Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
NGƯỜI MỸ NHẬN XÉT VỀ NGƯỜI VIỆTNAM
Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Institute for Social Research) sau khi nghiên cứu đã nói lên 10 đặc tính căn bản của người Việt, xin tạm dịch như sau:
1.- Cần cù lao động nhưng dễ thỏa mãn.
2.- Thông minh, sáng tạo khi phải đối phó với những khó khăn ngắn hạn, nhưng thiếu những khả năng suy tư dài hạn và linh hoạt.
3.- Khéo léo nhưng ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng các thành phẩm của mình.
4.- Vừa thực tế vừa có lý tưởng, nhưng lại không phát huy được xu hướng nào thành những nguyên lý.
5.- Yêu thích kiến thức và hiểu biết nhanh, nhưng ít khi học sự việc từ đầu đến cuối, nên kiến thức không có hệ thống hay căn bản. Ngoài ra, người Việt không học vì lợi ích của kiến thức (lúc nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện hay vì những công việc tốt).
[when small, they study because of their families; growing up, they study for the sake of prestige or good jobs]
6. Cởi mở và hiếu khách nhưng sự hiếu khách của họ không kéo dài.
7. Tiết kiệm, nhưng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô nghĩa (vì sĩ diện hay muốn phô trương).
[to save face or to show off].
8.- Có tinh thần đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau chủ yếu trong những tình huống khó khăn và nghèo đói, còn trong điều kiện tốt hơn, đặc tính này ít khi có.
9.- Yêu hòa bình và có thể chịu đựng mọi thứ, nhưng thường không thẳng thắn vì những lý do lặt vặt, vì thế hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ.
10.- Và sau cùng, thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh (một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 2 người làm thì kém, 3 người làm thì hỏng việc).
[one person can complete a task excellently; 2 people do it poorly, and 3 people make a mess of it].
Những phân tích trên đây cho chúng ta thấy người Mỹ đã hiểu rất rõ người Việt. Tại sao người Việt lại có những đặc tính như thế này?
NGƯỜI XƯA CŨNG ĐÃ NHẬN RA Học giả Trần Trọng Kim (1883 – 1953) khi viết bộ Việt Nam Sử Lược, ấn hành lần đầu tiên năm 1919, cũng đã phân tích khá rõ ràng những đặc tính của người Việt và những yếu tố tạo nên những đặc tính đó. Đa số người Việt lớn tuổi, khi còn nhỏ đều đã được học bộ sử này. Trong phạm vi một bài báo, chúng tôi chỉ xin trích lại dưới đây một số đoạn chính ông viết về đặc tính của người Việt.
Trong bài tựa, ông nói ngay:
“Người mình có ý lấy chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết làm gì. Ấy cũng là vì xưa nay mình không có quốc văn, chung thân chỉ đi mượn tiếng người, chữ người mà học, việc gì cũng bị người ta cảm hóa, chứ tự mình thì không có cái gì là cái đặc sắc, thành ra thật rõ như câu phương ngôn: «Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng!»
“Cái sự học vấn của mình như thế, cái cảm tình của người trong nước như thế, bảo rằng lòng vì dân vì nước mở mang ra làm sao được?”
“Thời đại Bắc thuộc dai dẳng đến hơn một nghìn năm, mà trong thời đại ấy dân tình thế tục ở nước mình thế nào, thì bấy giờ ta không rõ lắm, nhưng có một điều ta nên biết là từ đó trở đi, người mình nhiễm cái văn minh của Tàu một cách rất sâu xa, dẫu về sau có giải thoát được cái vòng phụ thuộc nước Tàu nữa, người mình vẫn phải chịu cái ảnh hưởng của Tàu. Cái ảnh hưởng ấy lâu ngày đã trở thành ra cái quốc túy của mình, dẫu ngày nay có muốn trừ bỏ đi, cũng chưa dễ một mai mà tẩy gội cho sạch được. Những nhà chính trị toan sự đổi cũ thay mới cũng nên lưu tâm về việc ấy, thì sự biến cải mới có công hiệu vậy.”
Ở Chương VI nói về “Kết Quả của Thời Bắc Thuộc”, ông có nhận định rõ hơn:
“Nguyên nước Tàu từ đời Tam Đại đã văn minh lắm, mà nhất là về đời nhà Chu thì cái học thuật lại càng rực rỡ lắm. Những học phái lớn như là Nho giáo và Lão giáo, đều khởi đầu từ đời ấy. Về sau đến đời nhà Hán, nhà Đường, những học phái ấy thịnh lên, lại có Phật giáo ở Ấn độ truyền sang, rồi cả ba đạo cùng truyền bá đi khắp cả mọi nơi trong nước. Từ đó trở về sau nước Tàu và những nước chịu ảnh hưởng của Tàu đều theo tông chỉ của những đạo ấy mà lập ra sự sùng tín, luân lý và phong tục tương tự như nhau cả…”
“Khi những đạo Nho, đạo Khổng, đạo Phật phát đạt bên Tàu, thì đất Giao châu ta còn thuộc về nước Tàu, cho nên người mình cũng theo những đạo ấy. Về sau nước mình đã tự chủ rồi, những đạo ấy lại càng thịnh thêm, như là đạo Phật thì thịnh về đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê và nhà Lý, mà đạo Nho thì thịnh từ đời nhà Trần trở đi.
“Phàm phong tục và chính trị là do sự học thuật và tông giáo mà ra. Mà người mình đã theo học thuật và Tông giáo của Tàu thì điều gì ta cũng noi theo Tàu hết cả. Nhưng xét ra thì điều gì mình cũng thua kém Tàu, mà tự người mình không thấy có tìm kiếm và bày đặt ra được cái gì cho xuất sắc, gọi là có cái tinh thần riêng của nòi giống mình, là tại làm sao? ...
“Người mà cả đời không đi đến đâu, mắt không trông thấy cái hay cái dở của người, thì tiến hóa làm sao được? Mà sự học của mình thì ai cũng yên trí rằng cái gì đã học của Tàu là hay, là tốt hơn cả: từ sự tư tưởng cho chí công việc làm, điều gì mình cũng lấy Tàu làm gương. Hễ ai bắt chước được Tàu là giỏi, không bắt chước được là dở. Cách mình sùng mộ văn minh của Tàu như thế, cho nên không chịu so sánh cái hơn cái kém, không tìm cách phát minh những điều hay tốt ra, chỉ đinh ninh rằng người ta hơn mình, mình chỉ bắt chước người ta là đủ.
“Địa thế nước mình như thế, tính chất và sự học vấn của người mình như thế, thì cái trình độ tiến hóa của mình tất là phải chậm chạp và việc gì cũng phải thua kém người ta vậy.”
Đọc cuốn “Lều chõng”, một tiểu thuyết phóng sự của nhà văn Ngô Tất Tố (1894 - 1954), chúng ta có thể thấy rõ nền học vấn của người Tàu mà người Việt rập khuôn theo đã kềm hảm con người như thế nào. Ông vốn là một nhà Nho, đã từng tham dự các kỳ thi hương dưới triều Nguyễn, nên đã phản ánh một cách trung thực những oái ăm của các kỳ thi này và nêu lên sự sụp đổ tinh thần của những nho sĩ suốt đời lấy khoa cử làm con đường tiến thân nhưng lại bị hoàn toàn thất vọng.
“TRƯỚC LÀ ĐẸP MẶT SAU LÀ ẤM THÂN” Nước Việt Nam bị Pháp đô hộ gần 100 năm, đã cởi bỏ nền học vấn của Trung Hoa, tiếp thu nền học vấn mới của phương Tây, nhưng vẫn còn giữ lại nhiều nét căn bản của nền văn hóa Trung Hoa. Có nhiều hủ tục trong quan, hôn, tang, tế mà cuộc Cách Mạng Văn Hoá của Trung Quốc đã phá sạch, nhưng nhiều người Việt vẫn cố giữ lại như những thứ “quốc hồn quốc túy”.
Bài tục giao sau đây vẫn còn là tiêu chuẩn và mục tiêu thăng tiến của gia đình và con người Việt Nam:
Con ơi! muốn nên thân người
Lắng tay nghe lấy những lời mẹ cha
Gái thì giữ việc trong nhà
Khi vào canh cửi khi ra thêu thùa
Trai thì đọc sách ngâm thơ
Dồi mài kinh sử để chờ kịp khoa
Mai sau nối được nghiệp nhà
Trước là đẹp mặt sau là ấm thân
Bây giờ người con gái không còn chỉ “giữ việc trong nhà”, và người con trai không còn chỉ “đọc sách ngâm thơ” mà đã đi vào khắp mọi lãnh vực của cuộc sống, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn chỉ là “Trước là đẹp mặt sau là ấm thân”.
Trong nước, tiêu chuẩn của cuộc sống là có nhà sang cửa rộng, có xe hơi, có con đi du học ngoại quốc... Tiêu chuẩn ở hải ngoại cũng thế thôi: Đi dâu cũng nghe khoe nhà trên cả triệu bạc, xe loại sang trọng nhất, con đang học bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư... Gần như không nghe ai khoe những công trình đang nghiên cứu hay thực hiện để đưa con người, cộng đồng và đất nước đi lên. Tất cả chỉ tập trung vào hai tiêu chuẩn là “đẹp mặt” và “ấm thân”.
Với mục tiêu như thế, chúng ta không ngạc nhiên khi nhìn ra phố Bolsa, thủ đô của VNCH nối dài, đa số các cơ sở kinh doanh lớn đều không phải của người Việt. Tuy bên ngoài người Việt gốc Hoa đứng tên, nhưng đàng sau là các bang hội của Tàu. Thương xá Phúc Lộc Thọ vốn được coi là “Quốc Hội VNCH” ở Bolsa, nhưng phía trước là tượng các danh nhân Trung Hoa và tên thương xá được viết vừa bằng chữ Tàu vừa bằng chữ Việt. Houston cũng thế thôi.
Nếu mỗi gia đình và mỗi cá nhân chỉ lấy những mục tiêu như trên làm mục tiêu của cuộc sống và truyền từ đời nọ sang đời kia, còn lâu cộng đồng và đất nước với ngóc đầu lên được.
NHÌN QUA NGƯỜI HOA (định cư tại Hoa kỳ) Trong khi người Việt nhiễm văn hoá Trung Quốc đã trở thành như đã nói trên, người Hoa khi ra hải ngoại lại thích ứng rất nhanh nên vươn lên khá nhanh và khá cao. Những đặc tính của người Hoa ở hải ngoại được mô tả như sau:
1.- Cần cù, việc gì cũng làm
2.- Tiết kiệm, không sống khoe khoang hay xa hoa.
3.- Khởi sự từ buôn bán nhỏ.
4.- Đơn vị kinh tế gia đình: Gia trưởng đóng vai trò quan trọng. Tài sản có thể truyền từ đời nọ sang đới kia.
5.- Hình thành những xí nghiệp không theo một hình thức chặt chẽ, không theo những quy luật nhất định, tất cả đều dựa vào chữ TÍN.
6.- Không làm những công việc có tính cách phức tạp hay quá to lớn, chỉ thích kinh doanh vào những lãnh vực đơn giản. Khi cần làm ăn lớn thường chia ra làm nhiều công ty con.
7.- Móc nối với chính quyền và cá nhân khác rất giỏi. Không tham gia chính quyền hay đảng phái nào, nhưng thường nắm được các nhân vật có địa vị quan trọng có thể bao che hay hổ trợ cho làm ăn.
(Tại Indonesia, người Hoa chỉ chiếm từ 3% đến 4% dân số, nhưng làm chủ 70% tài sản ở đất nước này với khoảng 160 trong số 200 xí nghiệp lớn của Indonesia. Gia đình ông Liem Sioe Liong, làm chủ xí nghiệp Salim với số vốn khoảng 9 tỷ mỹ kim, nhờ quen biết lớn với Suharto).
8.- Không thích tranh tụng, kiện cáo. Thường tìm cách dàn xếp mỗi khi có đụng chạm hay bị bắt vì vi phạm luật pháp.
9.- Phạm vi hoạt động gần như không biên giới.
10.- Thích ứng rất nhanh với những biến đổi của thời cuộc.
Trong bài “Mạng lưới kinh tế của người Hoa hải ngoại”, ông Phạm Văn Tuấn đã nhận thấy như sau về các hoạt động kinh doanh của người Hoa ở hải ngoại:
“Khi bắt đầu bước vào ngành thương mại, các người Hoa hải ngoại đã nhận được sự giúp đỡ từ các nhóm, các bang hay các cộng đồng của họ. Các hội tương trợ này được tổ chức căn cứ vào gia đình, hay nguồn gốc địa phương, hay thổ ngữ, chẳng hạn như các bang người Hẹ, Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến. Các hội hay các bang này đã hoạt động như một thứ ngân hàng nhờ đó người Hoa có thể mượn tiền, trao đổi tin tức, tuyển mộ nhân công, giới thiệu thương nghiệp, hay thương lượng các dịch vụ. Người Hoa hải ngoại thường tôn trọng chữ Tín, họ làm ăn bằng ước hẹn miệng và sự tin cẩn lẫn nhau, và họ không cần phải ký kết các văn bản, các giao kèo. Nếu một thương gia nào vi phạm lời hứa, người đó sẽ không bị truy tố ra pháp luật mà bị ghi vào sổ đen của các nhóm, các bang, đây là một tệ hại hơn, vì tất cả mạng lưới làm ăn của các cộng đồng người Hoa đều sẽ biết rõ sự việc, và việc kinh doanh của người vi phạm kể như bị chấm dứt.”
Số vốn của người Hoa hiện đang sống ở ngoại quốc được ước lượng khoảng 4.000 tỷ USD.
QUAY LẠI NHÌN MÌNH (người Việt định cư tại Hoa kỳ) Cuộc kiểm tra năm 2010 cho thấy ở Mỹ hiện nay người Hoa chiếm 1%, còn người Việt là 0,5%, tức 1.548.449. Người Việt ở Cali là 581.946 nguời.
Tại Little Saigon ở Orange County, được coi thủ đô của VNCH nối dài, thành trì chống cộng của thế giới tự do và tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á, có đến 3 chính phủ và ba ban đại diện cộng đồng:
Ba chính phủ là chính phủ Nguyễn Hữu Chánh, chính phủ Đào Minh Quân và chính phủ Hồ Văn Sinh (thay thế Nguyễn Bá Cẩn).
Ba ban đại diện cộng đồng là cộng đồng Nguyễn Xuân Vinh, cộng đồng Nguyễn Tấn Lạc và cộng đồng Nguyễn Xuân Nghĩa. Cộng Đồng này đang chửi cộng đồng kia là tiếm danh.
Mặc dầu lực lượng hùng hậu như thế, nhưng khi nhóm VietWeekly chưa đến 10 người nổi lên ủng hộ Hà Nội giữa phố Little Saigon, chọc tức các đoàn thể chống cộng và cộng đồng mà chẳng ai làm gì được. Trong khi đó, các “chiến sĩ chống cộng” vẫn tiếp tục chụp mũ nhau không ngừng nghĩ trên các diễn đàn.
Rất nhiều “nhân tài” của người Việt đang chuẩn bị ra tranh cử các chức vụ dân cử tại địa phương, thành phố, tiểu bang và có thể liên bang, trong cuộc bầu cử sắp đến. Mục tiêu được mô tả là để bảo vệ và nói lên tiếng nói của cộng đồng.
Trái lại, chúng tôi không thấy có một tổ chức chính trị nào của người Tàu hoạt động ở đây và không nghe nói họ sẽ đưa ai ra tranh cử.
Tôi nhớ lại trong cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ năm 2004, lúc đó liên danh George W. Bush đang tranh với liên danh John Kerry. Tôi có nhờ ông Tăng Kiến Hoa dẫn đến gặp một vài bang trưởng Tàu xem họ bầu cho ai. Họ cười và nói: Quy luật bầu cử là phù thịnh bất phù suy. Cứ thấy ai chắc thắng là đóng tiền cho người đó, không cần biết đường lối họ như thế nào. Họ đã nhận tiền là khi đắc cử họ sẽ giúp mình. Nếu hai người ngang ngữa, đóng tiền cho cả hai. Tôi hỏi người Tàu không có ai ra tranh cử dân biểu hay nghị sĩ gì sao. Họ cũng cười và nói: Người mình có vào được quốc hội cũng chẳng làm được chuyện mình muốn. Cứ thấy người nào có thế lực là đóng tiền cho người đó.
Thì ra người Tàu bầu cử bằng tiền chứ không phải bầu cử bằng phiếu như người Việt!
Tôi nhớ lại trong cuộc bầu cử năm 2000, vì hai liên danh George W. Bush và Albert A. Gore ngang ngữa, nên người Tàu đóng tiền cho cả hai. Tây An Tự và Thiền Sư Thanh Hải ở Los Angeles đã đóng tiền cho liên danh Gore nhưng lập danh sách giả những người góp tiền, bị đổ bể nên chúng ta mới biết được.
Chúng ta không mong người Việt có những nhà phát minh làm thay đổi nhân loại như John V. Blankenbaker (phát minh ra máy vi tính 1971), Bill Gates, Steve Jobs..., chúng ta chỉ mong người Việt biết quan tâm đến cộng đồng, đất nước và nhân loại nhiều hơn. Nhưng điều này quá khó. Đúng như người Mỹ đã nhận xét:
Người Việt vì những lý do vớ vẫn, có thể hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ (như kiếm chút danh chẳng hạn). [sacrifice important goals for the sake of small ones]
Người Việt thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh. Một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 2 người làm thì kém, 3 người làm thì hỏng việc!
Chúng ta trông chờ vào thế hệ sắp đến, không bị vướng mắc với quá khứ, học được nhiều cái hay của xứ người, sẽ đưa cộng đồng và đất nước đi vào một hướng đi mới tốt đẹp hơn.
Trần Kinh Nghị
1.- Cần cù lao động nhưng dễ thỏa mãn.
2.- Thông minh, sáng tạo khi phải đối phó với những khó khăn ngắn hạn, nhưng thiếu những khả năng suy tư dài hạn và linh hoạt.
3.- Khéo léo nhưng ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng các thành phẩm của mình.
4.- Vừa thực tế vừa có lý tưởng, nhưng lại không phát huy được xu hướng nào thành những nguyên lý.
5.- Yêu thích kiến thức và hiểu biết nhanh, nhưng ít khi học sự việc từ đầu đến cuối, nên kiến thức không có hệ thống hay căn bản. Ngoài ra, người Việt không học vì lợi ích của kiến thức (lúc nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện hay vì những công việc tốt).
[when small, they study because of their families; growing up, they study for the sake of prestige or good jobs]
6. Cởi mở và hiếu khách nhưng sự hiếu khách của họ không kéo dài.
7. Tiết kiệm, nhưng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô nghĩa (vì sĩ diện hay muốn phô trương).
[to save face or to show off].
8.- Có tinh thần đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau chủ yếu trong những tình huống khó khăn và nghèo đói, còn trong điều kiện tốt hơn, đặc tính này ít khi có.
9.- Yêu hòa bình và có thể chịu đựng mọi thứ, nhưng thường không thẳng thắn vì những lý do lặt vặt, vì thế hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ.
10.- Và sau cùng, thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh (một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 2 người làm thì kém, 3 người làm thì hỏng việc).
[one person can complete a task excellently; 2 people do it poorly, and 3 people make a mess of it].
Những phân tích trên đây cho chúng ta thấy người Mỹ đã hiểu rất rõ người Việt. Tại sao người Việt lại có những đặc tính như thế này?
NGƯỜI XƯA CŨNG ĐÃ NHẬN RA Học giả Trần Trọng Kim (1883 – 1953) khi viết bộ Việt Nam Sử Lược, ấn hành lần đầu tiên năm 1919, cũng đã phân tích khá rõ ràng những đặc tính của người Việt và những yếu tố tạo nên những đặc tính đó. Đa số người Việt lớn tuổi, khi còn nhỏ đều đã được học bộ sử này. Trong phạm vi một bài báo, chúng tôi chỉ xin trích lại dưới đây một số đoạn chính ông viết về đặc tính của người Việt.
Trong bài tựa, ông nói ngay:
“Người mình có ý lấy chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết làm gì. Ấy cũng là vì xưa nay mình không có quốc văn, chung thân chỉ đi mượn tiếng người, chữ người mà học, việc gì cũng bị người ta cảm hóa, chứ tự mình thì không có cái gì là cái đặc sắc, thành ra thật rõ như câu phương ngôn: «Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng!»
“Cái sự học vấn của mình như thế, cái cảm tình của người trong nước như thế, bảo rằng lòng vì dân vì nước mở mang ra làm sao được?”
“Thời đại Bắc thuộc dai dẳng đến hơn một nghìn năm, mà trong thời đại ấy dân tình thế tục ở nước mình thế nào, thì bấy giờ ta không rõ lắm, nhưng có một điều ta nên biết là từ đó trở đi, người mình nhiễm cái văn minh của Tàu một cách rất sâu xa, dẫu về sau có giải thoát được cái vòng phụ thuộc nước Tàu nữa, người mình vẫn phải chịu cái ảnh hưởng của Tàu. Cái ảnh hưởng ấy lâu ngày đã trở thành ra cái quốc túy của mình, dẫu ngày nay có muốn trừ bỏ đi, cũng chưa dễ một mai mà tẩy gội cho sạch được. Những nhà chính trị toan sự đổi cũ thay mới cũng nên lưu tâm về việc ấy, thì sự biến cải mới có công hiệu vậy.”
Ở Chương VI nói về “Kết Quả của Thời Bắc Thuộc”, ông có nhận định rõ hơn:
“Nguyên nước Tàu từ đời Tam Đại đã văn minh lắm, mà nhất là về đời nhà Chu thì cái học thuật lại càng rực rỡ lắm. Những học phái lớn như là Nho giáo và Lão giáo, đều khởi đầu từ đời ấy. Về sau đến đời nhà Hán, nhà Đường, những học phái ấy thịnh lên, lại có Phật giáo ở Ấn độ truyền sang, rồi cả ba đạo cùng truyền bá đi khắp cả mọi nơi trong nước. Từ đó trở về sau nước Tàu và những nước chịu ảnh hưởng của Tàu đều theo tông chỉ của những đạo ấy mà lập ra sự sùng tín, luân lý và phong tục tương tự như nhau cả…”
“Khi những đạo Nho, đạo Khổng, đạo Phật phát đạt bên Tàu, thì đất Giao châu ta còn thuộc về nước Tàu, cho nên người mình cũng theo những đạo ấy. Về sau nước mình đã tự chủ rồi, những đạo ấy lại càng thịnh thêm, như là đạo Phật thì thịnh về đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê và nhà Lý, mà đạo Nho thì thịnh từ đời nhà Trần trở đi.
“Phàm phong tục và chính trị là do sự học thuật và tông giáo mà ra. Mà người mình đã theo học thuật và Tông giáo của Tàu thì điều gì ta cũng noi theo Tàu hết cả. Nhưng xét ra thì điều gì mình cũng thua kém Tàu, mà tự người mình không thấy có tìm kiếm và bày đặt ra được cái gì cho xuất sắc, gọi là có cái tinh thần riêng của nòi giống mình, là tại làm sao? ...
“Người mà cả đời không đi đến đâu, mắt không trông thấy cái hay cái dở của người, thì tiến hóa làm sao được? Mà sự học của mình thì ai cũng yên trí rằng cái gì đã học của Tàu là hay, là tốt hơn cả: từ sự tư tưởng cho chí công việc làm, điều gì mình cũng lấy Tàu làm gương. Hễ ai bắt chước được Tàu là giỏi, không bắt chước được là dở. Cách mình sùng mộ văn minh của Tàu như thế, cho nên không chịu so sánh cái hơn cái kém, không tìm cách phát minh những điều hay tốt ra, chỉ đinh ninh rằng người ta hơn mình, mình chỉ bắt chước người ta là đủ.
“Địa thế nước mình như thế, tính chất và sự học vấn của người mình như thế, thì cái trình độ tiến hóa của mình tất là phải chậm chạp và việc gì cũng phải thua kém người ta vậy.”
Đọc cuốn “Lều chõng”, một tiểu thuyết phóng sự của nhà văn Ngô Tất Tố (1894 - 1954), chúng ta có thể thấy rõ nền học vấn của người Tàu mà người Việt rập khuôn theo đã kềm hảm con người như thế nào. Ông vốn là một nhà Nho, đã từng tham dự các kỳ thi hương dưới triều Nguyễn, nên đã phản ánh một cách trung thực những oái ăm của các kỳ thi này và nêu lên sự sụp đổ tinh thần của những nho sĩ suốt đời lấy khoa cử làm con đường tiến thân nhưng lại bị hoàn toàn thất vọng.
“TRƯỚC LÀ ĐẸP MẶT SAU LÀ ẤM THÂN” Nước Việt Nam bị Pháp đô hộ gần 100 năm, đã cởi bỏ nền học vấn của Trung Hoa, tiếp thu nền học vấn mới của phương Tây, nhưng vẫn còn giữ lại nhiều nét căn bản của nền văn hóa Trung Hoa. Có nhiều hủ tục trong quan, hôn, tang, tế mà cuộc Cách Mạng Văn Hoá của Trung Quốc đã phá sạch, nhưng nhiều người Việt vẫn cố giữ lại như những thứ “quốc hồn quốc túy”.
Bài tục giao sau đây vẫn còn là tiêu chuẩn và mục tiêu thăng tiến của gia đình và con người Việt Nam:
Con ơi! muốn nên thân người
Lắng tay nghe lấy những lời mẹ cha
Gái thì giữ việc trong nhà
Khi vào canh cửi khi ra thêu thùa
Trai thì đọc sách ngâm thơ
Dồi mài kinh sử để chờ kịp khoa
Mai sau nối được nghiệp nhà
Trước là đẹp mặt sau là ấm thân
Bây giờ người con gái không còn chỉ “giữ việc trong nhà”, và người con trai không còn chỉ “đọc sách ngâm thơ” mà đã đi vào khắp mọi lãnh vực của cuộc sống, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn chỉ là “Trước là đẹp mặt sau là ấm thân”.
Trong nước, tiêu chuẩn của cuộc sống là có nhà sang cửa rộng, có xe hơi, có con đi du học ngoại quốc... Tiêu chuẩn ở hải ngoại cũng thế thôi: Đi dâu cũng nghe khoe nhà trên cả triệu bạc, xe loại sang trọng nhất, con đang học bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư... Gần như không nghe ai khoe những công trình đang nghiên cứu hay thực hiện để đưa con người, cộng đồng và đất nước đi lên. Tất cả chỉ tập trung vào hai tiêu chuẩn là “đẹp mặt” và “ấm thân”.
Với mục tiêu như thế, chúng ta không ngạc nhiên khi nhìn ra phố Bolsa, thủ đô của VNCH nối dài, đa số các cơ sở kinh doanh lớn đều không phải của người Việt. Tuy bên ngoài người Việt gốc Hoa đứng tên, nhưng đàng sau là các bang hội của Tàu. Thương xá Phúc Lộc Thọ vốn được coi là “Quốc Hội VNCH” ở Bolsa, nhưng phía trước là tượng các danh nhân Trung Hoa và tên thương xá được viết vừa bằng chữ Tàu vừa bằng chữ Việt. Houston cũng thế thôi.
Nếu mỗi gia đình và mỗi cá nhân chỉ lấy những mục tiêu như trên làm mục tiêu của cuộc sống và truyền từ đời nọ sang đời kia, còn lâu cộng đồng và đất nước với ngóc đầu lên được.
NHÌN QUA NGƯỜI HOA (định cư tại Hoa kỳ) Trong khi người Việt nhiễm văn hoá Trung Quốc đã trở thành như đã nói trên, người Hoa khi ra hải ngoại lại thích ứng rất nhanh nên vươn lên khá nhanh và khá cao. Những đặc tính của người Hoa ở hải ngoại được mô tả như sau:
1.- Cần cù, việc gì cũng làm
2.- Tiết kiệm, không sống khoe khoang hay xa hoa.
3.- Khởi sự từ buôn bán nhỏ.
4.- Đơn vị kinh tế gia đình: Gia trưởng đóng vai trò quan trọng. Tài sản có thể truyền từ đời nọ sang đới kia.
5.- Hình thành những xí nghiệp không theo một hình thức chặt chẽ, không theo những quy luật nhất định, tất cả đều dựa vào chữ TÍN.
6.- Không làm những công việc có tính cách phức tạp hay quá to lớn, chỉ thích kinh doanh vào những lãnh vực đơn giản. Khi cần làm ăn lớn thường chia ra làm nhiều công ty con.
7.- Móc nối với chính quyền và cá nhân khác rất giỏi. Không tham gia chính quyền hay đảng phái nào, nhưng thường nắm được các nhân vật có địa vị quan trọng có thể bao che hay hổ trợ cho làm ăn.
(Tại Indonesia, người Hoa chỉ chiếm từ 3% đến 4% dân số, nhưng làm chủ 70% tài sản ở đất nước này với khoảng 160 trong số 200 xí nghiệp lớn của Indonesia. Gia đình ông Liem Sioe Liong, làm chủ xí nghiệp Salim với số vốn khoảng 9 tỷ mỹ kim, nhờ quen biết lớn với Suharto).
8.- Không thích tranh tụng, kiện cáo. Thường tìm cách dàn xếp mỗi khi có đụng chạm hay bị bắt vì vi phạm luật pháp.
9.- Phạm vi hoạt động gần như không biên giới.
10.- Thích ứng rất nhanh với những biến đổi của thời cuộc.
Trong bài “Mạng lưới kinh tế của người Hoa hải ngoại”, ông Phạm Văn Tuấn đã nhận thấy như sau về các hoạt động kinh doanh của người Hoa ở hải ngoại:
“Khi bắt đầu bước vào ngành thương mại, các người Hoa hải ngoại đã nhận được sự giúp đỡ từ các nhóm, các bang hay các cộng đồng của họ. Các hội tương trợ này được tổ chức căn cứ vào gia đình, hay nguồn gốc địa phương, hay thổ ngữ, chẳng hạn như các bang người Hẹ, Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến. Các hội hay các bang này đã hoạt động như một thứ ngân hàng nhờ đó người Hoa có thể mượn tiền, trao đổi tin tức, tuyển mộ nhân công, giới thiệu thương nghiệp, hay thương lượng các dịch vụ. Người Hoa hải ngoại thường tôn trọng chữ Tín, họ làm ăn bằng ước hẹn miệng và sự tin cẩn lẫn nhau, và họ không cần phải ký kết các văn bản, các giao kèo. Nếu một thương gia nào vi phạm lời hứa, người đó sẽ không bị truy tố ra pháp luật mà bị ghi vào sổ đen của các nhóm, các bang, đây là một tệ hại hơn, vì tất cả mạng lưới làm ăn của các cộng đồng người Hoa đều sẽ biết rõ sự việc, và việc kinh doanh của người vi phạm kể như bị chấm dứt.”
Số vốn của người Hoa hiện đang sống ở ngoại quốc được ước lượng khoảng 4.000 tỷ USD.
QUAY LẠI NHÌN MÌNH (người Việt định cư tại Hoa kỳ) Cuộc kiểm tra năm 2010 cho thấy ở Mỹ hiện nay người Hoa chiếm 1%, còn người Việt là 0,5%, tức 1.548.449. Người Việt ở Cali là 581.946 nguời.
Tại Little Saigon ở Orange County, được coi thủ đô của VNCH nối dài, thành trì chống cộng của thế giới tự do và tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á, có đến 3 chính phủ và ba ban đại diện cộng đồng:
Ba chính phủ là chính phủ Nguyễn Hữu Chánh, chính phủ Đào Minh Quân và chính phủ Hồ Văn Sinh (thay thế Nguyễn Bá Cẩn).
Ba ban đại diện cộng đồng là cộng đồng Nguyễn Xuân Vinh, cộng đồng Nguyễn Tấn Lạc và cộng đồng Nguyễn Xuân Nghĩa. Cộng Đồng này đang chửi cộng đồng kia là tiếm danh.
Mặc dầu lực lượng hùng hậu như thế, nhưng khi nhóm VietWeekly chưa đến 10 người nổi lên ủng hộ Hà Nội giữa phố Little Saigon, chọc tức các đoàn thể chống cộng và cộng đồng mà chẳng ai làm gì được. Trong khi đó, các “chiến sĩ chống cộng” vẫn tiếp tục chụp mũ nhau không ngừng nghĩ trên các diễn đàn.
Rất nhiều “nhân tài” của người Việt đang chuẩn bị ra tranh cử các chức vụ dân cử tại địa phương, thành phố, tiểu bang và có thể liên bang, trong cuộc bầu cử sắp đến. Mục tiêu được mô tả là để bảo vệ và nói lên tiếng nói của cộng đồng.
Trái lại, chúng tôi không thấy có một tổ chức chính trị nào của người Tàu hoạt động ở đây và không nghe nói họ sẽ đưa ai ra tranh cử.
Tôi nhớ lại trong cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ năm 2004, lúc đó liên danh George W. Bush đang tranh với liên danh John Kerry. Tôi có nhờ ông Tăng Kiến Hoa dẫn đến gặp một vài bang trưởng Tàu xem họ bầu cho ai. Họ cười và nói: Quy luật bầu cử là phù thịnh bất phù suy. Cứ thấy ai chắc thắng là đóng tiền cho người đó, không cần biết đường lối họ như thế nào. Họ đã nhận tiền là khi đắc cử họ sẽ giúp mình. Nếu hai người ngang ngữa, đóng tiền cho cả hai. Tôi hỏi người Tàu không có ai ra tranh cử dân biểu hay nghị sĩ gì sao. Họ cũng cười và nói: Người mình có vào được quốc hội cũng chẳng làm được chuyện mình muốn. Cứ thấy người nào có thế lực là đóng tiền cho người đó.
Thì ra người Tàu bầu cử bằng tiền chứ không phải bầu cử bằng phiếu như người Việt!
Tôi nhớ lại trong cuộc bầu cử năm 2000, vì hai liên danh George W. Bush và Albert A. Gore ngang ngữa, nên người Tàu đóng tiền cho cả hai. Tây An Tự và Thiền Sư Thanh Hải ở Los Angeles đã đóng tiền cho liên danh Gore nhưng lập danh sách giả những người góp tiền, bị đổ bể nên chúng ta mới biết được.
Chúng ta không mong người Việt có những nhà phát minh làm thay đổi nhân loại như John V. Blankenbaker (phát minh ra máy vi tính 1971), Bill Gates, Steve Jobs..., chúng ta chỉ mong người Việt biết quan tâm đến cộng đồng, đất nước và nhân loại nhiều hơn. Nhưng điều này quá khó. Đúng như người Mỹ đã nhận xét:
Người Việt vì những lý do vớ vẫn, có thể hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ (như kiếm chút danh chẳng hạn). [sacrifice important goals for the sake of small ones]
Người Việt thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh. Một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 2 người làm thì kém, 3 người làm thì hỏng việc!
Chúng ta trông chờ vào thế hệ sắp đến, không bị vướng mắc với quá khứ, học được nhiều cái hay của xứ người, sẽ đưa cộng đồng và đất nước đi vào một hướng đi mới tốt đẹp hơn.
Trần Kinh Nghị
Ngày Trở Về
(05/30/2012)
Tác giả : Trần Khải Hình ảnh ngày trở về không hẳn lúc nào cũng vui. Dĩ nhiên, nếu ngày đoàn tụ mà tất cả mọi người đều bình an thì là vui chứ, nhưng nếu không, tất hẳn là cũng có ngậm ngùi. Vì đời người, đâu dễ lúc nào cũng bình an.
Dòng nhạc Phạm Duy một thời quen thuộc với hình ảnh trở về mô tả như sau:
Ngày trở về, anh bước lê
Trên quãng đường đê đến bên lũy tre
Nắng vàng hoe, vườn rau trước hè cười đón người về
Mẹ lần mò, ra trước ao
Nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ
Tiếc rằng ta đôi mắt đã loà vì quá đợi chờ...
Đó là khi anh về được, dù là bước lê. Đó là mẹ già ra đón được, dù là mắt đã lòa.
Nhưng tại Seoul, thủ đô Nam Hàn, nơi đất nước cũng còn chia đôi và một thời cũng nội chiến dữ dội... có hình ảnh ngày trở về bi thảm hơn, ngậm ngùi hơn.
Bản tin Yonhap 12 di cốt lính Nam Hàn tử trận ở Bắc Hàn trong thời Cuộc Chiến Triều Tiên đã về lại Seoul hôm Thứ Sáu 25-5-2012 xuyên qua đường Hoa Kỳ, và đây là đợt hồi hương đầu tiên của tử sĩ Nam Hàn kể từ khi có cuộc ngưng bắn năm 1953.
Đợt này là 12 di cốt, trong đó có 2 di cốt đã nhận dạng được lai lịch, là trong nhóm 226 bộ di cốt đào được từ phía bắc Bắc Hàn bởi một nhóm đaò di cốt Hoa Kỳ từ năm 2000 và 2004, trước khi Mỹ ngưng chiến dịch tìm di cốt chung với Bắc Hàn vì quan ngại về an toàn và an ninh của nhân viên đàò tìm di cốt.
Bản tin nói, sau khi thử nghiệm DNA, cơ quan liên hợp Hoa Kỳ về POW/MIA ở Hawaii xác nhận hồi tháng 8-2011 rằng một số di cốt là của lính Châu Á.
Từ đó, Seoul và Washington mới phân tích chung để nhận dạng di cốt, và 12 di cốt xác minh là của chiến binh Nam Hàn, theo lời Bộ Quốc Phòng Nam Hàn cho biết.
Nhóm 12 di cốt hôm Thứ Sáu từ Mỹ chở tới một sân bay quân sự ở Seongnam, phía nam Seoul, nơi được đón bằng nghi lễ quân sự với tham dự của Tổng Thống Lee Myung-bak, Bộ Trưởng Quốc Phòng Kim Kwan-jin và Tướng Mỹ James Thurman, Tư Lệnh Quân Mỹ ở Nam Hàn.
Như thế là hơn 60 năm, các di cốt mới về lại Seoul.
Tổng Thống Lee nói với thân nhân tử sĩ trước nghi lễ đón tiếp, “Cộng Hòa Triều Tiên được bảo vệ nhờ các chiến binh tác chiến và sẵn sàng hy sinh thân mạng. Chúng ta phải tìm họ, ngay cả là di cốt, nnhững người hy sinh thân mạng cho đất nước, tới tận cùng. Không có người yêu nước lớn lao nào hơn họ. Có nhiều việc phải làm, nếu thống nhất đất nước xảy ra, nhưng chuyện này có lẽ là việc đầu tiên chúng at phaỉ làm, Đi tìm di cốt những tử sĩ hy sinh trong khi bảo vệ đất nước là một việc quan trọng chúng ta phải làm như là việc đầu tiên.”
Đây là lần đầu tiên di cốt lính Nam Hàn chết ở Bắc Hàn thời Cuộc Chiến Triều Tiên được về lại Seoul kể từ khi ký kết ngưng bắn năm 1953, theo lời Đạị Tá Park Shin-han, Giám Đốc Sở Tìm và Nhận Dạng Tử Sĩ.
Park nói, việc đón di cốt hồi hương mang ý nghĩa lớn vì nó cho thấy quốc gia nhận trách nhiệm bằng mọi giá đối với những người hy sinh cho tổ quốc. Park cũng cảm ơn Mỹ đã hỗ trợ trong việc đaò tìm và nhận dạng di cốt tử sĩ.
Hai di cốt nhận ra lai lịch là các Binh Nhì Kim Yong-soo và Lee Kap-soo, bị mất tích sau một trong những trận đánh đẫm máu có tên là trận Battle of Jangjin "Chosin" Reservoir cuối năm 1950.
Trận này xảy ra ở hồ trữ nước nhân tạo ở phía bắc Bắc Hàn, sớm ngay sau khi quân đội Trung Quốc tham chiến, với hơn 100,000 chiến binh TQ bao vây 30,000 chiến binh Mỹ, trong đó 2 binh nhì Nam Hàn giữ nhiệm vụ hỗ trợ quân Mỹ vì rành địa lý và các ngôn ngữ điạ phương.
Theo dữ kiện chính phủ, có khoảng 140,000 chiến binh Nam Hàn tử trận trong cuộc chiến kéo dài 3 năm, trong khi 450,000 bị thương.
Có khoảng 215,000 chiến binh Bắc Hàn ước tính đã tử trận, cùng khoảng 300,000 bị thương. Khoảng 2.5 triệu thường dân chết trong cuộc chiến Triều Tiên.
Ước tính từ 30,000 tới 40,000 di hài chiến binh Nam Hàn chôn trên lãnh thổ Bắc Hàn, theo lời các viên chức quân sự.
Một kết cuộc không giống như Cuộc Chiến Việt Nam. Cũng không thấy triều đình họ Kim theo gương ông Hồ để dai dẳng tấn công Nam Hàn nhằm thống nhất đất nước. Hay phải chăng, họ Kim có lòng từ bi, không nỡ làm chết thêm dân trong cuộc Nam Tiến?
Hay phảỉ chăng, Bắc Hàn không tin rằng lính Mỹ đang trú đóng ở Nam Hàn là “đế quốc xâm lược”? Có mét vuông đất nào của Nam Hàn trở thành lãnh thổ Hoa Kỳ chưa?
Hay phải chăng, Bắc Hàn muốn chờ đợi cho tới khi kinh tế Nam Hàn đạt những kỳ tích nhiều hơn, để rồi sẽ đánh một trận cực kỳ lớn để thống nhất, để miền Nam nhận họ và miền Bắc nhận hàng? Có trời mà hiểu nổi.
Nhưng thâý rõ, ngày trở về nào sau nội chiến cũng đầy những ngậm ngùi, thương khóc.
(05/30/2012)
Tác giả : Trần Khải Hình ảnh ngày trở về không hẳn lúc nào cũng vui. Dĩ nhiên, nếu ngày đoàn tụ mà tất cả mọi người đều bình an thì là vui chứ, nhưng nếu không, tất hẳn là cũng có ngậm ngùi. Vì đời người, đâu dễ lúc nào cũng bình an.
Dòng nhạc Phạm Duy một thời quen thuộc với hình ảnh trở về mô tả như sau:
Ngày trở về, anh bước lê
Trên quãng đường đê đến bên lũy tre
Nắng vàng hoe, vườn rau trước hè cười đón người về
Mẹ lần mò, ra trước ao
Nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ
Tiếc rằng ta đôi mắt đã loà vì quá đợi chờ...
Đó là khi anh về được, dù là bước lê. Đó là mẹ già ra đón được, dù là mắt đã lòa.
Nhưng tại Seoul, thủ đô Nam Hàn, nơi đất nước cũng còn chia đôi và một thời cũng nội chiến dữ dội... có hình ảnh ngày trở về bi thảm hơn, ngậm ngùi hơn.
Bản tin Yonhap 12 di cốt lính Nam Hàn tử trận ở Bắc Hàn trong thời Cuộc Chiến Triều Tiên đã về lại Seoul hôm Thứ Sáu 25-5-2012 xuyên qua đường Hoa Kỳ, và đây là đợt hồi hương đầu tiên của tử sĩ Nam Hàn kể từ khi có cuộc ngưng bắn năm 1953.
Đợt này là 12 di cốt, trong đó có 2 di cốt đã nhận dạng được lai lịch, là trong nhóm 226 bộ di cốt đào được từ phía bắc Bắc Hàn bởi một nhóm đaò di cốt Hoa Kỳ từ năm 2000 và 2004, trước khi Mỹ ngưng chiến dịch tìm di cốt chung với Bắc Hàn vì quan ngại về an toàn và an ninh của nhân viên đàò tìm di cốt.
Bản tin nói, sau khi thử nghiệm DNA, cơ quan liên hợp Hoa Kỳ về POW/MIA ở Hawaii xác nhận hồi tháng 8-2011 rằng một số di cốt là của lính Châu Á.
Từ đó, Seoul và Washington mới phân tích chung để nhận dạng di cốt, và 12 di cốt xác minh là của chiến binh Nam Hàn, theo lời Bộ Quốc Phòng Nam Hàn cho biết.
Nhóm 12 di cốt hôm Thứ Sáu từ Mỹ chở tới một sân bay quân sự ở Seongnam, phía nam Seoul, nơi được đón bằng nghi lễ quân sự với tham dự của Tổng Thống Lee Myung-bak, Bộ Trưởng Quốc Phòng Kim Kwan-jin và Tướng Mỹ James Thurman, Tư Lệnh Quân Mỹ ở Nam Hàn.
Như thế là hơn 60 năm, các di cốt mới về lại Seoul.
Tổng Thống Lee nói với thân nhân tử sĩ trước nghi lễ đón tiếp, “Cộng Hòa Triều Tiên được bảo vệ nhờ các chiến binh tác chiến và sẵn sàng hy sinh thân mạng. Chúng ta phải tìm họ, ngay cả là di cốt, nnhững người hy sinh thân mạng cho đất nước, tới tận cùng. Không có người yêu nước lớn lao nào hơn họ. Có nhiều việc phải làm, nếu thống nhất đất nước xảy ra, nhưng chuyện này có lẽ là việc đầu tiên chúng at phaỉ làm, Đi tìm di cốt những tử sĩ hy sinh trong khi bảo vệ đất nước là một việc quan trọng chúng ta phải làm như là việc đầu tiên.”
Đây là lần đầu tiên di cốt lính Nam Hàn chết ở Bắc Hàn thời Cuộc Chiến Triều Tiên được về lại Seoul kể từ khi ký kết ngưng bắn năm 1953, theo lời Đạị Tá Park Shin-han, Giám Đốc Sở Tìm và Nhận Dạng Tử Sĩ.
Park nói, việc đón di cốt hồi hương mang ý nghĩa lớn vì nó cho thấy quốc gia nhận trách nhiệm bằng mọi giá đối với những người hy sinh cho tổ quốc. Park cũng cảm ơn Mỹ đã hỗ trợ trong việc đaò tìm và nhận dạng di cốt tử sĩ.
Hai di cốt nhận ra lai lịch là các Binh Nhì Kim Yong-soo và Lee Kap-soo, bị mất tích sau một trong những trận đánh đẫm máu có tên là trận Battle of Jangjin "Chosin" Reservoir cuối năm 1950.
Trận này xảy ra ở hồ trữ nước nhân tạo ở phía bắc Bắc Hàn, sớm ngay sau khi quân đội Trung Quốc tham chiến, với hơn 100,000 chiến binh TQ bao vây 30,000 chiến binh Mỹ, trong đó 2 binh nhì Nam Hàn giữ nhiệm vụ hỗ trợ quân Mỹ vì rành địa lý và các ngôn ngữ điạ phương.
Theo dữ kiện chính phủ, có khoảng 140,000 chiến binh Nam Hàn tử trận trong cuộc chiến kéo dài 3 năm, trong khi 450,000 bị thương.
Có khoảng 215,000 chiến binh Bắc Hàn ước tính đã tử trận, cùng khoảng 300,000 bị thương. Khoảng 2.5 triệu thường dân chết trong cuộc chiến Triều Tiên.
Ước tính từ 30,000 tới 40,000 di hài chiến binh Nam Hàn chôn trên lãnh thổ Bắc Hàn, theo lời các viên chức quân sự.
Một kết cuộc không giống như Cuộc Chiến Việt Nam. Cũng không thấy triều đình họ Kim theo gương ông Hồ để dai dẳng tấn công Nam Hàn nhằm thống nhất đất nước. Hay phải chăng, họ Kim có lòng từ bi, không nỡ làm chết thêm dân trong cuộc Nam Tiến?
Hay phảỉ chăng, Bắc Hàn không tin rằng lính Mỹ đang trú đóng ở Nam Hàn là “đế quốc xâm lược”? Có mét vuông đất nào của Nam Hàn trở thành lãnh thổ Hoa Kỳ chưa?
Hay phải chăng, Bắc Hàn muốn chờ đợi cho tới khi kinh tế Nam Hàn đạt những kỳ tích nhiều hơn, để rồi sẽ đánh một trận cực kỳ lớn để thống nhất, để miền Nam nhận họ và miền Bắc nhận hàng? Có trời mà hiểu nổi.
Nhưng thâý rõ, ngày trở về nào sau nội chiến cũng đầy những ngậm ngùi, thương khóc.
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Phúc, Lộc, Thọ - các cụ là ai?
Theo truyền thuyết của người Hoa Hạ, ông Lộc là một quan tham chuyên ăn của đút lót. Ông Thọ lại là vị quan thực dụng, ưa xu nịnh vua để được ban thưởng, trong dinh của ông cung nữ nhiều chẳng kém ở cung vua. Chỉ có ông Phúc là quan thanh liêm, ngay thẳng, con cháu đề huề.
Hiện nay, từ thành thị đến nông thôn, ở đâu ta cũng gặp các cụ Phúc, Lộc, Thọ. Các cụ thường được đặt ở nơi trang trọng nhất trong phòng khách, trên nóc tủ chè, có nhà còn làm cả bàn thờ rõ đẹp để thờ ba cụ cầu mong được phúc, được lộc, được thọ. Người sang thì có cả ba cụ bằng gốm Tàu rõ to, rõ đẹp. Người tầm tầm thì bằng gỗ pơ-mu hoặc sứ Bát Tràng…
Xin thưa, theo truyền thuyết, cả ba cụ đều là người Hán và dĩ nhiên đều sinh ra ở Trung Nguyên. Và ba cụ đều làm quan to ở ba triều đại.
Hãy kể theo thứ tự, bắt đầu từ cụ Phúc. Cụ Phúc tên thật là Quách Tử Nghi, Thừa tướng đời Đường. Cụ xuất thân vốn là quý tộc, đồng ruộng bát ngát hàng trăm mẫu, nhưng suốt cuộc đời tham gia triều chính, cụ sống rất liêm khiết, thẳng ngay. Không vì vinh hoa, phú quý mà làm mất nhân cách con người.
Cụ bà và cụ ông bằng tuổi nhau. Người Việt ta có câu: "Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn". Còn theo người Hoa Hạ ở Trung Nguyên thì vợ chồng cùng tuổi là rất tốt. Họ có thể điều hòa sinh khí âm, khí dương cho nhau. Vì vậy, có thể bớt đi những bệnh tật hiểm nguy. Lại cùng tuổi nên dễ hiểu nhau, dễ thông cảm cho nhau, nên hai cụ rất tâm đầu, ý hợp. Hai cụ 83 tuổi đã có cháu ngũ đại. Lẽ dĩ diện phải là nam tử rồi. Cụ Phúc thường bế đứa trẻ trên tay là như vậy. Theo phong tục của người Hoa cổ đại, sống đến lúc có cháu ngũ đại giữ ấm chân nhang của tổ tiên là sung sướng lắm lắm! Phúc to, phúc dày lắm lắm! Bởi thế cụ mới bế thằng bé, cháu ngũ đại, đứng giữa đời, giữa trời, nói:
- Nhờ giời, nhờ phúc ấm tổ tiên, ta được thế này, còn mong gì hơn nữa. Rồi cụ cười một hơi mà thác. Được thác như cụ mới thực sự được về cõi tiên cảnh nhàn du. Cụ bà ra ôm lấy thi thể cụ ông và chít nội than rằng:
- Tôi cùng tuổi với chồng tôi. Phúc cũng đủ đầy, dày sâu, sao giời chẳng cho đi cùng…
Ai có thể ngờ, nói dứt lời cụ bà cũng đi luôn về nơi chín suối. Hai cụ được con cháu hợp táng. Vậy là sống bên nhau, có nhau, chết cũng ở bên nhau, có nhau. Hỏi còn phúc nào bằng. Và cụ được người đời đặt tên là Phúc.
Cụ thứ hai là cụ Lộc. Cụ Lộc tên thật là Đậu Từ Quân, làm quan đến chức Thừa tướng nhà Tấn. Nhưng cụ Đậu Từ Quân là một quan tham. Tham lắm. Cụ hưởng không biết bao nhiêu vàng bạc, châu báu, là của đút lót của những kẻ nịnh thần, mua quan, bán tước, chạy tội cho chính mình, cho con, cho cháu, cho thân tộc. Trong nhà cụ, của chất cao như núi. Tưởng cụ Đậu Từ Quân được như thế đã là giàu sang, vinh quang đến tột đỉnh. Cụ chỉ hiềm một nỗi, năm cụ tám mươi tuổi vẫn chưa có đích tôn. Do vậy cụ lo nghĩ buồn rầu sinh bệnh mà chết. Cụ ốm lâu lắm. Lâu như kiểu bị tai biến mạch máu não bây giờ. Cụ nằm đến nát thịt, nát da, mùi hôi thối đến mức con cái cũng không dám đến gần. Đến khi chết, cụ cũng không nhắm được mắt. Cụ than rằng:
- Lộc ta để cho ai đây? Ai giữ ấm chân nhang cho tổ tiên, cho bản thân ta?
Còn cụ thứ ba, cụ Thọ. Cụ Thọ tên là Đông Phương Sóc, làm Thừa tướng đời Hán. Triết lý làm quan của cụ Đông Phương Sóc là quan thì phải lấy lộc. Không lấy lộc thì làm quan để làm gì. Cụ coi buôn chính trị là buôn khó nhất, lãi to nhất. Nhưng cụ Đông Phương Sóc vẫn là quan liêm. Bởi cụ nhất định không nhận đút lót. Cụ chỉ thích lộc của vua ban thưởng. Được bao nhiêu tiền thưởng, cụ lại đem mua gái đẹp, gái trinh về làm thê thiếp. Người đương thời đồn rằng, trong dinh cụ, gái đẹp nhiều đến mức chẳng kém gì cung nữ ở cung vua. Cụ thọ đến 125 tuổi. Nên người đời mới gọi cụ là ông Thọ. Trước khi về chốn vĩnh hằng, cụ Thọ còn cưới một cô thôn nữ xinh đẹp mới mười bảy tuổi. Cụ Đông Phương Sóc bảo, cụ được thọ như vậy là nhờ cụ biết lấy âm để dưỡng dương.
Do cụ Đông Phương Sóc muốn có nhiều tiền để mua gái trẻ làm liều thuốc dưỡng dương, cho nên suốt cuộc đời của cụ, cụ chỉ tìm lời nói thật đẹp, thật hay để lấy lòng vua. Có người bạn thân khuyên cụ:
- Ông làm quan đầu triều mà không biết tìm lời phải, ý hay can gián nhà vua. Ông chỉ biết nịnh vua để lấy thưởng thì làm quan để làm gì.
Cụ Đông Phương Sóc vuốt chòm râu bạc, cười khà khà bảo:
- Làm quan không lấy thưởng thì tội gì mà làm quan. Can gián vua, nhỡ ra vua phật ý, tức giận, chém đầu cả ba họ thì sao?
Cụ Đông Phương Sóc 125 tuổi mới chịu từ giã cõi đời. Khi cụ chết thì con không còn, cháu cũng đã hết cơm hết gạo mà chắt đích phải làm ma, phải thay cha, thay ông, chở cụ nội.
Vậy làm quan như cụ, thọ như cụ phỏng có ích gì?
Qua ba bức tượng Phúc, Lộc, Thọ người đời thấy, người Hoa Hạ thật là tài giỏi. Họ đã khéo xếp ba vị thừa tướng, ba tính cách khác nhau ở ba triều đại khác nhau để răn đời.
Trong ba điều ước Phúc, Lộc, Thọ ấy chỉ có thể được một mà thôi
Dương Duy Ngữ
Hiện nay, từ thành thị đến nông thôn, ở đâu ta cũng gặp các cụ Phúc, Lộc, Thọ. Các cụ thường được đặt ở nơi trang trọng nhất trong phòng khách, trên nóc tủ chè, có nhà còn làm cả bàn thờ rõ đẹp để thờ ba cụ cầu mong được phúc, được lộc, được thọ. Người sang thì có cả ba cụ bằng gốm Tàu rõ to, rõ đẹp. Người tầm tầm thì bằng gỗ pơ-mu hoặc sứ Bát Tràng…
Xin thưa, theo truyền thuyết, cả ba cụ đều là người Hán và dĩ nhiên đều sinh ra ở Trung Nguyên. Và ba cụ đều làm quan to ở ba triều đại.
Hãy kể theo thứ tự, bắt đầu từ cụ Phúc. Cụ Phúc tên thật là Quách Tử Nghi, Thừa tướng đời Đường. Cụ xuất thân vốn là quý tộc, đồng ruộng bát ngát hàng trăm mẫu, nhưng suốt cuộc đời tham gia triều chính, cụ sống rất liêm khiết, thẳng ngay. Không vì vinh hoa, phú quý mà làm mất nhân cách con người.
Cụ bà và cụ ông bằng tuổi nhau. Người Việt ta có câu: "Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn". Còn theo người Hoa Hạ ở Trung Nguyên thì vợ chồng cùng tuổi là rất tốt. Họ có thể điều hòa sinh khí âm, khí dương cho nhau. Vì vậy, có thể bớt đi những bệnh tật hiểm nguy. Lại cùng tuổi nên dễ hiểu nhau, dễ thông cảm cho nhau, nên hai cụ rất tâm đầu, ý hợp. Hai cụ 83 tuổi đã có cháu ngũ đại. Lẽ dĩ diện phải là nam tử rồi. Cụ Phúc thường bế đứa trẻ trên tay là như vậy. Theo phong tục của người Hoa cổ đại, sống đến lúc có cháu ngũ đại giữ ấm chân nhang của tổ tiên là sung sướng lắm lắm! Phúc to, phúc dày lắm lắm! Bởi thế cụ mới bế thằng bé, cháu ngũ đại, đứng giữa đời, giữa trời, nói:
- Nhờ giời, nhờ phúc ấm tổ tiên, ta được thế này, còn mong gì hơn nữa. Rồi cụ cười một hơi mà thác. Được thác như cụ mới thực sự được về cõi tiên cảnh nhàn du. Cụ bà ra ôm lấy thi thể cụ ông và chít nội than rằng:
- Tôi cùng tuổi với chồng tôi. Phúc cũng đủ đầy, dày sâu, sao giời chẳng cho đi cùng…
Ai có thể ngờ, nói dứt lời cụ bà cũng đi luôn về nơi chín suối. Hai cụ được con cháu hợp táng. Vậy là sống bên nhau, có nhau, chết cũng ở bên nhau, có nhau. Hỏi còn phúc nào bằng. Và cụ được người đời đặt tên là Phúc.
Cụ thứ hai là cụ Lộc. Cụ Lộc tên thật là Đậu Từ Quân, làm quan đến chức Thừa tướng nhà Tấn. Nhưng cụ Đậu Từ Quân là một quan tham. Tham lắm. Cụ hưởng không biết bao nhiêu vàng bạc, châu báu, là của đút lót của những kẻ nịnh thần, mua quan, bán tước, chạy tội cho chính mình, cho con, cho cháu, cho thân tộc. Trong nhà cụ, của chất cao như núi. Tưởng cụ Đậu Từ Quân được như thế đã là giàu sang, vinh quang đến tột đỉnh. Cụ chỉ hiềm một nỗi, năm cụ tám mươi tuổi vẫn chưa có đích tôn. Do vậy cụ lo nghĩ buồn rầu sinh bệnh mà chết. Cụ ốm lâu lắm. Lâu như kiểu bị tai biến mạch máu não bây giờ. Cụ nằm đến nát thịt, nát da, mùi hôi thối đến mức con cái cũng không dám đến gần. Đến khi chết, cụ cũng không nhắm được mắt. Cụ than rằng:
- Lộc ta để cho ai đây? Ai giữ ấm chân nhang cho tổ tiên, cho bản thân ta?
Còn cụ thứ ba, cụ Thọ. Cụ Thọ tên là Đông Phương Sóc, làm Thừa tướng đời Hán. Triết lý làm quan của cụ Đông Phương Sóc là quan thì phải lấy lộc. Không lấy lộc thì làm quan để làm gì. Cụ coi buôn chính trị là buôn khó nhất, lãi to nhất. Nhưng cụ Đông Phương Sóc vẫn là quan liêm. Bởi cụ nhất định không nhận đút lót. Cụ chỉ thích lộc của vua ban thưởng. Được bao nhiêu tiền thưởng, cụ lại đem mua gái đẹp, gái trinh về làm thê thiếp. Người đương thời đồn rằng, trong dinh cụ, gái đẹp nhiều đến mức chẳng kém gì cung nữ ở cung vua. Cụ thọ đến 125 tuổi. Nên người đời mới gọi cụ là ông Thọ. Trước khi về chốn vĩnh hằng, cụ Thọ còn cưới một cô thôn nữ xinh đẹp mới mười bảy tuổi. Cụ Đông Phương Sóc bảo, cụ được thọ như vậy là nhờ cụ biết lấy âm để dưỡng dương.
Do cụ Đông Phương Sóc muốn có nhiều tiền để mua gái trẻ làm liều thuốc dưỡng dương, cho nên suốt cuộc đời của cụ, cụ chỉ tìm lời nói thật đẹp, thật hay để lấy lòng vua. Có người bạn thân khuyên cụ:
- Ông làm quan đầu triều mà không biết tìm lời phải, ý hay can gián nhà vua. Ông chỉ biết nịnh vua để lấy thưởng thì làm quan để làm gì.
Cụ Đông Phương Sóc vuốt chòm râu bạc, cười khà khà bảo:
- Làm quan không lấy thưởng thì tội gì mà làm quan. Can gián vua, nhỡ ra vua phật ý, tức giận, chém đầu cả ba họ thì sao?
Cụ Đông Phương Sóc 125 tuổi mới chịu từ giã cõi đời. Khi cụ chết thì con không còn, cháu cũng đã hết cơm hết gạo mà chắt đích phải làm ma, phải thay cha, thay ông, chở cụ nội.
Vậy làm quan như cụ, thọ như cụ phỏng có ích gì?
Qua ba bức tượng Phúc, Lộc, Thọ người đời thấy, người Hoa Hạ thật là tài giỏi. Họ đã khéo xếp ba vị thừa tướng, ba tính cách khác nhau ở ba triều đại khác nhau để răn đời.
Trong ba điều ước Phúc, Lộc, Thọ ấy chỉ có thể được một mà thôi
Dương Duy Ngữ
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Chưa đi chưa biết
Chưa đi chưa biết Bến Tre,
Nếu đi sẽ thấy cá mè như nhau.
Toàn là mặt lợn đầu trâu,
Cướp nhà, cướp đất, đè đầu dân oan.
Chưa đi chưa biết Bà Đen,
Nếu đi sẽ thấy chúng hèn đáng khinh.
Tàu xâm lăng thì làm thinh,
Dân đen phản đối, tội hình phạt ngay.
Chưa đi chưa biết Bình Dương,
Nếu đi sẽ thấy đau thương vô cùng.
Thấy tàu thì nó gập lưng,
Thấy dân thì nó lại hùng hổ lên.
Chưa đi chưa biết Cà Mau,
Nếu đi sẽ thấy một màu tang thương.
Cầm quyền là lũ bất lương,
Thụt két, tham nhũng, một phường lưu manh.
Chưa đi chưa biết Cần Thơ,
Nếu đi sẽ thấy xác xơ dân mình.
Người dân khổ cực mưu sinh,
Cầm quyền chiếm đất xây dinh, dựng nhà.
Chưa đi chưa biết Đồ Sơn,
Nếu đi sẽ thấy tệ hơn đồ tồi.
Trên cao một lũ ngu ngồi,
Để dân khốn khổ một đời lầm than.
Chưa đi chưa biết Huế thương,
Nếu đi sẽ thấy dân thường thở than.
Lưu manh, trộm cướp làm quan,
Cướp sông, cướp cạn, dân oan kêu trời.
Chưa đi chưa biết Hải Dương,
Nếu đi sẽ thấy chuyện thường xảy ra.
Có miếng đất tốt dựng nhà,
Lãnh đạo nhìn thấy, thế là mất toi.
Chưa đi chưa biết Hòn Chồng,
Nếu đi sẽ thấy dân không còn gì.
Trên cạn bị lãnh đạo đì,
Dưới biển Trung Cộng nó đì mạnh hơn.
Chưa đi chưa biết Lâm Đồng,
Nếu đi sẽ thấy đau lòng tổ tiên.
Giang sơn một giải cao nguyên,
Để tàu khai thác nát nghiền quê hương.
Chưa đi chưa biết Tây Ninh,
Nếu đi sẽ mới biết dân tình làng quê.
Ngày xưa ruộng luá ê hề,
Bây giờ xuất cảnh làm thuê cho tàu.
Chưa đi chưa biết Quảng Ninh,
Nếu đi sẽ thấy hoảng kinh phận đời.
Kiện thưa khó hơn kiện trời,
Viết ra sự thật thì ngồi tù ngay.
Chưa đi chưa biết Quy Nhơn,
Nếu đi sẽ thấy chẳng hơn nhà tù.
Dân đen cho đến thày tu,
Bất đồng ý kiến là tù mọt gông.
Chưa đi chưa biết Sài Gòn,
Nếu đi sẽ thấy chẳng còn thân quen.
Đường xá hỗn độn, thay tên,
Công an, cảnh sát tống tiền giữa trưa.
Chưa đi chưa biết Sông Hương,
Nếu đi sẽ thấy sông thường thở than.
Còn đâu đất Việt dân Nam,
Giang sơn gấm vóc nó mang dâng tầu.
Chưa đi chưa biết Nha Trang,
Nếu đi sẽ thấy từng hàng lệ rơi.
Mỗi lần nhìn ra biển khơi,
Giang sơn sao lại để trôi sang tàu.
Chưa đi chưa biết Vũng Tàu,
Nếu đi sẽ thấy giặc tàu xâm lăng.
Lãnh đạo gục mặt lặng câm,
Biểu tình, phản đối, người dân đi tù!
Chưa đi chưa biết gần xa,
Nếu đi sẽ thấy toàn là lưu manh.
Từ trung ương đến thừa hành,
Thấy tàu thì sợ chỉ hành hạ dân
Chưa đi chưa biết Cali,
Nếu đi sẽ thấy những gì đúng, hay.
Cột đèn mà có chân tay,
Nó cũng vượt biển sang đây tức thì.
Thế mà cũng thấy lắm khi,
Bao người áo gấm bay về Việt Nam.
Hoặc là nghe lũ việt gian,
Đem tiền mà cúng nuôi đoàn lưu manh.
Chúng nó đè cổ dân lành,
Đến cả những bậc tu hành chẳng tha.
Mất Hoàng Sa, mất Trường Sa,
Tây Nguyên Bauxite bán ra cho tàu.
Trí thức chống đối một câu,
Đánh đập, bắt bớ, nhốt sâu trong tù.
Quả là lũ lãnh đạo ngu,
Đôi tai đã điếc, mắt mù đã lâu.
Hỡi người dân Việt toàn cầu,
Đoàn kết chống cộng, chống tàu ngoại xâm.
Một ngày mai sẽ thật gần,
Cờ vàng rực rỡ ba phần Việt Nam.
Bùi Phạm Thành
(5/15/2012)

ĐẤT NƯỚC ĂN TRỘM CHÓ
Hiện nay trong nước,nhiều chuyện chó đã xẩy ra. Dịch nhậu thịt chó phát triển khắp hang cùng ngỏ hẽm, do đó sinh ra tệ nạn bắt chó, trộm chó khắp nơi, thậm chí dân chúng không cần qua pháp luật, kết án kẻ trộm chó bằng cách đánh chết và thiêu xác ngườitrộm chó tại chỗ. Những người đã nuôi và yêu thương chó biết là nỗi đau của người mất những con vật thân yêu của họ lớn lao như thế nào. Bài viết sau đây từ trong nước và xin phép tác giả Lê Quốc Quân được phổ biến bài này để chúng ta cùng đọc. –
Huy Phương
Tôi suy nghĩ nhiều lắmkhi đặt cái tít bài này. Vì dán nhãn một đất nước ăn trộm chó thì mình cũngkhác nào thằng bắt chó. Nhưng đó là câu nói của thằng em họ tối qua khi nó mất đến con chó thứ 4, Những kẻ lưu manh lạ lùng trong xã hội này ngang nhiên cướp chó ngay giữa thanh thiên bạch nhật.
Bọn cướp dùng dây phanh làm một cái thòng lọng và tung vào cổ chó. Kẻ đằng trước rú ga, con chó chống cự lại đến mức tất cả chân của nó trượt trên đường,bật máu, sau đó nó quỳ xuống, đầu gối lết trên mặt đường đá khô khốc, máu bật ra và nước mắt chảy. Khi lịm đi thì bọn cướp giật lên, ôm ngang người và bỏ chó vào bao tải.
Cậu em nhìn thấy liền lấy xe máy phóng lao theo, rượt theo lên đoạn cánh đồng làng trên, bọn trộm chó dừng xe, rút kiếm ra và vẫy cậu em lại. Thương chó lắm, nhưng nó đành lau nướcmắt và quay xe. Nó bảo thương con chó vô cùng, đau buồn đến nỗi nghĩ đến chuyện uống thuốc tự tử hoặc tự mình làm một quả bom nổ tung xác.
Gọi nhờ tư vấn, nó bảo: “Anh Quân ơi, tồn tại làm chi giữa đất nước ăn trộm chó này nữa”. Tôi bảo bình tĩnh vì nếu không mấy thằng phản động sẽ cười vào mũi nó, nói: “làm cách mạng gì cái ngữ mày, mất có con chó quèn mà cũng dọa ôm bom lên ủy ban”. Thực tâm, thằng em chỉ muốn có chế độ mới không có kẻ trộm chó. Nó bảo ngày xưa Lão Hạc, Chị Dậu đói khổ đến mấy, nuôi được con chó vẫn có thể bán kiếm tiền. Còn bây giờ ông Nam trong làng nghèo, neo đơn, chỉ có con chó làm bạn mà cũng vưà bị câu mất cách đây 3 tuần.
Theo nó, bắt trộm chó giờ đã trở thành phổ biến, trải dài từ thành thị đến nôngthôn, từ vùng đồng bằng đến miền núi.
Đêm đêm kẻ trộm chà đi xát lại những vùng quê miền trung nghèo đói, xác xơ để tìm cách bắt chó. Nó bắt của người khá giả lẫn cả những người mà tài sản chỉ có một con chó. Chúng đi xe máy, rồ ga, vòng đi vòng lại, kích thích chó trong nhàlao ra sủa, khi đó nó sẽ tung dây thòng lọng ra xiết cổ lôi đi. Nếu chó khỏe,tỳ chân chống cự lại thì vung gậy sắt quật ngang mõm, chó bất tỉnh ngay lập tức và chúng bắt bỏ vào bao tải. ChúKiên có con chó 40 cân, sợ không kéo đi được nên bọn chúng dùng thuốc để đánh bả. Thuốc độc mua từ Trung công, 250 ngàn một viên rất nhỏ dùng đánh được cả mấy tạ chó. Chó chết người việt cũng ăn tất !
Không chỉ ăn trộm ở trong nước, kẻ trộm chó còn sang tận lào bắt hết chó Lào,chó ở Lào ít đi, Bọn trộm chó lại tràn sang bắt cả chó ở Thái Lan. Là đất nước theo đạo Phật, người Thái quý trọng và không bao giờ ăn thịt chó. Vì vậy, Chính quyền Thái đã bắt bỏ tù một số kẻ chuyên đi bắt trộm chó xuyên quốc gia. Nhưng những kẻ trộm chó người Việt vẫn chui lủi đi đập chó và vớt chó chết ở khắpvùng Đông Bắc Thái Lan.
Năm 1996, tôi gặp 1 khách du lịch Mexico anh ấy bảo: “Người Việt Nam vui vẻ nhưng sao họ cứ bắt chó nhốt trong lồng vậy. Những con chó đó đi đâu ? ”. 15 năm trôi qua, hôm nay qua mạng facebook cô bạn người Anh kiên quyết nói không baogiờ đi du lịch Việt Nam nữa: “Vì những ánh mắt khẩn nài của các con chó sắp chết bị chở đi trên đường phố cứ ám ảnh mãi”
Đã bao giờ bạn nuôi chó hoặc nhìn sâu vào ánh mắt của một con chó quý chưa ?Nếu rồi, chắc bạn sẽ thấy sự khốn nạn của những tay trộm chó. Nhưng khốn nạn hơn là cơ chế nào để tạo ra những con người lương thiện Việt nam năm nào đã trở thành những kẻ ăn trộm chó lạnh lùng, thản nhiên. Có tên trộm bị dân đập chết,đốt xác, coi mạng người như mạng chó nhưng vẫn tiếp tục có nhiều người ăn cướp chó.
It đứa suy nghĩ sâu như thằng em họ. Nó bảo rõ ràng Chính quyền xã nó bảo kê cho bọn trộm chó. Nó bảo vì có những quan chức ăn cắp hàng tỷ đồng mà vẫn lênTV giảng đạo đức “oách” cho nên bọn trộm chó nó nghĩ mình tội trộm chó chỉ bằng trộm cái lông chân của dân nên cũng nhơn nhơn, thách thức. Nó bảo công an xãbảo kê vì có những chủ vựa chó trộm xây được nhà lầu, đào hầm ngầm để nhốt chótrộm ngay trong xã cứ 2 ngày xuất đi Hà Nội một chuyến hàng trăm con, dân biếthết mà Chính quyền vẫn làm ngơ. Sau đó nó trầm tư: “làm sao mà có được cái thòng lọng để trặc cổ chính quyền xã như trặc chó”.
Tôi can, bình tĩnh, bình tĩnh !
Lê Quốc Quân

Lấy vợ Mễ Nhiều người trong chúng ta khi mới đến Hoa Kỳ không phân biệt được người Mỹ trắng và người Mễ, thấy họ khác chúng ta và nhất là thấy không phải là ông Mỹ đen thì trong thâm tâm rất lấy làm kính trọng.
Dăm ba tháng, một vài năm sau thì tình hình đổi khác, tự nhiên ta thấy họ lùn, mập, da không được trắng, đi xe xấu, ở nhà tồi, hay đánh nhau, ăn cắp, ở dơ, làm công việc " hạ tiện ", uống bia, không biết tôn trọng hàng xóm khi mở nhạc chát chình chát chinh om xòm v v... thôi thì đủ thứ tật xấu !
Chẳng phải chúng ta tự tìm ra điều đó, mà do những người đến trước dè bỉu, phê bình, mà có chắc đâu những lời phê bình đó là đúng.
Hãy đến các công sở ở vùng Orange County mà coi, người làm việc ở đây hầu hết là người gốc nói tiếng Tây Ban Nha, họ nắm giữ nhiều chức vụ cao trong guồng máy chính quyền ( mà người Việt đã được mấy người ). Chắc ai trong chúng ta cũng đều biết và tôn trọng bà Dân Biểu Loretta Sanchez, bà đã từng sát cánh với người Việt trong nhiều vấn đề mà cộng đồng quan tâm.
Người Mễ tánh tình cởi mở và thân thiện, gặp là Como esta Senõr rối rít cả lên. Họ dù có giấy tờ hợp lệ hay không đều chịu khó làm những công việc vất vả nặng nhọc, mà các sắc dân khác không ai thèm làm kể cả người da đen.
Tôi không thể tưởng tượng được nếu không có người Mễ thì xứ Mỹ này ra sao, những ai sẽ là người dang nắng dầm mưa hái cho chúng ta từng trái dâu cho đến cái bắp cải (?)
Những người làm nghề xây dựng sẽ lấy đâu ra công nhân đào đất, tráng xi măng hay lợp mái nhà.
Họ có sức khoẻ và không đòi lương cao, nhưng có điều họ không hề chung thuỷ : Tôi làm nghề Construction khá lâu và chưa thấy anh Amigo nào ở bền với mình, cho dù tôi đã từng cho một anh cái xe truck khá mới; Noel hay tết đều có phong bao lì xì riêng cho từng công nhân.
Họ hơi giống những người miền quê sông nước của tôi là bóc ngắn cắn dài, làm tới đâu lủm tới đó, không mấy khi để dành. Mua xe thì lựa mua chiếc nào chiếc nấy bự tổ chảng, uống xăng như chủ nó uống bia vậy. Mấy người làm với tôi không bao giờ chịu mua từng xâu nước ngọt 99 cent, bỏ trong thùng đá mà uống cả ngày, mà mỗi lần có xe lunch tới thì họ mua 1$/1 chai mà uống. Họ đi chợ thì ôi thôi mỗi gia đình chất đồ ăn đầy lên có khi tới hai xe lặc lè.
Chúng ta thường than phiền là người Mỹ không coi chúng ta bình đẳng, cho dù chúng ta đã thành công trên công việc và thương trường, con cháu chúng ta học rất giỏi, nhưng hãy tự xét lại chúng ta khi đối xử với những sắc dân khác coi thế nào ?
Có khi nào chúng ta lại là " Chúa chổm " phân biệt chủng tộc hay không (?)
Có rất nhiều người vẫn quen miệng gọi người da trắng là " Ông Mỹ trắng ", nhưng gọi người gốc Phi Châu là " Thằng cha Mỹ Đen ", đến người Mễ thì tụt xuống hạng thấp hơn nữa : " Mấy thằng Amigo " !
Cứ khu nào đông Mỹ trắng thì nhà có mắc hơn nhiều chúng ta cũng lăn xả vào mua; thấy ai ở khu nào đó có đa số dân Mễ là chê bai ở khu xập xệ, nhiều tội ác.
Đó là nói chung chung, còn việc cô con gái cưng mà lại dẫn về giới thiệu một anh Mễ thì ôi thôi ... cả nhà phản đối ngay lập tức.
Có những bậc cha mẹ có con lấy người Mỹ, Mễ rất phiền lòng, chẳng phải họ sợ con họ sau này khổ sở hay người đồng hương phê bình này nọ, mà ngay từ khi tổ chức đám cưới đã thấy trật rơ, nó lạt lẽo làm sao ấy, tiệc cưới ở nhà hàng cũng vậy; rồi tình suôi gia, tình bố vợ con rể nó cũng lạt nhách, gặp nhau thì cũng " How are you; I am fine; I'm glad to see you ... " rồi thế là tịt ngắc, đâu có cái cảnh anh chị suôi người Việt chúng ta ngồi kề cà nói chuyện quê hương, tâm sự hay chia sẻ vấn đề học hành của con cái v v..
Người con gái Việt lấy đàn ông Mễ không nhiều, mà có chăng nữa thì ông này cũng phải thuộc dạng cao ráo đẹp trai và tương đối có chức vụ, nhưng con trai Việt lấy gái Mễ thì khá đông, mà kết quả sống lâu dài với nhau hầu như không có mấy.
Giống dân Mễ ( nhất là con gái ) lai giữa người bổn xứ Da Đỏ và người Âu Châu rất đẹp: Da trắng, tóc dợn sóng, đôi mắt to và lông mi cong vút, còn đồ phụ tùng thì nói theo kiểu bình dân là "Vú cho một vú; đít cho một .. đít ! "
Có người nói ông trời sanh ra giống người da đen để chơi thể thao, âm nhạc và .. làm tình.
Người Mễ cũng không khác người da đen là mấy.
Họ khoái đá banh, họ mê âm nhạc một cách lạ lùng, lúc nào cũng cứ cái điệu nhạc Fox chát chình, chát chinh ấy mà nghe cả ngày, mà lại mở lớn tối đa.
Họ rất thích mở Party vào ngày Thứ Bảy. Thường thì họ qui tụ bạn bè ở một công viên nào đấy, mang đồ ăn ra đó mà nướng, nghe nhạc hoặc ca hát với nhau tới chiều. Trời thật tối họ mới kéo nhau về một nhà rồi nhảy nhót đến ba bốn giờ sáng Chúa Nhật mới vãn.
Những ông chồng người Việt khởi đầu cũng còn chiều vợ mà đi dự hàng tuần, nhưng đến những chỗ này thì cứ ngồi nghệt mặt ra, vì vợ mình với bạn bè cứ xổ rặt tiếng Mễ. Khi vào Party thì ông không thích nhảy, cứ phải ngồi chờ vợ bèn nản củ tỉ quá, toàn ngồi ngáp ruồi.
Rồi càng ngày ông càng chán cái kiểu họp mặt đó, than mệt, ở nhà coi con để vợ đi chơi một mình.
Cho dù có tin vợ cách mấy đi nữa, mà cô vợ hây hẩy ấy cứ đi gần sáng mới về với chồng thì thế nào cũng có vấn đề rạn nứt tình cảm.
Tại sở làm hay khi bù khú với bạn bè, ai cũng nói gái Mễ .. " cái vụ đó " khiếp lắm, họ xay như xay lúa. Khởi đầu những chàng Trai Việt cũng thích lắm, nhưng rồi đường xa mỏi gối chồn chân, đến khi sanh một vài đứa con thì không biết vì nòi giống họ như thế, hay tại ăn uống thả dàn, cứ đậu bean và bánh bột bắp mà ních, nên bà nào bà ấy sồ ra, ba vòng bằng nhau, sau đó cái vòng cần nhỏ nhất lại vượt lên đứng đầu.
Người ta nói " Người gầy là thầy ...đ. " nhưng như vậy không có nghĩa là người béo chịu kém thớ đâu nghen, về vụ này họ cũng khiếp lắm đấy nhé. Chạy xe dọc đường mà thấy mấy bà đẩy cái xe con nít trên side walk thì mười bà có đến chín bà là Mễ béo rồi. Họ sanh nhiều và mắn như thỏ vậy.
Có những cặp chồng Việt vợ Mễ trông rất đẹp đôi, có công việc vững chắc thế mà chỉ trên dưới 10 năm là rã !
Ngoại trừ khác biệt về văn hoá, người Việt mà ăn đồ Mễ hoài ngán lắm, như ông chồng muốn ăn canh chua cá kho tộ thì phải nấu lấy mà ăn, và cô vợ dĩ nhiên chê cái mùi nước mắm làm ông chồng tự ái phải nổi lên, thế là to tiếng cãi vã.
Anh NNT nói rằng " Chớ có bao giờ mời Mễ đi ăn đám cưới kiểu Việt Nam, mời họ một thiệp thì họ đi hai vợ chồng với bốn đứa con cộng thêm ông bà già vợ nữa, kéo vô ngồi gần kín một bàn, mà họ nghĩ như là đi party, nên không tặng phong bì, chỉ đem gói quà là một hộp mấy cái ly hay cái bàn ủi mà thôi, mời Mễ đi nhiều thì lỗ chỏng gọng lên ".
Tôi cũng nghe có anh kia lấy gái Mễ, nhà gái đi dự khá đông. Đám cưới xong anh được gần 20 chiếc đồng hồ treo tường, anh tặng lại cho bạn bè một mớ, còn bao nhiêu phải đem ra chợ trời bán được 8$/1 cái. Lời khẳm !
Nói tóm lại, dầu tình yêu không phân biệt chủng tộc, màu da, ngôn ngữ... nhưng giả dụ con tôi mà dẫn về giới thiệu một đứa con gái Mễ, thì tôi cũng chẳng thể cản ngăn, chỉ buồn thôi vì biết chắc rằng tương lai của thằng con trai mình sẽ thê thảm, sẽ phải è cổ ra trả tiền child support cho đến chết, vì trước sau gì thì rồi chúng cũng bỏ nhau.
Thê thảm thật !
Tân Ngố
Donald Trump dọa kiện thí sinh tố Miss USA gian lận
Ông trùm Tổ chức Miss Universe nổi giận khi Sheena Monnin - thí sinh đến từ bang Pennsylvania - tố cáo cuộc thi Hoa hậu Mỹ 2012 dàn xếp kết quả.
Trong chương trình "Good Morning America" hôm 6/6, người phát ngôn của Donald Trump lên tiếng trước thông tin Sheena Monnin cáo buộc
Miss USA 2012 gian lận: “Tôi nghĩ cô ấy nên xin lỗi, nếu không chúng tôi sẽ đệ đơn kiện.
Phía Donald Trump cho Monnin thời gian để viết thư xin lỗi, nếu không sẽ phải đối diện với những vấn đề pháp lý.

Donald Trump là người sáng lập Tổ chức Miss Universe. Miss USA cũng là một trong số những cuộc thi do ông trùm này sở hữu. Ảnh: AP.
Phía Tổ chức Hoa hậu Hoàn vũ cho rằng, những cáo buộc của Sheena Monnin không vì lý do nào khác ngoài sự cay cú của kẻ bị loại. Theo người phát ngôn, Donald Trump không tin là Monnin phản ứng vì việc thay đổi luật, cho phép người chuyển giới tham gia cuộc thi Miss Universe.
"Tôi nghĩ vấn đề chính của Monnin là cô ấy tức tối vì bị loại. Thẳng thắn mà nói, chỉ cần nhìn cô ấy trong một giây, tôi biết cô không bao giờ xứng đáng lọt vào top 15. Nếu bạn so sánh Monnin với những thí sinh khác, bạn sẽ hiểu lý do vì sao cô ấy bị loại”, người phát ngôn nói.

Sheena Monnin tại cuộc thi Miss USA 2012. Ảnh: Ace Showbiz.
Hôm 4/6, trên trang Facebook cá nhân, Sheena Monnin tuyên bố từ bỏ vương miện Pennsylvania vì cho rằng, cuộc thi Miss USA mà cô tham gia với tư cách đại diện cho bang Pennsylvania là "gian lận, vi phạm đạo đức, mâu thuẫn và có nhiều hành vi không trung thực". Theo Monnin, cô nghe một thí sinh khác tiết lộ, người này đã nhìn thấy danh sách top 5 từ trước khi kết quả được công bố. Nhưng khi viết đơn xin từ bỏ vương miện, Monnin lại ghi lý do là "không đồng ý với việc Tổ chức Miss Universe cho phép người chuyển giới tham gia cuộc thi".
Hoàng Anh
Ông trùm Tổ chức Miss Universe nổi giận khi Sheena Monnin - thí sinh đến từ bang Pennsylvania - tố cáo cuộc thi Hoa hậu Mỹ 2012 dàn xếp kết quả.
Trong chương trình "Good Morning America" hôm 6/6, người phát ngôn của Donald Trump lên tiếng trước thông tin Sheena Monnin cáo buộc
Miss USA 2012 gian lận: “Tôi nghĩ cô ấy nên xin lỗi, nếu không chúng tôi sẽ đệ đơn kiện.
Phía Donald Trump cho Monnin thời gian để viết thư xin lỗi, nếu không sẽ phải đối diện với những vấn đề pháp lý.

Donald Trump là người sáng lập Tổ chức Miss Universe. Miss USA cũng là một trong số những cuộc thi do ông trùm này sở hữu. Ảnh: AP.
Phía Tổ chức Hoa hậu Hoàn vũ cho rằng, những cáo buộc của Sheena Monnin không vì lý do nào khác ngoài sự cay cú của kẻ bị loại. Theo người phát ngôn, Donald Trump không tin là Monnin phản ứng vì việc thay đổi luật, cho phép người chuyển giới tham gia cuộc thi Miss Universe.
"Tôi nghĩ vấn đề chính của Monnin là cô ấy tức tối vì bị loại. Thẳng thắn mà nói, chỉ cần nhìn cô ấy trong một giây, tôi biết cô không bao giờ xứng đáng lọt vào top 15. Nếu bạn so sánh Monnin với những thí sinh khác, bạn sẽ hiểu lý do vì sao cô ấy bị loại”, người phát ngôn nói.

Sheena Monnin tại cuộc thi Miss USA 2012. Ảnh: Ace Showbiz.
Hôm 4/6, trên trang Facebook cá nhân, Sheena Monnin tuyên bố từ bỏ vương miện Pennsylvania vì cho rằng, cuộc thi Miss USA mà cô tham gia với tư cách đại diện cho bang Pennsylvania là "gian lận, vi phạm đạo đức, mâu thuẫn và có nhiều hành vi không trung thực". Theo Monnin, cô nghe một thí sinh khác tiết lộ, người này đã nhìn thấy danh sách top 5 từ trước khi kết quả được công bố. Nhưng khi viết đơn xin từ bỏ vương miện, Monnin lại ghi lý do là "không đồng ý với việc Tổ chức Miss Universe cho phép người chuyển giới tham gia cuộc thi".
Hoàng Anh
Paris phở
“Đến Paris hãy tới quận 13 ăn phở. Phở ở đó giống như quê nhà!”, bạn tôi ở Đức dặn dò khi biết hành trình đi bụi của tôi có dừng tại Pháp.

Phố phở ở quận 13, Paris (Pháp) - Ảnh: N.T.Tâm
Paris là thành phố đa văn hóa nhất ở châu Âu. Người Pháp gốc châu Phi, người Ấn thường sống ở một nơi, còn người châu Á tập trung phần lớn ở phía đông. Vừa bước ra khỏi ga tàu điện ngầm Porte d’Italie ở quận 13, ngay lập tức cảm giác như mình đang ở đâu đó tại TP.HCM. Đập vào mắt là hàng loạt bảng hiệu quán phở, tiệm bán thịt heo, gạo, cửa hàng vàng… bằng tiếng Việt.
Dạo một vòng Trung tâm thương mại Olympiades, hay còn gọi là chợ Tàu, dễ dàng nhận ra giọng nói quen thuộc của nhiều người Việt. Nhưng ở khu chợ Tang Freres cách đó chừng 100 m mới thật sự là nơi tập trung đông đảo đồng hương nhất. Tôi ghé vào siêu thị mini bán tạp hóa của cô Sáu Đào trong khu Tang Freres vì thấy lạ trước cái bảng hiệu: chợ Bến Thành.
Siêu thị bán nhiều món hàng nhập khẩu từ Việt Nam, như cà phê Trung Nguyên, bánh tráng, chả giò, mắm nêm, mắm cá lóc, mắm tôm chua, mắm ruốc xào xả, mắm cá cơm; thậm chí có bảng “coi bói tình duyên”. Bà chủ quê gốc Sóc Trăng này khoe ở đây cô còn có nghệ danh là Ngọc Tâm, chuyên hát vọng cổ trong những buổi diễn nghệ thuật của cộng đồng người Việt. Hỏi quán phở nào ngon nhất quận 13, cô Sáu bảo có nhiều quán như phở Mùi mang hương vị bắc, phở 14 hương vị miền Nam… “Nhưng theo tui, cậu nên tới quán phở Bi-da, ra khỏi khu chợ này là tới”, cô Sáu dặn.
Ở khu Tang Freres có rất nhiều quán phở. Bảng hiệu ghi rõ ràng là phở, chứ không cần dịch ra tiếng Tây và tự hào là đặc sản Việt Nam. Phở đúng là đã nghiễm nhiên trở thành một thương hiệu quốc tế. Tiến sĩ - nhà báo Paul Janositz, người Đức làm cho tờ Tagesspiegel nằng nặc đòi tôi giới thiệu nơi nào ở Berlin bán phở ngon như ở Hà Nội.
Ông từng tới Hà Nội dự một cuộc họp về môi trường hồi năm 2010 và có dịp thưởng thức món phở đặc trưng của người Việt. Về Berlin, ông lặn lội tìm đến nhiều quán phở ở chợ Đồng Xuân tận Đông Berlin nhưng vẫn cảm thấy chưa thật sự ngon miệng dù hương vị phở ở đây tương đồng với phở Bắc. Nhưng tệ một chỗ là phở nấu bằng bánh phở khô. Ở châu Âu, đa số các quán bán phở bằng sợi phở khô, không giống như ở quê nhà là sợi phở tươi, dai và mềm…
Tuy nhiên, ở nơi xứ người, nhiều ngày ăn qua ăn lại món phô mai, bánh mì... thì dẫu có nhìn thấy tô phở nấu sợi bánh khô nghi ngút khói thơm mùi hành lá, thịt bò cũng đã ấm bụng. Paris những ngày trời lạnh mưa rả rích, bưng tô nước phở lên húp một cách dân dã như đang ở nhà thật khoan khoái. Chưa có một cuộc bình chọn nào nhưng tôi chắc rằng, phở ở Paris ngon nhất châu Âu! Quán phở Bi-da mà cô Sáu chỉ tôi tới có không gian rộng rãi, ngay mặt tiền đường, du khách Nhật Bản, Trung Quốc... vào ra tấp nập. Cũng là loại bánh phở khô như ở Berlin, nhưng có lẽ do nước lèo nấu hoa hồi hương thơm ngát nên phở ở quán Bi-da rất hấp dẫn.
Không chỉ ở quận 13 mới có phở. Hôm tôi vừa ngoi ra khỏi ga tàu điện ngầm Opera ở trung tâm Paris đã thấy bảng hiệu nhà hàng Việt Nam. Bà chủ họ Nguyễn, tên thường gọi là Ly, nói giọng Huế, bán món Huế và món đặc biệt là phở. Nếu phở ở quận 13 giá 8 euro (khoảng 240.000 đồng/tô), thì quán của cô Ly bán giá gấp đôi, 15 euro. Cô Ly chỉ vào một tờ báo được photo dán trên tường và kể rằng, đây là nhà hàng Việt Nam lớn nhất và lâu năm nhất ở Paris. Nhà hàng có từ thập niên 1950, do vợ chồng một bác sĩ gốc Việt thành lập, sau đó sang nhượng lại.
Xung quanh quán Việt này có rất nhiều ngân hàng, công ty nên khách vào quán của cô Ly đa số là người Pháp. “Họ đặc biệt thích phở!”, cô khẳng định. Quán được trang trí thuần chất Việt Nam, với hình ảnh áo dài, nón lá, tường tre… “Cả thế giới ai cũng biết phở là món ngon của xứ mình rồi. Tôi thấy ở nhiều nước cộng đồng người Việt mở tiệm phở, ở Hồng Kông cũng có, ở Nga cũng nhiều. Hình như người nước ngoài tới Việt Nam ăn phở rồi đi đâu cũng nhớ phở. Cách quán một đoạn, trên đường Saint Anne cũng có một quán phở, nhưng bán chung với món ăn Campuchia, cạnh tranh với nhiều nhà hàng món Hoa, món Nhật gần đấy. Nhà bạn tôi sống ở Pháp lâu năm, nhưng cả hai vợ chồng đều giữ truyền thống ẩm thực của người Việt. Các cháu nhỏ mỗi sáng đều ăn bún, phở tự nấu ở nhà với các nguyên liệu mua ở chợ Tây, chợ Tàu.
“Đến Paris hãy tới quận 13 ăn phở. Phở ở đó giống như quê nhà!”, bạn tôi ở Đức dặn dò khi biết hành trình đi bụi của tôi có dừng tại Pháp.

Phố phở ở quận 13, Paris (Pháp) - Ảnh: N.T.Tâm
Paris là thành phố đa văn hóa nhất ở châu Âu. Người Pháp gốc châu Phi, người Ấn thường sống ở một nơi, còn người châu Á tập trung phần lớn ở phía đông. Vừa bước ra khỏi ga tàu điện ngầm Porte d’Italie ở quận 13, ngay lập tức cảm giác như mình đang ở đâu đó tại TP.HCM. Đập vào mắt là hàng loạt bảng hiệu quán phở, tiệm bán thịt heo, gạo, cửa hàng vàng… bằng tiếng Việt.
Dạo một vòng Trung tâm thương mại Olympiades, hay còn gọi là chợ Tàu, dễ dàng nhận ra giọng nói quen thuộc của nhiều người Việt. Nhưng ở khu chợ Tang Freres cách đó chừng 100 m mới thật sự là nơi tập trung đông đảo đồng hương nhất. Tôi ghé vào siêu thị mini bán tạp hóa của cô Sáu Đào trong khu Tang Freres vì thấy lạ trước cái bảng hiệu: chợ Bến Thành.
Siêu thị bán nhiều món hàng nhập khẩu từ Việt Nam, như cà phê Trung Nguyên, bánh tráng, chả giò, mắm nêm, mắm cá lóc, mắm tôm chua, mắm ruốc xào xả, mắm cá cơm; thậm chí có bảng “coi bói tình duyên”. Bà chủ quê gốc Sóc Trăng này khoe ở đây cô còn có nghệ danh là Ngọc Tâm, chuyên hát vọng cổ trong những buổi diễn nghệ thuật của cộng đồng người Việt. Hỏi quán phở nào ngon nhất quận 13, cô Sáu bảo có nhiều quán như phở Mùi mang hương vị bắc, phở 14 hương vị miền Nam… “Nhưng theo tui, cậu nên tới quán phở Bi-da, ra khỏi khu chợ này là tới”, cô Sáu dặn.
Ở khu Tang Freres có rất nhiều quán phở. Bảng hiệu ghi rõ ràng là phở, chứ không cần dịch ra tiếng Tây và tự hào là đặc sản Việt Nam. Phở đúng là đã nghiễm nhiên trở thành một thương hiệu quốc tế. Tiến sĩ - nhà báo Paul Janositz, người Đức làm cho tờ Tagesspiegel nằng nặc đòi tôi giới thiệu nơi nào ở Berlin bán phở ngon như ở Hà Nội.
Ông từng tới Hà Nội dự một cuộc họp về môi trường hồi năm 2010 và có dịp thưởng thức món phở đặc trưng của người Việt. Về Berlin, ông lặn lội tìm đến nhiều quán phở ở chợ Đồng Xuân tận Đông Berlin nhưng vẫn cảm thấy chưa thật sự ngon miệng dù hương vị phở ở đây tương đồng với phở Bắc. Nhưng tệ một chỗ là phở nấu bằng bánh phở khô. Ở châu Âu, đa số các quán bán phở bằng sợi phở khô, không giống như ở quê nhà là sợi phở tươi, dai và mềm…
Tuy nhiên, ở nơi xứ người, nhiều ngày ăn qua ăn lại món phô mai, bánh mì... thì dẫu có nhìn thấy tô phở nấu sợi bánh khô nghi ngút khói thơm mùi hành lá, thịt bò cũng đã ấm bụng. Paris những ngày trời lạnh mưa rả rích, bưng tô nước phở lên húp một cách dân dã như đang ở nhà thật khoan khoái. Chưa có một cuộc bình chọn nào nhưng tôi chắc rằng, phở ở Paris ngon nhất châu Âu! Quán phở Bi-da mà cô Sáu chỉ tôi tới có không gian rộng rãi, ngay mặt tiền đường, du khách Nhật Bản, Trung Quốc... vào ra tấp nập. Cũng là loại bánh phở khô như ở Berlin, nhưng có lẽ do nước lèo nấu hoa hồi hương thơm ngát nên phở ở quán Bi-da rất hấp dẫn.
Không chỉ ở quận 13 mới có phở. Hôm tôi vừa ngoi ra khỏi ga tàu điện ngầm Opera ở trung tâm Paris đã thấy bảng hiệu nhà hàng Việt Nam. Bà chủ họ Nguyễn, tên thường gọi là Ly, nói giọng Huế, bán món Huế và món đặc biệt là phở. Nếu phở ở quận 13 giá 8 euro (khoảng 240.000 đồng/tô), thì quán của cô Ly bán giá gấp đôi, 15 euro. Cô Ly chỉ vào một tờ báo được photo dán trên tường và kể rằng, đây là nhà hàng Việt Nam lớn nhất và lâu năm nhất ở Paris. Nhà hàng có từ thập niên 1950, do vợ chồng một bác sĩ gốc Việt thành lập, sau đó sang nhượng lại.
Xung quanh quán Việt này có rất nhiều ngân hàng, công ty nên khách vào quán của cô Ly đa số là người Pháp. “Họ đặc biệt thích phở!”, cô khẳng định. Quán được trang trí thuần chất Việt Nam, với hình ảnh áo dài, nón lá, tường tre… “Cả thế giới ai cũng biết phở là món ngon của xứ mình rồi. Tôi thấy ở nhiều nước cộng đồng người Việt mở tiệm phở, ở Hồng Kông cũng có, ở Nga cũng nhiều. Hình như người nước ngoài tới Việt Nam ăn phở rồi đi đâu cũng nhớ phở. Cách quán một đoạn, trên đường Saint Anne cũng có một quán phở, nhưng bán chung với món ăn Campuchia, cạnh tranh với nhiều nhà hàng món Hoa, món Nhật gần đấy. Nhà bạn tôi sống ở Pháp lâu năm, nhưng cả hai vợ chồng đều giữ truyền thống ẩm thực của người Việt. Các cháu nhỏ mỗi sáng đều ăn bún, phở tự nấu ở nhà với các nguyên liệu mua ở chợ Tây, chợ Tàu.
Tình Đồng Chí Của Vẹm:
NỖI ĐAU CỦA TƯỚNG VỊNH!
Trước Đại hội khoá XI, giới thạo tin đồn đoán kỳ này Tướng Nguyễn Chí Vịnh hạng bét cũng lên ngang bằng ‘hổ tử’ Nguyễn Chí Thanh. Đại hội xong rồi, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tuy không đạt được đỉnh cao danh vọng làm Tổng bí thư song cũng được giải an ủi mà không phải ra về, Tướng Nguyễn Văn Hưởng ít nhất cũng thoát thân bằng cách kiếm được chiếc ghế cố vấn cho Thủ Tướng về ‘Nhân quyền’! Còn Tướng Vịnh thì ăn quả đắng với chức Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng hữu danh vô thực, thậm trí chức vụ Uỷ viên Thường vụ Quân Uỷ Trung Ương – một điều kiện cần để còn leo cao – cũng trượt vỏ chuối!
NHỮNG NƯỚC CỜ SAI CỦA TƯỚNG VỊNH
Nghe theo lời đường mật của Thủ Tướng với củ cà rốt “Bộ trưởng Bộ An Ninh” mà Thủ Tướng Dũng vẽ lên rằng: Sẽ tách một phần từ Bộ Công An va Bộ Quốc Phòng và giao cho Tướng Vịnh! Mặc dù lên ghế Thứ Trưởng từ lâu, Tướng Vịnh không muốn buông Tổng cục 2, nay lại được Thủ Tướng bàn bạc kín để thành lập một cái bộ ‘’khủng” như CIA của Việt Nam và cái ghế này chắc chắn sẽ phải là Uỷ viên Bộ Chính Trị! Đúng là mơ cũng chẳng khi nào dám, nay lại được đích thân Thủ Tướng ‘hội kín’ thì còn gì bằng ngoài việc cúc cung phục vụ Thủ Tướng. Để đổi lại, Tướng Vịnh sẽ phải làm
Phải bắt tay với Tướng Hưởng! Cả hai luôn là kẻ thù của nhau. Tướng Hưởng luôn căm phẫn với sự thành công của Tổng cục 2 do Tướng Vịnh cầm đầu. Bởi do chức năng của hai bên có những yếu tố khác nhau nên quân tướng thầy trò Hưởng hàng ngày cọ sát với tiền tài, danh vọng, riêng thầy trò Tướng Vịnh thì có ai biết ở đâu mà hối lộ! Có lẽ nhờ vậy mà thầy trò Tổng cục 2 lại làm việc hữu hiệu, thậm trí nhiều việc Tướng Hưởng mù tịt! Cay mũi nghề nghiệp, nhất là người có tính cách như Hưởng thì là điều không thể chấp nhận được. Vì vậy mà về danh nghĩa cả hai Tổng cục an ninh do Hưởng và Vịnh đứng đầu đều phụng sự ĐCSVN, nhưng hai Tướng lại mỗi người mỗi ngả, nếu có cơ hội hạ bệ nhau cũng chẳng từ. Rồi đến thời Lê Đức Anh và Lê Khả Phiêu hục hặc thì mối thù càng chồng chất vì Tướng Hưởng đã lợi dụng Lê Khả Phiêu một thời là đệ tử của Lê Đức Anh nên cũng là thầy của Tướng Vịnh, do vậy Phiêu biết rõ mọi ‘nồi, niêu, xoong chảo nhà Vịnh để ở đâu’, Tướng Hưởng đã tận dụng tối đa kẻ chiêu hồi Lê Khả Phiêu để bày đủ trò nhằm giết chết Tướng Vịnh, dù làm cho Vịnh điêu đứng, không thể vào Uỷ viên Trung Ương Đảng được, nhưng cũng không thể hạ bệ được. Thua keo này ta bày keo khác, Hưởng chưa bao giờ buông tha Tướng Vịnh, thậm trí đã tham mưu cho Lê Khả Phiêu với chức danh kiêm luôn cái Quân Uỷ Trung Ương điều Tướng Vịnh sang phụ trách vụ án ở Cămpuchia để điệu hổ ly sơn, cắt chân cắt tay của Lê Đức Anh. Tướng Vịnh đã phải khăn gói lên đường để rồi sau đó ‘nhìn trước ngó sau’ khi đã cắt được đuôi theo dõi của Hưởng thì vội quay ngược trở lại Việt Nam và rút lui vào hoạt động bí mật! Có lẽ cũng nhờ công của Tướng Vịnh mà Đại hội Đảng lần thứ 09 đã hạ bệ được Lê Khả Phiêu vì bản tính máu mê gái đẹp! Vậy mà bây giờ phải bắt tay kẻ thù của mình! Nhưng rồi danh vọng hão được Thủ Tướng ‘dền dứ’ đã làm cho Tướng Vịnh đành phải tạm quên đi nỗi hận bắt tay Tướng Hưởng cùng phụng sự Thủ Tướng!
Hiến Khu đất vàng 3A Tôn Đức Thắng thuộc sở hữu của Tổng cục 2 trị giá khoảng vài trăm triệu đô la cho gia đình ‘Nguyễn Tấn’ gần như cho không! Khu đất đã được Nguyễn Thanh Phượng cho thiết kế làm dự án giải trí phồn hoa bậc nhất thiên hạ, nhưng vào cái thời suy thoái nên cậu của Phượng – Tức em vợ Thủ Tướng thì kinh doanh quán nhậu và chia nhỏ thành từ lô cho đăng báo cho thuê với câu mời chào thật hấp dẫn “ Đất sở hữu tư nhân”. Khu đất mang nhiều dấu ấn lịch sử vì bên trong lòng đất có hầm giam các tù nhân cộng sản quan trọng ngay dưới mặt đất được xây dựng từ thời Pháp chiếm đóng rồi đến thời nguỵ quyền Sài Gòn lại tiếp tục giam cầm các đồng chí lãnh đạo cộng sản trung kiên.
Sai lầm thứ nhất của Tướng Vịnh ‘bắt tay kẻ thù truyền kiếp của Tổng cục 2’ đã làm cho Tướng Vịnh mất đi sự kính trọng và phục tùng của giới chức quân đội nói chung và ‘giới nghiệp vụ’ nói riêng. Người ta lo ngại không biết ngày nào Tướng Vịnh sẽ bán đứng mình cho Hưởng hay cho bất cứ ai khác?!
Sai lầm thứ 2 khiến Tướng Vịnh bỗng dưng để cho nhiều kẻ trong giới chức Quân đội nắm được gót chân A –sin, bởi đất đai của Tổng cục 2, không phải của riêng Tướng Vịnh! Đặc biệt làm cho các cựu chiến binh, các Tướng lĩnh thì ứa gan khi nhìn thấy di tích lịch sử chứng kiến sự hy sinh hào hùng của họ sắp bị xoá sạch dấu vết bởi đô la và gái đẹp khi ở đây mọc lên chốn ăn chơi phồn hoa.
Người rành chuyện thì thấy ngay Tướng Vịnh đã bị lừa từ đầu nước, một Uỷ viên dự khuyết con con mà lại mơ tưởng đến cái ghế BCT đầy quyền lực! Dù Thủ Tướng có cho thì Hưởng cũng sẽ chống phá đến hơi thở cuối cùng! Có lẽ tham vọng làm Tướng Vịnh đầu óc không còn minh mẫn, bài toán vỡ lòng của những thủ đoạn chính trị hiển nhiên ai cũng biết rõ: Thủ Tướng cũng KHÔNG bao giờ muốn tập trung quyền lực vào vào một người để rồi trở thành nô lệ? Chia để trị là bài học kinh diển mà Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng lại là bậc thầy!
Cuối cùng Tướng Vịnh mất hết cả chì lẫn chài, bơ vơ ngay trong chính ngôi nhà Quân đội của mình! Giờ này ngồi ôm cái ghế thứ trưởng Bộ Quốc Phòng ‘rỗng’ nên lâu lâu lại phải ‘khuấy’ lên mấy câu trả lời phỏng vấn về biển đông để còn thấy mình đang tồn tai!
Tin đồn: Gần đây Thủ Tướng lại tiếp tục mang củ cà rốt cũ mèm ra nhử với câu thòng ‘Nếu có đủ quyền hành …’ – Ý của Thủ Tướng ám chỉ nếu hất cẳng được ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng và đánh tan được bè lũ Trương Tấn Sang để lên thay Tổng bí thư giữa nhiệm kỳ… Tướng Vịnh lại như chết đuối vớ phải cọc mà không biết nhìn lại bài học quá khứ chỉ vừa mới đây thôi…
Quân sư
( Quan Làm Báo )
NỖI ĐAU CỦA TƯỚNG VỊNH!
Trước Đại hội khoá XI, giới thạo tin đồn đoán kỳ này Tướng Nguyễn Chí Vịnh hạng bét cũng lên ngang bằng ‘hổ tử’ Nguyễn Chí Thanh. Đại hội xong rồi, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tuy không đạt được đỉnh cao danh vọng làm Tổng bí thư song cũng được giải an ủi mà không phải ra về, Tướng Nguyễn Văn Hưởng ít nhất cũng thoát thân bằng cách kiếm được chiếc ghế cố vấn cho Thủ Tướng về ‘Nhân quyền’! Còn Tướng Vịnh thì ăn quả đắng với chức Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng hữu danh vô thực, thậm trí chức vụ Uỷ viên Thường vụ Quân Uỷ Trung Ương – một điều kiện cần để còn leo cao – cũng trượt vỏ chuối!
NHỮNG NƯỚC CỜ SAI CỦA TƯỚNG VỊNH
Nghe theo lời đường mật của Thủ Tướng với củ cà rốt “Bộ trưởng Bộ An Ninh” mà Thủ Tướng Dũng vẽ lên rằng: Sẽ tách một phần từ Bộ Công An va Bộ Quốc Phòng và giao cho Tướng Vịnh! Mặc dù lên ghế Thứ Trưởng từ lâu, Tướng Vịnh không muốn buông Tổng cục 2, nay lại được Thủ Tướng bàn bạc kín để thành lập một cái bộ ‘’khủng” như CIA của Việt Nam và cái ghế này chắc chắn sẽ phải là Uỷ viên Bộ Chính Trị! Đúng là mơ cũng chẳng khi nào dám, nay lại được đích thân Thủ Tướng ‘hội kín’ thì còn gì bằng ngoài việc cúc cung phục vụ Thủ Tướng. Để đổi lại, Tướng Vịnh sẽ phải làm
Phải bắt tay với Tướng Hưởng! Cả hai luôn là kẻ thù của nhau. Tướng Hưởng luôn căm phẫn với sự thành công của Tổng cục 2 do Tướng Vịnh cầm đầu. Bởi do chức năng của hai bên có những yếu tố khác nhau nên quân tướng thầy trò Hưởng hàng ngày cọ sát với tiền tài, danh vọng, riêng thầy trò Tướng Vịnh thì có ai biết ở đâu mà hối lộ! Có lẽ nhờ vậy mà thầy trò Tổng cục 2 lại làm việc hữu hiệu, thậm trí nhiều việc Tướng Hưởng mù tịt! Cay mũi nghề nghiệp, nhất là người có tính cách như Hưởng thì là điều không thể chấp nhận được. Vì vậy mà về danh nghĩa cả hai Tổng cục an ninh do Hưởng và Vịnh đứng đầu đều phụng sự ĐCSVN, nhưng hai Tướng lại mỗi người mỗi ngả, nếu có cơ hội hạ bệ nhau cũng chẳng từ. Rồi đến thời Lê Đức Anh và Lê Khả Phiêu hục hặc thì mối thù càng chồng chất vì Tướng Hưởng đã lợi dụng Lê Khả Phiêu một thời là đệ tử của Lê Đức Anh nên cũng là thầy của Tướng Vịnh, do vậy Phiêu biết rõ mọi ‘nồi, niêu, xoong chảo nhà Vịnh để ở đâu’, Tướng Hưởng đã tận dụng tối đa kẻ chiêu hồi Lê Khả Phiêu để bày đủ trò nhằm giết chết Tướng Vịnh, dù làm cho Vịnh điêu đứng, không thể vào Uỷ viên Trung Ương Đảng được, nhưng cũng không thể hạ bệ được. Thua keo này ta bày keo khác, Hưởng chưa bao giờ buông tha Tướng Vịnh, thậm trí đã tham mưu cho Lê Khả Phiêu với chức danh kiêm luôn cái Quân Uỷ Trung Ương điều Tướng Vịnh sang phụ trách vụ án ở Cămpuchia để điệu hổ ly sơn, cắt chân cắt tay của Lê Đức Anh. Tướng Vịnh đã phải khăn gói lên đường để rồi sau đó ‘nhìn trước ngó sau’ khi đã cắt được đuôi theo dõi của Hưởng thì vội quay ngược trở lại Việt Nam và rút lui vào hoạt động bí mật! Có lẽ cũng nhờ công của Tướng Vịnh mà Đại hội Đảng lần thứ 09 đã hạ bệ được Lê Khả Phiêu vì bản tính máu mê gái đẹp! Vậy mà bây giờ phải bắt tay kẻ thù của mình! Nhưng rồi danh vọng hão được Thủ Tướng ‘dền dứ’ đã làm cho Tướng Vịnh đành phải tạm quên đi nỗi hận bắt tay Tướng Hưởng cùng phụng sự Thủ Tướng!
Hiến Khu đất vàng 3A Tôn Đức Thắng thuộc sở hữu của Tổng cục 2 trị giá khoảng vài trăm triệu đô la cho gia đình ‘Nguyễn Tấn’ gần như cho không! Khu đất đã được Nguyễn Thanh Phượng cho thiết kế làm dự án giải trí phồn hoa bậc nhất thiên hạ, nhưng vào cái thời suy thoái nên cậu của Phượng – Tức em vợ Thủ Tướng thì kinh doanh quán nhậu và chia nhỏ thành từ lô cho đăng báo cho thuê với câu mời chào thật hấp dẫn “ Đất sở hữu tư nhân”. Khu đất mang nhiều dấu ấn lịch sử vì bên trong lòng đất có hầm giam các tù nhân cộng sản quan trọng ngay dưới mặt đất được xây dựng từ thời Pháp chiếm đóng rồi đến thời nguỵ quyền Sài Gòn lại tiếp tục giam cầm các đồng chí lãnh đạo cộng sản trung kiên.
Sai lầm thứ nhất của Tướng Vịnh ‘bắt tay kẻ thù truyền kiếp của Tổng cục 2’ đã làm cho Tướng Vịnh mất đi sự kính trọng và phục tùng của giới chức quân đội nói chung và ‘giới nghiệp vụ’ nói riêng. Người ta lo ngại không biết ngày nào Tướng Vịnh sẽ bán đứng mình cho Hưởng hay cho bất cứ ai khác?!
Sai lầm thứ 2 khiến Tướng Vịnh bỗng dưng để cho nhiều kẻ trong giới chức Quân đội nắm được gót chân A –sin, bởi đất đai của Tổng cục 2, không phải của riêng Tướng Vịnh! Đặc biệt làm cho các cựu chiến binh, các Tướng lĩnh thì ứa gan khi nhìn thấy di tích lịch sử chứng kiến sự hy sinh hào hùng của họ sắp bị xoá sạch dấu vết bởi đô la và gái đẹp khi ở đây mọc lên chốn ăn chơi phồn hoa.
Người rành chuyện thì thấy ngay Tướng Vịnh đã bị lừa từ đầu nước, một Uỷ viên dự khuyết con con mà lại mơ tưởng đến cái ghế BCT đầy quyền lực! Dù Thủ Tướng có cho thì Hưởng cũng sẽ chống phá đến hơi thở cuối cùng! Có lẽ tham vọng làm Tướng Vịnh đầu óc không còn minh mẫn, bài toán vỡ lòng của những thủ đoạn chính trị hiển nhiên ai cũng biết rõ: Thủ Tướng cũng KHÔNG bao giờ muốn tập trung quyền lực vào vào một người để rồi trở thành nô lệ? Chia để trị là bài học kinh diển mà Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng lại là bậc thầy!
Cuối cùng Tướng Vịnh mất hết cả chì lẫn chài, bơ vơ ngay trong chính ngôi nhà Quân đội của mình! Giờ này ngồi ôm cái ghế thứ trưởng Bộ Quốc Phòng ‘rỗng’ nên lâu lâu lại phải ‘khuấy’ lên mấy câu trả lời phỏng vấn về biển đông để còn thấy mình đang tồn tai!
Tin đồn: Gần đây Thủ Tướng lại tiếp tục mang củ cà rốt cũ mèm ra nhử với câu thòng ‘Nếu có đủ quyền hành …’ – Ý của Thủ Tướng ám chỉ nếu hất cẳng được ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng và đánh tan được bè lũ Trương Tấn Sang để lên thay Tổng bí thư giữa nhiệm kỳ… Tướng Vịnh lại như chết đuối vớ phải cọc mà không biết nhìn lại bài học quá khứ chỉ vừa mới đây thôi…
Quân sư
( Quan Làm Báo )
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Tại sao đàn ông thích của lạ
BS NĐĐ đã có 20 năm kinh nghiệm trong ngành y dặn sinh viên: "Khi chữa bệnh liệt dương cho người ta, trước hết các anh phải hỏi liệt dương với ai?".
Học trò ngơ ngác bảo nhau: "Tưởng đã bị liệt dương thì với ai chả liệt?".
BS Đội cười: "Liệt dương với vợ thì đừng chữa cho phí thuốc.
Bởi vì với vợ thì ai chả liệt. Kể cả tôi".
Nhiều bà vợ vô cùng kinh ngạc khi phát hiện chồng có bồ. Có bà theo dõi phục kích bắt quả tang ở nhà nghỉ. Cô bồ trẻ nhanh chân chuồn mất chỉ còn ông chồng già lúng túng bị bà tóm được. Một tay bà túm cổ áo chồng, một tay vỗ đồm độp: "Của nhà không có à? Tôi có để ông thiếu thốn gì không? Tại sao máy nhà chạy chưa hết công suất lại đi chạy máy người?".
Ông chồng cứ đứng ngây ra miệng há hốc không trả lời được.
Có bà đến tận nơi, gặp tận mắt kẻ địch, lại càng không thể nào hiểu nổi. Giá như chồng họ kiếm được người nào tài giỏi hơn, nhan sắc hơn, đã đi một nhẽ.
Họ lạ lùng tự hỏi: "Nó hơn mình ở chỗ nào?".
Nhan sắc không, tài cán không, tiền bạc không, mà có khi cả tuổi trẻ cũng không. Có chị vừa uất ức vì bị chồng phản bội, vừa thấy mình bị xúc phạm ghê gớm. Họ đề nghị chuyên gia tâm lý giải thích tại sao lại như vậy? Phần lớn phụ nữ không thể lý giải được điều này nhưng bất cứ ai là đàn ông đều không lấy thế làm lạ.
Nhà tâm lý học Trung Hoa, Điều Vũ Canh, trong cuốn "Những bí mật của đàn ông" khẳng định:
"Một người đàn ông dù đã có người yêu hay vợ đẹp vẫn có thể ngủ với người đàn bà không lấy gì làm đẹp. Khi nghe nói hoặc những trường hợp như vậy, bạn thường quy nguyên nhân là do mối quan hệ vợ chồng đã xấu đi. Nhưng đó không phải là nguyên nhân thực sự của vấn đề. Sở dĩ một người đàn ông có thể lên giường với đối tác khác, không phải vì người đó hơn vợ anh ta mà chỉ vì đó là... người khác".
Ông cho rằng: "Mới lạ là chất xúc tác cực mạnh với ham muốn tình dục của đàn ông. Rất nhiều người có lối suy nghĩ đó, không loại trừ người đàn ông của bạn. Hãy tin điều tôi nói, vì tôi cũng là đàn ông".
Phải chăng thám hiểm, khám phá là gien di truyền của đàn ông?.
Từ Magielan đi vòng quanh thế giới đến Christophe Colomb phát hiện ra châu Mỹ không có ai là đàn bà. Ham thích khám phá cái lạ như ngấm vào trong máu đàn ông. Từ đứa trẻ con trai mới nứt mắt ra đã phá cả đồ chơi ra xem bên trong có gì mà lại chạy được? Trong khi hầu như chẳng có bé gái nào làm thế với đồ chơi của mình. Hiếm khi có phụ nữ đang hạnh phúc đủ đầy trong hôn nhân mà còn ngoại tình. Thường họ chỉ "ăn nem" khi không có tình yêu trong hôn nhân hoặc bị chồng "ăn chả" nên cũng làm thế để "trả thù". Thế nhưng có người bắt gặp đàn ông ngoại tình rành rành vẫn cố cãi: "Vô lý, vợ anh ta trông "ngon" thế, đời nào anh ta lại ngoại tình với một kẻ như thế". Họ chưa hiểu gì về đàn ông cả.
Có một ông kiến trúc sư nổi tiếng nuôi một thằng bé để nó giúp việc nấu nướng vì vợ ông cũng bận đi công việc suốt ngày. Một hôm nhân lúc vắng vẻ chỉ có hai thầy trò ngồi chơi với nhau, thằng bé hỏi thật:
-"Con thấy bà nhà đẹp thế mà sao ông còn cứ bồ bịch lăng nhăng bắt con nói dối bà, nhỡ bà biết thì con chết".
Ông ta hỏi nó:
-"Theo mày thì các món ăn mày làm hàng ngày, món nào tao thích nhất?".
Thằng bé trả lời ngay:
-"Món gà rán".
-"Thế thì chiều nay cho tao ăn gà rán".
Hôm sau thằng bé lại hỏi:
-"Bữa nay ông muốn ăn món gì?".
Chủ lại nói:
-"Gà rán".
Được 3 hôm ăn toàn gà rán thì thằng bé phải thốt lên kinh ngạc:
-"Ông ăn mãi gà rán mà không biết chán à?".
Lúc bấy giờ ông ta mới nhìn nó:
- "Mày thấy chưa? Đó là chính mày đã trả lời câu hỏi của mày mấy hôm trước đấy!".
Lăng nhăng cũng chỉ nhất thời. Suy cho cùng sống ở trên đời chẳng ai không thích cái mới lạ. Nhưng có lẽ đàn bà thích áo quần, giày dép, giỏ xách, trang sức mới nhiều hơn, còn cái thích nhất của đàn ông là của lạ.
Làm ăn chiêu đãi nhau, cho dù cao lương mỹ vị gì nhưng chưa có cái đó thì như vẫn còn thiếu.
Từ lâu, một nhà nho có tên tuổi ở nước ta đã tự bạch:
"Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó hại ta
Chừa được thứ nào hay thứ ấy
Có chăng chừa rượu với chừa trà?"
Có chị đứng soi gương một lúc lấy làm tự mãn, quay ra thách chồng:
"Có giỏi tìm đâu được đứa nào hơn gái này thì cho đi đấy!". Có lẽ chị nghĩ rằng, chồng mình lấy được mình đã là tốt số quá rồi, làm gì anh ta có sức với cao hơn được nữa. Chị không biết rằng, đàn ông có thể không với cao hơn được nhưng biết đâu họ lại với... xuống.
Một chị có chồng làm giám đốc một doanh nghiệp. Thấy chồng có những biểu hiện khả nghi trong mối quan hệ với một bạn hàng nữ, chị đã ngờ ngợ. Nhưng lại nghĩ có lẽ chỉ vì mình quá yêu chồng nên sinh ra ghen tuông vớ vẩn thế thôi. Tuy nhiên chị cũng trút niềm tâm sự với cô em ruột. Nghe xong, cô em bật cười khanh khách: "Có mà điên! Vô tư mà nói, mụ ấy không thể sánh với chị về bất cứ mặt nào". Thế mà đến khi bắt được quả tang mới biết chuyện phi lý đó lại có thật.
Hẳn bạn sẽ thất vọng trước phẩm chất thấp hèn này của đàn ông, vì nó rất gần với bản năng sinh dục của động vật. Nhưng trong thế giới tự nhiên, chính nhờ dục vọng vô cùng tận của giống đực khiến nó giao phối với càng nhiều con cái càng tốt mà giống loài mới nảy nở sinh sôi, tồn tại đến bây giờ. Nếu mỗi con đực cứ chung thủy suốt đời vói một con cái thì biết đâu nhiều loài đã tuyệt chủng từ lâu rồi.
Tuy nhiên do xã hội loài người có những quy tắc đạo đức khiến đàn ông không thể hành động tùy tiện như động vật nhưng dầu sao tính hiếu kỳ về giới, cũng như sự ham muốn của lạ vẫn là những đặc tính di truyền đã được tạo hoá cài đặt trong gien của họ từ thượng cổ rồi.
Tính hiếu kỳ mãnh liệt này với tình yêu là hai lĩnh vực khác nhau, nhiều khi giữa chúng không có liên hệ nào hết.
Sống ở đời không có cái gì mới mà cứ mới mãi. Phần lớn chuyện lăng nhăng của đàn ông chỉ có tính nhất thời. Các nhà tâm lý cũng gọi là ngoại tình nhưng xếp vào dạng ngoại tình đột xuất.
Những người đàn ông này không phải là chán vợ hay có ý định "đổi đời" mà thực ra chỉ là có cơ hội thì "ăn vụng" và nếu bị vợ phát hiện, họ thường tỏ ra rất ăn năn hối lỗi.
Tuy nhiên, có những người vợ không chấp nhận sự hối cải đó, kiên quyết đòi ly hôn và không ít cuộc hôn nhân đã tan vỡ vì thế.
Tất nhiên, nếu cho qua chuyện này một cách dễ dàng, e có ngày ngựa lại quen đường cũ. Bởi vậy, cách ứng xử của người vợ như thế nào còn tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, vào mức độ khoan dung của người phụ nữ cũng như người chồng có sự hối cải hay không?
Điều quan trọng là đừng để sau một thời gian, cơn nóng giận lắng xuống mới thấy mình khờ khạo, đem chồng nộp cho đối phương hoặc để mất người đàn ông về cơ bản là người chồng, người cha tốt, làm cho con cái cũng phải hứng chịu nhiều nỗi thiệt thòi.

