Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Khi Nào TQ Tấn Công?
Tác giả : Trần Khải
Không người Việt Nam nào muốn có chiến tranh; kể cả ngay khi tranh cãi Biển Đông sôi động, chúng ta vẫn hy vọng có những giải pháp ngoại giao. Đơn giản vì sức Việt Nam quá yếu. Không chỉ về vũ khí, quân số, mà còn đáng ngại cả về tinh thần bạc nhược của Đảng CSVN, một đảng cầm quyền quá nhiều năm, đã mục rã và bây giờ chỉ biết đóng trò thầy pháp, thầy bùa trước bàn thờ ông Hồ.
Nhưng câu hỏi là, phía Trung Quốc, kẻ hung hiểm nhất Biển Đông, họ muốn chiến hay hòa? Thực tế, Bắc Kinh đã xua quân chiếm Hoàng Sa năm 1974, đánh 6 tỉnh biên giới năm 1979, chiếm một vùng núi đồi chiến lược ở tỉnh Hà Giang năm 1984, và chiếm nhiều đảo trong vùng Trường Sa năm 1988. Vậy thì có gì họ sợ chiến tranh?
Không chỉ ngôn ngữ hung hăng hiển lộ trên tòa Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times), một báo Anh Ngữ do TQ xuất bản nhắm vào đội tượng độc giả đọc Anh văn, nhiều tướng TQ vẫn tuyên bố hung hăng khi nói về Biển Đông.
Nguy hiểm nhất là, Chủ Tịch Nước TQ Hồ Cẩm Đào đã tuyên bố rằng chiến tranh Biển Đông là tất yếu.
Bản tin Xinhua nói rằng Hồ Cẩm Đào trong Hội Nghị Quân Ủy Trung Ương ngày 6-12-2011 đã tuyên bố rằng “Haả quân TQ phảỉ sửa soạn cho chiến tranh... Hải quân phaỉ tăng tốc chuyển hóa và hiện đaị hóa trong một cac1h quyết liệt, và phải chuẩn bị kỹ càng cho chiến tranh quân sự nhằm đóng góp lớn hơn để bảo đảm an ninh quốc gia.”
Tuy nhiên, bản tin ngày 21-5-2012 của người Phi Luật Tân (trang web: http://www.pinoyofwcommunity.com) nhắc lại, và ghi rằng, chính lời Hồ Cẩm Đào tuyên bố trong một khu kỹ nghệ quân sự rằng “quân đội TQ phải chuẩn bị chiến tranh với Mỹ. Chiến tranh là tất yếu với Mỹ, Việt Nam và Phi Luật Tân.”
Bản tin BBC và AFP trong ngày 7-12-2011 cũng ghi lời Hồ Cẩm Đào, “Hải quân TQ phải chuẩn bị chiến tranh...”
Trang web Top Secret Writers hôm Thứ Năm 16-8-2012 đã nhắc laị các lời tuyên bố trên, và phân tích rằng trước sau gì, TQ cũng sẽ tấn công VN, để chiếm trọn các đảo Biển Đông.”
Đầu bài phân tích, các nhà bình luận này dẫn laạ câu nói của Hồ Cẩm Đào cuối năm 2011:
“Chiến tranh là tất yếu sẽ xảy ra với Mỹ, Việt Nam và Phi Luật Tân.
Bài phân tích nêu ra 2 lý do chính để thấy rằng TQ sẽ tấn công VN.
Thứ nhất, TQ cần dầu. Biển Đông của VN, mà Trung Quốc gọi là Nam Hải và quốc tế gọi là South China Sea, và Phi gọi là Biển Tây Phi, là một kho dầu khổng lồ của thế giới.
Chính xác chưa rõ, chỉ ước chừng trữ lượng dầu Biển Đông là từ 28 tỷ tới 213 tỷ thùng barrel dầu thô. Nghĩa là, ngay khi ước tính thấp nhât1, cũng là kho dầu khổng lồ.
Vấn đề là, TQ hiện đang tiêu thụ dầu nhiều hơn bất kỳ nước naò trên thế giới. Và vì cầnd ầu, TQ đã bơm tiền từ Phi Châu cho tới Canada để xin mua quyền khai thác dầu.
Và hiểu ngầm rằng, TQ không cần xin mua quyền khai thác của nước nào, vì dùng bạo lực đỡ tốn kém hơn, theo các diễn giải về các hành vi của TQ.
Một lý do cũng quan trọng nữa: TQ gặp nhiều vấn đề nô bộ, từ chính trị tới kinh tế ngay trên mảnh đất TQ. Không chỉ là bất ổn từ Tây Tạng, mà cả Tân Cương, và kể ra cũng là ở tận Bắc Kinh.
Khi gây chiến tranh, theo phân tích của nhóm Top Secret Writers, TQ còn nhắm ổn định nội bộ Trung Quốc.
Đó là cách đơn giản nhất, theo suy nghĩ của Hồ Cẩm Đào.
Hiện nay, TQ phải tạo ra nhiều triệu việc làm mới cho các sinh viên tốt nghiệp cử nhân. Bên cạnh đó, cũng phải tạo cơ hội cho hàng trăm triệu nông dân nghèo lên tỉnh tìm việc.
Khủng hoảng toàn cầu đã làm hại xuất cảng TQ, một động cơ thúc đẩy sức tăng kinh tế TQ. Kèm với khủng hoảng tài chánh đã làm kinh tế TQ suy giảm.
TQ biết rằng chính nghĩa chế độ chỉ là tạo ra sức tăng kinh tế và ổn định việc làm cho dân. Khi không làm được, tất là bị mất chính nghĩa, và dân sẽ nổi loạn.
Vấn đề là, bao giờ TQ tấn công các đảo Trường Sa còn lại của VN.
Tác giả : Trần Khải
Không người Việt Nam nào muốn có chiến tranh; kể cả ngay khi tranh cãi Biển Đông sôi động, chúng ta vẫn hy vọng có những giải pháp ngoại giao. Đơn giản vì sức Việt Nam quá yếu. Không chỉ về vũ khí, quân số, mà còn đáng ngại cả về tinh thần bạc nhược của Đảng CSVN, một đảng cầm quyền quá nhiều năm, đã mục rã và bây giờ chỉ biết đóng trò thầy pháp, thầy bùa trước bàn thờ ông Hồ.
Nhưng câu hỏi là, phía Trung Quốc, kẻ hung hiểm nhất Biển Đông, họ muốn chiến hay hòa? Thực tế, Bắc Kinh đã xua quân chiếm Hoàng Sa năm 1974, đánh 6 tỉnh biên giới năm 1979, chiếm một vùng núi đồi chiến lược ở tỉnh Hà Giang năm 1984, và chiếm nhiều đảo trong vùng Trường Sa năm 1988. Vậy thì có gì họ sợ chiến tranh?
Không chỉ ngôn ngữ hung hăng hiển lộ trên tòa Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times), một báo Anh Ngữ do TQ xuất bản nhắm vào đội tượng độc giả đọc Anh văn, nhiều tướng TQ vẫn tuyên bố hung hăng khi nói về Biển Đông.
Nguy hiểm nhất là, Chủ Tịch Nước TQ Hồ Cẩm Đào đã tuyên bố rằng chiến tranh Biển Đông là tất yếu.
Bản tin Xinhua nói rằng Hồ Cẩm Đào trong Hội Nghị Quân Ủy Trung Ương ngày 6-12-2011 đã tuyên bố rằng “Haả quân TQ phảỉ sửa soạn cho chiến tranh... Hải quân phaỉ tăng tốc chuyển hóa và hiện đaị hóa trong một cac1h quyết liệt, và phải chuẩn bị kỹ càng cho chiến tranh quân sự nhằm đóng góp lớn hơn để bảo đảm an ninh quốc gia.”
Tuy nhiên, bản tin ngày 21-5-2012 của người Phi Luật Tân (trang web: http://www.pinoyofwcommunity.com) nhắc lại, và ghi rằng, chính lời Hồ Cẩm Đào tuyên bố trong một khu kỹ nghệ quân sự rằng “quân đội TQ phải chuẩn bị chiến tranh với Mỹ. Chiến tranh là tất yếu với Mỹ, Việt Nam và Phi Luật Tân.”
Bản tin BBC và AFP trong ngày 7-12-2011 cũng ghi lời Hồ Cẩm Đào, “Hải quân TQ phải chuẩn bị chiến tranh...”
Trang web Top Secret Writers hôm Thứ Năm 16-8-2012 đã nhắc laị các lời tuyên bố trên, và phân tích rằng trước sau gì, TQ cũng sẽ tấn công VN, để chiếm trọn các đảo Biển Đông.”
Đầu bài phân tích, các nhà bình luận này dẫn laạ câu nói của Hồ Cẩm Đào cuối năm 2011:
“Chiến tranh là tất yếu sẽ xảy ra với Mỹ, Việt Nam và Phi Luật Tân.
Bài phân tích nêu ra 2 lý do chính để thấy rằng TQ sẽ tấn công VN.
Thứ nhất, TQ cần dầu. Biển Đông của VN, mà Trung Quốc gọi là Nam Hải và quốc tế gọi là South China Sea, và Phi gọi là Biển Tây Phi, là một kho dầu khổng lồ của thế giới.
Chính xác chưa rõ, chỉ ước chừng trữ lượng dầu Biển Đông là từ 28 tỷ tới 213 tỷ thùng barrel dầu thô. Nghĩa là, ngay khi ước tính thấp nhât1, cũng là kho dầu khổng lồ.
Vấn đề là, TQ hiện đang tiêu thụ dầu nhiều hơn bất kỳ nước naò trên thế giới. Và vì cầnd ầu, TQ đã bơm tiền từ Phi Châu cho tới Canada để xin mua quyền khai thác dầu.
Và hiểu ngầm rằng, TQ không cần xin mua quyền khai thác của nước nào, vì dùng bạo lực đỡ tốn kém hơn, theo các diễn giải về các hành vi của TQ.
Một lý do cũng quan trọng nữa: TQ gặp nhiều vấn đề nô bộ, từ chính trị tới kinh tế ngay trên mảnh đất TQ. Không chỉ là bất ổn từ Tây Tạng, mà cả Tân Cương, và kể ra cũng là ở tận Bắc Kinh.
Khi gây chiến tranh, theo phân tích của nhóm Top Secret Writers, TQ còn nhắm ổn định nội bộ Trung Quốc.
Đó là cách đơn giản nhất, theo suy nghĩ của Hồ Cẩm Đào.
Hiện nay, TQ phải tạo ra nhiều triệu việc làm mới cho các sinh viên tốt nghiệp cử nhân. Bên cạnh đó, cũng phải tạo cơ hội cho hàng trăm triệu nông dân nghèo lên tỉnh tìm việc.
Khủng hoảng toàn cầu đã làm hại xuất cảng TQ, một động cơ thúc đẩy sức tăng kinh tế TQ. Kèm với khủng hoảng tài chánh đã làm kinh tế TQ suy giảm.
TQ biết rằng chính nghĩa chế độ chỉ là tạo ra sức tăng kinh tế và ổn định việc làm cho dân. Khi không làm được, tất là bị mất chính nghĩa, và dân sẽ nổi loạn.
Vấn đề là, bao giờ TQ tấn công các đảo Trường Sa còn lại của VN.
Vì sao Đảng Cộng Sản sợ tôn giáo?
Vi Anh Mới đọc cái tựa này chánh khách ăn học chánh trị Tây Phương ắt sẽ nhíu mày. Dễ hiểu vì những người này được đào tạo theo nếp suy tư thần quyền phải tách ra khỏi thế quyền của Tây Phương. Kể cả những người theo chủ nghĩa Cộng sản cũng nghĩ thế vì chủ nghĩa Cộng sản cũng của người Tây Phương với Karl Marx, Lenine, Staline đều là người Tây Phương cả. Nhưng CS vốn chủ trưong duy vật, vô thần và độc tài đảng trị toàn diện,nên triệt hạ tôn giáo, gọi tôn giáo là "thuốc phiện". Và bây giờ trong thời hạ trào của CS phải chuyển hệ tư duy sang kinh tế thị trường để tự cứu, CS Hà nội đang sợ tôn giáo nhứt vì tôn giáo là một thế lực còn có tổ chức, có lãnh đạo, gắn bó nhau qua tín ngưỡng dù CS đã cố gắng lũng đoạn thủ tiêu nửa thế kỷ ở Miền Bắc và hơn một phần ba thế kỷ ở Miền Nam và sau khi đã diệt gần trắng các đảng phái quốc gia trong nước.
Không những ở VN, mà ở các nước ở Á Châu, tôn giáo là thế lực trực diện chống độc tài. Dù dè dặt nhứt cũng thấy chống độc tài quân phiệt và CS ở Á Châu là các tôn giáo. Hiện thời Phật giáo ở Miến Điện chống độc tài quân phiệt, ở Tây Tạng chống Trung Cộng, ở VN chống Việt Cộng. Ở Trung Quốc Hồi Giáo Duy ngô nhĩ chống TC ở Tân Cương. Trong lịch sử thời vương quyền ở VN, Phật giáo liên tục chống quân Tàu xâm lược, thời Hai Bà Trưng, Lý, Trần và góp sức xây dựng hai thời kỳ này trở thành thời cực thịnh trong lịch sử VN nhưng Phật Giáo không bao giờ nắm chánh quyền và trở thành quốc giáo.
Nên không thể hiểu tình hình chánh trị VN qua lăng kính chánh trị Tây Phương nói chung, Âu Mỹ nói riêng được. Trong lịch sử VN, tôn giáo ở VN luôn gắn liền với vận mạng quốc gia dân tộc. Phật giáo đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc chống ngoại xâm Tàu. Khi quốc gia lâm nguy thì "Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa, Tuốt gươm vàng lên ngưạ xông pha; Đền xong nợ nước thù nhà; Thiền môn trở gót Phật đà nam mô." (Sấm Giảng của Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hoà Hảo"). Trong Kinh Tứ Thánh, các ngài còn lo ngại hoạ bành trướng của Bắc Triều nên cảnh giác "Bắc kỳ sao hoá ruộng sâu, Tàu man đến đó giăng câu đặt lờ, Saigon, Gia định ai ngờ, Nước đâu mà chảy lở bớ lướt cây."
Hầu như lo ngại của những vị đạo cao đức dầy này nay đã thành sự thật. Trong lịch sư VN cận đại chưa bao giờ VN đứng trước nguy cơ mất nước vì ngoại xâm Tàu Cộng cấu kết với nội xâm Việt Cộng như bây giờ. Đã mất hơn Ai Nam quan, thác Bản Giốc, hơn phân nửa lãnh hải Vịnh Bắc Việt, phần lớn Biển Đông, hai đảo Hoàng sa và Trường sa thành huyện của TC rồi. CS Hà nội còn nhượng cho TC vào Cao Nguyên Trung Phần khai thác bauxite tàn phá môi sinh, văn hoá Đồng bào Thượng và Việt, chiếm lĩnh cao điểm và hành lang an ninh quốc phòng VN. CS Hà nội mật ước cho người của TC vào VN không cần chiếu khán nhập cảnh. Họ qua VN lập làng, lập trường, kéo nhau cả bầy ra đánh người Việt bất bình như ở Thanh Hoá. Hàng gian, hàng giả, hàng độc của TC xuất cảng không được sang Au Mỹ, CS Hà nội cúi đầu, ngoảnh mặt cho tuồn vào VN giết chết nền kỹ nghệ VN mới phôi thai và nông nghiệp VN dĩ nông vi bản. Chẳng những cúi đầu thần phục Bắc Triều mà CS Hà nội còn đang tâm ra tay trấn áp các giới sĩ phu đau lòng Việt phải lên tiếng.
Trong khi đó đảng phái Quốc Gia lâu đời như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt, Dân xã, Tân đại Việt, CS Hà nội đã diệt gần hết cán bộ và cơ sở. Các đảng mới đa số người ở hải ngoại. Đảng Việt Tân, nhiều người về nước chưa đầy nửa tháng thì CS bắt trục xuất. Còn đảng Dân Chủ từng cộng tác với đảng CS thời Việt Minh tái phục hoạt đâu có đủ người. Khối 8406 mạnh trên mạng như một phong trào trên mạng nhưng chưa có quần chúng nhiều ở VN. Giới sĩ phu, trí thức như luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, nhà báo tự do Điếu Cày, Cựu Trung tá Bộ Đội CS Bắc Việt Trần Anh Kim, Đỗ Nam Hải, Nguyễn Khắc Toàn, linh mục Phan Văn Lợi, Lm Nguyễn Văn Lý, Lê Nguyên Sang, Trương Minh Đức, nhà văn Nguyễn Xuân Nghiã, cô Phạm Thanh Nghiên, ông Phạm Văn Trội và nhà giáo Vũ Hùng, Ls Lê công Định mới vừa hoạt động, hở một chút, chưa đặt được cơ sở là đã bị CS bắt tất cả.
Chỉ có các lực lượng tôn giáo tương đối còn đủ lãnh đạo, tổ chức và quần chúng tín ngưỡng. Dân chúng VN là dân chúng mộ đạo. Phật Giáo là tôn giáo nhiều người tự coi mình là người học Phật tu thân. Công Giáo VN là giáo hội có đông tín hữu hạng nhì Á Châu, chỉ sau Phi luật tân, có thế lực lớn nhờ Giáo Hội Công Giáo ở Vatican có tính hoàn vũ, có ảnh hưởng lớn đối với Tây Phưong. Có thể nói quần chúng tín ngưỡng nói chung ở VN, theo các tôn giáo có mặt trong nước chiếm trên 90% dân số. Mỗi tôn giáo là một tổ chức xã hội gắn bó nhau bằng đức tin, tín ngưỡng, còn một số cơ sở vật chất, có điạ bàn là tổ chức giáo hội. Nhờ vậy các tôn giáo mới không bị CS xô ngã, có thể gắng gượng đứng ra đưọc để lãnh đạo những cuộc đấu tranh của đồng bào và đồng đạo một cách liên tục. Đấu tranh cho tự do tôn giáo, nhân quyền và linh quyền. Đấu tranh cho công lý, đòi trả tài sản, chống tham nhũng. Chỉ có các cuộc tập họp của tôn giáo là đông đảo nhứt, có tổ chức, có kỷ luật nhứt và kéo dài lâu bền nhứt. Do hoàn cảnh sống trong lòng chế độ CS, cuộc đấu tranh thực hiện dưới hình thức bất bạo động để tránh trấn áp của CS và được sự ủng hộ của thế giới. Đó là chiến thuật nhu thắng can, nhược thắng cường, lấy chánh nghĩa thăng gian tà, lấy công lý thay cho cường bạo, lấy thiện thay cho ác.
Cuộc đấu tranh của các tôn giáo tuy êm nhưng thấm. Làm CS rất đau đòn. CS Hà nội sợ nhứt. Dĩ nhiên CS Hà nội phải tìm cách chia rẽ các tôn giáo với nhau và lũng đoạn nội bộ tôn giáo. Một mặt CS tố giác và bôi lọ nào giặc Thầy Chùa, nào giặc Ao Đen. Lập giáo hội Phật Giáo, Hoà Hảo, Cao đài do Đằng Nhà Nước điều khiển. Biến Phật tử trở thành mê tín dị đoan, đi chùa để cầu tài lộc, biến một số chùa thành cơ sở Phước Sương. Như ở Bình Dương, đưa hình Hồ chí Minh dưới Tượng Phật để lạy Phật là lạy Hồ chí Minh. Gây tị hiềm suy bì giữa Công Giáo và Phật giáo trong sinh hoạt trong nước và đi ngoại quốc, cho đạo này, chức sắc này đi ngoại quốc mà cấm đạo kia, người kia theo đường lồi lũng đoạn, chia để trị.
Mặt khác CS Hà nội gần đây mở chiến dịch tuyên truyền xám, tung tin trên mạng Phật Giáo đấu tranh để trở thành quốc giáo. Bất cứ người dân Việt nào cũng biết ngay thời Lý, Trần, Phật Giáo góp đại công, nhưng không bao giờ ra nắm chánh quyền, biến Phật Giáo trở thành quốc giáo. Còn trong thời dân chủ, ai cũng biết trong chế độ tự do dân chủ quyền làm chủ đất nước là của dân, chánh quyền là của dân, do dân, vì dân thì làm sao một đạo nào đó trở thành quốc giáo được.
Do sự kiểm soát nghiệt ngã của CS Hà nội, các tôn giáo chưa có điều kiện liên minh với nhau để giải trừ nhà cầm quyền vô thần, hiện thân của điều Ac là CS Hà nội được. Nhưng những dấu chỉ rất mừng cho vận hội đạo pháp nói chung và dân tộc VN, Không có tôn giáo nào mắc mưu chia rẽ và lũng đoạn của CS. Không đạo nào chống đạo nào. Không có nhóm tín đồ đạo này chống nhóm tín đồ đạo kia. Các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, tùy hoàn cảnh riêng đi con đường của mình, nhưng tất cả như đã thấy hướng về một mục tiêu, tự do cho các tôn giáo, dân chủ, nhân quyền cho đất nước VN.
Ở hải ngoại tin tức đầy đủ, liên lạc dễ dàng, các cuộc tập họp ủng hộ cuộc đấu tranh của Phật Giáo, Công Giáo và Tin Lành ngưòi tham dự hầu như không phân biệt đó là chuyện của đạo nào mà đó là chuyện của tôn giáo nói chung ở VN. Cầu nguyện cho chức sắc và giáo dân Hà nội, Thái Hà, Tam Toà, người ta thấy có rất đông Phật tử, Cao Đài, Hoà Hảo, Tin Lành.
Bây giờ cuộc đấu tranh của các tôn giáo đang ở giai đoạn bất bạo động vì căn tính và lý tính của tôn giáo là làm lành lánh dữ. Nhưng qui luật của các cuộc đấu tranh ôn hoà thường kết thúc bằng một cuộc đấu tranh cách mạng tổng hợp để dứt điểm chế độ mất lòng dân. Kể cả những cuộc cách mạng chấm dứt chế độ CS ở Liên xô và các nước CS Đông Au mà người Tây Phương, đặc biệt là Mỹ gọi là cách mạng nhung, cuộc đấu tranh dứt điểm vẫn là cuộc đấu tranh cách mạng, lật đổ chế độ độc tài CS thôi.
Vi Anh Mới đọc cái tựa này chánh khách ăn học chánh trị Tây Phương ắt sẽ nhíu mày. Dễ hiểu vì những người này được đào tạo theo nếp suy tư thần quyền phải tách ra khỏi thế quyền của Tây Phương. Kể cả những người theo chủ nghĩa Cộng sản cũng nghĩ thế vì chủ nghĩa Cộng sản cũng của người Tây Phương với Karl Marx, Lenine, Staline đều là người Tây Phương cả. Nhưng CS vốn chủ trưong duy vật, vô thần và độc tài đảng trị toàn diện,nên triệt hạ tôn giáo, gọi tôn giáo là "thuốc phiện". Và bây giờ trong thời hạ trào của CS phải chuyển hệ tư duy sang kinh tế thị trường để tự cứu, CS Hà nội đang sợ tôn giáo nhứt vì tôn giáo là một thế lực còn có tổ chức, có lãnh đạo, gắn bó nhau qua tín ngưỡng dù CS đã cố gắng lũng đoạn thủ tiêu nửa thế kỷ ở Miền Bắc và hơn một phần ba thế kỷ ở Miền Nam và sau khi đã diệt gần trắng các đảng phái quốc gia trong nước.
Không những ở VN, mà ở các nước ở Á Châu, tôn giáo là thế lực trực diện chống độc tài. Dù dè dặt nhứt cũng thấy chống độc tài quân phiệt và CS ở Á Châu là các tôn giáo. Hiện thời Phật giáo ở Miến Điện chống độc tài quân phiệt, ở Tây Tạng chống Trung Cộng, ở VN chống Việt Cộng. Ở Trung Quốc Hồi Giáo Duy ngô nhĩ chống TC ở Tân Cương. Trong lịch sử thời vương quyền ở VN, Phật giáo liên tục chống quân Tàu xâm lược, thời Hai Bà Trưng, Lý, Trần và góp sức xây dựng hai thời kỳ này trở thành thời cực thịnh trong lịch sử VN nhưng Phật Giáo không bao giờ nắm chánh quyền và trở thành quốc giáo.
Nên không thể hiểu tình hình chánh trị VN qua lăng kính chánh trị Tây Phương nói chung, Âu Mỹ nói riêng được. Trong lịch sử VN, tôn giáo ở VN luôn gắn liền với vận mạng quốc gia dân tộc. Phật giáo đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc chống ngoại xâm Tàu. Khi quốc gia lâm nguy thì "Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa, Tuốt gươm vàng lên ngưạ xông pha; Đền xong nợ nước thù nhà; Thiền môn trở gót Phật đà nam mô." (Sấm Giảng của Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hoà Hảo"). Trong Kinh Tứ Thánh, các ngài còn lo ngại hoạ bành trướng của Bắc Triều nên cảnh giác "Bắc kỳ sao hoá ruộng sâu, Tàu man đến đó giăng câu đặt lờ, Saigon, Gia định ai ngờ, Nước đâu mà chảy lở bớ lướt cây."
Hầu như lo ngại của những vị đạo cao đức dầy này nay đã thành sự thật. Trong lịch sư VN cận đại chưa bao giờ VN đứng trước nguy cơ mất nước vì ngoại xâm Tàu Cộng cấu kết với nội xâm Việt Cộng như bây giờ. Đã mất hơn Ai Nam quan, thác Bản Giốc, hơn phân nửa lãnh hải Vịnh Bắc Việt, phần lớn Biển Đông, hai đảo Hoàng sa và Trường sa thành huyện của TC rồi. CS Hà nội còn nhượng cho TC vào Cao Nguyên Trung Phần khai thác bauxite tàn phá môi sinh, văn hoá Đồng bào Thượng và Việt, chiếm lĩnh cao điểm và hành lang an ninh quốc phòng VN. CS Hà nội mật ước cho người của TC vào VN không cần chiếu khán nhập cảnh. Họ qua VN lập làng, lập trường, kéo nhau cả bầy ra đánh người Việt bất bình như ở Thanh Hoá. Hàng gian, hàng giả, hàng độc của TC xuất cảng không được sang Au Mỹ, CS Hà nội cúi đầu, ngoảnh mặt cho tuồn vào VN giết chết nền kỹ nghệ VN mới phôi thai và nông nghiệp VN dĩ nông vi bản. Chẳng những cúi đầu thần phục Bắc Triều mà CS Hà nội còn đang tâm ra tay trấn áp các giới sĩ phu đau lòng Việt phải lên tiếng.
Trong khi đó đảng phái Quốc Gia lâu đời như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt, Dân xã, Tân đại Việt, CS Hà nội đã diệt gần hết cán bộ và cơ sở. Các đảng mới đa số người ở hải ngoại. Đảng Việt Tân, nhiều người về nước chưa đầy nửa tháng thì CS bắt trục xuất. Còn đảng Dân Chủ từng cộng tác với đảng CS thời Việt Minh tái phục hoạt đâu có đủ người. Khối 8406 mạnh trên mạng như một phong trào trên mạng nhưng chưa có quần chúng nhiều ở VN. Giới sĩ phu, trí thức như luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, nhà báo tự do Điếu Cày, Cựu Trung tá Bộ Đội CS Bắc Việt Trần Anh Kim, Đỗ Nam Hải, Nguyễn Khắc Toàn, linh mục Phan Văn Lợi, Lm Nguyễn Văn Lý, Lê Nguyên Sang, Trương Minh Đức, nhà văn Nguyễn Xuân Nghiã, cô Phạm Thanh Nghiên, ông Phạm Văn Trội và nhà giáo Vũ Hùng, Ls Lê công Định mới vừa hoạt động, hở một chút, chưa đặt được cơ sở là đã bị CS bắt tất cả.
Chỉ có các lực lượng tôn giáo tương đối còn đủ lãnh đạo, tổ chức và quần chúng tín ngưỡng. Dân chúng VN là dân chúng mộ đạo. Phật Giáo là tôn giáo nhiều người tự coi mình là người học Phật tu thân. Công Giáo VN là giáo hội có đông tín hữu hạng nhì Á Châu, chỉ sau Phi luật tân, có thế lực lớn nhờ Giáo Hội Công Giáo ở Vatican có tính hoàn vũ, có ảnh hưởng lớn đối với Tây Phưong. Có thể nói quần chúng tín ngưỡng nói chung ở VN, theo các tôn giáo có mặt trong nước chiếm trên 90% dân số. Mỗi tôn giáo là một tổ chức xã hội gắn bó nhau bằng đức tin, tín ngưỡng, còn một số cơ sở vật chất, có điạ bàn là tổ chức giáo hội. Nhờ vậy các tôn giáo mới không bị CS xô ngã, có thể gắng gượng đứng ra đưọc để lãnh đạo những cuộc đấu tranh của đồng bào và đồng đạo một cách liên tục. Đấu tranh cho tự do tôn giáo, nhân quyền và linh quyền. Đấu tranh cho công lý, đòi trả tài sản, chống tham nhũng. Chỉ có các cuộc tập họp của tôn giáo là đông đảo nhứt, có tổ chức, có kỷ luật nhứt và kéo dài lâu bền nhứt. Do hoàn cảnh sống trong lòng chế độ CS, cuộc đấu tranh thực hiện dưới hình thức bất bạo động để tránh trấn áp của CS và được sự ủng hộ của thế giới. Đó là chiến thuật nhu thắng can, nhược thắng cường, lấy chánh nghĩa thăng gian tà, lấy công lý thay cho cường bạo, lấy thiện thay cho ác.
Cuộc đấu tranh của các tôn giáo tuy êm nhưng thấm. Làm CS rất đau đòn. CS Hà nội sợ nhứt. Dĩ nhiên CS Hà nội phải tìm cách chia rẽ các tôn giáo với nhau và lũng đoạn nội bộ tôn giáo. Một mặt CS tố giác và bôi lọ nào giặc Thầy Chùa, nào giặc Ao Đen. Lập giáo hội Phật Giáo, Hoà Hảo, Cao đài do Đằng Nhà Nước điều khiển. Biến Phật tử trở thành mê tín dị đoan, đi chùa để cầu tài lộc, biến một số chùa thành cơ sở Phước Sương. Như ở Bình Dương, đưa hình Hồ chí Minh dưới Tượng Phật để lạy Phật là lạy Hồ chí Minh. Gây tị hiềm suy bì giữa Công Giáo và Phật giáo trong sinh hoạt trong nước và đi ngoại quốc, cho đạo này, chức sắc này đi ngoại quốc mà cấm đạo kia, người kia theo đường lồi lũng đoạn, chia để trị.
Mặt khác CS Hà nội gần đây mở chiến dịch tuyên truyền xám, tung tin trên mạng Phật Giáo đấu tranh để trở thành quốc giáo. Bất cứ người dân Việt nào cũng biết ngay thời Lý, Trần, Phật Giáo góp đại công, nhưng không bao giờ ra nắm chánh quyền, biến Phật Giáo trở thành quốc giáo. Còn trong thời dân chủ, ai cũng biết trong chế độ tự do dân chủ quyền làm chủ đất nước là của dân, chánh quyền là của dân, do dân, vì dân thì làm sao một đạo nào đó trở thành quốc giáo được.
Do sự kiểm soát nghiệt ngã của CS Hà nội, các tôn giáo chưa có điều kiện liên minh với nhau để giải trừ nhà cầm quyền vô thần, hiện thân của điều Ac là CS Hà nội được. Nhưng những dấu chỉ rất mừng cho vận hội đạo pháp nói chung và dân tộc VN, Không có tôn giáo nào mắc mưu chia rẽ và lũng đoạn của CS. Không đạo nào chống đạo nào. Không có nhóm tín đồ đạo này chống nhóm tín đồ đạo kia. Các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, tùy hoàn cảnh riêng đi con đường của mình, nhưng tất cả như đã thấy hướng về một mục tiêu, tự do cho các tôn giáo, dân chủ, nhân quyền cho đất nước VN.
Ở hải ngoại tin tức đầy đủ, liên lạc dễ dàng, các cuộc tập họp ủng hộ cuộc đấu tranh của Phật Giáo, Công Giáo và Tin Lành ngưòi tham dự hầu như không phân biệt đó là chuyện của đạo nào mà đó là chuyện của tôn giáo nói chung ở VN. Cầu nguyện cho chức sắc và giáo dân Hà nội, Thái Hà, Tam Toà, người ta thấy có rất đông Phật tử, Cao Đài, Hoà Hảo, Tin Lành.
Bây giờ cuộc đấu tranh của các tôn giáo đang ở giai đoạn bất bạo động vì căn tính và lý tính của tôn giáo là làm lành lánh dữ. Nhưng qui luật của các cuộc đấu tranh ôn hoà thường kết thúc bằng một cuộc đấu tranh cách mạng tổng hợp để dứt điểm chế độ mất lòng dân. Kể cả những cuộc cách mạng chấm dứt chế độ CS ở Liên xô và các nước CS Đông Au mà người Tây Phương, đặc biệt là Mỹ gọi là cách mạng nhung, cuộc đấu tranh dứt điểm vẫn là cuộc đấu tranh cách mạng, lật đổ chế độ độc tài CS thôi.

TT Obama: Ông Là Ai?
Vũ Linh ...Ông khẳng định là Tin lành, nhưng gần một nửa dân Mỹ vẫn cho rằng ông là Hồi giáo...
Năm 2004, ứng viên tổng thống của đảng Dân Chủ, Al Gore, ra tranh cử với chiến lược huy động khối thiểu số da màu, lao động, di dân, người nghèo. Một chiến lược mà người Mỹ gọi là “populist”, mang nặng mùi mỵ dân. Ông tìm được một chính khách da đen trẻ, có nhiều tương lai, để đọc bài diễn văn chính trong đại hội đảng Dân Chủ. Đó là nghị sĩ tiểu bang Illinois, Barack Obama, một chính khách cả thế giới chưa bao giờ nghe tên, ngoại trừ một khu vực dân da màu phiá nam Chicago.
Nghị sĩ Obama đọc một bài diễn văn có thể nói là “tạo thời thế”. Cả trăm triệu dân Mỹ bị hút hồn bởi bài diễn văn thật ý nghiã, đáp ứng những ước vọng sâu xa nhất của dân Mỹ. Ông tuyên bố đại ý “không có một Hoa Kỳ bảo thủ hay một Hoa Kỳ cấp tiến, không có một Hoa Kỳ đỏ (Cộng Hòa) hay một Hoa Kỳ xanh (Dân Chủ), mà chỉ có một Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ”. Không ai để ý đến tính mâu thuẫn: một bài diễn văn kêu gọi đoàn kết toàn dân trong đại hội đảng tổ chức để tấn phong ứng viên chống một đảng khác, giữa một rừng diễn văn sỉ vả đảng đối nghịch.
Quan trọng hơn cả là cách đọc diễn văn cực hùng hồn của ông. Người ta nói ông Obama đã nghiên cứu và học cách đọc từ các mục sư da đen nổi tiếng hùng biện như Martin Luther King và Jesse Jackson, rồi sau này Jeremiah Wright. Lúc trầm lúc bổng, khi nhanh khi chậm, lập đi lập lại những câu chủ chốt, dùng những danh từ và hình ảnh dao to búa lớn nhiều khi chẳng ai hiểu là gì, … Từ một chính khách hoàn toàn vô danh, tên tuổi Barack Obama nổi lên như cồn. Trở thành ngôi sao sáng nhất đảng Dân Chủ. Được mời đi đọc diễn văn trên khắp nước.
Năm 2006, lợi dụng cơ hội ngàn vàng, nghị sĩ Obama quyết định ra tranh cử thượng nghị sĩ liên bang. Ông dễ dàng đắc cử cuộc bầu sơ bộ Dân Chủ, rồi hạ luôn ứng viên Cộng Hoà trong một địa bàn mà cử tri da đen chiếm hơn hai phần ba dân số, trở thành một trong hai thượng nghị sĩ liên bang đại diện cho tiểu bang Illinois.
Ngồi chưa nóng ghế, thượng nghị sĩ Obama đã nhẩy ra tranh cử tổng thống chưa đầy hai năm sau. Đối thủ của ông trong nội bộ đảng đều là các chính khách nặng ký: TNS John Edwards (cựu ứng viên phó của John Kerry năm 2004 chống Bush), TNS Joe Biden (bây giờ là phó tổng thống), một lô nhân vật kỳ cựu nữa, và nhất là cựu đệ nhất phu nhân, Hillary Clinton. Không ai nghĩ ông Obama có một mảy mai hy vọng nào. Chỉ là một loại ngựa non háo thắng hay ếch ngồi đáy giếng, không biết trời cao đất rộng.
Nhưng con ếch đó đã chứng minh tất cả mọi người đều sai lầm hết. TNS Obama trở thành tổng thống thứ 44 của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Leo lên ngôi vị tột đỉnh với vỏn vẹn hai năm trên sân khấu chính trị. Hoàn toàn nhờ tài đọc diễn văn, không hơn không kém. Chỉ vạch rõ yếu điểm lớn nhất của thể chế dân chủ Mỹ: bầu người lãnh đạo dựa trên khả năng mồm mép trong khi chẳng ai biết người đó là ai, dù đất nước đang trực diện khủng hoảng kinh tế lớn nhất thế kỷ.
Tốc độ leo thang của TT Obama nhanh đến mức chẳng ai kịp nhìn ra quá khứ của ông, để rồi chẳng ai biết rõ ông là ai. Người ta chỉ say sưa với chủ trương “ba phải” đại đoàn kết mà chẳng hiểu ông có quan điểm chính trị như thế nào, có khả năng gì, và sẽ làm gì để thực hiện đại đoàn kết và thay đổi Hoa Thịnh Đốn. Năm 2008, chẳng ai biết Barack Obama là ai, nhưng lạ lùng thay, đến 2012, sau khi đã làm tổng thống ba năm rưỡi, ông vẫn là câu hỏi vĩ đại.
Trên giấy tờ, ông sanh tại Hạ Uy Di, nhưng gần một phần ba dân Mỹ vẫn cho rằng ông sanh tại Kenya. Ông là nửa trắng nửa đen, nhưng luôn luôn tự nhận, suy nghĩ và hành động, cũng như được coi như là da đen không có một chút trắng nào. Ông khẳng định là Tin lành, nhưng gần một nửa dân Mỹ vẫn cho rằng ông là Hồi giáo.
Đối nội, ông chỉ trích TT Bush vô trách nhiệm vì mắc nợ quá mức, nhưng chính ông tăng công nợ gấp ba lần TT Bush. Ông đả kích bảo hiểm y tế toàn dân của bà Hillary là thiên tả trước khi ban hành bảo hiểm y tế toàn dân còn thiên tả hơn nữa. Ông đòi tăng thuế nhà giàu nhưng lại gia hạn luật giảm thuế của TT Bush.
Ông tranh cử với khẩu hiệu đại đoàn kết toàn dân nhưng mau mắn trở thành tổng thống tạo phân hoá nhất lịch sử Mỹ. Ông bác bỏ những chỉ trích ông theo chủ nghiã xã hội nhưng lại dùng bạn bè và chuyên gia cực tả và cộng sản làm cố vấn hay phụ tá. Ông ủng hộ nhóm Occupy Wall Street trong khi nhận bạc triệu của tài phiệt Wall Sreet.
Đối ngoại, ông chỉ trích TT Bush là cao bồi coi thường đồng minh nhưng cuối cùng quan hệ Mỹ với các đồng minh truyền thống như Anh, Pháp, Đức, Nhật, lạnh như băng đá Alaska. TT Obama chống chiến tranh Iraq, nhưng lại đôn quân vào Afghanistan. Ông tố giác TT Bush vi phạm công pháp quốc tế khi đánh Saddam Hussein, nhưng chính ông lại ra lệnh tham chiến tại Libya, giết TT Khadafi, mà không cần xin phép quốc hội nhân danh “nhân đạo”, nhưng nhắm mắt trước cảnh cả chục ngàn dân Syria bị thảm sát. Ông kêu gọi một chính sách hoà hoãn, tôn trọng khối Hồi giáo, nhưng tăng gấp mười những tấn công của máy bay không người lái giết khủng bố trên lãnh thổ các nước độc lập như Pakistan, Yemen, giết Bin Laden trên đất Pakistan rồi thông báo cho TT Pakistan sau khi CNN đã phổ biến tin cho cả thế giới. Quan hệ với đồng minh chiến lược Pakistan không khác nào quan hệ mẹ chồng nàng dâu.
Những mâu thuẫn này chỉ khiến thiên hạ ngày càng mù mờ về con người của TT Obama. Ông là Mỹ thật hay Kenya, Tin lành hay Hồi giáo, diều hâu hay bồ câu, ôn hòa hay cấp tiến, bạn dân nghèo hay bạn tài phiệt? Chưa ai có câu trả lời rõ rệt. Cuộc tranh cử năm nay đáng lẽ phải làm sáng tỏ vấn đề khi TT Obama có trách nhiệm báo cáo thành quả cho cử tri, nhưng thực tế, thiên hạ chỉ thấy ông chú tâm đánh đối thủ và lại hứa hẹn tiếp tục.
Với hơn ba tháng trước ngày bầu lại, ta hãy thử xét lại vấn đề.
CON NGƯỜI TT OBAMA
Trước hết, phải nói ngay vấn đề nơi sanh của ông thật ra không có nghiã lý gì nữa. Hiến Pháp Mỹ đòi hỏi phải sanh tại Mỹ mới được ứng cử tổng thống. Chuyện này quan trọng khi ông Obama còn đang tranh cử, chứ bây giờ thì gạo đã thành cơm từ lâu rồi. Bây giờ có khám phá ra ông sanh tại Kenya thì cũng không tòa nào dám phán ông Obama là tổng thống bất hợp pháp, không ai dám nghĩ đến chuyện truất nhiệm ông vì sẽ chỉ tạo ra đại loạn với tất cả dân da màu xuống đường đốt phá chống lại cái mà họ sẽ gọi là âm mưu kỳ thị da đen của Mỹ trắng. Hàng triệu dân cấp tiến sẽ đồng ý. Nước Mỹ sẽ đi vào đại loạn.
Tranh cãi về vấn đề tôn giáo của ông cũng sẽ chẳng đi đến đâu. TT Obama sẽ vẫn tiếp tục khẳng định mình là Tin Lành, nhưng quá khứ ông vẫn còn quá nhiều liên hệ với Hồi giáo, để rồi vấn đề sẽ còn được tranh cãi suốt lịch sử Mỹ.
ĐỐI NGOẠI
Cả hai cuốn sách Obamas Wars của nhà báo kỳ cựu Bob Woodward (người khui ra vụ Watergate khiến TT Nixon mất chức), và The Obamians của nhà báo James Mann đều ghi nhận TT Obama không bao giờ lấy quyết định trong các buổi họp nội các, chỉ ghi nhận ý kiến, đặt câu hỏi, rồi cho biết sẽ suy nghĩ và quyết định sau. Sau đó, ông gặp nhóm phụ tá thân tín, thảo luận lại, rồi mới lấy quyết định.
Ê-kíp đối ngoại của TT Obama thực sự là một nhóm thanh niên cấp tiến trẻ, khoảng tuổi ba mươi, với những tên lạ hoắc đối với quần chúng, như Denis McDonough (lo về an ninh), Michael McFaul (Nga và Đông Âu), Stuart Levey (Iran và Bắc Hàn), Greg Craig (người xúi TT Obama ký sắc lệnh đóng cửa trại tù Guantanamo), Mark Lippert (trung úy hải quân, thành viên Hội Đồng An Ninh Quốc Gia!), Samantha Power (nhân quyền), Suzan Rice (Liên Hiệp Quốc), Valerie Jarrett (cố vấn đặc biệt). Đây là những người không bao nhiêu kinh nghiệm, không quyền hành, không thông qua quốc hội, nhưng có tiếng nói lớn bên cạnh tổng thống.
Nói trắng ra, nội các với ngoại trưởng Hillary, bộ trưởng quốc phòng Robert Gates, bộ trưởng Y Tế Kathleen Sebelius, bộ trưởng An Ninh Janet Napolitano, … chỉ là mặt nổi với những người có kinh nghiệm và uy tín để trấn an dư luận trong và ngoài nước. Ê-kíp nổi này có khuynh hướng thực tiễn (realist) so với ê-kíp phụ tá đặc biệt trong hậu trường có khuynh hướng lý tưởng hơn (idealist), chủ trương Mỹ cần coi trọng những vấn đề nhân đạo, nhân quyền hơn và can thiệp khi cần thiết.
Sự hiện diện của hai ê-kíp đối nghịch này thỉnh thoảng đưa đến những quyết định tréo cẳng ngỗng mà mọi người đều thấy rõ. Chẳng hạn như TT Obama chỉ trích TT Bush đánh Iraq mà lại quyết định đánh Libya vì áp lực mạnh của các bà Samantha Power và Suzan Rice trong khi bộ trưởng Quốc Phòng Gates chống và ngoại trưởng Hillary dè dặt. Các bà Power và Rice nhìn chính sách đối ngoại của Mỹ với con mắt cấp tiến lý tưởng: Mỹ cần phải “thế thiên hành đạo” vì lý do nhân đạo, trong khi phe thực tiễn lo sợ Mỹ lại dính dáng vào một cuộc chiến với một xứ Hồi giáo nữa.
Rõ ràng là nhóm phụ tá cấp tiến gần gũi với TT Obama có tiếng nói mạnh trong chính sách đối ngoại của tổng thống mặc dù thỉnh thoảng, chủ trương can thiệp cũng gặp những giới hạn thực tiễn như khi Mỹ bó tay nhìn các cuộc đàn áp đối lập tàn bạo nhất tại Syria, và múa võ mồm trước lưỡi bò Trung Cộng.
IRAQ VÀ AFGHANISTAN
Quan điểm rõ ràng duy nhất của TT Obama khi còn tranh cử là bài diển văn chống chiến tranh Iraq mà ông đã đọc năm 2002 trong một lần vận động tranh cử tại Chicago, trước khi TT Bush đánh Iraq, và lời hứa rẽ rút quân càng sớm càng tốt khỏi Iraq. Ông biết quan điểm này gây thắc mắc trong giới lãnh đạo quân sự, và cũng ý thức sẽ tạo thêm mâu thuẫn và ưu tư trong hàng ngũ tướng lãnh nếu ông từ chối yêu cầu đôn quân tại Afghanistan của tướng Petraeus, người hùng Iraq và Afghanistan, nên đành chấp nhận đôn quân tại đây.
TT Obama chỉ trích TT Bush vi phạm nhân quyền khi bắt nhốt và tra tấn khủng bố mà không đưa ra tòa. Nhưng ông lại gia tăng các cuộc đột kích máy bay không người lái, vừa kín đáo vừa tiện lợi hơn, giết luôn cho tiện, kể cả khủng bố có quốc tịch Mỹ. Tránh được những sai lầm của TT Bush khi bắt nhốt rồi tra tấn tù khủng bố.
Ông ý thức được yếu điểm lớn của đảng Dân Chủ, mang tiếng là đảng bồ câu, rất yếu trong vấn đề an ninh, quốc phòng. Trong thời điểm hậu 9/11, ông sẽ không có hy vọng thắng được đảng Cộng Hoà. Do đó ông lựa cuộc chiến Afghanistan và chống Al Qaeda để khoác chiếc áo diều hâu để “cân bằng” quan điểm, vớt điểm với khối độc lập và bảo thủ.
Nhìn cho kỹ, TT Obama vẫn là người thiên về “chủ hòa” trong truyền thống của đảng Dân Chủ. Các quyết định “diều hâu” của ông trong cuộc chiến chống khủng bố, Afghanistan, và Libya, chỉ là những bình phong cần thiết để làm mờ bớt hình ảnh bồ câu quá yếu của đảng Dân Chủ. Mấy ông Na Uy đã nhìn thấu bình phong đó nên mới tặng Nobel Hoà Bình cho TT Obama, một phần để hậu thuẫn TT Obama, phần khác để trói tay ông khiến ông khó thay đổi lập trường.
ĐỐI NỘI
Một đạo diễn Hồ Ly Vọng gốc Tiệp Khắc, Milos Fordman viết trên New York Times, biện hộ TT Obama không theo chủ nghiã xã hội (socialist) như nhiều người chỉ trích. Ông mô tả cuộc sống hãi hùng trong chế độ CS Tiệp như ba giờ sáng bị công an gõ cửa mang đi biệt tăm luôn, và nhiều chuyện kinh hãi khác để xác nhận TT Obama không phải là theo XHCN. Lập luận cực kỳ ngớ ngẩn này được đăng trên New York Times chỉ làm mất thêm uy tín của tờ báo phe ta này thôi. Ông đạo diễn xi-nê-ma này không có một chút ý thức chính trị, đã lẫn lộn tư tưởng xã hội với chế độ CS kiểu Xít-ta-lin. Không ai nói Obama là Xít-ta-lin hết. TT Obama dù muốn cũng không có cách nào ra lệnh FBI nửa đêm gõ cửa bắt công dân Mỹ đi thủ tiêu.
Khối bảo thủ chỉ đả kích TT Obama có tư tưởng thiên tả ở điểm muốn xây dựng một Nhà Nước vú em vĩ đại, tung ra đủ loại thuế để lấy tiền chi trả cho guồng máy thư lại khổng lồ với hàng vạn công chức áp đặt hàng trăm ngàn thủ tục luật lệ mà vẫn vô hiệu, chủ trương mua phiếu cử tri bằng đủ loại trợ cấp, ủng hộ yêu sách của nghiệp đoàn để lấy hậu thuẫn chính trị của họ. Đây là mô thức chính trị của các đảng dân chủ xã hội Âu Châu. Điển hình là tân TT Francois Hollande của Pháp, vừa đắc cử đã mau mắn ra luật tăng thuế tối đa lên 75% lợi tức.
Lời tuyên bố mới nhất của TT Obama, khẳng định sự thành công của các doanh gia là do công sức và giúp đỡ của Nhà Nước phản ánh rõ rệt vai trò Nhà Nước vú em trong triết lý kinh bang tế thế của ông.
Ở đây, người ta thấy TT Obama là người rõ rệt thiên tả theo mô thức Âu Châu. Bộ luật rườm rà gần 3.000 trang cải tổ y tế với Nhà Nước áp đặt bảo hiểm y tế cho toàn dân bất chấp ảnh hưởng trên ngân sách, chi phí y tế chung, suy xụp kinh tế và thất nghiệp, chỉ là một bằng chứng điển hình của mô thức xã hội này.
Giống như chính sách đối ngoại, các chính sách đối nội của TT Obama cũng được ra đời và thực hiện theo kiểu “song hành”, qua một nội các nổi nhưng không có thực quyền, và một ban tham mưu trong hậu trường với các phụ tá, được gọi là Sa Hoàng (csar), phần lớn là thành phần trẻ cấp tiến, có khi cực đoan như ông Van Jones lo về năng lượng sạch trước đây là đảng viên Đảng Cộng Sản Mỹ.´´´
Nói tóm lại, bỏ qua các vấn đề cá nhân của ông, bất chấp những lời hô hào không có đỏ hay xanh, TT Obama hiển nhiên là một chính khách trong thâm tâm có tư tưởng bồ câu, thiên tả nhất trong các tổng thống trong lịch sử cận đại Mỹ. Ông dựng lên một nội các nổi gồm những người có tên tuổi, kinh nghiệm, có tiếng ôn hoà, chủ trương thực tiễn. Nhưng lại đặt niềm tin và lấy quyết định theo nhóm phụ tá và cố vấn trẻ, ít kinh nghiệm và cấp tiến cực đoan hơn.
Nhưng cuối cùng thì ông vẫn là chính trị gia thuần túy, sẵn sàng làm mọi chuyện, nói mọi điều, hứa mọi thứ cần thiết để đạt thắng lợi cá nhân. Câu nói của TT Obama với TT Medvedev nói lên hết: ông đừng làm khó tôi bây giờ, đợi bầu cử xong tôi sẽ dễ nói chuyện hơn. (22-7-12)
Vũ Linh

TÔI VỀ THĂM VIỆT-NAM
TÔI THẤY và NGHE ĐƯƠC GÌ ở SAIGON
và MIỀN NAM VIỆT-NAM sau 37 năm dưới chế-độ cọng-sản. Lời người viết: Đây không phải là một phóng sự hay một bài nghiên cứu xã hội với những phương pháp khoa học của nó - mà chỉ là những điều vụn vặt mắt thấy tận nơi, tai nghe tận chỗ - ghi lại môt cách trung thực.
PHÓ THƯỜNG DÂN
Tôi thấy bộ mặt Saigòn đổi mới với: Những khách sạn 5 sao, 4 sao lộng lẫy. Đổi mới với những nhà hàng “ vĩ đại “ trên các tuyến đường du lịch. Với những trung tâm “thư giản” sang trọng, quý phái cở câu lạc bộ Lan Anh. Với những vũ trường cực kỳ tráng lệ như vũ trường New Century Hànội. Với những trường Trung học tư thục mang tên Mỷ, giáo sư Mỷ, chương trình học của Mỷ, giảng dạy bằng tiếng Mỳ- học sinh phải trả học phí bằng tiền Mỷ - 1,000 US$ đến 1,500 US$ /tháng. (Giai cấp nào đủ sức trả học phí nầy cho con? )
Tôi cũng hiểu rằng các nơi nầy là nơi ăn chơi của vương tôn công tử “đỏ”, các nhà giàu mới - thân nhân các quyền lực đỏ đứng đàng sau, các quan chức đỏ đô la đầy túi. Họ đến đây để “thư giản”, uống rượu, đánh bạc, cá độ và tìm gái. Uống chơi vài chai rượu ngoại VSOP, XO là chuyện thường. Mỗi đêm có thể tiêu hàng ngàn đô la Mỷ cũng không phải là điều lạ. Trong khi lương tháng của một thầy giáo Trung học trường công không đủ để trả một chai rượu XỌ Vụ cá độ hàng triệu US$ đã bị phanh phui. là một thí dụ cụ thể. Vũ trường New Century bị Công an đến giải tán vì các công tử và tiểu thư con các quan chức lớn nhảy đã rồi… “ lắc” suốt đêm.
Để vài hôm sau - đâu lại cũng vào đó…
Tôi cũng thấy Sàigòn- người, xe và phố xá dầy đặc, nghẹt thở - vài tòa cao ốc mọc lên vô trật tự - ở xa xa, có cái trông giống như chiếc hộp quẹt. nhà cửa mặt tiền hầu hết đều lên lầu nhiều tầng. Kiến trúc hiện đại. Vật liệu nhập cảng đắc tiền. Nhà trong hẻm - phần lớn cũng lên nhiều tầng cao nghệu. Có nhiều khu xây cất bừa bãi, nhô ra thụt vào như những chiếc răng lòi sĩ vô duyên. , lấn chiếm ngang ngược đất công hoặc lề đường…
Tôi thấy Sàigòn bị ô nhiểm trầm trọng với hằng triệu tiếng động cơ, ngày đêm đinh tai nhức óc và 5.000.000 chiếc Honda - phun khói mịt mù - chưa kể đến xe hơi ???
Và hệ thống cống rảnh lạc hậu. mỗi khi trời mưa lớn - nước rút không kịp, ứ đọng tràn ngập nhà cửa. Hệ thống đổ rác còn lạc hậu. không đáp ứng nổi nhu cầu thải rác của 10.000.000 dân nhung nhúc như kiến. Sàigòn đầy dẫy những hàng ngoại do công ty ngoại quốc sản xuất tại chỗ, hàng lậu của Trung quốc tràn vào vô số kể. Máu kinh tế Việt Nam bị loảng ra. Nhưng chế độ xã nghĩa im thin thít chịu trận, không dám một lời phản kháng. Một chiếc xe Honda nhãn hiệu Trung quốc giá khoản chừng 1,200 đô la Mỷ, chưa kể hàng Trung quốc lậu thuế, rẻ mạt. Thuốc lá và bia - bia nội, bia ngoại - có đủ. Nhậu và hút là 2 cái mốt bình dân thời thượng nhứt ở Sàigòn. Đảng viên, cán bộ - giai cấp thống trị -"Nhậu". Già nhậu, trẻ nhậu… con nít cũng tập tành nhậu. Hút thì khỏi nói. Giai cấp cán bộ răng đen mã tấu bây giờ là giai cấp nắm quyền thống trị - đã lột xác - không còn quấn thuốc rê, bập bập phà khói mịt mù nữa - mà lúc nào cũng lấp ló một gói 3 con 5, Craven A, trong túi. Lãnh đạo hút, cán bộ hút, dân chúng hút - thậm chí con nít 9, 10 tuổi ở đồng quê cũng phì phà điếu thuốc một cách khoái trá. Các hảng bia và thuốc lá ngoại quốc đã tìm được một thị trường tiêu thụ béo bở. Cán bộ lớn cũng âu phục cà vạt hẳn hoi, xe hơi bóng loáng. nhưng bộ răng hô, mái tóc bạc thếch, và nước da mông mốc, cũng không dấu được nét thô kệch của một anh nhà quê mới lên Tỉnh.Tôi còn thấy Sàigòn với hiện tượng “tiếm công vi tư” lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đã trở thành cái lệ bất thành văn trong chế độ xã nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê. Chưa thỏa mãn - ban đêm còn dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên còn lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng. Ông chủ bự nầy chắc chắc không phải là dân thường. Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông vậy. Ai có dịp đi ngang qua mũi tàu - nơi gặp gở của 2 đường Nguyễn Trải và Lê Lai cũ, ngang hông nhà thờ Huyện Sĩ - thì rõ.
Còn nhiều, rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công, lấn lề đường nhan nhãn ở khắp Saigòn. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể: Một công thự tại vườn Tao đàn (có lẽ là nhà cấp cho viên Giám đốc Công viên Tao đàn) - mặt tiền ngó vào trong - mặt hậu nhìn ra phía đường Nguyễn Du (Taberd cũ) - bên có màn trổ cửa mặt sau nhà, xây thêm phía sau thành 2 căn phố thương mãi mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Du, trị giá mỗi căn, nhiều trăm ngàn mỷ kim - ngon ơ ! Tương tự như vậy - ở góc đường Thành Thái và Cộng Hoà cũ, trước sân nhà của ông Hiệu Trưởng trường Quốc gia Sư Phạm trước 75 - phố thương mãi, quán xá la liệt chiếm mất mặt tiền. Ngang ngược và lộng hành nhứt là 2 căn phố thương mãi bên hông trường Trương minh Ký, đường Trần hưng Đạo, chễm chệ xây lên ngay bên góc phải sân trường như thách đố dân chúng. Còn trên lề đường khá rộng trước câu lạc bộ CSS cũ, bây giờ là câu lạc bộ Lao động - nhiều gian hàng thương mãi bán quần áo, giày vớ thể thao, buôn bán ầm ỉ, náo nhiệt suốt ngày. Công an chiếm đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường trước nhà dân là đất riêng của Công An. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe, bịt kín cả lối đi vào nhà. Không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn. Thưa gửi là dại dột. Mà thưa với ai? Tất nhiên là phải thưa với công an. Không lẽ công an xử công an? Tướng CS Trần Độ phản ảnh còn rõ rệt hơn : “Xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội vô pháp luật mà phần đầu tiên gây ra là Đảng . Không thể nào chống tham nhũng được vì nếu Đảng chống tham nhũng thì Đảng chống lại Đảng sao? “ (Nhật ký “Rồng Rắn” của Trần Độ). Nón cối, nón tai bèo, dép râu, áo chemise xùng xình bỏ ngoài chiếc quần màu cứt ngựa của người cán bộ CS ngơ ngác khi mới vào Sàigòn - đã biến mất. Cũng không còn thấy những chiếc áo dài tha thướt của những cô gái đi dạo phố ngày cuối tuần trên các đại lộ Lê Lợi, Lê thánh Tôn, Tự do những ngày trước 75 nữa. Thay vào đó là một đội ngũ phụ nữ - mũi và miệng bịt kín bằng “khẩu trang”, găng tay dài đến cùi chỏ, cỡi Honda chạy như bay trên đường phố.
Tôi còn thấy những người nghèo khổ chở trên chiếc xe thồ, những thùng carton và bao túi Nylông, chồng chất lên nhau cao ngất như sắp đổ xuống… Những bà cụ già, những cậu bé tuổi đáng được ngồi ở ghế nhà trường, những anh phế binh cụt tay, cụt chưn, lê lết trên một miếng ván gổ … đi bán vé số (một cách ăn xin trá hình).
Bộ mặt Sàigòn “đổi mới” bằng những khách sạn lộng lẫy, những câu lạc bộ thời thượng, những phố xá thương mãi sang trọng, những hiệu kim hoàn lóng lánh kim cương, những nhà hàng ăn vĩ đại, những vũ trường cực kỳ tráng lệ, những biệt thự đồ sộ nguy nga mới xây bằng vật liệu ngoại đắt tiền. trang trí cây cảnh như một mảng vườn Thượng uyển của vua chúa ngày xưa, những xe hơi bóng loáng nhởn nhơ trên đường phố - Nhiều người chóa mắt. choáng váng, cho là “Việt Nam bây giờ tiến bộ quá”. Riêng Phó thường dân tôi tự nghĩ : Như vậy có phải là tiến bộ không ? Sự tiến bộ của một nước cần phải nhìn về nhiều mặt : Mặt y tế và giáo dục, mặt đời sống vật chất và tinh thần của dân chúng. Lợi tức đầu người của Việt Nam - theo thống kê của báo The Economist - bằng: 800 US$ năm 2011 (Hà Nội bốc lên 1,000 US$, Chỉ hơn Lào và Cambodia chút đỉnh. So với các nước láng giềng: Thái Lan: 3.500 US$ - Phi luật Tân: 2.000 US$ - Nam Dương: 1.160.US$. Tân gia Ba 30.000 US$. (The Economist World, năm 2011 - p. 158, 176, 238) - Việt Nam còn lẹt đẹt đàng sau rất xa. Và trước bộ mặt thay đổi choáng ngợp nầy - nếu đặt câu hỏi: Ai là chủ nhân của những xe hơi, khách sạn- vũ trường, những thương hiệu lớn, những biệt thự lộng lẫy kia? - Thì câu trả lời không sợ sai lầm là của cán bộ đảng viên (tại chức hoặc giải ngủ) hoặc con cháu thân nhân của họ. Và ở thôn quê - Giai cấp giàu có bây giờ là ai ? Giai cấp địa chủ là ai ? Có phải do của cải của ông cha để lại hay do sự kinh doanh tự do, mua bán làm ăn mà có ???
HIỆN TƯỢNG NGƯƠI BẮC XA HÔI CHỦ NGHĨA
CHIẾM HỮU TOÀN BỘ PHỐ XÁ THƯƠNG MAI QUAN TRONG Ở SAIGÒN KHỐNG CHẾ MỌI LÃNH VỰC TRỌNG YẾU Ở MIỀN NAM.
Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng “đánh Tây, đuổi Mỷ” - cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa - Thì dân miền Nam (gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) vẫn thấy một sự thật. Sự thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mãi trọng yếu của Sàigòn. Làm sao nói khác được khi đi một vòng quanh Sàigòn. Và các khu phố sầm uất nhứt, vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi han chuyện trò thì thấy toàn là người Bắc Cộng sản - Từ cô bán hàng đến bà chủ ngồi phía trong - Cũng toàn là người của xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Đắc, Phạm thị Trước. Hiện nay, một số đã đổi bảng hiệu hoặc xây cât lại. nhưng đều do người miền Bắc XHCN làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán dồ nhập cảng v. v. cũng đều do người Bắc XHCN chiếm giữ. Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng tự mình đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở Sàigòn thì khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN (Tất nhiên là vợ con, thân nhân cán bộ lớn). Những gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của chủ nhân người Bắc CS (do các cô tự nói ra). Các cô chiêu đãi viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ - dĩ nhiên - vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm lịch sự với khách ngoại quốc. Cán bộ, công nhân viên trọng yếu - Cũng đều là người Bắc - Trừ một số cán bộ gốc miền Nam ra Bắc tập kết - theo đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền Nam - Thì cũng kể họ là người XHCN miền Bắc cả. Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới - Từ Trung ương đến địa phương - Từ Tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xả gần - đều do đảng viên người miền Bắc XHCN - nắm giữ. Những công Ty dịch vụ có tầm cở, những công Ty thương mãi sản xuất lớn - điển hình là một công Ty vận tải và du lịch có đến 10,000 xe hơi đủ loại, chủ nhân cũng là người Bắc XHCN. Từ chính trị đến văn hóa, từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương mãi, sản xuất - Cũng là do người miền Bắc XHCN nắm giữ. Đó là sự thật trước mắt ai cũng thấy. Còn những vàng bạc, kim cương, đô la, tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thuơng nghiệp - nhà cửa của tù cãi tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại, những luợng vàng thu được từ những người vuợt biên bán chánh thức - tài sản những người thuộc diện tư sản - toàn bộ tài sản nầy từ Saigòn đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam - được đem đi đâu? - Không ai biết. Thông thường - những của cãi nầy phải được sung vào công quỷ - để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ từ đẹp đẻ. Thế nhưng - sự thật trước nhứt - là các ông đem chia chác nhau. Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN (Đọc Đất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang). Ông lớn lấy tài sản lớn. Ông nhỏ - nhà cửa nhỏ. Có ông cán bộ trung cấp chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết… đem cho công Ty ngoại quốc thuê. Điều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy - vì lo sợ cái gì đó - bèn đem “ bán non” những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một viên chức tù cãi tạo đã sang tay đến 3 đời chủ. Nhà cửa thuộc diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu - không ngoại lệ. Những trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức còn được phép ở lại - là những biện pháp vá víu. Chủ quyền căn nhà nầy là Nhà nước XHCN. Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên mà người dân thường có nhà cửa phố xá đều bị “ giải phóng” ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách: Đuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xả tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung (chủ nhà chịu không nổi… phải bỏ đi), đổi tiền để vô sản hoá người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những gì có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ, để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê… Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào “mua” nhà Saigòn với giá gần như cho không… và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở Saigòn. Mang xe tăng T. 54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng hàng lớp lớp thiếu niên “xẻ dọc Trường Sơn” bằng máu, nước mắt và xác chết… vào xâm chiếm miền Nam. Chiêu bài là “giải phóng” nhân dân miền Nam - nhưng sự thật khó chối cãi được - là vào để chiếm đoạt tài sản, đất đai, của cải, đuổi dân Saigòn (gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) ra khỏi Thủ Đô bằng nhiều chánh sách khác nhau - để bây giờ chính các ông đã trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng bạc kim cương đầy túi - những ông chủ công Ty có tầm vóc, những địa chủ đầy quyền lực. Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học ngoại quốc. (Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn tấn Dũng đang du học Mỷ là trường hợp điển hình). Như vậy hành vi nầy gọi là gì? Trong những lúc canh tàn rượu tỉnh - một mình đối diện với luơng tâm thuần luơng của mình - các ông tự gọi mình đi. Đến thời “mở cửa” - cơ hội hốt tiền còn nhiều hơn gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương - đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công Ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đuờng xá, xây cất đại công tác. Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỷ tiền tệ quốc tế - những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt. Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn, no bóc ké. Nhiều công trình vừa xây cất xong đã muốn sụp xuống vì nạn ăn bớt vật liệu. Một thí dụ diển hình: Một bệnh viện gần chợ “cua” Long Hồ - quê hương của Phạm Hùng - nước vôi còn chưa ráo đã muốn sụp. Hiện đóng cửa không sử dụng được. Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lãnh vực, chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương mãi ở những khu thương mãi quan trọng nhứt - là một sự thật không thể chối bỏ. Cán bộ lớn đã trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực - những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử. Trong khi dân chúng miền quê - nhứt là miền Nam - ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên. Khoảng cách giàu nghèo càng lớn - đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt. Giàu thì giàu quá sức. Nghèo thì nghèo cùng cực. Nhà văn - bác sĩ Hoàng Chính - gọi thời kỳ sau 75 là thời “Bắc thuộc”: - “Năm Bắc thuộc thứ 2: Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh. - Năm Bắc thuộc thứ 6: Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán. - Năm Bắc thuộc thứ 12: Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười. “ Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.
BỘ MẶT THÔN QUÊ MIỀN NAM
Có nhìn tận mắt, nghe tận nơi, mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau 37 năm dưới chế độ cọng sản. Để được trung thực - người viết ghi những điều thấy và nghe - không bình luận - tại những nơi đã đi qua. Thôn quê miền Nam - những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện. Những làng xã xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối. Đường sá có tu sửa phần nào. Đường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn (đường xóm Cái Nứa, Cái Chuối xã Long Mỹ, VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. “Cầu tre lắt lẻo”, cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ). Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cái bè, Cái răng) nay không còn thấy nữa. Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ - chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn - còn nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy - dọc theo bờ sông Long Hồ - một số nhà gạch nhỏ mới cất. xen kẻ những mái lá bạc màu. Vùng Trà ốp, Trà Cú (Vĩnh Bình), chợ Thầy Phó (Vĩnh Long) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. Đường mòn chạy sâu vào thôn xóm vẫn còn đường đất lầy lội vào mùa mưa nước nổi. Hai bên đường xe chạy từ Mỷ Tho, Cao Lãnh, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ. Nhìn chung - có một sự thay đổi rõ rệt. Nhà cửa, hàng quán dầy đặc, động cơ ồn ào, người ta chen chúc. Cảm giác chung là ngột ngạt, khó thở. Những vườn cây xanh um bên đường đã biến mất hoặc thụt sâu vào trong, không còn thấy nữa. Không còn vẻ đẹp thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai hoằng, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu, vườn mận Hồng Đào chạy dài hàng mấy cây số ở Trung Lương. Dưới sông - từ kinh Vỉnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang - hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đở sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau. Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế - cũng cùng trên một dòng sông. Không có gì thay đổi. Làng Chàm còn gọi là chà Châu Giang cũng còn đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá. Basa, cá điêu hồng v. v. ở dọc bờ sông khá dài. Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh. Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tìền và sông Hậu - người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỷ A, chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời trước 75 nữa. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng, được trả lời: “ Đi lấy Đại Hàn, Đài Loan hết rồi ông ơi! “ Tôi hỏi thêm: “ Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mãi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập. các cô gái nầy không sợ sao ông? - “ Biết hết - mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Đại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác thấy vậy ham. Phần nghèo, phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông. Biết đâu gặp may. “Câu chuyện gái Việt lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan hiện không ai là không biết. Tờ Tuổi trẻ - số ra ngày mùng 1 Tết năm Đinh Hợi - trong bài: “ Nỗi đau từ những con số”- có nói đến số phận của 65.000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Đài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể cho cả gia đình cha lẫn con. Cũng do tờ báo nầy: “Tại một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang “bày hàng” để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến luợt mình “ Và cũng do tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007, viết: “Hơn 60 cô gái, tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Saigòn để dự tuyển. Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ý đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái. Dich vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng. Chỉ trong vòng nửa tháng mà Công An đã phát hiện 3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô gái hiện diện. Thậm chí - những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm”. Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ: Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần luợt vào trong. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời: ‘ “Đó là những người con gái đi lấy chồng Đài Loan và Đại Hàn. Hàng bên trong là những đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa”. Tôi nhìn kỷ các cô gái nầy tuổi rất trẻ khoản chừng 18 đến 20, đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện - tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Đây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề. Song song với tổ chức chánh thức, còn có một tổ chức “ môi giới hôn nhân lậu”- sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào các ổ mãi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma Cau để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ tình dục, các cô gái làm điếm, hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An. Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhãn xảy ra hằng tuần - thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11, Sàigòn. Cho dù chánh thức hay lậu, hậu quả cũng gần giống nhau. Chánh thức thì có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí. Lậu thì lén lút với sự che chở của Công An. Hậu quả gần giống nhau. Nhiều cô gái về làm vợ mấy tên Đài Loan, Đại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn - ban ngày làm nô dịch, ban đêm phục vụ tình dục rồi bán vào động mãi dâm lấy tiền gở vốn lại. (Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Đài Bắc là một bằng chứng) Còn lậu thì bán thẳng vào ổ điếm. Biết bao nhiêu thảm cảnh, biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại. Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu, lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời! Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập. nầy khi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn không? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt? Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người - những người con gái này thật sự là họ TỰ NGUYỆN. Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện, hối lộ để đuợc giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn? Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau: Quá nhiều chương trình ngăn chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hoá bừa bãi, không được nghiên cứu cẩn trọng, đất đai canh tác bị thu hẹp, Dân số gia tăng. Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào. Nông dân miền Nam thiếu đất canh tác. Các cô gái miền Tây quẩn bách vì không có việc làm kinh niên - cuộc sống vô vọng mịt mờ - có nhiều trường hợp bị thúc đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến khi so sánh con gái mình với cô con gái làng bên có chồng Đại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ. Và cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS (sinh sau 75) - những người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ. thang giá trị bị đảo lộn nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước. Do vậy - khi bị dồn vào đường cùng họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chưn. Nhưng động lực chánh là nghèo.
NGHÈO
Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ đi lấy chồng Đại Hàn và Đài Loan… để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực, vô vọng không lối thoát. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) - vựa lúa nuôi sống cả nước - sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy - nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) ? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê Việt Nam - thì tỷ lệ ĐBSCL năm 1998: ĐBSC: 37%. ĐBSH: 29% . Năm 2002: ĐBSCL: 13 %. ĐBSH: 9%. (Nhà x. b Thống kê - Hànội, trang 13 - LVB trích dẫn) Dù theo tiêu chuẩn nào: tiền tệ (tính bắng tiền hay bằng gạo) - mức sống (bao gồm lương thực, nhà ờ, mức sống văn hóa) - ĐBSCL vẫn nghèo hơn ĐBSH - bởi lẽ khi nghèo về lương thực - thì khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hoá. Đó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đã nhìn qua những con số có giá trị của những chương trình nghiên cứu thống kê khoa học. Và sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nhìn tận mắt, nghe tận nơi của người viết: Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là cái nghèo thiếu trước hụt sau, ăn bữa sáng lo bữa chiều - cái nghèo của một nông dân, nhà dột nát. khi trời mưa lúc ban đêm, không có chỗ để nằm phải tìm một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp, trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc… Cái nghèo của một người đi mượn tiền, muợn gạo. tới ngày hẹn không tiền trả. Cái nghèo của một thanh niên thất nghiệp, cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho sù sụ, mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa, mũi dãi lòng thòng đang bốc đất cát chơi ngoài sân. Tục ngữ bình dân có câu: Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời. - Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chày lưới. ở sông Long Hồ. Đời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy: nghề đi nhủi tép. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay (2011) tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian bạc thếch. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te. Đời ông nội - nghèo! Đời cha nghèo! Đời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cọng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo - không đổi đời cho người nghèo thành giàu. Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo. Nói chung thì nông dân Việt Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác - còn công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền. trong khi dân số lại gia tăng quá tải. Cho nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết : “Nông dân đã nghèo, đất đã kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất thì lấy gì mà giàu có được? “
MIỀN NAM - 37 NĂM DƯỚI CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN
Kinh tế Việt Nam - trong đó có miền Nam - có chút tiến bộ - so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa. Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Đối với các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt, cầm lồng đèn đỏ… Và điều quan trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương trình y tế, giáo dục (hiện nhiều người nghèo không có tiền đóng học phí bậc Tiểu học cho con) - các chương trình tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rổng tuếch? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể. Và hiện tại - muốn phát triển công nghiệp - nhà cầm quyền địa phương - theo lệnh Đảng - mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân một cách bạo ngược. Lòng dân phẩn uất, kêu la than khóc. Oán hận ngút trời xanh! (19 Tỉnh miền Nam biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàigòn). Như vậy có gọi là phát triển không?
KẾT LUẬN
- 37 năm nhìn lại:
Người ta thấy miền Bắc đã “giải phóng” dân Sàigòn ra khỏi đất đai, nhà cửa của họ. Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách khác nhau. “Giải phóng” miền ĐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu đãi từ nhiều thế kỷ. “Giải phóng” quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển… “ Giải phóng” phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm “vợ nô lệ”, đi làm điếm ở Kampuchia, TháiLan.
- 37 năm nhìn lại:
Người ta thấy Việt Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ. Phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên E-bay Taiwan website (2010) - bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con súc vật ở Singapour (2011). Chỉ trong năm 2011 - có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc. (Theo UNI CEF - LHQ và Bộ Tư Pháp Việt Nam)
- 37 năm nhìn lại:
Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L’expresse ngày 29-8-2011: “Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc - người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở"
- 37 năm nhìn lại:
Miền Bắc XHCN rõ ràng đã thiết lập một nền đô hộ miền Nam - khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc. Và điều quan trọng trên hết là Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Một trí thức Việt Nam lên tiếng cảnh cáo: “Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc. Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu." (Trích Người việt hải ngoại - Nguyễn văn Trấn)
PHÓ THƯỜNG DÂN
Mitt Romney mời Paul Ryan đứng phó: Một chọn lựa của thất bại

Mitt Romney và Paul Ryan
Hôm Thứ Bảy 11 tháng 8, vào lúc dân chúng Hoa Kỳ đang theo dõi và thưởng thức thành quả khích lệ của đoàn vận động viên của Hoa Kỳ tại Thế Vận Hội mùa hè ở Luân Đôn, càng lúc càng dẫn đầu xa Trung quốc, thì ông Mitt Romney, ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng hòa làm cho cơn sốt truyền thông lên cao thêm một cung bậc. Ông tuyên bố chọn Dân biểu Paul Ryan (bang Winconsin) đứng phó tổng thống trong một buổi xuất hiện chung trước công chúng tại Norfolk, Virginia.
Ông Paul Ryan đương kim Chủ tịch Ủy ban Ngân sách Hạ nghị viện sau khi đảng Cộng hòa nắm lại đa số tại Hạ nghị viện trong cuộc bầu cử quốc hội tháng 11 năm 2010. Paul Ryan là một dân biểu trẻ tuổi có tài. Ông nổi tiếng trong cuộc tranh luận với tổng thống Obama về ngân sách. Phương pháp của Paul Ryan cực kỳ đơn gỉản: cắt các chương trình chi tiêu của chính phủ, giảm chi phí các chương trình an sinh xã hội và giảm thêm thuế cho thành phần dư dã để khuyến khích đầu tư.
Xuất hiện bên cạnh ông Mitt Romney, Dân biểu Paul Ryan rạng rỡ hứa sẽ cùng với Mitt Romney lãnh đạo đưa Hoa Kỳ ra khỏi cơn khó khăn kinh tế và ngân sách hiện tại. Sự chọn lựa ông Paul Ryan đã bơm một chất xúc tác vào cuộc tranh cử tổng thống bắt đầu khó khăn của ông Romney.
Vào mùa Xuân năm nay cuộc tranh cử khởi đầu với nhiều lợi điểm cho phía Cộng hòa vì kinh tế khó khăn, thất nghiệp, giá dầu xăng tăng, và yếu tố tâm lý làm dân chúng Hoa Kỳ dường như muốn đổi ngựa . Mặt khác ông Mitt Romney xuất hiện như một khuôn mặt Cộng hòa trung dung, nhiều kinh nghiệm kinh doanh và với tên tuổi quen thuộc qua cuộc tranh cử năm 2004 gìanh sự đề cử của Cộng hòa với Thượng nghị sĩ John McCain. Cuộc chạy đua vào Bạch Ốc của Thượng nghị sĩ McCain bất thành làm cho dân chúng Hoa Kỳ dường như luyến tiếc đã chọn nhầm ứng cử viên cho đảng Cộng hòa, và lần này dành nhiều cảm tình cho ông Mitt Romney ngay từ bước đầu.
Khi còn là thống đốc bang Massachusetts (2003-2007) Mitt Romney ký ban hành luật bảo hiểm sức khỏe bảo đảm mọi người sống trong tiểu bang đều được bảo hiểm sức khỏe trong đó có khoản buộc một số công dân Mỹ sống tại bang Massachusetts phải mua bảo hiểm dưới một hình thức nào đó, hoặc tự liệu hoặc do chính phủ tiểu bang giúp đỡ. Luật này đã có ảnh hưởng đến nỗ lực của tổng thống Obama khi vừa đắc cử vận động quốc hội thông qua luật Affordable Care Act (hay còn gọi là Obamacare) tháng 3 năm 2010.
Thành phần phía hữu chống luật Affordable Care Act buộc một thành phần công dân phải mua bảo hiểm là vi hiến, và sự tranh luận đã phân cực xã hội Hoa Kỳ, một bên là hữu, một bên là tả, không dành một chỗ đứng nào cho thành phần ở giữa. Kết quả cuộc bầu cử quốc hội tháng 11 năm 2010 đảng Tea Party của bà Sarah Palin xuất hiện và gíup đảng Cộng hòa chiếm lại đa số tại Hạ nghị viện.
Do sự phân cực không khí chính trị Hoa Kỳ, trong cuộc bầu cử tổng thống năm nay (2012) nhiều thành phần cực hữu đã xuất hiện, như Newt Ginrich, Ron Paul, Rick Santorum, Rick Perry, Michelle Bachmann tranh với ông Mitt Romney, một khuôn mặt ôn hòa. Do nhu cầu giành sự đề cử của đảng ông Mitt Romney đã tạm thời từ bỏ lập trường trung dung của ông trong các lĩnh vực bảo hiểm sức khỏe, quyền di trú (immigration), quyền của những người đồng tính … Khi được chất vấn quan điểm của ông về bảo hiểm sức khỏe, ông nói luật đó cần cho bang Massachusetts, nhưng không cần cho cả nước. Ai cũng hiểu đó là một cách nói cho qua chuyện, nhưng sự thích ứng với nhu cầu tranh cử trong nội bộ đảng Cộng hòa cuối cùng đã làm cho ông Mitt Romney được sự chấp nhận của đảng Cộng hòa.
Nhưng phóng lao phải theo lao, ứng cử viên Mitt Romney nhận ra rằng ông chỉ có một con đường để thắng ông Obama là tận dụng khuynh hướng cực hữu. Điều này được thấy qua thái độ của ông ngày 28/6 vừa qua khi Tối cao Pháp viện phán quyết duy trì Affordable Care Act. Ông long trọng cho dựng một bệ gỗ với khẩu hiệu “Repeal & Replace Obamacare” (Hủy bỏ và thay thế Luật Bảo hiểm Sức khỏe của Obama) và dõng dạc tuyên bố: “Nhiệm vụ của chúng ta rất rõ ràng. Nếu chúng ta muốn hủy bỏ Obamacare, chúng ta phải thay thế tổng thống Obama. Sứ mạng của tôi là thực hiện điều đó.” (Nguyên văn: Our mission is clear. If we want to get rid of Obamacare, we are going to have to replace President Obama. My mission is to make sure we do exactly that).
Lời tuyên bố của ông Mitt Romney cho thấy ông là một nhà chính trị có thể làm bất cứ gì để được phíếu, bất chấp thực tế, bất chấp quan điểm vốn có của mình.
Ký gỉa Michael Tomasky trong một bài báo viết cho tờ tuần báo Newsweek số ngày 6 tháng 8 không ngần ngại dùng danh từ “wimp” để miêu tả ông Mitt Romney. Wimp có nghĩa là nhát gan, người không có xương sống, một người không có lập trường. Dẫn chứng hoạt động chính trị của ông Romney nhất là kinh qua hai cuộc tranh cử tổng thống ông Tomasky nhận định rằng ông Mitt Romney không có một lập trường rõ ràng về bất cứ một vấn đề gì. Về quyền phá thai? Ông bà Romney từng viết chi phiếu ủng hộ tổ chức “Kế hoạch hóa Gia đình” (Planned Prenthood) thì nay chương trình “kế hoạch hóa” đang ở trong danh mục cần đánh phá. Về lập trường đánh thuế? Ông Romney đã không ký vào “bản cam kết không tăng thuế” (Taxpayer Protection Pledge) do nhà chủ trương cải tổ thuế khóa Grover Norquist đưa ra khi đang tranh cử thống đốc bang Massachusetts, nhưng năm 2007 lại hăm hở ký. Về di dân và quốc tịch ông Romney từng chủ trương tạo cơ hội cho người định cư bất hợp pháp trở thành công dân Hoa Kỳ thì bây giờ là người chống đối nó mạnh mẽ nhất. Lập trường về quyền mang súng? Ông từng ủng hộ “Luật Brady” giới hạn quyền mang súng thì bây giờ ông chống mọi giới hạn.
Ông Michael Tomasky viết rằng ngưỡi Mỹ rất thông cảm sự thay đổi lập trường vì nhu cầu tranh cử của các chính trị gia trong một chừng mực nào đó nhưng rất kiêng kỵ các ứng cử viên không có xương sống. Ông Tomasky nói rằng có 3 lý do làm cho một chính trị gia thay đổi lập trường. Thứ nhất là được tiền, thứ hai là can đảm khi thấy lập trường mình sai, thứ ba là hèn nhát sợ đám đông mình đang ve vuốt. Theo ông Tomasky ông Mitt Romney không cần tiền, cũng chẳng phải thấy lập trường mình sai mà chỉ vì nhát gan không dám đối diện với áp lực.
Việc ông Romney chọn ông Paul Ryan đứng phó thể hiện chân dung của ông. Ông chọn một xã hội phân cực và cực hữu để đắc cử. Ông quên quá khứ, bất chấp các cử tri ở giữa, bất cần phiếu của người thiểu số, bất chấp thành phần yếu kém trong xã hội.
Sự chọn lựa của ông Mitt Romney không khác quyết định của Thượng nghị sĩ John McCain khi chọn bà Sarah Palin đứng phó. Chỉ khác ở chỗ trước khi được chọn không ai biết bà Palin là ai. Dân biểu Paul Ryan trái lại đã nổi danh bởi những quan điểm cực hữu của ông về thuế (dứt khoát không tăng thuế thành phần có lợi tức cao), về thâm thủng ngân sách (giảm chi phí công), về an sinh xã hội (cắt giảm các chương trình Medicare, Medicaid …). Sự đáp ứng của truyền thông dành cho ông Paul Ryan có thể khích lệ hơn khi được ông McCain chọn bà Palin. Nhưng tác dụng sau cùng cũng sẽ không khác nhau.
Nếu năm 2008 ông Barack Obama đã thắng nhờ sự tính toán sai lầm của Thượng nghị sĩ John McCain chọn bà Sarah Palin và cuộc khủng hoảng kinh tế xẩy ra một tháng trước ngày bầu cử. Thì lần này ông Obama lại thắng nhờ lập trường chao đảo của ứng cử viên Mitt Romney và việc chọn ông Paul Ryan đứng phó làm cho cử tri đứng giữa và thành phần thiểu số không có một sự lựa chọn nào khác.
© Trần Bình Nam

Mitt Romney và Paul Ryan
Hôm Thứ Bảy 11 tháng 8, vào lúc dân chúng Hoa Kỳ đang theo dõi và thưởng thức thành quả khích lệ của đoàn vận động viên của Hoa Kỳ tại Thế Vận Hội mùa hè ở Luân Đôn, càng lúc càng dẫn đầu xa Trung quốc, thì ông Mitt Romney, ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng hòa làm cho cơn sốt truyền thông lên cao thêm một cung bậc. Ông tuyên bố chọn Dân biểu Paul Ryan (bang Winconsin) đứng phó tổng thống trong một buổi xuất hiện chung trước công chúng tại Norfolk, Virginia.
Ông Paul Ryan đương kim Chủ tịch Ủy ban Ngân sách Hạ nghị viện sau khi đảng Cộng hòa nắm lại đa số tại Hạ nghị viện trong cuộc bầu cử quốc hội tháng 11 năm 2010. Paul Ryan là một dân biểu trẻ tuổi có tài. Ông nổi tiếng trong cuộc tranh luận với tổng thống Obama về ngân sách. Phương pháp của Paul Ryan cực kỳ đơn gỉản: cắt các chương trình chi tiêu của chính phủ, giảm chi phí các chương trình an sinh xã hội và giảm thêm thuế cho thành phần dư dã để khuyến khích đầu tư.
Xuất hiện bên cạnh ông Mitt Romney, Dân biểu Paul Ryan rạng rỡ hứa sẽ cùng với Mitt Romney lãnh đạo đưa Hoa Kỳ ra khỏi cơn khó khăn kinh tế và ngân sách hiện tại. Sự chọn lựa ông Paul Ryan đã bơm một chất xúc tác vào cuộc tranh cử tổng thống bắt đầu khó khăn của ông Romney.
Vào mùa Xuân năm nay cuộc tranh cử khởi đầu với nhiều lợi điểm cho phía Cộng hòa vì kinh tế khó khăn, thất nghiệp, giá dầu xăng tăng, và yếu tố tâm lý làm dân chúng Hoa Kỳ dường như muốn đổi ngựa . Mặt khác ông Mitt Romney xuất hiện như một khuôn mặt Cộng hòa trung dung, nhiều kinh nghiệm kinh doanh và với tên tuổi quen thuộc qua cuộc tranh cử năm 2004 gìanh sự đề cử của Cộng hòa với Thượng nghị sĩ John McCain. Cuộc chạy đua vào Bạch Ốc của Thượng nghị sĩ McCain bất thành làm cho dân chúng Hoa Kỳ dường như luyến tiếc đã chọn nhầm ứng cử viên cho đảng Cộng hòa, và lần này dành nhiều cảm tình cho ông Mitt Romney ngay từ bước đầu.
Khi còn là thống đốc bang Massachusetts (2003-2007) Mitt Romney ký ban hành luật bảo hiểm sức khỏe bảo đảm mọi người sống trong tiểu bang đều được bảo hiểm sức khỏe trong đó có khoản buộc một số công dân Mỹ sống tại bang Massachusetts phải mua bảo hiểm dưới một hình thức nào đó, hoặc tự liệu hoặc do chính phủ tiểu bang giúp đỡ. Luật này đã có ảnh hưởng đến nỗ lực của tổng thống Obama khi vừa đắc cử vận động quốc hội thông qua luật Affordable Care Act (hay còn gọi là Obamacare) tháng 3 năm 2010.
Thành phần phía hữu chống luật Affordable Care Act buộc một thành phần công dân phải mua bảo hiểm là vi hiến, và sự tranh luận đã phân cực xã hội Hoa Kỳ, một bên là hữu, một bên là tả, không dành một chỗ đứng nào cho thành phần ở giữa. Kết quả cuộc bầu cử quốc hội tháng 11 năm 2010 đảng Tea Party của bà Sarah Palin xuất hiện và gíup đảng Cộng hòa chiếm lại đa số tại Hạ nghị viện.
Do sự phân cực không khí chính trị Hoa Kỳ, trong cuộc bầu cử tổng thống năm nay (2012) nhiều thành phần cực hữu đã xuất hiện, như Newt Ginrich, Ron Paul, Rick Santorum, Rick Perry, Michelle Bachmann tranh với ông Mitt Romney, một khuôn mặt ôn hòa. Do nhu cầu giành sự đề cử của đảng ông Mitt Romney đã tạm thời từ bỏ lập trường trung dung của ông trong các lĩnh vực bảo hiểm sức khỏe, quyền di trú (immigration), quyền của những người đồng tính … Khi được chất vấn quan điểm của ông về bảo hiểm sức khỏe, ông nói luật đó cần cho bang Massachusetts, nhưng không cần cho cả nước. Ai cũng hiểu đó là một cách nói cho qua chuyện, nhưng sự thích ứng với nhu cầu tranh cử trong nội bộ đảng Cộng hòa cuối cùng đã làm cho ông Mitt Romney được sự chấp nhận của đảng Cộng hòa.
Nhưng phóng lao phải theo lao, ứng cử viên Mitt Romney nhận ra rằng ông chỉ có một con đường để thắng ông Obama là tận dụng khuynh hướng cực hữu. Điều này được thấy qua thái độ của ông ngày 28/6 vừa qua khi Tối cao Pháp viện phán quyết duy trì Affordable Care Act. Ông long trọng cho dựng một bệ gỗ với khẩu hiệu “Repeal & Replace Obamacare” (Hủy bỏ và thay thế Luật Bảo hiểm Sức khỏe của Obama) và dõng dạc tuyên bố: “Nhiệm vụ của chúng ta rất rõ ràng. Nếu chúng ta muốn hủy bỏ Obamacare, chúng ta phải thay thế tổng thống Obama. Sứ mạng của tôi là thực hiện điều đó.” (Nguyên văn: Our mission is clear. If we want to get rid of Obamacare, we are going to have to replace President Obama. My mission is to make sure we do exactly that).
Lời tuyên bố của ông Mitt Romney cho thấy ông là một nhà chính trị có thể làm bất cứ gì để được phíếu, bất chấp thực tế, bất chấp quan điểm vốn có của mình.
Ký gỉa Michael Tomasky trong một bài báo viết cho tờ tuần báo Newsweek số ngày 6 tháng 8 không ngần ngại dùng danh từ “wimp” để miêu tả ông Mitt Romney. Wimp có nghĩa là nhát gan, người không có xương sống, một người không có lập trường. Dẫn chứng hoạt động chính trị của ông Romney nhất là kinh qua hai cuộc tranh cử tổng thống ông Tomasky nhận định rằng ông Mitt Romney không có một lập trường rõ ràng về bất cứ một vấn đề gì. Về quyền phá thai? Ông bà Romney từng viết chi phiếu ủng hộ tổ chức “Kế hoạch hóa Gia đình” (Planned Prenthood) thì nay chương trình “kế hoạch hóa” đang ở trong danh mục cần đánh phá. Về lập trường đánh thuế? Ông Romney đã không ký vào “bản cam kết không tăng thuế” (Taxpayer Protection Pledge) do nhà chủ trương cải tổ thuế khóa Grover Norquist đưa ra khi đang tranh cử thống đốc bang Massachusetts, nhưng năm 2007 lại hăm hở ký. Về di dân và quốc tịch ông Romney từng chủ trương tạo cơ hội cho người định cư bất hợp pháp trở thành công dân Hoa Kỳ thì bây giờ là người chống đối nó mạnh mẽ nhất. Lập trường về quyền mang súng? Ông từng ủng hộ “Luật Brady” giới hạn quyền mang súng thì bây giờ ông chống mọi giới hạn.
Ông Michael Tomasky viết rằng ngưỡi Mỹ rất thông cảm sự thay đổi lập trường vì nhu cầu tranh cử của các chính trị gia trong một chừng mực nào đó nhưng rất kiêng kỵ các ứng cử viên không có xương sống. Ông Tomasky nói rằng có 3 lý do làm cho một chính trị gia thay đổi lập trường. Thứ nhất là được tiền, thứ hai là can đảm khi thấy lập trường mình sai, thứ ba là hèn nhát sợ đám đông mình đang ve vuốt. Theo ông Tomasky ông Mitt Romney không cần tiền, cũng chẳng phải thấy lập trường mình sai mà chỉ vì nhát gan không dám đối diện với áp lực.
Việc ông Romney chọn ông Paul Ryan đứng phó thể hiện chân dung của ông. Ông chọn một xã hội phân cực và cực hữu để đắc cử. Ông quên quá khứ, bất chấp các cử tri ở giữa, bất cần phiếu của người thiểu số, bất chấp thành phần yếu kém trong xã hội.
Sự chọn lựa của ông Mitt Romney không khác quyết định của Thượng nghị sĩ John McCain khi chọn bà Sarah Palin đứng phó. Chỉ khác ở chỗ trước khi được chọn không ai biết bà Palin là ai. Dân biểu Paul Ryan trái lại đã nổi danh bởi những quan điểm cực hữu của ông về thuế (dứt khoát không tăng thuế thành phần có lợi tức cao), về thâm thủng ngân sách (giảm chi phí công), về an sinh xã hội (cắt giảm các chương trình Medicare, Medicaid …). Sự đáp ứng của truyền thông dành cho ông Paul Ryan có thể khích lệ hơn khi được ông McCain chọn bà Palin. Nhưng tác dụng sau cùng cũng sẽ không khác nhau.
Nếu năm 2008 ông Barack Obama đã thắng nhờ sự tính toán sai lầm của Thượng nghị sĩ John McCain chọn bà Sarah Palin và cuộc khủng hoảng kinh tế xẩy ra một tháng trước ngày bầu cử. Thì lần này ông Obama lại thắng nhờ lập trường chao đảo của ứng cử viên Mitt Romney và việc chọn ông Paul Ryan đứng phó làm cho cử tri đứng giữa và thành phần thiểu số không có một sự lựa chọn nào khác.
© Trần Bình Nam
Ai chui vào cái thòng lọng đầu tiên?
Ngô Nhân Dụng Tại hội nghị Thành Ðô giữa hai đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc, Nguyễn Văn Linh, Lê Ðức Anh và Ðỗ Mười đã “tuyên bố đầu hàng,” tình nguyện đem cả đảng và nhà nước “chui đầu vào thòng lọng” cho Trung Cộng thao túng, lũng đoạn.
Hà Sĩ Phu nhận định: “Từ đấy trở đi, chỉ cần 4 năm một lần Trung Quốc khống chế người cầm đầu Việt Nam, tức tổng bí thư đảng, là đủ cho kế hoạch xâm lược tiến hành trôi chảy.”
Thực ra, đảng Cộng sản Trung Hoa đã nắm lấy cái đầu của Cộng sản Việt Nam từ năm 1950. Sau đó, họ tiếp tục nắm cái đầu “bằng con đường đi qua bao tử” trong suốt thời chiến tranh xâm chiếm miền Nam. Trong thời gian đó, mỗi năm ông Lê Thanh Nghị sang Bắc Kinh đưa một danh sách những món cần “chi viện” kinh tế; từ cơm sấy, cá khô cho đến từng cây kim, sợi chỉ. Bởi vậy khi Lê Duẩn trở mặt quay sang thần phục Liên Xô hoàn toàn, chống “Trung Quốc xâm lược,” gọi Ðặng Tiểu Bình là “Ðặng Lưu Manh,” thì Bắc Kinh nổi giận, cho “bọn phản phúc” một bài học năm 1979. Bài học đó được trả bằng xương máu của dân và bộ đội bị quân Tàu giết. Lê Duẩn đã gieo tai họa cho đám đàn em, cả bọn bơ vơ sợ hãi khi nhìn cảnh Liên Xô sụp đổ cùng với các đảng cộng sản chư hầu Ðông Âu. Vì thế, sau cùng họ phải quay đầu 180 độ, quy phục Trung Cộng. Nước cờ ngoại giao liều lĩnh và tai hại của Lê Duẩn có thể được thúc đẩy vì chứng kiến “Bác” lúi cúi theo Trung Cộng quá đáng cũng cảm thấy nhục lây; lại vì ông ta muốn chứng tỏ mình giỏi hơn họ Hồ.
Sở dĩ Hồ Chí Minh trung thành với các đường lối của Mao Trạch Ðông từ năm 1950 cho tới khi chết là vì ông muốn chứng tỏ mình là một người cộng sản trung kiên. Từ thập niên 1930, Hồ Chí Minh về Moscow (MatxCơva) đã bị Stalin nghi ngờ, và suýt bị xử tử, thì mối lo lớn nhất của Hồ Chí Minh là sợ bị ông Trùm Ðỏ thanh trừng. Hồ đã có kinh nghiệm cá nhân: Chính mình lập ra đảng Cộng sản Việt Nam nhưng ngay lập tức bị Stalin bắt đổi tên, và đặt Trần Phú lên thay làm tổng bí thư. Những năm 1930, Hồ Chí Minh ở thủ đô Nga cũng chứng kiến cảnh Stalin đã lần lượt giết hết các đồng chí trong Trung ương đảng Cộng sản Liên Xô. Và sau đó, còn biết Stalin đã cho tay chân đuổi theo Trotsky khắp thế giới, sau cùng ám sát được nhà lãnh tụ Cộng sản Ðệ tứ Quốc tế. Năm 1946 sở dĩ Hồ Chí Minh phải sai giết những nhà cách mạng Cộng sản Ðệ tứ Việt Nam như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, vân vân, cũng vì nếu để cho những người yêu nước này sống thì lại lo sẽ bị Stalin nghi ngờ ăn ở hai lòng.
Cho nên, năm 1950, khi Stalin nói giao đảng Cộng sản Việt Nam cho Mao Trạch Ðông chỉ đạo, thì từ đó Hồ Chí Minh hoàn toàn tuân theo chỉ thị này. Ðến lúc Stalin chết, năm 1953, thì Mao Trạch Ðông đã nắm được cái đầu của đảng Cộng sản Việt Nam trong thòng lọng từ lâu rồi.
Tháng Giêng năm đó, Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh; thấy Mao Trạch Ðông đã đi Moscow rồi, nên xin Lưu Thiếu Kỳ giúp đỡ di chuyển sang Nga. Ở thủ đô Nga, Hồ Chí Minh bị Stalin tỏ vẻ khinh thường: Không đến dự tiệc do ông Hồ tổ chức khoản đãi; không có một hình thức tiếp đón chính thức để chụp hình. Stalin lại từ chối không viện trợ, và lắc đầu khi Hồ Chí Minh xin cho ký một thỏa hiệp hữu nghị, như Stalin đã ký với Mao Trạch Ðông. Hồ Chí Minh chỉ xin được Stalin ký tên trên một bức hình xé từ một tạp chí hình ảnh; làm kỷ niệm. Stalin ký tên cho, nhưng sau đó sai mật vụ KGB bí mật đến tận phòng, lục va li, lấy lại. Mỗi lần Hồ Chí Minh ngỏ ý xin chi viện, Stalin đều nói: các đồng chí Trung Quốc hiểu rõ người Châu Á hơn; mọi việc hãy hỏi họ, tôi sẽ ủng hộ. Stalin đã gán Hồ Chí Minh cho Mao Trạch Ðông từ đó.
Trên xe lửa trở về Bắc Kinh, Hồ đã nhắc với Mao về việc bị Stalin bỏ rơi, và nói: Chúng tôi chỉ còn dựa và Trung Quốc. Từ năm đó, các đoàn cố vấn Trung Cộng bắt đầu xâm nhập nước ta từ trên xuống dưới, trong chiến trận cũng như trong chính trị, đặc biệt là cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu hoàn toàn theo khuôn mẫu của các cố vấn.
Khi tái lập đảng Cộng sản dưới tên mới là đảng Lao Ðộng, Hồ Chí Minh cố chứng tỏ mình là một con người cộng sản hoàn toàn. Tạp chí Học tập Liên khu 4, Tháng Tư năm 1951 đã viết (trang 1 đến trang
bài tường thuật “Ðại hội Ðảng Toàn quốc lần thứ hai tại Việt Bắc vào tháng 3 năm 1951, do một phóng viên của tờ Học tập ghi lại.
Hồ Chí Minh tán dương các chiến sĩ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp lúc đó; nhưng ông không đề cao lòng yêu nước của họ mà lại giải thích họ hy sinh chỉ vì chủ nghĩa Cộng sản. Bài báo ghi nguyên văn lời ông Hồ giải thích các hành động anh dũng của các người lính Việt Nam:
“Ðó là vì đâu? Là vì trong chính trị, cũng như trong mọi mặt công tác khác, Ðảng ta có một chủ nghĩa cách mạng nhất, sáng suốt nhất, đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa (Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung 3 vị lãnh tụ: Marx, Engels, Lénine)
Sau khi chỉ tay lên hình Staline (tên viết theo lối Pháp), Hồ lại ca ngợi công ơn đảng Cộng sản Trung Quốc “đã thấm nhuần chủ nghĩa Marx-Lénine...” Hồ Chí Minh biện minh: “Nếu không thấm nhuần như thế, thì sao lại có bộ đội nhịn đói hơn 4 ngày, vẫn cứ bám lấy giặc mà đánh và đánh thắng giặc! (Ðại hội vỗ tay dài). Thì sao có những cử chỉ oanh liệt như ở một trận đánh nọ có chiến sĩ bị thương ở tay nói với người bên cạnh “Cậu chặt tay cho mình cái” vì thấy cánh tay gãy vướng, chặt đi cho dễ đánh, thế rồi lại cứ xung phong? Nếu không thấm nhuần chủ nghĩa Marx-Lénine thì làm sao có được những cử chỉ oanh liệt như thế?” (Ðại hội vỗ tay).”
Hồ Chí Minh lại giải thích tiếp: “Chúng ta lại nhờ có ông anh này! (Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí Mao-Trạch-Ðông) (Ðại hội vỗ tay vang dậy - và đứng dậy hô lớn đồng chí Mao-Trạch-Ðông muôn năm!)
Ðó là nguyên văn những lời ông Hồ đã nói. Không nói gì đến lòng yêu nước của người Việt Nam; không hề nói đến Tổ tiên đã noi gương tranh đấu chống xâm lăng. Chỉ biết ơn ông Xít, ông Mao. Hồ Chí Minh nộp dân Việt Nam lên bàn thở chủ nghĩa cộng sản.
Muốn chứng tỏ công ơn của MaoTrạch-Ðông đối với cuộc kháng chiến của người Việt Nam, Hồ Chí Minh kể lể: “Ông Mao ở cách đây mấy nghìn dặm... Ông theo dõi từng bước cuộc chiến đấu cách mạng của chúng ta. Như lúc quân đội và nhân dân ta giải phóng biên giới, như lúc chúng ta mở chiến dịch Trung-du có thể đêm ông không ngủ mà chờ tin tức...”
Như các cố vấn Trung Cộng ở Việt Nam lúc đó thuật lại, thì Mao-Trạch-Ðông đã chỉ thị đến từng chi tiết các trận đánh; vì Mao cũng là một lý thuyết gia quân sự, và ông rất thích điều khiển để thí nghiệm các khẩu hiệu trong binh pháp của ông.
Tinh thần lệ thuộc của Hồ Chí Minh đối với Cộng sản Trung Quốc đã rõ ràng, không ai chối cãi được. Sau đó, những gì xẩy ra thì chúng ta đã biết. Năm 1958, khi Phạm Văn Ðồng ký văn thư đồng ý với chính phủ Bắc Kinh về vấn đề lãnh hải, mặc nhiên công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Trung Quốc, lúc đó Hồ Chí Minh vẫn còn nắm toàn quyền, sau khi Trường Chinh đã mất chức, mà Lê Duẩn thì mới lên.
Năm 1961, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Ðảng Cộng sản Trung Quốc, Hồ Chí Minh viết một bài ca tụng “40 năm vẻ vang, 40 năm thắng lợi”... “viết những trang lịch sử vĩ đại của Ðảng Cộng sản Trung Quốc,” đăng trên nhật báo Nhân Dân ở Hà Nội ngày 1 Tháng Bảy năm 1961.
Trong bài báo đó (in lại trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập X, NXB Chính Trị Quốc Gia, năm 2000, trang 365-368), Hồ Chí Minh đã kể rõ công ơn của Cộng sản Trung Quốc đối với đảng Cộng sản Việt Nam. Công ơn đầu tiên là “Ảnh hưởng Cách Mạng Tháng Mười Nga và lý luận Mác-Lênin phần lớn kinh qua Trung Quốc mà truyền đến Việt Nam.” Nói cách khác, ngay trên mặt lý thuyết căn bản, cộng sản nước ta chịu ơn của cộng sản Tầu dạy dỗ.
Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, cuốn số 11, từ trang 64 đến trang 76, có đăng bốn bài diễn văn của Hồ Chí Minh khi đón tiếp Lưu Thiếu Kỳ tới Hà Nội năm 1963. Trong lời chào đón phái đoàn Lưu Thiếu Kỳ và Trần Nghị ở sân bay Gia Lâm, Hồ Chí Minh đã đọc hai câu thơ: “Mối tình thắm thiết Việt-Hoa; Vừa là đồng chí vừa là anh em.” Trong bài diễn văn tại buổi tiệc chiêu đãi phái đoàn nước đàn anh, ông Hồ đã nhắc lại một câu ngạn ngữ của người Tầu để nói tới “...tình đoàn kết như môi mới răng giữa hai nước và hai đảng chúng ta...” Ðây là những bản văn chính thức được Hồ viết ra, đăng trên báo Nhân Dân, đặt tiền lệ cho các khẩu hiệu “đồng chí-anh em” và “như môi với răng.”
Hai khẩu hiệu đó được hai đảng cộng sản dùng mãi sau này, chỉ ngưng dùng mươi năm sau cuộc chiến biên giới 1979 khi răng cắn môi chẩy máu. Nhưng sau cuộc đầu hàng ở Thành Ðô năm 1992, các khẩu hiệu đó lại được các đồng chí Trung Quốc nhắc nhở. Vì chính ông Hồ đã nói những khẩu hiệu đó trước, cho nên đảng Cộng sản Việt Nam không thể từ chối được! Trung Cộng bèn “triển khai” ra 16 cái chữ vàng để cái thòng lọng thắt chặt hơn.
Hiện nay ở trong nước, các tay đầu sỏ trong đảng cũng không mấy khi nhắc đến Hồ Chí Minh nữa, trừ mấy dịp lễ lạt. Các “cháu” chắc cũng biết cái bùa đó hết thiêng rồi. Hà Sĩ Phu tiết lộ:
“Một blogger tối thân cận với trùm chuyên chính vô sản đã gọi Hồ Chí Minh là ‘Ku Nghệ’ mà không bị khiển trách; thì đủ biết trong hậu trường họ đối với cụ Hồ cũng chẳng thành kính gì.”
Vì họ biết Ku Nghệ là người đầu tiên dẫn cả đảng, cả nước chui đầu vào cái thòng lọng Tân Ðại Hán.
Ngô Nhân Dụng Tại hội nghị Thành Ðô giữa hai đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc, Nguyễn Văn Linh, Lê Ðức Anh và Ðỗ Mười đã “tuyên bố đầu hàng,” tình nguyện đem cả đảng và nhà nước “chui đầu vào thòng lọng” cho Trung Cộng thao túng, lũng đoạn.
Hà Sĩ Phu nhận định: “Từ đấy trở đi, chỉ cần 4 năm một lần Trung Quốc khống chế người cầm đầu Việt Nam, tức tổng bí thư đảng, là đủ cho kế hoạch xâm lược tiến hành trôi chảy.”
Thực ra, đảng Cộng sản Trung Hoa đã nắm lấy cái đầu của Cộng sản Việt Nam từ năm 1950. Sau đó, họ tiếp tục nắm cái đầu “bằng con đường đi qua bao tử” trong suốt thời chiến tranh xâm chiếm miền Nam. Trong thời gian đó, mỗi năm ông Lê Thanh Nghị sang Bắc Kinh đưa một danh sách những món cần “chi viện” kinh tế; từ cơm sấy, cá khô cho đến từng cây kim, sợi chỉ. Bởi vậy khi Lê Duẩn trở mặt quay sang thần phục Liên Xô hoàn toàn, chống “Trung Quốc xâm lược,” gọi Ðặng Tiểu Bình là “Ðặng Lưu Manh,” thì Bắc Kinh nổi giận, cho “bọn phản phúc” một bài học năm 1979. Bài học đó được trả bằng xương máu của dân và bộ đội bị quân Tàu giết. Lê Duẩn đã gieo tai họa cho đám đàn em, cả bọn bơ vơ sợ hãi khi nhìn cảnh Liên Xô sụp đổ cùng với các đảng cộng sản chư hầu Ðông Âu. Vì thế, sau cùng họ phải quay đầu 180 độ, quy phục Trung Cộng. Nước cờ ngoại giao liều lĩnh và tai hại của Lê Duẩn có thể được thúc đẩy vì chứng kiến “Bác” lúi cúi theo Trung Cộng quá đáng cũng cảm thấy nhục lây; lại vì ông ta muốn chứng tỏ mình giỏi hơn họ Hồ.
Sở dĩ Hồ Chí Minh trung thành với các đường lối của Mao Trạch Ðông từ năm 1950 cho tới khi chết là vì ông muốn chứng tỏ mình là một người cộng sản trung kiên. Từ thập niên 1930, Hồ Chí Minh về Moscow (MatxCơva) đã bị Stalin nghi ngờ, và suýt bị xử tử, thì mối lo lớn nhất của Hồ Chí Minh là sợ bị ông Trùm Ðỏ thanh trừng. Hồ đã có kinh nghiệm cá nhân: Chính mình lập ra đảng Cộng sản Việt Nam nhưng ngay lập tức bị Stalin bắt đổi tên, và đặt Trần Phú lên thay làm tổng bí thư. Những năm 1930, Hồ Chí Minh ở thủ đô Nga cũng chứng kiến cảnh Stalin đã lần lượt giết hết các đồng chí trong Trung ương đảng Cộng sản Liên Xô. Và sau đó, còn biết Stalin đã cho tay chân đuổi theo Trotsky khắp thế giới, sau cùng ám sát được nhà lãnh tụ Cộng sản Ðệ tứ Quốc tế. Năm 1946 sở dĩ Hồ Chí Minh phải sai giết những nhà cách mạng Cộng sản Ðệ tứ Việt Nam như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, vân vân, cũng vì nếu để cho những người yêu nước này sống thì lại lo sẽ bị Stalin nghi ngờ ăn ở hai lòng.
Cho nên, năm 1950, khi Stalin nói giao đảng Cộng sản Việt Nam cho Mao Trạch Ðông chỉ đạo, thì từ đó Hồ Chí Minh hoàn toàn tuân theo chỉ thị này. Ðến lúc Stalin chết, năm 1953, thì Mao Trạch Ðông đã nắm được cái đầu của đảng Cộng sản Việt Nam trong thòng lọng từ lâu rồi.
Tháng Giêng năm đó, Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh; thấy Mao Trạch Ðông đã đi Moscow rồi, nên xin Lưu Thiếu Kỳ giúp đỡ di chuyển sang Nga. Ở thủ đô Nga, Hồ Chí Minh bị Stalin tỏ vẻ khinh thường: Không đến dự tiệc do ông Hồ tổ chức khoản đãi; không có một hình thức tiếp đón chính thức để chụp hình. Stalin lại từ chối không viện trợ, và lắc đầu khi Hồ Chí Minh xin cho ký một thỏa hiệp hữu nghị, như Stalin đã ký với Mao Trạch Ðông. Hồ Chí Minh chỉ xin được Stalin ký tên trên một bức hình xé từ một tạp chí hình ảnh; làm kỷ niệm. Stalin ký tên cho, nhưng sau đó sai mật vụ KGB bí mật đến tận phòng, lục va li, lấy lại. Mỗi lần Hồ Chí Minh ngỏ ý xin chi viện, Stalin đều nói: các đồng chí Trung Quốc hiểu rõ người Châu Á hơn; mọi việc hãy hỏi họ, tôi sẽ ủng hộ. Stalin đã gán Hồ Chí Minh cho Mao Trạch Ðông từ đó.
Trên xe lửa trở về Bắc Kinh, Hồ đã nhắc với Mao về việc bị Stalin bỏ rơi, và nói: Chúng tôi chỉ còn dựa và Trung Quốc. Từ năm đó, các đoàn cố vấn Trung Cộng bắt đầu xâm nhập nước ta từ trên xuống dưới, trong chiến trận cũng như trong chính trị, đặc biệt là cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu hoàn toàn theo khuôn mẫu của các cố vấn.
Khi tái lập đảng Cộng sản dưới tên mới là đảng Lao Ðộng, Hồ Chí Minh cố chứng tỏ mình là một con người cộng sản hoàn toàn. Tạp chí Học tập Liên khu 4, Tháng Tư năm 1951 đã viết (trang 1 đến trang
Hồ Chí Minh tán dương các chiến sĩ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp lúc đó; nhưng ông không đề cao lòng yêu nước của họ mà lại giải thích họ hy sinh chỉ vì chủ nghĩa Cộng sản. Bài báo ghi nguyên văn lời ông Hồ giải thích các hành động anh dũng của các người lính Việt Nam:
“Ðó là vì đâu? Là vì trong chính trị, cũng như trong mọi mặt công tác khác, Ðảng ta có một chủ nghĩa cách mạng nhất, sáng suốt nhất, đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa (Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung 3 vị lãnh tụ: Marx, Engels, Lénine)
Sau khi chỉ tay lên hình Staline (tên viết theo lối Pháp), Hồ lại ca ngợi công ơn đảng Cộng sản Trung Quốc “đã thấm nhuần chủ nghĩa Marx-Lénine...” Hồ Chí Minh biện minh: “Nếu không thấm nhuần như thế, thì sao lại có bộ đội nhịn đói hơn 4 ngày, vẫn cứ bám lấy giặc mà đánh và đánh thắng giặc! (Ðại hội vỗ tay dài). Thì sao có những cử chỉ oanh liệt như ở một trận đánh nọ có chiến sĩ bị thương ở tay nói với người bên cạnh “Cậu chặt tay cho mình cái” vì thấy cánh tay gãy vướng, chặt đi cho dễ đánh, thế rồi lại cứ xung phong? Nếu không thấm nhuần chủ nghĩa Marx-Lénine thì làm sao có được những cử chỉ oanh liệt như thế?” (Ðại hội vỗ tay).”
Hồ Chí Minh lại giải thích tiếp: “Chúng ta lại nhờ có ông anh này! (Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí Mao-Trạch-Ðông) (Ðại hội vỗ tay vang dậy - và đứng dậy hô lớn đồng chí Mao-Trạch-Ðông muôn năm!)
Ðó là nguyên văn những lời ông Hồ đã nói. Không nói gì đến lòng yêu nước của người Việt Nam; không hề nói đến Tổ tiên đã noi gương tranh đấu chống xâm lăng. Chỉ biết ơn ông Xít, ông Mao. Hồ Chí Minh nộp dân Việt Nam lên bàn thở chủ nghĩa cộng sản.
Muốn chứng tỏ công ơn của MaoTrạch-Ðông đối với cuộc kháng chiến của người Việt Nam, Hồ Chí Minh kể lể: “Ông Mao ở cách đây mấy nghìn dặm... Ông theo dõi từng bước cuộc chiến đấu cách mạng của chúng ta. Như lúc quân đội và nhân dân ta giải phóng biên giới, như lúc chúng ta mở chiến dịch Trung-du có thể đêm ông không ngủ mà chờ tin tức...”
Như các cố vấn Trung Cộng ở Việt Nam lúc đó thuật lại, thì Mao-Trạch-Ðông đã chỉ thị đến từng chi tiết các trận đánh; vì Mao cũng là một lý thuyết gia quân sự, và ông rất thích điều khiển để thí nghiệm các khẩu hiệu trong binh pháp của ông.
Tinh thần lệ thuộc của Hồ Chí Minh đối với Cộng sản Trung Quốc đã rõ ràng, không ai chối cãi được. Sau đó, những gì xẩy ra thì chúng ta đã biết. Năm 1958, khi Phạm Văn Ðồng ký văn thư đồng ý với chính phủ Bắc Kinh về vấn đề lãnh hải, mặc nhiên công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Trung Quốc, lúc đó Hồ Chí Minh vẫn còn nắm toàn quyền, sau khi Trường Chinh đã mất chức, mà Lê Duẩn thì mới lên.
Năm 1961, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Ðảng Cộng sản Trung Quốc, Hồ Chí Minh viết một bài ca tụng “40 năm vẻ vang, 40 năm thắng lợi”... “viết những trang lịch sử vĩ đại của Ðảng Cộng sản Trung Quốc,” đăng trên nhật báo Nhân Dân ở Hà Nội ngày 1 Tháng Bảy năm 1961.
Trong bài báo đó (in lại trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập X, NXB Chính Trị Quốc Gia, năm 2000, trang 365-368), Hồ Chí Minh đã kể rõ công ơn của Cộng sản Trung Quốc đối với đảng Cộng sản Việt Nam. Công ơn đầu tiên là “Ảnh hưởng Cách Mạng Tháng Mười Nga và lý luận Mác-Lênin phần lớn kinh qua Trung Quốc mà truyền đến Việt Nam.” Nói cách khác, ngay trên mặt lý thuyết căn bản, cộng sản nước ta chịu ơn của cộng sản Tầu dạy dỗ.
Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, cuốn số 11, từ trang 64 đến trang 76, có đăng bốn bài diễn văn của Hồ Chí Minh khi đón tiếp Lưu Thiếu Kỳ tới Hà Nội năm 1963. Trong lời chào đón phái đoàn Lưu Thiếu Kỳ và Trần Nghị ở sân bay Gia Lâm, Hồ Chí Minh đã đọc hai câu thơ: “Mối tình thắm thiết Việt-Hoa; Vừa là đồng chí vừa là anh em.” Trong bài diễn văn tại buổi tiệc chiêu đãi phái đoàn nước đàn anh, ông Hồ đã nhắc lại một câu ngạn ngữ của người Tầu để nói tới “...tình đoàn kết như môi mới răng giữa hai nước và hai đảng chúng ta...” Ðây là những bản văn chính thức được Hồ viết ra, đăng trên báo Nhân Dân, đặt tiền lệ cho các khẩu hiệu “đồng chí-anh em” và “như môi với răng.”
Hai khẩu hiệu đó được hai đảng cộng sản dùng mãi sau này, chỉ ngưng dùng mươi năm sau cuộc chiến biên giới 1979 khi răng cắn môi chẩy máu. Nhưng sau cuộc đầu hàng ở Thành Ðô năm 1992, các khẩu hiệu đó lại được các đồng chí Trung Quốc nhắc nhở. Vì chính ông Hồ đã nói những khẩu hiệu đó trước, cho nên đảng Cộng sản Việt Nam không thể từ chối được! Trung Cộng bèn “triển khai” ra 16 cái chữ vàng để cái thòng lọng thắt chặt hơn.
Hiện nay ở trong nước, các tay đầu sỏ trong đảng cũng không mấy khi nhắc đến Hồ Chí Minh nữa, trừ mấy dịp lễ lạt. Các “cháu” chắc cũng biết cái bùa đó hết thiêng rồi. Hà Sĩ Phu tiết lộ:
“Một blogger tối thân cận với trùm chuyên chính vô sản đã gọi Hồ Chí Minh là ‘Ku Nghệ’ mà không bị khiển trách; thì đủ biết trong hậu trường họ đối với cụ Hồ cũng chẳng thành kính gì.”
Vì họ biết Ku Nghệ là người đầu tiên dẫn cả đảng, cả nước chui đầu vào cái thòng lọng Tân Ðại Hán.
Làn sóng cuốn gói và tháo chạy khỏi Việt Nam!
Cầu Nhật Tân_ Mấy tháng qua, các nhà quản lý tại Anh, Canada, Úc, Mỹ đều ghi nhận luồng tiền ồ ạt chảy từ Việt Nam sang nước họ dưới danh nghĩa đầu tư. Lãnh tụ phe đối lập Úc thậm chí còn giật mình đòi chính phủ cầm quyền xét lại chính sách đầu tư nước ngoài ở quốc gia này bởi ngày càng có nhiều người nước ngoài trong đó có rất đông người Việt Nam sang Úc mua đất, cổ phần doanh nghiệp. Sự thật này trái ngược hẳn tình hình ảm đạm kinh tế trong nước. Báo chí chính thống và các nhà quản lý thì chỉ dám mon men phân tích chỉ số, niềm tin v.v. Một sự thật hiển hiện nhưng khó nói đó là đã xuất hiện làn sóng nhà giàu, đại gia cuốn gói và tháo chạy, bằng cách này hay cách khác mang lượng tiền vốn khổng lồ ra nước ngoài, khiến kinh tế Việt Nam ngày càng kiệt quệ.
Người giàu nhất Việt Nam cũng thiếu tiền
Người giàu nhất Việt Nam năm 2007, ông Đặng Thành Tâm vừa đăng ký bán 22 triệu cổ phiếu SQC, với giá trị ước tính 1.400 tỉ đồng trong một trào lưu mà báo chí gọi là “đại gia đua nhau bán cổ phiếu, gom tiền tươi”.
Nhưng đây chỉ là 1 “gạch đầu dòng” trong chuỗi vô số những khó khăn của các đại gia, mà những biến động của “chứng” (khoán) trên thị trường mới chỉ là khía cạnh có thể nhìn thấy.
Quốc Cường Gia Lai bị khởi kiện ra tòa xung quanh một dự án BĐS ở Đà Nẵng là một điển hình cho tình trạng đại gia “gặp khó khăn”. Hết quý II, đại gia này nợ tới 2.980 tỉ đồng. Và trong khi lượng hàng tồn kho lên tới 2.846 tỉ đồng thì quỹ tiền mặt chỉ còn hơn 15,3 tỉ đồng.
Đại gia Bình An tiếp tục bị chủ nợ vây hãm, đòi tuyên bố phá sản, bất chấp thông tin bà Diệu Hiền có thể sẽ về nước. Thậm chí ngay cả khi Chủ tịch HAGL Đoàn Nguyên Đức mua lại 1,1 triệu cổ phiếu HAG, các nhà đầu tư vẫn tỏ thái độ mà báo chí mô tả rất chính xác là “thờ ơ”.
Không “thờ ơ” không được, không lo lắng không xong, khi bất chấp việc ông chủ của HAGL đăng ký mua hơn 3 triệu cổ phiếu – một động thái dư luận cho rằng mang tính trấn an hơn là một hoạt động đầu tư, bất chấp những thanh minh số nợ “chỉ” 6.400 tỉ đồng, chứ không phải 15.500 tỉ đồng, HAGL vẫn tiếp tục bị Fitch đưa vào diện “theo dõi tiêu cực” cho định hạng tín nhiệm B đối với nợ ngoại tệ, nội tệ dài hạn.
Có thể các đại gia đang khát tiền mặt và tìm mọi cách thoái vốn, dù phải bán cả đống cổ phiếu của chính DN mình. Có hai điều có thể nhìn thấy qua sự kiện này: Những khó khăn của nền kinh tế không buông tha một ai kể cả đó là những người giàu nhất. Và sự bất chấp điều tiếng cho thấy những khó khăn về nguồn vốn lớn đến mức các đại gia buộc phải chấp nhận những mất mát về lòng tin của các nhà đầu tư vào thương hiệu thậm chí đã phải xây dựng trong nhiều thập kỷ.
Rút vốn bằng mọi cách bất chấp suy kiệt niềm tin.
Nghiêm trọng hơn, TTCK lại bị rung động khi “quả bom” SME phát nổ với việc cả chủ tịch và phó chủ tịch Cty chứng khoán này bị bắt. Song nghĩ cho cùng, nỗi lo mất vốn, mất tiền không phải đến khi “quả bom” phát nổ – khi mà các mã cổ phiếu “dán nhãn SME” gần như thành giấy vụn, được bán tống bán tháo với giá cốc trà đá – 700đ/cổ phiếu mới có. Bởi thế, “quả bom SME”, hay sự kiện người giàu nhất VN năm 2007 “bán chứng gom tiền”, chỉ là dày thêm sự thờ ơ và nỗi lo.
Ông Đặng Thành Tâm công khai việc phải bán cả núi cổ phiếu dẫu sao vẫn còn hơn chán vạn những đại gia khác, bất chấp uy tín, tìm mọi cách “bán lén” cổ phiếu. Như trường hợp Chủ tịch HĐQT Kien Long Bank, vừa bị phạt vì “bán chui” cả gánh 876.450 cổ phiếu STB. Nắm cổ phiếu ngân hàng – loại cổ phiếu được bảo lãnh bằng danh nghĩa “an ninh tài chính tiền tệ” còn phải tìm cách “bán lén” huống chi các loại “chứng” khác.
Khi mà nền kinh tế lâm trọng bệnh, khi người giàu nhất VN cũng trở thành kẻ túng thiếu, thì việc nói về một “dấu hiệu khởi sắc cho thị trường chứng khoán” hay sự phục hồi của các DN quả thực xa vời.
Đại gia đua nhau bán cổ phiếu, gom tiền tươi
Thay vì bơm tiền vào phát triển doanh nghiệp và giữ vị thế cổ đông lớn, cổ đông sáng lập, nhiều đại gia dường như đang tranh thủ các cơ hội bán cổ phiếu để chốt lời hoặc bảo toàn không bị mất vốn
Lãi lỗ đều muốn bán cổ phiếu
Vừa công bố lãi ấn tượng trong quý thứ 2 liên tiếp, với lợi nhuận 6 tháng đầu năm lên tới 86 tỷ đồng, tăng 162% so với cùng kỳ (chủ yếu nhờ vào lợi nhuận từ nhà máy xỉ titan), ông Đặng Thành Tâm, bất ngờ công bố muốn bán 22 triệu cổ phiếu Khoáng sản Sài Gòn- Quy Nhơn (SQC).
Cụ thể, từ ngày 1/8 – 24/8, ông Đặng Thành Tâm, anh trai của bà Đặng Thị Hoàng Phượng -Chủ tịch Hội đồng Quản trị công ty, đăng ký bán ra 22 triệu cổ phiếu SQC.
Mục đích giao dịch nhằm cơ cấu lại danh mục đầu tư qua phương thức thỏa thuận. Trước khi giao dịch, ông Tâm nắm 66 triệu cổ phiếu SQC, tương đương với 60% tổng số cổ phiếu SQC đang lưu hành.
Nếu tính theo giá cổ phiếu SQC đang được giao dịch ngày 31/7 là 63.000 đồng/cổ phiếu thì tổng giá trị cổ phiếu SQC ông Tâm hiện đang nắm giữ lên tới gần 4.200 tỷ đồng và số vốn ông muốn thoái bớt là gần 1.400 tỷ đồng.
Các số nói trên thực tế chỉ là tính toán. Việc bán được hay không và bán với mức giá nào còn phải chờ thời gian bởi tính thanh khoản của cổ phiếu này là rất thấp, rất ít người mua cũng như gần như không có người bán. Suốt từ ngày lên sàn đầu 2010 tới nay, cổ phiếu SQC gần như không có giao dịch. Trong 10 phiên gần đây, lượng giao dịch trung bình chỉ đạt 100 cổ phiếu.
Sự kiện này cho thấy 1 hiện tượng là trong thời gian gần đây, trái ngược với xu hướng thâu tóm doanh nghiệp khi giá cổ phiếu ở mức bèo bọt, nhiều đại gia cũng đang tìm mọi cách rút hết vốn tại các doanh nghiệp của mình, bất chấp doanh nghiệp đó đang làm ăn tốt hay xấu.
Trường hợp hàng loạt nhân vật chủ chốt của Công ty Cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai (mã DLG) bán chui cổ phiếu hồi cuối tháng 6 vừa qua là 1 ví dụ.
Theo đăng ký, người chủ tịch và nhiều lãnh đạo DLG bán cổ phiếu từ 26/6/2012 nhưng trên thực tế bà Hương (vợ Chủ tịch HĐQT) đã bán hơn 1 triệu cổ phiếu từ ngày 21/6. Một loạt nhân vật khác như chị chủ tịch, thành viên HĐQT, phó tổng giám đốc… mỗi người bán hàng trăm ngàn cổ phiếu trước thời hạn đăng ký.
Trước đó, giới đầu tư đã nhiều lần xôn xao về các vụ “thoát xác” ngoạn mục của nhiều đại gia tại ngân hàng Sacombank (sau vụ thâu tóm), tại SHN (trước khi chủ tịch tuyên bố nguy cơ phá sản), THV (trước khi tình hình rủi ro mất thanh khoản lộ ra)…
Một loạt cổ đông lớn (cả tổ chức và cá nhân) cũng đã thoái vốn tại nhiều doanh nghiệp như SCR, PTI, VNT, CSG, CII, GMD…
Gom tiền tươi
Việc lén lút bán cổ phiếu của các đại gia tại các doanh nghiệp “có vấn đề” thì rất dễ giải thích. Trong hầu hết các trường hợp, cái lợi mà các cổ đông lớn thu về khi bán chui cổ phiếu lớn hơn nhiều so với việc họ giữ lại hoặc mua bán công khai.
Thực tế cho thấy sau mỗi vụ các cổ đông chủ chốt tại các doanh nghiệp bán chui cổ phiếu, giá cổ phiếu thường sụt giảm mạnh và thông thường sau đó là những thông tin không mấy tốt lành về doanh nghiêp.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cổ đông lớn bán cổ phiếu của cả những doanh nghiệp đang làm ăn khá tốt. Thực tế, trên thị trường tài chính, hoạt động chốt lời là hiện tượng rất bình thường. Nhiều nhà đầu tư mua cổ phiếu vào ở mức giá thấp và bán ra ở mức giá cao hơn để hiện thực hóa lợi nhuận.
Sản xuất và kinh doanh ngày càng đình đốn.
Trước tình trạng trên, nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu tiền mặt cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hồi cuối quý I, CTCP Cơ điện lạnh REE đã bán toàn bộ hơn 42 triệu cổ phiếu STB của Ngân hàng Sacombank và Đường Biên Hòa (BHS) trong đợt đăng ký bán toàn bộ hơn 1,44 triệu cổ phiếu STB.
Đằng sau các vụ mua bán này ít nhiều có liên quan tới vụ thâu tóm cổ phiếu STB nhưng nó cũng được giải thích là để co gọn lại hoạt động đầu tư tài chính của mình và dịch chuyển về mảng kinh doanh cốt lõi hoặc nhằm thu hồi vốn đầu tư.
Hoặc gần đây, lý do khi thành viên gia đình chủ tịch HĐQT THV thoái vốn được đưa ra là để lấy tiền hỗ trợ cho hoạt động của THV…
Ở 1 khía cạnh nào đó, những cú thoái vốn của các đại gia cho thấy có dấu hiệu của sự khan hiếm tiền mặt hoặc dấu hiệu của sự kém hấp dẫn của các cổ phiếu. Họ đã phải bán ra 1 lượng lớn cổ phiếu ở thời điểm mà mức giá rất thấp, có khi chỉ bằng 10% so với đỉnh cao.
Trường hợp ông Đặng Thành Tâm đăng ký bán 22 triệu cổ phiếu SQC trị giá tới gần 1.400 tỷ đồng (trong khi SQC đang có lợi nhuận tăng lên khá mạnh) cũng có thể khiến giới đầu tư hình dung về 1 khả năng thoái vốn vì khan hiếm tiền mặt, cũng có thể để chốt lời để tìm cơ hội khác… Nhưng nó vẫn khiến giới đầu tư còn nhiều thắc mắc.
Thông thường trên thế giới, các tỷ phú thường nắm giữ rất chắc tỷ lệ cổ phiếu tại các doanh nghiệp con cưng do họ dựng lên, tại những doanh nghiệp lớn và làm ăn ổn định. Việc đầu tư tiền vào các kênh đầu tư khác chắc hẳn khó có thể bằng vào chính doanh nghiệp của mình mà mình biết tường tận và có hoạt động lành mạnh.
Sau việc tính dứt bỏ, bán đi 1 lượng lớn cổ phiếu SQC, giới đầu tư đang đặt ra vấn đề tính hấp dẫn của các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán (TTCK) nói chung.
Trước đây, mỗi khi 1 doanh nghiệp được lên sàn là các ông chủ coi như đã lên 1 “đẳng” mới. Từ mức vốn rất khiêm tốn, thậm chí vốn ảo, cổ phiếu tăng vèo vèo, 1 chấm, 2 chấm, rồi 10 chấm… Giá trị tài sản (tính theo giá cổ phiếu) của nhiều đại gia tăng chóng mặt, vào tốp này tốp kia của những người giàu nhất trên TTCK.
Cùng với đó, các đại gia liên tiếp phát hành thêm, in thêm cổ phiếu để gia tăng quy mô của doanh nghiệp và thực sự với nhiều người thoái vốn vào những thời điểm sốt như vậy (2007, 2009) thì lượng tiền của họ có thể nói là khổng lồ.
Tuy nhiên, sự thật đằng sau những gì mà doanh nghiệp làm được không hề tương xứng với cái giá mà các nhà đầu tư phải trả để mua cổ phiếu. Bên cạnh đó, sự pha loãng liên tục rồi sự lừa đảo, vi phạm, sai phạm trắng trợn trên.
TTCK khiến niềm tin bị mai một. Một lớp nhà đầu tư nhỏ lẻ (một trong những nền tảng của nhà đầu tư tổ chức) đã tỉnh táo hơn. Sự tham gia của họ vào TTCK ngày càng thưa hơn và thận trọng hơn. Đây cũng chính là lý do khiến TTCK luôn rơi vào tình trạng ảm đạm. Nền kinh tế ngày càng thiếu vốn trầm trọng cho sản xuất.
theo Dân Trí
Cầu Nhật Tân_ Mấy tháng qua, các nhà quản lý tại Anh, Canada, Úc, Mỹ đều ghi nhận luồng tiền ồ ạt chảy từ Việt Nam sang nước họ dưới danh nghĩa đầu tư. Lãnh tụ phe đối lập Úc thậm chí còn giật mình đòi chính phủ cầm quyền xét lại chính sách đầu tư nước ngoài ở quốc gia này bởi ngày càng có nhiều người nước ngoài trong đó có rất đông người Việt Nam sang Úc mua đất, cổ phần doanh nghiệp. Sự thật này trái ngược hẳn tình hình ảm đạm kinh tế trong nước. Báo chí chính thống và các nhà quản lý thì chỉ dám mon men phân tích chỉ số, niềm tin v.v. Một sự thật hiển hiện nhưng khó nói đó là đã xuất hiện làn sóng nhà giàu, đại gia cuốn gói và tháo chạy, bằng cách này hay cách khác mang lượng tiền vốn khổng lồ ra nước ngoài, khiến kinh tế Việt Nam ngày càng kiệt quệ.
Người giàu nhất Việt Nam cũng thiếu tiền
Người giàu nhất Việt Nam năm 2007, ông Đặng Thành Tâm vừa đăng ký bán 22 triệu cổ phiếu SQC, với giá trị ước tính 1.400 tỉ đồng trong một trào lưu mà báo chí gọi là “đại gia đua nhau bán cổ phiếu, gom tiền tươi”.
Nhưng đây chỉ là 1 “gạch đầu dòng” trong chuỗi vô số những khó khăn của các đại gia, mà những biến động của “chứng” (khoán) trên thị trường mới chỉ là khía cạnh có thể nhìn thấy.
Quốc Cường Gia Lai bị khởi kiện ra tòa xung quanh một dự án BĐS ở Đà Nẵng là một điển hình cho tình trạng đại gia “gặp khó khăn”. Hết quý II, đại gia này nợ tới 2.980 tỉ đồng. Và trong khi lượng hàng tồn kho lên tới 2.846 tỉ đồng thì quỹ tiền mặt chỉ còn hơn 15,3 tỉ đồng.
Đại gia Bình An tiếp tục bị chủ nợ vây hãm, đòi tuyên bố phá sản, bất chấp thông tin bà Diệu Hiền có thể sẽ về nước. Thậm chí ngay cả khi Chủ tịch HAGL Đoàn Nguyên Đức mua lại 1,1 triệu cổ phiếu HAG, các nhà đầu tư vẫn tỏ thái độ mà báo chí mô tả rất chính xác là “thờ ơ”.
Không “thờ ơ” không được, không lo lắng không xong, khi bất chấp việc ông chủ của HAGL đăng ký mua hơn 3 triệu cổ phiếu – một động thái dư luận cho rằng mang tính trấn an hơn là một hoạt động đầu tư, bất chấp những thanh minh số nợ “chỉ” 6.400 tỉ đồng, chứ không phải 15.500 tỉ đồng, HAGL vẫn tiếp tục bị Fitch đưa vào diện “theo dõi tiêu cực” cho định hạng tín nhiệm B đối với nợ ngoại tệ, nội tệ dài hạn.
Có thể các đại gia đang khát tiền mặt và tìm mọi cách thoái vốn, dù phải bán cả đống cổ phiếu của chính DN mình. Có hai điều có thể nhìn thấy qua sự kiện này: Những khó khăn của nền kinh tế không buông tha một ai kể cả đó là những người giàu nhất. Và sự bất chấp điều tiếng cho thấy những khó khăn về nguồn vốn lớn đến mức các đại gia buộc phải chấp nhận những mất mát về lòng tin của các nhà đầu tư vào thương hiệu thậm chí đã phải xây dựng trong nhiều thập kỷ.
Rút vốn bằng mọi cách bất chấp suy kiệt niềm tin.
Nghiêm trọng hơn, TTCK lại bị rung động khi “quả bom” SME phát nổ với việc cả chủ tịch và phó chủ tịch Cty chứng khoán này bị bắt. Song nghĩ cho cùng, nỗi lo mất vốn, mất tiền không phải đến khi “quả bom” phát nổ – khi mà các mã cổ phiếu “dán nhãn SME” gần như thành giấy vụn, được bán tống bán tháo với giá cốc trà đá – 700đ/cổ phiếu mới có. Bởi thế, “quả bom SME”, hay sự kiện người giàu nhất VN năm 2007 “bán chứng gom tiền”, chỉ là dày thêm sự thờ ơ và nỗi lo.
Ông Đặng Thành Tâm công khai việc phải bán cả núi cổ phiếu dẫu sao vẫn còn hơn chán vạn những đại gia khác, bất chấp uy tín, tìm mọi cách “bán lén” cổ phiếu. Như trường hợp Chủ tịch HĐQT Kien Long Bank, vừa bị phạt vì “bán chui” cả gánh 876.450 cổ phiếu STB. Nắm cổ phiếu ngân hàng – loại cổ phiếu được bảo lãnh bằng danh nghĩa “an ninh tài chính tiền tệ” còn phải tìm cách “bán lén” huống chi các loại “chứng” khác.
Khi mà nền kinh tế lâm trọng bệnh, khi người giàu nhất VN cũng trở thành kẻ túng thiếu, thì việc nói về một “dấu hiệu khởi sắc cho thị trường chứng khoán” hay sự phục hồi của các DN quả thực xa vời.
Đại gia đua nhau bán cổ phiếu, gom tiền tươi
Thay vì bơm tiền vào phát triển doanh nghiệp và giữ vị thế cổ đông lớn, cổ đông sáng lập, nhiều đại gia dường như đang tranh thủ các cơ hội bán cổ phiếu để chốt lời hoặc bảo toàn không bị mất vốn
Lãi lỗ đều muốn bán cổ phiếu
Vừa công bố lãi ấn tượng trong quý thứ 2 liên tiếp, với lợi nhuận 6 tháng đầu năm lên tới 86 tỷ đồng, tăng 162% so với cùng kỳ (chủ yếu nhờ vào lợi nhuận từ nhà máy xỉ titan), ông Đặng Thành Tâm, bất ngờ công bố muốn bán 22 triệu cổ phiếu Khoáng sản Sài Gòn- Quy Nhơn (SQC).
Cụ thể, từ ngày 1/8 – 24/8, ông Đặng Thành Tâm, anh trai của bà Đặng Thị Hoàng Phượng -Chủ tịch Hội đồng Quản trị công ty, đăng ký bán ra 22 triệu cổ phiếu SQC.
Mục đích giao dịch nhằm cơ cấu lại danh mục đầu tư qua phương thức thỏa thuận. Trước khi giao dịch, ông Tâm nắm 66 triệu cổ phiếu SQC, tương đương với 60% tổng số cổ phiếu SQC đang lưu hành.
Nếu tính theo giá cổ phiếu SQC đang được giao dịch ngày 31/7 là 63.000 đồng/cổ phiếu thì tổng giá trị cổ phiếu SQC ông Tâm hiện đang nắm giữ lên tới gần 4.200 tỷ đồng và số vốn ông muốn thoái bớt là gần 1.400 tỷ đồng.
Các số nói trên thực tế chỉ là tính toán. Việc bán được hay không và bán với mức giá nào còn phải chờ thời gian bởi tính thanh khoản của cổ phiếu này là rất thấp, rất ít người mua cũng như gần như không có người bán. Suốt từ ngày lên sàn đầu 2010 tới nay, cổ phiếu SQC gần như không có giao dịch. Trong 10 phiên gần đây, lượng giao dịch trung bình chỉ đạt 100 cổ phiếu.
Sự kiện này cho thấy 1 hiện tượng là trong thời gian gần đây, trái ngược với xu hướng thâu tóm doanh nghiệp khi giá cổ phiếu ở mức bèo bọt, nhiều đại gia cũng đang tìm mọi cách rút hết vốn tại các doanh nghiệp của mình, bất chấp doanh nghiệp đó đang làm ăn tốt hay xấu.
Trường hợp hàng loạt nhân vật chủ chốt của Công ty Cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai (mã DLG) bán chui cổ phiếu hồi cuối tháng 6 vừa qua là 1 ví dụ.
Theo đăng ký, người chủ tịch và nhiều lãnh đạo DLG bán cổ phiếu từ 26/6/2012 nhưng trên thực tế bà Hương (vợ Chủ tịch HĐQT) đã bán hơn 1 triệu cổ phiếu từ ngày 21/6. Một loạt nhân vật khác như chị chủ tịch, thành viên HĐQT, phó tổng giám đốc… mỗi người bán hàng trăm ngàn cổ phiếu trước thời hạn đăng ký.
Trước đó, giới đầu tư đã nhiều lần xôn xao về các vụ “thoát xác” ngoạn mục của nhiều đại gia tại ngân hàng Sacombank (sau vụ thâu tóm), tại SHN (trước khi chủ tịch tuyên bố nguy cơ phá sản), THV (trước khi tình hình rủi ro mất thanh khoản lộ ra)…
Một loạt cổ đông lớn (cả tổ chức và cá nhân) cũng đã thoái vốn tại nhiều doanh nghiệp như SCR, PTI, VNT, CSG, CII, GMD…
Gom tiền tươi
Việc lén lút bán cổ phiếu của các đại gia tại các doanh nghiệp “có vấn đề” thì rất dễ giải thích. Trong hầu hết các trường hợp, cái lợi mà các cổ đông lớn thu về khi bán chui cổ phiếu lớn hơn nhiều so với việc họ giữ lại hoặc mua bán công khai.
Thực tế cho thấy sau mỗi vụ các cổ đông chủ chốt tại các doanh nghiệp bán chui cổ phiếu, giá cổ phiếu thường sụt giảm mạnh và thông thường sau đó là những thông tin không mấy tốt lành về doanh nghiêp.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cổ đông lớn bán cổ phiếu của cả những doanh nghiệp đang làm ăn khá tốt. Thực tế, trên thị trường tài chính, hoạt động chốt lời là hiện tượng rất bình thường. Nhiều nhà đầu tư mua cổ phiếu vào ở mức giá thấp và bán ra ở mức giá cao hơn để hiện thực hóa lợi nhuận.
Sản xuất và kinh doanh ngày càng đình đốn.
Trước tình trạng trên, nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu tiền mặt cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hồi cuối quý I, CTCP Cơ điện lạnh REE đã bán toàn bộ hơn 42 triệu cổ phiếu STB của Ngân hàng Sacombank và Đường Biên Hòa (BHS) trong đợt đăng ký bán toàn bộ hơn 1,44 triệu cổ phiếu STB.
Đằng sau các vụ mua bán này ít nhiều có liên quan tới vụ thâu tóm cổ phiếu STB nhưng nó cũng được giải thích là để co gọn lại hoạt động đầu tư tài chính của mình và dịch chuyển về mảng kinh doanh cốt lõi hoặc nhằm thu hồi vốn đầu tư.
Hoặc gần đây, lý do khi thành viên gia đình chủ tịch HĐQT THV thoái vốn được đưa ra là để lấy tiền hỗ trợ cho hoạt động của THV…
Ở 1 khía cạnh nào đó, những cú thoái vốn của các đại gia cho thấy có dấu hiệu của sự khan hiếm tiền mặt hoặc dấu hiệu của sự kém hấp dẫn của các cổ phiếu. Họ đã phải bán ra 1 lượng lớn cổ phiếu ở thời điểm mà mức giá rất thấp, có khi chỉ bằng 10% so với đỉnh cao.
Trường hợp ông Đặng Thành Tâm đăng ký bán 22 triệu cổ phiếu SQC trị giá tới gần 1.400 tỷ đồng (trong khi SQC đang có lợi nhuận tăng lên khá mạnh) cũng có thể khiến giới đầu tư hình dung về 1 khả năng thoái vốn vì khan hiếm tiền mặt, cũng có thể để chốt lời để tìm cơ hội khác… Nhưng nó vẫn khiến giới đầu tư còn nhiều thắc mắc.
Thông thường trên thế giới, các tỷ phú thường nắm giữ rất chắc tỷ lệ cổ phiếu tại các doanh nghiệp con cưng do họ dựng lên, tại những doanh nghiệp lớn và làm ăn ổn định. Việc đầu tư tiền vào các kênh đầu tư khác chắc hẳn khó có thể bằng vào chính doanh nghiệp của mình mà mình biết tường tận và có hoạt động lành mạnh.
Sau việc tính dứt bỏ, bán đi 1 lượng lớn cổ phiếu SQC, giới đầu tư đang đặt ra vấn đề tính hấp dẫn của các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán (TTCK) nói chung.
Trước đây, mỗi khi 1 doanh nghiệp được lên sàn là các ông chủ coi như đã lên 1 “đẳng” mới. Từ mức vốn rất khiêm tốn, thậm chí vốn ảo, cổ phiếu tăng vèo vèo, 1 chấm, 2 chấm, rồi 10 chấm… Giá trị tài sản (tính theo giá cổ phiếu) của nhiều đại gia tăng chóng mặt, vào tốp này tốp kia của những người giàu nhất trên TTCK.
Cùng với đó, các đại gia liên tiếp phát hành thêm, in thêm cổ phiếu để gia tăng quy mô của doanh nghiệp và thực sự với nhiều người thoái vốn vào những thời điểm sốt như vậy (2007, 2009) thì lượng tiền của họ có thể nói là khổng lồ.
Tuy nhiên, sự thật đằng sau những gì mà doanh nghiệp làm được không hề tương xứng với cái giá mà các nhà đầu tư phải trả để mua cổ phiếu. Bên cạnh đó, sự pha loãng liên tục rồi sự lừa đảo, vi phạm, sai phạm trắng trợn trên.
TTCK khiến niềm tin bị mai một. Một lớp nhà đầu tư nhỏ lẻ (một trong những nền tảng của nhà đầu tư tổ chức) đã tỉnh táo hơn. Sự tham gia của họ vào TTCK ngày càng thưa hơn và thận trọng hơn. Đây cũng chính là lý do khiến TTCK luôn rơi vào tình trạng ảm đạm. Nền kinh tế ngày càng thiếu vốn trầm trọng cho sản xuất.
theo Dân Trí
Trung Quốc gây hấn từ Ðông Nam Á đến Nhật Bản
Hà Tường Cát
Vụ tranh chấp chủ quyền quần đảo Senkaku lại thêm một bước leo thang hôm Thứ Hai 20 tháng 8 với các cuộc biểu tình xuống đường
của dân chúng ở 10 thành phố Trung Quốc trong đó tại một vài nơi như Hàng Châu có cả việc đốt các xe hơi Nhật Bản.
Dân Trung Quốc biểu tình tại Thành Ðô chống Nhật Bản trong vấn đề tranh chấp chủ quyền quần đảo Senkaku. (Hình: STR/AFP/Getty Images)
Tuần trước Nhật Bản đã bắt giữ 14 công dân Trung Quốc từ Hong Kong mang quốc kỳ Trung Quốc và Ðài Loan xâm nhập bất hợp pháp lên quần đảo Senkaku. Thể hiện ý muốn tránh gây căng thẳng, ngay sau đó Nhật đã tống xuất các người này và đưa họ trở về Hong Kong bằng máy bay và tàu. Nhưng hôm Chủ Nhật, 10 người Nhật đã đổ bộ lên đảo cắm cờ và tuyên bố tưởng niệm các tử sĩ hy sinh trong thời Thế Chiến II ở Á Châu. Hai nước Trung Quốc-Nhật Bản từng có một quá khứ nhiều thù hận trong tiền bán thế kỷ thứ 20 nên tất cả những hành động như vậy đều là chuyện rất nhạy cảm được coi như sự khiêu khích và khơi dậy tâm lý dân tộc cực đoan.
Chính quyền Nhật đã tạm giữ và thẩm vấn 10 người trong đó có 5 đại biểu dân cử địa phương, tuy nhiên theo các giới am hiểu sẽ không có việc truy tố hình sự. Phát ngôn viên chính phủ Nhật Osamu Fujimura tuyên bố việc làm của những người này là “đáng tiếc” và không được chính quyền chấp thuận trước. Phát ngôn viên này cho biết chính phủ Nhật rất quan ngại kềm chế mọi việc không vượt quá tầm kiểm soát và cũng kêu gọi nhà cầm quyền Trung Quốc thi hành mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ an toàn cho công dân Nhật.
Truyền thông Trung Quốc mạnh mẽ chỉ trích Nhật Bản nhưng cũng cho rằng phản kháng bạo động không phải là đường lối giải quyết tranh chấp. Tờ Trung Quốc Thanh Niên Nhật Báo viết: “Nhật Bản đã phạm một loạt những sai lầm trong vấn đề đảo Ðiếu Ngư và va chạm đến tình cảm nhân dân Trung Quốc”. Theo tờ báo này: “Tinh thần ái quốc của giới trẻ là đáng hoan nghênh... Nhưng với một số phần tử trong họ đã đốt phá xe của người Nhật, phá hoại tài sản công cộng, thì đó là hành động điên rồ. Việc này làm mất trật tự xã hội, tổn thương đến hình ảnh của các thành phố và hơn nữa đến hình ảnh đẹp về đất nước Trung Quốc”.
Quần đảo Senkaku của Nhật Bản, Trung Quốc gọi là Ðiếu Ngư đảo, Ðài Loan gọi là Ðiếu Ngư Ðài (Diaoyu Tai) có nghĩa là “nơi câu cá”, gồm 5 đảo và 3 mỏm đá, diện tích tổng cộng 7 km2, tất cả đều không có người ở. Quần đảo này nằm về phía Ðông Bắc Ðài Loan và phía Tây của quần đảo Lưu Cầu (Ryu Kyu) trong vùng miền Nam biển Ðông Hải (biển Ðông Trung Quốc).
Nhật Bản nói rằng từ năm 1885 chính quyền họ đã khảo sát tường tận những đảo này và nhận thấy đảo không có dân chúng cư trú cũng như không có dấu vết gì của Trung Quốc. Căn cứ vào đó, tháng 1 năm 1895 nội các Nhật Bản đã quyết định cho dựng bia và sát nhập quần đảo Senkaku vào lãnh thổ Nhật. Triều đình nhà Thanh ký hòa ước Shimonoseki năm 1895 kết thúc cuộc chiến tranh Trung-Nhật, nhường đảo Ðài Loan và quần đảo Bành Hồ cho Nhật Bản không đề cập đến Senkaku có nghĩa là quần đảo đã không thuộc về Trung Hoa trước đó.
Nhưng theo Trung Quốc thì từ thời nhà Minh, thế kỷ thứ 15, quần đảo Ðiếu Ngư đã thuộc về họ và những đất đai mà Nhật Bản chiếm trong cuộc chiến tranh Trung-Nhật cuối thế kỷ 19 là sự xâm lăng bất hợp pháp. Sau Thế Chiến II, Hoa Kỳ chiếm đóng Nhật Bản và Nhật từ bỏ chủ quyền các đảo nhỏ theo điều 2 của hòa ước San Francisco 1951 cho đến 1971 mới được trả lại. Nhật Bản không công nhận Ðài Loan là một nước có chủ quyền và không thừa nhận tuyên bố chủ quyền của Ðài Loan và Trung Quốc về quần đảo Ðiếu Ngư. Vấn đề tranh chấp chỉ nổi lên từ thời gian này khi người ta khám phá có trữ lượng dầu khí dưới lòng biển. Trung Quốc nói rằng họ không công nhận và chấp nhận giá trị các hiệp ước giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ, quần đảo Ðiếu Ngư có những bằng chứng lịch sử thuộc về họ và nằm trong vùng biển đặc quyền kinh tế thuộc Trung Quốc.
Chính quyền Nhật của Thủ Tướng Yoshihiko Noda cũng như chính quyền Trung Quốc đều chịu những áp lực quốc nội đòi hỏi phải có lập trường cứng rắn về vấn đề chủ quyền. Nhưng hoàn cảnh mỗi nước khác hẳn nhau và Nhật Bản ít bị chi phối bởi những yếu tố nội bộ như Trung Quốc.
Tranh chấp biển đảo với Nhật Bản cũng như với các nước Ðông Nam Á đặc biệt là Việt Nam và Philippines, đều xuất phát từ sự phát triển kinh tế và tham vọng trở thành cường quốc bá chủ Châu Á của Trung Quốc. Tư tưởng dân tộc cực đoan và ảnh hưởng của phái cực hữu trong giới quân sự có vai trò chính trong những ý đồ này. Tuy nhiên khác với biển Ðông (mà Trung Quốc gọi là Nam Hải), vùng biển mà về lâu về dài Trung Quốc muốn chiếm lãnh vị trí khống chế, biến thành “một cái hồ” đối với hải quân của họ; tại Ðông Hải tranh chấp chỉ có thể tới mức chủ quyền quần đảo Ðiếu Ngư chứ Trung Quốc không thể hy vọng hoàn toàn kiểm soát vùng biển này.
Giáo Sư Ting Wei phân khoa chính quyền và quan hệ quốc tế trường đại học Baptist University ở Hong Kong nhận định rằng khả năng của Trung Quốc trong tranh chấp Ðiếu Ngư có giới hạn. Trung Quốc có thể áp lực như họ đã làm về đất hiếm, một nguyên liệu tối cần thiết cho kỹ nghệ Nhật Bản, nhưng mối quan hệ kinh tế giữa hai nước còn bao gồm nhiều lãnh vực quan trọng khác và cả hai bên đều phải thận trọng không để tổn hại vượt ngoài tầm kiểm soát.
Ngoài ra ban lãnh đạo Trung Quốc đang trong tiến trình chuyển giao quyền lực và không tránh khỏi nỗi lo ngại rằng mọi động thái nào vượt quá mức độ lúc này cũng có thể đưa đến những hậu quả khó khăn cho chính họ. Theo Giáo Sư Ting, những người biểu tình chống Nhật về vấn đề đảo Ðiếu Ngư tới một lúc sẽ đặt câu hỏi tại sao chính quyền Trung Quốc không có khả năng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của mình. Do đó giới lãnh đạo Trung Quốc “không thể để cho những chống đối này kéo dài đến lúc phát triển thành một phong trào rộng lớn bài Nhật Bản” vì nếu dân chúng Trung Quốc thấy rằng chính quyền quá yếu và quay ra phê phán họ, thì tình thế sẽ trở thành “cơn ác mộng của Bắc Kinh”.
Tân Hoa Xã, trong một bài bình luận hôm Thứ Hai, đã mạnh mẽ công kích hàng động của nhóm 10 người Nhật đổ bộ lên đảo và việc trục xuất 14 dân Trung Quốc, đồng thời phê phán lập trường của Tokyo cho đến nay về chủ quyền quần đảo Senkaku là không góp phần xây dựng. Nhưng sau đó, hãng tin nhà nước Trung Quốc này cảnh giác: “Ái quốc là hành động đáng ca ngợi, tuy nhiên phải tránh những thái độ quá khích hay tác phong bạo động”. Và Tân Hoa Xã kết luận: “Chính quyền Trung Quốc mong mỏi các công dân thể hiện lòng yêu nước trong hòa bình và bác bỏ tinh thần yêu nước mù quáng đưa đến bạo động làm tổn hại cho cả đồng bào mình”.
Hà Tường Cát
Vụ tranh chấp chủ quyền quần đảo Senkaku lại thêm một bước leo thang hôm Thứ Hai 20 tháng 8 với các cuộc biểu tình xuống đường
của dân chúng ở 10 thành phố Trung Quốc trong đó tại một vài nơi như Hàng Châu có cả việc đốt các xe hơi Nhật Bản.
Dân Trung Quốc biểu tình tại Thành Ðô chống Nhật Bản trong vấn đề tranh chấp chủ quyền quần đảo Senkaku. (Hình: STR/AFP/Getty Images)
Tuần trước Nhật Bản đã bắt giữ 14 công dân Trung Quốc từ Hong Kong mang quốc kỳ Trung Quốc và Ðài Loan xâm nhập bất hợp pháp lên quần đảo Senkaku. Thể hiện ý muốn tránh gây căng thẳng, ngay sau đó Nhật đã tống xuất các người này và đưa họ trở về Hong Kong bằng máy bay và tàu. Nhưng hôm Chủ Nhật, 10 người Nhật đã đổ bộ lên đảo cắm cờ và tuyên bố tưởng niệm các tử sĩ hy sinh trong thời Thế Chiến II ở Á Châu. Hai nước Trung Quốc-Nhật Bản từng có một quá khứ nhiều thù hận trong tiền bán thế kỷ thứ 20 nên tất cả những hành động như vậy đều là chuyện rất nhạy cảm được coi như sự khiêu khích và khơi dậy tâm lý dân tộc cực đoan.
Chính quyền Nhật đã tạm giữ và thẩm vấn 10 người trong đó có 5 đại biểu dân cử địa phương, tuy nhiên theo các giới am hiểu sẽ không có việc truy tố hình sự. Phát ngôn viên chính phủ Nhật Osamu Fujimura tuyên bố việc làm của những người này là “đáng tiếc” và không được chính quyền chấp thuận trước. Phát ngôn viên này cho biết chính phủ Nhật rất quan ngại kềm chế mọi việc không vượt quá tầm kiểm soát và cũng kêu gọi nhà cầm quyền Trung Quốc thi hành mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ an toàn cho công dân Nhật.
Truyền thông Trung Quốc mạnh mẽ chỉ trích Nhật Bản nhưng cũng cho rằng phản kháng bạo động không phải là đường lối giải quyết tranh chấp. Tờ Trung Quốc Thanh Niên Nhật Báo viết: “Nhật Bản đã phạm một loạt những sai lầm trong vấn đề đảo Ðiếu Ngư và va chạm đến tình cảm nhân dân Trung Quốc”. Theo tờ báo này: “Tinh thần ái quốc của giới trẻ là đáng hoan nghênh... Nhưng với một số phần tử trong họ đã đốt phá xe của người Nhật, phá hoại tài sản công cộng, thì đó là hành động điên rồ. Việc này làm mất trật tự xã hội, tổn thương đến hình ảnh của các thành phố và hơn nữa đến hình ảnh đẹp về đất nước Trung Quốc”.
Quần đảo Senkaku của Nhật Bản, Trung Quốc gọi là Ðiếu Ngư đảo, Ðài Loan gọi là Ðiếu Ngư Ðài (Diaoyu Tai) có nghĩa là “nơi câu cá”, gồm 5 đảo và 3 mỏm đá, diện tích tổng cộng 7 km2, tất cả đều không có người ở. Quần đảo này nằm về phía Ðông Bắc Ðài Loan và phía Tây của quần đảo Lưu Cầu (Ryu Kyu) trong vùng miền Nam biển Ðông Hải (biển Ðông Trung Quốc).
Nhật Bản nói rằng từ năm 1885 chính quyền họ đã khảo sát tường tận những đảo này và nhận thấy đảo không có dân chúng cư trú cũng như không có dấu vết gì của Trung Quốc. Căn cứ vào đó, tháng 1 năm 1895 nội các Nhật Bản đã quyết định cho dựng bia và sát nhập quần đảo Senkaku vào lãnh thổ Nhật. Triều đình nhà Thanh ký hòa ước Shimonoseki năm 1895 kết thúc cuộc chiến tranh Trung-Nhật, nhường đảo Ðài Loan và quần đảo Bành Hồ cho Nhật Bản không đề cập đến Senkaku có nghĩa là quần đảo đã không thuộc về Trung Hoa trước đó.
Nhưng theo Trung Quốc thì từ thời nhà Minh, thế kỷ thứ 15, quần đảo Ðiếu Ngư đã thuộc về họ và những đất đai mà Nhật Bản chiếm trong cuộc chiến tranh Trung-Nhật cuối thế kỷ 19 là sự xâm lăng bất hợp pháp. Sau Thế Chiến II, Hoa Kỳ chiếm đóng Nhật Bản và Nhật từ bỏ chủ quyền các đảo nhỏ theo điều 2 của hòa ước San Francisco 1951 cho đến 1971 mới được trả lại. Nhật Bản không công nhận Ðài Loan là một nước có chủ quyền và không thừa nhận tuyên bố chủ quyền của Ðài Loan và Trung Quốc về quần đảo Ðiếu Ngư. Vấn đề tranh chấp chỉ nổi lên từ thời gian này khi người ta khám phá có trữ lượng dầu khí dưới lòng biển. Trung Quốc nói rằng họ không công nhận và chấp nhận giá trị các hiệp ước giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ, quần đảo Ðiếu Ngư có những bằng chứng lịch sử thuộc về họ và nằm trong vùng biển đặc quyền kinh tế thuộc Trung Quốc.
Chính quyền Nhật của Thủ Tướng Yoshihiko Noda cũng như chính quyền Trung Quốc đều chịu những áp lực quốc nội đòi hỏi phải có lập trường cứng rắn về vấn đề chủ quyền. Nhưng hoàn cảnh mỗi nước khác hẳn nhau và Nhật Bản ít bị chi phối bởi những yếu tố nội bộ như Trung Quốc.
Tranh chấp biển đảo với Nhật Bản cũng như với các nước Ðông Nam Á đặc biệt là Việt Nam và Philippines, đều xuất phát từ sự phát triển kinh tế và tham vọng trở thành cường quốc bá chủ Châu Á của Trung Quốc. Tư tưởng dân tộc cực đoan và ảnh hưởng của phái cực hữu trong giới quân sự có vai trò chính trong những ý đồ này. Tuy nhiên khác với biển Ðông (mà Trung Quốc gọi là Nam Hải), vùng biển mà về lâu về dài Trung Quốc muốn chiếm lãnh vị trí khống chế, biến thành “một cái hồ” đối với hải quân của họ; tại Ðông Hải tranh chấp chỉ có thể tới mức chủ quyền quần đảo Ðiếu Ngư chứ Trung Quốc không thể hy vọng hoàn toàn kiểm soát vùng biển này.
Giáo Sư Ting Wei phân khoa chính quyền và quan hệ quốc tế trường đại học Baptist University ở Hong Kong nhận định rằng khả năng của Trung Quốc trong tranh chấp Ðiếu Ngư có giới hạn. Trung Quốc có thể áp lực như họ đã làm về đất hiếm, một nguyên liệu tối cần thiết cho kỹ nghệ Nhật Bản, nhưng mối quan hệ kinh tế giữa hai nước còn bao gồm nhiều lãnh vực quan trọng khác và cả hai bên đều phải thận trọng không để tổn hại vượt ngoài tầm kiểm soát.
Ngoài ra ban lãnh đạo Trung Quốc đang trong tiến trình chuyển giao quyền lực và không tránh khỏi nỗi lo ngại rằng mọi động thái nào vượt quá mức độ lúc này cũng có thể đưa đến những hậu quả khó khăn cho chính họ. Theo Giáo Sư Ting, những người biểu tình chống Nhật về vấn đề đảo Ðiếu Ngư tới một lúc sẽ đặt câu hỏi tại sao chính quyền Trung Quốc không có khả năng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của mình. Do đó giới lãnh đạo Trung Quốc “không thể để cho những chống đối này kéo dài đến lúc phát triển thành một phong trào rộng lớn bài Nhật Bản” vì nếu dân chúng Trung Quốc thấy rằng chính quyền quá yếu và quay ra phê phán họ, thì tình thế sẽ trở thành “cơn ác mộng của Bắc Kinh”.
Tân Hoa Xã, trong một bài bình luận hôm Thứ Hai, đã mạnh mẽ công kích hàng động của nhóm 10 người Nhật đổ bộ lên đảo và việc trục xuất 14 dân Trung Quốc, đồng thời phê phán lập trường của Tokyo cho đến nay về chủ quyền quần đảo Senkaku là không góp phần xây dựng. Nhưng sau đó, hãng tin nhà nước Trung Quốc này cảnh giác: “Ái quốc là hành động đáng ca ngợi, tuy nhiên phải tránh những thái độ quá khích hay tác phong bạo động”. Và Tân Hoa Xã kết luận: “Chính quyền Trung Quốc mong mỏi các công dân thể hiện lòng yêu nước trong hòa bình và bác bỏ tinh thần yêu nước mù quáng đưa đến bạo động làm tổn hại cho cả đồng bào mình”.
The New York Times -
Nỗi lo sợ về một cuộc khủng hoảng kinh tế đang dâng cao ở Việt Nam
Thomas Fuller/The New York Times
Lê Quốc Tuấn. X-CafeVN chuyển ngữ
Các đội xây dựng lên thật cao trên tầng thượng của một cao ốc thượng hạng ở trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh để nhìn xuống khu Dân cư thành phố bên dưới. Ngày nay, tất cả những gì còn lại từ các dự án bị bỏ rơi là những đống gạch mốc meo, thanh thép rỉ sét và một nhóm nhỏ các nhân viên bảo vệ, những người đã chuyển đổi sân xi măng thành một bãi đậu cho xe máy.
Tại các thành phố lớn của Việt Nam, thị trường bất động sản từng một thời bùng nổ đang sụp đổ. Hàng trăm khu vực xây dựng bị bỏ rơi là những dấu hiệu rõ ràng nhất của một nền kinh tế ốm yếu.
Tuyên bố trong phòng khách tiết trang hoàng lộng lẫy của một tòa nhà thuộc địa Pháp, một viên chức cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, , so sánh các vấn đề kinh tế của đất nước với sự sụp đổ của thị trường cách đây 15 năm từng san bằng nhiều nền kinh tế ở châu Á.
"Tôi có thể nói rằng đây là tình trạng tương tự như cuộc khủng hoảng ở Thái Lan vào năm 1997", Hứa Ngọc Thuận, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan điều hành hàng đầu của thành phố nói như thế,"Các nhà đầu tư bất động sản đã đẩy giá lên quá cao. Họ mua để đầu cơ chứ không phải để sử dụng.
Các khó khăn kinh tế của Việt Nam trông có vẻ ít nghiêm trọng hơn so với những năm tháng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 - mặc dù tương đối xanh xao tiều tụy, nền kinh tế vẫn đang phát triển,, với tốc độ khoảng 4% - nhưng danh sách các khó khăn của đất nước vẫn tiếp tục tăng lên.
Việc bắt giữ Nguyễn Đức Kiên, một trong những doanh nhân giàu có của Việt Nam trong tuần này, đưa đến mức sụt giảm 4,8% trong chỉ số thị trường chứng khoán của nước này, mức suy giảm nặng nề nhất trong vòng bốn năm qua. Những cáo buộc chống lại ông Kiên còn mơ hồ. Các phương tiện truyền thông nhà nước cho biết ông bị buộc tội hoạt động kinh doanh bất hợp pháp.
Cách thức xử lý vụ việc u ám không rõ ràng về ông ta càng nhấn mạnh một yếu tố quan trọng và trầm trọng hơn cho những tai họa của đất nước: Cuộc hôn nhân giữa giới lãnh đạo Đảng Cộng sản bí mật và một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đang che phủ triển vọng phục hồi đất nước 91 triệu dân này.
Các nhà đầu tư hoài nghi về việc quản lý kinh tế của chính phủ và đặt nghi vấn về độ tin cậy của các số liệu thống kê. Ngân hàng trung ương của quốc gia này cho biết các khách hàng vay đã ngừng không trả được 1/10 các khoản nợ trong hệ thống ngân hàng, nhưng tổ chức Fitch Ratings cho biết tỷ lệ của các khoản nợ xấu này có thể cao hơn nhiều.
Nếu cuộc khủng hoảng năm 1997 thường được đổ lỗi cho loại "chủ nghĩa tư bản đồng đội chí cốt", các vấn nạn của Việt Nam có thể được mô tả như một loại chủ nghĩa tư bản đồng đội chí cốt kết hợp với một chủ nghĩa cộng sản méo mó. Các công ty quốc doanh những bạn bè và đồng hội đồng thuyền trong hệ thống Đảng Cộng sản.
"Đất nước đang bị những người bên trong nhà nước thao túng để kiếm tiền", ông Jonathan Pincus, hiệu trưởng Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại Việt Nam cho biết.
"Những gì cần phải làm là đưa Đảng Cộng sản ra khỏi việc quản lý của các công ty này", ông nói. "Tôi không hề thấy điều ấy được bàn đến".
Giống như các bong bóng bất động sản ở những nơi khác trên thế giới, các nhà đầu tư ở Việt Nam đã lợi dụng dòng tín dụng chảy tự do để xây dựng các tòa nhà với hy vọng bật ra lợi nhuận. Một sự khác biệt quan trọng là một số các nhà đầu cơ bất động sản lớn nhất Việt Nam chính là các doanh nghiệp quốc doanh có quan hệ kết nối với giới thượng tầng trong Đảng Cộng sản và khả năng truy cập đến tiền bạc dễ dãi. Những công ty này hiện đang phải vật lộn với mức nợ không bền vững, hoặc như trong trường hợp của Vinashin và Vinalines, hai tập đoàn lớn của chính phủ, đang phải ve vãn tán tỉnh với khả năng không trả được nợ nữa.
Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn ồn ào với năng lực của mình, vây quanh bởi khách du lịch và bị phiền nhiễu bởi nạn ùn tắc giao thông - tất cả là các dấu hiệu của sức sống kinh tế thành phố. Nhưng đó chỉ là mặt nạ che đậy những triệu chứng của các tai họa kinh tế trên cả nước: Những người trẻ ngày càng khó tìm được việc làm, gần 20% các công ty nhỏ và vừa đã biến mất khỏi thi trường trong năm qua, và các dự án cơ sở hạ tầng, thành phố trực thuộc Trung ương đang bị trì hoãn hoặc hủy bỏ.
Lê Đăng Doanh, một nhà kinh tế nổi tiếng và là cựu viên chức hàng đầu tại một tổ chức nghiên cứu của chính phủ cho biết, ông đã từng lo lắng về thời gian tính của các khó khăn, đang đến ngay khi nền kinh tế toàn cầu bị sa lầy vì nợ nần và châu Âu phải vật lộn với các tình thế tiến thoái lưỡng nan tồn tại của đồng euro.
"Vấn nạn ở Việt Nam là một loại dung dịch pha trộn cực kỳ độc hại từ cuộc khủng hoảng nợ châu Âu, tình trạng trì trệ trong nền kinh tế Mỹ cộng với một tình huống rất nghiêm trọng của nền kinh tế trong nước", ông Doanh nói. "Đó là một hỗn hợp rất nguy hiểm."
Khu vực tư nhân đang giúp cho nền kinh tế chuyển động - Việt Nam là một nước xuất khẩu quan trọng về quần áo và giày dép sang Hoa Kỳ - nhưng dòng tiền nước ngoài đã chậm lại. Các cam kết của giới đầu tư nước ngoài là 8 tỷ USD trong nửa đầu năm nay, chỉ bằng một phần tư trong cùng thời kỳ ba năm trước đây.
Hậu quả các khó khăn kinh tế của Việt Nam lan xa. Các khoản thu thuế của các chính phủ thành phố trực thuộc Trung ương bị thu hẹp lại trên khắp đất nước bởi vì các khoản phí chuyển nhượng tài sảnvốn là phần lớn thu nhập của họ. Tàu điện ngầm đầu tiên của thành phố Hồ Chí Min, hiện dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2016, một năm sau so với kế hoạch, theo ông Thuận viên chức cao cấp của Thành phố Hồ Chí Minh cho biết.
Tại trung tâm thành phố Đà Nẵng, nơi từng phát triển mạnh trong thập kỷ qua, các quan chức đã buộc phải hủy bỏ dự án phát triển ở vùng ngoại ô của thành phố. Trần Văn Sơn, phó giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Đà Nẵng, cho biết ông "rất lo lắng" rằng thành phố sẽ phải thu hẹp hơn nữa bởi vì thuế doanh thu tụt giảm nhiều hơn so với dự kiến.
Những người trẻ tuổi đang tìm việc những làm tốt ở xa hơn. Ở ngoại thành Hà Nội, Nguyễn Duy Hưởng, người con trai 21 tuổi của một nông dân, suốt những tháng đầu năm , đã phải tìm kiếm trong vô vọng cho một công việc trong các cửa hàng sửa chữa máy tính.
"Mỗi nơi tôi đến, họ đều nói rằng họ đang tìm những người kỹ thuật thật giỏi ", Hương nói. "Họ không lấy người học việc".
Như nhiều thanh niên Việt Nam khác, Hưởng sống trên biên giới giữa công nghệ thông tin và nền kinh tế nhà nông. anh đã làm việc bán thời gian tại một cửa hàng in ảnh, dùng các phần mềm để sửa chữa hình và loại bỏ những nhược điểm, nhưng thu nhập chính của gia đình anh vẫn phải nhờ vào việc trồng trọt và thu hoạch lúa bằng tay. Qua quá trình tìm việc toàn thời gian, gần đây anh bắt đầu tham dự các khóa học lập trình phần mềm tại Reach, một tổ chức phi lợi nhuận do Plan International, một tổ chức từ thiện Anh Quốc sáng lập.
Những khó khăn mà giới trẻ phải đối mặt không giống với quy mô của cuộc khủng hoảng thất nghiệp ở Tây Ban Nha và Hy Lạp, nhưng tìm được một công ăn việc làm không còn dễ dàng như một vài năm trước đây nữa.
"Hiện nay, các công ty có nhiều sự lựa chọn", Nguyễn Thị Vân Trang, người giúp điều hành các chương trình đào tạo nói "Họ không phải nhận những đứa trẻ trên hè phố nữa".
Chính phủ đã chiến đấu với các khó khăn của đất nước bằng các công cụ kinh tế vĩ mô cổ điển: thắt chặt nguồn cung tiền để chặn nạn lạm phát hai con số và sau đó cắt giảm lãi suất trong năm nay để tiếp sinh lực cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, các ngân hàng vẫn còn rất thận trọng, một phần vì số lượng ngày càng gia tăng của các khách hàng không có khả năng trả nợ. Việc cung cấp tín dụng trong nền kinh tế đang thu hẹp lại và mức tiêu dùng xẹp xuống, thí dụ như các siêu thị đã báo cáo doanh số bán hàng của họ giảm 20 đến 30%.
Ông Doanh, nhà kinh tế gia cho biết, Việt Nam cần phải làm nhiều hơn là việc chỉ tiêm thêm tiền vào với lãi suất thấp hơn.
Những công ty Quốc Doanh vĩ đại kém hiệu quả như Vinashin, vốn từng bành trước hung bạo vào các loại doanh nghiệp mà họ không đủ điều kiện để hoạt động, cần phải được tháo dỡ, tư nhân hóa hoặc thu nhỏ lại, ông Doanh nói.
"Bây giờ là thời điểm tốt cho sự hủy hoại có tính sáng tạo", đề cập đến khái niệm các công ty bền vững đang bị thay thế bởi các đối thủ cạnh tranh sáng tạo hơn.
Tương tự như ở Hoa Kỳ, cuộc phục hồi sức khỏe kinh tế của Việt Nam bập bềnh một phần trên sự hồi sinh của thị trường bất động sản.
Quá nhiều thặng dư trong mức cung của các văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh, nơi mà mức thuê trong các khu phố từng được ưa thích nhất vốn chỉ còn được bằng một nửa của ba năm trước đây, ông Nguyễn Duy Lâm, Giám đốc Pacific Real, một công xây dựng và bất động sản cho biết.
Với hy vọng thu hút được nhiều khách mua nước ngoài, các quan chức ở thành phố Hồ Chí Minh đã đệ trình một đề nghị chính thức với chính phủ trung ương để mở ra các thị trường bất động sản cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, theo ông Thuận, quan chức Đảng Cộng sản cho biết.
Tuy nhiên, các nhà đại lý bất động sản như ông Lâm cho biết rằng hiện nay hoạt động mua bán đã bị đóng băng.
"Hiện giờ, ai cũng muốn bán ra, nhưng ngay cả hạ giá cũng không thể bán được", ông Lâm cho biết trong một cuộc phỏng vấn trên sân thượng của một khách sạn ở thành phố Hồ Chí Minh. "Chẳng có khách hàng gì cả."
Ông Lâm đang trông cậy vào triển vọng lâu dài của thành phố. Nhưng khi ông tuyên bố như thế, một hình ảnh tương phản của Việt Nam đang xuất hiện. Trong khi những đường nét đen tối của tòa nhà chọc trời chưa xây xong vẫn hiện ra lờ mờ trên cao, một công trình xây dựng khác đã làm phấn chấn chiều hướng: Vào một buổi tối chủ nhật, thắp sáng bởi các bóng đèn pha, một cần cẩu lại vung vẩy xuôi ngược khi các công nhân dựng lên một tòa nhà khác để ohủ thêm vào đường chân trời của thành phố Hồ Chí Minh.
Nỗi lo sợ về một cuộc khủng hoảng kinh tế đang dâng cao ở Việt Nam
Thomas Fuller/The New York Times
Lê Quốc Tuấn. X-CafeVN chuyển ngữ
Các đội xây dựng lên thật cao trên tầng thượng của một cao ốc thượng hạng ở trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh để nhìn xuống khu Dân cư thành phố bên dưới. Ngày nay, tất cả những gì còn lại từ các dự án bị bỏ rơi là những đống gạch mốc meo, thanh thép rỉ sét và một nhóm nhỏ các nhân viên bảo vệ, những người đã chuyển đổi sân xi măng thành một bãi đậu cho xe máy.
Tại các thành phố lớn của Việt Nam, thị trường bất động sản từng một thời bùng nổ đang sụp đổ. Hàng trăm khu vực xây dựng bị bỏ rơi là những dấu hiệu rõ ràng nhất của một nền kinh tế ốm yếu.
Tuyên bố trong phòng khách tiết trang hoàng lộng lẫy của một tòa nhà thuộc địa Pháp, một viên chức cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, , so sánh các vấn đề kinh tế của đất nước với sự sụp đổ của thị trường cách đây 15 năm từng san bằng nhiều nền kinh tế ở châu Á.
"Tôi có thể nói rằng đây là tình trạng tương tự như cuộc khủng hoảng ở Thái Lan vào năm 1997", Hứa Ngọc Thuận, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan điều hành hàng đầu của thành phố nói như thế,"Các nhà đầu tư bất động sản đã đẩy giá lên quá cao. Họ mua để đầu cơ chứ không phải để sử dụng.
Các khó khăn kinh tế của Việt Nam trông có vẻ ít nghiêm trọng hơn so với những năm tháng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 - mặc dù tương đối xanh xao tiều tụy, nền kinh tế vẫn đang phát triển,, với tốc độ khoảng 4% - nhưng danh sách các khó khăn của đất nước vẫn tiếp tục tăng lên.
Việc bắt giữ Nguyễn Đức Kiên, một trong những doanh nhân giàu có của Việt Nam trong tuần này, đưa đến mức sụt giảm 4,8% trong chỉ số thị trường chứng khoán của nước này, mức suy giảm nặng nề nhất trong vòng bốn năm qua. Những cáo buộc chống lại ông Kiên còn mơ hồ. Các phương tiện truyền thông nhà nước cho biết ông bị buộc tội hoạt động kinh doanh bất hợp pháp.
Cách thức xử lý vụ việc u ám không rõ ràng về ông ta càng nhấn mạnh một yếu tố quan trọng và trầm trọng hơn cho những tai họa của đất nước: Cuộc hôn nhân giữa giới lãnh đạo Đảng Cộng sản bí mật và một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đang che phủ triển vọng phục hồi đất nước 91 triệu dân này.
Các nhà đầu tư hoài nghi về việc quản lý kinh tế của chính phủ và đặt nghi vấn về độ tin cậy của các số liệu thống kê. Ngân hàng trung ương của quốc gia này cho biết các khách hàng vay đã ngừng không trả được 1/10 các khoản nợ trong hệ thống ngân hàng, nhưng tổ chức Fitch Ratings cho biết tỷ lệ của các khoản nợ xấu này có thể cao hơn nhiều.
Nếu cuộc khủng hoảng năm 1997 thường được đổ lỗi cho loại "chủ nghĩa tư bản đồng đội chí cốt", các vấn nạn của Việt Nam có thể được mô tả như một loại chủ nghĩa tư bản đồng đội chí cốt kết hợp với một chủ nghĩa cộng sản méo mó. Các công ty quốc doanh những bạn bè và đồng hội đồng thuyền trong hệ thống Đảng Cộng sản.
"Đất nước đang bị những người bên trong nhà nước thao túng để kiếm tiền", ông Jonathan Pincus, hiệu trưởng Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại Việt Nam cho biết.
"Những gì cần phải làm là đưa Đảng Cộng sản ra khỏi việc quản lý của các công ty này", ông nói. "Tôi không hề thấy điều ấy được bàn đến".
Giống như các bong bóng bất động sản ở những nơi khác trên thế giới, các nhà đầu tư ở Việt Nam đã lợi dụng dòng tín dụng chảy tự do để xây dựng các tòa nhà với hy vọng bật ra lợi nhuận. Một sự khác biệt quan trọng là một số các nhà đầu cơ bất động sản lớn nhất Việt Nam chính là các doanh nghiệp quốc doanh có quan hệ kết nối với giới thượng tầng trong Đảng Cộng sản và khả năng truy cập đến tiền bạc dễ dãi. Những công ty này hiện đang phải vật lộn với mức nợ không bền vững, hoặc như trong trường hợp của Vinashin và Vinalines, hai tập đoàn lớn của chính phủ, đang phải ve vãn tán tỉnh với khả năng không trả được nợ nữa.
Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn ồn ào với năng lực của mình, vây quanh bởi khách du lịch và bị phiền nhiễu bởi nạn ùn tắc giao thông - tất cả là các dấu hiệu của sức sống kinh tế thành phố. Nhưng đó chỉ là mặt nạ che đậy những triệu chứng của các tai họa kinh tế trên cả nước: Những người trẻ ngày càng khó tìm được việc làm, gần 20% các công ty nhỏ và vừa đã biến mất khỏi thi trường trong năm qua, và các dự án cơ sở hạ tầng, thành phố trực thuộc Trung ương đang bị trì hoãn hoặc hủy bỏ.
Lê Đăng Doanh, một nhà kinh tế nổi tiếng và là cựu viên chức hàng đầu tại một tổ chức nghiên cứu của chính phủ cho biết, ông đã từng lo lắng về thời gian tính của các khó khăn, đang đến ngay khi nền kinh tế toàn cầu bị sa lầy vì nợ nần và châu Âu phải vật lộn với các tình thế tiến thoái lưỡng nan tồn tại của đồng euro.
"Vấn nạn ở Việt Nam là một loại dung dịch pha trộn cực kỳ độc hại từ cuộc khủng hoảng nợ châu Âu, tình trạng trì trệ trong nền kinh tế Mỹ cộng với một tình huống rất nghiêm trọng của nền kinh tế trong nước", ông Doanh nói. "Đó là một hỗn hợp rất nguy hiểm."
Khu vực tư nhân đang giúp cho nền kinh tế chuyển động - Việt Nam là một nước xuất khẩu quan trọng về quần áo và giày dép sang Hoa Kỳ - nhưng dòng tiền nước ngoài đã chậm lại. Các cam kết của giới đầu tư nước ngoài là 8 tỷ USD trong nửa đầu năm nay, chỉ bằng một phần tư trong cùng thời kỳ ba năm trước đây.
Hậu quả các khó khăn kinh tế của Việt Nam lan xa. Các khoản thu thuế của các chính phủ thành phố trực thuộc Trung ương bị thu hẹp lại trên khắp đất nước bởi vì các khoản phí chuyển nhượng tài sảnvốn là phần lớn thu nhập của họ. Tàu điện ngầm đầu tiên của thành phố Hồ Chí Min, hiện dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2016, một năm sau so với kế hoạch, theo ông Thuận viên chức cao cấp của Thành phố Hồ Chí Minh cho biết.
Tại trung tâm thành phố Đà Nẵng, nơi từng phát triển mạnh trong thập kỷ qua, các quan chức đã buộc phải hủy bỏ dự án phát triển ở vùng ngoại ô của thành phố. Trần Văn Sơn, phó giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Đà Nẵng, cho biết ông "rất lo lắng" rằng thành phố sẽ phải thu hẹp hơn nữa bởi vì thuế doanh thu tụt giảm nhiều hơn so với dự kiến.
Những người trẻ tuổi đang tìm việc những làm tốt ở xa hơn. Ở ngoại thành Hà Nội, Nguyễn Duy Hưởng, người con trai 21 tuổi của một nông dân, suốt những tháng đầu năm , đã phải tìm kiếm trong vô vọng cho một công việc trong các cửa hàng sửa chữa máy tính.
"Mỗi nơi tôi đến, họ đều nói rằng họ đang tìm những người kỹ thuật thật giỏi ", Hương nói. "Họ không lấy người học việc".
Như nhiều thanh niên Việt Nam khác, Hưởng sống trên biên giới giữa công nghệ thông tin và nền kinh tế nhà nông. anh đã làm việc bán thời gian tại một cửa hàng in ảnh, dùng các phần mềm để sửa chữa hình và loại bỏ những nhược điểm, nhưng thu nhập chính của gia đình anh vẫn phải nhờ vào việc trồng trọt và thu hoạch lúa bằng tay. Qua quá trình tìm việc toàn thời gian, gần đây anh bắt đầu tham dự các khóa học lập trình phần mềm tại Reach, một tổ chức phi lợi nhuận do Plan International, một tổ chức từ thiện Anh Quốc sáng lập.
Những khó khăn mà giới trẻ phải đối mặt không giống với quy mô của cuộc khủng hoảng thất nghiệp ở Tây Ban Nha và Hy Lạp, nhưng tìm được một công ăn việc làm không còn dễ dàng như một vài năm trước đây nữa.
"Hiện nay, các công ty có nhiều sự lựa chọn", Nguyễn Thị Vân Trang, người giúp điều hành các chương trình đào tạo nói "Họ không phải nhận những đứa trẻ trên hè phố nữa".
Chính phủ đã chiến đấu với các khó khăn của đất nước bằng các công cụ kinh tế vĩ mô cổ điển: thắt chặt nguồn cung tiền để chặn nạn lạm phát hai con số và sau đó cắt giảm lãi suất trong năm nay để tiếp sinh lực cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, các ngân hàng vẫn còn rất thận trọng, một phần vì số lượng ngày càng gia tăng của các khách hàng không có khả năng trả nợ. Việc cung cấp tín dụng trong nền kinh tế đang thu hẹp lại và mức tiêu dùng xẹp xuống, thí dụ như các siêu thị đã báo cáo doanh số bán hàng của họ giảm 20 đến 30%.
Ông Doanh, nhà kinh tế gia cho biết, Việt Nam cần phải làm nhiều hơn là việc chỉ tiêm thêm tiền vào với lãi suất thấp hơn.
Những công ty Quốc Doanh vĩ đại kém hiệu quả như Vinashin, vốn từng bành trước hung bạo vào các loại doanh nghiệp mà họ không đủ điều kiện để hoạt động, cần phải được tháo dỡ, tư nhân hóa hoặc thu nhỏ lại, ông Doanh nói.
"Bây giờ là thời điểm tốt cho sự hủy hoại có tính sáng tạo", đề cập đến khái niệm các công ty bền vững đang bị thay thế bởi các đối thủ cạnh tranh sáng tạo hơn.
Tương tự như ở Hoa Kỳ, cuộc phục hồi sức khỏe kinh tế của Việt Nam bập bềnh một phần trên sự hồi sinh của thị trường bất động sản.
Quá nhiều thặng dư trong mức cung của các văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh, nơi mà mức thuê trong các khu phố từng được ưa thích nhất vốn chỉ còn được bằng một nửa của ba năm trước đây, ông Nguyễn Duy Lâm, Giám đốc Pacific Real, một công xây dựng và bất động sản cho biết.
Với hy vọng thu hút được nhiều khách mua nước ngoài, các quan chức ở thành phố Hồ Chí Minh đã đệ trình một đề nghị chính thức với chính phủ trung ương để mở ra các thị trường bất động sản cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, theo ông Thuận, quan chức Đảng Cộng sản cho biết.
Tuy nhiên, các nhà đại lý bất động sản như ông Lâm cho biết rằng hiện nay hoạt động mua bán đã bị đóng băng.
"Hiện giờ, ai cũng muốn bán ra, nhưng ngay cả hạ giá cũng không thể bán được", ông Lâm cho biết trong một cuộc phỏng vấn trên sân thượng của một khách sạn ở thành phố Hồ Chí Minh. "Chẳng có khách hàng gì cả."
Ông Lâm đang trông cậy vào triển vọng lâu dài của thành phố. Nhưng khi ông tuyên bố như thế, một hình ảnh tương phản của Việt Nam đang xuất hiện. Trong khi những đường nét đen tối của tòa nhà chọc trời chưa xây xong vẫn hiện ra lờ mờ trên cao, một công trình xây dựng khác đã làm phấn chấn chiều hướng: Vào một buổi tối chủ nhật, thắp sáng bởi các bóng đèn pha, một cần cẩu lại vung vẩy xuôi ngược khi các công nhân dựng lên một tòa nhà khác để ohủ thêm vào đường chân trời của thành phố Hồ Chí Minh.
-
nguyennam619
- Posts: 238
- Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am
Ai, Những ai đang “cõng rắn cắn gà nhà” ?
Trần Mạnh Hảo
Bài viết “Phải biết hổ thẹn với tiền nhân”: Thứ Năm, 23/08/2012, 07:30 (GMT+7) Phải biết hổ thẹn với tiền nhân (*) http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/5080 ... nhan-.html của chủ tịch nước Trương Tấn Sang được in trên hàng trăm tờ báo lề phải và lề trái đã bị dân mạng trong nước chê bai, thậm chí coi thường, rẻ rúng. Chỉ xin trích lời hai nhà báo hàng đầu trong nước là nhà báo Trương Duy Nhất và nhà báo Nguyễn Thông.
Nhà báo Nguyễn Thông trên blog của mình, trong bài “Đúng thực lỗi của thư ký”, viết như sau:
“Nói chung không có gì mới. Phần tình cảm nhiều hơn phần lý trí, suy nghĩ.
Chỉ có điều, cái phần mở đầu làm mình khó chịu, câu chữ loáng thoáng chập chờn giọng văn kiểu trong bài tập đọc "Tôi đi học" của nhà thơ Thanh Tịnh hồi nảo hồi nào. Mở đầu một bài viết quan trọng tầm quốc gia, cho hàng chục triệu người đọc mà lại lả lướt, trữ tình ngoại đề như thế thì quả không nên. Rất khó nghe. Không ai cấm chủ tịch nước được quyền bày tỏ nỗi lòng, tâm tư của mình nhưng phải trong hoàn cảnh, văn cảnh thích hợp, trong những dịp khác cơ. Ví dụ bên bàn nhậu, bác cứ nói thoải mái, thậm chí càng trữ tình càng tốt. Còn ở chỗ này, dịp này, phải lập nghiêm, bác ạ.
Ấy, em là em cứ khó tính, xét nét như thế, không phải để chê bác chủ tịch, mà em chỉ muốn mắng mấy chú giúp việc cho bác mà thôi. Đã ăn lộc nhà chúa, xơi oản của chùa thì phải hết công hết sức, tỏ hết tài trí để phụng sự chúa, cúng chùa. Chỉ cốt làm cho xong thì nên về với mẹ đĩ rửa bát quét nhà còn có ích hơn.” (hết trích)
Nhà báo Trương Duy Nhất trong bài: “Khi chủ tịch tập làm văn” trên website của mình, chê bài viết của ông Trương Tấn Sang (thực ra là do thư ký cao hứng trữ tình ngoài lề viết hộ theo kiểu: bài văn của tôi đồng chí viết chưa?) là lối văn học trò, lạc đề như sau:
“Cứ ngỡ đó là một bài… tập làm văn. Một bài viết quá ư lòng thòng của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Một bản thông điệp nguyên thủ chung chung, khẩu hiệu, sáo rỗng đến nhàm chán… Ý tứ chắp ghép lòng vòng, chung chung, khẩu hiệu và sáo mòn, lại lòng thòng đọc đến hụt hơi và phát ngán. Chủ tịch Sang đã cố làm mới, nhưng điểm mới duy nhất thấy được ở bản thông điệp của ông vẫn chỉ dừng lại ở những câu đoạn… tập làm văn! Một bản thông điệp tập làm văn làm ông mất điểm nhiều sau những ấn tượng tốt đẹp từ “một bầy sâu” đến “ăn hết phần của dân”…( hết trích)
Riêng chúng tôi, người viết bài này (TMH) cho rằng trong bài tập làm văn kiểu trữ tình học trò dây cà ra dây muống của ông Trương Tấn Sang, thấy một câu văn (vẻ) này cần chú ý:
“Xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để “chọc gậy bánh xe”, thậm chí để “cõng rắn cắn gà nhà”…”
Lần đầu tiên trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, có một vị lãnh đạo cao cấp của đảng là chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã dám công khai thừa nhận trong ban lãnh đạo cao cấp gồm 14 vị bộ chính trị của ông có người (hay những người?) làm cái việc ô nhục đáng để muôn đời cháu con nguyền rủa là “CÕNG RẮN CẮN GÀ NHÀ” ( phạm tội BÁN NƯỚC)…?
Xin tra “Đại từ điển tiếng Việt” (nhà xuất bản Văn hóa Thông tin- 1999), trang 445 định nghĩa: “Cõng rắn cắn gà nhà: hành động phản bội nhân dân,hèn hạ đưa rước bọn giặc về giết hại đồng bào, đồng loại”…
Muốn cõng rắn cắn gà nhà, tức là muốn bán nước, phải là vua chúa, là người cầm quyền cao nhất nhì của quốc gia mới có khả năng làm việc đốn mạt này.
Thời phong kiến NƯỚC LÀ CỦA VUA nên chỉ có vua như Lê Chiêu Thống mới bán nước cho nhà Thanh; như kẻ em vua, muốn lật anh là Trần Nhân tông để mình làm vua nên Trần ích Tắc mới theo giặc Nguyên để chúng phong cho là An Nam quốc vương… mới là những kẻ bán nước bị lịch sử dân tộc muôn đời nguyền rủa.
Ngày nay, NƯỚC LÀ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, nên chỉ có những lãnh tụ tối cao của đảng mới có khả năng bán nước, ví như bức điện thư của ông Phạm Văn Đồng năm 1958 bán Hoàng Sa cho giặc Tàu đổi lấy viện trợ. Trong ngôn ngữ ứng xử hàng ngày của người cầm quyền ở Việt Nam hiện nay trên các phương tiện tuyền thông bao giờ cũng xưng danh: “đảng và nhà nước, đảng và nhân dân, đảng và chính phủ…” Khẩu hiệu của đảng cộng sản luôn đặt ĐẢNG trên DÂN: “Trung với Đảng, hiếu với DÂN”. Quốc hội cũng của đảng chứ nào phải của dân. Dân: ngót 90 triệu, đảng chỉ có ba triệu mà quốc hội 95% là đảng viên thì sao gọi là quốc hội của dân được?
Cho nên người dân Việt hiện nay đa số nghèo đói, cơm còn chả có ăn chứ có nước đâu mà bán? Chỉ có kẻ đang lãnh đạo đất nước này mới có nước để bán mà thôi…
Vậy họ bán nước cho ai? Cho Mỹ chăng? Không, Mỹ chưa từng chiếm của Việt Nam một mét vuông biển, một mét vuông đất nào, càng không hề có chút tham vọng nào về lãnh địa, lãnh hải Việt Nam. Vả, Mỹ đang có công lớn với Việt Nam là vì nhờ sự có mặt của họ ở vùng biển Đông Nam Á nên giặc Tàu chưa dám động binh đánh vào đất liền Việt Nam; chúng chỉ đánh và chiếm Hoàng sa, Trường Sa ngoài biển…
Đúng như lời cựu Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nói trên rất nhiều báo chí suốt thời ông làm lãnh tụ: kẻ thù trực tiếp và kẻ thù truyền kiếp nguy hiểm nhất, tàn ác nhất của dân tộc ta là bọn bành trướng Bắc Kinh, tức giặc Tàu. Giặc Tàu dán mác cộng sản, bịt mắt ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam bằng phương châm 4 tốt và 16 chữ vàng để cướp dần đất đai và biển đảo quê hương ta như chúng đã đang và sẽ cướp nước ta. Vậy, họ, một số người trong 14 ông to nhất cầm quyền ở Việt Nam đang cõng rắn cắn gà nhà, tức bán nước cho giặc Tàu kia họ là ai, là những ai thưa chủ tịch nước Trương Tấn Sang?
Xin chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã thương thì thương cho trót, xin làm ơn làm phúc cho dân tộc Việt nam chúng tôi đang có cơ bị diệt vong bởi ngoại bang phương bắc, là xin ông hãy chỉ ra đích danh những kẻ bán nước cõng rắn cắn gà nhà hèn hạ vô lương tâm ấy (chúng là giặc rồi sao chúng vẫn ngồi ghế lãnh đạo quốc gia?) để nhân dân chúng tôi hôm nay và mai sau muôn đời nguyền rủa chúng. Xin cám ơn trước chủ tịch nước Trương Tấn Sang...
Sài Gòn ngày 24-8-2012
Trần Mạnh Hảo
Trần Mạnh Hảo
Bài viết “Phải biết hổ thẹn với tiền nhân”: Thứ Năm, 23/08/2012, 07:30 (GMT+7) Phải biết hổ thẹn với tiền nhân (*) http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/5080 ... nhan-.html của chủ tịch nước Trương Tấn Sang được in trên hàng trăm tờ báo lề phải và lề trái đã bị dân mạng trong nước chê bai, thậm chí coi thường, rẻ rúng. Chỉ xin trích lời hai nhà báo hàng đầu trong nước là nhà báo Trương Duy Nhất và nhà báo Nguyễn Thông.
Nhà báo Nguyễn Thông trên blog của mình, trong bài “Đúng thực lỗi của thư ký”, viết như sau:
“Nói chung không có gì mới. Phần tình cảm nhiều hơn phần lý trí, suy nghĩ.
Chỉ có điều, cái phần mở đầu làm mình khó chịu, câu chữ loáng thoáng chập chờn giọng văn kiểu trong bài tập đọc "Tôi đi học" của nhà thơ Thanh Tịnh hồi nảo hồi nào. Mở đầu một bài viết quan trọng tầm quốc gia, cho hàng chục triệu người đọc mà lại lả lướt, trữ tình ngoại đề như thế thì quả không nên. Rất khó nghe. Không ai cấm chủ tịch nước được quyền bày tỏ nỗi lòng, tâm tư của mình nhưng phải trong hoàn cảnh, văn cảnh thích hợp, trong những dịp khác cơ. Ví dụ bên bàn nhậu, bác cứ nói thoải mái, thậm chí càng trữ tình càng tốt. Còn ở chỗ này, dịp này, phải lập nghiêm, bác ạ.
Ấy, em là em cứ khó tính, xét nét như thế, không phải để chê bác chủ tịch, mà em chỉ muốn mắng mấy chú giúp việc cho bác mà thôi. Đã ăn lộc nhà chúa, xơi oản của chùa thì phải hết công hết sức, tỏ hết tài trí để phụng sự chúa, cúng chùa. Chỉ cốt làm cho xong thì nên về với mẹ đĩ rửa bát quét nhà còn có ích hơn.” (hết trích)
Nhà báo Trương Duy Nhất trong bài: “Khi chủ tịch tập làm văn” trên website của mình, chê bài viết của ông Trương Tấn Sang (thực ra là do thư ký cao hứng trữ tình ngoài lề viết hộ theo kiểu: bài văn của tôi đồng chí viết chưa?) là lối văn học trò, lạc đề như sau:
“Cứ ngỡ đó là một bài… tập làm văn. Một bài viết quá ư lòng thòng của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Một bản thông điệp nguyên thủ chung chung, khẩu hiệu, sáo rỗng đến nhàm chán… Ý tứ chắp ghép lòng vòng, chung chung, khẩu hiệu và sáo mòn, lại lòng thòng đọc đến hụt hơi và phát ngán. Chủ tịch Sang đã cố làm mới, nhưng điểm mới duy nhất thấy được ở bản thông điệp của ông vẫn chỉ dừng lại ở những câu đoạn… tập làm văn! Một bản thông điệp tập làm văn làm ông mất điểm nhiều sau những ấn tượng tốt đẹp từ “một bầy sâu” đến “ăn hết phần của dân”…( hết trích)
Riêng chúng tôi, người viết bài này (TMH) cho rằng trong bài tập làm văn kiểu trữ tình học trò dây cà ra dây muống của ông Trương Tấn Sang, thấy một câu văn (vẻ) này cần chú ý:
“Xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để “chọc gậy bánh xe”, thậm chí để “cõng rắn cắn gà nhà”…”
Lần đầu tiên trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, có một vị lãnh đạo cao cấp của đảng là chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã dám công khai thừa nhận trong ban lãnh đạo cao cấp gồm 14 vị bộ chính trị của ông có người (hay những người?) làm cái việc ô nhục đáng để muôn đời cháu con nguyền rủa là “CÕNG RẮN CẮN GÀ NHÀ” ( phạm tội BÁN NƯỚC)…?
Xin tra “Đại từ điển tiếng Việt” (nhà xuất bản Văn hóa Thông tin- 1999), trang 445 định nghĩa: “Cõng rắn cắn gà nhà: hành động phản bội nhân dân,hèn hạ đưa rước bọn giặc về giết hại đồng bào, đồng loại”…
Muốn cõng rắn cắn gà nhà, tức là muốn bán nước, phải là vua chúa, là người cầm quyền cao nhất nhì của quốc gia mới có khả năng làm việc đốn mạt này.
Thời phong kiến NƯỚC LÀ CỦA VUA nên chỉ có vua như Lê Chiêu Thống mới bán nước cho nhà Thanh; như kẻ em vua, muốn lật anh là Trần Nhân tông để mình làm vua nên Trần ích Tắc mới theo giặc Nguyên để chúng phong cho là An Nam quốc vương… mới là những kẻ bán nước bị lịch sử dân tộc muôn đời nguyền rủa.
Ngày nay, NƯỚC LÀ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, nên chỉ có những lãnh tụ tối cao của đảng mới có khả năng bán nước, ví như bức điện thư của ông Phạm Văn Đồng năm 1958 bán Hoàng Sa cho giặc Tàu đổi lấy viện trợ. Trong ngôn ngữ ứng xử hàng ngày của người cầm quyền ở Việt Nam hiện nay trên các phương tiện tuyền thông bao giờ cũng xưng danh: “đảng và nhà nước, đảng và nhân dân, đảng và chính phủ…” Khẩu hiệu của đảng cộng sản luôn đặt ĐẢNG trên DÂN: “Trung với Đảng, hiếu với DÂN”. Quốc hội cũng của đảng chứ nào phải của dân. Dân: ngót 90 triệu, đảng chỉ có ba triệu mà quốc hội 95% là đảng viên thì sao gọi là quốc hội của dân được?
Cho nên người dân Việt hiện nay đa số nghèo đói, cơm còn chả có ăn chứ có nước đâu mà bán? Chỉ có kẻ đang lãnh đạo đất nước này mới có nước để bán mà thôi…
Vậy họ bán nước cho ai? Cho Mỹ chăng? Không, Mỹ chưa từng chiếm của Việt Nam một mét vuông biển, một mét vuông đất nào, càng không hề có chút tham vọng nào về lãnh địa, lãnh hải Việt Nam. Vả, Mỹ đang có công lớn với Việt Nam là vì nhờ sự có mặt của họ ở vùng biển Đông Nam Á nên giặc Tàu chưa dám động binh đánh vào đất liền Việt Nam; chúng chỉ đánh và chiếm Hoàng sa, Trường Sa ngoài biển…
Đúng như lời cựu Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nói trên rất nhiều báo chí suốt thời ông làm lãnh tụ: kẻ thù trực tiếp và kẻ thù truyền kiếp nguy hiểm nhất, tàn ác nhất của dân tộc ta là bọn bành trướng Bắc Kinh, tức giặc Tàu. Giặc Tàu dán mác cộng sản, bịt mắt ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam bằng phương châm 4 tốt và 16 chữ vàng để cướp dần đất đai và biển đảo quê hương ta như chúng đã đang và sẽ cướp nước ta. Vậy, họ, một số người trong 14 ông to nhất cầm quyền ở Việt Nam đang cõng rắn cắn gà nhà, tức bán nước cho giặc Tàu kia họ là ai, là những ai thưa chủ tịch nước Trương Tấn Sang?
Xin chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã thương thì thương cho trót, xin làm ơn làm phúc cho dân tộc Việt nam chúng tôi đang có cơ bị diệt vong bởi ngoại bang phương bắc, là xin ông hãy chỉ ra đích danh những kẻ bán nước cõng rắn cắn gà nhà hèn hạ vô lương tâm ấy (chúng là giặc rồi sao chúng vẫn ngồi ghế lãnh đạo quốc gia?) để nhân dân chúng tôi hôm nay và mai sau muôn đời nguyền rủa chúng. Xin cám ơn trước chủ tịch nước Trương Tấn Sang...
Sài Gòn ngày 24-8-2012
Trần Mạnh Hảo

