Bình Luận Thời Sự
Chiến Tranh Múc Dầu...
Tác giả : Trần Khải Sẽ có chiến tranh Biển Đông? Đó là câu hỏi nhiều người nêu ra, đặc biệt là với tình hình Trung Quốc ngày càng xử ép Việt Nam và Philippines.
Thực tế là, Việt Nam đã bị xử ép từ lâu rồi, nhưng thông tin thường bị nhà nước giấu giếm... chỉ mới gần đây mới công khai một phần, nhưng chủ yếu nói về Trường Sa, vẫn còn tránh nói về Hoàng Sa.
Điểm đặc biệt giữa VN và Philippines còn vì: phần biên giới lãnh thổ phía Bắc VN là núi liền núi, sông liền sông với TQ, nên áp lực nặng hơn khi so với Philippines, nơi không có mảnh đất nào giáp giới TQ.
Nhưng dân tộc Philippines nhạy cảm hơn, vì đã quen bày tỏ cảm xúc trong chế độ dân chủ tự do, không bị nhà nước cấm cản như tại VN, nơi hành vi biểu tình chống TQ bị xem là mắc mưu “phản động” và bị xúi giục để phá vỡ tình “đoàn kết anh em xã hội chủ nghĩa Trung-Việt.”
Nhưng có thể có chiến tranh hay không, trong khi Hoàn Cầu Thời Báo từ Bắc kinh liên tục hung hăng, kêu gọi đánh một trận tiểu chiến để làm êm sóng biển Đông lâu dài, và Mỹ thì lập lại là giữ lời hứa bảo vệ Philippines?
Giả sử có chiến tranh giưữ TQ-VN, dân tộc VN sẽ thiệt thời gấp nhiều lần Philippines, vì có đường biên giới nơi đất liền sẽ có nhiều vùng nằm trong tầm đại pháo và phi cơ từ phương Bắc tới. Đồng thời, nội bộ dân tộc VN cũng rạn vỡ, vì khối người gốc Hoa tại VN sẽ có mặc cảm bị nghi ngờ trở thành gián điệp trở cờ, và các biện pháp an ninh nội bộ của VN có thể làm tan vỡ nền kinh tế VN vốn đã mong manh, khi các hoạt động kinh tế có thể bị tê liệt.
Nhưng nếu chiến tranh ở Philippines, tầm xa của TQ sẽ hạn chế thiệt hại, và cộng đồng gốc Hoa ở Philippines cũng không đông và dày đặc như ở VN.
Hậu quả, nếu có chiến tranh thời naỳ, nhiều phần có thể đoán là Trung Quốc sẽ đi cửa sau thương thuyết trong khi mặt ngoài tấn công, chủ yếu nhằm chia phần khai thác tài nguyên Biển Đông.
Thực sự, lâu dài, TQ cần có dầu khí Biển Đông... và nếu không được chia phần khai thác, tất sẽ kiếm đủ cớ gây chiến. Vấn đề là, khi TQ vào biển VN và biển Philippines múc dầu, dù là chia phần thương lượng, làm sao còn gọi được là anh em chữ vàng với nhau?
Các diễn biến đang sôi nổi thêm vào hôm Thứ Hai, với TQ ngày càng ngang ngược.
Bản tin VOA cho biết, Philippines ngày 14/5 loan báo sẽ không công nhận lệnh cấm đánh bắt cá do Trung Quốc ban hành trên Biển Đông.
Ngoại trưởng Albert del Rosario của Philippines bác bỏ chỉ thị của Bắc Kinh cấm các hoạt động đánh bắt trong 2 tháng rưỡi bắt đầu từ ngày 16/5 tới đây trên khu vực mà Manila gọi là Biển Tây Philippines.
Ông Rosario tố cáo lệnh cấm của Bắc Kinh xâm phạm đặc khu kinh tế của Philippines.
Ngược lại, Bộ Ngoại giao Philippines nói rằng Philippines cũng nên ban hành các lệnh cấm đánh bắt cá có thời hạn để bảo vệ nguồn tài nguyên biển.
Khi được hỏi về thời điểm ban hành lệnh này, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Philippines, Raul Hernandez, cho biết nước ông chưa ấn định thời gian cụ thể.
Báo chí Trung Quốc cho hay lệnh cấm thường niên của Bắc Kinh có hiệu lực từ ngày 16/5 tới 1/8 năm nay sẽ bao gồm cả khu vực bãi đá ngầm Scarborough, nơi xảy ra cuộc đối đầu giữa Manila và Bắc Kinh trong 6 tuần qua khi Trung Quốc ngăn cản không cho Philippines bắt giữ 8 tàu cá của Trung Quốc bị tố cáo xâm phạm lãnh hải Philippines.
VOA ghi thêm: “Tân Hoa xã nói lệnh cấm đánh bắt cá mùa hè được Trung Quốc đưa ra hằng năm kể từ 1999 trong các vùng biển thuộc chủ quyền của Bắc Kinh nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên cá. Theo đó, những ai vi phạm sẽ bị phạt tới 8.000 đô la và bị tịch thu tài sản và tàu bè.
Lệnh cấm này áp dụng đối với các khu vực phía Bắc Biển Đông nhưng không bao gồm hầu hết quần đảo Nam Sa rộng 820.000 cây số vuông mà Việt Nam gọi là Trường Sa.”
Thực tế, ngư dân VN mấy năm qua đã từng thê thảm vì lệnh cấm đánh bắt cá do Trung Quốc ban hành thường niên.
Trong khi đó, khối ASEAN lạnh cẳng thấy rõ. Cũng bản tin VOA cho biết, Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia Ahmad ZahidHãng thông tấn Bernama của Malaysia ngày 14/5 trích thuật phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng nước này, ông Ahmad Zahid, cho rằng không cần đến sự can thiệp quân sự trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.
Bản tin viết: “Người đứng đầu ngành quốc phòng Malaysia nói vấn đề có thể được giải quyết giữa bộ ngoại giao của các nước trong cuộc họp của các bộ trưởng quốc phòng ASEAN tại thủ đô CampuchIa vào ngày 27 tháng này.
Ông Zahid kỳ vọng Việt Nam, Brunei, Philippines, và Thái Lan sẽ cùng với nước ông đưa ra một nghị trình liên quan đến tranh chấp Biển Đông tại cuộc họp sắp tới.”
Có thực là Trung Quốc có thể nghe lờøi nói phải?
Trong khi đó, giảỉ pháp trung lập VN vừa được Giáo sư Vũ Quốc Thúc nêu lên trên đài RFI từ Paris.
Làn sóng RFI ghi lời Giao1ó sư Vũ Quốc Thúc:
“...Việc thao diễn ở Đà Nẵng với sự tham dự của ba tàu chiến của Mỹ quả thật là một dấu hiệu rất tích cực, để cho thấy nhà cầm quyền Hà Nội muốn hợp tác với Mỹ, coi Mỹ là một đồng minh trong trường hợp xảy ra xung đột giữa hải quân Việt Nam với hải quân Trung Quốc. Đây là điều tôi rất hoan nghênh. Bởi vì mình yếu, nhưng mình đâu có cô đơn. Nếu mình có đồng mình thì đây là lúc phải hợp tác chặt chẽ với đồng minh, trong khi lực lượng hải quân của mình chưa đủ sức đối phó với hải quân Trung Cộng.
Tuy đối với ta là mạnh thật đấy, nhưng hải quân Trung Quốc đối đầu với hải quân Mỹ thì không khác gì trứng chọi với đá. Vì vậy tôi tin chắc là những kẻ cầm đầu hải quân Trung Quốc chưa dám để xảy ra xung đột với một siêu cường rất mạnh về hải quân như Hoa Kỳ.
Cuộc thao diễn chung ở Đà Nẵng không chỉ chứng tỏ Hà Nội có thiện chí hợp tác với Hoa Kỳ, mà nó cũng chứng tỏ là Hoa Kỳ sẵn sàng cộng tác với Việt Nam trong trường hợp phải đối đầu với hải quân Trung Quốc. Như thế nó xác nhận sự trở lại của Mỹ ở Đông Nam Á và Biển Đông.
Nhưng cũng chính vì thế mà chúng ta cần cảnh giác, bởi vì ta không nên quên rằng, nếu ta làm Trung Quốc mất thể diện, thì họ sẽ tìm cách trả đũa. Trong lúc này, Hoa Kỳ và Trung Quốc không nước nào muốn có xung đột. Nhưng nếu có hành động gây hấn của Trung Quốc trên lục địa, thì lúc đó chỉ có một mình ta đối phó với Trung Quốc. Vẫn biết là trong trường hợp đó chúng ta chẳng sợ gì họ, nhưng cũng không quên rằng tình hình bây giờ không giống như vào năm 1979, khi chúng ta phải đối đầu với họ. Lúc đó quân đội họ chưa mạnh như bây giờ. Nhưng cũng không phải vì thế mà phải khoanh tay chấp nhận cái sự đàn áp của Trung Quốc. Nếu cần thì ta vẫn phải chống lại... ...Nước Việt Nam muốn thoát khỏi sự đô hộ gián tiếp của Trung Quốc thì phải trung lập. Trung lập là con đường đi tới độc lập. Nhưng tôi xin nhắc lại : đây là quy chế trung lập theo quốc tế công pháp. Muốn có quy chế trung lập ấy thì phải có một hội nghị quốc tế. Khi ta chấp nhận quy chế trung lập, thì chính nhà cầm quyền Việt Nam phải cam kết không để Việt Nam được dùng làm cứ điểm cho một phe nào để đánh phe kia, chẳng hạn như để Hoa Kỳ làm cứ điểm để đánh Trung Quốc, mà cũng không để cho Trung Quốc dùng Việt Nam như một tiền đồn để ngăn chận Tây Phương.
Được hưởng quy chế trung lập như thế có nghĩa là ngoại quốc phải tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của mình, không chỉ trên đất liền, mà cả trên hải phận, trên các quần đảo. Cái sự bảo đảm này coi như là phần đền bù cho việc chúng ta cam kết không đứng về phe nào....”(hết trích)
Tuy nhiên, giải pháp trung lập cũng là nan đề.
Thứ nhất, trung lập có nghĩa là xóa sổ “định hướng xã hội chủ nghĩa” và là rời bỏ tình bạn thân kiểu “Cuba thức, VN ngủ; Cuba ngủ, Cuba thức”...
Thứ nhì, thế giơi không tin vào các cam kết của chính phủ Hà Nội, một chính phủ không tôn trọng bất kỳ lời cam kết nào, kể cả các bản văn đã ký trong các công ước LHQ về nhân quyền, vân vân. Do vậy, Hà Nội nói trung lập... thế giới sẽ không tin.
Thứ ba, Bắc Kinh từng là đàn anh lớn của Hà Nội, tất nhiên cả Bắc Kinh và Hà Nội đều không tin vào cam kết nào của chính họ... Nói thì ngọt, nghe lọt tới xương, tường đi học tập 10 ngày là sẽ đi cải tạo mút chỉ. Bắc Kinh sẽ không tin gì, bất kể Hà Nội có thề non hẹn biển...
Và sau cùng, Hà Nôäi không tin lời của Giáo sư Vũ Quốc Thúc, đơn giản vì luôn luôn nhìn ra hải ngoại như là những rừng cạm bẫy... để chuyển hướng chế độ toàn trị sang dân chủ pháp trị.
Như thế, làm sao mà đoàn kết như Hội Nghị Diên Hồng được.
Tác giả : Trần Khải Sẽ có chiến tranh Biển Đông? Đó là câu hỏi nhiều người nêu ra, đặc biệt là với tình hình Trung Quốc ngày càng xử ép Việt Nam và Philippines.
Thực tế là, Việt Nam đã bị xử ép từ lâu rồi, nhưng thông tin thường bị nhà nước giấu giếm... chỉ mới gần đây mới công khai một phần, nhưng chủ yếu nói về Trường Sa, vẫn còn tránh nói về Hoàng Sa.
Điểm đặc biệt giữa VN và Philippines còn vì: phần biên giới lãnh thổ phía Bắc VN là núi liền núi, sông liền sông với TQ, nên áp lực nặng hơn khi so với Philippines, nơi không có mảnh đất nào giáp giới TQ.
Nhưng dân tộc Philippines nhạy cảm hơn, vì đã quen bày tỏ cảm xúc trong chế độ dân chủ tự do, không bị nhà nước cấm cản như tại VN, nơi hành vi biểu tình chống TQ bị xem là mắc mưu “phản động” và bị xúi giục để phá vỡ tình “đoàn kết anh em xã hội chủ nghĩa Trung-Việt.”
Nhưng có thể có chiến tranh hay không, trong khi Hoàn Cầu Thời Báo từ Bắc kinh liên tục hung hăng, kêu gọi đánh một trận tiểu chiến để làm êm sóng biển Đông lâu dài, và Mỹ thì lập lại là giữ lời hứa bảo vệ Philippines?
Giả sử có chiến tranh giưữ TQ-VN, dân tộc VN sẽ thiệt thời gấp nhiều lần Philippines, vì có đường biên giới nơi đất liền sẽ có nhiều vùng nằm trong tầm đại pháo và phi cơ từ phương Bắc tới. Đồng thời, nội bộ dân tộc VN cũng rạn vỡ, vì khối người gốc Hoa tại VN sẽ có mặc cảm bị nghi ngờ trở thành gián điệp trở cờ, và các biện pháp an ninh nội bộ của VN có thể làm tan vỡ nền kinh tế VN vốn đã mong manh, khi các hoạt động kinh tế có thể bị tê liệt.
Nhưng nếu chiến tranh ở Philippines, tầm xa của TQ sẽ hạn chế thiệt hại, và cộng đồng gốc Hoa ở Philippines cũng không đông và dày đặc như ở VN.
Hậu quả, nếu có chiến tranh thời naỳ, nhiều phần có thể đoán là Trung Quốc sẽ đi cửa sau thương thuyết trong khi mặt ngoài tấn công, chủ yếu nhằm chia phần khai thác tài nguyên Biển Đông.
Thực sự, lâu dài, TQ cần có dầu khí Biển Đông... và nếu không được chia phần khai thác, tất sẽ kiếm đủ cớ gây chiến. Vấn đề là, khi TQ vào biển VN và biển Philippines múc dầu, dù là chia phần thương lượng, làm sao còn gọi được là anh em chữ vàng với nhau?
Các diễn biến đang sôi nổi thêm vào hôm Thứ Hai, với TQ ngày càng ngang ngược.
Bản tin VOA cho biết, Philippines ngày 14/5 loan báo sẽ không công nhận lệnh cấm đánh bắt cá do Trung Quốc ban hành trên Biển Đông.
Ngoại trưởng Albert del Rosario của Philippines bác bỏ chỉ thị của Bắc Kinh cấm các hoạt động đánh bắt trong 2 tháng rưỡi bắt đầu từ ngày 16/5 tới đây trên khu vực mà Manila gọi là Biển Tây Philippines.
Ông Rosario tố cáo lệnh cấm của Bắc Kinh xâm phạm đặc khu kinh tế của Philippines.
Ngược lại, Bộ Ngoại giao Philippines nói rằng Philippines cũng nên ban hành các lệnh cấm đánh bắt cá có thời hạn để bảo vệ nguồn tài nguyên biển.
Khi được hỏi về thời điểm ban hành lệnh này, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Philippines, Raul Hernandez, cho biết nước ông chưa ấn định thời gian cụ thể.
Báo chí Trung Quốc cho hay lệnh cấm thường niên của Bắc Kinh có hiệu lực từ ngày 16/5 tới 1/8 năm nay sẽ bao gồm cả khu vực bãi đá ngầm Scarborough, nơi xảy ra cuộc đối đầu giữa Manila và Bắc Kinh trong 6 tuần qua khi Trung Quốc ngăn cản không cho Philippines bắt giữ 8 tàu cá của Trung Quốc bị tố cáo xâm phạm lãnh hải Philippines.
VOA ghi thêm: “Tân Hoa xã nói lệnh cấm đánh bắt cá mùa hè được Trung Quốc đưa ra hằng năm kể từ 1999 trong các vùng biển thuộc chủ quyền của Bắc Kinh nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên cá. Theo đó, những ai vi phạm sẽ bị phạt tới 8.000 đô la và bị tịch thu tài sản và tàu bè.
Lệnh cấm này áp dụng đối với các khu vực phía Bắc Biển Đông nhưng không bao gồm hầu hết quần đảo Nam Sa rộng 820.000 cây số vuông mà Việt Nam gọi là Trường Sa.”
Thực tế, ngư dân VN mấy năm qua đã từng thê thảm vì lệnh cấm đánh bắt cá do Trung Quốc ban hành thường niên.
Trong khi đó, khối ASEAN lạnh cẳng thấy rõ. Cũng bản tin VOA cho biết, Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia Ahmad ZahidHãng thông tấn Bernama của Malaysia ngày 14/5 trích thuật phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng nước này, ông Ahmad Zahid, cho rằng không cần đến sự can thiệp quân sự trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.
Bản tin viết: “Người đứng đầu ngành quốc phòng Malaysia nói vấn đề có thể được giải quyết giữa bộ ngoại giao của các nước trong cuộc họp của các bộ trưởng quốc phòng ASEAN tại thủ đô CampuchIa vào ngày 27 tháng này.
Ông Zahid kỳ vọng Việt Nam, Brunei, Philippines, và Thái Lan sẽ cùng với nước ông đưa ra một nghị trình liên quan đến tranh chấp Biển Đông tại cuộc họp sắp tới.”
Có thực là Trung Quốc có thể nghe lờøi nói phải?
Trong khi đó, giảỉ pháp trung lập VN vừa được Giáo sư Vũ Quốc Thúc nêu lên trên đài RFI từ Paris.
Làn sóng RFI ghi lời Giao1ó sư Vũ Quốc Thúc:
“...Việc thao diễn ở Đà Nẵng với sự tham dự của ba tàu chiến của Mỹ quả thật là một dấu hiệu rất tích cực, để cho thấy nhà cầm quyền Hà Nội muốn hợp tác với Mỹ, coi Mỹ là một đồng minh trong trường hợp xảy ra xung đột giữa hải quân Việt Nam với hải quân Trung Quốc. Đây là điều tôi rất hoan nghênh. Bởi vì mình yếu, nhưng mình đâu có cô đơn. Nếu mình có đồng mình thì đây là lúc phải hợp tác chặt chẽ với đồng minh, trong khi lực lượng hải quân của mình chưa đủ sức đối phó với hải quân Trung Cộng.
Tuy đối với ta là mạnh thật đấy, nhưng hải quân Trung Quốc đối đầu với hải quân Mỹ thì không khác gì trứng chọi với đá. Vì vậy tôi tin chắc là những kẻ cầm đầu hải quân Trung Quốc chưa dám để xảy ra xung đột với một siêu cường rất mạnh về hải quân như Hoa Kỳ.
Cuộc thao diễn chung ở Đà Nẵng không chỉ chứng tỏ Hà Nội có thiện chí hợp tác với Hoa Kỳ, mà nó cũng chứng tỏ là Hoa Kỳ sẵn sàng cộng tác với Việt Nam trong trường hợp phải đối đầu với hải quân Trung Quốc. Như thế nó xác nhận sự trở lại của Mỹ ở Đông Nam Á và Biển Đông.
Nhưng cũng chính vì thế mà chúng ta cần cảnh giác, bởi vì ta không nên quên rằng, nếu ta làm Trung Quốc mất thể diện, thì họ sẽ tìm cách trả đũa. Trong lúc này, Hoa Kỳ và Trung Quốc không nước nào muốn có xung đột. Nhưng nếu có hành động gây hấn của Trung Quốc trên lục địa, thì lúc đó chỉ có một mình ta đối phó với Trung Quốc. Vẫn biết là trong trường hợp đó chúng ta chẳng sợ gì họ, nhưng cũng không quên rằng tình hình bây giờ không giống như vào năm 1979, khi chúng ta phải đối đầu với họ. Lúc đó quân đội họ chưa mạnh như bây giờ. Nhưng cũng không phải vì thế mà phải khoanh tay chấp nhận cái sự đàn áp của Trung Quốc. Nếu cần thì ta vẫn phải chống lại... ...Nước Việt Nam muốn thoát khỏi sự đô hộ gián tiếp của Trung Quốc thì phải trung lập. Trung lập là con đường đi tới độc lập. Nhưng tôi xin nhắc lại : đây là quy chế trung lập theo quốc tế công pháp. Muốn có quy chế trung lập ấy thì phải có một hội nghị quốc tế. Khi ta chấp nhận quy chế trung lập, thì chính nhà cầm quyền Việt Nam phải cam kết không để Việt Nam được dùng làm cứ điểm cho một phe nào để đánh phe kia, chẳng hạn như để Hoa Kỳ làm cứ điểm để đánh Trung Quốc, mà cũng không để cho Trung Quốc dùng Việt Nam như một tiền đồn để ngăn chận Tây Phương.
Được hưởng quy chế trung lập như thế có nghĩa là ngoại quốc phải tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của mình, không chỉ trên đất liền, mà cả trên hải phận, trên các quần đảo. Cái sự bảo đảm này coi như là phần đền bù cho việc chúng ta cam kết không đứng về phe nào....”(hết trích)
Tuy nhiên, giải pháp trung lập cũng là nan đề.
Thứ nhất, trung lập có nghĩa là xóa sổ “định hướng xã hội chủ nghĩa” và là rời bỏ tình bạn thân kiểu “Cuba thức, VN ngủ; Cuba ngủ, Cuba thức”...
Thứ nhì, thế giơi không tin vào các cam kết của chính phủ Hà Nội, một chính phủ không tôn trọng bất kỳ lời cam kết nào, kể cả các bản văn đã ký trong các công ước LHQ về nhân quyền, vân vân. Do vậy, Hà Nội nói trung lập... thế giới sẽ không tin.
Thứ ba, Bắc Kinh từng là đàn anh lớn của Hà Nội, tất nhiên cả Bắc Kinh và Hà Nội đều không tin vào cam kết nào của chính họ... Nói thì ngọt, nghe lọt tới xương, tường đi học tập 10 ngày là sẽ đi cải tạo mút chỉ. Bắc Kinh sẽ không tin gì, bất kể Hà Nội có thề non hẹn biển...
Và sau cùng, Hà Nôäi không tin lời của Giáo sư Vũ Quốc Thúc, đơn giản vì luôn luôn nhìn ra hải ngoại như là những rừng cạm bẫy... để chuyển hướng chế độ toàn trị sang dân chủ pháp trị.
Như thế, làm sao mà đoàn kết như Hội Nghị Diên Hồng được.
Cộng Sản Hà Nội sửa đổi Hiến Pháp?
Võ Long Triều
Cộng Sản Hà Nội chủ trương sửa đổi Hiến Pháp, do đó ngày 6 tháng 8 năm 2011, Quốc Hội thành lập một ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến Pháp gồm 30 thành viên, trong đó có 8 thành viên thuộc Bộ Chính Trị. Ðó là: Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng, Thường Trực Ban Bí Thư Lê Hồng Anh, Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh, Bộ Trưởng Công An Trần Ðại Quang, Phó Chủ Tịch Quốc Hội Tồng Thị Phóng, Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng Ban Tổ Chức Tô Huy Rứa, Trưởng Ban Tuyên Giáo Ðinh Thế Huynh.
Tiếp theo, ngày 5 tháng 9 năm 2011, Viện Nghiên Cứu Lập Pháp của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội tổ chức một cuộc hội thảo tại Hà Nội để các học giả pháp lý của chế độ họp bàn việc lập hiến.
Tại sao Hà Nội cần phải sửa đổi Hiến Pháp trong thời điểm và giai đoạn nầy? Giữa lúc nông dân phẫn uất vì bị cướp đất, công nhân đình công vì lương không đủ sống, tôn giáo bị ngăn cấm, giới hạn, đàn áp, lòng dân bất mãn tột cùng. Trong khi các đảng viên tiếp tục làm giàu bất chính, tham nhũng trở thành quốc nạn, công an lộng hành đánh chết người một cách vô tội vạ!
Vì tình thế có nguy cơ trở thành bất lợi cho chế độ, nên trong kỳ hội nghị Trung Ương Ðảng lần thứ 4 khóa 11, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng khuyến cáo: “Chỉnh đốn đảng là việc mang tính sống còn đối với đảng và chế độ.” Nhưng trên thực tế cho đến ngày nay sự chỉnh đốn đó chỉ dựa vào “phê và tự phê,” một bản hát nhàm chán, thuộc lòng, không có giá trị gì đối với các quan tham đảng viên và các tổ chức phe nhóm ăn chia có hệ thống đã hình thành từ lâu trong nội bộ đảng. Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã từng tuyên bố không bài trừ được tham nhũng ông sẽ từ chức. Kết quả tham nhũng trở thành “một bầy sâu trong đảng,” dư luận trong nước còn cho rằng chính Nguyễn Tấn Dũng là con sâu đầu đàn nên mới được tiếp tục nhận thêm một nhiệm kỳ và đưa ba đứa con của ông vào guồng máy cai trị để tiếp tục vơ vét.
Bây giờ Hà Nội bày thêm việc sửa đổi Hiến Pháp chỉ là một chiêu bài nhằm xoa dịu dư luận quần chúng, một xảo thuật tuyên truyền, một cách phô trương rầm rộ để cho mọi người nuôi chút hy vọng là chế độ độc tài đảng trị sẽ thay đổi cho hợp tình, hợp lý, hợp lòng dân.
Sự thật người ta thấy gì? Hiến Pháp 1946 đã sửa đổi và tu chính năm 1992 nhưng có khi nào được áp dụng đâu? Bằng cớ các học giả Việt Nam cho là bản Hiến Pháp đầu tiên năm 1946 đã trải qua “tám lần ban hành hoặc sửa đổi, nhưng cũng không bao giờ được thực thi. Hãy nhìn lại các quyền tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền được lập hội, quyền biểu tình, bãi công, tự do tín ngưỡng, thì đủ biết Hiến Pháp của cộng sản Hà Nội chỉ là tài liệu tham khảo của một quốc gia trong đó mọi thứ quyền hành đều do Bộ Chính Trị quyết đoán và định đoạt buộc phải thi hành, bất kể Hiến Pháp hay luật lệ có quy định như thế nào!”
Trong bài diễn văn khai mạc hội nghị Trung Ương Ðảng Cộng Sản lần thứ 5 ngày 7 tháng 5, 2012, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng chỉ thị các ủy viên Trung Ương khi bàn việc sửa đổi hiến pháp phải theo một số nguyên tắc như sau:
- “Phải bám sát việc tiếp tục khẳng định bản chất của thể chế chính trị.”
- “Nhà nuớc pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.”
- “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước dưới sự lãnh đạo của đảng.”
- “Quyền lực nhà nước là thống nhất sẽ không có chuyện tam quyền phân lập.”
- “Vấn đề đất đai bàn theo hướng đảm bảo hài hòa các lợi ích của nhà nước, người dân, nhà đầu tư và giữ vững ổn định chính trị.”
Với năm điều yêu cầu của Nguyễn Phú Trọng, chúng ta có thể suy diễn một cách rõ ràng hơn: Thể chế chính trị của nhà nước là cộng sản chủ nghĩa, đảng mượn danh nhân dân cai trị một cách độc tài. Vấn đề đất đai phải bảo đảm lợi ích của nhà nước và giữ vững ổn định chính trị, vậy thì lợi ích của nhân dân đương nhiên trở thành hàng thứ yếu.
Làm sao có thể hài hòa được ba thứ lợi ích tương phản nhau: Lợi ích nhà nước có ẩn chứa tham nhũng lộng quyền, lợi ích nhà đầu tư là giành phần lợi tối đa về mình với khả năng đút lót, mua chuộc người cầm quyền, vậy thì lợi ích của người dân nghèo nàn cô thế, chỉ còn phương cách duy nhứt là chống đối đòi quyền sinh sống cho cá nhân và gia đình. Nguyễn Phú Trọng và Ðảng Cộng Sản của ông không thể giữ vững ổn định chính trị cho tới khi nào đảng công nhận quyền tư hữu đất đai, khi nào đảng viên không còn lạm quyền để cưỡng chế đất của dân mà không bồi thường xứng đáng theo luật tự nhiên, thuận mua vừa bán. Chừng đó mới có hy vọng ổn định xã hội.
Ngoài ra ông Trọng còn chỉ thị phải soạn thảo một Hiến Pháp không có tam quyền phân lập, nghĩa là chỉ có độc quyền cai trị duy nhứt của đảng. Luật Sư Trần Ðình Triển nhận xét quyền hành quá lớn như vậy sẽ dẫn đến tệ nạn quan liêu, tham nhũng, hách dịch, xa rời quần chúng. Theo ông Hiến Pháp phải quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà nước đối với nhân dân bởi vì quyền lực là của nhân dân.
Quyền lực của nhân nhân là một thứ xảo ngữ, bởi vì nếu thật sự nhân dân có quyền thì nhà nước phải cho họ có quyền tự do sử dụng lá phiếu của họ, biểu hiện quyền lực của người dân. Cái xảo thuật dối trá của cộng sản là giao hết mọi quyền lực, mọi sở hữu cho nhân dân trong khi đảng chỉ giành độc quyền quản lý thôi. Cũng như đất đai, rừng núi, sông ngòi là của nhân dân nhưng do nhà nước quản lý. Nhà nước muốn cho phép dân sử dụng bao nhiêu và bao lâu tùy quyết định của nhà nước. Không khác nào nhà của anh đang ở chính anh là sở hữu chủ, nhưng do tôi quản lý, tôi muốn đuổi anh ra khỏi nhà bất cứ lúc nào với chức năng quản lý của tôi. Tiền của anh nhưng quyền tiêu xài là của tôi. Tôi cho anh hưởng được bao nhiêu tùy quyền định đoạt của tôi. Thật là phi lý, phi nhân, phi chính trị, một sự quỷ quyệt trắng trợn chỉ cộng sản mới sáng chế ra được điều đó.
Tiến Sĩ Dương Thị Thanh Mai, viện trưởng Viện Khoa Học Pháp Lý cho biết các đại biểu tham dự hội thảo đã đặt vấn đề “phải có sự kiểm soát” các cơ quan quyền lực của nhà nước. Hiến Pháp hiện hành chỉ quy định việc tổ chức hoạt động, phân công, phối hợp mà thôi, rõ ràng là chưa đủ. Bà Mai khẳng định: “Việc kiểm soát phải được hiến định như một nguyên tắc.”
LS. Trần Ðình Triển phát biểu rằng: “Không thể để xẩy ra tình trạng một nhóm người lợi dụng độc quyền thao túng mọi thứ.”
Nhưng thử hỏi cơ quan nào có quyền kiểm soát nhà nước? Nếu không phải là tư pháp và lập pháp phân lập? Trong khi Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ thị không thể có tam quyền phân lập!
Dư luận trong nước thắc mắc từ lâu về Ðiều 4 Hiến Pháp viết rằng: Ðảng Cộng Sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội... nghĩa là độc đảng, độc quyền. Ðiều mà ông Nguyễn Minh Triết, cựu chủ tịch nước công khai tuyên bố: “Bỏ Ðiều 4 Hiến Pháp là tự sát.” Tuy nhiên ý kiến của ông Nguyễn Văn An, nguyên chủ tịch Quốc Hội là “chúng ta cần hiểu bản chất của thể chế dân chủ cộng hòa là quyền lập pháp thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước.” Ông An cũng đã từng nói 14 đảng viên trong bộ chính trị là 14 ông vua tập thể của thời phong kiến.
Về phần GS Nguyễn Minh Thuyết, cựu đại biểu Quốc Hội trả lời phỏng vấn đài BBC khi hỏi ông điều 4 phải được sửa chi tiết ra sao?
Ông trả lời: “Có thể xem Trung Ương đảng là thượng nghị viện, còn quốc hội do dân bầu ra là hạ nghị viện. Rồi qui định những việc gì chỉ cần thượng viện quyết, những việc gì chỉ cần hạ viện quyết là được.”
Riêng bộ trưởng Tư Pháp, ông Hà Hùng Cường khẳng định: “Ðã đến lúc thời điểm chín mùi phải sửa đổi hiến pháp và tư tưởng pháp quyền theo đúng nghĩa một nhà nước pháp quyền.”
Thực tế cho thấy hiện tại có rất ít đảng viên cao cấp dám nhận thức một cách khách quan là phải từ bỏ điều 4 hoặc giảm thiểu độc quyền cai trị thì đất nước mới có sự hài hòa và ổn định mong muốn. Tuy nhiên đa số đảng viên cầm đầu còn bám víu quyền lợi riêng tư, bất chấp lợi ích của nhân dân và sự phát triển đất nước. Phải chờ đến khi nào xuất hiện một công dân, một đảng viên nào sáng suốt, can đảm, đứng ra lãnh đạo nhân dân vất bỏ điều 4, thay đổi chế độ, viết lại hiến pháp thuận với lòng dân, thì mới hy vọng bảo tồn độc lập quốc gia, đem lại tự do dân chủ cho toàn dân.
Trong khi chờ đợi dân chúng cũng như Luật Sư Trần Quốc Thuận, nguyên phó chủ nhiệm Thường Trực Văn Phòng Quốc Hội dự đoán về hiệu quả của lần tu chính Hiến Pháp nầy “sẽ còn nhiều hạn chế và không đáp ứng được nhu cầu cải tổ và đổi mới theo kỳ vọng của nhân dân và nhiều tầng lớp trong xã hội.”
Sự rầm rộ cổ võ việc sửa đổi Hiến Pháp, việc tham khảo ý kiến nhân dân chỉ là một cách thay bình mới đựng rượu cũ, rồi hô hào, dối gạt dư luận rằng Ðảng Cộng Sản khoản đãi nhân dân loại rượu tối ưu, nhưng nó vẫn đắng, vẫn cay, vẫn độc hại không kém rượu ngâm trong bình từ năm 1946 và hâm lại năm 1992.
Võ Long Triều
Cộng Sản Hà Nội chủ trương sửa đổi Hiến Pháp, do đó ngày 6 tháng 8 năm 2011, Quốc Hội thành lập một ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến Pháp gồm 30 thành viên, trong đó có 8 thành viên thuộc Bộ Chính Trị. Ðó là: Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng, Thường Trực Ban Bí Thư Lê Hồng Anh, Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh, Bộ Trưởng Công An Trần Ðại Quang, Phó Chủ Tịch Quốc Hội Tồng Thị Phóng, Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng Ban Tổ Chức Tô Huy Rứa, Trưởng Ban Tuyên Giáo Ðinh Thế Huynh.
Tiếp theo, ngày 5 tháng 9 năm 2011, Viện Nghiên Cứu Lập Pháp của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội tổ chức một cuộc hội thảo tại Hà Nội để các học giả pháp lý của chế độ họp bàn việc lập hiến.
Tại sao Hà Nội cần phải sửa đổi Hiến Pháp trong thời điểm và giai đoạn nầy? Giữa lúc nông dân phẫn uất vì bị cướp đất, công nhân đình công vì lương không đủ sống, tôn giáo bị ngăn cấm, giới hạn, đàn áp, lòng dân bất mãn tột cùng. Trong khi các đảng viên tiếp tục làm giàu bất chính, tham nhũng trở thành quốc nạn, công an lộng hành đánh chết người một cách vô tội vạ!
Vì tình thế có nguy cơ trở thành bất lợi cho chế độ, nên trong kỳ hội nghị Trung Ương Ðảng lần thứ 4 khóa 11, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng khuyến cáo: “Chỉnh đốn đảng là việc mang tính sống còn đối với đảng và chế độ.” Nhưng trên thực tế cho đến ngày nay sự chỉnh đốn đó chỉ dựa vào “phê và tự phê,” một bản hát nhàm chán, thuộc lòng, không có giá trị gì đối với các quan tham đảng viên và các tổ chức phe nhóm ăn chia có hệ thống đã hình thành từ lâu trong nội bộ đảng. Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã từng tuyên bố không bài trừ được tham nhũng ông sẽ từ chức. Kết quả tham nhũng trở thành “một bầy sâu trong đảng,” dư luận trong nước còn cho rằng chính Nguyễn Tấn Dũng là con sâu đầu đàn nên mới được tiếp tục nhận thêm một nhiệm kỳ và đưa ba đứa con của ông vào guồng máy cai trị để tiếp tục vơ vét.
Bây giờ Hà Nội bày thêm việc sửa đổi Hiến Pháp chỉ là một chiêu bài nhằm xoa dịu dư luận quần chúng, một xảo thuật tuyên truyền, một cách phô trương rầm rộ để cho mọi người nuôi chút hy vọng là chế độ độc tài đảng trị sẽ thay đổi cho hợp tình, hợp lý, hợp lòng dân.
Sự thật người ta thấy gì? Hiến Pháp 1946 đã sửa đổi và tu chính năm 1992 nhưng có khi nào được áp dụng đâu? Bằng cớ các học giả Việt Nam cho là bản Hiến Pháp đầu tiên năm 1946 đã trải qua “tám lần ban hành hoặc sửa đổi, nhưng cũng không bao giờ được thực thi. Hãy nhìn lại các quyền tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền được lập hội, quyền biểu tình, bãi công, tự do tín ngưỡng, thì đủ biết Hiến Pháp của cộng sản Hà Nội chỉ là tài liệu tham khảo của một quốc gia trong đó mọi thứ quyền hành đều do Bộ Chính Trị quyết đoán và định đoạt buộc phải thi hành, bất kể Hiến Pháp hay luật lệ có quy định như thế nào!”
Trong bài diễn văn khai mạc hội nghị Trung Ương Ðảng Cộng Sản lần thứ 5 ngày 7 tháng 5, 2012, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng chỉ thị các ủy viên Trung Ương khi bàn việc sửa đổi hiến pháp phải theo một số nguyên tắc như sau:
- “Phải bám sát việc tiếp tục khẳng định bản chất của thể chế chính trị.”
- “Nhà nuớc pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.”
- “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước dưới sự lãnh đạo của đảng.”
- “Quyền lực nhà nước là thống nhất sẽ không có chuyện tam quyền phân lập.”
- “Vấn đề đất đai bàn theo hướng đảm bảo hài hòa các lợi ích của nhà nước, người dân, nhà đầu tư và giữ vững ổn định chính trị.”
Với năm điều yêu cầu của Nguyễn Phú Trọng, chúng ta có thể suy diễn một cách rõ ràng hơn: Thể chế chính trị của nhà nước là cộng sản chủ nghĩa, đảng mượn danh nhân dân cai trị một cách độc tài. Vấn đề đất đai phải bảo đảm lợi ích của nhà nước và giữ vững ổn định chính trị, vậy thì lợi ích của nhân dân đương nhiên trở thành hàng thứ yếu.
Làm sao có thể hài hòa được ba thứ lợi ích tương phản nhau: Lợi ích nhà nước có ẩn chứa tham nhũng lộng quyền, lợi ích nhà đầu tư là giành phần lợi tối đa về mình với khả năng đút lót, mua chuộc người cầm quyền, vậy thì lợi ích của người dân nghèo nàn cô thế, chỉ còn phương cách duy nhứt là chống đối đòi quyền sinh sống cho cá nhân và gia đình. Nguyễn Phú Trọng và Ðảng Cộng Sản của ông không thể giữ vững ổn định chính trị cho tới khi nào đảng công nhận quyền tư hữu đất đai, khi nào đảng viên không còn lạm quyền để cưỡng chế đất của dân mà không bồi thường xứng đáng theo luật tự nhiên, thuận mua vừa bán. Chừng đó mới có hy vọng ổn định xã hội.
Ngoài ra ông Trọng còn chỉ thị phải soạn thảo một Hiến Pháp không có tam quyền phân lập, nghĩa là chỉ có độc quyền cai trị duy nhứt của đảng. Luật Sư Trần Ðình Triển nhận xét quyền hành quá lớn như vậy sẽ dẫn đến tệ nạn quan liêu, tham nhũng, hách dịch, xa rời quần chúng. Theo ông Hiến Pháp phải quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà nước đối với nhân dân bởi vì quyền lực là của nhân dân.
Quyền lực của nhân nhân là một thứ xảo ngữ, bởi vì nếu thật sự nhân dân có quyền thì nhà nước phải cho họ có quyền tự do sử dụng lá phiếu của họ, biểu hiện quyền lực của người dân. Cái xảo thuật dối trá của cộng sản là giao hết mọi quyền lực, mọi sở hữu cho nhân dân trong khi đảng chỉ giành độc quyền quản lý thôi. Cũng như đất đai, rừng núi, sông ngòi là của nhân dân nhưng do nhà nước quản lý. Nhà nước muốn cho phép dân sử dụng bao nhiêu và bao lâu tùy quyết định của nhà nước. Không khác nào nhà của anh đang ở chính anh là sở hữu chủ, nhưng do tôi quản lý, tôi muốn đuổi anh ra khỏi nhà bất cứ lúc nào với chức năng quản lý của tôi. Tiền của anh nhưng quyền tiêu xài là của tôi. Tôi cho anh hưởng được bao nhiêu tùy quyền định đoạt của tôi. Thật là phi lý, phi nhân, phi chính trị, một sự quỷ quyệt trắng trợn chỉ cộng sản mới sáng chế ra được điều đó.
Tiến Sĩ Dương Thị Thanh Mai, viện trưởng Viện Khoa Học Pháp Lý cho biết các đại biểu tham dự hội thảo đã đặt vấn đề “phải có sự kiểm soát” các cơ quan quyền lực của nhà nước. Hiến Pháp hiện hành chỉ quy định việc tổ chức hoạt động, phân công, phối hợp mà thôi, rõ ràng là chưa đủ. Bà Mai khẳng định: “Việc kiểm soát phải được hiến định như một nguyên tắc.”
LS. Trần Ðình Triển phát biểu rằng: “Không thể để xẩy ra tình trạng một nhóm người lợi dụng độc quyền thao túng mọi thứ.”
Nhưng thử hỏi cơ quan nào có quyền kiểm soát nhà nước? Nếu không phải là tư pháp và lập pháp phân lập? Trong khi Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ thị không thể có tam quyền phân lập!
Dư luận trong nước thắc mắc từ lâu về Ðiều 4 Hiến Pháp viết rằng: Ðảng Cộng Sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội... nghĩa là độc đảng, độc quyền. Ðiều mà ông Nguyễn Minh Triết, cựu chủ tịch nước công khai tuyên bố: “Bỏ Ðiều 4 Hiến Pháp là tự sát.” Tuy nhiên ý kiến của ông Nguyễn Văn An, nguyên chủ tịch Quốc Hội là “chúng ta cần hiểu bản chất của thể chế dân chủ cộng hòa là quyền lập pháp thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước.” Ông An cũng đã từng nói 14 đảng viên trong bộ chính trị là 14 ông vua tập thể của thời phong kiến.
Về phần GS Nguyễn Minh Thuyết, cựu đại biểu Quốc Hội trả lời phỏng vấn đài BBC khi hỏi ông điều 4 phải được sửa chi tiết ra sao?
Ông trả lời: “Có thể xem Trung Ương đảng là thượng nghị viện, còn quốc hội do dân bầu ra là hạ nghị viện. Rồi qui định những việc gì chỉ cần thượng viện quyết, những việc gì chỉ cần hạ viện quyết là được.”
Riêng bộ trưởng Tư Pháp, ông Hà Hùng Cường khẳng định: “Ðã đến lúc thời điểm chín mùi phải sửa đổi hiến pháp và tư tưởng pháp quyền theo đúng nghĩa một nhà nước pháp quyền.”
Thực tế cho thấy hiện tại có rất ít đảng viên cao cấp dám nhận thức một cách khách quan là phải từ bỏ điều 4 hoặc giảm thiểu độc quyền cai trị thì đất nước mới có sự hài hòa và ổn định mong muốn. Tuy nhiên đa số đảng viên cầm đầu còn bám víu quyền lợi riêng tư, bất chấp lợi ích của nhân dân và sự phát triển đất nước. Phải chờ đến khi nào xuất hiện một công dân, một đảng viên nào sáng suốt, can đảm, đứng ra lãnh đạo nhân dân vất bỏ điều 4, thay đổi chế độ, viết lại hiến pháp thuận với lòng dân, thì mới hy vọng bảo tồn độc lập quốc gia, đem lại tự do dân chủ cho toàn dân.
Trong khi chờ đợi dân chúng cũng như Luật Sư Trần Quốc Thuận, nguyên phó chủ nhiệm Thường Trực Văn Phòng Quốc Hội dự đoán về hiệu quả của lần tu chính Hiến Pháp nầy “sẽ còn nhiều hạn chế và không đáp ứng được nhu cầu cải tổ và đổi mới theo kỳ vọng của nhân dân và nhiều tầng lớp trong xã hội.”
Sự rầm rộ cổ võ việc sửa đổi Hiến Pháp, việc tham khảo ý kiến nhân dân chỉ là một cách thay bình mới đựng rượu cũ, rồi hô hào, dối gạt dư luận rằng Ðảng Cộng Sản khoản đãi nhân dân loại rượu tối ưu, nhưng nó vẫn đắng, vẫn cay, vẫn độc hại không kém rượu ngâm trong bình từ năm 1946 và hâm lại năm 1992.
Tại sao cần học tiếng Việt?
Nguyễn Hưng Quốc
Ðể duy trì tiếng Việt ở hải ngoại, một trong những câu hỏi quan trọng nhất cần được trả lời là: Tại sao trẻ em Việt Nam cần học tiếng Việt?
Các em học tiếng Việt tại một trung tâm Việt ngữ tại Quận Cam, California, Hoa Kỳ. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt) Câu hỏi ấy không những chỉ nảy sinh ra từ các em học sinh mà còn từ chính các bậc phụ huynh, tức những người thuộc thế hệ thứ nhất, sinh ở Việt Nam và chỉ ra sống ở nước ngoài khi đã trưởng thành hẳn.
Trẻ em (ví dụ trẻ em ở Úc/Mỹ) thường lý luận: Con sinh ở Úc/Mỹ, con sẽ sống suốt đời ở Úc/Mỹ. Ngôn ngữ thứ nhất của con là tiếng Anh. Mà tiếng Anh lại là ngôn ngữ quốc tế; ở đâu cũng sử dụng được. Con đâu cần phải học thêm tiếng Việt làm gì nữa?
Cha mẹ thì lý luận: Ờ, cũng phải. Con cái bây giờ đã là người Úc/Mỹ rồi. Tiếng Anh mới quan trọng. Tiếng Việt thì biết cũng được; không biết cũng chả sao. Ngay cả khi biết tiếng Việt thì cũng chỉ để giao tiếp với người thân, chủ yếu với ông bà, thôi. Chứ làm được gì?
Những kiểu lý luận như vậy rất phổ biến.
Tuy nhiên, chúng lại sai.
Sai trên tất cả phương diện: kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và nhận thức.
Về phương diện kinh tế, đã đành tiếng Việt không được xem là một ngôn ngữ thương mại như nhiều thứ tiếng khác (chẳng hạn, tiếng Nhật hay tiếng Hoa); tuy nhiên, việc thành thạo tiếng Việt ở mức độ nào đó, chắc chắn không phải vô ích trong một xã hội đa văn hóa và đa ngôn ngữ như Úc hoặc Mỹ (hoặc bất cứ một quốc gia hiện đại nào khác). Ðối với rất nhiều nghề nghiệp, cộng đồng người Việt gồm trên 200,000 người ở Úc, và trên 1.6 triệu ở Mỹ là một thị trường to lớn. Cứ nhìn vào số phòng mạch, văn phòng luật sư hay kế toán ở các khu người Việt thì thấy ngay. Hoặc hãy vào các ngân hàng ở các khu đông người Việt mà xem: Có phải có rất nhiều nhân viên người Việt hoặc biết nói tiếng Việt? Ðể xin việc, bất cứ là việc gì, từ của chính phủ đến tư nhân, ở các khu nhiều người Việt định cư, khả năng tiếng Việt đều trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu.
Nhưng ý nghĩa kinh tế của tiếng Việt không chỉ nằm ở những công việc có liên quan trực tiếp đến người Việt như thế. Tại hầu hết các nước Tây phương, càng ngày người ta càng hiểu và đánh giá cao ý nghĩa và giá trị của các nhận thức liên văn hóa, tức khả năng cảm nhận được những khác biệt giữa các nền văn hóa và khả năng đồng cảm với suy nghĩ của những người thuộc các nền văn hóa khác. Ví dụ, trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, bất cứ một sản phẩm nào của Tây phương cũng đều được sản xuất để bán cho những người tiêu thụ thuộc nhiều quốc gia khác nhau, có khi ở tận Châu Á, Châu Âu hay Châu Phi xa xôi. Muốn bán được, người ta phải nghĩ đến chuyện đáp ứng thị hiếu của những người đó. Ai có khả năng làm được những việc như thế? Về phương diện chuyên môn, họ phải được học. Tuy nhiên, về phương diện tâm lý: những người ấy thường phải là những người song ngữ (bilingual) hoặc song văn hóa (bicultural). Nếu được đa ngữ (polyglot) hoặc đa văn hóa nữa thì càng tốt. Ý thức được điều đó, ở Tây phương, hầu hết các trường đại học đều khuyến khích sinh viên học một ngôn ngữ thứ hai hoặc nếu không, tham gia vào các chương trình trao đổi để có dịp đi nước ngoài một thời gian, ít nhất một học kỳ, để có cơ hội phát triển sự hiểu biết liên văn hóa (intercultural understanding) và kỹ năng giao tiếp liên văn hóa (intercultural communication); ở cấp tiểu học và trung học, việc dạy ngôn ngữ thường đi kèm với việc rèn luyện ý thức liên văn hóa (intercultural awareness).
Về phương diện xã hội, nhiều bậc phụ huynh cứ nghĩ miễn con cái có thể bập bẹ được chút tiếng Việt để nói chuyện trong nhà là đủ rồi. Nhưng thật ra, với việc giao tiếp trong gia đình, mức độ thông thạo một ngôn ngữ, kể cả tiếng Việt, khó xác định thế nào là đủ. Khi con cái còn nhỏ, nhu cầu còn đơn giản, việc trao đổi và chuyện trò giữa bố mẹ và con cái thường chỉ dừng lại ở những đề tài căn bản trong đời sống hàng ngày, kiểu: Con đói không? Con muốn ăn gì? Phở nhé? Hoặc: Con học bài đi; con đi ngủ đi, v.v... Khi con cái lớn lên, đặc biệt ở giữa những năm trung học, khi, về phương diện tình cảm, các em bắt đầu biết yêu, biết vấn vương trước người khác phái; và về phương diện tâm lý, có những cuộc khủng hoảng về vấn đề bản sắc và ý nghĩa của cuộc đời, đề tài các em cần tâm sự càng ngày càng phức tạp hơn. Chính những lúc ấy, việc giao tiếp giữa bố mẹ và con cái trở thành một vấn đề, hơn nữa, vấn đề lớn: nếu nói bằng tiếng Việt thì các em không đủ từ vựng để diễn tả; nếu các em nói bằng tiếng Anh thì bố mẹ thường không hiểu hết. Một lúc nào đó, các em không còn tâm sự với bố mẹ được nữa. Quan hệ giữa bố mẹ và con cái, do đó, càng ngày càng xa cách dần. Khi con cái xa cách bố mẹ như thế, chúng đối diện với rất nhiều nguy cơ, trong đó, nguy cơ quan trọng nhất là rất dễ bị bạn bè lôi kéo vào con đường xấu.
Về phương diện văn hóa, tiếng Việt - cũng như bất cứ ngôn ngữ thứ hai nào - có rất nhiều ý nghĩa. Thứ nhất, nó bảo vệ được bản sắc (identity) của các em. Với những người lớn tuổi, dù sống ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới, chúng ta vẫn biết chúng ta là người Việt. Ðó chính là căn-cước-tinh-thần của chúng ta. Trẻ em, lúc còn bé, dễ có ý nghĩ mình là một người Úc hoặc một người Mỹ. Nhưng, lớn lên, các em biết ý nghĩ đó chỉ là một ảo tưởng. Mái tóc, làn da, màu mắt và kích thước của các em luôn luôn tố giác một điều ngược lại: Các em vẫn là người Việt. Nếu biết tiếng Việt, ý thức về bản sắc sẽ dễ được củng cố. Nhưng nếu không, các em sẽ trở thành những kẻ thất cước, bơ vơ. Ðiều đó rất dễ dẫn đến những khủng hoảng về tâm lý. Thứ hai, biết tiếng Việt, trở thành người song ngữ, các em dễ trở thành bao dung hơn trước các nền văn hóa khác, do đó, dễ hội nhập vào đời sống xã hội càng ngày càng toàn cầu hóa với tốc độ cực nhanh như hiện nay. Trước mắt, sự hội nhập ấy có thể thấy ngay ở việc hội nhập vào đời sống gia đình, đại gia đình (với ông bà và bà con, họ hàng) cũng như với cộng đồng.
Về phương diện giáo dục, nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cho thấy học sinh và sinh viên biết hai thứ tiếng trở lên thường học giỏi hơn học sinh và sinh viên chỉ biết một thứ tiếng. Có lẽ điều đó tương đối dễ hiểu. Thứ nhất, học hai thứ tiếng cùng lúc (ví dụ tiếng Anh và tiếng Việt), trí nhớ của các em thường xuyên được luyện tập, do đó, các em thường cường ký hơn các trẻ em khác. Thứ hai, biết hai thứ tiếng, thường xuyên chuyển dịch và so sánh tiếng này và tiếng kia, khả năng so sánh của các em có nhiều cơ hội để phát triển. Mà so sánh lại là một khía cạnh quan trọng của lý luận: Trẻ em biết hai thứ tiếng, do đó, thường nhìn vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, do đó, tránh được bệnh phiến diện, hẹp hòi và cực đoan. Riêng với trẻ em Việt Nam, cũng như hầu hết trẻ em di dân khác, việc tiếp tục học và học giỏi tiếng mẹ đẻ, giúp các em thêm tự tin hơn trong học vấn: Ðó là môn học các em dễ đạt điểm cao, do đó, dễ chứng tỏ mình giỏi hơn hẳn người ngoại quốc.
Cuối cùng, về phương diện nhận thức, càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy việc biết hai thứ tiếng làm cho người ta thông minh hơn (being bilingual, it turns out, makes you smarter.) Trong số các công trình nghiên cứu ấy, đáng kể nhất là cuộc nghiên cứu của hai nhà tâm lý học Ellen Bialystock và Michelle Martin-Rhee vào năm 2004: Họ chia các học sinh mẫu giáo thành hai nhóm; một nhóm chỉ biết nói tiếng Anh và một nhóm nói được hai thứ tiếng, tiếng Anh và một thứ tiếng nào khác. Họ cho các em một số vật tròn màu xanh và một số vật vuông màu đỏ rồi yêu cầu các em bỏ vào hai thùng, một thùng vuông màu xanh và một thùng tròn màu đỏ. Trước hết, họ yêu cầu các em chọn theo màu: vật xanh bỏ vào thùng xanh; vật đỏ vào thùng đỏ. Tất cả các em đều làm được. Sau đó, họ yêu cầu các em sắp xếp cách khác, theo hình dạng: vật vuông bỏ vào thùng vuông và vật tròn bỏ vào thùng tròn. Ðến lúc ấy, các em chỉ biết một ngôn ngữ lúng túng hẳn vì thấy các vật cùng hình dạng thì không cùng màu sắc. Trong khi đó, với các em biết hai ngôn ngữ, công việc ấy được hoàn tất rất nhanh chóng. Người ta lý giải hiện tượng này như sau: các em biết hai thứ tiếng thường biết rõ là mình biết hai thứ tiếng. Ví dụ, đang nói chuyện với anh chị em bằng tiếng Anh; quay sang nói chuyện với bố mẹ, các em sử dụng tiếng Việt. Tất cả diễn ra một cách tự phát. Ðiều đó vô tình giúp phát triển chức năng điều hành trong bộ óc của các em. Các em phân biệt được dễ dàng những công việc hay những vấn đề có nhiều khía cạnh khác nhau. Ví dụ, trong thí nghiệm kể trên, các em song ngữ hiểu ngay là sắp xếp theo màu thì khác và theo hình dạng thì khác; còn các em chỉ biết một thứ tiếng thì khi được yêu cầu sắp các vật theo hình dạng lại cứ loay hoay về màu sắc, do đó, không dám bỏ các vật tròn màu xanh vào cái thùng tròn màu đỏ; và ngược lại: nói cách khác, nếp suy nghĩ của các em được định hình có một chiều.
Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều quốc gia khác nhau, từ Tây Ban Nha đến Ý và Mỹ, trong nhiều cuộc thí nghiệm với những người thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau, từ trẻ sơ sinh đến trẻ em bậc tiểu học, trung học, đại học và cả những người luống tuổi, đều đi đến những kết luận tương tự: khả năng song ngữ làm cho người ta suy nghĩ nhanh, chín chắn và toàn diện hơn việc chỉ biết một ngôn ngữ duy nhất.
Những lý do nêu trên đủ để chúng ta khuyến khích trẻ em học tiếng Việt chứ?
Tôi hy vọng vậy.
Nguyễn Hưng Quốc
Ðể duy trì tiếng Việt ở hải ngoại, một trong những câu hỏi quan trọng nhất cần được trả lời là: Tại sao trẻ em Việt Nam cần học tiếng Việt?
Các em học tiếng Việt tại một trung tâm Việt ngữ tại Quận Cam, California, Hoa Kỳ. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt) Câu hỏi ấy không những chỉ nảy sinh ra từ các em học sinh mà còn từ chính các bậc phụ huynh, tức những người thuộc thế hệ thứ nhất, sinh ở Việt Nam và chỉ ra sống ở nước ngoài khi đã trưởng thành hẳn.
Trẻ em (ví dụ trẻ em ở Úc/Mỹ) thường lý luận: Con sinh ở Úc/Mỹ, con sẽ sống suốt đời ở Úc/Mỹ. Ngôn ngữ thứ nhất của con là tiếng Anh. Mà tiếng Anh lại là ngôn ngữ quốc tế; ở đâu cũng sử dụng được. Con đâu cần phải học thêm tiếng Việt làm gì nữa?
Cha mẹ thì lý luận: Ờ, cũng phải. Con cái bây giờ đã là người Úc/Mỹ rồi. Tiếng Anh mới quan trọng. Tiếng Việt thì biết cũng được; không biết cũng chả sao. Ngay cả khi biết tiếng Việt thì cũng chỉ để giao tiếp với người thân, chủ yếu với ông bà, thôi. Chứ làm được gì?
Những kiểu lý luận như vậy rất phổ biến.
Tuy nhiên, chúng lại sai.
Sai trên tất cả phương diện: kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và nhận thức.
Về phương diện kinh tế, đã đành tiếng Việt không được xem là một ngôn ngữ thương mại như nhiều thứ tiếng khác (chẳng hạn, tiếng Nhật hay tiếng Hoa); tuy nhiên, việc thành thạo tiếng Việt ở mức độ nào đó, chắc chắn không phải vô ích trong một xã hội đa văn hóa và đa ngôn ngữ như Úc hoặc Mỹ (hoặc bất cứ một quốc gia hiện đại nào khác). Ðối với rất nhiều nghề nghiệp, cộng đồng người Việt gồm trên 200,000 người ở Úc, và trên 1.6 triệu ở Mỹ là một thị trường to lớn. Cứ nhìn vào số phòng mạch, văn phòng luật sư hay kế toán ở các khu người Việt thì thấy ngay. Hoặc hãy vào các ngân hàng ở các khu đông người Việt mà xem: Có phải có rất nhiều nhân viên người Việt hoặc biết nói tiếng Việt? Ðể xin việc, bất cứ là việc gì, từ của chính phủ đến tư nhân, ở các khu nhiều người Việt định cư, khả năng tiếng Việt đều trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu.
Nhưng ý nghĩa kinh tế của tiếng Việt không chỉ nằm ở những công việc có liên quan trực tiếp đến người Việt như thế. Tại hầu hết các nước Tây phương, càng ngày người ta càng hiểu và đánh giá cao ý nghĩa và giá trị của các nhận thức liên văn hóa, tức khả năng cảm nhận được những khác biệt giữa các nền văn hóa và khả năng đồng cảm với suy nghĩ của những người thuộc các nền văn hóa khác. Ví dụ, trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, bất cứ một sản phẩm nào của Tây phương cũng đều được sản xuất để bán cho những người tiêu thụ thuộc nhiều quốc gia khác nhau, có khi ở tận Châu Á, Châu Âu hay Châu Phi xa xôi. Muốn bán được, người ta phải nghĩ đến chuyện đáp ứng thị hiếu của những người đó. Ai có khả năng làm được những việc như thế? Về phương diện chuyên môn, họ phải được học. Tuy nhiên, về phương diện tâm lý: những người ấy thường phải là những người song ngữ (bilingual) hoặc song văn hóa (bicultural). Nếu được đa ngữ (polyglot) hoặc đa văn hóa nữa thì càng tốt. Ý thức được điều đó, ở Tây phương, hầu hết các trường đại học đều khuyến khích sinh viên học một ngôn ngữ thứ hai hoặc nếu không, tham gia vào các chương trình trao đổi để có dịp đi nước ngoài một thời gian, ít nhất một học kỳ, để có cơ hội phát triển sự hiểu biết liên văn hóa (intercultural understanding) và kỹ năng giao tiếp liên văn hóa (intercultural communication); ở cấp tiểu học và trung học, việc dạy ngôn ngữ thường đi kèm với việc rèn luyện ý thức liên văn hóa (intercultural awareness).
Về phương diện xã hội, nhiều bậc phụ huynh cứ nghĩ miễn con cái có thể bập bẹ được chút tiếng Việt để nói chuyện trong nhà là đủ rồi. Nhưng thật ra, với việc giao tiếp trong gia đình, mức độ thông thạo một ngôn ngữ, kể cả tiếng Việt, khó xác định thế nào là đủ. Khi con cái còn nhỏ, nhu cầu còn đơn giản, việc trao đổi và chuyện trò giữa bố mẹ và con cái thường chỉ dừng lại ở những đề tài căn bản trong đời sống hàng ngày, kiểu: Con đói không? Con muốn ăn gì? Phở nhé? Hoặc: Con học bài đi; con đi ngủ đi, v.v... Khi con cái lớn lên, đặc biệt ở giữa những năm trung học, khi, về phương diện tình cảm, các em bắt đầu biết yêu, biết vấn vương trước người khác phái; và về phương diện tâm lý, có những cuộc khủng hoảng về vấn đề bản sắc và ý nghĩa của cuộc đời, đề tài các em cần tâm sự càng ngày càng phức tạp hơn. Chính những lúc ấy, việc giao tiếp giữa bố mẹ và con cái trở thành một vấn đề, hơn nữa, vấn đề lớn: nếu nói bằng tiếng Việt thì các em không đủ từ vựng để diễn tả; nếu các em nói bằng tiếng Anh thì bố mẹ thường không hiểu hết. Một lúc nào đó, các em không còn tâm sự với bố mẹ được nữa. Quan hệ giữa bố mẹ và con cái, do đó, càng ngày càng xa cách dần. Khi con cái xa cách bố mẹ như thế, chúng đối diện với rất nhiều nguy cơ, trong đó, nguy cơ quan trọng nhất là rất dễ bị bạn bè lôi kéo vào con đường xấu.
Về phương diện văn hóa, tiếng Việt - cũng như bất cứ ngôn ngữ thứ hai nào - có rất nhiều ý nghĩa. Thứ nhất, nó bảo vệ được bản sắc (identity) của các em. Với những người lớn tuổi, dù sống ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới, chúng ta vẫn biết chúng ta là người Việt. Ðó chính là căn-cước-tinh-thần của chúng ta. Trẻ em, lúc còn bé, dễ có ý nghĩ mình là một người Úc hoặc một người Mỹ. Nhưng, lớn lên, các em biết ý nghĩ đó chỉ là một ảo tưởng. Mái tóc, làn da, màu mắt và kích thước của các em luôn luôn tố giác một điều ngược lại: Các em vẫn là người Việt. Nếu biết tiếng Việt, ý thức về bản sắc sẽ dễ được củng cố. Nhưng nếu không, các em sẽ trở thành những kẻ thất cước, bơ vơ. Ðiều đó rất dễ dẫn đến những khủng hoảng về tâm lý. Thứ hai, biết tiếng Việt, trở thành người song ngữ, các em dễ trở thành bao dung hơn trước các nền văn hóa khác, do đó, dễ hội nhập vào đời sống xã hội càng ngày càng toàn cầu hóa với tốc độ cực nhanh như hiện nay. Trước mắt, sự hội nhập ấy có thể thấy ngay ở việc hội nhập vào đời sống gia đình, đại gia đình (với ông bà và bà con, họ hàng) cũng như với cộng đồng.
Về phương diện giáo dục, nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cho thấy học sinh và sinh viên biết hai thứ tiếng trở lên thường học giỏi hơn học sinh và sinh viên chỉ biết một thứ tiếng. Có lẽ điều đó tương đối dễ hiểu. Thứ nhất, học hai thứ tiếng cùng lúc (ví dụ tiếng Anh và tiếng Việt), trí nhớ của các em thường xuyên được luyện tập, do đó, các em thường cường ký hơn các trẻ em khác. Thứ hai, biết hai thứ tiếng, thường xuyên chuyển dịch và so sánh tiếng này và tiếng kia, khả năng so sánh của các em có nhiều cơ hội để phát triển. Mà so sánh lại là một khía cạnh quan trọng của lý luận: Trẻ em biết hai thứ tiếng, do đó, thường nhìn vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, do đó, tránh được bệnh phiến diện, hẹp hòi và cực đoan. Riêng với trẻ em Việt Nam, cũng như hầu hết trẻ em di dân khác, việc tiếp tục học và học giỏi tiếng mẹ đẻ, giúp các em thêm tự tin hơn trong học vấn: Ðó là môn học các em dễ đạt điểm cao, do đó, dễ chứng tỏ mình giỏi hơn hẳn người ngoại quốc.
Cuối cùng, về phương diện nhận thức, càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy việc biết hai thứ tiếng làm cho người ta thông minh hơn (being bilingual, it turns out, makes you smarter.) Trong số các công trình nghiên cứu ấy, đáng kể nhất là cuộc nghiên cứu của hai nhà tâm lý học Ellen Bialystock và Michelle Martin-Rhee vào năm 2004: Họ chia các học sinh mẫu giáo thành hai nhóm; một nhóm chỉ biết nói tiếng Anh và một nhóm nói được hai thứ tiếng, tiếng Anh và một thứ tiếng nào khác. Họ cho các em một số vật tròn màu xanh và một số vật vuông màu đỏ rồi yêu cầu các em bỏ vào hai thùng, một thùng vuông màu xanh và một thùng tròn màu đỏ. Trước hết, họ yêu cầu các em chọn theo màu: vật xanh bỏ vào thùng xanh; vật đỏ vào thùng đỏ. Tất cả các em đều làm được. Sau đó, họ yêu cầu các em sắp xếp cách khác, theo hình dạng: vật vuông bỏ vào thùng vuông và vật tròn bỏ vào thùng tròn. Ðến lúc ấy, các em chỉ biết một ngôn ngữ lúng túng hẳn vì thấy các vật cùng hình dạng thì không cùng màu sắc. Trong khi đó, với các em biết hai ngôn ngữ, công việc ấy được hoàn tất rất nhanh chóng. Người ta lý giải hiện tượng này như sau: các em biết hai thứ tiếng thường biết rõ là mình biết hai thứ tiếng. Ví dụ, đang nói chuyện với anh chị em bằng tiếng Anh; quay sang nói chuyện với bố mẹ, các em sử dụng tiếng Việt. Tất cả diễn ra một cách tự phát. Ðiều đó vô tình giúp phát triển chức năng điều hành trong bộ óc của các em. Các em phân biệt được dễ dàng những công việc hay những vấn đề có nhiều khía cạnh khác nhau. Ví dụ, trong thí nghiệm kể trên, các em song ngữ hiểu ngay là sắp xếp theo màu thì khác và theo hình dạng thì khác; còn các em chỉ biết một thứ tiếng thì khi được yêu cầu sắp các vật theo hình dạng lại cứ loay hoay về màu sắc, do đó, không dám bỏ các vật tròn màu xanh vào cái thùng tròn màu đỏ; và ngược lại: nói cách khác, nếp suy nghĩ của các em được định hình có một chiều.
Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều quốc gia khác nhau, từ Tây Ban Nha đến Ý và Mỹ, trong nhiều cuộc thí nghiệm với những người thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau, từ trẻ sơ sinh đến trẻ em bậc tiểu học, trung học, đại học và cả những người luống tuổi, đều đi đến những kết luận tương tự: khả năng song ngữ làm cho người ta suy nghĩ nhanh, chín chắn và toàn diện hơn việc chỉ biết một ngôn ngữ duy nhất.
Những lý do nêu trên đủ để chúng ta khuyến khích trẻ em học tiếng Việt chứ?
Tôi hy vọng vậy.
Thêm áp lực trên Iran
Ngô Nhân Dụng Tuần trước, Thủ Tướng Israel Benjamin Netanyahu cải tổ nội các. Trong chính phủ mới có Tướng Shaul Mofaz, một cựu tham mưu trưởng quân đội Israel; ông là một người sinh trưởng ở Iran trước khi trở về sống tại nước tổ của người Do Thái.
Nhiều người tin rằng đây là dấu hiệu Israel chuẩn bị cho một cuộc tấn công Iran. Trước khi đi tới một hành động quyết liệt với hậu quả sẽ làm thế giới rung chuyển, ông Netanyahu muốn cả nước đồng ý với quyết định đó, cho nên ông mời phe đối lập tham gia vào chính phủ liên hiệp. Một nhân vật thân cận với ông thủ tướng nhận xét là thời điểm tấn công Iran đã tới, vì hai lý do. Thứ nhất, đánh Iran trong một năm dân Mỹ bầu tổng thống sẽ bó buộc chính phủ Mỹ phải ủng hộ Israel. Lý do thứ hai là nếu trì hoãn mấy tháng thì Iran sẽ hoàn thành trung tâm tinh luyện nguyên tử Fordo. Cơ sở này nằm sâu 90 mét dưới núi đá, chung quanh được súng phòng không bảo vệ, hiện đã có 800 máy tinh luyện uranium và đang tăng thêm 2,000 máy nữa. Khi đó, bom của Iarael sẽ không còn phá thủng hầm được nữa.
Nói về mối đe dọa của một nước Iran có bom nguyên tử, ông Benjamin Netanyahu từng tuyên bố: Thế giới đang đối diện với một hiểm họa Hitler mới! Ông nhắc tới sự kiện trước Ðại Chiến Thứ Hai, thế giới Tây Âu đã không ngăn chặn ngay Hitler khi ông ta bắt đầu tái võ trang nước Ðức. Netanyahu không muốn bị ghi trong lịch sử như là người đã nhắm mắt trước hiểm họa của một nước Iran có bom nguyên tử, mà vị tổng thống Iran từng kêu gọi phải hủy diệt nước Israel.
Trong không khí căng thẳng đó, hôm Thứ Ba, Ðại Sứ Mỹ Dan Shapiro ra trước Luật Sư Ðoàn Israel, đã nói rằng: “Biện pháp quân sự của Mỹ đã sẵn sàng!” Nếu không đạt tới thỏa hiệp trên bàn hội nghị để thuyết phục Iran chịu sự cho Liên Hiệp Quốc kiểm soát các lò nguyên tử thì Mỹ ủng hộ việc tấn công bằng vũ lực.
Về phía Iran, trưởng phái đoàn thương thuyết Saeed Jalili trước khi lên đường phó hội vẫn cương quyết tuyên bố rằng Mỹ và các nước Tây phương không thể nào dùng bàn hội nghị để đe dọa và ép buộc Iran được!
Tại sao tình hình đột nhiên trở nên nóng hổi như vậy? Liệu Israel có tấn công Iran, như họ đã từng cho máy bay sang phá các lò luyện nguyên tử của Iraq và Syria trước đây hay không?
Trước hết, những lời nói của chính phủ Israel và ông đại sứ Mỹ tại nước này không có gì mới lạ, so với chính sách mà hai nước vẫn công bố từ trước đến nay. Chính phủ Israel nhấn mạnh họ vẫn kiên nhẫn chờ đợi kết quả các cuộc thương thuyết giữa Iran và phái đoàn đại diện cho 5 nước trong Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, cộng nước Ðức (gọi là 5+1) do bà Catherine Ashton, đứng đầu về ngoại giao của Liên Hiệp Âu Châu cầm đầu. Phiên họp vào cuối Tháng Tư vừa qua tại Istanbul, thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ được hai bên mô tả là hữu ích. Những bất đồng ý kiến sẽ được thảo luận ngày 23 Tháng Năm tại Baghdad, thủ đô Iraq. Về phía chính phủ Mỹ, Tổng Thống Barack Obama cũng từng nói không khác gì ông Ðại Sứ Shapiro: Nước Mỹ luôn luôn sẵn sàng về quân sự, nếu các cuộc thương thuyết với Iran thất bại.
Các chính sách căn bản của Mỹ và Israel không thay đổi. Nhưng nhiệt độ được hâm lên nóng hơn vì cả Israel và Mỹ muốn tạo them áp lực trên chính quyền Iran; cho họ biết phải thay đổi thái độ, trước khi đến Baghdad họp trong tuần tới. Vì sự kiên nhẫn của dân Israel có giới hạn; còn phần tổng thống Mỹ thì ông không thể để mất cự ủng hộ của các cử tri Mỹ gốc Do Thái. Ứng cử viên tổng thống đảng Cộng Hòa Mitt Romney nhiệt liệt ủng Israel và chỉ trích ông Obama không lo bảo vệ Israel đầy đủ. Khi chính hai ông Obama và Netanyahu đều bị thúc đẩy đằng sau lưng họ, thì các người lãnh đạo ở Iran phải công nhận mối đe dọa Israel tấn công các lò nguyên tử của họ là một sự thật, không phải chỉ là dọa dẫm suông.
Iran có thêm những lý do khác để nhượng bộ trong cuộc đàm phán sắp diễn ra. Các biện pháp phong tỏa kinh tế của Mỹ và các nước Âu Châu có những hậu quả tai hại càng ngày càng rõ rệt. Iran là quốc gia xuất cảng dầu thô đứng hàng thứ ba trên thế giới sau Á Rập Sau đi và Nga; nền kinh tế tùy thuộc vào tiền bán dầu. Số tiền thu nhờ dầu hỏa của Iran đang bị đe dọa sẽ bị ngăn chặn bắt đầu từ Tháng Bẩy này.
Trong việc phong tỏa Iran chính phủ Mỹ sẽ trừng phạt các ngân hàng Mỹ và ngoại quốc có liên hệ với ngân hàng trung ương của Iran, có hiệu lực từ ngày 28 Tháng Sáu. Ðiều này có nghĩa là các ngân hàng quốc tế nào lo việc thanh toán trả tiền dầu cho Iran cũng sẽ bị Mỹ ghi vào sổ đen và bị cấm làm ăn ở Mỹ. Tất nhiên Iran và các khách hàng mua dầu vẫn tìm được những ngân hàng nhỏ lo việc trả tiền, nhưng việc trang trải sẽ chậm trễ và chi phí tốn kém hơn. Các khách hàng sẽ tìm cách đi mua dầu ở nơi khác nếu thấy không đắt hơn.
Các chính phủ Liên Hiệp Âu Châu đã công bố chương trình phong tỏa dầu lửa của Iran, bắt đầu từ Tháng Bẩy này. Tới lúc đó, các hãng dầu của Âu Châu sẽ ngưng mua của Iran, và các công ty bảo hiểm Âu Châu cũng ngưng không bảo hiểm cho các tầu chở dầu do Iran xuất cảng. Iran xuất cảng mỗi ngày 2.2 triệu thùng dầu mà Âu Châu mua 600 ngàn thùng, gần một phần ba. Nhưng hệ quả lớn của việc phong tỏa là vấn đề bảo hiểm.
Phần lớn các tầu chở dầu trên thế giới được các công ty Âu Châu bảo hiểm. Khi Âu Châu phong tỏa thì các bến cảng khắp thế giới có thể ngưng không chịu cho tầu chở dầu Iran cập bến nữa. Nếu xẩy ra tai nạn chảy dầu khắp bến cảng thì ai lo trả tiền tẩy uế? Các công ty bảo hiểm khác, không của Mỹ hay Âu Châu, cũng sẽ khó tiếp tục bảo hiểm cho tầu chở dầu Iran, vì tất cả các công ty bảo hiểm trên thế giới đều phải được “tái bảo hiểm” để giảm bớt rủi ro. Mà việc tái bảo hiểm từ lâu đều do các công ty Âu Châu phụ trách.
Một hậu quả là dầu do Iran bán ra ngoài sẽ gặp khó khăn, khiến các khách hàng sẽ đi tìm nguồn cung cấp mới. Hiện nay các nước mua dầu của Iran nhiều nhất là Trung Quốc, Ấn Ðộ, Nhật Bản, Hàn Quốc, mỗi nước mua từ 220 đến 550 ngàn thùng dầu của Iran mỗi ngày.
Cho nên chính phủ Iran phải nhìn thấy việc phong tỏa sẽ bắt đầu gây khó khăn cho túi tiền của chính họ, kể từ đầu Tháng Bẩy năm 2012. Các nước Tây phương có thể lợi dụng tình trạng đó ép Iran phải thỏa hiệp nhiều hơn trong phiên họp tuần tới.
Một dự thảo của Nga đề nghị những thỏa hiệp đi từng bước một, mỗi bên sẽ nhượng bộ trên từng bước để trao đổi và tạo thêm tin tưởng. Iran đang muốn Âu Châu nhượng bộ ngay bằng cách ngưng việc phong tỏa dầu lửa, nhưng điều này khó được chấp thuận vì cả guồng máy phong tỏa đang sắp sửa chạy rất khó ngừng. Chỉ khi nào Iran đồng ý để cơ quan Nguyên tử lực Liên Hiệp Quốc (IAEA) kiểm tra tất cả các lò luyện nguyên tử, bảo đảm không biến chế các uranium đã tinh luyện thành vũ khí, thì các quyết định phong tỏa của Liên Hiệp Quốc và của Âu Châu mới được nới lỏng. Khi nào IAEA xác nhận tất cả các lò luyện nguyên tử của Iran đều chỉ nhằm mục đích dân sự thì đến lượt Mỹ sẽ bãi bỏ việc phong tỏa.
Chính phủ Iran có thể nào chấp nhận các thỏa hiệp như vậy hay không?
Trong giới lãnh đạo Iran cũng có phe diều hâu và phe bồ câu. Nhiều khi họ chống nhau không phải vì lập trường khác biệt mà còn vì tranh giành quyền lực và ảnh hưởng. Trước đây, khi Tổng Thống Barack Obama đề nghị một giải pháp là đem các chất uranium đã tinh luyện của Iran ra chứa ở nước ngoài, thí dụ Thổ Nhĩ Kỳ, để biết chắc sẽ không được biến chế thành bom nguyên tử; ông Tổng Thống Iran Ahmadinejad đã tỏ ý có thể chấp nhận. Nhưng ngay sau đó lãnh tụ tôn giáo tối cao Ali Khamenei đã lên tiếng phản đối, có thể chỉ vì muốn chứng tỏ chỉ có ông ta mới là người cầm chìa khóa trong vấn đề nguyên tử.
Nhưng vào Tháng Hai vừa qua, lãnh tụ Khamenei đã tuyên bố: Việc chế tạo bom nguyên tử là một tội lỗi, trái với luật Hồi Giáo. Ông Khamenei cũng phát hành một “giáo lệnh” với ý kiến lên án việc chế tạo bom nguyên tử. Ðiều đáng chú ý là những ý kiến trên được đưa ra sau khi Tổng Thống Mỹ Obama tuyên bố ông muốn chính phủ Iran nói rõ ràng họ không có ý định chế tạo bom nguyên tử.
Người ta không thể hoàn toàn vào lời tuyên bố của ông Khamenei, vì thao luật Hồi Giáo, một tín đồ có quyền nói dối nếu cần bảo vệ niềm tin, thí dụ nếu kẻ thù đe dọa thì cứ chối mình không theo Hồi Giáo cũng được. Nhưng ý kiến của ông Khamenei có thể làm cho chính phủ và chế độ ở Iran không bị mất mặt nếu họ chấp nhận thỏa hiệp với các nước Tây phương; với các biện pháp bảo đảm họ không thể chế tạo bom nguyên tử, như Bắc Hàn đã thành công. Mặt khác, họ cũng phải thấy rằng một quốc gia có thêm bom nguyên tử như Bắc Hàn thì cũng không khá gì hơn, dân vẫn đói, mà các lãnh tụ vẫn bị cả thế giới tẩy chay không coi ra gì cả!
Cho nên người ta có thể hy vọng cuối cùng Israel sẽ không cần phải tấn công Iran.
Ngô Nhân Dụng Tuần trước, Thủ Tướng Israel Benjamin Netanyahu cải tổ nội các. Trong chính phủ mới có Tướng Shaul Mofaz, một cựu tham mưu trưởng quân đội Israel; ông là một người sinh trưởng ở Iran trước khi trở về sống tại nước tổ của người Do Thái.
Nhiều người tin rằng đây là dấu hiệu Israel chuẩn bị cho một cuộc tấn công Iran. Trước khi đi tới một hành động quyết liệt với hậu quả sẽ làm thế giới rung chuyển, ông Netanyahu muốn cả nước đồng ý với quyết định đó, cho nên ông mời phe đối lập tham gia vào chính phủ liên hiệp. Một nhân vật thân cận với ông thủ tướng nhận xét là thời điểm tấn công Iran đã tới, vì hai lý do. Thứ nhất, đánh Iran trong một năm dân Mỹ bầu tổng thống sẽ bó buộc chính phủ Mỹ phải ủng hộ Israel. Lý do thứ hai là nếu trì hoãn mấy tháng thì Iran sẽ hoàn thành trung tâm tinh luyện nguyên tử Fordo. Cơ sở này nằm sâu 90 mét dưới núi đá, chung quanh được súng phòng không bảo vệ, hiện đã có 800 máy tinh luyện uranium và đang tăng thêm 2,000 máy nữa. Khi đó, bom của Iarael sẽ không còn phá thủng hầm được nữa.
Nói về mối đe dọa của một nước Iran có bom nguyên tử, ông Benjamin Netanyahu từng tuyên bố: Thế giới đang đối diện với một hiểm họa Hitler mới! Ông nhắc tới sự kiện trước Ðại Chiến Thứ Hai, thế giới Tây Âu đã không ngăn chặn ngay Hitler khi ông ta bắt đầu tái võ trang nước Ðức. Netanyahu không muốn bị ghi trong lịch sử như là người đã nhắm mắt trước hiểm họa của một nước Iran có bom nguyên tử, mà vị tổng thống Iran từng kêu gọi phải hủy diệt nước Israel.
Trong không khí căng thẳng đó, hôm Thứ Ba, Ðại Sứ Mỹ Dan Shapiro ra trước Luật Sư Ðoàn Israel, đã nói rằng: “Biện pháp quân sự của Mỹ đã sẵn sàng!” Nếu không đạt tới thỏa hiệp trên bàn hội nghị để thuyết phục Iran chịu sự cho Liên Hiệp Quốc kiểm soát các lò nguyên tử thì Mỹ ủng hộ việc tấn công bằng vũ lực.
Về phía Iran, trưởng phái đoàn thương thuyết Saeed Jalili trước khi lên đường phó hội vẫn cương quyết tuyên bố rằng Mỹ và các nước Tây phương không thể nào dùng bàn hội nghị để đe dọa và ép buộc Iran được!
Tại sao tình hình đột nhiên trở nên nóng hổi như vậy? Liệu Israel có tấn công Iran, như họ đã từng cho máy bay sang phá các lò luyện nguyên tử của Iraq và Syria trước đây hay không?
Trước hết, những lời nói của chính phủ Israel và ông đại sứ Mỹ tại nước này không có gì mới lạ, so với chính sách mà hai nước vẫn công bố từ trước đến nay. Chính phủ Israel nhấn mạnh họ vẫn kiên nhẫn chờ đợi kết quả các cuộc thương thuyết giữa Iran và phái đoàn đại diện cho 5 nước trong Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, cộng nước Ðức (gọi là 5+1) do bà Catherine Ashton, đứng đầu về ngoại giao của Liên Hiệp Âu Châu cầm đầu. Phiên họp vào cuối Tháng Tư vừa qua tại Istanbul, thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ được hai bên mô tả là hữu ích. Những bất đồng ý kiến sẽ được thảo luận ngày 23 Tháng Năm tại Baghdad, thủ đô Iraq. Về phía chính phủ Mỹ, Tổng Thống Barack Obama cũng từng nói không khác gì ông Ðại Sứ Shapiro: Nước Mỹ luôn luôn sẵn sàng về quân sự, nếu các cuộc thương thuyết với Iran thất bại.
Các chính sách căn bản của Mỹ và Israel không thay đổi. Nhưng nhiệt độ được hâm lên nóng hơn vì cả Israel và Mỹ muốn tạo them áp lực trên chính quyền Iran; cho họ biết phải thay đổi thái độ, trước khi đến Baghdad họp trong tuần tới. Vì sự kiên nhẫn của dân Israel có giới hạn; còn phần tổng thống Mỹ thì ông không thể để mất cự ủng hộ của các cử tri Mỹ gốc Do Thái. Ứng cử viên tổng thống đảng Cộng Hòa Mitt Romney nhiệt liệt ủng Israel và chỉ trích ông Obama không lo bảo vệ Israel đầy đủ. Khi chính hai ông Obama và Netanyahu đều bị thúc đẩy đằng sau lưng họ, thì các người lãnh đạo ở Iran phải công nhận mối đe dọa Israel tấn công các lò nguyên tử của họ là một sự thật, không phải chỉ là dọa dẫm suông.
Iran có thêm những lý do khác để nhượng bộ trong cuộc đàm phán sắp diễn ra. Các biện pháp phong tỏa kinh tế của Mỹ và các nước Âu Châu có những hậu quả tai hại càng ngày càng rõ rệt. Iran là quốc gia xuất cảng dầu thô đứng hàng thứ ba trên thế giới sau Á Rập Sau đi và Nga; nền kinh tế tùy thuộc vào tiền bán dầu. Số tiền thu nhờ dầu hỏa của Iran đang bị đe dọa sẽ bị ngăn chặn bắt đầu từ Tháng Bẩy này.
Trong việc phong tỏa Iran chính phủ Mỹ sẽ trừng phạt các ngân hàng Mỹ và ngoại quốc có liên hệ với ngân hàng trung ương của Iran, có hiệu lực từ ngày 28 Tháng Sáu. Ðiều này có nghĩa là các ngân hàng quốc tế nào lo việc thanh toán trả tiền dầu cho Iran cũng sẽ bị Mỹ ghi vào sổ đen và bị cấm làm ăn ở Mỹ. Tất nhiên Iran và các khách hàng mua dầu vẫn tìm được những ngân hàng nhỏ lo việc trả tiền, nhưng việc trang trải sẽ chậm trễ và chi phí tốn kém hơn. Các khách hàng sẽ tìm cách đi mua dầu ở nơi khác nếu thấy không đắt hơn.
Các chính phủ Liên Hiệp Âu Châu đã công bố chương trình phong tỏa dầu lửa của Iran, bắt đầu từ Tháng Bẩy này. Tới lúc đó, các hãng dầu của Âu Châu sẽ ngưng mua của Iran, và các công ty bảo hiểm Âu Châu cũng ngưng không bảo hiểm cho các tầu chở dầu do Iran xuất cảng. Iran xuất cảng mỗi ngày 2.2 triệu thùng dầu mà Âu Châu mua 600 ngàn thùng, gần một phần ba. Nhưng hệ quả lớn của việc phong tỏa là vấn đề bảo hiểm.
Phần lớn các tầu chở dầu trên thế giới được các công ty Âu Châu bảo hiểm. Khi Âu Châu phong tỏa thì các bến cảng khắp thế giới có thể ngưng không chịu cho tầu chở dầu Iran cập bến nữa. Nếu xẩy ra tai nạn chảy dầu khắp bến cảng thì ai lo trả tiền tẩy uế? Các công ty bảo hiểm khác, không của Mỹ hay Âu Châu, cũng sẽ khó tiếp tục bảo hiểm cho tầu chở dầu Iran, vì tất cả các công ty bảo hiểm trên thế giới đều phải được “tái bảo hiểm” để giảm bớt rủi ro. Mà việc tái bảo hiểm từ lâu đều do các công ty Âu Châu phụ trách.
Một hậu quả là dầu do Iran bán ra ngoài sẽ gặp khó khăn, khiến các khách hàng sẽ đi tìm nguồn cung cấp mới. Hiện nay các nước mua dầu của Iran nhiều nhất là Trung Quốc, Ấn Ðộ, Nhật Bản, Hàn Quốc, mỗi nước mua từ 220 đến 550 ngàn thùng dầu của Iran mỗi ngày.
Cho nên chính phủ Iran phải nhìn thấy việc phong tỏa sẽ bắt đầu gây khó khăn cho túi tiền của chính họ, kể từ đầu Tháng Bẩy năm 2012. Các nước Tây phương có thể lợi dụng tình trạng đó ép Iran phải thỏa hiệp nhiều hơn trong phiên họp tuần tới.
Một dự thảo của Nga đề nghị những thỏa hiệp đi từng bước một, mỗi bên sẽ nhượng bộ trên từng bước để trao đổi và tạo thêm tin tưởng. Iran đang muốn Âu Châu nhượng bộ ngay bằng cách ngưng việc phong tỏa dầu lửa, nhưng điều này khó được chấp thuận vì cả guồng máy phong tỏa đang sắp sửa chạy rất khó ngừng. Chỉ khi nào Iran đồng ý để cơ quan Nguyên tử lực Liên Hiệp Quốc (IAEA) kiểm tra tất cả các lò luyện nguyên tử, bảo đảm không biến chế các uranium đã tinh luyện thành vũ khí, thì các quyết định phong tỏa của Liên Hiệp Quốc và của Âu Châu mới được nới lỏng. Khi nào IAEA xác nhận tất cả các lò luyện nguyên tử của Iran đều chỉ nhằm mục đích dân sự thì đến lượt Mỹ sẽ bãi bỏ việc phong tỏa.
Chính phủ Iran có thể nào chấp nhận các thỏa hiệp như vậy hay không?
Trong giới lãnh đạo Iran cũng có phe diều hâu và phe bồ câu. Nhiều khi họ chống nhau không phải vì lập trường khác biệt mà còn vì tranh giành quyền lực và ảnh hưởng. Trước đây, khi Tổng Thống Barack Obama đề nghị một giải pháp là đem các chất uranium đã tinh luyện của Iran ra chứa ở nước ngoài, thí dụ Thổ Nhĩ Kỳ, để biết chắc sẽ không được biến chế thành bom nguyên tử; ông Tổng Thống Iran Ahmadinejad đã tỏ ý có thể chấp nhận. Nhưng ngay sau đó lãnh tụ tôn giáo tối cao Ali Khamenei đã lên tiếng phản đối, có thể chỉ vì muốn chứng tỏ chỉ có ông ta mới là người cầm chìa khóa trong vấn đề nguyên tử.
Nhưng vào Tháng Hai vừa qua, lãnh tụ Khamenei đã tuyên bố: Việc chế tạo bom nguyên tử là một tội lỗi, trái với luật Hồi Giáo. Ông Khamenei cũng phát hành một “giáo lệnh” với ý kiến lên án việc chế tạo bom nguyên tử. Ðiều đáng chú ý là những ý kiến trên được đưa ra sau khi Tổng Thống Mỹ Obama tuyên bố ông muốn chính phủ Iran nói rõ ràng họ không có ý định chế tạo bom nguyên tử.
Người ta không thể hoàn toàn vào lời tuyên bố của ông Khamenei, vì thao luật Hồi Giáo, một tín đồ có quyền nói dối nếu cần bảo vệ niềm tin, thí dụ nếu kẻ thù đe dọa thì cứ chối mình không theo Hồi Giáo cũng được. Nhưng ý kiến của ông Khamenei có thể làm cho chính phủ và chế độ ở Iran không bị mất mặt nếu họ chấp nhận thỏa hiệp với các nước Tây phương; với các biện pháp bảo đảm họ không thể chế tạo bom nguyên tử, như Bắc Hàn đã thành công. Mặt khác, họ cũng phải thấy rằng một quốc gia có thêm bom nguyên tử như Bắc Hàn thì cũng không khá gì hơn, dân vẫn đói, mà các lãnh tụ vẫn bị cả thế giới tẩy chay không coi ra gì cả!
Cho nên người ta có thể hy vọng cuối cùng Israel sẽ không cần phải tấn công Iran.
TONY BLAIR CẢNH BÁO NHÂN LOẠI
LUÂN ĐÔN – Nguyên Thủ tướng Anh Tony Blair đã đưa ra một bảo vệ sôi nổi về tôn giáo, ông nói thế giới sẽ đi đến thảm kịch, tai họa nếu không có đức tin.
Trong một cuộc phỏng vấn ngày 24 tháng Năm, 2012 trước hơn 4,300 người tại một cuộc họp tham khảo thuộc giáo phái Anh ở Sảnh đường Royal Albert, Luân Đôn, ông Blair cũng tiết lộ rằng ông đã một lần bị khiển trách bởi một viên chức vì đã đề nghị kết thúc một bài diễn văn với câu: “God bless Britain.”
Ông Blair nguyên là một tín đồ Anh giáo và đã trở thành tín hữu Công Giáo năm 2007 – ngót một năm sau khi ông bước khỏi vai trò lãnh đạo đất nước của ông một thập kỷ - nói rằng đức tin cần cho sự sống vì nó khai tâm đước tính của con người trong lối sống xã hội.
“Yếu tính đức tin của chúng ta bên cạnh những điều chúng ta tin, chắc chắn là những Ki-tô hữu, về Chúa Giê-su Ki-tô và nơi Người trong đời sống của chúng ta là gì?” Ông hỏi.
“Cơ sở đó cũng là một niềm tin mà có một cái gì đó to lớn hơn và quan trong hơn ta, rằng ta không phải là thứ duy nhất mà là những vấn đề, rằng có điều gì đó cao trọng hơn và vượt trội,” ông nói trong cuộc họp tham khảo giới chức lãnh đạo được tổ chức bởi Holy Trinity Brompton, một giáo xứ Anh giáo có ảnh hưởng lớn ở Luân Đôn.
“tôi nghĩ rằng nghĩa vụ thiết yếu của con người dành cho con người vô cùng quan trọng,” ông nói. “Đó là những gì cho phép chúng ta tạo sự tiến bộ, đó là những gì ngăn cản chúng ta hệ tư tưởng giai cấp hoặc những tiến trình tư tưởng để rồi đối xử với con người như thể họ là thứ cấp đối với mục đích chính trị nào đó.”
Ông nói: “Mất một thời gian dài, những gì người ta nghĩ đó là khi xã hội trở nên phát triển hơn và khi chúng ta trở nên thịnh vượng hơn, rằng đức tin bị sa sút, rằng nó sẽ trở nên một thứ di sản của quá khứ - điều mà người ngu dốt thực hiện, trái lại người được khai tâm, được giáo dục không thực hiện.”
“Tôi thiết nghĩ một thế giới không đức tin sẽ là một thế giới trên con đường thảm họa, tai ương, tôi thực sư tin như vậy,” ông nói thêm.
Nhà cựu lãnh đạo Đảng Lao động nhận thức rằng “Thiên Chúa và tôn giáo cũng có thể bị các nhà lãnh đạo lạm dụng” và nói điều đó rất quan trọng để cảnh báo nhũng ai có thể dùng tôn giáo vào mục đích chính trị của họ.
Nhưng ông cho biết khi ông đề nghị để kết thúc một bài diễn văn đơn giản với tư cách là thủ tướng và câu nói “Xin Thiên Chúa ban phúc lành cho nhân dân Anh,” một phụ tá đã nói với ông tỏ vẻ không đồng ý: “Tôi chỉ nhắc nhở Ngài Thủ tướng một điều: “Đây không phãi là nước Mỹ.”
Ông nói rồi sau đó ông bỏ ý tưởng này.
Trong một cuộc phỏng vấn ngày 24 tháng Năm, 2012 trước hơn 4,300 người tại một cuộc họp tham khảo thuộc giáo phái Anh ở Sảnh đường Royal Albert, Luân Đôn, ông Blair cũng tiết lộ rằng ông đã một lần bị khiển trách bởi một viên chức vì đã đề nghị kết thúc một bài diễn văn với câu: “God bless Britain.”
Ông Blair nguyên là một tín đồ Anh giáo và đã trở thành tín hữu Công Giáo năm 2007 – ngót một năm sau khi ông bước khỏi vai trò lãnh đạo đất nước của ông một thập kỷ - nói rằng đức tin cần cho sự sống vì nó khai tâm đước tính của con người trong lối sống xã hội.
“Yếu tính đức tin của chúng ta bên cạnh những điều chúng ta tin, chắc chắn là những Ki-tô hữu, về Chúa Giê-su Ki-tô và nơi Người trong đời sống của chúng ta là gì?” Ông hỏi.
“Cơ sở đó cũng là một niềm tin mà có một cái gì đó to lớn hơn và quan trong hơn ta, rằng ta không phải là thứ duy nhất mà là những vấn đề, rằng có điều gì đó cao trọng hơn và vượt trội,” ông nói trong cuộc họp tham khảo giới chức lãnh đạo được tổ chức bởi Holy Trinity Brompton, một giáo xứ Anh giáo có ảnh hưởng lớn ở Luân Đôn.
“tôi nghĩ rằng nghĩa vụ thiết yếu của con người dành cho con người vô cùng quan trọng,” ông nói. “Đó là những gì cho phép chúng ta tạo sự tiến bộ, đó là những gì ngăn cản chúng ta hệ tư tưởng giai cấp hoặc những tiến trình tư tưởng để rồi đối xử với con người như thể họ là thứ cấp đối với mục đích chính trị nào đó.”
Ông nói: “Mất một thời gian dài, những gì người ta nghĩ đó là khi xã hội trở nên phát triển hơn và khi chúng ta trở nên thịnh vượng hơn, rằng đức tin bị sa sút, rằng nó sẽ trở nên một thứ di sản của quá khứ - điều mà người ngu dốt thực hiện, trái lại người được khai tâm, được giáo dục không thực hiện.”
“Tôi thiết nghĩ một thế giới không đức tin sẽ là một thế giới trên con đường thảm họa, tai ương, tôi thực sư tin như vậy,” ông nói thêm.
Nhà cựu lãnh đạo Đảng Lao động nhận thức rằng “Thiên Chúa và tôn giáo cũng có thể bị các nhà lãnh đạo lạm dụng” và nói điều đó rất quan trọng để cảnh báo nhũng ai có thể dùng tôn giáo vào mục đích chính trị của họ.
Nhưng ông cho biết khi ông đề nghị để kết thúc một bài diễn văn đơn giản với tư cách là thủ tướng và câu nói “Xin Thiên Chúa ban phúc lành cho nhân dân Anh,” một phụ tá đã nói với ông tỏ vẻ không đồng ý: “Tôi chỉ nhắc nhở Ngài Thủ tướng một điều: “Đây không phãi là nước Mỹ.”
Ông nói rồi sau đó ông bỏ ý tưởng này.
Làm sao gây tinh thần trách nhiệm
Ngô Nhân Dụng Tại thành phố Vũ Hán, trên đường Phiên Dương có ngôi nhà sáu tầng, được cất lên vào đầu thế kỷ 20, đặt tên là Cảnh Minh Ðại Lâu.
Sau năm 1997, những người quản lý ngôi nhà nhận được một bức thư gửi từ Anh quốc gửi sang. Trong lá thư viết rằng: “Công ty chúng tôi phụ trách xây dựng Cảnh Minh Ðại Lâu vào năm 1917. Theo bản thiết kế thì thời hạn sử dụng ngôi nhà này chỉ được 80 năm. Nay đã đến thời hạn đó cho nên chúng tôi gửi thư này nhắc quý vị chú ý, và có những hành động cần thiết.”
Bức thư này chắc chắn làm những người đang sống tại Cảnh Minh Ðại Lâu phải ngạc nhiên, họ không biết phải làm gì! Một tác gia người Trung Quốc kể lại câu chuyện trên, nêu cao tinh thần trách nhiệm của người ngoại quốc để làm gương cho dân nước ông. Ông Hà Tông Tư, trong cuốn “Người Trung Quốc và những căn bệnh trong nhân cách” đã tự hỏi, “không biết cái gì khiến cho một nhóm người trong công ty trên vẫn lo làm tròn trách nhiệm của họ,” về một công trình xây cất ở một nước xa xôi, từ 80 năm trước, trong khi các chủ nhân cũ của ngôi nhà cho tới những người ký hợp đồng, những người vẽ đồ án, những người làm công việc xây dựng đã chết hết cả rồi!
Vậy yếu tố nào đã tạo nên những con người có tinh thần trách nhiệm cao như ở công ty Anh quốc này? Người ta có thể giải thích là người Anh vốn có tinh thần trọng danh dự và trách nhiệm cao (hơn người Trung Hoa). Nhưng chúng ta không thể dễ dàng tin rằng một dân tộc nào lại tốt hơn dân tộc khác. Loài người sinh ra đều như nhau, dân tộc nào cũng có người tốt hay người xấu. Chỉ có cuộc sống trong xã hội đã tạo ra những thói sống khác nhau. Các thói quen được lập lại mãi, lâu ngày sẽ tạo thành tập quán, muốn bỏ cũng không được. Tập quán được phổ biến cho một số đông người, ai cũng thấy nên theo, sẽ trở thành một đặc tính của dân tộc. Khi chúng ta nói người Ðức, người Nhật tôn trọng lợi ích chung; người Việt Nam hiếu khách; hay người Canada giữ nhà cửa sạch sẽ; thì đó là vì họ đã được tập huấn các thói quen này từ lâu, nhiều đời lâu hơn các dân tộc khác.
Người Anh quốc có thói quen tôn trọng luật pháp. Khi tôn trọng luật lệ thì người ta tự nhiên làm đúng các hợp đồng mình đã ký kết; vì các hợp đồng đều dựa trên pháp luật. Bản Ðại Hiến Chương (Magna Carta) là một bản hợp đồng giữa vua Anh và các nhà quý tộc được ký kết vào thế kỷ 13 để giới hạn quyền hành của ông vua. Nó trở thành nền tảng bản Hiến Pháp bất thành văn và các luật lệ của dân tộc này. Cứ như thế, họ có hơn 700 năm tập thói quen sống theo luật lệ. Vào năm 1917, luật lệ về xây cất ở nước Anh có thể đã quy định bổn phận một người, hay một công ty xây cất là phải thông báo đầy đủ các điều kiện của ngôi nhà mình xây lên, tránh cho người cư ngụ trong ngôi nhà khỏi bị tai nạn vì không biết các nhược điểm trong cơ cấu. Cho nên, 80 năm sau, một công ty xây cất bên Anh đã làm bổn phận báo cho những người cư ngụ trong ngôi nhà mình xây, cho họ biết là ngôi nhà có thể bị hư vì đã qua thời hạn hữu dụng. Không cần ai giảng đạo lý làm người cho các vị giám đốc công ty trên. Chỉ cần một người thư ký trong công ty xây dựng giữ đầy đủ sổ sách, là có thể thấy ngay phải gửi lá thư đó, đúng ngày, đúng tháng.
Sau khi kể mấy câu chuyện như trên, ông Hà Tông Tư cũng nhận xét rằng người Trung Hoa xưa nay thiếu tinh thần trách nhiệm. Và ông cũng tìm ra nguyên do là vì chế độ chuyên chế ở nước Tàu, suốt mấy ngàn năm lịch sử: “Trốn trách nhiệm, tìm kẻ chịu tội thay cho mình, là truyền thống lâu đời ở Trung Quốc... nếu ông vua mà sai lầm thì đó là vì bọn gian thần hay yêu nữ xúi bẩy... người ta trút bỏ tội lỗi lên đầu kẻ khác. Thượng bất chính hạ tắc loạn. Cái tật trốn trách nhiệm đó được truyền xuống cho toàn dân Trung Quốc!” Tất nhiên, người Việt Nam cũng bị nhiễm những thói quen vô trách nhiệm do chế độ chuyên chế gây nên, không khác gì người Trung Quốc!
Hà Tông Tư phân tích thấy trong mỗi người Trung Hoa có hai nhân vật, một ông chủ và một người nô lệ. Tiêu biểu là nhân vật A Q. của Lỗ Tấn. Khi đóng vai ông chủ thì xưng hùng xưng bá, ngang ngược tàn bạo, tự coi mình như thần thánh, nịnh trên đạp dưới, ngoan cố không chịu thay đổi. Nhưng lúc đóng vai anh nô lệ thì tự khinh rẻ mình, nhẫn nhịn phục tùng, gian xảo dối trá, lười biếng vô lại, nhẹ dạ tin mê, khép kín bảo thủ.
Cả ông chủ lẫn thằng nô lệ không ai cần đến tinh thần trách nhiệm cả. Nó thành một tập quán ăn sâu vào cả xã hội. Nhà nước càng chuyên chế thì những thói quen vô trách nhiệm càng nhập vào sâu thêm. Những thói xấu truyền thống của người Trung Hoa không cần phải đem các vụ làm trứng vịt giả, hay làm đĩa nhạc lậu ra để chứng minh. Nó đã thể hiện rõ ràng trong vụ Luật Sư Trần Quang Thành, người mới được đưa gia đình sang tị nạn ở Mỹ với danh nghĩa đi học luật!
Ông Trần Quang Thành đã từng được chính quyền xã, tỉnh tuyên dương như một anh hùng khi ông tranh đấu cho quyền bình đẳng của những người bị khuyết tật, như chính ông mắt đã bị mù từ thủa nhỏ. Nhưng khi ông bắt đầu bênh vực các phụ nữ bị cưỡng bách phá thai, thì chính quyền phản ứng ngay bằng cách đe dọa, đánh đập, bỏ tù ông. Cũng như nhiều người Trung Hoa khác, ông Trần Quang Thành cứ nghĩ rằng nếu mình khiếu kiện lên cấp cao hơn, thì chắc các khó khăn sẽ được “ở trên” giải quyết. Ngay sau khi trốn từ Sơn Ðông lên Bắc Kinh ông còn thu một băng video gửi cho Thủ Tướng Ôn Gia Bảo để trần tình xin “đèn trời soi xét” điều tra những việc lạm quyền ức hiếp do chính quyền huyện Lâm Nghi (Linyi) bắt gia đình ông phải chịu.
Nhưng tất cả đều vô vọng. Bởi vì một chế độ chuyên chế không thể nào “tự chặt chân chặt tay” của họ được. Bằng cớ là Lý Quần (Li Qun), bí thư huyện Lâm Nghi không những hoàn toàn được cấp trên bảo vệ mà còn được thăng thưởng! Lý Quần cai quản xã này từ năm 2002; đến năm 2004 đã ra lệnh thi hành chương trình kiểm soát sinh sản triệt để hơn, bắt các bà phải phá thai và triệt sản sau khi đã sinh số con theo nhà nước quy định. Trần Quang Thành bênh vực các phụ nữ nạn nhân này, khiếu nại lên quận, lên tỉnh không được, năm 2005 đã lên tận Bắc Kinh. Thử tưởng tượng một người khiếm thị đi đường xa 650 cây số như vậy, phải hy sinh chịu cực khổ như thế nào. Tại Bắc Kinh, Trần Quang Thành đã bị một bọn “khuyển ưng, khuyển phệ” bắt cóc, trói bỏ vào xe, chở thẳng về và tống giam. Một năm sau mới chính thức bị truy tố về một tội danh bịa đặt, dựng đứng. Luật sư đến thăm để làm hồ sơ bào chữa cho ông cũng bị đánh trong lúc bị tra hỏi. Năm 2010 Trần Quang Thành mới được thả.
Trong khi đó thì Bí Thư Lý Quần được thăng thưởng. Năm 2007 anh ta được lên chức làm trưởng khối tuyên truyền của tỉnh Sơn Ðông và được đưa vào Thường Vụ Tỉnh cho đến bây giờ! Năm 2010, Lý Quần được phong làm bí thư Thành Ủy Thanh Ðảo, một bến cảng và đô thị lớn nhất tỉnh, nơi sản xuất thứ bia nổi tiếng mang tên thành phố! Trong khi đó thì Trần Quang Thành tiếp tục bị chính quyền xã, huyện giam lỏng, đe dọa và gia đình anh bị sách nhiễu. Ðó là “chuyện hàng ngày ở huyện,” bất cứ huyện nào ở Trung Quốc hay ở Việt Nam!
Chế độ chuyên chế của đảng Cộng Sản không khác gì chế độ vua quan đời xưa. Những người như Trần Quang Thành ở Trung Quốc hay Ðoàn Văn Vươn ở Việt Nam đều là nạn nhân của chế độ “phủ bênh phủ, huyện bênh huyện,” khi tất cả các quan chức cấu kết với nhau bóc lột và đè nén dân chúng. Những người như Trần Quang Thành hay Ðoàn Văn Vươn đang cố phá vỡ guồng máy chuyên chế đó, và họ đã làm gương cho nhiều người bắt chước. Ở nước ta, đồng bào Văn Giang, Vụ Bản hay Thanh Hóa đang tiếp tục cuộc đấu tranh đòi quyền sống xứng đáng làm người. Phải lật đổ chế độ chuyên chế thì mới tập được thói quen sống có trách nhiệm.
Tại Trung Quốc, trong thời gian Trần Quang Thành tránh nạn trong Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Bắc Kinh, khi anh nằm bệnh viện chờ đi Mỹ, guồng máy thông tin của đảng Cộng Sản Trung Quốc đã tìm cách bôi nhọ anh; nhưng họ thất bại. Nhiều nhật báo ở Bắc Kinh “chửi” Trần Quang Thành là quân “tốt” bị đại sứ Mỹ xúi giục và lợi dụng. Trái với ý muốn của ban tuyên huấn đảng, các bloggers ở Trung Quốc không chỉ trích Trần Quang Thành mà lại phê phán các tờ báo đó là bất công, đồng lõa với cường quyền. Ngày hôm sau, một trong các tờ báo “lề phải” của nhà nước là Tin Bắc Kinh đã nhận thấy trách nhiệm của họ, họ viết lời xin lỗi trên mạng. Sau khi hàng ngàn người phản ứng hoan hô tinh thần phục thiện của tờ báo, chính báo này lại được lệnh phải gỡ cả lời xin lỗi xuống! Chính quyền chuyên chế nuôi dưỡng đầu óc vô trách nhiệm!
Ngay cả việc chỉ trích ông Gary Locke, đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh, cũng gây phản ứng ngược. Tờ Bắc Kinh Nhật báo viết một bài phê phán ông Locke (người Mỹ gốc Hoa, tên đọc lối Hán Việt là Lạc Gia Huy) và nêu ý kiến đòi ông Locke phải cho biết tài sản của ông có những gì, nhờ đâu mà có. Nhưng ngay sau đó, trên blog của một nhà báo Trung Quốc, người ta đã nói rằng ông Locke đã phải khai tài sản từ lâu, ít nhất từ khi ra ứng cử thống đốc tiểu bang Washington! Sau một làn sóng chỉ trích và chế nhạo của độc giả, Bắc Kinh Nhật báo phải bóc cả bài chỉ trích đi!
Hiện tượng trên cho thấy thanh niên trí thức Trung Quốc không ngu dốt như đảng Cộng Sản nghĩ. Họ không dễ bị lừa dối và lợi dụng như những con cừu làm nô lệ cho chế độ chuyên chế. Trong cuộc tranh chấp về vùng biển Scarborough với Phi Luật Tân, trong khi có hơn 300 người Phi đến biểu tình phản đối trước sứ quán Trung Quốc ở Manila thì chỉ có mươi thanh niên Trung Hoa hưởng ứng đến biểu tình trước sứ quán Phi Luật Tân tại Bắc Kinh! Vụ Trần Quang Thành đã “mở mắt” cho nhiều người Trung Hoa, cũng như biến cố Ðoàn Văn Vươn đã khích lệ nhiều nông dân Việt Nam dám đứng lên bảo vệ ruộng đất của mình.
Ðó là những bước đầu tiến tới tự do dân chủ. Ðó là hướng đi các dân tộc phải chọn, để chấm dứt chế độ chuyên chế. Có như vậy các thế hệ người Việt Nam cũng như người Trung Hoa mai sau mới tập được thói quen sống trong danh dự và tinh thần trách nhiệm.
Ngô Nhân Dụng Tại thành phố Vũ Hán, trên đường Phiên Dương có ngôi nhà sáu tầng, được cất lên vào đầu thế kỷ 20, đặt tên là Cảnh Minh Ðại Lâu.
Sau năm 1997, những người quản lý ngôi nhà nhận được một bức thư gửi từ Anh quốc gửi sang. Trong lá thư viết rằng: “Công ty chúng tôi phụ trách xây dựng Cảnh Minh Ðại Lâu vào năm 1917. Theo bản thiết kế thì thời hạn sử dụng ngôi nhà này chỉ được 80 năm. Nay đã đến thời hạn đó cho nên chúng tôi gửi thư này nhắc quý vị chú ý, và có những hành động cần thiết.”
Bức thư này chắc chắn làm những người đang sống tại Cảnh Minh Ðại Lâu phải ngạc nhiên, họ không biết phải làm gì! Một tác gia người Trung Quốc kể lại câu chuyện trên, nêu cao tinh thần trách nhiệm của người ngoại quốc để làm gương cho dân nước ông. Ông Hà Tông Tư, trong cuốn “Người Trung Quốc và những căn bệnh trong nhân cách” đã tự hỏi, “không biết cái gì khiến cho một nhóm người trong công ty trên vẫn lo làm tròn trách nhiệm của họ,” về một công trình xây cất ở một nước xa xôi, từ 80 năm trước, trong khi các chủ nhân cũ của ngôi nhà cho tới những người ký hợp đồng, những người vẽ đồ án, những người làm công việc xây dựng đã chết hết cả rồi!
Vậy yếu tố nào đã tạo nên những con người có tinh thần trách nhiệm cao như ở công ty Anh quốc này? Người ta có thể giải thích là người Anh vốn có tinh thần trọng danh dự và trách nhiệm cao (hơn người Trung Hoa). Nhưng chúng ta không thể dễ dàng tin rằng một dân tộc nào lại tốt hơn dân tộc khác. Loài người sinh ra đều như nhau, dân tộc nào cũng có người tốt hay người xấu. Chỉ có cuộc sống trong xã hội đã tạo ra những thói sống khác nhau. Các thói quen được lập lại mãi, lâu ngày sẽ tạo thành tập quán, muốn bỏ cũng không được. Tập quán được phổ biến cho một số đông người, ai cũng thấy nên theo, sẽ trở thành một đặc tính của dân tộc. Khi chúng ta nói người Ðức, người Nhật tôn trọng lợi ích chung; người Việt Nam hiếu khách; hay người Canada giữ nhà cửa sạch sẽ; thì đó là vì họ đã được tập huấn các thói quen này từ lâu, nhiều đời lâu hơn các dân tộc khác.
Người Anh quốc có thói quen tôn trọng luật pháp. Khi tôn trọng luật lệ thì người ta tự nhiên làm đúng các hợp đồng mình đã ký kết; vì các hợp đồng đều dựa trên pháp luật. Bản Ðại Hiến Chương (Magna Carta) là một bản hợp đồng giữa vua Anh và các nhà quý tộc được ký kết vào thế kỷ 13 để giới hạn quyền hành của ông vua. Nó trở thành nền tảng bản Hiến Pháp bất thành văn và các luật lệ của dân tộc này. Cứ như thế, họ có hơn 700 năm tập thói quen sống theo luật lệ. Vào năm 1917, luật lệ về xây cất ở nước Anh có thể đã quy định bổn phận một người, hay một công ty xây cất là phải thông báo đầy đủ các điều kiện của ngôi nhà mình xây lên, tránh cho người cư ngụ trong ngôi nhà khỏi bị tai nạn vì không biết các nhược điểm trong cơ cấu. Cho nên, 80 năm sau, một công ty xây cất bên Anh đã làm bổn phận báo cho những người cư ngụ trong ngôi nhà mình xây, cho họ biết là ngôi nhà có thể bị hư vì đã qua thời hạn hữu dụng. Không cần ai giảng đạo lý làm người cho các vị giám đốc công ty trên. Chỉ cần một người thư ký trong công ty xây dựng giữ đầy đủ sổ sách, là có thể thấy ngay phải gửi lá thư đó, đúng ngày, đúng tháng.
Sau khi kể mấy câu chuyện như trên, ông Hà Tông Tư cũng nhận xét rằng người Trung Hoa xưa nay thiếu tinh thần trách nhiệm. Và ông cũng tìm ra nguyên do là vì chế độ chuyên chế ở nước Tàu, suốt mấy ngàn năm lịch sử: “Trốn trách nhiệm, tìm kẻ chịu tội thay cho mình, là truyền thống lâu đời ở Trung Quốc... nếu ông vua mà sai lầm thì đó là vì bọn gian thần hay yêu nữ xúi bẩy... người ta trút bỏ tội lỗi lên đầu kẻ khác. Thượng bất chính hạ tắc loạn. Cái tật trốn trách nhiệm đó được truyền xuống cho toàn dân Trung Quốc!” Tất nhiên, người Việt Nam cũng bị nhiễm những thói quen vô trách nhiệm do chế độ chuyên chế gây nên, không khác gì người Trung Quốc!
Hà Tông Tư phân tích thấy trong mỗi người Trung Hoa có hai nhân vật, một ông chủ và một người nô lệ. Tiêu biểu là nhân vật A Q. của Lỗ Tấn. Khi đóng vai ông chủ thì xưng hùng xưng bá, ngang ngược tàn bạo, tự coi mình như thần thánh, nịnh trên đạp dưới, ngoan cố không chịu thay đổi. Nhưng lúc đóng vai anh nô lệ thì tự khinh rẻ mình, nhẫn nhịn phục tùng, gian xảo dối trá, lười biếng vô lại, nhẹ dạ tin mê, khép kín bảo thủ.
Cả ông chủ lẫn thằng nô lệ không ai cần đến tinh thần trách nhiệm cả. Nó thành một tập quán ăn sâu vào cả xã hội. Nhà nước càng chuyên chế thì những thói quen vô trách nhiệm càng nhập vào sâu thêm. Những thói xấu truyền thống của người Trung Hoa không cần phải đem các vụ làm trứng vịt giả, hay làm đĩa nhạc lậu ra để chứng minh. Nó đã thể hiện rõ ràng trong vụ Luật Sư Trần Quang Thành, người mới được đưa gia đình sang tị nạn ở Mỹ với danh nghĩa đi học luật!
Ông Trần Quang Thành đã từng được chính quyền xã, tỉnh tuyên dương như một anh hùng khi ông tranh đấu cho quyền bình đẳng của những người bị khuyết tật, như chính ông mắt đã bị mù từ thủa nhỏ. Nhưng khi ông bắt đầu bênh vực các phụ nữ bị cưỡng bách phá thai, thì chính quyền phản ứng ngay bằng cách đe dọa, đánh đập, bỏ tù ông. Cũng như nhiều người Trung Hoa khác, ông Trần Quang Thành cứ nghĩ rằng nếu mình khiếu kiện lên cấp cao hơn, thì chắc các khó khăn sẽ được “ở trên” giải quyết. Ngay sau khi trốn từ Sơn Ðông lên Bắc Kinh ông còn thu một băng video gửi cho Thủ Tướng Ôn Gia Bảo để trần tình xin “đèn trời soi xét” điều tra những việc lạm quyền ức hiếp do chính quyền huyện Lâm Nghi (Linyi) bắt gia đình ông phải chịu.
Nhưng tất cả đều vô vọng. Bởi vì một chế độ chuyên chế không thể nào “tự chặt chân chặt tay” của họ được. Bằng cớ là Lý Quần (Li Qun), bí thư huyện Lâm Nghi không những hoàn toàn được cấp trên bảo vệ mà còn được thăng thưởng! Lý Quần cai quản xã này từ năm 2002; đến năm 2004 đã ra lệnh thi hành chương trình kiểm soát sinh sản triệt để hơn, bắt các bà phải phá thai và triệt sản sau khi đã sinh số con theo nhà nước quy định. Trần Quang Thành bênh vực các phụ nữ nạn nhân này, khiếu nại lên quận, lên tỉnh không được, năm 2005 đã lên tận Bắc Kinh. Thử tưởng tượng một người khiếm thị đi đường xa 650 cây số như vậy, phải hy sinh chịu cực khổ như thế nào. Tại Bắc Kinh, Trần Quang Thành đã bị một bọn “khuyển ưng, khuyển phệ” bắt cóc, trói bỏ vào xe, chở thẳng về và tống giam. Một năm sau mới chính thức bị truy tố về một tội danh bịa đặt, dựng đứng. Luật sư đến thăm để làm hồ sơ bào chữa cho ông cũng bị đánh trong lúc bị tra hỏi. Năm 2010 Trần Quang Thành mới được thả.
Trong khi đó thì Bí Thư Lý Quần được thăng thưởng. Năm 2007 anh ta được lên chức làm trưởng khối tuyên truyền của tỉnh Sơn Ðông và được đưa vào Thường Vụ Tỉnh cho đến bây giờ! Năm 2010, Lý Quần được phong làm bí thư Thành Ủy Thanh Ðảo, một bến cảng và đô thị lớn nhất tỉnh, nơi sản xuất thứ bia nổi tiếng mang tên thành phố! Trong khi đó thì Trần Quang Thành tiếp tục bị chính quyền xã, huyện giam lỏng, đe dọa và gia đình anh bị sách nhiễu. Ðó là “chuyện hàng ngày ở huyện,” bất cứ huyện nào ở Trung Quốc hay ở Việt Nam!
Chế độ chuyên chế của đảng Cộng Sản không khác gì chế độ vua quan đời xưa. Những người như Trần Quang Thành ở Trung Quốc hay Ðoàn Văn Vươn ở Việt Nam đều là nạn nhân của chế độ “phủ bênh phủ, huyện bênh huyện,” khi tất cả các quan chức cấu kết với nhau bóc lột và đè nén dân chúng. Những người như Trần Quang Thành hay Ðoàn Văn Vươn đang cố phá vỡ guồng máy chuyên chế đó, và họ đã làm gương cho nhiều người bắt chước. Ở nước ta, đồng bào Văn Giang, Vụ Bản hay Thanh Hóa đang tiếp tục cuộc đấu tranh đòi quyền sống xứng đáng làm người. Phải lật đổ chế độ chuyên chế thì mới tập được thói quen sống có trách nhiệm.
Tại Trung Quốc, trong thời gian Trần Quang Thành tránh nạn trong Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Bắc Kinh, khi anh nằm bệnh viện chờ đi Mỹ, guồng máy thông tin của đảng Cộng Sản Trung Quốc đã tìm cách bôi nhọ anh; nhưng họ thất bại. Nhiều nhật báo ở Bắc Kinh “chửi” Trần Quang Thành là quân “tốt” bị đại sứ Mỹ xúi giục và lợi dụng. Trái với ý muốn của ban tuyên huấn đảng, các bloggers ở Trung Quốc không chỉ trích Trần Quang Thành mà lại phê phán các tờ báo đó là bất công, đồng lõa với cường quyền. Ngày hôm sau, một trong các tờ báo “lề phải” của nhà nước là Tin Bắc Kinh đã nhận thấy trách nhiệm của họ, họ viết lời xin lỗi trên mạng. Sau khi hàng ngàn người phản ứng hoan hô tinh thần phục thiện của tờ báo, chính báo này lại được lệnh phải gỡ cả lời xin lỗi xuống! Chính quyền chuyên chế nuôi dưỡng đầu óc vô trách nhiệm!
Ngay cả việc chỉ trích ông Gary Locke, đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh, cũng gây phản ứng ngược. Tờ Bắc Kinh Nhật báo viết một bài phê phán ông Locke (người Mỹ gốc Hoa, tên đọc lối Hán Việt là Lạc Gia Huy) và nêu ý kiến đòi ông Locke phải cho biết tài sản của ông có những gì, nhờ đâu mà có. Nhưng ngay sau đó, trên blog của một nhà báo Trung Quốc, người ta đã nói rằng ông Locke đã phải khai tài sản từ lâu, ít nhất từ khi ra ứng cử thống đốc tiểu bang Washington! Sau một làn sóng chỉ trích và chế nhạo của độc giả, Bắc Kinh Nhật báo phải bóc cả bài chỉ trích đi!
Hiện tượng trên cho thấy thanh niên trí thức Trung Quốc không ngu dốt như đảng Cộng Sản nghĩ. Họ không dễ bị lừa dối và lợi dụng như những con cừu làm nô lệ cho chế độ chuyên chế. Trong cuộc tranh chấp về vùng biển Scarborough với Phi Luật Tân, trong khi có hơn 300 người Phi đến biểu tình phản đối trước sứ quán Trung Quốc ở Manila thì chỉ có mươi thanh niên Trung Hoa hưởng ứng đến biểu tình trước sứ quán Phi Luật Tân tại Bắc Kinh! Vụ Trần Quang Thành đã “mở mắt” cho nhiều người Trung Hoa, cũng như biến cố Ðoàn Văn Vươn đã khích lệ nhiều nông dân Việt Nam dám đứng lên bảo vệ ruộng đất của mình.
Ðó là những bước đầu tiến tới tự do dân chủ. Ðó là hướng đi các dân tộc phải chọn, để chấm dứt chế độ chuyên chế. Có như vậy các thế hệ người Việt Nam cũng như người Trung Hoa mai sau mới tập được thói quen sống trong danh dự và tinh thần trách nhiệm.
Những con người đứng thẳng
Bùi Tín (Blog VOA)
Có những con người ta gặp thoáng qua trên đường đời nhưng để lại những dấu ấn khó phai trong tâm trí.
Ðó là những con người bề ngoài rất tầm thường nhưng có nhân cách cao thượng, có tư duy khác thường,
tạo nên những mẫu mực, những gương sáng cho ta noi theo.
Bà Bùi Thị Minh Hằng trong một cuộc biểu tình chống Trung Quốc. (Hình: VOA Việt Ngữ)
Ðó là trường hợp anh sĩ quan công an của trại phục hồi nhân phẩm Thanh Hà-Vĩnh Phúc, nơi chính quyền đảng trị trong quá trình suy thoái về chính trị và nhân cách đã cố tình đầy ải cô Bùi Thị Minh Hằng để trả thù người chiến sĩ rất mực yêu nước này. Anh đã tỏ thái độ rõ ràng chống lại hành vi sai trái của một chính quyền bất công, trừng phạt nữ công dân nước mình, làm theo ý muốn của ngoại bang là phải chấm dứt các cuộc xuống đường đông người chống hành động xâm lược của Bắc Kinh.
Người ta chưa biết rõ tên anh, cấp bậc của anh trong ngành công an. Chỉ mới biết anh là một bác sĩ, chăm sóc sức khỏe cho các trại viên. Tôi đoán anh là một trung úy hay thượng úy quân y ngành công an, chăm lo sức khỏe của các trại viên.
Anh đã nói và làm gì? Anh đã tỏ ra thông cảm với cô Minh Hằng, bị chính quyền vu cáo, chụp mũ là thành phần phá rối trật tự xã hội, cưỡng bách cô phải vào trại phục hồi nhân phẩm, sau khi biết không thể công khai xử cô trước tòa án. Anh đã theo dõi tình hình sức khỏe của cô, biết rõ cô bị họ đày đọa cả tinh thần và thể xác ra sao, để bị sụt 14 kilô, anh cũng thấy rõ tinh thần cô Minh Hằng trong khi bị đày đọa vẫn kiên cường, minh mẫn, bất khuất như thế nào. Và anh đã tình nguyện đi cùng nhóm của trại đưa cô về tận nhà trong Vũng Tàu để chăm sóc sức khỏe cô trên hành trình dài gần 2,000 kilômét. Anh cho rằng đó sẽ là công việc cuối cùng có ý nghĩa của anh, ngay sau đó anh sẽ cởi bỏ bộ quân phục công an, trở về nhà sống cuộc sống của người dân thường.
Xin ngả mũ chào những con người như anh. Sống ngay thẳng, đứng thẳng người trước cường quyền, trước bọn bành trướng ngạo mạn khinh thường các dân tộc láng giềng. Anh đã cho mọi công dân nước ta, cho cả tập thể độc đảng cầm quyền “hèn với giặc, ác với dân” một bài học sinh động về tư cách làm người, luôn ngẩng cao đầu, đứng thẳng người, không bao giờ cúi đầu quỳ gối trước bất cứ thế lực phi nghĩa hung hãn nào. Anh thật sự là anh “công an bạn của nhân dân,” trong khi phần lớn đồng đội của anh đã mù quáng tuân theo những mệnh lệnh và chỉ thị đi ngược lại quyền lợi dân tộc, đi ngược lại cuộc sống bình an của toàn dân, xông vào hành hung, chửi bới đồng bào ta ở Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản, được các cấp từ trung ương đến tỉnh ủy, huyện ủy đồng lõa, khuyến khích.
Tất nhiên những người chỉ huy trại đã không cho anh thực hiện nguyện vọng chính đáng của anh, chắc chắn họ sẽ còn tìm cách trả thù anh. Họ đã không cho anh đưa tiễn cô Minh Hằng vào Vũng Tàu, vì họ vẫn tiếp tục hành hạ trả thù cô cả khi trả cô về với gia đình. Họ khóa tay cô, có lúc xiềng chân tay cô suốt cuộc hành trình, huy động đến 40 quân quan hung tợn trang bị đủ loại súng ống để áp giải người phụ nữ ốm yếu tay không, một hành vi không hề có bất cứ ở đâu.
Rồi đây chắc chắn công luận sẽ biết tên tuổi, thái độ, động cơ của anh bác sĩ, sĩ quan công an, thật sự trung với nước, hiếu với dân. Phong trào đòi tự do, yêu dân chủ, trọng pháp luật sẽ ôm anh vào hàng ngũ trùng điệp của mình, cổ vũ anh, bảo vệ anh như một công dân trung kiên hiếm có, thân thiết của mình.
Nhân đây cũng xin nhắc đến 2 người phụ nữ nạn nhân của vụ cướp đất ở Cống Rộc, Yên Lãng. Ðó là chị Nguyễn Thị Thương, vợ anh Ðoàn Văn Vươn, và chị Phạm Thị Hiền, vợ anh Ðoàn Văn Quý, với lời phát biểu tuyệt vời với các nhà báo: “Chúng em đau buồn xót xa lắm, bao nhiều công sức của cải đổ vào mảnh đất ao hồ này bị mất trắng, nhà cửa tiêu tan chỉ còn mảnh lều xơ xác, nhưng chúng em không thất vọng. Chúng em tin rằng qua vụ án này vấn đề cưỡng bức tước đoạt ruộng đất của nông dân sẽ được cả nước biết đến. Hy sinh cuộc sống riêng để đòi công bằng cho bà con nông dân khắp nơi, chúng em không còn đau buồn nữa.”
Ðó, lại 2 công dân nữ rất bình thường, ngẩng cao đầu bên cạnh đội ngũ hàng ngàn hàng vạn con người vẫy nhau đứng cả dậy đòi công lý, độc lập, hòa bình và phát triển cho quê hương đất nước.
Tin do mạng Bauxite công bố, số người ký tên vào kiến nghị đòi công lý cho bà con Văn Giang chỉ vài ngày đã đạt gần 3,000 chữ ký, cũng là loại tin vui về phong trào yêu nước đang lan rộng, dâng cao. Ðể chính quyền tham nhũng, hung dữ “hèn với giặc, ác với dân” buộc phải thấy mọi người công dân ngay thẳng đều đứng về phía nhân dân, quyết bảo vệ nền độc lập trọn vẹn của tổ quốc, bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất của nông dân ta. Những công dân dũng cảm ngày càng xuất hiện đông đảo, lôi cuốn toàn xã hội đứng thẳng trước cường quyền tham lam quỳ gối trước quân xâm lược.
Bùi Tín (Blog VOA)
Có những con người ta gặp thoáng qua trên đường đời nhưng để lại những dấu ấn khó phai trong tâm trí.
Ðó là những con người bề ngoài rất tầm thường nhưng có nhân cách cao thượng, có tư duy khác thường,
tạo nên những mẫu mực, những gương sáng cho ta noi theo.
Bà Bùi Thị Minh Hằng trong một cuộc biểu tình chống Trung Quốc. (Hình: VOA Việt Ngữ)
Ðó là trường hợp anh sĩ quan công an của trại phục hồi nhân phẩm Thanh Hà-Vĩnh Phúc, nơi chính quyền đảng trị trong quá trình suy thoái về chính trị và nhân cách đã cố tình đầy ải cô Bùi Thị Minh Hằng để trả thù người chiến sĩ rất mực yêu nước này. Anh đã tỏ thái độ rõ ràng chống lại hành vi sai trái của một chính quyền bất công, trừng phạt nữ công dân nước mình, làm theo ý muốn của ngoại bang là phải chấm dứt các cuộc xuống đường đông người chống hành động xâm lược của Bắc Kinh.
Người ta chưa biết rõ tên anh, cấp bậc của anh trong ngành công an. Chỉ mới biết anh là một bác sĩ, chăm sóc sức khỏe cho các trại viên. Tôi đoán anh là một trung úy hay thượng úy quân y ngành công an, chăm lo sức khỏe của các trại viên.
Anh đã nói và làm gì? Anh đã tỏ ra thông cảm với cô Minh Hằng, bị chính quyền vu cáo, chụp mũ là thành phần phá rối trật tự xã hội, cưỡng bách cô phải vào trại phục hồi nhân phẩm, sau khi biết không thể công khai xử cô trước tòa án. Anh đã theo dõi tình hình sức khỏe của cô, biết rõ cô bị họ đày đọa cả tinh thần và thể xác ra sao, để bị sụt 14 kilô, anh cũng thấy rõ tinh thần cô Minh Hằng trong khi bị đày đọa vẫn kiên cường, minh mẫn, bất khuất như thế nào. Và anh đã tình nguyện đi cùng nhóm của trại đưa cô về tận nhà trong Vũng Tàu để chăm sóc sức khỏe cô trên hành trình dài gần 2,000 kilômét. Anh cho rằng đó sẽ là công việc cuối cùng có ý nghĩa của anh, ngay sau đó anh sẽ cởi bỏ bộ quân phục công an, trở về nhà sống cuộc sống của người dân thường.
Xin ngả mũ chào những con người như anh. Sống ngay thẳng, đứng thẳng người trước cường quyền, trước bọn bành trướng ngạo mạn khinh thường các dân tộc láng giềng. Anh đã cho mọi công dân nước ta, cho cả tập thể độc đảng cầm quyền “hèn với giặc, ác với dân” một bài học sinh động về tư cách làm người, luôn ngẩng cao đầu, đứng thẳng người, không bao giờ cúi đầu quỳ gối trước bất cứ thế lực phi nghĩa hung hãn nào. Anh thật sự là anh “công an bạn của nhân dân,” trong khi phần lớn đồng đội của anh đã mù quáng tuân theo những mệnh lệnh và chỉ thị đi ngược lại quyền lợi dân tộc, đi ngược lại cuộc sống bình an của toàn dân, xông vào hành hung, chửi bới đồng bào ta ở Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản, được các cấp từ trung ương đến tỉnh ủy, huyện ủy đồng lõa, khuyến khích.
Tất nhiên những người chỉ huy trại đã không cho anh thực hiện nguyện vọng chính đáng của anh, chắc chắn họ sẽ còn tìm cách trả thù anh. Họ đã không cho anh đưa tiễn cô Minh Hằng vào Vũng Tàu, vì họ vẫn tiếp tục hành hạ trả thù cô cả khi trả cô về với gia đình. Họ khóa tay cô, có lúc xiềng chân tay cô suốt cuộc hành trình, huy động đến 40 quân quan hung tợn trang bị đủ loại súng ống để áp giải người phụ nữ ốm yếu tay không, một hành vi không hề có bất cứ ở đâu.
Rồi đây chắc chắn công luận sẽ biết tên tuổi, thái độ, động cơ của anh bác sĩ, sĩ quan công an, thật sự trung với nước, hiếu với dân. Phong trào đòi tự do, yêu dân chủ, trọng pháp luật sẽ ôm anh vào hàng ngũ trùng điệp của mình, cổ vũ anh, bảo vệ anh như một công dân trung kiên hiếm có, thân thiết của mình.
Nhân đây cũng xin nhắc đến 2 người phụ nữ nạn nhân của vụ cướp đất ở Cống Rộc, Yên Lãng. Ðó là chị Nguyễn Thị Thương, vợ anh Ðoàn Văn Vươn, và chị Phạm Thị Hiền, vợ anh Ðoàn Văn Quý, với lời phát biểu tuyệt vời với các nhà báo: “Chúng em đau buồn xót xa lắm, bao nhiều công sức của cải đổ vào mảnh đất ao hồ này bị mất trắng, nhà cửa tiêu tan chỉ còn mảnh lều xơ xác, nhưng chúng em không thất vọng. Chúng em tin rằng qua vụ án này vấn đề cưỡng bức tước đoạt ruộng đất của nông dân sẽ được cả nước biết đến. Hy sinh cuộc sống riêng để đòi công bằng cho bà con nông dân khắp nơi, chúng em không còn đau buồn nữa.”
Ðó, lại 2 công dân nữ rất bình thường, ngẩng cao đầu bên cạnh đội ngũ hàng ngàn hàng vạn con người vẫy nhau đứng cả dậy đòi công lý, độc lập, hòa bình và phát triển cho quê hương đất nước.
Tin do mạng Bauxite công bố, số người ký tên vào kiến nghị đòi công lý cho bà con Văn Giang chỉ vài ngày đã đạt gần 3,000 chữ ký, cũng là loại tin vui về phong trào yêu nước đang lan rộng, dâng cao. Ðể chính quyền tham nhũng, hung dữ “hèn với giặc, ác với dân” buộc phải thấy mọi người công dân ngay thẳng đều đứng về phía nhân dân, quyết bảo vệ nền độc lập trọn vẹn của tổ quốc, bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất của nông dân ta. Những công dân dũng cảm ngày càng xuất hiện đông đảo, lôi cuốn toàn xã hội đứng thẳng trước cường quyền tham lam quỳ gối trước quân xâm lược.

Đói Dân Chủ - No tham nhũng
Phạm Trần
- Ở Việt Nam thời Cộng sản, tham nhũng nhiều hơn cơm áo và kẻ sẵn sàng phạm pháp để tham nhũng nhiều hơn người tình nguyện xuống đường chống Trung Cộng âm mưu chiếm lãnh thổ và biển đảo.
Đó là thực tế đau buồn và phũ phàng, nhưng đang diễn ra từng phút ở mọi nơi, kể cả ở những vùng dân phải liều chết để giữ đất không rơi vào tay bọn quan tham và tay sai của tài phiệt.
Nhưng tại sao ở một đất nước có nhiều anh hùng vang danh giữ nước và dựng nước và có một dân tộc kiên cường bất khuất trước giặc ngọai xâm mà lại đang thua trước giặc nội thù ?
Đơn giản vì nhà nước bất lực. Những đảng viên Cộng sản may mắn được ngồi vào ghế lãnh đạo, nếu không tham nhũng thì cũng dung dưỡng kẻ tham nhũng để được ngồi yên hưởng thụ.
Luật lệ, nghị quyết, quyết định, nghị định phòng – chống tham nhũng, lãng phí, kê khai tài sản và cấm đảng viên không được làm chất cao hơn núi nhưng chỉ thấy nói mà không làm. Và nếu có làm thì cũng chỉ làm cho có lệ, phải phép nay người mai ta, đồng chí, đồng đội với nhau ai nỡ làm khó nhau làm gì để còn nhìn nhau nữa chứ ?
Vì vậy tham nhũng chỉ ở đâu đâu chứ đơn vị mình thì tuyệt nhiên không có ai tham nhũng cả. Mọi đồng chí đều sạch trơn từ thân thể đến quần áo, không hề tơ hào một xu tiền của dân. Qu của nhà nước sổ sách phân minh, biên lai biên nhận chi, thu không mất đi đâu một xu nên năm nào đảng bộ cũng đạt ’’cờ chiến thắng” hay ”đơn vị tiến tiến gương mẫu”.
Tuy nhiên những người đứng đầu lại không sao giải thích được tại sao lương cán bộ mà nhiều đồng chí của đơn vị mình lại có nhà lầu máy lạnh, xe hơi láng coóng, tiệc tùng đãi nhau linh đình, có tiền gửi con du học nước ngoài mỗi năm tốt vài chục ngàn đô là ít?
Đó là lý do tại sao đơn vị, đảng ủy nào cũng ”thành tích” nhiều hơn ”thành công”, ấy là chưa kể những chuyện liên hệ dây mơ, rễ má như ”người cùng huyện”, ”học cùng trường”, ”có bố, có ông cố, ông kỵ biết nhau từ thời đi kháng chiến chống Tây, chống Mỹ” v.v... nên mọi cách, mọi kiểu tham nhũng dù rắc rối, nhiêu khê đến đâu cũng thành chuyện hòa cả làng, dĩ hòa vi qúy làm cho mọi người đều vui vẻ cả.
Vì vậy, bất kỳ hội nghị hay đại hội nào có dính đến đảng là tình trạng tham nhũng lại được nhắc lại ”vẫn còn nghiêm trọng”!
Đó cũng là điều mà ông Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng đã báo cáo tại Kỳ họp Quốc hội khai mạc hôm 21/05 (2012) tại Hà Nội rằng: ”Tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng với những biểu hiện tinh vi, phức tạp xảy ra trên nhiều lĩnh vực, tình trạng lãng phí còn rất lớn”, mặc dù ông này cũng không quên khoe ”Công tác cải cách hành chính, phòng, chống tham nhũng, giải quyết khiếu nại tố cáo được quan tâm chỉ đạo từ Trung ương đến cơ sở và tiếp tục có những chuyển biến tích cực.”
Lạ chưa? Đã ”có những chuyển biến tích cực” mà “vẫn còn nghiêm trọng” trong công tác phòng, chống tham nhũng thì chắc là tiếng Việt đã “hết nghĩa” rồi chăng?
Hay nên hiểu khi đảng nói có “chuyển biến” là “đã thụt lùi tệ hại hơn”?
THAM NHŨNG QUA TỪNG GIAI ĐOẠN:
Đúng là như thế. Bởi vì từ ngày 02/02/1999, Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) của khóa đảng VIII thời Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã đưa ra Nghị quyết “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”.Khi nói về vấn đề tham nhũng trong đảng, nghị quyết này đã viết rằng: “Trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, trong Đảng đang bộc lộ một số yếu kém: sự suy thoái về tư tưởng chính trị; tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng phát triển nghiêm trọng hơn. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không nghiêm, bộ máy tổ chức của Đảng và Nhà nước chậm được củng cố và đổi mới. Để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy rmạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng phải có biện pháp phát huy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa các khuyết điểm, tiếp tục củng cố, chỉnh đốn, để ngày càng vững mạnh về mọi mặt, đặc biệt là về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, tổ chức và cán bộ.”
Đến ngày 19 tháng 11 năm 2005 Luật Phòng, Chống Tham Nhũng ra đời xác định rằng: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.
Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm:
a) Cán bộ, công chức, viên chức;
b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;
c) Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;
d) Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.”
Nói cách khác, tất cả những ai “có chức, có quyền” đều có cơ hội tham nhũng.
Nhưng thế nào là tham nhũng thì được quy định tại Điều 3. Nói về “Các hành vi tham nhũng” bao gồm:
1. Tham ô tài sản.
2. Nhận hối lộ.
3. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.
4. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
5. Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi.
7. Giả mạo trong công tác vì vụ lợi.
8. Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi.
9. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi.
10. Nhũng nhiễu vì vụ lợi.
11. Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
12. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.”
Sau khi Nông Đức Mạnh lên thay Lê Khả Phiêu giữ chức tổng bí thư đảng từ Khoá đảng IX năm 2001, tệ nạn tham nhũng, lãng phí trong đảng vẫn “ngang nhiên tự tại” cho nên tại Hội nghị Trung ương 3 của Khoá đảng X, “Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” ra đời tái xác nhận rằng : “ Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí còn nhiều hạn chế,khuyết điểm, hiệu quả thấp. Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta.”
Thủ phạm của nguy cơ này lại do chính cán bộ, đảng viên của đảng gây ra vì, theo lời Nghị quyết: “Công tác cán bộ nói chung và việc quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức nói riêng còn yếu kém. Một bộ phận không nhỏ đảng viên, cán bộ, công chức suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống. Không ít cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành, kể cả cán bộ lãnh đạo cao cấp, còn thiếu gương mẫu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức; chưa đi đầu trong cuộc sống đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong những năm tới, phải đẩy mạnh toàn diện và kiên quyết cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.”
Và để tiếp tay cho đảng chống “con tham nhũng 3 đầu 6 tay” này, ngày 24/01/2007 nhà nước lại bày ra Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống Tham nhũng (PCTN) để cho Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng ban.
Nhưng sau 5 năm được mô tả đã dùng nhiều ngón nghề, đòn phép làm sạch đảng và bộ máy nhà nước theo Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa đảng X), Nguyễn Xuân Phúc - Phó Thủ tướng, Phó trưởng Ban Chỉ đạo tiếp tục ca bài tiêu cực trong báo cáo tại Hội nghị tòan quốc ngày 07 tháng 03 (2012).
Phúc nói : “Các đơn vị chuyên trách PCTN thuộc Thanh tra Chính Phủ, Viện Kiểm sát nhân tối cao và Bộ Công an được thành lập và đi vào hoạt động từ đầu năm 2007, đã và đang từng bước phát huy hiệu quả, nâng cao chất lượng công tác phát hiện và xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng. Tuy nhiên, công tác PCTN chưa đạt được mục tiêu “ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng…” như Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) đề ra, còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém: Một là, nội dung và hình thức tuyên truyền, giáo dục về PCTN chưa phong phú, hấp dẫn, biểu hiện tính hình thức. Hai là, một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; tính chiến đấu, dân chủ, công khai trong tự phê bình và phê bình còn hạn chế; nhiều chi bộ đảng không nắm vững quan hệ xã hội của đảng viên; chưa kịp thời kiểm tra, phát hiện, xử lý những trường hợp có dấu hiệu vi phạm. Ba là, công tác hoàn thiện thể chế về PCTN chưa đáp ứng yêu cầu. Bốn là, việc triển khai thực hiện một số chủ trương, giải pháp phòng ngừa tham nhũng chưa nghiêm túc, hiệu quả thấp. Năm là, công tác phát hiện và xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng còn nhiều hạn chế. Sáu là, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị chuyên trách về PCTN chưa cao. Bảy là, công tác giám sát về PCTN của Quốc hội và HĐND các cấp chưa thường xuyên, hiệu quả thấp. Tám là, chưa huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội, nhất là sự tham gia của nhân dân vào công tác PCTN. Chín là, một số nội dung của Nghị quyết Trung ương 3 chưa được tập trung thực hiện…”
Như thế thì cái Ban chỉ đạo Trung ương này đã làm gì, sau khi đã ăn không biết bao nhiều tiền của mồ hôi, nước mắt và hoang phí sức lao động của người dân trong 5 năm qua?
13 NĂM SAU
Hay là từ Nghị quyết 6 (lần 2) thời Lê Khả Phiêu năm 1999 cho đến khi có Hội nghị tòan quốc do Dũng chủ trì tháng 3/2012, tổng cộng là 13 năm mà công tác phòng, chống tham nhũng vẫn dậm chân một chỗ khiến Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) do Nguyễn Phú Trọng làm Tổng Bí thư đã phải ra Nghị quyết vào ngày 31/12/2011 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, không khác gì nội dung của Nghị quyết 6 (lần 2)
Sự ra đời của văn kiện quan trọng này cho thấy đảng CSVN đang lâm nguy rã đám như Nghị quyết đã nhìn nhận: “Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ.”
Khi nói đến tham nhũng, nghị quyết viết: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”
5 tháng sau, trong khi tất cả các tổ chức của đảng từ trung ương xuống địa phương, quân đội, công an, báo chí, văn nghệ sỹ chưa nuốt hết chữ của các buổi học tập làm sao phải thi hành cho bằng được chỉ thị của Nghị quyết Trung ương 4 thì ngày 15-05 (2012) Hội nghị Trung ương 5 lại ập đến Nghị quyết mới tiếp tục nói về chuyện chống tham nhũng.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhìn nhận thêm rằng: “Công tác phòng, chống tham nhũng chưa đạt được yêu cầu "ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng". Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp hơn, gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Tham nhũng, lãng phí vẫn xảy ra trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều cơ quan, đơn vị, đặc biệt là trong các lĩnh vực và hoạt động liên quan đến đất đai, khoáng sản; đầu tư công; xây dựng cơ bản; quản lý vốn và tài sản của doanh nghiệp nhà nước; tín dụng, ngân hàng; thu chi ngân sách, mua sắm tài sản công; công tác cán bộ; quan hệ giữa cơ quan, cán bộ nhà nước với người dân, doanh nghiệp...”
Vây ai có lỗi không phòng, chống nổi tham nhũng? Tổng Bí thư đảng hay Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương?
Câu trả lời là cả 2 người nói riêng và cả đảng nói chung. Không ai có quyền đổ lỗi cho nhau trước sức chịu đựng đã đến đường cùng của người dân.
Tệ nạn tham nhũng đã biến thành lối sống hàng ngày của cán bộ, đảng viên, nhất là những kẻ có chức có quyền.
Nhưng trong trận thư hùng này, Dũng đã bị mất chức trưởng ban vì, theo thông báo của trung ương đảng thì: “Ban Chấp hành Trung ương quyết định chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban. Không thành lập ban chỉ đạo tỉnh, thành phố về phòng, chống tham nhũng; tỉnh uỷ, thành uỷ trực tiếp lãnh đạo công tác phòng, chống tham nhũng. Lập lại Ban Nội chính Trung ương, thực hiện chức năng một ban đảng và là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; lập ban nội chính ở các tỉnh uỷ, thành uỷ, giao Bộ Chính trị quyết định cụ thể.”
PHẠM THẾ DUYỆT – GIÁM SÁT
Nhưng liệu sự thay đổi này có hy vọng gì không?
Hãy nghe câu trả lời của Phạm Thế Duyệt, nguyên Chủ tịch Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam : “Nếu ngay bây giờ mà nói rằng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị sẽ làm cho việc này tốt lên là còn chủ quan. Chúng ta đã từng có Ban Chỉ đạo Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII – cũng là cơ quan thường trực của Đảng về phòng chống tham nhũng tiêu cực đấy chứ. Vậy nên điều quan trọng và cần thiết bây giờ là sự quyết tâm, thể hiện ở sự kiên quyết, đấu tranh trong nội bộ Đảng và cấp ủy các cấp. Trong sinh hoạt Đảng phải luôn luôn coi việc phòng chống tham nhũng là một vấn đề quan trọng, đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao trên nghiêm, dưới theo, nhà mà nóc không dột, dưới sẽ ổn định...” (Báo Đại Đòan Kết, ngày 20-05-2012)
Đúng vậy. Nhưng căn nhà tham nhũng của đảng CSVN bây giờ có còn chỗ nào không rách nát tả tơi?
Chính Duyệt cũng đã thừa nhận như thế: “Nói gì thì nói, việc chưa hạn chế được, chưa ngăn chặn được, để tham nhũng phát triển ngày càng tinh vi, ở đây cá nhân tôi muốn nhấn mạnh là theo chiều hướng ngày càng xấu, đã ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân với Đảng, là điều phải trăn trở suy nghĩ nhiều về đội ngũ cán bộ của chúng ta. Ngày càng có nhiều biểu hiện tham nhũng, tiêu cực. Cho nên chính vì điều này mà lòng tin của người dân cũng suy giảm lắm. Rõ ràng đây là một điều không hay với một đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo và một chế độ theo định hướng XHCN. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói, nó như một thách thức với Đảng, với chế độ.”
Và theo lời Duyệt thì: “Bây giờ phải xác định nhiệm vụ của cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo làm gì? Tổng Bí thư cần làm gì? Phải có một tầm bao quát, phát huy cao vai trò của nhân dân, của Mặt trận, của các tổ chức đoàn thể, của các cơ quan chuyên trách về công tác giám sát, như Ủy ban Kiểm tra của Đảng, vai trò giám sát của Quốc hội, của các cơ quan đoàn thể đại diện cho các tầng lớp của nhân dân.”
Nhưng thực tế Duyệt và Mặt trận Tổ quốc đã làm được gì với những kẻ tham nhũng, hay cũng chỉ biết khoanh tay ngồi nhìn chúng nhởn nhơ cười hắt vào mặt?
Hãy nghe Duyệt than: “Từng hoạt động nhiều năm ở Mặt trận, từng tham gia họp hành với Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng, tôi cho rằng lúc này chỉ có dựa vào dân là sẽ làm được. Làm thế nào để cái "ghế” của Mặt trận, của các tổ chức nhân dân được phát huy, nếu không cẩn thận sẽ vẫn là hình thức, vì tham gia mà có hiệu quả gì đâu. Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để phát huy được vai trò giám sát của nhân dân, của Mặt trận, các tổ chức đoàn thể nhân dân thì Đảng mới có chỗ dựa. Chứ nếu Đảng chỉ dựa vào Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng thì chưa đủ.”
Nhưng quyền giám sát của Mặt trận cũng đã được quy định trong Điều 12 trong Luật Mặt trận tổ quốc Việt Nam ban hành ngày 12 tháng 6 năm 1999, theo đó :
1- Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là giám sát mang tính nhân dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của Nhà nước, nhằm góp phần xây dựng và bảo vệ Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật.
2- Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện bằng các hình thức sau đây:
a) Động viên nhân dân thực hiện quyền giám sát;
b) Tham gia hoạt động giám sát với cơ quan quyền lực nhà nước;
c) Thông qua hoạt động của mình, tổng hợp ý kiến của nhân dân và các thành viên của Mặt trận kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biểu dương, khen thưởng người tốt, việc tốt, xem xét, giải quyết, xử lý những trường hợp vi phạm pháp luật.
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện nhiệm vụ giám sát. Khi nhận được kiến nghị của Mặt trận thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm xem xét, trả lời trong thời hạn theo quy định của pháp luật.”
Ngoài ra, Nghị quyết Trung ương 3 (khoá đảng X) ngày 29 tháng 07 năm 2006 cũng xác quyết nguyên văn rằng: “Tổ chức đảng phải lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp làm tốt vai trò giám sát. Hàng năm, cán bộ chủ chốt cấp xã phải trực tiếp tự phê bình và phê bình tại hội nghị đại diện nhân dân do Mặt trận Tổ quốc tổ chức. Xây dựng và thực hiện cơ chế chất vấn trong sinh hoạt đảng.”
Tiếc rằng những việc này vẫn còn nguyên trên giấy, không có ma nào chịu làm theo, nhất là những cán bộ, đảng viên cấp lãnh đạo đứng đầu các tổ chức và cơ quan đảng.
Đã từng có nhiều đòan cán bộ thanh tra tham nhũng, khiếu kiện về địa phương không được ai tiếp phải khăn gói đi về mà không dám phản đối!
Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất, hầu hết do người của đảng kiểm soát nên nếu đảng không “bật đèn xanh” thì không một đại biểu nào dám ho he. Vì vậy từ trước đến nay chưa thấy có vụ tham nhũng nào được quốc hội phanh phui ra.
Nhiều vụ tham nhũng tai tiếng khác cũng đã bị giấu nhẹm hoặc điều tra kéo dài đến “huề vốn”. Nhiều kẻ có trách nhiệm được nhà nước cho “hạ cánh an tòan”, hoặc thăng quan tiến chức trước con mắt mở toang và cái miệng há hốc kinh ngạc của người dân.
Vì vậy, Trọng mới kết luận trong diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương 5, ngày 15-05 (2012): “Một số cấp uỷ đảng, chính quyền và người đứng đầu chưa quyết tâm lãnh đạo và gương mẫu trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; những bất cập về thể chế, nhất là trong việc ban hành, thực thi luật pháp, cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế - xã hội; trên nhiều lĩnh vực vẫn còn sơ hở, bất cập, thiếu công khai, minh bạch và nhất quán; vẫn còn tình trạng "xin - cho". Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân; kỷ cương, kỷ luật không nghiêm.”
Như thế thì đã “hết thuốc chữa” chưa hay cần phải có thêm nhiều thuốc “diệt trừ sâu bọ” nữa để đảng tan luôn rồi lập ra một đảng mới và một nhà nước có dân chủ pháp trị thì may ra mới diệt được tham nhũng?
Nếu không thì chỉ có người dân phải chịu khổ thêm vì có ai biết đã có bao nhiêu cấp lãnh đạo đã kê khai tài sản theo Nghị định 37 ngày 09 tháng 03 năm 2007 về “minh bạch tài sản, thu nhập”, hay nghiêm chỉnh thi hành “19 Điều cấm đảng viên không được làm” do Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng ban hành ngày 01/11/2011, thay thế cho Quyết định 115 ngày 07/12/2007 của Bộ Chính trị?
Những chuyện “nhạy cảm” này mà đảng không minh bạch, không thành thật với dân theo tinh thần “nhà nước ta là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân” thì làm sao dân tin đảng không còn cho họ “ăn bánh vẽ” nữa?
Phạm Trần
Đi Nhờ & Đi Ké
Tác giả : Tưởng Năng Tiến
Vào khoảng thời điểm này, hơn bốn thập niên về trước, một công dân Việt Nam đã đi (quá giang) vào vũ trụ. Nhiều năm sau, khi có dịp nhắc lại chuyến bay lịch sử này, phi hành gia Phạm Tuân vẫn còn thấy bồi hồi:
“Đó là ngày vĩ đại nhất trong cuộc đời tôi…Tôi mang theo quốc kỳ, quốc huy, chân dung của bác Hồ, bản tuyên ngôn độc lập do bác viết, di chúc bác để lại, cùng với một túi đất của quảng truờng Ba Ðình (nơi xây lăng của Hồ Chí Minh) và nhiều phù hiệu nữa...” – theo như tường thuật của BBC (Vietnam Marks Anniversary Of Giant Leap - BBC News) nghe được vào hôm 24 tháng 7 năm 2000.
Phóng viên Nguyễn Dũng Sĩ (báo Tuổi Trẻ Online , số ra ngày 17 tháng 1 năm 2004) còn long trọng cho biết thêm rằng ngoài chân dung bác Hồ, Phạm Tuân còn na theo “một tấm ảnh của Tổng Bí Thư Lê Duẩn” nữa.
Thiệt là quá đã và ... quá tải!
Ngày lên đường của Phạm Tuân, tất nhiên, được tổ chứ vô cùng long trọng. Tuy thế, vẫn chưa long trọng bằng ngày ông trở lại – theo như ghi nhận của báo Công An Nhân Dân, số ra ngày 4 tháng 2 năm 2011:
“Giây phút trở về với mặt đất cũng là những giây phút hạnh phúc thiêng liêng. Ông và Gorbatco trở về trong vòng tay chào đón trìu mến của nhân dân Liên Xô. Tổng Bí thư BCH TW Đảng Cộng sản Liên Xô Brêgiơnhép đã gắn lên ngực ông Ngôi Sao Đỏ và danh hiệu Anh hùng Liên Xô và Huân chương Lênin.
Ngày ông trở về Việt Nam, người dân đứng suốt dọc con đường từ sân bay Gia Lâm về Hà Nội với những bức ảnh chân dung Phạm Tuân, cờ hoa, biểu ngữ chào đón. Lúc đó ông thấy một cảm xúc xúc động đến nghẹt thở cứ dâng tràn trong lòng.”
Dù không có mặt ở Hà Nội – vào “những giây phút hạnh phúc thiêng liêng” quá xá như vậy – và dù đang sống dấm dúi ở một đầu đường hay xó chợ (nào đó) ở tận miền Nam xa xôi, nhà thơ Bùi Giáng cũng vẫn bị cảm xúc (theo) và đã bật lên hai câu thơ bất hủ:
Hoan hô đồng chí Phạm Tuân
Khi không anh bỗng nhẩy tưng lên trời!
Hai thập niên sau, sau khi thi sĩ Bùi Giáng qua đời – bên này bờ đại dương – mới xuất hiện một người đồng điệu: tiến sĩ Gerard De Groot, tác giả của cuốn Dark Side of the Moon: The Magnificent Madness of the American Lunar Quest, xuất bản năm 2006. Theo ông: “Cho dù với tất cả sôi nổi, bi kịch và thảm kịch, chúng ta vẫn chưa tiếp cận được câu trả lời là làm gì trong không gian” – Despite all the excitement, drama and tragedy, were no nearer an answer about what to do in space. (“The Shuttle: a journey through space and time that took us nowhere.” The Telegraph, 23 July 2011).
Chuyến bay cuối cùng của phi thuyền con thoi Atlantis hạ cánh vào sáng ngày 20 tháng 7 năm 2011. Từ đây, nhân loại (chắc) thôi nhẩy tưng lên trời. Dân Việt, vì thế, cũng sẽ không còn cơ hội nhẩy theo. Báo Người Đưa Tin, đọc được vào hôm 4 tháng năm 2011, cho biết: bác Phạm Tuân nay đã “thanh thản làm một lão nông.” Chuyến đi (nhờ) của ông không còn là một đề tài ăn khách để báo chí Việt Nam có thể làm ... rùm beng nữa.
Cư dân mạng hiện nay đang xôn xao về một chuyến đi (ké) khác, vào ngày 11 tháng 5 vừa qua, của một công dân Việt Nam khác: bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, bút danh là Mẹ Nấm. Chúng tôi xin đăng lại nguyên văn bài viết (Tôi Đi Biểu Tình Ở Phillipines) sau đây:
“Khó mà so sánh cảm giác khi đứng giữa đoàn biểu tình phản đối hành vi xâm lược của Trung Quốc ở trung tâm tài chính Makati, thủ đô Manila, Philippines, và cảm giác của những ngày hè rực lửa năm ngoái ở bờ hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Nhìn các bạn xung quanh hét vang trời China Back Off - Back Off thật mạnh mẽ và khí thế, tôi nhớ tiếng hô giữa lòng Hà Nội vào đầu tháng 8 năm ngoái, Phản đối Trung Quốc xâm lược - Phản đối, phản đối. Tự nhiên thấy mũi cay cay, nước mắt cứ chực trào ra.”
“Có thể không ai hiểu được cảm giác đó của tôi, cũng như anh bạn người Đức đi bên cạnh an ủi: Đừng khóc, phải đứng thẳng để hô thay cho các bạn Việt Nam khác chứ!Bạn tôi biết, hôm nay tôi đi biểu tình thay cho rất nhiều người bạn ở nhà.”
“Trước khi đi anh bạn tôi có nói: Rồi em sẽ thấy, biểu tình ở xứ tự do nó khác xa với lần em đã tham gia ở nhà. Ở đây, bày tỏ chính kiến và thái độ đối với quốc gia là điều vui vẻ nhất.”
“Và quả đúng như vậy, người Phi hô khẩu hiệu mạnh mẽ, dứt khoát, và họ cũng hát hò, nhảy múa để bày tỏ lòng yêu chuộng hòa bình của mình.Biểu tình không phải là hành vi quá khích, biểu tình là quyền bày tỏ thái độ của con người. Tại sao chính phủ Việt Nam lại cấm công dân mình yêu nước? - Florenz đã hỏi với tôi khi nghe tôi bảo rằng, tôi có mặt ở đây vì những người ngư dân Lý Sơn mà tôi đã gặp, vì những người bạn tôi đã bị bắt giam, và vì chính bản thân tôi đã bị giữ trái phép ở đồn công an hơn một ngày khi tôi tuyên bố Với trách nhiệm của một công dân, tôi sẽ đi biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược vào ngày 5/06/2011 tại Sài Gòn.”
“Người Phi không biểu tình vì muốn làm gia tăng căng thẳng trong mối quan hệ ngoại giao.Họ biểu tình vì tình yêu với đất nước mình, và để chứng minh cho Trung Quốc thấy, họ yêu hòa bình và đòi hỏi công bằng bằng luật pháp quốc tế.Họ đã cười khi Trung Quốc đưa ra các cảnh báo với công dân của mình không nên đi một mình ở Manila vào trưa hôm nay ngày 11/05/2012. Lãnh sự quán vắng lặng, không có cảnh các nhân viên an ninh thường phục lom lom chỉa máy quay phim chụp hình vào đám đông biểu tình, không có hàng rào và các biển cấm chụp hình. Lực lượng cảnh sát đứng đằng sau và trước đoàn biểu tình từ nhiều phía để làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự giao thông.”
“Một anh cảnh sát dẫn tôi băng qua đường để đi vào đám đông khi anh bạn tôi đẩy tôi ra phía trước: Quỳnh, em phải đi vào chỗ kia kìa. Chụp hình nhiêu đó đủ rồi, em cần đứng trong biển người đó, mới cảm nhận được hết cảm giác của hôm nay.Và quả thật, tôi thấy mình sắp khóc mấy lần khi đứng giữa đoàn biểu tình ở Philippines mà mơ về Việt Nam.”
“Đứng giữa Manila tôi biết rằng mình có mặt hôm nay ở đây để thấy rằng từ trước đến giờ tôi chỉ hiểu thế nào là tự do nhưng không thật sự cảm được tự do. Tôi nghiệm ra rằng: lòng tự hào dân tộc là thứ mà dân tộc tôi không thiếu, nhưng tự do để bày tỏ nó công khai thì lại vô cùng thiếu thốn. Nhìn những người bạn Phi, tôi đau đớn nhận ra rằng lòng tự hào dân tộc của đồng bào tôi đã và đang bị giam cầm. Và chính vì như thế nó không còn vẹn nguyên, nó chỉ còn là một niềm tự hào dân tộc bị tật nguyền.”
Bài viết (đọc) đã buồn, xem qua mấy dòng phản hồi lại (càng) cảm thấy buồn hơn nữa:
- phuongha65 wrote on May 10:Philipin là một nước dân chủ , không thể so sánh với Việt Nam.
- susumisa wrote on May 11:hạnh phúc thay người dân nước Phi.
- giahien wrote on May 12:được một lần thấy được ánh sáng, mình mới thật sự cãm nhận bóng tối bao trùm quanh năm nó ghê gớm như thế nào…
Thật chả bù cho cái cảm giác tự hào sau chuyến đi (nhờ) vào vụ trụ, hồi mấy chục năm về trước, theo như ghi nhận của dân gian:
“Sau chuyến bay, Phạm Tuân được nghỉ phép. Về đến Hà Nội nhà nước cấp cho ông ta một cái ô tô con đi thăm quê. Giữa đuờng, chả may xe bị hỏng nên ông vẫy một anh nông dân đang đi xe đạp để xin đi quá giang:
- Này đằng ấy cho mình đi nhờ một quãng được không?
- Không, đèo thêm nguời hại ruột và lốp xe lắm.
- Tớ là Phạm Tuân, nguời vừa từ không gian về đây mà.
- Phạm Tuân cũng mặc. Vỏ và lốp xe nhà nước cung cấp theo tiêu chuẩn, làm gì có tiêu chuẩn đi nhờ.
- Hứ, phi thuyền Liên Xô tao còn đi nhờ được, qúi báu gì cái xe đạp quốc doanh cà khổ của mày mà cũng làm phách.”
Ở một xứ sở mà “đến cái bù lon và cây kim còn phải nhập cảng” thì có cơ hội đi (nhờ) phi thuyền – tất nhiên – là điều rất đáng lấy làm hãnh diện. Nếu có thái độ “hơn hớn tự đắc” đi chăng nữa, theo như cách dùng chữ của ông Hà Sĩ Phu, cũng chả có gì là lố bịch.
Còn sống trong một đất nước Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc mà phải đi biểu tình (ké) ở một quốc gia láng giềng thì lại là chuyện khác. Chuyện này (chắc) phải nói cho tới Tết, hoặc – không chừng – tới chết luôn.
Tưởng Năng Tiến
Tác giả : Tưởng Năng Tiến
Vào khoảng thời điểm này, hơn bốn thập niên về trước, một công dân Việt Nam đã đi (quá giang) vào vũ trụ. Nhiều năm sau, khi có dịp nhắc lại chuyến bay lịch sử này, phi hành gia Phạm Tuân vẫn còn thấy bồi hồi:
“Đó là ngày vĩ đại nhất trong cuộc đời tôi…Tôi mang theo quốc kỳ, quốc huy, chân dung của bác Hồ, bản tuyên ngôn độc lập do bác viết, di chúc bác để lại, cùng với một túi đất của quảng truờng Ba Ðình (nơi xây lăng của Hồ Chí Minh) và nhiều phù hiệu nữa...” – theo như tường thuật của BBC (Vietnam Marks Anniversary Of Giant Leap - BBC News) nghe được vào hôm 24 tháng 7 năm 2000.
Phóng viên Nguyễn Dũng Sĩ (báo Tuổi Trẻ Online , số ra ngày 17 tháng 1 năm 2004) còn long trọng cho biết thêm rằng ngoài chân dung bác Hồ, Phạm Tuân còn na theo “một tấm ảnh của Tổng Bí Thư Lê Duẩn” nữa.
Thiệt là quá đã và ... quá tải!
Ngày lên đường của Phạm Tuân, tất nhiên, được tổ chứ vô cùng long trọng. Tuy thế, vẫn chưa long trọng bằng ngày ông trở lại – theo như ghi nhận của báo Công An Nhân Dân, số ra ngày 4 tháng 2 năm 2011:
“Giây phút trở về với mặt đất cũng là những giây phút hạnh phúc thiêng liêng. Ông và Gorbatco trở về trong vòng tay chào đón trìu mến của nhân dân Liên Xô. Tổng Bí thư BCH TW Đảng Cộng sản Liên Xô Brêgiơnhép đã gắn lên ngực ông Ngôi Sao Đỏ và danh hiệu Anh hùng Liên Xô và Huân chương Lênin.
Ngày ông trở về Việt Nam, người dân đứng suốt dọc con đường từ sân bay Gia Lâm về Hà Nội với những bức ảnh chân dung Phạm Tuân, cờ hoa, biểu ngữ chào đón. Lúc đó ông thấy một cảm xúc xúc động đến nghẹt thở cứ dâng tràn trong lòng.”
Dù không có mặt ở Hà Nội – vào “những giây phút hạnh phúc thiêng liêng” quá xá như vậy – và dù đang sống dấm dúi ở một đầu đường hay xó chợ (nào đó) ở tận miền Nam xa xôi, nhà thơ Bùi Giáng cũng vẫn bị cảm xúc (theo) và đã bật lên hai câu thơ bất hủ:
Hoan hô đồng chí Phạm Tuân
Khi không anh bỗng nhẩy tưng lên trời!
Hai thập niên sau, sau khi thi sĩ Bùi Giáng qua đời – bên này bờ đại dương – mới xuất hiện một người đồng điệu: tiến sĩ Gerard De Groot, tác giả của cuốn Dark Side of the Moon: The Magnificent Madness of the American Lunar Quest, xuất bản năm 2006. Theo ông: “Cho dù với tất cả sôi nổi, bi kịch và thảm kịch, chúng ta vẫn chưa tiếp cận được câu trả lời là làm gì trong không gian” – Despite all the excitement, drama and tragedy, were no nearer an answer about what to do in space. (“The Shuttle: a journey through space and time that took us nowhere.” The Telegraph, 23 July 2011).
Chuyến bay cuối cùng của phi thuyền con thoi Atlantis hạ cánh vào sáng ngày 20 tháng 7 năm 2011. Từ đây, nhân loại (chắc) thôi nhẩy tưng lên trời. Dân Việt, vì thế, cũng sẽ không còn cơ hội nhẩy theo. Báo Người Đưa Tin, đọc được vào hôm 4 tháng năm 2011, cho biết: bác Phạm Tuân nay đã “thanh thản làm một lão nông.” Chuyến đi (nhờ) của ông không còn là một đề tài ăn khách để báo chí Việt Nam có thể làm ... rùm beng nữa.
Cư dân mạng hiện nay đang xôn xao về một chuyến đi (ké) khác, vào ngày 11 tháng 5 vừa qua, của một công dân Việt Nam khác: bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, bút danh là Mẹ Nấm. Chúng tôi xin đăng lại nguyên văn bài viết (Tôi Đi Biểu Tình Ở Phillipines) sau đây:
“Khó mà so sánh cảm giác khi đứng giữa đoàn biểu tình phản đối hành vi xâm lược của Trung Quốc ở trung tâm tài chính Makati, thủ đô Manila, Philippines, và cảm giác của những ngày hè rực lửa năm ngoái ở bờ hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Nhìn các bạn xung quanh hét vang trời China Back Off - Back Off thật mạnh mẽ và khí thế, tôi nhớ tiếng hô giữa lòng Hà Nội vào đầu tháng 8 năm ngoái, Phản đối Trung Quốc xâm lược - Phản đối, phản đối. Tự nhiên thấy mũi cay cay, nước mắt cứ chực trào ra.”
“Có thể không ai hiểu được cảm giác đó của tôi, cũng như anh bạn người Đức đi bên cạnh an ủi: Đừng khóc, phải đứng thẳng để hô thay cho các bạn Việt Nam khác chứ!Bạn tôi biết, hôm nay tôi đi biểu tình thay cho rất nhiều người bạn ở nhà.”
“Trước khi đi anh bạn tôi có nói: Rồi em sẽ thấy, biểu tình ở xứ tự do nó khác xa với lần em đã tham gia ở nhà. Ở đây, bày tỏ chính kiến và thái độ đối với quốc gia là điều vui vẻ nhất.”
“Và quả đúng như vậy, người Phi hô khẩu hiệu mạnh mẽ, dứt khoát, và họ cũng hát hò, nhảy múa để bày tỏ lòng yêu chuộng hòa bình của mình.Biểu tình không phải là hành vi quá khích, biểu tình là quyền bày tỏ thái độ của con người. Tại sao chính phủ Việt Nam lại cấm công dân mình yêu nước? - Florenz đã hỏi với tôi khi nghe tôi bảo rằng, tôi có mặt ở đây vì những người ngư dân Lý Sơn mà tôi đã gặp, vì những người bạn tôi đã bị bắt giam, và vì chính bản thân tôi đã bị giữ trái phép ở đồn công an hơn một ngày khi tôi tuyên bố Với trách nhiệm của một công dân, tôi sẽ đi biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược vào ngày 5/06/2011 tại Sài Gòn.”
“Người Phi không biểu tình vì muốn làm gia tăng căng thẳng trong mối quan hệ ngoại giao.Họ biểu tình vì tình yêu với đất nước mình, và để chứng minh cho Trung Quốc thấy, họ yêu hòa bình và đòi hỏi công bằng bằng luật pháp quốc tế.Họ đã cười khi Trung Quốc đưa ra các cảnh báo với công dân của mình không nên đi một mình ở Manila vào trưa hôm nay ngày 11/05/2012. Lãnh sự quán vắng lặng, không có cảnh các nhân viên an ninh thường phục lom lom chỉa máy quay phim chụp hình vào đám đông biểu tình, không có hàng rào và các biển cấm chụp hình. Lực lượng cảnh sát đứng đằng sau và trước đoàn biểu tình từ nhiều phía để làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự giao thông.”
“Một anh cảnh sát dẫn tôi băng qua đường để đi vào đám đông khi anh bạn tôi đẩy tôi ra phía trước: Quỳnh, em phải đi vào chỗ kia kìa. Chụp hình nhiêu đó đủ rồi, em cần đứng trong biển người đó, mới cảm nhận được hết cảm giác của hôm nay.Và quả thật, tôi thấy mình sắp khóc mấy lần khi đứng giữa đoàn biểu tình ở Philippines mà mơ về Việt Nam.”
“Đứng giữa Manila tôi biết rằng mình có mặt hôm nay ở đây để thấy rằng từ trước đến giờ tôi chỉ hiểu thế nào là tự do nhưng không thật sự cảm được tự do. Tôi nghiệm ra rằng: lòng tự hào dân tộc là thứ mà dân tộc tôi không thiếu, nhưng tự do để bày tỏ nó công khai thì lại vô cùng thiếu thốn. Nhìn những người bạn Phi, tôi đau đớn nhận ra rằng lòng tự hào dân tộc của đồng bào tôi đã và đang bị giam cầm. Và chính vì như thế nó không còn vẹn nguyên, nó chỉ còn là một niềm tự hào dân tộc bị tật nguyền.”
Bài viết (đọc) đã buồn, xem qua mấy dòng phản hồi lại (càng) cảm thấy buồn hơn nữa:
- phuongha65 wrote on May 10:Philipin là một nước dân chủ , không thể so sánh với Việt Nam.
- susumisa wrote on May 11:hạnh phúc thay người dân nước Phi.
- giahien wrote on May 12:được một lần thấy được ánh sáng, mình mới thật sự cãm nhận bóng tối bao trùm quanh năm nó ghê gớm như thế nào…
Thật chả bù cho cái cảm giác tự hào sau chuyến đi (nhờ) vào vụ trụ, hồi mấy chục năm về trước, theo như ghi nhận của dân gian:
“Sau chuyến bay, Phạm Tuân được nghỉ phép. Về đến Hà Nội nhà nước cấp cho ông ta một cái ô tô con đi thăm quê. Giữa đuờng, chả may xe bị hỏng nên ông vẫy một anh nông dân đang đi xe đạp để xin đi quá giang:
- Này đằng ấy cho mình đi nhờ một quãng được không?
- Không, đèo thêm nguời hại ruột và lốp xe lắm.
- Tớ là Phạm Tuân, nguời vừa từ không gian về đây mà.
- Phạm Tuân cũng mặc. Vỏ và lốp xe nhà nước cung cấp theo tiêu chuẩn, làm gì có tiêu chuẩn đi nhờ.
- Hứ, phi thuyền Liên Xô tao còn đi nhờ được, qúi báu gì cái xe đạp quốc doanh cà khổ của mày mà cũng làm phách.”
Ở một xứ sở mà “đến cái bù lon và cây kim còn phải nhập cảng” thì có cơ hội đi (nhờ) phi thuyền – tất nhiên – là điều rất đáng lấy làm hãnh diện. Nếu có thái độ “hơn hớn tự đắc” đi chăng nữa, theo như cách dùng chữ của ông Hà Sĩ Phu, cũng chả có gì là lố bịch.
Còn sống trong một đất nước Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc mà phải đi biểu tình (ké) ở một quốc gia láng giềng thì lại là chuyện khác. Chuyện này (chắc) phải nói cho tới Tết, hoặc – không chừng – tới chết luôn.
Tưởng Năng Tiến
Tham Nhũng Quá Lộ Liễu
Tác giả : Trần Khải Chỉ mới tuần trước, câu chuyện ở Vinalines còn được nói bằng các ngôn ngữ gượng nhẹ, như “cố ý làm sai trái” và khi công an tới thi hành lệnh bắt thì “ông Dũng không có mặt... Và tuần naỳ, báo chí mới sử dụng ngôn ngữ nặng hơn, cụ thể hơn, như các lãnh đạo Vinalines đã “tham nhũng,” và ông Dũng “đã bỏ trốn.”
Nghĩa là, nói thẳng về những chuyện mà tuần trước còn nói dè dặt, vì chưa rõ gió có đổi chiều nổi hay không. Vì ai mà biết các cuộc đấu đá nội bộ sẽ dẫn tới đâu.
Một lý do để báo trong nước dè dặt, vì như dường làm lộ tham nhũng Vinalines không phải chuyện tự nhiên, mà là, theo Carl Thayer phân tích trên BBC, rằng Vinalines bị tấn công là để làm suy yếu phe cánh ông Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng, tương tự như nữ đại biểu Đặng Hoàng Yến bị truy đánh và đòi bãi nhiệm ở quốc hội CSVN chỉ vì bà thuộc phe Trương Tấn Sang. Suy luận như thế có đúng hay không, cũng là chuyện bí mật nội bộ. Nhưng điều chúng ta biết chắc rằng Vinalines là chuyện có thật, cũng y hệt như quả đấm thép Vinashin đã bị chìm xuồng. Vì kinh doanh không phải chuyện tuyên truyền xã hội chủ nghĩa muốn nói gì thì nói, vì nói kinh doanh cũng có nghĩa là phải chi tiền ra, làm ăn không có lợi tức thì chỉ thấy mất tiền ra, chứ làm sao có thêm tiền vô. Trừ phi, Vinashin và Vinalines bí mật có máý in tiền thì mới không lộ tội tham nhũng được.
Trên báo Thanh Niên ngaỳ 23/5/2012, bản tin “Vụ tham nhũng lớn tại Vinalines: Bị can bỏ trốn sau khi nhận tội” ghi về hồ sơ công an điều tra, trích:
“Vào ngày 3.8.2006, Văn phòng Chính phủ có văn bản thông báo ý kiến của Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng “đồng ý về mặt nguyên tắc cho Vinalines lập báo cáo đầu tư dự án xây dựng Nhà máy sửa chữa tàu biển phía nam đúng các quy định hiện hành, giao Bộ GTVT cập nhật dự án vào quy hoạch điều chỉnh phát triển ngành công nghiệp tàu thủy, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định”. Tuy nhiên, khi chưa được Thủ tướng phê duyệt bổ sung dự án vào quy hoạch thì ngày 27.6.2007, ông Dương Chí Dũng (khi đó là Chủ tịch HĐQT Vinalines) đã ký quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư xây dựng nhà máy với tổng mức đầu tư 3.854 tỉ đồng. Hơn 1 năm sau đó ông Mai Văn Phúc, Tổng giám đốc Vinalines (thời kỳ đó) có văn bản trình và được ông Dũng ký quyết định phê duyệt chính thức nâng tổng mức đầu tư dự án lên thành 6.489 tỉ đồng.
Tháng 10.2007, các ông Trần Hữu Chiều, Phó tổng giám đốc, Trưởng ban Quản lý dự án và ông Dương Chí Dũng đã có các văn bản đề nghị, trình ký và phê duyệt việc mua ụ nổi No83M (thành phần không tách rời của dự án nhà máy sửa chữa tàu biển) với tổng mức đầu tư 14,136 triệu USD. Trong đó chi phí mua, sửa chữa tại Nga, cước vận chuyển là 12,5 triệu USD. Đến tháng 2.2008, ông Chiều lại có tờ trình đề nghị và cùng ngày ông Mai Văn Phúc ký văn bản trình để ông Dương Chí Dũng ký quyết định phê duyệt điều chỉnh thay đổi phương án mua dẫn đến chi phí thực tế cho việc mua, vận chuyển ụ nổi về VN cùng với việc sửa chữa bị đội lên thành 24,3 triệu USD.” (hết trích)
Như thế là lộ quá rồi, ngay từ 2007, Dương Chí Dũng tự động ký duyệt cho xây nhà máy với mức đầu tư 3.854 tỉ đồng, tức là 185 triệu đôla. Tự động ký, là lộ rồi. Sang 1 năm sau, chi phí này ký nâng lên là đầu tư thành 6.489 tỉ đồng, tức là 312 triệu đôla Mỹ. Như thế là lộ liễu hơn nữa: làm gì trong vòng 1 năm mà phải đội giá cao như thế? Lẽ ra là phải điều tra ngay từ 2007.
Tương tự, với ụ nổi, hồi tháng 10.2007 cho ký đầu tư 14,136 triệu đôla. Tới tháng 2.2008, tức là mới 4 tháng sau, tiền đầu tư này độị lên thàng 24,3 triệu đôla. Làm gì mà trong 4 tháng phải đội giá tới chục triệu đôla? Lộ liễu như thế mà ém luôn tới năm 2012 mới bị moi ra. Rõ ràng, là tham nhũng lộ liễu, phải có ô dù cấp cao... không thể nghĩ khác hơn được. Đó là chỉ mới nói tới 2 chuyện: nhà máy sửa chữa phía Nam và ụ nổi No83M, chứ kể hết hẳn là tham nhũng cả trăm triệu đôla, vì xài phí nhiều tỷ đôla mà ccá quan không cấu véo tới trăm triệu đô cũng là chuyện lạ.
Tuần này, báo chí không xài chữ “sai phạm” nữa, mà nói thẳng là “tham nhũng,” cũng là một bước tiến cho thấy vụ này phảỉ bể, tuy rằng ông Dương Chí Dũng biến mất có thể là được bao che để khỏi bị lộ ở cấp cao hơn. Vì không lẽ, ông Dương Chí Dũng nhiều lần đội giá cả chục triệu đô không lẽ ém xài riêng, không lẽ không chia cho các đàn anh?
Như thế, câu hỏi khéo léo là tham nhũng này liên kết với lợi ích nhóm nào? Đó là xài chữ cho có vẻ kinh tế, thay vì nói thẳng rằng đàn em Vinalines được bao che tham nhũng là phải cúng tiền cho đàn anh ở cấp lãnh đạọ cao hơn. Nói theo Carl Thayer, là làm cho sứt mẻ phe cánh Nguyễn Tấn Dũng.
Thông tấn VietnamNet hôm 24/5/2012 có bản tin nhan đề “Vinalines như chuyện đùa,” đã ghi lời ĐB Trương Trọng Nghĩa rằng đó là tham nhũng liên kết lợi ích nhóm.
Ông Đại biểu Trương Trọng Nghĩa nói, theo VietnamNet ghi:
“Từ vụ việc này cho thấy nổi lên vấn đề về công tác quản lý, thanh kiểm tra, giám sát khi một sự kiện nghiêm trọng như thế, đụng đến hàng tỷ đôla lại được đem ra sử dụng hời hợt mà không ai phát hiện ra; không ai ngăn chặn được. Khi thất thoát diễn ra mới phát hiện, thậm chí đối tượng cần bắt lại bỏ trốn. Nghiêm trọng hơn là một số người trong nhóm để xảy ra sai phạm đó lại được đề bạt bổ nhiệm quản lý nhà nước ở cấp cao hơn.
Vì sao chúng ta có đủ bộ máy ban, ngành các cấp mà không thể ngăn chặn được sự thất thoát tài sản, tham nhũng, vi phạm lớn đến thế? Trong vụ việc này, trách nhiệm thuộc về ai?
Quan sát nền kinh tế 10 năm qua có thể thấy đã phát sinh những nhân tố góp phần tạo ra những khó khăn hiện nay, nổi bật là tham nhũng và lợi ích nhóm.
Tham nhũng với lợi ích nhóm đang liên kết nhau. Đây là sự liên kết nguy hiểm vì đôi khi tham nhũng nấp ở dưới những lợi ích mà xem ra không sai trái gì cả. Ví dụ người ta có thể đề xuất phải có rất nhiều cảng, sân bay ở cả nước. Địa phương nào cũng muốn có cảng, có sân bay để phát triển. Nhưng những đề xuất ấy khi được thông qua lại động đến nguồn lực, tài sản và đầu tư không đến nơi đến chốn do những mục tiêu không rõ ràng, dẫn đến dàn trải, lãng phí, thất thoát. Chính sự tham nhũng, dàn trải, lãng phí là một trong những nguyên nhân tạo ra tình trạng lạm phát, chứ không chỉ có nguyên nhân khách quan của tình hình kinh tế.” (hết trích)
Lợi ích nhóm nào? Không có giảỉ thích cụ thể. Nhưng có phải là phe ông Nguyễn Tấn Dũng?
Báo Dân Trí hôm 24/5/2012 nêu trên nhan đề một bản tin, “Vinashin, Vinalines chứng tỏ tham nhũng nghiêm trọng hơn thời PMU18,” trong đó nêu lời nhiều đại biểu quốc hội CSVN.
Trong đó có ý kiến, rằng hiện tượng những Vinashin, Vinalines là dấu hiệu của tham nhũng, lãng phí với mức độ nghiêm trọng hơn so với vụ PMU18 trước đây.
Thực ra tham nhũng đã lộ quá rồi. Ngay cả việc ông Nguyễn Tấn Dũng chẻ nhỏ Vinashin để gọi là cứu quả đấm thép này, bằng cách đưa nhiều phần sáp nhập vào Tập đoàn Dầu khí (PVN) và Tổng công ty Hàng hải VN (Vinalines)... chỉ là để xóa những giấy tờ hồ sơ tham nhũng dễ bị lộ của Vinashin. Xóa vết tích lộ liễu tới như thế.
Nhưng thực tế nữa, doanh nghiệp nhà nước đa số là suy sụp. Báo TBKTSG trong bài phân tích “Trông chờ gì từ những con nợ này!” đã nói thẳng:
“Không chỉ có Vinashin và Vinalines mà hàng loạt tập đoàn, tổng công ty nhà nước đang bị thua lỗ nặng nề theo những số liệu từ các cơ quan chức năng...
...Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ, các khoản nợ khó có khả năng thu hồi của Vinalines lên đến 23.063 tỉ đồng. Tổng công ty đã mua 73 tàu biển từ nước ngoài tổng trị giá gần 23.000 tỉ đồng, trong đó 17 tàu đã qua sử dụng trên 15 năm, thậm chí trên 30 năm; và 34 tàu bị lỗ nặng, có tàu phải bán. Bên cạnh đó, rất nhiều dự án đầu tư của Vinalines có sai phạm, chẳng hạn dự án mua ụ nổi No83M đã qua sử dụng 43 năm, vượt 28 năm so với quy định. Tổng giá mua và chi phí sửa chữa của ụ nổi này lên tới gần 490 tỉ đồng, tương đương 70% giá đóng ụ nổi mới…” (hết trích)
Con số nợ khó đòi 23.063 tỉ đồng của Vinalines là tương đương 1,11 tỉ đôla Mỹ. Nghĩa là hơn 1 tỉ đôla Mỹ. Trong nợ khó đòi đó, có bao nhiêu phần trăm cúng cho các đàn anh đã bao che, nâng đỡ đàn em?
Lợi ích nhóm nào đây, nếu không phaỉ là lợi ích nhóm của các cấp cao trong Đảng CSVN...
Trần Khải
Tác giả : Trần Khải Chỉ mới tuần trước, câu chuyện ở Vinalines còn được nói bằng các ngôn ngữ gượng nhẹ, như “cố ý làm sai trái” và khi công an tới thi hành lệnh bắt thì “ông Dũng không có mặt... Và tuần naỳ, báo chí mới sử dụng ngôn ngữ nặng hơn, cụ thể hơn, như các lãnh đạo Vinalines đã “tham nhũng,” và ông Dũng “đã bỏ trốn.”
Nghĩa là, nói thẳng về những chuyện mà tuần trước còn nói dè dặt, vì chưa rõ gió có đổi chiều nổi hay không. Vì ai mà biết các cuộc đấu đá nội bộ sẽ dẫn tới đâu.
Một lý do để báo trong nước dè dặt, vì như dường làm lộ tham nhũng Vinalines không phải chuyện tự nhiên, mà là, theo Carl Thayer phân tích trên BBC, rằng Vinalines bị tấn công là để làm suy yếu phe cánh ông Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng, tương tự như nữ đại biểu Đặng Hoàng Yến bị truy đánh và đòi bãi nhiệm ở quốc hội CSVN chỉ vì bà thuộc phe Trương Tấn Sang. Suy luận như thế có đúng hay không, cũng là chuyện bí mật nội bộ. Nhưng điều chúng ta biết chắc rằng Vinalines là chuyện có thật, cũng y hệt như quả đấm thép Vinashin đã bị chìm xuồng. Vì kinh doanh không phải chuyện tuyên truyền xã hội chủ nghĩa muốn nói gì thì nói, vì nói kinh doanh cũng có nghĩa là phải chi tiền ra, làm ăn không có lợi tức thì chỉ thấy mất tiền ra, chứ làm sao có thêm tiền vô. Trừ phi, Vinashin và Vinalines bí mật có máý in tiền thì mới không lộ tội tham nhũng được.
Trên báo Thanh Niên ngaỳ 23/5/2012, bản tin “Vụ tham nhũng lớn tại Vinalines: Bị can bỏ trốn sau khi nhận tội” ghi về hồ sơ công an điều tra, trích:
“Vào ngày 3.8.2006, Văn phòng Chính phủ có văn bản thông báo ý kiến của Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng “đồng ý về mặt nguyên tắc cho Vinalines lập báo cáo đầu tư dự án xây dựng Nhà máy sửa chữa tàu biển phía nam đúng các quy định hiện hành, giao Bộ GTVT cập nhật dự án vào quy hoạch điều chỉnh phát triển ngành công nghiệp tàu thủy, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định”. Tuy nhiên, khi chưa được Thủ tướng phê duyệt bổ sung dự án vào quy hoạch thì ngày 27.6.2007, ông Dương Chí Dũng (khi đó là Chủ tịch HĐQT Vinalines) đã ký quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư xây dựng nhà máy với tổng mức đầu tư 3.854 tỉ đồng. Hơn 1 năm sau đó ông Mai Văn Phúc, Tổng giám đốc Vinalines (thời kỳ đó) có văn bản trình và được ông Dũng ký quyết định phê duyệt chính thức nâng tổng mức đầu tư dự án lên thành 6.489 tỉ đồng.
Tháng 10.2007, các ông Trần Hữu Chiều, Phó tổng giám đốc, Trưởng ban Quản lý dự án và ông Dương Chí Dũng đã có các văn bản đề nghị, trình ký và phê duyệt việc mua ụ nổi No83M (thành phần không tách rời của dự án nhà máy sửa chữa tàu biển) với tổng mức đầu tư 14,136 triệu USD. Trong đó chi phí mua, sửa chữa tại Nga, cước vận chuyển là 12,5 triệu USD. Đến tháng 2.2008, ông Chiều lại có tờ trình đề nghị và cùng ngày ông Mai Văn Phúc ký văn bản trình để ông Dương Chí Dũng ký quyết định phê duyệt điều chỉnh thay đổi phương án mua dẫn đến chi phí thực tế cho việc mua, vận chuyển ụ nổi về VN cùng với việc sửa chữa bị đội lên thành 24,3 triệu USD.” (hết trích)
Như thế là lộ quá rồi, ngay từ 2007, Dương Chí Dũng tự động ký duyệt cho xây nhà máy với mức đầu tư 3.854 tỉ đồng, tức là 185 triệu đôla. Tự động ký, là lộ rồi. Sang 1 năm sau, chi phí này ký nâng lên là đầu tư thành 6.489 tỉ đồng, tức là 312 triệu đôla Mỹ. Như thế là lộ liễu hơn nữa: làm gì trong vòng 1 năm mà phải đội giá cao như thế? Lẽ ra là phải điều tra ngay từ 2007.
Tương tự, với ụ nổi, hồi tháng 10.2007 cho ký đầu tư 14,136 triệu đôla. Tới tháng 2.2008, tức là mới 4 tháng sau, tiền đầu tư này độị lên thàng 24,3 triệu đôla. Làm gì mà trong 4 tháng phải đội giá tới chục triệu đôla? Lộ liễu như thế mà ém luôn tới năm 2012 mới bị moi ra. Rõ ràng, là tham nhũng lộ liễu, phải có ô dù cấp cao... không thể nghĩ khác hơn được. Đó là chỉ mới nói tới 2 chuyện: nhà máy sửa chữa phía Nam và ụ nổi No83M, chứ kể hết hẳn là tham nhũng cả trăm triệu đôla, vì xài phí nhiều tỷ đôla mà ccá quan không cấu véo tới trăm triệu đô cũng là chuyện lạ.
Tuần này, báo chí không xài chữ “sai phạm” nữa, mà nói thẳng là “tham nhũng,” cũng là một bước tiến cho thấy vụ này phảỉ bể, tuy rằng ông Dương Chí Dũng biến mất có thể là được bao che để khỏi bị lộ ở cấp cao hơn. Vì không lẽ, ông Dương Chí Dũng nhiều lần đội giá cả chục triệu đô không lẽ ém xài riêng, không lẽ không chia cho các đàn anh?
Như thế, câu hỏi khéo léo là tham nhũng này liên kết với lợi ích nhóm nào? Đó là xài chữ cho có vẻ kinh tế, thay vì nói thẳng rằng đàn em Vinalines được bao che tham nhũng là phải cúng tiền cho đàn anh ở cấp lãnh đạọ cao hơn. Nói theo Carl Thayer, là làm cho sứt mẻ phe cánh Nguyễn Tấn Dũng.
Thông tấn VietnamNet hôm 24/5/2012 có bản tin nhan đề “Vinalines như chuyện đùa,” đã ghi lời ĐB Trương Trọng Nghĩa rằng đó là tham nhũng liên kết lợi ích nhóm.
Ông Đại biểu Trương Trọng Nghĩa nói, theo VietnamNet ghi:
“Từ vụ việc này cho thấy nổi lên vấn đề về công tác quản lý, thanh kiểm tra, giám sát khi một sự kiện nghiêm trọng như thế, đụng đến hàng tỷ đôla lại được đem ra sử dụng hời hợt mà không ai phát hiện ra; không ai ngăn chặn được. Khi thất thoát diễn ra mới phát hiện, thậm chí đối tượng cần bắt lại bỏ trốn. Nghiêm trọng hơn là một số người trong nhóm để xảy ra sai phạm đó lại được đề bạt bổ nhiệm quản lý nhà nước ở cấp cao hơn.
Vì sao chúng ta có đủ bộ máy ban, ngành các cấp mà không thể ngăn chặn được sự thất thoát tài sản, tham nhũng, vi phạm lớn đến thế? Trong vụ việc này, trách nhiệm thuộc về ai?
Quan sát nền kinh tế 10 năm qua có thể thấy đã phát sinh những nhân tố góp phần tạo ra những khó khăn hiện nay, nổi bật là tham nhũng và lợi ích nhóm.
Tham nhũng với lợi ích nhóm đang liên kết nhau. Đây là sự liên kết nguy hiểm vì đôi khi tham nhũng nấp ở dưới những lợi ích mà xem ra không sai trái gì cả. Ví dụ người ta có thể đề xuất phải có rất nhiều cảng, sân bay ở cả nước. Địa phương nào cũng muốn có cảng, có sân bay để phát triển. Nhưng những đề xuất ấy khi được thông qua lại động đến nguồn lực, tài sản và đầu tư không đến nơi đến chốn do những mục tiêu không rõ ràng, dẫn đến dàn trải, lãng phí, thất thoát. Chính sự tham nhũng, dàn trải, lãng phí là một trong những nguyên nhân tạo ra tình trạng lạm phát, chứ không chỉ có nguyên nhân khách quan của tình hình kinh tế.” (hết trích)
Lợi ích nhóm nào? Không có giảỉ thích cụ thể. Nhưng có phải là phe ông Nguyễn Tấn Dũng?
Báo Dân Trí hôm 24/5/2012 nêu trên nhan đề một bản tin, “Vinashin, Vinalines chứng tỏ tham nhũng nghiêm trọng hơn thời PMU18,” trong đó nêu lời nhiều đại biểu quốc hội CSVN.
Trong đó có ý kiến, rằng hiện tượng những Vinashin, Vinalines là dấu hiệu của tham nhũng, lãng phí với mức độ nghiêm trọng hơn so với vụ PMU18 trước đây.
Thực ra tham nhũng đã lộ quá rồi. Ngay cả việc ông Nguyễn Tấn Dũng chẻ nhỏ Vinashin để gọi là cứu quả đấm thép này, bằng cách đưa nhiều phần sáp nhập vào Tập đoàn Dầu khí (PVN) và Tổng công ty Hàng hải VN (Vinalines)... chỉ là để xóa những giấy tờ hồ sơ tham nhũng dễ bị lộ của Vinashin. Xóa vết tích lộ liễu tới như thế.
Nhưng thực tế nữa, doanh nghiệp nhà nước đa số là suy sụp. Báo TBKTSG trong bài phân tích “Trông chờ gì từ những con nợ này!” đã nói thẳng:
“Không chỉ có Vinashin và Vinalines mà hàng loạt tập đoàn, tổng công ty nhà nước đang bị thua lỗ nặng nề theo những số liệu từ các cơ quan chức năng...
...Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ, các khoản nợ khó có khả năng thu hồi của Vinalines lên đến 23.063 tỉ đồng. Tổng công ty đã mua 73 tàu biển từ nước ngoài tổng trị giá gần 23.000 tỉ đồng, trong đó 17 tàu đã qua sử dụng trên 15 năm, thậm chí trên 30 năm; và 34 tàu bị lỗ nặng, có tàu phải bán. Bên cạnh đó, rất nhiều dự án đầu tư của Vinalines có sai phạm, chẳng hạn dự án mua ụ nổi No83M đã qua sử dụng 43 năm, vượt 28 năm so với quy định. Tổng giá mua và chi phí sửa chữa của ụ nổi này lên tới gần 490 tỉ đồng, tương đương 70% giá đóng ụ nổi mới…” (hết trích)
Con số nợ khó đòi 23.063 tỉ đồng của Vinalines là tương đương 1,11 tỉ đôla Mỹ. Nghĩa là hơn 1 tỉ đôla Mỹ. Trong nợ khó đòi đó, có bao nhiêu phần trăm cúng cho các đàn anh đã bao che, nâng đỡ đàn em?
Lợi ích nhóm nào đây, nếu không phaỉ là lợi ích nhóm của các cấp cao trong Đảng CSVN...
Trần Khải

