Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Mỹ Đương Đầu Trung Cộng

Tác giả : Vi Anh
Không còn nghi ngờ gì nữa, Mỹ đương đầu với Trung Cộng qua việc điều quân lực và 60% hạm đội và chiến hạm sang Á châu Thái Bình Dương.

Thực vậy chiến lược và chiến thuật của Mỹ đương đầu với TC ở Á châu Thái Bình Dương không còn trong giai đọan ngọai giao dồn dập chuẩn bị cho việc trở lại Á châu qua các việc thỏa thuận địa điểm lập căn cứ, nơi đổ quân trú đóng, tập trận hay biểu dương chung, mà đã đến giai đọan Mỹ điều đại quân đến Á châu Thái bình Dương.

Chánh quyền Mỹ không dấu diếm mà minh thị, công khai và chánh thức công bố. Bộ Trưởng Quốc Phòng Panetta trong một buổi lễ long trọng 1099 sĩ quan hải quân tốt nghiệp ra trường Học Viện Hải Quân ở thành phố Annapolis, tiểu bang Maryland, tuyên bố trong bài diễn văn rằng,“Một trong những mục tiêu then chốt mà thế hệ các bạn sẽ phải đối diện, đó là duy trì và củng cố sức mạnh của Hoa Kỳ trên khắp các vùng biển quan trọng của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương”. Ông cảnh giác các tân sĩ quan “Quân đội của TQ đang bành trướng và hiện đại hóa. Chúng ta phải đề cao cảnh giác. Chúng ta phải mạnh.Chúng ta phải sẵn sàng đối phó với mọi thách thức."

Ông kêu gọi các tân sĩ quan Hải Quân củng cố tình đồng minh đã có từ lâu nay với Nhật Bản, Nam Hàn, Úc và Philippines, trong khi xây dựng những mối quan hệ đối tác mạnh mẽ với các nước như Malaysia, Indonesia, Việt Nam, Singapore và Ấn Độ.

Và sau đó Ông lên đường tham dự diễn đàn thường niên về an ninh Châu Á, còn gọi là Đối thoại Shangri-La ở Singapore, do Viện Nghiên Cứu Chiến Lược có trụ sở ở London tổ chức. Trong cuộc họp quan trọng này về tình hình an ninh của vùng Á châu Thái Bình Dương, Tổng Trưởng Quốc Phòng Mỹ tuyên bố “từ nay cho đến 2020, hải quân sẽ tái phối trí lực lượng từ tỷ lệ khỏang 50%-50% hiện thời giữa Thái Bình Dương và Đại Tây Dương sang 60%-40% ưu tiên cho Thái Bình Dương – kể cả sáu hàng không mẫu hạm cũng như đa số tàu chiến và tàu lặn của chúng tôi.”

Hải Quân Mỹ hiện thời có 285 tàu chiến sẵn sàng khiển dụng, phân nửa số này đang ở Thái Bình Dương. Washington cũng chuẩn bị tăng gia con số những cuộc tập trận trong vùng Á châu Thái Bình Dương. Hồi tháng 1 năm 2012, TT Obama tư lịnh tối cao quân lực Mỹ, cũng cho biết chiến lược quân sư mới của Mỹ là hướng về Á châu, chớ không phải Âu châu - Á châu là ưu tiên hàng đầu bên cạnh Trung Đông.

Ít ai ngờ, trong chuyền công du đầu tiên sang VN, từ hội nghị Shangri-La ở Singapore TT/QP Mỹ đến thăm Vịnh Cam Ranh. Đó là một căn cứ hải quân trọng yếu trong thời Chiến Tranh VN, không phải cho quân lực Mỹ ở VN mà cho tòan vùng Đông Nam Á của Mỹ. Đó là một cảng nước sâu vô cùng an tòan khi có bão ngòai biển khơi. Hạm đội Nga Hòang có thời vào cảng này trú bão. Ông Panetta là giới chức cao cấp nhất của Mỹ trở lại thăm Vịnh Cam Ranh, từ sau chiến tranh VN kết thúc hồi năm 1975.

Ông Panetta tới thăm một tàu vận tải dân sự của Mỹ Richard E. Byrd nhưng nhiệm vụ là quân sự, tiếp tế, tiếp liệu cho các chiến hạm Mỹ, đang sửa chữa tại nơi đây, do công ty của VN thực hiện.

Trung Cộng trổi dậy về kinh tế, quân đội TC hiện đại hóa nhứt là hải quân của TC tăng cường hơn mức cần thiết quốc phòng. Hầu hết các nước lớn trên thế giới nhứt là các nước trong vùng Á châu Thái bình Dương, nhứt là mỹ trên bờ Tây Thái Bình Dương từng giữ thế hải thượng từ Thế Chiến 2 đển giờ rất lo ngại. Ngân sách quốc phòng và quân lực của TC không minh bạch, tăng và tăng một cách đáng ngại trở thành mối đe dọa, như nhận định của phó bộ trưởng quốc phòng Nhựt, nơi có mấy chục ngàn quân Mỹ còn đồn trú. Năm rồi ngân sách chánh thức của TC tăng 11,2% lên đến 106 tỷ Mỹ kim. Ấn độ cũng lo ngại, Bộ Trưởng Quốc Phòng Ấn nói Ấn không chạy đua võ trang nhưng TQ tăng gia ngân sách quốc phòng, tăng gia khả năng quân sự, phía Ấn cũng phải tăng gia khả năng bảo vệ quyền lợi quốc gia và tăng cường khả năng bảo vệ biên giới của Ấn.

Không bao lâu sau tuyên bố hải lực Mỹ tái điều động 60% sang Thái Bình Dương, Tân hoa xã của TC phổ biến một thông cáo báo chí, “khuyên ai đó đừng đến làm dậy sóng và việc đánh cá”. Và tự nhiên tiếng nói của TC luôn giành phần phải về mình, tuyên bố Mỹ muốn biển “Nam Hải” là một biển hòa bình”, trách Mỹ đã bật đèn xanh cho các nước tranh chấp làm cho biển này dậy sóng.

Dù cả thế giới biết TC dơn phương tuyên bố chủ quyền và ra lịnh cấm đánh cá, từng hàng trăm tàu ra chiếm cứ biển đảo của các nước. Như trường hợp vùng bãi cạn Scarborugh Phi đang bị tàu TC đông hơn lấn áp đuổi đi. Và VN bị TC lấy hai đảo Hòang sa và Trường sa sáp nhập làm huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam của TC. TC còn tung ra một bản đồ lưỡi bò liếm gần hết 80% Biển Đông của VN và gây ra rất nhiều vụ bắt, bắn, đòi tiền chuộc và tịch thu ghe tàu đánh cá của người Việt làm ăn trên ngư trường và vùng biển đất nước ông bà VN để lại cả ngàn năm.

Mỹ không nói ra nhưng việc làm của Mỹ cho thấy TC là mục tiêu của Mỹ. Tháng Tư năm 2012, Bộ Quốc Phòng Mỹ lập một cơ quan tình báo mới chuyên trách chánh yếu về Trung Cộng. Đó là cơ quan tình báo mật của quân đội Mỹ (Defense clandestine service, DCS). Cơ quan này kết hợp làm việc với CIA với nhiệm vụ như gián điệp. Trung Tướng Michael Flynn được Bộ cử nhiệm vào làm giám đốc DIA và sẽ giám sát luôn cơ quan tình báo mới thành lập DCS này. DCS dự trù phát triển thêm vài trăm điệp viên trong những năm tới. Ứng viên chắc hẳn cần những người Mỹ gốc các nước Á châu Thái bình Dương.

Bộ Quốc Phòng và Tổng Tham Mưu Mỹ tái phối trí Thủy Quân Lục Chiến ở Á châu để đáp ứng nhu cầu chiến lược, chiến thuật mới, mà mục tiêu là tấn công và phòng ngự TC. Điều 9000 Thủy Quân Lục Chiến từ Okinawa qua Guam 5000 người, qua Úc 2500 người và qua Hawai khỏang vài ngàn để làm lực lượng tiếp ứng, giữ lại tại Okinawa 10,000 người .

Mỗi nơi phụ trách một vùng chiến thuật ở Á châu Thái bình dương, xung quanh TC. Các đơn vị Thủy quân lục chiến đồn trú tại Okinawa sẽ phụ trách khu vực bán đảo Triều Tiên và biển Hoa Đông; lực lượng ở Guam, vùng Tây Thái Bình Dương; lực lượng ở Darwin, miền Bắc Úc khu vực Biển Đông và Ấn Độ Dương và Thủy quân lục chiến đặt ở Hawaii, trừ bị,tiếp ứng.

Ngoại trưởng Nhật Koichiro Gemba tuyên bố với báo chí rằng thỏa thuận này «là tất yếu phản ánh một thực tế trong khu vực trong bối cảnh Trung Quốc gia tăng sức mạnh». Nhựt đóng góp khoảng 8,6 tỷ đôla để chia xẻ với Mỹ việc điều động này.

Trước khi điều động thủy quân lục chiến ở Okinawa, Mỹ có 11 hàng không mẫu hạm, Bộ Quốc phòng và Tổng Tham mưu đã điều về vùng Á châu Thái bình dương 6 chiếc, đa số được dùng vào lực lượng tấn công. Và Bộ Trưởng QP Mỹ có tuyên bố sau đó tại hội nghị Shangri- la.
Mỹ cũng đã được sự đồng ý của Úc cho phép hàng không mẫu hạm, các tàu lặn nguyên tử Mỹ ghé thành phố Perth phía tây của Úc dể tiếp tế, nghỉ ngơi, như một căn cứ an tòan hải ngọai của Mỹ.

Úc cũng đồng ý cho Mỹ sử dụng quần đảo Cocos, một nhóm đảo san hô của Úc nằm trong Ấn Độ Dương và ở phía tây bắc của Australia, làm nơi xuất phát cho các máy bay dọ thám không người lái của Mỹ. Theo tin của AFP, quần đảo Cocos của Úc sẽ thay thế cho căn cứ Diego Garcia của Mỹ tại Ấn Độ Dương. Chính Đại sứ Mỹ tại Úc Jeffrey Bleich nhận định là từ căn cứ Darwin ở miền Bắc nước Úc, có thể đi thẳng ra Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Biển Đông Timor và tất cả các tuyến đường thương mại xung quanh. Điều này tạo một lợi thế mạnh và lớn cho Mỹ trên Thái bình Dương. Mỹ có thể dễ dàng tung quân ra xa một cách nhanh chóng.

Nhớ xưa trong Thế Chiền thứ hai, ở Á châu, sai lầm chiến lược của Nhựt là tấn công Trân châu Cảng quá sớm. Nếu chưa tấn công, Mỹ chưa tập trung vào chiến trường Á châu, chưa tấn công thẳng vào nước Nhựt. Bây giờ TC trường mặt ra, “quậy” quá sớm ở Á châu Thái bình Dương, trái với lời khuyên của Đặng tiểu Bình đừng lộ mặt quân sự để phát triễn kinh tế; nên Mỹ mới tập trung lực lượng về Á châu Thái bình dương và được hầu hết các nước ủng hộ xem như lá chắn trước đà bành trướng của TC./.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Bản chất mô hình kinh tế Trung Quốc

Ngô Nhân Dụng

Các lý thuyết gia hai đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc vừa mới họp nhau ở Vịnh Hạ Long trong một cuộc hội thảo hàng năm, với đề tài là: “Ðổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế ở Trung Quốc.”

Về phần Việt Nam, những chữ đáng chú ý là “Ðổi mới mô hình;” về phần Trung Quốc, là câu “chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế.” Cuộc hội thảo này nhắm vào mặt lý thuyết và cũng nhắm vào việc tuyên truyền, nhìn vào hai người trưởng phái đoàn thấy ngay. Bên Việt Nam là ông Ðinh Thế Huynh, ủy viên Bộ Chính Trị, bí thư Trung Ương Ðảng, trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương, chủ tịch Hội Ðồng Lý Luận Trung Ương. Phía Trung Quốc là ông Lưu Vân Sơn, ủy viên Bộ Chính Trị, bí thư Ban Bí Thư, trưởng Ban Tuyên Truyền Trung Ương. Công việc của họ là lý luận, tuyên giáo, tuyên truyền. Không thấy mặt các người lãnh đạo về kinh tế, những người nắm thực quyền trong tay, nắm các quyết định ai được ăn cái gì và ăn bao nhiêu. Những chuyện thực tế đó chắc sẽ diễn ra theo thường lệ không cần biết các nhà lý luận nói cái gì với nhau cả. Nhiệm vụ của các lý thuyết gia thường chỉ là tìm cách “Minh Họa” bằng văn chương chữ nghĩa cảnh chia phần ăn uống trong thực tế; làm sao vẫn “kiên trì”bảo vệ chiêu bài của hai đảng. Cả hai đảng vẫn mang tên là Cộng sản nhưng bản tin chính thức đầu tiên về cuộc hội thảo cho thấy các diễn từ khai mạc không nói gì đến chủ nghĩa Mác, Lê Nin hay tư tưởng Mao Trạch Ðông cả. Cuộc hội thảo của các lý thuyết gia kinh tế nhưng không hề nhắc tới Marx, Lenin, Mao, đó là một điều đáng chú ý. Tuy ông Lưu Vân Sơn có nói đến việc “thúc đẩy sự nghiệp xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa;” mà ai cũng biết ở Trung Quốc khi nói đến “hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa” thì người ta cũng nói theo cách khác, là “xã hội chủ nghĩa theo lối người Trung Hoa.”

Nhưng “xã hội chủ nghĩa theo lối Trung Hoa” nghĩa là thế nào? Trong cuộc hội thảo này không biết các nhà lý luận và tuyên truyền người Trung Quốc diễn tả các đặc điểm lý thuyết Trung Hoa về Xã hội Chủ nghĩa ra sao. Và cũng không biết các lý thuyết gia người Việt có quyết tâm học tập theo đường lối Bắc Kinh theo truyền thống vẫn “Học tập Mao Chủ Tịch” từ 50 năm trước hay không. Nhưng ở bên ngoài đảng Cộng sản thì người Việt Nam nào cũng nên biết là trong hành động thực tế thì đảng Cộng sản Trung Quốc đã theo đường lối kinh tế như thế nào, và nó đang “chuyển đổi” ra sao mà ông Lưu Vân Sơn, trưởng đoàn đại biểu Ðảng Cộng sản Trung Quốc đã chọn nhan đề bài diễn văn khai mạc là “Kiên trì điều phối tổng thể, nắm bắt trọng điểm chiến lược, đẩy nhanh hơn nữa chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế.”

Không biết các lý thuyết gia sẽ nói năng những gì sau cuộc hội thảo này để cho dân ta được nghe đảng Cộng sản Việt Nam lý luận như thế nào khi cố biện minh, bào chữa và bảo vệ một “chế độ kinh tế Vinashin và Vinalines.” Nhưng làm người Việt Nam ai cũng có quyền hiểu các vấn đề kinh tế liên can đến cơm gạo mình ăn, nhà cửa mình ở, nếu có. Cho nên cần giải thích rõ các vấn đề kinh tế và “mô hình kinh tế Trung Quốc” cho đồng bào ta biết.

Người bình dân chúng ta đều biết rằng vấn đề kinh tế chính trị căn bản là “ai làm và ai hưởng?” Tất cả mọi người dân trong một nước làm việc, họ tạo ra của cải, dịch vụ, để tất cả mọi người chia nhau thụ hưởng các thành quả đó. Vấn đề “ai làm gì và ai hưởng bao nhiêu” tùy thuộc cách tổ chức chính trị, đây là điều Karl Marx đã phân tích, làm nền tảng tạo ra phong trào cộng sản quốc tế. Marx thấy trong nền kinh tế tư bản vào thế kỷ 19 ông sống có hai loại người. Ðó là các ông chủ tư bản bỏ vốn, điều khiển, sai bảo; và giới lao động làm việc đổi lấy đồng lương. Người lao động làm việc tạo ra những sản phẩm có giá trị khi được trao đổi như hàng hóa. Các công nhân chỉ được hưởng một phần các giá trị đó để vừa đủ sống và làm việc tiếp. Phần giá trị còn lại, gọi là thặng dư, thì các ông chủ tư bản hưởng hết; họ sẽ dùng một phần các giá trị thặng dư tạo ra tư bản mới, tiếp tục khai thác và bóc lột theo một quá trình như cũ.

Mô hình phân tích của Marx vẫn áp dụng trong tình trạng Trung Quốc và Việt Nam hiện nay. Chỉ có một thay đổi trong thực tế là ở các nước này các ông chủ tư bản thời thế kỷ 19 đã vắng mặt, thay vào đó chúng ta thấy các ông chủ mới, gọi chung là Ðảng Cộng sản. Các ông chủ mới tái lập hệ thống kinh tế thị trường, để cho một số người ngoài có cơ hội ngoi lên đóng vai ông chủ nhỏ. Nhưng các ông chủ lớn, thuộc đảng Cộng sản, vẫn nắm quyền quyết định phần lớn. Họ sử dụng guồng máy nhà nước làm ra luật lệ. Họ dùng hệ thống ngân hàng để phân phối “giá trị tặng dư” dưới hình thức tiền vốn. Họ dùng các doanh nghiệp nhà nuớc để tiếp tục đóng vai ông chủ. Guồng máy nhà nước, hệ thống ngân hàng, các xí nghiệp quốc doanh nằm trong tay một nhóm người lãnh đạo đảng, họ dùng chúng để điều động vốn, điều khiển xí nghiệp, sai bảo, chỉ huy mọi người khác. Và giới lao động tiếp tục làm việc, đổi lấy đồng lương đủ sống để tiếp tục bán sức lao động. Ông Karl Marx nếu sống lại, sẽ phải viết một bản tuyên ngôn mới hô hào làm cách mạng!

Khi phân tích kinh tế tư bản, Karl Marx quá chú trọng đến việc sản xuất, bỏ quên một thành phần quan trọng trong nền kinh tế là những người tiêu thụ. Ðó là tất cả mọi người, nhưng đại đa số là những người lao động. Trong cuộc trao đổi hàng hóa trên các thị trường, chính những người tiêu thụ quyết định những hàng hóa, dịch vụ nào đáng có một giá trị bao nhiêu. Chính người tiêu thụ thúc đẩy các quản đốc xí nghiệp và các ông chủ tư bản của họ lựa chọn kế hoạch sản xuất. Chính người tiêu thụ quyết định giữa hàng trăm các công ty tư bản ai sẽ chiếm địa vị của một General Electrics, một Toyota, một Apple.

Trong những nền kinh tế thị trường đích thực, người tiêu thụ đóng vai quyết định, họ là các “ông bà chủ. Họ bỏ tiền mua, là tưởng thưởng cho những người làm đúng ý “chủ nhân.” Những người như Henry Ford đời xưa hoặc Steve Jobs thành công vì đoán được đúng được nhu cầu, sở thích người tiêu thụ. Có hàng triệu thanh niên Mỹ cùng thời chạy đua trong với Steve Jobs. Người tiêu thụ đã chọn Steve Jobs. Cái máy iPad vừa ra lò đã bán chạy, vì hàng triệu người xếp hàng thưởng công cho nhà sản xuất. Nền kinh tế chỉ huy “hậu cộng sản” kiểu Trung Quốc (mà Việt Nam là một phiên bản) không được tổ chức theo cơ cấu đó. Người tiêu thụ ở Trung Quốc và Việt Nam không nắm phần quyết định. Chỉ nhìn vào các con số chúng ta thấy điều đó. Tại nước Mỹ chẳng hạn, tiêu thụ chiếm hơn 2 phần 3 tổng sản lượng nội địa (GDP). Nghĩa là cả nước Mỹ tạo ra mỗi năm 100 đồng của cải thì 65% hoặc 70% là cho các người tiêu thụ được hưởng. Còn một phần ba là do quyết định của các xí nghiệp đầu tư hoặc do công chức nhà nước, chi tiêu tiền của dân đóng thuế lựa chọn. Kinh tế Trung Quốc có một đặc điểm là số tiêu thụ rất thấp, trước đây 30 năm chiếm được 45% tổng sản lượng nội địa, đến nay lại giảm xuống chỉ còn 35%. Tức là người Trung Quốc làm ra 100 đồng thì đến 65 đồng được trao cho các cán bộ, công chức quyết định việc chi tiêu.

Ðó là căn bản của mô hình kinh tế Trung Quốc. Kết quả là nền kinh tế mất thăng bằng, chính ông Thủ Tướng Ôn Gia Bảo thú nhận như vậy. Vì vậy, số thống kê cứ nói GDP Trung Quốc tăng trưởng 9%, 10% nhưng lợi tức bình quân không tăng được như vậy. Thế thì những thứ hàng hóa, dịch vụ tăng lên đó chúng chạy đi đâu? Một là để nuôi hai guồng máy thư lại của đảng và nhà nước. Hai là tiêu phí, lãng phí; thí dụ dựng lên các cơ xưởng, các ngôi nhà chúng cư, hay xây các xa lộ, các phi trường, mà không được dùng hay không dùng hết.

Làm sao họ cho một guồng máy kinh tế như thế chạy được? Vì họ nắm quyền trong tay, không cho ai phê phán; nhờ thế cứ bắt sao dân cũng phải chịu. Các nhà tư bản đỏ, trong và ngoài đảng hưởng thụ quá nhiều, trong khi 70% dân là các nông dân không được bảo hiểm y tế cũng như không có hưu bổng lúc về già. Trung Quốc hiện nay là thị trường mua đồ xa xỉ lớn nhất thế giới, vì các đại gia đỏ quá nhiều tiền. Hãng xe hơi đắt tiền Bayerische Motoren Werke AG lớn nhất thế giới bán nhiều xe BMW ở Trung Quốc hơn số bán ở Mỹ trong ba tháng đầu năm 2012!

Chính những người lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc đều biết rằng mô hình kinh tế của họ không thể kéo dài như vậy được. Ông Ôn Gia Bảo đã nói nhiều lần: Nếu không cải tổ chính trị thì kinh tế sẽ suy yếu. Ôn Gia Bảo nói rằng nếu dân đã có khả năng chọn người lãnh đạo ở cấp thôn để tự cai quản công việc thôn, thì họ cũng có khả năng bầu cử người lãnh đạo ở cấp xã, cấp huyện, trở lên. Hồi Tháng Ba vừa qua, tạp chí lý thuyết Cầu Thị đăng lại một bài phát biểu của ông Tập Cận Bình, phó chủ tịch Trung Quốc. Trong đó, người lãnh đạo tương lai của Trung Quốc nhận xét rằng nhiều đảng viên “vào đảng là để có cơ hội vinh thân phì gia, chứ không phải vì lý tưởng hay mục đích cao đẹp” nào cả. Vì thế, ông Tập Cận Bình cũng nói thẳng rằng “nhân dân Trung Quốc gần như mất hết tin tưởng vào đảng Cộng sản!”

Hội thảo Trung Việt ở Hạ Long trong mấy ngày qua chắc không hề nhắc đến những ý kiến của các ông Ôn Gia Bảo và Tập Cận Bình. Chắc chắn ông Lưu Vân Sơn không nói một câu nào về nhu cầu cải biến kinh tế Trung Quốc chính là phải giảm bớt vai trò quá lớn của guồng máy nhà nước và chuyển bớt các quyết định kinh tế cho người tiêu thụ. Ðó mới là hướng đi cần thiết cho Trung Quốc trong thập niên sắp tới; mà thế hệ lãnh đạo mới sắp lên trong năm nay sẽ phải thực hiện. Ông Lưu Vân Sơn không cần nói đến điều đó. Ðối với đảng Cộng sản Trung Quốc thì kinh tế Việt Nam cứ chạy ỳ ạch như hiện nay, thì Trung Quốc cũng không lo lắng. Hội thảo về lý thuyết chỉ là một màn kịch cần để trình diễn vậy thôi; còn các quan chức cán bộ Việt Nam cứ tiếp tục tham nhũng và hối lộ như hiện nay thì cũng không hại gì đến quyền lợi của Trung Quốc cả. Biết đâu, còn có lợi cho Trung Quốc nữa!

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Ai nguy hiểm hơn ai?

Nguyễn Hưng Quốc

Tất cả những người có chút tên tuổi từng tham gia biểu tình đều được ba, bốn công an cặp kè như vậy. Thời ấy, người ta gọi đó là hiện tượng “người mọc đuôi”. Tại sao với các trí thức được họ đào tạo, có người là đảng viên của họ, họ lại sợ đến như vậy mà với người Trung Quốc thì không? Tại sao?

Mấy tuần vừa rồi, báo chí trong nước làm ồn ào khá nhiều về việc một số người Trung Quốc nuôi cá bè lậu ở cảng Cam Ranh. Sự kiện này có ba ý nghĩa đáng chú ý: một, về phương diện xã hội, phần lớn những người Trung Quốc này đều di trú không đúng quy định của luật pháp; hai, về kinh tế, công việc của họ hoàn toàn là lậu, nghĩa là không có giấy phép, quy trình sản xuất và sản phẩm của họ làm ra không được kiểm tra; và ba, nghiêm trọng nhất, về phương diện quốc phòng, sự hiện diện của họ ở một địa điểm “nhạy cảm”, sát sạt quân cảng Cam Ranh - có thể quan sát toàn bộ các hoạt động ở quân cảng được xem là nổi tiếng nhất của Việt Nam, có thể dẫn đến những hậu quả không thể lường hết được.

Khi ông Nguyễn Tấn Tuân, Phó bí thư tỉnh Khánh Hòa cho việc để những người Trung Quốc ấy nuôi cá lậu ở Cam Ranh tuy là một “sơ suất và là điều rất đáng lo ngại” nhưng hậu quả của nó “chưa nghiêm trọng”, có lẽ ông chỉ chú ý đến khía cạnh xã hội và kinh tế. Còn về phương diện an ninh quốc phòng, làm sao biết được trong nhiều năm qua, những người Trung Quốc này có làm gì không, có thu thập được những tài liệu gì quan trọng hay không, có móc nối được ai ở địa phương, hoặc thậm chí, có xây dựng được một cơ sở hoạt động bí mật nào ở ngay cạnh quân cảng Cam Ranh hay không thì làm sao khẳng định được?

Tuy nhiên, điều khiến người ta quan ngại nhất là ở điểm này: Tại sao những người Trung Quốc đến làm lậu ở Cam Ranh lâu đến vậy mà chính quyền Việt Nam không phát hiện được? Mà họ đâu phải ít. Tin tức sơ bộ cho biết ở tỉnh Khánh Hòa có ít nhất 23 người nuôi trồng hải sản lậu như thế.

Hơn nữa, các bè cá của họ rất đồ sộ, lớn hơn hẳn các bè cá của người Việt trong vùng. Nói không ai thấy là vô lý. Đó là chưa kể, báo chí còn cho biết, ngay từ năm 2009, lực lượng biên phòng của tỉnh Khánh Hòa đã báo cáo về việc này. Và cũng trong năm 2009, Phòng kinh tế Cam Ranh đã “xử phạt hành chính” những người Trung Quốc hoạt động trái phép. Vậy mà họ vẫn tiếp tục. Vẫn ngang nhiên tiếp tục.

Vẫn có thể dễ dàng quan sát và theo dõi toàn cảnh quân cảng? Chỉ đến gần đây, khi dân chúng tố cáo và một số cơ quan truyền thông loan tin và bàn tán ồn ào, chính quyền mới bắt đầu “chỉ đạo” các cơ quan chức năng “rà soát” lại tình hình làm lậu của người Trung Quốc trên địa bàn “nhạy cảm” này.

Tại sao?

Cách giải thích đơn giản và không chừng chính xác là cán bộ trong các “cơ quan chức năng” ở địa phương, từ phòng Kinh tế đến công an, đều bị mua chuộc. Nhận tiền từ những người Trung Quốc làm ăn trái phép này, tất cả mọi người đều ngoảnh mặt làm ngơ cho họ muốn ở đâu thì ở, muốn làm gì thì làm. Mặc kệ. Điều đó cũng chả có gì lạ. Ai mà chẳng biết nạn tham nhũng ở Việt Nam phổ biến và trầm trọng đến độ nào. Thế nhưng người ta vẫn băn khoăn: Tại sao đối với những vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia mà chỉ vì tiền, chính quyền lại bất cẩn và mất cảnh giác đến như vậy?

Mà không phải chỉ ở Cam Ranh hay tỉnh Khánh Hòa mà thôi. Từ mấy năm nay, báo chí trong nước cũng từng lên tiếng về vấn đề người Trung Quốc làm lậu tràn lan ở Việt Nam. Tỉnh nào cũng có. Ở một nhà máy đạm tận U Minh thuộc Cà Mau cũng có hơn 1000 người Trung Quốc làm việc.

Ở nhà máy đạm ở Ninh Bình cũng có hơn hai ngàn người Trung Quốc, trong đó hai phần ba là không có giấy tờ gì cả. Ở các nhà máy thủy điện ở Quảng Nam cũng đầy người Trung Quốc. Rồi trên Cao nguyên. Rồi ở vùng biên giới Hoa Việt. Ở đâu cũng có người Tàu.

Điều đáng nói là không ai nắm được con số những người Tàu này là bao nhiêu cả. Chỉ biết mỗi tháng có khoảng từ 60.000 đến 90.000 người Tàu sang Việt Nam du lịch. Còn số người nhập cư trái phép qua đường bộ thì không ai biết. Ngay cả với những người đi du lịch rồi ở lại và làm việc lậu, chính quyền cũng mù tịt.

Đáng nói hơn nữa là những người Trung Quốc này làm gì ở Việt Nam? Nếu họ chỉ làm lậu không thì về phương diện kinh tế và xã hội, hậu quả đã rất đáng lo ngại. Còn nếu họ làm thêm việc gì khác nữa thì hậu quả thật không thể lường hết được. Nhất là khi tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc không còn kìm giữ được nữa. Trong trường hợp ấy, rõ ràng là Trung Quốc đã có sẵn một lực lượng nằm vùng khổng lồ. Có khi không cần đánh, họ cũng thắng.

Bất cứ người nào có chút lương tri cũng đều biết điều đó. Nhưng tại sao chính quyền Việt Nam có vẻ như không biết? Tại sao họ vẫn dửng dưng? Nó vượt ra ngoài khả năng quản lý của họ ư? Họ thiếu nhân sự ư?

Nhất định là không phải.

Trong đợt trí thức và quần chúng Hà Nội xuống đường biểu tình chống Trung Quốc vào giữa năm 2011, để theo dõi nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên - một đảng viên của họ, họ có thừa thãi nhân lực đến độ cử cả sáu tên lính túc trực dưới cửa nhà ông cơ mà!

Còn đối với tiến sĩ Nguyễn Quang A, cũng trong đợt biểu tình chống Trung Quốc ấy, có lúc có đến 3 công an và 3 người thuộc tổ dân phố đến chận đường.

Tất cả những người có chút tên tuổi từng tham gia biểu tình đều được ba, bốn công an cặp kè như vậy. Thời ấy, người ta gọi đó là hiện tượng “người mọc đuôi”.

Tại sao với các trí thức được họ đào tạo, có người là đảng viên của họ, họ lại sợ đến như vậy mà với người Trung Quốc thì không?
Tại sao?

Thực tình, tôi không hiểu.

Không thể hiểu.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

Bài viết vể 30 tháng Tư của Huỳnh Thục Vy tại Sàigòn

Nhửng gì người đẹp nầy viết không có gì mới mẻ nhưng viết rất hay!
Ngay tại Saigon mà cô dám viết như vậy thì thật khâm phục!!
Do đó, cô bi Công An mời "làm việc" .


Huỳnh Thục Vy - Tôi sinh trưởng sau năm 1975 và gia đình tôi không có liên quan gì nhiều đến cả hai phía trong cuộc chiến tranh Việt Nam vì thế mối tương quan tình cảm của tôi với những sự kiện lịch sử và hoàn cảnh chính trị xã hội trong cuộc chiến hầu như rất ít nếu không muốn nói là không có. Những gì ít ỏi mà tôi được hiểu biết về nó chỉ đơn thuần là kiến thức. Đứng trong vị thế đó, tôi tạm thời có thể yên tâm rằng lập trường của tôi, và những gì tôi nói ra sau đây sẽ được hiểu một cách thiện chí và không bị gán ghép hay chụp mũ. Tôi không sợ bị chụp mũ, nhưng thiết nghĩ điều đó cùng với những nguỵ biện không có lợi cho sự tiến bộ.

Gần đây, tôi tình cờ đọc được một nhận xét của tướng William Childs Westmoreland- Tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam- về tướng Võ Nguyên Giáp của quân đội Bắc Việt như sau: "Of course, he was a formidable adversary.... By his own admission, by early 1969, I think, he had lost, what, a half million soldiers? He reported this. Now such a disregard for human life may make a formidable adversary, but it does not make a military genius...". Xin được tạm dịch là: "Dĩ nhiên, ông ta là một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm....Với sự thừa nhận của chính ông ta, đến đầu năm 1969, tôi nghĩ, ông ta đã mất nửa triệu lính? Ông ta đã báo cáo điều này. Hiện tại, một sự coi thường mạng người như thế có lẽ sẽ tạo nên một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm, nhưng nó không tạo nên một thiên tài quân sự...."

Dù chúng ta là ai, đứng bên nào của cuộc chiến, chúng ta cũng phải đồng ý với Westmoreland rằng, một chiến thắng quân sự dựa trên chiến thuật đẫm máu, coi thường sinh mạng binh sĩ chỉ có thể tạo nên một kẻ thù nguy hiểm chứ không tạo nên một thiên tài quân sự như nhiều người vẫn rêu rao. Câu nói này của viên tướng Hoa Kỳ làm tôi suy nghĩ rất nhiều về sự "nguy hiểm" của những người Cộng sản Việt Nam. Họ nguy hiểm bởi họ là những người luôn hành động theo phương châm"mục đích biện minh cho phương tiện", nghĩa là bất chấp mọi thứ, miễn đạt được mục đích. Đối với tôi, nó không chỉ là lời nhận xét về tướng Giáp mà là một câu nói nêu bật lên bản chất của những người Cộng sản Bắc Việt, và cả chế độ mà họ dựng nên. Và những việc họ đã làm suốt từ những ngày đầu có mặt tại Việt Nam đến nay, từ việc "trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ" đến gần đây nhất là vụ cướp đất của nông dân đã chứng minh tất cả.

Một kẻ đối địch ghê gớm có thể được hiểu theo hai cách. Thứ nhất, đó là một kẻ thù đáng gờm, là đối thủ khó đánh bại vì có mãnh lực vũ trang, có chiến lược, chiến thuật hành động khôn ngoan... Nhưng khi nhìn xoáy vào chữ "formidable" mà Westmoreland đã dùng, tôi chú ý nhiều đến nghĩa "arousing fear" (gợi nên sự sợ hãi) . Với nghĩa này, nó gần giống với "terrorise" (làm cho sợ hãi). Mà làm cho người khác sợ hãi có nghĩa là "khủng bố". Chúng ta có thể hiểu theo hai cách về một "đối thủ ghê gớm" như tôi đã tạm phân tích ở trên. Nhưng biết đâu, cách hiểu thứ hai mới là điều mà ông tướng Mỹ kia ngụ ý? Xin hãy cho tôi tiếp tục trình bày mà tạm quên đi những mối thành kiến nào đó có thể đang dâng lên trong lòng quý vị.

Khi căn cứ vào những dữ kiện lịch sử- những điều không thể chối bỏ, những điều đã được trải nghiệm bằng chính xương máu của những người đã kinh qua cuộc chiến ấy- chúng ta sẽ có cái nhìn tường minh hơn. Riêng phần mình, với kiến thức ít ỏi về chiến tranh Việt Nam, tôi đã có thể tìm thấy những hình ảnh có khả năng "làm cho sợ hãi" của quân đội Bắc Việt qua nhiều biến cố như Tết Mậu Thân, và các "trận đánh" của đội Biệt động Sài Gòn như: "trận đánh" tàu nhà hàng Mỹ Cảnh, "trận đánh" cư xá Brinks...; và chưa kể đến những câu chuyện ghê gớm mà tôi từng được nghe những người già kể lại về vô số những "trận đánh" như thế vào trường học, khu dân cư, cầu cống....Đến nỗi, khi nghe nói quân đội Cộng sản Bắc Việt sắp vào đến ngã ba Cai Lang, thành phố Đà Nẵng, những người dân sống ở Đà Nẵng khi đó đã run cầm cập vì nghe tin đồn rằng người Cộng sản mà vào họ sẽ rút hết móng tay móng chân người dân. Đó có thể là điều sợ hãi thái quá, nhưng nó cho chúng ta thấy khả năng gieo rắc sợ hãi đến trình độ đỉnh cao của những người tự xưng là "quân giải phóng".

Những ai đọc lịch sử, những ai có đủ lương tâm và tầm tri thức trung bình, đều thấy rằng, những cái mà quân đội Bắc Việt và những người "nằm vùng" gọi là "trận đánh" gây nhiều tiếng vang đều không nhằm vào những mục tiêu trên tiền tuyến, để giành chiến thắng quân sự trực tiếp mà đánh vào những nơi ăn chốn ở cốt để gây sợ hãi. Gây sợ hãi cho người dân nhằm làm xáo trộn xã hội, gây sợ hãi đánh vào tâm lý Quốc hội và dư luận Mỹ.... Ngày nay, ai đi qua đường Hai Bà Trưng, đều nhìn thấy "Bia chiến công trận đánh cư xá Brinks". Cái mà người ta gọi là trận đánh thực ra là một cuộc đánh bom một nơi ở của cố vấn quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam do hai thành viên Biệt Động Sài Gòn thực hiện. Điều mà họ gọi là "trận đánh" sao tôi thấy nó hao hao giống cách làm của những kẻ khủng bố Hồi giáo cực đoan, chỉ khác một chỗ là họ không tự sát. Đối với thế giới ngày nay, những kẻ đánh bom như thế thật sự là những kẻ "nguy hiểm", "ghê gớm".

Ngoài cái cách thể hiện "formidable" như trên, quân đội Bắc Việt còn khiến người ta sợ hãi hơn gấp bội vì sự coi thường tính mạng binh sĩ của họ. Thông thường, con người sợ hãi những kẻ thù tấn công mình một cách tàn ác, nhưng người ta sẽ kinh hoàng đến rợn người khi biết về những hành động coi tính mạng của người phe mình như cỏ rác, cốt chỉ nhằm đạt được mục đích của kẻ chỉ huy. Người Cộng sản đã lấy chính nghĩa chống giặc ngoại xâm để lừa dối, tuyên truyền, kích động hàng triệu Thanh niên miền Bắc lao vào cuộc chiến như con thiêu thân. Chúng ta được nghe nói rất nhiều về những tấm gương đầy nhiệt huyết và sự hy sinh anh dũng của những người trẻ tuổi mới chập chững vào đời. Đối với những cái chết đó, tôi không có bất cứ tình cảm tích cực nào ngoài sự thương tiếc. Cả một thế hệ người đã bị lừa gạt vì không nhận chân được bản chất của chế độ, của cái chủ thuyết mà nó rêu rao. Âu tất cả cũng chỉ là những sản phẩm lịch sử của một thời đại!

Để rồi sau cái ngày "thống nhất" ấy là những chuyến vượt biên vượt biển của hàng trăm ngàn người, và đã có cả hàng ngàn người phải bỏ xác ngoài biển khơi; là những năm tháng bao cấp, đói khổ đến cùng cực; đến nay đỡ đói khổ một chút, nhưng dân Việt ta vẫn chưa thoát khỏi thân phận làm thuê, ở đợ cho thiên hạ; đặc biệt vẫn còn cam chịu làm thần dân phục tùng các ông vua Cộng sản. Thế nhưng bất chấp cái thực tế đau buồn ấy, nhiều ngụy biện về thống nhất, về "công lao chống Mỹ cứu nước của Đảng" vẫn tồn tại ngay cả trong lớp người "có học" ở Việt Nam.

Thiết nghĩ một sự hy sinh chỉ nên có và đáng được ngợi ca khi đánh đổi với nó là một giá trị to lớn hơn. Bằng lập trường đề cao cá nhân, tôi cho rằng, mọi ý niệm: thống nhất, giải phóng dân tộc, kẻ thù...phải được đặt trong mối tương quan của chúng với những giá trị an sinh hạnh phúc thực sự của người dân. Suy cho cùng, mọi thứ bao gồm: thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chính trị...chỉ là những phương tiện để đạt đến những giá trị nhân bản, để bảo vệ và phục vụ con người. Mọi định chế, mọi nỗ lực chính trị và xã hội đều nhằm vào cái đích đến quan trọng nhất của nó là CON NGƯỜI. Nếu mục đích cuối cùng ấy không đạt được thì mọi phương tiện kia chỉ là mưu đồ của kẻ lãnh đạo. Thật điên rồ thay cho những kẻ luôn hô hào "mục đích biện minh cho phương tiện". Chúng ta biết rằng, việc đánh giá tính chính đáng của phương tiện tuỳ thuộc vào mối tương quan về bản chất của nó đối với mục tiêu. Nói rõ hơn, chúng ta không thể dùng một phương tiện phi nhân để giành lấy một mục tiêu nhân bản.

Kết quả là, "sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước" đã không khiến Việt Nam trở nên hùng mạnh hơn, dân tộc ta trở nên kiêu hãnh hơn; mà đơn giản chỉ là biến một miền Nam trước "giải phóng" hơn hẳn Hàn Quốc, sau gần bốn mươi năm thống nhất, cùng với cả nước lẹt đẹt chạy theo sau cả Thái Lan. Nếu ta lấy cứu cánh là sự phồn thịnh của quốc gia, là an sinh hạnh phúc, là tự do nhân phẩm của mỗi một người dân làm chuẩn thì liệu sự thống nhất ấy có nghĩa lý gì?

Đó là khi vấn đề được đặt dưới lăng kính lý luận. Còn thực tế thì mọi sự đã quá rõ ràng. Cái mà người ta gọi là "kháng chiến chống Mỹ cứu nước" ấy thực chất chỉ là để giúp Trung Quốc "đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng". Hay như Lê Duẩn từng nói :XHC "ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước , cho cả nhân loại". Nói cho rõ ra, đó là cuộc chiến giúp cho chủ nghĩa Cộng sản bành trướng xuống Đông Nam Á theo tinh thần Quốc tế Cộng sản bất chấp tinh thần dân tộc, là giúp cho Trung Cộng dễ dàng Hán hoá một Việt Nam suy yếu sau cuộc chiến tương tàn khốc liệt.

Đã ba mươi bảy năm trôi qua kể từ ngày "giải phóng", giải phóng miền Nam khỏi mối quan hệ đồng minh với Mỹ để trở thành chư hầu hèn mọn của Trung Cộng. Sự thống nhất, sự giải phóng đó mới đau đớn làm sao! Gần bốn thập niên đã qua đi, dấu vết chiến tranh trên mảnh đất quê hương Việt Nam đã dần phai nhạt, nhưng những tổn thương của lòng người vẫn còn hằn sâu, thậm chí ngày càng sâu hơn. Thống nhất hai vùng địa lý nhưng vẫn vắng bóng một sự Hoà hợp trong tình tự dân tộc. Vết thương cũ do cuộc tiến chiếm miền Nam chưa kịp lành thì chúng ta lại có thêm những chia cắt mới : chia cắt giữa một bên là một nhóm người cam phận làm tay sai cho ngoại bang, với một bên là những con người yêu nước không khoan nhượng; chia cắt giữa một phía là nhóm người lãnh đạo Quốc gia cùng những kẻ ăn theo cố gắng bám giữ ngôi vị độc tài để tiếp tục nô lệ hoá người dân, với một phía là những người đấu tranh và chấp nhận hy sinh cho tự do và phẩm giá con người. Tôi vẫn nghĩ rằng, một con người trở nên dũng mãnh nhờ có ý chí. Một dân tộc trở nên hùng mạnh, cũng như vậy, phần nhiều dựa vào tinh thần và khí chất. Nhưng tinh thần và khí chất ấy chẳng thể có được nếu dân tộc ấy chia rẽ. Chính sức mạnh của tinh thần đoàn kết, sự Hoà hợp dân tộc có thể góp phần giúp chúng ta tạo lập một mãnh lực mới cho dân tộc.

Chỉ e Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục bỏ lỡ những chuyến tàu thời đại nếu trong lòng dân tộc còn có những chia cắt chí mạng như thế. Nhưng thiết tưởng, sự Hoà hợp có khả năng xoá bỏ mọi ngăn cách, hàn gắn mọi vết thương, mang mọi người Việt về trong cùng một chí nguyện chỉ có thể đạt được trên tinh thần Hoà giải thiện chí, trên quyền lợi dân tộc và trên những nguyên tắc hướng thiện chứ không phải là sự thoả hiệp với cái xấu ác. Chỉ e những người Cộng sản Việt Nam quá u mê và tham lam để khởi động một chương trình Hoà hợp, Hoà giải và thay đổi chính trị đầy tham vọng như thế. Chỉ e những người Cộng sản chẳng thể làm nổi những gì mà nhà cầm quyền độc tài Miến Điện đã làm. Chỉ e.... Bởi đến hôm nay, họ vẫn một lòng một dạ coi mối quan hệ với Trung cộng là "chủ trương nhất quán", là "ưu tiên hàng đầu" như lời Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam đã tuyên bố mới đây tại Bắc Kinh.

Mỗi năm tháng Tư về, bao nhiêu lễ lạt, đình đám vẫn diễn ra bất chấp mối hoài niệm về quá khứ vẫn nặng trĩu trong lòng nhiều người Việt, bất chấp mối ưu tư về tương lai đất nước vẫn canh cánh trong lòng những người có tâm huyết với đất nước. Những con người có lương tâm và tự trọng không bao giờ vui sướng được trong nỗi thống khổ to lớn ấy của dân tộc. Thử hỏi xương máu của hàng triệu con người đã ngã xuống trong cuộc chiến chỉ để tạo nên một Việt Nam thống nhất trong chia rẽ, thống nhất trong sự Hán hoá, thống nhất trong sự mất tự do và quyền làm người hay sao? Ba mươi tháng Tư- xin cầu nguyện cho tự do và nhân phẩm, cho sự Hoà hợp dân tộc và nền công lý.

Huỳnh Thục Vy
Sài Gòn, ngày 20 tháng 4 năm 2012

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Tâm thư của Tiến Sĩ Sử Học Hãn Nguyên Nguyễn Nhã
gửi các bạn trẻ Việt Nam
Hoàng Sa ơi, Việt Nam ơi,
Hoàng Sa mãi mãi của người Việt ta
Ðừng ai vô cảm Hoàng Sa
Ðể mà mang tội ông cha muôn đời

Cũng đừng làm nước suy đồi,
Lịch sử phán xét ôi thôi còn gì!
Mỗi người kế hoạch khả thi
Sao cho nội lực ai bì kịp ta!

Xâm lăng, tàm thực tránh xa
Ðừng hòng làm nhục nước nhà Việt Nam,
Biển Ðông bắt nạt ngư dân!
Ðừng hòng xử ép, nào thân nỗi gì!



Tháng 8 năm 2011, tôi cùng nhà cựu ngoại giao Dương Danh Dy nói chuyện về Hoàng Sa & Trường Sa tại Trường Ðại Học Ngoại Thương ở Hà Nội. Một nữ sinh viên đã phát biểu một câu nói bất hủ: “Bất cứ ai vô cảm với Hoàng Sa & Trường Sa đều có tội với Tổ tông và dân tộc,” sau khi nghe tôi nói: “Bất cứ ai làm cho đất nước suy hèn đều có tội với Tổ tông và dân tộc!

Tôi cũng đã từng nói: “Sự thật lịch sử chỉ có một. Lịch sử rất công bằng và nghiêm khắc với bất cứ ai kể cả nhà sử học!”

Gần đây xảy ra câu chuyện giữa một du học sinh Việt Nam với các du học sinh Trung Quốc, du học sinh Việt Nam trên đã tỏ ra rất lúng túng khi trao đổi về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Ðông!

Từ hồi tôi còn trẻ, hơn 30 tuổi cho đến nay đã bảy mươi tư tuổi, tôi vẫn đeo đuổi đi tìm sự thật về chủ quyền tại Hoàng Sa & Trường Sa.

Ngày 20 tháng 1 năm 1975, nhân kỷ niệm một năm ngày Trung Quốc dùng võ lực cưỡng chiếm Hoàng Sa, tôi cùng Võ sư Trần Huy Phong và GS Ngô Gia Hy tổ chức triển lãm trưng bày tư liệu lịch sử minh chứng chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa & Trường Sa ở Thư viện Quốc Gia tại Sài Gòn. Với tính cách trưởng ban tổ chức, tôi phát biểu, đã xúc động không cầm được nước mắt và như Báo Sóng Thần hồi ấy đưa tin mọi người ôm nhau khóc ròng!

Trong cuộc hội thảo quốc tế về Biển Ðông lần thứ ba tại Hà Nội cuối năm 2011 vừa qua, một học giả Trung Quốc đã phát biểu rằng trong các thế kỷ vừa qua Trung Quốc đã bị các nước phương Tây xử ép và làm nhục; thời nay đã khác và kêu gọi các nước Á Ðông đoàn kết với Trung Quốc! Tức thì tôi đã phát biểu rằng vậy thì Trung Quốc có chia sẻ với Việt Nam đang bị xử ép và làm nhục không? Cũng trong hội thảo quốc tế trên, để phản bác một học giả khác của Trung Quôc phát biểu rằng sự kiện Trung Quốc đăng ký với Ủy ban Ðăng ký Thềm lục địa LHQ “Ðường lưỡi bò” ở Biển Ðông chỉ là sự kế thừa lịch sử.

Tôi đã hỏi rằng vậy quí học giả đã kế thừa, tiếp cận được hay không sự kiện lịch sử năm 1909, chính quyền Quảng Ðông cho là Paracels tức Hoàng Sa là đất vô chủ (res-nullius), đã tổ chức chiếm hữu theo phương cách phương Tây như đem tàu chiến đến bắn 21 phát súng, cắm cột mốc chủ quyền... và đã tiếp cận được hay không biết bao tài liệu của phương Tây bằng nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha,... Paracel đã thuộc về từ lâu chủ quyền của xứ An Nam hay Cochin China - Xứ Ðàng Trong của Ðại Việt hay chưa? Và có biết đến luận án tiến sĩ sử học của tôi về “Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa & Trường Sa” hay không? Và để lấp đầy sự khác biệt về lịch sử, tôi đề nghị nên có một hội thảo quốc tế về chủ quyền tại Hoàng Sa & Trường Sa.

Ngày 16 tháng 6 năm 2012, từ Việt Nam ,mặc dù tuổi đã cao, tôi vẫn cố lặn lội đến Boston, chỉ cốt nói với các du học sinh tại trường Ðại Học Harvard, một đại học uy tín chất lượng cao nổi tiếng trên thế giới về sự thật lịch sử chủ quyền tại Hoàng Sa & Trường Sa với ước mong các bạn du học sinh ở trường Harvard giúp tôi hoàn chỉnh bản tiếng Anh hơn 500 trang hồ sơ tư liệu về chủ quyền củaViệt Nam tại Hoàng Sa & Trường Sa, cùng giúp tôi đưa đến các thư viện có trong danh sách mà năm 1960, Headquarters, U.S. Pacific Broadcasting and Visual Activity AP0331 đã gửi tài liệu “Analysis on The Spratley-Paracel Islands Dispute,” no 010660.

Trong hơn 500 trang tư liệu kể trên,tôi chỉ mong các bạn lưu ý, tập trung thảo luận và quảng bá 3 thông tin chi tiết cụ thể sau đây:

Một là Ðại Việt sử ký tục biên (1676-1789) do các sử thần thời Lê-Trịnh biên soạn theo lệnh của Trịnh Sâm năm 1775, đã nói rõ về hoạt động của đội dân binh Hoàng Sa kiêm quản đội Bắc Hải và có đoạn viết: “Ðặt đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào đội ấy, cắt lượt nhau đi thuyền đến đảo mò tìm sản vật. Mỗi năm cứ Tháng Ba ra đi, mang lương ăn sáu tháng, đi thuyền ra biển ba ngày ba đêm mới đến đảo...,” “Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi lấy được... (quyển 2, từ tờ 82b-85a).

Hai là Ðại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 52 (đời vua Gia Long) một lần nữa lại ghi rõ ràng: “Năm Bính Tý, niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816), vua Gia Long ra lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để xem xét và đo đạc thủy trình...” Trong khi những tài liệu của những người phương Tây từng hoạt động trong Triều Gia Long như Chaigneau, Taberd đã công bố những hành động của vua Gia Long cụ thể hơn. Chaigneau, đã viết trong hồi ký “Le mémoire sur la Cochinchine” “Chỉ đến năm 1816, đương kim hoàng đế đã chiếm hữu quần đảo ấy” hay Giám Mục Taberd viết: “Chính là vào năm 1816 mà ngài (vua Gia Long) đã long trọng cắm tại đó lá cờ của xứ Ðàng Trong. Gutzlaff năm 1849 đã cho biết chính quyền Việt Nam thời Gia Long đã thiết lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh cá Việt Nam.” Ðặc biệt năm 1838, Giám Mục Taberd đã vẽ bản đồ có tọa độ An Nam Ðại Quốc Họa Ðồ đính kèm trong cuốn tự điển Latin-An Nam ghi rõ Paracel seu Cát Vàng; seu tiếng Latin có nghĩa hay là.

Ba là phúc tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 17 (1836 ) trong tập châu bản Minh Mạng 55 trang 336, ghi lời châu phê của vua Minh Mạng: “Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ: “Năm Bính Thân (Minh Mạng thứ 17), họ tên cai đội thủy quân phụng mệnh đi đo đạc, cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu.” Vua cũng phê rằng, “thuyền đi đâu, phải cắm cột mốc đến đó để lưu dấu. Phúc tấu cũng còn ghi chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhật được phái từ Thuận An vào Quảng Ngãi để đi công tác Hoàng Sa.

Trong khi chính sử, Ðại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165 (đời vua Minh Mạng), viết rất rõ quan điểm của Bộ Công và hoạt động của Bộ này tại Hoàng Sa: “Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836) (năm Ðạo Quang thứ 16 đời nhà Thanh) Bộ Công tâu: ‘Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước ta, rất là hiểm yếu, từng sai vẽ bản đồ riêng về hình thế xa rộng, ta mới chỉ vẽ được một, rồi lại cũng chưa biết vẽ nên làm thế nào. Hàng năm, thường phái người đi xem xét cho khắp để thông thuộc đường biển. Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần Tháng Giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám thành đáp 1 chiếc thuyền ô nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa. Không cứ là đảo nào, bãi cát nào, phàm khi thuyền đến nơi, tức thì cứ chiếu chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, và nước biển, bãi biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở bình dị thế nào, phải xem xét đo đạc rõ ràng, vẽ thành bản đồ...’’” Ðại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165 còn chép: “Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật điều binh thuyền đi đem theo 10 cái bài gỗ dựng bàn dấu mốc, chủ quyền.” Mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ Hán: “Minh Mạng thập thất niên (1836), Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa đương độ chí thủ lưu chí đẳng tự.”

Với kiến thức về pháp lý quốc tế từ đầu thế kỷ đến nay cùng những thông tin lịch sử cụ thể trên thì chắc chắn các bạn không thể lúng túng khi tranh luận với các bạn trẻ Trung Quốc về Hoàng Sa & Trường Sa. Dù thế nào đi chăng nữa, dù lý của kẻ mạnh như thế nào chăng nữa thì lịch sử dân tộc ta không cho phép chúng ta hèn yếu. Như tôi đã từng nói: “Muốn lấy lại Hoàng Sa, giữ những gì còn lại của Trường Sa thì mỗi người Việt Nam phải có một kế hoạch nhỏ xây dựng nội lực đất nước hùng cường.”

Ðầu thế kỷ 20, cụ Phan Bội Châu đã khởi xướng phong trào Ðông Du hầu canh tân đất nước hùng cường để cứu nước. Nay chúng ta đang có phong trào thế giới du. Không có cách nào khác, trước những nguy cơ chưa từng có tại Biển Ðông, các bạn trẻ Việt Nam không phân biệt chính kiến, hãy cùng nhau dẹp bỏ những gì “xấu xí” của người Việt như quá ham những tư lợi hại nước hại dân, thiếu đoàn kết, đố kỵ khích bác lẫn nhau... mà phải có lòng yêu nước chân chính có tâm, có tầm như người Nhật Bản để cùng nhau xây dựng nội lực đất nước hùng cường. Mong vậy thay!

Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, Tiến sĩ Sử học
Email: hannguyen1940@yahoo.com

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Bàn Chuyện Trên Mây

Trần Khải


Ông bà mình có kiểu nói rằng những người không liên hệ gì với đời này là “ưa nói chuyện trên mây.” Nghĩa là, sẽ bị hỏng chân, hỏng cẳng... nếu bàn những chuyện không cần thiết tới cuộc đời này. Nhà nước Hà Nội là một trong những chế độ như thế -- bên cạnh Bắc Hàn, Cuba, Trung Quốc... – luôn hứa hẹn những điều trên mây, và lấy sạch và quản lý chặt những gì dưới đất của người dân.

Chuyện trên mây thì dân nghe nhiều rồi, về những thiên đường xã hội chủ nghĩa làm theo lao động và hưởng theo nhu cầu. Trên mây cũng là khi ngó ra chung quanh mình và chỉ thấy đầy những tượng ông Hồ Chí Minh, trong khi ai cũng thấy rõ ông Hồ đang bị cực hình phơi xác giữa chợ (nói theo truyền thống cổ Đông Phương), với xác tẩm đầy chất hóa học cho khỏi rã (nghĩa là một địa ngục ngâm nước, nhúng dầu)... Trên mây cũng là khi mất rừng, mất biển, mất đất mà vẫn cấm báo chí bàn tới, trong khi cho công an khui ra các vụ án sex, lặng lẽ khuyến khích truyền thông chạy đua theo những chiếc váy (và bên trong chiếc váy) của các cô hoa hậu.

Đối với người dân, chuyện trước mắt là cơm ăn, áo mặc... và do vậy, ruộng đất và nhà đất là nhu cầu thiết thân nhất. Không có đất, đừng hòng có chỗ đứng mà bàn chuyện trên mây.

Nhà thơ Bùi Chát trong bài nhan đề "Không thể khác" đã viết về những giấc mơ của các lãnh tụ cộng sản VN:

“Những người anh em
Đã phản bội chúng tôi
Đã ném chúng tôi vào ngục
Đã nhuộm đỏ màu da chúng tôi
Đã hi sinh mạng sống chúng tôi
Cho những giấc mơ ngột hứng của họ...”


Như thế đó: các lãnh tụ đã hi sinh mạng sống người dân cho những giấc mơ ngột hứng của họ. Thực sự không ngột hứng gì hết, bây giờ là những tính toán có thể quy ra tiền, ra đôla, ra vàng: lấy đất của dân.

Và trong khi cưỡng chế đất, nhà báo tới là bị đánh thê thảm, và các đạị biểu quốc hội lặng lẽ tránh né bàn chuyện sở hữu đất của người dân, vì xem như chuyện đã xong rồi: đảng đã đưa tay chỉ lên mây, và nói với toàn dân rằng đất là sở hữu toàn dân, chứ không phải của cá nhân người nào hết... Và do vậy, đất là sở hữu của các quan chức.

Như thế, quốc hội chỉ là trình diễn, vì chỉ bàn chuyện trên mây thôi.

Đài RFA ngày 13-6-2012 đã ghi cuộc phỏng vấn Ông Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc VN tại Sài Gòn, cho biết rằng từ ngày 13 đến ngày 16 tháng 6, Quốc hội Việt Nam khóa 13, kỳ họp 3 sẽ tiến hành chất vấn một vị phó thủ tướng và bốn bộ trưởng trong đó có bộ trưởng Tài nguyên Môi trường.

Cuộc phỏng vấn ghi lời ông Lê Hiếu Đằng:

“Các nước khác đều công nhận về đất đai có 3 quyền sở hữu: sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu cá nhân. Sở hữu cá nhân không có ngăn cản gì trong khi vì an ninh quốc phòng, Nhà nước có thể trưng thu. Khi công nhận quyền sở hữu của người dân thì dân có quyền trên mảnh đất của mình, thuận mua vừa bán; chứ không thể nói “sở hữu Nhà nước” rồi “anh” lại ra quyết định đền bù giải tỏa. Mà Nhà nước lại đứng về phía các đơn vị đầu tư chứ không để dân trực tiếp thương lượng... Đó là một kẽ hở lớn để những thành phần tiêu cực trong Đảng và chính quyền tước đoạt đất đai của người dân.” (hết trích)

Hóa ra Quốc hội chỉ bàn chuyện trên mây trong khi người dân bị cướp đất bởi quan chức. Mà chuyện đâu có xa gì. Chính người dân xã Văn Giang, chuyện đàn áp để lấy đất còn nóng hổi, chưa êm.

Trên blog của cụ bà Lê Hiền Đức (http://lhdtt.blogspot.com) hôm Thứ năm, ngày 14 tháng sáu năm 2012, đã báo tin khẩn rằng côn đồ và xã hội đen đang tới khủng bố người dân đang bám chặt cánh đồng để giữ đất. Cụ bà viết:

“Bà con Văn Giang vừa gọi điện khẩn cấp cho biết: xã hội đen đã đánh đập bà con Văn Giang đang giữ ruộng của mình tại khu cánh đồng xã Xuân Quan.

Một chị phụ nữ tên là Sáng bị chúng dùng gậy vụt gẫy một tay, chị Chiến Trát bị đánh vào đầu bằng gậy, chị Nụ bị chúng vụt vỡ mũ bảo hiểm. Anh Doãn bị chúng vụt vào lưng, cổ hiện đang rất đau.

Bà con đang cho những người bị đánh đi bệnh viện, bó bột bà chạy chữa viết thương, ảnh và phim quay được đang được bà con mang sang để gửi đăng lên.
Báo chí đang cử các phóng viên về hiện trường để tác nghiệp, đưa lên công luận.

Đám côn đồ đã kéo ra hơn hai chục tên, hành hung bất kể người nào kể cả bà già, phụ nữ...” (hết trích)

Mà trước đó, chính người dân Văn Giang đã tới biểu tình trước nhà Quốc Hội, nhưng các đại biểu vẫn luôn luôn lạnh cẳng, vẫn rủ nhau ngồi bám ghế để bàn chuyện trên mây.

Bản tin RFI hôm Thứ ba 12 Tháng Sáu 2012 loan tin:

“Hôm nay 12/06/2012, theo tin trong nước, hơn 20 nông dân Văn Giang – Hưng Yên và một phụ nữ từ Vũng Tàu đã bị công an câu lưu khi tham gia vào một cuộc biểu tình trước tòa nhà Quốc hội, để yêu cầu chính quyền trung ương giải quyết vụ án đất đai bị chủ dự án Eco Park cưỡng đoạt, với sự hỗ trợ của chính quyền tỉnh.

Theo một số trang mạng trong nước, sáng hôm nay, khoảng 300 người, chủ yếu là các nông dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên đã tập hợp trước 35, Ngô Quyền, trụ sở của Ban Dân nguyện - Quốc hội Việt Nam, để yêu cầu các đại biểu Quốc hội can thiệp. Vào cuối giờ sáng, lực lượng an ninh mang sắc phục và thường phục đã đến bắt đi gần 30 người...”(hết trích)

Có phải vì các đại biểu không có mắt để thấy, không có tai để nghe được những chuyện dưới đất của người dân? Hay có phải các quan chức chỉ muốn bàn chuyện trên mây, về thiên đường kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa?

Nhà báo Bùi Tín, trên blog riêng ở đaì VOA, qua bài viết “Làm luật hay trốn luật?” đã nói về cái gọi là Quốc Hội ưa bàn chuyện trên mây này. Ông gọi các đại biểu Quốc Hội CSVN là những người tốn luật:

“Quốc hội Việt Nam một năm họp 2 lần, xuân thu nhị kỳ, thưa thớt, hiếm hoi, đứt đoạn. Việc làm luật rất tùy tiện, tuy có kế hoạch từng năm, kế hoạch 5 năm, nhưng thật ra là cực kỳ bảo thủ, đối phó. Nét nổi bật là họ vừa làm luật lại vừa trốn luật. Họ trốn luật như trốn nợ. Nợ với dân với nước...

So với Luật về quảng cáo, Luật về tác hại của thuốc lá, Luật về xử lý vi phạm hành chính…là những đạo luật hiện đang được thông qua, với Luật về biểu tình, Luật về tự do báo chí, Luật về quyền sở hữu đất đai thì những luật nào là quan trọng, cần kíp, cấp bách hơn cả? Rõ ràng Bộ Chính trị và nhóm lãnh đạo Quốc hội chỉ đưa ra thảo luận những đạo luật thứ yếu, trong khi cố tình trì hoãn, tránh né những đạo luật cần kíp cấp bách nhất. Họ luôn đi ngược lại đòi hỏi của đông đảo quần chúng, nhất là đông đảo nông dân nước ta. Họ có trách nhiệm làm luật, lại chuyên tránh né, trì hoãn, lẩn trốn việc làm những đạo luật quan trọng nhất, khẩn cấp nhất. Họ đang tự từ nhiệm trên thực tế...” (hết trích)

Có phảỉ họ đã tự từ nhiệm trên thực tế không? Không, không phải. Người lớn tiếng chất vấn ngay trong những ngaỳ đầu xuất hiện là bà Đặng Hoàng Yến đã bị đánh văng ra rồi. Bài học thanh trừng bằng cách cạo sửa bản khai lý lịch là cú đánh dằn mặt những người mang danh đạị biểu Quốc Hội khác.

Thông điệp rất rõ ràng: Hoặc là bị đánh văng ra, hoặc là chịu vào ngồi chung bàn tiệc của quan chức Quốc Hội và bỏ mặc cho ngưòi dân bị cướp đất bởi công an và côn đồ.

Vào bàn tiệc và bàn chuyện trên mây... Đó là nhiệm vụ của Quốc Hội Thiên Đường Kinh Tế Thị Trường Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa.

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Ðá bóng thối nát

Ngô Nhân Dụng

Trên thế giới nhiều người đang đánh cá xem đội banh nào sẽ thắng giải bóng tròn Âu Châu năm nay. Những nước được nêu tên nhiều nhất là Ðức, Nga, Bồ Ðào Nha, Tây Ban Nha. Người Việt và người Trung Hoa thường tham gia cá độ hăng hái nhất.

Nhân mấy hôm nay ai cũng chăm chú theo dõi các trận đá bóng ở Châu Âu mà quên coi những tin tức khác, tòa án ở Trung Quốc đã đem hai cán bộ cao cấp lãnh đạo ngành bóng đá Trung Quốc ra xử tù. Bản án được công bố tại các thành phố trong tỉnh Liêu Ninh phía Ðông Bắc, chứ không xử tại Bắc Kinh, cho nên dân mải coi đá bóng, không mấy ai quan tâm. Vì đây là một mối “quốc sỉ,” nhục nhã cho cả nước, theo báo chí bên Trung Quốc!

Hai người mới bị án từng lãnh đạo ngành đá bóng Trung Quốc là Nam Dong (Nan Yong) và Tạ Á Long (Xie Yalong), và một thủ quân của đội tuyển quốc gia, mỗi người lãnh mười năm tù rưỡi hôm Thứ Năm vừa qua. Nam Dong nối nghiệp Tạ Á Long làm chủ tịch “Trung Quốc Túc Cầu hiệp hội siêu cấp liên trại” là liên hội đá bóng hạng nhất của Trung Quốc, cả hai bị tố cáo đã ăn hối lộ. Riêng đồng chí Nam Dong còn bị phạt một triệu 500 ngàn đồng nguyên, tương đương với 235,000 đô la Mỹ. Tạ Á Long thì bị tịch thu tài sản; tất cả các món tiền hối lộ đã nuốt rồi cũng phải nhả ra, tổng cộng trị giá 900,000 đồng nguyên. Nhưng khi ra tòa ông họ Tạ phản cung; nói những bản thú tội ông đã ký trước đây là do ông bị ép buộc phải ký, sau khi bị tra tấn! Không biết có ai tra tấn không mà năm ngoái ông Tạ Á Long lên đài truyền hình trung ương khai ra rằng năm 2006 ông đã được hối lộ 200,000 đồng nguyên để “bố trí” cho đội tuyển Sơn Ðông thắng giải vô địch “Trung Siêu.” Hồi cuối năm ngoái, một giáo sư luật hình sự ở Ðại Học An Ninh đã tiên đoán hai ông Nam và Tạ chắc sẽ bị kết án tử hình để làm gương; nay chỉ bị tù là quá nhẹ!

Nhưng không phải chỉ có hai người trên phạm tội ăn hối lộ; mà tội của họ cũng không phải chỉ là tội tham nhũng không thôi.

Cuối năm 2011, một loạt các quan chức và trọng tài, cầu thủ nổi tiếng, tổng cộng 60 người đã bị đưa ra tòa. Các vụ xử đều diễn ra ở các thành phố nhỏ nằm ở phía Ðông Bắc nước Tàu. Một người nổi bật là Dương Ích Dân (Yang Yimin), ông thú tội kể từ khi làm quan chức đá bóng, năm 1995, ông đã nhận được “quà biếu” trị giá lên tới 12 triệu đồng nguyên (gần 2 triệu đô la Mỹ)! Một trọng tài nổi tiếng là Lộc Quân (Lu Jun), đã từng được mô tả là “cây còi vàng,” cho biết đã có lần được hối lộ 800,000 Mỹ kim để cho một đội thắng trong trận tranh giải quốc tế. Những vụ xử tham nhũng trong nghề đá bóng kể trên đều không cho công chúng và nhà báo tham dự, người ta chỉ biết tin qua thông tấn xã của đảng Cộng sản!

Nhưng dân hâm mộ bóng tròn trong cả nước Trung Hoa kết tội cả bè lũ cán bộ lãnh đạo “túc cầu” là đã phá hoại tất cả ngành thể thao phổ thông nhất này; chưa kể là phá hoại cả tinh thần, đạo đức trong giới thanh niên muốn bước vào các ngành thể dục thể thao!

Giới hâm mộ túc cầu đồn đãi với nhau rằng ông Tập Cận Bình, chủ tịch tương lai của đảng Cộng Sản Trung Quốc, đã tỏ ý muốn trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông các cầu thủ Trung Quốc phải mang về một cái giải túc cầu quốc tế, dù nhỏ hay lớn. Nhưng đó là một tham vọng quá lớn. Những dự án như đóng hàng không mẫu hạm, phóng vệ tinh nhân tạo, đưa người lên mặt trăng, vân vân, có vẻ dễ thực hiện đúng ngày đúng tháng. Còn thắng giải túc cầu quốc tế? Hơi khó đấy!

Hội Túc Cầu Trung Quốc đã thành lập từ năm 1924, thời Quốc Dân Ðảng cai trị nước Tàu. Năm 1931 hội này được gia nhập tổng hội đá banh thế giới FIFA. Nhưng gần đây, đội đá banh Trung Quốc chỉ được vào đấu Giải Thế Giới (World Cup) một lần, năm 2002. Và trong năm đó họ bị loại ngay vòng đầu, đấu ba trận thua cả ba! Một kỷ lục khác của họ là trong ba trận đấu đó các cầu thủ Trung Quốc không thèm đá một bàn nào khuôn thành đối thủ cả!

Có phải người Trung Quốc thể lực yếu ớt? Hay là dân chúng không thích thể thao? Không phải. Các lực sĩ của họ chiếm nhiều huy chương nhất trong Thế Vận Hội 2008 ở Bắc Kinh! Khán giả các đài ti vi đều theo dõi những trận đá banh không kể đêm ngày, không khác gì dân Mỹ coi bóng bầu dục hay bóng chày. Vậy tại sao ngành bóng đá ở Trung Quốc thảm hại như vậy?

Lý do chính là các tổ chức đá bóng toàn quốc ở Trung Quốc đầy tham nhũng, nói chung là cái gì cũng mua được, có tiền là đổi trắng thay đen, một vài bàn bóng đá thắng hay bại cũng đâu có gì là khó! Mà nạn tham nhũng sinh sôi nẩy nở là vì các quan chức trông coi ngành đá bóng đều phải do Ðảng chỉ định. Ðảng chọn người chỉ huy không cần biết đến khả năng hay đạo đức mà chỉ chú trọng đến lòng trung thành đối với cấp trên. Trong việc hành chánh, kinh tế vẫn như vậy, có lý do nào bảo ngành đá bóng không theo quy tắc đó?

Các quan chức lãnh đạo các đội banh và các trọng tài không chịu trách nhiệm với các đội banh (trên nguyên tắc các đội banh đều nằm trong tay chính quyền các cấp hay các địa phương tỉnh, thành phố, vân vân). Các cán bộ này cũng không lo báo chí soi mói tìm hiểu, không lo bị dân ghiền đá banh chỉ trích hay phản đối. Họ chỉ cần được Ðảng tín nhiệm! Vì thế, cái gì cũng có thể bán được nếu có người muốn mua! Tất cả các cầu thủ, trọng tài, cho đến chủ nhân các đội banh đều có thể đi mua hoặc bị người khác mua chuộc. Ai mua? Nhiều nhất là những người đánh cá độ.

Tất nhiên các cầu thủ cũng được mua, giám đốc các đội banh không những bán độ mà còn bán cả cái chân cầu thủ! Một cầu thủ muốn được đưa vào hàng ngũ “đội quốc gia” cũng phải hối lộ cho các quan, khoảng 110,000 đồng nguyên (tương đương 15,500 đô la) mỗi người. Có cầu thủ được hối lộ đã “vô tình” đá banh vào ngay lưới của đội mình! Cùng trong nền văn hóa tham nhũng đó, chủ nhân đội cầu của Thành Ðô đã đút tiền cho chủ nhân một đội khác để họ chịu đá lấy thua! Nhưng nhờ thế mà đội Thành Ðô được xếp vào hàng ngũ Trung Siêu Liên Trại để tiền đánh cá lên cao hơn!

Ðá banh chỉ thể hiện nền văn hóa tham nhũng tràn ngập trong xã hội. Dân Trung Quốc đã quen nghe tin các món đồ chơi cho trẻ em chứa nhiều chì quá làm hại sức khỏe, cho tới chuyện hãng sản xuất sữa Tam Lộc chứa chất độc làm chế mấy em bé. Dân chỉ còn biết riễu cợt: “Sữa Tam Lộc, độc quyền cung cấp cho Ðội tuyển Bóng đá Trung Quốc!” Cả hệ thống tham nhũng đó được đảng Cộng sản bảo vệ, che đậy, có gì thì đem “xử lý nội bộ” còn công chúng không ai được ngó tới!

Từ khi có phong trào bài trừ tham nhũng trong ngành đá bóng, đã có những đội đặt ra các quy tắc mới, thí dụ chỉ cho các cầu thủ biết mình có được dự vào trận đấu hay không trong một buổi trước trận đấu. Các cầu thủ cũng được lệnh khi đã được dự đấu thì không được dùng điện thoại di động nữa!

Cuối cùng, nguồn gốc gây ra tham nhũng, trong bóng đá cũng như trong toàn thể xã hội Trung Quốc là do một chế độ độc tài, tập trung quyền hành, không chấp nhận minh bạch, công khai. Những người nắm quyền đều có một băng đảng độc quyền lãnh đạo chỉ định; không ai chịu trách nhiệm trước công chúng. Trong xã hội không ai được bàn chuyện các quan chức làm ăn, ai hé miệng sẽ bị trừng trị!

Nghề trọng tài hái ra tiền, vì công “xếp đặt ai thua ai thắng.” Một trọng tài ra tòa vì tội ăn tiền đã thú nhận rằng chỉ có một lần ông từ chối không nhận tiền để làm cho một đội thắng trận đá. Lý do vì trước đó quan trên trong Hội Túc Cầu đã bảo ông hãy thiên vị cho đội bên kia thắng! Một trọng tài Trương Kiến Cường (Zhang Jianqiang) khai đã kiếm được 2.6 triệu nguyên (hơn 400 ngàn Mỹ kim) để xếp đặt kết quả các trận đấu. Ông kể có lần đội Thượng Hải đem biếu ông 700 ngàn nguyên, ông chia một nửa với ông Lộc Quân. Lộc Quân, người Trung Quốc đầu tiên được làm trọng tài World Cup, kể rằng ông được hối lộ tới 800,000 đô la cho một trận quốc tế. Một quan chức túc cầu, ông Dương Ích Dân (Yang Yimin) thú nhận đã được biếu quà cáp và tiền mặt trị giá 12 triệu nguyên (1.89 triệu Mỹ kim) kể từ khi ông gia nhập hàng ngũ lãnh đạo túc cầu từ năm 1995!

Có cách nào để ngành đá banh Trung Quốc thoát khỏi nạn tham nhũng, hối lộ hay không? Lần đầu tiên họ bị điều tra là năm 2007, vì cảnh sát Singapore yêu cầu công an Trung Quốc, sau khi khám phá có “bán độ” trong một trận cầu ở Singapore! Ðến lượt báo chí bên Anh loan tin các trận đấu “giao hữu” giữa đội banh Thẩm Quyến với Manchester United năm 2007 (Thẩm Quyến thua 6-0) và trận Thượng Hải với Sydney (Thượng Hải thắng) năm 2003, cả hai đều bị bán độ.

Với tình trạng tham nhũng như trên, các phụ huynh người Trung Hoa không muốn cho con đá banh nữa. Từ năm 1990 đến 2000, nước Tầu có khoảng 600,000 trẻ tham dự các đội banh chính thức. Trong 5 năm tiếp theo, con số xuống chỉ còn 180,000 thanh thiếu niên. Và vào năm 2012 các quan chức CFA ước tính còn độ 100,000.

Tình trạng túc cầu cho chúng ta hình dung được những ngành sinh hoạt khác ở Trung Quốc như thế nào. Liệu một quốc gia sống trong không khí thối nát như vậy có tương lai hay không? Họ có thể dùng hối lộ đi mua chính quyền các nước chậm tiến để khai thác rừng, biển, quặng mỏ của người ta. Nhưng họ làm sao trở thành một quốc gia mẫu mực cho các nước khác noi theo; để dậy dỗ cho Cộng sản Việt Nam về “mô hình phát triển kiểu Trung Quốc;” như họ mới họp ở Hạ Long cùng với các nhà lý luận và cán bộ tuyên giáo cao cấp nhất của đảng Cộng sản Việt Nam?

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Dân Gốc Á Tại Hoa Kỳ

Tác giả : Trần Khải
Dân gốc Á đã nhiều hơn dân gốc Mỹ Latin trong những đợt di dân mới vào Hoa Kỳ. Và dân gốc Á quý trọng hơn, so với các sắc dân khác ở Mỹ, về giá trị gia đình, về việc nuôi con, và về lao động siêng năng.

Đó là những dòng nêu lên tổng quát trong bản thăm dò thực hiện bởi Pew Research Center. Cuộc nghiên cứu và thăm dò này có tên là “The Rise of Asian Americans” (Làn Sóng Dâng Lên Của Dân Mỹ Gốc Á).

Hiện thời 2/3 di dân gốc Á thành niên mới vào Hoa Kỳ hoặc là sinh viên đaị học hoặc là đã tốt nghiệp đại học – và họ đã giúp làm cho người Mỹ gốc Á trở thành nhóm sắc tộc đông nhanh nhất, lương cao nhất và học vấn cao nhất tại Hoa Kỳ.

Bản thăm dò cũng cho thấy rằng dân Mỹ gốc Á hài lòng hơn là quần chúng tổng quát tại Mỹ về cuộc đời của họ, và về hướng đi của Hoa Kỳ, và họ đặt giá trị cao hơn về hôn nhân, về tình ba mẹ nuôi con, về lao động siêng năng và về thành công sự nghiệp.

Dân Mỹ gốc Á hiện chiếm 5.8% dân số Mỹ, tăng từ chưa tới 1% trong năm 1965, khi làn sóng di dân mới từ Châu Á khởi sự.

Năm 2010, tới 36% di dân mới vào Mỹ là gốc Á, tăng từ 19% trong năm 2000.

Những người di dân mơí thuộc gốc Mỹ Latin trong năm 2010 chiếm mức 31%, giảm từ 59% trong năm 2000.

Hoa Kỳ hiện có 18.2 triệu dân Mỹ gốc Á, trong đó 59% (và 74% trong toàn bộ Mỹ gốc Á) là di dân; phần còn lại là con cháu của các di dân từ hàng chục nước ở Châu Á, mỗi nước đều có một lịch sử và văn hóa riêng biệt.

Bất kể thuộc nhiều nhóm sắc tộc di biệt, người Mỹ gốc Á vẫn đứng riêng một cách dị biệt so với toàn bộ người Mỹ thành niên, những người mà họ vượt qua về tỷ lệ có bằng đaị học (49% đối với 28%), về lương hộ gia đình thường niên trung bình (66,000 đôla đối với 49,800 đôla) và mức thịnh vượng trong hộ gia cư (83,500 đôla đối với 68,529 đôla).

Bản phúc trình dựa vào phân tích dữ kiện kinh tế và thống kê Hoa Kỳ, và dựa vào bản thăm dò Pew từ ngày 3/1/2012 tới ngày 27/3/2012 bằng tiếng Anh và 7 ngôn ngữ Châu Á dựa trên mẫu 3,511 người Mỹ gốc Á. Bản thăm dò cũng có các mẫu đại diện những gốc dân đông nhất từ 6 nước – Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Nam Hàn, Phi Luật Tân và Việt Nam -- gộp lại là hơn 80% toàn bộ dân Mỹ gốc Á.

Về yếu tố hài lòng với cuộc đời. Người thành niên Mỹ gốc Á hài lòng hơn công chúng Mỹ bình thường về đời sống nói chung (82% đối với 75%), với hoàn cảnh tài chánh hiện nay (51% so với 35%) và với hướng đi chung của Hoa Kỳ (43% đối với 21%). Họ phần nhiều hơn là toàn bộ người thành niên Mỹ nói rằng cuộc sống của họ tốt đẹp hơn cuộc sống ba mẹ của họ vào tuổi tương đương.

Về học vấn, trong năm 2010: tới 61% các di dân gốc Á mới đây trong tuổi từ 25 tới 64 có văn bằng đạị học -- gấp đôi tỷ lệ di dân không-gốc-Á (30%), và gần gấp đôi tỷ lệ di dân gốc Á tới Mỹ ba thập niên trước (35%).

Trong năm 2010, người thành niên gốc Việt, Hàn, Hoa và “gốc Á khác” (tức là những người nguồn gốc ngoài 6 nước nêu trên) nhiều phần tỷ lệ cao hơn người thành niên Mỹ sống trong nghèo khó.

Trên nhiều chiều hướng so sánh, người Mỹ gốc Á nói hoàn cảnh ở Mỹ tốt hơn ở quê cũ của họ. Họ yêu thích Mỹ vì cơ hội kinh tế, tự do chính trị và tự do tôn giáo, chế độ xã hội với dân nghèo và nuôi trẻ em. Ngay cả khi kinh tế suy thoái hiện nay, đaị đa số Mỹ gốc Á nói họ sẽ vẫn giữ quyết định vào Mỹ nếu lựa chọn nữa.

Đa số Mỹ gốc Á (54%) nói có cuộc hôn nhân thành công là một trong những yếu tố quan trọng trong đời họ, trong khi chỉ 34% dân Mỹ nói như thế. Dân Mỹ gốc Á nhiều phần hơn toàn bộ người thành niên Mỹ là trong tình trạng kết hôn, và con của họ phần nhiều so với toàn bộ trẻ em Mỹ là sống với cả ba mẹ. Có 66% Mỹ gốc Á nói ba mẹ nên có tiếng nói ảnh hưởng về việc con mình chọn nghề, và 61% nói ba mẹ nên có nhiều hay vài ảnh hưởng về việc con mình lựa chọn người hôn phối.

Có 62% dân Mỹ gốc Á nói ba mẹ Hoa Kỳ nói chung không áp lực đủ trên con cái về chuyện nỗ lực học vấn.

Có 57% Mỹ gốc Á nói dân Mỹ nhìn chung là người siêng lao động. Nhưng 93% nói như thế về người cùng nguồn gốc của mình.

Có 62% nói rằng họ tự nhận căn cước gốc của họ thường nhất bằng các sử dụng quê cũ của họ (thí dụ, tự xem là người Việt hay người Mỹ gốc Việt).

Chỉ có 19% là thường tự nhận nhãn hiệu “gốc Á” hay “Mỹ gốc Á” khi mô tả về họ, và chỉ 14% tự nói là “người Mỹ.”

Chỉ 39% trong toàn bộ Mỹ gốc Á tự nghĩ họ là “người Mỹ điển hình,” trong khi người Mỹ gốc Á sinh tại Mỹ có 65% tự mô tả mình là “dân Mỹ điển hình.”

Khoảng 53% di dân Mỹ gốc Á nói là họ nói tiếng Anh lưu loát; nhưng người sinh ở Mỹ có 95% nói như thế.

Trong toàn bộ người Mỹ gốc Á, có phân nửa là (hay thân với) Đảng Dân Chủ, chỉ 28% tự nhận (hay nghiêng về) Đảng Cộng Hòa.

Có 54% Mỹ gốc Á ủng hộ Barack Obama thực hiện vai trò Tổng Thống, nhưng 29% không đồng ý. Trong khi đó, dân Mỹ tổng quát 44% ủng hộ Obama, 48% chống.

Đó là những ý chính trong bản nghiên cứu và khảo sát Pew.

Trần Khải

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Đổi Thay Hay Bị Đào Thải

Tác giả : Vi Anh

Đảng CSVN đang làm một chuyện buồn cười, “giao nhiệm vụ” cho Ô. Đào Ngọc Dung một người từng bị bắt gian lận thi cử, bị khiển trách, đi Bắc Mỹ “nắm tình hình công tác xây dựng Đảng và công tác vận động quần chúng, cộng đồng ở ngoài nước” để “triễn khai nghị quyết Đảng [CSVN]”.

Năm 2006 khi làm bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản HCM, Ông Đào Ngọc Dung bị “phát hiện” đánh bùa, quay bài trong kỳ thi tuyển “nghiên cứu sinh tại Học viện hành chính quốc gia” và bị khiển trách. Nhưng là một phù thủy trong thâm cung CS, chẳng những Ông không hề hấn gì mà còn được điều qua ba chức vụ quyền thế ngon lành hơn. Đó là “Bí thư Ban cán sự đảng của đảng bộ nước ngoài” kiêm phó trưởng ban thường trực Ban chỉ đạo Tây Bắc rồi Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái”. Trong Đại hội Đảng lần thứ 11 vào đầu năm 2011, Ông được đề cử vào Ban Chấp hành trung ương, rồi được phân công làm bí thư Đảng bộ khối các cơ quan trung ương.

Và bây giờ Ông cầm đầu phái đòan đi Bắc Mỹ để “triễn khai nghị quyết Đảng”. Bắc Mỹ là nơi có nước Mỹ hơn phân nửa người Việt tỵ nạn CS trên thế giới định cư, là đệ nhứt siêu cường đang dồn dập trở lại Đông Nam Á châu.

Đại sứ, tổng lãnh sự, tùy viên, cán bộ ngọai giao của các tòa đại sứ, tổng lãnh sự, bộ phận ngọai giao ở Liên Hiệp Quốc ở hai nước giàu có ở Bắc Mỹ là Canada và Mỹ đều phải nễ mặt Ông, ngồi im thinh thít, nghe Ông “lên lớp” triễn khai nghị quyết. Vì Ông theo thông tấn xã của VNCS, là trưởng phái đòan, một trung ương ủy viên về đảng cấp, là Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương về chức vụ. Theo Ông còn có các cán bộ lãnh đạo của văn phòng trung ương Đảng, Đảng ủy ngoài nước và Thanh tra chính phủ.

Chương trình làm việc của phái đòan do Ông cầm đầu tại Canada từ ngày 4/6 và Mỹ từ ngày 8/6, tại New York, Washington và San Francisco cho đến ngày 14/6.

Bên cạnh “triễn khai nghị quyết Đảng”, Ô. Dung và phái đòan còn vận động cộng đồng người Việt ở Canada và Mỹ.

Theo tin TTX/ VNCS, phái đòan phổ biến nghị quyết 4 của trung ương Đảng CSVN: xây dựng Đảng là cực kỳ quan trọng; nhiệm vụ chính trị của Đảng ngày càng “nặng nề, khó khăn” nên đòi hỏi Đảng phải nâng cao “sức chiến đấu”; sự “chống phá sự nghiệp đổi mới” của “các thế lực thù địch”.

Và Nghị quỵết kết luận chỉnh đốn Đảng là “có ý nghĩa sống còn” đối với Đảng cũng như chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Và người Việt hải ngọai vẫn là kẻ thù số 1 trong “lực lương thù địch”.

Trung ương Đảng CSVN chọn Bắc Mỹ, cụ thể là Canada nhứt là Mỹ để “triễn khai nghi quyết 4”- không phải không có lý do thiết yếu. Mỹ là lá chắn cho các nước Đông Nam Á trước đà TC bành trướng và xâm chiếm biển đảo của các nước trong vùng.

Đảng CSVN đang đứng trước những thách thức phải đổi thay hay bị đào thải. Thách thức phải đổi thay chánh trị này tính sanh tử hơn thách thức đổi thay kinh tế sau khi Liên xô và Đông Âu CS sụp đổ. CSVN phải đổi thay hay bị đào thải.

CSVN đang bị áp lực của nhân dân VN đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền và bảo vệ bờ cõi. Một cuộc đổi thay từ từ tiến tới như các cuộc cách mạng nhung ở Đông Âu thời Chiến Tranh Lạnh hay như Mùa Xuân Á rập ở Bắc Phi và Trung Đông thời Tin Học tạo ra. Khó mà tiên đóan lúc nào, một năm, một tháng; ở đâu từ Hà nội, Saigon, do trong Đảng, quân đội, hay ngòai dân. CIA tiền rừng bạc biển cũng không biết các cuộc cách mạng làm sụp đổ Liên xô, Đông Âu CS xưa kia. So với Đông Âu khi xưa và Bắc Phi và Trung Đông bậy giờ, tình trạng người dân VN hết sợ CS độc tài, tình trạng bất mãn của dân chúng đối với giai cấp thống trị đã quá chín muồi cho một cuộc cách mạng ở VN rồi.

Nhứt là trước cảnh TC xâm lấn VN, CS Hà nội quá lúng túng, gần như nhu nhược, khiến dân chúng thêm lý do phải thanh tóan vật cản để bảo vệ Tổ Quốc. Cái phao cứu sinh Mỹ đã thẩy ra rồi, nhưng CS Hà nội sợ đi với Mỹ thì mất Đảng, mà đi với TC thì mất đất, mất dân. Còn Mỹ cũng kẹt không thể “phát triễn đối tác chiến lược” an ninh, quốc phòng với CS Hà nội được, không bán vũ khí cho CSVN được vì kẹt vấn đề nhân quyền. Đúng ra là kẹt nhà cầm quyền VN là CS vì CS là độc tài đảng trị tòan diện khắc tinh của tự do, dân chủ hai thuộc tính căn bản của nhân quyền. Trong bang giao của Mỹ, Mỹ chưa có một đồng minh CS, chế độ CS chỉ đối tác ngọai giao, giao thương với Mỹ thôi.

Đối nội, chính CSVN cũng thấy “bản thân” mình và dân chúng thì quá biết CSVN đã mất thế chính danh để lãnh đạo đất nước và nhân dân. Kinh tế VN bây giờ không còn một chút dấu vết CS, trở thành một thứ tư bản hoang dã, điều mà chủ nghĩa CS coi là kẻ thù chẳng đội trời chung.

Mâu thuẩn giữa ý thức hệ CS (theo định hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế lẫn chánh trị) và thực tiễn của cuộc sống trở thành khắc nghiệt, không còn có thể cải tổ, sửa chữa gì được nữa. Chế dộ CS Hà nội đang độ bắt lửa nổ bùng hay nổ chụp. Hố sâu ngăn cách nghèo giàu giữa giai cấp thống trị, đảng viên CS thành tư bản đỏ ở thành thị và cường hào ác bá đỏ ở nông thôn, quá sâu sắc. Tham nhũng thành quốc nạn.

Dân nghèo ở nông dân và thành thị hết phương cứu chữa, bất mãn tràn lan mọi nơi, phẩn nộ khắp chốn.Nông dân bất mãn là thành phần nguy hiểm cho CS. Công nhân bị bóc lột cũng thế. Trí thức và đảng viên lão thành thấy công sức chiến đấu của mình bị “mấy thằng cơ hội ranh con phản bội”. Tiêu biểu là Tướng Võ Nguyên Giáp. Không ít người trở thành ly khai, đối thủ của đảng viên cầm quyền.

Đảng CS mất uy thế, tín lực với nhân dân phải vận dụng công an, cảnh sát đề cai trị, chế độ chánh quyền “nhân dân” theo tuyên truyền trở thành chế độ cảnh sát trị. Trên thế giới này không có nhà cầm quyền nào tồn tại với sự bảo vệ của công an, cảnh sát. Không có chế độ tham nhũng nào trường tồn. Trước sau cũng chết họăc vì suy tàn sụp đổ hay vì bị lật đổ - một lọai đào thải tất yếu của lịch sử.

Còn đối ngọai, đồng chí TC trở thành quân Tàu ngọai xâm về kinh tế, chánh trị. Còn Mỹ đối tác ngọai giao, kinh tế bề ngòai, nhưng bề trong Washington và Hà nội vẫn còn những vết hằn thú hận. Tương quan mọi mặt hai bên là “bằng mặt nhưng không bằng lòng”.

Ngoại giao, làm kinh tế bên ngòai với CS Hà nội, nhưng chính khách Mỹ, tình báo Mỹ trong bụng chờ đợi âm thầm tạo điều kiện cho một sự thay đổi chế độ và nhà cầm quyền cựu thù của mình, một chế dộ CS độc tài đảng trị tòan diện, mà nhân dân Mỹ không bao giờ ưa; ở Mỹ gọi ai là “xã hội chủ nghĩa” là mắn người ta rồi. Nhân dân và chánh quyền Mỹ sẽ vui hơn, hết bị mặc cảm thua trận nếu nhà cầm quyền CS Hà nội suy tàn, sụp đổ hay bị lật đổ.

Còn CS Hà nội cũng vậy, lối mòn suy nghĩ chống Mỹ vẫn còn. Thâm tâm người CSVN đinh ninh như thời du kích ở Miển Nam,đồ Mỹ tốt cứ xài, chống Mỹ cứ chống. Tình đồng chí CS với TC đang CS và Nga hậu CS không bỏ. Nên CS Hà nội đi đu dây giữa Mỹ và TC. CS Hà nội biến người dân Việt yêu nước thành kẻ thù của mình. Mặt trận nhân dân VN chống đối CS độc tài, tham nhũng, bóc lột, đàn áp dân thêm sức mạnh của tinh thần bất khuất của người Việt chống quân Tàu xâm lược và bọn mãi quốc cầu vinh.

CS Hà nội, Đảng Nhà Nước CSVN vì thế đang đứng trước những thách thức sanh tử: họăc đổi thay hay bị đào thải./.

daudua
Posts: 77
Joined: Sat Oct 10, 2009 6:05 am

Post by daudua »

Cần gây phong trào chống ma túy

Ngô Nhân Dụng

Một người ở Hà Nội vào thăm Sài Gòn viết thư kể anh vừa trải qua một cơn hoảng hốt: “Có việc phải chạy vòng Hồ Con Rùa ra Trần Cao Vân quẹo trái Hai Bà Trưng đi về ngả Tân Ðịnh. Vừa đi một tí là thấy phất phới lá cờ Ngũ Tinh trong sân một tòa nhà to lớn. Hóa ra, đó là tòa Lãnh Sự Quán Trung Quốc mới dọn về, chiếm ngụ ngôi nhà sứ quán Ðài Loan cũ!”

Ông bạn này chỉ phản ảnh một “cơn sốt” lo lắng về Trung Cộng trong dư luận người Việt Nam hiện nay. Một nhà báo khác nói cụ thể hơn: “Cho đến lúc này Trung Cộng đã dấn sâu vào Việt Nam. Trung Cộng đã cột chặt Việt Nam vào quyền lực Trung Cộng qua viện trợ, đầu tư và cả người của Bắc Kinh từ trung ương cho đến tỉnh và thành phố. Trong số 18,000 xí nghiệp vừa của Việt Nam, người Trung Quốc (Hán Ðỏ) chiếm từ 80%-90% vốn hoặc trực tiếp hoặc dưới tên vợ bé nàng hầu người Việt. Họ còn nắm lấy các “gói thầu” trong các công trình xây dựng lớn. Người của tổng cục tình báo Hoa Nam lúc nhúc trong hệ thống quyền lực ...”

Tôi không biết nhà báo này lấy các con số và tin tức trên từ đâu ra, hay anh chỉ nhắc lại những lời đồn đãi đang phổ biến trong dân Việt! Những tin tức khó kiểm chứng này đang lan truyền khắp nơi, vì ai cũng lo ngại áp lực của Bắc Kinh trên nước ta. Ngay trên các tờ báo do đảng Cộng Sản cầm đầu cũng thổi cơn sốt tăng nhiệt độ khi loan tin người “Hán Ðỏ” khai thác bè nuôi cá ngay cạnh căn cứ quân sự Cam Ranh! Ðiều đáng mừng là trong cơn sốt lo lắng này người mình vẫn tỉnh táo; nhờ tỉnh táo nên vẫn phân biệt những người “Hán Ðỏ” từ Trung Quốc mới qua, tách biệt ra khỏi tập thể người Việt gốc Hoa, những người đã sống nhiều đời ở nước ta, đã trở thành công dân Việt Nam! Ðọc lịch sử chúng ta không quên có những người Việt gốc Hoa đã chống chính quyền Trung Quốc thời phong kiến, như Lý Bôn, như Trần Cảnh!

Nói chung, những điều khiến người Việt đang nhìn vào các lãnh vực viện trợ, đầu tư, đấu thầu, để thấy mối lo về sự xâm nhập của người Trung Quốc vào Việt Nam; bên cạnh những hành động gây hấn trên biển, đảo.

Nhưng có một mối lo lớn ít được nhắc tới, là nạn ma túy đã lan tràn ở nước ta từ hàng chục năm qua; đó là mối đe dọa lớn nhất đối với tương lai dân tộc, còn nguy hiểm hơn tất cả những cuộc xâm lăng quân sự, thương mại hay khai thác đất, rừng, biển!

Lâu nay báo chí do đảng Cộng Sản Việt Nam kiểm soát không loan tin về nạn ma túy, có lẽ một phần vì đối với độc giả thì đó là một loại “chuyện bình thường ở huyện”. Nhiều đồng bào sống ngoài Bắc nhận xét là gần một nửa thanh niên các thành phố đã lâm cảnh ghiền ma túy! Ở Móng Cái, Hải Phòng, tỷ lệ còn cao hơn! Không mấy ai không biết một gia đình có con mắc bệnh ghiền!

Năm ngoái, nhờ báo ngoại quốc chúng ta mới biết mấy con số: Năm 2000 ở Việt Nam có 56 trung tâm cai bệnh nghiện ma túy, đến năm 2010 đã tăng lên thành 123 trung tâm! Trong vòng 10 năm mà số trung tâm chữa bệnh ghiền tăng lên gần gấp đôi! Những tin tức về thanh niên ghiền ma túy ở Việt Nam được báo chí quốc tế chú ý sau khi có tin hơn 600 thanh niên phá “nhà tù” cai nghiện vào Tháng Năm năm 2010 ở ngoài thành phố Hải Phòng. Báo chí ngoại quốc cũng báo động người tiêu thụ nước họ về nạn cưỡng bách lao động, sử dụng các thanh niên đang cai nghiện trong các xưởng chế hóa hạt điều để xuất cảng. Họ kêu gọi tẩy chay hạt điều của Việt Nam vì sử dụng lao động cưỡng bách! Nhờ các nguồn tin họ thâu thập chúng ta được biết thêm là các trung tâm cai bệnh nghiện ma túy chẳng có hiệu quả bao nhiêu: Trong số những thanh niên được tự do sau tối hiểu hai năm “trị bệnh,” sau khi được thả ra có 80% đến 90% lại bị ghiền trở lại! Chưa kể là chính guồng máy phụ trách cai nghiện cũng đầy những đồng lõa với bọn buôn ma túy, cung cấp thuốc cho các “tù nhân”.

Chúng ta không biết chính quyền Trung Quốc có khuyến khích việc sử dụng ma túy ở nước khác hay không; nhưng chắc chắn các đường dây buôn ma túy vào nước ta đi qua lãnh thổ nước láng giềng phương Bắc! Bao nhiêu phạm nhân ra tòa về tội buôn ma túy đều khai đã chuyển thuốc về qua đường biên giới. Thuốc phiện từ vùng Tam Giác Vàng có thể đi qua Trung Quốc hoặc Lào trên đường tới Việt Nam! Không biết guồng máy công an Việt Nam đang làm gì mà để cho ma túy hoành hành như vậy?

Dù chính quyền Trung Quốc hoàn toàn không dính lứu gì đến các tổ chức buôn ma túy này nhưng các “thương nhân” Trung Quốc cũng đủ sức tổ chức các mạng lưới buôn lậu đi từ miền Bắc Miến Ðiện, Thái Lan đến nước Việt Nam! Trên đường, họ dư sức mua chuộc các người phụ trách những nút chặn ở biên giới Việt-Trung hay Lào-Việt. Những người Trung Quốc sang Việt Nam làm bè nuôi cá ở quân cảng Cam Ranh có thể hoàn toàn chỉ vì chính họ thấy dễ làm ăn và có lợi lớn thì họ tự ý đầu tư; họ không cần theo chính sách nào của chính phủ Bắc Kinh cả. Những người buôn lậu ma túy cũng vậy, nếu mua chuộc được để bán ma túy ở đâu được là họ tới liền, không cần chính quyền nào mách bảo! So sánh với mạng lưới buôn ma túy này thì những nhà thầu khai tác rừng, biển là những “người khách” rất hiền lành tử tế!

Nhưng các chính quyền độc tài mang óc bành trướng không bao giờ ngần ngại khuyến khích việc dùng ma túy ở nước khác để thi hành thủ đoạn xâm lấn của họ. Làm sao cho thanh niên một nước sa ngã vào vòng ma túy là phương pháp xâm lược chắc chắn nhất!

Trong lịch sử, bọn quân phiệt Nhật Bản đã thi hành thủ đoạn đó ở Mãn Châu trong thập niên 1930. Nước Nhật Bản biết cái hại của ma túy, sau khi chứng kiến người Trung Hoa bị nạn này tiêu hủy hết sinh lực. Năm 1858, trước thời Minh Trị chấp chánh, Nhật đã ký hiệp ước với đế quốc Anh yêu cầu người Anh không được đem á phiện vào nước Nhật. Năm 1926, khi Thiên Hoàng Hirohito lên ngôi, ở Mỹ cứ 3,000 dân là có một người nghiện, còn ở Nhật chỉ có một người nghiện trong số 17,000 dân. Người Nhật cũng rất giỏi trong việc bài trừ ma túy. Năm 1895 Nhật chiếm Ðài Loan, lúc đó 14% dân cư đảo này hút thuốc phiện. Chính quyền đô hộ Nhật đã nỗ lực bài trừ ma túy, đến năm 1935 số người nghiện chỉ còn là 1% dân số Ðài Loan.

Nhưng từ đầu thập niên 1920 Nhật Bản đã có chủ trương chiếm Mãn Châu, thành lập một Mãn Châu Quốc đặt ông vua bù nhìn Phổ Nghi lên. Ðạo quân Quang Ðông của Nhật đang chiếm đóng một khu miền Ðông Bắc Trung Quốc đã lẳng lặng cho phép bọn con buôn ma túy Nhật đưa thuốc phiện vào Mãn Châu. Năm 1931, khi quân Nhật chiếm thủ phủ Mukden (bên thành phố Trường Xuân bây giờ), họ khuyến khích người Mãn hút thuốc phiện bằng đủ cách. Các nhà hút thuốc được mở ra. Thanh thiếu niên được mua thuốc với giá rẻ, cũng như những người mới thử hút lần đầu được mua thuốc với giá “khuyến mãi”. Chính quyền quân phiệt Nhật lập ra những quán nhỏ chích thuốc bên lề đường trong trung tâm thành phố. Một phóng viên Mỹ đã thử, tới trả tiền, xắn tay áo thò cánh tay vào và được chích thuốc, mà không cần nhìn thấy mặt người chích cho mình! Vào năm 1931, theo thống kê của Hội Quốc Liên thì cứ 120 người Mãn có một người hút thuốc phiện; đến năm 1938 số người nghiện vụt lên tăng gấp ba lần, cứ 40 dân Mãn có một người nghiện! Ngoài việc “truyền bá” thuốc phiện chính quyền quân phiệt Nhật còn khai thác cả những “dịch vụ” khác như mãi dâm, cờ bạc. Tất cả đều nhằm hủy hoại ý chí dân bản xứ, trong lúc mưu đồ chiếm Mãn Châu để khai thác các tài nguyên phục vụ cho công nghiệp nước Nhật!

Hiện nay đã có nhiều người Trung Quốc đang di cư sang các thành phố gần biên giới ở Miến Ðiện, Lào, và Việt Nam, khai thác các trung tâm cờ bạc và mãi dâm. Họ chỉ cần mua chuộc được những viên chức địa phương, và được chính quyền trung ương các nước đó ngoảnh mặt làm ngơ, là tha hồ phát triển việc kinh doanh kiếm lợi!

Chúng ta không tin rằng một chính quyền Trung Quốc nào bây giờ lại sử dụng một chính sách xâm lấn ghê tởm như bọn quân phiệt Nhật vào thế kỷ trước. Nhưng nạn ghiền ma túy trong giới thanh thiếu niên ở nước ta có thật và rất trầm trọng. Không cần một nước ngoài nào chủ trương hay thúc đẩy, chính mạng lưới buôn ma túy ở trong nước Việt Nam cũng đủ làm suy yếu sinh lực của dân tộc Việt. Và bọn con buôn ma túy quốc tế, bọn kinh doanh cờ bạc và mãi dâm quốc tế phải nhìn thấy đây là một mối lợi khổng lồ, bỏ qua rất uổng!

Cho nên người Việt Nam phải tự động phát khởi một phong trào chống ma túy để cứu lấy thế hệ thanh niên bây giờ. Các tổ chức thanh niên ở Việt Nam phải phát động ngay một phong trào chống ma túy, giáo dục thanh thiếu niên bài trừ ma túy, từ trong trường học tới các khu phố. Khi thanh thiếu niên được tự do gia nhập những tổ chức giáo dục, thể thao, văn nghệ, thì chính họ sẽ tạo ra những môi trường lành mạnh để giúp các bạn trẻ khác khỏi sa ngã vào đường nghiện ngập.

Hiện nay đã có những đoàn thể thanh niên được phép hoạt động, dưới bóng các tôn giáo, như Gia Ðình Phật Tử, Hùng Tâm Dũng Chí, vân vân. Hướng Ðạo Công Giáo cũng đang hoạt động trong khuôn khổ các nhà thờ. Nhiều người đã ký kiến nghị yêu cầu tái lập Hội Hướng Ðạo Việt Nam, một tổ chức giáo dục thanh niên quốc tế rất ích lợi, đã bị xóa bỏ ở miền Bắc từ năm 1954 và sau năm 1975 ở miền Nam. Những đoàn thể thanh niên tự nguyện và tự do phải được phép hoạt động thì mới giúp giới trẻ tránh xa cảnh nghiện ngập, và sẽ xây được nền tảng cho một xã hội công dân năng động sau này.

Thanh niên Việt Nam phải ý thức mối họa ma túy đang hủy hoại sức sống của cả dân tộc. Lo lắng về sự xâm nhập của những lái buôn Trung Quốc sang khai thác nước ta, mua chuộc các quan chức cai trị dân ta; đó là một mối lo có lý do chính đáng. Nhưng đừng quên mối họa ma túy đang lan tràn, còn nguy hiểm gấp nhiều lần ảnh hưởng của người ngoại quốc. Trước nạn ma túy, người Việt Nam phải tự cứu lấy tuổi trẻ nước mình, không thể trông chờ vào ai khác.

Post Reply