Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Thời sinh viên ở Sài Gòn

Trần Trung Đạo

- Các anh các chị, có thể không phải là thủ phạm nhưng không thể phủ nhận là những người đã góp phần gây ra những điêu tàn đổ nát hôm nay. Xin đừng im lặng nữa. Nếu không đủ sức để hành động, hãy viết, hãy nói, hãy kể lại cho các thế hệ trẻ những bài học dù thất bại, những ước mơ dù bị phản bội, những kinh nghiệm dù được đổi bằng xương máu của mình. Là những người có lương tâm, hôm nay, không có tòa án nào kết án các anh chị nặng bằng tòa án lương tâm của chính các anh chị. Là những người vốn nặng tình cảm, hôm nay, không có tình cảm nào cấu xé các anh chị bằng tình cảm các anh chị đã từng dành cho đất nước. Xã hội Việt Nam băng hoại, trụy lạc, tha hóa ngày nay là chiếc gương, các anh chị hãy soi vào đó để thấy lại chính mình...


Nhân dịp đọc bài viết của Hoàng Thanh Trúc trên Dân Làm Báo và qua đó đọc thêm các bài viết khác Không hổ thẹn về một thời trai trẻ của một nhóm tác giả và Cuộc họp mặt “có một không hai”của Huỳnh Tấn Mẫm trên báo Tuổi Trẻ sau buổi hội thảo “tầm vóc và ý nghĩa của phong trào đấu tranh của sinh viên – học sinh trí thức, văn nghệ sĩ… tại các đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975” được tổ chức tại Đại học Duy Tân (Đà Nẵng) trong hai ngày 19 và 20-5-2012, tôi chợt nhớ lại một bài thơ tôi viết từ lâu lắm cũng có nhắc đến các anh chị này.

Bài thơ Đêm cuối đi qua trường Luật viết ra trong những ngày mới đến Mỹ nhưng bắt nguồn từ những ý hiện lên trong một đêm mưa tháng Sáu 1981 ở Sài Gòn. Tôi không ghi lại ngày tháng viết bài thơ nhưng có in trong tập thơ đầu tay ở Mỹ năm 1991. Bài thơ khá dài, dưới đây là một đoạn có liên quan đến bài viết này:

Trời Sài Gòn tháng Sáu mưa đêm
Như từng nhát dao chém xuống đời vội vã
Tôi ra đi dặn lòng quên tất cả
Những hẹn thề toan tính thuở hoa niên

Bốn phương trời lưu lạc một bầy chim
Đã lạc lối về sông Dương Tử
Tổ quốc Việt Nam
Bốn nghìn năm lịch sử

Còn lại hôm nay là những tang thương
Tôi nhìn qua bên góc kia đường
Tấm bảng Hội Liên Hiệp Sinh Viên
Vẫn còn đong đưa trên vách

Chợt nhớ ra tên các chị các anh
Những Huỳnh Tấn Mẫm, Trịnh Đình Ban
Những Nguyễn Hoàng Trúc, Võ Như Lanh

Các anh, các chị
Giờ nầy chắc vẫn còn đang thức
Để viết xong bài tự kiểm trước nhân dân
Nhớ viết thật nhiều về những chiến công

Đã đốt bao nhiêu xe Mỹ Ngụy
Đã bán đứng bao nhiêu bè bạn anh em
Đã cắm được bao nhiêu cờ mặt trận
Tôi không hề trách các anh

Vì chẳng bao giờ ai trách
Những tên cầm cờ, khiêng kiệu
Hãy cố cong lưng và thu mình thật nhỏ
Hãy biết dại khờ và biết ngây ngô

“Độc lập, Hòa Bình, Thống Nhất, Tự Do”
Phải nhớ luôn luôn là tất yếu
Kể cả chuyện tình yêu trai gái
Cũng phải học thuộc lòng

Định nghĩa mới hôm nay
Đừng bao giờ nhắc những chuyện không may
Như những Ủy Ban Đòi Quyền Sống
Những Phong Trào Dân Chủ Tự Do

Dân Việt Nam bây giờ
Không có gì đáng để lo
Hơn những chuyện cháo rau, khoai sắn
Và không có một chút quyền

Dù chỉ là quyền để than thân trách phận.

Tôi từ Đà Nẵng vào Sài Gòn cuối tháng Tám 1972. Nơi tôi ghi danh học đầu tiên là trường Luật. Có thể nói tôi là một trong những tân sinh viên nộp đơn vào năm thứ nhất niên khóa 1972-1973 trễ nhất. Ghi danh vào trường Luật không cần phải thi, chỉ cần trình bằng tốt nghiệp Tú Tài phần hai là đủ. Phòng ghi danh là một khu nhà lụp xụp phía sau trường chung một hàng rào với đại học Kiến Trúc. Tôi được phát một thẻ sinh viên tạm. Số sinh viên của tôi dài tới năm số. Tôi không nhớ chính xác nhưng hai số thứ tự đầu đã lên đến trên mười ngàn. Trường Luật, được chính thức thành lập dưới thời Đệ nhất Cộng Hòa, là một trong những trường già nua về cả hình thức lẫn chiều dài lịch sử, trong số các trường đại học thuộc Viện Đại Học Sài Gòn. Trường không có nhiều đất trống ngoại trừ khoảng sân không mấy rộng giữa trường. Cổng trường còn lại những viên ngói đỏ rêu phong từ khi mới thành lập. Giảng đường chỉ là những phòng học dài nối nhau. So với các trường trung học như Gia Long, Petrus Ký, trường đại học Luật Khoa Sài Gòn nhỏ hẹp và chật chội hơn nhiều. Vì số thẻ sinh viên của tôi cao trên mười ngàn nên có lần tôi viết câu thơ mô tả trường Luật “mười ngàn sinh viên trong giảng đường vài trăm chỗ / học suốt năm không thấy mặt thầy”.

Công việc đầu tiên của một tân sinh viên sau khi ghi danh, nhận lớp, là đi mua “cua” tức sách giáo khoa giảng dạy của các thầy, từ dân luật, hình luật đến cổ luật. Vì hiếm khi gặp mặt thầy, không có “cua” là rớt. Sau khi ghi danh ở Luật, tôi sang ghi danh Ban Kinh Tế khoa Khoa Học Xã Hội ở đại học Vạn Hạnh. Khoa Khoa Học Xã Hội ở Vạn Hạnh phải thi vào nhưng cũng chỉ thi cho đúng thủ tục vì tôi không nghe ai thi rớt vào khoa Khoa Học Xã Hội ở đại học Vạn Hạnh bao giờ.

Trường Luật chật hẹp mà sinh viên lại quá đông, chúng tôi thường la cà trong những quán cốc. Nhiều nhất là chung quanh công trường Quốc Tế, thường gọi là Hồ Con Rùa, bên ngoài trụ sở “Tổng Hội Sinh Viên” số 4 Duy Tân hay góc Thư Viện Quốc Gia trên đường Gia Long. Các quán cà phê thường không có tên. Ngoài quán cà phê Bà Vú bên ngoài đại học Vạn Hạnh, phần lớn các quán chung quanh trường Luật do sinh viên tự đặt tên bằng địa điểm để dễ hẹn nhau. Số sinh viên ghi danh vào Luật cao nhưng bỏ trường ra đi sớm rất đông và thi rớt cũng nhiều. Trong số những người bỏ cuộc có tôi. Tôi học cả hai trường và vì kỳ thi cuối khóa cùng ngày nên tôi không theo đuổi việc học Luật hết năm thứ nhất. Bạn bè tôi phần đông học Luật nên mỗi tuần tôi đều trở lại trường. Ở đó, dưới những gốc me, vỉa phố, bên những ly cà phê đen, cà phê sữa, trên những ghế thấp, cạnh những chiếc bàn vuông, chúng tôi để cho những thao thức về chiến tranh và số phận đất nước có dịp tuôn trào. Tuổi đời còn rất trẻ nhưng chiến tranh đã làm chúng tôi già sớm hơn tuổi mười tám của mình.

Khi sang Vạn Hạnh tôi có dịp học với thầy Trần Văn Tuyên môn Chính Trị Quốc Nội và thầy Vũ Quốc Thông môn Luật Hiến Pháp Đối Chiếu. Đây là hai môn học tôi thích nhất. Luật Sư Trần Văn Tuyên không mang theo sách vở hay tài liệu giảng dạy gì và những bài giảng của thầy là kinh nghiệm sống trong thời hoạt động chính trị. Vì thầy dạy không theo giáo khoa nên giảng đường lúc nào cũng đông. Sinh viên phải có mặt để ghi lời thầy giảng. Tôi thường tìm cách gần gũi thầy Trần Văn Tuyên để hỏi những chuyện đất nước trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954. Thầy Trần Văn Tuyên đơn giản, tóc cắt cao và thường mặc áo sơ-mi trắng ngắn tay. Thầy Vũ Quốc Thông thì khác, lúc nào cũng đường bệ, chuẩn bị kỹ càng và luôn đến lớp với một cặp-táp (le cartable) đầy tài liệu giảng dạy. Tôi hay thắc mắc với thầy Vũ Quốc Thông về cách dùng chữ. Ví dụ thầy dùng chữ “Chủ nghĩa Tập Sản” thay cho “Chủ nghĩa Cộng Sản”. Tôi cho rằng khái niệm “Chủ nghĩa Tập Sản” hay “Chủ nghĩa Bình Sản” được nhắc đến nhiều trước năm 1975, chỉ là một phạm trù thuần kinh tế, nghĩa hẹp nhiều so với chủ nghĩa Cộng Sản vốn là cả một hệ thống triết học giải thích toàn bộ đời sống con người, xã hội và vũ trụ. Thầy chăm chú lắng nghe ý kiến nhưng không thay đổi cách gọi “tập sản” của mình. Thầy Vũ Quốc Thông dạy tận tụy và trích dẫn nhiều từ các sách Pháp, trong đó có cả Tuyển tập Marx-Engel. Thầy chúng tôi, Giáo sư Trần Văn Tuyên chết trong tù Cộng Sản năm 1976 và Giáo sư Vũ Quốc Thông chết năm 1987, chỉ một thời gian ngắn sau khi ra khỏi nhà tù. Tình nghĩa thầy trò ở miền Nam, dù tiểu học, trung học hay cả đại học đều thắm thiết, thân thương, đáng kính, đáng yêu và đáng nhớ. Tôi cố gắng rất nhiều nhưng không phải là người tự học. Kiến thức của tôi là của các thầy cô trao lại. Đứa sinh viên năm thứ nhất ngày xưa không còn trẻ nữa nhưng mỗi khi nghĩ đến các thầy cô tự nhiên thấy mình nhỏ lại thật nhiều.

Thời gian từ năm 1973 đến năm 1975 là thời gian yên tĩnh. Chương trình bình định đại học khá thành công. Mùa hè năm 1973, một nhóm sinh viên chúng tôi đại diện cho trường tham dự trại hè sinh viên toàn quốc do Bộ Giáo Dục và Thanh Niên tổ chức ở Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu. Đông sinh viên du học cũng về tham dự trại. Dĩ nhiên không có “lãnh tụ sinh viên” đường phố nào. Đó là những ngày vui nhất của mùa hè. Không chỉ sinh viên Sài Gòn, Vạn Hạnh, Minh Đức mà cả Huế, Cần Thơ, Đà Lạt và các trường đại học tư mới thành lập cũng cử phái đoàn tham dự. Buổi tối chúng tôi quây quần trong sân cờ của trường Thiếu Sinh Quân trao đổi kinh nghiệm học hành, chuyện đất nước và hát nhạc Du Ca như có lần tôi đã kể lại trong bài viết Khi bài hát trở về. Ngoại trừ các nhóm chống chính phủ bốn mùa của các bà Ni Sư Khất Sĩ Huỳnh Liên, Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống của bà Ngô Bá Thành, năm 1973, các phong trào sinh viên tranh đấu ở Sài Gòn do Cộng Sản tổ chức phần lớn đã được dập tắt. Các “lãnh tụ sinh viên học sinh” mặt nổi như Huỳnh Tấn Mẫm, Trịnh Đình Ban, Trần Thị Lan, Lê Văn Nuôi, Võ Như Lanh, Nguyễn Xuân Lập v.v... đã bị kết án và vừa được trao trả tù binh.

Nhắc đến chuyện trao trả tù binh không thể quên tác phẩm Tù Binh và Hòa Bình của nhà văn Phan Nhật Nam, trong đó anh dành trọn một chương để viết về những người mà anh gọi là “Những người lỡ làng”. Hôm đó, buổi chiều ngày 27-3-1973, những “lãnh tụ sinh viên” sắp được trao trả về phía Cộng Sản đang tụm nhau ngồi trong một chiếc lều để chờ được nhận. Những bài hát của Phạm Thế Mỹ, Trịnh Công Sơn được cất lên từ chiếc lều nhỏ. Họ gồm Võ như Lanh, Trịnh đình Ban, Cao thị quế Hương, Trần thị Lan, Trần thị Huệ, Nguyễn thành Công. Không ai biết họ hát để nung cao khí thế hay hát để che đi sự lo âu trước tương lai mờ mịt núi rừng đang chờ đợi họ. Trong quan điểm đấu tranh giai cấp, dù các anh chị là đảng viên Cộng Sản cũng chỉ là đảng viên thành phố, gốc tiểu tư sản, vừa gia nhập và không được tin tưởng hoàn toàn. Nhà văn Phan Nhật Nam tả cảnh anh Nguyễn Thành Công khi tiếp xúc với viên Đại Tá Hungary trong “đôi mắt có vẻ lạc thần, giọng nói đã đượm màu mệt mỏi”. Anh Phan Nhật Nam viết đoạn đó thật cảm động. Anh không giận hay trách móc những tù binh gốc sinh viên anh sắp sửa trao trả mà cảm thông cho sự bồng bột tuổi trẻ của họ nhiều hơn:

“Phải, tôi hiểu rằng nhóm sinh viên đang ngồi ở dưới tàn cây cao su, đang gảy nên những âm thanh trầm lắng với tiếng hát nhiệt thành trong sáng kia quả tình không thể nào là những người cộng sản được. Họ không thể nào là những người cộng sản chuyên chính, dù cho họ đã vào khu học tập, dù đã là cán bộ nội thành làm nhiệm vụ sinh viên vận theo đường lối và kỹ thuật đấu tranh phát xuất từ Cục R, kiểm soát và điều hành bởi ủy viên thanh niên thuộc thành ủy Sài Gòn-Chợ Lớn. Họ cũng không phải là cộng sản dù có chứng minh thư xác nhận là thành viên của đảng lao động, hoặc thành viên của đoàn thanh niên trong mặt trận giải phóng… Vì tiếng hát, điệu đàn, nét mặt và lời nói tất cả vẫn là phản ảnh của một hoài bão, hoài bão bất diệt của tuổi trẻ. Muốn thoát khỏi hoàn cảnh bít bùng của đời sống hiện tại, đấu tranh và xây dựng một quê hương rạng rỡ tốt đẹp hơn. Và chính phát xuất từ ý định đẹp đẽ mơ tưởng này, hoài bão của họ đã được đồng hóa với mục tiêu chiến thuật đoản kỳ của cộng sản. Và họ trở thành loại cán bộ tiền phong đắc lực thực hiện những mục tiêu hạn chế trong đường phố Sài Gòn, nơi Giảng Đường, trong lòng cộng đồng tuổi trẻ Việt Nam.”

Trong bài viết Những người đi tìm tổ quốc trên talawas năm 2006, tôi cũng viết về các anh chị đó:

“Thời sôi nổi trong giảng đường đại học, trên đường phố Sài Gòn đã là dĩ vãng, giữa rừng cao su Lộc Ninh họ là những thanh niên thành phố đang bước vào một cuộc đời mới ở một nơi hoàn toàn xa lạ. Như những con cá bị vớt khỏi sông và bỏ vào trong chậu, ngơ ngác, rụt rè, sợ hãi. Họ không còn là bè bạn của nhau, không còn gọi nhau bằng tên, bằng thứ mà sẽ là đồng chí. Đồng chí cũng đồng nghĩa với nghi ngờ, kiếm soát và dò xét lẫn nhau. Họ hối hận không? Họ thật sự có phải là Cộng sản không? Họ có phân biệt được, dù chỉ là căn bản, những điểm khác nhau giữa xã hội mà họ vừa bỏ lại và xã hội mà họ đang tìm đến không? Không ai hỏi và họ cũng sẽ không trả lời thật với lòng. Có những tâm sự, sống giữ kín chết mang theo, chứ không bao giờ chia sẻ với ai. Hồi xưa tôi cũng có cái nhìn khắt khe về những người bỏ đi. Các anh có quyền biểu tình, có quyền chống độc tài, chống tham nhũng, chống độc diễn nhưng khi bỏ đi sang hàng ngũ của những người ném lựu đạn vào quán ăn, pháo kích vào trường học, đặt mìn trên quốc lộ, các anh đã phản bội quyền sống trong hoà bình của nhân dân miền Nam. Giống như những đứa con lớn lên trong một gia đình nghèo, có bà mẹ bịnh tật, có người cha say rượu hay đánh đập con cái và còn một bầy em nhỏ dại. Thay vì khuyên răn người cha, săn sóc người mẹ, che chở cho đám em khờ, các anh lại bỏ đi, và chẳng những đã bỏ đi mà còn dắt kẻ gian về đốt phá nhà mình.”

Ngày nay, các tài liệu của Đảng đều xác nhận hoạt động của các phong trào chống đối chính quyền VNCH chẳng phải là tự phát chống bất công, độc tài, độc diễn gì mà đều được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thành Đoàn Thanh Niên Cộng Sản trực thuộc Thành ủy Sài Gòn Gia Định nhắm vào mục tiêu duy nhất là đánh sụp chế độ Cộng Hòa non trẻ ở miền Nam và áp đặt chế độ Cộng Sản độc tài toàn trị trên phạm vi cả nước. Tất cả tổ chức, phong trào, tôn giáo, đoàn thể đều được Đảng khai thác, vận dụng một cách tinh vi để phục vụ cho mục đích cuối cùng của đảng Cộng Sản.

Những tên tuổi, hình ảnh được báo chí đối lập và thân Cộng ở Sài Gòn đánh bóng mà nhà văn Phan Nhật Nam nhắc đến chỉ là những khuôn mặt đấu tranh công khai trên đường phố Sài Gòn. Họ không biết những đảng viên Cộng Sản nòng cốt thực sự điều khiển phong trào từ bóng tối là ai. Những kẻ mài dao giết người thường trốn kỹ trong rừng. Những kẻ trao lựu đạn cho sinh viên để ném vào nhà hàng, trường học, chợ búa thường giấu mặt. Họ không gọi nhau bằng tên thật, bằng mày tao thân tình trong quán cà phê bên ngoài khuôn viên đại học Văn Khoa, Luật Khoa mà gọi bằng bí danh, bằng thứ tự.

Những “anh ba”, “chị năm” đó bây giờ đang sống trong những biệt thự cao sang, có kẻ hầu người hạ và những chàng sinh viên một thời bồng bột nay chỉ là những “kẻ lạ của hoàng hôn” “lặng nghe những dư âm sâu lắng của quá khứ đọng lại, rồi trôi theo những món ăn với một vị đắng đắng” như anh Hạ Đình Nguyên, một trong những “lãnh tụ phong trào sinh viên” đã viết trong bài Về một vị đắng sau buổi họp mặt kỷ niệm “Phong trào Đấu tranh của Thanh niên-Sinh viên-Học sinh Sài gòn” năm ngoái.

Khi tôi vào năm thứ nhất, nhiều trong số anh chị tham gia xuống đường vài năm trước vẫn còn học năm thứ ba, thứ tư, và qua họ tôi biết con số sinh viên tham gia biểu tình không đông như báo chí thân Cộng mô tả và cũng không mang tầm vóc “quốc tế” chỉ với vài chàng thanh niên phản chiến Mỹ như bài ký thổi phồng của anh Huỳnh Tấn Mẫm. So với nhiều chục ngàn sinh viên liên khoa thuộc đại học Sài Gòn và các đại học tư tại miền Nam thời đó, vài trăm anh chị bị xúi dục xuống đường chỉ là con số nhỏ. Thành thật mà nói, phần đông những sinh viên đi biểu tình là những người nặng tình cảm dành cho đất nước nhưng vô cùng nông nỗi. Các anh chị bất mãn trước các bất công trong xã hội và phẩn uất khi nhìn cảnh điêu tàn đổ nát do cuộc chiến gây ra nhưng không nhận thức đúng nguyên nhân sâu xa của thực trạng bi thảm đang diễn ra trên đất nước và không đủ trưởng thành để cân nhắc trước một chọn lựa sinh tử của đời mình.

Tuổi trẻ ở đâu cũng thế, nhiệt tình, phản kháng, cương trực, vô tư, nhưng như tôi có lần đã viết, tại Việt Nam những đặc tính đó của tuổi trẻ bị Đảng Cộng sản lợi dụng tận cùng, không chỉ tiếng hát lời ca, mà còn cả thịt xương và từng giọt máu.

Bài hát quen thuộc trong giới sinh viên trước năm 1975 nói lên một mơ ước chân thành của thế hệ trẻ “Rồi hòa bình sẽ đến, đến cho dân tộc Việt, đôi bồ câu trắng rủ nhau về làng xưa…”, nhưng sau năm 1975, đàn bồ câu đã biến thành bầy kiến gặm nhấm vết thương dân tộc đang mưng mủ. Tiếng hát của các anh chị trên đường phố được thay bằng những tiếng rên của những bà mẹ đang bán máu ở các nhà thương. Lời ca của các anh chị sau được thay bằng là tiếng khóc của em thơ trên các vùng kinh tế mới. Đất nước chìm đắm trong độc tài và đói khát. Hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, chết trên biển cả, chết dưới bàn tay hải tặc.

Các anh các chị, có thể không phải là thủ phạm nhưng không thể phủ nhận là những người đã góp phần gây ra những điêu tàn đổ nát hôm nay. Xin đừng im lặng nữa. Nếu không đủ sức để hành động, hãy viết, hãy nói, hãy kể lại cho các thế hệ trẻ những bài học dù thất bại, những ước mơ dù bị phản bội, những kinh nghiệm dù được đổi bằng xương máu của mình. Là những người có lương tâm, hôm nay, không có tòa án nào kết án các anh chị nặng bằng tòa án lương tâm của chính các anh chị. Là những người vốn nặng tình cảm, hôm nay, không có tình cảm nào cấu xé các anh chị bằng tình cảm các anh chị đã từng dành cho đất nước. Xã hội Việt Nam băng hoại, trụy lạc, tha hóa ngày nay là chiếc gương, các anh chị hãy soi vào đó để thấy lại chính mình.

Chế độ dân chủ non trẻ mà các anh chị góp phần đánh gục, đã quỵ xuống sáng ngày 30-4-1975 nhưng không chết. Và tại Việt Nam hôm nay, các gía trị dân chủ quý giá đó không chỉ là của miền Nam thôi, không chỉ là của Việt Nam Cộng Hòa thôi mà đang là tài sản, hành trang và mục tiêu chung của cả dân tộc.

Dân chủ là khúc khải hoàn ca đang được nhân loại cất vang trên mọi nơi của quả địa cầu, từ Bắc Phi sang Đông Á nhưng không có nghĩa chỉ mới bắt đầu vài năm qua mà từ nhiều ngàn năm trước. Có người bàn về dân chủ như một mục đích đòi hỏi nhiều tiền đề và điều kiện. Điều đó không đúng. Dân chủ không phải là hải đảo xa xôi phải cần ghe tàu, lương thực, thời gian mới đạt tới nhưng là một thực tế gần gũi trước mắt và thậm chí có thể nắm bắt trong tay. Dân chủ không phải món quà của ai ban cho khi đến tuổi trưởng thành mà là quyền làm người bắt đầu từ trong bụng mẹ.

Quốc gia Mông Cổ, một quốc gia không có truyền thống dân chủ, là một ví dụ. Nhiều người cho Mông Cổ khó có thể trở thành một nước dân chủ sau một giai đoạn phong kiến hàng ngàn năm nối tiếp bằng một chế độ Cộng Sản chuyên chính chư hầu Liên Xô suốt hơn bảy chục năm. Khi tôi viết bài này, nhân dân Mông Cổ đánh dấu tròn 20 năm được sống dân chủ. Đôi cánh thiên thần đó đã giúp đưa Mông Cổ từ một quốc gia cô lập, bất ổn cùng hạng với Afghanistan, Nigeria và Somalia trở thành một trung tâm du lịch an toàn và đầy hấp lực văn hóa. Hai mươi năm trước đường phố thủ đô Ulaanbaatar gần như hoang vắng nhưng ngày nay tấp nập và phồn vinh. Theo tạp chí Economist, dù kinh tế thế giới còn đầy khó khăn, mức phát triển kinh tế của Mông Cổ trong ba tháng giữa 2011 đã tăng 21% so với cùng thời kỳ trong năm trước đó. Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế dự đoán kinh tế Mông Cổ sẽ tăng trung bình 14% từ 2012 đến 2016. Là một quốc gia trong vị trí trái độn với vỏn vẹn 2.5 triệu dân và không có chiều dày truyền thống dân chủ như nhiều quốc gia khác, Mông Cổ sẽ còn gặp nhiều khó khăn nhưng cơ chế chính trị mới giúp cho người dân sống yên tâm trong tự do, thanh bình, no ấm và nỗ lực vì một tương lai tươi đẹp cho con cháu họ.

Việt Nam thì khác.

Sau 37 năm, tiếng súng đã vắng đi trên đất nước Việt Nam, non sông liền một dãi nhưng người dân vẫn sống trong nỗi bất an lo sợ, hàng trăm ngàn người con gái Việt phải rời bỏ quê hương đi ăn mày, làm điếm, ở đợ khắp thế giới, phần lớn trong số hơn hai triệu người Việt hải ngoại vẫn còn bị xem là “thành phần phản động bám theo chân đế quốc”, và trong nước, những quyền căn bản như ngôn luận, đi lại, thờ phụng của người dân vẫn chưa có được, hàng ngàn người yêu nước vẫn còn bị tù đày. Đó là sự thật, không ai tuyên truyền ai, không ai xúi giục ai.

Sau 37 năm, mấy chục ngàn thân xác thanh niên làm bia đỡ đạn cho đảng CSVN trong chiến tranh biên giới năm 1979, hàng ngàn xác thanh niên Việt Nam bị đốt cháy thành than trong trận Lão Sơn 1984, hàng trăm xác thanh niên Việt chìm sâu quanh bờ đảo Gạc Ma năm 1988, hàng trăm ngư dân Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Ngãi bị bắn thủng ngực, hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thân yêu như đôi mắt Việt Nam bị đã bị kim Trung Quốc tẩm thuốc độc đâm sâu và đang chảy máu. Đó là sự thật, không ai tuyên truyền ai, không ai xúi giục ai.

Nhìn những gì đang xảy ra trên thế giới đã làm những người Việt đang quan tâm đến vận mệnh đất nước không khỏi cảm thấy thẹn thùng. Dù ban ngày vẫn phải sống bằng thái độ tích cực, trả lời phỏng vấn bằng ngôn ngữ tự tin nhưng ban đêm thế nào cũng gác tay lên trán âm thầm tự hỏi tại sao Liên Xô, Đông Âu cho tới Bắc Phi, Miến Điện nhưng viễn ảnh một Việt Nam tự do, dân chủ, hùng mạnh vẫn còn là một mục tiêu chưa đến. Nỗi lo lắng và niềm đau xót này không phải của riêng ai mà của tất cả người Việt Nam còn biết xót xa, còn biết hổ thẹn trước sự lạc hậu của Việt Nam so với đà tiến quá nhanh của nhân loại.

Một câu hát trong bài Tự Nguyện quen thuộc trong giới sinh viên trước năm 1975 “nếu là hoa, tôi sẽ làm một đóa Hướng Dương”, chưa bao giờ hơn lúc này Việt Nam cần những người yêu nước biết vươn cao, đứng thẳng như những cành Hướng Dương Dân Tộc. Con người đến và đi nhưng lịch sử Việt Nam như dòng sông không ngừng chảy. Đất nước sẽ vượt qua và lớn lên như đã từng vượt qua và lớn lên sau ngàn năm Bắc Thuộc.

Trần Trung Đạo

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Làm sao rửa tội cho thủ tướng?
Nhật Bình
Dưới bảng hiệu những “quả đấm thép” cho sự nghiệp hiện đại hóa, công nghiệp hóa nền kinh tế mà “quốc doanh là chủ đạo”, bắt đầu từ năm 2006 thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra quyết định thành lập các tập đoàn kinh tế và tổng công ty với nguồn vốn dựa vào ngân sách nhà nước và vay mượn nước ngoài. Kể từ đó đến nay đã có tất cả 91 tập đoàn và tổng công ty được thành lập, chiếm 70% nền kinh tế và tài chánh của cả nước, và bao trùm hầu hết mọi ngành nghề và lãnh vực công nghệ vẫn được xem là “béo bở”.

Còn cụ thể mục tiêu và trách nhiệm của 91 thực thể kinh tế đó là gì? Có lẽ các giải thích rườm rà, và nhiều khi mâu thuẫn, cho đến nay của nhà nước có thể tóm gọn trong 2 câu của blogger Trần Hoàng (1): “Tập đoàn làm ăn cuối năm có lời thì chia lại cho đảng và nhà nước, và họ lấy số tiền này làm gì, cụ thể ra sao, không một người dân nào được biết. Tập đoàn nào làm ăn thua lỗ, thì chính phủ cấp vốn thêm.”

Thế là cứ mỗi “quả đấm thép” ra đời, niềm hồ hởi trong hàng ngũ cán bộ kinh tế lại dâng lên vì ngành nào, cấp nào cũng có ăn - từ phong bì nhỏ cho từng nhà báo đến đưa tin tại các buổi cắt băng khánh thành đến những phong bì lớn đi thẳng vào trương mục của các quan chức lớn tại các ngân hàng nước ngoài. Thậm chí cả các “cán bộ tư tưởng” cũng tự hào lây vì sự thành công của “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” đã được chứng minh qua các tên tuổi lớn như Vinashin (Tập đoàn công nghiệp Tàu thủy Việt Nam), Vinalines (Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam), PetroVietnam (Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam), EVN (Tập đoàn Điện lực Việt Nam), Vinacomin (Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam) v.v…

Đặc biệt Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được báo đài ca tụng là người sáng lập các tập đoàn “tầm cỡ thế giới” này. Ông lập tức trở thành ngôi sao sáng trên bầu trời kinh tế Việt Nam. Nhiều vòng quan chức lớn nhỏ rời bỏ các ô dù khác để chen nhau đầu quân dưới trướng ông Dũng... và các con của ông Dũng. Làn sóng tung hô này cũng có lúc đi quá đà, như việc thuê trang mạng của một công ty xử lý rác tận bên nước Đức để đăng bài khen ngợi ông Dũng là vị thủ tướng giỏi nhất Á Châu. Tuy nhiên, với số đàn em như cát bãi biển đó, quyền lực của ông Nguyễn Tấn Dũng thực sự lấn át vai trò của cả Tổng bí thư Nông Đức Mạnh lẫn Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Có lẽ bằng chứng rõ ràng nhất là sự vững chắc của chiếc ghế thủ tướng mà ông Dũng nắm giữ đã 2 nhiệm kỳ, bất kể hàng loạt những tố cáo tham nhũng và bất tài, từ các đối thủ muốn hất ông xuống, ngay trước và trong đại hội đảng lần thứ 11. Các thư tố cáo, dù minh danh hay nặc danh, dù có chứng cớ hay không, đều rơi vào hư không hay bị đập dẹp như ruồi muỗi. Chiếc ghế thủ tướng của ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn vững như bàn thạch.

Nhưng...

Từ năm 2010, vết nứt đầu tiên đã xuất hiện, lan dần thành sự sụp đổ toàn diện của quả đấm thép Vinashin. Và tập đoàn đóng tàu biển “đứng hàng thứ tư” trên thế giới này khởi động một chuỗi rơi rụng của các tập đoàn và tổng công ty khác như những chiếc lá mùa thu. Chỉ cần gom góp tin tức tiết lộ trên các báo lề phải, chứ chưa cần dùng đến dữ kiện trên báo chí ngoại quốc và làng dân báo, người ta đã đếm được 81 trong số 91 tập đoàn và tổng công ty đang bị thua lỗ nặng — Tập đoàn Dầu khí (PVN) bị chỉ ra “sai phạm tài chính” 18,000 tỷ đồng; Tập đoàn Sông Đà “sử dụng sai mục đích” 10, 676 tỷ đồng; Tập đoàn Điện lực năm 2011 lỗ 17,000 tỷ đồng…. Mười tập đoàn còn lại được giới quan sát tin là có ô dù quá lớn hoặc nợ nhà nước là chính (chứ nợ ngoại quốc không nhiều), nên các báo cáo thua lỗ chưa bị đưa ra ánh sáng công luận mà thôi. Một chiếc lá lớn rụng gần đây nhất là Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam (Vinalines). Khi tin hàng tỉ mỹ kim bị đổ xuống biển xuất hiện trên mặt báo thì ông Cục trưởng Cục Hàng Hải Dương Chí Dũng, trước đó là Tổng giám đốc Vinalines, đã biến mất!

Sự xiêu vẹo hàng loạt và theo nhau xụp đổ của các tập đoàn Vina cũng đến từ lý do các thực thể kinh tế này rất giống nhau về cấu trúc và mục tiêu. Điều này đã được chính ông Phan Trung Lý, Chủ nhiệm UB Pháp luật quốc hội, thừa nhận trong buổi thảo luận về tình hình kinh tế xã hội hôm 24/5. Khi đề cập đến sự phát triển tràn lan vô tội vạ của các tổng công ty nhà nước, ông cho biết: “Ban đầu, chủ trương chỉ là thí điểm nhưng chưa tổng kết, đánh giá thì đồng loạt các tập đoàn kinh tế đã thành lập từ các tổng công ty 90, 91. Hệ quả của việc hoạt động tràn lan, không quản lý được là những sự việc sai phạm liên tục bị phát hiện, lặp đi lặp lại ở nhiều đơn vị như hiện nay” (2).

Có người dễ tính cho rằng đây là hệ quả của tình trạng kinh tế suy xụp trên toàn cầu, chứ không riêng gì Việt Nam. Nhưng cũng có ý kiến không đồng ý và cho rằng tình trạng kinh tế thế giới chỉ làm tiến trình phá sản nhanh lên hơn mà thôi. Vì nếu chịu khó đọc lại các tài liệu đã được công khai – và có lẽ phải đọc gấp vì loại bài này sẽ bị lấy xuống bất cứ lúc nào - người ta có thể thấy ngay từ ngày đầu thành lập, hầu hết các tập đoàn kinh tế và tổng công ty này không nhằm kinh doanh kiếm lời – và lại càng không kiếm lời cho đảng và nhà nước - mà chỉ nhắm vào 2 mục tiêu sau đây:

Mục tiêu lớn số 1: kiếm quà “lại quả”.

Chỉ cần nhìn vào 2 trường hợp lớn Vinashin và Vinalines người ta đã đủ thấy các bằng chứng. Cũng chẳng cần phải là nhà kinh tế mới thấy sự quái đản trong việc bỏ hàng tỷ đô la ra thu mua tàu phế thải của các nước cực nghèo đem về “sửa chữa để đi biển”. Trước hết, những con tàu mà cả các nước nghèo cũng không còn dùng nổi, phải bán đi, thì đủ biết xác tàu đã rệu rã tới mức nào. Thế mà ban giám đốc 2 tập đoàn này vẫn mua và mua với “giá thị trường” của loại tàu đang hoạt động, chưa tới tuổi phế thải. Kế đến, ai cũng biết nền công nghiệp đóng và sửa tàu biển của Việt Nam chỉ mới chập chững ở bước đầu tiên, nghĩa là còn đang xây dựng đội ngũ tay nghề, đang học hỏi kinh nghiệm, và đang học cả cách dùng những dụng cụ sửa chữa. Ban giám đốc cả 2 tập đoàn dư biết họ không có khả năng sửa chữa những chiếc tàu mà ngay cả các nước tân tiến trong ngành này cũng không đụng đến. Thí dụ như tàu Sông Gianh, sửa xong đi biển được một lần duy nhất rồi neo đậu suốt bốn năm trời trên sông Sài Gòn thuộc địa phận quận Nhà Bè; hay như việc mua ụ nổi do Nhật Bản chế tạo từ năm 1965. Ụ nổi này có tuổi thọ 25 năm, tức đến năm 1990 bị xem là dụng cụ phế thải. Nhưng 18 năm sau ngày hết hạn xử dụng đó, vào năm 2008, Vinalines mua khối sắt vụn này về với giá bằng 2/3 một ụ mới. Tổng cộng tiền mua, sửa, vận chuyển lên đến 24 triệu mỹ kim. Ụ nổi này liền bị bỏ xó, không ai đụng đến suốt từ đó đến nay đậu tại cảng Gò Dầu B, Đồng Nai. Và còn nhiều thí dụ khác nữa để cộng lại thành con số từ 4 đến 5 tỷ mỹ kim tại mỗi tập đoàn đã không cánh mà bay.


Không có câu giải thích thoả đáng nào cho hiện tượng toàn bộ các ban quản trị của các tập đoàn và tổng công ty lũ lượt kéo nhau đi mua đủ loại hàng phế thải nhưng trả gần bằng với giá của hàng tốt, ngoài lý do: để được hưởng các gói “lại quả” rất lớn mà phía bán hàng đồng ý đá ngược vào túi riêng của các quan chức đứng đầu.

Mục tiêu lớn số 2: vay tiền từ nước ngoài.

Các quyết định thu gom tất cả tập đoàn kinh tế và tổng công ty vào vòng kiểm soát trực tiếp từ văn phòng thủ tướng đồng nghĩ với sự bảo kê của nhà nước để các thực thể này đi vay các khoản tiền lớn - tới mức mỗi lần vài trăm triệu mỹ kim - từ các ngân hàng và định chế tài chính quốc tế. Các nguồn quốc tế xem đây là các tập đoàn của nhà nước (quốc doanh) hoặc chí ít là nhà nước có cổ phần và thẩm quyền kiểm soát lớn (hợp doanh), vì thế mức rủi ro chạy nợ rất nhỏ. Từ đó các nguồn này cho vay các món nợ lớn với lãi suất tương đối nhẹ và ít đính kèm các điều kiện khó khăn như đối với các công ty của tư nhân hoàn toàn.

Ban giám đốc các tập đoàn và tổng công ty biết rõ điều đó là lũ lượt kéo nhau đi mượn nợ trong cùng tinh thần như các đại biểu quốc hội Trần Bá Thiều, Trần Đình Long: "Người ta cho vay thì mình cứ vay, có nơi cho vay là tốt quá… Mai sau thế hệ con cháu tài giỏi hơn chúng ta sẽ trả". Nghĩa là các món nợ này luôn được xem là "nợ của nhà nước". Nhà nước có nhiệm vụ lấy tiền công quĩ mà trả. Các ban giám đốc đều xem đó là thông lệ áp dụng cho mọi công ty quốc doanh xưa nay. Và cũng từ tư duy đó, các tập đoàn này đẻ ra hàng trăm công ty con để mượn thêm tiền từ các ngân hàng nội địa của nhà nước.

Liền sau đó, các món nợ vừa vay mượn được 1) trở thành “khoản thu nhập” trong mắt các ban giám đốc để chia thành nhiều phong bì cho cấp trên, cấp giữa, cấp dưới … dài đến tận cấp “ký giả” như đã nêu bên trên; và 2) được dùng trả các khoản tiền lời từ các món nợ trước đã đến ngày đáo hạn để các chủ nợ không “đòi nợ” trước công luận. Nghĩa là cứ mượn thêm nợ mới để trả tiền lời của nợ cũ, và trả lương cho một số nhân viên ngồi chơi cho có vẻ công ty đang hoạt động, rồi chia nhau phần còn lại. Chuyện kinh doanh thực sự để kiếm lời đã trở thành viễn vông.

Tiến trình này kéo dài suốt 6 năm qua và tích lũy thành con số lỗ lã hiện nay. Các món nợ đáo hạn nhỏ nhoi cũng không còn có thể trả nổi vì không mượn thêm được nữa. Các chủ nợ quốc tế bắt đầu đòi tiền công khai, đòi đưa ra toà án ngoại quốc. Nhờ đó công luận mới biết được tầm vóc khủng khiếp của sự xụp đổ hàng loạt này. Xin nhắc lại, 91 thực thể kinh tế này chiếm 70% nền kinh tế và tài chánh của cả nước.

Tóm lại, các chứng cớ đang xuất hiện ngày một ào ạt cho thấy ngay từ ngày đầu thành lập các tập đoàn và tổng công ty được các quan chức điều hành với tinh thần: đây là 91 con bò để xẻo thịt ăn dần và trước sau gì rồi cũng chết!

Ai chịu trách nhiệm?

Hiển nhiên, mọi cặp mắt từ thượng tầng lãnh đạo đảng đến hàng ngũ quan chức ra đến quảng đại nhân dân đều hướng vào ông Nguyễn Tấn Dũng để chờ nghe câu trả lời. Biết được điều đó nên từ rất sớm, khi vài chiếc lá lớn đầu tiên có chỉ dấu sắp rơi rụng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng liền biện hộ trước quốc hội rằng:“Các tổng công ty phải làm nhiệm vụ chính trị và điều tiết kinh tế vĩ mô nên có khi phải chịu lỗ”. Nhưng ông không nói thêm các tổng công ty đó đã làm gì ích quốc lợi dân.

Đến khi số tiền lỗ lã tại mỗi tập đoàn lên đến mức hàng tỉ mỹ kim và tin tức về các vụ mua hàng phế thải bằng giá hàng mới ở mức hàng vài chục triệu mỹ kim mỗi vụ bắt đầu lan tràn, thủ tướng bắt đầu nhích xa ra thêm 1 bước: “Tôi nhận trách nhiệm chính trị với tư cách người đứng đầu chính phủ, chứ tôi cũng không ra quyết định nào sai”. Nhưng ông không nói gì thêm về cái quyết định gom tất cả các tập đoàn và tổng công ty vào vòng kiểm soát của văn phòng thủ tướng.

Dư luận lại phùng lên từ bên trong lẫn bên ngoài Đảng. Ông Nguyễn Tấn Dũng đành cho ông Nguyễn Sinh Hùng, lúc đó là phó thủ tướng và nay là chủ tịch quốc hội, đem lá bùa “Bộ Chính trị” ra bịt miệng tất cả trong phiên họp bế mạc quốc hội khoá XII hôm 21/3 năm ngoái rằng: “Thực hiện kết luận của Bộ Chính trị, thường trực và một số thành viên Chính phủ đã kiểm điểm trách nhiệm về công tác quản lý nhà nước và thực hiện quyền chủ sở hữu với Vinashin. Tuy nhiên, trách nhiệm của các cá nhân và tập thể chưa đến mức phải kỷ luật”.

Và khi một số chủ nợ lấy thái độ quyết liệt, đưa việc quịt nợ ra trước tòa án Anh Quốc, thì thủ tướng tuyệt tình hẳn. Văn phòng thủ tướng tuyên bố: nợ của các công ty “tư” thì họ phải tự lo!

Nhưng nỗ lực của thủ tướng không ngừng ở việc “đóng nút” dư luận và tránh xa các tập đoàn đang ra tòa, ông và các cố vấn cũng ráo riết chặt nhỏ các tổng công ty thua lỗ nặng còn lại và giấu bên dưới các công ty quốc doanh khác. Khi một công ty không còn danh tính nữa, thì đương nhiên các khoản lỗ lã và chuyện “cố ý làm sai trái” của các quan chức cũng biến mất.

Một thí dụ điển hình của cách tẩu tản nợ nần và trách nhiệm này là trường hợp của công ty cổ phần Jetstar Pacific Airlines (JPA). Hãng hàng không giá rẻ lỗ quanh năm suốt tháng này đột nhiên vào ngày 16/1/12 được Vietnam Airlines mua lại theo lệnh của thủ tướng.

Kiểu tẩu tán này cũng đã được áp dụng cho Vinashin trong những hy vọng câu giờ sau cùng, với nhiều lớp sơn phết màu sắc: “Thủ tướng chiều qua (19/11/2010) đã ký quyết định phê duyệt Đề án tái cơ cấu Vinashin, với mục tiêu sớm ổn định sản xuất kinh doanh, giảm lỗ, từng bước củng cố uy tín, thương hiệu và tiến tới có lãi, trả được nợ, tích lũy và phát triển.” (3). Việc “tái cơ cấu” này cũng được chính phủ của ông Nguyễn Tấn Dũng thận trọng tiến hành: “Vì thế, Chính phủ đã thảo luận thận trọng việc chuyển nguyên trạng một số đơn vị của Vinashin sang Vinalines, trên tinh thần cùng ngành nghề kinh doanh, với hai nguyên tắc: một là đảm bảo hài hòa lợi ích của các doanh nghiệp, không làm ảnh hưởng đến các đơn vị giữa chuyển đi và chuyển về; hai là các doanh nghiệp được chuyển sang đều được hạch toán và xử lý riêng, không lẫn vào nhau.” Những dữ kiện hiện nay cho thấy ông Nguyễn Tấn Dũng dư biết Vinalines cũng đang sắp chìm, nhưng áp suất phải tẩu tán gấp các thua lỗ của Vinashin trước đại hội đảng thứ 11 quá lớn.

Một nỗ lực khác trong đối sách của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – tuy cũng là cách khá thông thường xưa nay - là lôi những con dê ra tế thần, từ việc đưa ra tòa toàn ban giám đốc Vinashin, ra lệnh truy nã cục trưởng Cục Hàng hải (nguyên là chủ tịch Vinalines), đến lôi cả đại gia kiêm đại biểu quốc hội Đặng Hoàng Yến ra khỏi Quốc hội, “cơ quan quyền lực cao nhất nước”,… vì các tội kinh tế. Nhưng tuyệt nhiên không ai được nhắc đến tên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Chỉ các quan sát viên nước ngoài như Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam thuộc Đại Học New South Wales (Australia) và Học Viện Quốc Phòng Úc mới dám chia sẻ với BBC những nhận xét về Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Rõ ràng là phong cách lãnh đạo tùy hứng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, vốn khiến cho quyền lực tập trung ngày càng nhiều vào tay thủ tướng, đã khiến Đảng và các cơ quan của Đảng bị giảm quyền lực để có thể giám sát và kiểm soát hiệu quả. Mạng lưới sâu rộng của Thủ tướng vừa là cầu thủ vừa là trọng tài trong nền kinh tế Việt Nam." (4)

Hiển nhiên, không phải là ông Nguyễn Tấn Dũng không có kẻ thù. Một số đối thủ của ông đã tỏ ra mạnh dạn hơn trong vài tháng qua. Khi Hội nghị Trung ương 5 bế mạc vào ngày 15/5, một quyết định nặng ký được công bố: kể từ nay Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng trung ương sẽ trực thuộc Bộ Chính trị. Ông Dũng bị gạt khỏi Ban chỉ đạo mà chính ông lập ra khi bước vào nhiệm kỳ thủ tướng thứ hai. Hơn thế nữa, một Ban Nội chính trung ương được tái lập sau nhiều năm đóng băng. Dư luận trong và ngoài đảng, với sự khuyến khích của phe cánh ông Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, đang truyền tai nhau mục đích của Ban Nội Chính là để nhắm vào ông Nguyễn Tấn Dũng.

Nhưng liệu các đòn phép có hề hấn gì đối với gia đình ông Nguyễn Tấn Dũng không khi mạng lưới ủng hộ và bảo vệ quanh ông vẫn đầy kín và chặt chẽ. Ngay cả việc kiếm cớ pháp luật để tấn công ông cũng không phải dễ. Có thể nói trong mặt làm ăn, ông Dũng có nhiều điểm “khôn hơn người”, đó là ngay cả trong giai đoạn vàng son nhất, cô “công chúa” Nguyễn Thanh Phượng của thủ tướng vẫn chỉ nắm các nguồn tiền, đặc biệt là tiền từ các định chế tài chính nước ngoài — Cô hiện đứng đầu Ngân Hàng Bản Việt và đứng đầu cả bốn công ty con của tổ hợp tài chính có vốn điều lệ 200 triệu đô la — chứ không ngồi vào chiếc ghế nào của các con “dê tế thần dự khuyết” như những người lớn hơn cô hàng chục tuổi vẫn tranh nhau.

[Khi có tin cô gái 24 tuổi lên làm Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty Vinaconex – PVC, người ta càng khen cha con ông Nguyễn Tấn Dũng-Nguyễn Thanh Phượng khôn hơn bố con ông Tô Huy Rứa-Tô Linh Hương rất xa!]

Chính vì vậy mà câu hỏi “làm sao rửa tội cho thủ tướng?” là dư thừa. Không những không ngán sợ các cáo buộc trách nhiệm trước sự suy xụp của 91 tập đoàn và tổng công ty hiện nay, ông còn đẩy tiếp các dự án lớn hơn nữa, từ việc xây dựng 2 nhà máy điện hạt nhân với món nợ hơn 10 tỷ mỹ kim đến dự tính xây hệ thống đường tàu cao tốc bằng món nợ 56 tỷ mỹ kim, bất kể biểu quyết đã có của quốc hội. Nghĩa là mỗi dự án mới sẽ còn lớn bằng mấy tập đoàn hay tổng công ty cũ cộng lại. Và với số tiền khổng lồ đó để vung vãi, chắc chắn số quan chức bao quanh ông Dũng chỉ tăng chứ không giảm, và quyền lực của ông sẽ còn tăng nhanh hơn cả hiện nay.

Còn ai còn dám coi thường “cựu y tá” nữa không?

Chỉ khốn khổ cho những con người đang sống ở nơi mà “70% nền kinh tế và tài chính của cả nước” đang suy xụp … một cách vô trách nhiệm.

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Tướng Vịnh Qua Báo Tàu

Tác giả : Trần Khải

Mỗi quan chức lớn tại Hà Nội chắc chắn là có một hồ sơ đánh giá riêng từ Bắc Kinh. Chuyện tình báo theo dõi, quan sát, đánh giá, làm quen, mua chuộc hay lung lạc là tay nghề bình thường phải làm đối với tất cả những nhân viên tình báo và ngoaị giao. Vấn đề là những hồ sơ này thường là bí mật, rất ít khi để lộ ra.

Như khi Mỹ để lộ ra các điện văn ngoạị giao về tình hình quan chức Việt Nam, thắc mắc đầu tiên là có thực Mỹ cố ý để lộ ra hay là vì sơ suất để mất trộm? Nếu bị trộm, taị sao các hồ sơ kinh hoàng hơn lại không thấy? Tương tự, khi báo Trung Quốc viết về các quan chức VN, tất cũng nằm trong một ván cờ có tính toán, chứ không phải thuần túy là nghề báo muốn đưa thông tin cho độc giả.

Hôm 24-6-2012, báo South China Morning Post (Nam Hoa Bưu Báo), bản doanh ở Hồng Kông, có bài viết của Greg Torode, nhan đề “Hanoi's old fox emerges from shadows,” nghĩa là “Cáo già Hà Nội bước ra từ bóng tối.”

Bài báo nói về ông Tướng Nguyễn Chí Vịnh. Có phải các thông tin này là chính xác? Và dù chính xác hay sai trật, có phải bài viết phản ánh đúng cái nhìn từ Bắc Kinh, nghĩa là người từ xa?

Bài báo nêu hình ảnh Tướng Vịnh như là “nhà ngoaị giao du kích,” và đang “được quan sát kỹ trong khi ông tìm cách quân bình quan hệ với TQ và Mỹ.”

Nhà báo Torode gọi ông Vịnh, qua lời vài người biết ông này, là “nhà tư tưởng chiến lược tinh ranh nhất.” Người khác thì gọi ông Vịnh là “thô kệch.” Nhưng người ta nói, theo Torode, Tướng Vịnh, hiện là Thứ Trưởng Quốc Phòng, là “cáo nhất trong các cáo già.”

Bài báo nói, trẻ em Việt Nam học kỹ bài học kháng chiến chống các nước lớn, từ thời xa xưa là chống các triều vua Trung Quốc và thế kỷ 20 là chống Pháp, chống Mỹ, chống Khmer Đỏ và rồi lại chống TQ.

Báo SCMP nói, tuy nhiên chiến trường của Tướng Vịnh là quan hệ quốc tế, và những dải cát chuyển động trong khu vực để thích nghi với tình hình Trung Quốc hùng mạnh hơn – trong các năm gần đây, ông Vịnh lộ diện ra từ bóng tối của những năm ẩn mình trong bộ máy quân báo VN để làm công tác ngoại giao quân sự.

Đối với Hà Nội, nghĩa là đi dây, cải thiện quan hệ với cả TQ và Mỹ, và các cường quốc khác, “tất cả nhằm củng cố chủ quyền VN trong cuộc tranh chấp Biển Đông ngày càng căng thẳng.”

SCMP nói, mới 2 năm trước, Tướng Vịnh đi tới lui trong khu vực để thu xếp cho có hội nghị đầu tiên giữa các Bộ Trưởng Quốc Phòng Đông Nam Á cùng với các tương nhiệm từ các cường quốc khu vực, kể cả TQ, Mỹ và Nga -- một hội nghị như thế rồi sẽ diễn ra đều mỗi 3 năm. Đó là bước đầu tiên thu xếp an ninh có ý nghĩa nhằm giữ hòa bình trong một vùng nguy hiểm.

Gần đây hơn, Tướng Vịnh tăngt ốc, họp với hàng chục sĩ quan quân đội khu vực và các đặc sứ nước khác. Mới đầu tháng này, ông Vịnh giúp tiếp đón chuyến thăm của Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Leon Panetta để gặp Bộ Trưởng Quốc Phòng VN Phùng Quang Thanh. Mới tuần trước, ông Vịnh họp với Đạị sứ TQ tại VN là Kong Xuanyon trong một buổi họp kín ở VN.

Bái báo viết, “Ngay cả khi 2 bên làm việc để tăng hợp tác, một trận khẩu chiến tiếp tục diễn ra về Biển Đông. Những ngày gần đây đã thấy cả 2 phía VN và TQ đưa ra lời phản đối lẫn nhau về Biển Đông.”

Bài báo nhắc rằng, mới 2 năm trước, Tướng Vịnh cảnh cáo rằng VN có đủ sức để tự vệ, và trong khi tham dự một hội nghị ở Singapore năm ngoái, vừa sau khi Bộ Trưởng Quốc Phòng TQ Liang Guanglie đưa ra lời cam kết trang trọng về ý định hòa bình của TQ, ông Vịnh cảnh cáo rằng nếu bất kỳ phía nào gây căng thẳng tranh chấp hơn, “chúng tôi sẽ không chỉ đứng lui và ngó.”

SCMP nói, người ta thắc mắc rằng ông Vịnh nghiêng về phía Tàu hay phía Mỹ?

Bài báo nói, ông Vịnh tuy có vẻ ngoaì bình thản, nhưng kiểu hút thuốc như khói tàu cho thấy bên trong là đầy căng thẳng. Ông Vịnh cũng được kể là ưa nói nhiều khi uống rượu.

Một nhà ngoại giao nước ngoài nói rằng Tướng Vịnh có suy nghĩ sâu sắc, sẵn sàng lấy lý luận chất vấn chứ không phải thuần tín điều. Tinh ranh, khôn ngoan, ông Vịnh như dường khó bỏ sót vì sơ suất.

Một điện văn mật của ngoại giao Mỹ phổ biến bởi WikiLeaks có nói về tình hình Tướng Vịnh thăng quan tiến chức và quan điểm.

Đại sứ Mỹ taị Hà Nội lúc đó là Michael Michalak viết hồi đầu 2010 rằng Tướng Vịnh trong khi nói chuyện với các quan chức Mỹ viếng thăm VN rằng Bắc Kinh có thể là một sức mạnh để ổn định khu vực, nhưng thêm: “Vịnh công khai bác bỏ chủ trương bànht rướng của TQ ở Biển Đông, và khi bị hỏi ép, đã nói rằng VN biết cách chiến đấu và thắng và sẽ làm những gì cần thiết để giữ gìn lãnh thổ.”

Điện văn kết thúc với lời bình, “Nếu Vịnh là cò mồi của TQ, hắn giấu quá kỹ.”

Bài báo SCMP sau đó kể về ông Tướng Nguyễn Chí Thanh, bố của Tướng Vịnh.

Và rồi bài báo nhắc tới Tướng Võ Nguyên Giáp, bây giờ 102 tuổi và là trưởng lão già nhất trong đảng, rằng ông Giáp nằm trong một nhóm chất vấn Tướng Vịnh khi chỉ huy Tổng Cục 2, một cơ quan tình báo đầy bí mật.

Bây giờ, ông Vịnh đã rời Tổng Cục 2, đã tạo được sức mạnh chính trị và có thể sẽ lên nắm chức cao hơn.

Các nhà ngoaị giao đoán là với quá khứ tình báo, chứ không phaỉ tác chiến, ông Vịnh khó trở thành Bộ Trưởng Quốc Phòng tương lai. Nhưng Vịnh có thể sẽ vào được Bộ Chính Trị, một vị trí cần có kinh nghiệm ngồi trong Ủy Ban Trung Ương trước tiên.

Báo SCMP nói rằng một nhà ngoaị giao đưa lời bình về Tướng Vịnh, “Hắn bước ra từ bóng tối và là một phần của vòng chính trị mở. Điều quan trọng là nếu hắn sẽ nắm chức vụ cao hơn trong tương lai, và có thể làm giảm nỗi lo sợ của những người chỉ ý hắn trong dài hạn.”

Trần Khải

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Cách Mạng Ai Cập?

Tác giả : Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Sau cuộc bầu cử tự do nhất trong lịch sử Ai Cập hôm Chủ nhật vừa qua cựu Thủ tuớng Mohammed Morsi đã trúng cử Tổng Thống Ai Cập, đánh bại cựu Thủ tướng Ahmed Shafiq trong một cuộc tranh đua gây sự căng thẳng chính trị Ai Cập lên vài nấc nữa.

Bốn Tổng Thống sau chót trong sáu chục năm qua đều là những người trong hàng ngũ quân đội. Đây là lần đầu tiên nước Ai Cập hiện đại được lãnh đạo bởi một người Hồi giáo và cũng là một người dân sự được bầu cử tự do.

Hàng đoàn người ủng hộ Morsi tụ tập ở Công viên Tahrir, Cairo, đã hoan hô và nhẩy múa khi kết quả bầu cử được đọc trên TV. Có nguời thả bồ câu có buộc hình của Morsi tại công viên, nơi đã từng có cuộc nổi dậy đòi cách chức Mubarack hồi năm ngoái. Nhiều nguời còn đốt cả pháo.

Phát ngôn nhân của Morsi tuyên bố những lời nói không thể mô tả “sự sung sướng” trong “giây phút lịch sử này”. Ông ta nói: “Chúng ta có giây phút này là nhờ máu của những người tử đạo trong cuộc cách mạng. Ai Cập sẽ bắt đầu một giai đoạn mới trong lịch sử”.

Lời loan báo đó là đỉnh cao của một giai đoạn 16 tháng chuyển tiếp được dự liệu sẽ đem lại luật lệ dân chủ, nhưng được kiểm soát chặt chẽ và rút gọn bởi các nhà cai trị đã đoạt quyền hành từ Mubarak.

Kết quả rồi đây sẽ kết thúc sự tranh chấp quyền lực của đất nước hiện đang diễn ra giữa tổ chức Huynh đệ Hồi giáo của Morsi và phe quân sự hay chăng?

Ủy hội Bầu cử nói Morsi thắng với 51.7 % lá phiếu so với 48.3% của Shafiq. Số phiếu tổng cộng là 51%.

Farouk Sultan, cầm đầu Ủy Hội Bầu cử, mô tả cuộc bầu cử là “một giai đoạn quan trọng trong sự kết thúc việc xây dựng kinh nghiệm dân chủ của chúng ta”.

Nhưng quan niệm đó có đúng hay không nhỉ? Ngay sau khi kết thúc cuộc bầu cử dân chủ, những người dân Ai Cập sẽ làm gì nhỉ? Họ sẽ bắt tay vào việc xây dựng đất nước của họ chăng? Sự thật không đơn giản như vậy.

Trước hết không ai có thể chối cãi nền văn minh Ai Cập là nền văn minh đầu tiên của loài người với việc xây dựng 3 quả núi, chữ Hán vẫn gọi là Kim Tự Tháp, chữ Anh gọi là “pyramid”. Xét ra trên khắp thế giới ở các lục địa Âu, Á, Phi cho đến Mỹ châu không có một di tích nào của loài người vĩ đại như thế.

Vậy dân tộc Ai Cập sẽ bủa ra quanh 3 qưả núi nhân tạo Kim Tự Tháp để làm ăn mua bán chăng? Ở đây tôi xin thưa rằng chẳng bao giờ có chuyện đó. Tại sao vậy? Bởi vì quanh 3 quả núi nhân tạo chỉ toàn là bãi sa mạc nóng hổi không thể trồng trọt cày cấy gì được. Đó là vấn đề kinh tế, giản dị hơn nữa, đó là sự sống còn của con người.

Chính vì thế dân chúng Ai Cập cho đến nay vẫn tìm đường vượt qua Địa Trung Hải để tìm sự sống còn của họ trong phần lục địa gọi là Âu châu. Ở thời xa xưa đó chưa có những tầu biển lớn nào vượt qua các Đại dương, Thái Bình Dương hay Đại Tây Dương như ngày nay.

Người dân Ai Cập đã được tự do tìm lẽ sống vì vấn đề kinh tế. Để kết luận tôi muốn đặt ra câu hỏi: Tự do cần hay sự sống còn cần cho loài người chúng ta? Chỉ có mấy anh khùng mới không trả lời được câu hỏi này.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Một lá phiếu cứu Obamacare

Ngô Nhân Dụng
Người Mỹ chờ đợi phán quyết của Tối Cao Pháp Viện về Luật Cải Tổ Y Tế của Tổng Thống Barack Obama cũng hồi hộp không khác gì người coi trận chung kết giải Euro 12.

Hồi hộp tới phút chót; năm phút chót. Theo tin trong giới cá độ (InTrade) thì có 70% người ta tin là các thẩm phán sẽ bác bỏ đạo luật vì nó vi hiến. Ðơn thưa kiện của 26 tiểu bang nói rằng đạo luật Obama bắt buộc mọi người dân Mỹ phải mua bảo hiểm y tế (nếu không sẽ bị phạt tiền) là vi hiến. Phía chính quyền biện hộ rằng điều này nằm trong quyền của Quốc Hội dựa theo Ðiều khoản Thương mại trong hiến pháp Mỹ; nó cho phép Quốc Hội liên bang làm luật điều hành việc thương mại liên tiểu bang.

Trong phần đầu bản văn dài 59 trang được công bố Chủ Tịch John Roberts đã nêu ý kiến nói rằng việc bắt buộc trên “không thể coi là phù hợp với Ðiều khoản Thương mại”. Những người chống đạo luật cười hân hoan. Phải năm phút sau Thẩm Phán Roberts mới nêu ra ý kiến khác, nói rằng Quốc Hội có quyền đánh thuế những người không mua bảo hiểm y tế; mà thứ tiền mà trong đạo luật gọi là tiền phạt chính là một thứ thuế, nằm trong thẩm quyền của Quốc Hội! Những người ủng hộ đạo luật lúc đó mới bật lên mừng rỡ!

Có lẽ trong năm phút mong manh đó, các đài CNN và Fox News đã cố giành cái vinh dự loan tin sớm nhất. Họ cho tin lên đài: “Tối Cao Pháp Viện bác bỏ luật bắt cá nhân mua bảo hiểm y tế vì vi hiến!”

Từ hai năm nay cả bên, phe chống lẫn phe bênh đạo luật, không ai dùng đến lý luận về thuế má cả. Hồi Tháng Ba, mục Bình Luận này đã đặt câu hỏi tại sao hai năm trước Tổng Thống Obama không mô tả việc đóng tiền phạt này là một thứ thuế, để tránh cho đạo luật khỏi bị kiện là vi hiến. Không ngờ chính Thẩm Phán Roberts đã dùng lối giải thích này để giữ lại đạo luật.

Những người theo khuynh hướng bảo thủ ở Mỹ thường không muốn cho chính quyền liên bang nới rộng thêm quyền hành, lấn áp các tiểu bang hoặc xâm phạm vào quyền quyết định của các cá nhân. Bốn vị phẩm phán bảo thủ (Kennedy, Scalia, Thomas và Alito), do các vị tổng thống Cộng Hòa đề cử, đều nói Ðiều khoản Thương mại không cho phép Quốc Hội liên bang nhiều quyền như trong đạo luật đạo luật Obamacare. Bốn vị có khuynh hướng cấp tiến (Ginsburg, Sonia Sotomayor, Stephen G. Breyer và Elena Kagan) nghĩ ngược lại. Cả hai bên đều dựa trên Ðiều khoản Thương mại; đưa ra những bản ý kiến riêng bổ túc cho phán quyết. Chánh Thẩm John Roberts đồng ý là Ðiều khoản Thương mại không cho phép Quốc Hội bắt dân mua bảo hiểm. Ông đã bỏ lá phiếu quyết định giữ đạo luật, nhưng dùng lý luận dựa trên quyền đánh thuế của Quốc Hội Mỹ.

Ông John Roberts được cựu Tổng Thống Georges W. Bush (Cộng Hòa) đề cử làm chánh thẩm Tối Cao Pháp Viện. Ông đã cứu một công trình lập pháp quan trọng nhất của đảng Dân Chủ trong vòng nửa thế kỷ nay; trong lúc toàn thể đảng Cộng Hòa chống lại đạo luật đó.

Bài học thứ nhất là khi các vị thẩm phán có vai trò độc lập thì quyền của họ rất lớn. Các thẩm phán cấp liên bang ở Mỹ đều được bổ nhiệm suốt đời (các thẩm phán cấp dưới thì do dân bỏ phiếu định kỳ). Ðó là một cách bảo vệ tính độc lập của các thẩm phán; khiến họ không phải chiều theo ý kiến của đảng phái chính trị.

Tính độc lập của các thẩm phán đã bị nhiều người Mỹ nghi ngờ, vì khi các ông tổng thống đề cử ai thì cũng chọn những người cùng quan điểm với mình về các nguyên tắc pháp luật. Năm 2000, phán quyết 5-4 của Tối Cao Pháp Viện Mỹ chỉ kết luận là cuộc kiểm phiếu ở Florida là hợp pháp, có thể kết thúc. Nhưng lá phiếu thứ 5 trong phán quyết đó đã đưa tới hậu quả, là Tổng Thống Georges W. Bush đắc cử.

Lá phiếu thứ 5 của Chánh Thẩm Roberts vừa rồi khiến người Mỹ thấy rõ tính độc lập của quyền tư pháp. Trước đây, các đơn kiện đạo luật Obamacare ở tòa án cấp dưới cũng đưa tới những kết quả bất ngờ. Ở cấp tòa địa hạt, các vị thẩm phán gốc Dân Chủ thường phán là đạo luật chỉ áp dụng Ðiều khoản Thương mại; trong khi các thẩm phán gốc Cộng Hòa thì thấy đạo luật vượt quá quyền hạn của điều khoản đó. Khi lên đến cấp tòa phá án, thì ngược lại, chính vị thẩm phán được ông tổng thống đảng Dân Chủ đề cử lại bác bỏ đạo luật này, còn một vị thẩm phán Cộng Hòa thì lại phán là nó đúng luật.

Cho nên có thể rút ra một bài học khác, là việc giải thích luật pháp và hiến pháp không giản dị, rất khó đoán. Trước khi tòa án tối cao xét xử, nhiều luật gia đoán rằng Thẩm Phán Kennedy sẽ ủng hộ Obamacare, vì trong quá khứ ông đã nhiều lần bỏ phiếu cho chính quyền liên bang thêm quyền hành dựa theo Ðiều khoản Thương mại. Ông Kennedy lại là người viết bản ý kiến dị biệt của các thẩm phán không đồng ý với phán quyết, với những lời lẽ rất cứng rắn và sắc bén. Nhưng Chánh Thẩm Roberts đưa ra lý luận sắc bén nhất về vấn đề áp dụng Ðiều khoản Thương mại. Theo ông hiến pháp cho phép Quốc Hội điều tiết các hoạt động mua bán liên bang, nhưng không có nghĩa là họ cũng có quyền trên những người không mua gì cả. “Nhân danh Ðiều khoản Thương mại để giữ lại đạo luật Y tế này tức là cho Quốc Hội quyền viết luật trên những gì người dân không làm. Các nhà Lập hiến (nước Mỹ vào thế kỷ 18) biết phân biệt giữa hoạt động và không hoạt động gì cả. Họ cho Quốc Hội quyền quy định về hoạt động thương mại, chứ không cho quyền bắt người dân phải dự vào các hoạt động thương mại.”

Năm 2005, khi điều trần trước Thượng Viện Mỹ để được phê chuẩn làm Chánh Án Tối Cao Pháp Viện, ông Roberts đã ví: “Nhà thẩm phán cũng giống các trọng tài. Trọng tài không làm ra các luật giao đấu, họ chỉ áp dụng. Vai trò của một trọng tài, cũng như một thẩm phán là bảo đảm mọi người giao đấu theo đúng luật; một vai trò rất giới hạn. Không ai đến sân banh để xem ông trọng tài cả.”

Nhưng trong trận đá bóng Luật Cải Tổ Y Tế vừa qua, trọng tài John Roberts đã biểu diễn rất ngoạn mục. Một mặt, ông bác bỏ ý kiến của chính quyền Obama, nói đạo luật theo đúng Ðiều khoản Thương mại. Một mặt ông giữ nguyên đạo luật đó, dựa trên một lý luận mà chính quyền không nghĩ đến để dùng khi tự vệ: Quyền đánh thuế. Cuối cùng, có thể nói ông Roberts đã đá trái banh Cải tổ Y tế sang một sân chơi khác, cho các nhà chính trị hai đảng đấu với nhau trong năm tháng tới, bằng cuộc vận động tranh cử.

Ứng cử viên Mitt Romney đã kêu gọi những người chống đạo luật hãy bầu cho ông làm tổng thống, ông hứa sẽ xin cho Quốc Hội bãi bỏ đạo luật ngay khi nhậm chức. Ðảng Cộng Hòa có thể dùng vấn đề này như một đề tài tranh cử tổng thống và Quốc Hội. Một cuộc nghiên cứu dư luận gần đây cho thấy chỉ có 24% dân Mỹ nghĩ là Tối Cao Pháp Viện nên giữ lại đạo luật; 27% nghĩ là nên xóa bỏ điều khoản bắt buộc mua bảo hiểm; và 41% cho là nên xóa tất cả đi. Sau khi Tòa Tối Cao công bố phán quyết, trong một giờ đảng Cộng Hòa đã nhận được 200,000 đô la tiền ủng hộ tranh cử. Trong vòng 24 giờ, Thống Ðốc Romney đã được 43,000 người ủng hộ qua Internet đóng góp cho ông 4.3 triệu đô la để giành lấy ngôi vị tổng thống!

Nhưng ông Romney cũng báo trước những người ủng hộ ông là không nên dồn hết sức vào việc tấn công đạo luật Cải tổ Y tế. Trong dư luận cử tri Mỹ, khi hỏi vấn đề nào là mối quan tâm lớn nhất, chỉ có 5% nói về đạo luật Cải tổ Y tế. Còn 50% các cử tri coi những vấn đề kinh tế, như công việc làm mới là quan trọng nhất.

Lá phiếu của Chánh Thẩm John Roberts sẽ thay đổi đời sống của hàng chục triệu người dân Mỹ, hoặc nhiều hơn. Có tờ báo kể câu chuyện anh Eric Richter ở Ohio. Hai vợ chồng anh đi làm, lợi tức góp lại được 36,000 đô la một năm. Lợi tức đó khá cao, anh không được hưởng Medicaid; nhưng mua bảo hiểm y tế thì tốn kém nên anh quyết định không mua vì ở tuổi 39 không mấy khi bệnh tật. Tháng Tư vừa qua bác sĩ phòng cấp cứu cho biết anh phải mổ một cái bứu nguy hiểm. Vợ anh đi tìm mua bảo hiểm, không nơi nào bán vì anh đã có bệnh rồi. Bà vợ phải quyết định bỏ việc làm, để lợi tức xuống thấp, đủ điều kiện được hưởng Medicaid.

Phán quyết của Tối Cao Pháp Viện cho tiếp tục thi hành luật Obamacare. Ðiều khoản “Bắt buộc bảo hiểm” sẽ được áp dụng vào năm 2014. Sẽ có thêm trên 30 triệu người Mỹ được bảo hiểm y tế. Ai cũng phải mua bảo hiểm, nếu thiếu tiền sẽ được chính phủ trợ cấp. Người nào không mua sẽ phải đóng tiền phạt, bằng 1% lợi tức, đến năm 2016 sẽ tăng lên tới 2.5%. Các công ty bảo hiểm không được phép giới hạn số tiền chi cho mỗi bệnh nhân trong một đời. Những người đang bị bệnh cũng vẫn mua được bảo hiểm, các công ty không được từ chối. Eric Richters sẽ mua được bảo hiểm dù đang bị bệnh. Gia đình anh, với lợi tức $36,000 sẽ phải đóng khoảng 200 đô la bảo hiểm mỗi tháng. Từ năm 2015, các bác sĩ sẽ được trả thù lao dựa trên kết quả việc trị liệu bệnh nhân, thay vì được trả công từng hành động chẩn đoán hoặc chữa trị.

Người dân Mỹ bình thường sẽ không lo bị mất bảo hiểm y tế khi kinh tế suy yếu, hãng xưởng đóng cửa, bị mất việc làm. Không ai lo khi bị tai nạn, hay bất ngờ bị bệnh như Eric Richters, có thể sạt nghiệp vì chi phí chữa trị, hoặc phải tự giảm bớt lợi tức và tài sản để được hưởng Medicaid. Tòa án Tối cao đã bác bỏ một phần điều khoản về Medicaid (Medi-Cal ở California), không cho phép chính phủ liên bang “phạt” các tiểu bang bằng cách rút bớt tiền góp vào quỹ này. Nhưng chương trình Medicaid sẽ được mở rộng thêm trên toàn quốc. Ðiều kiện dễ dàng hơn sẽ giúp khoảng 5 triệu người Mỹ nghèo hoặc quá tật bệnh nhận được Medicaid. Các thống đốc tiểu bang có quyền thi hành điều khoản này theo tốc độ nhanh hay chậm. Dân chúng các tiểu bang sẽ quyết định họ muốn luật được thi hành nhanh hay chậm qua lá phiếu. Cũng như dân Mỹ sẽ bỏ phiếu vào tháng 11 tới; khi bầu cho Romney hay Obama, họ sẽ quyết định cả đạo luật Cải tổ Y tế có nên giữ hay không.

Trước khi Tòa Tối Cao công bố phán quyết, Tổng Thống Barack Obama có lúc than phiền rằng những người không được dân bầu (các thẩm phán) có quyền bác bỏ một đạo luật do các vị dân cử (tổng thống và Quốc Hội) làm ra! Ông Obama từng làm giáo sư về Luật hiến pháp; lời tuyên bố trên khiến nhiều người kinh ngạc. Nếu hiến pháp nước Mỹ ấn định như vậy, tại sao một ông tổng thống còn thắc mắc? Nay thì nhờ Thẩm Phán Roberts, Tổng Thống Obama không còn thắc mắc nữa! Chính trị là chuyện nhất thời. Quy tắc tam quyền phân lập có giá trị lâu dài hơn, nếu không nói là vĩnh viễn!

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Ai là người thắng lớn trong vụ Obamacare?

Lược dịch bài viết Who Won the Fight over Obamacare?
Người thắng lớn hôm nay là những ai không có bảo hiểm.

Điều quan trọng nhất về phán quyết lịch sử của Tối Cao Pháp Viện về Đạo Luật Affordable Care Act chẳng liên quan gì đến với Barack Obama hay Mitt Romney, mà đến hàng triệu người từ giờ sẽ có, hay giữ được bảo hiểm sức khỏe nhờ quyết định này.

Nếu đạo luật này bị dẹp đi, hàng triệu người sẽ rơi vào tình trạng tài chánh bấp bênh. Giờ đây với đạo luật nguyên vẹn, mọi việc sẽ được trao vào tay cử tri, là những người lẽ ra phải được đóng vai trò quyết định từ đầu.

Nếu tổng thống Obama tái đắc cử, Affordable Care Act sẽ sống còn, và chính phủ (Obama) đã ban hành một chính sách nới rộng phúc lợi xã hội lớn nhất kể từ thời “Great Society” (của tổng thống Lyndon Johnson, trong đó chương trình medicare được ra đời). Ngược lại, nếu ông thất cử, Đảng Cộng hòa sẽ có cơ hội lớn để thay hình đổi dạng, hoặc tháo dỡ phúc lợi của nhà nước.

Nói thì nói thế, nhưng vẫn khó biết sự kiện này sẽ ảnh hưởng nhiều lên cuộc bầu cử tổng thống hay không. Đương nhiên, phán quyết của Tòa là một điều rất tốt cho Tổng thống Obama. Chính phủ ông đã thắng một trận chiến lớn, và, dù nói điều này nghe có vẻ sáo mòn, người Mỹ thường thích kẻ chiến thắng. Đương nhiên, phán quyết này là một đòn trời giáng vào thông điệp của Mitt Romney. Trước đây, Romney có thể tấn công rằng Affordable Care Act vi hiến. Nhưng khi Tòa án Tối cao đã ủng hộ đạo luật, vấn đề được đặt ra sẽ chuyển thành: Đây có phải là một chính sách tốt không?

Chưa chi, trong một phát biểu ngắn gọn sáng nay, Romney đã tuyên bố rằng “Obamacare trước đây là một chính sách xấu, và bây giờ vẫn là một chính sách xấu. Là một đạo luật xấu trước đây, và là một chính sách xấu ngày nay.”

Romney sẽ tiếp tục tranh luận một cách man trá rằng Affordable Care Act sẽ giết chết công ăn việc làm và sẽ là nguyên nhân khiến người ta mất bảo hiểm y tế. Cùng lắm thì Romney sẽ có cơ hội huy động thêm khối cử tri bảo thủ rằng, trong tình thế này, cách duy nhất để kết thúc Affordable Care Act là bầu một ứng cử viên đảng Cộng hòa vào Nhà Trắng. Nếu khối bảo thủ trước đây không rục rịch, thì chắc bây giờ họ sẽ bắt đầu.

Tương tự như thế, Obama đang ở một vị trí tuyệt vời để bênh vực đạo luật do mình đưa ra. Giờ đây được tòa án tối cao đứng về phe mình, xác định sự hợp pháp của Affordable Care Act, ông có thể tiếp tục quảng bá về những ích lợi của đạo luật. Nếu nội các của ông khôn ngoan, họ có thể tái giáo dục quần chúng, tạo hậu thuẫn mới cho đạo luật, và đẩy Romney vào thế phòng thủ. Obama có thể hướng câu chuyện về những gì quần chúng có thể bị mất đi (nếu bầu cho Romney) thay vì đạo luật cải tổ y tế có hợp hiến hay không.

Đây là một quyết định đột phá, nhưng trừ khi nó khiến chính quyền Obama thay đổi chiến lược, tôi nghi nó sẽ không gây tác động đáng kể về cuộc bầu cử này. Nền kinh tế vẫn là yếu tố quan trọng nhất trong tháng mười một, và về mặt này, vị trí của Obama vẫn còn bấp bênh!
—————————-
The biggest winners today were the uninsured.

The most important thing about today’s landmark ruling on the Affordable Care Act has nothing to do with Barack Obama or Mitt Romney and everything to do with the millions of people who will gain health insurance—or keep it—as a result of the Court’s decision. Tens of millions of people would have lost financial security if the law had been struck down. With the law intact, everything moves to the voters—where it should have been this entire time. If Obama is re-elected, then the Affordable Care Act will survive, and the administration will have enacted the largest expansion in social services since the Great Society. By contrast, if he loses, Republicans will have a tremendous opportunity to reshape or dismantle the welfare state.

That said, it’s hard to say if this will have any substantive effect on the direction of the presidential election. Obviously, the Court’s ruling is good for President Obama. The administration has won a huge battle, and at the risk of cliché, Americans like winners. Likewise, this is a substantial blow to Mitt Romney’s message; before, Romney could attack the illegitimacy of the Affordable Care Act. But now that the Supreme Court has ruled in the law’s favor, the conversation will shift to policy—is this a good thing?

Already, in a brief statement this morning, Romney declared that “Obamacare was bad policy yesterday, it’s bad policy today. It was bad law yesterday, it’s bad policy today.” He will continue to argue—falsely—that the Affordable Care Act will kill jobs and cause people to lose their insurance. At most, Romney will have a chance to further mobilize conservatives; at this point, the only way to end the Affordable Care Act is to elect a Republican to the White House. If conservatives weren’t energized before, they almost certainly are now.

Likewise, Obama is in a great position to rebuild his case for the law. Now that he has the legitimacy of the Supreme Court on his side, he can make a renewed pitch for the benefits of the law. If the administration is savvy, it can re-educate the public, build new support for the law, and put Romney on the defensive—Obama can make the conversation about what the public would lose, not whether the law is constitutional.

This is a groundbreaking ruling, but unless it prompts a major change in the administration’s strategy, I doubt it will have a substantial effect on the election itself. The economy is still the most important variable for November, and on that, Obama remains on shaky ground.

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Aung San Suu Kyi sẵn sàng lãnh đạo Miến Điện nếu đảng của bà thắng cử

Image
Lãnh tụ đối lập Aung San Suu Kyi trong buổi gặp gỡ cộng đồng người Miến Điện ở Luân Đôn, ngày 22/06/2012.
REUTERS/Suzanne Plunkett


Kết thúc vòng công du Châu Âu tại Paris vào hôm qua 28/06/2012, lãnh tụ đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi đã dành cho hãng tin AFP một cuộc phỏng vấn ngay tại Thượng viện Pháp. Biểu tượng của phong trào đấu tranh dân chủ Miến Điện rất cảm động khi được tiếp đón « nồng hậu », đồng thời tuyên bố sẵn sàng đứng ra lãnh đạo đất nước, nếu đảng của bà chiến thắng trong bầu cử.

Khi được hỏi về khả năng bà lên cầm quyền trong trường hợp Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ của bà chiến thắng trong cuộc bầu cử quốc hội năm 2015 tới đây, Aung San Suu Kyi xác định : « Bất kỳ lãnh đạo đảng nào đều sẵn sàng cho khả năng này nếu thực sự tin vào quá trình dân chủ ». Tuy nhiên, bà nói ngay : « Nhưng đó không phải là điều mà tôi thường xuyên nghĩ tới ».

Đối với lãnh tụ đối lập Miến Điện, vấn đề cần yếu là phải tập trung vào công việc hiện tại, và tất nhiên cũng phải chuẩn bị tốt cho tương lai vì hiện tại phải gắn liền với hy vọng cho tương lai. Theo bà : « Không thể đợi đến năm 2015 (khi cuộc bầu cử diễn ra) rồii mới xem xét tình hình vào lúc đó. Thời điểm bây giờ chính là thời điểm quan trọng nhất, và đó là thông điệp mà tôi cố gắng gởi đến toàn thế giới, rằng ba năm sắp tới sẽ xác định diện mạo của năm 2015 (tại Miến Điện). »

Sau ba ngày thăm Pháp, bà Aung San Suu Kyi rất cảm kích trước tình cảm nồng hậu mà mọi người dành cho bà, một điều mà bà thú nhận là không ngờ đến : « Có biết bao người, từ khắp nơi trên thế giới, có vẻ thấu hiểu cuộc đấu tranh của chúng tôi ở Miến Điện, tôi cảm nhận được một làn sóng đoàn kết mạnh mẽ đối với chúng tôi. Đó là một điều rất bất ngờ ».

Trong bài phỏng vấn, lãnh tụ đối lập Miến Điện tỏ ra rất hóm hỉnh. Khi được hỏi là bà đã làm thế nào để có thể giữ thái độ điềm tĩnh và tập trung trong suốt thời gian bị thử thách đã qua, bà trả lời : « Đó là một điều rất mệt mỏi. Và khi người ta hỏi tôi về những hy sinh mà tôi phải chịu, tôi luôn luôn muốn trả lời rằng sự hy sinh lớn nhất là giấc ngủ. »

Người phụ nữ mà trên mái tóc hầu như lúc nào cũng có một đóa hoa còn thừa nhận : « Tôi đã nhận được rất, rất nhiều hoa. Nhưng có một điều mà những người bạn châu Âu cần phải biết. Đó là thân cây hoa hồng ở châu Âu quá to, vì thế tôi khó có thể cài lên tóc của tôi. Giá mà có giống hoa nhỏ hơn, tinh tế hơn thì rất là hay ».

Hôm nay, bà Aung San Suu Kyi trở về Miến Điện sau vòng ghé thăm châu Âu, bắt đầu từ Thụy Sĩ, tiếp tục ở Na Uy, Ireland, Anh và kết thúc ở Pháp.

Mai Vân

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Trung Quốc ngang ngược và dư luận Việt Nam
Sunday, July 01, 2012 12:05:41 AM

Phùng Thức/Người Việt

Sự kiện Trung Quốc ngang ngược gọi thầu các mỏ dầu bên trong thềm lục địa Việt Nam
cho thấy hai thái độ rõ rệt trong phản ứng của chính quyền và dư luận Việt Nam.

Phía chính quyền cố gắng tiếp tục làm tròn vai diễn với những tuyên bố từ cấp bộ ngoại giao như thông lệ.
Có thể lần này ngôn ngữ ngoại giao mạnh mẻ hơn nhưng về chất lượng phát ngôn vẫn không khác mấy với những lần trước
dù mức độ Trung Quốc lấn xâm lấn chủ quyền quốc gia là nghiêm trọng. Ở phía dư luận công dân rộng rãi người ta nghe thấy một giọng nói chung rất cô động,
gần như có tính kết luận về sự việc mất chủ quyền này là: Việt Nam hết cửa!

Image
Biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội, sáng Chủ Nhật, 1 tháng Bảy, 2012. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Khái niệm ‘Việt Nam hết cửa’ được người dân đưa ra gần với nghĩa bị Trung Quốc chiếu bí trên một ván cờ. Không cần suy diễn đến viễn cảnh Trung Quốc có gọi được thầu hay không gọi được thầu, chỉ cần phát ngôn và hành động gọi thầu của Trung Quốc đã cho thấy Bắc Kinh, thông qua Tổng công ty dầu khí Hải Dương ( CNOOC) đã cướp đoạt chủ quyền biển của Việt Nam, đã làm phá sản những nước đi ngoại giao và cả luật biển của Việt Nam vừa mới được quốc hội thông qua.

Vì sao những chủ trương đa phương hóa tranh chấp biển Đông bị lơ sau chuyến đi thăm Trung Quốc của Tổng bí thư đảng công sản Nguyễn Phú Trọng. Thỏa thuận cấp cao Việt - Trung về những nguyên tắc trên biển đã được ký kết chưa tròn một năm đã bị Trung Quốc biến thành một văn bản vô giá trị.

Xem lai những tranh chấp mới nhất ở Bãi cạn Scarborough giữa Philippines và Trung Quốc, báo chí Việt Nam và người phát ngôn ngoại giao Việt Nam không thấy lên tiếng gì. Chính quyền Hà Nội cả tin Trung Quốc, chuyển chính sách biển Đông từ đối thoại đa phương sang song phương làm mất đi mặt trận ngoại giao rộng rãi là một sai lầm trầm trọng. Bây giờ Chính quyền Hà Nội kêu gọi quốc tế và các nước bạn bè trong khôi Asean ủng hộ việc hủy thầu thì ai tin, ai quan tâm... Bó đũa đã được Trung Quốc thâm hiểm tách ra từng chiếc và hậu quả phải nhận từ Trung Quốc là điều tất nhiên.

Tổng hợp bình luận dư luận lề trái ở Việt Nam đánh giá về khả năng gọi thầu của Trung Quốc có một điểm chung đáng chú ý như sau: Ngay cả khi những tập đoàn dầu khí lớn của thế giới ngần ngại làm ăn ở vùng biển Đông đang có tranh chấp thì Trung Quốc cũng thừa thủ đoạn thành lập các công ty con với nhãn mác quốc tế để dự thầu và trúng thầu. Bởi bản chấc việc Trung Quốc mời thầu lần này trọng tâm chưa phải nhằm mục đích khai thác dầu mà cái chính là áp đặt, hợp thức trắng trợn quyền lực ở biển Đông; dọn đường cho những bước đi tiếp theo, đẩy phía đối thoại song phương Việt Nam vào điểm: Hết cửa! Hết đường tính cho dù có muốn quay lại với chính sách đa phương.

Trong tuyên bố mới nhất của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng về việc: đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển Việt Nam thông qua luật biển Việt Nam và các luật pháp quốc tế, công ước về biển... Người ta thấy Hà Nội đang ở tư thế gượng gạo và yếu thế. Trước sự lấn tới thâm hiểm, sự khiêu khích trắng trợn của Trung Quốc, nếu chế độ cộng sản nắm quyền ở Việt Nam có vận động được phiên tòa quốc tế công bình, thậm chí được tuyên thắng kiện thì thử hỏi có ích gì nữa khi biển Đông và nguồn sống dân tộc từ biển bị lưỡi bò Trung Quốc liếm sạch.

Nếu tin vào tuyên bố của ông đứng đầu đảng cầm quyền Việt Nam thì người ta sẽ cùng yên tâm -ngây thơ trước miệng con sói chực chờ. Nhưng có thật là ông Trọng và Bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam ngây thơ? Không ai có đầu óc biết phán đoán là lại tin những người bản lĩnh chính trị dầy dạn đó lại ngây thơ, thế thì tại sao những đối sách với Trung Quốc về việc bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng lại đưa dân Việt Nam và tiền đồ Tổ quốc đến chuyện: mỗi ngày, mở mắt ra là thêm hốt hoảng vì các dàn khoan, tàu hải giám, tàu chiến Trung Quốc sừng sững và ngang dọc ở thềm lục địa Việt Nam.

Trước thế và lực tham lam sâu hiểm của Trung Quốc hiên nay, đảng cộng sản cầm quyền ở Việt Nam vẫn chủ trương cần hòa bình-ổn định để phát triển kinh tế; sự hô hào đó chỉ là một cách nói giả nai để che dấu một sự thật là: Họ cần hòa bình và phát triển để giữ sự độc quyền lãnh đạo của đảng.

Thông qua chuyện đàn áp những cuộc biểu tình, bắt bớ những người biểu tình chống Trung Quốc; nhiều người tin rằng họ sẵn sàng đem chủ quyền quốc gia ra thế chấp cho Trung Quốc để đổi lấy lẽ sống còn của đảng cộng sản Việt Nam. Bình luận về việc này một trí thức muốn dấu tên nói: "Dù người Mỹ có chìa tay ra, và đã chìa tay mời rồi nhưng những người lãnh đạo cộng sản việt nam vẫn từ chối.

Chính thể độc tài hiện hành ở Việt Nam khác với chính thể dân chủ của Philippines, Nam Hàn, Nhật Bản...Những nước dân chủ này chọn lựa chung khu vực an ninh với Hoa kỳ, còn Việt Nam thì không; bởi vì chính quyền Hà Nội lo sợ mất đảng hơn mất nước."

Nói tóm lại dù có mất chủ quyền biển hoặc tiếp tục nhượng bộ chủ quyền quốc gia thì họ vẫn chọn Trung quốc; vì sống cùng với Trung Quốc chính quyền Hà Nội nắm được điều chắc chắn là: đảng cộng sản vẫn độc quyền lãnh đạo Việt nam.

Qua sự kiện nóng Trung Quốc gọi thầu khai thác dầu bên trong thềm lục địa cũng như công khai thành lập thành phố Tam Sa, hiện tình Việt Nam có hai thái độ: Mọi công dân không phân biệt trong nước hay ở hải ngoại đều căm giân và đau buồn khi biết sơn hà đang trong cơn nguy biến, còn chính quyền Hà Nội thì trái lại; bởi họ sẽ còn dâng tiếp cho Trung Quốc chủ quyền trên biển nữa như đã từng dâng chủ quyền trên bộ và trên biển như trước đây.

Và tất nhiên, đổi lại Trung Quốc sẽ có một cam kết cốt lõii là: đảng công sản sẽ độc quyền sở hữu Việt Nam!

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Nhà văn Nguyễn Viện:
Chính quyền Việt Nam quá nhu nhược trước Trung Quốc

Sunday, July 01, 2012 3:54:14 PM

Liêu Thái/Người Việt (thực hiện)
LTS: Là một nhà văn tự do, từng có những “va chạm” về chính kiến trên tác phẩm cũng như ngoài đời thật với chính quyền, và, đặc biệt, trong cuộc biểu tình ngày 1 tháng 7 năm 2012 này, ông là một trong những người được an ninh “chăm sóc” kỹ lưỡng. Cuộc phỏng vấn của Liêu Thái với nhà văn Nguyễn Viện ngõ hầu tỏ rõ hơn quan điểm của một người biểu tình chống Trung Quốc, một người yêu nước và, hơn hết là nỗi thao thức của một cư dân ở một quốc gia vẫn còn mang nhiều vết dấu nhược tiểu trong cách hành xử đối ngoại cấp vĩ mô...
Image
Biểu tình chống Trung Quốc sáng Chủ Nhật, 1 Tháng Bảy tại Sài Gòn. (Hình: Facebook)

-Liêu Thái: Ông vui lòng cho biết lý do vì sao sáng hôm nay ông không tham gia cuộc biểu tình được?

-Nguyễn Viện: Sáng Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2012, tôi uống cà phê với anh Lê Hiếu Ðằng và vài người bạn khác. Chúng tôi cùng hẹn nhau sáng Chủ Nhật sẽ ra Nguyễn Du (góc nhà thờ Ðức Bà) uống cà phê. Từ điểm tập trung đó, chúng tôi sẽ cùng với các bạn trẻ biểu tình.

Trong thâm tâm, tôi hy vọng chính quyền sẽ “bật đèn xanh” cho cuộc biểu tình này khi những diễn tiến tiếp sau Luật Biển được Quốc Hội Việt Nam biểu quyết. Tôi vẫn tin không có người Việt Nam nào không yêu nước và không chống Tàu. Hôm uống cà phê với anh Ðằng, chúng tôi cùng nói với nhau, nếu chính quyền đàn áp và không cho phép cuộc biểu tình xảy ra thì... Thật không còn gì để nói.

Tối Thứ Bảy, tôi nhận được điện thoại của bên an ninh “mời” sáng Chủ Nhật cà phê. Thế là phần tôi đã xong. Rồi tôi được biết nhà thơ Trần Tiến Dũng, nhà nghiên cứu Biển Ðông Ðinh Kim Phúc cũng được mời cà phê như tôi, Blogger Uyên Vũ, nhà thơ Bùi Chát, họa sĩ Lê Hào, Phan Thị Lan Phương (Mẹ Ðốp),... cũng đã bị công an canh cửa.

Tôi báo tin cho anh Lê Hiếu Ðằng. Anh cười haha rồi cho biết bản thân anh cũng có người đến làm việc. Nhưng anh nói: “Ðường ta, ta cứ đi...”

Sáng Chủ Nhật, Huỳnh Ngọc Chênh báo tin bị công an xét giấy giữa đường, nhưng rồi anh cũng đến được khu vực nhà thờ Ðức Bà. Anh Hạ Ðình Nguyên báo tin sẽ có mặt. Nguyễn Hòa báo tin mọi người đã tụ họp đông đủ trong quán cà phê...

Tôi không cùng có mặt với mọi người nhưng cũng vui.

Tôi nghĩ, không thể biện minh bằng bất cứ điều gì khi ngăn cản nhân dân biểu thị lòng yêu nước một cách hòa bình.
Image
Nhà văn Nguyễn Viện. (Hình: Internet)
-Liêu Thái: Là một nhà văn, đồng thời là người năng nổ tham gia trực tiếp biểu tình chống Trung Quốc (trước đây), ông có cảm nghĩ gì về chính sách đối nội, đối ngoại của nhà nước về vấn đề Trường Sa, Hoàng Sa hiện nay?

-Nguyễn Viện: Tôi nghĩ, không một ai muốn chiến tranh. Cũng không một ai muốn quê hương mình bị mất một tấc đất. Tôi cũng dành niềm hy vọng này cho những người có trách nhiệm trong chính quyền.

Trước những áp lực của Trung Quốc, Luật Biển ra đời được dù muộn, cũng là một điểm son cho chính quyền.

Tôi cũng dành những cảm thông cho chính quyền trong sự khắc nghiệt của cái địa lý chính trị của đất nước chúng ta.

Xét về tổng thể, tôi nghĩ Việt Nam đang có những bước đi đúng về mặt ngoại giao.

Nhưng tôi thất vọng về thái độ nhu nhược của chính quyền đối với Trung Quốc. Cũng như tôi lên án hành động ác độc của chính quyền đối với nhân dân.

-Liêu Thái: Ông có niềm tin nào về mặt hiệu ứng trong lần biểu tình này?

-Nguyễn Viện: Ðối với tôi, bất cứ một hành động nào, dù nhỏ hay lớn, biểu thị được tính dân chủ và tự do đều đáng quý và đều tạo ra những hiệu ứng tích cực trong đời sống, đặc biệt trong điều kiện của một xã hội do đảng độc tài cầm quyền.

Vì thế, cuộc biểu tình này, hay phong trào Con Ðường Việt Nam do anh Lê Thăng Long đại diện cho nhóm Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Ðịnh... khởi xướng vừa qua (dù thế nào) đều có những ý nghĩa rất lớn. Trước hết, nó cho thấy có sự thoái bộ của độc tài toàn trị. Thứ hai, ít nhiều nó cũng là những bước tiến của nhân dân trong thái độ chính trị của mình.

Trong một chế độ mà sự cai trị được dựa trên nỗi sợ hãi của nhân dân thì bất cứ hành động nào vượt qua được nỗi sợ hãi cũng là một tiến bộ trong hành trình trở thành con người và làm người.

-Liêu Thái: Theo ông thấy, sắp tới, sẽ có những cuộc biểu tình khác hay không, khi mà chính quyền càng lúc càng gắt gao hơn trong ngăn cản biểu tình?

-Nguyễn Viện: Khi sự bất công và thối nát càng ngày càng tàn bạo, cũng như sự thương tổn tinh thần dân tộc càng ngày càng lớn, thì không một sức mạnh bất nhân nào có thể ngăn cản nhân dân đứng lên đòi quyền sống và danh dự của mình.

-Liêu Thái: Dự đoán của ông về tình hình Biển Ðông?

-Nguyễn Viện: Tình hình Biển Ðông thật đáng bi quan. Theo tôi, vấn đề cốt lõi của Trung Quốc là trữ lượng dầu mỏ nằm trong vùng biển này. Mọi tuyên bố láo toét về chủ quyền của Trung Quốc, vì thế, cũng chỉ nhằm mục đích “cùng khai thác, cùng có lợi” (trên tài sản của người khác). Và Trung Quốc sẽ làm tất cả để đạt được mục đích này.

-Liêu Thái: Ông có nhắn gửi nào đến với thanh niên toàn cầu trong vấn đề Biển Ðông?

-Nguyễn Viện: Văn minh mà con người đạt được trong thế giới ngày nay chính là hòa bình và công lý cho mọi con người, mọi dân tộc. Chính vì thế, tôi hy vọng tất cả mọi con người, mọi dân tộc tiếp tục gìn giữ và đấu tranh cho công lý và hòa bình được thực thi ở bất cứ đâu trên mặt đất.

Tôi cũng mong nhân dân Trung Quốc cũng như các quốc gia, các tổ chức quốc tế, đặc biệt trong giới trẻ, nhìn thấy bản chất thật và sự chính đáng trong vấn đề Biển Ðông để dập tắt những tham vọng bất chính của nhà cầm quyền Trung Quốc, kiến tạo một thế giới hòa bình, công bằng và tiến bộ.

-Liêu Thái: Xin cảm ơn ông!

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Lũng đoạn kinh tế nhờ chế độ độc tài
Ngô Nhân Dụng

Người Việt Nam đang sẵn sàng nổi giận khi nói đến Trung Quốc. Tấm lòng phẫn nộ thể hiện trong các cuộc biểu tình ngày Chủ Nhật vừa qua. Nhưng mối lo sợ còn thấy trong những bài viết lan truyền trên mạng. Một nhà báo mạng báo động: “Không còn nghi ngờ gì nữa! Quê hương đã tràn ngập bóng Trung Quốc!”

Lo sợ về các thủ đoạn của người Trung Quốc đã trở thành một nỗi ám ảnh trong lòng người Việt trong mấy chục năm qua; tạo nên những câu chuyện gần như huyền thoại. Người Trung Quốc đã sang Việt Nam gạ mua móng trâu, bò với giá rất cao, khiến nhiều người Việt Nam đi chặt chân trâu, bò (của mình hay chặt trộm); gây nên nạn thiếu trâu cày. Người Trung Quốc phổ biến ốc bưu sang Việt Nam, gây thiệt hại mùa màng. Người Trung Quốc thu mua đồng vụn giá cao gây ra nạn ăn cắp đồng, phá mạng lưới dây điện, vân vân. Người Trung Quốc đi mua mèo với giá cao gây ra nạn dịch chuột kinh hoàng. Các tỉnh như Lào Cai, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên... rộ lên “cơn sốt đỉa” vì người Trung Quốc sang mua đỉa với giá cao; nhiều người Việt rủ nhau đi nuôi đỉa! Hội Ðộng Vật Học Việt Nam đã phải báo động: Nếu nuôi đỉa bừa bãi, không kiểm soát được, đỉa tràn ra môi trường tự nhiên nhiều quá thì hậu họa sẽ không thể lường được. Các chuyện trên không biết chắc là đúng sự thật được bao nhiêu phần trăm; giống như những chuyện Cao Biền trấn yểm long mạch nước ta, chuyện Hoàng Phúc đi tìm đất huyệt, vân vân. Nhưng chúng phát xuất từ trong dân gian, cho thấy mối lo lắng vẫn ám ảnh người Việt từ hàng ngàn năm chưa dứt.

Nhà báo Văn Quang mới phổ biến một bài kể ra những “thủ đoạn của các con buôn người Trung Quốc” lũng đoạn thị trường Việt Nam. Và đây là những chuyện thật, hầu như ai cũng biết, có thể tin được. Thí dụ, chuyện hàng đoàn xe vận tải chở dưa hấu, rau quả sang Trung Quốc bán, nằm la liệt ở cửa khẩu làm mọi thứ thối rữa chỉ còn nước đổ đi. Hay ở thị trấn Mỹ Phước, Ðồng Tháp Mười, các thương lái Trung Quốc đến trả giá cao thu mua “khóm” (dứa) không cần đợi khóm chín mà còn xanh cũng mua, miễn to là được. Họ chỉ đặt cọc 10 triệu đồng, đến khi các chủ vựa Việt Nam sẵn sàng hai thùng, 42 tấn trái cây, thì họ biến đâu mất, nhà buôn Việt Nam đành chịu lỗ. Trong khi đó thì các nhà máy chế biến như công ty Rau quả Tiền Giang không mua được dứa, sản xuất đình trệ.

Lại thêm chuyện mua cua ở huyện Năm Căn, Cà Mau, có lúc lên đến 60, 70 người Trung Quốc sử dụng chiếu khán du lịch, tạm trú rồi đi thu mua cua; nhiều lái buôn sau đó biến mất. Ở huyện Cái Bè, Tiền Giang, họ cũng đến thu mua chuối khiến nhiều nhà vườn đã đốn bỏ các cây ăn trái khác để trồng chuối; được một thời gian rất ngắn rồi bỏ, các chủ vườn chịu thiệt. Tại Bến Tre thương lái Trung Quốc đã chiếm thị trường thạch dừa; sau đó hạ giá mua xuống chỉ còn một phần ba. Những người sản xuất thạch dừa ở Bến Tre rơi vào thế “sống dở chết dở” vì lỡ đầu tư sản xuất rồi, làm ra hàng hóa không biết bán cho ai. Một thủ đoạn đáng sợ nhất là họ mua gạo Việt Nam, trộn gạo hạng tốt với gạo xấu, rồi đem bán qua nước khác, gọi đó là gạo tốt. Người tiêu dùng các nước sẽ dần dần không còn tín nhiệm gạo Việt Nam nữa.

Ngoài những “thủ đoạn” trên, ai cũng biết còn có chuyện người Trung Quốc sang khai thác bè nuôi cá ở Vũng Rô, Tuy Hòa, ở bên quân cảng Cam Ranh.

Nhưng sở dĩ người Trung Quốc có thể lũng đoạn lập bè đánh cá ở những nơi đó, chính vì chính quyền Việt Nam đã làm ngơ. Nếu có những lái buôn ngoại quốc khác biết những cơ hội làm ăn kiếm lời như vậy, thì chắc ai cũng làm, chứ không phải chỉ có người Trung Quốc. Nhìn vào phản ứng của các cán bộ nhà nước Việt Nam thì thấy thủ phạm chính gây ra các tệ nạn đó là do chế độ độc tài chứ không phải vì lòng tham của các lái buôn.

Như trên báo Người Lao Ðộng viết: “Một căn nhà nhỏ trong hẻm sâu, gia chủ chỉ cần thuê công nhân sửa chữa nhỏ, lập tức có nhân viên của phường, thành phố đến làm việc ngay... còn mấy cái bè nuôi cá to đùng của ông bạn hàng xóm ngang nhiên đem vào đất nhà mình để khai thác, rồi tự tiện đem tàu đến thu hoạch trước mũi chủ nhà; vậy mà vẫn im lặng như tờ. Ðến khi báo chí phanh phui thì lại lúng ta lúng túng như gà mắc tóc, rồi thì ông đổ cho bà, bà bảo tại ông...”

Cũng giống như vậy, khi chúng ta coi lại những câu chuyện về thu mua dứa, thu mua cua, hay thạch dừa, thì thấy nguyên nhân chính khiến nhiều người Việt bị lừa gạt và thiệt thòi là vì nước Việt Nam không có luật pháp bảo vệ các hợp đồng thương mại. Ðúng ra, chắc phải có luật, nhưng người ta không biết đến, không dùng, và nhà nước không thi hành, có thể vì đồng lõa với gian thương. Trong một quốc gia bình thường, ai ký những hợp đồng mua dứa, mua cua như trên mà không làm đúng sẽ bị luật pháp trừng phạt. Luật lệ đặt ra không phải chỉ bảo vệ các người làm thương mại, mà chính là để bảo vệ chữ tín trong việc thương mại.

Những người Việt bị lừa, chở rau trái lên đến cửa ải rồi xe nằm ụ đến nước héo úa, thối rữa, lý do chính là họ không được luật pháp bảo vệ. Những người bán cua, bán dứa bị lừa, không thể nói chỉ vì họ dại dột mà lý do chính cũng vì họ không được luật pháp bảo vệ.

Ai lo về luật pháp? Chính quyền của đảng Cộng Sản Việt Nam. Tại sao họ không lo thi hành luật pháp, bảo vệ người Việt? Khi được hỏi vì sao chính quyền Việt Nam cho phép hàng ngàn lao động phổ thông Trung Quốc vào trong nước ta làm những việc như đào đất, phụ hồ quét dọn... mà những việc này lao động Việt Nam không được sử dụng trong lúc nạn thất nghiệp tràn lan, ông Nguyễn Ðại Nghĩa thuộc Sở Lao Ðộng thành phố Hải Phòng nói: “Các nhà thầu Trung Quốc nêu lý do không sử dụng lao động Việt Nam là vì tình trạng mất cắp thường xảy ra.”

Nếu có người ăn trộm ăn cắp thì đó là công việc của chính quyền phải điều tra, trừng phạt theo luật lệ. Bao nhiêu cảnh sát công an để làm gì, chỉ lo đi ngăn cản những người biểu tình yêu nước mà không lo chống trộm cắp? Một cán bộ cao cấp như ông Nguyễn Ðại Nghĩa mà trả lời như vậy, chứng tỏ chính quyền cộng sản tự nhận mình không lo được việc chống trộm cắp, nên để cho người Trung Quốc họ tự lo lấy. Mà cách của họ lo lấy là đem lao động người Trung Quốc vào cướp công việc làm của người Việt Nam! Nếu bây giờ họ đòi mang cảnh sát, công an của họ vào lo lấy việc an ninh, chắc cũng chịu hay sao? Hay là việc đó đã xảy ra rồi?

Tóm lại, từ việc lái buôn Trung Quốc đánh lừa dân Việt Nam, đến chuyện các nhà thầu Trung Quốc đem người sang cướp công việc làm của lao động Việt Nam, lý do chính là do chế độ cai trị độc tài đảng trị, các quan chức toàn quyền, không cần đến pháp luật nên cũng không bao giờ lo bảo vệ luật pháp và dùng luật pháp bảo vệ dân. Họ đã quen như vậy từ hơn nửa thế kỷ nay rồi. Như vụ bè nuôi cá ở Tuy Hòa và Cam Ranh, một nhà báo việc trên tờ báo Thanh Niên: “Lại 1 quả bom nữa được gài. Chỉ thấy tội cho các cấp quản lý của mình là rất ngây thơ.”

Thật ra, chỉ có các nhà báo ngây thơ chứ các quan chức cộng sản không hề ngây thơ. Các cán bộ đã quen nể sợ các “đồng chí anh em vĩ đại” và nay lại được các đồng chí anh em “đấm mõm” no đầy bụng, họ làm cái gì cũng có lợi cả chứ không phải vì ngây thơ! Các quan chức tham nhũng đã tạo địa bàn cho các lái buôn trục lợi. Họ không cần bảo vệ dân bằng pháp luật vì họ không cần được dân bỏ phiếu bầu. Họ chỉ cần trung thành với cấp trên trong băng đảng, là tha hồ làm giàu. Khi nào còn chế độ độc tài thì không thể tránh tình trạng đó!

Chỉ có người dân Việt Nam bị thiệt. Nếu không phải các lái buôn người Trung Quốc vào nước ta dùng các thủ đoạn ma mãnh đánh lừa người Việt, thì với bộ máy chính quyền như hiện nay, sẽ có những lái buôn nước khác. Không cần người Trung Quốc, bất cứ người nước nào thấy có thể mua chuộc được chính quyền nước khác, họ cũng tìm đường lũng đoạn.

Chỉ bao giờ cả hệ thống tham nhũng, thối nát và bất lực này được xóa bỏ thì người Việt mới đỡ bị lừa gạt trắng trợn.

Post Reply