Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

12 DÂN BIỂU HOA KỲ GỞI THƯ KÊU GỌI NGOẠI TRƯỞNG CLINTON
ÁP LỰC HÀ NỘI THẢ TS NGUYỄN QUỐC QUÂN

Vào ngày 10/7/2012 sắp tới, Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton sẽ ghé thăm Việt Nam trong dịp đi tham dự cuộc hội nghị Diễn Đàn Khu Vực ASEAN (ASEAN Regional Forum) tại Nam Vang.

Trước khi bà Ngoại trưởng Clinton đến VN, 12 Dân biểu Hoa Kỳ bao gồm chủ tịch Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện Quốc Hội HK, đã gởi thư để kêu gọi bà quan tâm đến tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam.

Lá thư đặc biệt nêu lên trường hợp của Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân, nhà hoạt động nhân quyền người Mỹ gốc Việt bị Hà Nội bắt giam và cáo buộc tội khủng bố vì các tài liệu đấu tranh ôn hòa trong máy tính xách tay khi ông về tới sân bay Tân Sơn Nhất hôm 17/4.

Lá thư nhấn mạnh rằng mối quan hệ hợp tác giữa VN - Hoa Kỳ không bền vững được nếu ngày nào chính quyền Hà Nội vẫn xem các hoạt động chính trị ôn hòa là vi phạm an ninh quốc gia.

Image
Bà Hillary Rodham Clinton
Ngoại Trưởng
2201 C St NW Ste 7276
Washington DC 20520
Chúng tôi được biết Bà sẽ đi Đông Nam Á trong tháng này để tham dự hội nghị Diễn Đàn Khu Vực ASEAN cũng như dự các cuộc họp khác. Chúng tôi kêu gọi Bà trong các cuộc gặp gỡ với viên chức cao cấp Việt Nam, hãy nêu vụ tiếp tục bắt giam công dân Hoà Kỳ, Ts. Nguyễn Quốc Quân, và áp lực để ông được thả ngay lập tức và vô điệu kiện.

Tiến sĩ Quân đã bị bắt giam một cách tùy tiện kể từ khi ông xuống phi trường quốc tế Tân Sơn Nhất tại Tp. HCM, Việt Nam, ngày 17 tháng 4 năm 2012. Sau đó ông đã bị bắt giữ và buộc tội "khủng bố" cho dù ông chỉ đến Việt Nam để cổ võ dân chủ, pháp quyền và phương thức đấu tranh ôn hòa.

Tiến sĩ Quân là một nhà toán học và nhà bảo vệ nhân quyền có tên tuổi. Trong buổi điều trần gần đây trước Ủy Ban Nhân Quyền Tom Lantos, vợ của Tiến sĩ Quân đã phát biểu:
"Anh ấy tin rằng sự thay đổi phải đến từ chính người dân và bằng những phương thức ôn hoà, và Anh đã trở về Việt Nam nhiều lần để đóng góp phần bé nhỏ của mình."

Hà Nội đang muốn làm đồng minh chiến lược với Hoa Kỳ. Tuy nhiên mối quan hệ hợp tác đó không bền vững được nếu ngày nào chính quyền Hà Nội vẫn xem các hoạt động chính trị ôn hòa là vi phạm an ninh quốc gia.

Rất tiếc, cách hành xử của chính quyền Việt Nam đối với Tiến sĩ Quân phù hợp với xu hướng chung của vấn đề nhân quyền tại nước này. Như Bà cũng đã biết, Bộ Ngoại Giao gần đây đã công bô" Bản Báo Cáo Nhân Quyền, trong đó ghi rằng tại Việt Nam, "Những vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất tại Việt Nam bao gồm những giới hạn chặt chẽ của nhà nước về quyền chính trị của công dân, nhất là quyền thay đổi chính thể; việc gia tăng các biện pháp hạn chế quyền tự do dân sự; và tình trạng tham nhũng trong hệ thống tư pháp cũng như bộ máy công an. Các vi phạm cụ thể về quyền con người tại Việt Nam bao gồm tình trạng công an ngược đãi những nghi can trong lúc bị giam cầm, đàn áp gây chết người, cũng như điều kiện hà khắc trong tù, tùy tiện bắt những nhà hoạt động chính trị, và việc khước từ quyền được xét xử công bằng của công dân."

Chúng tôi đặc biệt quan ngại rằng nhà cầm quyền Việt Nam đã không cho phép Tiến sĩ Quân có luật sư, và việc ông tiếp tục bị biệt giam.

Chúng tôi kêu gọi Bà nêu trường hợp của Tiến sĩ Quân ở cấp cao nhất khi gặp nhân viên chính quyền Việt Nam và ra chỉ thị đến Đại sứ Shear đi thăm Tiến sĩ Quân ngay để bảo đảm sự an toàn của ông.

Trân trọng,

DB Frank R. Wolf
DB Edward R. Royce
DB Ileana Ros-Lehtinen
DB Gerald E. Connolly
DB Zoe Lofgren
DB Loretta Sanchez
DB James P. Moran
DB Daniel E. Lungren
DB Michael M. Honda
DB Brad Sherman
DB Edward J. Markey
DBMichael E. Capuano



TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Ván bài vùng Vịnh của Iran đã định hình
Đáp lại lệnh cấm vận dầu của EU bằng việc phô diễn sức mạnh quân sự, nhắc lại đe dọa đóng cửa Eo Hormuz, Iran đang đánh tín hiệu cho phương Tây rằng họ sẽ không cam chịu làm một nạn nhân thụ động của cuộc chiến kinh tế.

Tuần qua các quan chức Iran đã đưa ra những tuyên bố cứng rắn đối với việc Mỹ tăng cường lực lượng ở Vịnh Ba Tư bằng một cuộc diễn tập bắn tên lửa ba ngày. Tổng tư lệnh lực lượng không quân Quân đoàn vệ binh cách mạng Hồi giáo Iran, Chuẩn tướng Amir Ali Hajizadeh, nói rằng tất cả các căn cứ quân sự của Mỹ trong khu vực đang nằm trong tầm bắn của tên lửa Iran.

Cuộc tập trận Nhà tiên tri vĩ đại số 7 kết thúc một ngày sau khi “cuộc họp kỹ thuật” giữa Iran và “5+1” kết thúc như dự kiến mà không đem lại một kết quả có ý nghĩa nào.
Image
Các tàu chiến của Iran trong một cuộc tập trận ở eo biển Hormuz. Ảnh: AFP

Mỹ đã cử hai chuyên gia hàng đầu về vấn đề phổ biến vũ khí là Gary Samore và Robert Einhorn, đến cuộc họp nói trên và tỏ ra cam kết với kênh goại giao này. Tuy nhiên người Iran lại không tin rằng Mỹ và các đồng minh phương Tây nghiêm túc muốn đạt được một thỏa hiệp. Đặc phái viên của Iran tại Tổ chức năng tử lượng quốc tế (IAEA), Ali Asghar Soltanieh, đã nhận xét rằng: "một số nước không nghiêm túc trong thương lượng”.

Thậm chí tại nước Mỹ, đang ngày càng nhiều lời phê phán cách tiếp cận của phương Tây đối với Iran, với các nhà bình luận trì trích chính phủ các nước phương Tây đã không dành cho Iran một phần thưởng hữu hình nào để đổi lấy những nhượng bộ mà Tehran đang sẵn sàng đưa ra về vấn đề làm giầu uranium của họ.

Nhà lý thuyết quan hệ quốc tế Kenneth Waltz cũng đã công khai bảo vệ quyền chính đáng của Iran trong việc phát triển một kho vũ khí hạt nhân để cân bằng với việc Israel độc quyền hạt nhân gây mất ổn định ở khu vực.

Độ tin cậy của phương pháp cưỡng chế của phương Tây với Iran đã bị suy yếu và việc tuyên truyền của Mỹ hoặc Israel cũng không thể che giấu sự thật này. Dưới ánh sáng của tình hình ở Vùng Vịnh ngày một nóng hơn, phương Tây sẽ càng thấy khó che đậy chiến lược chống Iran cứng nhắc và thiếu linh hoạt của mình.

Cuộc đấu trên Eo Hormuz

Lo ngại đối với điều luật sắp tới của quốc hội (Majlis) Iran kêu gọi đóng cửa Eo Hormuz, ít nhất là đối với các tầu chở dầu trên đường tới các nước chấp nhận lệnh trừng phạt của Mỹ, Hải quân Mỹ đã tăng cường sự hiện diện của mình ở Vịnh Ba Tư.

Mỹ đã tăng gấp đôi số tầu quét mìn tại vùng biển khu vực lên tám chiếc trong mấy tuần gần đây, cùng một số phi đội máy bay tiêm kích F-22 và F-15 được triển khai đến các khu vực gần các căn cứ quân sự của Mỹ. Những lực lượng này được giao nhiệm vụ giữ cho Eo Hormuz mở trong trường hợp Iran tìm cách đóng nó lại hoặc can thiệp vào việc chuyên chở dầu qua Eo biển.
Image
Tàu sân bay và trực thăng Mỹ trên eo biển Hormuz. Ảnh: AFP
Luật về đóng cửa Eo Hormuz, do Ủy ban an ninh quốc gia và đối ngoại của quốc hội soạn thảo, đã được 100 đại biểu ký (trong tổng số 290) và đang được chuẩn bị đem ra bỏ phiếu trước quốc hội. Nếu được thông qua như dự kiến, điều luật này sẽ thúc đẩy các tư lệnh quân đội Iran phải mạnh dạn hơn trong việc lựa chọn "sức mạnh cứng" để đáp lại các biện pháp trừng phạt của Mỹ.

Một giải pháp quân sự cho cuộc khủng hoảng hạt nhân của Iran dường như là hiện thực hơn bao giờ hết, báo trước một khả năng mong manh tác động đến giá dầu và sức khỏe của nền kinh tế thế giới

Mỹ và các đồng minh phương Tây đang đánh cược rằng Iran sẽ không có hành vi gây rối trong Vùng Vịnh, đơn giản chỉ là do họ không cân sức trong bất kỳ xung đột nào. Tuy nhiên, cách suy luận này dựa trên một giả định sai lầm rằng Iran sẽ bị tê liệt vì các biện pháp trừng phạt và không thể đánh lại. Điều này chỉ chính xác với Iraq dưới thời cựu tổng thống Saddam Hussein trong một thập kỷ rưỡi trước khi Iraq - bị suy yếu đáng kể do các biện pháp trừng phạt – trở thành mục tiêu của một cuộc xâm lược.

Một số vị "diều hâu" ở Iran nói rằng Mỹ và các đồng minh đã chính thức tuyên bố "chiến tranh kinh tế" chống Iran và do đó Tehran cần có phản ứng cứng rắn. Điều này có thể xảy ra dưới các hình thức như nhằm vào các lợi ích của phương Tây trong khu vực, phá hoại ổn định ở Vùng Vịnh, hoặc ủng hộ các lực lượng chống NATO ở Afghanistan.

Tehran có thể quyết định nhắm vào các tàu chở dầu nước ngoài trong một chiến lược tương tự như chiến tranh du kích trên biển, trong khi duy trì chính sách bên miệng hố chiến tranh đâu lại sức mạnh vượt trội của quân đội Mỹ. Các biện pháp khác có thể là đẩy nhanh chương trình làm giàu uranium của mình, thậm chí có thể vượt quá giới hạn 20% plutonium để đạt được mức chế vũ khí, hay giảm hợp tác với IAEA và thậm chí rút lui khỏi Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT).

Iran có lý khi tính toán rằng nước Mỹ, với nền kinh tế đang rướm máu do can thiệp quân sự vào Iraq và Afghanistan, chưa sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh mới có tác động ngay lập tức đến túi tiền của người tiêu dùng Mỹ thông qua việc giá dầu tăng cao, đặc biệt là trong năm bầu cử.

Theo một giáo sư Đại học Tehran: “Thông điệp của Iran gửi Tổng thống Obama là rất rõ ràng: Chúng tôi không phải là một Iraq và đã học được một bài học đúng từ cuộc xâm lược của Mỹ ở Iraq sau khi làm cho Iran chảy máu nhiều năm”. Và “hầu hết người Iran là những người dân tộc chủ nghĩa. Họ sẽ ủng hộ chính phủ trong trường hợp xảy ra cuộc đối đầu quân sự với “chú Sam”.

Tuy nhiên, cho đến nay danh sách dài gồm 20 nước được miễn trừ trừng phạt do nhập khẩu dầu của Iran đã chiếm đến 80% thị trường dầu của nước này, chứng tỏ có lực cản lớn đối với nguy cơ chiến tranh. Điều này tạo cho Iran một sự đảm bảo tạm thời rằng động mạch cho nền kinh tế của họ sẽ không bị tắc. Lệnh miễn trừ này của chính quyền Obama sẽ được xem xét 6 tháng một lần, tức sau bầu cử tổng thống ở Mỹ vào tháng 11, với mục đích kiềm chế cuộc khủng hoảng Iran. Trong trường hợp Mỹ quyết định rằng cần trừng phạt hầu hết hoặc tất cả các nước đang được miễn, thì Mỹ sẽ gặp phải sự phản đối nghiêm túc từ những nước đó.

Phản ứng của Iran cho đến nay vẫn kiềm chế bởi họ tin rằng vẫn có những sơ hở đáng kể trong các biện pháp trừng phạt để các nước lách luật của Mỹ. Rõ ràng là nếu các nước phương Tây không thay đổi chính sách với Iran, thì cuộc đấu sẽ diễn ra theo kịch bản của Tehran.

Phạm Ngọc Uyển (theo Asia Times)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Khi Chữ Sợ Đang Dần Dần Biến Mất

Tác giả : Lê Nguyên Bình
Sau gần một năm bị đè nén, phong trào biểu tình đã tái lập thành công trên đường phố Hà Nội và Sài-gòn. Sự kiện hàng trăm người có thể xuống đường trở lại ở Hà Nội và Sài-gòn là một dấu hiệu đáng khích lệ, dù sự thành công này phần nào bao gồm sự "nới lỏng có chủ ý và kiểm soát" của nhà cầm quyền. Với kinh nghiệm cũ và tình hình mới, đợt biểu tình lần hai hứa hẹn nhiều diễn biến khác hơn phong trào xảy ra vào đúng một năm trước.

Chủ quyền đất nước không thể giữ được bằng sự lên án suông, hay các hình thức phản đối mang tính biểu trưng. Lịch sử thế giới, và ở cả nước ta, chứng minh rằng: Lãnh thổ quốc gia chỉ được bảo vệ thành công khi có quyết tâm của cả dân tộc, kể cả những hy sinh bằng xương máu khi cần thiết. Trong bối cảnh chính trị phức tạp hiện nay, chủ trương dùng vũ lực để đấu tranh bảo toàn chủ quyền nước nhà, hay để dân chủ hoá đất nước, có thể không phù hợp. Tuy nhiên, giới hạn đó không bắt buộc nhân dân Việt Nam phải tự bó mình trong các hình thức đấu tranh bị động, khi chính đảng cầm quyền cũng đang tự bó mình trong thế bị động đầy mâu thuẫn. Đấu tranh là phải có sức mạnh, và phải ở thế chủ động!

Chống xâm lăng là việc quốc sự và cần có sự lãnh đạo sáng suốt của chính quyền. Nhưng công cuộc chống xâm lăng có hiệu quả hay không là tuỳ thuộc vào quyết tâm của đa số nhân dân. Nhà nước CSVN sẽ không thể thuyết phục được công luận khi chính họ không thể hiện được một thái độ dứt khoát đối với Trung Cộng; và cứ tiếp tục bắt bớ, ngăn trở những công dân yêu nước bày tỏ nguyện vọng chính đáng của mình. Thái độ lưng chừng của nhà cầm quyền biểu hiện điểm yếu của những người lãnh đạo Việt Nam, và vì vậy không tạo được sự kiêng nễ của Trung Cộng. Tình trạng đó, cộng hưởng với nhu cầu "bảo hộ chính trị" một cách lộ liễu của đảng CSVN trong bối cảnh phong trào dân chủ hoá đang bùng dậy dưới nhiều hình thức... dẫn đến trình trạng nhà cầm quyền Trung Cộng xem thường những lời phản đối mang tính hình thức của nhà nước CHXHCNVN.

Sức mạnh lớn nhất để ngăn chận sự bành trướng của Trung Cộng trên đất liền và biển Đông của Việt Nam là một quyết tâm to lớn và sắt đá của cả chính phủ và nhân dân Việt Nam. Trung Cộng có thể bắt chẹt đảng CSVN nhưng không thể trấn áp cả dân tộc Việt Nam. Có thể nói, chính quyền nào biết dụng sức dân để bảo vệ đất nước, thì chủ quyền nước đó mới có thể được bảo vệ đúng nghĩa và đúng mức.

Đối với phía quốc tế, Việt Nam đã bắt đầu có được một số yếu tố thuận lợi đáng chú ý, đặc biệt là khi Hoa Kỳ công khai khẳng định chiến lược ở vùng Đông Nam Á. Nếu nhà nước CSVN sáng suốt và khôn ngoan đúng mức thì sẽ có thể vận dụng những yếu tố cộng hưởng này một cách hiệu quả cho công cuộc bảo toàn lãnh hải Việt Nam. Tất nhiên Hoa Kỳ sẽ không đánh nhau với Trung Cộng để bảo vệ chủ quyền trên biển của Việt Nam, song Việt Nam có thể vận dụng nhu cầu phát triển chiến lược của Hoa Kỳ ở khu vực biển Đông để tạo thế tương quan quyền lợi như là một ràng buộc mặc nhiên. Phi Luật Tân có thái độ cứng rắn, rõ ràng đối với Trung Cộng về vấn đề chủ quyền lãnh hải được là nhờ chính phủ này không bị lệ thuộc vào Trung Cộng. Chính sách của họ được Hoa Kỳ ủng hộ cũng là nhờ vậy. Yếu tố quan trọng này đáng để cho nhà cầm quyền và nhân dân Việt Nam học hỏi. Vận động thế quốc tế là vô cùng cần thiết song cũng cần phải cảnh giác: Không vận dụng được Hoa Kỳ trong thế trận biển Đông là điều dỡ, song ỷ lại vào sự bảo vệ tuyệt đối nào đó của Hoa Kỳ sẽ là một hy vọng hoang tưởng, ngây thơ.

Đấu tranh bất bạo động để bảo vệ chủ quyền quốc gia hay nhằm dân chủ hoá đất nước cũng đều cần có số đông to lớn, đầy nhiệt huyết và ý chí. Do vậy, dù vài trăm người biểu tình ôn hoà không thể ngăn cản được tình trạng Trung Cộng xâm lấn thô bạo chủ quyền Việt Nam trên biển Đông song quyết tâm của những người yêu nước là chất xúc tác cần thiết trong tiến trình giải quyết những vấn nạn lớn của đất nước. Khi nhà cầm quyền ra sức ngăn trở, giới hạn và thậm chí là bắt bớ, giam cầm những người tham dự biểu tình ôn hoà... thì chính sự kiện đó chứng minh rằng chế độ thừa biết là hiện có một số đông rất lớn khác đang sẵn sàng tham gia tranh đấu. Trong số đó, thành viên các tổ chức đấu tranh đã, đang và sẽ tiếp tục thúc đẩy, yểm trợ cho phong trào. Đó là bổn phận công dân đồng thời cũng là trách nhiệm đoàn thể. Khi thực tế chứng minh được rằng hiện có một tiềm lực hùng hậu sẵn sàng dấn thân đấu tranh chống xâm lăng, độc tài và bất công, thì vấn đề chỉ còn là thời gian và điều kiện để có một hoàn cảnh xúc tác thuận lợi.

Lịch sử Việt Nam từng ghi lại rằng nhân dân Việt Nam đã đứng lên chống lại làn sóng xâm lấn từ phương Bắc nhiều lần, và đều thành công. Đế quốc to lớn này có thể áp chế được nước ta trong một thời gian nào đó, nhưng đều không khuất phục được ý chí vùng dậy đòi độc lập của dân tộc Việt. Hiện nay, đảng Cộng sản Trung Hoa có thể lạm dụng ưu thế đối với đảng CSVN song rõ ràng là họ không đè bẹp được ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia của người Việt Nam. Do vậy, chắc chắn là thế giới sẽ tiếp tục chứng kiến tiến trình đấu tranh vì độc lập, chủ quyền và dân chủ, tự do của người Việt Nam.

Nhà cầm quyền đang lùi và phong trào đấu tranh đang từng bước tiến tới. Nhà cầm quyền có thể bắt vài chục người nhưng không thể bắt hàng trăm, hàng ngàn người yêu nước cùng một lúc. Chế độc độc tài có thể ngăn chận vài trăm người biểu tình song sẽ không dám trấn áp hàng ngàn, hàng chục ngàn người xuống đường cùng lúc. Thực tế cho thấy nhà cầm quyền CSVN đang rất lúng túng và mất tự tin. Họ thừa hiểu việc những người yêu nước phản đối Trung Cộng xâm lấn là đúng. Cho nên, mọi hành động ngăn chận, kể cả bắt bớ... đều chỉ ở hình thức cảnh cáo, tạm giam ngắn hạn...

Khi mọi giới, mọi thế hệ đều hăng hái xuống đường và công khai khôi hài hoá những cuộc tra hỏi, bắt bớ, tạm giam... thì chữ SỢ trong người dân đang dần dần biến mất. Một khi người dân không còn SỢ, hàng hàng lớp lớp người yêu nước chống nô lệ, độc tài, tham ô và bất công sẽ đứng dậy. Khi nhà cầm quyền tiếp tục làm những điều nghịch lý, bất nhân khiến nhiều người phẩn uất đến độ "nổi điên" lên, dám bất chấp hiểm nguy, hậu quả... thì ngày đó Việt Nam có thể cũng sẽ diễn biến như Bắc Phi, Trung Đông!

Lê Nguyên Bình
(ĐVDVN)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Người biết suy nghĩ, sẽ từ bỏ đảng Cộng Sản

Ngô Nhân Dụng


Trong số những người đi biểu tình chống Trung Cộng vào Chủ Nhật vừa qua, các bản tin và hình ảnh cho thấy rất nhiều người là viên Cộng Sản, một số vị là những nhân vật nổi tiếng.

Chúng ta rất kính trọng thái độ và hành động đó, vì họ can đảm công khai bày tỏ ý kiến ngược lại với những người cầm đầu đảng. Nhưng chúng ta không khỏi ngạc nhiên tự hỏi, tại sao cho đến giờ phút này quý vị đó vẫn còn là đảng viên?

Trong đảng Cộng Sản Việt Nam hiện có không biết bao nhiêu người đang chán ghét đảng, có người còn căm hờn đảng đã đánh lừa mình suốt một cuộc đời. Nhưng họ không thể dứt khoát từ bỏ đảng. Không ai nghiên cứu để biết được chính xác, nhưng tỷ số đảng viên cộng sản vừa chán vừa thù đảng; nhưng có thể rất nhiều, trên một nửa, hoặc cao hơn. Nhiều người đã phản đối thụ động bằng cách ngưng sinh hoạt. Và chờ đợi. Ở bên Nga, bên Ðông Âu hồi xưa cũng vậy. Người ta chán nhưng chưa quyết định từ bỏ vì không biết tương lai đảng còn ngồi trên đầu mình bao lâu.

Vì tâm lý chán ghét và thờ ơ chờ đợi tràn lan cho nên các đảng Cộng Sản Nga và Ðông Âu tan rã rất nhanh. Chỉ cần nghe một tin “bức tường Berlin sập đổ rồi” ở Ðông Ðức, hoặc “cuộc đảo chính chiếm tòa nhà trắng thất bại” ở Nga; hoặc nghe tin “Ceaucesscu bị xử bắn,” ở Rumanie, nghe tin “đảng đã hết thời” ở Hungary, ở Ba Lan, là hàng triệu đảng viên thở phào nhẹ nhõm, trút được một gánh nặng trong đầu, trong tim họ. Họ không còn phải đóng vai đồng lõa với bọn cường quyền vừa nhơ bẩn vừa bất lực, qua vai trò đảng viên vô vị, vô quyền của mình nữa.

Nhưng ở Việt Nam chúng ta chưa thấy triển vọng một biến cố nào giống như vụ tường Berlin hay cuộc đảo chánh ở Maskva. Chế độ Cộng Sản ở Bắc Kinh và Hà Nội đã rút được kinh nghiệm của các đàn anh bên Âu Châu. Họ sẽ không để cho những biến cố như vậy diễn ra. Cho nên không hy vọng có một cuộc thay đổi lớn lao bất ngờ như ở Ðông Âu và Nga. Trung Cộng cũng không khác gì Việt Nam.

Ông Ngụy Kinh Sinh, trong một lần đến trò chuyện với nhật báo Người Việt, đã nói rằng ông nghĩ đảng Cộng Sản Trung Quốc không thể nào tự thay đổi được. Bởi vì dù một hai lãnh tụ ở trên cùng muốn thay đổi, họ cũng không thể phá vỡ được cả guồng máy cán bộ quan chức chằng chịt từ trung ương đến các tỉnh, các huyện, các xã; tất cả đang sống với các đặc quyền, cao sang hơn người, nhờ được guồng máy đó nuôi dưỡng, bảo vệ. Do đó, Trung Quốc chỉ có thể thay đổi thể chế chính trị khi người dân phẫn uất nổi dậy, mà Ngụy Kinh Sinh tin rằng việc đó sớm muộn phải xảy ra. Ông tin ở dân tộc ông, ông tin người Trung Hoa không ngu mà cũng không hèn!

Tôi đồng ý với cách phân tích guồng máy quyền lực của đảng Cộng Sản của Ngụy Kinh Sinh. Nhưng là một người Việt Nam, tôi không quá bi quan như ông. Ðảng Cộng Sản Việt Nam có nhiều lỗ hổng, chứa nhiều nhược điểm, không cứng mạnh như Cộng Sản Trung Quốc. Tôi tin rằng trong số các đảng viên cộng sản có nhiều người không nằm trong guồng máy chia chác; và họ biết suy nghĩ, dám chống lại cả guồng máy. Họ cũng có khả năng mở đường cho một cuộc thay đổi lớn, bằng hành động của chính họ. Hành động đầu tiên có thể gây chấn động tâm lý là việc công khai, dứt khoát từ bỏ đảng, và hô hào các đảng viên khác từ bỏ đảng như mình!

Chỉ cần bình tâm suy nghĩ một chút thì đảng viên nào cũng thấy cần phải từ bỏ đảng.

Quý vị vào đảng Cộng Sản vì tin ở chủ nghĩa Mác, Lê Nin? Bây giờ còn ai tin tưởng ở các lý thuyết duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của ông Karl Marx nữa hay không? Khoa học ngày nay cống hiến biết bao phương pháp, kỹ thuật, mở ra bao nhiêu con đường cho chúng ta hiểu vũ trụ, hiểu lịch sử và xã hội loài người sống theo những quy luật nào. Tại sao mình phải tự bịt mắt, tự dối lòng mình mà đóng vai trò một anh ngu dốt mãi như vậy?

Còn ai thấy các lý thuyết của Lê Nin có ích lợi cho dân tộc mình, hay chỉ là cái gông xiềng buộc chặt lên đầu, lên cổ cả dân tộc? Chủ thuyết quan trọng nhất của Lê Nin là “Nhà nước và Cách mạng,” là dùng guồng máy nhà nước thực hiện cuộc “cách mạng vô sản”. Bây giờ ai cũng biết cuộc cách mạng đó không có thật. Giai cấp vô sản hiện nay đang bị bóc lột một cách triệt để dưới mối liên kết kiên cố giữa tư bản và nhà nước. Lý thuyết nhà nước làm cách mạng chỉ đưa tới một hậu quả là thiết lập một chế độ chuyên chế khắc nghiệt nhất trong lịch sử! Nhà nước càng ngày càng lớn, càng kiểm soát, kìm kẹp dân kỹ hơn, còn cách mạng chẳng thấy đâu cả! Tai họa của những nước Nga, Ðông Âu là chế độ chuyên chế đã làm cho kinh tế trì trệ rồi sụp đổ và đạo đức suy đồi. Họ đã cố thoát ra được, tại sao mình vẫn còn tin ở chủ nghĩa Lê Nin?

Tai họa của nước ta là do những người đã đem chủ nghĩa Mác Lê Nin vào đặt lên đầu lên cổ cả dân tộc. Từ đó, họ đã đi tới những lựa chọn sai lầm tàn phá đất nước, khi biết thì đã quá trễ. Tai họa thứ nhất là tổ chức kinh tế theo lối Liên Xô, mà hiệu quả ai cũng biết. Tai họa thứ hai là tổ chức chính quyền chuyên chế, lấy bạo lực, công an để bảo vệ quyền hành; nhưng sau khi đã dựng lên rồi thì chính guồng máy chuyên chế đó tự phát triển, tự bảo vệ nó; không thể nào nó tự thay đổi được nữa. Tai họa thứ ba là chủ trương gây thù hận, phương pháp dùng dối trá để củng cố quyền hành. Từ thói quen dối trá đó, cả xã hội suy đồi vì người lương thiện không thể sống được. Lựa chọn theo chủ nghĩa Mác Lê Nin đã tạo ra tất cả các tai họa trên.

Cũng vì theo chủ nghĩa Mác Lê Nin cho nên đảng Cộng Sản đã phạm sai lầm ngoại giao lớn trong việc chọn đồng minh; mà không nghĩ tới mối nguy hiểm trong tương lai. Trong cuộc gặp gỡ tay ba ở Maskva, khi Stalin nói ông ta trao hết cho Mao Trạch Ðông sứ mạng dìu dắt đảng Cộng Sản Việt Nam, thì lời phán đó quyết định số phận nước ta được đặt trong bàn tay Trung Cộng. Từ đó mới sinh ra những chủ trương học tập Mao Chủ Tịch, từ trên xuống dưới nhất nhất theo ý kiến các đồng chí “vĩ đại”. Vì vậy mới giết hàng trăm ngàn người vì cải cách ruộng đất; vì vậy mới sinh ra cái công hàm Phạm Văn Ðồng năm 1958. Từ đó mới ngậm miệng làm ngơ không dám phản đối Trung Cộng chiếm Hoàng Sa năm 1974.

Những sai lầm lịch sử đó, cứ coi như là tội lỗi của những thế hệ lãnh tụ đời trước. Nhưng có lý do nào các đảng viên cộng sản ngày nay cứ phải nhắm mắt chịu đựng các hậu quả tai hại trên đây mà không dám đòi thay đổi?

Người đảng viên cộng sản biết suy nghĩ phải bắt đầu bằng việc từ bỏ tất cả hệ thống tư tưởng Mác Lê Nin; cũng như nhiều người đang biểu tình phản đối cách lựa chọn đồng minh sai lầm trong quá khứ. Nhưng họ phải chính thức, công khai rút ra khỏi đảng Cộng Sản Việt Nam! Tại sao còn tiếp tục đứng làm bình phong, chịu đóng vai quân cờ; cho các lãnh tụ tham nhũng và bất lực ngồi trên đầu mình đua nhau cướp đất, cướp cơm của dân nghèo và chia nhau các chức quyền trong hệ thống doanh nghiệp nhà nuớc để bỏ túi hàng triệu đô la rồi chuyển ra nước ngoài?

Nhiều đảng viên cộng sản có lòng nhưng không từ bỏ đảng vì họ hy vọng sẽ giúp đảng thay đổi từ bên trong. Nhưng thử hỏi trong ba chục năm nay họ đã thay đổi được những gì? Từ thời ông Nguyễn Hộ, ông Trần Ðộ, đã bao nhiêu người thiết tha vận động việc thay đổi trong đảng. Nhưng tất cả đều vô ích. Bây giờ có ai có thanh thế, có uy tín hơn các ông đó để làm được giỏi hơn, có hiệu quả hơn họ hay không? Liệu những ông Nguyễn Hộ, ông Trần Ðộ thế hệ mới có cam chịu đóng vai “phản biện” một cách vô ích như vậy thêm 20 năm, 30 năm nữa hay không?

Cho nên các đảng viên cộng sản đã nhìn ra những sai lầm của đảng mình, nếu bình tâm suy nghĩ sẽ thấy chỉ còn một con đường là phải công khai, chính thức tuyên bố không chấp nhận đóng vai đồng lõa với băng đảng cầm quyền nữa. Một số người đông đảo và có danh tiếng tuyên bố từ bỏ đảng, họ có thể kêu gọi các đảng viên có lương tâm cùng dứt khoát rút ra khỏi đảng. Khi số người bỏ đảng đông hơn, gây thành một phong trào, các biện pháp trả thù và đàn áp của guồng máy sẽ mất hiệu lực. Các đảng viên khác sẽ không sợ hãi nữa.

Khi số đảng viên bỏ đảng tăng lên, họ có thể châm ngòi tạo ra biến cố trong đám đông dân chúng ngoài đảng. Người ta sẽ được giải phóng về tâm lý, những dân oan không còn cảm thấy sợ hãi nữa, giới thanh niên, trí thức, các người lãnh đạo tôn giáo, giới lao động sẽ cùng mạnh dạn đứng lên đòi các quyền tự do căn bản của mình. Người dân không chấp nhận nghe nói dối, nghe phỉnh phờ nữa. Một phong trào phản kháng bất bạo động như thế chắc chắn sẽ làm cho guồng máy cường quyền phải chịu thua. Lúc đó những ai còn thiết tha đến việc phục hưng đất nước trong thời “hậu cộng sản” sẽ có cơ hội phục vụ.

Chúng ta đang có cơ hội để thực hiện cuộc đổi đời này. Trên các mạng lưới đã xuất hiện bao nhiêu đảng viên viết lời chống lại đảng. Trong các cuộc biểu tình có các đảng viên cộng sản nổi tiếng tham dự. Một đảng viên ở bước đường cùng như Ðoàn Văn Vươn cũng phải buộc lòng chống cự bằng chất nổ. Lòng dân chán ghét và oán hận đang lên cao. Những phụ nữ như Trịnh Kim Tiến, Huỳnh Thục Vy đã phải đứng dậy lên tiếng. Không thể chờ đợi đến ngày “Mỹ sẽ giúp một tay” hay “Trung Quốc sẽ thay đổi”. Chính người Việt Nam có thể quyết định lấy số mạng của mình

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Súng đã nổ, biến tranh chấp đất đai thành mối ưu tiên của Việt Nam

Tác giả: Nick Heath

(Với sự trợ giúp của Nguyen Kieu Giang, Diep Ngoc Pham, Nguyen Dieu Tu Uyen và K. Oanh Ha ở Hà Nội. Biên tập viên: Adam Majendie, Lars Klemming)

Người dịch: Thủy Trúc
11-07-2012

Image
Nguyen Thi Thuong, vợ của nông dân Doan Van Vuon, đứng cạnh ngôi nhà của gia đình bị phá tại Hải Phòng,
nơi xảy ra vụ tranh chấp kết thúc bằng bạo lực vào ngày 04-02-2012. Photographer: Nguyen Hung, VnExpress/AP Photo


Đầu tiên là cảnh sát và những người đàn ông mặc đồng phục, sau đó tới màn đấm đá và xe ủi đất – bà Nguyen Thi Kiem nói. Trong vài giờ, nhà của bà và 165 người nữa đã bị san bằng – bốn đời nông trang trồng lúa bị san phẳng.

“Bọn họ đến đây đuổi chúng tôi đi” – bà Kiem nói về cảnh sát và những quan chức khác, những người đã đuổi dân làng đi để dọn đường cho một khu đô thị ngoại ô mới ở ngoại thành Hà Nội, ngày 24-4. “Nhà tôi họ cũng cướp mất. Bây giờ tôi chẳng còn gì”.

5 tuần sau, Kiem cùng hàng trăm nông dân mất đất trên toàn đất nước dựng trại, cắm lều dưới mưa, trước cổng các cơ quan nhà nước ở thủ đô Hà Nội, đấu tranh chống những cuộc giải phóng mặt bằng mà họ không được biết và thường dính líu đến nhằng nhịt những lời buộc tội tham nhũng và đền bù không thỏa đáng. Các cuộc biểu tình đã trở thành mối ưu tiên phải giải quyết đối với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, lấn át cả các vấn đề lao động đình công, lạm phát giá cả và phá sản doanh nghiệp, vốn đã làm đồng tiền mất giá tới 20% trong bốn năm.

“Đó là vấn đề mấu chốt, lấn át cả chuyện lạm phát và mất giá tiền tệ, vốn là các tồn đọng lớn nhất kể từ khi khủng hoảng tài chính xảy ra” – ông Carl Thayer, một giáo sư ở Học viện Quốc phòng Australia ở Canberra, từng nghiên cứu chính trị Việt Nam suốt 45 năm, nói. “Các nhà đầu tư nên lo ngại về tình trạng mất ổn định nói chung. Đối đầu đã bắt đầu”

Sau khi vụ tranh cãi ở Hải Phòng chấm dứt một cách bạo lực, ngày 10-2, website của Chính phủ trích lời Thủ tướng cho rằng quản lý đất đai không được tốt, và ông kêu gọi xét duyệt lại toàn bộ quy trình, thủ tục. Ngư dân (Người nuôi trồng cá) Đoàn Văn Vươn và gia đình ông đã bắn vào sáu sĩ quan công an và kích nổ một quả mìn tại nhà ông hôm 5-1, khi chính quyền địa phương cố gắng trục xuất họ.

Lao động đình công

Tranh chấp đất đai lại là một bước lùi nữa đối với Đảng Cộng sản, sau khi cuộc lạm phát với tốc độ trượt giá nhanh nhất châu Á năm ngoái làm nổ ra những cuộc đình công của người lao động tại các chi nhánh địa phương hoặc các đơn vị phân phối của hãng Honda Motor (7267), Panasonic (6752) và Adidas AG. Tăng trưởng kinh tế thấp dưới 4,5% trong hai quý đầu – thấp nhất kể từ năm 2009 – trong khi thị trường chứng khoán sụt giảm 17% tính từ đỉnh điểm ngày 8-5 năm nay.

“Là bộ phận cốt lõi của Đảng Cộng sản, nông dân có thể làm cho Bộ Chính trị phần nào lo sợ” – Ernest Bower, giám đốc chương trình Đông Nam Á, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế học ở Washington, nói. “Vụ mâu thuẫn về đất đai bùng nổ gần Hải Phòng vào đầu năm nay làm Đảng thực sự lo ngại. Đây là một tình huống không ai thắng, về mặt chính trị. Họ phải tiến lên, phải tiếp tục phát triển để củng cố năng lực cạnh tranh”.

Những hỗn loạn về kinh tế-xã hội đã góp phần vào đà sụt giảm 28% đầu tư trực tiếp nước ngoài trong nửa đầu năm 2012, từ hẳn một năm trước đó. Khi tiền công gia tăng ở Trung Quốc, Việt Nam bắt đầu cạnh tranh với Campuchia, Indonesia và các nước Đông Nam Á khác trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tìm đến những nơi chi phí sản xuất rẻ.

Thương vụ mua bán gỗ

Tháng 5. Tran Ngoc Anh, 46 tuổi, đi 1700 km từ tỉnh duyên hải miền Nam Bà Rịa Vũng Tàu ra Hà Nội để đấu tranh chống vụ cưỡng chế đất nhà bà xảy ra cách đây hai thập kỷ. Bà nói bà bắt đầu biểu tình từ năm 2001, sau khi phát hiện ra rằng một số quan chức địa phương đã đem một phần đất cho một công ty gỗ quốc doanh thuê, và bán nhiều phần đất cho các hộ dân khác.

Bà Anh bảo, bà từng bị công an đánh và bắt giam, sau một lần bà định tự thiêu trước cổng nhà thủ tướng vào năm 2009 “để cho ông ta thấy nỗi đau đớn mà người dân phải chịu”.

Ngày 13-6 tại Hà Nội, ông Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Quốc hội, cho các đại biểu biết rằng Thủ tướng Dũng đã yêu cầu các cơ quan chính phủ trong năm nay phải giải quyết tất cả 500 đơn thư khiếu nại đất đai còn tồn đọng. Theo ông Hùng, khoảng 80% số đơn từ khiếu nại gửi đến chính quyền là có liên quan đến tranh chấp đất đai. Bộ Ngoại giao phát biểu trong một bản fax trả lời phỏng vấn, rằng họ “chưa có thông tin gì” về bất kỳ vụ ngược đãi người biểu tình/ khiếu nại liên quan đến đất đai nào.

Bong bóng bất động sản

Theo số liệu của chi nhánh Việt Nam của Tập đoàn CBRE (CBG) – công ty môi giới bất động sản thương mại lớn nhất thế giới – nhiều vụ tranh chấp xoay quanh vấn đề đền bù, trong một thị trường nơi giá trung bình của các chung cư cao cấp ở Hà Nội, kể từ năm 2004 đến nay, đã bị tăng hơn ba lần.

Đền bù giải phóng mặt bằng là vấn đề gây sức ép nhất đối với các cấp chính quyền địa phương ở Việt Nam, theo một khảo sát năm 2010 do World Bank tiến hành, cho thấy hơn 80% dân số không hài lòng với các cách tính toán đang được áp dụng.

“Luật đất đai hiện nay không điều tiết nổi thị trường bất động sản đang biến động quá nhanh ở Việt Nam” – ông Eddy Malesky, phó giáo sư trường Quan hệ Quốc tế và Nghiên cứu Thái Bình Dương trực thuộc ĐH California, San Diego, nói. “Chỉ là người ta không có cách nào làm cho cái mức giá mà chính phủ ấn định (và bồi thường cho người dân dựa trên đó) phù hợp với giá cả thị trường”.

Mảnh đất từng làm ra lúa gạo cho bà Kiem và hàng xóm láng giềng của bà ở tỉnh Hưng Yên rồi sẽ bước vào giai đoạn tiếp theo là trở thành Ecopark, một khu đô thị với 20.000 biệt thự (villa) và căn hộ, trường học, cửa hàng, sân gôn, trên một diện tích lớn hơn cả Công viên Trung tâm New York.

Giá đền bù gia tăng

Năm nay bà Kiem 60 tuổi. Bà cho biết lúc đầu, bà được hứa hẹn đền bù mức giá tương đương 2,63 USD một mét vuông, sau đó giá tăng gấp ba lần, lên 7,18 USD.

“Họ không thể ép chúng tôi chấp nhận giá đó” – bà nói khi đứng ngoài cổng Trụ sở Tiếp dân Trung ương ở Hà Nội. “Giá như thế thấp quá. Rồi sau đó họ lại bán đất với giá cao gấp 100 lần”.

Theo thông tin trên một website, hồi tháng 5 năm ngoái, các căn hộ ở Ecopark được rao giá tối thiểu 886 USD/mét vuông, nhằm khuyến khích những người mua sớm. Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Việt Hưng, nhà đầu tư của Ecopark, từ chối trả lời phỏng vấn về dự án.

Báo Lao Động hôm nay đưa tin, công ty sẽ trả tới 200 tỷ đồng cho các gia đình tự nguyện giao đất cho dự án, ở khu làng gần nhà bà Kiem. Bài báo cho biết, toàn bộ tiền mặt, cộng với số tiền mà dân làng sẽ nhận được từ đền bù giải phóng mặt bằng, sẽ được dùng để giúp đỡ 2.397 hộ dân tái định cư, ổn định lại tài sản và mùa vụ.

World Bank (Ngân hàng Thế giới) cho biết, một số dự án đã không đền bù thỏa đáng và minh bạch, điều này làm tăng chi phí xây dựng, tăng rủi ro cho nhà đầu tư.

Website của World Bank viết: “Những tồn đọng rất lớn trong vấn đề giá đền bù đã dẫn tới tình trạng dự án bị trì hoãn, đẩy chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng lên rất cao. Khiếu kiện gây ra bất ổn xã hội kéo dài và làm giảm độ hấp dẫn của môi trường đầu tư ở Việt Nam”.

Những vụ biểu tình liên quan tới đất đai ở Việt Nam cũng phản ánh các vụ việc tương tự ở Trung Quốc. Ông Carl Thayer nhận định như vậy tại Học viện Quốc phòng Australia trực thuộc ĐH New South Wales ở Canberra.

Mâu thuẫn với Trung Quốc

Tháng 12 vừa qua, Tân Hoa Xã đưa tin Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tuyên bố Trung Quốc “không thể tiếp tục hy sinh quyền sở hữu đất đai của người nông dân”. Đình công, biểu tình và các hình thức phản đối khác ở Trung Quốc đã tăng gấp đôi, thành ít nhất 180.000 vụ trong thời gian từ năm 2006 tới năm 2010 – theo thống kê của Sun Liping, một giáo sư xã hội học ở ĐH Thanh Hoa (Bắc Kinh). Tranh chấp đất đai là nguyên nhân hàng đầu gây bất ổn xã hội ở Trung Quốc, theo một nghiên cứu chính thức hồi năm ngoái.

“Việt Nam theo dõi rất, rất thận trọng những gì đang diễn ra tại Trung Quốc” – ông Carl Thayer nói.

Tuy nhiên, năng lực của chính quyền Trung Quốc trong việc di dời người dân đi nơi khác để xây đường xá, đê đập và nhà máy đã góp phần tạo đà phát triển kinh tế nhanh chóng trong hai thập niên qua. Ông Adam McCarty, kinh tế gia trưởng của Mekong Economics ở Hà Nội, nhận xét như vậy.

“Ở Trung Quốc, trong vòng ba năm họ có thể hoàn thành một dự án lớn về cơ sở hạ tầng và dẹp tất cả các hộ dân nằm trong khu vực đó đi nơi khác” – McCarty nói. “Ở Việt Nam thì việc ấy phức tạp và chậm chạp hơn rất nhiều”.

Nguồn: BusinessWeek

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Liên Hợp Quốc chính thức coi việc tự do truy cập Internet là một quyền cơ bản của nhân loại
Theo đó, Nghị quyết này cho rằng tất cả mọi người, không phân biệt tầng lớp, tôn giáo, giới tính, độ tuổi, dân tộc….đều có quyền được truy cập Internet và tự do thể hiện suy nghĩ, quan điểm, góc nhìn của bản thân họ trên mạng thông tin toàn cầu này

Quang Khải

Được truy cập Internet và tự do thể hiện suy nghĩ của mình trên Internet có nên được công nhận là một quyền cơ bản của con người? Trong một Nghị quyết được thông qua vào hôm Thứ năm vừa qua (5/7), Hội đồng Nhân quyền của Liên Hợp Quốc đã nhất trí ủng hộ quan điểm này. Theo đó, Nghị quyết này cho rằng tất cả mọi người, không phân biệt tầng lớp, tôn giáo, giới tính, độ tuổi, dân tộc….đều có quyền được truy cập Internet và tự do thể hiện suy nghĩ, quan điểm, góc nhìn của bản thân họ trên mạng thông tin toàn cầu này. Tất cả 47 thành viên của Hội đồng Nhân quyền, bao gồm cả những quốc gia nổi tiếng trong vấn đề kiểm duyệt nội dung cũng như việc truy cập vào các website của người dùng như Trung Quốc, Cuba đều đặt bút kí vào bản Nghị quyết đầy ý nghĩa này.

Tuy nhiên, sự ủng hộ của Trung Quốc đối với bản Nghị quyết này đi kèm với một điều kiện rằng “Tự do thông tin và an toàn thông tin trên mạng Internet là hai vấn đề có quan hệ mật thiết và phụ thuộc vào nhau”. Bên cạnh đó, đại biểu của Trung Quốc Xia Jingge cũng cho biết rằng việc đặt bút kí vào bản Nghị quyết này không phải là một dấu hiệu cho thấy quốc gia này sắp sửa phá bỏ cái gọi là “Vạn lí tường lửa” (Great Firewall of China) - một hình ảnh ví von cho sự kiểm duyệt Internet nghiêm ngặt của quốc gia này.

Vấn đề này lần đầu tiên được khẳng định bởi một cơ quan thuộc Liên Hợp Quốc, Liên minh Viễn thông quốc tế (UIT) vào năm 2003. Mới đây, UIT đã bị chỉ trích kịch liệt sau khi phát sinh tin đồn rằng những quốc gia thành viên của Liên minh đang chuẩn bị bản dự thảo cho phép Liên Hợp Quốc có quyền kiểm soát nhiều hơn tới việc truy cập Internet của người dùng trước một hội nghị được tổ chức vào tháng 12 tới đây. UIT đã bác bỏ những tin đồn này.

Bên cạnh đó, việc coi được truy cập Internet là một trong những quyền cơ bản của nhân loại cũng được nhận được sự ủng hộ từ nhiều người nổi tiếng trên Internet; chẳng hạn như Tim Berners – Lee, người đã phát minh ra World Wide Web.

Hội đồng Nhân quyền là một cơ quan trực thuộc Liên Hợp Quốc theo dõi sự tiến bộ về quyền con người cũng như phát hiện ra những hành vi vi phạm những quyền cơ bản này trên tất cả các nước thành viên. Trước đây, tổ chức này đã gọi quyền tự do thể hiện quan điểm của bản thân của con người là “một trong những nền tảng thiết yếu” của một xã hội dân chủ và công nhận tầm quan trọng của Internet trong việc “thúc đẩy và bảo vệ quyền con người được tự do đưa ra những ý kiến và quan điểm này”.

Vào tháng 6 năm ngoái, trong một báo cáo khác của mình, Liên Hợp Quốc cũng đã coi được truy cập Internet là một quyền cơ bản của toàn nhân loại.

Theo: Genk.vn

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Đốt Đồ Made in China

Tác giả : Vi Anh
Trong khi Ngọai Trưởng Mỹ Hillary Clinton đi họp Diễn Đàn An Ninh Khu Vực ARF, ở Nam Vang (Miên), mạnh dạn tuyên bố ám chỉ Trung Cộng “đừng đe dọa trên Biển Đông”, giải quyết tranh chấp một cách "không áp đặt, không ức hiếp, không đe dọa và không sử dụng vũ lực". Thì tại Đồi Capitol, quí vị dân biểu nghị sĩ có uy thế của cả hai đảng phẩn nộ đòi đốt đồng phục, mũ của phái đòan Mỹ tham dự diển hành khai mạc Thế Vận Hội mặc khi biết những thứ này là “made in China.”

Thượng Nghị sĩ Trưởng Khối Dân Chủ Đa số ở Thượng Viện Harry Reid (D-Nev) nói trên truyền hình ABC News ngày 12- 7, “Tôi nghĩ chúng ta lấy tất cả đồng phục, chất thành đống và đốt và bắt đầu làm tới mãi.” TNS Reid còn nói nhắn gởi Ủy Ban Thế Vận hội Mỹ phải nên biết “hổ thẹn” và “bối rối” với những món hàng “made in China”, đặc biệt là đối với những người trong ngành kỹ nghệ dệt ở Mỹ đang kiếm việc làm.

Phản ứng phẫn nộ này lan truyền rộng ra hai viện của Quốc Hội và hai chánh đảng của Mỹ. Chủ Tịch Hạ Viện Mỹ, DB John Boehner, Cộng Hòa -OH., nói trên ABC News cũng ngày 12- 7, bày tỏ nỗi bất bình sâu sắc của Ông về màu cờ sắc áo của Mỹ lại “made in China.”

Còn Cựu Chủ Tịch Hạ Viện hiện là Trưởng Khối Dân Chủ Thiểu số ở Hạ Viện Mỹ, Bà DB Nancy Pelosi, (Dân Chủ, Calif), nói lực sĩ Thế Vận Hội của Mỹ đại diện cho những lực sĩ hòan hảo của Mỹ phải mặc đồng phục “made in USA”: “Họ là những người làm việc cực nhọc. Họ đại diện cho những người tuyệt hảo, họ rất tuyệt vời. Tất cả đều đẹp. Và phải được mặc đồng phục được làm tại Mỹ.”

TNS Kirsten Gillibrand, (DC-N.Y) và DB Rep. Steve Israel, (DC-N.Y) viết thơ cho Chủ Tịch Ủy Hội Olympic Mỹ, cho biết những phát giác này tạo thành một chấn động và bất mãn sâu sắc và yêu cầu phái đòan Olympic của Mỹ trong tương lại phải mặc đồng phục made in USA.

TNS Sherrod Brown, (DC-OH) có một dự thảo luật "Buy America" đang chờ xét ở Quốc Hội khuyến khích mua hàng hóa Mỹ, cũng viết thơ cho Ủy Hội yêu cầu hủy bỏ đồng phục made in China đi và kiếm một nhà sản xuất Mỹ nhờ làm lại đồng phục made in USA. Vị TNS này giải thích với Ủy Hội trong thơ, bằng giấy trắng mực đen, "Ủy Hội Thế vận Mỹ phát huy tinh thần và đạo đức rất cao, và không dung thứ cho việc lường gạt hay vi phạm qui luật. Nhưng Trung Quốc tiếp tục lường gạt khi đến với thương mại quốc tế. Khi chúng ta cố gắng tạo sân chơi công bình cho những nhà sản xưất Mỹ và công nhân, Ủy hội cần tìm một nhà sản xuất nội địa cho số đồng phục trong năm nay.”

Phản ứng đồng lọat của Quốc Hội Mỹ cho thấy Mỹ đã ý thức được tai họa nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà khi quá dễ dàng trong bang giao và giao thương, viện trợ kỹ thuật, đầu tư hào phóng giúp đỡ TC. Chẳng những đồng phục đại diện cho màu cờ sắc áo Mỹ trong Thế Vận Hội cũng made in China mà nhiểu di tích lịch sử Mỹ, cổ tích liệt hạng văn hóa Mỹ cũng để cho thầu TC bị TC tái tạo, sửa sang, vật liệu tư TC đem qua, công nhân từ TC đến làm.

Và đồ ăn thức uống, vật dụng, đồ chơi Mỹ đang xài cũng made in China, tràn ngập thị trường Mỹ tuy rẻ nhưng đa số là đồ độc, đồ giả hại sức khỏe tòan dân Mỹ và cướp việc làm của người Mỹ.

Người Mỹ đang “Chết với TC”. Tiến sĩ Peter Navarro, giáo sư ngành kinh thương của Đại học California ở Irvine (University of California Irvine), và viên phụ khảo của ông là Thạc sĩ Greg Autry chuyên gia về Trung Quốc Greg Autry khẳng định: “Hòa bình, thịnh vượng, và sức khỏe của thế giới đang đối mặt với mối đe dọa lớn nhất kể từ thời Đức quốc xã: (đó là) một đảng Cộng Sản Trung Quốc hùng mạnh, giàu có, thối nát và trở nên táo bạo hơn vì chủ nghĩa dân tộc cực đoan mỗi ngày một tăng.”

Hai vị có đề nghị một số việc mà chánh quyền và nhân dân Mỹ cần làm để chống lại những việc làm độc hại của TC. Như TC sản xuất, xuất cảng, bán rẻ mạt hàng hóa, đồ ăn thức uống độc hại giết dân chúng của các nước. Như sữa có độc chất melamine, quần áo trẻ em dễ cháy, thuốc aspirin có độc tố, thuốc Lipitor và Viagra giả, nước ngọt có arsenic, trà có chì, nôi trẻ sơ sinh dễ gẩy, điện thoại di động pin dễ nổ gây thương vong, vòng đeo cổ và đồ chơi có chất làm nghẹt thở, v.v...

Như TC ngầm phá hoại làm liệt bại nền kinh tế của các nước. TC luồn lách các qui qui định của WTO để thu lợi trong ngoại thương và bảo vệ kỹ nghệ nội địa, bằng cách tài trợ cho các công ty TC để cạnh tranh với các công ty ngoại quốc. Họ sản xuất hàng giả, hàng nhái. Họ kềm giá công nhân biến thành lao nô để giá thành hàng made in China thấp bán rẻ hẩu cạnh tranh thắng lợi Tây Phương.

Do đó Mỹ bị TC cướp nhiều việc làm. Theo Navarro và Autry, trong vòng 10 năm qua, Trung Cộng lấy đi của Mỹ mỗi năm 1 triệu công ăn việc làm. Trong 13.9 triệu người Mỹ đang bị thất nghiệp, có 10 triệu việc bị mất ở Mỹ vì chuyển sang Trung Quốc. TC cướp 40% công ăn việc làm của Mỹ. TC làm chết hơn 70% kỹ nghệ dệt của Mỹ. Từ khi TC vào WTO năm 2001, kỹ nghệ bàn ghế, hóa chất, giấy, sắt, bánh xe, của Mỹ phải đóng cửa phân nửa. Vì vậy thâm thủng mậu dịch hàng năm của Mỹ lên đến gần cả ngàn tỷ!.

TC còn dùng gián điệp người và tin tặc ăn cắp bí mật kinh tế, chánh trị, quân sự, khoa học kỹ thuật của Mỹ và các nước Tây Âu đã tốn hàng tỷ tỷ Đô la để nghiên cứu. TC ép buộc các công ty muốn vào làm ăn ở TC phải chuyển bộ phận nghiên cứu và phát triển đến đó và từ đó TC ăn cắp kỹ thuật. Google là trường hợp diễn hình.

TC đã đánh cắp bí mật khoa học kỹ thuật của Tây Phương, đặc biệt là của Mỹ để chế vũ khí tối tân trong đó có cả hoả tiễn có thể bắn hạ vệ tinh, tiêu diệt hàng không mẫu hạm của Mỹ, hay bắn sâu vào nội địa Mỹ.

Đô đốc Davor Domazet-Loso, Tham mưu trưởng Bộ Quốc phòng Croatia, nói làm máy bay tàng hình được vì đã mua lại mảnh của một máy loại này của Mỹ bị bắn rơi ở Serbia năm 1999.

TC giành thế hải thượng của Mỹ. Canh tân, hiện đại hoá hải quân, TC sắp đưa vào sữ dụng một hàng không mẫu hạm mua của Ukraine. TC có đội quân thứ năm, len lỏi trong số người Trung Quốc định cư ở hải ngoại từ lâu, một thế lực tài chánh khá mạnh, suốt từ San Francisco xuống tận Singapore. Và mỗi năm có 750,000 người Trung Quốc vào nước Mỹ.

Cái sai lầm của TC là những người cầm quyền của CS Bắc Kinh mười năm trở lại đây say sưa với sự trổi dậy của TC quên lời dặn của Ô Đặng tiểu Bình, một người nhiều kinh nghiệm luồn lách dể tồn tại và vươn lên thóat bàn tay tàn sát đối thủ của Mao Trạch Đông. Ô. Bình dặn dò hàng hậu bối khi đổi mới kinh tế, mở cửa cho dầu tư nước ngòai vào; Ông nói mèo trắng hay đen con nào bắt chuột được cũng tốt và TC phải núp sâu, giữ yên để phát triễn kinh tế.

Bây giờ Mỹ đã thấy cái nguy của sự trổi dậy của TC rồi. Mỹ đã chỉnh đốn nội bộ, Cộng Hòa lần dân Chủ hai đảng; Hành Pháp lẫn Lập Pháp hai ngành, chánh quyền và nhân dân Mỹ đều coi TC là đối thủ đáng gờm. Đối ngọai Mỹ tăng cường lực lượng và mở vòng vây bao TC ở Á châu Thái bình Dương rồi. Một đặc biệt của chánh quyển và nhân dân Mỹ là bất cứ thế chiến nào Mỹ cũng gia nhập rất chậm. Nhưng khi đã tham gia là dồn nỗ lực, có thắng chớ không có thua trong Thế Chiến 1, 2 và Chiến Tranh Lạnh vừa rồi.

daudua
Posts: 77
Joined: Sat Oct 10, 2009 6:05 am

Post by daudua »

Di họa của quá khứ

Ngô Nhân Dụng


Ngày Thứ Tư, 11 Tháng Bẩy 2012 vừa qua, hải quân tuần phòng Nhật Bản nhìn thấy ba chiếc tầu tuần duyên của Trung Cộng đi tới gần quần đảo Sensaku, người Trung Hoa gọi là Ðiếu Ngư Ðài, là nơi hai nước đang tranh chấp.

Ba chiếc tầu Trung Quốc chỉ xuất hiện thoáng qua (báo Economist viết là briefly). Chỉ có thế. Nhưng chính phủ Nhật Bản đã triệu đại sứ Trung Quốc tại Tokyo tới Bộ Ngoại Giao để chính thức phản đối hành động xâm phạm chủ quyền này. Tại cuộc họp của khối ASEAN ở Phnom Penh, Camphuchia, ngoại trưởng Nhật đã yêu cầu gặp riêng ngoại trưởng Trung Quốc để nhắc lại lời phản đối.

Chủ quyền của Nhật Bản trên các đảo Ðiếu Ngư không có căn bản vững chắc bằng chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhật chiếm các đảo Ðiếu Ngư này sau khi đánh thắng quân nhà Thanh năm 1895, cùng lúc cũng chiếm cả Ðài Loan. Khi Nhật Bản bại trận năm 1945, Mỹ đã trả Ðài Loan lại cho Trung Quốc; nhưng Ðiếu Ngư Ðài vẫn coi như thuộc quần đảo Okinawa của Nhật, do quân Mỹ quản trị. Khi Mỹ ký hiệp ước chấm dứt việc quản trị Okinawa, Nhật Bản coi Sensaku thuộc nước mình. Cả chính phủ Ðài Loan lẫn Bắc Kinh đều không chịu, coi Ðiếu Ngư thuộc lãnh thổ Trung Quốc.

Cuộc tranh chấp về Sensaku đã kéo dài hơn nửa thế kỷ, chưa biết bao giờ mới chấm dứt; mà người ngoại cuộc cũng không thể đồng ý với nhau là bên nào có lý. Hai chính quyền Trung Quốc và Ðài Loan cũng như Nhật Bản đều “hưu chiến.” Nhưng chính phủ Nhật Bản đã hành xử đúng với tư cách một quốc gia tự trọng. Hễ thấy đối phương xúc phạm đến chủ quyền của nước mình thì phản đối ngay, với các hành động ngoại giao mạnh mẽ, quyết liệt. Người Việt Nam có thể so sánh mà cảm thấy tủi hổ về các hành động rụt rè, nhút nhát của chính quyền cộng sản Việt Nam trong hàng chục năm qua, mỗi lần tầu Trung Cộng xâm phạm hải phận Việt Nam, bắt cóc ngư dân Việt Nam, vân vân. Gần đây, trước lòng dân phẫn nộ, chế độ cộng sản đã phải đổi giọng, lâu lâu nói những lời cứng rắn. Ðó chỉ là những lời nói suông nhằm xoa dịu lòng dân phẫn uất; còn trong hành động thì họ vẫn né tránh, không dám cưỡng lại các “đồng chí anh em” Trung Cộng.

Gần đây một lãnh tụ cấp trung đã tuyên bố rất hăng, nói ông ta sẽ cương quyết chống lại Trung Cộng nếu xâm phạm vùng biển thuộc thành phố Ðà Nẵng. Ðây cũng chỉ là một lời nói “không tốn tiền,” với mục đích mị dân. Người dân dốt đến đâu cũng biết: Một thành phố không có lính tráng, không hải quân, không cả một đoàn tầu tuần duyên, thì lấy sức đâu ra chọi với quân xâm lược?

Người dân Nhật lại được tự do bày tỏ thái độ chống Trung Quốc. Thông thường, chủ quyền kinh tế trong vùng biển chung quanh các hòn đảo chỉ được quốc tế công nhận kéo ra xa vài trăm cây số nếu trên hòn đảo có dân cư sinh sống. Cho nên một gia đình người Nhật, Kurihara, trong thập niên 1970, đã mua bốn trong số 5 hòn đảo ở Sensaku, để chứng tỏ họ đang có dự án sinh nhai tại chỗ. Một số thanh niên Nhật Bản yêu nước đã tự động kéo nhau đến Sensaku, mang theo hai con dê thả đó cho sống, coi như đang thực sự khai thác hòn đảo này. Ông Shintaro Ishihara, thị trưởng Tokyo đã bày tỏ ý muốn mua lại các hòn đảo từ tay gia đình Kurihara cho thành phố; với mục đích thúc đẩy chính phủ Nhật phải đưa hải quân ra bảo vệ. Lời hô hào của ông Ishihara được dân Nhật ủng hộ, người ta tự nguyện góp tiền cho thành phố Tokyo mua đảo, số tiền lạc quyên được đã lên tới 1.3 tỷ yen; tương đương với 16.4 triệu đô la Mỹ. Từ bao lâu nay, người dân Nhật Bản bày tỏ lòng yêu nước như vậy, không một người nào bị công an ngăn cấm, bắt bớ khi biểu tình chống Trung Cộng; giống như Huỳnh Thục Vy bị bắt cóc ở Sài Gòn, chở ra Quảng Nam, rồi lại thả về. Không một blogger nào bên Nhật Bản bị công an bắt hỏi cung về những bài phản đối Trung Cộng.

Tại sao người dân Việt Nam lại chịu khốn khổ như vậy? Một lý do là đảng Cộng Sản Việt Nam lỡ nằm trong giọ của Trung Cộng rồi, không cựa quậy được. Từ thời Hồ Chí Minh đã trót theo Trung Cộng, đã thần phục Mao Trạch Ðông, bắt cả nước theo bác Mao ngay từ năm 1950. Bây giờ tất cả đảng cộng sản bị há miệng mắc quai.

Hồ Chí Minh đã ca tụng công ơn của Stalin, Mao Trạch Ðông tại Ðại hội Toàn quốc Ðảng (Lao Ðộng) tại Việt Bắc vào tháng 3 năm 1951. Hồ nói, tất cả các chiến sĩ Việt Nam kháng chiến chống Pháp lúc đó đều liều chết là nhờ “giác ngộ chủ nghĩa cộng sản” và được các đồng chí vĩ đại khuyến khích. Các lời tuyên bố của Hồ Chí Minh đã được một phóng viên của tờ Học Tập liên khu 4 ghi lại nguyên văn như sau: “Ông Mao ở cách đây mấy nghìn dặm. Còn ông Staline thì xa những muôn dặm... Ông theo dõi từng bước cuộc chiến đấu cách mạng của chúng ta.” Hồ Chí Minh không hề nói tới lòng yêu nước thương nòi, mà đó mới là động cơ chính thúc đẩy các thanh niên Việt Nam hy sinh chiến đấu. Tấm lòng trung thành với Mao Trạch Ðông và Trung Cộng được tiếp diễn đến những năm cuối đời, năm nào Hồ Chí Minh cũng sang Trung Quốc nghỉ dưỡng bệnh rất lâu để được các bác sĩ và hộ lý Trung Cộng săn sóc.

Một hậu quả của thái độ thần phục và tinh thần nô lệ đó là bức công hàm của Phạm Văn Ðồng năm 1958. Ngày 4 tháng 9 năm đó chính quyền Bắc Kinh đã phát hành bản “Công bố của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa về lãnh hải.” Ðoạn đầu viết rất rõ ràng: “Lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa rộng 12 hải lý. Quy định này áp dụng cho toàn bộ lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, bao gồm Trung Quốc đại lục cùng với duyên hải của các hải đảo, với Ðài Loan cùng..., quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa...”

Chính phủ Bắc Kinh liệt kê tên các đảo quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa của nước ta), Nam Sa (Trường Sa của nước ta), coi như thuộc nước Tàu hết. Vậy mà, mười ngày sau, ông Phạm Văn Ðồng ký công hàm gửi Chu Ân Lai viết rằng chính phủ cộng sản Việt Nam “ghi nhận và tán thành” bản công bố đó; lại nói sẽ “tôn trọng quyết định ấy” và ra lệnh các cơ quan nhà nước “triệt để tôn trọng và thi hành” vân vân.

Bây giờ, mỗi lần có tranh chấp về Hoàng Sa và Trường Sa, Cộng sản Trung Quốc chỉ cần đưa bức công hàm của Phạm Văn Ðồng ra để bịt miệng!

Năm 1992 ông Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên bộ trưởng Bộ Ngoại Giao, họp báo tại Hà Nội giải thích rằng: “Các nhà lãnh đạo của ta lúc trước xác nhận về Hoàng Sa và Trường Sa như vậy là do theo Hiệp Ðịnh Genève năm 1954 về vấn đề Ðông Dương thì tất cả lãnh thổ từ vĩ tuyến thứ 17 trở vào Nam là thuộc chính quyền miền Nam, kể cả hai quần đảo này.” Ông Cầm quên một điều này: Sau năm 1954, Hiến Pháp cả hai miền Nam, Bắc đều định nghĩa nước Việt Nam từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, và họ tự có quyền trên cả nước Việt Nam chứ không phải chỉ có một nửa lãnh thổ. Nếu lý luận như ông Cầm thì ví thử bản Công bố về hải phận năm 1958 của Trung Cộng ghi tên Phú Quốc, Côn Sơn thuộc vào nước họ, đảng cộng sản Việt Nam cũng gật đầu “ghi nhận và tán thành” nốt hay sao?

Hồ Chí Minh, Phạm Văn Ðồng đã di họa cho dân tộc Việt Nam, vì họ tôn thờ chủ nghĩa Cộng sản. Ðối với người Cộng sản theo một chủ nghĩa quốc tế, thì không cần đến quốc gia, dân tộc nữa. Hồ Chí Minh viết: “...Nhân dân Việt Nam ta luôn hướng về Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại và coi Liên Xô là Tổ quốc của cách mạng, Tổ quốc thứ hai của mình” (Hồ Chí Minh toàn tập, Hà Nội, năm 2000, tập 11, trang 166). Ông cũng ngưỡng mộ Mao không khác; các cố vấn Trung Cộng viết hồi ký kể rằng trong nhiều trận đánh việc chọn một ngọn đồi làm mục tiêu chiến thuật ông Hồ cũng thỉnh thị ý kiến Mao Trạch Ðông trước khi ra lệnh tấn công.

Tinh thần nô lệ các “đồng chí anh em” Trung Cộng đã gây ra phản ứng ngược ngay trong đảng Cộng sản. Chịu không được nỗi nhục đó nên sau năm 1975 Lê Duẩn phản phúc, chống Trung Cộng triệt để, tuyên bố nước Nga mới là tổ quốc thứ hai. Ðiều này Lê Duẩn cũng chỉ lập lại lời Hồ. Năm 1990, Liên xô tan rã, viện trợ cạn kiệt, đảng Cộng sản Việt Nam trước nguy cơ sụp đổ phải quay trở lại xin thần phục Bắc Kinh. Trong tình cảnh “không đánh đã xin quy hàng” như vậy, Cộng sản Trung Quốc có thế đặt để các điều kiện. Một điều kiện cụ thể: Phái đoàn đi thần phục phải đem Phạm Văn Ðồng cùng sang Thành Ðô. Ðó là một cách nhắc nhở lại bức công hàm năm 1958 do ông Ðồng ký!

Khi nào đảng Cộng sản vẫn còn cai trị nước Việt Nam thì những di họa do Hồ Chí Minh và Phạm Văn Ðồng gây ra không thể xóa bỏ được. Muốn có một chính quyền đủ tư cách nói chuyện ngang hàng với Trung Quốc như chính phủ Nhật Bản; muốn người dân Việt Nam được tự do phản đối các hành động xâm lăng của Trung Quốc như người dân Nhật vẫn làm; thì nước Việt Nam cần phải dân chủ hóa, thiết lập một chính quyền do người dân tự do bầu cử. Người Việt Nam phải tự quyết định thân phận mình. Hàng triệu thanh niên đã hy sinh trong cuộc chiến tranh phi nghĩa gọi là “giải phóng miền Nam” Ðem xương máu hàng triệu con người để xây dự và củng cố bộ máy cường quyền, cho một lũ tham ô hưởng thụ, chia chác với nhau những của cải do tài nguyên và sức lực của toàn dân đóng góp. Dân Việt Nam không thể để cho đảng Cộng sản tiếp tục lừa dối và đè nén được nữa.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

CSVN Hết Lý Do Tồn Tại

Tác giả : Vi Anh

Mới đọc tựa bài, ắt có người thắc mắc liền, ”Ủa sao kỳ lạ vậy, CSVN đang độc tài, độc đảng cầm quyền, một mình một chợ ở VN; trong nước không có một lực lượng đối lập hay đối kháng nào có tổ chức qui mô, thì làm gì có chuyện CSVN suy tàn hay sụp đổ.” Và cái dễ nhứt là gán lập luận này là của “mấy ông nặng quá khứ nên quá khích với CS” nên trù mạc nhà cầm quyền CSVN.

Nhưng để một bên cảm tính, dùng kinh nghiệm lịch sử và luận lý mà xét như nhà khảo sử Toynbee xét về “Sự Suy Tàn và Sụp đổ” của Đế Quốc La Mã lớn mạnh bằng trăm lần hơn CS Hà nội, thì sẽ thấy cái tưởng như không thể xảy ra trong lịch sử cổ đại nhưng xảy ra không ai cưỡng lại được. Và trong lịch sữ cận kim cũng thế, tình báo quốc ngọai của Mỹ là CIA nhiều tiền, nhiều điệp viên, nhiều máy móc tân kỳ, nhiểu nhà phân tích giải đóan giỏi, có mặt khắp hòan cầu mà trước một tháng CIA đâu có tiên đóan được sự đột quị của các nước CS Đông Âu và nhứt là Liên xô cầm đầu đế quốc CS bất thần chết yểu, mới 75 tuổi so với lịch sử người ta tính niên đại quốc gia bằng thế kỷ hay thiên niên kỷ.

Vạn vật vô thường, đổi thay là qui luật của sự sống. Luật này không miễn trừ bất cứ ai, vật gì, định chế nào. Chánh đảng, chánh quyền, chế độ cai trị cũng sanh, thành, trụ, diệt. Như các nhà lãnh đạo chánh trị, những người cầm quyền quốc gia quá đầy đủ tiện nghi, phương tiện y tế, dinh dưỡng cũng không tránh khỏi khổ ải sanh,lão, bệnh, tử vậy.

Đảng CSVN cầm quyền độc tài, độc trị, chế độ cai trị của CSVN đặt trung ương ở Hà nội gọi là CS Hà nội không thể, không phải, không bao giờ là một biệt lệ, được miển trừ bởi cái luật chết cứng ấy, một luật vô thường không biệt lệ ấy của đấng Tạo Hóa.

Mà Tạo Hóa của chánh trị là dân. Ý dân là ý trời như từ xưa các nhà tư tưởng Trung Hoa đã thấy. Và giới bình dân VN đã công thức hóa thành ca dao, một hình thái văn học bình dân, túi khôn muôn đời, qua câu “Quan nhứt thời, dân vạn đại.”

Điềm báo và triệu chứng của sự suy tàn và sụp đổ của CSVN đã lố dạng ngay bên trong nội bộ nước VN cũng như từ bên ngòai qua thái dộ và hành động của Mỹ và TC hai siêu cường đang ghìm nhau trong vùng Đông Nam Á.

Một, đảng CS đã mất thế chánh thống, chính danh để lãnh đạo và cầm quyền. Nội tại, CSVN mất tính đảng tức là tính đấu tranh thiết yếu cho sự tồn tại của một đảng chánh trị. Đảng CSVN bây giờ bị rạn nứt vì tranh giành ghế trong đảng, ngòai nhà nước, trong chánh phủ. Đảng bị chia rẽ vì địa phương tính nam bắc trung, vì lập trường thân TC thân Mỹ và vì tuổi tác. Chính lọai chia rẽ này là bịnh ung thư di căn qua kinh tế, chánh trị phần lớn làm cho Liên xô sụp đổ.

Đảng CSVN đã không còn chính danh để cầm quyền dưới cái nhìn của “quần chúng nhân dân”. Mất lần thứ nhứt khi Liên xô sụp đổ, chủ nghĩa CS thất bại não nề. Tự cứu CS Hà nội gọi là “chuyển hệ tư duy, đổi sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Và mất lần thứ hai khi CS Hà nội điều hành cái gọi là “kinh tế đổi mới” bằng “ ư duy” cộng sản, biến cái gọi là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” thành kinh tế tư bản hoang dã; nhà nước giúp người bóc lột người, chủ bóc lột thợ, biến xã hội VN thành một xã hội bất công, chia rẽ nhân dân VN bị áp bức thành “dân oan” hết chịu nổi, nhà cầm quyền tham nhũng, lộng quyền, bất chấp luật pháp, đạo lý còn hơn Mafia nữa. Hố sâu ngăn cách kinh hồn giữa giàu và nghèo, thành thị và nông thôn; tham nhũng thành quốc nạn hết chịu nỗi. Dân chúng chống đối khắp nơi. Công nhân biểu tình, nông dân khiếu kiện, tọa kháng, chống đối. Người dân VN chống CS, đa số không tuần hành dân sự nữa mà dùng hối lộ giải quết vấn đề hay dùng đấu tranh với bạo lực để chống nhà cầm quyền, có khi dùng súng, mìn tự chế nữa.

Công luận VN chia ra hai luồng, của nhà nước “báo đài” truyền thông trong luông đi theo “lề phải” do CS vạch, lạt như nước ốc, chẳng ai thèm theo dõi. Trái lại truyền thông ngoài luồng, báo điện tử, webs, blogs, paltalk được khoa học kỹ thuật tin học thời đại giúp trở thành truyền thông vì dân, của dân, do dân, người dân Việt rất thích và truyền thông quốc tế thường sử dụng thành nguồn tin.

Nhà cầm quyền phải dùng cảnh sát công an để thống trị, trấn áp, biến chế độ thành cảnh sát trị. Nhà cầm quyền trở thành thù địch của người dân. Khoa chánh trị xã hội học trên thế giới chứng tỏ chế độ mất lòng như thế tất yếu phải bị nổ bùng, hay nổ chụp. Lịch sử cũng thế cho thấy không chế độ bất công, tham nhũng, coi dân là kẻ thù nào có thể tồn tại với người dân. Sớm hay muộn gì chế độ ấy cũng phải suy tàn và sụp đổ. Do người dân đứng lên lật đổ hay do nội bộ trong nhà nhà cầm quyền, một thành phần nào đó đứng ra đảo chánh lập ra chánh quyền mới thân dân hơn.

Hai, Đảng Nhà Nước CSVN bị hai siêu cường Mỹ và TC gián tiếp làm lung lay chế độ CS Hà nội. Không thể hiểu tương quan ngọai giao qua những chuyền viếng thăm, lời tuyên bố của những nhà chánh trị cầm quyền. Ai từng sống với Mỹ ở Saigon thí biết. Đại sứ Mỹ tỏ ra ủng hộ chánh quyền TT Thiệu hết mình. Nhưng CIA trụ sở chánh nằm ngay trong tòa đại sứ Mỹ lại âm thầm ủng hộ đối lập như đại diện cho một chánh phủ trong bóng tối của Mỹ. Lấy một thí dụ nhỏ, của một tờ báo nhỏ chống chánh quyền TT Thiệu sẽ thấy. Mỗi lần báo Tin Sáng của Ngô công Đức bị cảnh sát tịch thu là mỗi lần Ngô công Đức Hốt bạc, được “những người bạn của chúng ta” (our friends) - danh từ của CIA chỉ những nhân viên của cơ quan này cài trong các cơ quan khác - sử dụng dùng tiền của CIA để ở ngân sách cơ quan khác như JUSPAO để cấp “bon” giấy cho báo Tin Sáng. Cũng như vợ của DB Ngô công Đức được “bè bạn của chúng ta” giúp lãnh thầu giặc quần áo cho cả binh đòan của Mỹ.

Còn bây giờ Mỹ còn có thêm một vũ khí lợi hại nữa. Mỹ có quyền lực mềm của tự do, dân chủ, nhân quyền, khoa học kỹ thuật tiên tiến của Mỹ tạo “diễn biến hòa bình” trong hàng ngũ đảng viên CS. Đừng tưởng trong chánh quyền Mỹ người nào cũng như TNS Kerry o bế CS Hà nội. Nhiều người Mỹ trong ngọai giao, giao thương, an ninh tình báo chánh trị bằng mặt mà không bằng lòng với CSVN, họ làm việc với CSVN thì cứ làm, nhưng suy nghĩ, tìm phương, tìm kế, tìm kẽ hở, tìm cơ hội, tạo điều kiện làm sao cho CS Hà nội khuất mắt, không còn nữa.

Chánh trị gia, chuyên viên, những người làm chính sách của Mỹ tuy rất tài về chánh trị thực dụng nhưng cũng là con người cũng có cái tâm quốc gia dân tộc. Theo văn hào Nguyễn Du Việt Nam, “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Người Mỹ cảm thấy được an ủi, hết bị ám ảnh thua CS Hà nội nếu CS Hà nội không còn. Ai bảo họ không tìm cách này hay cách khác làm sao cho CS Hà nội kẻ thù số 1 của Mỹ không còn nữa.

Còn TC thì khỏi nói rồi, hành động của họ đã thấy rõ là tách thế lực nhân dân ra khỏi CS Hà nội, biến CS Hà nội thành kẻ thù của đồng bào mình để CS Hà nội suy yếu, nhu nhược phải theo quan thầy TC./.

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Di họa của quá khứ

Ngô Nhân Dụng

Ngày Thứ Tư, 11 Tháng Bẩy 2012 vừa qua, hải quân tuần phòng Nhật Bản nhìn thấy ba chiếc tầu tuần duyên của Trung Cộng đi tới gần quần đảo Sensaku, người Trung Hoa gọi là Ðiếu Ngư Ðài, là nơi hai nước đang tranh chấp.

Ba chiếc tầu Trung Quốc chỉ xuất hiện thoáng qua (báo Economist viết là briefly). Chỉ có thế. Nhưng chính phủ Nhật Bản đã triệu đại sứ Trung Quốc tại Tokyo tới Bộ Ngoại Giao để chính thức phản đối hành động xâm phạm chủ quyền này. Tại cuộc họp của khối ASEAN ở Phnom Penh, Camphuchia, ngoại trưởng Nhật đã yêu cầu gặp riêng ngoại trưởng Trung Quốc để nhắc lại lời phản đối.

Chủ quyền của Nhật Bản trên các đảo Ðiếu Ngư không có căn bản vững chắc bằng chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhật chiếm các đảo Ðiếu Ngư này sau khi đánh thắng quân nhà Thanh năm 1895, cùng lúc cũng chiếm cả Ðài Loan. Khi Nhật Bản bại trận năm 1945, Mỹ đã trả Ðài Loan lại cho Trung Quốc; nhưng Ðiếu Ngư Ðài vẫn coi như thuộc quần đảo Okinawa của Nhật, do quân Mỹ quản trị. Khi Mỹ ký hiệp ước chấm dứt việc quản trị Okinawa, Nhật Bản coi Sensaku thuộc nước mình. Cả chính phủ Ðài Loan lẫn Bắc Kinh đều không chịu, coi Ðiếu Ngư thuộc lãnh thổ Trung Quốc.

Cuộc tranh chấp về Sensaku đã kéo dài hơn nửa thế kỷ, chưa biết bao giờ mới chấm dứt; mà người ngoại cuộc cũng không thể đồng ý với nhau là bên nào có lý. Hai chính quyền Trung Quốc và Ðài Loan cũng như Nhật Bản đều “hưu chiến.” Nhưng chính phủ Nhật Bản đã hành xử đúng với tư cách một quốc gia tự trọng. Hễ thấy đối phương xúc phạm đến chủ quyền của nước mình thì phản đối ngay, với các hành động ngoại giao mạnh mẽ, quyết liệt. Người Việt Nam có thể so sánh mà cảm thấy tủi hổ về các hành động rụt rè, nhút nhát của chính quyền cộng sản Việt Nam trong hàng chục năm qua, mỗi lần tầu Trung Cộng xâm phạm hải phận Việt Nam, bắt cóc ngư dân Việt Nam, vân vân. Gần đây, trước lòng dân phẫn nộ, chế độ cộng sản đã phải đổi giọng, lâu lâu nói những lời cứng rắn. Ðó chỉ là những lời nói suông nhằm xoa dịu lòng dân phẫn uất; còn trong hành động thì họ vẫn né tránh, không dám cưỡng lại các “đồng chí anh em” Trung Cộng.

Gần đây một lãnh tụ cấp trung đã tuyên bố rất hăng, nói ông ta sẽ cương quyết chống lại Trung Cộng nếu xâm phạm vùng biển thuộc thành phố Ðà Nẵng. Ðây cũng chỉ là một lời nói “không tốn tiền,” với mục đích mị dân. Người dân dốt đến đâu cũng biết: Một thành phố không có lính tráng, không hải quân, không cả một đoàn tầu tuần duyên, thì lấy sức đâu ra chọi với quân xâm lược?

Người dân Nhật lại được tự do bày tỏ thái độ chống Trung Quốc. Thông thường, chủ quyền kinh tế trong vùng biển chung quanh các hòn đảo chỉ được quốc tế công nhận kéo ra xa vài trăm cây số nếu trên hòn đảo có dân cư sinh sống. Cho nên một gia đình người Nhật, Kurihara, trong thập niên 1970, đã mua bốn trong số 5 hòn đảo ở Sensaku, để chứng tỏ họ đang có dự án sinh nhai tại chỗ. Một số thanh niên Nhật Bản yêu nước đã tự động kéo nhau đến Sensaku, mang theo hai con dê thả đó cho sống, coi như đang thực sự khai thác hòn đảo này. Ông Shintaro Ishihara, thị trưởng Tokyo đã bày tỏ ý muốn mua lại các hòn đảo từ tay gia đình Kurihara cho thành phố; với mục đích thúc đẩy chính phủ Nhật phải đưa hải quân ra bảo vệ. Lời hô hào của ông Ishihara được dân Nhật ủng hộ, người ta tự nguyện góp tiền cho thành phố Tokyo mua đảo, số tiền lạc quyên được đã lên tới 1.3 tỷ yen; tương đương với 16.4 triệu đô la Mỹ. Từ bao lâu nay, người dân Nhật Bản bày tỏ lòng yêu nước như vậy, không một người nào bị công an ngăn cấm, bắt bớ khi biểu tình chống Trung Cộng; giống như Huỳnh Thục Vy bị bắt cóc ở Sài Gòn, chở ra Quảng Nam, rồi lại thả về. Không một blogger nào bên Nhật Bản bị công an bắt hỏi cung về những bài phản đối Trung Cộng.

Tại sao người dân Việt Nam lại chịu khốn khổ như vậy? Một lý do là đảng Cộng Sản Việt Nam lỡ nằm trong giọ của Trung Cộng rồi, không cựa quậy được. Từ thời Hồ Chí Minh đã trót theo Trung Cộng, đã thần phục Mao Trạch Ðông, bắt cả nước theo bác Mao ngay từ năm 1950. Bây giờ tất cả đảng cộng sản bị há miệng mắc quai.

Hồ Chí Minh đã ca tụng công ơn của Stalin, Mao Trạch Ðông tại Ðại hội Toàn quốc Ðảng (Lao Ðộng) tại Việt Bắc vào tháng 3 năm 1951. Hồ nói, tất cả các chiến sĩ Việt Nam kháng chiến chống Pháp lúc đó đều liều chết là nhờ “giác ngộ chủ nghĩa cộng sản” và được các đồng chí vĩ đại khuyến khích. Các lời tuyên bố của Hồ Chí Minh đã được một phóng viên của tờ Học Tập liên khu 4 ghi lại nguyên văn như sau: “Ông Mao ở cách đây mấy nghìn dặm. Còn ông Staline thì xa những muôn dặm... Ông theo dõi từng bước cuộc chiến đấu cách mạng của chúng ta.” Hồ Chí Minh không hề nói tới lòng yêu nước thương nòi, mà đó mới là động cơ chính thúc đẩy các thanh niên Việt Nam hy sinh chiến đấu. Tấm lòng trung thành với Mao Trạch Ðông và Trung Cộng được tiếp diễn đến những năm cuối đời, năm nào Hồ Chí Minh cũng sang Trung Quốc nghỉ dưỡng bệnh rất lâu để được các bác sĩ và hộ lý Trung Cộng săn sóc.

Một hậu quả của thái độ thần phục và tinh thần nô lệ đó là bức công hàm của Phạm Văn Ðồng năm 1958. Ngày 4 tháng 9 năm đó chính quyền Bắc Kinh đã phát hành bản “Công bố của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa về lãnh hải.” Ðoạn đầu viết rất rõ ràng: “Lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa rộng 12 hải lý. Quy định này áp dụng cho toàn bộ lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, bao gồm Trung Quốc đại lục cùng với duyên hải của các hải đảo, với Ðài Loan cùng..., quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa...”

Chính phủ Bắc Kinh liệt kê tên các đảo quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa của nước ta), Nam Sa (Trường Sa của nước ta), coi như thuộc nước Tàu hết. Vậy mà, mười ngày sau, ông Phạm Văn Ðồng ký công hàm gửi Chu Ân Lai viết rằng chính phủ cộng sản Việt Nam “ghi nhận và tán thành” bản công bố đó; lại nói sẽ “tôn trọng quyết định ấy” và ra lệnh các cơ quan nhà nước “triệt để tôn trọng và thi hành” vân vân.

Bây giờ, mỗi lần có tranh chấp về Hoàng Sa và Trường Sa, Cộng sản Trung Quốc chỉ cần đưa bức công hàm của Phạm Văn Ðồng ra để bịt miệng!

Năm 1992 ông Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên bộ trưởng Bộ Ngoại Giao, họp báo tại Hà Nội giải thích rằng: “Các nhà lãnh đạo của ta lúc trước xác nhận về Hoàng Sa và Trường Sa như vậy là do theo Hiệp Ðịnh Genève năm 1954 về vấn đề Ðông Dương thì tất cả lãnh thổ từ vĩ tuyến thứ 17 trở vào Nam là thuộc chính quyền miền Nam, kể cả hai quần đảo này.” Ông Cầm quên một điều này: Sau năm 1954, Hiến Pháp cả hai miền Nam, Bắc đều định nghĩa nước Việt Nam từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, và họ tự có quyền trên cả nước Việt Nam chứ không phải chỉ có một nửa lãnh thổ. Nếu lý luận như ông Cầm thì ví thử bản Công bố về hải phận năm 1958 của Trung Cộng ghi tên Phú Quốc, Côn Sơn thuộc vào nước họ, đảng cộng sản Việt Nam cũng gật đầu “ghi nhận và tán thành” nốt hay sao?

Hồ Chí Minh, Phạm Văn Ðồng đã di họa cho dân tộc Việt Nam, vì họ tôn thờ chủ nghĩa Cộng sản. Ðối với người Cộng sản theo một chủ nghĩa quốc tế, thì không cần đến quốc gia, dân tộc nữa. Hồ Chí Minh viết: “...Nhân dân Việt Nam ta luôn hướng về Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại và coi Liên Xô là Tổ quốc của cách mạng, Tổ quốc thứ hai của mình” (Hồ Chí Minh toàn tập, Hà Nội, năm 2000, tập 11, trang 166). Ông cũng ngưỡng mộ Mao không khác; các cố vấn Trung Cộng viết hồi ký kể rằng trong nhiều trận đánh việc chọn một ngọn đồi làm mục tiêu chiến thuật ông Hồ cũng thỉnh thị ý kiến Mao Trạch Ðông trước khi ra lệnh tấn công.

Tinh thần nô lệ các “đồng chí anh em” Trung Cộng đã gây ra phản ứng ngược ngay trong đảng Cộng sản. Chịu không được nỗi nhục đó nên sau năm 1975 Lê Duẩn phản phúc, chống Trung Cộng triệt để, tuyên bố nước Nga mới là tổ quốc thứ hai. Ðiều này Lê Duẩn cũng chỉ lập lại lời Hồ. Năm 1990, Liên xô tan rã, viện trợ cạn kiệt, đảng Cộng sản Việt Nam trước nguy cơ sụp đổ phải quay trở lại xin thần phục Bắc Kinh. Trong tình cảnh “không đánh đã xin quy hàng” như vậy, Cộng sản Trung Quốc có thế đặt để các điều kiện. Một điều kiện cụ thể: Phái đoàn đi thần phục phải đem Phạm Văn Ðồng cùng sang Thành Ðô. Ðó là một cách nhắc nhở lại bức công hàm năm 1958 do ông Ðồng ký!

Khi nào đảng Cộng sản vẫn còn cai trị nước Việt Nam thì những di họa do Hồ Chí Minh và Phạm Văn Ðồng gây ra không thể xóa bỏ được. Muốn có một chính quyền đủ tư cách nói chuyện ngang hàng với Trung Quốc như chính phủ Nhật Bản; muốn người dân Việt Nam được tự do phản đối các hành động xâm lăng của Trung Quốc như người dân Nhật vẫn làm; thì nước Việt Nam cần phải dân chủ hóa, thiết lập một chính quyền do người dân tự do bầu cử. Người Việt Nam phải tự quyết định thân phận mình. Hàng triệu thanh niên đã hy sinh trong cuộc chiến tranh phi nghĩa gọi là “giải phóng miền Nam” Ðem xương máu hàng triệu con người để xây dự và củng cố bộ máy cường quyền, cho một lũ tham ô hưởng thụ, chia chác với nhau những của cải do tài nguyên và sức lực của toàn dân đóng góp. Dân Việt Nam không thể để cho đảng Cộng sản tiếp tục lừa dối và đè nén được nữa.

Post Reply