Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Khi Con Cháu Hỗn
Bạn thân,
Chuyện con cháu hỗn với ba mẹ bây giờ đã thường gặp hơn. Mà có điều lạ, trẻ em Miền Nam ít hỗn với ba mẹ hơn là trẻ em Miền Bắc. Nói thế là nhìn chung thôi, vì vẫn là cá biệt. Nhưng các nhà nghiên cứu xã hội cần để tâm chuyện naỳ, vì khi con chaú bất kính ba mẹ, nghĩa là xã hội bị đảo lộn. Hay ít nhất, cái chúng ta học hồi nhỏ là “Tam Cương” -- tức là ba giềng mối phải tôn kính: Quân, Sư, Phụ... tức là Vua, Thầy, và Ba Mẹ... -- không còn được giữ gìn nữa.
Có phải đó là hậu quả rơi rớt của một thời đấu tố ở Miền Bắc? Hay là di hại văng miểng từ cái gọi là Cách Mạng Văn Hóa ở bên Tàu? Hay chỉ đơn giản, rằng chính phủ không còn bận tâm đaọ đức nữa, cứ để mặc cho vui chơi xả láng để an lòng dân? Nhưng may mắn, ngay cả thiếu niên cũng có em nhận ra rằng hỗn với ba mẹ là hỏng.
Thí dụ như báo Pháp Luật Xã Hội trong một số báo đầu tháng 2-2012, đã có bài của 1 người trẻ bày tỏ nhức nhối hiện tượng hỗn với ba mẹ. Bài tựa đề “Nhức nhối chuyện teen phát ngôn hỗn xược với người lớn” của Hồng Ngọc & Ái Nhi ngày 7/2/2012, trong đó có những dòng thiết tha:
“...Nghĩ về mẹ, hẳn bạn sẽ thấy ấm áp trong tim lắm lắm. Vậy mà, thử nghĩ xem, đã có một teen girl Việt chửi... mẹ ruột của mình, với những lời lẽ rất tục tĩu đấy, bạn ạ. Khó ai tin được rằng chủ nhân của những câu chửi hỗn xược này lại được phát ngôn từ một bạn gái. Bất cứ ai khi đọc dòng status này đều "choáng" khi cô bạn này phát ngôn rất xấc xược. Nói bậy, chửi tục dù là với bạn bè đồng trang lứa thì vẫn rất khó chấp nhận rồi, huống hồ cô bạn này còn chửi mẹ ruột của mình...
...bạn sẽ còn "sốc" hơn nhé, khi mới đây thôi, một bạn nữ khá dễ thương và xinh xắn khác lại viết những câu status Facebook đầy giận dữ và chửi bới... cô giáo chủ nhiệm của mình. Teen girl này đã chửi cô giáo bằng những câu từ rất khó chấp nhận: "óc heo", "cái loại bà", "ngậm mồm vào"... Đạo lí "Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy" đâu rồi? Truyền thống "Tôn sư trọng đạo" từ muôn đời nay của người Việt đâu mất rồi? Đọc câu status này, bất giác, chúng mình không còn cảm thấy "sốc", thấy "choáng", mà thấy buồn thay cho một người cô quan tâm đến ý thức và thái độ học tập của cô học trò nhỏ, sát sao với tình hình học sinh của mình, vậy mà lại bị những lời lẽ hỗn xược xúc phạm như thế. Rồi thấy giận nữa, giận bạn gái này sao có ăn, có học đàng hoàng, vậy mà cách ứng xử và nói năng thì còn không bằng những em học trò nghèo không được đến lớp, đến trường nhưng vẫn yêu quý cô giáo của mình hết mực. Bạn ơi, bạn có biết, không có thầy cô dạy dỗ, thì làm sao chúng ta có thể hiểu biết, lớn khôn và vững chãi khi ra ngoài đời?”
May mắn, cực kỳ may mắn còn có những thiếu nữ nhìn ra tai họa hỗn laó với ba mẹ, với thầy cô. Tuổi trẻ Việt Nam có thể không hiểu ý nghĩa Tam Cương như thời chúng ta hiểu, vì các em không học kiểu như thời mình học Luận Ngữ của ông Khổng Tử, nhưng chắc chắn đây là điểm ẩn tàng lương tâm của nhân loạị.
Tự trong lòng đã biết ngay phải trái, đúng sai... rồi. Hay có thể phần nào như thế. Hãy tin vào thế hệ trẻ, những người tự tránh khỏi những sai lầm của thế hệ...
Chuyện con cháu hỗn với ba mẹ bây giờ đã thường gặp hơn. Mà có điều lạ, trẻ em Miền Nam ít hỗn với ba mẹ hơn là trẻ em Miền Bắc. Nói thế là nhìn chung thôi, vì vẫn là cá biệt. Nhưng các nhà nghiên cứu xã hội cần để tâm chuyện naỳ, vì khi con chaú bất kính ba mẹ, nghĩa là xã hội bị đảo lộn. Hay ít nhất, cái chúng ta học hồi nhỏ là “Tam Cương” -- tức là ba giềng mối phải tôn kính: Quân, Sư, Phụ... tức là Vua, Thầy, và Ba Mẹ... -- không còn được giữ gìn nữa.
Có phải đó là hậu quả rơi rớt của một thời đấu tố ở Miền Bắc? Hay là di hại văng miểng từ cái gọi là Cách Mạng Văn Hóa ở bên Tàu? Hay chỉ đơn giản, rằng chính phủ không còn bận tâm đaọ đức nữa, cứ để mặc cho vui chơi xả láng để an lòng dân? Nhưng may mắn, ngay cả thiếu niên cũng có em nhận ra rằng hỗn với ba mẹ là hỏng.
Thí dụ như báo Pháp Luật Xã Hội trong một số báo đầu tháng 2-2012, đã có bài của 1 người trẻ bày tỏ nhức nhối hiện tượng hỗn với ba mẹ. Bài tựa đề “Nhức nhối chuyện teen phát ngôn hỗn xược với người lớn” của Hồng Ngọc & Ái Nhi ngày 7/2/2012, trong đó có những dòng thiết tha:
“...Nghĩ về mẹ, hẳn bạn sẽ thấy ấm áp trong tim lắm lắm. Vậy mà, thử nghĩ xem, đã có một teen girl Việt chửi... mẹ ruột của mình, với những lời lẽ rất tục tĩu đấy, bạn ạ. Khó ai tin được rằng chủ nhân của những câu chửi hỗn xược này lại được phát ngôn từ một bạn gái. Bất cứ ai khi đọc dòng status này đều "choáng" khi cô bạn này phát ngôn rất xấc xược. Nói bậy, chửi tục dù là với bạn bè đồng trang lứa thì vẫn rất khó chấp nhận rồi, huống hồ cô bạn này còn chửi mẹ ruột của mình...
...bạn sẽ còn "sốc" hơn nhé, khi mới đây thôi, một bạn nữ khá dễ thương và xinh xắn khác lại viết những câu status Facebook đầy giận dữ và chửi bới... cô giáo chủ nhiệm của mình. Teen girl này đã chửi cô giáo bằng những câu từ rất khó chấp nhận: "óc heo", "cái loại bà", "ngậm mồm vào"... Đạo lí "Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy" đâu rồi? Truyền thống "Tôn sư trọng đạo" từ muôn đời nay của người Việt đâu mất rồi? Đọc câu status này, bất giác, chúng mình không còn cảm thấy "sốc", thấy "choáng", mà thấy buồn thay cho một người cô quan tâm đến ý thức và thái độ học tập của cô học trò nhỏ, sát sao với tình hình học sinh của mình, vậy mà lại bị những lời lẽ hỗn xược xúc phạm như thế. Rồi thấy giận nữa, giận bạn gái này sao có ăn, có học đàng hoàng, vậy mà cách ứng xử và nói năng thì còn không bằng những em học trò nghèo không được đến lớp, đến trường nhưng vẫn yêu quý cô giáo của mình hết mực. Bạn ơi, bạn có biết, không có thầy cô dạy dỗ, thì làm sao chúng ta có thể hiểu biết, lớn khôn và vững chãi khi ra ngoài đời?”
May mắn, cực kỳ may mắn còn có những thiếu nữ nhìn ra tai họa hỗn laó với ba mẹ, với thầy cô. Tuổi trẻ Việt Nam có thể không hiểu ý nghĩa Tam Cương như thời chúng ta hiểu, vì các em không học kiểu như thời mình học Luận Ngữ của ông Khổng Tử, nhưng chắc chắn đây là điểm ẩn tàng lương tâm của nhân loạị.
Tự trong lòng đã biết ngay phải trái, đúng sai... rồi. Hay có thể phần nào như thế. Hãy tin vào thế hệ trẻ, những người tự tránh khỏi những sai lầm của thế hệ...

Nghề bán dâm trong thành phố ‘Bác’
Tạp ghi Huy Phương
Trước hết chúng tôi xin độc giả phân biệt tiếng “mại” là bán, “mãi” là mua, trong danh từ Hán Việt, để phân biệt hai giới “bán dâm” (gái làng chơi) và “mua dâm” (giới mua hoa).
Kỹ nghệ mại dâm tại thành phố Hồ Chí Minh là chủ đề trong hai bản văn: “Economies of Emotion, Familiarity, Fantasy, and Desire: Emotional Labor in Ho Chi Minh City's Sex Industry” và “She's Not a Dirty Low Class Girl: Sex Work in Ho Chi Minh City,” của Tiến Sĩ Kimberly Kay Hoàng. Công trình này đã đoạt giải luận văn sinh viên cao học tại các đại học Cornell (2008), UC Berkeley (2010) và những giải thưởng khác của The American Sociological Association (ASA) 2012, Cheryl Allyn Miller Award (Sociologists for Women in Society (SWS). Tác giả Kimberly Hoàng tốt nghiệp cử nhân về Communication & Asian American Studies tại đại học UC Santa Barbara, xã hội học tại Ðại Học Stanford trước khi hoàn tất học trình tiến sĩ Xã hội học (chú trọng về phụ nữ, giới tính và tình dục) tại đại học UC Berkeley.
Tác giả đã thực hiện bảy tháng nghiên cứu tại chỗ trong ba lần - từ giữa tháng 6 năm 2006 đến tháng 8 năm 2007 tại thành phố Hồ Chí Minh (tên cũ Saigon). Ba khu vực được tác giả chú trọng đến là khu mại dâm dành cho đàn ông Việt Nam ít tiền, khu mại dâm dành cho khách người da trắng nước ngoài, và khu vực mại dâm dàng riêng cho đàn ông Việt kiều. Tác giả đã quan sát, thu thập dữ liệu và đóng vai người trong cuộc để tiếp cận chuyện trò, phỏng vấn, sinh hoạt với phụ nữ hành nghề cũng như khách mua dâm ở quán bar, cà phê, nhà riêng, tiệm ăn, cửa hàng thương mãi và trên đường phố và tác giả đã phân loại thành ba thành phần rõ rệt: mại dâm hạ cấp, trung cấp và cao cấp.
Những người bán dâm thuộc thành phần “hạ cấp” này tự nhận họ là những người đàn bà ở tận cùng dưới đáy xã hội, hầu hết là những người mẹ độc thân, tuổi từ 29 đến 60, nghèo đói, ít học và kém nhan sắc. Những phụ nữ này chạy từ thôn quê lên, đã qua một thời gian đi làm công nhân hay buôn bán lẻ, hành nghề để thoát khỏi cảnh đói nghèo, tuy mỗi lần đi khách chỉ có 3 đô la. Số tiền thu nhập tuy vậy còn khá và nhàn hạ hơn đi làm vất vả trong tiệm ăn, hớt tóc hay giúp việc nhà. Họ không có tiền để son phấn hay ăn mặc đẹp, lợi tức ít ỏi dành cho cả vào việc trả tiền nhà, tiền chợ, cho con ăn học. Nơi hành nghề của họ là tiệm hớt tóc, quán cà phê, động mãi dâm trá hình... Khách của họ những người Việt làm nghề lao động ít tiền, “một anh xe ôm lâu ngày không tắm hay một ông già hôi rình,” và những phụ nữ này chấp nhận thủ dâm, khẩu dâm, bất đắc dĩ mới “giao hợp” vì nhiều khi họ không đủ tiền mua một bao cao su. Khi mới vào nghề, hầu hết đều bị nôn mửa vì sự dơ dáy của khách và đã từng ôm nhau khóc vì tủi thân. Họ làm nghề này một cách tự nguyện chỉ vì muốn ra khỏi cảnh nghèo đói.
Theo tác giả Kimberly Kay Hoàng, mại dâm trung cấp xảy ra ở vùng sinh hoạt của “Tây Ba Lô”. Những cô gái làm tiền ở đây có vóc dáng, chút sắc đẹp vừa phải và nhất là biết nói tiếng Anh chút đỉnh. Phần đông họ làm việc trong 25 quán bar hiện diện ở vùng này, cũng thuộc thành phần nghèo nhưng là cái nghèo của phố thị, còn có tiền để đi bơm ngực, hút mỡ bụng, xâm lông mày và đi học tiếng Anh để hành nghề. Những khách “Tây Ba Lô” tuổi từ 22 đến 65 đến từ các nước Châu Âu hay Úc, muốn sống thực tế với một đất nước như Việt Nam, ăn uống, sinh hoạt với người địa phương, nên những cô gái trong địa hạt này biết kết hợp sex với một kiểu dịch vụ như người hướng dẫn du lịch, cho họ hiểu biết thêm về những nơi họ đến. Nếu biết khách chỉ dừng lại vài ngày, cần mua dâm, các cô sẵn sàng mời mọc, ra giá, thêm bớt chút đỉnh (khoảng $60.00). Nếu khách dừng chân giang hồ lâu, những cô gái này sẽ làm bạn, đóng vai người yêu, kết hợp xác thịt với tình cảm, để làm sao, khi họ ra đi rồi còn gửi tiền, quà trở lại hay liên lạc làm hôn thú để “rước nàng về Dinh”. Ðối với người ngoại quốc dễ tin, đây là “những phụ nữ duyên dáng bị kẹt trong một đất nước nghèo nàn,” cần rộng lòng giúp đỡ hay cứu vớt.
Thành phần mại dâm cấp cao, trong bản văn “She's Not a Dirty Low Class Girl...” theo TS. Kimberly Kay Hoàng, là khu mại dâm khó thâm nhập nhất vì không thể phân biệt các cô gái trẻ đẹp thường lai vãng các quán bar, quán rượu hạng sang là gái đi khách hay là khách hàng của quán rượu. Các cô luôn diện áo quần hợp thời trang, có vài cái ví hàng hiệu nổi tiếng và điện thoại di động đắt tiền. Quan hệ giữa khách làng chơi và gái bán hoa giống như quan hệ của nhân tình, bồ bịch. Các cô gái này hầu hết đã tốt nghiệp đại học, con nhà giàu có, có việc làm trong các công ty lớn, thu nhập cao, muốn vui chơi và có tiền, nhưng chưa muốn kết hôn và không thích ra sống ở ngoại quốc.
Các cô cũng không muốn tiếp khách da trắng hay các đại gia nhiều tiền, vì đi với hai hạng người này, rõ ràng, người ta sẽ biết các cô là gái làm tiền. Khách hàng của các cô này là Việt kiều hạng sang, qua trang phục, lối chi tiền “sộp” chứ không phải bất cứ Việt kiều nào cũng được. Những cô gái này tìm khách ở các nhà hàng sang trọng, làm quen và đưa đến chuyện bồ bịch, nhưng chuyện lên giường còn tùy tình cảm và đòi hỏi lối chi rộng rãi của khách. Các cô thường đóng vai bận rộn bởi công ty hay việc làm ăn để có thể “chạy show” mỗi đêm hai ba khách hàng, bề ngoài luôn luôn tỏ vẻ quan tâm với bạn trai, như không muốn anh tiêu hoang, hay đi ăn những nơi quá đắt tiền.
Sau những lần giao tiếp, nếu những gợi ý, đòi hỏi của nàng không toại nguyện, như khách Việt kiều chỉ có thể chi cho những bộ áo quần, nước hoa, son phấn tầm thường và chiếc xe khoảng hai nghìn đô, thì không hy vọng điện thoại được trả lời hay nhắn tin được phúc đáp. Sở dĩ những Việt kiều đi tìm những cô gái loại này là vì họ cần cô gái trẻ đẹp, thông minh, giỏi Anh ngữ, con nhà “đàng hoàng” (!)để “bắt bồ” trong thời gian về nước, cần người giúp mình chứng tỏ bản lãnh đàn ông và quà tiền chỉ là món quà tình cảm chứ không phải sự mua bán xác thịt!
Cuộc nghiên cứu của Kimberly Kay Hoàng chỉ thu gọn trong vùng quận 1, khu “Tây Ba Lô” Ðề Thám-Phạm Ngũ Lão-Bùi Viện, quận 4, quận 10, quận Bình Thạnh và khu vực quanh phi trường Tân Sơn Nhứt thuộc thành phố Hồ Chí Minh, chưa có nghiên cứu đến loại mại dâm “miệt vườn,” mại dâm lưu động trong mùa gặt ngay ở ngoài đồng, và mại dâm Hà Nội để chúng ta có thể có cái nhìn tổng quát về nạn mua, bán dâm trên toàn cõi Việt Nam hiện nay.
Trong ba thành phần bán dâm tại “thành phố mang tên Bác,” chưa thấy TS. Kimberly Kay Hoàng nói đến loại bán dâm “đại cao cấp” đang được báo chí trong và ngoài nước bàn tán mấy tuần nay. Loại gái này cũng không phải vì nghèo đói mà bán thân như loại hạ tầng xã hội, mỗi lần “đi khách” chỉ có ba đô la, hay đẹp đẽ hơn mỗi lần từ sáu đến bảy chục đô đối với “Tây Ba Lô”. Họ cũng không phải mất thời giờ đóng vai tình nhân để “rước đèn” lui tới chốn ăn chơi cao cấp, ỡm ờ than khổ để có món quà hậu hỉ hay số tiền lớn như loại gái cao cấp trong câu chuyện ở trên. Loại phụ nữ sau này có nhan sắc, có “tước hiệu” như hoa hậu, người mẫu, ca sĩ, diễn viên... qua bọn môi giới, nôm na là một loại nam hay nữ “ma cô,” sẵn sàng lên giường với ai trả một số tiền cỡ $2,500 một lần, hay $8,000 mỗi chuyến đi tour sex ngoại quốc dài ngày. Số tiền này chắc chắn đối với Việt kiều giàu có trong loại mại dâm cao cấp của tác giả họ Hoàng ở trên cũng phải đầu hàng, cao bay xa chạy. Chúng ta nhớ lại các phụ nữ chỉ vì 3 đô la đã phải làm sex với những người trong tầng lớp thấp của xã hội, nhiều khi đã làm họ nôn mửa vì tinh dịch và thân thể hôi hám của khách chơi, nhưng với thành phần “sao Việt” ngày nay, số tiền bán dâm lên cao gấp 1,000 lần, dù với các nông dân chân đất, một ngày “bỗng dưng” trở thành đại gia, chưa thấy có sự than phiền nào.
Ðọc bản phúc trình của Kimberly Kay Hoàng về kỹ nghệ bán dâm tại TP. Hồ Chí Minh người ta thấy xót xa cho cảnh khổ trong nghề bán dâm của những người đàn bà đói nghèo, bất hạnh trong xã hội Việt Nam ngày nay. Nhưng với ngôn từ của bọn bán dâm “đại cao cấp” như người mẫu Ngọc Trinh rằng: “Không tiền thì cạp đất mà ăn!” nên vì tiền, con người có thể làm mọi chuyện. Ðó là biện minh của bọn “gà mái cao cấp” và cũng là danh ngôn hay kim chỉ nam cho bọn “sâu dân mọt nước” đang banh da xẻ thịt đất nước hôm nay!
Ðại Vệ Chí Dị - Thời của âm binh
Người Buôn Gió
(Nguồn: nguoibuongio1972.multiply.com)
Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 67.
Dân oan bị cướp đất kéo nhau đi kiện khắp nơi.
Kinh tế suy thoái, nợ nước ngoài chồng chất.
Quân Tề nhân cơ ấy, tung hoành ngoài lãnh hải, ngư thuyền đi đánh bắt hải sản dàn hàng ngang trên biển Vệ. Khiến cho ngư dân Vệ khiếp đảm không dám ra khơi hành nghề.
Vì thế mà nước Vệ yên ổn, tránh được chuyện binh đao với Tề. Quả thật một điều nhịn chín điều lành như cha ông dạy. Triều Vệ nghị sự, các quan bàn rằng, chúng nó (ý nói bọn Tề) đánh hết hải sản, thu hết tài nguyên tức khắc phải kéo về. Cứ án binh bất động là kế hay nhất.
Trong nước người dân bất mãn, ca thán, tiếng vang động đến trời cao. Triều Vệ nghị, sự, các quan bàn rằng. Cứ cấm chúng nó than vãn, thì gần cũng chả nghe thấy, huống chi là trời cao vời vợi kia.
Bèn lựa lúc mùa hạ oi bức khiến bá tính khó chịu vô cùng, mới sai bọn truyền thông thanh tra những người hay phổ biến tin tức trong nhân dân để khép tội.
Lúc ấy ở kinh thành có tiến sĩ họ Nguyễn, Nguyễn nguyên người xứ Ðoài, năm 38 tuổi đậu tiến sĩ khóa Mậu Tí đời Vệ Cường Vương, làm quan thủ thư tại viện Cổ Ngữ. Tay ấy rành kinh sử, hay chọn lọc được những tin tức quý giá trong dân phổ biến cho mọi người xem. Ước thiên hạ người đọc tin của tiến sĩ có đến hàng triệu.
Ðại thần nghị chính kiêm phó tể tướng là Phước được triều đình tín nhiệm, giao cho xử việc trấn áp Nguyễn. Phước cầm lệnh bài triệu tập các bộ liên quan là bộ Lễ, bộ Hình lại, cắt đặt việc đâu ra đấy. Trước là dùng pháp lệnh để nắn Nguyễn tìm chứng cứ cho bộ Hình vào cuộc, tiếp nữa là dùng bọn bồi bút công kích hạ thấp uy tín của Nguyễn. Ðồng thời lệnh cho những kẻ đặc tình cài trong hàng ngũ nhân dân hưởng ứng cuộc hạ uy tín này tạo thành hai mũi giáp công. Dọn đường khi trấn áp được Nguyễn, hạ được uy tín, gieo rắc tiếng xấu cho những người đưa tin trong bốn cõi là đưa pháp lệnh siết chặt việc truyền tin trong dân gian vào thi hành.
Nào ngờ mưu ấy bị lọt ra ngoài, làm mất đi cái chính danh của pháp lệnh. Khắp nơi đường chợ người ta đều hiểu đó là mưu để bịt miệng nhân dân, không để tiếng than vãn lọt đến trời xanh. Dân vì thế mà không phục.
Nhà Sản thấy khó, bèn xoay chuyển sang hướng khác. Ðưa tin bọn ca kỹ, diễn viên bán dâm hàng chục lượng vàng tràn ngập khắp bảng tin trong nước. Dân trí Vệ còn thấp, nghe được tin lạ xúm xít vào bàn tán, làm thế cho loạn tin. Một cách làm bấy lâu nay vẫn thành công. Trước gây loạn có cớ dẹp, trong lúc dẹp thì mượn gió bẻ măng.
Bọn lưu manh kẻ chợ ngồi mách chuyện với nhau. Xưa nay chúng ta bảo kê chỗ nào như nhà hàng, quán chợ, bến bãi, trước tiên cho người vào hàng quán quậy phá, gây loạn cho lòng người hoảng sợ. Sau đó đứng ra bảo kê thu tiền với cớ là giữ gìn trật tự. Nay triều đình dùng kế đem mỹ nhân bán dâm gây loạn thiên hạ, sau đó chấn chỉnh việc truyền tin trong nhân dân. Liệu có giống nhau không nhỉ?
Có người nói:
- Giống phần nào thôi, chúng ta là lưu manh, côn đồ, chúng ta dùng vũ lực. Dù sao đi nữa chúng ta cũng là người ngay thật. Chứ dùng váy của đàn bà mà để làm chuyện đó thì xưa nay trong giới chúng ta không ai làm việc đó cả.
Dân kẻ chợ, nghe bọn đó nói chuyện, ai cũng ngao ngán nói với nhau.
- Ðúng là thời của âm binh.
NGUỒN TỚI: http://nguoibuongio1972.multiply.com/jo ... em/589/589
Người Buôn Gió
(Nguồn: nguoibuongio1972.multiply.com)
Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 67.
Dân oan bị cướp đất kéo nhau đi kiện khắp nơi.
Kinh tế suy thoái, nợ nước ngoài chồng chất.
Quân Tề nhân cơ ấy, tung hoành ngoài lãnh hải, ngư thuyền đi đánh bắt hải sản dàn hàng ngang trên biển Vệ. Khiến cho ngư dân Vệ khiếp đảm không dám ra khơi hành nghề.
Vì thế mà nước Vệ yên ổn, tránh được chuyện binh đao với Tề. Quả thật một điều nhịn chín điều lành như cha ông dạy. Triều Vệ nghị sự, các quan bàn rằng, chúng nó (ý nói bọn Tề) đánh hết hải sản, thu hết tài nguyên tức khắc phải kéo về. Cứ án binh bất động là kế hay nhất.
Trong nước người dân bất mãn, ca thán, tiếng vang động đến trời cao. Triều Vệ nghị, sự, các quan bàn rằng. Cứ cấm chúng nó than vãn, thì gần cũng chả nghe thấy, huống chi là trời cao vời vợi kia.
Bèn lựa lúc mùa hạ oi bức khiến bá tính khó chịu vô cùng, mới sai bọn truyền thông thanh tra những người hay phổ biến tin tức trong nhân dân để khép tội.
Lúc ấy ở kinh thành có tiến sĩ họ Nguyễn, Nguyễn nguyên người xứ Ðoài, năm 38 tuổi đậu tiến sĩ khóa Mậu Tí đời Vệ Cường Vương, làm quan thủ thư tại viện Cổ Ngữ. Tay ấy rành kinh sử, hay chọn lọc được những tin tức quý giá trong dân phổ biến cho mọi người xem. Ước thiên hạ người đọc tin của tiến sĩ có đến hàng triệu.
Ðại thần nghị chính kiêm phó tể tướng là Phước được triều đình tín nhiệm, giao cho xử việc trấn áp Nguyễn. Phước cầm lệnh bài triệu tập các bộ liên quan là bộ Lễ, bộ Hình lại, cắt đặt việc đâu ra đấy. Trước là dùng pháp lệnh để nắn Nguyễn tìm chứng cứ cho bộ Hình vào cuộc, tiếp nữa là dùng bọn bồi bút công kích hạ thấp uy tín của Nguyễn. Ðồng thời lệnh cho những kẻ đặc tình cài trong hàng ngũ nhân dân hưởng ứng cuộc hạ uy tín này tạo thành hai mũi giáp công. Dọn đường khi trấn áp được Nguyễn, hạ được uy tín, gieo rắc tiếng xấu cho những người đưa tin trong bốn cõi là đưa pháp lệnh siết chặt việc truyền tin trong dân gian vào thi hành.
Nào ngờ mưu ấy bị lọt ra ngoài, làm mất đi cái chính danh của pháp lệnh. Khắp nơi đường chợ người ta đều hiểu đó là mưu để bịt miệng nhân dân, không để tiếng than vãn lọt đến trời xanh. Dân vì thế mà không phục.
Nhà Sản thấy khó, bèn xoay chuyển sang hướng khác. Ðưa tin bọn ca kỹ, diễn viên bán dâm hàng chục lượng vàng tràn ngập khắp bảng tin trong nước. Dân trí Vệ còn thấp, nghe được tin lạ xúm xít vào bàn tán, làm thế cho loạn tin. Một cách làm bấy lâu nay vẫn thành công. Trước gây loạn có cớ dẹp, trong lúc dẹp thì mượn gió bẻ măng.
Bọn lưu manh kẻ chợ ngồi mách chuyện với nhau. Xưa nay chúng ta bảo kê chỗ nào như nhà hàng, quán chợ, bến bãi, trước tiên cho người vào hàng quán quậy phá, gây loạn cho lòng người hoảng sợ. Sau đó đứng ra bảo kê thu tiền với cớ là giữ gìn trật tự. Nay triều đình dùng kế đem mỹ nhân bán dâm gây loạn thiên hạ, sau đó chấn chỉnh việc truyền tin trong nhân dân. Liệu có giống nhau không nhỉ?
Có người nói:
- Giống phần nào thôi, chúng ta là lưu manh, côn đồ, chúng ta dùng vũ lực. Dù sao đi nữa chúng ta cũng là người ngay thật. Chứ dùng váy của đàn bà mà để làm chuyện đó thì xưa nay trong giới chúng ta không ai làm việc đó cả.
Dân kẻ chợ, nghe bọn đó nói chuyện, ai cũng ngao ngán nói với nhau.
- Ðúng là thời của âm binh.
NGUỒN TỚI: http://nguoibuongio1972.multiply.com/jo ... em/589/589
Làm Báo thời Thổ Tả
Đoan Trang
- Liệu bài có được đăng không?
- Không biết… nhưng hy vọng là ổn. Anh TBT đã bảo là "có gì sẽ trao đổi với phóng viên trực tiếp trong ngày hôm nay”. Tinh thần chỉ là sửa bớt những chỗ quá cụ thể, còn thì sẽ đăng và phải đăng.
- Ái chà chà. Thế cơ à?
- Vì ảnh bảo, có những lúc, nếu chúng ta không nói, sẽ là có tội. Sau này về già, còn mặt mũi nào nhìn con cháu mà chém gió: “Ngày xưa ông làm báo thế đấy!”.
- Quá chuẩn! Thế mới là TBT chứ! Sao anh tổng nhà tôi không được như thế?
- Há há, lêu lêu…
- Sướng nhỉ? Đang nghĩ là nếu bài được đăng, bà con bên Văn Giang sẽ mừng lắm đây. Nhớ mua lấy mấy chục tờ mang về biếu bà con.
- Ấy, đừng vội mừng sớm... Nói thế chứ vẫn lo lắm. Đã đăng đâu, mới là “sẽ đăng” thôi. Mà đưa một bài lên, bị thổi còi ngay chẳng hạn, là xong…
*
“Ngày xưa ông làm báo thế đấy!”.
Mô típ “chúng ta nói gì với con cháu chúng ta” hẳn là đã được sử dụng nhiều trong văn học, sách báo, phim ảnh. Như nhà văn Phan Tứ (1930-1995) viết trong tiểu thuyết nổi tiếng “Mẫn và tôi” về tình yêu thời chiến tranh: “Bầy cháu nội ngoại sẽ nghe tôi kể: “Ông gặp bà giữa hồi núi sụp rầm rầm, nước dâng như chưa hề ghi trong sử sách…”. Chúng cười khì, tưởng tôi mượn chuyện thời vua Hùng. (…) Đành vậy, lớn lên chúng sẽ biết, sẽ nhớ. Tôi phải giúp chúng nhớ. Đừng để những bông hoa mai sau tự rứt mình ra khỏi cây vì không muốn dính dáng với bầy rễ cắm vào bùn”.
“Đánh Chu Lai, chắc Mẫn lại kẹp cácbin đưa các anh đặc công lội trắng đêm trên cát và đời nào em tôi chịu vắng bóng trong đợt pháo hoa cuối cùng. Tôi chia lửa cho Mẫn là phải, riêng tây gì đâu. Phải không em, Mẫn, dù anh đi khắp chân trời góc biển, mỗi lần ra trận chúng mình lại gặp nhau; có phải lúc này em đang quấn quít bên anh, em gần đến nỗi anh chỉ đẩy ngón tay đặt nên tim là nghe ngay tiếng người thương rủ rỉ trong tai, kể rằng quê ta thắng Mỹ rất ngon, và hai đứa mình là bông bạc vẫy hai ngón giữa dòng?”.
Nghe nhà văn viết những dòng thủ thỉ, thấy tình yêu của hai nhân vật chính – Mẫn và Thiêm – sao mà đẹp đến lý tưởng. Đúng là cuốn tiểu thuyết “một thời khuấy động hàng triệu con tim”, cũng chẳng khác gì “những nhạc phẩm lừng danh của Trịnh Công Sơn”, “đầy phẫn nộ, khát khao cho một niềm hy vọng chung của cả dân tộc”… (*)
Lũ nhà báo bây giờ sau này kể lại cho con cháu nghe chuyện làm báo của mình thời nay, sợ rằng không được đẹp như thế. Nó thảm hại hơn nhiều, lố bịch hơn nhiều, hèn nhát hơn nhiều…
*
Nó là câu chuyện của những nhà báo hễ xuất hiện ở điểm nóng nào là chỉ đi cùng “lực lượng chức năng”, áo nhiều túi, máy ảnh trước ngực, vẻ mặt nghiêm trọng. Cũng là câu chuyện của những phóng viên về Văn Giang lúc xế chiều để chứng kiến một cánh đồng tung tóe, cây cối đổ nát nghiêng ngửa. Dân quê thấy người lạ vào, chẳng ai buồn ngẩng lên, vẫn cắm cúi đào bới, nhặt nhạnh, xúc, đổ đất… Nhưng đến khi thấy “người lạ” lúi húi lấy máy ghi âm, sổ và bút ra, thì họ vây lấy, thẫn thờ: “Sao đến giờ nhà báo mới về? Mất rồi. Mất hết rồi!”.
Rồi họ nhất định kéo nhà báo vào nhà, để họ pha trà, mời nước, và nghe họ kể lể chuyện “mất hết rồi”. Hàng xóm lục tục kéo đến, người nào cũng phải xán lại, nhìn, chạm tay vào áo khách một cái, khẩn khoản: “Nếu nhà báo giúp được chúng tôi đòi lại được đất, thì chúng tôi mang ơn nhà báo suốt đời”. Màn đêm buông xuống, trai tráng trong làng rầm rập đưa xe máy hộ tống nhà báo về. Người dân nông thôn bao giờ cũng là vậy, họ có thể khôn ngoan hay thực dụng, nhưng vẫn có cái hồn hậu chất phác – nên không để ý thấy nhà báo đang cúi gằm mặt, lủi thủi rời khỏi hiện trường.
Và từ ấy, ngày nào họ cũng ngong ngóng ra bưu điện huyện, chờ xem có báo nào đưa tin, viết bài “về xã mình” không. Những mảnh báo hiếm hoi nhắc đến vụ việc của làng họ được photocopy ra hàng chục bản, và truyền tay nhau nhiều quá, đã nát ra rồi…
*
Họ không nhìn thấy cảnh nhà báo phóng xe máy rời làng, đầu cúi gằm. Họ cũng không biết đến chuyện, có những lần, nhà báo về làng khi trời vẫn còn chưa tối. Trên đường đi, dưới ánh hoàng hôn, cây lá trong vùng vẫn xanh biếc như thế, triền đê vẫn mườn mượt cỏ, gió vẫn lồng lộng, và nhà báo dở hơi bỗng nghĩ tới lời thề của danh tướng Trần Quốc Tuấn thời xưa: “Trận này không phá xong giặc Nguyên, quyết không về bến sông này nữa”. Thì chúng cháu cũng vậy, Hưng Đạo Đại Vương ơi! Chúng cháu cũng muốn đứng trên đê, nhìn xuống cánh đồng xanh mượt mà thề: “Chuyến này không đăng được bài, quyết không về chốn này nữa”. Nhưng nói vậy thôi, chúng cháu sao dám gở miệng như thế - vì chúng cháu hiểu, sẽ còn nhiều, rất nhiều những vụ cưỡng chế đất đai, những bạo lực, đổ máu, hận thù, bất mãn… mà nếu còn nghĩ tới chuyện làm báo thì còn phải chứng kiến, và viết. Không ở đây thì cũng ở nơi khác mà thôi.
Những người dân quê chất phác. Họ chẳng biết gì tới sự căng thẳng của ban biên tập, nỗi dằn vặt của phóng viên. Họ cũng chẳng biết đến Internet, cùng những cuộc cãi vã xô xát trên đó, bảo rằng họ tham lam, đã nhận tiền rồi nay thấy ít nên lại đòi tăng, rằng họ bất mãn nên bị bọn phản động lợi dụng, rằng cưỡng chế đất đai là việc không thể tránh khỏi trên con đường phát triển của Việt Nam (chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, tóm lại là “công nghiệp hóa, hiện đại hóa”).
Họ càng không biết tới Hiến pháp, tới bài toán phát triển kinh tế của đất nước – toàn những thứ vĩ mô đến thế. Họ chỉ biết vào cái buổi sáng hôm ấy, hàng chục xe cam nhông, xe tải chở lính, đã “bò như cua” vào thôn làng họ, và họ bị xô đẩy, dồn ra ngoài cái mảnh đất cho đến rạng sáng vẫn còn là của họ trong tiếng loa oang oang nhắc nhở: “Không phận sự miễn vào”. Không chống lại được thì họ cự lại, phản ứng, họ chửi, khóc, ngồi bệt, rồi lăn cả ra đấy, uất ức như những đứa trẻ bị cướp đồ ăn.
Lúc ấy, ai còn dám lý luận với họ về những vấn đề cao siêu, ví dụ, về sự cần thiết phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất?
Nhưng nếu đặt câu hỏi ngược lại, rằng giả sử cuộc cưỡng chế diễn ra căng thẳng và khốc liệt, rồi một nhân viên công vụ bị đánh trọng thương, máu me be bét, lực lượng cưỡng chế buộc phải rút lui trong thất bại, thì có ai vui mừng hả hê với chiến thắng của “phe nhân dân” không? Câu trả lời, với những người làm báo nghiêm túc, sẽ là không. Đơn giản bởi vì người ta ai cũng xương cũng thịt. Ai cũng là tinh cha huyết mẹ mà thành.
Báo chí không thể ủng hộ, cổ vũ bạo lực dưới bất kỳ hình thức nào. Một điều mà các nhân viên an ninh “ít chữ” rất hay muốn làm rõ là “Anh/chị viết bài vì động cơ gì?”. Họ không hiểu rằng với nhà báo, sự thật là tối thượng, và nếu có thể gọi đấy là “động cơ”, thì nhà báo chỉ có động cơ duy nhất là phản ánh sự thật. Đôi khi, một nhà báo viết hết, phản ánh hết – đúng 100% - những gì một bên đưa ra (ý kiến, bằng chứng…), mà vẫn là không chấp nhận được. Bởi vì như vậy là không đủ khách quan, công bằng: Mọi bên đều phải có cơ hội thể hiện quan điểm như nhau.
Nếu dân sai thì ngay cả có bị dí súng vào đầu bắt viết “vu vạ” cho công an, người làm báo cũng không viết. (Ở đây, phải giới hạn là không phải tất cả các nhà báo đều như nhau, ngoài ra, nhiều khi họ không viết xấu về chính quyền không phải vì tôn trọng sự thật khách quan, mà là vì không đủ bằng chứng, hoặc vì sợ bị trừng trị). Ngược lại, nếu chính quyền sai thì dù có cố đến đâu cũng khó lòng bênh nổi.
Ai đó đã nói về “chiến dịch” đưa tin của báo chí trong và sau các vụ Tiên Lãng, Văn Giang như sau: “Một cuộc vật lộn để được nói sự thật”. Thực tế còn hơn thế nữa: Một cuộc vật lộn để được biết sự thật, để được viết sự thật, và để được khách quan (tất nhiên cũng chỉ dám mong ở mức độ tương đối). Thế mà, cho đến giờ, cái đích ấy vẫn chưa đạt được.
*
37 năm sau ngày thống nhất đất nước. Hơn nửa thế kỷ sau cải cách ruộng đất. 67 năm sau ngày thành lập nước. Sáu thế kỷ sau thời kỳ tích lũy tư bản nguyên thủy ở phương Tây. Bước vào thời đại toàn cầu hóa, hội nhập, ở Việt Nam, vẫn còn diễn ra những cuộc cưỡng chế đất đai nhốn nháo, tiếng la hét chửi bới của dân lẫn trong khói hơi cay và tiếng oàng oàng chói tai của “quả nổ nghiệp vụ”.
Tệ hơn nữa là chuyện ấy lại diễn ra cùng với đây đó những mệnh lệnh (miệng) yêu cầu báo chí “hạn chế đưa tin”, và những cuộc tranh cãi ầm ĩ, đầy ngụy biện, trên mạng, về quan tham, dân gian và bọn báo chí lề phải, blogger lề trái ngu dốt, phản động.
“Ngày xưa ông làm báo thế đấy”.
Ghi chú:
(*) Lời giới thiệu album “Sơn Ca 7” của Khánh Ly.
Nguồn: Blog Đoan Trang
Đoan Trang
- Liệu bài có được đăng không?
- Không biết… nhưng hy vọng là ổn. Anh TBT đã bảo là "có gì sẽ trao đổi với phóng viên trực tiếp trong ngày hôm nay”. Tinh thần chỉ là sửa bớt những chỗ quá cụ thể, còn thì sẽ đăng và phải đăng.
- Ái chà chà. Thế cơ à?
- Vì ảnh bảo, có những lúc, nếu chúng ta không nói, sẽ là có tội. Sau này về già, còn mặt mũi nào nhìn con cháu mà chém gió: “Ngày xưa ông làm báo thế đấy!”.
- Quá chuẩn! Thế mới là TBT chứ! Sao anh tổng nhà tôi không được như thế?
- Há há, lêu lêu…
- Sướng nhỉ? Đang nghĩ là nếu bài được đăng, bà con bên Văn Giang sẽ mừng lắm đây. Nhớ mua lấy mấy chục tờ mang về biếu bà con.
- Ấy, đừng vội mừng sớm... Nói thế chứ vẫn lo lắm. Đã đăng đâu, mới là “sẽ đăng” thôi. Mà đưa một bài lên, bị thổi còi ngay chẳng hạn, là xong…
*
“Ngày xưa ông làm báo thế đấy!”.
Mô típ “chúng ta nói gì với con cháu chúng ta” hẳn là đã được sử dụng nhiều trong văn học, sách báo, phim ảnh. Như nhà văn Phan Tứ (1930-1995) viết trong tiểu thuyết nổi tiếng “Mẫn và tôi” về tình yêu thời chiến tranh: “Bầy cháu nội ngoại sẽ nghe tôi kể: “Ông gặp bà giữa hồi núi sụp rầm rầm, nước dâng như chưa hề ghi trong sử sách…”. Chúng cười khì, tưởng tôi mượn chuyện thời vua Hùng. (…) Đành vậy, lớn lên chúng sẽ biết, sẽ nhớ. Tôi phải giúp chúng nhớ. Đừng để những bông hoa mai sau tự rứt mình ra khỏi cây vì không muốn dính dáng với bầy rễ cắm vào bùn”.
“Đánh Chu Lai, chắc Mẫn lại kẹp cácbin đưa các anh đặc công lội trắng đêm trên cát và đời nào em tôi chịu vắng bóng trong đợt pháo hoa cuối cùng. Tôi chia lửa cho Mẫn là phải, riêng tây gì đâu. Phải không em, Mẫn, dù anh đi khắp chân trời góc biển, mỗi lần ra trận chúng mình lại gặp nhau; có phải lúc này em đang quấn quít bên anh, em gần đến nỗi anh chỉ đẩy ngón tay đặt nên tim là nghe ngay tiếng người thương rủ rỉ trong tai, kể rằng quê ta thắng Mỹ rất ngon, và hai đứa mình là bông bạc vẫy hai ngón giữa dòng?”.
Nghe nhà văn viết những dòng thủ thỉ, thấy tình yêu của hai nhân vật chính – Mẫn và Thiêm – sao mà đẹp đến lý tưởng. Đúng là cuốn tiểu thuyết “một thời khuấy động hàng triệu con tim”, cũng chẳng khác gì “những nhạc phẩm lừng danh của Trịnh Công Sơn”, “đầy phẫn nộ, khát khao cho một niềm hy vọng chung của cả dân tộc”… (*)
Lũ nhà báo bây giờ sau này kể lại cho con cháu nghe chuyện làm báo của mình thời nay, sợ rằng không được đẹp như thế. Nó thảm hại hơn nhiều, lố bịch hơn nhiều, hèn nhát hơn nhiều…
*
Nó là câu chuyện của những nhà báo hễ xuất hiện ở điểm nóng nào là chỉ đi cùng “lực lượng chức năng”, áo nhiều túi, máy ảnh trước ngực, vẻ mặt nghiêm trọng. Cũng là câu chuyện của những phóng viên về Văn Giang lúc xế chiều để chứng kiến một cánh đồng tung tóe, cây cối đổ nát nghiêng ngửa. Dân quê thấy người lạ vào, chẳng ai buồn ngẩng lên, vẫn cắm cúi đào bới, nhặt nhạnh, xúc, đổ đất… Nhưng đến khi thấy “người lạ” lúi húi lấy máy ghi âm, sổ và bút ra, thì họ vây lấy, thẫn thờ: “Sao đến giờ nhà báo mới về? Mất rồi. Mất hết rồi!”.
Rồi họ nhất định kéo nhà báo vào nhà, để họ pha trà, mời nước, và nghe họ kể lể chuyện “mất hết rồi”. Hàng xóm lục tục kéo đến, người nào cũng phải xán lại, nhìn, chạm tay vào áo khách một cái, khẩn khoản: “Nếu nhà báo giúp được chúng tôi đòi lại được đất, thì chúng tôi mang ơn nhà báo suốt đời”. Màn đêm buông xuống, trai tráng trong làng rầm rập đưa xe máy hộ tống nhà báo về. Người dân nông thôn bao giờ cũng là vậy, họ có thể khôn ngoan hay thực dụng, nhưng vẫn có cái hồn hậu chất phác – nên không để ý thấy nhà báo đang cúi gằm mặt, lủi thủi rời khỏi hiện trường.
Và từ ấy, ngày nào họ cũng ngong ngóng ra bưu điện huyện, chờ xem có báo nào đưa tin, viết bài “về xã mình” không. Những mảnh báo hiếm hoi nhắc đến vụ việc của làng họ được photocopy ra hàng chục bản, và truyền tay nhau nhiều quá, đã nát ra rồi…
*
Họ không nhìn thấy cảnh nhà báo phóng xe máy rời làng, đầu cúi gằm. Họ cũng không biết đến chuyện, có những lần, nhà báo về làng khi trời vẫn còn chưa tối. Trên đường đi, dưới ánh hoàng hôn, cây lá trong vùng vẫn xanh biếc như thế, triền đê vẫn mườn mượt cỏ, gió vẫn lồng lộng, và nhà báo dở hơi bỗng nghĩ tới lời thề của danh tướng Trần Quốc Tuấn thời xưa: “Trận này không phá xong giặc Nguyên, quyết không về bến sông này nữa”. Thì chúng cháu cũng vậy, Hưng Đạo Đại Vương ơi! Chúng cháu cũng muốn đứng trên đê, nhìn xuống cánh đồng xanh mượt mà thề: “Chuyến này không đăng được bài, quyết không về chốn này nữa”. Nhưng nói vậy thôi, chúng cháu sao dám gở miệng như thế - vì chúng cháu hiểu, sẽ còn nhiều, rất nhiều những vụ cưỡng chế đất đai, những bạo lực, đổ máu, hận thù, bất mãn… mà nếu còn nghĩ tới chuyện làm báo thì còn phải chứng kiến, và viết. Không ở đây thì cũng ở nơi khác mà thôi.
Những người dân quê chất phác. Họ chẳng biết gì tới sự căng thẳng của ban biên tập, nỗi dằn vặt của phóng viên. Họ cũng chẳng biết đến Internet, cùng những cuộc cãi vã xô xát trên đó, bảo rằng họ tham lam, đã nhận tiền rồi nay thấy ít nên lại đòi tăng, rằng họ bất mãn nên bị bọn phản động lợi dụng, rằng cưỡng chế đất đai là việc không thể tránh khỏi trên con đường phát triển của Việt Nam (chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, tóm lại là “công nghiệp hóa, hiện đại hóa”).
Họ càng không biết tới Hiến pháp, tới bài toán phát triển kinh tế của đất nước – toàn những thứ vĩ mô đến thế. Họ chỉ biết vào cái buổi sáng hôm ấy, hàng chục xe cam nhông, xe tải chở lính, đã “bò như cua” vào thôn làng họ, và họ bị xô đẩy, dồn ra ngoài cái mảnh đất cho đến rạng sáng vẫn còn là của họ trong tiếng loa oang oang nhắc nhở: “Không phận sự miễn vào”. Không chống lại được thì họ cự lại, phản ứng, họ chửi, khóc, ngồi bệt, rồi lăn cả ra đấy, uất ức như những đứa trẻ bị cướp đồ ăn.
Lúc ấy, ai còn dám lý luận với họ về những vấn đề cao siêu, ví dụ, về sự cần thiết phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất?
Nhưng nếu đặt câu hỏi ngược lại, rằng giả sử cuộc cưỡng chế diễn ra căng thẳng và khốc liệt, rồi một nhân viên công vụ bị đánh trọng thương, máu me be bét, lực lượng cưỡng chế buộc phải rút lui trong thất bại, thì có ai vui mừng hả hê với chiến thắng của “phe nhân dân” không? Câu trả lời, với những người làm báo nghiêm túc, sẽ là không. Đơn giản bởi vì người ta ai cũng xương cũng thịt. Ai cũng là tinh cha huyết mẹ mà thành.
Báo chí không thể ủng hộ, cổ vũ bạo lực dưới bất kỳ hình thức nào. Một điều mà các nhân viên an ninh “ít chữ” rất hay muốn làm rõ là “Anh/chị viết bài vì động cơ gì?”. Họ không hiểu rằng với nhà báo, sự thật là tối thượng, và nếu có thể gọi đấy là “động cơ”, thì nhà báo chỉ có động cơ duy nhất là phản ánh sự thật. Đôi khi, một nhà báo viết hết, phản ánh hết – đúng 100% - những gì một bên đưa ra (ý kiến, bằng chứng…), mà vẫn là không chấp nhận được. Bởi vì như vậy là không đủ khách quan, công bằng: Mọi bên đều phải có cơ hội thể hiện quan điểm như nhau.
Nếu dân sai thì ngay cả có bị dí súng vào đầu bắt viết “vu vạ” cho công an, người làm báo cũng không viết. (Ở đây, phải giới hạn là không phải tất cả các nhà báo đều như nhau, ngoài ra, nhiều khi họ không viết xấu về chính quyền không phải vì tôn trọng sự thật khách quan, mà là vì không đủ bằng chứng, hoặc vì sợ bị trừng trị). Ngược lại, nếu chính quyền sai thì dù có cố đến đâu cũng khó lòng bênh nổi.
Ai đó đã nói về “chiến dịch” đưa tin của báo chí trong và sau các vụ Tiên Lãng, Văn Giang như sau: “Một cuộc vật lộn để được nói sự thật”. Thực tế còn hơn thế nữa: Một cuộc vật lộn để được biết sự thật, để được viết sự thật, và để được khách quan (tất nhiên cũng chỉ dám mong ở mức độ tương đối). Thế mà, cho đến giờ, cái đích ấy vẫn chưa đạt được.
*
37 năm sau ngày thống nhất đất nước. Hơn nửa thế kỷ sau cải cách ruộng đất. 67 năm sau ngày thành lập nước. Sáu thế kỷ sau thời kỳ tích lũy tư bản nguyên thủy ở phương Tây. Bước vào thời đại toàn cầu hóa, hội nhập, ở Việt Nam, vẫn còn diễn ra những cuộc cưỡng chế đất đai nhốn nháo, tiếng la hét chửi bới của dân lẫn trong khói hơi cay và tiếng oàng oàng chói tai của “quả nổ nghiệp vụ”.
Tệ hơn nữa là chuyện ấy lại diễn ra cùng với đây đó những mệnh lệnh (miệng) yêu cầu báo chí “hạn chế đưa tin”, và những cuộc tranh cãi ầm ĩ, đầy ngụy biện, trên mạng, về quan tham, dân gian và bọn báo chí lề phải, blogger lề trái ngu dốt, phản động.
“Ngày xưa ông làm báo thế đấy”.
Ghi chú:
(*) Lời giới thiệu album “Sơn Ca 7” của Khánh Ly.
Nguồn: Blog Đoan Trang
GIẬN MẤT KHÔN
Đúng là "Giận mất khôn, Ghen mất trí" & "Bình tỉnh là An vui", Gia đình tôi tan nát chỉ vì một cái nốt ruồi. Nguyên là gần nhà tôi có một cặp vợ chồng mới chuyển đến. Do tôi và gã chồng làm cùng nghề, vợ gã và vợ tôi cùng tuổi, trong khi hàng xóm bốn bên toàn dân gốc ít học, chạy chợ, làm xe ôm là chính nên hai nhà nhanh chóng thân nhau. Thỉnh thoảng, một nhà làm lẩu mời nhà kia sang ăn. Đi đâu về mua được rau cỏ, bánh trái, đặc sản gì cũng mang sang biếu nhau. Vợ chồng tôi đôi khi bận việc còn nhờ vợ gã đi đón con giúp, hoặc bọn tôi đón con xong mang sang nhà ấy gửi rồi lại đi công chuyện…
Sau vài năm quen nhau, tôi và gã quyết định góp vốn làm ăn chung, cùng mở một công ty cung cấp dịch vụ. Thời gian đầu công ty làm ăn rất khá, tình thân giữa hai nhà càng thắm thiết. Nhưng một thời gian sau, thấy doanh số giảm sút, tôi nghi ngờ theo dõi và phát hiện kẻ cộng sự của mình có sự tư túi, mưu cầu lợi riêng. Tôi đã nhắc khéo cho gã biết là mình đã biết chuyện, để gã dừng lại. Nhưng chỉ được một thời gian sau, gã lại tái phạm. Sau mấy lần như vậy thì chuyện cộng tác giữa hai chúng tôi đổ bể, thậm chí chúng tôi đã cãi nhau to, sau đó không nhìn mặt nhau suốt một thời gian dài. Đến Tết năm đó, gã cùng vợ sang nhà tôi chúc mừng năm mới. Vì thế chúng tôi bỏ qua chuyện cũ, hai nhà trở lại quan hệ với nhau. Dù không thân thiết bằng trước đây nhưng hai gia đình như vậy cũng có thể nói là thân. Chúng tôi không làm ăn với nhau nữa nên ký ức về những xích mích cũ cũng nhạt dần. Tôi tin rằng nếu chỉ là hàng xóm thôi thì chẳng bao giờ có chuyện.
Ấy thế mà một lần, vợ đi vắng, gã sang nhà tôi nhậu với mấy con mực mà vợ chồng tôi vừa mang về sau chuyến đi biển, cùng vài món khác vợ tôi làm. Gã luôn miệng khen ngon, khen vợ tôi khéo tay, đảm đang, đã đẹp người còn đẹp nết. Gã cao hứng bảo: “Ông là may mắn về đường vợ con lắm đấy. Tôi có biết xem tướng tí chút, vợ ông da trắng, dáng khoan thai, tay chân nhỏ nhắn nuột nà, đó là quý tướng. Nhất là vợ ông lại có cái nốt ruồi đỏ thắm nữa, đó là tướng mệnh phụ, phu nhân. Sau này kiểu gì ông cũng phất làm quan to”. Nụ cười tự mãn của kẻ được tâng bốc tắt lịm trên môi tôi khi gã nói hai câu cuối. Bởi vì cái nốt ruồi đỏ thắm đó, ngoài tôi ra không thể có người đàn ông nào khác biết được, vì nó nằm ở phía dưới bầu ngực trái của nàng.
Có vẻ gã hàng xóm nói xong nhận ra mình buột mồm nên cáo say về ngày, bỏ lại tôi đứng như trời trồng, không kịp phản ứng, không kịp lôi gã lại để hỏi cho ra nhẽ và nện cho gã một trận. Không còn nghi ngờ gì nữa, vợ tôi đã phản bội chồng. Cô ấy đã có trò mèo gì đó mới gã hàng xóm, hoặc ít ra thì cũng xuất hiện trước mặt gã trong tình trạng không mảnh vải che thân, lộ hết những đặc điểm riêng tư của cơ thể mà lẽ ra chỉ một mình tôi biết. Còn một giả thiết khác có thể minh oan cho gã hàng xóm: gã chỉ biết cái nốt ruồi của vợ tôi qua miệng người khác. Nhưng như thế còn tệ hơn, như vậy là vợ tôi đã ngoại tình với một hoặc nhiều gã đàn ông khác và chúng đã đem chuyện của nàng, vẻ đẹp cơ thể nàng ra để bình phẩm với nhau như một chuyện đáng cười cợt.
Tôi gọi vợ ra để hỏi. Dĩ nhiên nàng chối. Dĩ nhiên nàng bảo không biết tại sao gã kia lại biết về cái nốt ruồi của nàng. Làm gì có chuyện đàn bà ngoại tình tự thú điều nhơ nhuốc của mình khi không bị bắt tận tay day tận mặt. Tôi hỏi: “Nếu cô trong sạch, thì tại sao tên đàn ông kia biết được cái nốt ruồi của cô?”. Nàng không thể trả lời được, chỉ một mực kêu oan. Tôi cũng cố tìm cách để minh oan cho nàng nhưng vô phương. Tôi những muốn sang hàng xóm tìm gã kia để giết hắn, nhưng rồi không dám. Bởi nếu làm vậy, nỗi nhục của tôi sẽ được nói toang ra cho cả xóm biết, và tôi chỉ còn nước đeo mo vào mặt cho dù có bán nhà dọn đi nơi khác.
Nhưng tôi không thể nuốt nổi nỗi nhục này trong im lặng. Vì thế, bao nhiêu căm hờn, tôi trút hết lên người vợ với những trận đòn thù trong khi bật nhạc thật lớn. Càng đánh nàng tàn tệ, tôi càng nổi điên lên khi nghĩ đến nụ cười đểu cáng của những gã đàn ông lạ mặt khi trong đầu chúng hình dung ra cặp sừng trên đầu tôi và thân thể trần trụi của vợ tôi. Nỗi đau bỏng rát như bị tạt axit, và những cơn đau thể xác mà tôi gây ra cho nàng cũng không thể nào bù lại được. Sau nửa năm hàng hạ nàng mỗi ngày, tôi ly dị, dọn nhà đi chỗ khác.
Những năm sau, tôi sống trong lòng căm hận cuộc sống, căm hận đàn bà. Tôi thề không bao giờ lấy vợ nữa. Tôi chơi bất cứ người đàn bà nào có thể dụ được. Tôi chỉ dụ đàn bà có chồng, những cô nàng trông đẹp đẽ kiêu kỳ, ra vẻ đứng đắn, khó khăn. Mỗi lần “đốn” được một cô, tôi lại hả hê như trả thù được một tên đàn ông khốn nạn trong đời, lột mặt nạ được một mụ đàn bà đạo đức giả, chính chuyên giả. Rồi chỉ ít lâu thấy chán, tôi bỏ rơi họ không một mảy may thương xót. Và như bù cho thiệt thòi của tôi trong đường tình duyên, ông trời phù hộ cho việc làm ăn của tôi xuôi chèo mát mái. Tôi ngày càng giàu, giàu có luôn đi kèm với thế lực nên dù những mụ đàn bà kia gọi tôi là thằng đểu thì cũng chẳng làm gì được tôi.
Rồi tôi tình cờ gặp lại gã cựu hàng xóm. Trông vẻ nhếch nhác của gã, tôi thấy cũng hả dạ phần nào, nhưng chỉ bước qua mà làm như không nhận ra. Gã kéo tôi lại, có vẻ khẩn khoản lôi tôi đến quán bia cạnh đó. Hà, thằng khốn. Chắc kiểu gì cũng xin lỗi rồi nhờ tôi giúp đỡ đây, trông gã là biết chuyện làm ăn bí bét. Y như rằng, ngay cốc bia đầu tiên, gã đã xin lỗi tôi. Gã nói vợ tôi là người đàn bà trong sạch, chung thủy, rằng trong chuyện cái nốt ruồi kia, gã bị oan. Sự thật là chuyện đó, gã biết được qua vợ gã. Cô này từng đi mua sắm quần áo với vợ tôi, cùng thử đồ với nàng nên biết được điều bí mật. Cô ta cũng có một nốt ruồi son ở vùng thắt lưng. Một lần khi gã khen cái nốt ruồi đỏ của vợ, cô ta thuận miệng kể vợ tôi cũng có cái nốt ruồi đỏ thắm ở phía dưới bầu ngực trái. Đang thù tôi sau vụ làm ăn chung đổ vỡ, gã ghi nhớ chi tiết này để phá tôi cho bõ tức.
“Tôi cũng chỉ định làm cho ông ghen tuông tức tối cho bõ ghét, vì nghĩ là ông hiểu vợ ông, cô ấy trong sạch thì kiểu gì rồi ông chả phải tin. Sau đó không thấy nhà ông có mắng chửi to tiếng gì, tôi tưởng là êm, không ngờ sau hai người ly dị, tôi cũng đoán là tại chuyện đó, nhưng đã lỡ rồi tôi chẳng dám nói lại. Tôi ân hận lắm. Mới đây tôi gặp lại vợ ông, thấy cô ấy tiều tụy, già hẳn đi, vẫn ở một mình. Tôi xót ruột quá, nên muốn đi tìm ông nói rõ mọi chuyện. Ông muốn đánh muốn mổ tôi thế nào cũng được”. Tôi không còn hơi sức đâu mà đánh gã. Tôi chỉ muốn giết, muốn mổ chính mình.
Một tuần sau, tôi tìm được nơi vợ sống. Tôi quỳ trước mặt nàng xin tha thứ và xin được nối lại tình vợ chồng để tôi bù đắp cho nàng những thiệt thòi năm xưa. Nhưng nàng lắc đầu. Vợ tôi nói khi mới ly dị, nàng luôn hy vọng tôi sẽ nhận ra mối oan của nàng và đến đón nàng về. Nhưng thời gian trôi qua, nàng hận tôi, thù tôi. Nàng không còn yêu tôi nữa. Nàng nói tôi độc ác hơn gã hàng xóm kia vì tôi là chồng mà dám không tin nàng, dám gán cho nàng cái tội như vậy, sự ngu xuẩn của tôi đã hủy hoại cả đời nàng.
Vừa thở phào khi biết vợ mình trong sạch, tôi lại rơi vào vực thẳm mới khi biết mình là kẻ chẳng đáng mặt đàn ông. Đau khổ, tôi cứ tự hỏi mình: nhận ra đàn bà toàn bọn lăng loàn trắc nết và nhận ra bản thân mình khốn nạn, đằng nào tệ hơn, đằng nào đau đớn hơn?
Hải Văn
Đúng là "Giận mất khôn, Ghen mất trí" & "Bình tỉnh là An vui", Gia đình tôi tan nát chỉ vì một cái nốt ruồi. Nguyên là gần nhà tôi có một cặp vợ chồng mới chuyển đến. Do tôi và gã chồng làm cùng nghề, vợ gã và vợ tôi cùng tuổi, trong khi hàng xóm bốn bên toàn dân gốc ít học, chạy chợ, làm xe ôm là chính nên hai nhà nhanh chóng thân nhau. Thỉnh thoảng, một nhà làm lẩu mời nhà kia sang ăn. Đi đâu về mua được rau cỏ, bánh trái, đặc sản gì cũng mang sang biếu nhau. Vợ chồng tôi đôi khi bận việc còn nhờ vợ gã đi đón con giúp, hoặc bọn tôi đón con xong mang sang nhà ấy gửi rồi lại đi công chuyện…
Sau vài năm quen nhau, tôi và gã quyết định góp vốn làm ăn chung, cùng mở một công ty cung cấp dịch vụ. Thời gian đầu công ty làm ăn rất khá, tình thân giữa hai nhà càng thắm thiết. Nhưng một thời gian sau, thấy doanh số giảm sút, tôi nghi ngờ theo dõi và phát hiện kẻ cộng sự của mình có sự tư túi, mưu cầu lợi riêng. Tôi đã nhắc khéo cho gã biết là mình đã biết chuyện, để gã dừng lại. Nhưng chỉ được một thời gian sau, gã lại tái phạm. Sau mấy lần như vậy thì chuyện cộng tác giữa hai chúng tôi đổ bể, thậm chí chúng tôi đã cãi nhau to, sau đó không nhìn mặt nhau suốt một thời gian dài. Đến Tết năm đó, gã cùng vợ sang nhà tôi chúc mừng năm mới. Vì thế chúng tôi bỏ qua chuyện cũ, hai nhà trở lại quan hệ với nhau. Dù không thân thiết bằng trước đây nhưng hai gia đình như vậy cũng có thể nói là thân. Chúng tôi không làm ăn với nhau nữa nên ký ức về những xích mích cũ cũng nhạt dần. Tôi tin rằng nếu chỉ là hàng xóm thôi thì chẳng bao giờ có chuyện.
Ấy thế mà một lần, vợ đi vắng, gã sang nhà tôi nhậu với mấy con mực mà vợ chồng tôi vừa mang về sau chuyến đi biển, cùng vài món khác vợ tôi làm. Gã luôn miệng khen ngon, khen vợ tôi khéo tay, đảm đang, đã đẹp người còn đẹp nết. Gã cao hứng bảo: “Ông là may mắn về đường vợ con lắm đấy. Tôi có biết xem tướng tí chút, vợ ông da trắng, dáng khoan thai, tay chân nhỏ nhắn nuột nà, đó là quý tướng. Nhất là vợ ông lại có cái nốt ruồi đỏ thắm nữa, đó là tướng mệnh phụ, phu nhân. Sau này kiểu gì ông cũng phất làm quan to”. Nụ cười tự mãn của kẻ được tâng bốc tắt lịm trên môi tôi khi gã nói hai câu cuối. Bởi vì cái nốt ruồi đỏ thắm đó, ngoài tôi ra không thể có người đàn ông nào khác biết được, vì nó nằm ở phía dưới bầu ngực trái của nàng.
Có vẻ gã hàng xóm nói xong nhận ra mình buột mồm nên cáo say về ngày, bỏ lại tôi đứng như trời trồng, không kịp phản ứng, không kịp lôi gã lại để hỏi cho ra nhẽ và nện cho gã một trận. Không còn nghi ngờ gì nữa, vợ tôi đã phản bội chồng. Cô ấy đã có trò mèo gì đó mới gã hàng xóm, hoặc ít ra thì cũng xuất hiện trước mặt gã trong tình trạng không mảnh vải che thân, lộ hết những đặc điểm riêng tư của cơ thể mà lẽ ra chỉ một mình tôi biết. Còn một giả thiết khác có thể minh oan cho gã hàng xóm: gã chỉ biết cái nốt ruồi của vợ tôi qua miệng người khác. Nhưng như thế còn tệ hơn, như vậy là vợ tôi đã ngoại tình với một hoặc nhiều gã đàn ông khác và chúng đã đem chuyện của nàng, vẻ đẹp cơ thể nàng ra để bình phẩm với nhau như một chuyện đáng cười cợt.
Tôi gọi vợ ra để hỏi. Dĩ nhiên nàng chối. Dĩ nhiên nàng bảo không biết tại sao gã kia lại biết về cái nốt ruồi của nàng. Làm gì có chuyện đàn bà ngoại tình tự thú điều nhơ nhuốc của mình khi không bị bắt tận tay day tận mặt. Tôi hỏi: “Nếu cô trong sạch, thì tại sao tên đàn ông kia biết được cái nốt ruồi của cô?”. Nàng không thể trả lời được, chỉ một mực kêu oan. Tôi cũng cố tìm cách để minh oan cho nàng nhưng vô phương. Tôi những muốn sang hàng xóm tìm gã kia để giết hắn, nhưng rồi không dám. Bởi nếu làm vậy, nỗi nhục của tôi sẽ được nói toang ra cho cả xóm biết, và tôi chỉ còn nước đeo mo vào mặt cho dù có bán nhà dọn đi nơi khác.
Nhưng tôi không thể nuốt nổi nỗi nhục này trong im lặng. Vì thế, bao nhiêu căm hờn, tôi trút hết lên người vợ với những trận đòn thù trong khi bật nhạc thật lớn. Càng đánh nàng tàn tệ, tôi càng nổi điên lên khi nghĩ đến nụ cười đểu cáng của những gã đàn ông lạ mặt khi trong đầu chúng hình dung ra cặp sừng trên đầu tôi và thân thể trần trụi của vợ tôi. Nỗi đau bỏng rát như bị tạt axit, và những cơn đau thể xác mà tôi gây ra cho nàng cũng không thể nào bù lại được. Sau nửa năm hàng hạ nàng mỗi ngày, tôi ly dị, dọn nhà đi chỗ khác.
Những năm sau, tôi sống trong lòng căm hận cuộc sống, căm hận đàn bà. Tôi thề không bao giờ lấy vợ nữa. Tôi chơi bất cứ người đàn bà nào có thể dụ được. Tôi chỉ dụ đàn bà có chồng, những cô nàng trông đẹp đẽ kiêu kỳ, ra vẻ đứng đắn, khó khăn. Mỗi lần “đốn” được một cô, tôi lại hả hê như trả thù được một tên đàn ông khốn nạn trong đời, lột mặt nạ được một mụ đàn bà đạo đức giả, chính chuyên giả. Rồi chỉ ít lâu thấy chán, tôi bỏ rơi họ không một mảy may thương xót. Và như bù cho thiệt thòi của tôi trong đường tình duyên, ông trời phù hộ cho việc làm ăn của tôi xuôi chèo mát mái. Tôi ngày càng giàu, giàu có luôn đi kèm với thế lực nên dù những mụ đàn bà kia gọi tôi là thằng đểu thì cũng chẳng làm gì được tôi.
Rồi tôi tình cờ gặp lại gã cựu hàng xóm. Trông vẻ nhếch nhác của gã, tôi thấy cũng hả dạ phần nào, nhưng chỉ bước qua mà làm như không nhận ra. Gã kéo tôi lại, có vẻ khẩn khoản lôi tôi đến quán bia cạnh đó. Hà, thằng khốn. Chắc kiểu gì cũng xin lỗi rồi nhờ tôi giúp đỡ đây, trông gã là biết chuyện làm ăn bí bét. Y như rằng, ngay cốc bia đầu tiên, gã đã xin lỗi tôi. Gã nói vợ tôi là người đàn bà trong sạch, chung thủy, rằng trong chuyện cái nốt ruồi kia, gã bị oan. Sự thật là chuyện đó, gã biết được qua vợ gã. Cô này từng đi mua sắm quần áo với vợ tôi, cùng thử đồ với nàng nên biết được điều bí mật. Cô ta cũng có một nốt ruồi son ở vùng thắt lưng. Một lần khi gã khen cái nốt ruồi đỏ của vợ, cô ta thuận miệng kể vợ tôi cũng có cái nốt ruồi đỏ thắm ở phía dưới bầu ngực trái. Đang thù tôi sau vụ làm ăn chung đổ vỡ, gã ghi nhớ chi tiết này để phá tôi cho bõ tức.
“Tôi cũng chỉ định làm cho ông ghen tuông tức tối cho bõ ghét, vì nghĩ là ông hiểu vợ ông, cô ấy trong sạch thì kiểu gì rồi ông chả phải tin. Sau đó không thấy nhà ông có mắng chửi to tiếng gì, tôi tưởng là êm, không ngờ sau hai người ly dị, tôi cũng đoán là tại chuyện đó, nhưng đã lỡ rồi tôi chẳng dám nói lại. Tôi ân hận lắm. Mới đây tôi gặp lại vợ ông, thấy cô ấy tiều tụy, già hẳn đi, vẫn ở một mình. Tôi xót ruột quá, nên muốn đi tìm ông nói rõ mọi chuyện. Ông muốn đánh muốn mổ tôi thế nào cũng được”. Tôi không còn hơi sức đâu mà đánh gã. Tôi chỉ muốn giết, muốn mổ chính mình.
Một tuần sau, tôi tìm được nơi vợ sống. Tôi quỳ trước mặt nàng xin tha thứ và xin được nối lại tình vợ chồng để tôi bù đắp cho nàng những thiệt thòi năm xưa. Nhưng nàng lắc đầu. Vợ tôi nói khi mới ly dị, nàng luôn hy vọng tôi sẽ nhận ra mối oan của nàng và đến đón nàng về. Nhưng thời gian trôi qua, nàng hận tôi, thù tôi. Nàng không còn yêu tôi nữa. Nàng nói tôi độc ác hơn gã hàng xóm kia vì tôi là chồng mà dám không tin nàng, dám gán cho nàng cái tội như vậy, sự ngu xuẩn của tôi đã hủy hoại cả đời nàng.
Vừa thở phào khi biết vợ mình trong sạch, tôi lại rơi vào vực thẳm mới khi biết mình là kẻ chẳng đáng mặt đàn ông. Đau khổ, tôi cứ tự hỏi mình: nhận ra đàn bà toàn bọn lăng loàn trắc nết và nhận ra bản thân mình khốn nạn, đằng nào tệ hơn, đằng nào đau đớn hơn?
Hải Văn
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Mày thì thiếu đéo gì tiền
Nguyễn Tường Thụy (tiểu phẩm) Ba mươi năm tôi mới trở lại hòn đảo tự do bên kia Thái Bình Dương. Ngồi trên máy bay, tôi tưởng tượng ra đủ chuyện khi gặp lại cảnh cũ người xưa, lòng rạo rực khôn tả. Hảnh khách cùng bay đã ngủ gà ngủ gật hết cả, chẳng có lý do gì để ngồi hớn hở một mình, tôi thiếp đi …
Chúng tôi quá cảnh tại Pari rồi nhằm đích bay thẳng.
Đất nước Cu Ba tươi đẹp kia rồi. Máy bay từ từ hạ cánh xuống sân bay quốc tế Lahabana.
Năm nay, kỷ niệm 30 năm ra trường, chúng tôi tổ chức họp lớp. Chẳng biết trên thế giới này có lớp nào họp mặt cầu kỳ như chúng tôi không. Không phải ở Hà Nội hay tỉnh thành nào đó, cũng không ở một nước láng giềng mà là ở tận Cu Ba xa xôi bên kia bán cầu. Không nói, ai cũng biết đi họp như thế là tốn kém như thế nào rồi. Cũng may vợ tôi làm giám đốc một công ty sân sau cho mấy ông lớn nên kinh tế cũng không đến nỗi khó khăn lắm. Thị đưa cho tôi mười nghìn đô:
- Thôi anh cứ đi. Cả đời mới đi chơi một chuyến xa, không sao. Biết đến khi kỷ niệm 40 năm có còn sức mà đi không. Coi như đi du lịch, nhất cử lưỡng tiện. Sang đó chơi mươi ngày cho nó thông thoáng đầu óc.
Lớp tôi hồi ấy có 32 đứa sinh viên thuộc khoa xây dựng dân dụng nhưng đủ các quốc tịch. Việt Nam thì có mình tôi, các nước khác có Bungari, Rumani, Triều Tiên, vài thằng ở châu Phi như Ma rốc, Angola … Tất nhiên là sinh viên Cu Ba đông hơn cả.
Trong số sinh viên Cu Ba lần này về họp mặt có một thằng thân với tôi nhất. Tên Cu Ba nó dài lắm nên tôi đặt cho nó cái tên Việt Nam để dễ gọi là Kều vì nó cao nhất lớp. Bọn Cu Ba chơi thân với sinh viên Việt Nam chúng tôi vì hồi ấy hai nước đều là tiền đồn của phe XHCN, thay nhau canh giữ hòa bình thế giới. Nấp sau chúng tôi hô hào, cổ vũ và tuồn vũ khí sang cho chúng tôi đánh nhau là Liên Xô, Trung Quốc, Mông Cổ, Triều Tiên cùng 7 nước Đông Âu anh em. Cũng vì vậy mà bọn Cu Ba hòa hợp với chúng tôi rất nhanh. Đến năm thứ 3 thì thằng nào cũng nói được tiếng Việt, lại biết cả văng tục nữa mới kinh. Từ khi có mạng Internet, chúng tôi liên lạc với nhau thường xuyên hơn, lập ra hẳn một trang web của lớp. Qua đó, tôi biết thằng Kều sau khi ra trường được mấy năm thì trốn sang Mỹ, nhập quốc tịch Mỹ. Sau này, nó thành Cu kiều yêu nước, đi về Cu Ba như đi chợ (không biết người Cu Ba định cư ở nước ngoài thì gọi là gì, nên tôi tạm gọi theo kiểu của Việt Nam).
Họp lớp lần này có 15 đứa. Trong hoàn cảnh sinh viên ở khắp nơi trên thế giới mà có mặt được từng ấy là thành công lớn rồi. Gặp nhau mừng rỡ vui vẻ như thế nào, điều này khỏi phải kể ra đây cho dài dòng.
Chúng tôi ở chung một khách sạn. Hàng ngày đi uống cà phê và đi ăn cùng nhau. Có một điều tôi rất khó hiểu là chúng nó ăn uống xong đứa nào cũng thản nhiên đứng dậy, chả băn khoăn gì về chuyện thanh toán, kể cả thằng Kều công dân Mỹ - nước giàu nứt đố đổ vách cũng lờ tít. Còn trơ lại một mình, tất nhiên là tôi phải nhận lấy cái hãnh diện được bao chúng nó.
Hồi còn sinh viên, chúng nó thương tôi lắm. Biết là Việt Nam vừa nghèo, vừa phải đánh Mỹ cho cả nhân loại nên mỗi lần rủ nhau đi uống nước hay đi ăn cái gì đó, chúng nó không bao giờ để tôi phải góp tiền. Có cái gì chúng nó cũng thấm thúi cho tôi, từ cái bánh bao ăn trộm được của nhà bếp đến khúc mía bẻ ở nông trường lúc vắng người. Hay là vì vậy mà bây giờ, chúng nó tìm cách trừ nợ? Hôm đầu tiên, tôi nghĩ thôi thì đã từng 5 năm cùng ở ký tuc xá, cùng học với nhau, cho nhau cóp bài thi, bây giờ chẳng lẽ chỉ vì vài ngàn đô mà mất đi tình bạn. Mà từ giờ đến lúc chết, đã chắc gì còn có cơ hội gặp nhau nữa.
Đến ngày thứ năm thì tiền tôi chỉ còn đủ mua vé bay về, góp tiền phòng và mua cho vợ mấy món quà. Kiểu này có khi chúng nó bắt mình bao cả tiền phòng chứ chẳng chơi. Khoản tiền này tôi quyết định không chi nữa để phòng thân. Tôi cố lấy giọng tự nhiên:
- Hôm nay quốc vương Căm Pu Chia chi nhé. Mỗi thằng năm chục đô đưa đây.
Tất cả 14 cặp mắt trố ra nhìn tôi như nhìn một thằng keo kiệt, bủn xỉn. Thăng Kều bảo:
- Mày thì thiếu đéo gì tiền.
Thì ra chúng nó tưởng tôi nhiều tiền lắm. Tôi làm gì có gan khoét ngạch vào ngân hàng. Tôi đành giở cái bài ca muôn thủa ra thanh minh, nào là nước tao 30 năm chiến tranh, nào là xuất phát điểm tiến lên CNXH lạc hậu, nào là nước tao thu nhập quốc dân không bằng một phần trăm nước Mỹ chúng mày. Mày không có tiền thì thằng nào có …
Hình như chẳng thằng nào thèm nghe. Vẫn giọng thằng Cu kiều:
- Nước mày hạnh phúc thứ nhì thế giới, trên chúng tao những 109 bậc. Tiền chúng mày thiếu đéo gì.
Trời ơi! Tôi hiểu ra vì sao rồi, tay buông cái ly rượu rơi xuống nền vỡ choang. Tôi ngồi phịch xuống ghế để định thần. Không may ngồi trượt, tôi ngã chổng kềnh ra sàn. Mấy mảnh thủy tinh vỡ nhân cơ hội cắm ngay vào mông. Tôi cố nén đau, hốt hoảng túm chặt túi áo ngực, nơi giấu mấy nghìn đô còn sót lại sợ chúng nó xông vào cướp đến nơi, la lớn:
- Tiên sư cái thằng NEF nhá. Tổ chức quốc tế đéo gì chúng mày Chúng mày hại ông rồi.
Vợ tôi nhỏm dậy:
- Anh làm cái trò gì thế! Bỏ tay ra. Già rồi mà còn dửng mỡ!
Tôi choảng tình, thấy tay mình đang túm chặt ti vợ. Tôi xấu hổ vội buông tay, quệt mồ hôi đang vã ra khắp trán:
- Anh xin lỗi, anh vừa nằm mơ. Sợ quá!
- Cái gì? Mơ làm sao?
- Anh mơ bị chúng nó trấn lột. Chúng nó tưởng nhà mình giàu thứ nhì thế giới.
Theo TƯỜNG THỤY blog
Nguyễn Tường Thụy (tiểu phẩm) Ba mươi năm tôi mới trở lại hòn đảo tự do bên kia Thái Bình Dương. Ngồi trên máy bay, tôi tưởng tượng ra đủ chuyện khi gặp lại cảnh cũ người xưa, lòng rạo rực khôn tả. Hảnh khách cùng bay đã ngủ gà ngủ gật hết cả, chẳng có lý do gì để ngồi hớn hở một mình, tôi thiếp đi …
Chúng tôi quá cảnh tại Pari rồi nhằm đích bay thẳng.
Đất nước Cu Ba tươi đẹp kia rồi. Máy bay từ từ hạ cánh xuống sân bay quốc tế Lahabana.
Năm nay, kỷ niệm 30 năm ra trường, chúng tôi tổ chức họp lớp. Chẳng biết trên thế giới này có lớp nào họp mặt cầu kỳ như chúng tôi không. Không phải ở Hà Nội hay tỉnh thành nào đó, cũng không ở một nước láng giềng mà là ở tận Cu Ba xa xôi bên kia bán cầu. Không nói, ai cũng biết đi họp như thế là tốn kém như thế nào rồi. Cũng may vợ tôi làm giám đốc một công ty sân sau cho mấy ông lớn nên kinh tế cũng không đến nỗi khó khăn lắm. Thị đưa cho tôi mười nghìn đô:
- Thôi anh cứ đi. Cả đời mới đi chơi một chuyến xa, không sao. Biết đến khi kỷ niệm 40 năm có còn sức mà đi không. Coi như đi du lịch, nhất cử lưỡng tiện. Sang đó chơi mươi ngày cho nó thông thoáng đầu óc.
Lớp tôi hồi ấy có 32 đứa sinh viên thuộc khoa xây dựng dân dụng nhưng đủ các quốc tịch. Việt Nam thì có mình tôi, các nước khác có Bungari, Rumani, Triều Tiên, vài thằng ở châu Phi như Ma rốc, Angola … Tất nhiên là sinh viên Cu Ba đông hơn cả.
Trong số sinh viên Cu Ba lần này về họp mặt có một thằng thân với tôi nhất. Tên Cu Ba nó dài lắm nên tôi đặt cho nó cái tên Việt Nam để dễ gọi là Kều vì nó cao nhất lớp. Bọn Cu Ba chơi thân với sinh viên Việt Nam chúng tôi vì hồi ấy hai nước đều là tiền đồn của phe XHCN, thay nhau canh giữ hòa bình thế giới. Nấp sau chúng tôi hô hào, cổ vũ và tuồn vũ khí sang cho chúng tôi đánh nhau là Liên Xô, Trung Quốc, Mông Cổ, Triều Tiên cùng 7 nước Đông Âu anh em. Cũng vì vậy mà bọn Cu Ba hòa hợp với chúng tôi rất nhanh. Đến năm thứ 3 thì thằng nào cũng nói được tiếng Việt, lại biết cả văng tục nữa mới kinh. Từ khi có mạng Internet, chúng tôi liên lạc với nhau thường xuyên hơn, lập ra hẳn một trang web của lớp. Qua đó, tôi biết thằng Kều sau khi ra trường được mấy năm thì trốn sang Mỹ, nhập quốc tịch Mỹ. Sau này, nó thành Cu kiều yêu nước, đi về Cu Ba như đi chợ (không biết người Cu Ba định cư ở nước ngoài thì gọi là gì, nên tôi tạm gọi theo kiểu của Việt Nam).
Họp lớp lần này có 15 đứa. Trong hoàn cảnh sinh viên ở khắp nơi trên thế giới mà có mặt được từng ấy là thành công lớn rồi. Gặp nhau mừng rỡ vui vẻ như thế nào, điều này khỏi phải kể ra đây cho dài dòng.
Chúng tôi ở chung một khách sạn. Hàng ngày đi uống cà phê và đi ăn cùng nhau. Có một điều tôi rất khó hiểu là chúng nó ăn uống xong đứa nào cũng thản nhiên đứng dậy, chả băn khoăn gì về chuyện thanh toán, kể cả thằng Kều công dân Mỹ - nước giàu nứt đố đổ vách cũng lờ tít. Còn trơ lại một mình, tất nhiên là tôi phải nhận lấy cái hãnh diện được bao chúng nó.
Hồi còn sinh viên, chúng nó thương tôi lắm. Biết là Việt Nam vừa nghèo, vừa phải đánh Mỹ cho cả nhân loại nên mỗi lần rủ nhau đi uống nước hay đi ăn cái gì đó, chúng nó không bao giờ để tôi phải góp tiền. Có cái gì chúng nó cũng thấm thúi cho tôi, từ cái bánh bao ăn trộm được của nhà bếp đến khúc mía bẻ ở nông trường lúc vắng người. Hay là vì vậy mà bây giờ, chúng nó tìm cách trừ nợ? Hôm đầu tiên, tôi nghĩ thôi thì đã từng 5 năm cùng ở ký tuc xá, cùng học với nhau, cho nhau cóp bài thi, bây giờ chẳng lẽ chỉ vì vài ngàn đô mà mất đi tình bạn. Mà từ giờ đến lúc chết, đã chắc gì còn có cơ hội gặp nhau nữa.
Đến ngày thứ năm thì tiền tôi chỉ còn đủ mua vé bay về, góp tiền phòng và mua cho vợ mấy món quà. Kiểu này có khi chúng nó bắt mình bao cả tiền phòng chứ chẳng chơi. Khoản tiền này tôi quyết định không chi nữa để phòng thân. Tôi cố lấy giọng tự nhiên:
- Hôm nay quốc vương Căm Pu Chia chi nhé. Mỗi thằng năm chục đô đưa đây.
Tất cả 14 cặp mắt trố ra nhìn tôi như nhìn một thằng keo kiệt, bủn xỉn. Thăng Kều bảo:
- Mày thì thiếu đéo gì tiền.
Thì ra chúng nó tưởng tôi nhiều tiền lắm. Tôi làm gì có gan khoét ngạch vào ngân hàng. Tôi đành giở cái bài ca muôn thủa ra thanh minh, nào là nước tao 30 năm chiến tranh, nào là xuất phát điểm tiến lên CNXH lạc hậu, nào là nước tao thu nhập quốc dân không bằng một phần trăm nước Mỹ chúng mày. Mày không có tiền thì thằng nào có …
Hình như chẳng thằng nào thèm nghe. Vẫn giọng thằng Cu kiều:
- Nước mày hạnh phúc thứ nhì thế giới, trên chúng tao những 109 bậc. Tiền chúng mày thiếu đéo gì.
Trời ơi! Tôi hiểu ra vì sao rồi, tay buông cái ly rượu rơi xuống nền vỡ choang. Tôi ngồi phịch xuống ghế để định thần. Không may ngồi trượt, tôi ngã chổng kềnh ra sàn. Mấy mảnh thủy tinh vỡ nhân cơ hội cắm ngay vào mông. Tôi cố nén đau, hốt hoảng túm chặt túi áo ngực, nơi giấu mấy nghìn đô còn sót lại sợ chúng nó xông vào cướp đến nơi, la lớn:
- Tiên sư cái thằng NEF nhá. Tổ chức quốc tế đéo gì chúng mày Chúng mày hại ông rồi.
Vợ tôi nhỏm dậy:
- Anh làm cái trò gì thế! Bỏ tay ra. Già rồi mà còn dửng mỡ!
Tôi choảng tình, thấy tay mình đang túm chặt ti vợ. Tôi xấu hổ vội buông tay, quệt mồ hôi đang vã ra khắp trán:
- Anh xin lỗi, anh vừa nằm mơ. Sợ quá!
- Cái gì? Mơ làm sao?
- Anh mơ bị chúng nó trấn lột. Chúng nó tưởng nhà mình giàu thứ nhì thế giới.
Theo TƯỜNG THỤY blog
20 năm vào ra Nusing Home mỗi ngày thăm vợ
Huy Phương
Năm nay ông đã 82 và bà cũng đã được 80, nhưng hai mươi năm ở cuối chặng đường, chữ nghĩa nặng hơn chữ tình.
66 năm hôn nhân với 16 đứa con.
Họ đã đi với nhau một đoạn đời 66 năm, đã có với nhau 16 đứa con, vừa sống vừa chết.
Xuất thân trong một gia đình buôn bán ở xứ Ðạo Bùi Chu, gia đình neo người nên họ kết hôn từ lúc chàng trai mới 16 tuổi và cô gái lên 14.
Năm nay ông đã 82 và bà cũng đã được 80, nhưng hai mươi năm ở cuối chặng đường, chữ nghĩa nặng hơn chữ tình.

Ông Nguyễn Văn Thịnh đọc sách cho vợ nghe. (Hình: Huy Phương)
Hai mươi năm mỗi ngày bà lặng lẽ trong thế giới riêng của mình, và ông mỗi ngày cần mẫn vào ra nursing home đúng giờ giấc, nhưng hai người không hề trao đổi với nhau một câu chuyện hay một lời tâm tình nào. Từ hai mươi năm nay, bà bị tai biến mạch máu não, khuôn mặt thay đổi, trí nhớ không còn. Bà được y tá đẩy xe lăn từ giường bệnh ra phòng tiếp khách, nơi có đầy đủ ánh sáng và người qua lại để thay đổi không khí cho bà vui, và có lẽ vui hơn, mỗi sáng, ông ngồi cạnh bà, đọc cho bà nghe vài trang Kinh Thánh... hay một mẩu chuyện trong cuốn sách mà ông mang theo. Bà có nghe, có hiểu không cũng không ai biết, không thấy bà cau mặt hay mỉm cười. Những lúc ông từ giã ra về, bà đưa cánh tay lên, nói những lời không nghe rõ như muốn giữ ông lại, những lúc ông vào, ông biết bà mừng rỡ nhưng không thốt ra được lời nói, nên ông phải lựa lời lúc từ giã: “Tôi về uống thuốc”; “Tôi đi bác sĩ!” cũng như lúc vào ông nói: “Nào hôm nay bà khỏe không!” Bà không nói gì, chắc hẳn thấy vui khi có ông ngồi bên cạnh, và ông như chiếc kim đồng hồ đều đặn mỗi ngày đều có mặt ở đây.
Tên ông là Nguyễn Văn Thịnh, sinh năm 1930 tại Bùi Chu, Nam Ðịnh. Bà, Nguyễn Thị Tuất, nhỏ thua ông hai tuổi, người cùng quê với ông. Mặc dù là một người kinh doanh giỏi, cuộc đời hai lần di cư, trước năm 1975 ông đã thành công trên thương trường, qua đến Mỹ nuôi được một đàn con 11 trai, gái ăn học thành tài, ở nơi ông thể hiện một con người chơn chất thật thà của một người làm nghề biển.
Ông kể chuyện:
- “Hồi di cư vào Nam, ‘tàu ông Diệm’ lớn lắm, đậu ngoài khơi, chúng em đi tàu nhỏ ra và được kéo lên tàu. Mất hai ngày hai đêm, tàu mới đến Cap Saint Jacques (tên cũ của Vũng Tàu). Chính phủ cấp tiền, nơi tạm cư và đồng bào, tùy hoàn cảnh chọn lựa nơi sinh sống. Chúng em vốn làm nghề biển ở Nam Ðịnh, thấy Vũng Tàu đẹp đẽ, dân cư hiền hòa, dễ làm ăn nên ở lại đây. Thuở ban đầu, gia đình chỉ làm nghề xúc tép cũng đủ sống, tiền trợ cấp dựng được một ngôi nhà lá. Từ nhà lá lên nhà ngói, rồi nhà lầu. Chỉ bốn năm sau, đã có tiền mua đất, cả một hòn núi nhỏ ở bãi trước, thuê công binh quân đội bỏ cốt mìn phá núi, xây nhà lầu khang trang, nhưng đó cũng là năm gia đình ‘em’ chịu mất mát nhiều nhất, trong bốn năm liền, vợ em sinh ba đứa con, không đứa nào nuôi được quá ba tháng (?)”

Gia đình sum họp những ngày bà Thịnh chưa vào Nursing Home.
Ông Thịnh dù đã lớn tuổi có thói quen xưng “em” với tất cả mọi người.
- “Hồi đó gia đình em làm nghề bán máy tàu loại lớn đi biển, đóng tàu rồi mua đi bán lại, nên cuộc sống rất khá giả. Vào những ngày cuối cùng trước khi rời Việt Nam, nhà có đến ba tàu trọng tải khoảng 300 tấn, nếu vượt biển có thể chở hàng trăm người, nên chuyện ra đi quá dễ dàng. Rời Vũng Tàu vào khoảng trưa ngày 29, khi ra tàu, còn thấy du kích Việt Cộng chạy trên bờ. Trên tàu có đủ 10 đứa con và gia đình nội ngoại. Ra khơi chừng ba cây số đã có tàu Mỹ đón. Cuộc đời mình không ngờ lại có chuyện ra đi lần thứ hai.”
Mối lo của người chồng tình nghĩa
Ðến Mỹ, ông bà Nguyễn Văn Thịnh sinh được thêm hai người con nữa, như vậy là đủ nhân số cho một “tiểu đội tác chiến”. Cách đây hai năm, người con trưởng của ông qua đời vì bệnh ung thư, nên ngày nay ông bà chỉ còn lại 11 người con, tất cả đã thành đạt và đều sinh sống, làm việc quanh quẩn trong vòng quận Cam. Ông bà Thịnh có hơn 30 đứa cháu nội ngoại mà ông khó nhớ hết tên tuổi.
Tuy đàn con trai, gái có nhà cửa khang trang, đầy đủ tiện nghi, mời ông Thịnh về ở chung nhưng ông đều từ chối. Ông thuê một căn phòng nhỏ cách nursing home có 5 phút lái xe, tự lo bữa ăn hàng ngày cho mình, để có thể dễ dàng đến thăm vợ mỗi ngày. Ðúng 9 giờ sáng ông có mặt bên vợ, 12 giờ trưa, sau khi bà dùng bữa xong, y tá đỡ bà về phòng nghỉ thì ông ra về. Chiều lại vào, sợ vợ trông hay chính ông cũng cảm thấy lòng không yên. Tuy đông con, nhưng ông không tin, khi ông qua đời trước bà, khó có đứa con nào, đều đặn sớm hôm bên cạnh bà, an ủi bà như ông đã làm.
Tuy đã 82 tuổi, trông ông Thịnh còn minh mẫn, lanh lẹ, còn lái xe được, nhưng vì sao ông lại có ý nghĩ như vậy? Ông Thịnh cho biết: - “Em biết một bà cụ năm nay đã 90 tuổi, bị ‘tai biến’ đã 28 năm, tưởng không qua khỏi, nhưng bà vẫn sống cho đến nay, dù phải nằm một chỗ. Tuy vẫn nhờ nền y tế ở Mỹ là chủ yếu, nhưng cánh đàn ông như mình có lẽ dễ ‘đi’ hơn! Ðó chính là mối lo của em! Nếu em đi là do ý Chúa, nhưng chỉ tội cho bà ấy!”
Tôi quay sang hỏi ông Nguyễn Na, người phụ trách phần bệnh nhân người Việt về tỷ lệ nam nữ vào nursing home này. Ông cho biết “bệnh nhân hết 70% là nữ, chỉ có 30% nam hay ít hơn”. Ðồng ý với ông Thịnh, ông nói: “Có lẽ đàn ông dễ chết hơn phụ nữ!”
Người chồng tử tế chỉ sợ mình chết sớm trong khi còn người vợ ốm đau, quạnh hiu tuổi già trong nursing home không ai lo lắng.
Huy Phương
Năm nay ông đã 82 và bà cũng đã được 80, nhưng hai mươi năm ở cuối chặng đường, chữ nghĩa nặng hơn chữ tình.
66 năm hôn nhân với 16 đứa con.
Họ đã đi với nhau một đoạn đời 66 năm, đã có với nhau 16 đứa con, vừa sống vừa chết.
Xuất thân trong một gia đình buôn bán ở xứ Ðạo Bùi Chu, gia đình neo người nên họ kết hôn từ lúc chàng trai mới 16 tuổi và cô gái lên 14.
Năm nay ông đã 82 và bà cũng đã được 80, nhưng hai mươi năm ở cuối chặng đường, chữ nghĩa nặng hơn chữ tình.

Ông Nguyễn Văn Thịnh đọc sách cho vợ nghe. (Hình: Huy Phương)
Hai mươi năm mỗi ngày bà lặng lẽ trong thế giới riêng của mình, và ông mỗi ngày cần mẫn vào ra nursing home đúng giờ giấc, nhưng hai người không hề trao đổi với nhau một câu chuyện hay một lời tâm tình nào. Từ hai mươi năm nay, bà bị tai biến mạch máu não, khuôn mặt thay đổi, trí nhớ không còn. Bà được y tá đẩy xe lăn từ giường bệnh ra phòng tiếp khách, nơi có đầy đủ ánh sáng và người qua lại để thay đổi không khí cho bà vui, và có lẽ vui hơn, mỗi sáng, ông ngồi cạnh bà, đọc cho bà nghe vài trang Kinh Thánh... hay một mẩu chuyện trong cuốn sách mà ông mang theo. Bà có nghe, có hiểu không cũng không ai biết, không thấy bà cau mặt hay mỉm cười. Những lúc ông từ giã ra về, bà đưa cánh tay lên, nói những lời không nghe rõ như muốn giữ ông lại, những lúc ông vào, ông biết bà mừng rỡ nhưng không thốt ra được lời nói, nên ông phải lựa lời lúc từ giã: “Tôi về uống thuốc”; “Tôi đi bác sĩ!” cũng như lúc vào ông nói: “Nào hôm nay bà khỏe không!” Bà không nói gì, chắc hẳn thấy vui khi có ông ngồi bên cạnh, và ông như chiếc kim đồng hồ đều đặn mỗi ngày đều có mặt ở đây.
Tên ông là Nguyễn Văn Thịnh, sinh năm 1930 tại Bùi Chu, Nam Ðịnh. Bà, Nguyễn Thị Tuất, nhỏ thua ông hai tuổi, người cùng quê với ông. Mặc dù là một người kinh doanh giỏi, cuộc đời hai lần di cư, trước năm 1975 ông đã thành công trên thương trường, qua đến Mỹ nuôi được một đàn con 11 trai, gái ăn học thành tài, ở nơi ông thể hiện một con người chơn chất thật thà của một người làm nghề biển.
Ông kể chuyện:
- “Hồi di cư vào Nam, ‘tàu ông Diệm’ lớn lắm, đậu ngoài khơi, chúng em đi tàu nhỏ ra và được kéo lên tàu. Mất hai ngày hai đêm, tàu mới đến Cap Saint Jacques (tên cũ của Vũng Tàu). Chính phủ cấp tiền, nơi tạm cư và đồng bào, tùy hoàn cảnh chọn lựa nơi sinh sống. Chúng em vốn làm nghề biển ở Nam Ðịnh, thấy Vũng Tàu đẹp đẽ, dân cư hiền hòa, dễ làm ăn nên ở lại đây. Thuở ban đầu, gia đình chỉ làm nghề xúc tép cũng đủ sống, tiền trợ cấp dựng được một ngôi nhà lá. Từ nhà lá lên nhà ngói, rồi nhà lầu. Chỉ bốn năm sau, đã có tiền mua đất, cả một hòn núi nhỏ ở bãi trước, thuê công binh quân đội bỏ cốt mìn phá núi, xây nhà lầu khang trang, nhưng đó cũng là năm gia đình ‘em’ chịu mất mát nhiều nhất, trong bốn năm liền, vợ em sinh ba đứa con, không đứa nào nuôi được quá ba tháng (?)”

Gia đình sum họp những ngày bà Thịnh chưa vào Nursing Home.
Ông Thịnh dù đã lớn tuổi có thói quen xưng “em” với tất cả mọi người.
- “Hồi đó gia đình em làm nghề bán máy tàu loại lớn đi biển, đóng tàu rồi mua đi bán lại, nên cuộc sống rất khá giả. Vào những ngày cuối cùng trước khi rời Việt Nam, nhà có đến ba tàu trọng tải khoảng 300 tấn, nếu vượt biển có thể chở hàng trăm người, nên chuyện ra đi quá dễ dàng. Rời Vũng Tàu vào khoảng trưa ngày 29, khi ra tàu, còn thấy du kích Việt Cộng chạy trên bờ. Trên tàu có đủ 10 đứa con và gia đình nội ngoại. Ra khơi chừng ba cây số đã có tàu Mỹ đón. Cuộc đời mình không ngờ lại có chuyện ra đi lần thứ hai.”
Mối lo của người chồng tình nghĩa
Ðến Mỹ, ông bà Nguyễn Văn Thịnh sinh được thêm hai người con nữa, như vậy là đủ nhân số cho một “tiểu đội tác chiến”. Cách đây hai năm, người con trưởng của ông qua đời vì bệnh ung thư, nên ngày nay ông bà chỉ còn lại 11 người con, tất cả đã thành đạt và đều sinh sống, làm việc quanh quẩn trong vòng quận Cam. Ông bà Thịnh có hơn 30 đứa cháu nội ngoại mà ông khó nhớ hết tên tuổi.
Tuy đàn con trai, gái có nhà cửa khang trang, đầy đủ tiện nghi, mời ông Thịnh về ở chung nhưng ông đều từ chối. Ông thuê một căn phòng nhỏ cách nursing home có 5 phút lái xe, tự lo bữa ăn hàng ngày cho mình, để có thể dễ dàng đến thăm vợ mỗi ngày. Ðúng 9 giờ sáng ông có mặt bên vợ, 12 giờ trưa, sau khi bà dùng bữa xong, y tá đỡ bà về phòng nghỉ thì ông ra về. Chiều lại vào, sợ vợ trông hay chính ông cũng cảm thấy lòng không yên. Tuy đông con, nhưng ông không tin, khi ông qua đời trước bà, khó có đứa con nào, đều đặn sớm hôm bên cạnh bà, an ủi bà như ông đã làm.
Tuy đã 82 tuổi, trông ông Thịnh còn minh mẫn, lanh lẹ, còn lái xe được, nhưng vì sao ông lại có ý nghĩ như vậy? Ông Thịnh cho biết: - “Em biết một bà cụ năm nay đã 90 tuổi, bị ‘tai biến’ đã 28 năm, tưởng không qua khỏi, nhưng bà vẫn sống cho đến nay, dù phải nằm một chỗ. Tuy vẫn nhờ nền y tế ở Mỹ là chủ yếu, nhưng cánh đàn ông như mình có lẽ dễ ‘đi’ hơn! Ðó chính là mối lo của em! Nếu em đi là do ý Chúa, nhưng chỉ tội cho bà ấy!”
Tôi quay sang hỏi ông Nguyễn Na, người phụ trách phần bệnh nhân người Việt về tỷ lệ nam nữ vào nursing home này. Ông cho biết “bệnh nhân hết 70% là nữ, chỉ có 30% nam hay ít hơn”. Ðồng ý với ông Thịnh, ông nói: “Có lẽ đàn ông dễ chết hơn phụ nữ!”
Người chồng tử tế chỉ sợ mình chết sớm trong khi còn người vợ ốm đau, quạnh hiu tuổi già trong nursing home không ai lo lắng.
-
nguyennam619
- Posts: 238
- Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am
Chỉ có những bài học,
không có thất bại… trong cuộc đời làm người
Vào những năm 1970, văn hào Nguyễn Mạnh Côn, trong hai tác phẩm danh tiếng, mang tựa đề là "Yêu anh vượt chết" và "Giấc mơ của Đá", đã mô tả tình yêu như một "năng lực siêu việt, huyền nhiệm" vượt thắng mọi trở ngại lớn lao trong cuộc đời. Thậm chí Thần chết hay là Vua đá cũng bị tiêu vong, hoại diệt… trước vòng tay ôm ghì chặt của hai người đang trở thành « một xương, một thịt ».
Chắc hẳn, Nguyễn Mạnh Côn sẽ dễ dàng tương đắc với Gabriel Marcel. Nhà văn hào người Pháp nầy đã khẳng định :
" Yêu ai là khẳng quyết với người ấy : Em không bao giờ chết. Em bất diệt trong suốt cuộc đời của anh."
Sau 70 tuổi đời, ngày ngày làm chứng nhân trực tiếp, trước bao nhiêu vấn đề phức tạp và phiền toái của con người, trong thế giới ngày hôm nay, tôi muốn điều chỉnh lại những câu nói của các tác giả trên đây :
"Tình yêu chỉ làm cho con người trở thành bất diệt, khi tình yêu ấy là một kỳ công đối thoại thực sự giữa hai người".
Nói như vậy tôi muốn nhấn mạnh và khẳng quyết hai điều :
1- Chỉ có tình yêu thực sự, khi tình yêu ấy biết đối thoại trong mọi hoàn cảnh, với bất kỳ trở ngại nào.
2- Chỉ có đối thoại thực sự, khi đối thoại tạo điều kiện cho con người biết yêu thương nhau, như anh chị em và có khả năng cùng nhau ngồi lại giải quyết những vấn, đề do cuộc sống đặt ra.
Trong tinh thần và ý thức ấy, đối thoại phải kết thúc bằng việc làm cụ thể : xây dựng với nhau một thế giới, một quê hương, trong đó mỗi người không trừ sót ai, bất kể vì lý do gì, đều có quyền thương và được thương. Ai ai cũng bắt tay vào công việc, với tất cả năng lực và điều kiện hiện thực của mình. Không một ai chỉ ngồi chờ « quả sung từ trên cao tự nhiên rơi vào miệng ». Mỗi người là một con én làm nên mùa xuân, trên từng tấc đất của Quê hương và cuộc đời.
Câu chuyện sau đây minh họa một cách ý vị thế nào là làm nên mùa xuân bằng đối thoại.
1- Câu chuyện về Trạng và công cuộc cải tổ triều đình
Tôi không biết Trạng được nói tới trong câu chuyện nầy là ai, ở xứ nào. Có thể đó là một đạo sĩ, một thiền sư hay là một nhà hiền triết, một bậc thánh nhân.
Trong câu chuyện, Trạng là người thấu suốt sự đời. Trạng đi lang thang, khắp đó đây, gõ cửa mọi nhà, đem tình thương và hơi ấm cho nhiều người thiếu phương tiện. Bất kể phương tiện nào, vật chất hay tinh thần, của cải hay tiền bạc.
Chỗ nào Trạng đi qua, theo như lời truyền tụng, vợ chồng yêu nhau hơn. Con cái nghe lời cha mẹ. Cha mẹ biết chuyện trò với con cái.
Khi có một vấn đề hơi phiền hà và phức tạp xảy ra, Trạng đến, Trạng mĩm cười. Ăn trầu với người nầy, hút thuốc với người kia. Chơi đùa chạy nhảy với các em bé trong làng...Thế rồi, bao nhiêu vấn đề cũng từ từ biến tan. Không ai hiểu được vì lý do gì. Họ hỏi Trạng, muốn theo học với Trạng, Trạng chỉ mĩm cười trả lời : "Trạng biết gì đâu mà chỉ dạy ! Thôi, hãy đi tìm một vị thầy ở chỗ khác mà học !".
Thế mà Triều đình Nhà Vua hay tin về Trạng. Chính lúc ấy, Triều Đình đang gặp nhiều khủng hoảng trầm trọng. Và không một ai có thể xác định khủng hoảng xuất phát từ đâu, vì lý do gì.
Trạng được triệu về hoàng cung. Lâp tức, Trạng đưa ra điều kiện : Mỗi lần được triệu về, Trạng xin Triều đình ứng trước 50 lượng vàng, bằng không Trạng không về, mặc dù bị chém đầu. Khi hay tin như vậy, mọi người dân ngơ ngác, bỡ ngỡ, kinh hoàng :
"Có bao giờ Trạng lấy của ai một đồng xu nhỏ. Thế sao bây giờ Trạng đòi hỏi một giá tiền quá cao như thế?".
Chính nhà Vua cũng nổi giận lôi đình, sai quân lính đi chém đầu Trạng. Nhưng tất cả Triều Đình sụp lạy và can ngăn :
"Xin nhà Vua hãy thư thả. Hãy chấp nhận điều kiện, cho Trạng về. Nếu sau đó, Trạng không làm gì được, Nhà Vua hãy chém đầu. Làm sao Trạng có thể chạy Trời khỏi nắng ?".
Lần đầu tiên, sau khi nhận lãnh 50 lượng vàng, Trạng đã về trình diện :
"Thưa Triều đình, tôi được triệu về để giải quyết nhiều vấn đề. Triều đình đã họp nhau lại, kê khai và viết thành văn bản những vấn đề ấy chưa ?".
Triều đình ngơ ngác, không biết trả lời thế nào.
Lập tức, Trạng đứng dậy ra về :
- "Trạng không thể giải quyết gì cả, nếu Triều đình chưa họp lại, kê khai những câu hỏi rõ ràng và chép thành văn bản".
Sau ba tháng, Triều đình đã làm xong bản báo cáo. Trạng được triệu về lần thứ hai, sau khi nhận lãnh thêm 50 lượng vàng.
Lần nầy Trạng đặt câu hỏi :
- "Triều đinh đã cùng nhau họp lại suy nghĩ, đề nghị nhiều cách giải quyết khác nhau, cho mỗi vấn đề chưa ?"
Lại một lần nữa Triều đinh ngơ ngác. Trạng đứng dậy ra về.
Sáu tháng sau, Triều đình đã khảo sát xong xuôi mọi vấn đề. Trước mỗi bế tắc, Triều đình đã đề nghị sáu cách giải quyết khác nhau.
Lần nầy cũng như mấy lần trước, Trạng nhận lãnh 50 lượng vàng và được triệu về lần thứ ba :
"Trong sáu cách giải đáp cho mỗi vấn đề, Triều đình đã ngồi lại thảo luận và chọn lựa cách nào gọi được là hữu hiệu nhất chưa ?"
Lần sau cùng, khi Triều đình đã viết thành văn bản cách chọn lựa và quyết định của mình, Trạng được triệu về.
Lần nầy Trạng mang về trả lại cho Triều đình bốn lần 50 lượng vàng. Tổng cộng là 200 lượng.
Trước mặt Vua quan, Trạng đã kết luận :
"Từ nay, Triều đình đã có phương pháp làm việc".
Trước mỗi vấn đề, chúng ta phải trao đổi, trao đổi và trao đổi. Ít nhất ba lần trao đổi, trước mỗi quyết định. Mỗi cách giải quyết đều có tính tạm thời. Không có gì vĩnh cửu dưới trời đất nầy. Những vấn đề sẽ trở lại nay mai... Chúng ta cũng sẽ phải ngồi lại khảo sát, trao đổi và chọn lựa với nhau.
Kính thưa quí vị !
Từ giờ phút nầy, Quê Hương không phải chỉ có một Trạng mà thôi. Co bao nhiêu người dân, là có bấy nhiêu Trạng, với đầy đủ khả năng giúp nhà Vua lãnh đạo đất nước.
2- Những bài học do Trạng để lại
Câu chuyện trên đây cho phép mỗi người trong chúng ta ghi nhận những bài học hay là những cách giải quyết "tan đá, chảy vàng" và "vượt thắng sự chết".
Thứ nhất : Trạng được triệu về để giải quyết những vấn đề khủng hoảng trong nội bộ triều đình. Nhưng thực ra, Trạng không giải quyết gì hết. Nói đúng hơn, Trạng từ chối can thiệp từ ngoài. Trạng không hành xử như một vị cứu tinh đến từ trên, có mọi quyền năng và phù phép siêu việt, thần thánh. Trạng không đến với một "giải pháp có sẵn" trong túi áo của mình.
Thứ hai : Trạng không chấp nhận làm việc không công. Trạng đòi hỏi một số vàng lớn lao, tượng trưng sự quyết tâm vững chãi của Triều đình muốn đổi mới nội bộ. Không có điều kiện tiên quyết nầy, Triều đình sẽ không bao giờ giải quyết vấn đề với tất cả thực chất, thực lực và thực tâm của mình.
· Thực ở đây có nghĩa là sự thực, thực tại, không giả dối.
· Tuy nhiên, thực còn có nghĩa là nồi cơm, ba bữa ăn hằng ngày. Cái gì đụng đến nồi cơm, cái ấy mới có khả năng đòi hỏi chúng ta dấn thân, nhập cuộc. Nồi cơm cũng có ý nghĩa tương đương với sinh mạng. Cho nên Trạng là con người đầu tiên có khả năng khẳng định lòng quyết tâm của mình, bằng cách sẵn sàng đưa cổ cho Nhà Vua chém.
Thứ ba : Cuộc sống làm người bất kỳ với ai, ở đâu, dưới thời đại nào...luôn luôn có vấn đề. Ở đâu con người phải chung sống với nhau, ở đó những va chạm, xung đột…là lẽ thường tình, Nói cho cùng, làm người, không ai có thể "sống một mình" mà không cưu mang người anh chị em đồng bào, đồng loại, trong tâm tư và hoài bão của mình. Thậm chí, đó là một thiền sư, một vị tu hành... đang lấy Trời làm nhà, lấy Đất làm chiếu và lấy rừng núi cô liêu làm bạn tri kỷ...Và khi vấn đề nầy được giải quyết xong xuôi, thì vấn đề khác lại xuất hiện. Không vấn đề nào giống vấn đề nào. Cho nên, không có một lối giải quyết "độc nhất vô nhị", làm chìa khoá mở ra được mọi cánh cửa.
Thứ bốn : Khi có một vấn đề xảy ra, bất kể ở địa hạt hay là mang thức dạng nào... mọi người trong cuộc lớn bé, già cả, địa vị cao thấp, thuộc phái nam hay phái nữ, đều là những người có quyền, có bổn phận và trách nhiệm tham dự vào công việc giải quyết. Cho nên, mọi người trong cuộc có quyền được lắng nghe, phát biểu, đóng góp ý kiến.
· Lãnh đạo không phải là một mình giải quyết một cách đơn phương mọi vấn đề của tập thể mà mình có trách nhiệm hướng dẫn.
· Trong một xã hội, không phải chỉ những thành viên có tiền tài, quyền lực và chức vị mới có tiếng nói. Phàm là người, ai ai cũng phải được cư xử, như là một con người có tiếng nói.
· Trong một gia đình, không phải chỉ có cha mẹ mới có tiếng nói và con cái phải "dựa cột mà nghe".
· Nếu không được nói, không học tập để nói và để được nghe, không lạ gì con cái chúng ta sẽ trở thành cao bồi, du đảng, trác táng, vào tuổi vị thành niên. Phải chăng đó là cách nói, của những con người không bao giờ có tiếng nói, trong cuộc đời làm người?
Thứ năm : Khi có một trăm người phát biểu thì sẽ có một trăm ý kiến hay là một trăm cách giải quyết khác nhau. Đó là lẽ thường tình trong cuộc đời. Hẳn thực, có người mơ thấu trời. Có người lặn xuống biển. Có người bay tà tà ngang mặt đất. Tất cả mọi người có nhu cầu được lắng nghe và được tham khảo. Và sau khi được lắng nghe, nghĩa là được coi trọng, có lẽ họ không còn coi ý kiến của mình là số một. Thêm vào đó, ý kiến của mỗi người đã từ từ thay đổi, biến dạng, bên cạnh những ý kiến khác khi được phát biểu. Một hạt nước ở bên cạnh một hạt nước khác, đã bắt đầu làm nên đại dương.
Thứ sáu : Tuy dù bá nhân bá tánh, như tôi vừa mới trình bày, nhiều ý kiến sẽ từ từ hội tụ. Và có những ý kiến sẽ ly tán, tách rời khỏi trung tâm đầu tiên, để lập thành một trung tâm thứ hai. Rốt cuộc, sau một buổi trao đổi, chia sẽ qua lại, ba bốn trung tâm sẽ thành hình một cách rõ rệt.
Trong câu chuyện trên đây, Trạng đã chọn sáu trung tâm. Đó là một cách chọn lựa đại lượng, cởi mở và can đảm. Thông thường, trong những cuộc trao đổi, tập thể chỉ chọn lựa ba hoặc bốn trung tâm là quá đầy đủ.
Thứ bảy : Để lấy quyết định cuối cùng, Trạng đã sử dụng tiêu chuẩn "nồi cơm", có nghĩa là thực tế và sinh mạng. Nói cách khác, cái gì là quan trọng số một cho chúng ta ? Vì cái gì, tôi sẵn sàng mất nồi cơm hằng ngày ? Còn hơn thế nữa, vì cái gì, tôi không sợ mất mạng ? Vì cái gì tôi cố quyết bắt chước Thượng đế, trở nên bất diệt và bất tử, không còn lo sợ gì cả ?
Thứ tám : Mặc dù với phương pháp làm việc nghiêm chỉnh, đặt nền móng trên sự tôn trọng lẫn nhau, theo ý của Trạng, chúng ta vẫn có thể sai lầm. Nếu không thành công, sau một thời gian được tiên liệu, chúng ta hãy cùng nhau đánh giá và quyết định lại. Xét lại, tìm cách chuyển hóa những sai lầm… đâu phải là điều xấu hổ.
Hẳn thực, mỗi ngày, chúng ta có trách nhiệm quyết định lại cuộc đời của mình. Nếu công việc không thành tựu ở đây, chúng ta hãy can đảm làm chuyện khác, một cách khác, ở nơi khác, với người khác ...Tâm lý ngày nay dạy chúng ta: "No failure. Only feed-back". Tôi xin chuyển ý :
Không có thất bại tuyệt đối, trong cuộc đời làm người. Đó chỉ là bài học dạy chúng ta rút kinh nghiệm, thay đổi. Thất bại không còn là thất bại nếu thất bại ấy có khả năng “đút cơm và nuôi sống” giá trị làm người của chúng ta.
Nguyễn Văn Thành
Lausanne, Thụy Sĩ
không có thất bại… trong cuộc đời làm người
Vào những năm 1970, văn hào Nguyễn Mạnh Côn, trong hai tác phẩm danh tiếng, mang tựa đề là "Yêu anh vượt chết" và "Giấc mơ của Đá", đã mô tả tình yêu như một "năng lực siêu việt, huyền nhiệm" vượt thắng mọi trở ngại lớn lao trong cuộc đời. Thậm chí Thần chết hay là Vua đá cũng bị tiêu vong, hoại diệt… trước vòng tay ôm ghì chặt của hai người đang trở thành « một xương, một thịt ».
Chắc hẳn, Nguyễn Mạnh Côn sẽ dễ dàng tương đắc với Gabriel Marcel. Nhà văn hào người Pháp nầy đã khẳng định :
" Yêu ai là khẳng quyết với người ấy : Em không bao giờ chết. Em bất diệt trong suốt cuộc đời của anh."
Sau 70 tuổi đời, ngày ngày làm chứng nhân trực tiếp, trước bao nhiêu vấn đề phức tạp và phiền toái của con người, trong thế giới ngày hôm nay, tôi muốn điều chỉnh lại những câu nói của các tác giả trên đây :
"Tình yêu chỉ làm cho con người trở thành bất diệt, khi tình yêu ấy là một kỳ công đối thoại thực sự giữa hai người".
Nói như vậy tôi muốn nhấn mạnh và khẳng quyết hai điều :
1- Chỉ có tình yêu thực sự, khi tình yêu ấy biết đối thoại trong mọi hoàn cảnh, với bất kỳ trở ngại nào.
2- Chỉ có đối thoại thực sự, khi đối thoại tạo điều kiện cho con người biết yêu thương nhau, như anh chị em và có khả năng cùng nhau ngồi lại giải quyết những vấn, đề do cuộc sống đặt ra.
Trong tinh thần và ý thức ấy, đối thoại phải kết thúc bằng việc làm cụ thể : xây dựng với nhau một thế giới, một quê hương, trong đó mỗi người không trừ sót ai, bất kể vì lý do gì, đều có quyền thương và được thương. Ai ai cũng bắt tay vào công việc, với tất cả năng lực và điều kiện hiện thực của mình. Không một ai chỉ ngồi chờ « quả sung từ trên cao tự nhiên rơi vào miệng ». Mỗi người là một con én làm nên mùa xuân, trên từng tấc đất của Quê hương và cuộc đời.
Câu chuyện sau đây minh họa một cách ý vị thế nào là làm nên mùa xuân bằng đối thoại.
1- Câu chuyện về Trạng và công cuộc cải tổ triều đình
Tôi không biết Trạng được nói tới trong câu chuyện nầy là ai, ở xứ nào. Có thể đó là một đạo sĩ, một thiền sư hay là một nhà hiền triết, một bậc thánh nhân.
Trong câu chuyện, Trạng là người thấu suốt sự đời. Trạng đi lang thang, khắp đó đây, gõ cửa mọi nhà, đem tình thương và hơi ấm cho nhiều người thiếu phương tiện. Bất kể phương tiện nào, vật chất hay tinh thần, của cải hay tiền bạc.
Chỗ nào Trạng đi qua, theo như lời truyền tụng, vợ chồng yêu nhau hơn. Con cái nghe lời cha mẹ. Cha mẹ biết chuyện trò với con cái.
Khi có một vấn đề hơi phiền hà và phức tạp xảy ra, Trạng đến, Trạng mĩm cười. Ăn trầu với người nầy, hút thuốc với người kia. Chơi đùa chạy nhảy với các em bé trong làng...Thế rồi, bao nhiêu vấn đề cũng từ từ biến tan. Không ai hiểu được vì lý do gì. Họ hỏi Trạng, muốn theo học với Trạng, Trạng chỉ mĩm cười trả lời : "Trạng biết gì đâu mà chỉ dạy ! Thôi, hãy đi tìm một vị thầy ở chỗ khác mà học !".
Thế mà Triều đình Nhà Vua hay tin về Trạng. Chính lúc ấy, Triều Đình đang gặp nhiều khủng hoảng trầm trọng. Và không một ai có thể xác định khủng hoảng xuất phát từ đâu, vì lý do gì.
Trạng được triệu về hoàng cung. Lâp tức, Trạng đưa ra điều kiện : Mỗi lần được triệu về, Trạng xin Triều đình ứng trước 50 lượng vàng, bằng không Trạng không về, mặc dù bị chém đầu. Khi hay tin như vậy, mọi người dân ngơ ngác, bỡ ngỡ, kinh hoàng :
"Có bao giờ Trạng lấy của ai một đồng xu nhỏ. Thế sao bây giờ Trạng đòi hỏi một giá tiền quá cao như thế?".
Chính nhà Vua cũng nổi giận lôi đình, sai quân lính đi chém đầu Trạng. Nhưng tất cả Triều Đình sụp lạy và can ngăn :
"Xin nhà Vua hãy thư thả. Hãy chấp nhận điều kiện, cho Trạng về. Nếu sau đó, Trạng không làm gì được, Nhà Vua hãy chém đầu. Làm sao Trạng có thể chạy Trời khỏi nắng ?".
Lần đầu tiên, sau khi nhận lãnh 50 lượng vàng, Trạng đã về trình diện :
"Thưa Triều đình, tôi được triệu về để giải quyết nhiều vấn đề. Triều đình đã họp nhau lại, kê khai và viết thành văn bản những vấn đề ấy chưa ?".
Triều đình ngơ ngác, không biết trả lời thế nào.
Lập tức, Trạng đứng dậy ra về :
- "Trạng không thể giải quyết gì cả, nếu Triều đình chưa họp lại, kê khai những câu hỏi rõ ràng và chép thành văn bản".
Sau ba tháng, Triều đình đã làm xong bản báo cáo. Trạng được triệu về lần thứ hai, sau khi nhận lãnh thêm 50 lượng vàng.
Lần nầy Trạng đặt câu hỏi :
- "Triều đinh đã cùng nhau họp lại suy nghĩ, đề nghị nhiều cách giải quyết khác nhau, cho mỗi vấn đề chưa ?"
Lại một lần nữa Triều đinh ngơ ngác. Trạng đứng dậy ra về.
Sáu tháng sau, Triều đình đã khảo sát xong xuôi mọi vấn đề. Trước mỗi bế tắc, Triều đình đã đề nghị sáu cách giải quyết khác nhau.
Lần nầy cũng như mấy lần trước, Trạng nhận lãnh 50 lượng vàng và được triệu về lần thứ ba :
"Trong sáu cách giải đáp cho mỗi vấn đề, Triều đình đã ngồi lại thảo luận và chọn lựa cách nào gọi được là hữu hiệu nhất chưa ?"
Lần sau cùng, khi Triều đình đã viết thành văn bản cách chọn lựa và quyết định của mình, Trạng được triệu về.
Lần nầy Trạng mang về trả lại cho Triều đình bốn lần 50 lượng vàng. Tổng cộng là 200 lượng.
Trước mặt Vua quan, Trạng đã kết luận :
"Từ nay, Triều đình đã có phương pháp làm việc".
Trước mỗi vấn đề, chúng ta phải trao đổi, trao đổi và trao đổi. Ít nhất ba lần trao đổi, trước mỗi quyết định. Mỗi cách giải quyết đều có tính tạm thời. Không có gì vĩnh cửu dưới trời đất nầy. Những vấn đề sẽ trở lại nay mai... Chúng ta cũng sẽ phải ngồi lại khảo sát, trao đổi và chọn lựa với nhau.
Kính thưa quí vị !
Từ giờ phút nầy, Quê Hương không phải chỉ có một Trạng mà thôi. Co bao nhiêu người dân, là có bấy nhiêu Trạng, với đầy đủ khả năng giúp nhà Vua lãnh đạo đất nước.
2- Những bài học do Trạng để lại
Câu chuyện trên đây cho phép mỗi người trong chúng ta ghi nhận những bài học hay là những cách giải quyết "tan đá, chảy vàng" và "vượt thắng sự chết".
Thứ nhất : Trạng được triệu về để giải quyết những vấn đề khủng hoảng trong nội bộ triều đình. Nhưng thực ra, Trạng không giải quyết gì hết. Nói đúng hơn, Trạng từ chối can thiệp từ ngoài. Trạng không hành xử như một vị cứu tinh đến từ trên, có mọi quyền năng và phù phép siêu việt, thần thánh. Trạng không đến với một "giải pháp có sẵn" trong túi áo của mình.
Thứ hai : Trạng không chấp nhận làm việc không công. Trạng đòi hỏi một số vàng lớn lao, tượng trưng sự quyết tâm vững chãi của Triều đình muốn đổi mới nội bộ. Không có điều kiện tiên quyết nầy, Triều đình sẽ không bao giờ giải quyết vấn đề với tất cả thực chất, thực lực và thực tâm của mình.
· Thực ở đây có nghĩa là sự thực, thực tại, không giả dối.
· Tuy nhiên, thực còn có nghĩa là nồi cơm, ba bữa ăn hằng ngày. Cái gì đụng đến nồi cơm, cái ấy mới có khả năng đòi hỏi chúng ta dấn thân, nhập cuộc. Nồi cơm cũng có ý nghĩa tương đương với sinh mạng. Cho nên Trạng là con người đầu tiên có khả năng khẳng định lòng quyết tâm của mình, bằng cách sẵn sàng đưa cổ cho Nhà Vua chém.
Thứ ba : Cuộc sống làm người bất kỳ với ai, ở đâu, dưới thời đại nào...luôn luôn có vấn đề. Ở đâu con người phải chung sống với nhau, ở đó những va chạm, xung đột…là lẽ thường tình, Nói cho cùng, làm người, không ai có thể "sống một mình" mà không cưu mang người anh chị em đồng bào, đồng loại, trong tâm tư và hoài bão của mình. Thậm chí, đó là một thiền sư, một vị tu hành... đang lấy Trời làm nhà, lấy Đất làm chiếu và lấy rừng núi cô liêu làm bạn tri kỷ...Và khi vấn đề nầy được giải quyết xong xuôi, thì vấn đề khác lại xuất hiện. Không vấn đề nào giống vấn đề nào. Cho nên, không có một lối giải quyết "độc nhất vô nhị", làm chìa khoá mở ra được mọi cánh cửa.
Thứ bốn : Khi có một vấn đề xảy ra, bất kể ở địa hạt hay là mang thức dạng nào... mọi người trong cuộc lớn bé, già cả, địa vị cao thấp, thuộc phái nam hay phái nữ, đều là những người có quyền, có bổn phận và trách nhiệm tham dự vào công việc giải quyết. Cho nên, mọi người trong cuộc có quyền được lắng nghe, phát biểu, đóng góp ý kiến.
· Lãnh đạo không phải là một mình giải quyết một cách đơn phương mọi vấn đề của tập thể mà mình có trách nhiệm hướng dẫn.
· Trong một xã hội, không phải chỉ những thành viên có tiền tài, quyền lực và chức vị mới có tiếng nói. Phàm là người, ai ai cũng phải được cư xử, như là một con người có tiếng nói.
· Trong một gia đình, không phải chỉ có cha mẹ mới có tiếng nói và con cái phải "dựa cột mà nghe".
· Nếu không được nói, không học tập để nói và để được nghe, không lạ gì con cái chúng ta sẽ trở thành cao bồi, du đảng, trác táng, vào tuổi vị thành niên. Phải chăng đó là cách nói, của những con người không bao giờ có tiếng nói, trong cuộc đời làm người?
Thứ năm : Khi có một trăm người phát biểu thì sẽ có một trăm ý kiến hay là một trăm cách giải quyết khác nhau. Đó là lẽ thường tình trong cuộc đời. Hẳn thực, có người mơ thấu trời. Có người lặn xuống biển. Có người bay tà tà ngang mặt đất. Tất cả mọi người có nhu cầu được lắng nghe và được tham khảo. Và sau khi được lắng nghe, nghĩa là được coi trọng, có lẽ họ không còn coi ý kiến của mình là số một. Thêm vào đó, ý kiến của mỗi người đã từ từ thay đổi, biến dạng, bên cạnh những ý kiến khác khi được phát biểu. Một hạt nước ở bên cạnh một hạt nước khác, đã bắt đầu làm nên đại dương.
Thứ sáu : Tuy dù bá nhân bá tánh, như tôi vừa mới trình bày, nhiều ý kiến sẽ từ từ hội tụ. Và có những ý kiến sẽ ly tán, tách rời khỏi trung tâm đầu tiên, để lập thành một trung tâm thứ hai. Rốt cuộc, sau một buổi trao đổi, chia sẽ qua lại, ba bốn trung tâm sẽ thành hình một cách rõ rệt.
Trong câu chuyện trên đây, Trạng đã chọn sáu trung tâm. Đó là một cách chọn lựa đại lượng, cởi mở và can đảm. Thông thường, trong những cuộc trao đổi, tập thể chỉ chọn lựa ba hoặc bốn trung tâm là quá đầy đủ.
Thứ bảy : Để lấy quyết định cuối cùng, Trạng đã sử dụng tiêu chuẩn "nồi cơm", có nghĩa là thực tế và sinh mạng. Nói cách khác, cái gì là quan trọng số một cho chúng ta ? Vì cái gì, tôi sẵn sàng mất nồi cơm hằng ngày ? Còn hơn thế nữa, vì cái gì, tôi không sợ mất mạng ? Vì cái gì tôi cố quyết bắt chước Thượng đế, trở nên bất diệt và bất tử, không còn lo sợ gì cả ?
Thứ tám : Mặc dù với phương pháp làm việc nghiêm chỉnh, đặt nền móng trên sự tôn trọng lẫn nhau, theo ý của Trạng, chúng ta vẫn có thể sai lầm. Nếu không thành công, sau một thời gian được tiên liệu, chúng ta hãy cùng nhau đánh giá và quyết định lại. Xét lại, tìm cách chuyển hóa những sai lầm… đâu phải là điều xấu hổ.
Hẳn thực, mỗi ngày, chúng ta có trách nhiệm quyết định lại cuộc đời của mình. Nếu công việc không thành tựu ở đây, chúng ta hãy can đảm làm chuyện khác, một cách khác, ở nơi khác, với người khác ...Tâm lý ngày nay dạy chúng ta: "No failure. Only feed-back". Tôi xin chuyển ý :
Không có thất bại tuyệt đối, trong cuộc đời làm người. Đó chỉ là bài học dạy chúng ta rút kinh nghiệm, thay đổi. Thất bại không còn là thất bại nếu thất bại ấy có khả năng “đút cơm và nuôi sống” giá trị làm người của chúng ta.
Nguyễn Văn Thành
Lausanne, Thụy Sĩ

Ý Nghĩa Của Số 1 - Ai cũng chỉ có một mẹ, mẹ là người cho con tình yêu mãi mãi. Mẹ cho con tất cả, vô điều kiện.
-Mẹ là tài sản quý giá nhất mà con có được ngay từ khi mới sinh ra.
Một ngày nào đó vòng tay của mẹ không còn rộng mở với con nữa, có nghĩa là mẹ đã qua đời...
- Mỗi người chỉ có một trái tim để giữ nó trong sạch. Trái tim đó hoàn hảo nhất là trái tim đã chia xẻ tình yêu thương nhiều nhất.
-Mỗi cuộc đời có thể trải qua nhiều mối tình, mối tình đầu khó quên nhất, nhưng mối tình cuối mới là mối tình đẹp nhất.
-Một người yêu đúng nghĩa là người mà trái tim họ có thể sưởi ấm khi giá lạnh nhất.
- Hãy tin vào tình yêu, luôn có một ai đó dành cho một ai đó.
-Một người bạn chân thành đủ khiến ta bình tĩnh, tự tin và an tâm dù trong hoàn cảnh nghiệt ngã hay nguy hiểm nhất.
-Đó là món quà quý báu đặc biệt của cuộc sống.
-Một ánh nhìn ấm áp, nói được nhiều hơn những điều vô vị.
- Một nụ cười có thể làm nên những điều kỳ diệu.
-Ai cũng có ít nhất một khả năng hơn người, chẳng qua là họ chưa thấy được để nhìn nhận khả năng mới của họ mà thôi.
- Mỗi người chỉ có một cái miệng để cẩn thận khi dùng lời nói, để không còn làm nó dơ bẩn và không làm tổn hại đến người khác
-Một cuốn sách có thể làm thay đổi con người.
-Cuốn sách với nội dung xấu xa đủ làm hư hỏng người đọc, nhưng không ai thành công với chỉ một cuốn sách hay.
- Một người không có gì ngoài gia tài kếch xù thì không bằng một người nghèo khổ mà có tri thức, sáng tạo, kinh nghiệm và lý tưởng
-Một đồng tự lao động được quý giá hơn nhiều so với hàng ngàn đồng nhặt được hay làm việc bất chính mà có.
-Ai cũng chỉ có một cuộc sống để làm việc và yêu thương hết mình.
-Chuỗi ngày quá khứ đã qua, tương lai rộng mở nhiều bất ngờ. Ta chỉ có một hiện tại để sống và để tận hưởng từng phút từng giây.
-Có nhiều cơ hội chỉ đến một lần trong đời.
-Với thế giới, bạn chỉ là một ai đó, nhưng có thể với một ai đó, bạn là cả một thế giới.
sưu tầm
Tại sao người tốt vẫn có thể làm việc xấu?
Các nhà khoa học Mỹ cho rằng mỗi người có hai hệ thống đạo đức và nhiều khi chúng bất đồng với nhau. Khi đó con người sẵn sàng thực hiện những hành vi vô đạo đức.
Newcientist đưa tin Robert Kurzban, một chuyên gia của Đại học Pennsylvania tại Mỹ, cùng các đồng nghiệp tuyển một nhóm người tình nguyện để thực hiện một thử nghiệm. Họ nói với tình nguyện viên rằng một tàu điện lao chệch đường ray và 5 người trên tàu có thể thiệt mạng. Nhóm tình nguyện viên phải quyết định lái tàu sang một đường ray khác, nơi một người đang đứng, hoặc để tàu tiếp tục chạy trên đường ray cũ. Đa số tình nguyện viên quyết định lái tàu sang đường ray khác để giảm thiệt hại về nhân mạng.
Sau đó nhóm nghiên cứu đặt ra tình huống tiếp theo: Tình nguyện viên phải đẩy một người vào đường ray để tàu ngừng chạy. Phần lớn tình nguyện viên tỏ ra do dự hoặc phản đối.
“Điều đó cho thấy đa số nhân loại không muốn trực tiếp cướp mạng sống của người khác, ngay cả khi hành vi đó phục vụ một mục đích cao cả”, nhóm nghiên cứu bình luận.
Khi được yêu cầu đánh giá quyết định của họ trên phương diện đạo đức, 85% tình nguyện viên cho rằng đẩy cướp một sinh mạng để cứu 5 người khác là hành vi sai trái. Mặc dù vậy, 28% người tình nguyện thừa nhận họ vẫn sẵn sàng hy sinh một người để cứu năm người. Nếu cả 6 người trong tình huống đều là người quen hay họ hàng thì số tình nguyện viên sẵn sàng thực hiện hành vi tương tự lên tới 47%.
Kết quả thử nghiệm cho thấy con người có ít nhất hai hệ thống trong tâm trí để đánh giá mức độ đúng, sai của mỗi hành vi. Chẳng hạn, một hệ thống cấm chúng ta làm hại người khác để cứu người thân, song một hệ thống lại thúc giục chúng ta bảo vệ người thân bằng mọi giá. Trong nhiều trường hợp hai hệ thống bất đồng với nhau. Đó là khi người tốt sẵn sàng thực hiện hành vi xấu.
Peter DeScioli, một thành viên trong nhóm nghiên cứu, nói rằng sự gắn kết giữa con người trong xã hội buộc chúng ta phải tự đặt ra các quy tắc ứng xử. Quá trình đặt ra quy tắc trong mỗi người diễn ra một cách võ đoán. Chẳng hạn, nhiều người coi đồng tính luyến ái là hiện tượng xấu dù họ không thể giải thích nó đáng bị phê phán ở chỗ nào.
"Tất nhiên, con người có thể thay đổi quy tắc đạo đức mà họ đặt ra. Chẳng hạn, khi thân nhân của người tốt thực hiện hành vi xấu rồi lâm vào tình thế hiểm nghèo, người tốt sẽ chỉ nghĩ tới việc bảo vệ họ mà tạm quên các quy tắc đạo đức. Đó là nguyên nhân khiến nhiều cá nhân bao che người thân dù biết họ từng thực hiện hành vi tội lỗi như cướp, hãm hiếp, sát nhân”, Fiery Cushman, một nhà nghiên cứu của Đại học Brown tại Mỹ, bình luận.
Minh Long
Các nhà khoa học Mỹ cho rằng mỗi người có hai hệ thống đạo đức và nhiều khi chúng bất đồng với nhau. Khi đó con người sẵn sàng thực hiện những hành vi vô đạo đức.
Newcientist đưa tin Robert Kurzban, một chuyên gia của Đại học Pennsylvania tại Mỹ, cùng các đồng nghiệp tuyển một nhóm người tình nguyện để thực hiện một thử nghiệm. Họ nói với tình nguyện viên rằng một tàu điện lao chệch đường ray và 5 người trên tàu có thể thiệt mạng. Nhóm tình nguyện viên phải quyết định lái tàu sang một đường ray khác, nơi một người đang đứng, hoặc để tàu tiếp tục chạy trên đường ray cũ. Đa số tình nguyện viên quyết định lái tàu sang đường ray khác để giảm thiệt hại về nhân mạng.
Sau đó nhóm nghiên cứu đặt ra tình huống tiếp theo: Tình nguyện viên phải đẩy một người vào đường ray để tàu ngừng chạy. Phần lớn tình nguyện viên tỏ ra do dự hoặc phản đối.
“Điều đó cho thấy đa số nhân loại không muốn trực tiếp cướp mạng sống của người khác, ngay cả khi hành vi đó phục vụ một mục đích cao cả”, nhóm nghiên cứu bình luận.
Khi được yêu cầu đánh giá quyết định của họ trên phương diện đạo đức, 85% tình nguyện viên cho rằng đẩy cướp một sinh mạng để cứu 5 người khác là hành vi sai trái. Mặc dù vậy, 28% người tình nguyện thừa nhận họ vẫn sẵn sàng hy sinh một người để cứu năm người. Nếu cả 6 người trong tình huống đều là người quen hay họ hàng thì số tình nguyện viên sẵn sàng thực hiện hành vi tương tự lên tới 47%.
Kết quả thử nghiệm cho thấy con người có ít nhất hai hệ thống trong tâm trí để đánh giá mức độ đúng, sai của mỗi hành vi. Chẳng hạn, một hệ thống cấm chúng ta làm hại người khác để cứu người thân, song một hệ thống lại thúc giục chúng ta bảo vệ người thân bằng mọi giá. Trong nhiều trường hợp hai hệ thống bất đồng với nhau. Đó là khi người tốt sẵn sàng thực hiện hành vi xấu.
Peter DeScioli, một thành viên trong nhóm nghiên cứu, nói rằng sự gắn kết giữa con người trong xã hội buộc chúng ta phải tự đặt ra các quy tắc ứng xử. Quá trình đặt ra quy tắc trong mỗi người diễn ra một cách võ đoán. Chẳng hạn, nhiều người coi đồng tính luyến ái là hiện tượng xấu dù họ không thể giải thích nó đáng bị phê phán ở chỗ nào.
"Tất nhiên, con người có thể thay đổi quy tắc đạo đức mà họ đặt ra. Chẳng hạn, khi thân nhân của người tốt thực hiện hành vi xấu rồi lâm vào tình thế hiểm nghèo, người tốt sẽ chỉ nghĩ tới việc bảo vệ họ mà tạm quên các quy tắc đạo đức. Đó là nguyên nhân khiến nhiều cá nhân bao che người thân dù biết họ từng thực hiện hành vi tội lỗi như cướp, hãm hiếp, sát nhân”, Fiery Cushman, một nhà nghiên cứu của Đại học Brown tại Mỹ, bình luận.
Minh Long

