động viên tranh đấu cho một tương lai Việt Nam tươi sáng hơn. Trong tinh thần Phục Sinh, người tín hữu chúng ta nhìn vào biến cố lịch sử đó như là đoạn đường chúng ta phải đi để tiến vào tương lai vinh thắng. Chúng ta phải can trường bước theo con đường mà các anh hùng hào kiệt đã đi trước chúng ta, vững tin vào sự viên mãn của công lý và sự thật trong Chúa Giêsu Kitô, viên đá tảng của niềm tin và niềm hy vọng chúng ta. Hãy liên kết thành sức mạnh để phá tan xiềng xích của sự bạo tàn, dối trá và gian ác là chế độ cộng sản. Hãy cùng nhau khai thông dòng sông lịch sử để nó được chảy và làm tươi mát phì nhiêu cho đất Việt thân yêu. Xin Thiên Chúa chúc lành và kiện toàn cho mọi hy sinh và nỗ lực của chúng ta, người con dân của tổ quốc trong và ngoài nước đang khát khao và tranh đấu cho công lý. Hãy vững tin tiến về bình minh mới, ngày mùa gặt mới của quê hương, vì “người đi gieo trong đau thương sẽ về giữa vui cười”.

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

10 năm chót của Osama bin Laden sau vụ 9/11


Osama bin Laden sinh ngày 10 tháng 3 năm 1957 tại Riyadh, Saudi Arabia, con của một tài phiệt tỷ phú ngành xây dựng
có liên hệ mật thiết với hoàng gia Saudi Arabia. Sau khi rời trường học năm 1979, bin Laden qua Pakistan dùng tiền riêng và vũ khí
do Hoa Kỳ trợ giúp qua Pakistan tham gia quân kháng chiến Hồi Giáo Mujahideen chống quân đội Liên Xô chiếm đóng Afghanistan.

Image
Bức hình lịch sử một năm trước đây, 1 tháng 5 năm 2011, khi Tổng Thống Obama và toàn thể thành viên trong bộ tham mưu cao cấp
ngồi tại tòa Bạch Ốc, trong thái độ biểu hiện nét căng thẳng, theo dõi diễn tiến vụ đột kích ở Pakistan. (Hình: AP/Pete Souza)

Khoảng năm 1988-1990, bin Laden rời khỏi du kích Hồi Giáo ở Afghanistan và Pakistan, trở về Saudi Arabia thành lập Al Qaeda với chủ trương hoạt động khủng bố. Bị cấm ở Saudi Arabia, Al Qaeda đặt căn cứ đầu tiên tại Sudan từ 1992. Năm 1996, bin Laden qua Jalalabad, Afghanistan, liên kết với Mullah Mohamed Omar của Taliban, lập căn cứ tuyển mộ huấn luyện chiến binh và tuyên bố khai chiến với Hoa Kỳ. Những năm sau đó Al Qaeda liên tục tiến hành nhiều vụ tấn công khủng bố bao gồm nổ bom hai tòa đại sứ Mỹ ở Phi Châu, nổ bom chiến hạm USS Cole, và tới cao điểm là vụ tấn công khủng bố 9/11 tại New York và Washington.

Ngày 11 tháng 9, 2001: Từ Khost, căn cứ địa của Al Qaeda ở miền Ðông Afghanistan gần biên giới Pakistan, Osama bin Laden và bộ hạ ngồi nghe đài BBC phát thanh tiếng Á Rập tường trình vụ tấn công khủng bố vào Hoa Kỳ.

12 tháng 9 - 7 tháng 10, 2001: Bin Laden trở về bản doanh lúc đó đặt tại thành phố Kandahar, Tây Nam Afghanistan.

7 tháng 10 - 12 tháng 11, 2001: Khi không lực Hoa Kỳ mở cuộc oanh tạc khởi đầu chiến dịch Afghanistan, thoạt đầu bin Laden đến thủ đô Kabul, nơi tương đối an toàn vì chỉ có thường dân và ít mục tiêu quân sự của Taliban. Tại đây lần đầu tiên bin Laden thâu và phát đi cuốn băng video nói rằng vụ tấn công 9/11 nhằm trả thù cho người Hồi Giáo đã bị Tây phương làm nhục.

12 tháng 11 - 17 tháng 11, 2001: Trước khi Kabul thất thủ vào tay các lực lượng Liên Minh Phương Bắc (Afghanistan), bin Laden và thuộc hạ theo đường núi rút về Jalalabad.

17 tháng 11 - 12 tháng 12, 2001: Bin Laden cùng với quân Al Qaeda và Taliban tập trung về khu Tora Bora giáp biên thùy Pakistan, một vùng bin Laden rất am hiểu từ thời còn là căn cứ kháng chiến chống quân đội Liên Xô. Mặc dầu thoát được những trận oanh tạc dữ dội của Không Quân, nhưng biết không thể cầm cự lâu dài hơn nữa trong các hầm hố và hang núi này suốt mùa Ðông, lợi dụng đêm tối thời tiết băng giá, Laden vượt khỏi vòng vây rời bỏ Tora Bora.

Giữa tháng 12, 2001 - Ðầu năm 2002: Bin Laden và tùy tùng đi bằng ngựa về hướng Bắc đến Kunar, vùng đất vô chính phủ với những ngọn núi cao trên 12,000 feet và rừng rậm bao phủ, khó bị phát hiện từ trên không.

Năm 2002, bin Laden bí mật vượt qua biên giới vào đất Pakistan, gặp lại bà vợ Amal ở thành phố Peshawar.

Cuối năm 2002, bin Laden đưa vợ con vào sâu trên lãnh thổ Pakistan đến Shangla, một thị trấn nông thôn vùng núi, và lưu lại đây khoảng từ 8 đến 9 tháng, ở trong hai căn nhà khác nhau. Từ thời gian ấy cho đến nhiều năm sau, tin tức qua báo chí vẫn dự đoán là Osama bin Laden ẩn náu trong vùng đất tự trị của các bộ tộc ở Pakistan giáp biên giới Afghanistan. Thật ra bin Laden chưa bao giờ sống ở vùng này.

Năm 2003, bin Laden vào sâu trong đất Pakistan thêm nữa, đưa gia đình đến Haripur, thành phố nhỏ gần thủ đô Islamabad, sống hai năm trong một căn nhà thuê ở đây.

2005-2011, bin Laden và gia đình tới Abbottabad, thành phố 500,000 dân, nơi có học viện quân sự của Pakistan, ở phía Bắc Islamabad. Tại đây bin Laden đã có một căn nhà 2 tầng lầu mới xây cất riêng, có tường kín bao bọc biệt lập hẳn bên ngoài với hy vọng giữ được bí mật để có thể tồn tại an toàn lâu dài. Nhưng hơn 5 năm sau, biệt kích SEAL Hoa Kỳ đột kích bất ngờ và hạ sát Osama bin Laden đêm 1 tháng 5 năm 2011.



Giờ phút cuối cùng của Osama bin Laden



Cho tới năm 2009, nỗ lực truy lùng Osama bin Laden gần như đã nguội lạnh. Theo lời Michael Hayden, giám đốc CIA cuối cùng trong nhiệm kỳ của Tổng Thống George W. Bush: “Tôi chỉ có thể nói được một cách có thẩm quyền về bin Laden tới ngày 15 tháng 9 năm 2009.” Ông tiếp: “Nhưng lúc ấy nếu ai hỏi tôi rằng 'Lần cuối cùng ông biết rõ bin Laden ở đâu?' thì câu trả lời của tôi sẽ là 'Tora Bora năm 2001.'”

Mệnh lệnh đầu tiên Tổng Thống Barack Obama ban ra cho Leon Panetta, tân giám đốc CIA từ 2009, là “phải coi việc giết hay bắt sống Osama bin Laden là ưu tiên số một của chiến tranh chống al-Qaeda.” Từ khi còn tranh cử, Obama đã đưa ra lời hứa hẹn dễ gây nên tranh luận là, “Nếu chúng ta biết Osama ở đâu và chính quyền Pakistan không thể hoặc không muốn diệt hắn, chúng ta sẽ phải hành động và chúng ta sẽ diệt hắn. Tiêu diệt bin Laden và đập tan al-Qaeda phải là ưu tiên hàng đầu cho nền an ninh quốc gia chúng ta.”

Khẳng định như vậy, có lẽ Obama đã tin là bin Laden ẩn trốn ở Pakistan. Ðiều ấy không lạ bởi vì tất cả mọi tin tức và dự đoán cho đến lúc đó đều cho rằng bin Laden được các bộ tộc che chở trong vùng lãnh thổ tự trị trên đất Pakistan dọc biên giới Afghanistan. Nhưng ngày nay khi những tài liệu tình báo và ghi nhận thực tế đã được công bố, người ta mới biết rõ rằng bin Laden suốt gần 10 năm chưa bao giờ ở vùng đất vô chính phủ của các bộ tộc, mà lúc nào cũng đã ở ngay trong lãnh thổ của Pakistan.

Tháng 8 năm 2010, Panetta báo cho tổng thống biết là CIA đã tìm thấy tung tích của bin Laden, với tin tưởng chắc chắn từ 60% đến 80%. Tiếp theo là một giai đoạn nghiên cứu kế hoạch và lựa chọn phương cách hành động kéo dài suốt 8 tháng mặc dầu thời gian chậm trễ như vậy có rất nhiều rủi ro lộ bí mật hoặc vô tình Osama bin Laden rời đi nơi khác. Một quyết định khó khăn khác là nên mở cuộc oanh tạc Không Quân, sử dụng máy bay không người lái, hành quân hợp tác với Pakistan hay bằng biệt kích. Cuối cùng Tổng Thống Obama chọn giải pháp nhiều phức tạp là dùng biệt kích, vì chỉ như vậy mới có thể chắc chắn là tiêu diệt đúng Obama bin Laden hay không.

Sáng sớm ngày 2 tháng 5 năm 2011 (giờ địa phương ở Pakistan), những người sống trong khu nhà biệt lập được xây dựng kiên cố của bin Laden ở thành phố Abbottabad choàng tỉnh vì những tiếng nổ lớn bên ngoài. Maryam, 20 tuổi, con gái bin Laden từ dưới chạy lên lầu 2 là tầng chính với 4 phòng ngủ để hỏi xem chuyện gì đang xảy ra. Bin Laden trả lời: “Ði xuống và vào giường ngủ đi,” rồi ông ta bảo bà vợ Amal: “Ðừng mở đèn lên,” có lẽ đó là lời cuối cùng của ông ta.

Không rõ ai đã tắt điện toàn thể khu xóm lúc ấy, đây có thể là biện pháp đề phòng tính toán từ trước, khi nhận thấy có chuyện bất thường. Nhưng việc ấy vô tình lại giúp biệt kích SEAL lợi thế quan trọng trong cuộc đột kích bí mật vào một đêm không trăng.

16 giờ trước, ở nửa bên kia Trái Ðất, Tổng Thống Obama đã cho lệnh “Tiến hành đi” và toán biệt kích 24 người, trong đó có một thông dịch viên sẵn sàng đợi giờ lên trực thăng từ Afghanistan, với đầy đủ mệnh lệnh và chi tiết hành động bên trong mục tiêu.

Hai trực thăng MH-60 trang bị đặc biệt có khả năng tránh phát hiện bởi radar, cất cánh từ Jalalabad, Afghanistan, lúc 11 giờ tối bay về hướng Ðông và vượt qua biên giới vào không phận Pakistan 15 phút sau. Hai trực thăng vận tải khác chở biệt kích theo sau ít phút với nhiệm vụ tăng cường và cứu viện nếu là cần thiết.

Bay gần sát mặt đất nhưng với vận tốc rất nhanh, các trực thăng phải vòng tránh các thành phố, nhà cửa, cây cối và 1 giờ 30 phút sau mới đến mục tiêu Abbottabad cách xa khoảng 150 dặm.

Chiếc trực thăng đầu tiên định đáp hẳn xuống sân bên trong khu nhà ở Abbottabad nhưng đụng đuôi vào bờ tường và rớt, tuy nhiên không biệt kích nào bị chấn thương. Các biệt kích nhảy ra đầu tiên tiến vào dãy nhà khách bên cạnh sân, bắn chết một người Kuwait, có lẽ là người giao liên của bin Laden, và bà vợ bị thương.

Trực thăng thứ hai đáp bên ngoài vòng tường, một số biệt kích tản ra vị trí bảo vệ an ninh cho các đồng đội khác xâm nhập.

Chỉ có 3 biệt kích đột nhập căn nhà chính hai tầng lầu, bắn chết một người Kuwait khác cùng bà vợ ở tầng trệt.

Lên đến tầng trên, các biệt kích phá cửa sắt và bắn chết Khalid, người con trai đã trưởng thành của Bin Laden.

Cuối cùng tới tầng 2 họ tìm thấy bin Laden trong phòng ngủ chính, cùng với một bà vợ. Bin Laden bị hạ sát bằng những phát đạn trúng ngực và mắt trái.

Tổng cộng trong căn nhà với vòng tường kiên cố bao bọc và các dãy nhà thông nhau qua những lối đi hẹp ngoắt ngoéo, có tất cả 24 người lớn và trẻ con, 5 người bị giết, 2 bị thương.

Cuộc đột kích chỉ kéo dài trong ít phút. Gần hai giờ sau khi các trực thăng chở biệt kích đã an toàn trở về đến đất Afghanistan, Tổng Thống Obama duyệt lại lời phát biểu một lần chót và tuyên bố thành công quan trọng nhất trong hơn 10 năm của cuộc chiến tranh chống khủng bố. (HC)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài

Phỏng vấn Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn

Phạm Hồng Sơn thực hiện
(nguồn: pro&contra)

Lời giới thiệu của pro&contra: Hai anh em, ông Huỳnh Nhật Hải sinh năm 1943, ông Huỳnh Nhật Tấn sinh năm 1946, là những người, vào cuối năm 1988, đã cùng nhau tự ra khỏi Ðảng Cộng Sản Việt Nam (ÐCSVN) đồng thời từ bỏ luôn những chức vụ đang đảm nhiệm kèm theo những tiềm năng rất lớn về quyền lực, quyền lợi: Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Ðà Lạt kiêm Thành ủy viên (đối với ông Huỳnh Nhật Hải) và Phó Giám đốc Trường Ðảng tỉnh Lâm Ðồng kiêm Tỉnh ủy viên dự khuyết (đối với ông Huỳnh Nhật Tấn). Ðiều gì đã khiến hai đảng viên cộng sản đầy tiềm năng của một gia đình có truyền thống cách mạng từ trước năm 1945 lại có quyết định chia tay cách mạng khi sự nghiệp “cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước” đã thành công hoàn toàn?


-Phạm Hồng Sơn: Hai ông có thể cho biết con đường nào đã đưa các ông đến với ÐCSVN?

-Huỳnh Nhật Hải: Có thể nói hai anh em chúng tôi đã được “nhuộm đỏ” từ bé. Chúng tôi đã có thiện cảm, tinh thần ủng hộ, và làm những việc có lợi cho những tổ chức của cách mạng như Việt Minh hay Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (Mặt trận) ngay từ khi còn rất nhỏ tuổi. Vì ba má tôi là một gia đình tư sản ủng hộ Việt Minh tại Ðà Lạt từ trước năm 1945. Ba tôi là hội viên Công hội Ðỏ và tham gia cướp chính quyền tại Ðà Lạt vào năm 1945 và sau đó trở thành đảng viên bí mật của Ðảng Cộng sản Ðông Dương (tên gọi lúc đó của ÐCSVN). Hai anh trai tôi là những người đi tập kết ra Bắc sau năm 1954.
Image
Ông Huỳnh Nhật Hải (phải) và ông Huỳnh Nhật Tấn (trái). (Hình: Pro&contra)

-Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói là ngay từ nhỏ, mở mắt ra là chúng tôi đã được nghe, được thấy, được sống trong tinh thần của cách mạng, tôi cứ tạm gọi là “cách mạng” đi. Ðó là những năm thơ ấu của chúng tôi ở trong “vùng tự do” liên khu 5, khi gia đình chúng tôi phải tránh sự truy lùng của Pháp từ khoảng cuối 1945 đến năm 1954, và cả thời gian sau đó khi ba má tôi trở lại Ðà Lạt (sau Hiệp định Genève) để tiếp tục nhiệm vụ ủng hộ bí mật cho ÐCSVN và Mặt trận dưới hình thức là một gia đình tư sản.

-Phạm Hồng Sơn: Hai ông có nhớ đã có ảnh hưởng nào đến từ ngoài gia đình không?

Huỳnh Nhật Tấn: Có, những trí thức như giáo sư, nhà văn, nhạc sĩ có tên tuổi lúc đó mà đi với Việt Minh hay Mặt trận cũng gây cho chúng tôi sự lôi cuốn, cảm hứng âm thầm nhưng rất lớn. Ðặc biệt là qua quan sát, tiếp xúc với những cán bộ hoạt động bí mật đã sống ở nhà tôi thì hai anh em tôi thấy đó là những con người rất đáng khâm phục, họ vừa có tinh thần kỷ luật, chịu đựng, hy sinh rất lớn vừa có những lý tưởng rất cao đẹp là quyết giành lại độc lập cho đất nước và tự do cho dân tộc.

-Huỳnh Nhật Hải: Một yếu tố nữa cũng làm cho chúng tôi ủng hộ Mặt trận là sự xuất hiện của quân đội Mỹ tại miền Nam. Sự xuất hiện đó làm cho những người như chúng tôi cảm thấy bị xúc phạm về chủ quyền dân tộc. Chúng tôi cảm thấy là miền Nam đang bị người Mỹ xâm lăng và cần phải chống lại họ và chính quyền thân Mỹ tại miền Nam.

-Phạm Hồng Sơn: Thời gian từ khi Mặt trận được thành lập (năm 1960) cho tới năm 1975 các ông làm những việc gì để ủng hộ “cách mạng”?

-Huỳnh Nhật Hải: Công việc của cả hai anh em chúng tôi đều cùng có hai giai đoạn khác nhau, trước và sau khi chúng tôi “nhẩy núi,” tức là phải bỏ gia đình để vào tận căn cứ trong rừng sâu để hoạt động. Tôi “nhảy núi” vào đúng mồng 3 Tết Mậu Thân 1968 còn em tôi, Huỳnh Nhật Tấn, “nhảy núi” trước đó vài tháng khi đã bị lộ.

-Huỳnh Nhật Tấn: Trước khi “nhảy núi,” anh em chúng tôi làm công tác liên lạc, vận động trong giới thanh niên, học sinh, sinh viên tại Ðà Lạt để thành lập các nhóm, tổ chức, đoàn thể hoặc in, tán phát truyền đơn hay khẩu hiệu đấu tranh cho Mặt trận.

-Huỳnh Nhật Hải: Sau khi “nhảy núi,” hai anh em chúng tôi, mỗi người một nơi, nhưng đều ở bộ phận công tác phong trào thanh niên học sinh, sinh viên. Anh em chúng tôi thường phải đi vào những “vùng lõm“ (vùng dân cư mà ban ngày do chính quyền Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát còn ban đêm thuộc về lực lượng của Mặt trận) để bắt liên lạc, tiếp nhận hay vận động ủng hộ về vật chất, tinh thần cho Mặt trận.

-Phạm Hồng Sơn: Những công việc đó chắc phải rất mạo hiểm và hết sức khó khăn?

-Huỳnh Nhật Tấn: Ðúng thế, chúng tôi phải rất kiên trì, khôn khéo trong công tác vận động và không phải lần vận động nào cũng thành công. Cả hai anh em chúng tôi cũng đã bị phục kích hoặc chạm trán với lực lượng quân đội của Việt Nam Cộng Hòa, nhưng rất may cả hai chỉ bị thương nhẹ trong một, hai lần.

-Phạm Hồng Sơn: Sau 30 tháng 4, 1975 các ông được giữ ngay chức phó chủ tịch UBND thành phố hoặc phó giám đốc trường đảng?

-Huỳnh Nhật Hải: Không phải như thế. Sau 30 tháng 4, 1975 tôi tiếp tục công tác ở Thành đoàn, sau đó mới chuyển qua công tác chính quyền. Năm 1977 tôi được kết nạp Ðảng. Năm 1979 làm chủ tịch khu phố I thành phố Ðà Lạt, rồi sau khi đi học Trường Ðảng ở Tây Nguyên trong một năm đến năm 1981 là tôi trở thành phó chủ tịch UBND Thành phố Ðà Lạt, là thành ủy viên.

-Huỳnh Nhật Tấn: Tôi thì được kết nạp Ðảng từ năm 1972 sau khi “nhảy núi.” Ngay tháng 10, 1975 tôi đã được chọn vào số cán bộ đầu tiên gửi ra Bắc học ở Trường Tuyên huấn Trung ương ở khu Cầu Giấy, Hà Nội trong 3 năm rồi trở về giảng dạy môn kinh tế chính trị tại Trường Ðảng tỉnh Lâm Ðồng. Và sau lần ra học tiếp ở Hà Nội tại Trường Tuyên Huấn Trung Ương trong 3 năm nữa, đến năm 1986 tôi được bổ nhiệm vào chức phó giám đốc trường Ðảng tỉnh Lâm Ðồng, đồng thời được cơ cấu vào cấp tỉnh ủy, là tỉnh ủy viên dự khuyết.

-Phạm Hồng Sơn: Một cách ngắn gọn, lý do gì đã khiến hai ông gần như đồng thời quyết định từ bỏ đảng kiêm các chức vụ đó?

-Huỳnh Nhật Tấn: Tôi còn nhớ trong lá đơn xin ra khỏi đảng lúc đó tôi có viết một câu: “Tôi không tin ÐCSVN có thể lãnh đạo đưa đất nước đạt được những điều tốt đẹp như đảng thường nói.”

-Huỳnh Nhật Hải: Còn trong lá đơn của tôi viết sau ông em tôi một vài tháng, tôi nhớ đã viết là: “Tôi không còn động cơ để phấn đấu cho mục tiêu và lý tưởng của đảng nữa.” Nhưng thực sự trong thâm tâm thì cũng giống như ông em tôi đã nói ở trên. Tôi không tin ÐCSVN nữa.

-Phạm Hồng Sơn: Quá trình đi đến sự bất tín đó diễn ra như thế nào?

-Huỳnh Nhật Hải: Ðó là một quãng thời gian kéo dài khoảng 5-7 năm, thông qua những quan sát, tìm hiểu, trao đổi, bàn bạc và trằn trọc từ mỗi bản thân và gần như chỉ giữa hai anh em chúng tôi.

-Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói chúng tôi đi đến sự bất tín vào ÐCSVN là dựa vào những gì chúng tôi thấy, chúng tôi gặp trên thực tế hơn là từ vấn đề lý luận.

-Phạm Hồng Sơn: Những “thực tế” nào quan trọng nhất khiến hai ông nhận thức lại ÐCSVN?

-Huỳnh Nhật Tấn: Ðó chính là những chính sách về quản lý xã hội, điều hành kinh tế và việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của người dân của ÐCSVN. Về quản lý xã hội, ÐCSVN đã không quản lý bằng pháp luật mà bằng sự tùy tiện, áp đặt, gần như hoàn toàn chỉ dựa theo các chỉ thị, ý muốn từ lãnh đạo đảng. Ví dụ việc tịch thu nhà cửa, tài sản hay đưa đi “học tập cải tạo,” thực chất là bỏ tù con người, đều không dựa trên pháp luật hay xét xử của tòa án. Ðiều hành kinh tế thì lúc đó chúng tôi thấy những chính sách rất kỳ cục và phản khoa học, ví dụ như có những chỉ thị là Ðà Lạt phải sản xuất bao nhiêu rau hay các huyện khác phải sản xuất bao nhiêu mì mà không cần biết khả năng và lợi thế về thổ nhưỡng, thói quen canh tác của người dân hoặc việc giao quyền lãnh đạo kinh tế không dựa vào chuyên môn, kinh nghiệm mà lại dựa vào thành phần giai cấp và sự gắn bó với đảng. Về các quyền tự do dân chủ của người dân, càng ngày chúng tôi càng thấy thực tế lại tồi tệ và khó khăn hơn rất nhiều so với thời Việt Nam Cộng Hòa. Ví dụ như khi hoạt động trước 1975, chúng tôi đã từng cho một số viên chức chính quyền đọc cả cương lĩnh của Mặt trận nhưng những người đó không coi chúng tôi là thù địch, họ coi việc khác biệt quan điểm là chuyện hết sức bình thường. Nhưng sau năm 1975 mọi thứ không như thế nữa, tất cả mọi hoạt động, kể cả trong tư tưởng, mà khác với quan điểm của ÐCSVN thì đều không được chấp nhận. Báo chí tư nhân, biểu tình, bãi công, bãi thị đã hoàn toàn bị cấm ngặt mặc dù những bất công, nhu cầu lên tiếng của xã hội hết sức bức bối. Có thể nói điều lớn nhất để chúng tôi nhận thức lại ÐCSVN là sự độc tài toàn trị dựa trên bạo lực và không tôn trọng những quyền căn bản của người dân.

-Phạm Hồng Sơn: Các ông đã quen biết những nhân vật như ông Hà Sĩ Phu hay ông Mai Thái Lĩnh,... những cư dân tại Ðà Lạt lúc đó chưa?

-Huỳnh Nhật Hải: Chúng tôi chưa biết ông Hà Sĩ Phu, còn ông Mai Thái Lĩnh thì chúng tôi đã biết nhau từ hồi cùng “nhảy núi” nhưng sau 30 tháng 4, 1975 chúng tôi gần như chưa trao đổi hay bàn luận gì với nhau cả. Anh em chúng tôi trước khi quyết định bỏ về đã nói với nhau là “chúng ta đi làm cách mạng không phải để xây dựng nên một nhà nước chuyên chính độc tài như thế này.”

-Phạm Hồng Sơn: Gia đình, những người thân và bạn bè đồng chí của các ông có phản ứng gì trước quyết định đó?

-Huỳnh Nhật Hải: Lúc đó ba má tôi đều đã qua đời nhưng chúng tôi tin rằng nếu còn sống ba má tôi cũng ủng hộ việc từ giã ÐCSVN của chúng tôi. Hai bà xã của chúng tôi ủng hộ hoàn toàn quyết định về nhà tự làm ăn của chúng tôi.

-Phạm Hồng Sơn: Thế còn hai anh trai, những người đã đi tập kết sau 1954, và những đồng chí thân quen của hai ông?

-Huỳnh Nhật Tấn: Anh trai cả của chúng tôi thì gần như không có ý kiến gì, còn người anh trai thứ hai thì không đồng ý. Còn những đảng viên đồng sự khác và các cấp lãnh đạo lúc đó hoàn toàn ngạc nhiên, gần như tất cả mọi người đều khuyên chúng tôi xem xét lại. Có người lúc đó đã nói với tôi là nếu về thì cuộc sống sẽ rất khó khăn, nhưng tôi xác định trong lòng là trước đây khó khăn nguy hiểm như thế mà còn chịu được thì lẽ nào bây giờ lại không.

-Phạm Hồng Sơn: Khi “trằn trọc” để đi đến quyết định cuối cùng, hình ảnh hay tư tưởng của lãnh tụ Hồ Chí Minh có vấn vương trong “trằn trọc” đó?

-Huỳnh Nhật Tấn: Có. Chúng tôi lúc đó cũng thấy cần phải xem lại cả ông Hồ Chí Minh - lãnh tụ, người sáng lập ra ÐCSVN.

-Phạm Hồng Sơn: Các ông thấy thế nào?

-Huỳnh Nhật Hải: Sau khi cùng tìm hiểu, trao đổi, bàn luận chúng tôi nhận thấy tình trạng mất tự do, phi dân chủ hay có thể nói là cuộc sống kìm kẹp, đau thương của nhân dân, của giới trí thức sau chiến thắng 30 tháng 4, 1975 ở miền Nam hoàn toàn là sự lặp lại y nguyên tình trạng ở miền Bắc sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ năm 1954 - thời kỳ mà ông Hồ Chí Minh vẫn hoàn toàn ở trên đỉnh cao quyền lực.

-Huỳnh Nhật Tấn: Tôi đã từng tự hỏi là mục tiêu sâu xa của ông Hồ Chí Minh là gì? Với những gì lịch sử đã diễn ra khi ông Hồ Chí Minh còn sống thì tôi thấy mục tiêu của ông Hồ Chí Minh vì quyền lực là chính, còn mục tiêu độc lập cho đất nước hay tự do, dân chủ cho dân tộc, cho xã hội Việt Nam đã bị ông Hồ Chí Minh coi nhẹ. Hai mục tiêu tốt đẹp đó chỉ là những ngọn cờ để ÐCSVN lôi kéo, tập hợp quần chúng và giới trí thức cho mục đích giành quyền lực cho ÐCSVN. Thực tế chính quyền dưới thời ông Hồ Chí Minh đã biểu hiện đi ngược lại hoàn toàn hai mục tiêu tốt đẹp đó, độc lập cho dân tộc và tự do, dân chủ cho nhân dân.

-Phạm Hồng Sơn: Vâng, về vấn đề tự do, dân chủ cho nhân dân thì đã rõ, nhưng còn về độc lập dân tộc, xin ông nói rõ thêm?

-Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói ông Hồ Chí Minh đã đưa đất nước thoát khỏi sự phụ thuộc, đô hộ của người Pháp nhưng lại để đất nước trở lại sự phụ thuộc, khống chế và thôn tính của Trung Quốc cộng sản. Nếu không có sự đồng ý, chủ kiến ngoại giao của ông Hồ Chí Minh thì không thể có tình hữu nghị Việt-Trung như “môi với răng” và cũng không thể có Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Ðồng. Một cách ngắn gọn, có thể nói ông Hồ Chí Minh đã vô tình tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm lăng, thôn tính của Trung Quốc cộng sản đối với Việt Nam như chúng ta đang chứng kiến.

-Phạm Hồng Sơn: Liệu có công bằng không khi tình trạng mất độc lập, mất chủ quyền hiện nay qui hết cho Hồ Chí Minh?

-Huỳnh Nhật Tấn: Ðúng là tình trạng lâm nguy của đất nước hiện nay không thể qui hết cho ông Hồ Chí Minh. Nhưng bất kỳ một lãnh tụ, một nhà sáng lập của một đảng, một tổ chức chính trị nào cũng đều có ảnh hưởng rất căn bản tới tầm nhìn, hành động của các thế hệ kế tiếp, dù xấu hay tốt. Tôi nhớ ngay trong văn kiện, khẩu hiệu của ÐCSVN vẫn luôn khẳng định ông Hồ Chí Minh là người sáng lập, tổ chức, lãnh đạo, rèn luyện “đảng ta,” tức là ông Hồ Chí Minh đã là kiến trúc sư cho mọi chính sách, đường lối của ÐCSVN cũng như thể chế, cung cách quản lý xã hội của ÐCSVN.

-Huỳnh Nhật Hải: Ðúng như thế, theo tôi, mặc dù ông Hồ Chí Minh đã mất rồi nhưng tư tưởng, đường lối chính trị của ông ấy vẫn được tiếp tục kế thừa trong ÐCSVN. Không phải ngẫu nhiên mà ÐCSVN hiện nay vẫn hô hào học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.

-Phạm Hồng Sơn: Nhưng nhiều người cho rằng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh là rất tốt đẹp, đáng học theo?

-Huỳnh Nhật Hải: Ðúng, rất tốt đẹp và đáng học nếu chỉ căn cứ vào lời nói và khẩu hiệu như ông Hồ Chí Minh đã đề ra. Và đúng là ÐSCVN hiện nay cũng đang thực hiện đúng như thế, các khẩu hiệu, lời nói, mục tiêu của họ hiện nay cũng rất hoặc khá tốt đẹp, nhưng hành động và thực tế thì lại hoàn toàn ngược lại - cũng như ông Hồ Chí Minh.

-Huỳnh Nhật Tấn: Nếu chỉ căn cứ vào truyền thống nhân ái của người Việt Nam thông thường thôi thì cũng thấy đáng lý ra, với cương vị là người có quyền hành cao nhất, ông Hồ Chí Minh phải ra lịnh không được giết hoặc hãm hại ân nhân của mình như vụ xử bắn bà Nguyễn Thị Năm và nhiều người khác trong Cải cách Ruộng đất. Hoặc những vụ bắt bớ, thanh trừng các đồng sự, các ân nhân của ÐCSVN sau này mà không qua xét xử thì ông Hồ Chí Minh không thể không biết là trái đạo lý. Nếu ông Hồ Chí Minh thực sự là người vì nước vì dân thì sau khi lên nắm quyền, điều đầu tiên ông Hồ Chí Minh phải làm là phải để nhân dân và giới trí thức có nhiều tự do hơn thời thực dân Pháp chớ.

-Phạm Hồng Sơn: Nếu được sống lại thời tuổi trẻ một lần nữa, các ông có tiếp tục ủng hộ và đi theo Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam hay ÐCSVN?

-Huỳnh Nhật Hải: Không, không bao giờ.

-Huỳnh Nhật Tấn: Tôi sẽ phải bình tĩnh hơn, tìm hiểu xem họ có ủng hộ và có tư tưởng dân chủ thực sự không, chứ không thể chỉ căn cứ vào lời nói và tuyên truyền của họ. Theo tôi, vấn đề dân chủ phải được đặt cao hơn vấn đề dân tộc vì chỉ có dân chủ mới giúp cho dân tộc được tự do đúng nghĩa và khi đó đất nước mới có nền độc lập bền vững.

-Phạm Hồng Sơn: Ngày 30 tháng 4, 1975 các ông đang ở đâu và cảm xúc như thế nào?

-Huỳnh Nhật Tấn: Lúc đó tôi đang ở Ðà Lạt. Tôi đã trở về Ðà Lạt từ ngày 30 tháng 4, 1975 với tư thế của người chiến thắng.

-Huỳnh Nhật Hải: Tôi về Ðà Lạt sau ông em tôi một ngày, ngày 30 tháng 4, 1975. Cảm xúc của tôi là sung sướng vô cùng, nhất là khi gặp lại má tôi - má đã tưởng tôi hy sinh từ năm 1971 và đã đưa ảnh tôi lên bàn thờ.

-Phạm Hồng Sơn: Dịp 30 tháng 4 hàng năm vẫn là một trong những ngày lễ lớn của cả đất nước, cảm xúc của các ông ra sao trong những ngày này?

-Huỳnh Nhật Hải: Buồn. Nếu không có cuộc chiến tranh tương tàn giữa hai miền trước 1975 thì dân tộc này không có cái bất hạnh, đau khổ như ngày hôm nay.

-Huỳnh Nhật Tấn: Buồn. Một ngày quá buồn. Cái chiến thắng 30 tháng 4 chỉ đem lại một sự áp bức trên mọi phương diện cho nhân dân, đất nước và lại nặng nề hơn cả thời Pháp thuộc.

-Phạm Hồng Sơn: Nếu bây giờ vô tình hai ông gặp lại một người là cựu viên chức cũ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và người đó chính là “kẻ thù” của ông trước 1975, điều trước tiên hai ông muốn nói là gì?

-Huỳnh Nhật Tấn: Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay. Và nếu xét về những căn bản để bảo đảm tự do cho nhân dân và độc lập cho dân tộc thì tôi cũng đã vô tình góp công sức đưa những người mang danh là “cách mạng” nhưng thực chất là vì quyền lực tới phá bỏ một chế độ đã được xây dựng trên những căn bản về tự do, dân chủ và nhân bản tại miền Nam Việt Nam.

-Huỳnh Nhật Hải: Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc.

-Phạm Hồng Sơn: Xin trân trọng cảm ơn ông Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

.Cả nước đã bị lừa.

Châu Hiển Lý
(Bộ đội tập kết 1954)

Đã hơn 3 thập kỷ trôi qua, làm ăn cực nhọc là thế, thành tựu không thể nói là nhỏ, thế mà khoảng cách phát triển của VN so với thế giới sao vẫn xa vời! Không định thần nhìn nhận lại tất cả, không khéo chúng ta sẽ ngày càng đi sâu vào con đường đi làm thuê, đất nước có nguy cơ trở thành đất nước cho thuê với triển vọng là bãi thải công nghiệp của các quốc gia khác! Giữa lúc thế giới đang bước vào thời kỳ kinh tế trí thức!

150 năm đã trôi qua, nhưng bài học này còn nguyên vẹn. Đó là 80 năm nô lệ, 40 năm với 4 cuộc chiến tranh lớn (Pháp, Mỹ, Cam Bốt, Tàu) – trong đó 3 thế hệ liên tiếp gánh chịu những hy sinh khốc liệt, 35 năm xây dựng trong hòa bình với biết bao nhiêu lận đận, và hôm nay VN vẫn còn là một nước chậm tiến.

Thảm kịch của đảng cộng sản thực ra đã bắt đầu ngay từ ngày 30-4-1975. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. "Tính hơn hẳn" của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.

Nhìn lại sau hơn nữa thế kỷ dưới chế độ CS, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra :

_ Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam ?

_ Sau năm 1975 , tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp ?

_ Tại sao sau khi được "giải phóng" khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông ?

_ Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị ?

Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?

_ Tại sao đàn ông ?của các nước tư bản Châu á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?

_ Tại sao Liên Xô và các nước Đông âu bị sụp đổ?

_ Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn?

Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường , phải đi làm công cho các nước tư bản?

_ Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch?

Hỏi tức là trả lời, người VN đã bỏ phiếu bằng chân từ bỏ một xả hội phi nhân tính . Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghỉa.

Sự thực đã quá hiển nhiên nhưng đảng cộng sản không thể công khai nhìn nhận. Họ không thể nhìn nhận là đã hy sinh bốn triệu sinh mệnh trong một cuộc chiến cho một sai lầm. Nếu thế thì họ không còn tư cách gì để nắm chính quyền, ngay cả để hiện diện trong sinh hoạt quốc gia một cách bình thường.

Nhìn nhận một sai lầm kinh khủng như vậy đòi hỏi một lòng yêu nước, một tinh thần trách nhiệm và một sự lương thiện ở mức độ quá cao đối với những người lãnh đạo cộng sản. Hơn nữa họ đã được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, bỏ chủ nghĩa này họ chỉ là những con số không về kiến thức. Cũng phải nói là trong bản chất con người ít ai chịu từ bỏ quyền lực khi đã nắm được.

Thế là sau cuộc cách mạng long trời lở đất với hơn ba chục năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, Cộng Sản Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ ba dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, hy sinh hơn bốn triệu mạng người, đi lòng dòng gần nửa thế kỷ, Cộng Sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình tư bản để tồn tại .

Hiện tượng "Mửa ra rồi nuốt lại" này là một cái tát vào mặt các nhà tuyên giáo trung ương.

Cách mạng cộng sản đã đưa ra những lí tưởng tuyệt vời nhất, cao cả nhất, đã thực hiện những hành động anh hùng vô song, đồng thời cũng gieo vào lòng người những ảo tưởng bền vững nhất.

Nhưng thực tế chuyên chính vô sản đã diễn ra vô cùng bạo liệt, tàn khốc, chà đạp man rợ lên đạo lý, văn hóa và quyền con người ở tất cả các nước cộng sản nắm chính quyền. Sự dã man quỷ quyệt mánh lới và sự bất nhân khéo che đậy của Cộng sản chưa hề thấy trong lịch sử loài người.

Con người có thể sống trong nghèo nàn, thiếu thốn. Nhưng người ta không thể sống mà không nghĩ, không nói lên ý nghĩ của mình. Không có gì đau khổ hơn là buộc phải im lăng, không có sự đàn áp nào dã man hơn việc bắt người ta phải từ bỏ các tư tưởng của mình và "nhai lại" suy nghĩ của kẻ khác.

Nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối , những kẻ mù chỉ biết nhai như vẹt các nguyên lý bảo thủ giáo điều…

Công dân của nhà nước cộng sản luôn luôn sợ hãi, luôn luôn lo lắng không biết mình có làm gì sai để khỏi phải chứng minh rằng mình không phải là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội.

Cơ chế quyền lực cộng sản tạo ra những hình thức đàn áp tinh vi nhất và bóc lột dã man nhất. Vì vậy công dân trong các hệ thống cộng sản hiểu ngay điều gì được phép làm, còn điều gì thì không. Không phải là luật pháp mà là quan hệ bất thành văn giữa chính quyền và thần dân của nó đã trở thành "phương hướng hành động" chung cho tất cả mọi người.

Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của của Nhà nước. Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là suy đồi đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống…

Bác và đảng đã gần hoàn thành việc vô sản hóa và lưu manh hóa con người VN (vô sản lưu manh là lời của Lê Nin). Vô sản chuyên chính (đảng viên) thì chuyển sang làm tư bản đỏ, còn vô sản bình thường (người dân) trở thành lưu manh do thất nghiệp, nghèo đói.

Nền kinh tế Việt Nam bây giờ chủ yếu là dựa trên việc vơ vét tài nguyên quốc gia , bán rẻ sức lao động của công nhân và nông dân cho các tập đoàn kinh tế ngoại bang , vay nước ngoài do nhà nước CS làm trung gian .

Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp do cộng sản Việt Nam dày công dàn dựng đã tan thành mây khói khi giai cấp "vô sản" âm thầm lột xác trở thành các nhà Tư bản đỏ đầy quyền lực và đô la.

Do vậy, lý thuyết CS dần dần mất đi tính quyến rủ hoang dại. Nó trở nên trần trụi và lai căng. Tất cả điều đó đã làm cho các ĐCS trên toàn thế giới dần dần chết đi. Dù GDP có tăng lên, nhiều công trình lớn được khánh thành do vay mượn quỹ tiền tệ Quốc Tế nhưng đạo đức xả hội cạn dần. Thực tế cho thấy rằng sức mạnh không nằm ở cơ bắp. Vủ khí, cảnh sát và hơi cay chỉ là muổi mòng giửa bầu trời rộng lớn nếu như lòng dân đã hết niềm tin vào chính quyền.

Học thuyết về xây dựng một xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa chỉ là một loại lý tưởng hóa, nó là chiếc bánh vẽ để lừa gạt dân, không hơn không kém; đảng nói một đằng, làm một nẻo.

Chẳng hạn đảng nói "xây dựng xã hội không có bóc lột" thì chính những đảng viên lại là những người trực tiếp tham nhũng bóc lột người ; đảng nói " một xã hội có nền dân chủ gấp triệu lần xã hội tư bản" thì chính xã hội ta đang mất dân chủ trầm trọng; đảng nói "đảng bao gồm những người tiên phong nhất, tiên tiến nhất" nhưng thực tế thì đảng đầy rẫy những người xấu xa nhất, đó là những kẻ đục khoét tiền bạc của nhân dân.

Sở dĩ ĐCSVN còn cố giương cao ngọn cờ XHCN đã bị thiêu rụi ở tất cả các nước sản sinh ra nó vì chúng đang còn nhờ vào miếng võ độc “vô sản chuyên chính” là... còng số 8, nhà tù và họng súng để tồn tại !

Nhân dân đang hy vọng rằng Đảng sớm tự ý thức về tội lổi tầy trời của mình . Đảng sẻ phải thẳng thắn sám hối từ trong sâu thẳm chứ không chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục ngụy biện, chấp vá một cách trơ trẻn.

Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi" mà kết luận: "Tất cả đều là lừa bịp!”

Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ ... đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.

Một thời kỳ mà tâm trạng của người dân được thi sĩ cách mạng Bùi Minh Quốc tóm tắt qua 2 vần thơ :

"Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa !

Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!"

Chẳng lẽ tuổi thanh xuân của bao người con nước Việt dâng hiến cho cách mạng để cuối cùng phải chấp nhận một kết quả thảm thương như thế hay sao ?

Chẳng lẽ máu của bao nhiêu người đổ xuống, vàng bạc tài sản của bao nhiêu kẻ hảo tâm đóng góp để cuối cùng tạo dựng nên một chính thể đê tiện và phi nhân như vậy ?

Tương lai nào sẽ dành cho dân tộc và đất nước Việt Nam nếu cái tốt phải nhường chổ cho cái xấu?

Một xã hội mà cái xấu, cái ác nghênh ngang, công khai dương dương tự đắc trong khi cái tốt, cái thiện phải lẩn tránh, phải rút vào bóng tối thì dân tộc đó không thể có tương lai !

Một kết cục đau buồn và đổ vỡ là điều không tránh khỏi.


Châu Hiển Lý
– Bộ đội tập kết 1954

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

37 lần 30 tháng Tư

Song Chi

Viết gì cho ngày 30 tháng Tư khi đã có quá nhiều và ngày càng nhiều hơn những bài viết hay, xác đáng, tỉnh táo, dưới những góc nhìn khác nhau về biến cố lịch sử này của dân tộc?

Sau 37 năm dài, sự thật rồi cũng dần dần được sáng rõ. Dù có thể vẫn còn nhiều tư liệu, chi tiết về cuộc chiến tranh VN chưa được giải mã hết, nhưng tên gọi, ý nghĩa thật sự của cuộc chiến, vì sao lại có cái ngày 30 tháng Tư năm 1975 , ai “giải phóng” ai, thế nào thật sự là “thắng” là “thua”…thì hầu như đã được những người trong và ngoài cuộc, sinh ra ở miền Bắc hay miền Nam, trước hay sau cuộc chiến, người Việt hay người Mỹ, người nước khác…phân tích khá là đầy đủ.

Và điều quan trọng hơn cả, như câu thơ của đại thi hào Johann Wolfgang von Goethe trong tác phẩm Faust “Mọi lý thuyết đều xám xịt, chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi”, người Việt có thể vẫn cứ tiếp tục tranh cãi bất tận về thắng, thua, chính nghĩa thuộc về ai, nhưng chính thực tế VN như thế nào sau 37 năm đảng cộng sản giành độc quyền lãnh đạo trên toàn đất nước mới là câu trả lời xác đáng nhất.

Sau 37 năm, ngoại trừ những người đang ngồi trên những cái ghế lãnh đạo cao ngất ngưởng, những người gắn chặt với chế độ này vì quyền lợi, bổng lộc, và những người không có thông tin do không hiểu hoặc không biết tìm hiểu, còn ai thực sự tin rằng việc thống nhất hai miền Nam Bắc vào cái ngày 30 tháng Tư năm 1975 để đất nước thu về một mối dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản là một điều đúng đắn, may mắn cho đất nước này, dân tộc này?

Còn ai thực sự tin rằng con đường nước VN đã và đang đi bao nhiêu năm qua là đúng, rằng sau 37 năm đảng cộng sản vẫn xứng đáng lãnh đạo đất nước?

Còn ai thực sự tin rằng nhà nước này là của dân do dân vì dân, chế độ này tốt đẹp hơn, nhân bản hơn các chế độ có mô hình dân chủ pháp trị đa nguyên đa đảng trên thế giới, thậm chí ngay cả so với chế độ miền Nam Cộng Hòa trước kia?

Rằng ngay cả cái khái niệm ổn định mà đảng vả nhà nước cộng sản vẫn tuyên truyền như một ưu thế của chế độ có thật như vậy, hay chỉ là sự ổn định về chính trị bằng vào bàn tay sắt của nhà cầm quyền, còn lại tất cả mọi lĩnh vực khác của đời sống từ kinh tế, xã hội, văn hóa, đối nội đối ngoại… đều tiềm ẩn những mấm mống bất ổn, bất công, phi lý sâu sắc không thể sửa đổi, hóa giải?

Rằng người dân có thật sự đang được hưởng một cuộc sống tự do dân chủ với những quyền căn bản của một con người, một công dân, và sự bình yên trong tâm hồn?

v.v…và v.v…

Tôi tin rằng ngay cả trong cái thiểu số vừa nhắc đến ở trên-những người đang ngồi trên những cái ghế lãnh đạo cao ngất ngưởng, những người gắn chặt với chế độ này vì quyền lợi, bổng lộc, và những người không có thông tin-trong thâm tâm cũng không còn tin những vào những điều đó nữa.

Sau 37 năm, mọi huyền thoại được tô vẽ xung quanh đảng, nhà nước, chế độ…đều vỡ vụn ra như những bọt bong bóng xà phòng. Thực tế, đảng cộng sản VN đã và đang thua cuộc nặng nề. Thua từ cái lý thuyết ngoại lai không tưởng cùng với mô hình xã hội được xây dựng từ đó mà họ sao chép về đã hoàn toàn bị thất bại. Buộc họ phải “đổi mới” thực chất là “đổi cũ”, tồn tại nhờ tiếp tục kết hợp sự cai trị hà khắc của một chế độ độc tài với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.

Thua từ chỗ đứng trong lòng người. Từ cuộc “bỏ phiếu bằng chân” (khái niệm foot voting từ thời Charles Tiebout, Ronald Reagan lại vừa được nhắc lại mới đây trong bài viết của tác giả Nguyễn Hưng Quốc) của hàng triệu con người bỏ nước ra đi ngay sau khi đảng và nhà nước cộng sản tưng bừng ăn mừng chiến thắng chưa lâu, và cho đến tận bây giờ người dân vẫn tiếp tục tìm cách này cách khác để ra đi. Với kẻ thù một thời là “đế quốc Mỹ” nay họ buộc phải quay lại cầu thân xin xỏ, với những người dân miền Nam trước đây họ không sao hòa hợp hòa giải hoặc thu phục được nhân tâm, còn với gần 90 triệu người dân hôm nay thì đang ngày càng mất lòng tin vào họ.

Thua từ vị trí, thế đứng, tầm mức phát triển về mọi mặt của VN so với các nước. Thua trong cái nhìn của thế giới đối với chân dung của nhà cầm quyền VN từ những hồ sơ tệ hại về nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do dân chủ cho người dân…

Thua cả trong văn hóa nghệ thuật, giáo dục, con người….Sau 37 năm, những tác phẩm nào của một thời được tung hô là dòng văn học nghệ thuật cách mạng hiện thực xã hội chủ nghĩa nay còn tồn tại theo thời gian?

Lịch sử dù có bị bóp méo, làm sai lệch, bưng bít đến đâu, nhưng thời gian và thực tế sẽ dần dần trả lại tất cả. Đó là lý do vì sao ngày càng có nhiều người đứng về phía “triệu triệu người buồn” (từ ý câu nói của Cố Thủ tướng nước Cộng hòa XHCN VN Võ Văn Kiệt), viết lên những tâm tư trăn trở day dứt băn khoăn mỗi khi ngày 30 tháng Tư lại về.

Không chỉ là những con người đã từng sống, dính líu đến chế độ miền Nam Cộng Hòa, những người có ân oán với chế độ cộng sản hiện nay, hay những con người đã phải rời nước ra đi ở thời điểm này thời điểm khác, vì không thể chịu đựng hoặc không chấp nhận chế độ cộng sản.

Mà là những con người đã từng sinh ra và lớn lên ở miền Bắc trước 1975, từng cầm súng chiến đấu dưới lá cờ đỏ sao vàng cho một lý tưởng mà họ thực sự tin vào thời điểm đó là “đánh cho Mỹ cút ngụy nhào, đánh để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, để xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa công bằng và tốt đẹp”. Thậm chí họ từng ở trong hàng ngũ tướng tá, lãnh đạo cao cấp, hoặc từng là thành phần con cưng của chế độ.

Là những con người thuộc thế hệ hậu chiến, sinh ra và lớn lên hoàn toàn trong lòng chế độ hôm nay, có rất ít hoặc hầu như không có chút mặc cảm nào với cuộc chiến đã qua, hàng ngày vẫn nghe những lời tuyên truyền một chiều của đảng và nhà nước cộng sản trong bao nhiêu năm…

Những con người ấy cũng đã nhận ra đúng sai, sự thật. Hãy đọc những bài viết trên báo chí ở nước ngoài, các diễn đàn độc lập, blog cá nhân…để thấy sự phong phú, đa dạng của những người vừa nhập thêm hàng ngũ “triệu triệu người buồn”, cứ mỗi 30 tháng Tư năm sau lại đông hơn, đa dạng hơn. Dù mức độ và cách thể hiện khác nhau, họ đều bày tỏ nỗi đau xót, nuối tiếc cho những bước đi sai lầm của đất nước mà đôi khi trong đó có cả sự đóng góp của chính mình và cha ông mình bởi một thời ngây thơ bị lừa, đồng thời trăn trở ưu tư trước tình hình hiện tại, lo lắng cho vận mệnh và tương lai của đất nước.

Tôi đồng ý với nhà báo Lê Diễn Đức, đồng thời đây cũng chính là câu tôi thường tự nói như an ủi khi nghĩ về đất nước không may mắn của mình, rằng con người có định mệnh của mình, mỗi đất nước cũng có vận mệnh riêng.

Vận mệnh của VN thật nghiệt ngã, cay đắng. Quá nhiều những sự chọn lựa sai, những bước đi sai lầm.

Nhưng có ích gì nếu bây giờ chúng ta lại nhắc đến những chữ “nếu”…

Tôi tin rằng nếu ý chí của một con người có thể thay đổi số phận của người đó thì điểu này lại càng đúng, với một dân tộc, một đất nước.

Sau 37 năm dài. Dù VN vẫn chưa có được một phong trào dân chủ mạnh mẽ xuất phát từ sự đoàn kết của quần chúng dẫn đến sự sụp đổ của chế độ như các nước Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa cũ, các nước Trung Đông và Bắc Phi trong phong trào cách mạng hoa nhài mới đây…Dù VN vẫn chưa có những đảng phái chính trị đối lập đủ mạnh với những khuôn mặt có đủ uy tín để đương đầu với nhà cầm quyền, buộc họ phải tự thay đổi như Miến Điện…Nhưng lòng dân chán ghét chế độ, mong muốn một sự thay đổi và một tương lai tốt đẹp hơn cho đất nước thì đã quá đủ.

Không ai có thể cứ sống mãi trong một chế độ độc tài, một xã hội tồi tệ mà không vùng dậy tìm lối thoát cho mình, cho người khác và cho con cháu mai sau.

Và tôi tin rằng nếu một ngày nào đó chế độ này sụp đổ, và một chế độ tự do dân chủ được thiết lập trên quê hương VN, sẽ không bao giờ có hiện tượng hàng loạt tướng lĩnh cao cấp trong quân đội cộng sản sẽ tự sát cùng với chế độ như đã từng xảy ra với miền Nam Cộng Hòa, mặc dù chế độ đó vẫn có những ông tướng, tá hèn nhát bỏ lính chạy trước để bảo vệ mạng sống của mình. Sẽ không có hiện tượng hàng triệu con người sau khi đã phải rời bỏ đất nước và đã có một cuộc sống bình yên, thậm chí sung túc, đã là công dân của nước khác, nhưng vẫn mang theo lá cờ của cái chế độ đã bị bức tử đó suốt bên mình bao nhiêu năm. Sẽ không có những bài viết, những nỗi đau, tiếc cho sự sụp đổ của chế độ này như đã từng có đối với ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Như đã từng xảy ra ở Liên Xô và các nước do đảng cộng sản lãnh đạo trước đây ở Đông Âu. Không một ai nuối tiếc những năm tháng dưới chế độ do đảng cộng sản nắm quyền, họ thẳng tay vứt nó vào sọt rác, bước sang một trang sử mới. Và rõ ràng ở những quốc gia này đảng cộng sản không có mảy may hy vọng gì quay trở lại.

Đôi khi cũng phải an ủi trong nỗi bất hạnh có cái may. VN phải trải qua những năm tháng sống dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản để không bao giờ còn ai có bất cứ chút ảo tưởng nào vào lý thuyết, chủ nghĩa cộng sản, vào đảng cộng sản cả.

Mặc dù cái giá ấy là quá đắt!

Theo Song Chi’s blog

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Gió Đã Đổi Chiều

Tác giả : Vi Anh

Một vài thời sự nhiều ý nghĩa. Thêm một đảng viên Việt Tân từ hải ngọai về Việt Nam tổ chức họat động cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN bị CS bắt. Đó là Ô. Nguyễn Quốc Quân và tên Mỹ là Richard Nguyen, vốn là một giáo sư tóan di tản sang Mỹ tỵ nạn CS, tiếp tục học đậu bằng Tiến sĩ Tóan và giảng dạy tại Đại Học Bang North Carolina, từng bí mật về nước họat động nhiều lẩn, kỳ này bị bắt tại phi trường Tân Sơn Nhứt, ngày 14-4-2012.

Còn trong nước nhà VN, chưa đầy ba tháng sau vụ Tiên Lãng ở Hải Phòng người dân oan dùng súng và mìn tự chế chống lại công an, quân đội cưỡng chế, cưỡng chiếm đất đai của ông Đoàn Văn Vươn, thì ở tỉnh Hưng Yên vụ Văn Giang lại nổi lên. Hàng ngàn người dân đứng lên chống lại nhà cầm quyền cưỡng chế,cưỡng chiếm đất đai để làm Dự án Ecopark mà người đầu ngành tập đòan đầu tư là con gái của Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng.

Phong trào Dân Oan ở VN sau 37 năm CS Hà nội thống trị Việt Nam, theo đánh giá của Đảng Nhà Nước CS trong một hội nghị ngày 02/05 do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ tọa, đã “gây bất ổn chính trị, liên kết đông người”, chiếm hơn 70% vụ khiếu kiện. Con số thực tế những oan khuất của Dân Oan phải chịu và nhà cầm quyến ém nhẹm, nhứt định cao hơn nhiều.

Dưới cái nhìn của nhà nước thống trị đang hốt hoảng, hành động đấu tranh bất bạo động của Tiến sĩ Quân từ Mỹ về là “khủng bố” và hành động phong trào Dân Oan là “gây bất ổn chính trị, liên kết đông người”.

Nhưng dưới cái nhìn của người dân, đó là tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền và đòi quyền sống, đòi công lý đã biến thành phong trào, chứng tỏ người dân đã hết sợ CS, mà CS đang sợ dân. Dân chúng đã qua giai đọan bất tuân hành dân sự, qua giai đọan khiếu kiện cá nhân, mà biến thành phong trào tập thể, từ đấu tranh ôn hòa manh nha tiến lên bạo lực. Tình hình dân chúng VN hiện nung nấu hơn tình hình trước thời người dân Tunisia, Ai cập, và Lbiya vùng lên, nổi dậy chống đối và lật đổ độc tài.

Ngọn gió đã đổi chiều, từ hạ trào cách mạng đang trở thành cao trào cách mạng của người dân chống độc tài CS. Người dân Việt trong và ngoài nước và cán bộ đảng viên CS Hà Nội, 37 năm sau ai sợ ai?

Để trả lời câu hỏi này thiết nghĩ cần phân tích sơ lượt nỗi sợ và phản ứng thông thường của nó. Sợ là phản ứng tâm lý tự nhiên của Con Người, cá nhân lẫn xã hội, trước một cú sốc lớn. Người bị động, tức người bị làm cho sợ, có phản ứng ban đầu từ bất tỉnh đến ù té chạy, hay râm rấp nghe theo, như người bị kẻ cướp bất thần dí súng trấn lột. Điều đó đã thấy khi CS mới vào Saigon, nhiều người Saigon bỏ sở, buông súng, cởi quân phục, “chờ bàn giao chánh quyền” theo lịnh của Ô. Minh - một cái lịnh vi hiến và vi quân luật. Một số thì về nằm chết dí trong nhà, kẻ thì chạy ào vô Tòa Đại sứ Mỹ, xuống Hải Quân, Cảng Nhà Rồng để trốn chạy. Lại có kẻ nịnh bợ CS mang Băng Đỏ làm dân 30 tháng 4. Còn Bộ Đội CS Bắc Việt sợ, mời một ly nước không dám uống, cho một gói mì không dám ăn. Họ sợ bị thuốc, chớ không phải tử tế hay đầy đủ gì. Nhưng sau đó bình tĩnh lại họ thấy cái gì cũng muốn, cũng thèm, hoặc xin, hoặc mua như giựt, để gấp gấp đem về Miền Bắc xã hội chủ nghĩa quá thiếu thốn. Từ đó Saigon có thành ngữ, “tự nhiên như người Hà Lội”.

Nhưng sau một thời gian bị cú sốc, bình tĩnh lại một chút, bản năng tự vệ và sinh tồn của Con Người trỗi dậy, tìm cách thắng nỗi sợ và phản ứng thích nghi hay chống đối. Phản ứng có thể từ lén nhìn sơ hở của đối phương, bày tỏ nỗi bất mãn bằng lời bóng gió, chống đối hay tẩy chay, xa lánh. Còn người chủ động, tức người gây ra nỗi sợ, cũng sợ, nhưng phải dấu nỗi sợ ấy để trấn áp đối phương.

Phản ứng có thể như kẻ cướp có súng trong tay “bụp liền” khi thấy một chút phản ứng nhỏ dù là vô tình của người bị trấn áp. Thời gian có lợi cho người bị động, bất lợi cho người chủ động gây ra nỗi sợ. Thế cho nên kẻ cướp chuyên nghiệp ít khi kéo dài vụ cướp, không cho người bị khống chế nói chuyện, làm mất đi sự căng thẳng thần kinh của đối phương có lợi cho kẻ cướp. Nếu kéo dài thời gian trấn áp con tin, sớm muộn gì cũng có phản ứng hóa giải hay chống đối. Nên những chuyên viên chống tội phạm thường khuyên người bị cướp trấn lột, cướp bảo làm gì cứ làm nấy, cố kéo dài thời gian, quan sát cho kỹ để sau này giúp nhà cầm quyền dễ nhận dạng và bắt hơn là chống đối cướp giết không có lợi gì.

Từ ngày CS Hà Nội chiếm được Miền Nam đến nay đã 37 năm, thử xét coi nỗi sợ của người dân bị động và của CS chủ động gây nỗi sợ, bên nào còn sợ nhiều hơn. Phản ứng của đồng bào Miền Bắc. Từ ngày CS chiếm được Miền Bắc, người dân kẹt không di cư được vào Nam năm 1954, sau một thời gian sợ ban đầu, đã bắt đầu phản ứng tự vệ và sinh tồn. “Phết phẩy” với cán bộ đảng viên, luồn lách, uốn mình qua ngỏ hẹp để sống. Nhưng đàng sau lưng CS thì nói hành nói tỏi, chưởi đon chưởi ren để tỏ bất mãn. Vì vậy ca dao trào phúng, chuyện tiếu lâm ở Miền Bắc nói xấu CS rất phong phú. Và sau cùng đến giai đoạn ly khai Đảng, chống báng Đảng như Trần Độ, Dương Thu Hương và những nhà trí thức đấu tranh.

Còn phản ứng đồng bào Miền Nam nói chung từ Bến Hải trở vào, người dân ban đầu sợ chạy tán loạn sau đó bình tĩnh thích ứng, “đi với ma mặc áo giấy” bằng nhậu nhẹt, lì xì” đến độ đảng viên trước thuốc ba số 555 thì “nằm mà ký”, kế đến “ thủ tục đầu tiên” “sổ vàng”, và nhiều hình thức mua chuộc, trao đổi không tên khá đến độ tham nhũng trở thành đại nạn cho CS. Và không bao lâu đã “hủ hóa” hầu hết VC, biến VC thành cường hào ác bá Đỏ ở nông thôn, và tư bản Đỏ ở thành thị thời kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Sẽ thiếu nếu không nói đến người Việt Hải Ngoại. Từ chỗ VC liệt số người này với tội đồ “phản quốc, phản động, phản cách mạng” nhưng sau mười năm với “vai mang túi bạc kè kè, nói phải nói quấy VC nghe rầng rầng”. Nghe đến nỗi VC uốn lưỡi gọi “Việt Kiều yêu nước, khúc ruột ngàn dặm của quê hương” và mặc thị cho Việt Kiều về trùng tu Nghĩa Trang Biên Hòa là biểu tượng của lực lượng “kẻ thù số 1” của CS Hà Nội; VC đánh chữ làm thinh vì sợ mất Đô la.

Trong khi CS Hà Nội giấu nỗi sợ, nhưng nỗi sợ đâu có rời. Phản ứng đã chỉ rõ. Phát ngôn với quốc tế thì dao to búa lớn không cần thiết, với người dân thì hành động bạo lực quá đáng, quá đà. Rục rịch bất đồng ý với CS là buộc tội gián điệp, khủng bố, phá họai nhà nước, lật đổ chánh quyền. Đồng bào thiểu số Tây Nguyên chỉ biểu tình, VC “điều” hàng sư đoàn có thiết giáp trực thăng yểm trợ, quân số và cơ giới đông hơn người biểu tình. Hao tốn công quỹ vô ích; quấy động dư luận quốc tế không cần thiết, mà tạo điều kiện cho việc chống CS cháy phừng lên. Mỹ đặt CS Hà Nội vào 1 trong 8 nước cần quan tâm đặc biệt trong hai năm phần lớn là vì giọt nước tràn đàn áp đó.

Nhưng nỗi sợ không rời nghe thấy rõ nhứt khi một Ông Tướng VC được “điều” qua làm Giám Đốc VN Airlines, Nguyễn xuân Hiển, bị phóng viên Đài BBC vô tình chạm nọc “sợ” với câu hỏi Ô. Tướng có “sợ” sự cạnh tranh của United Airlines Mỹ không. Ông nổi điên lên, hỏi “tại sao phải dùng chữ sợ nhỉ” và xài xể phóng viên BBC thậm tệ, nào là kém văn hóa, nào là dốt tiếng Việt.

Còn Bộ Chánh Trị CS Hà Nội sợ vụ án Tổng Cục Mật Vụ TC2 nổ tung ra, và nổ chụp xuống Đảng nên sợ cứng người, liệt thần kinh không dám rỉ hơi dù đó là việc đúng người, đúng chỗ, và đúng việc của Bộ Chánh trị CS Hà Nội. Còn Chánh Phủ trong vấn đề Trung Cộng và Mỹ, miệng thì nói rố ráo nguyên tắc bất can thiệp, nhưng trong bụng sợ rung en phát rét, hành động phi lý bán đất dâng biển, chạy chọt tránh bị Mỹ trừng phạt vì lý do đàn áp tôn giáo một cách hết sức thiếu tự tin.

37 năm, nỗi sợ đã đổi bên, từ người dân sợ sang nhà cầm quyền CS sợ. Theo qui trình tâm lý cá nhân và xã hội này, những năm tới sẽ là những năm sẽ xảy ra nhiều diễn biến và biểu hiên, nhiều phản ứng của nỗi sợ không rời CS Hà Nội.

Sợ đã đổi bên từ dân sang nhà nước. Gió đã dổi chiều tữ hạ trào cách mạng sang cao trào cách mạng nơi dân chúng./.

User avatar
saulong
Posts: 114
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:02 pm

Post by saulong »

Làm Sao Giết Nhà Đấu Tranh

Tác giả : Vi Anh

Về vụ nhà đấu tranh Trần quang Thành trốn thóat nơi bị Trung Cộng quản chế và vào tòa đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh xin tỵ nạn chánh trị, câu kết luận của bài trước “Một Trắc Nghiệm Nhân Quyền Với TT Obama” là “Chờ xem kết quả bài trắc nghiệm về nhân quyền của TT Obama trong thời gian tới”. Không dè đến quá mau kết quả phũ phàng do những chính khách và ngọai giao cực kỳ thực dụng Mỹ của chánh quyền Obama dành cho Ô. Trần quang Thành mà báo chí Tây Âu gọi là “luật sư chân đất” và người Trung Hoa coi như “anh hùng dân tộc” trên công luận ngòai luồng của Đảng Nhà Nước TC.

Thực vậy, không bao lâu sau -- xin phép dùng nguồn tin của báo Pháp cho được vô tư hơn trong nội vụ -- heo thông tin, nghị luận của một tờ báo lớn có uy tin của Pháp là nhựt báo Le Monde cho biết “Người Mỹ và Trung Quốc thỏa thuận về số phận của Trần quang Thành”.

Sau khi Ngọai Trưởng Mỹ Hillary Clinton đến Bắc Kinh, ngày thứ Tư, 2 tháng Năm, vài giờ sau một viên chức hữu trách của Mỹ tuyên bố Trung Quốc bảo đảm “an tòan” cho Trần quang Thành, ông sẽ ở lại ở nước nhà của Ông và không xin tỵ nạn chánh trị trong tòa đại sứ Mỹ nơi mà ông đã vào trốn và đã rời khỏi.

Nhưng Ô. Trần quang Thành vào chiếu thứ Tư tuyên bố với thông tấn xã của Pháp là AFP, Ông rời khỏi tòa đại sứ Mỹ dưới sự bó buộc và nỗi lo nhiều chuyện xảy ra cho gia đình Ông.

Phối kiềm với tin của thông tấn xã AP của Mỹ, chỉ một ngày sau, ông Trần Quang Thành nói với hãng tin AP rằng, ông muốn rời khỏi Trung Quốc cùng với gia đình, vì ông lo sợ cho mạng sống của họ. Ông cho biết các giới chức Hoa Kỳ đã nói với ông, là nhà chức trách Trung Quốc sẽ đánh vợ ông tới chết nếu ông không rời khỏi tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh. Nhưng phát ngôn viên ngọai giao Mỹ ở Washington đính chính nói các giới chức Mỹ không bao giờ nói với ông Trần về bất cứ đe dọa nào đối với vợ và con ông, nhưng Trung Quốc đã nói với họ, là gia đình ông sẽ bị đưa về tỉnh Sơn Đông nếu ông Trần ở lại tòa đại sứ Hoa Kỳ. Các giới chức Mỹ cũng đã xác nhận trên Đài VOA, rằng Ô. Thành muốn rời khỏi Trung Quốc cùng với gia đình, một ngày sau khi rời khỏi Tòa đại sứ Hoa Kỳ, Ông đang nằm bịnh viện dưới sự giám sát của TC.

Còn thông tấn xã của TQ thì loan tải nhà ly khai rời khỏi tòa đại sứ Mỹ với sự “tự nguyện”. Ông được khám bịnh ở bịnh viện Chaoyang, trung tâm Bắc Kinh, cũng là vùng tòa đại sứ Mỹ tọa lạc. Theo trang web nhiều người đọc thì người ta cũng thấy tại nơi đây khi Ô. Thành vào bịnh viện, có mặt Đại sứ Mỹ Gary Locke, một người Mỹ gốc Hoa và rất đông những nhà báo.

Còn ngành ngọai giao của TQ thì tỏ vẻ rất bất bình và tố cáo Mỹ với lời lẽ cứng rắn: “Phải nhìn nhận rằng tòa đại sứ Mỹ tại TQ đã dùng những phương tiện bất thường đưa công dân TQ Trần quang Thành vào tòa đại sứ. TQ rất bất mãn”…” Cách hành động đó của Mỹ là can thiệp vào nội bộ của TQ, là điều không thể chấp nhận được đối với TQ”. TQ đòi Mỹ phải xin lỗi và mở cuộc điều tra.” Và một viên chức Mỹ có trách nhiệm tuyên bố với tư cách dấu tên, nói tự hậu một việc như vậy không còn tái diễn nữa.”

Còn theo tin từ Washingon Mỹ, việc Ông Thành rời tòa đại sứ Mỹ, không xin tỵ nạn chánh trị là kết quả một cuộc thương lượng với nhà cầm quyền TQ. Nhà cầm quyền TC hứa với Mỹ ngòai việc để cho Ông và vợ Ông tự do học luật, còn hứa bảo đảm cho Ông một chỗ ở an tòan. Ông Thành điện thọai cám ơn Ngọai Trưởng Mỹ, “Tôi muốn có thể hôn Bà”.

Thế là Mỹ và TC đã giải quyết và an bài số phận của người Ls mù lòa này rồi.

Nhưng chưa chi kết quả cuộc dàn xếp Mỹ và TC, lời hứa của TC đã vi phạm một cách trắng trợn. Công an canh gác Ô. Thành ngay tại bịnh viện. Bè bạn Ông, vợ con Ông rất lo sợ. Chỉ một ngày sau Ông muốn đi tỵ nạn chánh trị ở Mỹ. Làng dân báo, công luận của dân Trung Hoa trên web rất bất bình thái dộ và hành động của Mỹ và lo cho Ô. Thành. Chính phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Victoria Nuland hôm thứ Năm nói các giới chức Mỹ đang thảo luận các lựa chọn với ông Trần, hiện đang nằm bệnh viện tại Bắc Kinh dưới sự giám sát của Trung Quốc.

Giải pháp của Mỹ và TC để đưa Ông Thành ra khỏi Tòa Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh là giết sinh mạng chánh trị của người “luật sư chân đất”, một người mù dũng cảm, kiên trì đấu tranh chống lại chính sách một con mà hậu quả là cưỡng bức phá thai của Đảng Nhà Nước TC nữa – thành một nhà đấu tranh.

Nó hạ cấp một nhà đấu tranh danh tiếng, có uy tín thành một sinh viên vô danh mắt mù đi học luật với vợ ở một đại học nào đó của nước TQ với gần 1 tỷ 400 triệu người sống dưới chế độ CS độc tài, đảng trị, tòan diện.Nó tạo điểu kiện để TC chỉ định cư trú Ô. Thành với lới hứa cho Ô. Thành một chỗ ở “an tòan”. Cũng như Việt Cộng hứa với quân cán chính VNCH cho đi “học tập cải tạo tập trung” là để bảo vệ an tòan tránh nhân dân đòi nợ máu, mà thực tế là đi tù lao động khổ sai, biệt xứ đúng theo định nghĩa của luập hình trên thế giới.

Trớ trêu thay nhà đấu tranh nhân quyền, nhà ly khai đấu tranh cương quyết, vào tù ra khám nhiều lần cho tự do, dân chủ, nhân quyền là giá trị lịch sử mà chính Mỹ đã chủ trương kêu gọi và hứa hẹn dân tộc các nước, lại bị giết sinh mạng chánh trị bới chính những chính khách thực dụng của chánh quyền TT Obama.

Chính Ngọai Trưởng Clinton đã từng kêu gọi TC trả tự do cho Ô. Thành, bây giờ vì cuộc họp đối thọai về kinh tế và chiến lược với TC, mà chỉ vài giờ sau các nhà ngọai giao phù thủy đã buộc Ông Thành ra khỏi khuông viên tòa đại sứ, trên nguyên tắc là lãnh thổ của Mỹ mà quốc ca Mỹ gọi là trái tim của những người tự do!

Tuồng kịch chánh trị bá đạo và cực kỳ thực dụng này của chánh khách Mỹ thực hiện với những cán bộ đảng viên CS ở TQ làm trong phòng cửa đóng kín. Thật là một trò cười ra nước mắt cho những nhà đấu tranh tin vào các chính khách và nhà ngọai giao Mỹ như TT Obama, NT Clinton. Họ giải quyết số phận nhà đấu tranh Trần quang Thành cũng như dân chúng và dân tộc bị áp bức, trên đầu trên cổ người dân. Họ dọn sạch, họ tẩy trùng bầu không khí, tạo dư luận thuận lợi cho cuộc họp thường niên đối thọai về kinh tế và chiến lược giữa hai thành phần chấp chánh ở Washington và Bắc Kinh.

Nhưng không ai tin việc làm của những chánh khách thực dụng Mỹ được TC đáp ứng thuận lợi. Bản chất của TC mềm thì nắn, rắn thì buông. Sau khi Mỹ thực tế là “trao trả” Ông Thành cho chế độ, CS Bắc Kinh đã có những lời lẽ hết sức chống Mỹ như TQ rất bất mãn, Mỹ can thiệp vào nội bộ của TQ và đòi Mỹ phải xin lỗi và mở cuộc điều tra.

Có nhiều dấu chỉ cho thấy việc những chính khách và nhà ngọai giao Mỹ trong chánh quyền TT Obama vo tròn bóp méo vụ Ô. Thành rời khỏi tòa đại sứ Mỹ, ban đầu có vẻ là một thành công ngoại giao của chánh quyền Obama, Ngọai Trưởng Clinton. Nhưng không bao lâu sau đó bị phản tác dụng nặng nề. Thái dộ và hành động quá mềm yếu của họ với TC, việc thiếu trách nhiệm với lời hứa ủng hộ tự do, dân chủ, nhân quyền ấy; TT Obama có thể trả một giá rất đắc. Nó ảnh hưởng bất lợi cho việc tái tranh cử của TT Obama, vì bị coi như thất bại của TT Obama đối với TC, quá mềm yếu với TC, như nhiều lần thất bại trong việc yêu cầu TC giảm giá đồng nhân dân tệ, để hàng hóa TC tràn ngập thị trường Mỹ, làm mất công ăn việc làm của người dân Mỹ, và mang nợ TC như Chúa Chổm./.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Obama và Sarkozy

Tác giả : Vi Anh
Hai tổng thống thân tình của hai nước lớn Pháp và Mỹ ở hai bên bờ Đại Tây Dương chúc nhau thắng cử, giờ đây chỉ còn một, và một đó cũng phải tái tranh cử trong năm nay, chưa biết số phận người dân Mỹ dành cho mình ra sao. Người đi ngậm ngùi, kẻ còn ở lại một thời gian âu lo với con người mới và tình hình mới. Đó là trường hợp TT Sarkozy và TT Obama sau cuộc bầu cử tổng thống vòng hai chung quyết ở Pháp.

Thực vậy, ngày 12 tháng Tư năm 2012, Tổng Thống Sarkozy nói vơi TT Obama, «Nous allons gagner, toi et moi, M. Obama, ensemble» hay “Chúng ta sẽ thắng, anh và tôi, Ô Obama, cùng nhau”. TT Obama nói «Và thực sự tôi hòan tòan ca ngợi cuộc chiến đấu mà Anh đang điều hành”. Đây là một cuộc đàm thọai của hai tổng thống hai nước, thực hiện tại Điện Elysée và Tòa Bạch Ốc, tức hai phủ tổng thống của hai nước, hai cơ quan Hành Pháp hàng đầu của quốc gia. Theo qui tắc tổ chức chánh quyền, đó là cuộc đàm thoại chánh thức liên quan đến chuyện quốc gia đại sự, theo lẽ thông thường chỉ hai vị mà thôi, cùng lắm với một vài phụ tá chuyên môn và thông dịch viên lá quá lắm rồi. Nhưng cuộc đàm thọai này TT Sarkozy lại mời báo chí tham dự. Lời nói của TT Sarkozy, báo Figaro của Pháp lấy làm tựa của một tin quan trọng. Và thông tấn xã của Pháp đi tin và hình tòan nước Pháp và thế giới. Cách tổ chức đàm thọai trực tiếp, trực tuyến và truyền hình của hai tổng thống có mặt báo chí này cho thấy hai tổng thống tái ứng cử muốn dùng phương tiện quốc gia cho việc vận động tranh cử. Nên người ta không ngạc nhiên tại sao hai vị tổng thống lại phá lệ những trao đổi ngọai giao trực tiếp về quốc sự lại được phổ biến tổng quát như vậy.

Ngày 6 tháng 5, lúc 20 giờ 20 phút ở Pháp, TT Sarkozy thất cử, đã chính thức lên tiếng thừa nhận thất bại trước sự đắc cử tổng thống Pháp của Ô. François Hollande, của đảng Xã hội Pháp, trong vòng bầu cứ thứ hai. Kỳ bầu cứ thứ hai này cử tri Pháp đi bầu đông hơn kỳ nhứt hồi 22/04 . Kết quả bầu cử cho thấy, thái độ bất mãn của các công dân Pháp đối với các biện pháp kiệm ước, khắc khổ gắt gao mà TT Sarkozy đã cỗ võ cùng với Liên Âu.

Ngày Chủ Nhựt 6 tháng Năm bầu tổng thống Pháp dù là Chủ nhựt, nhưng chắc là một “ngày dài” của TT Obama và Tòa Bạch Ốc, cơ quan đầu não của nội các của chánh quyền của TT Obama. TT Obama và bộ tham mưu thân cận của Ông ắt lo lắng, bồn chồn chờ kết quả coi người “bạn” của TT Obama, là TT Sarkozy số mạng mà người dân Pháp dành cho Ông ra sao.

Nỗi lo bao trùm cả Phủ Tổng Thống và Đảng Dân Chủ đang cầm quyền sắp bầu cử tổng thống lại, như hồi năm 1981, TT François Mitterrand, một lãnh tụ của Đảng Xã hội Pháp như TT Hollande mới đắc cử sẽ nắm chánh quyền nước Pháp. Nhưng thời TT Mitterrand, nỗi lo đó sờm tan biến vì chánh quyền do Đảng Xã hội Pháp chấp chánh không bao lâu sau tuyên bố sẽ đứng về phía các dồng minh trong đó Mỹ là trụ cột.

Còn bây giờ mối lo của TT Obama và nội các chánh phủ của Đảng Dân Chủ rất lớn khi Ô Hollande Đảng Xã Hội Pháp thắng cử. Tuy đề cương “xã hội” của Đảng Dân Chủ ở Mỹ gần với Đảng Xã hội Pháp, TT Obama có nhiều chủ trương “xã hội” đến đổi một số chánh trị gia Cộng Hòa và dân Mỹ bảo thù xem Ông là “xã hội chủ nghĩa”, một danh từ không tốt ở Mỹ, chánh quyền Obama vẫn rất lo ngại. Lo ngại một cuộc khủng hỏang giữa Washinton và Paris, hai bờ Đại Tây Dương không gần nhau như thời Sarkozy.

Nhà bình luận Jim Hoagland của tờ báo Washington Post gối đầu giường của chính khách Mỹ viết “ở Washington, không ai biết Ô Hollande, ngay đối với những chuyên gia về Pháp”. Ứng cử viên Hollande hồi tháng ba không dành thí giờ đến thủ đô Mỹ, chỉ gởi vài đặc phái viên đến thôi. Trong khi Sarkozy trái lại coi Mỹ như một nơi ưu tiên trong chiến dịch tranh cử năm 2007.

Còn nhà chánh trị học James Poulos viết trên tạp Foreign Policy một bài với tựa đề «Après moi le déluge» hay “Sau tôi là Trận Hồng Thủy” nói về ảnh hưởng của việc mất chánh quyền của TT Sarkozy đối với Mỹ.

Bất ổn bao trùm thị trường thế giới sau các cuộc bầu cử Châu Âu, với hai cuộc bầu cử ở Hy Lạp và Pháp. Nhứt là ở Pháp, Ô Hollande lên vốn là người bất đồng ý kiến với Ô Sarkozy chủ trương kiệm ước, thắt lưng buộc bụng cùng với TT Đức, một con sư tử về hình dáng quốc gia và lịch sử Âu châu dưới cái nhìn của Pháp và đầu tàu kinh tế Âu chậu hiện tại.

Thị trường tài chính Âu, Á, Mỹ giảm mạnh. Chỉ số Nikkei của Nhật Bản giảm 2.8%, của Hongkong giảm 2.6%, New York mới mở cửa 1 euro giảm dưới 1.30 mỹ kim sau đó nhích lên một chút.

TT Obama hôm Chủ Nhật theo nghi thức đã chúc mừng ông Hollande, và không quên mời ông Ô Hollande đến thăm Tòa Bạch Ốc trước hội nghị thượng đỉnh G-8 và NATO vào cuối tháng này.

Trong thời TT Sarkozy, chánh quyền của TT Obama coi chánh quyển của TT Sarkozy là một đồng minh quí giá, Ô Sarkozy là một người bạn Mỹ thân thiết, từng đưa nước Pháp hòa nhập vào hàng ngũ lãnh đạo chỉ huy của Khối Liên Phòng Bắc Đại Tây Dương do Mỹ đóng vai trò chủ chốt và cắt đứt nước Pháp với chủ thuyết và chính sách De Gaulle. Pháp đã đóng vai trò xung kích trong cuộc hành quân ở Libya, hòan tòan khác với thái độ và hành động của Pháp đối với Mỹ trong cuộc hành quân của Mỹ chống lại Iraq.

TT Obama lo và nội các của Ông bối rối trước vấn đề không biết sự thay đổi con người tổng thống ở Pháp có thay đổi tình hình ở Pháp và Liên Âu hay không. Dù Đảng Xã Hội ở Pháp mà TT Hollande là đảng viên gần gũi với đề cương của Đảng Dân Chủ ở Mỹ, việc tiết giảm khiếm hụt ngân sách của Pháp và Liên Âu có thế tạo thành một cơn bão tài chánh. Nếu cơn bão này xảy ra ngay thời kỳ bầu cử của TT Obama là một bất lợi cho cuộc tranh cử của Ông, theo như nhận định của nhà bình luận Jim Hoagland của báo Washington Post.

Nên không lấy gì làm ngạc nhiên khi TT Obama làm một điều có tánh nghi thức chúc mừng Ô Hollande đắc cử, TT Obama long trọng mời Ô Hoalande viếng thăm nước Mỹ, và hẹn gặp nhau ở Camp David trong cuộc họp G8 theo lịch trình ấn định trước vào 19 tháng Năm, và kế đó là ở Chicago trong cuộc họp thưởng đĩnh của một số nước có góp quân ở Afghanistan và đóng góp quỹ để cứu nguy ngân sách trong cuộc khủng hỏang tài chánh vừa qua. Như đã biết trong cuộc tranh cử TT Hollande đã hứa sẽ rút quân vào cuối năm 2012, trước thời hạn TT Obama đề nghị.

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Xin nhận đây một lời “CẢM ƠN”
Việt Nhân
(HNPĐ) Cho tới bây giờ đã là 37 năm, mọi chuyện đã phơi bày không khác gì lột trần sự việc, vả thời gian dài như vậy có gì mà ẩn dấu mãi được, người dân mình thường có câu “cây kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra” là thế. Lại thêm những việc làm đúng đắn của các nước văn minh là sự thật gì cũng sẽ được bạch hóa sau 30 năm như thông lệ của Mỹ, làm cho người ta tin tưởng những gì của lịch sử phải luôn là sự thật. Vĩnh viễn không còn những cái trò huyền thoại mù mờ, mỗi khi nói chuyện sử xanh mà cứ quyện đầy khói bếp cùng mồ hóng giống như chuyện “Bác đi tìm đường kíu cuốc”, do đó chuyện trả lại công đạo là chuyện đương nhiên.

“30 tháng Tư Sàigòn thất thủ” có người nói nó đồng nghĩa với chuyện nước VNCH, mãi mãi bị chôn vùi sâu dưới ba thước đất, không ai sẽ còn nhớ cho một đất nước đã từng tồn tại 21 năm, một thể chế mà người dân miền Nam đổ bao xương máu cho sự sống còn của nó. Tháng tư đen ập đến người ta đã thấy, là ngày những trại “cải tạo”, được cộng sản mở ra khắp nơi, để giam giữ bách hại hàng bao trăm ngàn Quân nhân Cán chính VNCH. Đồng thời những gì thuộc về chế độ cũ, đều được xóa sạch do một chính sách cùng chủ trương rõ ràng của một nhà nước cộng sản rập khuôn của Nga -Tầu, càng làm chắc cho người ta nghĩ VNCH sẽ đi vào quên lãng, coi như là một thực thể chưa từng hiện hữu tại Việt Nam, còn nếu có thì đó là những lời tuyên truyền, nói là nó xấu xa tồi tệ nên đã bị đào thải, và cần phải được quên đi.

Những gì còn lại trong ký ức anh em chúng tôi, những người sống sót qua cuộc chiến, qua tù đày cộng sản, thì những năm cuối sau Hiệp Định Paris 1973, VNCH cùng QL.VNCH lâm vào tình thế vô cùng khó khăn và thiếu thốn trong chiến đấu. Nhớ đã có lúc nhiều anh em đùa nhưng ngẫm lại thật là đúng khi nói miền Nam “chiến đấu chống cộng theo kiểu con nhà nghèo”, tiết kiệm từng viên đạn từng lít xăng, nhưng chúng tôi vẫn chiến đấu trong cam go. Chúng tôi luôn biết rằng chúng tôi đang chiến đấu cho sự sống còn của chính mình, tuy chiến đấu trong đơn độc nhưng không phải vì thế mà kém phần kiên cường, mà ngược lại nó có phần dũng cảm hơn bao giờ hết, 1973, 1974, và vào những giờ phút cuối 1975.

Nhưng cũng phải thấy quân dân VNCH vô cùng thất vọng, cho cái gọi là người đồng minh Hoa Kỳ trong chuyện viện trợ từ 2,1 tỷ năm 1973, rồi 1,4 năm 1974, và cuối cùng 0,7 cho 1975, vì thực tế phải thấy rằng VNCH chỉ có thể đương đầu với cả khối CS, khi có sự hỗ trợ của Mỹ và Đồng Minh. Nhưng khi “liên minh chống cộng” này không còn thì người dân miền Nam không thể một mình chống lại quân CS Bắc Việt với sự hỗ trợ của CS Nga–Tầu - Thế rồi 17 tháng 4 khoản viện trợ khẩn cấp trị giá 722 triệu Mỹ kim mà chính phủ Gerald Ford đề nghị đã bị thượng viên Hoa Kỳ từ chối, không tiền có nghĩa là không có đạn dược nhiên liệu, đã đưa VNCH đi đến chổ không thể tạo được đủ vị thế về quân sự.

Hôm nay đài BBC loan tin, một cuốn sách mang tên “Tháng Tư Đen” của tác giả là George J.Veith đã phát hành, cái tin này đã đem đến sự bất ngờ, cả lẫn cái không ngạc nhiên cho chúng tôi. Xin được nói về sự bất ngờ trước - Cái bất ngờ là sau 37 năm vẫn có người nhớ đến QL.VNCH, những tưởng không ai còn nhớ đến đoàn quân đó, đã có một thời chiến đấu cho lý tưởng Quốc Gia, mà những người cộng sản xách mé gọi là Ngụy. Chúng tôi vô cùng bất ngờ vì trên thật tế mà nói thì QL.VNCH là một đoàn quân không còn nữa, ở đây ta có thể nói đùa là Ông Veith đã đi gom những mảnh vỡ gương xưa mà tìm bóng, vả trong chuyện này cũng không dễ dàng trong thu thập tài liệu, cho đề tài ông muốn viết - Đã 37 năm trôi qua thì còn nguồn tin nào, ngoài những tin tức không trung thực từ phía của CSBV.

Vì trong khoảng thời gian sau 1973 Hiệp Định Paris, trong thời gian đó, lực lượng chiến đấu của Mỹ đã rút, nên truyền thông báo chí nước ngoài cũng rất ít quan tâm đến Việt Nam, vì thế không dễ tìm được tài liệu để tham khảo. Và cái chúng tôi không ngờ nữa, là Ông Veith đã đưa ra được cái nhận xét thất bại trong tháng Tư năm 1975 rất chính xác – Đó là không phải do sự lúng túng của chính quyền VNCH, và càng không phải do sự yếu kém trên chiến trường của chiến sĩ QL.VNCH. Như trên ta đã biết VNCH đã lần lượt trong ba năm từ 1973-1975, bị cắt giảm viện trợ xuống dần chỉ còn 1/3 - Ông Veith nói rằng rằng nguyên nhân gốc rễ đưa đến thất bại của miền Nam Việt Nam chính từ chuyện Quốc hội Hoa Kỳ đã cắt giảm viện trợ.

Từ nguyên nhân này đã đưa đến thất lợi cho phía VNCH, sự thiếu hụt nhiên liệu máy bay và phụ tùng, không cho phép không quân chuyển vận binh sĩ, đến để giữ vững phòng tuyến biên giới phía Tây dài gần 1500 km, do đó CSBV được tự do tập trung, các cuộc tấn công với số lượng lớn, áp đảo vào các thị xã thành phố chính yếu. Sự thiếu hụt không quân cũng làm cho VNCH bị hạn chế rất nhiều, trong không tập quân CSBV ngay cả khi biết nơi chúng tập trung, bởi vậy CSBV dễ dàng điều động được một lực lượng lớn, trước khi tấn công vào các mục tiêu - Trong khi đó thì Quốc hội Hoa Kỳ lại dùng một nghị quyết đã được thông qua năm 1973 là “War Power Act” để buộc Tổng thống Gerald Ford không được ném bom miền Bắc.

Còn về cái không ngạc nhiên khi đọc bản tin về cuốn sách này, là những chuyện Ông Veith nói về cái kiên cường anh dũng của QL.VNCH, Ông Veith đã dùng tới các sử liệu từ phía Việt Nam bao gồm của cả CSBV và các cuộc phỏng vấn của ông với các tướng lĩnh VNCH trong quá trình nghiên cứu để viết sách. Theo ông QL.VNCH, bao gồm nhiều chỉ huy từng đẩy lùi cuộc tấn công của miền Bắc hồi năm 1972 và đã có những trận đánh thành công nhưng ít được biết tới trong giai đoạn 1973-1975. Một số trận đánh kiên cường của QL.VNCH được ông nhắc tới xảy ra trong tháng Ba và tháng Tư năm 1975 như các trận Mỏ Tàu, Núi Bồng và Bến Cầu, Chơn Thành vùng biên gới phía tây, cũng như trận Cần Thơ và Long An ở miền nam.

Chuyên gia tư vấn quốc phòng Mark Moyar, người cũng là tác giả cuốn “Thắng lợi Bỏ lỡ: Cuộc chiến Việt Nam, 1954-1965”, nhận xét “Tháng Tư Đen” đã xuất sắc "điền vào khoảng trống lịch sử" của giai đoạn 1973-1975 khi Hoa Kỳ đã rút quân và Cuộc chiến Việt Nam không còn là mối quan tâm hàng đầu của các phóng viên Hoa Kỳ.

Còn trong phần kết thúc bài điểm sách cuốn “Tháng Tư Đen”, chuyên gia quốc phòng Moyar nói, cuốn sách là lời nhắc nhở Hoa Kỳ về cái giá phải trả, bằng nhân mạng khi rời bỏ một đồng minh. Ông nói 100.000 lính Nam Việt Nam, những người từng sát cánh với Hoa Kỳ trong các trận đánh cuối cùng, đã bỏ mạng, bị hành quyết tức thì hay chết vì bị cộng sản hành hạ trong các trại "cải tạo" khổng lồ. Hơn nửa triệu người Nam Việt Nam cũng bỏ mạng trên biển khi bỏ trốn chế độ cộng sản - Riêng Hà Nội ước tính họ mất 6.000 bộ đội chỉ trong vài ngày cuối tháng Tư năm 1975.

Những điều thú vị thay cho lời kết - Bọn MTGPMN những ngày sau tháng tư chúng ra rả, là nhân dân miền Nam đã vùng lên làm cách mạng thành công lật đổ nhà nước VNCH, nhưng theo Ông Veith nói “việc Bắc Việt Nam giết hại những người không cầm súng ở Huế năm 1968 và dọc Quốc lộ 1 năm 1972 khiến người dân phát hoảng và họ đã tràn ra các ngả đường khi quân miền Nam rút đi”.

Và chúng ta cũng đã biết tại Mặt trận Long Khánh Xuân Lộc ngày 19/04, là thời điểm các đơn vị rút khỏi phòng tuyến Xuân Lộc, lúc 9.00 giờ đêm, các đơn vị Nhảy Dù / LĐ1ND vừa rút ra tới QL1, và một hoạt cảnh rất cảm động xảy ra, tất cả dân làng già trẻ lớn bé của các xóm Bảo Định, Bảo Tồn và Bảo Hoà đã tập trung sẵn hai bên vệ đường để theo chân lính Dù di tản.

Thú vị hơn hết - Có kẻ miêng lưỡi cộng sản, đã viết những điều không phải là sự thật, với ý đồ để hạ nhục người lính VNCH, hắn nói “kể từ Ban Mê Thuột vào trung tuần tháng 3, hàng vạn quân nhân Quân lực VNCH trên cả 4 vùng chiến thuật bỏ đơn vị, tan hàng, vất vũ khí, cởi quân phục tìm đường thoát thân cho đến sáng ngày 30-4”. Trong khi đó trong “Tháng Tư Đen”, Ông Veith đã nhắc cho người Mỹ về một mặt trận lớn của QL.VNCH vào tháng 04-1975, đó là trận chiến Xuân Lộc, ở đó một sư đoàn của quân đội VNCH đã đập tan 3 sư đoàn CSBV.

Đã 37 năm qua, một người nước ngoài đã kể lại chuyện về người lính QL.VNCH - Trên dư luận mỗ tôi thiết nghĩ, một lời nói của George J.Veith sẽ có giá trị nhiều lần hơn, lời nói về mình của người lính QL.VNCH, và dĩ nhiên giá trị bằng trăm ngàn lần lời huênh hoang dối trá của bọn cộng sản – Cuối cùng mỗ tôi xin phép được trích lại lời của Ký giả người Úc D.Warner viết về trận chiến Xuân Lộc 12 ngày đêm “Với 3 sư đoàn 6, 7 và 341, Văn Tiến Dũng tin tưởng sẽ chiếm được Xuân Lộc một cách dễ dàng - Ông ta đã lầm…Trong những ngày cuối cùng của chiến tranh VN, sư đoàn 18 BB đã chiến đấu một cách dũng cảm, không những họ đã giữ vững được trận địa mà lại còn phản công mỗi ngày”

Xin cảm ơn sự nói lên những những điều là sự thật, và xin nhận nơi đây lời cảm ơn chân thành của người lính cũ VNCH về sự chia sẻ đó.

Việt Nhân
(HNPĐ)

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Barack Obama Xuất Trận

Tác giả : Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Thứ Bẩy tuần trước người ta đã thấy Tổng Thống Mỹ Barack Obama lần đầu tiên xuất trận trước hai nơi để chính thức tuyên bố ông sẽ ra ứng cử nhiệm kỳ II. Tại Columbus,Ohio, Obama đã nhen nhóm lại sự hăng say của người dân đưa ông đến thắng cử TổngThống năm 2008. Đây là dấu hiệu đầu tiên cho thấy giai đoạn tranh cử quyết liệt của Obama nhắm vào Mitt Romney, người có nhiều phần chắc sẽ là ứng cử viên của đảng Cộng Hòa ra tranh cử Tổng Thống năm nay.

Obama tuyên bố trước một đám đông sôi nổi hoan hô ông, đầu tiên ở Richmond, Va. đông nghẹt các thính giả. Ông nói sẽ đưa ra trước cử tri một sự “lựa chọn” giữa một bên là người dân Mỹ muốn được hưởng sự công bằng và một bên là khung cảnh do Romney đưa ra gồm có một chuỗi dài nạn thất nghiệp, ngân sách thiếu hụt, kể giầu trốn thuế, nghiệp đoàn tan vỡ.

Đưa ra chứng cớ nối liền Romney với các dân biểu nghị sĩ của đảng Cộng Hòa tại Quốc hội, Obama nói người đại diện đảng Cộng Hòa ra tranh cử Tổng Thống năm nay có thể đã có một chương trình đóng triện sẵn của Đảng để thi hành nhiệm vụ Tổng Thống nếu trúng cử.

Obama lớn tiếng, nói: “Ohio ơi, điều tôi muốn nói với các bạn là tôi quyết không cho phép đối thủ của tôi có cơ may làm chuyện đó. Tiếng vỗ tay vang lên như sấm nổ, trong số cử tọa có tới 14,000 người. Ở trên đầu Obama có ngọn cờ xanh trắng với chữ “Tiến lên”. Đây là khẩu hiệu mới của Obama, để nhắc nhở cử tri bầu cho ông và đào thải ứng cử viên Romney với chính sách cũ đã thất bại đưa đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

TT Obama nói về Thống đốc Romney: “Ông ấy là một người Mỹ yêu nước, đã xây dựng được một gia đình ngoạn mục”. Romney đã từng là cựu Thống đốc tiểu bang Massachusetts, nhưng ông cũng là một tay tài phiệt, ít người có thể tiếp xúc được với ông ta.

Hai cuộc họp của TT Obama thứ Bẩy tuần trước đều đông nghẹt người đến dự và hoan hô nhiệt liệt, mặc dù ở Columbus ít người hơn, không lấp hết số ghế 18,300 ở Shottenstein. Tuy nhiên tại Columbus, còn 6 tháng nữa đến ngày bầu cử Tổng Thống, ông đã được hoan hô nhiệt liệt, khi ông nói: ”Nếu nguời dân Mỹ hỏi quý vị cuộc vận động này là chuyện gì vậy? quý vị có thể nói với họ: “Ở đây vẫn là chuyện hy vọng. Sẽ còn sự thay đổi nữa. Tôi tin ở quý vị. Và tôi yêu cầu quý vị hãy tin ở tôi”.

Cuộc tranh cử Tổng Thống năm nay sẽ còn nhiều biến chuyển trong những ngày tới. Trong khi chờ đợi, tôi muốn trở lại một màn khởi sự rất hấp dẫn, thứ Bẩy tuần trước. Đó là việc khi Obama ra quân, ông đã có một nữ tướng cầm cờ đi tiên phong. Nữ tuớng đó là ai vậy? Đó là Đệ nhất Phu nhân Michelle Obama của ông. Bà đã nói gì vậy?

Michelle Obama không nói nhiều về chính trị, nhưng bà chỉ nhấn mạnh về nếp sống gia đình, nhất là sự nuôi dạy con cái, bà thúc đẩy những đứa con bà về những tiến bộ mới nhất, các phát minh khoa học kỳ diệu ở trường, nhưng vẫn không quên bổn phận của những người con ở nhà đối với các bậc cha mẹ.

Buổi ra mắt xuất trận tranh cử của Obama thật ngoạn mục, tuy nhiên những khó khăn chờ đợi ông không phải là nhỏ. Những khó khăn đó không phải do đối thủ tranh cử của ông là Romney gây ra mà do một kẻ thù khủng khiếp nhất của Mỹ đem lại. Đó là bọn khủng bố al-Qaida đang dốc toàn lực phá hoại cuộc tranh cử Tổng Thống Mỹ vào tháng 11 năm nay.

Bọn khủng bố đã bắt giữ một chuyên gia Mỹ làm việc ở Pakistan để hành hạ, hăm dọa sẽ giết chết ông này coi như để trả thù vào đúng ngày trùm khủng bố Osama bin Laden bị Mỹ giết chết.

Tuần này có chuyện tình báo thành công quái đản của CIA. Một nhân viên tình báo của Saudi Arabia, và cũng là mật báo của CIA Mỹ, đã len lỏi trở thành quyết tử quân của bọn khủng bố al-Qaida ở Yemen. Anh này lãnh nhiệm vụ lên một phi cơ chở khách bay đi Mỹ để cho nổ làm chết tất cả. Nhưng CIA và cả tình báo Saudi Arabia đã biết, nên phi cơ thoát nạn và đồng đảng al-Qaida ở bên ngoài bị truy lùng gắt gao. Hãy chờ xem những tin kế tiếp, vì tôi nghĩ những biến chuyển bất ngờ sẽ còn nhiều.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Post Reply