Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image

NHỮNG CHUYỆN TRỜI ƠI!
Ở trên đời có những chuyện tréo cẳng ngỗng một cách chướng tai, gai mắt. Người ta thích nịnh hơn nói thật, nói thẳng. Ai cũng tỏ ra ta đây hơn người, khoe những cái hay ( không có ), che những cái dỡ ( dẫy đầy ) mà làm những việc đáng phiền hà. Khi khen thì vỗ tay rần rần. Khi chê thì “ngậm máu phun người”. Làm sao mà tiến bộ!? Nói một đường làm một nẽo. Nói chống Cộng thì y như rằng, làm lợi cho Việt cộng. Nói lương thiện, y như rằng làm chuyện bất đạo. Mới dưới tượng Chúa xưng tội, dưới tượng Phật sám hối bước ra, thì vẫn cứ mưu tính chuyện vô lương. Những kẻ huênh hoang nhất là những kẻ ti tiện nhất. Chúng tôi xin đơn cử vài mẫu chuyện mắt thấy tai nghe dẫy đầy trong thành phố nhỏ nhoi của chúng tôi, thành phố Kansas City của tiểu bang Missouri, thấy mà không nói thì không chịu được !

- Có một tiệm, tôi chỉ nói có một tiệm buôn bán DVD, CD ở đây cứ sang lậu các dĩa DVD, CD của các trung tâm, của các nhà làm phim, của các ca sĩ…mà bán. Và bà con ta có những người thuộc loại keo kiết cứ kiếm các dĩa dvd, cd sang lậu đó mà mua. Mua mua, bán bán…các trung tâm sản xuất đóng cửa, các ca sĩ, nghệ sĩ giải nghệ. Một, hai năm nữa, khắp nơi trên thế giới, chỗ nào có người Việt thì có từng đống, từng đống nhạc “như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” bán rẻ 1 đồng, 5 cắc cũng mua nghe cho đỡ ghiền, rồi thành Việt Cộng hồi nào không hay. Lương tâm đâu!? Ðạo đức đâu!? Người Việt Quốc Gia đâu!? Những kẻ bần tiện, làm những chuyện bất nhẫn, bất nhân, bất nghĩa như vậy cứ vênh vênh cái bản mặt tự đắc, tự kiêu có bao giờ thấy tội trước Phật, trước Chúa…vễnh to lỗ tai nghe người ta chửi, rủa đến ba đời tổ tiên mình?

- Việt Nam mới qua, thấy cái gì cũng ham, cũng hám :


* Thấy mấy xe mua hàng ( shopping cart ) ở các cửa tiệm mạ kền bóng lộn khoái quá, quen thói “chôm chỉa” ở Việt Nam, bèn lén lút đẩy về nhà dấu làm kỹ vật ăn cắp. Một chiếc rồi hai chiếc để chật nhà. Không giống ai. Nửa đêm thậm thà thậm thụt, vợ chồng xấu hổ quá, rủ nhau đem bỏ ngoài đường. Xóm làng nói nhau: “đồ thứ tham lam”.

* Thấy sự mua đi trả lại dễ quá, bèn cứ mua máy chụp hình, máy quay phim, áo quần, giày dép…thật tốt thả giàn. Sinh nhật xong, đám cưới xong, đi chơi xa xong, đem trả lấy tiền lại, có sao đâu? Có chết thằng Tây trắng, thằng Tây đen nào đâu? Có là có người ta chửi cha, chửi mẹ mình; có là có Bề Trên bắt tội là “đồ gian giảo”, sau khi chết, theo Ðạo Thiên Chúa xuống địa ngục; theo Ðao Phật vào cõi súc sanh ngạ quỷ.

* Cứ mặc đồ xấu vào tiệm bán đồ cũ ( thrift store ), thản nhiên mặc đồ tốt vào, đi ra không thèm trả tiền cho ai, tênh hếch cái bản mặt cướp cạn! Vào các tiệm, tráo đổi hay quăng bỏ những barcode đi rồi tự nhiên như người Hà Nội bỏ vào túi ra cửa hay ra cashier tính tiền rẻ. Bị bắt sẽ bị tội ăn cắp hàng ( shop lifting ). Lúc đó đứng kêu trời, trời cũng không giúp được cái thứ mánh mung, hôi của, cướp vặt.

Vào Chùa không để lạy Phật, nghe Pháp, đọc Kinh mà để “ăn giành ăn giựt” lấy, dấu thức ăn thiện nam tín nữ cúng, đem về cho vợ, cho chồng, cho con, cho cháu “nuốt cho bội thực”… mặc kệ ai làm lễ xong, ra không còn gì. Dẫu có hiền cách mấy, cũng phải la lên “đồ cô hồn đói”. Mấy đứa nhỏ vì cha mẹ chúng không biết dạy, không nói chi. Mấy người lớn còn tệ hại hơn, tư cách đâu mà dạy với không dạy. Sống chỉ một mình hay hai vợ chồng già, cũng ôm đồm “hốt” được chừng nào hay chừng nấy về ăn… cho chết.

Trong hảng xưởng giành làm over time để lấy tiền “one and one-half” mà gây lộn nhau, chửi lộn nhau. Ðàn ông thì cung tay chửi thề. Ðàn bà thì vỗ bành bạch. Người ta đứng cười mà thấy “mắc cỡ” hết sức người Việt Nam. Cũng vì lòng tham đồng tiền, bạn bè ta đi tìm cái nhục.

Mướn hội trường của người ta làm tiệc cưới, thấy những cây Golf Club để ơ hờ một góc đẹp quá, mấy đứa nhỏ con cái nhà ai đã âm thầm rủ nhau “mượn” đem về nhà dấu làm kỷ niệm. “Một là đền 40,000 đô, hai là bị đưa ra tòa”. Tham lam, có cái giá của nó. Giá mất tiền đã đành. Giá mất danh giá gia đình, giòng họ mới nhục. Tội hai gia đình cô dâu và chú rể đau hết sức là đau bỏ ra 40,000 đô la để khỏi “bị đưa ra tòa”!

Hay cũng bắt chước. Dở cũng bắt chước. Rủ nhau bắt chước… ra tiệm Nail cho nhiều, phá giá từ full set 70 đô, 100 đô làm không kịp, giờ 20 đô, 15 đô cũng không có khách mà làm. Chết là cái chắc! Dễ mà! Qua Mỹ từ năm 1975 cũng Nail. Mới đầu hôm sớm mai qua Mỹ cũng Nail. Học cao cũng Nail. “I-tờ-rí” cũng Nail. Già cũng Nail. Trẻ cũng Nail. Có bằng Nail cũng Nail. Không bằng Nail cũng Nail. Nail và Nail “xà nẹo” nhau dẹp tiệm!.

Qua Mỹ hưởng cuộc sống văn minh đủng đỉnh, bỏ sau lưng đời khốn nạn, bèn phát biểu một cách vô tư rằng thì là “nhờ Việt Cộng mà gia đình tôi được qua Mỹ”. Vợ và con gái người ta bị cỡi trần truồng hãm hiếp trước mặt. Thân nhân người ta bị chết thảm phải quăng xuống biển. Có nhớ sự nghiệp còn cái quần xà loỏng đóng khố…và cô độc sống lủi thủi, ăn mày trên xứ lạ…có “nhờ Việt Cộng” không!? Lạ! Câu nói đó lại từ miệng anh Trung Úy Chiến Tranh Chính Trị của VNCH đi Diện HO. Lạ! Câu nói đó lại từ miệng chị lấy chồng Mỹ đi Diện Con Lai. Câu nói đó không từ miệng bất cứ bà con nào đi Diện Vượt Biển, Vượt Biên. Họ không nói “nhờ Quân, Dân, Cán, Chính của Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh xương máu đánh Việt Cộng cho họ còn sống đến ngày hôm nay qua Mỹ, con có đứa Bác sĩ, Luật sư…và mình đời hết khốn nạn như thời ở cái nước gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!

Ở Mỹ vài năm có chút tiền, mua được nhà, mua được xe, có người toét loét cái miệng than: “khổ như trâu” và trở mặt phản phúc: “Mỹ bốc lột hơn Việt Cộng”. Khổ như trâu chắc không bằng người Sài Gòn đêm đêm làm chuột, lủi xuống ống cống nước kiếm ăn!? Khổ như trâu chắc không bằng mấy đứa nhỏ đói xác đói xơ tìm sống trên đống rác? Mỹ bốc lột hơn Việt Cộng mới có tiền dư mà “áo gấm về làng” ăn chơi đàng điếm. Mình lạy lục xin vào Mỹ. Mỹ đếch mời mình vào! Hãy để bà Julia Gillard, Thủ Tướng nước Úc “dạy” cho bài học “if you aren’t happy here then leave. We didn’t force you to come here. You asked to be here…”

Mùa Ðông cũng như mùa Hè, mẹ và đứa con gái đi chợ, lúc nào cũng thùng thình áo quần hai, ba lớp, túi rộng thênh thang. Ðể làm gì? Ðể ăn cắp kẹo. Những Camera đang nhìn trừng trừng. Có ngày “xộ khám” làm sao mà ăn mà nói hỡi Trời!? Không phải nghèo một nhúm kẹo. Không phải đói một nhúm kẹo. Không phải thèm một nhúm kẹo. Vậy thì, tại làm sao? Tại vì “tham”, không còn liêm sỉ, thấy cái gì của ai cũng muốn ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp.

“Trưởng giả học làm sang”, xênh xang trong nhà vài con chó lớn, chó nhỏ cho nó oai. Mua chuồng cho chó. Hớt tóc cho chó. Sắm áo cho chó. Mua thức ăn cho chó. Mua xương gặm cho chó. Chích thuốc lu bù cho chó… Cả mấy đứa con, trai có, gái có mà để cha ở riêng một mình chết thúi mấy ngày không thằng nào, không con nào hay biết! Vậy mà hở ra, cứ ta là Trung Úy Hải Quân, ta là vợ Ðại Úy Quân Y…nghe mà thúi cả ruột gan cữu tộc!

Giành giựt nhau lượm lon. Ông A nói; “khu vực đó là của tôi”. Ông B nói: “tôi lượm lon ở đây lúc anh còn ở Việt Nam”. Ông A chửi ông B: “đồ chó”. Ông B chửi ông A: “đồ chó”.Thì ra, hai ông đều “đồ chó” hết trơn như nhà thơ Cao Bá Quát đã nói: “…Bỉ viết cẩu. Thử viết cẩu. Bỉ thử giai cẩu…”

Ở đâu đâu, hai ông bà của hai gia đình người Huế cũng oang oang cái lổ miệng rủ nhau khua môi, múa mỏ làm người ta nhức cả đầu. Một ông bà rằng thì là “con tôi học Luật Sư, sắp ra Luật Sư” làm như một hiện tượng hi hữu. Một ông bà rằng thì là “con tôi một đứa đã là Bác Sĩ và một đứa nữa sắp ra Bác Sĩ”. Ðể làm gì? Ðể nổ cho người biết, “ta đây”? Lạ gì các anh chị ở Việt Nam, bỏ Huế vào Sài Gòn sống một đời sống lăn lộn ở chợ cầu Ông Lãnh quen thói “đá cá lăn dưa”?


“Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra. Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó, Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi”. Ðó là “bài thơ con cóc”. Ở đây, ít nhất cũng có một anh học hành chẳng ra gì nhưng ưa khoe tài hay chữ và tài làm thơ dở hơn “thơ con cóc”, bắt người ta nghe muốn “mệt nghỉ”. Người ta bị nghe hoài, người ta nói thẳng: “ông không nghe tụi nó nói, thơ ông là “thơ con cặt” sao?” Người ta mới nghe một lần đã chửi: “đồ thúi như cứt”. Tôi không hiểu tại sao ổng hợm đến mức cứ: “tôi xin đọc bài thơ của tôi cho các anh nghe”.


Bước vào Chùa, Nhà Thờ, Cộng Ðồng…không đóng góp thì nói có. Ðóng rất ít thì la toáng lên nhiều lắm. Ủng hộ năm, ba đồng thì lúc nào cũng “sao không thấy tên tôi?”. Ðúng là miệng lưỡi kẻ ti tiện. Lén ăn cắp. Lén lấy đem về thì im thin thít. Ðúng là cung cách kẻ bần cùng. Giữ của như Ma Xó, chết rồi cũng trắng tay. Bần cùng, ty tiện, chết rồi cũng thiêu ra tro. Có điều, xú danh con cháu phải mang tiếng nhục đời đời.


“Chân mình còn lấm bê bê mà cầm bó đuốc đi vê chân người”. Ở đây có nhiều người đàn ông bỏ hết thì giờ ra rình mò chuyện riêng tư của người rồi như đàn bà, ngồi lê đôi mách thêm bớt nói xấu người ta, rằng: “Ông nầy lấy vợ thằng kia”. “Con bé đó bỏ nhà theo trai”. “Thằng nhỏ nọ bỏ học, bụi đời, hút xách” mà không có thì giờ nghĩ đến con mình không đứa nào ra đứa nào. Tại sao vậy!?Tại vì cái thói muốn ai cũng “tệ”, cũng “xấu”, cũng “ hư”, cũng “nghèo”, “cũng “thua mình” để cười cho đả mà không nghe người ta chửi cho!

Một chị Việt Nam theo chồng người Mỹ về nước Mỹ từ 1972. Sống trong xã hội Mỹ, nhớ người Việt Nam. Khoảng những năm 1985 đến 1990, mừng gặp lại bà con người Việt. Chị, chồng chị và 2 đứa con lai của chị, xúm lại hết lòng giúp đỡ đồng hương của mình đang chân ướt chân ráo, bơ vơ nơi xứ lạ quê người. Một vài năm sau, đồng hương của mình khúm núm hồi nào, bây giờ làm ăn được, gặp ân nhân, không có một lời hỏi han, còn nói: “đồ thứ Me Mỹ”. Phản phúc! Nghe đứt cả ruột gan!.

Một người, trước năm 1975 ở Việt Nam trốn lính. Ðến Mỹ bỗng thành Ðại Úy Nhảy Dù. Giả tới giả lui, quen mình là Ðại Úy Nhảy Dù thứ thiệt. Lúc nào, ở đâu anh ta cũng nghêng ngang hách xì xằng, chê lính Sư Ðoàn, chê lính Tiểu Khu, chê lính Cảnh Sát…Người ta vừa giận, vừa tức cười …không cứ gì “thằng điên”. Ảnh qua đây từ những ngày đầu bình minh di tản, khá tiếng Anh, láu tiếng Việt, tốt tướng nên, dễ qua mắt bà con, quên mình sống nghề hái cà phê mướn ở Ban Mê Thuột.

Người mình nghĩ bằng cái bụng, không nghĩ bằng cái đầu nên, thường làm những chuyện trớt quớt, trời ơi! Cứ suy bụng ta, ra bụng người. Không động não theo lý trí để hành xử làm sao đúng làm sao sai cho người ta khỏi chửi mà, cứ một mực bụng làm dạ chịu tưởng là hay! Thấy người thất bại thì cười. Thấy người nghèo thì khinh. Thấy người giàu thì ghét. Thấy người hay thì chê. Thấy người không chơi với mình thì thù. Thấy người tốt với mình rồi phản. Thấy người trước mặt thì khen, sau lưng thì nói xấu…Bụng dạ không biết đâu mà lường!? Phải chi có chút đầu óc, đỡ biết mấy!!!

Thấy người nổi hơn mình thì tìm cách đè xuống. Mình không ra cái gì lại muốn nổi lên. Không thích người ta thì đánh phá… Cái dễ đánh phá, dễ đè người ta xuống là cái Nón Cối máu Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam úp người ta là Việt Cộng. Có thể, hạng người nầy là thứ Việt Cộng, là thứ ăn bã Việt Cộng, là thứ bất tài háu danh, là thứ tư thù, là thứ ăn hại đái nát. Ðừng đỡ đòn thúi của bọn vô loại, vô loài nầy, vừa dơ tay lại hết thì giờ lo chánh nghĩa. Cứ nhớ: “chó sủa mặc chó, đoàn lữ hành vẫn đi” của chính trị gia Pháp Joseph Calliaux “le chien aboie, la caravane passe”. Mong lắm thay!

Trong hãng xưỡng cứ muốn làm hơn người ta rồi đi “mét” leader, supervisor cái bà đó, cái ông đó làm biếng. Ca trước muốn hơn ca sau; ca sau không chịu thua ca trước. Hơn hơn, thua thua làm “vượt chỉ tiêu” quá trời. Ðược gì? Hãng xưỡng bắt làm nhiều hơn. Các con Mỹ, các thằng Mỹ, các con Mễ, các thằng Mễ chửi liền liền “fuck you”, “fuck you”. Mình có dại lắm không!?

Hai ông, một Ðại Úy và một không rõ lý lịch, được nghe ổng nói là Giảng Sư Học Viện CSQG ( Giảng Sư lèo ) ngồi “bốc” nhau lên trời xanh. Ông Ðại Úy chê: “Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu không biết làm Tổng Thống, phải chi anh làm thì dân giàu, nước mạnh và mình đâu lưu vong”. “Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm cũng là thứ tệ, tôi tin anh làm Thủ Tướng không những hơn ông Khiêm mà hơn cả ông Nguyễn Cao Kỳ nữa”, ông Giảng Sư lèo nói lại. Bốc qua bốc lại, ông Ðại Úy đi tới đâu người ta cũng không muốn gặp; ông Giảng Sư tới đâu, người ta cũng đóng cửa không cho vào.

Làm trong Station Casino, Ameristar Casino người ta quyên United Way, đã không cho thì thôi lại “cho Mỹ uổng, để cho Việt Nam sướng hơn”. Mình đã quên mình được nhân dân Mỹ cưu mang trăm thứ mới có ngày hôm nay. Người Mỹ có Lễ Tạ Ơn hằng năm. Ta sống một chục năm, hai chục năm, ba chục năm…không phải mắt không có con ngươi hay là kẻ mất trí mà không thấy, không biết. Ông bà mình đâu có dạy những đứa con mình vô ơn vô nghĩa một cách “đểu” như vậy.

Bà con mình khoái nghe láo hơn nghe thiệt. Cái nhà mua không “down” một xu teng thì nói 70, 000 đồng “cho người ta nể, không thì người ta khinh. Nghèo cũng là một cái tội”. Cặp vợ chồng nầy “thành thật khai báo” với tôi như vậy. Mà thiệt, người ta đã trọng cặp vợ chồng nầy từ khi họ biết nói láo, huyênh hoang. Hèn chi một anh đi hái cà phê mướn ở Ban Mê Thuột đã nói ở trên muốn “con nhái to như con bò” bèn trút lớp áo “cu-li” thành Ðại Úy mà “Ðại Úy Nhảy Dù người ta mới ngán” .

Ôm một đống school supplies của Don Bosco phát cho mấy em bé con nhà nghèo về, khoe: “nhờ khéo chen, lấn, luồn, lách và còn chút nữa đánh lộn với người ta mới được về sớm thế nầy, chứ tới phiên mình thì còn gì nữa và nắng quá chịu gì nổi”. Chắc vợ chồng ông em bạn nầy đui, điếc và quen lối sống thiếu văn minh dưới cái gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nhiều năm rồi nên hồ đồ một cách mọi rợ!?

Những cuộc biểu tình của đồng bào Người Việt Quốc Gia chống Cộng ở ngoại quốc, đích thực có giá trị triệt tiêu những manh động của Việt Cộng và tay sai. Có kẻ tanh tưởi phát biểu rằng thì là “không đụng tới sợi lông tụi Bắc Bộ Phủ”. “Không đụng tới sợi lông Bắc Bộ Phủ” mà Trần Trường phải hạ lá cờ máu và hình Bác của tụi nó bị liệng xuống cống. “Không đụng tới sợi lông Bắc Bộ Phủ” mà âm mưu Madison Nguyễn không thành. Nhất là tụi Việt Cộng, có đứa nào nghênh ngang ở ngoại quốc và lá cờ máu của chúng cắm lên chỗ nào là bị quăng xuống đất chỗ nấy ngay.

Hai ông già cỡ 65 tuổi, một cựu Ðại Úy Không Quân còn vợ, một cựu Trung Sĩ Truyền Tin vợ chết. Ông Ðại Úy nói: “tôi có lấy vợ, vợ tôi phải trẻ, thật trẻ, trẻ chừng nào tốt chừng nấy”. Ông Trung Sĩ nói: “ngang ngang tuổi tôi cũng được miễn là ăn ở với nhau trọn đời”. Ông Trung Sĩ về Việt Nam rước qua Mỹ một bà già “ngang ngang tuổi tôi cũng được…”; ông Ðại Úy bỏ vợ về Việt Nam cặp kè một con đàn bà nhỏ tuổi hơn con gái út của mình. Thời gian quá ngắn qua đi, bà già “ngang ngang tuổi tôi cũng được” và “vợ tôi phải trẻ, thật trẻ, trẻ chừng nào tốt chừng nấy” rủ nhau chuồng tuốt luốt để hai ông trơ trọi “ngồi buồn gãi háng, dái lăn tăn”!

Ai cũng biết, bọn cầm quyền Việt Cộng toàn là thứ thảo khấu, chuyên ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp xương tủy đồng bào mình mà mình có ngu cách mấy cũng thấy, cũng biết chính cả mình cũng là nạn nhân nữa chịu không nổi, phải liều chết ra đi. Ai đời, bây giờ mình lại trở về “xênh xang” cho bọn đầu trộm đuôi cướp nầy sai bảo, làm vui cho chúng hả hê một cách đĩ thỏa!? Tại sao chúng ta lại có những thứ “xướng ca vô loại” được nuôi lớn, vỗ béo từ Cộng Ðồng Người Việt Hải Ngoại cứ “chình ình” cái mặt mo mà “ùn ùn” về Việt Nam kiếm chút “phân” tụi nó toẹt ra? Trách chi người ta cứ lôi ông bà, cha mẹ của họ ra mả chửi: “đồ thứ “thương nữ bất tri vong quốc hận. Cách giang do xướng Hậu Ðình Hoa” không biết liêm với sỉ là gì” cũng đúng thôi.

Người Việt ở đây không bao lăm người mà san sát đã có 3 chùa Sư, 2 chùa Cô rồi. Nay sẽ có thêm một chùa đang xây và một chùa sắp khai trương. Bận nầy, các Sư trẻ măng, các Cô trẻ măng từ Việt Nam qua Mỹ lập chùa đông quá. Chùa, không thấy chùa nào treo cờ Việt Nam Cộng Hòa. Không biết tổ quốc của mấy Sư, mấy Cô đâu nhỉ, chắc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam? Người ta đã nghi, các ổng, các bả là “cán bộ” của cái gọi là Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Một ngày nào không xa, các thầy như Thích Chánh Lạc, Thích Viên Lý, Thích Huyền Việt, Thích Giác Ðẳng, Thích Thông Triết…già đi, viên tịch đi rồi thì “ô hô! ai tai!” các chùa mặc sức Cờ Ðỏ Sao Vàng mà “Hồ Chí Minh Muôn Năm”!?

Những chuyện nêu trên là những chuyện có thật và được kể thật. Nếu mà kể đủ thì không bao giờ đủ được, không bao giờ hết được, còn nữa và nhiều nữa. Chừng ấy cũng đủ nhức cả đầu, hoa cả mắt. Dĩ nhiên, chúng ta cũng có khối gì những con người làm nên tiếng tốt vẽ vang Người Việt. Nghĩ rằng, những chuyện kể trên sẽ có ít nhất những ai dính dáng vào nên thay đổi để chúng ta cùng nắm tay dẫn dắt con em mình đi trên con đường tươi sáng, hạnh phúc. Những chuyện kể trên ta thấy hằng ngày, nghe hằng ngày nhưng cả nể hay sợ đụng chạm, không ai muốn đả động đó thôi. Mà “nín” như vậy, nghĩ cho cùng, đã là thiếu tinh thần xây dựng cũng như thiếu trách nhiệm tất nhiên.

Bài viết nầy không nhắm trực tiếp vào ai cũng không hồ đồ chi tiết cho riêng ai. Dù là sự thực của từng cá nhân một nhưng có tính biểu kiến và chung chung. Nếu có những ai na ná với ai đó mà thấy chính mình ở trỏng cũng nên nghĩ lại mà sống sao cho lương thiện, trong sáng, liêm sỉ để một mai nằm xuống còn hy vọng được Chúa rước về Thiên Ðàng và Phật đón nơi Niết Bàn và ít nhất bây giờ đây đang hiện tiền, sống với nhau một cách chan hòa, thân thương đầy trân trọng…

Ðêm Hè 21 tháng 7 năm 2012
NGUYỄN THỪA BÌNH

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Bệnh "nổ" ở Mỹ rất thịnh hành?
Vũ Công Hiễn

Tự dưng , nghe nói "nổ dzăng miểng" thì có lẽ ai cũng hơi giật mình, nhưng nghĩ lại, thì chuyện "nổ" trong nước Mẽo này là chuyện dài "nhân dân tự dệ". Hôm rồi, "hữu duyên thiên lý năng tương ngộ" nên mới được nhìn thấy một tấm "bi-di-nít cà" (business card) của một vị ở đâu tuốt bên Tếch-xịt (Texas), ghi chép rất lộng lẫy: "Tiến Sĩ Nguyễn Văn Tuyến, chuyên viên Thuế Vụ". Người đọc rất lấy làm khâm phục vì ít khi có vị tiến sĩ nào chê "dóp" của các cơ quan chính phủ hay tư nhân mà đi làm thuế lui cui một mình. Chừng đến khi đọc kỹ lại mới biết ngài Tiến Sĩ có tới mấy cái bi-di-nít-cà lận! Cái thì đề "chuyên viên địa ốc", tờ thì viết "chuyên viên bảo hiểm xe, nhà, động đất..."

Hóa ra lại một ngài Tiến-Sĩ-Nổ nữa, giống như một vị khoe có mấy cái bằng tiến sĩ ở Cali, nhưng nghe người ta đồn thì ngài nói tiếng Anh như mấy ông phương Bắc mới qua An Nam bán lạc xoong: "Ai... lồ lồng, lồ nhôm, lồ sắc, lồng hồ, dàng dụng, bạc dụng bán hôn?". Cách phát âm y hệt như một chàng sửa xe, lúc nào cũng khoe có bằng Master of Mechanic! Ngay trên tấm thiệp đề tên tiệm sửa xe, chàng đề sau tên chàng một chữ M.Ạ thật lớn, trông oai khiếp! Rồi mấy văn phòng bảo hiểm xe hơi cũng thấy bằng tiến sĩ, văn phòng bảo lãnh thân nhân đi du lịch cũng do một ông tiến sĩ cai quản. Tạ ơn Trời, người Việt di tản tài năng thiên phú, lấy bằng tiến sĩ dễ như ăn ớt vậy! Nhưng sao lại có người cho rằng mấy ông tiến sĩ đó là "Tiến Sĩ Nổ"?

Vậy thì bệnh "Nổ" phát sinh ở đâu ra?

Hình như sau khi sang Mỹ, khí hậu thay đổi, từ miền nhiệt đới qua xứ lạnh, dễ bị lạnh cẳng, nhiều người di tản phải nổ đùng đùng để hâm nóng cơ thể lên hay sao ấy, nên đi đâu cũng nghe tiếng nổ? Vừa mới gặp nhau lần đầu đã vội vã khoe "nhà tôi rộng cả mấy héc-ta..", hoặc "nhà tôi trị giá trên ba bốn trăm, trả off rồi" Con cái thì ra trường bác sĩ, kỹ sư như kiến.

Cậu nào, cô nào cũng làm cả trăm ngàn một năm. Vài vị ca tụng con mình làm "hai trăm đô một giờ" và thở dài mấy hơi làm như vẫn còn ít lương quá. Các cô tiểu thư, theo lời của các vị làm cha mẹ, đều lấy bằng hoa hậu hết. Cô nào cũng cả chục chàng theo. Người nghe, ai cũng khoan khoái vì dân tộc mình giỏi giang, văn chương chữ nghiã cùng mình, hầu như không có ai làm việc loại lao động mà người Mỹ gọi là "cổ xanh" (blue collar) cả. Lại cũng hân hoan vì cha mẹ nào cũng bái phục con sát đất, không còn cảnh "cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy" nữa.

Đến thăm mấy ông bi-di-nít thì nghe tán dương" căn phòng này rộng mười mấy ngàn que-phít(square feet)" (có khi rộng đến vài chục ngàn que-phít) mặc dầu chỉ cần vài người khách hàng là cửa tiệm có mòi chết đứng vì không chỗ đặt chân. Hôm nọ, gặp một chàng khoe nhà có nuôi gà nòi, người nghe mới buột miệng hỏi: "Ủa , ở thành phố mà nuôi gà được sao?".

Chàng bèn hất hơi cao cái cằm lên một tí và nhìn người hỏi với một cái nhìn thương hại: "Nhà tôi tuy ở phố nhưng dư điều kiện nuôi gà." Ngừng một hai giây cho câu nói thấm vào hồn người nghe, chàng mới tiếp:"Nhà tôi những mấy ác cơ (acre) lận! Mà nhà rộng mấy ác cơ là có điều kiện nuôi gà." Một chủ nhân ông ở xứ hoa vàng, có cái biệt thự trên đỉnh đồi, có hai đường đi lên đi xuống khác nhau, muốn hù người bạn Hát Ô mới sang trong một bữa tiệc họp mặt, rút cái rê-đít cà ra dí dí vào mắt chàng Hát Ô:
"Biết cái gì đây không? Cái này là cạc vàng, gôn cạc đấy, trị giá hai trăm ngàn trở lên, tiền đấy, muốn xài lúc nào cũng được. Anh phải ở đây hai mươi năm và đi làm lương cao mới được nhà băng nó tặng cái cạc này!"

Vừa mới qua Mỹ, chân ướt chân ráo, đi làm có mấy tít một giờ, chàng Hát Ô nghe nói cả trăm ngàn thì đớ lưỡi, nể nang quá, vì chắc mẩm đời mình tàn tạ rồi, làm gì có cơ hội có cái thẻ đó. Lại gặp một ông chủ tiệm phở ăn mặc rất sang trọng. Ông chủ ngắm nghía cái cà-là-vạt mác Good-Will của chàng Hát Ô một cách tội nghiệp, rồi tự móc cái ca-la-hoách của ông ra mà dứ dứ vào người đối diện, hỏi:"Anh biết cái tai này của tôi bao nhiêu tiền không? Của Ý đấy! Gioọc Dô Ạc Ma Ni (Giorgio Armani) đấy!" Nghe mấy chữ "Gioọc Dô, Gioọc ra" được phát âm một cách trầm trọng, chàng Hát Ô ú ớ, mặt cứ nghệt ra, vẻ Cả Đẫn rõ rệt. Ông chủ tiệm phở đợi một lúc rồi mới phán:"Trên năm trăm đô đấy, chưa kể thuế!". Những tiếng mấy trăm đô cùng mùi phở ở trên người ông bay ra làm chàng Cả Đẫn lảo đảo. Chưa hết, ông lại nổ thêm một quả cho chàng lăn đùng ra: "Anh biết không, tôi có lệ là cứ mỗi năm, đúng tháng Tết và tháng hè, đến Bun-lóc (Bullocks) để mua một bộ vét, bất kể giá cả, và cũng không cần mặc làm gì. Ngoài ra, nếu có họp hội gì long trọng, tôi phải còm măng một bộ khác. Hãng Bun-Lóc biết thế, nên cứ ra một kiểu mới nào, lại gửi đến nhà tôi. Bây giờ, nhà tôi toàn đồ vét, mang ra bán cũng mất một thời gian!". Lấy ngón tay chỉ vào cái huy hiệu con ngựa đang co cẳng mầu xanh trên ngực áo sơ mi, ông thở dài, nhún vai: "Hồi này thú thật với anh, kinh tế xuống, chỉ dám mua cái áo này có vài trăm thôi".

Hãi hùng quá! Chủ một tiệm phở mà oai như vậy, thì chủ một khách sạn còn kinh khiếp bao nhiêu! Một anh bạn trẻ khác, thấy dân mới qua đi đôi giầy có mười lăm tì ở Payless Shoe Source, thì tự tụt giầy mình ra, giơ lên cao, ngắm nghía: "Đôi giầy Bali của Ý này sơ sơ có ba xín thôi, đi vào đã như đi trên mây vậy!". Người tuổi trẻ này lái một chiếc xe Xêlicà (Celica) mới toanh, được năm tháng thì phải năn nỉ một tên bạn khác xài giùm chiếc xe này cho khỏi bị "tâu", vì lương tháng không đủ cho chàng uống cà phê, sau khi đóng tiền xe, tiền bảo hiểm, tiền share phòng… Chàng đành chịu mất toi tiền deposit khi mua xe, còn hơn bị tâu (tow) xe và bét rê-đít (bad credit). Bạn chàng, một người thích chơi nổ khác thì mua cái xe Mẹc Xê Đì (Mercedez), nhưng chỉ khi nào đi lấy le thì mới dám chạy, còn thường thì chàng cho đậu ở gara, vì không có tiền đổ xăng!

Với các nàng, thì lại có lối nổ khác. Một bà chủ tiệm "neo" (nail) tre trẻ, vẻ mặt rất căng thẳng, thì thầm với cô bạn: "Tối nay, em phải "oọc đơ" trước ở tiệm Noọc-xơrom (Nordstrom) ép chàng vào lề. Chàng xuống xe, hỏi chị muốn gì, chị liền cười tình với chàng rồi rủ chàng vào khách sạn!". Trong một tiệm bán tạp hóa, một nữ sĩ caraokê đứng hát tỉ tê vài lời rất ướt át, mặc cho các khách hàng khác, cả nam cả nữ, đứng ngẩn người ra nhìn. Chừng như hát cũng chưa đủ đô, nữ sĩ nói một hơi với mấy cô bán hàng:
"Em biết không, tuần nào chị cũng được mời đi hát ở mấy tiệc cưới rồi hội đoàn. Mỗi lần chị hát, người ta cứ ngẩn người ra mà vỗ tay." "Mà chị hay hát bài gì ?" "Chị ấy à, nhạc tủ của chị là Trịnh công Sơn. Chị hát không thua gì Khánh Ly!" Người nghe cứ tưởng tượng rằng giọng Khánh Ly mà xêm-xêm giọng chị, chắc nhạc Trịnh Công Sơn đã yểu tử tự hồi nẫm rồi.

Một vài bà phu nhân, từ xửa xưa vốn học sinh, rồi lên xe hoa về nhà chồng, nay bon chen vào chốn cộng đồng, cũng "nổ" lên bằng bộ đồ nhà binh bóng loáng, đi giầy bốt-đờ-sô cồm cộp, rồi chào tay cũng oanh oanh liệt liệt. Mà chào tay cũng đúng cách lắm, nhìn xa, tưởng ít nhất cũng mang ba hoa bạc… Hỏi ra, mới biết chồng bà cũng chưa có ngày nào biết "khởi đi bằng chân trái" như lời Dương Hùng Cường ta thán trong phim "Người Tình Không Chân Dung" ngày xưa.

Đi thăm mấy vị cựu quân nhân, công chức thì thấy cứ tự động thăng quan tiến chức ầm ầm. Trung Sĩ thành trung uý, hạ sĩ thành thiếu úy, nhân viên thường thành giám đốc... Người viết có dịp quen với một ông thiếu tá Cảnh Sát Đặc Biệt một thời gian lâu, mãi sau mới biết ngài thiếu tá cũng là Cảnh Sát Đặc Biệt thứ thiệt, nhưng chức vụ cuối của ngài là "Hạ Sĩ Tài Xế!" của một vị thiếu tá khác! Trong nhiều cuộc lễ lạc, mấy ngài vốn chuyên viên "văn phòng tứ bảo" biến thành Biệt Động Quân họăc Nhẩy Dù hết (hình như họ cho là Bộ Binh không đánh giặc hay sao ấy?).
Ai cũng mặc rằn ri cho oai. Nhưng, thật ra, mấy cái nổ trên chỉ là pháo tép thôi, chưa có "dzăng" miểng vào mặt người đối diện bằng khi một người bạn cho biết anh ta là vị tổng tư lệnh có 15000 quân hiện đang đóng tại biên giới Thái Lan, không phải ở biên giới Lào Việt, cách xa biên giới mình cả mấy giờ chim bay! Tưởng tượng chỉ cần tiền nuôi ăn cho 15000 lính đó cũng đủ ná thở, chưa kể quân trang quân dụng, vũ khí, đạn dược... Rồi doanh trại cho 15000 người đó, chắc tiền điện, tiền nước, tiền phôn cũng khùng luôn! Chưa kể tiền làm vệ sinh cho hàng ngàn cái toa lét nữa! Cha chả, 15000 người không phải là con số nhỏ, làm sao chính phủ Thái Lan lại không biết cà ? Rồi tập trận, huấn luyện ở đâu ? Hễ có tập trận phải có tiếng nổ, mà nổ thì dân chúng quanh vùng phải nghe, Việt Cộng phải thấy, vậy mà không ai lên tiếng phản đối gì cả ! Bộ có phép thần thông đi mây về gió, phi thân trên mái nhà, hay phù phép gì mà những mấy sư đoàn đó không ai nhìn thấy hết? Trong sinh hoạt chính trị, lại còn một lô những bộ trưởng, thủ tướng, (cũng may chưa có tổng thống!), và chủ tịch lia chia.

Những chức vụ vô thưởng vô phạt như Trưởng một hội ái hữu học sinh hay hội đồng hương cũng đều mang danh hiệu "chủ tịch". Có lẽ danh xưng "Hội Trưởng" nghe không nổ bằng danh xưng "chủ tịch" nên ai cũng đua nhau làm "chủ ", hay tại vì đã ngấm trong tim, câu "Chủ Tịch *** vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp chúng ta" nên nhiều nguời cũng mong được điền tên mình vào câu đó để thành chủ tịch vĩ đại. Số lượng chủ tịch đông đến nỗi nếu đi chợ thì sẽ gặp chủ tịch nhiều hơn là hội viên! Và cũng từ đó mà tranh chấp nhau, thanh toán nhau tơi tả. Thông cáo, thông báo được phân phát như bươm bướm. Truyền thông, truyền thanh biến thành dụng cụ nổ tan xác nhau.

Tình đồng hương, tình đồng môn, tình di tản, tình đồng đội bị nhạt đi, thay vào đó là sự tiêu diệt lẫn nhau một cách đau đớn. Đủ loại đạn nổ chụp bắn ra kinh hoàng. Cùng chống Cộng nhưng không chung đường lối, không chung chủ tịch là một bên biến thành Cộng Sản trước, rồi bên kia biến thành "ăng ten" sau. Cùng đồng môn một trường có tới nhiều năm học chung, lại chia hai, xé ba, rồi đâm đơn kiện nhau, dành chức chủ tịch, đến nỗi người Mỹ họ nghi ngờ tuốt luốt và cho là cộng đồng Việt phân hóa trầm trọng.

Chính quyền địa phương và các dân cử địa phương có thể vì đó mà giảm những chương trình phúc lợi cho cộng đồng, bớt "dóp" cho người Việt, không cần lắng nghe tiếng nói trung thực của ngưới Việt, có thể có kỳ thị sắc tộc với người Việt…Những chương trình lớn như kêu gọi Nhân Quyền cho Việt Nam, giải thể chế độ độc tài, bất công, nhũng lạm Cộng Sản tại quê nhà đã bị mất đi một phần hữu hiệu. Các chính khách, chính quyền bản xứ nếu muốn tiếp tay với cộng đồng để chống Cộng cũng ngần ngại không biết liên lạc với bên nào mà không bị nổ chết chùm do đó họ cũng đánh bài "lờ" cho chắc ăn.

Chung quy cũng là tại tính ham "nổ", hám danh! Ô hô! Ai tai! Đau đớn thay và tức tưởi thay! Biết dến bao giờ người mình mới bớt "nổ" và sống hiền hòa như những ngày giản dị năm xưa, để danh dự của người Việt Nam mình được thật sự tôn trọng, để công cuộc đòi Tự Do, Dân Chủ cho dân mình được thành công?

Vũ Công Hiễn

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Thằng Khùng

Tiểu Tử

Không biết hồi thời trước thằng cha đó làm nghề gì, chớ bây giờ - nghĩa là đôi ba năm sau cơn lốc tháng tư năm 1975 – hắn đã trở thành một ‘’ sản phẩm rất ấn tượng ‘’ của cuộc đổi đời vĩ đại !

Sáng nào cũng thấy thằng cha đó đứng ở góc đường Chợ Cũ chỉ đông chỉ tây, mắt lim dim miệng lầm bầm những gì không rõ. Lâu lâu hắn vỗ hai tay vào nhau nghe cái “chát” rồi xuống tấn đi một dọc đường quyền. Hắn làm như hè phố không có ai hết. Cứ thản nhiên tiến thoái, tung chưởng bên tả, đá cước bên hữu, ai tránh thì tránh ! Những lúc đó, mặt hắn thật là “an nhiên tự tại”, mắt nhìn theo hai tay đẩy ra thâu vào nhịp nhàng… giống như chẳng có chuyện gì xảy ra hết ! Vậy mà một lát sau lại đứng thẳng, lầm bầm chỉ đông chỉ tây !

Sau vài “tua” như vậy, hắn khoan thai bước vào tiệm nước gần đó ăn điểm tâm. Lúc nào cũng vào tiệm đó, không thay đổi. Và lúc nào cũng ăn một tô hủ tiếu uống một tách cà phê đen. Thành ra trong tiệm, khi thấy hắn ngồi vào bàn là nấu ngay tô hủ tiếu và pha ngay tách cà phê mà không cần hỏi ! Hắn ăn, giống như người bình thường.

Nhìn hắn, không ai nghĩ rằng trước đó năm mười phút hắn đã là “một người khác” ở ngoài kia. Chỉ có điều là khi thấy ai nhìn mình, hắn trừng mắt nhìn lại, mặt gân gân, hàm hất hất, giống như muốn nói: “ Mầy không biết tao là ai sao mà nhìn ? Hử ?”

Ăn xong, hắn trả tiền đàng hoàng rồi thả bộ đi loanh quanh. Tôi lén đi theo một lần thì thấy hắn như người bình thường, khi dừng xem cửa hàng này lúc dừng xem cửa hàng nọ. Rất thư thả, tự nhiên. Giáp cái vòng Chợ Cũ là hắn lại vào tiệm nước hồi nãy để nhăm nhi một ly chanh đường. Chẳng thấy hắn bắt chuyện với ai, mà cũng chẳng nghe hắn nói một tiếng nào với nhân viên trong tiệm ! Lúc nào hắn cũng làm thinh. Người trong tiệm chắc đã quen quá rồi với cái “trình tự lớp lang” của hắn nên cũng chẳng thấy chào đón hỏi han gì hết.

Sau ly chanh đường, hắn bước ra rồi đi thẳng qua vỉa hè phía đối diện. Đường
phố đã đông ken. Tiếng máy xe, tiếng kèn xe... inh ỏi. Vậy mà hắn đi qua đường giống như đi giữa đồng trống, cứ đi xâm xâm, mặc cho xe cộ thắng, lách, mặc cho thiên hạ chửi thề, văng tục. Đến bên kia, hắn đứng thẳng nhìn xa xăm, bất động như một pho tượng. Một lúc sau, hắn bỗng soạt chân ra, rùn rùn người, xàng qua xàng lại, đầu gật gù, hai tay thay nhau xỉa xói về phía trước, miệng nói lớn từng câu ba chữ bắt vần có ca có kệ ... vừa giống thầy pháp đọc thần chú lại vừa giống người đang lên đồng ! Tất cả các động tác của hắn đều ăn khớp với nhau và nhịp nhàng linh động theo từng câu hắn nói chớ không thấy một chút rối loạn nào hết. Nhứt là hai tay, một xỉa ra thì một thâu về, chậm rãi giống như người ta tập Thái cực quyền, và mỗi cái xỉa ra là chấm dứt đúng một câu. Cứ như vậy đều đặn, hắn nói dài dài có dây có nhợ, mắt trừng trừng, mặt gân gân... Hết đoạn này, hắn bắt qua đoạn khác, lòng vòng lòng vòng ! Nói... đã một hồi rồi hắn bỏ đi về phía bờ sông, đi mất. Để sáng sớm hôm sau lại có mặt gần như đúng giờ ở góc đường Chợ Cũ, diễn lại trò hôm qua, tuần tự lớp lang...


Thiên hạ gọi hắn là “thằng khùng”. Quen quá rồi nên chẳng thấy ai để ý tới, ngoại trừ vài người không thuộc dân khu phố bất chợt đi qua. Thật ra, nhìn thằng cha đó, không thấy có vẻ gì khùng hết, nghĩa là hắn không giống mấy người khùng loại... “cổ điển”. Râu tóc cạo gọt chải gỡ sạch sẽ, mặt mũi đều đặn phương phi, sơ-mi trắng ngắn tay bỏ trong quần đàng hoàng, quần tây thẳng nếp và nhứt là đôi giày bát-két còn mới tinh cột dây tề chỉnh.

…Một hôm, vì tò mò, tôi lắng nghe bài “kệ” của hắn. Mặc dù tiếng ồn ào hỗn tạp của xe cộ, giọng sang sảng của hắn nghe rõ mồn một. Tôi có dịp ghi lại một đoạn:

“Nói có sách
“Mách có chứng
“Đứng có chỗ
“Đổ có nơi
“Ngồi có kiểu
“Tiểu có xô
‘’Hô có nhịp
“Bịp có tiếng
“Diện rất quê
“Chê rất giỏi
“Nói rất dai
“Khai rất kỹ
“Lý luận xằng
“Loại kỳ nhông
“Ông kỳ đà
“Cha cắc ké
“Trẻ không tha
“Già không chê
“Quê đứng trước
“Dốt đứng trên
“Đen nói trắng
“Đắng nói ngọt
“Lột thằng dân
“Trần như nhộng
“Giọng Tào Tháo
“Đạo đức giả
“Dạ sài lang
“Nói một đàng
“Làm một nẻo

Đọc đi đọc lại bài “kệ”, tôi thấy lời lẽ mạch lạc rõ ràng, và những điều “thằng khùng” đó nói, thiên hạ ai cũng thấy, cũng biết hết nhưng không ai dám “đứng ra giữa đường mà nói”. Như vậy, hắn đâu phải khùng ! Có lẽ tại vì thiên hạ thấy hắn làm không giống ai hết nên cho là hắn khùng đó thôi !

Rồi tôi tiếp tục lý luận theo lề lối đã được học tập sau cuộc đổi đời vĩ đại :

- Thiên hạ tỉnh mình anh khùng, hay thiên hạ khùng mình anh tỉnh, cũng vậy
thôi. Đó là hai mặt của tấm gương. Đứng phía trước hay đứng phía sau gì tấm gương vẫn là tấm gương (“biện chứng” chắc nịch như vậy, không chối cãi ! ).

- Cũng giống như thiên hạ đều trắng chỉ có một mình anh đen. Anh không giống ai, đành rồi, nhưng anh là cái chấm đen trong cái tổng thể trắng, làm cho cái trắng đó không hoàn toàn trắng được. Có hại !

- Nói một cách khác: trong luồng người cùng đi tới, mình anh đứng lại, dù cố ý hay không cố ý gì đi nữa, anh vẫn là biểu tượng của sự “phản động”. Bởi vì anh làm “rối” – chưa nói đến “loạn”, còn nặng hơn nữa – cái trật tự đang được di động về một chiều.

- Vậy, để có sự thuần nhứt trong toàn bộ – nghĩa là khùng hết hay trắng hết hay đi tới hết – phải thủ tiêu anh hay cải tạo anh ( nghĩa là làm cho anh phải giống như mọi người ).

Đến đây, tôi bỗng thấy lo cho thằng khùng Chợ Cũ. Nhưng rồi tôi nghĩ lại: xưa nay ai không biết rằng thằng khùng nào cũng làm bậy nói bậy hết, đếm xỉa làm chi.

Có lẽ đúng. Bởi vì tôi thấy “thằng khùng Chợ Cũ” cứ phây phây “phát biểu” dài dài...

Kể ra, ở thời buổi này và trong cái xã hội này, được thiên hạ dán cho nhãn hiệu “thằng khùng” cũng sướng chớ !

Tiểu Tử

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Khoan nói chống Trung Cộng, Chống Việt Cộng trước đã.

Trần Mộng Lâm.

Trước đây 34 năm, khi tôi may mắn thoát khỏi cái thiên đường Xã Hội Chủ Nghĩa của bọn Cộng Sản, chúng tôi, những người đã sống tại Miền Nam từ 1954 cho đến khi rời khỏi đất nước và sau đó ra nước ngoài, đã biết thế nào là đời sống tại Miền Nam, đời sống sau khi Công Sản vào, và đời sống của các tây phương như Pháp, Mỹ, Úc, Na Uy, Hòa Lan…v.v thường nói với nhau : Chúng mình sống tại Miền Nam tạm gọi là Thế Kỷ 20, Công Sản vào, đời sống bị kéo trở về Thế Kỷ 19, nay ra ngoại quốc, đúng là Thế Kỷ 21.

Mọi người có thể kết tội chúng tôi vọng ngoại, nhưng sự thực nó là như vậy, không phải nịnh ai, Mỹ hay Pháp, mà đây là nói chuyện chơi với nhau, có ăn đồng tiền cắc bạc nào .

34 năm nay, tôi không về thăm đất nước, vì một điều là tôi bực mình, không muốn thấy lại hình ảnh một người bất xứng được tôn lên làm cha già dân tộc, mà tôi có về, thì làm được gì ngoài việc du hý, ăn chơi ?

Tuy nhiên, tôi không thể nào quên hẳn Việt Nam.

Nhờ ở Internet, nhờ ở bài viết của những người đã trở về thăm VN, bài viết của những người trong nước, những vidéo, tôi vẫn biết rõ những gì đang xẩy ra tại Việt Nam.

Càng biết, càng buồn.

Đất nước tôi, dân tộc tôi ,là thế sao ?

Một đất nước gì mà tiền kiếm được nhờ ở những người dân gửi về từ ngoại quốc. Những người làm ra tiền cho VN hiện giờ là những người đã di cư sau 1975, hay những người lao động được gửi ra nước ngoài làm tôi mọi cho người ta, làm những việc mà người bản xứ không thèm làm.

Việt Nam đã sản xuất được gì có giá trị? Nhà máy nào, công ty nào, sản phẩm nào. Việt Nam có thể có được một công ty tương tự như Toyota, Samsung ? hay chỉ là những công ty cung cấp dịch vụ tình dục hay ăn chơi cho bọn lắm tiền đến từ ngoại quốc?

Đất nước gì mà người ta chỉ có thể giàu có nhờ ăn cướp, tham nhũng, hối lộ,

Nhìn về Việt Nam, về phương diện văn hóa, thì ngôn ngữ Việt Nam càng ngày càng trở nên tối om với những từ ngữ mới . Báo chí VN nhiều khi đọc mà không hiểu họ muốn nói gì.Còn bọn lãnh tụ, khi ra ngoại quốc, ăn nói chẳng giống ai, điển hình là vụ :Việt Nam thức thì Cuba ngủ, Việt Nam ngủ thì Cu Ba thức, để canh cho thế giới !!!

Nhìn về Việt Nam, chỉ thấy giam cầm, bắt bớ, chỉ thấy dân oan khiếu kiện mếu máo thảm thương, chỉ thấy công an dùng sức mạnh và vũ khí quật túi bụi vào dân lành, và dân lành nhiều khi phẫn uất, mạng đổi mạng với bọn công an.

Nhìn về Việt Nam, chỉ thấy những cô gái nghèo, như trong vidéo mới đây tôi được xem, bán mình cho đàn ông ngoại quốc, không do tình yêu (tình yêu gì mà khi đến phi trường Đại Hàn, chưa biết ai sẽ ra đón mình), mà do một chút tiền bạc, mong có được để đổi đời, cho mình và cho cha mẹ mình.Việc đó có khác gì việc người da đen bị bán làm nô lệ trong thời Mỹ Quốc lập nước, hai thế kỷ trước đây ? Việc buôn bán nô lệ, là Thế Kỷ thứ 18.Việt Công đang đưa dân Việt trở về Thế Kỷ này.

Nhìn về Việt Nam, chỉ thấy ngao ngán, xa lạ. Xa lạ vì cho mãi tới giờ, người dân vẫn chẳng có một chút quyền hành, một chút giá trị gì. Họ là con giun, cái kiến trước bọn nắm quyền, đảng viên đảng Cộng Sản,tệ hại hơn các ông vua thời phong kiến.

Hỡi những người Việt Nam, đồng bào của tôi, chúng ta phải chống bọn Trung Cộng Xâm Lược, chỉ lăm le nuốt chững chúng ta.

Nhưng trước khi chống Trung Cộng, chống bọn Việt Công trước đã, việc đó khẩn cấp hơn.Còn cái guồng máy CS trên đầu trên cổ, Việt Nam không thể trở nên hùng mạnh để làm các láng giềng nể trọng.

Trần Mộng Lâm.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Chúng tôi đi biểu tình

Nguyễn Anh Dũng

Cứ gần đến ngày 27/7, truyền thông nhà nước lại tuyên truyền về ngày thương binh liệt sỹ. Nhắc lại một thời đất nước bị tàn phá, con người bị hủy diêt bởi chiến tranh. Sự huỷ hoại trên mình tổ quốc, thời gian rồi sẽ xoá dần, nhưng vết thương trong tâm trí người dân thì không bao giờ xoá nhoà. Khi mà biết bao gia đình, còn đang khắc khoải, chờ mong và hy vọng tìm thấy hài cốt của người thân từ các bên tham chiến tại Việt Nam.

Trung Quốc phát động cuộc chiến biên giới phía Bắc năm 1979. Cưỡng chiếm biên giới trên đất liền, biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bắn giết bộ đội, ngư dân để cướp đảo, cưỡng đoạt tầu thuyền và đòi tiền chuộc. Thành lập các cơ quan quản lý hành chính và quân sự tại nơi đã chiếm đóng. Hành vi đó đã kéo dài qua nhiều năm tháng một cách có hệ thống, với mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn. Dần thực hiện âm mưu đồng hoá, biến Việt Nam trở thành một phần lãnh thổ của Trung Quốc.

Khi mà Đảng và nhà nước muốn giữ hoà khí trong một liên minh với Tầu cộng bằng 16 chữ vàng và quan hệ 4 tốt giả hiệu. Đã quên đi nỗi nhục mất nước từ ngàn xưa. Để rồi cũng quên đi hương hồn những người con của nhà nước Việt Nam Cộng Hoà, nhà nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam. Đã hy sinh để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam. Nhằm duy trì sự độc quyền thống trị của Đảng cộng sản.

Biểu tình chống xâm lược là việc làm cần thiết, để góp phần ngăn chặn chiến tranh trước khi cuộc chiến có thể xẩy ra. Biểu tình một cách ôn hoà là quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định tại điều 69, 77 Hiến pháp. Có thể nói đây là hình ảnh hội nghị Diên Hồng thu nhỏ nối tiếp truyền thống Ông Cha từ đời xưa. Như cụ Hồ đã nói: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Đồng thời cũng là thông điệp thể hiện ý chí và nguyện vọng của người dân gửi tới nhà cầm quyền trước hoạ Bắc triều. Như cụ Hồ đã nói:“Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” (Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946).

Đi biểu tình là sự tự nguyện chấp nhận khó khăn gian khổ, thậm chí cả mất mát hy sinh của cá nhân. Nhưng bù lại sẽ được cho nhân dân, tổ quốc trong độc lập tự do và hạnh phúc. Cổ nhân đã dậy: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, có hoà mình vào đoàn biểu tình mới thấy được lòng người khi sơn hà nguy biến, mới biết cái hay, cái tốt và sức mạnh của nó, mang đậm tính nhân văn.

Thoạt nhìn cảnh lực lượng cảnh sát triển khai lực lượng: Xe mô tô, xe ôtô chở quân cơ động trang bị đầy người, xe bắt người, xe phá sóng điện thoại quần đảo khắp nơi. Lại thêm lực lượng dân vệ, thanh niên CS Hồ Chí Minh cùng với các hàng rào sắt ... Chốt giữ các ngả đường cùng với âm thanh cực đại trên loa của cảnh sát, đòi giải tán cuộc biểu tình theo nghị định 38/CP năm 2005 của chính phủ, của lãnh đạo thành phố “Vì hoà bình”. Người yếu bóng vía thấy cảnh như vậy cũng “Thất kinh”.

Vượt lên tất cả, khi biểu ngữ “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam”, “Ủng hộ luật biển”, “Bảo vệ ngư dân Việt Nam”. “Đả đảo quân Trung Quốc xâm lược” xuất hiện. Lập tức từ các nơi, mọi người kéo đến hoà cùng dòng người, cùng nhau hô vang các khẩu hiệu, diễu hành qua các phố dẫn đến đại sứ quán Trung quốc.

Đoàn biểu tình diễu hành với một khí thế mạnh mẽ, vui vẻ, đoàn kết, sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ lẫn nhau. Không hề thấy xuất hiện sự lo âu sợ hãi, mặc dù biết rằng mọi người có thể bị đàn áp, bắt bớ bất cứ lúc nào. Lúc này mọi người dường như tạm gác sang một bên những nỗi khó khăn vất vả thường ngày, những nỗi bức xúc oan ức, những mối thù nhà để tập trung vào việc trả nợ nước.

Tiêu biểu như cô Trịnh Kim Tiến, nếu không bị công an ngăn cản khống chế. Đã tạm gác nỗi đau khi người cha thương yêu, trụ cột của cả gia đình đã bị tên ác ôn, trung tá công an Nguyễn Văn Ninh nhân danh nước cộng hoà XHCN Việt Nam đánh chết ở Hà Nội, để tham gia đoàn biểu tình. Hoặc biểu tình tại gia như chị Bùi Thị Minh Hằng ở Vũng Tầu.

Đi lẫn trong đoàn biểu tình một nhân viên mật vụ, mà mọi người đã nhẵn mặt nói: “Các bà Văn Giang đi khiếu kiện đòi đất, chứ chống gì Trung Quốc”. Một chị nông dân trả lời: “Nước mất thì đất Văn Giang cũng không còn, nên chúng tôi đi biểu tình chống Tầu”.

Có điều lạ các cuộc biểu tình chống Tầu trong tháng 7/2012, lực lượng cảnh sát dầy đặc, nhưng không xẩy ra xô sát, đàn áp bắt bớ. Theo kiểu đại uý cảnh sát Phạm Hải Minh mặc thường phục giả dạng côn đồ đạp vào mặt anh Nguyễn Chí Đức trong cuộc biểu tình trước đây. Ngược lại Họ còn hướng dẫn, đảm bảo giao thông cho đoàn khi đi qua các giao lộ, với một thái độ đúng mức. Một sự “Tốt lên” hiếm thấy, khiến người ta phải cảnh giác, về một thủ đoạn đàn áp mới có thể xấy ra.

Có điều lạ nữa, lúc đầu đoàn biểu tình chỉ có một số đông, càng đi đoàn người càng đông thêm bởi một số người mới sát nhâp, có nhiều người đi xe đạp hoặc xe máy cũng xuống dắt xe đi theo đoàn. Những người dân đứng hai bên đường nhìn theo với ánh măt đồng cảm, với nụ cười thân thiện. Ở một vài nơi, người dân đã tặng cờ, nhà Chùa tặng những thùng nước khoáng để tiếp sức thêm cho đoàn. Sự thật này đã nói lên điều gì?

Thật cảm động khi thấy những mái tóc bạc bên mái tóc xanh của các vị cao niên như cụ bà Lê Hiền Đức, nghệ sỹ violon Hải. Các bà mẹ tay bế con thơ, tay dắt con nhỏ. Có người phải ngồi trên xe lăn cùng các bạn trẻ đã không quản mọi nối gian truân, nguy hiểm để cùng hoà tiếng nói chung “Đả đảo quân Trung Quốc xâm lược”.

Một người đi biểu tình tên Cường kể lại: Kết thúc buổi biểu tình đã gần 11h30 ngày 22/7/2012, người đẫm mồ hôi và thấm mệt. Cường tìm đến quán nước giải khát của hiệu kem Bốn Mùa bên hồ Hoàn Kíêm, gọi một cốc kem dâu để giải khát. Ngồi cùng bàn là một người đàn ông khoảng 40 tuổi, người cao nhưng hơi gầy, có dọng nói nhẹ nhàng, đôi mắt dễ thương và vẻ mặt thân thiện, đặt chiếc máy ảnh đặt trên bàn, anh vui vẻ nói chuyện.

Được biết anh là người Sài Gòn, ra Hà Nội thăm người nhà, gập lúc đoàn biểu tình đi qua nên đã được thấy, được nghe và chứng kiến nỗi lòng của người dân Hà Nội. Lúc chia tay Cường đứng dậy trả tiền nước, thì người khách Sài Gòn rất lịch sự có nhã ý xin được mời và thay Cường thanh toán tiền cốc nước này, với một tình cảm tốt đẹp dành cho người đi biểu tình. Cường cũng không biết nói gì hơn đành chân thành cám ơn và qua anh nhờ nói lên khung cảnh của cuộc biểu tình chống Tầu cộng tại Hà Nội và xin gửi lời chào đến bà con cô bác ở Sài Gòn.

Thông tin về cuộc biểu tình nhanh chóng được truyển tải lên mạng Internet. Lãnh đạo thành phố đã cho đài truyền hình Hà Nội, dùng những lời nói thiếu văn hoá, xuyên tạc, xúc phạm và không quên buông lời đe doạ những người đi biểu tình. Một việc làm thiếu xuy nghĩ, thiếu tình người và quan trọng hơn cả. Họ đã vô trách nhiệm, đánh mất quyền và nghĩa vụ công dân, chỉ nhằm giữ lại cuộc sồng theo bản năng của mình. Rất tiếc một cơ quan báo chí cùng những người được phỏng vấn, cái đầu của họ cũng chỉ nghĩ được đến như vậy!

Trong khi đó một số người đi biểu tình được chính quyền “Nhận diện”, như cụ bà Lê Hiền Đức, LS Lê Quốc Quân được cơ quan ANĐT triệu tập đến “Làm việc”. Hoặc tại địa phương, các đoàn đại diện cho hệ thống chính trị của cụm dân cư đến tại nhà Blogger Nguyễn Hữu Vinh và một số người khác để khuyên cáo: Việc bảo vệ chủ quyền “Đã có đảng và Nhà nước lo”! và yêu cầu mọi người không đi biểu tình nữa!

Mấy vị đại diện này hẳn muốn người dân hãy cứ “Há miệng chờ sung”, hoặc cứ yên tâm vì đã có người khác chăn dắt như một “Bầy cừu”! Phải chăng họ không biết gì về hành vi xâm lược của Tầu cộng, hay họ là người từ hành tinh khác tới đây?

Trong khi đó, uỷ viên Bộ Chính Trị, bí thư thành uỷ Hà Nội, ông Phạm Quang Nghị, đã từng mắng người dân: “Dân ta bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà nước lắm. Cứ chờ trên về, chờ cung cấp cái này, hỗ trợ cái kia chứ không đem hết sức ra tự làm” (nguồn: Kinh tế nông thôn).

Trời Hà Nội những ngày này chợt mưa, chợt nắng, nhưng lòng người vẫn bình thản trước sóng gió cuộc đời. Phảng phất đâu đây một nỗi chăn trở, ưu tư, một nỗi buồn man mác. Khi mà còn có những người tỏ ra bằng lòng với cuộc sống hiện tại trong ngôi nhà bé nhỏ của mình. Cũng có thể do họ sống tốt, nhờ cơ chế “Sống chung với tham nhũng” hiện nay. Hoặc quá hoảng sợ khi nghe đến hai chữ “BIỂU TÌNH”.

Để rồi sự “Vô cảm” đã làm cho họ trở nên ích kỷ, nhỏ nhen và hèn nhát, không dám nghĩ đến cả những quyền và nghĩa vụ công dân của mình. Tuy nhiên đối tượng này không nhiều, đại bộ phận người dân đã quá mệt mỏi cực khổ với cuộc sống hiện tại và mong muốn đến một ngày nào đó, sẽ có dịp “Nối vòng tay lớn” để “Dậy mà đi”. Theo những ca khúc đi cùng năm tháng đã một thời vang dội trên những nẻo đường chiến tranh.

Hà Nội, ngày 01 tháng 8 năm 2012

Nguyễn Anh Dũng
Nhà giáo - Cựu chiến binh VN

ĐC: Số 5 ngách 12/87 Chính Kinh, Nhân Chính,Thanh Xuân, Hà Nội.
ĐT: (04) 38583514: DĐ: 0984535494. Gmail: xuannho.vu1@gmail.com

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Chuyện người xưa và điếu thuốc lá
Dân Huỳnh
Tôi có một kỷ niệm đẹp khó quên với một người bạn gái, thực ra là người yêu thì đúng hơn. Ðã hơn 25 năm trôi qua nhưng tôi vẫn nhớ bởi duyên không thành. Tình chỉ đẹp khi còn dang dở vậy.

Một trong những lý do dang dở cho đến hôm nay tôi mới bật mí, nếu người xưa có đọc được bài này xin được thứ lỗi cho sự thầm kín của tôi.

An là một cô gái tài năng, cô học giỏi, con nhà khá giả, cô có kiến thức, năng khiếu mọi thứ từ thêu thùa, may vá, cắm hoa, cắt tóc, làm bánh, hát đàn, v.v... Nói chung nữ công gia chánh cô xứng đáng là “master” bậc thầy! Chưa hết, ngoài những kỹ năng của phụ nữ, cô còn giỏi cả những lĩnh vực của nam giới như: Nghệ thuật chụp ảnh, hội họa, du lịch, kiến thức thời sự... Cô giỏi sinh ngữ Anh, Pháp, Hoa nên đọc sách nhiều và có một lối sống hoàn toàn ảnh hưởng Tây hóa, chính vì vậy cô nhảy đầm rất giỏi. Chính cô là một trong những người thầy dạy tôi khiêu vũ.

Tôi biết An yêu tôi rất nhiều, cô chăm sóc tôi như một đứa bé con, dù tôi lớn tuổi hơn nhiều. Cô hớt tóc cho tôi, gội đầu và đến cả chuyện... tắm cho tôi! Thật ngượng ngùng khi nhắc lại những kỷ niệm của một thời tuổi trẻ, nhưng tôi vẫn cho đó là những kỷ niệm đẹp.

An hơn hẳn mọi cô gái khác cùng lứa tuổi bởi sự thông minh, tài năng và bản lĩnh cộng thêm sự kiêu hãnh khiến An xem thường hết mọi chuyện. Một trong những chuyện xem thường mà An mắc phải đó là chuyện hút thuốc lá.

Tôi hiểu An hơn ai hết về việc đó. Lúc đầu chỉ là một phong cách, một style riêng của một cô gái Tây hóa. An hút thuốc thuộc loại đắt tiền, Dunhill xanh có menthol dành cho phụ nữ. Cô sành điệu với điếu thuốc trên tay và cảm hứng với những làn khói phà ra qua đôi môi mọng đỏ. Tôi nhớ những nụ hôn đậm mùi thuốc lá An đã trao cho tôi qua những lần gặp gỡ, và tôi cảm thấy mình như là phái yếu.

Thật ra tôi không đồng tình về việc hút thuốc lá của An. Tôi luôn khuyên bảo An bỏ thuốc lá và điều tôi lo sợ nhất chính là khi đưa An về nhà gặp ba mẹ tôi bởi vì chính tôi cũng không bao giờ hút thuốc ở nhà. Ba mẹ tôi luôn khó khăn về chuyện hút thuốc lá vì trong gia đình tôi không ai hút thuốc, nhất là người phụ nữ hút thuốc đối với gia đình tôi là điều cấm kỵ.

Khi chúng tôi đi uống cà phê, đi ăn với nhau, lúc An cầm điếu thuốc trên tay, tôi khó chịu làm sao với những ánh mắt soi mói của những người chung quanh. An thì ngược lại. Cô cho mọi chuyện là bình thường. An thách thức tất cả và điều buồn nhất là cô thách thức cả người mình yêu.

Tôi hiểu được vết rạn nứt của một cuộc tình. Tôi có lẽ là một người khắt khe quá không? Tôi hiểu được sự hấp dẫn của một điếu thuốc, từ style đến nghiện, chỉ một khoảng cách rất nhỏ và tôi cũng hiểu được một trong những điều khó từ bỏ nhất là... thuốc lá. Thời gian không thể làm lành được những vết thương đó của chúng tôi mà trái lại.

Tôi lẳng lặng một quyết định phũ phàng đối với An là lập... gia đình.

Chuyện tôi cưới vợ như một vết roi dành cho An. Tôi hiểu được sự đau nhói, sự phản bội của tôi mà An đã âm thầm chịu đựng, nhưng tôi tin rằng An là một cô gái bản lĩnh, cô sẽ vượt qua tất cả. Tôi chỉ là một cậu bé con dưới mắt cô, một cuộc tình nên thơ thấp thoáng không đáng nhớ... Tôi mong An cũng nghĩ như vậy. Chúng tôi chia tay từ đó.

An định cư cùng gia đình ở Mỹ trước tôi, mọi tin tức im bặt. Kỷ niệm như khép lại. Tôi cũng bỏ hẳn điếu thuốc lá từ ngày đó.

Khi đứa con đầu lòng của tôi lên 5 tuổi, một ngày tôi nhận được cuộc hẹn bất ngờ qua một người bạn đồng nghiệp: An từ Mỹ trở về và muốn thăm lại tôi.

Tôi hồi hộp và lo lắng những kỷ niệm cũ trở về và sợ vợ tôi biết. Vợ tôi biết An và nàng luôn cho rằng An là một cô gái không đàng hoàng chỉ vì biết... hút thuốc. Tôi cho rằng đó là một nhận định sai trái và quá đáng. Tôi bênh vực An vì hiểu được An. Tôi quyết định cho tôi một cuộc hẹn hò lén lút.

Ðón An tại phi trường Tân Sơn Nhất, nhìn nhau, tôi hiểu vết thương đối với An vẫn còn. An đã già đi nhiều dưới lớp phấn son. Lòng tôi se lại, buồn. Tôi biết tôi phải cần im lặng. Tôi luôn là người có lỗi với An.

Chúng tôi hẹn nhau đi vũ trường ngay buổi tối hôm đó. Bên nhau trong điệu slow, chúng tôi sống lại với bao kỷ niệm nhưng hoàn toàn thiếu hẳn nụ hôn ngày nào cho nhau. Khoảng cách đó cả hai cùng thầm hiểu. An và tôi thầm lặng.

Sau điệu nhảy, tôi và An trở về ngồi trong góc tối của vũ trường. An châm lấy điếu thuốc rít một hơi dài trong không khí nặng trĩu. An vẫn còn hút thuốc? Tôi thầm hỏi và cũng thầm trả lời, chắc đó là lý do chúng mình chia tay? Không, không đâu An. Tôi chợt ngộ ra rằng không phải điều đơn giản vì điếu thuốc lá đó để chúng ta chia tay nhau. Thôi thì đổ thừa cho chuyện không duyên không nợ.

Tôi sang Mỹ đã nhiều năm nay nhưng tin tức về An vẫn chìm vào dĩ vãng. Tôi cố quên đi hình ảnh một người phụ nữ và điếu thuốc lá. Ở Mỹ chuyện đó thường tình làm sao bởi phụ nữ ở Mỹ hút thuốc nhiều hơn hẳn nam giới. Tôi có nhiều dịp chụp ảnh những cô gái hút thuốc lá trên đường phố New York trong giờ break time, những cô gái phì phà điếu thuốc với style rất Mỹ và cái vẻ hút thuốc độc đáo đó đủ để che lấp hẳn sự nghiện ngập.

Chuyện phụ nữ hút thuốc vẫn là một câu chuyện dài. Khoa học đã chứng minh biết bao nhiêu sự tác hại của thuốc lá nhưng kiến thức của An không nhất thiết hiểu được điều đó. An xem thường cuộc sống và giá trị của nó.

“Một làn khói trắng ru đời vào quên lãng...” An muốn như vậy để lãng quên theo câu hát của Vũ Thành An hay để quên tôi, một kẻ “tội đồ”? Không, An không yếu đuối và ủy mị như vậy. An có quả tim thép và bản lĩnh hơn ai hết. Vậy mà đối với thuốc lá, An vẫn là người nô lệ. Tôi cảm thấy thương hại cho An.

Lần cuối cùng gặp nhau dường như buồn nhiều hơn và khoảng cách xa xăm hơn.

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Tiếng lóng Sài Gòn

Image

Một thời, một nơi chốn nào đó, trong đời sống ngôn ngữ dân gian lại nảy sinh ra một số tiếng lóng, một số thành ngữ, một câu hát nhại theo câu hát chính phẩm, hầu hết là để châm biếm, tạo nên nụ cười, hay có khi là để răn đe, tìm sự hoàn thiện trong cuộc sống, chúng chỉ sống một thời rồi tự biến mất, nhường chỗ cho đoạn đời "tiếng lóng" khác đến thay thế. Do đó, việc ghi chúng lại để đọc vui chơi hay phục vụ nghiên cứu văn học dân gian, chỉ có giá trị, khi ghi rõ định vị địa lý và thời gian.


Tỷ như Sài Gòn vào thập niên 60, thịnh hành tiếng lóng "sức mấy" để thay nói bất lực hay chuyện không thể. Phổ biến đến nỗi, một nhạc sĩ đã chọn làm đề tài cho một bài hát đường phố "Sức mấy mà buồn, buồn chi bỏ đi Tám".
Những câu chuyện thuộc loại tiếng lóng đó xuất hiện vào thời buổi Sài Gòn thời chiến, quê hương chiến tranh buồn phiền; "sức mấy" đã trở thành bút hiệu của một chuyên mục phiếm luận trên báo, sau đó một kỹ thuật gia sản xuất còi ôtô đã chế ra một điệu còi ôtô, bấm còi là kêu vang trên phố một dòng nhạc còi auto 9 nốt "tính tính tè tè, tè ti tè ti té", làm cho đường phố càng náo loạn hơn.


Trước đó cũng từ bài ca Diễm xưa của Trịnh Công Sơn mà sinh ra tiếng lóng "xưa rồi Diễm ơi", mỗi khi có ai lặp lại một đòi hỏi nào đó,mà người nghe không muốn nghe thêm nữa.

Thời các vũ trường mới du nhập Sài Gòn như Mỹ Phụng, Baccara, Tháp Ngà, thì dân chơi gọi Tài-pán tức người điều phối nhóm vũ nữ, bằng tiếng lóng "Cai gà", gọi cảnh sát là "mã tà", vì police (cảnh sát) hay mang cái dùi cui, tiếng Tây là matraque, đọc trại thành "mã tà". Cũng từ thời thuộc địa, tiếng Tây chế ra tiếng lóng âm Việt rất nhiều như: "gác-dang" tức thuê người làm bảo vệ; tiếng Pháp gardien đọc trại ra thành gác-dang. Cũng như nói "de cái đít" tức lùi xe arriere; tiền cho thêm người phục vụ tiếng Pháp: pour-bois âm bồi gọi "tiền boa", sau này chế ra là "tiền bo".

Cũng thời Pháp thuộc, Sài Gòn có nhiều cách nói mà đến nay không ai biết nguyên do. Tỷ như gọi sở bưu điện là nhà dây thép, mua tem dán bao thư gọi là "con cò", còn nếu gọi "ông cò" là chỉ cảnh sát trưởng mấy quận ở thành phố, gọi "thầy cò" tức là các ông chữa morasse các tòa báo do chữ correcteur, nhưng nói "cò mồi" là tay môi giới chạy việc, "ăn tiền cò" thì cũng giống như "tiền bo", nhưng chữ này chỉ dùng cho dịch vụ môi giới.

Thời kinh tế phát triển, đi xe auto gọi là đi "xế hộp", đi xe ngựa gọi là đi "auto hí", đến thời xe máy nổ ầm ào, đi xe đạp gọi là "xe điếc", đi nghỉ mát Vũng Tàu gọi là "đi cấp", đi khiêu vũ gọi là "đi bum", đi tán tỉnh chị em gọi là đi "chim gái", đi ngắm chị em trên phố gọi là "đi nghễ", gọi chỉ vàng là "khoẻn", gọi quần là "quởn", gọi bộ quần áo mới là "đồ día-vía". Ði chơi bài tứ sắc các bà gọi là "đi xòe", đi đánh chắn gọi là "múa quạt", đi chơi bài mạt chược các ông gọi là "đi thoa", đi uống bia gọi "đi nhậu", đi hớt tóc gọi đi "húi cua". Có một cụm tiếng lóng từ Huế khoảng 1920 - 1950 du nhập Sài Gòn, đó là "đi đầu dầu", tức các chàng trai ăn diện "đi nghễ" với đầu trần không mũ nón, để cái mái tóc chải dầu brillantine láng cóng, dù nắng chảy mỡ. Tuyệt vời gọi là "hết sẩy", quê mùa chậm chạp gọi là "âm lịch", hách dịch tự cao gọi là "chảnh".


Tiền bạc gọi là "địa", có thời trong giới bụi đời thường kháo câu "khứa lão đa địa" có nghĩa ông khách già đó lắm tiền, không giữ lời hứa gọi là "xù", "xù tình", tức cặp bồ rồi tự bỏ ngang. Làm tiền ai gọi là "bắt địa", ăn cắp là "chôm chỉa", tương tự như "nhám tay" hay "cầm nhầm" những thứ không phải của mình.


Ghé qua làng sân khấu cải lương hát bội, người Sài Gòn gọi là làng "hia mão", có một số tiếng lóng người ngoài làng có khi nghe không hiểu. Tỷ như gọi "kép chầu", có nghĩa là đào kép đó tuy cũng tài sắc nhưng vì một lý do nào đó không được phân vai diễn gánh hát, đêm đêm họ cũng xách vali trang phục phấn son đến ngồi café cóc trước rạp hay túc trực bên cánh gà, để đợi, ngộ nhỡ có đào kép chính nào trục trặc không đến rạp được, thì kép chầu thay thế vào ngay. "Kép chầu" phải thuần thục rất nhiều tuồng để đau đâu chữa đó.

Ðào chính chuyên đóng vai sầu thảm gọi là "đào thương", kép chính chuyên đóng vai hung tàn gọi là "kép độc". Có một cụm tiếng lóng xuất phát từ hai nơi, một là cải lương rạp hát, hai là quanh các tòa soạn báo chí, đó là "café à la... ghi" tức uống café thiếu ghi sổ...Vào làng báo mà tiếng lóng người Sài Gòn xưa gọi "nhật trình". Nếu thiếu tin lấy một tin cũ nhưng chưa đăng báo để đăng lấp chỗ trống, gọi là "tin kho tiêu", các loại tin vớ vẩn dăm dòng từ quê ra tỉnh gọi là "tin chó cán xe", tin quan trọng chạy tít lớn gọi là "tin vơ-đét" vedette, nhặt từ tài liệu dài ra thành một bài gọn gọi là "luộc bài", chắp nhiều thông số khác nguồn ra một bài gọi là "xào bài", truyện tình cảm dấm dớ gọi là "tiểu thuyết 3 xu", các tạp chí bình dân xoi mói đời tư gọi là "báo lá cải". Làng nhật trình kỵ nhất là loan tin thất thiệt, lóng gọi là "tin phịa", nhưng trong "tin phịa" còn có hai mảng chấp nhận được đó là loan tin thăm dò có chủ đích, lóng gọi là "tin ballons" tức thả quả bóng thăm dò, hay tin thi đua nói dối chỉ được xuất hiện vào đầu tháng tư, gọi là "tin Cá tháng Tư".

Có đến bảy tiếng lóng để thay cho từ chết. Ðó là "tịch", "hai năm mươi", "mặc chemise gỗ", "đi auto bươn", "về chầu diêm chúa", "đi buôn trái cây" hay "vào nhị tỳ", "nhị tỳ" thay cho nghĩa địa và "số dách" thay cho số một... đều ảnh hưởng từ ngôn ngữ minh họa theo người Hoa nhập cư.

Thời điểm truyện và phim kiếm hiệp của Kim Dung nói chung là chuyện Tầu thịnh hành, người Sài Gòn đã chế ra nhiều tiếng lóng, như ai dài dòng gọi là "vòng vo Tam Quốc", ai nói chuyện phi hiện thực gọi là "chuyện Tề Thiên", tính nóng nảy gọi là "Trương Phi".Một số tên nhân vật điển hình của Kim Dung được dùng để chỉ tính cách của một người nào đó. Tỷ như gọi ai là "Nhạc Bất Quần" tức ám chỉ người ngụy quân tử, đạo đức giả, gọi là "Ðoàn Chỉnh Thuần" tức ám chỉ đàn ông đa tình có nhiều vợ bé... Sài Gòn là đất của dân nhập cư tứ xứ, nơi tha hương văn hóa bốn phương, nên ngôn ngữ càng thêm phong phú, trong đó tiếng lóng cũng "ăn theo" mà ra đời. Thời Mỹ đến thì một tiếng "OK Salem", mà các trẻ bụi đời vừa chạy vừa la để xin ông Mỹ điếu thuốc. Thời gọi súng là "sén" hay "chó lửa", dân chơi miệt vườn gọi "công tử Bạc Liêu" còn hiểu được, Sài Gòn xuất hiện cụm từ "dân chơi cầu ba cẳng" thì thật không biết do đâu? Có lẽ cầu ba cẳng có tên Pallicao, lêu nghêu 3 cẳng cao như dáng vẻ cowboy trong các phim bắn súng, nên mới gọi "dân chơi cầu ba cẳng"? Ðó cũng là lúc các tiếng lóng như "dân xà bát", "anh chị bự", "main jouer" tay chơi ra đời, chạy xe đua gọi là "anh hùng xa lộ", bị bắt gọi là "tó", vào tù gọi là "xộ khám". Bỏ học gọi là "cúp cua", bỏ sở làm đi chơi gọi là "thợ lặn", thi hỏng gọi là "bảng gót". Cũng do scandal chàng nhạc sĩ nổi tiếng kia dẫn em dâu là ca sĩ K.Ng. qua Nhà Bè ăn chè, để ngoại tình trong túp lều cỏ bị bắt, từ đó "đi ăn chè" trở thành tiếng lóng về hành vi ngoại tình trốn ra ngoại ô.

Cũng có một số tiếng lóng do nói lái mà ra như "chà đồ nhôm" tức "chôm đồ nhà", "chai hia" tức chia hai chai bia bên bàn nhậu, nó cùng họ với "cưa đôi". Lóng thời sự loại này có "tô ba lây đi xô xích le" tức "Tây ba lô đi xe xích lô". Trong tiếng lóng còn chất chứa ân tình. Họa sĩ chuyên vẽ tranh sơn mài đề tài lá hoa sen xuất thân xứ Ca Trù hay than "buồn như chấu cắn", hay có người than phiền vì câu né tránh trách nhiệm với hai tiếng "lu bu"để thất hứa, nay còn có người nhấn thêm "lu xu bu" nại lý do không rõ ràng để trốn việc. Ðể tạm kết thúc phần dẫn này, tôi muốn nhắc một số âm sắc Bắc Hà. Những âm sắc theo chân người Hà Nội vào Nam rồi trở thành tài sản chung của người Việt. Bắt quả tang thành "quả tó", gọi chiếc xe Honda là "con rim", gọi tờ giấy 100USD là "vé", đi ăn cơm bình dân gọi là "cơm bụi", xuống phố dạo chơi gọi là "đi bát phố", gọi người lẩm cẩm là "dở hơi"...

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Cả nước đã bị lừa
Đã hơn 3 thập kỷ trôi qua, làm ăn cực nhọc là thế, thành tựu không thể nói là nhỏ, thế mà khoảng cách phát triển của VN so với thế giới sao vẫn xa vời! Không định thần nhìn nhận lại tất cả, không khéo chúng ta sẽ ngày càng đi sâu vào con đường đi làm thuê, đất nước có nguy cơ trở thành đất nước cho thuê với triển vọng là bãi thải công nghiệp của các quốc gia khác! Giữa lúc thế giới đang bước vào thời kỳ kinh tế trí thức!

150 năm đã trôi qua, nhưng bài học này còn nguyên vẹn. Đó là 80 năm nô lệ, 40 năm với 4 cuộc chiến tranh lớn (Pháp, Mỹ, Cam Bốt, Tàu) – trong đó 3 thế hệ liên tiếp gánh chịu những hy sinh khốc liệt, 35 năm xây dựng trong hòa bình với biết bao nhiêu lận đận, và hôm nay VN vẫn còn là một nước chậm tiến.

Thảm kịch của đảng cộng sản thực ra đã bắt đầu ngay từ ngày 30-4-1975. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. “Tính hơn hẳn” của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.

Nhìn lại sau hơn nữa thế kỷ dưới chế độ CS, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra :

- Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam ?

- Sau năm 1975 , tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp ?

- Tại sao sau khi được “giải phóng” khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông ?

- Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị ?

Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?

- Tại sao đàn ông của các nước tư bản Châu á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?

- Tại sao Liên Xô và các nước Đông âu bị sụp đổ?

- Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn?

- Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường , phải đi làm công cho các nước tư bản?

- Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch?

Hỏi tức là trả lời, người VN đã bỏ phiếu bằng chân từ bỏ một xả hội phi nhân tính . Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghỉa.

Sự thực đã quá hiển nhiên nhưng đảng cộng sản không thể công khai nhìn nhận. Họ không thể nhìn nhận là đã hy sinh 4 triệu sinh mệnh trong một cuộc chiến cho một sai lầm. Nếu thế thì họ không còn tư cách gì để nắm chính quyền, ngay cả để hiện diện trong sinh hoạt quốc gia một cách bình thường. Nhìn nhận một sai lầm kinh khủng như vậy đòi hỏi một lòng yêu nước, một tinh thần trách nhiệm và một sự lương thiện ở mức độ quá cao đối với những người lãnh đạo cộng sản. Hơn nữa họ đã được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, bỏ chủ nghĩa này họ chỉ là những con số không về kiến thức. Cũng phải nói là trong bản chất con người ít ai chịu từ bỏ quyền lực khi đã nắm được.

Thế là sau cuộc cách mạng long trời lở đất với hơn ba chục năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, Cộng Sản Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ ba dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, hy sinh hơn bốn triệu mạng người, đi lòng dòng gần nửa thế kỷ, Cộng Sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình tư bản để tồn tại .

Hiện tượng “Mửa ra rồi nuốt lại” này là một cái tát vào mặt các nhà tuyên giáo trung ương.

Cách mạng cộng sản đã đưa ra những lí tưởng tuyệt vời nhất, cao cả nhất, đã thực hiện những hành động anh hùng vô song, đồng thời cũng gieo vào lòng người những ảo tưởng bền vững nhất. Nhưng thực tế chuyên chính vô sản đã diễn ra vô cùng bạo liệt, tàn khốc, chà đạp man rợ lên đạo lý, văn hóa và quyền con người ở tất cả các nước cộng sản nắm chính quyền. Sự dã man quỷ quyệt mánh lới và sự bất nhân khéo che đậy của Cộng sản chưa hề thấy trong lịch sử loài người.

Con người có thể sống trong nghèo nàn, thiếu thốn. Nhưng người ta không thể sống mà không nghĩ, không nói lên ý nghĩ của mình. Không có gì đau khổ hơn là buộc phải im lăng, không có sự đàn áp nào dã man hơn việc bắt người ta phải từ bỏ các tư tưởng của mình và “nhai lại” suy nghĩ của kẻ khác.

Nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối , những kẻ mù chỉ biết nhai như vẹt các nguyên lý bảo thủ giáo điều…

Công dân của nhà nước cộng sản luôn luôn sợ hãi, luôn luôn lo lắng không biết mình có làm gì sai để khỏi phải chứng minh rằng mình không phải là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội.

Cơ chế quyền lực cộng sản tạo ra những hình thức đàn áp tinh vi nhất và bóc lột dã man nhất. Vì vậy công dân trong các hệ thống cộng sản hiểu ngay điều gì được phép làm, còn điều gì thì không. Không phải là luật pháp mà là quan hệ bất thành văn giữa chính quyền và thần dân của nó đã trở thành “phương hướng hành động” chung cho tất cả mọi người.

Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của của Nhà nước. Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là suy đồi đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống…

Bác và đảng đã gần hoàn thành việc vô sản hóa và lưu manh hóa con người VN (vô sản lưu manh là lời của Lê Nin). Vô sản chuyên chính (đảng viên) thì chuyển sang làm tư bản đỏ, còn vô sản bình thường (người dân) trở thành lưu manh do thất nghiệp, nghèo đói.

Nền kinh tế Việt Nam bây giờ chủ yếu là dựa trên việc vơ vét tài nguyên quốc gia , bán rẻ sức lao động của công nhân và nông dân cho các tập đoàn kinh tế ngoại bang , vay nước ngoài do nhà nước CS làm trung gian .

Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp do cộng sản Việt Nam dày công dàn dựng đã tan thành mây khói khi giai cấp “vô sản” âm thầm lột xác trở thành các nhà Tư bản đỏ đầy quyền lực và đô la.

Do vậy, lý thuyết CS dần dần mất đi tính quyến rủ hoang dại. Nó trở nên trần trụi và lai căng. Tất cả điều đó đã làm cho các ĐCS trên toàn thế giới dần dần chết đi. Dù GDP có tăng lên, nhiều công trình lớn được khánh thành do vay mượn quỹ tiền tệ Quốc Tế nhưng đạo đức xả hội cạn dần. Thực tế cho thấy rằng sức mạnh không nằm ở cơ bắp. Vủ khí, cảnh sát và hơi cay chỉ là muổi mòng giửa bầu trời rộng lớn nếu như lòng dân đã hết niềm tin vào chính quyền.

Học thuyết về xây dựng một xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa chỉ là một loại lý tưởng hóa, nó là chiếc bánh vẽ để lừa gạt dân, không hơn không kém; đảng nói một đằng, làm một nẻo. Chẳng hạn đảng nói “xây dựng xã hội không có bóc lột” thì chính những đảng viên lại là những người trực tiếp tham nhũng bóc lột người ; đảng nói ” một xã hội có nền dân chủ gấp triệu lần xã hội tư bản” thì chính xã hội ta đang mất dân chủ trầm trọng; đảng nói “đảng bao gồm những người tiên phong nhất, tiên tiến nhất” nhưng thực tế thì đảng đầy rẫy những người xấu xa nhất, đó là những kẻ đục khoét tiền bạc của nhân dân.

Sở dĩ ĐCSVN còn cố giương cao ngọn cờ XHCN đã bị thiêu rụi ở tất cả các nước sản sinh ra nó vì chúng đang còn nhờ vào miếng võ độc “vô sản chuyên chính” là… còng số 8, nhà tù và họng súng để tồn tại !

Nhân dân đang hy vọng rằng Đảng sớm tự ý thức về tội lổi tầy trời của mình . Đảng sẻ phải thẳng thắn sám hối từ trong sâu thẳm chứ không chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục ngụy biện, chấp vá một cách trơ trẻn.

Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi” mà kết luận: “Tất cả đều là lừa bịp!”

Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ … đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.

Một thời kỳ mà tâm trạng của người dân được thi sĩ cách mạng Bùi Minh Quốc tóm tắt qua 2 vần thơ :

“Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa !
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!”

Chẳng lẽ tuổi thanh xuân của bao người con nước Việt dâng hiến cho cách mạng để cuối cùng phải chấp nhận một kết quả thảm thương như thế hay sao ? Chẳng lẽ máu của bao nhiêu người đổ xuống, vàng bạc tài sản của bao nhiêu kẻ hảo tâm đóng góp để cuối cùng tạo dựng nên một chính thể đê tiện và phi nhân như vậy ?

Tương lai nào sẽ dành cho dân tộc và đất nước Việt Nam nếu cái tốt phải nhường chổ cho cái xấu? Một xã hội mà cái xấu, cái ác nghênh ngang, công khai dương dương tự đắc trong khi cái tốt, cái thiện phải lẩn tránh, phải rút vào bóng tối thì dân tộc đó không thể có tương lai ! Một kết cục đau buồn và đổ vỡ là điều không tránh khỏi.

Châu Hiển Lý –
Bộ đội tập kết 1954

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Quyền của cái miệng Ăn xin là vạn bất đắc dĩ, là một cách để cái miệng có thứ mà nhai, là một cách kiếm sống. Không ai muốn phải tha hương, phải “lao động khổ sai” cả ngày trên đường, phải “cúi nhặt đồng xu dưới cống” cả

Luật Biểu tình cuối cùng vẫn là dự án luật gây tranh cãi nhất trong chương trình xây dựng luật của Quốc hội. Và lần này, thay cho phát ngôn nổi tiếng “Biểu tình là sự ô danh”, thì “Chủ nghĩa xã hội” được đưa ra như một lý do chính để bác bỏ dự án luật này.

“Nước ta là nước Xã hội chủ nghĩa, chưa nói tới biểu tình, để cho quần chúng nhân dân đi ăn xin giữa đường đã là không được”- Đây là phát biểu của ĐBQH Đắk Lắk, ông Niê Thuật.

Ăn xin là vạn bất đắc dĩ, là một cách để cái miệng có thứ mà nhai, là một cách kiếm sống. Không ai muốn phải tha hương, phải “lao động khổ sai” cả ngày trên đường, phải “cúi nhặt đồng xu dưới cống” cả. Hơn nữa, cũng cần phải nói là có nhiều cách để xóa bỏ tình trạng “ăn xin giữa đường” thay cho biện pháp hành chính là cấm, là bắt, là trả về địa phương, là đưa đi trại bảo trợ xã hội. Mà cách hữu hiệu nhất là chính quyền cho họ một cái cần câu cơm để tự họ có một cuộc sống “có cái để cho vào miệng”. Ông Niê Thuật là Bí thư tỉnh ủy Đắk Lắk, là quan đầu tỉnh, chắc hẳn ông quá hiểu chuyện đó. Vì thế, sự “được” hay “không được” không quyết định bởi những người vô nghề nghiệp, đang đói rã họng phải lê lết đi xin ăn ngoài phố, mà ở trách nhiệm của các bậc phụ mẫu với nhân dân của mình. Ước mơ giản dị của cụ Hồ “Ai cũng có cơm ăn áo mặc” từ ngày lập nước đến giờ đã mấy chục năm, xem ra vẫn còn là một mục tiêu cần phấn đấu.

Thế đấy, dù xã hội chủ nghĩa là tươi đẹp, là ưu việt, vẫn có những người phải ăn mày thiên hạ. Nhưng ngay cả khi nhân dân đã no ấm đến mức không còn người ăn xin, không còn hàng trăm ngàn người thiếu đói mỗi tháng thì chế độ xã hội cũng không phải là lý do để bác đi một trong những quyền cơ bản nhất của công dân đã được ghi trong Hiến pháp. Thưa ông Niê Thuật, một xã hội có những vấn đề - ăn xin chẳng hạn, thì cái đáng sửa, là cái cách xã hội đó đối xử để người dân không phải ăn xin, chứ không phải mặc áo đạo đức nói nó không có “ăn xin”, hoặc không chấp nhận “ăn xin” là vấn đề xã hội.

Còn nhớ tháng 11 năm ngoái, với tư cách là người có sáng kiến xây dựng Luật Biểu tình, Thủ tướng Chính phủ đã nói một cách rất giản dị rằng một dự án luật điều chỉnh hoạt động tuần hành, biểu tình là cần thiết vì thực tế đang đòi hỏi và bởi Luật Biểu tình là thực hiện theo Hiến pháp, với quy định công dân dược biểu tình. Chính phủ chấp nhận Luật Biểu tình, Thủ tướng Chính phủ thậm chí là người có sáng kiến xây dựng Luật, dù có thể các cuộc biểu tình sẽ là nơi nhân dân tỏ thái độ, hoặc ủng hộ, hoặc chưa ủng hộ với Chính phủ. Vậy thì can cớ gì mà một đại biểu dân cử lại không chấp nhận quyền hiến định của dân?

Phát biểu trước nghị trường ngày hôm qua, ĐBQH Trương Trọng Nghĩa, người từng coi Luật biểu tình là một “món nợ” của nhà nước đối với nhân dân, tiếp tục yêu cầu đưa Luật Biểu tình vào chương trình xây dựng luật. Bởi theo ông: “Một bên người dân có quyền hiến định, một bên là tình trạng thả nổi sẽ làm phát sinh xung đột, sự cố bất lợi nhiều mặt, kể cả uy tín của Nhà nước và thậm chí là thể diện quốc gia”. Ông gọi những người từng biểu tình là “bà con”: “Rất nhiều trường hợp biểu tình là do liên quan tới đất đai, vì không có hành lang pháp lý nên cách làm của bà con không theo mô hình nào cả, không có tư vấn nên dễ bị kẻ xấu xúi bẩy, gây ra nhiều hành vi phản cảm”. Và “Luật biểu tình sẽ đưa tình trạng này vào nề nếp, nhiều ngòi nổ sẽ được tháo bỏ kịp thời trước khi vụ việc trở nên nghiêm trọng hơn. Hy vọng khi có luật, các vụ biểu tình sẽ giảm bớt với mức độ sẽ bớt nghiêm trọng hơn”.

Không có Luật biểu tình vẫn có những cuộc biểu tình, dù đó là bất hợp pháp. Có Luật Biểu tình, có nghĩa là sẽ có biểu tình. Nhưng một đất nước có những cuộc biểu tình hợp pháp thì đó không phải là sự “ô danh” khi cùng với quyền được nhai, cái miệng còn có quyền được nói.

© Đào Tuấn
Theo blog Đào Tuấn

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

CẦM QUYỀN HAY CẦM THÚ?

Thiên Hạ Sự

Trong một bài trước, “Chánh Quyền hay Cầm Quyền?” người viết đã vạch rõ và xác định đảng CSVG đang thống trị đất nước Việt Nam chỉ là một tập đoàn cầm quyền, không phải là chánh quyền như chúng huênh hoang và môt số người đã vô tình và nhầm lẫn gọi.

Ở bất cứ đâu, dù nắm quyền cai trị bằng cách nào, tiêu cực hay tích cực, người cầm quyền cũng có trách nhiệm đối với quốc gia, dân tộc, nhất là khi phải đương đầu với kẻ thù ngoại bang: trách nhiệm của những người đang cầm quyền là bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ sanh mạng, quyền lợi và tài sản người dân vô tội trước hành động khiêu khích, bạo lực, xâm lấn của ngoại bang. Im lặng trong những trường hợp này là hèn nhát, không thể chấp nhận, trừ phi đồng lõa trong âm mưu bán nước, hủy diệt lòng tự hào và tự trọng, nhất là lòng yêu nước của một dân tộc. Đây là một tội ác lớn nhất mà một tập đoàn cầm quyền vi phạm. Tập đoàn CSVG có làm tròn trách nhiệm của mình không?

Ở nhiều chế độ độc tài toàn trị, tập đoàn cầm đầu cướp quyền cai trị đất nước bằng những phương cách bá đạo như dùng bạo lực lật đổ một chánh phủ hợp hiến do dân bầu. Điều này thường thấy ở các quốc gia chậm tiến, dân trí còn thấp nên bị một thiểu số người làm chánh trị hoạt đầu, thời cơ lợi dụng làm đảo chánh, hay ở một số các quốc gia thuộc địa trước đây người dân bị các băng đảng cộng sản sách động “cướp quyền” theo một âm mưu quốc tế nhằm nhuộm đỏ toàn cầu bằng chủ thuyết Mac Lê.

Chế độ cộng sản trước nay trên thế giới thường bắt đầu bằng một hành động “cướp quyền” để thiết lập một guồng máy thống trị bằng bạo lực: ở Nga năm 1917, ở Tàu năm 1949, ở Việt Nam năm 1945, Cuba năm 1959… Các chế độ xã hội chủ nghĩa hay cộng hòa nhân dân/dân chủ nhân dân đó có gì khác với các chế độ cộng hòa, dân chủ theo truyền thống Tây Phương không?

Xã Hội Loài Thú và Các Chế Độ Cộng Sản

Xã hội loài thú khác xã hội loài người ở hai điểm:

Luật rừng

• Xã hội con người cần có luật pháp phân minh để duy trì an ninh, trật tự, và công bình xã hội. Luật pháp phải vô tư, khách quan, áp dụng đồng đều cho mọi người, không phân biệt giàu nghèo, có quyền hành hay cô thế. Luật của thú rừng là “mạnh được yếu thua,” luật sinh tồn, luật của loài thú nào mạnh nhất, ác độc nhất.

Ở các quốc gia nhân trị và pháp trị, luật pháp chấp nhận nguyên tắc “tha lầm hơn giết lầm.” Ở các nước cộng sản trước nay, kẻ cầm quyền áp dụng chủ trương “thà giết lầm hơn tha lầm”; phương tiện nào cũng được, cũng tốt nếu giúp kẻ cầm quyền đạt được mục tiêu, cứu cánh… Bởi đó, người dân vô tội bị giết oan nhiều hơn kẻ phạm pháp. Kẻ giết người, phạm pháp được bầu chọn làm ủy viên trung ương đảng và bộ chánh trị, nắm giữ quyền cai trị và tiếp tục vi phạm luật pháp do chúng bày vẽ ra!

Vô cảm.

• Trừ một vài loài động vật được bàn tay con người chăm nuôi, săn sóc như chó, mèo…, nói chung thú vật thường vô cảm, dửng dưng trước nỗi khổ đau của đồng loại. Chúng sống theo bản năng trời phú để sanh tồn. Con người, sau hàng triệu năm tiến hóa, đã ý thức được nhu cầu xã hội kết đoàn, tương thân tương ái, đồng cảm. Thế nhưng, trong cái xã hội được gọi là… con người đó vẫn có những phần tử sống vô cảm như loài vật. Nếu ở loài vật vô cảm là bản tính thì nơi con người, vô cảm là hậu quả của một chế độ chánh trị và thường biểu lộ qua thái độ và nhất là hành động, chủ trương, chánh sách của tập đoàn cầm quyền. Đồng cảm hay động lòng thương người đồng loại, đồng chủng là nhân tính phổ quát, sanh ra đã có. Nhưng chế độ cộng sản đã hủy diệt để biến con người thành con vật sản xuất chỉ biết lao động, ăn ngủ, làm tình theo ý đảng và chấp hành mệnh lệnh. Tất cả đều theo kế hoạch, khuôn phép nhà nước.

Vô cảm, do đó, là một hệ luận tất yếu của các xã hội cộng sản, một xã hội chuyên dùng luật rừng, mạnh được yếu thua. Phải vô cảm thì bọn cầm quyền mới có thể giết người vô tội, giết người không cần xét xử công minh, giết người để cướp đất, cướp nhà, cướp tài sản… để đạt mục tiêu ( “cho đảng bền lâu,” “thờ Mao chủ tịch,” “thờ Xit Ta Lin” ) với bất cứ phương tiện nào ( “Giết! Giết nữa!” )

Đảng CSVG khai sanh trong hang Pác Bó và lớn lên trong khung cảnh núi rừng Việt bắc. Lối sống hoang dã của loài thú rừng – dùng bạo lực để đạt mục tiêu – đã ảnh hưởng đến não trạng người sáng lập đảng và các môn đệ truyền nhân. Cuộc sống 25 năm (1929 – 1954) trong rừng bụi, thiếu ánh sáng mặt trời, xa lối sống của người văn minh, không thể không lưu lại những bóng đen khổng lồ trong lối suy nghĩ cũng như trái tim vô cảm, thiếu vắng tình người của những người đầu đảng trước đây và bây giờ…

Sau nửa thế kỷ cướp quyền ở Hà Nội và 36 năm chiếm đoạt miền Nam, đảng CSVG, thay vì hành sử như một một guồng máy cầm quyền có trách nhiệm với dân, với nước, điều hành bằng luật lệ của xã hội văn minh, vẫn tiếp tục trị nước theo phương cách của loài cầm thú rừng xanh: dùng luật rừng để cai trị và vô cảm trước những khổ đau của dân tộc!


(CHXHCNVG có tên thừa tướng kiêm thái thú Tàu Nguyễn Tấn Dũng học lực chưa hết cấp hai bổ túc văn hóa mà được bộ công an ban thưởng văn bằng cử nhân… chuyên ngành luật rừng U Minh, Rạch Giá!)

Năm 1955, bộ đội CSVG vào thành tiếp thu Hà Nội thì gần một triệu dân lành phải lìa bỏ nhà cửa, ruộng vườn, tài sản để di cư vào Nam sống đời con người có nhân vị. Khi đã thiết lập xong guồng máy đàn áp, kiềm kẹp, đảng phát động chính sách đấu tố qua kế hoạch Cải Cách Ruộng Đất. Hơn hai trăm ngàn (200.000) dân lành vô tội bị giết oan làm vật tế thần cho chủ thuyết Mac Lê, trong đó có những đại ân nhân đã che chở, nuôi quân lính của “cụ Hô” khi bị quân Pháp đánh đuổi, cho hả lòng hả dạ những người quen sống trong rừng bụi. Như bản năng của loài dã thú quen săn mồi, đảng ra tay thị uy, tàn sát qua lệnh truyền của tên đao phủ Tố Hữu:

Giết! Giết nữa! bàn tay không ngơi nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt!

(Bây giờ, nếu còn sống, thi nô Tố Hữu sẽ đổi lại là:


“Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Hồ Cẩm Đào bất diệt!” vì thần tượng Xít Ta Lin đã bị toàn dân Nga đập đổ không còn manh giáp.)

Như chúa sơn lâm cần ăn thịt nai tơ, dê béo để có sức mạnh thì đảng VGCS phải giết, giết thật nhiều lương dân vô tội để “cho đảng bền lâu!” Đây là chủ trương bất biến, hằng hữu của đảng CSVG! Không giết người dân vô tội thì không còn là chế độ xã hội chủ nghĩa, không còn là học trò đích thực của bác Lê, bác Mao, bác Hồ!

Năm 1975 và những năm sau đó cũng như hiện nay, chủ trương “Giết! Giết nữa!” lại tái diễn. Tháng 4-1975, đảng chưa vào tới Saigon thì hàng trăm ngàn người trối chết chạy ra biển vì quá sợ cái thiên đàng Bắc Cộng sắp thi công, áp đặt cho miền Nam. Hơn 10 năm sau đó, người dân miền Nam vẫn liều chết đào thoát thiên đàng cu Hô! Những người không may mắn ở lại phải “kinh qua” những cuộc trả thù hèn hạ, giết người không bằng dao búa, mã tấu mà bằng chính sách khoan hồng “học tập cải tạo!” Người dân không trực tiếp liên hệ đến chế độ cũ thì bị trấn lột, cưỡng đoạt tài sản qua các lần đổi tiền với hai mục đích: bần cùng hóa dân Nam cho… nghèo bằng dân Bắc để dễ nắm đầu thống trị bằng áp bức và làm giàu cho giai cấp chủ nhân mới là đảng viên, cán bộ nhà nước!

Lưc lượng nồng cốt bảo vệ CSVG hiện nay, phương tiện được đảng dùng để đàn áp, trấn lột nhân dân vô tội -- tội duy nhất của họ là lỡ sanh dưới chế độ CHXHCNVG -- là cảnh sát, công an nhân dân và từ ngày xảy ra vụ Tòa Khâm Sứ Hà Nội, 2008, có thêm thành phần du đảng được CSVG gọi là “quần chúng tự phát,” “nhân dân bức xúc.” Qua cung cách hành sử của các lực lượng nầy, bản tính “cầm thú” của con cháu cụ Hô mới hiện ra rõ. Chúng tùy tiện muốn bắt ai thì bắt, muốn giết ai thì giết, muốn cướp của ai thì cướp. Chỉ cần chụp cho cái mũ “phá hoại tài sản XHCN,” “vi phạm luật pháp XHCN” … là kể như… xong đời, được cụ Hô mời đi đoàn tụ với cụ. “Xã hội chủ nghĩa” là cái gì kỳ bí, “untouchable,” không ai có thể hay có quyền đụng tới, chỉ dành riêng cho giai cấp mới, cho ba triệu đảng viên, nhất là các ủy viên bộ chánh trị và trung ương đảng, những quái nhân có tài phù thủy thay hình đổi dạng từ “thằng” sang “quan chức” một sớm một chiều, từ học lực i-tờ trở thành bậc cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ vinh vọng chỉ trong một đêm! Thời Pháp thuộc, muốn vu cáo ai nấu rượu lậu trái phép thì người ta phải đem rượu chôn trong vườn sau hè rồi báo với chức quyền xã huyện đến khám, tìm ra tang vật để kết tội. Ngày nay, chế độ XHCN văn minh hơn, công khai hơn, đảng sai cảnh sát, công an nhân dân đến bắt người dân vô tội trước rồi ra văn bản chụp cho cái mũ như vi phạm luật nhà nước, chống cách mạng, tay sai các thế lực thù địch, cưỡng lịnh giải tỏa cướp đất… và định án trước khi xét xử!

Đảng CSVG, như loài dã thú, đang banh xác đất mẹ Việt Nam để sống. Đảng bán rừng, bán núi, bán đất, bán sông, bán đảo, bán biển để làm giàu cho đảng viên, cán bộ và đồng lõa phạm pháp. Đảng bán phụ nữ, bán lao nô ra nước ngoài, cướp đất nông dân làm “khu giải trí sinh thái” cho giai cấp chủ nhân ông mới (Những kẻ chuyên hủy diệt môi sinh, đốt rừng đốn cây không thương tiếc nhưng mở miệng ra là nói những từ “cao siêu” mà chính đương sự cũng không hiểu là gì!?) Trẻ em không có trường học, người bịnh không có nhà thương, thuốc uống, nhưng đảng có thừa tiền xây cất những khu nghỉ trí nhảm nhí, công trình vô bổ chỉ dành cho một thiểu số rất nhỏ có khả năng thụ hưởng mà đa số là đảng viên cán bộ và một số… Việt kiều về nước tìm vui trên xương máu của đồng bào bất hạnh không may mắn chạy thoát giặc Cộng như mình! Đảng mang tương lai dân tộc, vận mạng đất nước làm vật thế chân, vay mượn tiền của tư bản nước ngoài xây cất những công trình nặng phần trình diễn, không có lợi ích thiết thực để có cơ hội bòn rút, tham nhũng, vơ vét hết tài nguyên đất nước… chuẩn bị con đường đào thoát lúc nguy cơ!

Đảng chi hàng chục tỷ đô-la mướn quân Tàu phù đóng phim vua Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long năm 2010. Đảng dự chi 420 tỷ tiền Hồ xây tượng đài “Mẹ Việt Nam Anh Hùng” ở Quảng Nam, trong khi học trò tiểu học địa phương, có nơi phải dùng phương cách di chuyển của Tarzan để qua đèo, qua suối, qua khe núi để đến trường! Tội nghiệp Mẹ Việt Nam! Mẹ hy sinh bản thân mình để con cháu mẹ có trường học để nên người, không phải để được khắc tên trên vách núi, khe hóc cho chuột nhện nhìn ngắm, để con Mẹ lớn lên làm lao nô hay bán thân xác nơi xứ người. Mẹ Việt Nam hy sinh không phải để các ủy viên trung ương đảng hay bộ chánh trị CSVG lấy cớ xây tượng đài để bòn rút, tham nhũng. Nếu Mẹ Việt Nam mà vô tâm, vô cảm như bác Hô và đảng CSVG của bác thì bác đã không còn sống đến tuổi… để lui tới bến cảng Nhà Rồng trong kế hoạch lập thân, tha hương cầu thực lúc tuổi mới 13. Tội nghiệp tuổi trẻ Việt Nam! Phải chăng đây là “kế hoạch trồng người cộng sản” của bác và đảng! Những trẻ em Việt Nam lớn lên trong môi trường này, đất nước nầy muốn tương lai thành “học giả có bằng thật” và giàu sang như các đảng viên CSVG cao cấp hiện nay thì chỉ có một con đường tiến thân duy nhất: trở thành đảng viên CSVG bằng nghề nghiệp công an nhân dân, cảnh sát và quần chúng tự phát! Rồi tâm niệm “còn đảng, còn mình,” trung thành với đảng cho đến chết. Cả nước sẽ tranh nhau vào đảng! Chừng đó đảng là dân và dân là đảng, tha hồ tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên thiên đàng VC!

Đảng biến những phần tử răng đen mã tấu trung kiên thành những “quan chức” uy quyền hét ra lửa như các tướng tá, giám đốc các sở công an cảnh sát thành phố, tỉnh, huyện hiện nay, điển hình là trung tướng công an Nguyễn Đức Nhanh (tên thật là Nguyễn Đớp Nhanh), giám đốc sở công an Hà Nội. Đảng biến trường học thành chợ chữ, biến thầy cô giáo thành con buôn. Tội nghiệp tuổi thơ và thanh niên! Đảng biến nhà thương thành nhà ghét, biến lương y thành kẻ buôn sức khỏe và mạng sống nhân dân. Đây là thành quả hơn 80 năm (1929 – 2012) trồng người của bác và đảng CSVG! Đảng có tài, có phù phép biến anh lái lợn, thiến heo, cặp rằng, thợ cạo mủ cao su, du đảng… chỉ nhờ nhắm mắt theo đảng, học mấy câu thần chú của Mac-Lê-Mao-Hô mà thành kẻ sĩ có bằng thạc sĩ, tiến sĩ do đảng in cấp phát như giấy gói hàng ở chợ trời. Những người này – học giả bằng thiệt – nhờ am tường và hành động đúng theo “tư tưởng Hồ Chủ Tịch” mà… thành người cộng sản (VC!) (Karl Marx, có bằng tiến sĩ thiệt, mà sống lại chắc phải cúi đầu bái phục mà… than: Học trò hơn thầy quá xa… Hèn gì mà hiện nay chỉ còn bốn nước theo chủ thuyết cộng sản của ta …)

Cứ nhìn những bộ mặt lầm lầm lì lì của công an nhân dân chìm nổi trong các cuộc đàn áp người yêu nước biểu tình chống giặc Tàu mới thấy rõ tính cách ác độc của chế độ CHXHCNVG hiện nay. Chúng như những con thú dữ đang đói mồi, những giả nhân trí óc đang bị bàn tay phù thủy của bọn đại Hán ở Bắc Kinh “program” làm theo lệnh truyền “Giết! Giết nữa bàn tay không ngơi nghỉ…”

Post Reply