Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
François Hollande: Tổng thống bình thường?
Bùi Tín (Blog VOA)
Thế là ông François Hollande, 58 tuổi, cựu luật sư, cựu giáo sư kinh tế, từng là tổng bí thư đảng xã hội Pháp PS, đã trúng cử tổng thống Pháp, thắng cựu Tổng Thống Nicolas Sarkozy sát nút, với tỷ lệ 51.8/48.2, qua vòng 2 cuộc tổng tuyển cử diễn ra ngày Chủ Nhật, 6 tháng 5 vừa qua.
Ông F. Hollande là tổng thống Pháp thứ 24, là tổng thống thứ 7 của nền Cộng Hòa thứ V, chính thức nhậm chức ngày 15 tháng 5.
Ðây là lần thứ 2 đảng Xã Hội PS thuộc cánh tả ở Pháp được bầu làm tổng thống ở Pháp. Lần thứ nhất là vào tháng 5 năm 1981, khi ông François Hollande Mitterrand trúng cử sau khi thắng ông Jacques Chirac khi đó là thị trưởng Paris. Ông F. Mitterrand làm tổng thống liền 2 khóa 14 năm cho đến năm 1995, do ông J. Chirac thay thế.
Báo chí Pháp suốt mấy ngày nay đua nhau ra những bài báo nhận định về tổng thống mới của nước Pháp, so sánh với những tổng thống tiền nhiệm.
Phần lớn đều nhận định quốc trưởng mới của nước Pháp nhận chức giữa cơn khủng hoảng về kinh tế tài chính toàn cầu, toàn Châu Âu chưa có chiều hướng lắng dịu, với nền sản xuất đình trệ, nợ quốc gia mức kỷ lục, nạn thất nghiệp hơn 10 % số lao động, dân tình lo lắng hoang mang.
Có những vấn đề cực kỳ cấp bách, về nội trị là cử thủ tướng và hơn 30 bộ trưởng mới ngay sau ngày được tấn phong 15 tháng 5-2012, về đối ngoại là ngay trong ngày nhận chức, trưa 15-5, tổng thống mới sẽ bay ngay sang Berlin để hội đàm với bà Thủ Tướng Ðức Merkel về hiệp định chung của EU - Liên minh Châu Âu.
Tổng thống Pháp muốn thương lượng lại hiệp định hiện hành, không chỉ tập trung vào việc tiết kiệm, cắt giảm chi tiêu trong ngân sách, giảm nợ quốc gia, mà còn tập trung thêm vào các biện pháp nhằm khôi phục sản xuất, tăng năng suất, thúc đẩy cạnh tranh, tạo công ăn việc làm trong tất cả các nước trong Liên Âu, điều mà tổng thống cũ đã bỏ qua.
Mối quan hệ Pháp-Ðức luôn là nòng cốt của EU.
Trong cuộc tranh cử, ông F. Hollande nhiều lần hứa hẹn sẽ là một tổng thống “bình thường,” theo nghĩa là một tổng thống bình dân, sống giản dị, gần dân, gần các khu lạo động, luôn tìm hiểu cuộc sống của người dân bình thường, các nhà kinh doanh vừa và nhỏ.
Ông hứa hẹn là một quyết định đầu tiên sau khi nhận chức là về giảm tiền lương của tổng thống, thủ tướng, các bộ trưởng, viên chức cao cấp xuống 30%; - báo Libération cho biết lương tổng thống là chừng 20,000 Euros/tháng. Ông cũng hứa hẹn sẽ giảm đáng kể các chi phí lễ tân hình thức, phô trương và tốn kém.
Ông Hollande cũng dự định những cuộc đi các địa phương bằng xe lửa thường hoặc TGV - xe lửa tốc độ cao, không tiền hô hậu ủng ồn ào, tốn kém, hình thức.
Chiếc xe chính thức tổng thống mới sẽ dùng từ ngày tấn phong 15 tháng 5, 2012 là một chiếc Citroen nhỏ DS5-Hybrid, chạy vừa bằng xăng và điện, tiêu thụ chỉ 5 lít xăng/100 km, không ô nhiễm, không phải chiếc Renault Satis đặc biệt, bọc sắt, bề thế đắt tiền, do tổng thống cũ dùng.
Nhiều nhà bình luận cho rằng những hứa hẹn trên đây của tổng thống mới không phải là những ý kiến mị dân, lập dị, để kiếm phiếu, mà là những đề nghị chân thực, cần thiết giữa cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính nặng nề hiện tại. Họ cho rằng trong ông F. Hollande khái niệm tổng thống “bình thường” rất đáng mến, vì chứng tỏ về tư chất con người ông không bình thường, theo nghĩa không tầm thường chút nào.
Nhiều báo phát hiện và chỉ ra những tư chất không bình thường ấy. Báo Le Point chỉ ra F. Hollande là một trí thức đúng nghĩa, đa năng, có kiến thức sâu về nhiều mặt, rất ham học và học giỏi ; ông có bằng cao học về Luật, từng hành nghề luật sư, lại tốt nghiệp trường HEC - Hautes Études Commercialles - Cao đẳng Thương Mại là một trường có uy tín lớn, từng dạy về kinh tế cho sinh viên, rồi còn tốt nghiệp thêm Viện Khoa học Chính trị - Institut Sciences Politiques cũng là một trường lớn. Vẫn chưa hết, ông còn tốt nghiệp trường Quốc gia Hành chánh ENA với hạng ưu, cũng là trường lớn nữa của nước Pháp.
Tối 2 tháng 5, 2012, trong cuộc tranh luận tay đôi giữa 2 ứng viên tổng thống vào chung kết - một sự kiện quyết định 3 ngày trước cuộc bỏ phiếu cuối cùng, ông đã gây bất ngờ lớn, làm ngỡ ngàng phe đối thủ. Trong cuộc đấu khẩu dài 150 phút, ông đã điềm tĩnh tiến công từ lúc mở đầu cũng như khi kết thúc.
Trước đó ông N. Sarkozy đinh ninh đối thủ của mình ăn nói không trôi chảy, e ngại và lẩn tránh cuộc tranh luận tay đôi. Cố vấn của ông Sarkozy còn cao ngạo đe ông F. Hollande rằng trong cuộc tranh luận cuối ông sẽ bị đối thủ “atomiser” - nghĩa là nghiền ra như cám, như các nguyên tử, cho mà xem. Rất nhiều người lo cho ông, khi thấy ông hiền lành, kín đáo. Thế nhưng khi vào cuộc, 20 triệu khán giả truyền hình bỗng thấy một Hollande sắc sảo, lập luận chặt chẽ, đối đáp nhanh nhạy, chủ động tiến công, chất vấn, dồn ông N. Sarkozy vốn tự tin hung hăng vào cảnh lúng túng, thế thủ.
Tất cả các báo đều nhắc đến đoạn cuối, trong 2 phút cuối cùng, ông đưa ra một điệp khúc 18 lần nhắc đi nhắc lại câu: “Tôi là tổng thống, tôi sẽ...” gây ấn tượng rất mạnh.
Chỉ xin kể ra vài câu, “Tôi là tổng thống, tôi sẽ là tổng thống của sự công bằng xã hội, đề cao pháp luật nghiêm minh. Tôi là tổng thống, tôi sẽ là tổng thống của toàn dân, không phải của một đảng, một phe. Tôi là tổng thống, tôi sẽ không đến khách sạn Bristol để quyên tiền riêng cho đảng mình. Tôi là tổng thống, tôi sẽ không ẩn mình sau điều khoản bất khả xâm phạm mà chịu sự giám sát của luật pháp như mọi công dân. Tôi là tổng thống, tôi sẽ không triệu tập các dân biểu là đảng viên của tôi đến điện Élysées vì luôn tôn trọng ngành lập pháp.Tôi là tổng thống, tôi sẽ không chỉ định các chánh án, mà nhường quyền đó cho Quốc hội. Tôi là tổng thống, tôi sẽ quan tâm đặc biệt đến thanh niên, tương lai đất nước.”
Ngay sáng hôm sau, ngày 3 tháng 5, báo Libération chạy tít lớn trên trang nhất: “F. Hollande préside le débat” - “Hollande chủ tọa cuộc tranh luận,” một cách chơi chữ rất đắt, vì préside có nghĩa là chủ tọa, và Président có nghĩa là Tổng thống.
Cũng có báo so sánh 2 ứng viên vào chung kết về tính cách, nhân cách, lối sống. Báo l'Express nhận định ông N. Sarkozy là một “tổng thống bling bling,” một tiếng lóng theo tiếng kêu của các vòng trang sức đeo ở cổ, để chỉ một con người ưa ăn chơi kiểu công tử, từng 2 lần khoe các nhà báo chiếc đồng hồ đeo tay giá 40,000 Euro. Ông còn hay kiễng chân cho cao, luôn cảm thấy tự ty là người thấp, còn dặn chớ để người cao lớn đến gần quanh ông.
Còn ông F. Hollande? Báo chí Pháp phát hiện ông là một con người rất hóm hỉnh, có cả một kho tiếu lâm dân dã, rất thâm trầm, đặc sắc. Từ khi là giáo sư về kinh tế ở Sciences-Po, ông đã làm cho không ít nam nữ sinh viên mê về những bài giảng hấp dẫn, với những thí dụ rất đời thường và những truyện ngụ ngôn và tiếu lâm rất ấn tượng.
Khi vào cuộc đấu khẩu tay đôi, ông bắt tay một thanh niên, anh này nói đùa vui: “Ủa! người ta bảo ông mềm yếu, sao bàn tay ông cứng vậy?” Ông cười vui: “Vâng, bàn tay tôi cứng, cả đầu óc cũng cứng, chưa nói đến các bộ phận khác.” Câu nói lọt vào máy ghi âm.
Một tổng thống rất trí thức, lại hay đùa, mê thể thao, ưa văn nghệ, hóm hỉnh, có một kho chuyện tiếu lâm, phải là một con người yêu đời, yêu người, tự tin, lạc quan.
Và có văn hóa. Không bling bling. Một dấu hiệu tốt lành cho nước Pháp.
Bùi Tín (Blog VOA)
Thế là ông François Hollande, 58 tuổi, cựu luật sư, cựu giáo sư kinh tế, từng là tổng bí thư đảng xã hội Pháp PS, đã trúng cử tổng thống Pháp, thắng cựu Tổng Thống Nicolas Sarkozy sát nút, với tỷ lệ 51.8/48.2, qua vòng 2 cuộc tổng tuyển cử diễn ra ngày Chủ Nhật, 6 tháng 5 vừa qua.
Ông F. Hollande là tổng thống Pháp thứ 24, là tổng thống thứ 7 của nền Cộng Hòa thứ V, chính thức nhậm chức ngày 15 tháng 5.
Ðây là lần thứ 2 đảng Xã Hội PS thuộc cánh tả ở Pháp được bầu làm tổng thống ở Pháp. Lần thứ nhất là vào tháng 5 năm 1981, khi ông François Hollande Mitterrand trúng cử sau khi thắng ông Jacques Chirac khi đó là thị trưởng Paris. Ông F. Mitterrand làm tổng thống liền 2 khóa 14 năm cho đến năm 1995, do ông J. Chirac thay thế.
Báo chí Pháp suốt mấy ngày nay đua nhau ra những bài báo nhận định về tổng thống mới của nước Pháp, so sánh với những tổng thống tiền nhiệm.
Phần lớn đều nhận định quốc trưởng mới của nước Pháp nhận chức giữa cơn khủng hoảng về kinh tế tài chính toàn cầu, toàn Châu Âu chưa có chiều hướng lắng dịu, với nền sản xuất đình trệ, nợ quốc gia mức kỷ lục, nạn thất nghiệp hơn 10 % số lao động, dân tình lo lắng hoang mang.
Có những vấn đề cực kỳ cấp bách, về nội trị là cử thủ tướng và hơn 30 bộ trưởng mới ngay sau ngày được tấn phong 15 tháng 5-2012, về đối ngoại là ngay trong ngày nhận chức, trưa 15-5, tổng thống mới sẽ bay ngay sang Berlin để hội đàm với bà Thủ Tướng Ðức Merkel về hiệp định chung của EU - Liên minh Châu Âu.
Tổng thống Pháp muốn thương lượng lại hiệp định hiện hành, không chỉ tập trung vào việc tiết kiệm, cắt giảm chi tiêu trong ngân sách, giảm nợ quốc gia, mà còn tập trung thêm vào các biện pháp nhằm khôi phục sản xuất, tăng năng suất, thúc đẩy cạnh tranh, tạo công ăn việc làm trong tất cả các nước trong Liên Âu, điều mà tổng thống cũ đã bỏ qua.
Mối quan hệ Pháp-Ðức luôn là nòng cốt của EU.
Trong cuộc tranh cử, ông F. Hollande nhiều lần hứa hẹn sẽ là một tổng thống “bình thường,” theo nghĩa là một tổng thống bình dân, sống giản dị, gần dân, gần các khu lạo động, luôn tìm hiểu cuộc sống của người dân bình thường, các nhà kinh doanh vừa và nhỏ.
Ông hứa hẹn là một quyết định đầu tiên sau khi nhận chức là về giảm tiền lương của tổng thống, thủ tướng, các bộ trưởng, viên chức cao cấp xuống 30%; - báo Libération cho biết lương tổng thống là chừng 20,000 Euros/tháng. Ông cũng hứa hẹn sẽ giảm đáng kể các chi phí lễ tân hình thức, phô trương và tốn kém.
Ông Hollande cũng dự định những cuộc đi các địa phương bằng xe lửa thường hoặc TGV - xe lửa tốc độ cao, không tiền hô hậu ủng ồn ào, tốn kém, hình thức.
Chiếc xe chính thức tổng thống mới sẽ dùng từ ngày tấn phong 15 tháng 5, 2012 là một chiếc Citroen nhỏ DS5-Hybrid, chạy vừa bằng xăng và điện, tiêu thụ chỉ 5 lít xăng/100 km, không ô nhiễm, không phải chiếc Renault Satis đặc biệt, bọc sắt, bề thế đắt tiền, do tổng thống cũ dùng.
Nhiều nhà bình luận cho rằng những hứa hẹn trên đây của tổng thống mới không phải là những ý kiến mị dân, lập dị, để kiếm phiếu, mà là những đề nghị chân thực, cần thiết giữa cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính nặng nề hiện tại. Họ cho rằng trong ông F. Hollande khái niệm tổng thống “bình thường” rất đáng mến, vì chứng tỏ về tư chất con người ông không bình thường, theo nghĩa không tầm thường chút nào.
Nhiều báo phát hiện và chỉ ra những tư chất không bình thường ấy. Báo Le Point chỉ ra F. Hollande là một trí thức đúng nghĩa, đa năng, có kiến thức sâu về nhiều mặt, rất ham học và học giỏi ; ông có bằng cao học về Luật, từng hành nghề luật sư, lại tốt nghiệp trường HEC - Hautes Études Commercialles - Cao đẳng Thương Mại là một trường có uy tín lớn, từng dạy về kinh tế cho sinh viên, rồi còn tốt nghiệp thêm Viện Khoa học Chính trị - Institut Sciences Politiques cũng là một trường lớn. Vẫn chưa hết, ông còn tốt nghiệp trường Quốc gia Hành chánh ENA với hạng ưu, cũng là trường lớn nữa của nước Pháp.
Tối 2 tháng 5, 2012, trong cuộc tranh luận tay đôi giữa 2 ứng viên tổng thống vào chung kết - một sự kiện quyết định 3 ngày trước cuộc bỏ phiếu cuối cùng, ông đã gây bất ngờ lớn, làm ngỡ ngàng phe đối thủ. Trong cuộc đấu khẩu dài 150 phút, ông đã điềm tĩnh tiến công từ lúc mở đầu cũng như khi kết thúc.
Trước đó ông N. Sarkozy đinh ninh đối thủ của mình ăn nói không trôi chảy, e ngại và lẩn tránh cuộc tranh luận tay đôi. Cố vấn của ông Sarkozy còn cao ngạo đe ông F. Hollande rằng trong cuộc tranh luận cuối ông sẽ bị đối thủ “atomiser” - nghĩa là nghiền ra như cám, như các nguyên tử, cho mà xem. Rất nhiều người lo cho ông, khi thấy ông hiền lành, kín đáo. Thế nhưng khi vào cuộc, 20 triệu khán giả truyền hình bỗng thấy một Hollande sắc sảo, lập luận chặt chẽ, đối đáp nhanh nhạy, chủ động tiến công, chất vấn, dồn ông N. Sarkozy vốn tự tin hung hăng vào cảnh lúng túng, thế thủ.
Tất cả các báo đều nhắc đến đoạn cuối, trong 2 phút cuối cùng, ông đưa ra một điệp khúc 18 lần nhắc đi nhắc lại câu: “Tôi là tổng thống, tôi sẽ...” gây ấn tượng rất mạnh.
Chỉ xin kể ra vài câu, “Tôi là tổng thống, tôi sẽ là tổng thống của sự công bằng xã hội, đề cao pháp luật nghiêm minh. Tôi là tổng thống, tôi sẽ là tổng thống của toàn dân, không phải của một đảng, một phe. Tôi là tổng thống, tôi sẽ không đến khách sạn Bristol để quyên tiền riêng cho đảng mình. Tôi là tổng thống, tôi sẽ không ẩn mình sau điều khoản bất khả xâm phạm mà chịu sự giám sát của luật pháp như mọi công dân. Tôi là tổng thống, tôi sẽ không triệu tập các dân biểu là đảng viên của tôi đến điện Élysées vì luôn tôn trọng ngành lập pháp.Tôi là tổng thống, tôi sẽ không chỉ định các chánh án, mà nhường quyền đó cho Quốc hội. Tôi là tổng thống, tôi sẽ quan tâm đặc biệt đến thanh niên, tương lai đất nước.”
Ngay sáng hôm sau, ngày 3 tháng 5, báo Libération chạy tít lớn trên trang nhất: “F. Hollande préside le débat” - “Hollande chủ tọa cuộc tranh luận,” một cách chơi chữ rất đắt, vì préside có nghĩa là chủ tọa, và Président có nghĩa là Tổng thống.
Cũng có báo so sánh 2 ứng viên vào chung kết về tính cách, nhân cách, lối sống. Báo l'Express nhận định ông N. Sarkozy là một “tổng thống bling bling,” một tiếng lóng theo tiếng kêu của các vòng trang sức đeo ở cổ, để chỉ một con người ưa ăn chơi kiểu công tử, từng 2 lần khoe các nhà báo chiếc đồng hồ đeo tay giá 40,000 Euro. Ông còn hay kiễng chân cho cao, luôn cảm thấy tự ty là người thấp, còn dặn chớ để người cao lớn đến gần quanh ông.
Còn ông F. Hollande? Báo chí Pháp phát hiện ông là một con người rất hóm hỉnh, có cả một kho tiếu lâm dân dã, rất thâm trầm, đặc sắc. Từ khi là giáo sư về kinh tế ở Sciences-Po, ông đã làm cho không ít nam nữ sinh viên mê về những bài giảng hấp dẫn, với những thí dụ rất đời thường và những truyện ngụ ngôn và tiếu lâm rất ấn tượng.
Khi vào cuộc đấu khẩu tay đôi, ông bắt tay một thanh niên, anh này nói đùa vui: “Ủa! người ta bảo ông mềm yếu, sao bàn tay ông cứng vậy?” Ông cười vui: “Vâng, bàn tay tôi cứng, cả đầu óc cũng cứng, chưa nói đến các bộ phận khác.” Câu nói lọt vào máy ghi âm.
Một tổng thống rất trí thức, lại hay đùa, mê thể thao, ưa văn nghệ, hóm hỉnh, có một kho chuyện tiếu lâm, phải là một con người yêu đời, yêu người, tự tin, lạc quan.
Và có văn hóa. Không bling bling. Một dấu hiệu tốt lành cho nước Pháp.
Tôi đi guốc trong bụng quý vị
Bùi Công Tự
(Nguồn: Bauxite Việt Nam)
Lời giới thiệu của Bauxite Việt Nam: Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) của đảng vừa bế mạc. Bauxite Việt Nam nhận được bài phản hồi sau đây của Bùi Công Tự, nêu những suy nghĩ của mình về kết quả hội nghị. Chúng tôi vui lòng đăng lên để bạn đọc rộng đường tham khảo.
Thưa quý vị!
Tôi tuy không cùng hội với quý vị nhưng vì tổ quốc tôi, nhân dân tôi đang đặt dưới quyền sinh, quyền sát của các quý vị cho nên tôi buộc phải có vài lời.
Nghe cái tivi nói các quý vị vừa khai hội lần thứ V, sau ngót chục ngày làm việc “khẩn trương, nghiêm túc, trong không khí dân chủ, đổi mới và đã thành công tốt đẹp”.
Ấy là cái tivi nó nói thế. Còn tôi sau khi tiếp nhận các thông tin, tôi nhận thấy cuộc tụ tập của các quý vị chả đưa ra được cái gì mới, cho dù có tới “750 lượt ý kiến phát biểu tâm huyết, sâu sắc”.
Ðầu tiên là bàn về sửa đổi bổ sung hiến pháp 1992. Năm ngoái tôi đọc được ý kiến của ông Nguyễn Văn An, nguyên chủ tịch Quốc Hội - người bậc đàn anh của các vị - nói rằng trong các bản hiến pháp của nước ta thì bản 1946 là tiến bộ nhất. Sau đó có các bản 1959, 1980, 1992. Bản sau sửa chữa, bổ sung bản trước. Nhưng cũng lời ông Nguyễn Văn An nói thì càng sửa chữa hiến pháp của ta càng lạc hậu thêm, bản sau lạc hậu hơn bản trước. Tôi cũng được biết là các bản hiến pháp 1959, 1980 của ta sao chép nhiều từ hiến pháp Liên Xô cũ mà bây giờ nước người ta vất vào sọt rác lâu rồi. Ông Nguyễn Văn An thì nhận xét như trên, còn vị lãnh đạo cao nhất thì nói: “Hiến pháp 1992 (được sửa chữa bổ sung năm 2001) là thành quả rất to lớn của cách mạng, là bước phát triển nhận thức, tư duy đổi mới... tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”. Thật chả biết tin ai. Ðọc đi đọc lại thì toàn thấy những thứ đã nói từ năm nảo năm nào (như đất đai thuộc sở hữu toàn dân, kinh tế nhà nước là chủ đạo, v.v.) Chẳng thấy tòa án hiến pháp đâu, tam quyền phân lập đâu cả. Thế thì bao giờ dân ta mới thoát vòng nô lệ.
Nội dung thứ hai các vị khai hội bàn bạc là vấn đề chính sách, pháp luật đất đai. Ðược biết ở các nước tiên tiến người ta thực hiện đa sở hữu đất đai (của tư nhân, của tổ chức, của quốc gia). Thế nhưng qua hội nghị V vừa họp, các vị vẫn “khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.
Thưa quý vị, đến đứa trẻ con nó cũng biết nói “sở hữu toàn dân” là xạo hết chỗ nói (XHCN). Dân chỉ là cái bung xung còn quyền sở hữu đất đai thực chất là trong tay các quý vị. Các quý vị có quyền tước đoạt hết đất đai của dân cày mà vẫn “đúng quy định của pháp luật”.
Nên nhớ rằng quyền sở hữu đất đai là quyền tự nhiên của con người. Người da trắng ở Mỹ, ở Úc trước đây đã phải trả lại những vùng đất đai rộng lớn cho các thổ dân là vì thế.
Bây giờ các vị lại đưa thêm vào các điều luật buộc nông dân không có quyền giữ đất, đòi đất, bảo vệ đất. Cũng tức là không có quyền giữ nguồn sống, đòi nguồn sống, bảo vệ nguồn sống của mình!
Thưa quý vị!
Quý vị có biết rằng chính cái luật pháp mà quý vị đề ra đã tạo điều kiện cho tham nhũng và lãng phí, bọn giặc nội xâm mà quý vị vừa họp bàn tìm cách chống cự? Bây giờ giao thêm nhiệm vụ trưởng ban phòng chống tham nhũng cho đồng chí lãnh đạo cao nhất. Nhưng mà đồng chí ấy lại lo “làm rối nội bộ”, lại nói “không phải cứ kỷ luật nhiều là chống tham nhũng thành công”. Thế thì nước non cơ ngơi hy vọng gì phòng được, chống được nội xâm hở trời?
Trong hội nghị lần thứ V này các vị còn bàn về chính sách xã hội và tiền lương. Tôi chỉ xin lưu ý các vị hai sự việc vừa xảy ra ở giữa thủ đô ngàn năm văn vật, thành phố vì hòa bình.
Một là cảnh hàng trăm phụ huynh phải chen chúc trắng đêm xếp hàng nộp hồ sơ cho con vào lớp 1.
Hai là cảnh bé gái 12 tuổi phải đứng đường bán dâm mà các báo đưa tin (bé này đang mang thai).
Hai chuyện ấy tuy nhỏ xíu thôi nhưng nó “đặc biệt quan trọng, nhạy cảm, phải có quan điểm và cách nhìn toàn diện, biện chứng, cụ thể, lịch sử, có cách làm khoa học, thận trọng, tránh tư duy tư biện, xa rời thực tiễn” thì mới giải quyết được (những chữ trong ngoặc kép của câu trên là tôi mượn lời vị lãnh đạo cấp cao phát biểu bế mạc hội nghị V).
Bây giờ tôi xin hỏi: Vì sao sau gần chục ngày khai hội các quý vị không đưa ra được điều gì mới mẻ mà nhân dân mong đợi?
Có phải vì các quý vị đầu óc bảo thủ không tiếp thu được cái mới chăng?
Xin thưa, không phải! Các vị đều học hành cao, đi Tây đi Tàu như đi chợ, con cái gửi học ở Mỹ ở Anh. Các vị biết hết các nước văn minh ấy hiến pháp, luật pháp của họ ra sao, chính quyền của họ tổ chức thế nào, người dân của họ hưởng những quyền gì? Các vị biết hết! Nhưng các vị không muốn là như người ta. Vì nếu nước mình cũng làm như nước người ta thì các vị ăn gì! Bao lợi quyền ắt sẽ vuột khỏi tay các vị, đúng không?
Tôi đi guốc trong bụng các quý vị!
B.C.T.
Bùi Công Tự
(Nguồn: Bauxite Việt Nam)
Lời giới thiệu của Bauxite Việt Nam: Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) của đảng vừa bế mạc. Bauxite Việt Nam nhận được bài phản hồi sau đây của Bùi Công Tự, nêu những suy nghĩ của mình về kết quả hội nghị. Chúng tôi vui lòng đăng lên để bạn đọc rộng đường tham khảo.
Thưa quý vị!
Tôi tuy không cùng hội với quý vị nhưng vì tổ quốc tôi, nhân dân tôi đang đặt dưới quyền sinh, quyền sát của các quý vị cho nên tôi buộc phải có vài lời.
Nghe cái tivi nói các quý vị vừa khai hội lần thứ V, sau ngót chục ngày làm việc “khẩn trương, nghiêm túc, trong không khí dân chủ, đổi mới và đã thành công tốt đẹp”.
Ấy là cái tivi nó nói thế. Còn tôi sau khi tiếp nhận các thông tin, tôi nhận thấy cuộc tụ tập của các quý vị chả đưa ra được cái gì mới, cho dù có tới “750 lượt ý kiến phát biểu tâm huyết, sâu sắc”.
Ðầu tiên là bàn về sửa đổi bổ sung hiến pháp 1992. Năm ngoái tôi đọc được ý kiến của ông Nguyễn Văn An, nguyên chủ tịch Quốc Hội - người bậc đàn anh của các vị - nói rằng trong các bản hiến pháp của nước ta thì bản 1946 là tiến bộ nhất. Sau đó có các bản 1959, 1980, 1992. Bản sau sửa chữa, bổ sung bản trước. Nhưng cũng lời ông Nguyễn Văn An nói thì càng sửa chữa hiến pháp của ta càng lạc hậu thêm, bản sau lạc hậu hơn bản trước. Tôi cũng được biết là các bản hiến pháp 1959, 1980 của ta sao chép nhiều từ hiến pháp Liên Xô cũ mà bây giờ nước người ta vất vào sọt rác lâu rồi. Ông Nguyễn Văn An thì nhận xét như trên, còn vị lãnh đạo cao nhất thì nói: “Hiến pháp 1992 (được sửa chữa bổ sung năm 2001) là thành quả rất to lớn của cách mạng, là bước phát triển nhận thức, tư duy đổi mới... tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”. Thật chả biết tin ai. Ðọc đi đọc lại thì toàn thấy những thứ đã nói từ năm nảo năm nào (như đất đai thuộc sở hữu toàn dân, kinh tế nhà nước là chủ đạo, v.v.) Chẳng thấy tòa án hiến pháp đâu, tam quyền phân lập đâu cả. Thế thì bao giờ dân ta mới thoát vòng nô lệ.
Nội dung thứ hai các vị khai hội bàn bạc là vấn đề chính sách, pháp luật đất đai. Ðược biết ở các nước tiên tiến người ta thực hiện đa sở hữu đất đai (của tư nhân, của tổ chức, của quốc gia). Thế nhưng qua hội nghị V vừa họp, các vị vẫn “khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.
Thưa quý vị, đến đứa trẻ con nó cũng biết nói “sở hữu toàn dân” là xạo hết chỗ nói (XHCN). Dân chỉ là cái bung xung còn quyền sở hữu đất đai thực chất là trong tay các quý vị. Các quý vị có quyền tước đoạt hết đất đai của dân cày mà vẫn “đúng quy định của pháp luật”.
Nên nhớ rằng quyền sở hữu đất đai là quyền tự nhiên của con người. Người da trắng ở Mỹ, ở Úc trước đây đã phải trả lại những vùng đất đai rộng lớn cho các thổ dân là vì thế.
Bây giờ các vị lại đưa thêm vào các điều luật buộc nông dân không có quyền giữ đất, đòi đất, bảo vệ đất. Cũng tức là không có quyền giữ nguồn sống, đòi nguồn sống, bảo vệ nguồn sống của mình!
Thưa quý vị!
Quý vị có biết rằng chính cái luật pháp mà quý vị đề ra đã tạo điều kiện cho tham nhũng và lãng phí, bọn giặc nội xâm mà quý vị vừa họp bàn tìm cách chống cự? Bây giờ giao thêm nhiệm vụ trưởng ban phòng chống tham nhũng cho đồng chí lãnh đạo cao nhất. Nhưng mà đồng chí ấy lại lo “làm rối nội bộ”, lại nói “không phải cứ kỷ luật nhiều là chống tham nhũng thành công”. Thế thì nước non cơ ngơi hy vọng gì phòng được, chống được nội xâm hở trời?
Trong hội nghị lần thứ V này các vị còn bàn về chính sách xã hội và tiền lương. Tôi chỉ xin lưu ý các vị hai sự việc vừa xảy ra ở giữa thủ đô ngàn năm văn vật, thành phố vì hòa bình.
Một là cảnh hàng trăm phụ huynh phải chen chúc trắng đêm xếp hàng nộp hồ sơ cho con vào lớp 1.
Hai là cảnh bé gái 12 tuổi phải đứng đường bán dâm mà các báo đưa tin (bé này đang mang thai).
Hai chuyện ấy tuy nhỏ xíu thôi nhưng nó “đặc biệt quan trọng, nhạy cảm, phải có quan điểm và cách nhìn toàn diện, biện chứng, cụ thể, lịch sử, có cách làm khoa học, thận trọng, tránh tư duy tư biện, xa rời thực tiễn” thì mới giải quyết được (những chữ trong ngoặc kép của câu trên là tôi mượn lời vị lãnh đạo cấp cao phát biểu bế mạc hội nghị V).
Bây giờ tôi xin hỏi: Vì sao sau gần chục ngày khai hội các quý vị không đưa ra được điều gì mới mẻ mà nhân dân mong đợi?
Có phải vì các quý vị đầu óc bảo thủ không tiếp thu được cái mới chăng?
Xin thưa, không phải! Các vị đều học hành cao, đi Tây đi Tàu như đi chợ, con cái gửi học ở Mỹ ở Anh. Các vị biết hết các nước văn minh ấy hiến pháp, luật pháp của họ ra sao, chính quyền của họ tổ chức thế nào, người dân của họ hưởng những quyền gì? Các vị biết hết! Nhưng các vị không muốn là như người ta. Vì nếu nước mình cũng làm như nước người ta thì các vị ăn gì! Bao lợi quyền ắt sẽ vuột khỏi tay các vị, đúng không?
Tôi đi guốc trong bụng các quý vị!
B.C.T.
TC Biến Biển Đông Thành Chuyện Đã Rồi
Tác giả : Vi Anh
Thời gian và nguyên trạng do Trung Cộng dàn dựng đang có lợi cho Trung Cộng, nên Trung Cộng đang dùng chiến lược chuyện đã rồi trong vấn đề Biển Đông, biến Biển Đông thành chuyện đã rồi đối với các nước trong vùng và cộng đồng thế giới.
Một, chiến thuật chuyện đã rồi của TC đối với các nước có tranh chấp về đảo và biển. Trung Cộng đơn phương lấn chiếm nhiều đảo, nhiều vùng lãnh hải của các nước, tuyên bố thuộc chủ quyền của TC dù không có những chứng cớ lịch sử, pháp lý. Các nước phản dối biến những nơi đó thành vùng tranh chấp, thế là TC dược coi coi là một thành phần trong nội vụ. TC khăng khăng tự tuyên bố đó thuộc chủ quyền bất khả tranh cãi và nếu có giải quyết thì theo nguyên tắc song phương. Mà song phương giữa một nước nhỏ và một nước lớn thì “lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng” như bài thơ ngụ ngôn Con Cừu và Con Sói của La Fontaine.
Tiêu biểu như hai nước nhỏ tranh chấp với TC là Phi luật tân và Việt Nam. Bước một Phi luật tân cương quyết hơn, dùng cả phi cơ chiến đấu, tàu chiến ra ngăn chận tàu hải giám và đánh cá của TC. Kỳ đó TC như chỉ để thăm dò phản ứng của Mỹ xem coi Mỹ có vận dụng hiệp ước phòng thủ chung của Mỹ ký với Phi vào năm 1951 hay không. TC thấy Phi kêu gọi Mỹ áp dụng hiệp ước và Mỹ xác nhận có hiệp ước phòng thủ chung với Phi nhưng tuyên bố không đứng bên nào trong cuộc tranh chấp biển đảo. Sau khi nghe thấy Mỹ tuyên bố chỉ bảo vệ hải lộ cho tự do thương thuyền, chớ không đứng vào phía bên nào trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo trong vùng, TC làm một cú mạnh hơn. TC chứng tỏ với các nước nhỏ trong vùng, rằng “Trung Quốc là một một nước lớn. Và các nước khác là những nước nhỏ. Đó là một sự thật.” Lời này là lời của Ngọai Trưởng TC Dương khiết Trì nói dằn mặt các nước trong hiệp hội các nước Đông Nam Á gọi tắt là ASEAN, có tranh chấp biển đảo với TC. Ông tuyên bố khi nghe Ngọai Trưởng Mỹ tuyên bố trở lại Á châu và các nước ASEAN đa số ủng hộ, Ông bỏ ra ngòai và tuyên bố bên lề hội nghị ASEAN hồi tháng Bảy năm 2010, tại Hà nội.
Trong kỳ hai trở lại vùng biển đảo của Phi, TC chứng tỏ mình là một nước lớn. Từ đầu tháng Tư năm nay, TC tràn ngập vùng bãi cạn Scarborough của Phi. TC liên tục điều ra vùng này ngày càng nhiều vừa tàu hải giám, vừa tàu đánh cá xuất hiện dần dần lên hơn 33 chiếc. Trong khi Phi chỉ có hai tàu tuần cận duyên và hải quân quanh quẩn ở xa xa thôi.
Nhưng đặc biệt, TC không điều tàu hải quân ra, mà dùng tòan tàu dân sự có thể ngụy trang làm tàu đánh cá và bán quân sự hải giám mà thôi. Nhưng những tàu này kiên trì bám trụ, có tăng, chớ không có giảm, để,tuần tiểu, di chuyển theo đội hình tác chiến.
Thêm vào đó TC còn ra lịnh cấm đánh cá vào mùa hè, lịnh kỳ này không những chi phối tòan bộ Biển Đông VN mà chi phối cả vùng Scarborough đang căng thẳng với Phi nữa.
Phi phản đối mặc phi. Phi tuyên bố đưa vấn đề ra tòa án quốc tế, mặc Phi. Phi gởi Bộ Trưởng Quốc Phòng, Ngọai Giao sang Mỹ cầu viện, mặc Phi, TC coi như không có. Báo chí bán chánh thức của TC còn khích động tinh thần quốc gia cực đoan của người Trung Quốc, đổ tội cho Phi giành vùng đảo và biển thuộc chủ quyền bất khả tranh cãi của TQ và khích động quân đội TC tấn công, đánh đuổi Phi.
Ngọại Trưởng Mỹ xác nhận có hiệp ước phòng thủ chung với Phi nhưng vẫn giữ lập trường không dứng về phía bên nào trong tranh chấp biển đảo trong vùng. Bộ Trưởng Quốc Phòng Phi sau một tuần vận động với Mỹ tuyên bố Mỹ sẽ tuân thủ hiệp ước phòng thủ chung nhưng Bộ Quốc Phòng Mỹ không thấy xác nhận.
Nhưng giả sử TC có tấn công quân sự Phi, Mỹ muốn chiếu hiệp ước phòng thủ chung để can thiệp cũng khó trên phương diện công luận. Như đã thấy ở phần trên có cả hơn 33 tàu của TC tràn ngập vùng biển và đảo Scarborough, nhưng đó là là tàu dân sự và bán quân sự mà thôi. Nói cho cùng tận nếu có thì chỉ có tranh chấp dân sự, bán quân sự, chớ không có giao tranh quân sự, Mỹ không có lý do chánh đáng, Phi không có lý do chánh đáng để vận dụng hiệp ước phòng thủ hổ tương.
Tình hình càng kéo dài, thời gian có lợi cho TC. Các nước trong vùng sẽ quen sự có mặt của TC trên vùng chiếm đóng, quen lý luận của TC và nhứt là e ngại ảnh hưởng kinh tế của TC đối với công cuộc giao thương của nước mình. Kể cả Phi đang tranh chấp mà TC tỏ vẻ không mua chuối của Phi là Phi phải gởi bộ trưởng qua Bắc Kinh thương lượng liền.
Nguyên trạng củng cố lời tuyên bố chủ quyền bất khả tranh cãi của TC dù đứng về phía chứng lý lịch sử, đia lý, luật biển những vùng TC cưỡng chiếm, TC rất yều lý. Trừ cái “Lý của kẻ mạnh bao giờ thắng của con sói dối với con cừu của La Fontaine...”
Hai, chiến thuật biến việc cưỡng chiếm thành chuyện đã rồi, thời gian và nguyên trạng có lợi cho TC, TC cũng áp dụng cho nước láng giềng, như VN là nước bị TC lấn chiếm biển đảo nhiều nhứt. TC lấy hai đảo Hòang sa và Trường sa của VN làm huyện Tam sa trực thuộc tỉnh Hải Nam của TC. TC đơn phương tung ra một bản đồ hình lưỡi bò liếm mất 80% Biển Đông của VN. TC dùng căn cứ hải quân lớn nhứt của TC ở Hải Nam gần như khóa chặt Vịnh Bắc Việt của VN.
Thời cơ lại thuận lợi cho TC. Thời CS Hà nội, Trung Cộng xâm lăng biển đảo VN dễ dàng như móc khăn mu soa trong túi ra vậy. Không cần đưa người ngựa, gươm đao qua chiếm VN như trong ba thời kỳ Bắc Thuộc VN, lúc đó đô hộ công lại 1000 năm. TC lợi dụng tình đồng chí, cấy sinh tử phù tiền, gái và quyền để biến một số cán bộ, đảng viên của đảng CS Việt Nam thành gia nô, thái thú theo kiểu thực dân mới. TC dán lên trán của những người mặt mày là VN nhưng đầu óc là Tàu sẵn sàng mãi quốc cầu an, cầu vinh này, lá bùa mưới mấy chữ vàng và bốn cái tốt.
Nhưng người VN với dã tâm gia nô, thái thú của quân Tàu này biến chế độ CSVN thành chế độ nhà cầm quyền ra tay, thẳng tay cấm đóan dân xuống đường bày tỏ lòng yêu nước, chống quân xâm lược Tàu và cúc cung tận tụy thi hành lịnh của Thiên Triều “định hướng dư luận”, bất cứ người Việt nào có hành động hay lời nói đụng đến quan thầy TC là bị thẳng tay trừng trị.
Ngư dân VN bị quân Tàu Cộng bắn, bắt, đánh, tịch thu tàu, đòi tiền chuộc, thì phát ngôn viên ngọai giao như con két tuyên bố vùng biển ngư dân VN đánh cá là thuộc chủ quyền VN. Ngòai lời nói suông đó, người ta không thấy một cảnh sát biển, một hải quân nào có mặt để bảo vệ ngư dân và ngư trường VN do dất nước ông bà VN ngàn năm để lại.
Ba và sau cùng, TC cứ lấn, cứ chiếm, cứ giữ, cứ khai thác, cứ tuyên bố mọi tranh chấp sẽ giải quyết trên căn bản song phương. Tranh chấp và đàm phán giữa một người không lồ và một người bé nhỏ, một đại cường và một nhược tiểu, một con sói và một con cừu, cái thắng sẽ thuộc về ai, ai cũng biết.
TC bất cần Mỹ dù Mỹ hướng về Á châu. TT Obama, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ cứ thúc hối Quốc Hội phê chuẩn hiệp ước về luật biển. Quốc Hội Mỹ đã không phê chuẩn luật này suốt ba mươi năm rồi. Mỹ là nước duy nhứt trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp không tham gia về hiệp ước luật biển.
Mà Mỹ có phê chuẩn thì cũng không làm gì được TC dù TC đã ký rồi. TC không đi dự khi tòa án hay tổ chức luật biển triệu tập, thì cũng không có tổ chức nào hay luật gì chế tài được TC. Một nước nhỏ như CS Bắc Hàn vi phạm luật quốc tế cấm phổ biến nguyên tử kia, cả thế giới cũng chẳng làm gì được chỉ vì có “ô dù” của TC thôi. Huống hồ gì “bản thân” người Khổng Lồ TC.
Có một số nhà phân tích chiến lược Tây Phương do cái tật chẻ sợi tóc ra làm đôi, theo thói quen ăn học Tây Phương coi trọng vai trò cá nhân, cá tính của những lãnh tụ CS trong việc điều hành quốc sự. Quí vị làm chánh trị trong phòng lạnh này sợ một cuộc chiến có thể xảy ra trong vùng Á châu Thái bình Dương lôi kéo Mỹ nhảy vào có thể thành thế chiến ở Á châu. Quí vị này phân tích TC có quá nhiều cơ quan của TC can dư vào hồ sơ tranh chấp Biển Đông. Có cả năm cơ quan của TC, Cục Hải Giám, Cục Ngư Nghiệp, Cục Hải Quan, Nha Cảnh Sát Biển, Cục An Ninh Đường Biển. Mỗi cục và nha trực thuộc một bộ khác nhau. Con khác cha, nhà lắm chủ, dễ tranh quyền, dễ hành động tùy tiện, chánh quyền trung ương khó kiểm sóat. Một sơ hở bé với các nước tranh chấp sẽ xé ra to thành nguyên nhân gần của chiến tranh.
Nhưng có một điều quí vị ăn học trong chế độ dân chủ, tự do, trọng cá tính, cá nhân của Tây Phương quên Đông vẫn là Đông, Tây vẫn là Tây và CS không phải là tư do, là cá nhân. Chế độ CS không dành vai trò “chủ đạo” cho cá nhân, cá tính; con người chỉ là một bánh xe của guồng máy, đảng CS là trên hết, tòan quyền.
Đường lối chính sách của Đảng, Nhà Nước TC về Biển Đông là khai thác thời gian, nguyên trạng đang có lợi cho họ, biến sự xâm lấn Biển Đông của TC thành chuyện đã rồi. Đó là đường lối của Đảng CS Trung Quốc, không cá nhân lãnh tụ nào, không cơ quan nào của nhà nước, quân đội có thể đi ngược, đi chệch hướng của cái máy cái là Đảng CS Trung Quốc được cả.
Vi Anh
Tác giả : Vi Anh
Thời gian và nguyên trạng do Trung Cộng dàn dựng đang có lợi cho Trung Cộng, nên Trung Cộng đang dùng chiến lược chuyện đã rồi trong vấn đề Biển Đông, biến Biển Đông thành chuyện đã rồi đối với các nước trong vùng và cộng đồng thế giới.
Một, chiến thuật chuyện đã rồi của TC đối với các nước có tranh chấp về đảo và biển. Trung Cộng đơn phương lấn chiếm nhiều đảo, nhiều vùng lãnh hải của các nước, tuyên bố thuộc chủ quyền của TC dù không có những chứng cớ lịch sử, pháp lý. Các nước phản dối biến những nơi đó thành vùng tranh chấp, thế là TC dược coi coi là một thành phần trong nội vụ. TC khăng khăng tự tuyên bố đó thuộc chủ quyền bất khả tranh cãi và nếu có giải quyết thì theo nguyên tắc song phương. Mà song phương giữa một nước nhỏ và một nước lớn thì “lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng” như bài thơ ngụ ngôn Con Cừu và Con Sói của La Fontaine.
Tiêu biểu như hai nước nhỏ tranh chấp với TC là Phi luật tân và Việt Nam. Bước một Phi luật tân cương quyết hơn, dùng cả phi cơ chiến đấu, tàu chiến ra ngăn chận tàu hải giám và đánh cá của TC. Kỳ đó TC như chỉ để thăm dò phản ứng của Mỹ xem coi Mỹ có vận dụng hiệp ước phòng thủ chung của Mỹ ký với Phi vào năm 1951 hay không. TC thấy Phi kêu gọi Mỹ áp dụng hiệp ước và Mỹ xác nhận có hiệp ước phòng thủ chung với Phi nhưng tuyên bố không đứng bên nào trong cuộc tranh chấp biển đảo. Sau khi nghe thấy Mỹ tuyên bố chỉ bảo vệ hải lộ cho tự do thương thuyền, chớ không đứng vào phía bên nào trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo trong vùng, TC làm một cú mạnh hơn. TC chứng tỏ với các nước nhỏ trong vùng, rằng “Trung Quốc là một một nước lớn. Và các nước khác là những nước nhỏ. Đó là một sự thật.” Lời này là lời của Ngọai Trưởng TC Dương khiết Trì nói dằn mặt các nước trong hiệp hội các nước Đông Nam Á gọi tắt là ASEAN, có tranh chấp biển đảo với TC. Ông tuyên bố khi nghe Ngọai Trưởng Mỹ tuyên bố trở lại Á châu và các nước ASEAN đa số ủng hộ, Ông bỏ ra ngòai và tuyên bố bên lề hội nghị ASEAN hồi tháng Bảy năm 2010, tại Hà nội.
Trong kỳ hai trở lại vùng biển đảo của Phi, TC chứng tỏ mình là một nước lớn. Từ đầu tháng Tư năm nay, TC tràn ngập vùng bãi cạn Scarborough của Phi. TC liên tục điều ra vùng này ngày càng nhiều vừa tàu hải giám, vừa tàu đánh cá xuất hiện dần dần lên hơn 33 chiếc. Trong khi Phi chỉ có hai tàu tuần cận duyên và hải quân quanh quẩn ở xa xa thôi.
Nhưng đặc biệt, TC không điều tàu hải quân ra, mà dùng tòan tàu dân sự có thể ngụy trang làm tàu đánh cá và bán quân sự hải giám mà thôi. Nhưng những tàu này kiên trì bám trụ, có tăng, chớ không có giảm, để,tuần tiểu, di chuyển theo đội hình tác chiến.
Thêm vào đó TC còn ra lịnh cấm đánh cá vào mùa hè, lịnh kỳ này không những chi phối tòan bộ Biển Đông VN mà chi phối cả vùng Scarborough đang căng thẳng với Phi nữa.
Phi phản đối mặc phi. Phi tuyên bố đưa vấn đề ra tòa án quốc tế, mặc Phi. Phi gởi Bộ Trưởng Quốc Phòng, Ngọai Giao sang Mỹ cầu viện, mặc Phi, TC coi như không có. Báo chí bán chánh thức của TC còn khích động tinh thần quốc gia cực đoan của người Trung Quốc, đổ tội cho Phi giành vùng đảo và biển thuộc chủ quyền bất khả tranh cãi của TQ và khích động quân đội TC tấn công, đánh đuổi Phi.
Ngọại Trưởng Mỹ xác nhận có hiệp ước phòng thủ chung với Phi nhưng vẫn giữ lập trường không dứng về phía bên nào trong tranh chấp biển đảo trong vùng. Bộ Trưởng Quốc Phòng Phi sau một tuần vận động với Mỹ tuyên bố Mỹ sẽ tuân thủ hiệp ước phòng thủ chung nhưng Bộ Quốc Phòng Mỹ không thấy xác nhận.
Nhưng giả sử TC có tấn công quân sự Phi, Mỹ muốn chiếu hiệp ước phòng thủ chung để can thiệp cũng khó trên phương diện công luận. Như đã thấy ở phần trên có cả hơn 33 tàu của TC tràn ngập vùng biển và đảo Scarborough, nhưng đó là là tàu dân sự và bán quân sự mà thôi. Nói cho cùng tận nếu có thì chỉ có tranh chấp dân sự, bán quân sự, chớ không có giao tranh quân sự, Mỹ không có lý do chánh đáng, Phi không có lý do chánh đáng để vận dụng hiệp ước phòng thủ hổ tương.
Tình hình càng kéo dài, thời gian có lợi cho TC. Các nước trong vùng sẽ quen sự có mặt của TC trên vùng chiếm đóng, quen lý luận của TC và nhứt là e ngại ảnh hưởng kinh tế của TC đối với công cuộc giao thương của nước mình. Kể cả Phi đang tranh chấp mà TC tỏ vẻ không mua chuối của Phi là Phi phải gởi bộ trưởng qua Bắc Kinh thương lượng liền.
Nguyên trạng củng cố lời tuyên bố chủ quyền bất khả tranh cãi của TC dù đứng về phía chứng lý lịch sử, đia lý, luật biển những vùng TC cưỡng chiếm, TC rất yều lý. Trừ cái “Lý của kẻ mạnh bao giờ thắng của con sói dối với con cừu của La Fontaine...”
Hai, chiến thuật biến việc cưỡng chiếm thành chuyện đã rồi, thời gian và nguyên trạng có lợi cho TC, TC cũng áp dụng cho nước láng giềng, như VN là nước bị TC lấn chiếm biển đảo nhiều nhứt. TC lấy hai đảo Hòang sa và Trường sa của VN làm huyện Tam sa trực thuộc tỉnh Hải Nam của TC. TC đơn phương tung ra một bản đồ hình lưỡi bò liếm mất 80% Biển Đông của VN. TC dùng căn cứ hải quân lớn nhứt của TC ở Hải Nam gần như khóa chặt Vịnh Bắc Việt của VN.
Thời cơ lại thuận lợi cho TC. Thời CS Hà nội, Trung Cộng xâm lăng biển đảo VN dễ dàng như móc khăn mu soa trong túi ra vậy. Không cần đưa người ngựa, gươm đao qua chiếm VN như trong ba thời kỳ Bắc Thuộc VN, lúc đó đô hộ công lại 1000 năm. TC lợi dụng tình đồng chí, cấy sinh tử phù tiền, gái và quyền để biến một số cán bộ, đảng viên của đảng CS Việt Nam thành gia nô, thái thú theo kiểu thực dân mới. TC dán lên trán của những người mặt mày là VN nhưng đầu óc là Tàu sẵn sàng mãi quốc cầu an, cầu vinh này, lá bùa mưới mấy chữ vàng và bốn cái tốt.
Nhưng người VN với dã tâm gia nô, thái thú của quân Tàu này biến chế độ CSVN thành chế độ nhà cầm quyền ra tay, thẳng tay cấm đóan dân xuống đường bày tỏ lòng yêu nước, chống quân xâm lược Tàu và cúc cung tận tụy thi hành lịnh của Thiên Triều “định hướng dư luận”, bất cứ người Việt nào có hành động hay lời nói đụng đến quan thầy TC là bị thẳng tay trừng trị.
Ngư dân VN bị quân Tàu Cộng bắn, bắt, đánh, tịch thu tàu, đòi tiền chuộc, thì phát ngôn viên ngọai giao như con két tuyên bố vùng biển ngư dân VN đánh cá là thuộc chủ quyền VN. Ngòai lời nói suông đó, người ta không thấy một cảnh sát biển, một hải quân nào có mặt để bảo vệ ngư dân và ngư trường VN do dất nước ông bà VN ngàn năm để lại.
Ba và sau cùng, TC cứ lấn, cứ chiếm, cứ giữ, cứ khai thác, cứ tuyên bố mọi tranh chấp sẽ giải quyết trên căn bản song phương. Tranh chấp và đàm phán giữa một người không lồ và một người bé nhỏ, một đại cường và một nhược tiểu, một con sói và một con cừu, cái thắng sẽ thuộc về ai, ai cũng biết.
TC bất cần Mỹ dù Mỹ hướng về Á châu. TT Obama, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ cứ thúc hối Quốc Hội phê chuẩn hiệp ước về luật biển. Quốc Hội Mỹ đã không phê chuẩn luật này suốt ba mươi năm rồi. Mỹ là nước duy nhứt trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp không tham gia về hiệp ước luật biển.
Mà Mỹ có phê chuẩn thì cũng không làm gì được TC dù TC đã ký rồi. TC không đi dự khi tòa án hay tổ chức luật biển triệu tập, thì cũng không có tổ chức nào hay luật gì chế tài được TC. Một nước nhỏ như CS Bắc Hàn vi phạm luật quốc tế cấm phổ biến nguyên tử kia, cả thế giới cũng chẳng làm gì được chỉ vì có “ô dù” của TC thôi. Huống hồ gì “bản thân” người Khổng Lồ TC.
Có một số nhà phân tích chiến lược Tây Phương do cái tật chẻ sợi tóc ra làm đôi, theo thói quen ăn học Tây Phương coi trọng vai trò cá nhân, cá tính của những lãnh tụ CS trong việc điều hành quốc sự. Quí vị làm chánh trị trong phòng lạnh này sợ một cuộc chiến có thể xảy ra trong vùng Á châu Thái bình Dương lôi kéo Mỹ nhảy vào có thể thành thế chiến ở Á châu. Quí vị này phân tích TC có quá nhiều cơ quan của TC can dư vào hồ sơ tranh chấp Biển Đông. Có cả năm cơ quan của TC, Cục Hải Giám, Cục Ngư Nghiệp, Cục Hải Quan, Nha Cảnh Sát Biển, Cục An Ninh Đường Biển. Mỗi cục và nha trực thuộc một bộ khác nhau. Con khác cha, nhà lắm chủ, dễ tranh quyền, dễ hành động tùy tiện, chánh quyền trung ương khó kiểm sóat. Một sơ hở bé với các nước tranh chấp sẽ xé ra to thành nguyên nhân gần của chiến tranh.
Nhưng có một điều quí vị ăn học trong chế độ dân chủ, tự do, trọng cá tính, cá nhân của Tây Phương quên Đông vẫn là Đông, Tây vẫn là Tây và CS không phải là tư do, là cá nhân. Chế độ CS không dành vai trò “chủ đạo” cho cá nhân, cá tính; con người chỉ là một bánh xe của guồng máy, đảng CS là trên hết, tòan quyền.
Đường lối chính sách của Đảng, Nhà Nước TC về Biển Đông là khai thác thời gian, nguyên trạng đang có lợi cho họ, biến sự xâm lấn Biển Đông của TC thành chuyện đã rồi. Đó là đường lối của Đảng CS Trung Quốc, không cá nhân lãnh tụ nào, không cơ quan nào của nhà nước, quân đội có thể đi ngược, đi chệch hướng của cái máy cái là Đảng CS Trung Quốc được cả.
Vi Anh
Bầu Cử Tổng Thống Hoa Kỳ Năm 2012
Trần Bình Nam
Tháng 11 tới cử tri Hoa Kỳ sẽ đi bỏ phiếu chọn ông Barack Obama hay ông Mitt Romney làm tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2012-2014. Cùng ngày cử tri cũng bầu lại toàn thể 435 ghế Hạ nghị viện, 33 ghế Thượng nghị sĩ và khoảng 25 Thống đốc các tiểu bang.
Cuộc bầu cử này chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc tranh cử giữa hai nhiệm kỳ tổng thống năm 2010. Năm đó một phong trào Cộng hòa cực hữu gọi là Tea Party đã thắng 60 ghế dân biểu và giúp đảng Cộng hòa kiểm soát lại Hạ nghị viện từ tay đảng Dân chủ làm thay đổi một cách căn bản không khí sinh hoạt nghị trường.
Từ cuối năm 2010 đến nay quốc hội Hoa Kỳ bị tê liệt vì nhóm Tea Party không chấp nhận một sự dung hòa quan điểm nào để giải quyết các vấn nạn quốc gia như làm thế nào để giảm nợ quốc gia, làm thế nào để giải quyết nạn ngân sách thâm thủng, làm thế nào để gỉải quyết chuyện người nhập cư trái phép đang làm ăn sinh sống tại Hoa Kỳ … Đảng Cộng hòa còn muốn đi xa hơn là dùng ưu thế chính trị mới để hủy bỏ Luật Cải tổ Chế độ Bảo hiểm Sức khỏe (Health Reform) ban hành ngày 23/3/2010 (bởi một quốc hội và một tổng thống trong tay đảng Dân chủ) nếu không bằng thủ tục lập pháp thì qua phán quyết của Tối Cao Pháp Viện (như nội vụ đang nằm tại đó chờ phán quyết).
Chỉ còn 6 tháng nữa là đến ngày bầu cử. Và dân chúng Hoa Kỳ không hy vọng gì thấy một sự dung hòa quan điểm nào giữa hai đảng. Đảng nào cũng nắm chặt nguyên tắc của mình. Bên Cộng hòa là giảm thuế, cắt các chương trình hưu bổng (Social Security) và chi tiêu có tính trợ cấp (Medicare, Medicaid, Supplemental Security Income – SSI) dành cho người người cao niên và thành phần yếu kém trong xã hội. Bên Dân chủ thì đồng ý cắt giảm chừng mực các chi tiêu phí phạm (trong đó có Medicare, Medicaid) nhưng cần tăng thuế đánh vào các đại công ty và thành phần lợi tức cao trong xã hội. Đảng Cộng hòa tin rằng dân chúng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục ủng hộ quan điểm cực hữu giúp Cộng hòa chiếm lại đa số tại hai viện quốc hội và Bạch ốc. Trái lại đảng Dân chủ tin rằng dân chúng đã chán sự tung hòanh của Tea Party và đảng Cộng hòa sẽ không thu đạt được gì hơn.
Trong bế tắc đó, kết quả của cuộc bầu cử tháng 11 tới có thể sẽ giúp điều chỉnh lại cung cách làm việc của quốc hội Hoa Kỳ, nhất là của Hạ nghị viện buộc các dân biểu phải dung hòa quan điểm để giải quyết các vấn nạn của quốc gia.
Nhìn vào toàn diện bức tranh, các nhà quan sát bầu cử Hoa Kỳ tiên đoán rằng đảng Cộng hòa có phần chắc vẫn duy trì được đa số tại Hạ Nghị viện (có thể với một đa số thấp hơn hiện nay 241 - 198). Nhưng tại Thượng nghị viện, đảng Cộng hòa khó chiếm trội thêm 4 ghế nữa để nắm đa số.
Và câu hỏi then chốt là Obama- Romney ai sẽ thắng ai?
Xét thành tích của tổng thống Obama không có lý do gì dân chúng Hoa Kỳ không bầu ông lại một nhiệm kỳ nữa. Tuy ông không làm hết được những gì ông hứa khi tranh cử tổng thống năm 2008, nhưng ông đã làm được khá nhiều. Tổng thống Obama đã rút quân ra khỏi Iraq, và đang rút quân theo kế hoạch ra khỏi Afghanistan. Ông đã làm suy yếu bộ máy lãnh đạo của Al Qaeda giúp bảo đảm an ninh cho Hoa Kỳ và chống khủng bố toàn cầu. Ông cũng đã vực lại được một cuộc khủng hoảng kinh tế to lớn tòan cầu xẩy ra vào đúng lúc ông vừa chân ước chân ráo đắc cử tổng thống. Và ông đã can đảm vượt qua mọi cản trở thực hiện được sự cải tổ chế độ săn sóc sức khỏe của Hoa Kỳ, một khuynh hướng toàn cầu và phổ biến.
Theo nhận xét của ông Aaron Miller, một chuyên viên của Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Woodrow Wilson thì từ bây giờ đến ngày bầu cử tổng thống Obama sẽ thận trọng không đưa ra một chính sách gì sôi nổi, ngoại trừ có biến cố bất khả kháng. Ông Obama tạm để đó các vấn đề chưa có gỉai pháp dứt khoát như chính sách quân sự đối với Iran và đối sách đối với tình hình tại Syria. Ông sẽ tiếp tục thuyết phục Do thái đừng dội bom Iran. Ông sẽ uyển chuyển trong đối sách với chương trình nguyên tử của Bắc Hàn, và sẽ không quá hăng hái trong vấn đề thiết đặt hệ thống hỏa tiễn chống hỏa tiễn của Iran để bảo vệ Tây Âu (mà ông Putin cho là cố ý đe đọa Liên bang Nga).
Điều đáng lo ngại nhất cho sự tái đắc cử của tổng thống Obama là yếu tố tâm lý. Không biết dân chúng Hoa Kỳ đã chấp nhận một tổng thống da đen chưa hay họ cho rằng một nhiệm kỳ thí nghiệm là đủ. Họ có còn thấy ông Obama là một ông tổng thống “lạ” không. Yếu tố “lạ”này là yếu tố quan trọng đã làm cho tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy thua ông Francois Hollande trong cuộc bầu cử tổng thống Pháp ngày 6/5/2012 vừa qua. Ngoài chuyện ái tình vợ con phóng khoáng, ông Sarkozy không phải là một ông tổng thống tồi. Khi làm tổng thống ông đã đưa ra được những biện pháp thực tế - không mị dân- để giải quyết vấn nạn thâm thủng ngân sách, đồng thời giúp bà thủ tướng Đức Angela Merkel tìm một giải pháp cứu vãn đồng Euro để tránh một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu khác (sau cuộc khủng hoảng 2008). Nhưng ông Sarkozy chỉ là một người Pháp thuộc thế hệ đầu tiên. Thân phụ ông là người Hung Gia Lợi đến định cư tại Pháp. Vẫn là một khuôn mặt lạ đối với người Pháp!
Về phần cựu thống đốc Mitt Romney ông không phải là một ứng cử viên nhẹ cân. Là một người Cộng hòa dĩ nhiên ông chủ trương thị trường, đầu tư, giảm thuế là nguyên tắc phát triển kinh tế, nhưng bản chất ông trung dung. Trên con đường kinh tế tư bản ông biết cần có biện pháp giúp đỡ người yếu kém trong xã hội. Khi làm thống đốc bang Masachusetts (2002-2006) ông đã thông qua luật bảo hiểm sức khỏe cho mọi người dân Masachusetts. Tuy nhiên trong 6 tháng vừa qua, để tranh thắng với các ứng cử viên Cộng hòa cực hữu như Rick Santorum, Newt Ginrich ông Romney đã phải chọn con đường cực hữu đi xa dần thành phần yếu kém trong xã hội, và đo đó từ đây đến tháng 11 ông phải dần dần trở về con đường trung dung hơn để lấp bớt nổi lo lắng của thành phần thấp cổ bé miệng.
Toàn thể bức tranh là vậy. Nhưng cũng có một vài nét chấm phá thú vị. Trong cuộc bầu cử sơ bộ tại bang Indiana hôm Thứ Ba 8/5 giữa hai ứng cử viên Cộng hòa Richard Lugar và Richard Mourdock, Thượng nghị sĩ Lugar thua ông Mourdock thuộc khuynh hướng Tea Party. Ông Richard Lugar (Cộng hòa) là một Thượng nghị sĩ có 30 năm kinh nghiệm về đối ngoại của Hoa Kỳ. Ông có lập trường trung dung và thường làm việc với đảng Dân chủ trong những dự án ông nghĩ là hợp lý, nhân đạo hay ích quốc lợi dân. Nhưng ông đã thua ông Mourdock vì cử tri Cộng hòa (dưới ảnh hưởng của Tea Party) tại bang Indiana cho rằng ông Lugar quá dễ dãi với người di dân bất hợp pháp và nhất là đã bỏ phiếu thuận phê chuẩn hai đề cử viên Tối Cao Pháp viện của tổng thống Obama là Sonia Sotomayor và Elena Kagan.
Nét chấm phá thú vị thứ hai là tổng thống Obama ngầm nhắn với tổng thống Putin là, hãy kiên nhẫn. Khi tôi đắc cử rồi tôi sẽ không khó như bây giờ đâu. Một cái micro vô tình để mở đã tiết lộ câu chuyện thì thầm giữa tổng thống Obama và tổng thống Medvedef (hiện nay là thủ tướng) khi hai người trò chuyện với nhau tại Seoul ngày 16/3.
Tổng thống Obama nói: “Về các chuyện này, nhất là về vấn đề hỏa tiễn phòng thủ, thì cũng dễ giải quyết thôi, nhưng ông Putin cần cho tôi không gian trăn trở” (nguyên văn: On all these issues, but particularly missile defense, this, this can be solved but it is important for him to give me space)
Tổng thống Medvedef trả lời: “Tôi hiểu, tôi hiểu. Tôi hiểu nghĩa không gian trăn trở của ông. Không gian cho ông …” (nguyên văn tiếng Nga dịch ra Anh ngữ: Yeah, I understand. I understand your message about space . Space for you …)
Tổng thống Obama: “Đây là cuộc tranh cử cuối cùng của tôi. Sau cuộc bầu cử tôi có rộng đường hành động hơn” (nguyên văn: This is my last election. After the election I will have more flexibility)
Tổng thống Medvedef: “Tôi hiểu. Và tôi sẽ nói lại với Vladimir (1)” (nguyên văn: I understand. I will transmit this information to Valadimir)
Màu sắc của cuộc tranh cử là vậy. Nói tóm lại là trong cuộc bầu cử tổng thống, Hạ nghị viện và Thượng nghị viện năm nay tại Hoa Kỳ cả hai đảng đều bám lấy nguyên tắc của mình không tương nhượng. Và chỉ nói (hay không nói), chỉ làm (hay không làm gì) những gì cần để kiếm phiếu.
Đắc cử rồi hạ hồi phân giải.
Trần Bình Nam
(1) Tên ông Putin gọi một cách thân mật
Trần Bình Nam
Tháng 11 tới cử tri Hoa Kỳ sẽ đi bỏ phiếu chọn ông Barack Obama hay ông Mitt Romney làm tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2012-2014. Cùng ngày cử tri cũng bầu lại toàn thể 435 ghế Hạ nghị viện, 33 ghế Thượng nghị sĩ và khoảng 25 Thống đốc các tiểu bang.
Cuộc bầu cử này chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc tranh cử giữa hai nhiệm kỳ tổng thống năm 2010. Năm đó một phong trào Cộng hòa cực hữu gọi là Tea Party đã thắng 60 ghế dân biểu và giúp đảng Cộng hòa kiểm soát lại Hạ nghị viện từ tay đảng Dân chủ làm thay đổi một cách căn bản không khí sinh hoạt nghị trường.
Từ cuối năm 2010 đến nay quốc hội Hoa Kỳ bị tê liệt vì nhóm Tea Party không chấp nhận một sự dung hòa quan điểm nào để giải quyết các vấn nạn quốc gia như làm thế nào để giảm nợ quốc gia, làm thế nào để giải quyết nạn ngân sách thâm thủng, làm thế nào để gỉải quyết chuyện người nhập cư trái phép đang làm ăn sinh sống tại Hoa Kỳ … Đảng Cộng hòa còn muốn đi xa hơn là dùng ưu thế chính trị mới để hủy bỏ Luật Cải tổ Chế độ Bảo hiểm Sức khỏe (Health Reform) ban hành ngày 23/3/2010 (bởi một quốc hội và một tổng thống trong tay đảng Dân chủ) nếu không bằng thủ tục lập pháp thì qua phán quyết của Tối Cao Pháp Viện (như nội vụ đang nằm tại đó chờ phán quyết).
Chỉ còn 6 tháng nữa là đến ngày bầu cử. Và dân chúng Hoa Kỳ không hy vọng gì thấy một sự dung hòa quan điểm nào giữa hai đảng. Đảng nào cũng nắm chặt nguyên tắc của mình. Bên Cộng hòa là giảm thuế, cắt các chương trình hưu bổng (Social Security) và chi tiêu có tính trợ cấp (Medicare, Medicaid, Supplemental Security Income – SSI) dành cho người người cao niên và thành phần yếu kém trong xã hội. Bên Dân chủ thì đồng ý cắt giảm chừng mực các chi tiêu phí phạm (trong đó có Medicare, Medicaid) nhưng cần tăng thuế đánh vào các đại công ty và thành phần lợi tức cao trong xã hội. Đảng Cộng hòa tin rằng dân chúng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục ủng hộ quan điểm cực hữu giúp Cộng hòa chiếm lại đa số tại hai viện quốc hội và Bạch ốc. Trái lại đảng Dân chủ tin rằng dân chúng đã chán sự tung hòanh của Tea Party và đảng Cộng hòa sẽ không thu đạt được gì hơn.
Trong bế tắc đó, kết quả của cuộc bầu cử tháng 11 tới có thể sẽ giúp điều chỉnh lại cung cách làm việc của quốc hội Hoa Kỳ, nhất là của Hạ nghị viện buộc các dân biểu phải dung hòa quan điểm để giải quyết các vấn nạn của quốc gia.
Nhìn vào toàn diện bức tranh, các nhà quan sát bầu cử Hoa Kỳ tiên đoán rằng đảng Cộng hòa có phần chắc vẫn duy trì được đa số tại Hạ Nghị viện (có thể với một đa số thấp hơn hiện nay 241 - 198). Nhưng tại Thượng nghị viện, đảng Cộng hòa khó chiếm trội thêm 4 ghế nữa để nắm đa số.
Và câu hỏi then chốt là Obama- Romney ai sẽ thắng ai?
Xét thành tích của tổng thống Obama không có lý do gì dân chúng Hoa Kỳ không bầu ông lại một nhiệm kỳ nữa. Tuy ông không làm hết được những gì ông hứa khi tranh cử tổng thống năm 2008, nhưng ông đã làm được khá nhiều. Tổng thống Obama đã rút quân ra khỏi Iraq, và đang rút quân theo kế hoạch ra khỏi Afghanistan. Ông đã làm suy yếu bộ máy lãnh đạo của Al Qaeda giúp bảo đảm an ninh cho Hoa Kỳ và chống khủng bố toàn cầu. Ông cũng đã vực lại được một cuộc khủng hoảng kinh tế to lớn tòan cầu xẩy ra vào đúng lúc ông vừa chân ước chân ráo đắc cử tổng thống. Và ông đã can đảm vượt qua mọi cản trở thực hiện được sự cải tổ chế độ săn sóc sức khỏe của Hoa Kỳ, một khuynh hướng toàn cầu và phổ biến.
Theo nhận xét của ông Aaron Miller, một chuyên viên của Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Woodrow Wilson thì từ bây giờ đến ngày bầu cử tổng thống Obama sẽ thận trọng không đưa ra một chính sách gì sôi nổi, ngoại trừ có biến cố bất khả kháng. Ông Obama tạm để đó các vấn đề chưa có gỉai pháp dứt khoát như chính sách quân sự đối với Iran và đối sách đối với tình hình tại Syria. Ông sẽ tiếp tục thuyết phục Do thái đừng dội bom Iran. Ông sẽ uyển chuyển trong đối sách với chương trình nguyên tử của Bắc Hàn, và sẽ không quá hăng hái trong vấn đề thiết đặt hệ thống hỏa tiễn chống hỏa tiễn của Iran để bảo vệ Tây Âu (mà ông Putin cho là cố ý đe đọa Liên bang Nga).
Điều đáng lo ngại nhất cho sự tái đắc cử của tổng thống Obama là yếu tố tâm lý. Không biết dân chúng Hoa Kỳ đã chấp nhận một tổng thống da đen chưa hay họ cho rằng một nhiệm kỳ thí nghiệm là đủ. Họ có còn thấy ông Obama là một ông tổng thống “lạ” không. Yếu tố “lạ”này là yếu tố quan trọng đã làm cho tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy thua ông Francois Hollande trong cuộc bầu cử tổng thống Pháp ngày 6/5/2012 vừa qua. Ngoài chuyện ái tình vợ con phóng khoáng, ông Sarkozy không phải là một ông tổng thống tồi. Khi làm tổng thống ông đã đưa ra được những biện pháp thực tế - không mị dân- để giải quyết vấn nạn thâm thủng ngân sách, đồng thời giúp bà thủ tướng Đức Angela Merkel tìm một giải pháp cứu vãn đồng Euro để tránh một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu khác (sau cuộc khủng hoảng 2008). Nhưng ông Sarkozy chỉ là một người Pháp thuộc thế hệ đầu tiên. Thân phụ ông là người Hung Gia Lợi đến định cư tại Pháp. Vẫn là một khuôn mặt lạ đối với người Pháp!
Về phần cựu thống đốc Mitt Romney ông không phải là một ứng cử viên nhẹ cân. Là một người Cộng hòa dĩ nhiên ông chủ trương thị trường, đầu tư, giảm thuế là nguyên tắc phát triển kinh tế, nhưng bản chất ông trung dung. Trên con đường kinh tế tư bản ông biết cần có biện pháp giúp đỡ người yếu kém trong xã hội. Khi làm thống đốc bang Masachusetts (2002-2006) ông đã thông qua luật bảo hiểm sức khỏe cho mọi người dân Masachusetts. Tuy nhiên trong 6 tháng vừa qua, để tranh thắng với các ứng cử viên Cộng hòa cực hữu như Rick Santorum, Newt Ginrich ông Romney đã phải chọn con đường cực hữu đi xa dần thành phần yếu kém trong xã hội, và đo đó từ đây đến tháng 11 ông phải dần dần trở về con đường trung dung hơn để lấp bớt nổi lo lắng của thành phần thấp cổ bé miệng.
Toàn thể bức tranh là vậy. Nhưng cũng có một vài nét chấm phá thú vị. Trong cuộc bầu cử sơ bộ tại bang Indiana hôm Thứ Ba 8/5 giữa hai ứng cử viên Cộng hòa Richard Lugar và Richard Mourdock, Thượng nghị sĩ Lugar thua ông Mourdock thuộc khuynh hướng Tea Party. Ông Richard Lugar (Cộng hòa) là một Thượng nghị sĩ có 30 năm kinh nghiệm về đối ngoại của Hoa Kỳ. Ông có lập trường trung dung và thường làm việc với đảng Dân chủ trong những dự án ông nghĩ là hợp lý, nhân đạo hay ích quốc lợi dân. Nhưng ông đã thua ông Mourdock vì cử tri Cộng hòa (dưới ảnh hưởng của Tea Party) tại bang Indiana cho rằng ông Lugar quá dễ dãi với người di dân bất hợp pháp và nhất là đã bỏ phiếu thuận phê chuẩn hai đề cử viên Tối Cao Pháp viện của tổng thống Obama là Sonia Sotomayor và Elena Kagan.
Nét chấm phá thú vị thứ hai là tổng thống Obama ngầm nhắn với tổng thống Putin là, hãy kiên nhẫn. Khi tôi đắc cử rồi tôi sẽ không khó như bây giờ đâu. Một cái micro vô tình để mở đã tiết lộ câu chuyện thì thầm giữa tổng thống Obama và tổng thống Medvedef (hiện nay là thủ tướng) khi hai người trò chuyện với nhau tại Seoul ngày 16/3.
Tổng thống Obama nói: “Về các chuyện này, nhất là về vấn đề hỏa tiễn phòng thủ, thì cũng dễ giải quyết thôi, nhưng ông Putin cần cho tôi không gian trăn trở” (nguyên văn: On all these issues, but particularly missile defense, this, this can be solved but it is important for him to give me space)
Tổng thống Medvedef trả lời: “Tôi hiểu, tôi hiểu. Tôi hiểu nghĩa không gian trăn trở của ông. Không gian cho ông …” (nguyên văn tiếng Nga dịch ra Anh ngữ: Yeah, I understand. I understand your message about space . Space for you …)
Tổng thống Obama: “Đây là cuộc tranh cử cuối cùng của tôi. Sau cuộc bầu cử tôi có rộng đường hành động hơn” (nguyên văn: This is my last election. After the election I will have more flexibility)
Tổng thống Medvedef: “Tôi hiểu. Và tôi sẽ nói lại với Vladimir (1)” (nguyên văn: I understand. I will transmit this information to Valadimir)
Màu sắc của cuộc tranh cử là vậy. Nói tóm lại là trong cuộc bầu cử tổng thống, Hạ nghị viện và Thượng nghị viện năm nay tại Hoa Kỳ cả hai đảng đều bám lấy nguyên tắc của mình không tương nhượng. Và chỉ nói (hay không nói), chỉ làm (hay không làm gì) những gì cần để kiếm phiếu.
Đắc cử rồi hạ hồi phân giải.
Trần Bình Nam
(1) Tên ông Putin gọi một cách thân mật
Hàn Quốc sẽ mua từ 500 đến 600 tên lửa

Theo đề nghị của Bộ Quốc phòng Hàn Quốc,Tổng thống Lee Myung Bak sẽ mua từ 500 đến 600 tên lửa.
Trọng Thành Hôm nay 22/05/2012, theo hãng thông tấn Hàn Quốc Yonhap và nhật báo Chosun Ilbo, Tổng thống Hàn Quốc đã chuẩn y đề nghị của Bộ Quốc phòng, đặt mua hàng trăm tên lửa mới, để tự vệ trước Bắc Triều Tiên.
Theo các thông tin kể trên, trong cuộc họp ngày 28/04, Tổng thống Lee Myung Bak đã đồng ý với đề nghị của Bộ Quốc phòng mua thêm 500 đến 600 tên lửa mới, với trị giá 2,14 tỉ đô la. Nguồn tin từ chính phủ Hàn Quốc giải thích, đơn đặt hàng này là để đối phó lại « các đe dọa ngày càng tăng từ phương Bắc », kể từ khi tân lãnh đạo Kim Jong Un lên nắm quyền.
Trong những tuần gần đây, Bình Nhưỡng nhiều lần đe dọa Seoul sẽ tiến hành « một cuộc chiến tranh thần thánh », với lời lẽ đả kích ngày càng quyết liệt hơn.
Bộ Quốc phòng Hàn Quốc không bình luận về các thông tin kể trên, và chỉ tuyên bố là, chính phủ Hàn Quốc đã thống nhất « sẽ tăng cường hệ thống tên lửa ».
Theo nhật báo Chosun Ilbo, Bộ Quốc phòng Hàn Quốc dự kiến sẽ mua thêm các tên lửa Hyunmu-3, có tầm bắn 1.500 km, và các tên lửa Hyunmu-2, với tầm bắn 300 km. Các tên lửa này có thể tiêu diệt các căn cứ hạt nhân, tên lửa, các kho vũ khí sinh hóa, các sân bay và cơ quan chỉ huy tại miền Bắc. Theo quân đội Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên hiện có khoảng 800 tên lửa Scud, có thể bắn qua Hàn Quốc, thậm chí sang cả Nhật Bản. Tên lửa Rodong-1 của Bình Nhưỡng có thể bắn tới Tokyo.
Cũng về bán đảo Triều Tiên, hôm qua 21/5, ông Glyn Davies - đặc phái viên của Mỹ về Bắc Triều Tiên - đã cảnh báo Bình Nhưỡng về ý đồ thử vũ khí hạt nhân lần nữa, sau thất bại của vụ thử tên lửa đẩy vệ tinh ngày 13/4, và khẳng định đây sẽ là một « sai lầm nghiêm trọng » của Bắc Hàn. Điều này sẽ khiến cho Bình Nhưỡng phải chịu thêm các trừng phạt mới và bị cô lập hơn nữa. Ngày hôm nay, ông Glyn Davies đi Bắc Kinh để gặp đặc phái viên của Trung Quốc về hạt nhân, trước khi đến Nhật Bản.
Trong khi đó, vào ngày hôm nay 22/5, đáp lại các phản ứng từ Hoa Kỳ, Bình Nhưỡng tuyên bố, áp lực ngoại giao của Mỹ sau vụ bắn hụt tên lửa, buộc Bắc Triều Tiên phải có các biện pháp khác để tự vệ. Bộ Ngoại giao Bắc Triều Tiên khẳng định, trong một thông điệp được KCNA truyền đi, Bình Nhưỡng sẽ tiếp tục tăng cường khả năng răn đe hạt nhân, chừng nào Washington còn theo đuổi chính sách đối kháng với Bắc Triều Tiên.

Theo đề nghị của Bộ Quốc phòng Hàn Quốc,Tổng thống Lee Myung Bak sẽ mua từ 500 đến 600 tên lửa.
Trọng Thành Hôm nay 22/05/2012, theo hãng thông tấn Hàn Quốc Yonhap và nhật báo Chosun Ilbo, Tổng thống Hàn Quốc đã chuẩn y đề nghị của Bộ Quốc phòng, đặt mua hàng trăm tên lửa mới, để tự vệ trước Bắc Triều Tiên.
Theo các thông tin kể trên, trong cuộc họp ngày 28/04, Tổng thống Lee Myung Bak đã đồng ý với đề nghị của Bộ Quốc phòng mua thêm 500 đến 600 tên lửa mới, với trị giá 2,14 tỉ đô la. Nguồn tin từ chính phủ Hàn Quốc giải thích, đơn đặt hàng này là để đối phó lại « các đe dọa ngày càng tăng từ phương Bắc », kể từ khi tân lãnh đạo Kim Jong Un lên nắm quyền.
Trong những tuần gần đây, Bình Nhưỡng nhiều lần đe dọa Seoul sẽ tiến hành « một cuộc chiến tranh thần thánh », với lời lẽ đả kích ngày càng quyết liệt hơn.
Bộ Quốc phòng Hàn Quốc không bình luận về các thông tin kể trên, và chỉ tuyên bố là, chính phủ Hàn Quốc đã thống nhất « sẽ tăng cường hệ thống tên lửa ».
Theo nhật báo Chosun Ilbo, Bộ Quốc phòng Hàn Quốc dự kiến sẽ mua thêm các tên lửa Hyunmu-3, có tầm bắn 1.500 km, và các tên lửa Hyunmu-2, với tầm bắn 300 km. Các tên lửa này có thể tiêu diệt các căn cứ hạt nhân, tên lửa, các kho vũ khí sinh hóa, các sân bay và cơ quan chỉ huy tại miền Bắc. Theo quân đội Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên hiện có khoảng 800 tên lửa Scud, có thể bắn qua Hàn Quốc, thậm chí sang cả Nhật Bản. Tên lửa Rodong-1 của Bình Nhưỡng có thể bắn tới Tokyo.
Cũng về bán đảo Triều Tiên, hôm qua 21/5, ông Glyn Davies - đặc phái viên của Mỹ về Bắc Triều Tiên - đã cảnh báo Bình Nhưỡng về ý đồ thử vũ khí hạt nhân lần nữa, sau thất bại của vụ thử tên lửa đẩy vệ tinh ngày 13/4, và khẳng định đây sẽ là một « sai lầm nghiêm trọng » của Bắc Hàn. Điều này sẽ khiến cho Bình Nhưỡng phải chịu thêm các trừng phạt mới và bị cô lập hơn nữa. Ngày hôm nay, ông Glyn Davies đi Bắc Kinh để gặp đặc phái viên của Trung Quốc về hạt nhân, trước khi đến Nhật Bản.
Trong khi đó, vào ngày hôm nay 22/5, đáp lại các phản ứng từ Hoa Kỳ, Bình Nhưỡng tuyên bố, áp lực ngoại giao của Mỹ sau vụ bắn hụt tên lửa, buộc Bắc Triều Tiên phải có các biện pháp khác để tự vệ. Bộ Ngoại giao Bắc Triều Tiên khẳng định, trong một thông điệp được KCNA truyền đi, Bình Nhưỡng sẽ tiếp tục tăng cường khả năng răn đe hạt nhân, chừng nào Washington còn theo đuổi chính sách đối kháng với Bắc Triều Tiên.
Hào khí Nhân Văn Giai Phẩm
Ngô Nhân Dụng Chuyện chỉ có thể xảy ra tại Việt Nam. Một đám công an ở Nha Trang đánh đá, tra tấn một phụ nữ làm công. Chỉ vì bà này bị người chủ nhân giàu có nghi ngờ và tố cáo bà lấy trộm tiền.
Nạn nhân là bà Trần Thị Lan bị “đánh đá bằng cả tay chân, bằng dùi cui và cả bằng roi điện suốt ba ngày, mang thương tích khắp người,” phải điều trị hàng tuần lễ trong bệnh viện.
Trong thế giới văn minh cảnh sát công an không phải là những người quyết định ai có tội hay không có tội. Vì phán xét này thuộc thẩm quyền của tòa án, là ngành tư pháp. Trong thế giới văn minh nếu có một người bị kết tội ăn cắp thì cũng chỉ bị phạt tù hay phạt tiền; không ai “trừng phạt” một người ăn trộm món tiền trị giá “hơn một ngàn đô la” bằng dùi cui, roi điện. Mà nếu có ai bị tòa kết án thì việc trừng phạt không phải là nhiệm vụ của công an. Chỉ dựa vào lời tố của chủ nhân mà đánh đấm dã man một người lao động làm công, đám công an này chứng tỏ họ sẵn sàng làm tay sai cho những người giàu sang, và khinh rẻ người lao động nghèo khó, coi như súc vật. Ðánh đấm người ta đến bầm tím là hành động của côn đồ, du đãng, người có tư cách không ai làm. Năm thằng đàn ông xúm lại đánh đấm một phụ nữ tay không là hành vi hèn hạ đáng xấu hổ. Ðám công an Nha Trang này vừa vi phạm luật pháp, vừa làm trái với đạo lý sơ đẳng của loài người, vừa làm cho chính họ nhục nhã.
Với tất cả các thành tích như thế, đại úy công an Trần Bá Tuấn vừa được tòa phúc thẩm tha bổng, xóa bỏ bản án 9 tháng tù treo.
Chuyện này chỉ có thể xảy ra dưới chế độ cộng sản. Bởi vì chế độ cộng sản từ bản chất vẫn công nhiên trà đạp trên các nguyên tắc sơ đẳng của pháp luật, vẫn quen thói bất chấp đạo lý làm người. Chắc Ðại úy Trần Bá Tuấn và đám công an Nha Trang cũng không nghĩ là họ phạm pháp. Họ chỉ làm theo thói quen, như lối các lãnh tụ cộng sản vẫn làm kể từ khi cướp chính quyền ở nước ta. Thái độ và hành vi “bất chấp pháp luật” đã được Hồ Chí Minh, Trường Chinh đặt thành khuôn mẫu ngay từ thời họ phát động Cải cách Ruộng đất, dưới sự chỉ đạo của các cố vấn Trung Cộng. Vụ cướp ruộng, cướp nhà “long trời lở đất” này đã giết oan hàng trăm ngàn người dân Việt Nam, trong đó có những người đã đóng góp rất nhiều cho cuộc kháng chiến chống Pháp.
Sau thời gian xảy ra vụ này, những nhà trí thức Việt Nam đã cảnh cáo tình trạng bất chấp pháp luật của chế độ cộng sản. Sớm nhất, là trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm với các ông Phan Khôi, Nguyễn Hữu Ðang, và Giáo Sư Nguyễn Mạnh Tường. Ngày 30 tháng 10 năm 1956, sau khi Trường Chinh ra trước Mặt Trận Tổ Quốc thú nhận các lỗi lầm về chiến dịch Cải cách Ruộng đất, Luật gia Nguyễn Mạnh Tường đã dõng dạc nêu lên các nguyên tắc của luật pháp để cho ông tổng bí thư đảng cộng sản nghe một bài học. Trong bài thuyết trình lâu 6 giờ đồng hồ, ông nói: “Khi thi hành chính sách này (Cải cách Ruộng đất) người ta đã vi phạm luật pháp.” Vì đảng cộng sản chủ trương “thà giết chết oan 10 người còn hơn bỏ sót một địa chủ,” trong khi nguyên tắc của pháp lý là “thà bỏ sót 10 người có tội còn hơn là kết tội oan một người”. Nguyễn Mạnh Tường đã dũng cảm phê phán các lãnh tụ đảng lúc đó: “Những người lãnh đạo có trách nhiệm vụ Cải cách Ruộng đất không thể chỉ đứng ra xin lỗi, nhận đảng đã sai lầm. Xin lỗi không phải là một hành động của luật pháp. Giết người rồi, không thể chỉ xin lỗi mà xí xóa được.” Với tư cách một luật gia (ông đã có hai bằng tiến sĩ, luật và văn chương ở Pháp từ năm 1932, lúc 22 tuổi) Nguyễn Mạnh Tường đề nghị phương pháp giải quyết: Quốc Hội phải lập một ủy ban điều tra vụ Cải cách Ruộng đất, rồi đưa ra tòa án; “(T)òa sẽ phân xử, kết án, tùy theo trách nhiệm nặng, nhẹ của mỗi người, từ lãnh đạo cao nhất trở xuống.”
Nhà nghiên cứu văn học Thụy Khuê, trong cuốn sách mới xuất bản về vụ Nhân Văn Giai Phẩm đã tinh tế nhận xét rằng các lời lẽ “Giết người rồi, không thể chỉ xin lỗi mà xí xóa được” và “từ lãnh đạo cao nhất trở xuống” đã tấn công thẳng vào Hồ Chí Minh cũng như toàn bộ lãnh đạo đảng cộng sản. Vì sau vụ Cải cách Ruộng đất, Hồ Chí Minh chỉ đứng ra xin lỗi. Hồ cất chức Trường Chinh để chính ông ta kiêm nhiệm chức tổng bí thư, còn Võ Nguyên Giáp thì đọc bản kiểm thảo các sai lầm. Không một lãnh tụ cộng sản nào chịu trách nhiệm pháp lý trong vụ Cải cách Ruộng đất cả! Họ đã tạo ra thói quen “ngồi lên trên pháp luật” làm gương cho các cán bộ, như đại úy công an Trần Bá Tuấn ở Nha Trang bây giờ!
Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm quy tụ những người trí thức can đảm nhất ở miền Bắc Việt Nam trong thời đại của họ. Sau bài thuyết trình của Nguyễn Mạnh Tường, trong hai số báo Nhân Văn vào tháng 11 năm 1956, Nguyễn Hữu Ðang đã hai lần nêu cao chủ trương phải thiết lập một chế độ pháp trị. Ông nêu ra những điều trong hiến pháp năm 1946 bảo đảm các công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do hội họp, tự do cư trú, tự do đi lại, vân vân. Ðiều 11 nói: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ giam cầm người công dân Việt Nam” nhưng ngay trong thời đó các nhà trí thức như Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Ðặng Ðình Hưng cũng bị đi “cải tạo” không thời hạn; các văn nghệ sĩ như Trần Dần, Tử Phác vô cớ bị bắt giam. Thật không khác gì bà Trần Thị Lan ở Nha Trang ngày nay. Họ còn cơ cực hơn bà Lan, vì sau đó họ bị tù đày, bị cô lập, cắt hết cả việc làm, nghề nghiệp, không thể nào kiếm cơm gạo nuôi vợ con hàng mấy chục năm trời, nhiều người khốn khổ cho đến lúc chết.
Trên báo Giai Phẩm Mùa Thu, Nguyễn Hữu Ðang đã mở cuộc phỏng vấn để các nhà trí thức khác có dịp lên tiếng: Trần Ðức Thảo đòi phải có tự do ngôn luận, tự do nghiên cứu, tự do phê bình; Ðặng Văn Ngữ viết: “Dưới một chế độ độc tài không ai dám chỉ trích chính phủ thì còn đâu mà thấy khuyết điểm về tự do dân chủ?” Ðào Duy Anh kêu gọi giới trí thức phải “đấu tranh” cho tự do, quyết chống lại bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân; Phan Khôi viết “bàn về lãnh đạo văn nghệ” để phê bình toàn thể việc lãnh đạo xã hội.
Cũng can đảm như Nguyễn Mạnh Tường, trong bài trên Phan Khôi dám phơi bày sự thật là triều đình cộng sản cực kỳ phong kiến. Ông nêu thí dụ đám cầm đầu văn nghệ lúc đó đả kích thơ Trần Dần viết hoa chữ “Người” là phạm tội, vì chữ “Người” viết hoa chỉ được dùng để nói đến Hồ Chí Minh thôi. Phan Khôi mỉa mai so sánh cảnh tượng đó không khác gì cảnh một ông quan trong triều đình phong kiến đứng ra tố cáo một ông quan khác đã viết chữ theo kiểu “đài;” lối này chỉ được dùng khi viết đến ông vua mà lại dùng để khi viết về một thường dân!
Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm chứng tỏ giới trí thức Việt Nam không bao giờ lãng quên trách nhiệm với lịch sử. Ngay từ đầu thời Pháp thuộc các Nho sĩ như Nguyễn Ðình Chiểu, Phan Ðình Phùng, Nguyễn Cao đã bảo vệ tiết tháo sáng ngời. Thế hệ sau có những Trần Quý Cáp, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh noi gương họ. Ðọc cuốn sách của Thụy Khuê viết về Nhân Văn Giai Phẩm chúng ta còn được nhắc nhở để không quên thế hệ tiếp nối với những Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Hoàng Ðạo, Phan Khôi. Tác phẩm vẽ ra hình ảnh sôi nổi của những Trần Dần, Lê Ðạt, Phùng Cung, các kẻ sĩ giữa thế kỷ 20.
Người trí thức Việt Nam không bao giờ quên nhiệm vụ của mình là tranh đấu cho tự do và cho sự thật. Trong báo Nhân Văn, Trần Ðức Thảo viết “Người trí thức hoạt động văn hóa cần tự do như khí trời để thở.” Người trí thức phải đỏi hỏi các quyền tự do được phát triển (mở rộng) vì đó là “nhiệm vụ số một của mình cũng như của toàn dân”.
Các thế hệ thanh niên Việt Nam, nhất là các nhà văn, nhà báo bây giờ và trong hàng trăm năm nữa vẫn có thể cảm thông với bầu máu nóng của Trần Dần khi ông viết: “Biểu hiệu cao nhất của trách nhiệm người viết là thái độ tôn trọng, trung thành với sự thực... Tôn trọng, trung thành với sự thực vừa là trách nhiệm, vừa là lập trường, vừa là phương pháp làm việc của người viết... Nếu như sự thực ngược lại chính sách, chỉ thị, thì phải viết sự thực chứ không phải là bóp gò sự thật vào (cho đúng) chính sách!” Trần Dần đã viết những hàng trên trong bản dự thảo để trình bày trước một hội nghị giới văn nghệ trong quân đội năm 1955. Tất nhiên bản dự thảo đó không bao giờ được công bố, nhưng nó cho thấy Trần Dần đúng là một chiến sĩ. Lê Ðạt đã dùng những câu thơ để lên án chế độ độc tài chuyên chế: “Ðem bục công an máy móc đặt giữa tim người - Bắt tình cảm ngược xuôi theo đúng luật đi đường nhà nước!” Ngày nay không thấy người cầm bút nào trong quân đội bầy tỏ được sĩ khí rực rỡ như vậy.
Ngày nay không phải chỉ trong giới viết văn làm báo mà ngay cả giới thanh niên ở Việt Nam đa số vẫn cúi đầu khúm núm đi “theo lề đường” do đảng cộng sản chỉ định. Người ta đăng những bản tin công an đánh người, công an giết người vô tội vạ, mà không gây nên một nỗi phẫn uất nào trong công chúng đô thị! Một vụ Ðoàn Văn Vươn đã đưa tới những vụ Văn Giang, Vụ Bản, dấy lên ở khắp các vùng nông thôn đau khổ. Nhưng thanh niên thành phố còn mê man đi ôm hôn ghế ngồi của các ca sĩ thần tượng ngoại quốc! Người thành thị chạy theo lôi sống xa hoa và sa đọa của bọn nhiều quyền và nhiều tiền, đã quên mất đồng bào nông dân cũng là bà con ruột thịt của mình đang khốn khổ! Cuộc sống đô thị đưa tới cảnh đồi trụy tinh thần! Nếu ở một quốc gia dân chủ tự do thì sau khi Ðại úy Trần Bá Tuấn và đám công an hành hung một chị làm công Trần Thị Lan tàn nhẫn như thế chỉ vì chị bị chủ nhân giàu có nghi ngờ, thì thanh niên, sinh viên, học sinh ở Nha Trang đã xuống đường phản đối nhiều lần rồi! Trí thức đâu cả rồi? Sĩ khí đâu mất rồi?
Thanh niên Việt Nam ngày nay cần đọc lại những vần thơ như Lê Ðạt viết. Ông diễn tả khát vọng của tuổi trẻ thời 1955, lời thơ nay đọc lại vẫn còn làm náo nức lòng người: “Phải quét sạch mây đen / cho khung trời rộng mở - Chặt hết gông xiềng / cho những cánh bay lên - Ngày và đêm / mộng bay đầy cuộc sống - Khát vọng theo khát vọng - Không gì ngăn cản được con người!” Khi đọc lại câu chuyện cuộc tranh đấu “trứng chọi đá” của giới trí thức Việt Nam trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, chúng ta hãnh diện làm người Việt Nam. Nhìn lại những tấm gương của họ, chúng ta thấy còn hy vọng. Bầu máu nóng của các nhà tranh đấu dân chủ ngày nay đang sôi lên để tiếp nối chí khí bất khuất của Phan Khôi, Trần Dần, Nguyễn Hữu Ðang. Họ cho phép chúng ta hy vọng hào khí dân tộc sẽ còn sáng mãi.
Ngô Nhân Dụng Chuyện chỉ có thể xảy ra tại Việt Nam. Một đám công an ở Nha Trang đánh đá, tra tấn một phụ nữ làm công. Chỉ vì bà này bị người chủ nhân giàu có nghi ngờ và tố cáo bà lấy trộm tiền.
Nạn nhân là bà Trần Thị Lan bị “đánh đá bằng cả tay chân, bằng dùi cui và cả bằng roi điện suốt ba ngày, mang thương tích khắp người,” phải điều trị hàng tuần lễ trong bệnh viện.
Trong thế giới văn minh cảnh sát công an không phải là những người quyết định ai có tội hay không có tội. Vì phán xét này thuộc thẩm quyền của tòa án, là ngành tư pháp. Trong thế giới văn minh nếu có một người bị kết tội ăn cắp thì cũng chỉ bị phạt tù hay phạt tiền; không ai “trừng phạt” một người ăn trộm món tiền trị giá “hơn một ngàn đô la” bằng dùi cui, roi điện. Mà nếu có ai bị tòa kết án thì việc trừng phạt không phải là nhiệm vụ của công an. Chỉ dựa vào lời tố của chủ nhân mà đánh đấm dã man một người lao động làm công, đám công an này chứng tỏ họ sẵn sàng làm tay sai cho những người giàu sang, và khinh rẻ người lao động nghèo khó, coi như súc vật. Ðánh đấm người ta đến bầm tím là hành động của côn đồ, du đãng, người có tư cách không ai làm. Năm thằng đàn ông xúm lại đánh đấm một phụ nữ tay không là hành vi hèn hạ đáng xấu hổ. Ðám công an Nha Trang này vừa vi phạm luật pháp, vừa làm trái với đạo lý sơ đẳng của loài người, vừa làm cho chính họ nhục nhã.
Với tất cả các thành tích như thế, đại úy công an Trần Bá Tuấn vừa được tòa phúc thẩm tha bổng, xóa bỏ bản án 9 tháng tù treo.
Chuyện này chỉ có thể xảy ra dưới chế độ cộng sản. Bởi vì chế độ cộng sản từ bản chất vẫn công nhiên trà đạp trên các nguyên tắc sơ đẳng của pháp luật, vẫn quen thói bất chấp đạo lý làm người. Chắc Ðại úy Trần Bá Tuấn và đám công an Nha Trang cũng không nghĩ là họ phạm pháp. Họ chỉ làm theo thói quen, như lối các lãnh tụ cộng sản vẫn làm kể từ khi cướp chính quyền ở nước ta. Thái độ và hành vi “bất chấp pháp luật” đã được Hồ Chí Minh, Trường Chinh đặt thành khuôn mẫu ngay từ thời họ phát động Cải cách Ruộng đất, dưới sự chỉ đạo của các cố vấn Trung Cộng. Vụ cướp ruộng, cướp nhà “long trời lở đất” này đã giết oan hàng trăm ngàn người dân Việt Nam, trong đó có những người đã đóng góp rất nhiều cho cuộc kháng chiến chống Pháp.
Sau thời gian xảy ra vụ này, những nhà trí thức Việt Nam đã cảnh cáo tình trạng bất chấp pháp luật của chế độ cộng sản. Sớm nhất, là trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm với các ông Phan Khôi, Nguyễn Hữu Ðang, và Giáo Sư Nguyễn Mạnh Tường. Ngày 30 tháng 10 năm 1956, sau khi Trường Chinh ra trước Mặt Trận Tổ Quốc thú nhận các lỗi lầm về chiến dịch Cải cách Ruộng đất, Luật gia Nguyễn Mạnh Tường đã dõng dạc nêu lên các nguyên tắc của luật pháp để cho ông tổng bí thư đảng cộng sản nghe một bài học. Trong bài thuyết trình lâu 6 giờ đồng hồ, ông nói: “Khi thi hành chính sách này (Cải cách Ruộng đất) người ta đã vi phạm luật pháp.” Vì đảng cộng sản chủ trương “thà giết chết oan 10 người còn hơn bỏ sót một địa chủ,” trong khi nguyên tắc của pháp lý là “thà bỏ sót 10 người có tội còn hơn là kết tội oan một người”. Nguyễn Mạnh Tường đã dũng cảm phê phán các lãnh tụ đảng lúc đó: “Những người lãnh đạo có trách nhiệm vụ Cải cách Ruộng đất không thể chỉ đứng ra xin lỗi, nhận đảng đã sai lầm. Xin lỗi không phải là một hành động của luật pháp. Giết người rồi, không thể chỉ xin lỗi mà xí xóa được.” Với tư cách một luật gia (ông đã có hai bằng tiến sĩ, luật và văn chương ở Pháp từ năm 1932, lúc 22 tuổi) Nguyễn Mạnh Tường đề nghị phương pháp giải quyết: Quốc Hội phải lập một ủy ban điều tra vụ Cải cách Ruộng đất, rồi đưa ra tòa án; “(T)òa sẽ phân xử, kết án, tùy theo trách nhiệm nặng, nhẹ của mỗi người, từ lãnh đạo cao nhất trở xuống.”
Nhà nghiên cứu văn học Thụy Khuê, trong cuốn sách mới xuất bản về vụ Nhân Văn Giai Phẩm đã tinh tế nhận xét rằng các lời lẽ “Giết người rồi, không thể chỉ xin lỗi mà xí xóa được” và “từ lãnh đạo cao nhất trở xuống” đã tấn công thẳng vào Hồ Chí Minh cũng như toàn bộ lãnh đạo đảng cộng sản. Vì sau vụ Cải cách Ruộng đất, Hồ Chí Minh chỉ đứng ra xin lỗi. Hồ cất chức Trường Chinh để chính ông ta kiêm nhiệm chức tổng bí thư, còn Võ Nguyên Giáp thì đọc bản kiểm thảo các sai lầm. Không một lãnh tụ cộng sản nào chịu trách nhiệm pháp lý trong vụ Cải cách Ruộng đất cả! Họ đã tạo ra thói quen “ngồi lên trên pháp luật” làm gương cho các cán bộ, như đại úy công an Trần Bá Tuấn ở Nha Trang bây giờ!
Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm quy tụ những người trí thức can đảm nhất ở miền Bắc Việt Nam trong thời đại của họ. Sau bài thuyết trình của Nguyễn Mạnh Tường, trong hai số báo Nhân Văn vào tháng 11 năm 1956, Nguyễn Hữu Ðang đã hai lần nêu cao chủ trương phải thiết lập một chế độ pháp trị. Ông nêu ra những điều trong hiến pháp năm 1946 bảo đảm các công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do hội họp, tự do cư trú, tự do đi lại, vân vân. Ðiều 11 nói: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ giam cầm người công dân Việt Nam” nhưng ngay trong thời đó các nhà trí thức như Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Ðặng Ðình Hưng cũng bị đi “cải tạo” không thời hạn; các văn nghệ sĩ như Trần Dần, Tử Phác vô cớ bị bắt giam. Thật không khác gì bà Trần Thị Lan ở Nha Trang ngày nay. Họ còn cơ cực hơn bà Lan, vì sau đó họ bị tù đày, bị cô lập, cắt hết cả việc làm, nghề nghiệp, không thể nào kiếm cơm gạo nuôi vợ con hàng mấy chục năm trời, nhiều người khốn khổ cho đến lúc chết.
Trên báo Giai Phẩm Mùa Thu, Nguyễn Hữu Ðang đã mở cuộc phỏng vấn để các nhà trí thức khác có dịp lên tiếng: Trần Ðức Thảo đòi phải có tự do ngôn luận, tự do nghiên cứu, tự do phê bình; Ðặng Văn Ngữ viết: “Dưới một chế độ độc tài không ai dám chỉ trích chính phủ thì còn đâu mà thấy khuyết điểm về tự do dân chủ?” Ðào Duy Anh kêu gọi giới trí thức phải “đấu tranh” cho tự do, quyết chống lại bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân; Phan Khôi viết “bàn về lãnh đạo văn nghệ” để phê bình toàn thể việc lãnh đạo xã hội.
Cũng can đảm như Nguyễn Mạnh Tường, trong bài trên Phan Khôi dám phơi bày sự thật là triều đình cộng sản cực kỳ phong kiến. Ông nêu thí dụ đám cầm đầu văn nghệ lúc đó đả kích thơ Trần Dần viết hoa chữ “Người” là phạm tội, vì chữ “Người” viết hoa chỉ được dùng để nói đến Hồ Chí Minh thôi. Phan Khôi mỉa mai so sánh cảnh tượng đó không khác gì cảnh một ông quan trong triều đình phong kiến đứng ra tố cáo một ông quan khác đã viết chữ theo kiểu “đài;” lối này chỉ được dùng khi viết đến ông vua mà lại dùng để khi viết về một thường dân!
Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm chứng tỏ giới trí thức Việt Nam không bao giờ lãng quên trách nhiệm với lịch sử. Ngay từ đầu thời Pháp thuộc các Nho sĩ như Nguyễn Ðình Chiểu, Phan Ðình Phùng, Nguyễn Cao đã bảo vệ tiết tháo sáng ngời. Thế hệ sau có những Trần Quý Cáp, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh noi gương họ. Ðọc cuốn sách của Thụy Khuê viết về Nhân Văn Giai Phẩm chúng ta còn được nhắc nhở để không quên thế hệ tiếp nối với những Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Hoàng Ðạo, Phan Khôi. Tác phẩm vẽ ra hình ảnh sôi nổi của những Trần Dần, Lê Ðạt, Phùng Cung, các kẻ sĩ giữa thế kỷ 20.
Người trí thức Việt Nam không bao giờ quên nhiệm vụ của mình là tranh đấu cho tự do và cho sự thật. Trong báo Nhân Văn, Trần Ðức Thảo viết “Người trí thức hoạt động văn hóa cần tự do như khí trời để thở.” Người trí thức phải đỏi hỏi các quyền tự do được phát triển (mở rộng) vì đó là “nhiệm vụ số một của mình cũng như của toàn dân”.
Các thế hệ thanh niên Việt Nam, nhất là các nhà văn, nhà báo bây giờ và trong hàng trăm năm nữa vẫn có thể cảm thông với bầu máu nóng của Trần Dần khi ông viết: “Biểu hiệu cao nhất của trách nhiệm người viết là thái độ tôn trọng, trung thành với sự thực... Tôn trọng, trung thành với sự thực vừa là trách nhiệm, vừa là lập trường, vừa là phương pháp làm việc của người viết... Nếu như sự thực ngược lại chính sách, chỉ thị, thì phải viết sự thực chứ không phải là bóp gò sự thật vào (cho đúng) chính sách!” Trần Dần đã viết những hàng trên trong bản dự thảo để trình bày trước một hội nghị giới văn nghệ trong quân đội năm 1955. Tất nhiên bản dự thảo đó không bao giờ được công bố, nhưng nó cho thấy Trần Dần đúng là một chiến sĩ. Lê Ðạt đã dùng những câu thơ để lên án chế độ độc tài chuyên chế: “Ðem bục công an máy móc đặt giữa tim người - Bắt tình cảm ngược xuôi theo đúng luật đi đường nhà nước!” Ngày nay không thấy người cầm bút nào trong quân đội bầy tỏ được sĩ khí rực rỡ như vậy.
Ngày nay không phải chỉ trong giới viết văn làm báo mà ngay cả giới thanh niên ở Việt Nam đa số vẫn cúi đầu khúm núm đi “theo lề đường” do đảng cộng sản chỉ định. Người ta đăng những bản tin công an đánh người, công an giết người vô tội vạ, mà không gây nên một nỗi phẫn uất nào trong công chúng đô thị! Một vụ Ðoàn Văn Vươn đã đưa tới những vụ Văn Giang, Vụ Bản, dấy lên ở khắp các vùng nông thôn đau khổ. Nhưng thanh niên thành phố còn mê man đi ôm hôn ghế ngồi của các ca sĩ thần tượng ngoại quốc! Người thành thị chạy theo lôi sống xa hoa và sa đọa của bọn nhiều quyền và nhiều tiền, đã quên mất đồng bào nông dân cũng là bà con ruột thịt của mình đang khốn khổ! Cuộc sống đô thị đưa tới cảnh đồi trụy tinh thần! Nếu ở một quốc gia dân chủ tự do thì sau khi Ðại úy Trần Bá Tuấn và đám công an hành hung một chị làm công Trần Thị Lan tàn nhẫn như thế chỉ vì chị bị chủ nhân giàu có nghi ngờ, thì thanh niên, sinh viên, học sinh ở Nha Trang đã xuống đường phản đối nhiều lần rồi! Trí thức đâu cả rồi? Sĩ khí đâu mất rồi?
Thanh niên Việt Nam ngày nay cần đọc lại những vần thơ như Lê Ðạt viết. Ông diễn tả khát vọng của tuổi trẻ thời 1955, lời thơ nay đọc lại vẫn còn làm náo nức lòng người: “Phải quét sạch mây đen / cho khung trời rộng mở - Chặt hết gông xiềng / cho những cánh bay lên - Ngày và đêm / mộng bay đầy cuộc sống - Khát vọng theo khát vọng - Không gì ngăn cản được con người!” Khi đọc lại câu chuyện cuộc tranh đấu “trứng chọi đá” của giới trí thức Việt Nam trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, chúng ta hãnh diện làm người Việt Nam. Nhìn lại những tấm gương của họ, chúng ta thấy còn hy vọng. Bầu máu nóng của các nhà tranh đấu dân chủ ngày nay đang sôi lên để tiếp nối chí khí bất khuất của Phan Khôi, Trần Dần, Nguyễn Hữu Ðang. Họ cho phép chúng ta hy vọng hào khí dân tộc sẽ còn sáng mãi.
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Trả Ơn Hơn Nhớ Ơn
Tác giả : Vi Anh
Memorial Day là Ngày Chiến Sĩ Trận Vong là ngày lễ có tính truyền thống và lịch sử của liên bang Mỹ, cử hành trên tòan quốc vào ngày Thứ Hai cuối cùng của tháng 5 hằng năm. Theo nghi thức quốc kỳ Mỹ được treo rũ cho quá ngọ giờ địa phương, người Mỹ đi viếng nghĩa trang tử sĩ và các tượng đài tử sĩ Mỹ để tưởng niệm. Ngày lễ Chiến sĩ Trận Vong cũng được người Mỹ xem là ngày bắt đầu mùa hè kéo dài tới ngày Lễ Lao Động vào đầu tháng 9.
Bản tính dân tộc Việt là trọng tình, trọng nghĩa, ơn phải đền nghĩa phải trả. Nên vào Memorial Day hay Ngày Chiến Sĩ Trận Vong này, người Mỹ gốc Việt chẳng những tưởng niệm quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa vì dân chiến đấu, vì nước hy sinh đã bỏ mình trong cuộc chiến đấu tự vệ chánh đáng dể bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa mà còn tưởng niệm quân nhân đồng minh Mỹ, 58,159 tử trận và 1,719 mất tích trong khi góp sức cùng chiến đấu cho tự do dân chủ cho quốc gia dân tộc VN.
Một sự thật đáng mừng qua việc người Mỹ gốc Việt trả ơn đất nước và nhân dân Mỹ. Số người Mỹ gốc Việt thế hệ một rưỡi và hai con em của gia đình quân dân cán chính VNCH di tản qua Mỹ đã tình nguyện vào quân đội Mỹ khá nhiều. Tình nguyện vào quân đội, đem mạng sống của mình để bảo vệ nước Mỹ và người Mỹ ở quốc nội và quyền lợi, niềm tin nước Mỹ ở hải ngọai, là hành động trả ơn cao cả và dũng cảm nhứt.
Có người đã lên cấp đại tá, chỉ huy lữ đòan nhảy dù thiện chiến của Mỹ. Số quân nhân Mỹ gốc Việt này đã thành lập được một hội đoàn mệnh danh Quân Nhân Mỹ Gốc Việt Trong Quân Lực Hoa kỳ (Vietnamese Americans Armed Forces Association) www.vaafa.org. Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt Trong Quân Lực Hoa Kỳ ra mắt cộng đồng ngày 31 tháng 5, trong một buổi lễ tại Tượng Đài Chiến sĩ Việt Mỹ ở Westminster và trong một buổi tiệc đông nhứt chưa từng thấy ở nhà hàng Paracel, Little Saigon.
Ơn nghĩa của cộng đồng và xã hội đối với những người chiến sĩ nam nữ đã hy sinh những ngày hoa mộng của mình, nghe theo lời kêu gọi của Tổ Quốc, xả thân trong việc bảo quốc an dân, bảo vệ quyên lợi của đất nước nhân dân, việc trả ơn không phải đơn thuần chỉ là những lễ lộc có tính sân khấu, làm tin cho báo đăng, truyền hình quây.
Tuy người Mỹ gốc Việt tỵ nạn CS ở Mỹ còn chân ướt chân ráo, không còn chánh quyền quốc gia, nhưng là một sắc tộc trọn tình trọn nghĩa với thương phế binh VNCH. Trong các công tác gây quỹ, việc gây quỹ giúp cho thương phế binh còn kẹt ở nước nhà là thu đạt kết quả cao nhứt, lớn nhứt. Vì đại đa số quan niệm đó không phải là công tác từ thiện, mà là nghĩa vụ của đồng đội đối với đồng đội, nghĩa vụ của dân cán chính VNCH đối với quân nhân như cá với nước.
Ngày Chiến sĩ Trận Vong đúng nghĩa không phải để chỉ tưởng niệm người đã hy sinh cho Tổ Quốc, mà còn nhắc nhở cần phải đãi ngộ xứng đáng những chiến sĩ còn sống đang tại ngũ hay đã giải ngũ, lành lặn hay bị thương tật.
Nhưng thực tế khá phũ phàng ở Mỹ. Người ta thấy Lễ Chiến sĩ Trận Vong dài ba ngày cuối tuần, trừ một vài nơi như nghĩa trang, tượng đài chiến sĩ, thì có lễ lộc, có nhân viên chánh quyền, quân nhân và cựu quân nhân tham dự. Nhưng đại đa số dân chúng Mỹ còn lại thì lo đi mua sắm, tổ chức nướng thịt ăn chơi ngoài sân hay ngâm mình trong hồ tắm, chơi thể thao, hay kéo nhau đi ăn nhậu ở nhà hàng.
Trong khi đó theo sưu khảo mới nhứt của RAND Corporation từ ngày cuộc khủng bố 911 xảy ra số quân nhân Mỹ bị thương tật vì Chiến tranh Afghanistan và Iraq, tính ra hơn nửa triệu người. Bên cạnh số quân nhân bị thương tật cơ thể, số bị chấn thương tâm lý là 328,000 người và hậu chấn thương tâm lý như căng thẳng tâm thần, trầm cảm, âu lo là 300,000 người. Một tỷ số đáng lọ: cứ 5 ngưòi thì 1 người bị!
Còn số người trở về ai may mắn được vật chất tinh thần lành mạnh, thì cuộc sống hàng ngày rất khó khăn, tay làm hàm nhai có khi không đủ cho gia đình ngày này qua ngày nọ, ngay trên quê cha đất tổ của mình – là Mỹ. Khi mọi người Mỹ lo âu về cơn khủng hoảng nhà cửa và thất nghiệp những cựu quân nhân này có nhiều thứ phải lo nhiều hơn, lo làm sao đủ ăn, có chỗ che nắng, che mưa cho mình và cho vợ con. Rất nhiều cựu quân nhân bị thất nghiệp. Rất nhiều cựu quân nhân không có nhà.
Thiết nghĩ trong xã hội tự do, dân chủ, về chánh trị có người ủng hộ chiến tranh và có người chống. Nhưng có một điều cả hai lập trường cần phải phân biệt là chiến sĩ khác với chiến tranh. Quân nhân Mỹ là những người tình nguyện được chánh quyền hợp hiến, hợp pháp, nhơn danh nhân dân và quân đội điều động ra chiến trường. Quân nhân là những người tuân hành quân lịnh. Còn chiến tranh là do chánh quyền quyết định. Không vì lý do chống chiến tranh mà không ủng hộ chiến sĩ.
Nhưng rất đáng than phiền và đáng buồn, là những người chiến sĩ này sau khi đi xa đánh trận, trở về nước nhà, chưa được chánh quyền và nhân dân đãi ngộ xứng đáng. Đặc biệt là đối với những quân nhân bị chấn thương tâm thần lâu dài. Cả nước Mỹ diện tích gần 10 triệu cây số vuông, dân số hơn 300 triệu, mà chỉ có bốn trung tâm phục hồi chấn thương tâm thần cho cựu quân nhân. Cựu quân nhân bị thương tật cơ thể và tâm thần rất khó khăn và tốn kém để đến trị. Cha mẹ, chồng vợ của những nam nữ quân nhân này có khi phải nghỉ làm việc để đưa và ở một bên để chăm sóc con em, chồng vợ bị thương tật khi chữa trị có khi kéo dài cả năm. Do vậy, vì sự sống của gia đình, những người thân đó thường phải đưa quân nhân bị thương tật vào chữa trị những bịnh viện ở thành phố nhà thôi.
Thiết nghĩ quốc gia dân tộc này, chánh quyền này, Quốc hội, Hành Pháp, Bộ Quốc Phòng, Bộ Cựu Chiến Binh, hai đảng Cộng Hoà đang đối lập lẫn Dân Chủ đang cầm quyền nước Mỹ này cần phải chiếu cố hơn nữa đối với cựu quân nhân bị thương tật. Tăng cưòng các cơ sở chữa trị, Theo dõi những người đã được trị. Tăng kinh phí để có thêm người săn sóc tại gia. Trả lương đầy đủ cho quân nhân khi chữa trị. Quốc Hội đã đi bước đầu khi trong năm 2007 đã chuẩn thuận một kinh phí là 900 triệu để chữa trị cho ngưòi bị chấn thương trong khi trị và sau khi trị.
Đãi ngộ xứng đáng chiến sĩ không có nghĩa làm những tác động sân khấu, làm tin cho báo chí, mà phải bằng hành động thiết thực có lợi thực tế và trực tiếp cho những quân nhân. Không phải ngày Lễ Chiến sĩ Trận Vong chỉ làm lễ, viếng mộ. Không phải chỉ đón quân nhân trở về bắt tay, tươi cười ở phi trường. Rồi sau đó viên chức chánh quyền, đại diện các đoàn thể cơ quan ai về nhà nấy lo sống riêng tư, Cựu chiến binh mang những thương tật bên mình, đem nỗi âu lo chăm sóc cho gia đình, còn những người Mỹ còn lại thì đi mua sắm, làm việc, vui chơi.
Tại sao Hành Pháp, Lập Pháp không đưa ra những ưu tiên cho cựu quân nhân, không giản dị thủ tục xin tiền cựu quân nhân, tạo dễ dàng cho con em cựu quân nhân được gởi nhà trẻ, được phụ giáo khi học hành. Tại sao không đi tìm những quân nhân trừ bị sau thời gian bị gọi vào quân đội xem coi khi trở về có được vào sở cũ làm hay không. Tại sao các công ty không dành ưu tiên tuyển dụng cựu quân nhân để đền ơn đáp nghĩa đối với những người con yêu của Tổ Quốc.
Có lẽ vì những câu hỏi tại sao đó mà quân nhân Mỹ gốc Việt thành lập Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt Trong Quân Lực Hoa kỳ để tương trợ, ủy lạo nhau và hướng dẫn đàn em đang trên đường tình nguyện vào quân lực Mỹ. Và có lẽ đó cũng là lý do cộng đồng người Mỹ gốc Việt tham dự một buổi tiệc đông chưa từng thấy ở nhà hàng Paracel khi hội quân nhân Mỹ gốc Việt ra mắt cộng dồng Mỹ gốc Việt./.
Tác giả : Vi Anh
Memorial Day là Ngày Chiến Sĩ Trận Vong là ngày lễ có tính truyền thống và lịch sử của liên bang Mỹ, cử hành trên tòan quốc vào ngày Thứ Hai cuối cùng của tháng 5 hằng năm. Theo nghi thức quốc kỳ Mỹ được treo rũ cho quá ngọ giờ địa phương, người Mỹ đi viếng nghĩa trang tử sĩ và các tượng đài tử sĩ Mỹ để tưởng niệm. Ngày lễ Chiến sĩ Trận Vong cũng được người Mỹ xem là ngày bắt đầu mùa hè kéo dài tới ngày Lễ Lao Động vào đầu tháng 9.
Bản tính dân tộc Việt là trọng tình, trọng nghĩa, ơn phải đền nghĩa phải trả. Nên vào Memorial Day hay Ngày Chiến Sĩ Trận Vong này, người Mỹ gốc Việt chẳng những tưởng niệm quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa vì dân chiến đấu, vì nước hy sinh đã bỏ mình trong cuộc chiến đấu tự vệ chánh đáng dể bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa mà còn tưởng niệm quân nhân đồng minh Mỹ, 58,159 tử trận và 1,719 mất tích trong khi góp sức cùng chiến đấu cho tự do dân chủ cho quốc gia dân tộc VN.
Một sự thật đáng mừng qua việc người Mỹ gốc Việt trả ơn đất nước và nhân dân Mỹ. Số người Mỹ gốc Việt thế hệ một rưỡi và hai con em của gia đình quân dân cán chính VNCH di tản qua Mỹ đã tình nguyện vào quân đội Mỹ khá nhiều. Tình nguyện vào quân đội, đem mạng sống của mình để bảo vệ nước Mỹ và người Mỹ ở quốc nội và quyền lợi, niềm tin nước Mỹ ở hải ngọai, là hành động trả ơn cao cả và dũng cảm nhứt.
Có người đã lên cấp đại tá, chỉ huy lữ đòan nhảy dù thiện chiến của Mỹ. Số quân nhân Mỹ gốc Việt này đã thành lập được một hội đoàn mệnh danh Quân Nhân Mỹ Gốc Việt Trong Quân Lực Hoa kỳ (Vietnamese Americans Armed Forces Association) www.vaafa.org. Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt Trong Quân Lực Hoa Kỳ ra mắt cộng đồng ngày 31 tháng 5, trong một buổi lễ tại Tượng Đài Chiến sĩ Việt Mỹ ở Westminster và trong một buổi tiệc đông nhứt chưa từng thấy ở nhà hàng Paracel, Little Saigon.
Ơn nghĩa của cộng đồng và xã hội đối với những người chiến sĩ nam nữ đã hy sinh những ngày hoa mộng của mình, nghe theo lời kêu gọi của Tổ Quốc, xả thân trong việc bảo quốc an dân, bảo vệ quyên lợi của đất nước nhân dân, việc trả ơn không phải đơn thuần chỉ là những lễ lộc có tính sân khấu, làm tin cho báo đăng, truyền hình quây.
Tuy người Mỹ gốc Việt tỵ nạn CS ở Mỹ còn chân ướt chân ráo, không còn chánh quyền quốc gia, nhưng là một sắc tộc trọn tình trọn nghĩa với thương phế binh VNCH. Trong các công tác gây quỹ, việc gây quỹ giúp cho thương phế binh còn kẹt ở nước nhà là thu đạt kết quả cao nhứt, lớn nhứt. Vì đại đa số quan niệm đó không phải là công tác từ thiện, mà là nghĩa vụ của đồng đội đối với đồng đội, nghĩa vụ của dân cán chính VNCH đối với quân nhân như cá với nước.
Ngày Chiến sĩ Trận Vong đúng nghĩa không phải để chỉ tưởng niệm người đã hy sinh cho Tổ Quốc, mà còn nhắc nhở cần phải đãi ngộ xứng đáng những chiến sĩ còn sống đang tại ngũ hay đã giải ngũ, lành lặn hay bị thương tật.
Nhưng thực tế khá phũ phàng ở Mỹ. Người ta thấy Lễ Chiến sĩ Trận Vong dài ba ngày cuối tuần, trừ một vài nơi như nghĩa trang, tượng đài chiến sĩ, thì có lễ lộc, có nhân viên chánh quyền, quân nhân và cựu quân nhân tham dự. Nhưng đại đa số dân chúng Mỹ còn lại thì lo đi mua sắm, tổ chức nướng thịt ăn chơi ngoài sân hay ngâm mình trong hồ tắm, chơi thể thao, hay kéo nhau đi ăn nhậu ở nhà hàng.
Trong khi đó theo sưu khảo mới nhứt của RAND Corporation từ ngày cuộc khủng bố 911 xảy ra số quân nhân Mỹ bị thương tật vì Chiến tranh Afghanistan và Iraq, tính ra hơn nửa triệu người. Bên cạnh số quân nhân bị thương tật cơ thể, số bị chấn thương tâm lý là 328,000 người và hậu chấn thương tâm lý như căng thẳng tâm thần, trầm cảm, âu lo là 300,000 người. Một tỷ số đáng lọ: cứ 5 ngưòi thì 1 người bị!
Còn số người trở về ai may mắn được vật chất tinh thần lành mạnh, thì cuộc sống hàng ngày rất khó khăn, tay làm hàm nhai có khi không đủ cho gia đình ngày này qua ngày nọ, ngay trên quê cha đất tổ của mình – là Mỹ. Khi mọi người Mỹ lo âu về cơn khủng hoảng nhà cửa và thất nghiệp những cựu quân nhân này có nhiều thứ phải lo nhiều hơn, lo làm sao đủ ăn, có chỗ che nắng, che mưa cho mình và cho vợ con. Rất nhiều cựu quân nhân bị thất nghiệp. Rất nhiều cựu quân nhân không có nhà.
Thiết nghĩ trong xã hội tự do, dân chủ, về chánh trị có người ủng hộ chiến tranh và có người chống. Nhưng có một điều cả hai lập trường cần phải phân biệt là chiến sĩ khác với chiến tranh. Quân nhân Mỹ là những người tình nguyện được chánh quyền hợp hiến, hợp pháp, nhơn danh nhân dân và quân đội điều động ra chiến trường. Quân nhân là những người tuân hành quân lịnh. Còn chiến tranh là do chánh quyền quyết định. Không vì lý do chống chiến tranh mà không ủng hộ chiến sĩ.
Nhưng rất đáng than phiền và đáng buồn, là những người chiến sĩ này sau khi đi xa đánh trận, trở về nước nhà, chưa được chánh quyền và nhân dân đãi ngộ xứng đáng. Đặc biệt là đối với những quân nhân bị chấn thương tâm thần lâu dài. Cả nước Mỹ diện tích gần 10 triệu cây số vuông, dân số hơn 300 triệu, mà chỉ có bốn trung tâm phục hồi chấn thương tâm thần cho cựu quân nhân. Cựu quân nhân bị thương tật cơ thể và tâm thần rất khó khăn và tốn kém để đến trị. Cha mẹ, chồng vợ của những nam nữ quân nhân này có khi phải nghỉ làm việc để đưa và ở một bên để chăm sóc con em, chồng vợ bị thương tật khi chữa trị có khi kéo dài cả năm. Do vậy, vì sự sống của gia đình, những người thân đó thường phải đưa quân nhân bị thương tật vào chữa trị những bịnh viện ở thành phố nhà thôi.
Thiết nghĩ quốc gia dân tộc này, chánh quyền này, Quốc hội, Hành Pháp, Bộ Quốc Phòng, Bộ Cựu Chiến Binh, hai đảng Cộng Hoà đang đối lập lẫn Dân Chủ đang cầm quyền nước Mỹ này cần phải chiếu cố hơn nữa đối với cựu quân nhân bị thương tật. Tăng cưòng các cơ sở chữa trị, Theo dõi những người đã được trị. Tăng kinh phí để có thêm người săn sóc tại gia. Trả lương đầy đủ cho quân nhân khi chữa trị. Quốc Hội đã đi bước đầu khi trong năm 2007 đã chuẩn thuận một kinh phí là 900 triệu để chữa trị cho ngưòi bị chấn thương trong khi trị và sau khi trị.
Đãi ngộ xứng đáng chiến sĩ không có nghĩa làm những tác động sân khấu, làm tin cho báo chí, mà phải bằng hành động thiết thực có lợi thực tế và trực tiếp cho những quân nhân. Không phải ngày Lễ Chiến sĩ Trận Vong chỉ làm lễ, viếng mộ. Không phải chỉ đón quân nhân trở về bắt tay, tươi cười ở phi trường. Rồi sau đó viên chức chánh quyền, đại diện các đoàn thể cơ quan ai về nhà nấy lo sống riêng tư, Cựu chiến binh mang những thương tật bên mình, đem nỗi âu lo chăm sóc cho gia đình, còn những người Mỹ còn lại thì đi mua sắm, làm việc, vui chơi.
Tại sao Hành Pháp, Lập Pháp không đưa ra những ưu tiên cho cựu quân nhân, không giản dị thủ tục xin tiền cựu quân nhân, tạo dễ dàng cho con em cựu quân nhân được gởi nhà trẻ, được phụ giáo khi học hành. Tại sao không đi tìm những quân nhân trừ bị sau thời gian bị gọi vào quân đội xem coi khi trở về có được vào sở cũ làm hay không. Tại sao các công ty không dành ưu tiên tuyển dụng cựu quân nhân để đền ơn đáp nghĩa đối với những người con yêu của Tổ Quốc.
Có lẽ vì những câu hỏi tại sao đó mà quân nhân Mỹ gốc Việt thành lập Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt Trong Quân Lực Hoa kỳ để tương trợ, ủy lạo nhau và hướng dẫn đàn em đang trên đường tình nguyện vào quân lực Mỹ. Và có lẽ đó cũng là lý do cộng đồng người Mỹ gốc Việt tham dự một buổi tiệc đông chưa từng thấy ở nhà hàng Paracel khi hội quân nhân Mỹ gốc Việt ra mắt cộng dồng Mỹ gốc Việt./.
Luật sư mù làm sáng mắt thế giới
Ngô Ðình Thu
(Nguồn: diendanctm.blogspot.com)
Một trong các nhà bất đồng chính kiến ôn hòa nổi tiếng nhất Trung Quốc, Luật Sư Trần Quang Thành đã trốn thoát khỏi nơi quản thúc,
cũng là nhà mình trong đêm 22 tháng 4.
Ðối diện bệnh viện ở Bắc Kinh nơi Luật Sư Trần Quang Thành (Chen Guangcheng) điều trị,
dân oan Trung Quốc giơ cao đơn khiếu kiện của họ, hy vọng được báo chí quan tâm. (Hình: AP Photo/Alexander F. Yuan)
Mãi đến ngày 27 tháng 4, báo chí và các hãng truyền thông thế giới mới đồng loạt đưa tin ông chạy trốn từ Sơn Ðông đến Ðại Sứ Quán Hoa Kỳ ở Bắc Kinh.
Một video ngắn 15 phút gửi Thủ Tướng Ôn Gia Bảo nói là của vị luật sư đào thoát này, đăng trên một trang mạng bất đồng chính kiến tiếng Hoa đặt tại Hoa Kỳ, nêu lên ba yêu cầu: phải bảo đảm an toàn cho gia đình ông, điều tra và truy tố các quan chức đánh đập người thân của ông và trừng trị nạn tham nhũng theo đúng luật pháp.
Những tin tức sau đó cho biết Luật Sư Trần Quang Thành được sự bảo trợ của sứ quán Hoa Kỳ. Chính phủ Trung Quốc, để gỡ sĩ diện, nay tuyên bố họ chấp thuận cho ông “đi du học tại Hoa Kỳ theo đơn xin.”
Sinh năm 1971, ông Trần Quang Thành bị mù từ nhỏ. Ông tự học luật bằng cách nhờ người anh Trần Quang Phúc đọc lại bài giảng cho mình nghe. Tinh thần kiên trì, dũng cảm đã biến Trần Quang Thành trở thành một luật gia. Ðiều hơn người của ông là trong suốt mười năm dài, ông đã sử dụng kiến thức luật pháp học được để tranh đấu cho dân nghèo, chống áp bức bất công. Ðặc biệt từ năm 2005, tại Sơn Ðông, ông khởi xướng và dẫn đầu trong cuộc phản kháng chống chính sách triệt sản. Trong thực tế, gia đình các quan chức chính quyền tha hồ vi phạm chính sách này, nhưng nhân dân thì bị buộc phải tuân thủ một cách gắt gao. Hậu quả chỉ tính riêng tại tỉnh Sơn Ðông đã có hàng chục ngàn phụ nữ bị cưỡng bức phải triệt sản vĩnh viễn hoặc nạo phá thai. Có những trường hợp mang thai trên 6 tháng vẫn bị buộc phải phá bỏ. Trong điều kiện y tế tồi tệ, nhiều vụ phá thai khiến các thai phụ bị tử vong hoặc tàn phế suốt đời. Ông Thành cũng cố vấn cho nông dân trong các vụ khiếu kiện về đất đai mà đa số là bị các viên chức chính quyền cướp đoạt.
Trước đó, trong những năm 90, ông bênh vực người tàn tật bị phân biệt đối xử ngay tại Bắc Kinh và nổi danh là “luật sư chân đất.” Chính quyền thù ghét ông, tổ chức cho người đánh đập, cuối cùng bắt người mù này về tội “phá rối trật tự công cộng.” Vị luật sư của dân nghèo nông thôn Trung Quốc bị kết án 4 năm tù. Sau khi mãn hạn tù năm 2010, ông bị quản thúc tại gia ở huyện Lâm Nghi, tỉnh Sơn Ðông nhưng ông vẫn không bỏ cuộc. Chính vì vậy ông thường xuyên bị sách nhiễu. Những người muốn đến thăm hoặc nhờ ông cố vấn đều bị công an tìm cách ngăn cản.
Trần Quang Thành, một luật sư mù, bằng hành động dũng cảm của mình, quả thật đã mở mắt cho cả thế giới thấy chính sách cưỡng ép phá thai và chủ trương triệt sản vô nhân đạo đối với phụ nữ nông thôn của chính phủ Trung Quốc - một sư thật bên dưới lớp vỏ hào nhoáng văn minh, đặc biệt tại các thành thị. Dư luận thế giới càng lên án hiện tượng vi phạm nhân quyền trầm trọng này khi qua sự tố giác của ông Thành, mọi người mới biết các vụ triệt sản “để đủ các con số chỉ tiêu” do cấp nhà nước bên trên chỉ định xuống bất chấp tình trạng của các nạn nhân. Ðây là chính sách chà đạp nhân quyền có hệ thống và chủ trương của lãnh đạo đảng CSTQ.
Một dữ kiện cần lưu ý khác, để tranh đấu một cách hiệu quả, vị “luật sư chân đất” đã thu hút được một mạng lưới những người cộng tác đầy lý tưởng và tận tụy chung quanh ông. Mạng lưới này có cả những người trên khắp thế giới, đặc biệt là tại Hoa Kỳ. Một khi chấp nhận mọi hậu quả, ông được cả nhóm cộng tác nâng lên thành lăng kính tập trung ánh sáng công luận thế giới vào một thảm trạng của xã hội Trung Quốc mà Bắc Kinh luôn tìm cách khỏa lấp khi có người nhắc tới trong nhiều năm qua. Sự dũng cảm và kiên trì đấu tranh của Luật Sư Trần Quang Thành và các cộng sự viên của ông đã làm cả thế giới và cả cộng đồng Việt Nam trên khắp thế giới thực sự thán phục.
Không chỉ tại Trung Quốc, Việt Nam hiện nay cũng không thiếu những người can đảm như Luật Sư Trần Quang Thành. Nói riêng trong giới luật sư đã có các anh chị Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ, Lê Quốc Quân, Lê Công Ðịnh, Huỳnh Văn Ðông và nhiều nữa. Và trong mấy tuần vừa qua, dư luận quốc tế và cộng đồng Việt Nam cũng quan tâm đặc biệt đến một người Việt Nam yêu nước từ Hoa Kỳ trở về, đó là Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân. Ông Quân bị bắt giữ một cách tùy tiện, vô pháp luật khi vừa đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất và bị cáo buộc tội “khủng bố” dù không có bằng cớ gì.
Theo các dữ kiện có thể kiểm chứng được, ông Quân là một nhà giáo yêu nước đồng thời cũng là một nhà đấu tranh cho dân chủ suốt hai mươi năm qua - tức còn dài gấp đôi thời gian dấn thân của Luật Sư Trần Quang Thành. Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân đã chấp nhận hiểm nguy, không quản chuyện tù đày để đưa đến tay đồng bào Việt Nam của ông một phương thức mà ông cho là hữu hiệu nhất để chống lại cường quyền với vũ khí đầy đủ trong tay. Ðó là phương thức đấu tranh bất bạo động.
Cũng theo lời kể của các cộng sự viên của ông Quân thì những cảnh đau khổ của bà con dân oan, cảnh những học sinh nghèo lội sông, đu dây đi học, và cảnh từng phần quê cha đất tổ cứ bị cắt lìa đem dâng cho ngoại bang đã thôi thúc ông phải “đồng cam cộng khổ” với các nạn nhân.
Với những người như ông Trần Quang Thành, ông Nguyễn Quốc Quân và những nhà đấu tranh cho nhân quyền khác, đặc biệt trong giới luật sư, tương lai cả dân tộc Việt Nam và Trung Quốc chắc chắn sẽ phải có ngày tươi sáng hơn.
Ngô Ðình Thu
(Nguồn: diendanctm.blogspot.com)
Một trong các nhà bất đồng chính kiến ôn hòa nổi tiếng nhất Trung Quốc, Luật Sư Trần Quang Thành đã trốn thoát khỏi nơi quản thúc,
cũng là nhà mình trong đêm 22 tháng 4.
Ðối diện bệnh viện ở Bắc Kinh nơi Luật Sư Trần Quang Thành (Chen Guangcheng) điều trị,
dân oan Trung Quốc giơ cao đơn khiếu kiện của họ, hy vọng được báo chí quan tâm. (Hình: AP Photo/Alexander F. Yuan)
Mãi đến ngày 27 tháng 4, báo chí và các hãng truyền thông thế giới mới đồng loạt đưa tin ông chạy trốn từ Sơn Ðông đến Ðại Sứ Quán Hoa Kỳ ở Bắc Kinh.
Một video ngắn 15 phút gửi Thủ Tướng Ôn Gia Bảo nói là của vị luật sư đào thoát này, đăng trên một trang mạng bất đồng chính kiến tiếng Hoa đặt tại Hoa Kỳ, nêu lên ba yêu cầu: phải bảo đảm an toàn cho gia đình ông, điều tra và truy tố các quan chức đánh đập người thân của ông và trừng trị nạn tham nhũng theo đúng luật pháp.
Những tin tức sau đó cho biết Luật Sư Trần Quang Thành được sự bảo trợ của sứ quán Hoa Kỳ. Chính phủ Trung Quốc, để gỡ sĩ diện, nay tuyên bố họ chấp thuận cho ông “đi du học tại Hoa Kỳ theo đơn xin.”
Sinh năm 1971, ông Trần Quang Thành bị mù từ nhỏ. Ông tự học luật bằng cách nhờ người anh Trần Quang Phúc đọc lại bài giảng cho mình nghe. Tinh thần kiên trì, dũng cảm đã biến Trần Quang Thành trở thành một luật gia. Ðiều hơn người của ông là trong suốt mười năm dài, ông đã sử dụng kiến thức luật pháp học được để tranh đấu cho dân nghèo, chống áp bức bất công. Ðặc biệt từ năm 2005, tại Sơn Ðông, ông khởi xướng và dẫn đầu trong cuộc phản kháng chống chính sách triệt sản. Trong thực tế, gia đình các quan chức chính quyền tha hồ vi phạm chính sách này, nhưng nhân dân thì bị buộc phải tuân thủ một cách gắt gao. Hậu quả chỉ tính riêng tại tỉnh Sơn Ðông đã có hàng chục ngàn phụ nữ bị cưỡng bức phải triệt sản vĩnh viễn hoặc nạo phá thai. Có những trường hợp mang thai trên 6 tháng vẫn bị buộc phải phá bỏ. Trong điều kiện y tế tồi tệ, nhiều vụ phá thai khiến các thai phụ bị tử vong hoặc tàn phế suốt đời. Ông Thành cũng cố vấn cho nông dân trong các vụ khiếu kiện về đất đai mà đa số là bị các viên chức chính quyền cướp đoạt.
Trước đó, trong những năm 90, ông bênh vực người tàn tật bị phân biệt đối xử ngay tại Bắc Kinh và nổi danh là “luật sư chân đất.” Chính quyền thù ghét ông, tổ chức cho người đánh đập, cuối cùng bắt người mù này về tội “phá rối trật tự công cộng.” Vị luật sư của dân nghèo nông thôn Trung Quốc bị kết án 4 năm tù. Sau khi mãn hạn tù năm 2010, ông bị quản thúc tại gia ở huyện Lâm Nghi, tỉnh Sơn Ðông nhưng ông vẫn không bỏ cuộc. Chính vì vậy ông thường xuyên bị sách nhiễu. Những người muốn đến thăm hoặc nhờ ông cố vấn đều bị công an tìm cách ngăn cản.
Trần Quang Thành, một luật sư mù, bằng hành động dũng cảm của mình, quả thật đã mở mắt cho cả thế giới thấy chính sách cưỡng ép phá thai và chủ trương triệt sản vô nhân đạo đối với phụ nữ nông thôn của chính phủ Trung Quốc - một sư thật bên dưới lớp vỏ hào nhoáng văn minh, đặc biệt tại các thành thị. Dư luận thế giới càng lên án hiện tượng vi phạm nhân quyền trầm trọng này khi qua sự tố giác của ông Thành, mọi người mới biết các vụ triệt sản “để đủ các con số chỉ tiêu” do cấp nhà nước bên trên chỉ định xuống bất chấp tình trạng của các nạn nhân. Ðây là chính sách chà đạp nhân quyền có hệ thống và chủ trương của lãnh đạo đảng CSTQ.
Một dữ kiện cần lưu ý khác, để tranh đấu một cách hiệu quả, vị “luật sư chân đất” đã thu hút được một mạng lưới những người cộng tác đầy lý tưởng và tận tụy chung quanh ông. Mạng lưới này có cả những người trên khắp thế giới, đặc biệt là tại Hoa Kỳ. Một khi chấp nhận mọi hậu quả, ông được cả nhóm cộng tác nâng lên thành lăng kính tập trung ánh sáng công luận thế giới vào một thảm trạng của xã hội Trung Quốc mà Bắc Kinh luôn tìm cách khỏa lấp khi có người nhắc tới trong nhiều năm qua. Sự dũng cảm và kiên trì đấu tranh của Luật Sư Trần Quang Thành và các cộng sự viên của ông đã làm cả thế giới và cả cộng đồng Việt Nam trên khắp thế giới thực sự thán phục.
Không chỉ tại Trung Quốc, Việt Nam hiện nay cũng không thiếu những người can đảm như Luật Sư Trần Quang Thành. Nói riêng trong giới luật sư đã có các anh chị Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ, Lê Quốc Quân, Lê Công Ðịnh, Huỳnh Văn Ðông và nhiều nữa. Và trong mấy tuần vừa qua, dư luận quốc tế và cộng đồng Việt Nam cũng quan tâm đặc biệt đến một người Việt Nam yêu nước từ Hoa Kỳ trở về, đó là Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân. Ông Quân bị bắt giữ một cách tùy tiện, vô pháp luật khi vừa đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất và bị cáo buộc tội “khủng bố” dù không có bằng cớ gì.
Theo các dữ kiện có thể kiểm chứng được, ông Quân là một nhà giáo yêu nước đồng thời cũng là một nhà đấu tranh cho dân chủ suốt hai mươi năm qua - tức còn dài gấp đôi thời gian dấn thân của Luật Sư Trần Quang Thành. Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân đã chấp nhận hiểm nguy, không quản chuyện tù đày để đưa đến tay đồng bào Việt Nam của ông một phương thức mà ông cho là hữu hiệu nhất để chống lại cường quyền với vũ khí đầy đủ trong tay. Ðó là phương thức đấu tranh bất bạo động.
Cũng theo lời kể của các cộng sự viên của ông Quân thì những cảnh đau khổ của bà con dân oan, cảnh những học sinh nghèo lội sông, đu dây đi học, và cảnh từng phần quê cha đất tổ cứ bị cắt lìa đem dâng cho ngoại bang đã thôi thúc ông phải “đồng cam cộng khổ” với các nạn nhân.
Với những người như ông Trần Quang Thành, ông Nguyễn Quốc Quân và những nhà đấu tranh cho nhân quyền khác, đặc biệt trong giới luật sư, tương lai cả dân tộc Việt Nam và Trung Quốc chắc chắn sẽ phải có ngày tươi sáng hơn.
Ý Nghĩa Biển Thái Bình
Tác giả : Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Nhân vật tranh đấu cho nhân quyền là Chen Quangchen (Trần Quang Thành) bị mù mắt từng lánh nạn ở tòa Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh, đã đột nhiên bay đến New York cuối tuần qua và đã mở ngay một cuộc họp báo công khai, điều mà anh ta thật không bao giờ ngờ tới khi còn bị giam giữ tại Bắc Kinh.
Sau một ngày dài và vội vã chuẩn bị, tay còn chống nạng - với luật sư của anh ta đứng bên – có đông nghẹt khán thính giả và đại diện báo chí được vòng đai cảnh sát ngăn chặn không cho tới sát bên,Thành đã lên tiếng trình bày hoàn cảnh, cám ơn tòa Đại sứ Mỹ và chính phủ Trung Quốc. Với Trung Quốc anh tỏ ý biết ơn “vì đã giải quyết vấn đề nhẹ nhàng, không có gì thái quá”. Anh nói: ”Tôi hy vọng họ tiếp tục cởi mở như vậy và được hưởng sự kính nể cũng như sự tín nhiệm của nhân dân”.
Việc Thành được đi ra khỏi nước cùng với vợ và 2 con, cuộc thương luợng đưa đến kết quả này có vẻ là một sự tính toán của cả hai nước Mỹ và Trung Quốc.
Hãy nhìn đến bản đồ Thế giới. Chúng ta đã thấy có nhiều biển như Ấn Độ Dương nằm ở phía dưới nước này, Đại Tây Dương ngăn cách 2 lục địa Âu châu và Mỹ châu,nhưng không có một đại dương nào lớn hơn nằm giữa một bên là siêu cường đệ nhất thế giới là nước Mỹ (trước đây các nhà Nho của ta vẫn gọi là Hoa Kỳ, vì những ngôi sao nằm trên góc lá cờ) và một bên là Trung Quốc, nước đông dân nhất thế giới. Đại Dương lớn nhất Thế giới đó như ta đã biết được gọi bằng một tên rất gợi ý là Thái Bình Dương nằm giữa một bên là Trung Quốc và một bên là Mỹ.
Thái Bình có nghĩa là hòa bình, nhưng trên thế giới ngày nay có biết bao nhiêu là tổ chức liên minh quân sự. Đầu tuần này khối NATO đã họp ở Chicago có Tổng Thống Barack Obama tham dự, đặc biệt chú ý đến việc mở đường tiếp tế từ Pakistan đến Afghanistan cho quân NATO trong cuộc chiến ở Afgha. Tổng Thống Pakistan là Ali Zardari không chịu họp tay đôi với TT Obama mặc dù Zardari bay đến họp NATO ở Chicago là để hoàn tất thỏa hiệp mở đường tiếp tế.
Trái lại TT Obama và TT Hamid Karzai của Afghanistan đã từng bất hòa với nhau từ 4 năm qua, lần này đã họp với nhau sáng Chủ nhật vừa qua để thảo luận việc tìm cách hội đàm với nhóm Taliban.
Trong khi đó hàng ngàn người dân ở Chicago đã biểu tình phản đối chiến tranh. Cảnh sát đã lập hàng rào ngăn cản người biểu tình, nhưng không có gì đáng tiếc xẩy ra.
Với tất cả những chuyện phức tạp về hòa hay chiến đó, tôi muốn trở lại câu hỏi đầu tiên: Chuyện hòa bình ở Thái Bình Dương có gì lạ? Chữ Thái bình chỉ có ý nghĩa duy nhất là “hòa bình”. Vậy hai nước lớn nhất trên bờ biển này là Mỹ và Trung Quốc đã đồng ý ở một chữ “thái bình” chăng?
Biển Thái Bình có một ý nghĩa rất đặc biệt. Chủ nghĩa “thái bình” là một thứ chủ nghĩa mới, nó trội hơn bất cứ thứ chủ nghĩa nào quen thuộc trước đây của loài người như chủ nghĩa phát-xít, chủ nghĩa quốc xã, chủ nghĩa cộng sản, những ”chủ nghĩa” đó chỉ đem lại tai họa cho con người chớ không có lợi gì hết.
Vậy chủ nghĩa “thái bình” đó dựa trên căn bản nào? Nó dựa trên một căn bản quen thuộc, không ai có thể chối cãi. Đó là quyền “dân tộc tự quyết”. Mỗi dân tộc tự quyết định lấy vận mạng của mình, chớ không bắt chước ai và cũng không theo ai cả.
Tác giả : Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Nhân vật tranh đấu cho nhân quyền là Chen Quangchen (Trần Quang Thành) bị mù mắt từng lánh nạn ở tòa Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh, đã đột nhiên bay đến New York cuối tuần qua và đã mở ngay một cuộc họp báo công khai, điều mà anh ta thật không bao giờ ngờ tới khi còn bị giam giữ tại Bắc Kinh.
Sau một ngày dài và vội vã chuẩn bị, tay còn chống nạng - với luật sư của anh ta đứng bên – có đông nghẹt khán thính giả và đại diện báo chí được vòng đai cảnh sát ngăn chặn không cho tới sát bên,Thành đã lên tiếng trình bày hoàn cảnh, cám ơn tòa Đại sứ Mỹ và chính phủ Trung Quốc. Với Trung Quốc anh tỏ ý biết ơn “vì đã giải quyết vấn đề nhẹ nhàng, không có gì thái quá”. Anh nói: ”Tôi hy vọng họ tiếp tục cởi mở như vậy và được hưởng sự kính nể cũng như sự tín nhiệm của nhân dân”.
Việc Thành được đi ra khỏi nước cùng với vợ và 2 con, cuộc thương luợng đưa đến kết quả này có vẻ là một sự tính toán của cả hai nước Mỹ và Trung Quốc.
Hãy nhìn đến bản đồ Thế giới. Chúng ta đã thấy có nhiều biển như Ấn Độ Dương nằm ở phía dưới nước này, Đại Tây Dương ngăn cách 2 lục địa Âu châu và Mỹ châu,nhưng không có một đại dương nào lớn hơn nằm giữa một bên là siêu cường đệ nhất thế giới là nước Mỹ (trước đây các nhà Nho của ta vẫn gọi là Hoa Kỳ, vì những ngôi sao nằm trên góc lá cờ) và một bên là Trung Quốc, nước đông dân nhất thế giới. Đại Dương lớn nhất Thế giới đó như ta đã biết được gọi bằng một tên rất gợi ý là Thái Bình Dương nằm giữa một bên là Trung Quốc và một bên là Mỹ.
Thái Bình có nghĩa là hòa bình, nhưng trên thế giới ngày nay có biết bao nhiêu là tổ chức liên minh quân sự. Đầu tuần này khối NATO đã họp ở Chicago có Tổng Thống Barack Obama tham dự, đặc biệt chú ý đến việc mở đường tiếp tế từ Pakistan đến Afghanistan cho quân NATO trong cuộc chiến ở Afgha. Tổng Thống Pakistan là Ali Zardari không chịu họp tay đôi với TT Obama mặc dù Zardari bay đến họp NATO ở Chicago là để hoàn tất thỏa hiệp mở đường tiếp tế.
Trái lại TT Obama và TT Hamid Karzai của Afghanistan đã từng bất hòa với nhau từ 4 năm qua, lần này đã họp với nhau sáng Chủ nhật vừa qua để thảo luận việc tìm cách hội đàm với nhóm Taliban.
Trong khi đó hàng ngàn người dân ở Chicago đã biểu tình phản đối chiến tranh. Cảnh sát đã lập hàng rào ngăn cản người biểu tình, nhưng không có gì đáng tiếc xẩy ra.
Với tất cả những chuyện phức tạp về hòa hay chiến đó, tôi muốn trở lại câu hỏi đầu tiên: Chuyện hòa bình ở Thái Bình Dương có gì lạ? Chữ Thái bình chỉ có ý nghĩa duy nhất là “hòa bình”. Vậy hai nước lớn nhất trên bờ biển này là Mỹ và Trung Quốc đã đồng ý ở một chữ “thái bình” chăng?
Biển Thái Bình có một ý nghĩa rất đặc biệt. Chủ nghĩa “thái bình” là một thứ chủ nghĩa mới, nó trội hơn bất cứ thứ chủ nghĩa nào quen thuộc trước đây của loài người như chủ nghĩa phát-xít, chủ nghĩa quốc xã, chủ nghĩa cộng sản, những ”chủ nghĩa” đó chỉ đem lại tai họa cho con người chớ không có lợi gì hết.
Vậy chủ nghĩa “thái bình” đó dựa trên căn bản nào? Nó dựa trên một căn bản quen thuộc, không ai có thể chối cãi. Đó là quyền “dân tộc tự quyết”. Mỗi dân tộc tự quyết định lấy vận mạng của mình, chớ không bắt chước ai và cũng không theo ai cả.
Biển Đông: Lời Nguyền Dầu Lửa
Tác giả : Vi Anh Lời nguyền của dầu lửa đã từ lâu biến Con Người thành nạn nhân của địch họa tại nhiều điểm nóng của thế giới như ở Trung Đông, Nam Á. Và dầu lửa và khí đốt đang nhen nhúm Biển Đông VN thành trận đại hồng thủy vào đầu thế kỷ 21 này.
Vào khúc quanh của hai thế kỷ 20 và 21, TC trổi dậy thành một siêu cường kinh tế thế giới, thành cơ xưởng sản xuất hàng hóa rẻ tiền tràn ngập thế giới, một thế lực quân sự đang hiện đại hóa, và một nước thèm xăng dầu như thời xưa dân số quá đông, nạn đói kém thường xảy ra nên hễ gặp nhau, chào nhau là hỏi “ăn cơm chưa”. Bây giờ xăng dầu là điều kiện sống còn của nền kinh tế TC, mà tăng gia kinh tế là thế chính thống cầm quyền của TC trước nhân dân sau khi chủ nghĩa CS thất bại ở Liên xô và Đông Âu.
Thềm lục địa của Á châu Thái Bình Dương có một trữ lượng dầu khí rất lớn. TC thèm khát là phải. Báo Hoàn cầu của TC cho biết theo ước tính, Biển Đông là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Biển Đông có trữ lượng 50 tỉ tấn dầu thô, hơn 20,000 tỉ mét khối khí đốt, gấp 25 lần trữ lượng dầu và tám lần trữ lượng khí đốt hiện có của Trung Quốc. Bộ Năng lượng Mỹ ước lượng ở Biển Đông có tới 7 tỉ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày. Còn TC đánh giá Biển Đông có khoảng 213 tỷ thùng, quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng. Sản lượng khai thác có thể đạt khoảng 18,5 triệu tấn/năm duy trì được trong vòng 15 - 20 năm tới.
Ngày 23/07/2010, tại Diễn đàn An ninh Khu vực ASEAN ở Hà Nội, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tuyên bố “Lợi ích quốc gia của Mỹ bao hàm quyền tự do hàng hải, quyền tiếp cận các vùng biển chung của châu Á, và sự tôn trọng luật lệ quốc tế tại khu vực Biển Đông". Và Bà còn minh định Hoa Kỳ xem việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở vùng Biển Đông là ưu tiên ngoại giao hàng đầu của mình. và Washington sẵn sàng hậu thuẫn cho các sáng kiến hay biện pháp tạo niềm tin giữa các bên tranh chấp.. Ngoại trưởng Mỹ cũng khẳng định là việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ tại vùng biển phía Nam Trung Quốc là một "ưu tiên ngoại giao hàng đầu của Hoa Kỳ".
Trong khi Ngoại Trưởng Mỹ tuyên bố như trên thì Ngoại Trưởng TC bỏ phòng họp ra ngoài một tiếng đồng, coi lời tuyên bố của Ngoại Trưởng Mỹ là tấn công Trung Quốc. Lời tuyên bố đó của Mỹ rõ rệt chống lại ý muốn và hành động chiếm Biển Đông của TC. CS Bắc Kinh đã chính thức tuyên bố Biển Đông là một trong những "quan tâm sống còn" của Trung Quốc, bên cạnh Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương. TC đã lấy hai đảo Hoàng Sa và Trường sa làm huyện Tam Sa sáp nhận vào tỉnh Hải Nam thuộc lãnh thổ của TC. TC đã đơn phương ra lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, đưa ra kế họach làm kinh tế quốc phòng và du lịch trị giá hàng chục tỷ Mỹ Kim. TC cũng từng cấm công ty dầu Anh, thăm dò trong vùng biển gần hai đảo mà VNCS tuyên bố thuộc chủ quyền của VN.
Gần đây Mỹ cho hàng không mẫu hạm rồi khu trục hạm vào cảng Tiên Sa - Đà Nẵng. Hải quân Việt Nam và Hạm đội 7 của Hoa Kỳ lại thực hiện một loạt những hoạt động hợp tác trong khuôn khổ kỷ niệm 15 năm quan hệ ngoại giao của hai phía. Và Mỹ đã hiệp ước với Hà nội về nguyên tử dân sự trong đó đồng ý cho VN làm giáu chất uranium. Mỹ tuyên bố trước TC phản ứng, phát ngôn viên VN phải chối.
Hai thế lực đang giành thế hải thượng trên vùng biển Á châu Thái Bình Dương, có hai chiến thuật khác nhau. TC thì chủ trương giải quyết song phương với mỗi một nước tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng sa và Trường sa này là TQ, VN, Đài loan, Phi luật tân, Nam dương, Mã lai và Brunei. Còn Mỹ thì muốn quốc tế hoá, giải quyết đa phương, dựa trên hiệp hội ASEAN. Lý do bên ngoài nhiều nước đưa ra trong đó Mỹ đã chánh thức nói, đó là tự do lưu thông của con đường hàng hải huyết mạch qua Eo biển Mã lai của 60% hàng hoá quốc tế và 90% xăng dầu cho các nước Bắc Thái bình Dương đa số thân Mỹ.
Nhưng lý do bên trong ít ai nói ra nhưng mà vô cùng quan trọng là lời nguyền của dầu lửa nằm dưới đáy biển của Biển Đông đối với TC và Mỹ. Thử phóng chiếu lời nguyền của dầu lửa lên bối cảnh địa lý chánh trị thế giới, trong đó TC và của Mỹ là hai nước tiêu thụ dầu nhiều nhứt thế giới. TC phát triễn kỹ nghệ sau Mỹ nên đường dây mua, khai thác, chuyên chở dầu không qui mô, thánh nề nếp như Mỹ. Do vậy TC phải làm bạo hơn để tranh thủ thời gian. Vấn đề các mỏ dầu ở Biển Đông gần TC, TC muốn là một nguồn cung ứng sỡ hữu của mình, nguồn dự trữ an toàn của mình như các mỏ của Mỹ ở Alaska hay thềm lục địa của nước Mỹ.
Chẳng những ở Biển Đông mà thế giới này bất ổn vì TC mới vươn lên tranh giành dầu lửa với Mỹ. TC không làm cũng không được vì thiếu xăng dầu nền kinh tế TC sẽ khủng hoảng và xã hội TQ suy sụp, nhà cầm quyền CS Bắc Kinh có thể bị lật đổ vì nội loạn.
Từ thập niên 1990, TC trở thành một nước nhập cảng dầu. Nhu cầu theo thời gian và theo sản xuất tiêu thụ, tăng lên theo cấp số nhơn, nhứt là vào thời kỳ TQ bước vào giai đoạn dùng xe hơi. Năm 2009, TQ sản xuất 13.79 triệu xe hơi. Vào tháng 6 năm 2010, mỗi ngày TQ xài 10 triệu thùng dầu.
Còn Mỹ cũng chẳng thua gì, cần dầu như cần nước uống khi đi trong sa mạc. Dù TT Obama chủ trương và thúc đẩy việc sản xuất và dùng năng lượng thay thế, nhưng ít ra phải vài thập niên nữa Mỹ còn phải nhập cảng dầu mỏ. Năm 2008 Mỹ tiêu thụ một số lượng tương đương với 1 phần tư tổng sản lượng dầu của thế giới, phân nửa số đó Mỹ phải nhập cảng.
Tính chúng TQ và Mỹ tiêu thụ mất 1 phần 3 tổng sản lượng dầu của thế giới. Cả hai nước tranh nhau tăng gia số dầu nhập cảng. Trong thời gian gần đây kinh tế thế giới phục hồi, hai nước này phải chạy đua nhanh hơn nữa để nhập cảng dầu.
TC có lợi thế hơn Mỹ trong việc mua và khai thác mỏ dầu vì TC không bị rào cản về chánh trị tự do, dân chủ, nhân quyền. TC mua từ Cuba, Angola đến Kazakhstan, đang mở đường mạnh vào các nước nhiều dầu ở vùng Vịnh Ba Tư như Saudi Arabia và Iraq là hai nước có sản lượng dầu nhứt nhì thế giới. Nhưng đường biển vận chuyển dầu ở vùng này về TQ do Mỹ kiểm soát lâu đời rồi. Và TC cũng lo những nước có sản lượng dầu nhiều đang cung ứng cho TQ có thể bị Mỹ cấm vận như Iran.
Do đó TC lập đường ống dẩn dầu từ Trung Đông về tỉnh địa đầu Singkiang của TQ, qua Miến Điện, Vân Nam để đề phòng Mỹ gây trở ngại đường hải lộ qua eo biển Mã Lai. Mỹ mới đây kết nối được với Miến Điện, tạo thành một khó khăn chuyển vận dầu cho TC.
TC còn mở nhiều căn cứ hải quân quân sự tại các bờ biển hầu bảo vệ đường chở dầu, cả một xâu chuổi căn cứ hàng hải tại các nước mà TC muớn gọi là “xâu chuổi ngọc trai”.
Kế hoạch bành trướng mua, khai thác, chuyên chở dầu để giải quyết nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của dân chúng gây nhiều đụng chạm với Mỹ. Biển Đông VN đang trở thành một điểm nóng trong việc thay đổi địa lý chánh trị do việc tranh giành dầu của hai nước Mỹ và TQ tiêu thụ dầu mỏ nhiều nhứt thế giới.
Trở lại VN, việc Mỹ trở lại Đông Nam Á là một tin mừng nhưng với rất nhiều dè dặt cho VN. Mỹ không có tham vọng đất đai, cũng không có tham vọng chiếm hữu các mỏ dầu bằng võ lực như TC. Nhưng Mỹ cần dầu cũng như TC, và chánh quyền Mỹ là những nhà chánh trị “cực kỳ” thực dụng, thực dụng đến đổi sẵn sàng phản bội. Mỹ chỉ cần tự do thông thương và được khai thác dầu. TC và Mỹ họ có thể giải quyết nhu cầu này giữa hai nước lớn với nhau, chia quyền lợi khai thác dầu trên đầu trên cổ những nước nhược tiểu trong vùng. Bài học Kissinger và Nixon “hy sinh” đồng minh VN Cộng Hoà khi đi được với TC trong Chiến tranh VN là một bài học cho các nước ASEAN. Làm kẻ thù của Mỹ, hay TC dễ; làm bạn với họ, rất khó. Hơ hỏng, sơ sót để họ chen vào chủ quyền của đất nước sẽ rơi vào số kiếp sống lây lất và chết dằn vặt trong nỗi buồn nhược tiểu, nỗi nhục da vàng.
Tác giả : Vi Anh Lời nguyền của dầu lửa đã từ lâu biến Con Người thành nạn nhân của địch họa tại nhiều điểm nóng của thế giới như ở Trung Đông, Nam Á. Và dầu lửa và khí đốt đang nhen nhúm Biển Đông VN thành trận đại hồng thủy vào đầu thế kỷ 21 này.
Vào khúc quanh của hai thế kỷ 20 và 21, TC trổi dậy thành một siêu cường kinh tế thế giới, thành cơ xưởng sản xuất hàng hóa rẻ tiền tràn ngập thế giới, một thế lực quân sự đang hiện đại hóa, và một nước thèm xăng dầu như thời xưa dân số quá đông, nạn đói kém thường xảy ra nên hễ gặp nhau, chào nhau là hỏi “ăn cơm chưa”. Bây giờ xăng dầu là điều kiện sống còn của nền kinh tế TC, mà tăng gia kinh tế là thế chính thống cầm quyền của TC trước nhân dân sau khi chủ nghĩa CS thất bại ở Liên xô và Đông Âu.
Thềm lục địa của Á châu Thái Bình Dương có một trữ lượng dầu khí rất lớn. TC thèm khát là phải. Báo Hoàn cầu của TC cho biết theo ước tính, Biển Đông là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Biển Đông có trữ lượng 50 tỉ tấn dầu thô, hơn 20,000 tỉ mét khối khí đốt, gấp 25 lần trữ lượng dầu và tám lần trữ lượng khí đốt hiện có của Trung Quốc. Bộ Năng lượng Mỹ ước lượng ở Biển Đông có tới 7 tỉ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày. Còn TC đánh giá Biển Đông có khoảng 213 tỷ thùng, quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng. Sản lượng khai thác có thể đạt khoảng 18,5 triệu tấn/năm duy trì được trong vòng 15 - 20 năm tới.
Ngày 23/07/2010, tại Diễn đàn An ninh Khu vực ASEAN ở Hà Nội, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tuyên bố “Lợi ích quốc gia của Mỹ bao hàm quyền tự do hàng hải, quyền tiếp cận các vùng biển chung của châu Á, và sự tôn trọng luật lệ quốc tế tại khu vực Biển Đông". Và Bà còn minh định Hoa Kỳ xem việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở vùng Biển Đông là ưu tiên ngoại giao hàng đầu của mình. và Washington sẵn sàng hậu thuẫn cho các sáng kiến hay biện pháp tạo niềm tin giữa các bên tranh chấp.. Ngoại trưởng Mỹ cũng khẳng định là việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ tại vùng biển phía Nam Trung Quốc là một "ưu tiên ngoại giao hàng đầu của Hoa Kỳ".
Trong khi Ngoại Trưởng Mỹ tuyên bố như trên thì Ngoại Trưởng TC bỏ phòng họp ra ngoài một tiếng đồng, coi lời tuyên bố của Ngoại Trưởng Mỹ là tấn công Trung Quốc. Lời tuyên bố đó của Mỹ rõ rệt chống lại ý muốn và hành động chiếm Biển Đông của TC. CS Bắc Kinh đã chính thức tuyên bố Biển Đông là một trong những "quan tâm sống còn" của Trung Quốc, bên cạnh Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương. TC đã lấy hai đảo Hoàng Sa và Trường sa làm huyện Tam Sa sáp nhận vào tỉnh Hải Nam thuộc lãnh thổ của TC. TC đã đơn phương ra lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, đưa ra kế họach làm kinh tế quốc phòng và du lịch trị giá hàng chục tỷ Mỹ Kim. TC cũng từng cấm công ty dầu Anh, thăm dò trong vùng biển gần hai đảo mà VNCS tuyên bố thuộc chủ quyền của VN.
Gần đây Mỹ cho hàng không mẫu hạm rồi khu trục hạm vào cảng Tiên Sa - Đà Nẵng. Hải quân Việt Nam và Hạm đội 7 của Hoa Kỳ lại thực hiện một loạt những hoạt động hợp tác trong khuôn khổ kỷ niệm 15 năm quan hệ ngoại giao của hai phía. Và Mỹ đã hiệp ước với Hà nội về nguyên tử dân sự trong đó đồng ý cho VN làm giáu chất uranium. Mỹ tuyên bố trước TC phản ứng, phát ngôn viên VN phải chối.
Hai thế lực đang giành thế hải thượng trên vùng biển Á châu Thái Bình Dương, có hai chiến thuật khác nhau. TC thì chủ trương giải quyết song phương với mỗi một nước tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng sa và Trường sa này là TQ, VN, Đài loan, Phi luật tân, Nam dương, Mã lai và Brunei. Còn Mỹ thì muốn quốc tế hoá, giải quyết đa phương, dựa trên hiệp hội ASEAN. Lý do bên ngoài nhiều nước đưa ra trong đó Mỹ đã chánh thức nói, đó là tự do lưu thông của con đường hàng hải huyết mạch qua Eo biển Mã lai của 60% hàng hoá quốc tế và 90% xăng dầu cho các nước Bắc Thái bình Dương đa số thân Mỹ.
Nhưng lý do bên trong ít ai nói ra nhưng mà vô cùng quan trọng là lời nguyền của dầu lửa nằm dưới đáy biển của Biển Đông đối với TC và Mỹ. Thử phóng chiếu lời nguyền của dầu lửa lên bối cảnh địa lý chánh trị thế giới, trong đó TC và của Mỹ là hai nước tiêu thụ dầu nhiều nhứt thế giới. TC phát triễn kỹ nghệ sau Mỹ nên đường dây mua, khai thác, chuyên chở dầu không qui mô, thánh nề nếp như Mỹ. Do vậy TC phải làm bạo hơn để tranh thủ thời gian. Vấn đề các mỏ dầu ở Biển Đông gần TC, TC muốn là một nguồn cung ứng sỡ hữu của mình, nguồn dự trữ an toàn của mình như các mỏ của Mỹ ở Alaska hay thềm lục địa của nước Mỹ.
Chẳng những ở Biển Đông mà thế giới này bất ổn vì TC mới vươn lên tranh giành dầu lửa với Mỹ. TC không làm cũng không được vì thiếu xăng dầu nền kinh tế TC sẽ khủng hoảng và xã hội TQ suy sụp, nhà cầm quyền CS Bắc Kinh có thể bị lật đổ vì nội loạn.
Từ thập niên 1990, TC trở thành một nước nhập cảng dầu. Nhu cầu theo thời gian và theo sản xuất tiêu thụ, tăng lên theo cấp số nhơn, nhứt là vào thời kỳ TQ bước vào giai đoạn dùng xe hơi. Năm 2009, TQ sản xuất 13.79 triệu xe hơi. Vào tháng 6 năm 2010, mỗi ngày TQ xài 10 triệu thùng dầu.
Còn Mỹ cũng chẳng thua gì, cần dầu như cần nước uống khi đi trong sa mạc. Dù TT Obama chủ trương và thúc đẩy việc sản xuất và dùng năng lượng thay thế, nhưng ít ra phải vài thập niên nữa Mỹ còn phải nhập cảng dầu mỏ. Năm 2008 Mỹ tiêu thụ một số lượng tương đương với 1 phần tư tổng sản lượng dầu của thế giới, phân nửa số đó Mỹ phải nhập cảng.
Tính chúng TQ và Mỹ tiêu thụ mất 1 phần 3 tổng sản lượng dầu của thế giới. Cả hai nước tranh nhau tăng gia số dầu nhập cảng. Trong thời gian gần đây kinh tế thế giới phục hồi, hai nước này phải chạy đua nhanh hơn nữa để nhập cảng dầu.
TC có lợi thế hơn Mỹ trong việc mua và khai thác mỏ dầu vì TC không bị rào cản về chánh trị tự do, dân chủ, nhân quyền. TC mua từ Cuba, Angola đến Kazakhstan, đang mở đường mạnh vào các nước nhiều dầu ở vùng Vịnh Ba Tư như Saudi Arabia và Iraq là hai nước có sản lượng dầu nhứt nhì thế giới. Nhưng đường biển vận chuyển dầu ở vùng này về TQ do Mỹ kiểm soát lâu đời rồi. Và TC cũng lo những nước có sản lượng dầu nhiều đang cung ứng cho TQ có thể bị Mỹ cấm vận như Iran.
Do đó TC lập đường ống dẩn dầu từ Trung Đông về tỉnh địa đầu Singkiang của TQ, qua Miến Điện, Vân Nam để đề phòng Mỹ gây trở ngại đường hải lộ qua eo biển Mã Lai. Mỹ mới đây kết nối được với Miến Điện, tạo thành một khó khăn chuyển vận dầu cho TC.
TC còn mở nhiều căn cứ hải quân quân sự tại các bờ biển hầu bảo vệ đường chở dầu, cả một xâu chuổi căn cứ hàng hải tại các nước mà TC muớn gọi là “xâu chuổi ngọc trai”.
Kế hoạch bành trướng mua, khai thác, chuyên chở dầu để giải quyết nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của dân chúng gây nhiều đụng chạm với Mỹ. Biển Đông VN đang trở thành một điểm nóng trong việc thay đổi địa lý chánh trị do việc tranh giành dầu của hai nước Mỹ và TQ tiêu thụ dầu mỏ nhiều nhứt thế giới.
Trở lại VN, việc Mỹ trở lại Đông Nam Á là một tin mừng nhưng với rất nhiều dè dặt cho VN. Mỹ không có tham vọng đất đai, cũng không có tham vọng chiếm hữu các mỏ dầu bằng võ lực như TC. Nhưng Mỹ cần dầu cũng như TC, và chánh quyền Mỹ là những nhà chánh trị “cực kỳ” thực dụng, thực dụng đến đổi sẵn sàng phản bội. Mỹ chỉ cần tự do thông thương và được khai thác dầu. TC và Mỹ họ có thể giải quyết nhu cầu này giữa hai nước lớn với nhau, chia quyền lợi khai thác dầu trên đầu trên cổ những nước nhược tiểu trong vùng. Bài học Kissinger và Nixon “hy sinh” đồng minh VN Cộng Hoà khi đi được với TC trong Chiến tranh VN là một bài học cho các nước ASEAN. Làm kẻ thù của Mỹ, hay TC dễ; làm bạn với họ, rất khó. Hơ hỏng, sơ sót để họ chen vào chủ quyền của đất nước sẽ rơi vào số kiếp sống lây lất và chết dằn vặt trong nỗi buồn nhược tiểu, nỗi nhục da vàng.

