Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Các Quán Ăn Uống Vùng Little Saigon
Trần Văn Giang

Phố Bolsa (Little Saigon) thuộc Quận Cam, tiểu bang California Hoa Kỳ đã được mệnh danh là thủ đô của người Việt tị nạn. Dù cho quý vị có muốn nghĩ thế nào về phố Bolsa; nhưng chúng ta, nói chung, không thể phủ nhận đây là một trung tâm văn hóa, kinh tế và chính trị quan trọng của người Việt tự do sống bên ngoài Việt Nam. Đã có nhiều tác giả viết về phố Bolsa, người Bolsa, cộng đồng và các hội đoàn người Việt ở Bolsa… nhưng hình như vẫn chưa có ai (?) viết về vấn đề “dĩ thực,” các quán ăn uống (Ăn ở đâu? Ai bán cái gì? Mắc rẻ ra sao? Cách tiếp đãi và vệ sinh ra sao?) để khách từ xa đến thăm (và ngay cả dân Bolsa như người viết bài này!) đến thưởng thức cho thỏa dạ, cho biết chỗ hàng quán có những món ngon theo sở thích riêng, giá cả hợp với ngân sách cá nhân và gia đình của mình…

Người Mỹ họ thường nói là:

“Life is too short (You can't live long enough) to make all mistakes yourself… (Of course you might but... if you want to experience them all, that's beyond the scope of this article)... Learn the mistakes of others… ”

Người viết cũng thường hay vờ vĩnh triết lý vụn, loại chổi cùn, lải nhải (như lời bà vợ yêu quý của tôi vẫn mắng vốn!):

“Cuộc đời là vô thường (impermanent), có rất nhiều thay đổi.”

Thành ra bài “lượm lặt” này sẽ không thể tránh được các nhận định rất chủ quan và còn thiếu sót (phiến diện) như trường hợp có rất nhiều hàng quán đã “tưng bừng khai trương và âm thầm đóng cửa từ lâu rồi không ai hay?” hay là cũng có nhiều hàng quán vừa mới mở chưa có ai có dịp ghé qua ăn thử hoặc có lời bình phẩm xa gần nào. Tuy nhiên trong tinh thần “có sao xài vậy;” hay là “có còn hơn không,” tôi xin mạn phép ghi lại một số hàng quán với các chi tiết, cho đến lúc này, vẫn có thể còn tạm xài được. Các chi tiết phần lớn chép lại từ các bài viết, các phản hồi lẻ tẻ của các người sành điệu trên các trang mạng, phố rùm, cộng thêm vài lời bàn của người viết để quý vị biết qua; cũng để may ra giúp quý vị đỡ tốn công chạy ngược chạy xuôi tìm kiếm trong lúc giá xăng cứ tăng phi mã; và nhất là không phải đến lầm chỗ, ăn nhằm món mà mình cứ tưởng là… ối giời ơi!!!

OK! Mời quý vị cột giây an toàn xong xuôi và bắt đầu cùng tôi dạo một vòng, khởi hành từ cửa chính Thương Xá Phước Lộc Thọ.

Bên trong Thương Xá Phước Lộc Thọ có vô số hàng ăn, quán uống… nhưng đại đa số chỉ là những quán ăn nhanh (“fast food”) rất ồn ào, bàn ghế lỏng chỏng; rất thích hợp là nơi “tụ điểm” của các bô lão quá “hưởn,” có nhiều thời giờ mà chẳng biết làm gì, và các chủ tịch/phó chủ tịch các hội đoàn (cũng rất “hưởn” vì hội ta chỉ có số hội viên đếm chưa đủ mười ngón tay)… để bàn chuyện “kíu nước.” và “tiên đoán” các “diễn biến dân chủ toàn cầu,” và các chương trinh trợ cấp của chính phủ. Các hàng quán ở trong thương xá là nơi chỉ ăn để tạm cho qua cơn đói bụng, cho tiện lúc đang đi “kinh lý” lòng vòng mà vẫn phải giữ lấy chỗ đậu xe chết bỏ. Nói vậy hơi quá kỳ ngôn, chứ cũng có các quán nhỏ…. với các món rất “đặc biệt” giúp quí vị “cầm hơi” trong 1-2 giờ “shopping” như “ốc leng xào dừa,” bò bía, gỏi cuốn, cháo lòng, gỏi đu đủ gan cháy, bánh cay, nước sinh tố đủ lọai, boba… Nhiều món ăn chơi (“finger foods”) đã được sửa soạn và bầy sẵn trong tử kiếng. Quý vị cứ việc thong thả nhẩn nha nhìn rồi tha hồ chỉ tay mà “order” ăn cho đến khi ngán chè đậu thì thôi. Còn nếu muốn ăn cho ngon, cho ra bữa, cho trịnh trọng thì mời quý vị hãy cùng tôi bước ra khỏi Phước Lộc Thọ.

Từ trước cửa trước của Thương Xá Phước Lộc Thọ, đi về phía trái (theo hướng Tây/mặt trới lặn) thì có:

- Chợ Bến Thành nổi tiếng cháo lòng, lòng heo mắm tôm, ăn tại chỗ hoặc đem về, khá ngon (nhưng hơi dơ).

- Đi tiếp tới thì có quán “Le Crossant Dore” nổi tiếng món bánh mì bò kho, bánh trái cây và cà phê phin.

- Cùng dẫy này còn có Nhà hàng Hà Nội. Nội cái tên gọi gọi cũng cho biết họ bán toàn đặc sản miền bắc như phở gà, bún chả Hà Nội, bánh tôm Cổ Ngư, chả cá Lã vọng… nhưng nghe nói là dàn đầu bếp chính (cùng với cả chủ cũ) đã “vượt biên” ra đi cho nên tiệm Hà Nội cũng bị mất theo một số khách cũ (?)

Băng qua đường Magnolia là khu chợ ABC (góc Bolsa và Magnolia) có một lô hàng quán san sát nhau:

- Chợ ABC. Từ 11giờ trưa tới khoảng 3 chiều chợ này có bán cơm phần “togo” khá ngon và rẻ. Nếu quý vị mới lãnh “check” thì có thể chơi sang “order” luôn một con tôm hùm xào đặc biệt “togo” vào lúc “sale” chỉ có $7.99/lb (cũng phải coi chừng mấy bố đầu bếp của chợ đang “nhất trí” “giải phóng” mấy em “lobsters” trong thời kỳ “quá độ,” chỉ đủ sức bơi ngửa).

- Bánh mì Chè Cali rẻ và ngon luôn luôn bán “mua hai tặng một.” Nếu lỡ mà quý vị ăn ngon miệng chơi luôn một lúc ba ổ bánh mì thịt và tráng miệng thêm ba ly chè thì có thể nhờ vợ gọi 911 trước dùm cũng không muộn.

- Long An nước mía; hột vịt hột gà lộn đủ cỡ, đủ tuổi: Trứng non, già, sồn sồn (nhiều lông hay ít lông?!)…

- Van Barkery thì có sẵn đủ loại bánh kẹo mức ăn chơi cũng như ăn thật.

- Phở 54 thì “sale” quanh năm suốt tháng; chứ không phải chờ đến sinh nhật “boác.” Ăn phở được “free” tất cả thức uống kể cả café sữa đá.

- Bước thêm vài bước là thấy 2, 3 hàng trái cây đầy đủ hương vị miền nhiệt đới liền nhau với lời mời chào hang, níu kéo quá vồn vã (!) làm khách hơi hãi hùng - y hệt như bến xe đò miền Tây.

- Tiệm mì tươi Thái Sơn nổi tiếng là mì sợi dai dòn, không bao giờ nhão. Tiệm này có bán cả bột chiên (chín hoặc sống) theo kiểu bột chiên ngã sáu Saigon cũ, ngon hết xẩy.

- Mì La Cay nằm ngay kế bên cho ai thèm mì vịt tiềm Saigon, hoành thánh mì, dầu cháo quẩy. Tiệm này họ cũng làm lấy mì sợi của họ tại chỗ; ăn rất dai thơm ngon.

- Cơm tấm Thuận Kiều có gỏi cuốn Nha Trang/Ninh hòa cũng khá; nhưng cơm tấm có bữa ngon bữa không? (có lẽ vì đầu bếp thay đổi “ca?” Hay gặp ngày bị ấm đầu?)

- Bún Ban Mai chuyện trị đủ các loại bún. Nhiều người ăn khen ngon; nhưng vì có bán bún mắm cho nên tiệm hơi bị nặng mùi “lựu đạn mắm” có thể chết người… (if you don’t mind!)

Còn nếu quý vị thuận tay phải thì cứ tà tà đi về hướng phải của Phước Lộc Thọ lần xuống (hướng Đông mặt trời mọc) khu Bolsa và Bushard sẽ có:

- “Dim sum togo” Giai Phát. Chả cá tươi và bò viên ngon nhất phố Bolsa ở tiệm này. Ngoài ra, cơm gà Hải Nàm cũng đáng để thưởng thức; và cuối tuần thì có mì hoành thánh cũng nhiều người thích,.

- Phở và nhà hàng Thăng Long. Nên biết trong khu này có tới hai tiệm phở Thăng long cùng chủ (?) mới châm! Chưa thấy ai “tự tin” (“overconfident”) như ông bà chủ hai tiệm này! Oái oăm!

- Huỳnh Restaurant (Ái chà chà! Nghe nói đầu bếp chính của nhà hàng Hà Nội nổi tiếng ngày xưa, ở khúc trên thượng lưu Bolsa, vượt biên qua tới tiệm này thì tạm định cư chứ cũng không muốn đi xa hơn…) Tiệm có Chả cá Hà Nội, bánh tôm Cổ Ngư, phở gà khá ngon…

- Chợ Tam Biên có món cháo lòng hẩu xực.

- Hoàng Yến có bún vịt xáo măng chấm mắm gừng ăn quên đường về (mặc dù trời đang quang mây tạnh*!).

- Lục Đỉnh Ký 2, cơm đĩa hay mì nước, mì xào các loại, nước mát (free).

- Thả bộ xuống cuối dãy là Coner View Bakery. Ngoài bánh trái, sau 6 giờ chiều tiệm còn có cơm bò lúc lắc, bún bò Huế Mụ Béo. Ăn vô vài bát bảo đảm sẽ lên cân… Không béo xin trả tiền lại đầy đủ…

Nếu thấy đã nản khu này (khu chợ Bolsa cũ) rồi thì mời đi tiếp về hướng ngã tư Bolsa và Brookhurst có:

- Bánh cuốn Tây Hồ và các loại bún cũng khá trên trung bình.

- Bánh cuốn Tân Hồng Mai có luôn cả cơm bò lúc lắc, mắm và rau.

- Quán Thành nổi tiếng cơm tấm và có đủ loại bún.

- Vỹ Dạ chuyên môn các món ăn Huế và cơm gà Vỹ Dạ. Tiệm này mới “remodeled” lại nhìn sạch sẽ, gọn gàng hơn lúc trước. Nhân viên nhanh nhẹn, bà chủ vui vẻ. Quan trọng là thức ăn vừa miệng. Món đặc biệt là cơm gà Vỹ Dạ, giá khoảng 6 đồng, hột cơm mềm rất thơm và đậm đà, gà xé ra từng miếng trộn với chanh muối tiêu hành tây và rau răm, thịt gà đi bộ (dai) ăn chung với mắm gừng. Bánh bèo chén, bèo dĩa, bánh nậm, lọc, chả tôm chả Huế ăn ngon và nước mắm ngọt rất ngon. Có 2 món không vừa ý lắm là bún bò và mít non trộn lá lốt xúc bánh tráng (!)

Bây giờ làm một cái “U turn” (từ góc Brookhurst & Bolsa – coi chừng cảnh sát*cho lãnh “tickets”. Tệ hơn nữa là ngã tư này còn có cả “*traffic camera” nữa giời ạ*! “Cẩn chọng”) vòng lại về phía bắc đường Bolsa thì có:

Khu Catinat Plaza:

- Bánh cuốn Hồng Mai, chuyện trị bánh cuốn đủ loại và bánh cống. Hai vợ chồng người Bắc làm chủ rất vui vẻ niềm nở. Chồng nấu dưới bếp, vợ chỉ huy dàn phía trên, dọn bàn. Quán này ngoài bánh cuốn cũng có vài món rất vừa miệng. Đặc biệt nhất có món “steak” rất ngon. Miếng “steak” thấm đậm đà và “ “juicy” dọn chung với khoai tây chiên và một đĩa rau trộn dấm rất ngon. Kế đến phải kể các món cơm bò lúc lắc, gỏi cuốn, bún chả Hà Nội cũng ngon. Miếng chả ngon thơm và mềm mại; và món cá hấp hành gừng cuốn bánh tráng cũng "OK".

- Royal Banquet mới xây với khung cảnh trang nhã, có nhiều món ăn Tây cũng khá. Cuối tuần còn có đàn piano phụ diễn free.

- Yogurt Passion. Quán bán yogurt thời thượng “à la mode” với đủ loại “toppings“ tùy theo ý thích của khách. Các đấng nhi đồng đều rất yêu chuộng chỗ này vì chúng có dịp “bổ sung” thêm “sugar power, energy” để có sức mà quấy nhiễu bố mẹ thêm được vài tiếng đồng hồ.

Kế bên là khu thương xá T&K có:

- Chè Hiển Khánh nổi tiếng về chè đủ loại và các món ăn chơi khó tiệm nào qua mặt nổi.

- Quán Hỷ (ngay trước mặt, bên kia đường từ quán Hiển Khánh) nổi tiếng với bún bò Huế, mì Quảng, cơm hến, mít non xúc bánh tráng và các loại bánh của xứ Huế. Trang hoàng bên trong nhìn cũng lạ mắt với tre trúc chung quanh trông như thật (mà không phải thật! “made in china”). Tất cả đều ngon nhưng giá cả ở đây ở đây hơi mắc! Ăn một bữa ở đây với cả gia đình có thể bay hết một nửa “paycheck” như chơi.

- Trong khu này còn có các quán nhỏ vua khô bò Đại Vương, hủ tiếu mì, cơm chỉ …

Quá bộ tiếp tới là khu Bolsa Mini Mall. Đây là khu thương mại lâu đời nhất của Little Saigon. Trong đây có cơm tấm Trần Quý Cáp cũng OK thôi. Bún Bò Huế Gia Hội thì có người khen kẻ chê lẫn lộn.

Băng qua đường Bushard, tiếp nối theo thì có:

- Nhà hàng Thiên Ân. Quý vị có thể tiếp đãi bạn bè thân hay sơ ở đây rất tiện vì quý vị vừa đánh vừa đàm 2-3-4 tiếng đồng hồ liền mới xong với Bò 7 món, cá nướng da dòn và bia rượu.

- Tasty Garden là nhà hàng Tầu mới nhất khu Bolsa. Họ nấu theo “taste” Đài Loan nên ăn khá lạ miệng và ngon.

- Nhà hàng Song Long nằm khuất trong ngõ hẻm là một nhà hàng khá lâu đời nổi tiếng với những món cơm Tây, bún suông, hủ tíu gà cá và chả cá Thăng Long.

Băng qua đường Moran là có:

- Nhà hang “Zen” chuyên bán cơm chay, cũng khá ngon và ít bột ngọt (nên biết các tiệm cơm chay vì nấu nướng không có xương có thịt cho nên họ chơi bột ngọt, đường mà muối… xả láng. Nếu không thì nước lèo chỉ ngọt hơn nước rửa chén một bậc).

- Tiệm thịt quay Liên Hoa lâu đời với món gà vịt, vit Bắc Kinh, heo quay rất đông khách, giá hơi mắc… Cũng vì thói đời; có đông khách nên nhân viên tiệm Liên Hoa bán hàng bán thâu toàn tiền mặt mà xử sự với khách hàng như phát của bố thí (?). Tôi khuyên quý vị nên né tiệm này vì không có chỗ đậu xe, hàng khá dài và đã vừa mất tiền vừa bị xem như đi ăn xin… Bad business practice!

- Kế ngay bên cạnh là tiệm thị quay Liên Hoa là tiệm Khang Lạc với mấy cô bán hàng con gái ông chủ trắng cao đẹp như tài tử Hồng Kông và tiếp đãi nhã nhặn. Sáng nào cũng thấy bà con ngồi đầy tiệm húp cháo cá và nhai mì bò kho rổn rảng. Tiệm còn có bánh bao, dầu cháo quẩy và bột chiên khá ngon.

Băng qua đường Moran, về tới khu chợ Á Đông đối diện Phước Lộc Thọ là đến lúc đi đúng một vòng tiếu ngạo giang hồ rồi. Trong khu chợ Á Đông có:

- Lee sandwiches nằm ở bìa bên ngoài với đủ loại bánh mì.

- Phở Quang Trung nằm ngay đầu dẫy. Hầu hết phở, cơm, bún ở quán Quang Trung đều trên trung bình và có món chè đậu đen tráng miệng khá ngon.

- Nhà hàng Tàu SeaFood Cove #2 (trên lầu phở Quang Trung) có Dim sum hay Cơm tối cũng khá ngon.

Đó là những nơi ăn uống tiêu biểu một vòng “phố Bolsa không có cái quái gì lạ đâu em!” (đã có người gọi phố Bolsa là “đất Thần Kinh” - vì người nào ở đây lâu cũng mắc bệnh Thần kinh hết trơn hết trọi).

Ngoài vùng Bolsa chu vi khoảng 3 miles bán kính thì còn (và nên kể thêm) những nhà hàng từ trung bình trở lên và có thể tạm phân loại và liệt kê ra như sau:

Phở Bò: Phở 86, Nguyễn Huệ, 54, 79, Tàu Bay Lý Thái Tổ, Kimmy.
Phở Gà: Nguyễn Huệ, Quang Trung, Bolsa.
Bánh Cuốn: Lý thái Tổ, Tây Hồ, Hồng Mai.
Cơm Tấm: Trần Quý Cáp (Harbor, Mc Fadden), Thuận Kiều,
Món Huế: Hỷ, Hợp, Hương Vỹ, Hương Giang, Huế Randez-Vous, Ngự Bình
Bún: Huỳnh, Hồng Mai, Ban Mai, Brodard, Vân.
Hủ Tíu: Thanh Xuân, Phương, Triều Châu, Tân Triều châu.
Mì: Mì La Cay, Mỹ Vị Mì Gia, Á Đông, Lục Đỉnh Ký, Phát Ký Mì Gia.
Cơm Tây: Song Long, Favori, Brodard Chataeu, Royal, Uyên Thy, Tài Bửu.
Cơm Tầu: Seafood Paradise, Furiwa, China Feast, Tân Cảng, Royal Capital, Kim Sư.
Cơm Thái: Jasmine, PhuKet.
Bò 7 Món: Thiên Ân (Harbor), Hồng Ân, Ánh Hồng, Pagolac.
Cá Nướng: Hồng Ân, Thiên Ân (Harbor), Làng Ngon, Favori, Nam Giao.
Food Togo: Hương Hương, Bánh Mì số 1, chợ ABC, Đa kao, Phúc lộc.
Cháo: Tân Hoàng Hương, Chợ Tam Biên, Cháo cá Chợ Cũ, Phước lộc.
Bún Vịt: Hồng Mai, Hoàng Yến, Nam Giao.
Cơm Gia Đình: Phở Nguyễn Huệ, Hà Nội Phố, Huỳnh, Miranda, Vân, Cali.


Phần phụ đính:

Bây giờ xin phép tổng liệt kê trở lại các món ăn đặc biệt (trên trung bình) của các nhà hàng ăn ở Little Saigon theo các món ăn và trên một chu vi rộng hơn. Quí vị có lỡ quên thì có dịp nhìn lại.

Xin lưu ý:

Danh sách này được chọn rất chủ quan… cần có thêm ý kiến bổ túc của đọc gỉa:

1. Cơm tấm Thuận Kiều, Thành, Trần Quý Cáp.
2. Nem cuốn Brodard (trong thương xá Tam Đa góc Brookhurst / Westminster)..
3. Cá nướng Favori trên đường First /Fairview... nhà hàng nhỏ nhưng lịch sự... cuối tuần nên gọi giữ chỗ trước nếu kg muốn đợi... ngoài cá nướng còn có món soup đuôi bò và Steak cũng ngon lắm, cù lao bãi biển...
4. Bò 7 món Hồng Ân (trong góc khu Thương Xá Tam đa), nhà hàng rộng rãi và thức ăn cũng good.
5. Mì Triều Châu: Tân Triều Châu (chơ 99 cents, góc Brookhurst / Westminster), Triều châu (góc First / New Hope) tiệm này ngon rẻ nhưng đông kháck, hơi do, nên mua “take out,” đóng cửa lúc 5giờ chiều.
6. Bún bò Huế Rendez-vous, Gia Hội, Công Lý, Vỹ Dạ...
7. Mì quảng Rendez-vous.
8. Phở Gà Dakao,
9. Phở Bò 79 (Brookhurst/Hazard), Phở Nguyễn Huệ (First / Ward).
10. Bánh xèo ở Cây dừa Deli (First / Fairview), nhà hàng Vân (Brookhurst).
11. Dim sum: Kim sư (First / Ward), SeaFood Cove #2 (trên lầu phở Quang Trung).
12. Bún riêu, bún chả Hà Nội - Quán Bình Minh (khu Thương xá Tam Đa), Viễn Đông (Brookhurst, đối diện nhà hàng Vân)
13. Bánh Xèo, Bánh khọt, bánh bèo bì - nhà hàng Vân.
14. Bánh Cuốn - Phở Lý Thái Tổ (First / Fairview). Hồng Mai (Bolsa, Catinat Plaza).
15. Món tôm cổ ngư (khoai và tôm chiên cuốn rau) – Huỳnh Restaurant, quán bún Bình Minh (khu Thương xá Tam Đa).
16. Lẩu mắm và rau, bánh canh, ba rọi mắm thái cuốn bánh tráng - Cây Dừa (First / Fairview).
17. Lẩu Dê, Dê rựa mận, “Vietnamese Pizza” (tiết canh vịt) – Quán nhậu Bình Dân (Brookhurst / McFadden).
18. Bánh bèo chén, bánh bột lọc, bánh ram ít, mì quảng – Rendez-vous (góc Brookhust / McFadden, trong khu Taco Bell).
19. Nước mía - Viễn Tây (Brookhurst / Harzard, gần tiệm Bánh Vân, chợ Nam Hoa).
20. Gỏi Chân Gà (order to go cho tiệc hay ăn tại chổ cũng được) - Quán Ngon (là quán nhậu - góc McFadden / Ward).
21. Đồ ăn Thái - Thai Nakon (góc Beach / Chapman).
22. Hủ tiếu Thanh Xuân, Bánh Hỏi combo - Phương (Westminster and Taft / Euclid).
23. Mì và Hủ Tiếu La Cay - Mì La Cay (First and Magnolia).
24. Buffet - International (Garden Grove / Harbor, trong khu bánh mì Lee Sandwich).
25. Cơm gà Hải Nam - Grand (Brookhurst / Westminster) ăn OK, hơi mắc.
26. Cơm Việt gia đình – La Mirada (góc McFadden / Magnolia, gần Green Farm Supermarket hồi trước là chợ Á Châu), món nào cũng ngon, Nhà hang Cali (gần Brookhurst / Edinger), Phở Nguyễn Huệ.
27. Dim sum và Đồ ăn Tầu – Kim Su (First / Ward).
28. Cơm Tầu gia đình - Tân Cảng (First / Newhope); hay là Sea Food Cove (Westminster / Newland). Nhất là sea food (cua, tôm hùm, tôm) của họ rất ngon, giá cả phải chăng. Nên đi tránh giờ “Lunch” và sau 7:30PM (cả 2 tiệm), đông khách lắm.
29. Chè, xôi - Hiển Khánh (góc Brookhurst / Westminster).
30. Bò kho (ăn với bánh mì hay với hủ tiếu) – Khang Lạc, quán Thành (Bolsa).
31. Mì xào dòn, mì Vịt Tiềm, mì and hủ tiếu nước và khô - Mỹ Vị Mì Gia (gần Hiển Khánh, Brookhurst/Westminster).


Trần Văn Giang (ghi lại)
Orange County

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tình cha… Nó cảm thấy mình là người hạnh phúc nhất trên đời vì nó có người cha thật vĩ đại.

Từ nhỏ, trong mắt mấy anh em nó, bố luôn là người hiền lành, hiền lắm ấy, không bao giờ ông cằn nhằn hay la mắng anh em nó cả. Ông là người sống nội tâm. Bao nhiêu suy nghĩ, lo toan và cả sự hi sinh thầm lặng, ông không chia sẻ với ai cả. Thậm chí ngay cả với người bạn đời của mình, ông cũng giữ nguyên thái độ như vậy. Cứ lặng lẽ hơn bốn mươi năm qua ông âm thầm, cực nhọc làm việc, cùng vợ nuôi ba anh em nó khôn lớn. Và cho tới bây giờ, ở ngưỡng tuổi 60, mái tóc bạc quá nửa đầu, nhẽ ra ông phải được nghỉ ngơi, an hưởng, vui khỏa tuổi già, thế nhưng điều đó dường như xa xôi với ông. Ông vẫn phải bươn trải, hi sinh những giây phút an nhàn, tìm cách kiếm tiền gửi lên cho đứa con gái yêu học hành nơi thị thành.


Sinh ra trong một gia đình thuần nông, cũng như bao đứa trẻ khác, nó lớn lên cùng với sự yêu thương đùm bọc của bố mẹ và anh chị. Nó là đứa thông minh, lanh lợi. Khác với anh chị nó sớm phải bỏ học ngang chừng để đi làm phụ giúp bố mẹ thì nó được học hành cẩn thận đến nơi, đến chốn. Trong kí ức của nó, bố là người ít nói và dường như không thèm quan tâm tới những suy nghĩ của nó. Khi nó học lớp hai, lớp ba ông rất hay kèm nó học hành, ông nhốt nó trong nhà và bắt học thuộc bảng cửu chương nhân chia và làm toán. Nhưng về sau, càng lên những lớp học cao hơn, ông không còn dạy nó học nữa, thay vào đó, ông quản thúc nó nghiêm ngặt và tạo điều kiện cho nó được học hành. Những lúc như vậy nó thấy cuộc sống riêng tư của mình bị xâm phạm và không được tự do. Nó ghét cay ghét đắng cái cách quản giáo như vậy. Chưa khi nào ông hỏi han, tâm sự, chiều chuộng hay đưa ra những lời khuyên cho nó. Ông cũng chưa bao giờ nói với nó những lời ngọt ngào cả. Mọi chuyện từ nhỏ tới lớn nó đều chia sẻ với mẹ hoặc âm thầm giữ kín trong lòng. Nó cảm thấy ghen tị với bạn bè vì mỗi khi bạn bè kể tới những gì về bố mẹ chúng. Những lúc như vậy nó thấy tủi thân lắm và đem bố nó ra so sánh rằng tại sao ông lại không tâm lý, không chiều chuộng, không mua quà tặng nó và mẹ nó mỗi dịp ngày lễ, sao bố nó không hay cười, nói với nó và mọi người. Tất tần tật mọi thứ về bố nó, nó đều đem ra so sánh rồi mong ước có được cuộc sống tự do theo đúng nghĩa. Và bây giờ khi đã bước chân vào giảng đường đại học nó biết ước mơ của mình đã thành hiện thực. Nó đã có được những thứ nó mong ước: sự tự do, riêng tư … Nó hân hoan trong niềm vui của riêng mình mà không cần biết những người thân của nó sẽ suy nghĩ thế nào và để cho nó có được sự tự do đó bố mẹ nó đã vất vả ra sao.


Kể từ khi học đại học bố nó rất ít khi gọi điện cho nó. Nếu có cũng chỉ là có việc gì đó quan trọng thôi.Một buổi tối, khi vừa ăn tối xong nó nhận được điện thoại của bố, nó vội vàng bắt máy. Không kịp để cho nó nói gì thế là hàng loạt các câu hỏi được ông đặt ra cho nó: “Con đã ăn cơm chưa?, con đang làm gì ?, có khỏe không ? Bố gọi mãi sao không nghe máy thế…?”. Sau một hồi hỏi han bố nó trằn giọng dặn dò nó. Khi muốn đi ra ngoài phải rủ mấy bạn cùng phòng đi cùng, ai mời đi đâu cũng không được đi, nếu họ mời đi ăn, uống cũng không được đi, phải hết sức cẩn thận và giữ gìn sức khỏe”. Nó sững người trước những lời nói của bố. Nó không nói được gì, đứng ngây người, nó không tin vào tai mình nữa. Đây là lời nói của bố nó ư ? “Không! Chắc là nó nghe nhầm hoặc không thì nhất định ai đó đã nhầm số chứ không thể như thế được”. Từ nhỏ tới giờ nó đâu có thấy bố nó như vậy. Có khi nào ông hỏi han, dặn dò nó ân cần đến thế đâu. Nó xúc động đến rơi nước mắt. Nó cảm thấy có gì đó đang mơn man chạy khắp cơ thể, sống mũi nó cay cay, có cái gì đó mằn mặn chảy vào miệng nó. Thì ra nó đang khóc. Nó cũng không biết vì sao nó khóc nữa. Khóc vì sung sướng hay khóc vì thấy có lỗi. Bố nó rất yêu nó vậy mà trước giờ nó vẫn nghĩ rằng ông không hề yêu thương nó, ông là người bảo thủ và nhu nhược. Nó luôn tủi thân và xấu hổ với bạn bè về ông.Tất cả những việc làm của ông luôn làm nó khó chịu. Nhưng tới lúc này thì suy nghĩ đó trong nó chợt tan biến hết. Những câu nói của bố nó nếu đối với người khác hết sức bình thường thì đối với nó đó thật sự là những gì vĩ đại nhất trong cuộc đời này. Đây là lần đầu tiên trong đời nó cảm nhận được tình yêu của người cha già dành cho nó bao năm qua.


Vậy mà trong suốt những năm tháng đó, nó lại thật ích kỉ, không hiểu hết được tình yêu thầm kín đó. Nó thây ân hận lắm, nó muốn được trở về nhà ôm chặt lấy ông và xin lỗi về tất cả những gì nó đã suy nghĩ về ông trong bao năm qua. Nó cảm thấy mình là người hạnh phúc nhất trên đời vì nó có người cha thật vĩ đại.


Nguyễn Nguyệt

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Image

Giết người trong mộng hay nửa hồn thương đau

Hãy cứ tưởng tượng nếu nhạc sĩ tài hoa Phạm Đình Chương sống dậy thưởng thức nhạc phẩm “Nửa Hồn Thương Đau” hay “Giết Người Trong Mộng” của mình qua giọng ca nghẹn ngào, ray rứt của ca sĩ Ngọc Anh cùng với lối diển xuất như trút hết đam mê lên từng cung nhạc của cô thì cái chắc niềm hạnh phúc và nỗi đớn đau trong ông sẽ trỗi dậy mạnh mẽ đến ngần nào?

Xưa kia, cũng hai nhạc phẩm này, giới yêu văn nghệ cùng thế hệ với người viết chắc cũng đã từng được thưởng thức không chỉ một mà qua nhiều giọng ca. Ca sĩ Thái Thanh với tiếng hát được mệnh danh vượt thời gian của mình, ngay cả giọng ca cao sang của ca sĩ Lệ Thu hay miên man buồn của Julie cũng đã từng đóng góp. Gần hơn có giọng ca yểu điệu ý Lan, bên nam giới với giọng ca gai góc tinh luyện không lẫn vào đâu được của ca sĩ Tuấn Ngọc hay mượt mà cao vút của hai ca sĩ Đức Tuấn và Bằng Kiều v.v…. nhưng phải thú nhận, qua hai nhạc phẩm này, tiếng hát mịt mùng ray rứt của ca sĩ Ngọc Anh đã chinh phục trọn vẹn sự ngưỡng mộ của đại đa số giới thưởng ngoạn. Nói vậy, không có nghĩa là người viết phủ nhận những tiếng hát đã thành danh như đã nêu trên. Lẽ dĩ nhiên là “mỗi người mỗi vẻ” mà “vẻ” của Ngọc Anh chắc là đại đa số khán giả đắc ý nhất. Có lẽ chất giọng khàn khàn vừa nghẹn ngào vừa ray rứt cùng lối diễn xuất độc đáo của cô hạp với thể nhạc bi lụy này chăng?

Người ta vẫn không thường nói, có những ca khúc làm nên tên tuổi của ca sĩ và ngược lại đó sao! nhưng với Ngọc Anh và nhạc phẩm này thì không thể nói “lấy của thằng miền xuôi nuôi thằng mạn ngược” được mà là ngược xuôi, cả hai đều được cả.

Vâng, nếu ai đó nhận hết được nét hạnh phúc lộ rõ trên gương mặt của nhạc sĩ Lam phương trong Thúy Nga Paris By Night khi ông thưởng thức nhạc phẩm “Em Đi Rồi” của mình qua tiếng hát đầy giao động và sầu cảm dữ dội này, cho dù ông đang bị khống chế bởi chiếc xe lăn thì mới cảm hết sức cuốn hút của nó? Thiết nghĩ lời nhạc cũng như âm điệu càng bi lụy, càng ray rứt bao nhiêu, Ngọc Anh càng chứng tỏ bấy nhiêu lối nhập vai giao động quyền biến của mình mà chinh phục bao trái tim của giới thưởng ngoạn. Phải nói, đây là tiếng hát có sức cuốn hút lạ thường, tiếng hát ấy khi cất lên như ẩn chứa nhiều đam mê, nó chẳng những có khả năng khơi dậy cả một vùng trời xuyến xao trong lòng người nghe mà còn đưa giới thưởng ngoạn ngập chìm vào một không gian dạt dào xúc cảm.

Tôi cũng sẽ chẳng nghi ngờ nếu ai đó bảo rằng Ngọc Anh phải là một người đàn bà hết sức đam mê và biết yêu mãnh liệt lắm lắm mới có thể diễn đạt hết ý những nhạc phẩm bi lụy đến như vậy. Nghĩ rằng, chỉ nghe Ngọc Anh hát không chưa đủ mà phải thưởng thức Ngọc Anh diển xuất bằng mắt bằng môi và bằng cả đôi tay thon dài lúc hụt hẫng khi chới với của cô nữa thì mới thấm, nó như là điều kiện ắt có và đủ.

Trở về với nhạc sĩ tài hoa Phạm Đình Chương và nhạc phẩm Nửa Hồn Thương Đau, giới am tường văn nghệ không ai phủ nhận tài phổ nhạc của ông. Cho đến nay hấu hết những nhạc phẩm ông phổ từ thơ đều được xem là đạt đến đỉnh điểm của nó, nhất là những tình khúc dở dang nhiều bất trắc, nếu ai đó chịu khó đem so với những nhạc phẩm phổ thơ của những nhạc sĩ khác mà nhạc phẩm “Nửa hồn thương đau” là một điển hình. Trong những nhạc tình nổi tiếng của ông, hình như thơ có vị trí không khiêm nhường chút nào, nó như là hương là sắc và chỉ cần trang điểm thêm những thanh âm rung cảm đồng điệu thì bỗng nhiên chắp cánh, nó là cô gái lọ lem chờ lọt vào mắt xanh của hoàng tử. Có ai ngờ rằng chỉ với vỏn vẹn 2 câu “Đôi khi anh muốn tin, Ôi… những người khóc lẻ loi một mình” trong thi phẩm Lệ Đá xanh của thi sĩ Thanh Tâm Tuyền mà ông đã phổ diễn thành nhạc phẩm bất hủ “Nửa Hồn Thương Đau”. Tôi chắc rằng, nếu không có Nửa Hồn Thương Đau của Phạm Đình Chương thì mấy ai biết đến Lệ Đá xanh của Thanh Tâm Tuyền. Cũng vậy, nếu ai đó bất chợt đọc được đâu đó một bài thơ hay, đố mà người ấy nhớ được lâu những lời thơ và tên tác giả nếu không chịu khó học thuộc lòng? Phải chăng chính nhờ những thanh âm của nhạc sĩ tài hoa mà những lời thơ hay mới ăn sâu trong lòng người thưởng ngoạn. Chắc có lẽ bắt nguồn từ sự rung cảm đồng điệu giữa nhạc sĩ và thi nhân cũng nên. Cái khả năng của nó là làm cho cả hai quyện vào nhau mà cùng chắp cánh.

Giới yêu văn nghệ Sài Gòn ngày xưa làm sao có thể quên được những nhạc phẩm nổi tiếng được nhạc sĩ tài hoa Phạm Đình Chương phổ từ thơ như Đôi mắt người Sơn Tây của thi sĩ Quang Dũng qua giọng ca của Duy Trác hay Mộng dưới hoa (Tự tình dưới hoa) của thi sĩ Đinh Hùng qua giọng ca của Jo Marcel vào giữa thập niên 60, Màu kỷ Niệm của thi sĩ Nguyên Sa qua tiếng hát của Thái Thanh, Người đi qua đời tôi của Trần Dạ Từ với giọng ca của Lệ Thu. Đặc biệt gần đây, trong đêm nhạc riêng của mình ở Sài Gòn với chủ đề “Khung Trời Ý Lan” tại phòng trà Đồng Dao, cũng nhạc phẩm “Người đi qua đời tôi” này, ca sĩ Ý Lan đã mời nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 lên đệm piano cho mình, để rồi do quá xúc động mà cả kẻ hát lẫn người đàn đều rưng rưng lệ, sau đó Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 đã không nén nổi cảm xúc, chia sẻ: “Cách đây 40 năm tôi đã đệm đàn cho Thái Thanh hát ca khúc này, giờ đây tôi lại được hân hạnh đệm đàn cho ái nữ của cô ấy. Đúng là duyên văn nghệ mà tôi có được trong sự nghiệp âm nhạc của mình. Ý Lan đã cho tôi sống lại những ký ức của một thời xuân trẻ”.

Câu nói “Ý Lan đã cho tôi sống lại những ký ức của một thời xuân trẻ” đủ để gợi cho ai đó cả một bầu trời thương nhớ cũ, Sài Gòn thuở xưa, Sài Gòn của những thập niên 60, giới trẻ lúc bấy giờ có cái mốt thưởng thức nhạc ở phòng trà, với cà phê, với khói thuốc với những suy tư về thân phận và song song với nó là nơi bưng biền hay những vùng ven đô, những tiếng súng bất an đang manh nha gây hấn, rồi chiến tranh lan dần và ngày thêm khốc liệt, có những vùng quê nhen nhúm màu sắc của điêu tàn, có những thị trấn đánh động nỗi bất an thì cũng là lúc nơi quân trường hàng hàng lớp lớp thanh niên đang đổ mồ hôi trong tôi luyện để chiến trường bớt đổ máu…..

Lúc bấy giờ những quán nhỏ của sinh viên cũng được giới trẻ nhiệt tình chiếu cố, Quán Văn sau trường Đại học Văn khoa, Quán Tre của Khánh Ly ở đường Đinh Tiên Hoàng, Quán Thằng Bờm ở đường Đề Thám, Quán Đà Lạt gần sân vận động Cộng Hoà v.v…. Những La Pagode, Brodard hay Givral sang trọng hình như chỉ hiện diện một thiểu số giới trẻ con nhà giàu nào đó thôi. Nhân đây người viết cũng xin có đôi nét về phong trào văn nghệ Sài Gòn một thời. Sau hiệp định Geneve năm 1954, đất nước bị chia đôi, một số ca nhạc sĩ nổi tiếng Hà Nội di cư vào Nam, dù chỉ với “hai bàn tay trắng” mà họ đã làm nên “biết bao nợ nần”. Vâng, chính họ đã góp phần không nhỏ trong việc tạo cho phong trào văn nghệ Sài Gòn trở nên đa dạng với nhiều dòng nhạc dành cho mọi tầng lớp thưởng ngoạn. Thị trường âm nhạc bỗng nhiên sôi động hẳn lên cùng với đa số những ca sĩ nổi tiếng người Hà Nội góp mặt ở các phòng trà.

Thưởng thức nhạc ở phòng trà là một nét văn hóa của Sài Gòn lúc bấy giờ, phòng trà mọc lên khắp nơi, trước có Văn Cảnh, Đức Quỳnh, Anh Vũ sau có Queen Bee, Tự Do, Ritz, Maxim’s, Đêm Màu Hồng với các ban nhạc tên tuổi và các giọng ca sáng giá. Sau này có một loại phòng trà ca nhạc khác nữa là phòng trà sinh viên như đã nói trên. Trong khi các phòng trà nổi tiếng là nơi dành các khán giả có điều kiện thì phòng trà sinh viên do sinh viên mở ra nó bình dân hơn và lẽ dĩ nhiên là cũng để dành cho chính họ. Sau sự kiện 30-4-1975 cái gọi là giải phóng, các phòng trà này cũng được giải phóng nốt.

Người dân Miền Nam không thể nào quên được chuyện “kẻ chiến thắng” ra lệnh cấm và thiêu hủy những sản phẩm văn hóa của Miền Nam trong đó có sách vở, băng nhạc, phim ảnh và lẽ dĩ nhiên, những văn nghệ sĩ Miền Nam cũng đã được họ đặc biệt chiếu cố. Cả một bộ máy tuyên truyền của chế độ lên án những nhạc phẩm của Miền nam, họ cho đây là loại Nhạc Vàng đồi trụy, phản động để rồi chuyện cấm kỵ này kéo dài lây lan đến gần cả hai thập niên. Bây giờ lẽ dĩ nhiên đã khác, nghe nói mới đây đôi ca sĩ Tuấn Vũ & Hương Lan đã mang nhạc vàng Sài Gòn cũ ra chinh phục Hà Nội. Họ trình diễn tại nhà hát lớn vào đêm 16-10-2010 sau khi đại lễ Ngàn Năm Thăng Long kết thúc. Đôi song ca này đã mở đầu show diễn vào ngày 11-8-2010 và được khán giả Hà Nôi đón nhận nhiệt tình, giá vé dù có đắt, tương đương với mấy mươi đô la Mỹ nhưng mỗi show diễn đều bán sạch và kéo dài mấy tuần liền, đến nỗi nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc phải viết một bài mang tựa đề : “ Khi Đặng Thái Sơn không thể “ địch” lại Hương Lan Tuấn Vũ” với những dòng như sau :
“Có lẽ Đặng Thái Sơn mà biểu diễn tới đêm thứ 3 ở Hà Nội bây giờ chắc cũng chẳng có mấy ai xem. Không thể “địch” lại với Hương Lan, Tuấn Vũ, Tuấn Ngọc… Hồi cuối tháng 8 vừa qua, show diễn hát theo yêu cầu của họ ở Nhà Hát Lớn giá 1 triệu rưỡi đến 1 triệu 7 cho 1 vé. Biểu diễn hàng nửa tháng trời mà vẫn kín chỗ, không có vé mà mua. Mà hình như họ ăn khách Thủ đô đến ngỡ ngàng, vượt cả sự tưởng tượng của chính họ, nên họ lại đã quảng cáo biểu diễn tiếp tại Nhà hát lớn sau Đại lễ 1000 năm”



Nhắc đến phong trào văn nghệ Sài Gòn thuở ấy là nhắc đến biết bao kỷ niệm buồn vui nhưng cũng đừng quên nhắc đến Sài Gòn cũng là nhắc đến mưa, đến nắng đến những ánh đèn vào đêm trên những đường phố trung tâm hay những con hẻm lầy lội dưới mưa. Nhắc đến Sài Gòn thuở ấy là nhắc đến những tụ điểm ăn chơi, những tiếng rao khuya, những tiếng gõ chào mời trong đêm vắng hay những xe đẩy hàng ăn trên phố. Có một điều thú vị ít ai chú ý là cho đến nay dù là đã thay tên đổi họ, dân Sài Gòn chính tông chẳng bao giờ chịu gọi Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh, thậm chí là thành phố Sài Gòn, không có từ thành phố đi chung với nó. Chỉ khi nào với hàm ý gì đó thì lại khác. Cứ hãy thử tưởng tượng vào phòng trà thưởng thức nhạc tình mà mặc áo vet đội nón cối xưng đồng chí với nhau thì tréo cẳng ngổng biết chừng nào. Thế nhưng Sài Gòn bây giờ đã khác, đâu rồi một Sài Gòn của thời xa vang bóng “nghìn năm hồ dễ mấy ai quên”.

Đêm nay tôi đưa em về
Đường khuya sao trời lấp lánh
Đêm nay tôi đưa em về
Mắt em sao sáng long lanh
Đêm nay khi em đi rồi
Đường khuya riêng một mình tôi

Đêm nay khi em đi rồi
Tôi về đếm bước lẻ loi
Đêm mai không ai đưa về
Người ơi xin đừng hờn dỗi
Đêm nay cô đơn đi về
Xin người hãy nhớ tình tôi

Đây là một nhạc phẩm hay của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 mà một thuở người viết vẫn thường nghêu ngao hát. Cảm ơn nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 đã dâng cho đời những cung bậc rung cảm nhẹ nhàng mà cũng đầy da diết.
Image Trở lại với nhạc sĩ Phạm Đình Chương, năm 1979, ông vượt biên, rồi định cư ở Hoa Kỳ, tình cờ đọc được bài thơ “Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn” của thi sĩ Du Tử Lê trên trang báo, không để mất cơ hội, ông chộp lấy và xuất thần chuyển vào ngôn ngữ của âm nhạc, thế là ca khúc “Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn” ra đời và trở thành tuyệt khúc qua tiếng hát của nữ ca sĩ Lệ Thu lúc bấy giờ.

Phải nói ở bên kia dốc đời của nhạc sĩ tài hoa Phạm Đình Chương là cả một cung nhạc thảm sầu, nó vừa là nạn nhân mà cũng vừa là tác nhân, nó vận vào ông để ông cảm tác những bài tình ca bất hủ.

Số là, vào những năm 57, 58 thì phải, giới yêu văn nghệ Sài Gòn xôn xao không ít, báo chí phải tốn nhiều giấy mực bởi phải đăng nhiều kỳ vụ ly dị giữa nhạc sĩ Phạm Đình Chương và người vợ tài sắc của ông là ca sĩ Khánh Ngọc, đến nỗi tòa phải xử dai dẳng mới đi đến kết thúc. Như đã biết, Khánh Ngọc từng được giới mộ điệu mệnh danh là “Ngọn núi lửa”. Cô vừa làm ca sĩ, vừa làm tài tử điện ảnh có một nhan sắc quyến rũ và một thân hình nóng bỏng. Tài nghệ và nhan sắc của cô đã làm say đắm bao lòng khán giả mỗi khi cô xuất hiện.

Dù nhạc sĩ Phạm Đình Chương trước khi ly dị cũng đã nghe phong phanh đâu đó vợ của mình ngoại tình nhưng ông vẫn bỏ ngoài tai vì tình yêu và tin tưởng ở tình yêu của vợ. Chỉ đến khi một số bạn thân văn nghệ làm chỉ điểm để ông bắt được tại trận ở Nhà Bè thì sự việc mới vỡ lẽ. Tin tức lan nhanh như nước lũ mùa lụt, báo chí Sài Gòn lúc bấy giờ khai thác triệt để, nhất là nhật báo Sài Gòn Mới của bà Bút Trà. Thế là vụ “ăn chè Nhà Bè” được suy diễn hơn cả mức độ “chả nem” của nó. Lẽ dĩ nhiên, nhân vật thứ 3 và cũng là thủ phạm đã được dư luận nhiệt tình chiếu cố. nhưng nói cho cùng, người đau nhất vẫn là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và nạn nhân thứ hai là chị ruột của mình. Tuy vẫn còn yêu vợ, nhưng ông không đủ can đảm đạp lên dư luận mà đi nên đành phải gạt lệ đâm đơn li dị. Nghe nói, lúc ấy thủ phạm cũng đã từng cầu cứu đến Bộ Thông Tin, yêu cầu báo chí thôi làm ồn và cho ngưng những loạt phóng sự “Nhà Bè” này.

Sau khi li dị, nhạc sĩ Phạm Đình Chương phải chịu cảnh gà trống nuôi con, sau một thời gian ông đã cố gắng duy trì cuộc sống trở lại bình thường sau đó ông đã hát và sáng tác trở lại. Một đêm, tình cờ trên một sân khấu đại nhạc hội, không hẹn mà gặp và ông đã bị từ chối khi ngỏ ý muốn đưa người cũ của mình về nhà vì trời đang mưa. Quá đắng cay, ông lặng lẽ về căn nhà với chập chùng kỷ niệm, nhìn mưa rơi mà lòng tan nát, tủi thương cho thân phận, ý định tìm chết bỗng chớm trong ông, nhưng tiếng khóc của trẻ thơ đã làm ông bừng tỉnh mà níu ông lại! Nhạc phẩm “Nửa hồn thương đau” được ra đời cũng vào cái đêm mưa hôm đó.

Tôi lan man viết lại chuyện tình buồn này của nhạc sĩ Phạm Đình Chương như một chia sẻ mà cũng là để lòng tri ân đến ông cùng những nhạc sĩ khác, những người chỉ vì một bất hạnh nào đó trong đời sống tình cảm để rồi sự đáp trả của họ là dâng cho đời những tình khúc bất hủ.

Tôi trân trọng những tác phẩm nghệ thuật có giá trị cho dù cá nhân người nghệ sĩ sáng tác ấy dưới mắt một số người thậm chí nhiều người là có những khuyết điểm. Chúng ta vẫn không thường nói “nhân vô thập toàn” đó sao? Tâm hồn chúng ta vốn dĩ đã nghèo nàn thì dại gì phải để nó lâm vào cảnh túng thiếu khi mà chỉ vì không chấp nhận tư cách cá nhân của một người nghệ sĩ tài hoa nào đó để rồi phải loại ra những tác phẩm nghệ thuật có giá trị mà họ đã dâng cho đời.

Viết đến đây tôi chợt nhận ra có một ưu điểm mà thế hệ chúng tôi được thừa hưởng ở miền nam đó là sự trưởng thành trong văn hóa ứng xử. Nhờ đó mà người nghệ sĩ tài năng ở giai đoạn này luôn có được thuận lợi trong sáng tác cũng như phổ biến những đứa con tinh thần của mình, quyền tự do tư tưởng ít ra cũng được tôn trọng cho dù người nghệ sĩ tài năng đó có như thế nào? màu sắc “chính trị” có ra sao? thường thì họ vẫn có chỗ đứng và được quần chúng chấp nhận thậm chí còn được bảo bọc và lẽ dĩ nhiên giới cầm quyền ít nhất cũng phải tôn trọng. Nghĩ rằng, lối ứng xử này cần phải củng cố mà tạo thành tập quán, nhất là cho thế hệ tiếp nối, cho dù bạo quyền CS ngày nay có tàn ác đến đâu, có bất nhân đến mấy… rồi cũng qua đi, nhưng nếu dân tộc đánh mất đi cái tính tối thiểu của tự do dân chủ, cái tình tối thiểu của lòng nhân ái, đánh mất đi cái giềng mối đạo đức căn bản của con người thì khó mà phục hồi được?

Sông Lô
Đàn Chim Việt

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Image

Mắt Lệ Cho Người


Khoảng từ vài năm đầu thập niên 1980, đời sống dân chúng Sàigòn còn vô cùng thiếu thốn, đói khổ. Có nhiều đợt tù nhân chính trị được thả về. Họ là những người sĩ quan trẻ nhưng bị bệnh tật vì thiếu thuốc men hay vì “lý lịch khá trong sáng ”, không có “nhiều nợ máu với nhân dân”. Những người tù binh trở về ấy đã được dân Sàigon rỉ tai loan tin nhau, ra bến xe, ra ga đón tiếp một cách âm thầm (như mang quà bánh, nước ngọt, trái cây, quần áo và tiền để tặng, những người phu xe xích lô chở về nhà không lấy tiền ..v…v….). Năm 1990, tôi được sang định cư tại Mỹ, một trong những tình cảm đẹp trong hành trang tôi mang theo làtình thương yêu ấy của đồng bào hai miền Nam Bắc dành cho những người trẻ tuổi anh hùng thất thế ấy- mà nhà cầm quyền CS gọi là “ngụy quân ngụy quyền”. Năm 1992, tôi được cộng tác với đài VOA, tiếng nói chính thức của chính phủ Hoa Kỳ phát thanh về Việt Nam. Tôi không bao giờ quên những người ở lại, khi đó vẫn còn đang trầm luân đói rách. Trong những bài tường thuật gửi qua làn sóng VOA, những sinh hoạt cộng đồng, những tấm lòng nhân ái tại nơi xứ người hướng về người ở lại. Những bản tin như thế, mang niềm hy vọng cho người miền Nam nhất là những người tù, người vợ, người mẹ, người con Tù nhân Chính trị.

Ngay cả đến chương trình Câu ChuyệnThơ Nhạc mỗi tốithứ sáu của đài VOA, tôi cũng vẫn có những bài dành cho những người bất hạnh nhất trong một đất nước đã hết chiến tranh. Vâng, cho dù chiến tranh đã tàn nhưng khói của nó vẫn làm cho ta cay mắt.

Tôi nhớ có một chương trình nói về một câu chuyện bắt nguồn từ một cảm xúc về bài thơ mà tôi đã giới thiệu trên đài. Bài thơ ấy như sau:

Một chiều qua bến đò ngang
tình cờ nghe bài hát cũ
người hành khất mù và cô gái nhỏ
cây guitar lạc phím tự bao giờ

Cô gái hát
nỗi đau mênh mông của người tình phụ
chiều bay mưa hiu hắt dòng sông
khách qua đò cuối năm lưa thưa
có người dừng lại
xót xa trong lòng nhưng túi rỗng không

Mấy mươi năm rồi người con gái qua sông
tôi viết lời ca sao buồn quá vậy?
những câu hát cho lòng tôi thuở ấy
ai biết bây giờ
người hành khất hát để ăn xin



Yêu bài thơ ấy của Đynh Trầm Ca, tôi đã biên soạn một ch/trình Thơ Nhạc “nhớ người thương binh” và sau bài thơ là ca khúc Mắt Lệ Cho Người của Từ Công Phụng. Thời gian sau đó, tôi nhận được một lá thư thính giả từ trong nước. (khi đó chưa có email nên phong thư giấy rất thô sơ, vàng úa vì loại giấy dùng rồi phải nấu lại vài ba lần, tem thư cước phí rất đắt do nhiều người chung góp).

Trong thư kể rằng,cũng từ cảm xúc của bài thơ ấy, những người tù xưa đã kể lại một câu chuyện tình ly biệt.

“Có hai người bạn ở trong tù, rất thân nhau. Họ là hai người bạn thời trung học. Lớn lên mỗi người một nơi, cho tới ngày gặp lại nhau thì buồn thay, lại ở trong một trại tù của người Cộng sản.

Sau năm năm trong nhà tù, họ lại chia tay nhau. Một người được thả về mang theo chiếc vòng của người bạn còn ở lại, nhờ trao đến tay một người con gái ở quê nhà. Chiếc vòng đeo tay làm bằng vỏ đạn có khắc bông hoa điên điển. Nhưng tiếc thay, khi tìm được đến nơi thì người con gái ấy đã không còn ở địa chỉ đó nữa…” Phần cuối câu chuyện không có kết thúc, cho nên nó đã để lại cho người đọc một niềm ray rứt thương cảm khôn nguôi.

Nhưng sau đó tôi lại nhận được thư vị thính giả khác. Ông cho biết về một người bạn cùng ở một tiểu bang , người đã nhận mang chiếc vòng của người bạn đồng tù. Người ấy có về lại tìm người bạn xưa. Còn nỗi đau nào bằng khi gặp lại người bạn học thân thiết thời thanh bình cũ, giờ đây trong một hoàn cảnh rất bất ngờ, đầy thương tâm. Người bạn xưa ấy sau khi ra tù bị mù đôi mắt, đang là một hành khất hát rong trên một bến đò… Hai người bạn cũ gặp lại nhau trong một buổi chiều cuối năm trời mưa bay rất nhẹ. Khung cảnh buồn hiu hắt cả lòng…

Được nghe kể rằng người yêu xưa có tìm gặp nhưng người hành khất đã chối từ: “Tôi không phải là người cô muốn tìm lại, chắc người giống người mà thôi”. Khi người đàn bà ấy buồn bã qua cầu, văng vẳng từ phía sau tiếng ghi ta và tiếng hát như đuổi theo…

“Mưa theo dấu chân em qua cầu
Theo những cánh rong trôi trên niềm đau
Đời em đã khép đi vội vàng
Tình ta cũng lấp lối thiên đàng

Như cánh chim khuất ngàn
Còn mong còn ngóng chi ngày yêu dấu Mưa… soi dấu chân em qua cầu
Theo những cánh rong trôi trên niềm đau
Thời nào yêu hết trái tim buồn

Lời nào yêu hết trái tim buồn
Xin giữ trong mắt lệ
Nhòa theo từng gót chân người trông vời
Mưa âm thầm buổi chiều thổn thức,

Sẽ nhạt nhòa từ ngàn năm nữa như em khóc hồn nhiên
Nỗi muộn phiền ngày tàn hơi thở
Em thấy không cõi đời vô vọng… Xin em hãy cho tôi tạ tình,

Khi em đã đi qua quãng đời tôi
Dù một khoảnh khắc sớm phai tàn,
Và lệ em rớt trên môi nhạt
Đôi mắt em rất buồn,

Đôi chúng ta rất buồn,
Vàng câu tình cũ
Xin gửi cho đời…


Trong đời sống, chia ly là chuyện bình thường. Nhưng có lẽ không có cuộc chia ly nào mà không có nhiều nước mắt đớn đau kể từ năm 1975. Bao nhiêu gia đình tan nát. Hai vợ chồng đôi ngả chia xa, hai người yêu nhau muôn đời cách biệt. Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng dù thời gian có xóa nhoà đi tất cả, dù không gian có cách xa, họ vẫn mãi nhớ nhau. Rồi có một phút giây nào đó gặp lại, họ nói với nhau lời tạ từ, nghẹn ngào trong hạnh phúc đắng cay, nhạt nhòa mắt lệ…

Tháng 6/2012
Bích Huyền

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Image

Một người đợi nơi sân bay

Khi tôi bước xuống sân bay, trời nhá nhem tối. Tôi xa Sài Gòn hai năm nhưng khi đặt chân trở lại nơi này, cảm xúc của ngày bước đi dường như chỉ mới hôm qua và vẫn còn ở yên đấy.

Sân bay vẫn đông đúc như thường. Những nhóm người từ phương xa đến đây để đón người thân. Những nhân viên khách sạn giơ cao những tấm bảng đón khách. Tôi biết mình không người đón. Mà như thế cũng chẳng sao. Không ai đón tôi bởi tôi muốn thế, như cách đây hai năm tôi ra đi một mình. Đó chỉ là một sự chọn lựa, vậy thôi!

Cô ấy đứng đối diện tôi cách khoảng năm bước chân. Váy mullet trắng tinh khiến tôi liên tưởng đến màu áo cưới. Tóc đen mun xõa dài. Cô ấy xinh, không theo kiểu hotgirl đẹp nhờ make up, cô ấy gần như để mặt mộc. Môi thắm nở một nụ cười. Nụ cười xinh đến độ tôi không tin nụ cười ấy là dành cho mình. Cô gái ấy tôi không hề quen biết.

Cô ấy đứng đối diện tôi và nói: “Mừng anh trở về!”. Thật kì quặc! Nhưng tai tôi không hề nghe nhầm. Mừng- anh- trở- về! Cô ấy giữ nguyên vẻ rạng rỡ trên khuôn mặt. Đôi mắt nhìn thẳng vào mắt tôi. Trong thoáng chốc tôi vẫn còn tin rằng mình đang ở trong giấc mơ kì quặc chỉ cho đến khi tiếng loa vang vang thông báo một chuyến bay vừa hạ cánh. Tôi tỉnh. Biết rằng mình đang đứng ở sân bay, đối diện một cô gái lạ và cô ấy vừa nói “Mừng anh trở về!”.

- Có lẽ cô đã nhầm tôi với một ai đó?

- Tôi không nhầm! – cô ấy đáp rất nhẹ.

- Xin lỗi, chúng ta quen nhau?

- Chuyến bay thế nào ạ?

- Ổn nhưng họ phục vụ thức ăn tệ quá! Mà cũng có thể do tôi không có tâm trạng muốn ăn! – Tôi nghĩ rằng mình đã nói hơi nhiều.

- Vậy giờ anh có đói không? Hay chỉ cần một cappuccino là đủ? – giọng cô ấy vẫn rất nhẹ nhàng. Và tôi nghĩ mình không thể nào bất lịch sự đến độ gạt phăng lời đề nghị ấy đi để chen vào một câu hỏi “Cô là ai?” trong lúc này.

- Thật ra thì, có lẽ tôi sẽ dùng cà phê sữa đá pha phin.

Quán cappuccino cách sân bay 38 ngàn tiền taxi, có cappuccino lẫn cà phê phin và một số loại thức uống khác.

- Xin lỗi tôi vẫn không thể nhớ là chúng ta đã quen nhau thế nào!

- Vậy anh có giận không nếu như anh biết rằng mình thật sự đang cà phê với một cô gái lạ?

Cô ấy im lặng một lúc, nhìn xuống nền gạch rồi nói:

- Tôi chỉ muốn thử biết cái cảm giác đi đón một người ở sân bay là thế nào. Tôi muốn thử đón một người – một mình. Cái ý nghĩ đó chợt đến với tôi vào một tối thứ hai tuần vừa rồi. Chỉ là bỗng dưng tôi muốn được đón một ai đấy!

- Vậy tại sao cô lại chọn tôi? Vì sao cô nghĩ là không ai đón tôi?

- Vì khi bước ra ánh mắt anh không tìm một ai hết. Anh cũng không nhấc điện thoại gọi ai. Anh không hề vội vã tí nào! Tôi không chắc chắn rằng mình cảm nhận đúng. Tôi cũng hồi hộp lắm chứ! Tôi cũng sợ bị nghĩ là điên, là quái dị! Tôi cũng sợ anh quát tôi!

Cô ấy tuôn ra một tràng dài, nhanh và nhiều hơn những gì cô ấy thể hiện nãy giờ. Cũng may tôi chưa hề quát cô ấy. Mà tôi cũng không có lí do chính đáng để quát cô ấy, khi mà tôi có một người đón tôi ở sân bay vào lúc nhá nhem tối và mưa giăng lất phất thế này dù với lí do gì đi nữa.

- Ý tưởng táo bạo quá. Người ta sẽ nghĩ rằng em đang có mục đích gì đó!

- Em cũng đã nghĩ đến chuyện này. Rõ ràng người ta có quyền nghĩ thế! Nhưng chỉ cần em thực sự không có mục đích gì cả, thì mọi thứ đâu có thành vấn đề. Anh có gửi đơn tố cáo đến công an vì một cô gái đường đột chào đón anh ở sân bay không?

- Chắc là không!

- Vậy nếu cô ấy không vay tiền anh, không xin số điện thoại của anh và… không bao giờ xuất hiện lần nữa trước mặt anh sau khi cô ấy uống cùng anh hết li cappuccino ngọt đắng này thì anh có còn hoài nghi gì nữa về cô ấy không?

Tôi không biết, tôi thực sự đã không thể biết rốt cuộc thì có sự tồn tại của thứ được gọi là số phận hay không, hay là do sự chọn lựa của con người ta mà thành. Nếu tôi không muốn cô ấy biến mất, thì liệu tôi có rơi vào chiếc bẫy nào đó không? Liệu tôi có thành một nạn nhân trong một vở bi hài kịch nào đó không? Và liệu tôi có trở thành một gã ngốc đã đánh mất trong đời mình một điều kì diệu vì tôi đã tin rằng cái xấu luôn hiện hữu rất gần?

Cô ấy đúng! Cô ấy không vay tiền tôi. Cô ấy không xin số điện thoại của tôi. Và cô ấy cũng không đưa tôi đi hết đoạn đường về nhà. Cô ấy chỉ mỉm cười và nói “Mừng anh trở về” ở sân bay đông đúc. Cô ấy chỉ mời tôi một li cappuccino. Rồi cô ấy để lại lời cảm ơn vì đã được một lần trải nghiệm cảm giác đi đón một ai đấy. Khi chiếc taxi chở tôi rời đi, tôi còn nhìn thấy bóng chiếc váy mullet trắng ở lại. Tôi tự hỏi vào ngày mai hình ảnh đó có trở thành một đốm trắng nhạt nhòa trong kí ức.

Khi taxi đã đi được một km, tôi đã yêu cầu xe quay lại. Sao cũng được. Không, thế nào cũng không được. Không thể để cô ấy biến mất như vậy. Đôi khi trong đời ta cần một ai đấy.

Tôi có nói với bạn chưa? Cô gái ấy, về sau, đã luôn đứng chờ tôi với nụ cười ấm áp chỉ dành cho riêng tôi ở sân bay. Dù có đến đâu, tôi cũng luôn biết mình phải trở về vì nơi ấy, có cô ấy, luôn chờ tôi…

goiyeu.net

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

On The Floor ft. Pitbull

Music video by Jennifer Lopez performing On The Floor feat. Pitbull

The other side, out my mine

It's a new generation
(Mr. Worldwide)
Of party people

Get on the floor, dale
Get on the floor
RedOne

Let me introduce you to my party people
In the club

I'm loose and everybody knows I get off the chain
Baby it's the truth
I'm like Inception, I play with your brain
So don't sleep or snooze

I don't play no games so don't-don't-don't get it confused, no
'Cause you will lose yeah
Now pu-pu-pu-pu-pump it up
And back it up like a Tonka truck
Dale

If you go hard you gotta get on the floor
If you're a party freak, then step on the floor
If you're an animal then tear up the floor
Break a sweat on the floor, yeah we work on the floor

Don't stop, keep it moving put your drinks up
Pick your body up and drop it on the floor
Let the rhythm change your world on the floor
You know we're running shit tonight on the floor

Brazil, Morocco, London to Ibiza
Straight to LA, New York, Vegas to Africa

Dance the night away
Live your life and stay young on the floor
Dance the night away
Grab somebody, drink a little more


Tonight we gon' be it on the floor
Tonight we gon' be it on the floor

I know you got it, clap your hands on the floor
And keep on rockin', rock it up on the floor
If you're a criminal, kill it on the floor
Steal it quick on the floor, on the floor

Don't stop keep it moving, put your drinks up
It's getting ill, it's getting sick on the floor
We never quit, we never rest on the floor
If I ain't wrong we'll probably die on the floor

Brazil, Morocco, London to Ibiza
Straight to LA, New York, Vegas to Africa

Dance the night away
Live your life and stay young on the floor
Dance the night away
Grab somebody, drink a little more

Tonight we gon' be it on the floor
Tonight we gon' be it on the floor

That badonka donk is like a trunk full of bass on an old school Chevy
Seven tray donkey donk
All I need is some vodka and some shonky-tong
And watch and she gon' get Donkey Kong

Baby if you're ready for things to get heavy
I get on the floor and act a fool if you let me, dale
Don't believe me just bet me
My name ain't Keith but I see why you sweat me

L.A., Miami, New York
Say no more, get on the floor

Tonight we gon' be it on the floor
Tonight we gon' be it on the floor
Tonight we gon' be it on the floor

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

2,000 Người Dự Đêm Nhạc 50 Năm Tình Ca Từ Công Phụng
Costa Mesa (Bình sa)- -Tối Thứ Bảy ngày 23 tháng 6 năm 2012 tại Segerstrom Center for the Arts (Đại hí viện Nghệ thuật Segerstrom) tọa lạc ở Costa Mesa, gần 2,000 khán giả say sưa theo dõi một chương trình âm nhạc "50 năm Tình Ca Từ Công Phụng."

Mở đầu chương trình, nhà văn Bích Huyền đã nói: "Trong không gian mênh mông rộng lớn, và với không khí trang trọng của buổi tối nay, Bích Huyền trân trọng kính chào mừng quý vị, và cám ơn quí vị đã đến với dòng nhạc 50 năm của Nhạc Sĩ Từ Công Phụng.

Trong hàng ngàn quí vị hiện diện nơi đây, chúng tôi biết có nhiều vị đã từng có những đêm đứng ngồi trên sân cỏ, trên nền đất say mê thưởng thức những bản tình ca của các nhạc sĩ mang dáng dấp còn rất sinh viên vào thập niên 1960 tại sân trường Đại Học Văn Khoa, một nơi chốn họp mặt ấm cúng và thân quen của tuổi trẻ Sài Gòn một thời hoa mộng. Nhạc TCP bước ra cũng từ nơi ấy.
Image
Hình ảnh trong đêm nhạc Từ Công Phụng.
Vâng, nghe nhạc TCP những lúc bình yên người ta cảm thấy hình như đời đẹp hơn, tình đẹp hơn. Và những lúc cuộc sống thăng trầm, nhạc TCP như một lời tạ từ nhau không bi lụy, không đau thương quá. Cũng là tình ca, nhưng tình ca của TCP đã làm vơi bớt nỗi đau và nới rộng chân trời của những lứa đôi.. Mỗi hình ảnh trong nhạc TCP như một dấu vết của hạnh phúc, của ước mơ thêu dệt trong mỗi đôi lứa yêu nhau, hay phải xa nhau… thấp thoáng kỷ niệm xa xưa.

Xin kính chúc tất cả quý vị một đêm vui, hạnh phúc trong không gian êm đềm tràn đầy tiếng nhạc TCP."

Sau phần giới thiệu, chương trình bắt đầu, dòng nhạc Từ Công Phụng lan tỏa trong không gian mênh mông qua những giọng hát được yêu mến: Tuấn Ngọc, Ý Lan, Quang Tuấn, Nguyên Khang, Diễm Liên, Lâm Thúy Vân, Bích Vân, và hai giọng hát trẻ Đình Bảo, Anh Thư, ban nhạc gồm có Lê Sỹ Dự - Lê Ngọc - Hoàng Công Luận - Giang Nguyễn - Vũ Anh Tuấn - Gary Wing. Những giọng hát diễn tả tuyệt vời trong đó có giọng hát Nhạc Sĩ Từ Công Phụng. Những bài hát của một trời kỷ niệm được đôi MC Đại Dương, Uyển Diễm giới thiệu duyên dáng. Bên cạnh đó còn có những MC đàn anh, đàn chị như: Việt Dũng, Diệu Quyên, Đỗ Tân Khoa.

Image
Hình ảnh trong đêm nhạc Từ Công Phụng.
Xen kẽ giữa những bài hát là những lời phát biểu về nhạc Từ Công Phụng của các diễn giả như Kiều Chinh, Du Tử Lê, Đăng Khánh, Trúc Hồ.

Chương trình dàn dựng, biên soạn công phu.

Nhà Văn Bích Huyền cho biết: "Nếu không có Việt Dũng, Đỗ Tân Khoa, Uyển Diễm, Đại Dương thì không thể có một chương trình đặc biệt như thế này được. Chúng tôi mỗi người một việc, rất nhịp nhàng đã miệt mài lên chương trình và làm việc trong nhiều ngày tháng. Kết quả thành công với một chương trình mang đầy tính nghệ thuật, được khán giả khen ngơi bằng những tràng pháo tay nồng nhiệt không muốn dứt.

Chúng tôi cũng không quên sự hỗ trợ rất tích cực của các cơ quan truyền thông báo chí quận Cam, đã dành nhiều trang, nhiều bài giá trị không nhận một số tiền nào để quảng bá liên tục nhiều ngày. Những vị bảo trợ bằng hiện kim như nhạc sĩ Anh Bằng, nữ ca sĩ Phương Hồng Quế và nhiều vị hảo tâm khác. Rất trân trọng và cảm ơn các vị khán giả từ xa về như ở DC, San Jose, Seattle, v,v… Xa hơn nữa từ Pháp, Úc châu."

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Ca Nhạc sĩ Sài Gòn, trước 04 / 1975

Viết về giới ca nhạc sĩ Sài Gòn thời trước 1975, là viết những chuyện đằng sau hậu trường,
những chuyện dính dáng vào đời tư nhưng không đến nỗi phải bồi thường “một đồng danh dự”

Image
Tác giả trao giải Kim Khánh ( do báo Trắng Đen tổ chức )
cho nữ nghệ sĩ Kim Ngọc

Lời người viết :
Lâu rồi các bạn bè thân hữu mỗi khi gặp tôi cứ hỏi “ Liệu ông có viết lại các mẫu chuyện về Ca Sĩ Sài Gòn trước năm 75 được không ? ”. Bởi dù gì ngày trước ở Sài Gòn tôi viết chuyên mục về điện ảnh tân nhạc cho nhiều báo và tạp chí, mà nhật báo Trắng Đen với số bán chạy nhất thời đó là chủ chốt ; đồng thời cũng là sáng lập viên “ Nhóm thân hữu ký giả Điện ảnh Tân nhạc Việt Nam ” , thuộc “ thiên lý nhãn ” …. trăm tai ngàn mắt thời đó .
Viết về giới ca nhạc sĩ Sài Gòn thời trước 1975, là viết những chuyện đằng sau hậu trường, những chuyện dính dáng vào đời tư nhưng không đến nỗi phải bồi thường “một đồng danh dự”; có thể có những vụ việc đã từng được đăng hoặc chưa được đăng trên báo, viết về người còn ở lại và người đã xa quê hương,quả thật hết sức phức tạp !

Lý do “ sự thật hay mích lòng ”, nhưng đã hơn 30 năm xin cứ coi đây là kỷ niệm, thật hư thế nào chính người trong cuộc sẽ hiểu !!! …. Nhưng vì một lẽ giản đơn “ không muốn vạch áo cho gười xem lưng ” đó thôi .!!!???
Cuối cùng, những phần hồi ký này chỉ trích đăng từng phần, nếu có dịp xin sẽ viết tiếp… và viết ra để những người về sau tham khảo và biết về các Nhạc Sĩ & Ca Sĩ trước 1975 , đang ở VN Hải ngoại đã thành danh như thế nào . ( TV )

CA SĨ SAIGON – XUẤT HIỆN TỪ ĐÂU ?

Nói đến ca sĩ từ đâu đến hay nôm na từ đâu mà thành danh. Tôi chợt nhớ đến Chế Linh đầu tiên, nhớ ngay cái ngày một thanh niên gốc Chàm khúm núm đến gặp Tùng Lâm ở hậu trường rạp Olympic, một sân khấu đại nhạc hội do quái kiệt Tùng Lâm tổ chức song song với Duy Ngọc ở bên rạp Hưng Đạo vào mỗi sáng chủ nhật .

Tôi nhớ buổi sáng chủ nhật hôm đó khi anh chàng da ngâm đen tóc quăn, ăn mặc nguyên bộ đồ jean. Đến Tùng Lâm cũng không hiểu tại sao anh ta một người lạ mat vào được tận trong hậu trường. Còn đang ngạc nhiên thì anh chàng người Chàm đã tới gặp ngay Tùng Lâm xin cho được hát vào những lúc ca sĩ còn chạy show chưa đến kịp.

Tùng Lâm quyết liệt từ chối, dù lúc đó phải đóng màn chờ ca sĩ cũng không dám cho anh chàng người Chàm này lên hát, một phần do anh ta là người dân tộc thiểu số và cũng chưa từng nghe anh ta hát bao giờ.
Nhưng kế tiếp những tuần sau, anh chàng người Chàm lì lợm vẫn đều đặn xuất hiện xin Tùng Lâm cho được hát, và rồi Tùng Lâm cũng đành thua sự lì quá mức, đành chấp nhận cho anh ta hát một bài để thử, với lời dặn chỉ hát một bài và không có tiền “cát sê”

Tôi chứng kiến các buổi anh chàng người Chàm đến và cả buổi đầu tiên được Tùng Lâm cho hên hát một nhạc phẩm của Duy Khánh, với tên được giới thiệu là Chế Linh. Không rõ Chế Linh có được học hát hay có thiên bẫm hát theo đĩa hay băng nhạc mà nhiều nam nữ mầm non ca sĩ thường hát nhái đến thuộc lòng, đến khi bài hát chấm dứt thì hàng loạt tiếng vỗ tay nổi lên tán thưởng kèm theo những tiếng gào “bis, bis” nổi lên ầm ỉ nơi hàng ghế khán giả.

Nhưng nhìn những người ái mộ vo tay gào thét kia chính là đồng hương của Chế Linh, do chính Chế Linh bỏ tiền ra mua vé cho họ vao xem và chờ đợi cái ngày hôm đó, để chỉ làm một động tác vỗ tay hoan hô và gào lên những tiếng bis, bis.

Do không được ai lăng xê, không được ai kèm cặp, Chế Linh thường hát nhái theo giọng ca Duy Khánh và cả những bài hát từ Duy Khánh từng thành đạt . Và nhờ những đồng hương hàng tuần đến vỗ tay, sau này Chế Linh được Tùng Lâm nhận làm “đệ tử” trong lò đào tạo ca sĩ của mình (?).
Từ lúc đó Chế Linh mới được uốn nắn rèn giũa lại chính giọng ca của mình. Khi nói đến những lò “đào tạo ca sĩ” thường là những nơi có môi trường “lăng xê”, như nhạc sĩ Nguyễn Đức có hai chươ ng trình trên Đài truyền hình số 9 là Ban Thiếu nhi Sao Băng và chương trình Nguyễn Đức, cùng hai chương trình trên Đài phát thanh là Ban Việt Nhi, ban ABC.

Còn quái kiệt Tùng Lâm có Đại nhạc Hội, và chương trình Tạp Lục trên truyền hình. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông với đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương của TC/CTCT mà Song Ngọc đứng đầu tàu.
Image Nhạc sĩ Ngọc Chánh có phòng trà Quốc Tế (International) và hàng loạt nhãn băng như Shotguns, Thanh Thúy, Nhạc Trẻ , Hồn Nước, Chế Linh.
Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ có sân khấu phòng trà Maxim’s, đoàn Văn nghệ và băng nhạc mang cùng tên do hãng đĩa Việt Nam sản xuất v.v…
Image
Đây là những lò nhạc giới thiệu nhiều ca sĩ nhất trong thời gian đó. Như lò Nguyễn Đức có một lô ca sĩ họ Phương gồm Phương Hồng Loan, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc (Cẩm Hồng) hay trước đó là Hoàng Oanh có cả nghệ sĩ hài Thanh Hoài, Trần Tỷ.

Lò Tùng Tâm giới thiệu Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Trang Kim Yến rồi Chế Linh, Giang Tử.

Lớp nhạc Bảo Thu có Thanh Mai, Thanh Tâm sau này Kim Loan; Hoàng20Thi Thơ có Sơn Ca, Bùi Thiện, Họa Mi v.v…

Trở lại với Chế Linh, tuy quái kiệt Tùng Lâm có môi trường “ lăng xê” nhưng về chuyên môn dạy thanh âm cho ca sĩ lại “mù tịt”; qua đó đã liên kết với nhạc sĩ Bảo Thu và Duy Khánh đào tạo hay lăng xê Chế Linh trở thành một danh ca như từng đào tạo lăng xê ra những Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Trang Kim Yến…

Vì từ lò Bảo Thu ( còn là ảo thuật gia Nguyễn Khuyến ) cùng Duy Khánh (khi đó ở chung cư Trần Hưng Đạo) đã cho “ ra lò ” nhiều ca nhạc sĩ như Quốc Dũng, Thanh Mai, Thanh Tâm, Kim Loan…

Việc liên kết giữa Tùng Lâm – Bảo Thu – Duy Khánh làm cho nhiều lò đào tạo ca sĩ bấy giờ lên cơn sốt, bởi ở đây có đủ môi tr ờng để các tài năng trẻ thi thố tài năng, Tùng Lâm có sân khấu đại nhạc hội, Bảo Thu có chương trình truyền hình; dạy thanh âm và cung cách biểu diễn. Chế Linh nhờ vào “ lò ” Tùng Lâm mà thành danh cho đến ngày nay.

Tuy nhiên ngoài những lò “ đào tạo ca sĩ ” nói trên cũng có những ca sĩ thành danh từ những phòng trà khiêu vũ trường, trong phong trào văn nghệ học đường, đại hội nhạc trẻ, những đoàn văn nghệ do chính quyền thành lập .

Như Vi Vân, Julie Quang, Carol Kim, Đức Huy, Ngọc Bích, Thúy Hà Tú ( Khánh Hà – Anh Tú ), Thanh Tuyền, hài có Khả Nang, Thanh Việt, Phi Thoàn, Xuân Phát…

Elvis Phương nổi danh từ lúc 1972 do Thanh Thúy khai thác phòng trà Queen Bee với ông Tuất ( sau thời kỳ Khánh Ly ), nhưng Elvis Phương đã tạo cho mình một chổ đứng lúc còn là học sinh cùng với ban nhạc trẻ học đường. Sau đó Elvis Phương đi hát cho nhiều phòng trà nhưng do không ai dìu dắt lăng xê đến nơi đến chốn nên vẫn chỉ là cái bóng của những đàn anh àn chị.

Khi Thanh Thúy khai thác Queen Bee, có nhạc sĩ Ngọc Chánh làm trưởng ban nhạc Shotguns cùng Cao Phi Long, Hoàng Liêm, Đan Hà; và hội nhập vào làng sản xuât băng nhạc 1972 .

Elvis Phương mới được biết đến từ đó ( 1969 ) . Tuy vậy Ngọc Chánh không cho mình đã tạo ra tên tuổi Elvis Phương, anh chỉ có công “ lăng xê ” còn giọng hát của Elvis Phương là do thiên phú hay từ môi trường văn nghệ học đường mà thành công.

Các lò đào tạo ca sĩ ngoài những môi trường để dễ dàng“ lăng xê ” gà nhà, nhưng muốn lăng xê một ca sĩ còn phải qua nhiều cửa ải khác, như tìm một nhạc phẩm thích hợp với giọng ca để ca sĩ chọn làm bài hát tủ như người ta thường ví đo ni đóng giày.

Bài hát tủ như khi nghe Phương Dung hát chỉ có bài Nổi Buồn Gác Trọ là nổi bật, nghe Túy Hồng biết đang hát nhạc của Lam Phương (cũng là chồng của Túy Hồng), nghe Thanh Thúy lúc nào cũng có bản Ngăn Cách của Y Vân, Thanh Lan với các ca khúc Bài không tên cuối cùng của Vũ Thành An hay Tình khúc… của Từ Công Phụng, Lệ Thu với Nữa hồn thương đau của Phạm Đình Chương, Thái Thanh thì chỉ có Dòng Sông Xanh nhạc Việt hóa của Phạm Duy, Khánh Ly ngoài những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, thường tìm cho mình con đường mới là hát nhạc tiền chiến của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Văn Cao. Phương Hồng Quế với Phố Đêm, Những chuyện tình không suy tư của Tâm Anh v.v…

Sau khi ca sĩ có những bài hát tủ, các lò còn phải nhờ báo chí viết bài ca tụng tán dương, bỏ tiền cho các tạp ch í lên ảnh bìa hay nhờ báo chí cho đứng tên một mục thường xuyên nào đó như phụ trách trang nhi đồng, giải đáp tâm tình, trả lời thư tín, nhưng các ông bầu đào tạo thường trao đổi ca sĩ cho nhau giữa các show truyền hình truyền thanh, vì ít tốn kém và hiệu quả, tạo đến tai nghe mắt nhìn cho khán thính giả một cách thực tế, được chú ý hơn.

Một Phương Hồng Quế có thời gian chiếm lĩnh trọn vẹn trên truyền hình, từ show này đến show khác, được phong tặng ” Tivi Chi Bảo “, giữ trang Vườn Hồng, Họa Mi trên báo Tin Điển, Chuông Mai, Trắng Đen, Đồng Nai, Hòa Bình cùng Phương Hồng Hạnh.

Nhưng ai có biết Nguyễn Đức đã bỏ ra bao nhiêu tiền để Phương Hồng Quế, Phương Hồng Hạnh dược như thế ?! Chị em Thanh Thúy, Thanh Mỹ giữ mục Trả lời thư tín trên báo Tiếng Dân, sau này cô em út là Thanh Châu trên báo Trắng Đen v.v..

Tất cả chỉ là cái tên trên báo, vì đã có người làm giúp viết giúp và lãnh tiền giúp, đó là những ngón nghề lăng xê ca sĩ từ các lò ” đào tạo ca sĩ “. Đa số các lò nhạc chỉ thích lăng xê ” nữ ca sĩ ” hơn nam vì có nhiều lý do, nhưng lý do dễ hiểu nhất đa số … các ông thầy đều có máu dê .

Có một giai thoại, người ta đồn một nhạc sĩ gốc mật vụ đệ tử Trần Kim Tuyến thời Ngô Đình Diệm, rất thích các nữ nghệ sĩ, muốn cô nào từ ca sĩ đến kịch sĩ là nhờ bọn đàn em mời về cơ quan hứa hẹn dành cho ho. nhiều ưu đãi trong nghề nghiệp với điều kiện cho ông ta được ” thưởng thức “, sau đó giữ bí mật chuyện giữa ông ta với nàng.

Chuyện bí mật đó là gì ? Trước đó tức trước khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, có lần ông nhạc sĩ mật vụ còn cao hứng đòi lấy một nữ nghệ sĩ làm vợ, khiến cô nàng sợ quá vọt trốn ra nước ngoài sống mấy năm mới dám về Sài Gòn hoạt động kĩch nghệ trở lại ( cũng nhờ ra nước ngoài mà sau này được trọng vọng thành người thân cộng ).


Không phải người nữ nghệ sĩ này không khoái ông sĩ quan mật vụ , mà không khoái khi nghe ông show bầu quái kiệt Trần Văn Trạch của “ Đại nhạc hội một cây ” nói đến tính bất lực của ông ta. Vậy mà sau này có những con thiêu thân “ ca sĩ mầm non ” đang bán phở hủ tíu chấp nhận cho ông ta được “thưởng thức” để có môi trường trở thành nữ danh ca ..

TOÀN CẢNH TÂN NHẠC MIỀN NAM

Bước vào những năm 63 – 70 của thập kỷ trước , phong trào Kich Dong Nhac va Nhạc trẻ bắt đầu xâm nhập mạnh , các ca khúc lãng mạn hay lá cải gần như chìm lắng nhường cho nh1c ngoại quốc được Việt hóa , lý do bộ thong tin & tâm lý chiến bấy giờ ra lệnh các nhạc phẩm VN phải có lời mang tính ca tụng người lính hay tính chiến đấu.

Những nhạc phẩm sặc mùi chiến tranh tâm lý chiến như Lính dù lên điểm, Người ở lại Charlie, Đám cưới nhà binh, Hoa biển, Anh không chết đâu em, Câu chuyện chiếc cầu đã gãy, Kỷ vật cho em, Mùa thu chết v.v.. ra đời. Loại Kich Dong Nhac , nhạc VN tâm lý chiến có Trần Trịnh viết cho Mai L7 Huyền lúc đó đang còn sống chung ( sau Mai Lệ Huyền lấy một đạo diễn trên Đài truyền hình số 9 rồi mới vượt biên ), hát cặp với Hùng Cường thuộc loại ăn khách.

Nhật Trường – Trần Thiện Thanh viết cho chính anh cùng với Thanh Lan; Còn Khánh Ly, Lệ Thu chỉ nỉ non hát những bài của Phạm Duy như Mùa Thu Chết, Kỷ vật cho Em, Giọt mưa trên lá… Còn các nhạc sĩ khác không có nhạc phẩm mới chỉ cho ca sĩ nhai đi nhai lại các bài hát cũ.
Image Vì vậy nhạc Pop Rock – Việt hóa ăn khách do không nằm trong lệnh của bộthong tin & tâm lý chiến. Những ca khúc trữ tình như Hởi người tình La-ra nhạc phim Dr.Zivago, Roméo Juliette, Giàn thiên lý đã xa, Khi xưa ta bé, Lịch sử một chuyện tình… được ra đời. Truoc do’ xuất hiện cùng những ca sĩ ban nhạc Black Caps , Les Vampires , Rockin Stars , The 46 , Fanatiques , Spotlights , va` phong trao` Viet Hoa’ như Phượng Hoàng , Mây Trắng ( Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang, Trung Hành, Elvis Phương ), CBC ( Bích Liên ), Crazy Dog ( Những đứa con của cặp nghệ sĩ Việt Hùng – Ngọc Nuôi với Ngọc Bích đầu đàn ),

Ba Con Mèo ( có Vi Vân, Julie và Mỹ Hòa ), Tú Hà Thúy ( Anh Tú, Khánh Hà, Thuy’ Anh ) và những ” thủ lãnh ” phong trào lúc đó là Nhac Tre : Trường Kỳ, Tùng Giang, Đức Huy , Kỳ Phát , Nam Lộc .


Nên phải nói rằng nền ca nhạc ở Sài Gòn từ những năm 60 đến 75 mới thực sự có nhiều điều để nói, vì trước đó thời Ngô Đình Diệm cấm mở khiêu vũ trường, nên sinh hoạt tân nhạc còn trong phạm vi thu hẹp chỉ có Đài phát thanh, Phòng trà và Đại Nhạc Hội. Trong thời gian này có Ban Thăng Long với Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Thanh, Thái Hằng, nhạc hài hước có Trần Văn Trạch, song ca Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết hay Thúy Nga với tiếng đàn phong cầm ( sau th nh vợ Hoàng Thi Thơ ) , Duy Trác, Bạch Yến, Thanh Thúy , Minh Hiếu , Phương Dung, Ánh Tuyết , Cao Thái…


Do thiếu hụt ca sĩ, các tay tổ chức Đai Nhạc Hội thường đưa vào các tiết mục múa của Lưu Bình, LB 0u Hồng, Trịnh Toàn, kịch nói chưa phát hiện ra Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, La Thoại Tân, Vân Hùng… chỉ có những nghệ sĩ gần đứng tuổi như Phùng Há, Bảy Nam, Năm Châu, Ba Vân, Bảy Nhiêu, Hoàng Mai, Anh Lân, Kim Lan, Kim Cúc, Túy Hoa, Xuân Dung hay cua-rơ Phượng Hoàng Lê Thành Cát kịch sĩ nghiệp dư chiếm lĩnh sân khấu cùng kịch sĩ đất Bắc như Lê Văn, Vũ Huân, Vũ Huyến…

Thời gian 1965 – 1975 giới thưởng thức tân nhạc bắt đầu chia khán giả cho từng loại ca sĩ :
- SVHS thì thích những giọng hát của Thanh Lan, Khánh Ly, Lệ Thu, Xuân Sơn, Anh Khoa, Jo Marcel, Sĩ Phú , Paolo Tuan , Elvis Phương bởi khi hát có chọn lọc nhạc phẩm mang tính nghệ thuat cao cấp .
Image - Đại đa số quần chúng lại thích nghe Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung, Thanh Tuyền, Túy Hồng, Nhật Trường, Thái Châu hát những nhạc phẩm bậc trung nẳm giữa nghệ thuật và thị hiếu.

Còn lại các ca sĩ như Chế Linh, Duy Khánh, Hùng Cường, Mai Lệ Huyền, Phương Hồng Quế, Sơn Ca, Giang Tử, Trang Thanh Lan, Thanh Hùng , Trang Mỹ Dung, Thiên Trang hát các bài được soạn theo kiểu tiểu thuyết lá cải như Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em, Đồi thông hai mộ, Rước tình về với quê hương … được giới bình dân ưa thích.

Cho nên giới sản xuất băng nhạc bấy giờ rất kén ca sĩ hat’ cho nhãn băng nhạc, nếu nhãn băng nhạc nào có những Lệ Thu, Khánh Ly, Elvis Phương , Paolo Tuan , Thanh Lan v.v… thì sẽ không có những Chế Linh, Giao Linh, Trang Mỹ Dung , Giang Tử, Duy Khánh v.v…
Image
Nữ Danh ca THANH LAN

Khán thính giả đã phân chia hạng bậc ca sĩ nhạc phẩm để thưởng thức . Ông bầu Ngọc Chánh liền cho ra nhiều nhãn hiệu băng mong chiếm trọn thị trường, vì làm băng nhạc phải nhạy bén với lớp người thưởng ngoạn do đã phân chia ra từng lớp :

- Shotguns dành cho lớp người có trình độ thưởng thức cao.
- Nhãn băng Thanh Thúy dành cho mọi tầng lớp khán thính giả.
- Nhãn băng Hồn Nước có Chế Li nh, Duy Khánh, Trang Mỹ Dung, Phương Hồng Quế v.v…
- Phục vụ thành phần cao niên hoài cổ có băng nhạc Tơ Vàng của Văn Phụng Châu Hà, quy tụ những ca sĩ di cư từ đất Bắc như Duy Trác, Châu Hà, Kim Tước, Thái Thanh, Sĩ Phú qua những nhạc phẩm tiền chiến của Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Từ Linh, Dương Thiệu Tước, Nghiêm Phú Phi, Phạm Duy, Phạm Đình Chương… vừa có nhạc tiền chiến vừa có nhạc hiện đại của những nhạc sĩ tên tuổi.
- Tầng lớp SVHS có nhãn bang hieu Shotguns, Khánh Ly, Jo Marcel để nghe nhạc phẩm Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Y Vân, Phạm Thế Mỹ, Nguyễn Ánh 9.

Giới bình dân có rất nhiều nhãn hiệu băng như Hoàng Thi Thơ, Họa Mi, Hồn Nước, Chế Linh, Âm Thanh, Trường Sơn, Nguồn Sống qua nhạc phẩm Châu Kỳ, Mạnh Phát, Anh Việt Thu, Đỗ Lễ, Trầm Tử Thiêng, Vinh Sử, Tú Nhi, Hàn Châu, Song Ngọc, Duy Khánh, Thanh Sơn, Y Vũ, Trần Trịnh, Tâm Anh, Đynh Trầm Ca…

- Nhạc trẻ có nhóm Trường Kỳ, Tùng Giang, Kỳ Phát đều có nhãn băng nhạc riêng, riêng kiosque của chị em Thúy Nga ( không phải vợ Hoàng Thi Thơ ) lúc đó chỉ chuyên sang nhạc đĩa nhac Ngoai Quoc nước ngoai` mang nhãn Selection hay Anna / Hon Hoang .
Thế giới ca nhạc Saigon VN đã phân chia thứ bậc theo sự thưởng ngoạn, ca sĩ cũng được phân chia ngôi thứ rõ ràng, đó là đặc tính của tân nhạc miền Nam ngày trước… thang’ 04 /1975 .

Thiên Việt

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

TẠ LỖI TRƯỜNG SƠN
Đỗ Trung Quân

Bài “Tạ lỗi Trường Sơn” Đỗ Trung Quân viết năm 1982, sau khi đi Thanh Niên Xung Phong về, đã qua chiến trường Campuchia, sau "Những bông hoa trên tuyến lửa". Bài thơ này được anh Hoàng Ngọc Biên và dịch giả Diễm Châu [ đã qua đời] đưa vào danh mục SẼ IN của nhà xuất bản Trình Bày với cái tên Chung Do Kwan. Nhưng sau đó dịch giả Diễm Châu mất, nhà xuất bản cũng bận nhiều cho việc biên dịch văn chương và tác giả bài thơ sống ở Việt Nam nên chưa chọn được thời điểm thuận tiện để in (dưới tên Chung Do Kwan như là một tác giả Châu Á là cách bảo vệ tác giả của nhà Trình Bày). Việc công bố nó sau 27 năm [ 1982- 2009] là chính tác giả công bố trên blog Chung do kwan của mình. Bài thơ viết khi 27 tuổi, 27 năm sau mới trình diện được .


Tạ Lỗi Trường Sơn
Đỗ Trung Quân (1982)

1.
Một ngàn chín trăm bảy mươi lăm
Các anh từ Bắc vào Nam
Cuộc trường chinh 30 năm dằng dặc
Các anh đến
Và nhìn Sài Gòn như thủ đô của rác
Của xì ke, gái điếm, cao bồi
Của tình dục,ăn chơi
“Hiện sinh – buồn nôn – phi lý!!!”
Các anh bảo con trai Sài Gòn không lưu manh cũng lính ngụy
Con gái Sài Gòn không tiểu thư khuê các, cũng đĩ điếm giang hồ
Các anh bảo Sai Gòn là trang sách “hư vô”
Văn hóa lai căng không cội nguồn dân tộc
Ngòi bút các anh thay súng
Bắn điên cuồng vào tủ lạnh, ti vi
Vào những đồ tiêu dùng mang nhãn Hoa Kỳ
Các anh hằn học với mọi tiện nghi tư bản
Các anh bảo tuổi trẻ Sài Gòn là “thú hoang” nổi loạn
Là thiêu thân ủy mị, yếu hèn
Các anh hùa nhau lập tòa án bằng văn chương
Mang tuổi trẻ Sài Gòn ra trước vành móng ngựa!!!

2.
Tội nghiệp Sài Gòn quá thể
Tội nghiệp chiếc cầu Công Lý
Có anh thợ điện ra đi không về
Tội nghiệp những “bà mẹ Bàn Cờ” của những ngày chống Mỹ
Lửa khói vỉa hè nám cả những hàng me
Tội nghiệp những người Sài Gòn đi xa
Đi từ tuổi hai mươi
Nhận hoang đảo tù đày để nói về lòng ái quốc
Có ai hỏi những hàng dương xanh
Xem đã bao nhiêu người Sài Gòn hóa thân vào sóng nước
Tội nghiệp những đêm Sài Gòn đốt đuốc
Những “người cha bến tàu” xuống đường với bao tử trống không
Tội nghiệp những ông cha rời khỏi nhà dòng
Áo chùng đen đẫm máu
Tội nghiệp những chiến trường văn chương, thi ca, sách báo
Những vị giáo sư trên bục giảng đường
Ưu tư nhìn học trò mình nhiễm độc
Sài Gòn của tôi – của chúng ta.
Có tiếng cười
Và tiếng khóc.

3.
Bảy năm qua đi với nhiều buồn vui đau xót
Một góc phù hoa ngày cũ qua rồi
Những con điếm xưa có kẻ đã trở lại làm người
giã từ ghế đá công viên để sống đời lương thiện
Những gã du đãng giang hồ
cũng khoác áo thanh niên xung phong lên rừng xuống biển
Tìm lại hồn nhiên cho cuộc sống của mình
Cuộc đổi thay nào cũng nhiều mất mát, hi sinh…

4.
Và khi ấy
Thì chính “các anh”
Những người nhân danh Hà Nội
Các anh đang ngồi giữa Sài Gòn bắt đầu chửi bới
Chửi đã đời
Chửi hả hê
Chửi vào tên những làng quê ghi trong lí lịch của chính mình
Các anh những người nhân danh Hà Nội sợ đến tái xanh
Khi có ai nói bây giờ về lại Bắc!!!
Tội nghiệp những bà mẹ già miền Bắc
Những bà mẹ mấy mươi năm còng lưng trên đê chống lụt
Những bà mẹ làm ra hạt lúa
Những năm thất mùa phải chống gậy ăn xin
Những bà mẹ tự nhận phần mình tối tăm
Để những đứa con lớn lên có cái nhìn và trái tim trong sạch
Bây giờ
Những đứa con đang tự nhận mình “trong sạch”
Đang nói về quê mẹ của mình như kẻ ngoại nhân
Các anh
Đang ngồi giữa Sài Gòn nhịp chân
Đã bờm xờm râu tóc, cũng quần jean xắn gấu
Cũng phanh ngực áo, cũng xỏ dép sa bô
Các anh cũng chạy bấn người đi lùng kiếm tủ lạnh ti vi, casette, radio…
Bia ôm và gái
Các anh ngông nghênh tuyên ngôn ”khôn và dại”
Các anh bắt đầu triết lý “sống ở đời”
Các anh cũng chạy đứt hơi
Rượt bắt và trùm kín đầu những rác rưởi Sài Gòn thời quá khứ
Sài Gòn 1982 lẽ nào…
Lại bắt đầu ghẻ lở?

5.
Tội nghiệp em
Tội nghiệp anh
Tội nghiệp chúng ta những người thành phố
Những ai ngổn ngang quá khứ của mình
Những ai đang cố tẩy rửa “lí lịch đen”
Để tìm chỗ định cư tâm hồn bằng mồ hôi chân thật

6.
Xin ngả nón chào các ngài
“Quan toà trong sạch”
Xin các ngài cứ bình thản ăn chơi
Bình thản đổi thay lốt cũ
Hãy để yên cho hàng me Sài Gòn
Hồn nhiên xanh muôn thưở
Để yên cho xương rồng, gai góc
Chân thật nở hoa.
Này đây!
Xin đổi chỗ không kì kèo cho các ngài cái quá khứ ngày xưa
Nơi một góc (chỉ một góc thôi)
Sài Gòn bầy hầy, ghẻ lở
Bây giờ…
Tin chắc rằng trong các ngài đã vô số kẻ tin vào ”thượng đế”
Khi sống hả hê giữa một thiên đường
Ai bây giờ
Sẽ
Tạ lỗi
Với Trường Sơn?


Chuyện "gã khờ ngọng nghịu mãi... thành câm"
LTS: Sau khi về Hà Nội, phóng viên Huỳnh Phan cứ vẫn bị ám ảnh mãi về những câu chuyện mà Đỗ Trung Quân đã kể vào buổi tối Thứ Bảy đó. Phóng viên này đã quyết định thực hiện cuộc phỏng vấn qua điện thoại với vị thi sĩ kiêm chủ quán này.

Không ít quán do văn nghệ sĩ mở đã phải đóng cửa sau một thời gian, khi mối quan tâm của bạn bè, hay sự hiếu kỳ của người hâm mộ, vơi dần. Anh có nghĩ về điều này không?

Người ta mở quán phải chấp nhận bù lỗ khoảng 6 tháng. Nhưng cho tới giờ, Ziều Đỏ từ huề đến lỗ rất ít. Đó là sự may mắn trong điều kiện kinh tế như thế này.

Lý do là sự quan tâm của bạn bè mình là có thật. Anh em ở thành phố (Sài Gòn), ở nước ngoài, hay ở dưới tỉnh lên, đều muốn gặp mình.

Tuy nhiên, khi kinh doanh, anh sẽ bớt lo lắng khi số lượng khách lạ bằng, hoặc lớn hơn, bạn bè. Gần đây, đã có không ít khách lạ, những người mình chưa gặp bao giờ.

Mục đích mở quán của anh? Sau gần cả cuộc đời người "ham chơi, ham vui", như bạn bè nhận xét vui về anh, không phải là anh mới chợt giật mình "giác ngộ" rằng đã đến lúc phải tu tỉnh làm ăn nghiêm túc?

Thế chàng nghĩ Quân xưa nay không làm ăn nghiêm túc à? Thử nói hộ xem có cái gì Quân không làm nghiêm túc. Từ tham gia Thanh niên Xung phong, làm thợ nhà in, đến làm thơ, viết báo, rồi MC âm nhạc...

Chỉ mỗi chuyện học hành dở dang là do thời cuộc đổi thay (Đỗ Trung Quân đang học dở dang Đại học Vạn Hạnh thì Sài Gòn giải phóng, và phải nghỉ học).

Xin lỗi anh... Làm nghiêm túc mà cứ như đi chơi như anh thì đúng là quá siêu.

(Cười) Chàng biết là không ai làm giầu từ cái tuổi của Quân cả, và Quân cũng không hy vọng trở thành tỷ phú từ cái quán này. Bởi điều đó đơn giản là hoang tưởng, và cũng trái với triết lý sống của Quân.

Mục tiêu mở quán của Quân là để gia đình mình không phải quá lo lắng về chuyện chợ búa hàng ngày. Còn một chút lời (lãi) thêm của riêng Quân là có một chỗ để tiếp bạn bè.

Mình còn đâu nhiều thời gian, đã sắp sang cái khúc "em ơi, sáu mươi năm cuộc đời" rồi, chàng ơi.

Anh không ngồi với bạn bè ở "Ziều Đỏ" thì cũng ngồi ở chỗ khác. Vậy ngồi với bạn bè ở đây khác với ngồi cùng họ ở những quán khác như thế nào?

Câu hỏi hay. Nếu mình đi nhậu chỗ khác với bạn bè, thì đó là chuyện vui vẻ bên bàn nhậu. Còn bạn bè đến quán mình, thì mình còn có một trách nhiệm ngầm nữa là chăm sóc bạn bè cho chu đáo.

Gần đây, bạn bè nói rằng những câu nói cửa miệng của Quân đã thay đổi hoàn toàn, ra dáng ông chủ quán ra phết. Toàn là "bạn ăn có ngon miệng không", "chỗ ngồi có thoải mái không", hay "quán phục vụ có tốt không"...
Image
Phần "lời" thêm của Quân khi mở quán, ngoài chuyện rau dưa hàng ngày, là được chăm sóc bạn bè.

Còn với khách lạ thì sao?

Cũng vậy thôi. Ai đến quán của Quân, Quân đều chăm sóc chu đáo cả.

Có điều, thói quen ân cần đó đôi khi cũng làm một số vị khách có vẻ không vui lắm.

Lại còn thế nữa? Đúng là "làm rể trăm họ"...

Có mấy người đến ăn uống, lại cứ nhè chuyện báo chí, chuyện xã hội để hỏi. Quân quen miệng chỉ hỏi lại, thức ăn có ngon không, chỗ ngồi có thoải mái không... Mặt họ tự nhiên xịu xuống.

Kệ chứ, ở đây không có nhà báo Đỗ Trung Quân, chỉ có chủ quán Đỗ Trung Quân thôi.

Họ giận rồi có "một đi không trở lại" hay không?

Có đôi chút. Nhưng, có lẽ, họ vẫn thương lão già đã tuyên bố "gác kiếm" mà chuyển sang nghiệp "dao thớt" dối già, nên đôi ba hôm sau lại thấy trở lại. Vẫn ăn, vẫn uống, và khi "tưng tưng", vẫn hỏi lại những câu hỏi cũ... Dễ thương quá trời!

Sau mấy tháng làm chủ quán, ngoài việc "cắt được cơn nghiện nói dóc", cuộc sống của "gã mải chơi" Đỗ Trung Quân có gì khác không?

Cũng hơi ngạc nhiên là hầu như không thay đổi.

Lúc sáng tới đây, tôi có được nghe hết những bài hát phổ thơ của anh. Anh bắt đầu làm thơ từ hồi nào vậy, có như "thần đồng thơ" Trần Đăng Khoa không?

Xin bố! Quân bắt đầu làm thơ từ hồi tham gia lực lượng Thanh niên Xung phong Sài Gòn. Chứ hồi đi học, mình chỉ lo học cho giỏi thôi, vì sợ bị bắt lính. Chỉ làm "họa sĩ" cho tờ bích báo của trường thôi.

Ốm nhe ốm nhách như anh mà cũng vào TNXP à?

Sau 30.4.1975, mình phải nghỉ học, và đã phải đi kiếm việc làm phụ cho gia đình.

Lúc đó, mình 20-21 tuổi, gầy gò, tóc dài ngang lưng, trông như híp-py. Họ coi những thanh niên Sài Gòn như mình là đối tượng chậm tiến. Xin việc đâu người ta cũng hỏi: "Anh có nghiện xì ke không?"

Đã thế, địa phương thì vài tuần một lần lại kêu đi đào mương một đợt. Mình bực quá tuyên bố: "Nếu vậy tôi xin vào TNXP."

Hồi trước '75, ở quê Bọ Lập (Quảng Bình), bạn anh, người ta kể rằng có chú bộ đội cắt tóc cho bọ (ông già) bằng chiếc tông đơ cùn, chốc chốc tóc lại bị giật một cái, đau điếng. Bọ mới bảo rằng: Chú cắt thì cắt hẳn, còn nhổ thì nhổ hẳn, chứ vừa cắt vừa nhổ như vậy, bọ chịu không được.

Hồi đó, chắc anh cũng có cảm giác tương tự như vậy?

Mình nghĩ đơn giản là thực hiện xong cái nghĩa vụ lao động này mới có thể xin việc được. Quả vậy, sau sáu năm ở lực lượng này (1976-1982), mình mới xin được việc ở Nhà in Thanh niên.

Trong những năm tháng đó anh đã nảy ra ý định làm thơ là vì buồn, vì cô đơn?

Chàng nên hiểu bối cảnh của TNXP Sài Gòn hồi đó. Đang lao động thì năm 1978 có chiến tranh biên giới với Căm-pu-chia, bọn mình liền được điều động phục vụ chiến trường, tiếp tế đạn dược, tải thương... Sau giải phóng Phnôm-Pênh (1.1979) bọn mình mới được rút về, đi lao động tiếp.

Những hình ảnh đó khác hẳn với cách nhìn hồi đó với dân Sài Gòn. Mình làm thơ vì cái nhu cầu muốn nói cho mọi người biết "chúng tôi không phải như mọi người vẫn nghĩ".

Bài thơ đầu tiên của anh?

Mình không nhớ. Ngay cả bài thơ đầu tiên được đăng báo Tuổi Trẻ mình cũng không nhớ.

Chỉ nhớ bài thơ "Những bông hoa trên tuyến lửa". Bởi khi nó được đăng, có một sự rúng động đối với thanh niên Sài Gòn lúc đó, và nhiều thanh niên đã đăng ký đi TNXP, để bảo vệ Tổ Quốc.

Hoàn cảnh ra đời của bài thơ?

Mình làm bài đó sau khi tiểu đội nữ TNXP bị Khmer Đỏ bắt sống, hãm hiếp và giết chết. Họ đã không thể chống trả vì trong tay không có vũ khí.

Tại sao họ không được trang bị vũ khí?

Có tới chín mươi phần trăm TNXP ở Sài Gòn là sinh viên, học sinh, và cả binh lính của chế độ cũ. Chàng hiểu vì sao rồi chứ?

Sau vụ tiểu đội nữ TNXP bị thảm sát, bọn mình mới được cấp súng để tự vệ. Và chính những người lính chế độ cũ đó đã dạy bọn mình cách bắn súng.

Khi gặp quân Khmer Đỏ, họ đã chiến đấu rất dũng cảm. Có những người được tặng huy chương, huy hiệu, bằng khen nữa.








Image
Đỗ Trung Quân với (cố) nhạc sĩ Bảo Phúc, người hình như chưa phổ nhạc cho bài thơ nào của anh.



Thế còn bài thơ "Bài học đầu cho con", mà Giáp Văn Thạch đã phổ nhạc thành bài hát "Quê hương" nổi tiếng?

Hồi năm 1986, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, bạn thời TNXP của mình, báo là chuẩn bị làm lễ thôi nôi cho cô con gái đầu lòng, bé Quỳnh Anh. Mình lúc đó làm công nhân xưởng in còn nghèo, nên đã làm bài thơ đó, gửi đăng trên báo Khăn Quàng Đỏ, làm quà tặng cho cô bé. Khi báo đăng, mình nhắn cho Ánh đi mua.

Giáp Văn Thạch đọc trên báo, thấy thích và đã phổ thành bài hát "Quê hương".

Trong bối cảnh phong trào vượt biên ở Sài Gòn vẫn tiếp tục, những người có trách nhiệm về tư tưởng - văn hóa trong chính quyền đã tìm cách phổ biến và sử dụng bài hát này với mục đích ngăn chặn bớt làn sóng di tản. Nhiều người biết bài "Quê hương" cũng một phần vì lý do đó.

Ít ai hồi đó biết rằng lời bài hát đó là dành cho một cô bé sắp đầy một tuổi, chứ chẳng dính dáng gì đến chuyện của người lớn cả.

Tức là ảnh hưởng của nó vượt ngoài cả ý tưởng ban đầu của tác giả bài thơ, cũng như tác giả nhạc.

Chính xác.

Thế còn bài "Chút tình đầu" mà Vũ Hoàng phổ nhạc thành bài "Phượng Hồng", anh viết trong hoàn cảnh nào? Nhận được thiếp cưới của "mối tình đầu"?

Giỡn hoài. Có một hôm, mình nhớ cũng vào năm 1986 đó, mình đến Báo Tuổi Trẻ, nằm ở đường Lý Chính Thắng, để lĩnh nhuận bút một bài thơ được đăng. Mình đến vào lúc hết giờ làm việc buổi sáng, nên đành phải chờ đến đầu giờ chiều.

Trong lúc ngồi uống trà đá vỉa hè, mình thấy mấy bác công nhân nhặt những cành hoa phượng, do họ vừa chặt xuống, bỏ vào giỏ xe chở đi. Và cái tứ của bài thơ tự nhiên hiện ra.

Mình chỉ việc "nhấc" bác công nhân ra khỏi yên xe, và đặt cô nữ sinh mặc áo dài trắng lên đó. Kỷ niệm thời đi học quay trở lại, và cứ thế tuôn ra.

Có phải đạo diễn Lê Hoàng đã được nghe câu chuyện này nên đã gọi anh là "cướp" (trong bài báo "Đỗ Trung Quân: Triết gia pha Cướp biển") không?

(Cười) Xạo. Cướp xe đạp là loại cướp vặt, làm sao so với cướp biển được. Có lẽ, cha đó nghiền phim về cướp biển nên thấy bạn bè thằng nào có cái mặt hao hao thì gọi chơi vậy thôi.

À, tôi nhớ rồi. Vì bài viết đó mà anh phải lên tiếng trên báo, vì các "còm sĩ" đã "ném đá hội đồng" vào anh. Họ chẳng nhận xét về thơ mà chỉ xoay quanh cái chuyện "cướp biển" và "triết gia".

Thực ra, về vế thứ hai, tôi thấy Lê Hoàng rất có lý. Bởi, theo tôi, các nhà thơ luôn triết lý về cuộc đời theo cách riêng của họ.

Chẳng hạn, tôi rất thích những câu như "Em như hạt mưa trên phố xưa/ Nuôi kỷ niệm bám hoài trí nhớ/ Kỷ niệm như rêu.../ Giẫm vào anh trượt ngã" (Khúc mưa). Mỗi lần nghe bài hát này (Phú Quang đã phổ nhạc), đến những câu đó, tôi lại suy nghĩ miên man đủ thứ.

Hay câu "... đâu để vết thương anh rỉ máu hai lần" (Những bông hoa trên tuyến lửa). Bởi nó như sự gợi ý cho những suy ngẫm, chẳng hạn, về công cuộc "hàn gắn vết thương chiến tranh" thời hậu chiến. Đã có bao vết thương đã rỉ máu hai lần...

Hoặc, trong bài thơ "Chút tình đầu" của anh có một câu thơ, theo tôi, là rất đắt. Đó là "có gã khờ, ngọng nghịu mãi... thành câm". Làm anh phóng viên ở cái tuổi ngoại ngũ tuần rồi, chiêm nghiệm cũng nhiều, tôi thấy nó đúng quá.

Mình hiểu. Nhưng mình lúc đó cũng chỉ nói tâm trạng thật của một kẻ đang yêu thầm nhớ trộm, chứ không hiểu theo cách mà nhà báo Huỳnh Phan bây giờ đâu. Dù sao cũng cám ơn chàng.

Tôi từ lâu cũng rất thích lời bài "Phượng Hồng", và cứ nghĩ lời bài hát cũng của Vũ Hoàng. Chính vì vậy, hồi năm 2006, tôi cùng người bạn là Vũ Bình, nguyên là Tham tán tại Mỹ và hiện là Đại sứ tại Hy Lạp) cùng viết một loạt bài bình luận về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới trên báo Sài Gòn Tiếp Thị, tôi đã chọn cái bút danh chung là Vũ Hoàng (Vũ Bình - Hoàng Ngọc).

Thậm chí, để cho cẩn thận, tôi còn hỏi cô Thu Hà, phóng viên văn hóa báo Tuổi Trẻ về nhạc sĩ này.

Thế Thu Hà có bảo chàng rằng tên thật của anh chàng nhạc sĩ là Vũ Bảo Hoàng không?

Chuyện là thế này. Sau phổ nhạc, Vũ Bảo Hoàng có kể lại với mình rằng một trong hai người phải đổi tên, vì ở Hội Nhạc sĩ thành phố họ xì xào rằng Bảo Hoàng mà đi với Trung Quân đúng là sặc mùi phong kiến.

Không biết chuyện đúng bao nhiêu phần trăm sự thật nữa, nhưng mình dứt khoát không chịu đổi tên. Thế là anh ta phải đổi thành Vũ Hoàng.

Có phải vì sợ nhạy cảm nên nhạc sĩ này mới đổi "có gã khờ ngọng nghịu mãi thành câm" thành "có gã khờ ngọng nghịu đứng làm thơ" không? Nghe đúng là hơi "ngọng".

Có lẽ, do cảm nhận thơ của Vũ Hoàng là như vậy, chứ không phải là chuyện "nhạy cảm" gì đâu. Hồi đó chưa có luật bản quyền, nên cũng chẳng có trao đổi gì giữa người phổ nhạc và nhà thơ. Bài hát đã nổi tiếng rồi, mọi người hát thành quen, muốn đổi lại cũng khó.

Nhiều người, trong đó có tôi, cũng thắc mắc là tại sao anh lại dùng cái nick rất Hàn Quốc là Chung Do Kwan. Con người anh, trộm vía, may ra chỉ gợi nhớ tới củ sâm "còi" của Hàn Quốc thôi.

Anh già rồi, thời thượng như thế làm gì, để phải chịu đựng người đời ném đá? Cái tên Đỗ Trung Quân cũng rất hay mà?

Chớ có đùa. Cái tên "Chung Do Kwan" là một kỷ niệm rất đáng nhớ với mình.

Chả là, sau khi rời TNXP về Sài Gòn năm 1982, mình có viết bài "Tạ lỗi Trường Sơn". Bài thơ này được anh Hoàng Ngọc Biên và dịch giả Diễm Châu chọn đưa vào danh mục "sẽ in" của Nhà xuất bản "Trình Bày" với cái tên "Chung Do Kwan", tức là một dịch giả châu Á. Còn lý do thì chàng hiểu chứ?

Vâng ạ. Thế rồi bài thơ có được in không?

Không. Sau đó, dịch giả Diễm Châu mất, nhà xuất bản cũng bận nhiều cho việc biên dịch văn chương, nên bài thơ này cuối cùng cũng không in được. Mình vừa mới công bố bài này trên blog của mình, sau 27 năm im lặng.

Xin cảm ơn anh.
Image
Quán Ziều Đỏ của nhà thơ Đỗ Trung Quân

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Nhà văn Nguyễn Mộng Giác qua đời, thọ 73 tuổi


WESTMINSTER (NV) - Theo tin từ gia đình, nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã từ trần lúc 10 giờ 15 phút tối ngày 2 tháng 7 năm 2012 tại tư gia,
thành phố Westminster, Orange County, thọ 73 tuổi. Ông qua đời để lại vợ, bà Nguyễn Khoa Diệu Chi, và ba con, hai gái một trai.

Image
Nhà văn Nguyễn Mộng Giác.

Nhà văn Nguyễn Mộng Giác sinh ngày 4 tháng 01 năm 1940 tại Xuân Hòa, huyện Bình Khê, bây giờ đổi thành huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Ðịnh. Thời kháng chiến chống Pháp 1946 đến 1954, ông đi học tiểu học và trung học tại vùng kháng chiến. Sau Hiệp định Genève 1954, tiếp tục học tại trường trung học Cường Ðể, Quy Nhơn, trường Võ Tánh, Nha Trang, rồi học năm chót của bậc trung học tại trường Chu Văn An, Sài Gòn. Ông tốt nghiệp thủ khoa Ðại Học Sư Phạm ban Việt Hán tại Huế năm 1963. Ông dạy tại trường Ðồng Khánh, Huế hai niên khóa, rồi đổi vào Qui Nhơn làm hiệu trưởng trường Cường Ðể, rồi làm Chánh sở Học chánh tỉnh Bình Ðịnh cho đến năm 1974 thì vào Sài Gòn làm chuyên viên nghiên cứu giáo dục tại Bộ Giáo Dục.

Nhà văn Nguyễn Mộng Giác bắt đầu viết văn tương đối muộn, khi đã 30 tuổi. Từ năm 1970 ông cộng tác với các tạp chí Bách Khoa, Văn, Thời Tập, Ý Thức. Có lần ông đã phát biểu rằng thời điểm xuất hiện trên văn đàn rất quan trọng đối với nhà văn. Nếu một người cầm bút xuất hiện ở lứa tuổi mười tám đôi mươi thì mọi chuyện như quá trình sáng tác hay tư tưởng sẽ diễn tiến bình thường. Còn những người bắt đầu viết văn chậm như ông thì sẽ rơi vào hiện tượng tuy mới vào làng nhưng mình lại không thuộc giới những nhà văn trẻ nữa, mà cũng không thể thuộc vào lớp lớn cùng lứa với mình, vì “tuổi nghề” mình còn mới mẻ.

Trong thời kỳ đầu, các sáng tác của ông có khuynh hướng hiện thực, với những truyện ngắn như Bão Rớt, Tiếng Chim Vườn Cũ, Qua Cầu Gió Bay... Truyện dài Ðường Một Chiều, kể một vụ án mạng mà người phạm tội không biết là mình phạm tội, được giải thưởng Văn Bút của Việt Nam Cộng Hòa năm 1974.

Biến cố miền Nam sụp đổ năm 1975 đã làm gián đoạn việc sáng tác của ông. Từ năm 1977 đến 1981 trong khung cảnh đổi chủ của miền Nam, nhà văn Nguyễn Mộng Giác cầm bút trở lại, mượn chuyện lịch sử để diễn tả một xã hội đang thay đổi sau khi một chế độ chính trị chấm dứt: Trường thiên tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ ra đời, mượn bối cảnh thời Quang Trung để nói về sự đổi đời ngày nay.

Vừa viết xong Sông Côn Mùa Lũ, nhà văn Nguyễn Mộng Giác cùng con trai vượt biên vào tháng 11 năm 1981. Chuyến vượt biển thành công, ông đã đến được đảo Kuku của Indonesia, và bắt đầu viết lại ngay với một tâm trạng hoàn toàn tự do và giải thoát. Sau mấy tháng ở tại đây, ông đã hoàn tất những truyện ngắn mà sau này xuất bản thành cuốn Ngựa Nản Chân Bon và tập I của trường thiên tiểu thuyết Mùa Biển Ðộng.

Tháng 11 năm 1982 ông đến Hoa Kỳ, định cư tại Nam California, tám năm sau bảo lãnh được vợ và hai con gái qua Mỹ, đồng thời ông cũng “đoàn tụ” được với bản thảo tác phẩm mà ông đã hoàn tất chín năm trước tại Việt Nam: Trường thiên tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ.

Tại hải ngoại, thời kỳ đầu ông cộng tác với các báo Ðồng Nai, Việt Nam Tự Do, Người Việt, Văn, Văn Học Nghệ Thuật. Từ 1986 ông làm chủ bút tạp chí Văn Học, một tạp chí uy tín quy tụ nhiều cây bút văn học hải ngoại và cả trong nước. Ðến tháng 8 năm 2004, ông phải ngưng làm báo Văn Học vì phát giác mình bị ung thư gan.

Nguyễn Mộng Giác là một nhà văn quan trọng và hiếm hoi của Việt Nam, đã ghi lại được một cách sống động qua tác phẩm của mình tính chất xã hội vào thời điểm trước và sau khi miền Nam đổi chủ 1975. Và đặc biệt đây là nhà văn gần như duy nhất đã có tác phẩm giá trị ngay trên đường vượt biên, là chứng nhân văn học của cuộc vượt thoát vĩ đại đi tìm tự do của dân tộc Việt Nam vào cuối thế kỷ 20.

Post Reply