Bình Luận Thời Sự
Mối đe dọa trên kinh tế Trung Quốc
Ngô Nhân Dụng
Hiện giờ chắc ai cũng đang chú ý tới bản tin chính quyền Trung Quốc đưa chiếc hàng không mẫu hạm duy nhất của họ vào diễu võ dương oai trong vùng Biển Ðông.
Nhưng thực sự nó đáng sợ hay không? Nó có mạnh bằng đạo quân 100,000 binh sĩ với 10,000 ngựa giống Thiểm Tây, và 200,000 dân phu phục dịch mà Tống Thần Tông sai Quách Quỳ và Triệu Tiết đưa sang tấn công nước ta năm 1077 hay không? Ai cũng nhớ, sau khi gặp quân đội Việt Nam của Lý Thường Kiệt, hai tướng báo cáo về triều rằng: Binh sĩ và dân phu đã chết một nửa. Các ông tướng giải thích: Chúng chết vì bệnh tật.
Một chiếc tàu sân bay đi giữa biển thì không lo lính tráng mắc bệnh dịch. Nhưng nó sẽ phải lo đối phó với phi cơ chiến đấu của những nước trong vùng (Phi Luật Tân và Việt Nam chẳng hạn). Nếu chẳng may có chiến tranh, những máy bay của các nước bị Trung Quốc đe dọa có thể cất cánh từ những phi trường trên đất liền, được tiếp tế nhiên liệu và bom đạn ngay gần nơi chiến trường, chắc không yếu sức hơn những máy bay trên chiếc tầu sân bay (chữ tầu sân bay nghe giản dị hơn chữ hàng không mẫu hạm, mà lại là chữ Việt, rất nên dùng). Một chiếc tầu sân bay mà không có đủ một hạm đội hộ tống thì giống như con vịt lênh đênh trên mặt hồ làm đích cho máy bay bên địch tập bắn hoặc thả bom!
Chuyện tầu sân bay không đáng quan tâm. Cho nên muốn nói chuyện Trung Quốc bây giờ thì chuyện kinh tế đáng chú ý nhất; nó lớn hơn chuyện bà Cốc Khai Lai bị án tử hình treo! Kinh tế Trung Quốc đang chạy với tốc độ chậm chạp nhất kể từ 2009 đến nay. Với tình trạng kinh tế Mỹ vẫn chưa phục hồi sức khỏe, khu vực đồng euro đang khủng hoảng, hàng Trung Quốc bán ra chậm hơn, trong khi giới tiêu thụ trong nước vẫn chưa dư tiền tiêu xài. Kinh tế Trung Quốc đang trì trệ đáng lo ngại. Tuy hiện giờ tỷ lệ tăng trưởng vẫn là 7.6% một năm (trong ba tháng quý thứ nhì 2012), nhưng tốc độ giảm đột ngột nếu so sánh với tỷ lệ trên 10% trước đây khiến nhiều xí nghiệp xính vính.
Các xí nghiệp không tuyển thêm nhân viên và công nhân nữa. Số xuất cảng gần như đứng khựng lại không lên được. Nhập cảng cũng xuống, đáng kể nhất là các nguyên liệu như sắt dùng để chế thép. Bởi vì các công ty chỉ mua nguyên liệu và bộ phận về khi tin rằng sẽ bán được hàng; nay viễn ảnh bán hàng đang đen tối. Giá nhà cửa đã xuống đều đều từ khi ông Ôn Gia Bảo đạp chân thắng, hạn chế không cho mua căn nhà thứ hai; vì ông muốn chặn đứng đầu cơ trong thị trường địa ốc. Mối lo lắng về kinh tế khiến nhiều người chuyển tiền ra nước ngoài.
Một nguồn tăng trưởng quan trọng nhất của kinh tế Trung Quốc là nhờ xuất cảng. Trong Tháng Sáu, số xuất cảng đã tăng 11% so với tháng trước; sang Tháng Bẩy chỉ tăng 1% so với Tháng Sáu. Các công ty xuất cảng sử dụng hàng trăm triệu công nhân. Công nhân đang đòi lương cao hơn, trong khi hàng bán không tăng, nhiều xí nghiệp đã phá sản. Báo China Times (Trung Quốc Thời Báo) cho biết đang có 46 xưởng đóng tầu lo phá sản, vì số bán giảm mất một nửa. Sau tin báo động này, chắc chính phủ Bắc Kinh sẽ đem tiền ra cứu, nhưng cứu cho các xí nghiệp tiếp tục chạy mà hàng vẫn không bán được thì đúng là “Gánh vàng đi đổ sông Ngô!”
Trung Quốc được gọi là “nhà sản xuất của thế giới” (trong khi dân Mỹ được gọi là nhà tiêu thụ của thế giới). Nhưng vì số giấy đặt hàng giảm, số hàng chế hóa ở Trung Quốc trong bẩy tháng qua tăng với tốc độ chậm nhất, và sang Tháng Tám thì không tăng nữa mà bắt đầu giảm bớt. Người ta đo lường sức khỏe của ngành chế hóa (manufacturing) bằng một chỉ số. Trong Tháng Năm, chỉ số PMI là 50.4, sang Tháng Sáu xuống 50.2; qua Tháng Bẩy xuống nữa, thành 49.3; nhưng chỉ số PMI Tháng Tám tụt xuống nữa, chỉ còn 47.8. Chỉ số PMI (Purchasing Managers Index), do Ngân Hàng Hồng Kông Thượng Hải (HSBC) tính toán, khi PMI xuống dưới 50 là dấu hiệu số sản xuất sắp xuống.
HSBC là một ngân hàng tư quốc tế cho nên công bố các số thống kê. Chính phủ Bắc Kinh thì chỉ muốn che giấu. Ủy Ban An Ninh Công Cộng đã ra lệnh các thành phố không được công bố thống kê về số xe đăng bộ (car registration). Vì sợ người ta biết xe hơi đang ế hàng. Lần cuối cùng có số thống kê về các căn hộ trong chung cư (apartment) bỏ trống là năm 2008. Từ đó tới nay không có con số nào cả! Những các nhà báo ngoại quốc quen nghề điều tra kinh tế vẫn tiết lộ được tình cảnh trì trệ trong cả hai ngành, xe hơi và nhà cửa. Ðó là hai ngành ảnh hưởng mạnh nhất đến sức khỏe cả nền kinh tế (coi nước Mỹ thì biết). Bởi vì khi người ta mua xe mới thì không phải chỉ có các hãng xe kiếm lời mà tất cả các xí nghiệp lớn nhỏ cung cấp phụ tùng, bộ phận làm chiếc xe đều có cơm ăn. Mua nhà cũng vậy, ai cũng phải lo mắc điện, ống nước, sắm sửa đồ đạc và trang hoàng, tu bổ căn nhà.
Các nhà báo đi thăm những sàn bán xe (car dealers), hỏi chuyện mấy câu cũng thấy được là số xe ế được nằm ụ lên cao. Làm tính cộng lại, người ta thấy từ Tháng Mười Hai năm ngoái đến Tháng Sáu năm nay, số xe nằm ụ tăng từ 1.3 triệu lên 2.2 triệu. Số “tồn kho” tăng thêm là 900,000 chiếc xe, đã tăng hơn 70%. Cho nên các công ty sản xuất xe hiện chỉ hoạt động 65% sức sản xuất bình thường. Một xưởng làm xe phải hoạt động 80% mới hy vọng có lời. Các đô thị lớn ở Trung Quốc đang lo nạn kẹt xe, đã đưa ra nhiều biện pháp hạn chế việc mua xe, góp phần vào cảnh trị trệ của thị trường bán xe. Giá nhà cửa xuống thì ai cũng biết từ lâu, và các công ty xây cất cũng giảm bớt hoạt động. Công nhân ngành xây dựng đang mất việc.
Các công ty tư vấn kinh doanh đi nghiên cứu để cung cấp tài liệu cho giới đầu tư quốc tế cho biết kho chứa tất cả các thứ hàng hóa ở các nhà bán sỉ và bán lẻ đang tăng lên, vì hàng bán quá chậm; trong khi nhà sản xuất vẫn tống hàng đến cho họ. Số hàng tồn kho trong Tháng Tám tăng lên với một tốc độ cao nhất kể từ khi số thống kê này được chính phủ tính toán vào năm 2004. Phỏng vấn các nhà sản xuất và nhà buôn sỉ người ta được biết từ năm ngoái sang năm nay, số bán đã giảm trong nhiều mặt hàng: máy hút không khí ẩm (dehumidifiers), ống dẫn trong hệ thống quạt thông không khí (ventilation systems), bàn thu điện mặt trời (solar panels), đà thép làm trần nhà, và cả khăn vải trải giường nữa. Tất cả những món hàng trên liên hệ đến việc mua nhà hay xây nhà mới!
Chính quyền Bắc Kinh cố che đậy những nhược điểm trên đây để dân không lo lắng, hoảng hốt. Ngay phương pháp làm thống kê cũng được sửa đi sửa lại để che giấu cảnh xuống dốc. Nhưng chỗ nhược nặng nề nhất là trong hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng quốc doanh lớn nhất (nhà nước nắm đại đa số cổ phần) đều chồng chất nợ xấu, khó đòi được. Nhưng họ tìm cách làm cho các tỷ số nợ xấu giảm đi bằng trò phù thủy.
Thí dụ tại Ngân Hàng Công Thương (ICBC) năm 2004 có 21% số tiền cho vay được liệt kê là nợ xấu. Năm nay, tỷ lệ xuống chỉ còn 1%. Hai ngân hàng khác, Trung Quốc Ngân Hàng và Trung Quốc Kiến Thiết Ngân Hàng cũng có tỷ lệ 16% và 17% nợ xấu, nay chỉ còn 1% thôi? Làm cách nào các ngân hàng giảm bớt nợ xấu nhanh như vậy?
Nhìn vào sổ sách của ICBC thì người ta thấy ngân hàng này có một món tài sản lớn 313 tỷ đồng Nguyên, gọi là “Trái phiếu Hoa Dong.” Ðó là những trái phiếu do công ty tài chánh Hoa Dong Tư Sản Quản Lý Công Ty phát hành. Tức là ICBC mua trái phiếu của Hoa Dong, đưa 313 tỷ Nguyên cho họ.
Rồi sau đó, ngay lập tức công ty Hoa Dong bỏ tiền ra mua các món nợ xấu của ICBC. Thoáng một cái, số nợ xấu của ICBC biến gần hết. Hoa Dong mua của nợ về làm gì? Không ai cần biết, đòi nợ được thì đòi, không thì thôi. Vì đó là một công ty do Bộ Tài Chánh làm chủ quản! Tóm lại, đảng Cộng Sản Trung Quốc làm phép cho các món nợ xấu của các ngân hàng biến mất. Những nó chỉ chạy từ chỗ này sang chỗ khác mà thôi! Ðến khi các trái phiếu Hoa Dong đáo hạn, làm sao ICBC lấy lại được tiền đầu tư, sẽ tính sau!
Một thứ nợ xấu không bao giờ đòi được nữa là do các ngân hàng cho các chính phủ địa phương vay, trong chương trình “kích thích kinh tế” của Bắc Kinh, từ năm 2009. Tổng số tiền kích thích lên tới $1,500 tỷ. Phần lớn là các ngân hàng đưa cho các tỉnh, các huyện xây cất gì đó, không cần biết có cần hay không, và có ích lợi gì hay không. Xây dựng xưa nay vẫn là món chi tiêu dễ rút ruột nhất!
Cả nền kinh tế và hệ thống ngân hàng của Trung Quốc hiện nay như vậy đó. Ðó là một chiếc hàng không mẫu hạm đang bị lủng nhiều lỗ, không biết làm sao cứu. Tất nhiên, chính quyền cộng sản Trung Quốc vẫn còn tiền để bơm thêm cho kinh tế tiếp tục chạy, ít nhất từ đây cho đến cuối năm, khi Hồ Cẩm Ðào và Ôn Gia Bảo hết nhiệm kỳ. Nhưng sau đó, sẽ ra sao thì không biết được.
Ðây không phải là một tin vui đối với người Việt Nam cũng như người Mỹ. Nếu kinh tế Trung Quốc xuống thì cả thế giới cũng sẽ xuống, vì kinh tế Mỹ cũng như Châu Âu vẫn phải xuất cảng. Mà một nước nhập cảng nhiều hạng nhất hiện nay là Trung Quốc!
Ðiều người ta mong ước là kinh tế Trung Quốc sẽ xuống từ từ, đừng có sập nhanh quá. Chúng ta chúc dân Trung Hoa gặp nhiều may mắn. Và xin đừng giở trò đem tàu máy bay ra dọa láng giềng nữa. Dọa làm gì, vô ích. Năm 1078, sau khi một nửa số quân sĩ nhà Tống chết (vì bệnh thời khí!) và một nửa còn lại “khai bệnh,” Tống Thần Tông đã cho rút quân về ngay. Bởi vì lúc đó nhà Tống cũng đang lo quân nước Tây Hạ và nước Liêu tấn công. Ðảng Cộng Sản Trung Quốc nên để sức lo kinh tế hơn là đi hăm dọa các nước láng giềng!
Ngô Nhân Dụng
Hiện giờ chắc ai cũng đang chú ý tới bản tin chính quyền Trung Quốc đưa chiếc hàng không mẫu hạm duy nhất của họ vào diễu võ dương oai trong vùng Biển Ðông.
Nhưng thực sự nó đáng sợ hay không? Nó có mạnh bằng đạo quân 100,000 binh sĩ với 10,000 ngựa giống Thiểm Tây, và 200,000 dân phu phục dịch mà Tống Thần Tông sai Quách Quỳ và Triệu Tiết đưa sang tấn công nước ta năm 1077 hay không? Ai cũng nhớ, sau khi gặp quân đội Việt Nam của Lý Thường Kiệt, hai tướng báo cáo về triều rằng: Binh sĩ và dân phu đã chết một nửa. Các ông tướng giải thích: Chúng chết vì bệnh tật.
Một chiếc tàu sân bay đi giữa biển thì không lo lính tráng mắc bệnh dịch. Nhưng nó sẽ phải lo đối phó với phi cơ chiến đấu của những nước trong vùng (Phi Luật Tân và Việt Nam chẳng hạn). Nếu chẳng may có chiến tranh, những máy bay của các nước bị Trung Quốc đe dọa có thể cất cánh từ những phi trường trên đất liền, được tiếp tế nhiên liệu và bom đạn ngay gần nơi chiến trường, chắc không yếu sức hơn những máy bay trên chiếc tầu sân bay (chữ tầu sân bay nghe giản dị hơn chữ hàng không mẫu hạm, mà lại là chữ Việt, rất nên dùng). Một chiếc tầu sân bay mà không có đủ một hạm đội hộ tống thì giống như con vịt lênh đênh trên mặt hồ làm đích cho máy bay bên địch tập bắn hoặc thả bom!
Chuyện tầu sân bay không đáng quan tâm. Cho nên muốn nói chuyện Trung Quốc bây giờ thì chuyện kinh tế đáng chú ý nhất; nó lớn hơn chuyện bà Cốc Khai Lai bị án tử hình treo! Kinh tế Trung Quốc đang chạy với tốc độ chậm chạp nhất kể từ 2009 đến nay. Với tình trạng kinh tế Mỹ vẫn chưa phục hồi sức khỏe, khu vực đồng euro đang khủng hoảng, hàng Trung Quốc bán ra chậm hơn, trong khi giới tiêu thụ trong nước vẫn chưa dư tiền tiêu xài. Kinh tế Trung Quốc đang trì trệ đáng lo ngại. Tuy hiện giờ tỷ lệ tăng trưởng vẫn là 7.6% một năm (trong ba tháng quý thứ nhì 2012), nhưng tốc độ giảm đột ngột nếu so sánh với tỷ lệ trên 10% trước đây khiến nhiều xí nghiệp xính vính.
Các xí nghiệp không tuyển thêm nhân viên và công nhân nữa. Số xuất cảng gần như đứng khựng lại không lên được. Nhập cảng cũng xuống, đáng kể nhất là các nguyên liệu như sắt dùng để chế thép. Bởi vì các công ty chỉ mua nguyên liệu và bộ phận về khi tin rằng sẽ bán được hàng; nay viễn ảnh bán hàng đang đen tối. Giá nhà cửa đã xuống đều đều từ khi ông Ôn Gia Bảo đạp chân thắng, hạn chế không cho mua căn nhà thứ hai; vì ông muốn chặn đứng đầu cơ trong thị trường địa ốc. Mối lo lắng về kinh tế khiến nhiều người chuyển tiền ra nước ngoài.
Một nguồn tăng trưởng quan trọng nhất của kinh tế Trung Quốc là nhờ xuất cảng. Trong Tháng Sáu, số xuất cảng đã tăng 11% so với tháng trước; sang Tháng Bẩy chỉ tăng 1% so với Tháng Sáu. Các công ty xuất cảng sử dụng hàng trăm triệu công nhân. Công nhân đang đòi lương cao hơn, trong khi hàng bán không tăng, nhiều xí nghiệp đã phá sản. Báo China Times (Trung Quốc Thời Báo) cho biết đang có 46 xưởng đóng tầu lo phá sản, vì số bán giảm mất một nửa. Sau tin báo động này, chắc chính phủ Bắc Kinh sẽ đem tiền ra cứu, nhưng cứu cho các xí nghiệp tiếp tục chạy mà hàng vẫn không bán được thì đúng là “Gánh vàng đi đổ sông Ngô!”
Trung Quốc được gọi là “nhà sản xuất của thế giới” (trong khi dân Mỹ được gọi là nhà tiêu thụ của thế giới). Nhưng vì số giấy đặt hàng giảm, số hàng chế hóa ở Trung Quốc trong bẩy tháng qua tăng với tốc độ chậm nhất, và sang Tháng Tám thì không tăng nữa mà bắt đầu giảm bớt. Người ta đo lường sức khỏe của ngành chế hóa (manufacturing) bằng một chỉ số. Trong Tháng Năm, chỉ số PMI là 50.4, sang Tháng Sáu xuống 50.2; qua Tháng Bẩy xuống nữa, thành 49.3; nhưng chỉ số PMI Tháng Tám tụt xuống nữa, chỉ còn 47.8. Chỉ số PMI (Purchasing Managers Index), do Ngân Hàng Hồng Kông Thượng Hải (HSBC) tính toán, khi PMI xuống dưới 50 là dấu hiệu số sản xuất sắp xuống.
HSBC là một ngân hàng tư quốc tế cho nên công bố các số thống kê. Chính phủ Bắc Kinh thì chỉ muốn che giấu. Ủy Ban An Ninh Công Cộng đã ra lệnh các thành phố không được công bố thống kê về số xe đăng bộ (car registration). Vì sợ người ta biết xe hơi đang ế hàng. Lần cuối cùng có số thống kê về các căn hộ trong chung cư (apartment) bỏ trống là năm 2008. Từ đó tới nay không có con số nào cả! Những các nhà báo ngoại quốc quen nghề điều tra kinh tế vẫn tiết lộ được tình cảnh trì trệ trong cả hai ngành, xe hơi và nhà cửa. Ðó là hai ngành ảnh hưởng mạnh nhất đến sức khỏe cả nền kinh tế (coi nước Mỹ thì biết). Bởi vì khi người ta mua xe mới thì không phải chỉ có các hãng xe kiếm lời mà tất cả các xí nghiệp lớn nhỏ cung cấp phụ tùng, bộ phận làm chiếc xe đều có cơm ăn. Mua nhà cũng vậy, ai cũng phải lo mắc điện, ống nước, sắm sửa đồ đạc và trang hoàng, tu bổ căn nhà.
Các nhà báo đi thăm những sàn bán xe (car dealers), hỏi chuyện mấy câu cũng thấy được là số xe ế được nằm ụ lên cao. Làm tính cộng lại, người ta thấy từ Tháng Mười Hai năm ngoái đến Tháng Sáu năm nay, số xe nằm ụ tăng từ 1.3 triệu lên 2.2 triệu. Số “tồn kho” tăng thêm là 900,000 chiếc xe, đã tăng hơn 70%. Cho nên các công ty sản xuất xe hiện chỉ hoạt động 65% sức sản xuất bình thường. Một xưởng làm xe phải hoạt động 80% mới hy vọng có lời. Các đô thị lớn ở Trung Quốc đang lo nạn kẹt xe, đã đưa ra nhiều biện pháp hạn chế việc mua xe, góp phần vào cảnh trị trệ của thị trường bán xe. Giá nhà cửa xuống thì ai cũng biết từ lâu, và các công ty xây cất cũng giảm bớt hoạt động. Công nhân ngành xây dựng đang mất việc.
Các công ty tư vấn kinh doanh đi nghiên cứu để cung cấp tài liệu cho giới đầu tư quốc tế cho biết kho chứa tất cả các thứ hàng hóa ở các nhà bán sỉ và bán lẻ đang tăng lên, vì hàng bán quá chậm; trong khi nhà sản xuất vẫn tống hàng đến cho họ. Số hàng tồn kho trong Tháng Tám tăng lên với một tốc độ cao nhất kể từ khi số thống kê này được chính phủ tính toán vào năm 2004. Phỏng vấn các nhà sản xuất và nhà buôn sỉ người ta được biết từ năm ngoái sang năm nay, số bán đã giảm trong nhiều mặt hàng: máy hút không khí ẩm (dehumidifiers), ống dẫn trong hệ thống quạt thông không khí (ventilation systems), bàn thu điện mặt trời (solar panels), đà thép làm trần nhà, và cả khăn vải trải giường nữa. Tất cả những món hàng trên liên hệ đến việc mua nhà hay xây nhà mới!
Chính quyền Bắc Kinh cố che đậy những nhược điểm trên đây để dân không lo lắng, hoảng hốt. Ngay phương pháp làm thống kê cũng được sửa đi sửa lại để che giấu cảnh xuống dốc. Nhưng chỗ nhược nặng nề nhất là trong hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng quốc doanh lớn nhất (nhà nước nắm đại đa số cổ phần) đều chồng chất nợ xấu, khó đòi được. Nhưng họ tìm cách làm cho các tỷ số nợ xấu giảm đi bằng trò phù thủy.
Thí dụ tại Ngân Hàng Công Thương (ICBC) năm 2004 có 21% số tiền cho vay được liệt kê là nợ xấu. Năm nay, tỷ lệ xuống chỉ còn 1%. Hai ngân hàng khác, Trung Quốc Ngân Hàng và Trung Quốc Kiến Thiết Ngân Hàng cũng có tỷ lệ 16% và 17% nợ xấu, nay chỉ còn 1% thôi? Làm cách nào các ngân hàng giảm bớt nợ xấu nhanh như vậy?
Nhìn vào sổ sách của ICBC thì người ta thấy ngân hàng này có một món tài sản lớn 313 tỷ đồng Nguyên, gọi là “Trái phiếu Hoa Dong.” Ðó là những trái phiếu do công ty tài chánh Hoa Dong Tư Sản Quản Lý Công Ty phát hành. Tức là ICBC mua trái phiếu của Hoa Dong, đưa 313 tỷ Nguyên cho họ.
Rồi sau đó, ngay lập tức công ty Hoa Dong bỏ tiền ra mua các món nợ xấu của ICBC. Thoáng một cái, số nợ xấu của ICBC biến gần hết. Hoa Dong mua của nợ về làm gì? Không ai cần biết, đòi nợ được thì đòi, không thì thôi. Vì đó là một công ty do Bộ Tài Chánh làm chủ quản! Tóm lại, đảng Cộng Sản Trung Quốc làm phép cho các món nợ xấu của các ngân hàng biến mất. Những nó chỉ chạy từ chỗ này sang chỗ khác mà thôi! Ðến khi các trái phiếu Hoa Dong đáo hạn, làm sao ICBC lấy lại được tiền đầu tư, sẽ tính sau!
Một thứ nợ xấu không bao giờ đòi được nữa là do các ngân hàng cho các chính phủ địa phương vay, trong chương trình “kích thích kinh tế” của Bắc Kinh, từ năm 2009. Tổng số tiền kích thích lên tới $1,500 tỷ. Phần lớn là các ngân hàng đưa cho các tỉnh, các huyện xây cất gì đó, không cần biết có cần hay không, và có ích lợi gì hay không. Xây dựng xưa nay vẫn là món chi tiêu dễ rút ruột nhất!
Cả nền kinh tế và hệ thống ngân hàng của Trung Quốc hiện nay như vậy đó. Ðó là một chiếc hàng không mẫu hạm đang bị lủng nhiều lỗ, không biết làm sao cứu. Tất nhiên, chính quyền cộng sản Trung Quốc vẫn còn tiền để bơm thêm cho kinh tế tiếp tục chạy, ít nhất từ đây cho đến cuối năm, khi Hồ Cẩm Ðào và Ôn Gia Bảo hết nhiệm kỳ. Nhưng sau đó, sẽ ra sao thì không biết được.
Ðây không phải là một tin vui đối với người Việt Nam cũng như người Mỹ. Nếu kinh tế Trung Quốc xuống thì cả thế giới cũng sẽ xuống, vì kinh tế Mỹ cũng như Châu Âu vẫn phải xuất cảng. Mà một nước nhập cảng nhiều hạng nhất hiện nay là Trung Quốc!
Ðiều người ta mong ước là kinh tế Trung Quốc sẽ xuống từ từ, đừng có sập nhanh quá. Chúng ta chúc dân Trung Hoa gặp nhiều may mắn. Và xin đừng giở trò đem tàu máy bay ra dọa láng giềng nữa. Dọa làm gì, vô ích. Năm 1078, sau khi một nửa số quân sĩ nhà Tống chết (vì bệnh thời khí!) và một nửa còn lại “khai bệnh,” Tống Thần Tông đã cho rút quân về ngay. Bởi vì lúc đó nhà Tống cũng đang lo quân nước Tây Hạ và nước Liêu tấn công. Ðảng Cộng Sản Trung Quốc nên để sức lo kinh tế hơn là đi hăm dọa các nước láng giềng!
-
nguyennam619
- Posts: 238
- Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am
Ðấu đá ở thượng tầng trong đảng CSVN tăng cường độ
HÀ NỘI (NV) - Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa. Không phải chỉ người Việt Nam ở trong nước nhìn thấy những dấu hiệu bất bình thường
ít khi lộ diện ở thượng tầng quyền lực đảng CSVN, giới chuyên gia ngoại quốc theo dõi chuyện Việt Nam cũng nhìn thấy ngay sự việc.
Ông Nguyễn Ðức Kiên, tức bầu Kiên, người có nhiều cổ phần tại một số ngân hàng ở Việt Nam, được coi là nhân vật thân cận
với Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, bị bắt ngày 21 tháng 8 với cáo buộc kinh doanh tài chính “bất hợp pháp.”
(Hình: STR/AFP/Getty Images)
Ngày Thứ Ba, 21 tháng 8, ông Nguyễn Ðức Kiên, tức bầu Kiên, cựu phó chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị Ngân Hàng Á Châu (ACB), người có nhiều cổ phần tại một số ngân hàng thương mại tại Việt Nam, bị bắt giam với cáo buộc kinh doanh tài chính “bất hợp pháp.” Ba ngày sau, ông Lý Xuân Hải, tổng giám đốc ACB, bị bắt theo với cáo buộc “cố ý làm trái các quy định về quản lý tài chính...”
Những tin đồn đãi râm ran từ nhiều tháng qua về một số người trong hậu trường thâu tóm một số ngân hàng, trong đó nổi lên những tên như bầu Kiên, Trầm Bê, Nguyễn Thanh Phượng, Nguyễn Văn Hưởng, lũng đoạn thị trường tài chính tại Việt Nam.
Ðằng sau những tên tuổi vừa kể là “ông bầu” Nguyễn Tấn Dũng, tức đương kim thủ tướng.
Việc bắt giữ bầu Kiên và Tổng Giám Ðốc Lý Xuân Hải gây rúng động cả nước. Thị trường chứng khoán hoảng loạn. Người có tiền ký thác tại ngân hàng ACB và một số ngân hàng khác dính tới tên bầu Kiên hoảng loạn.
Chỉ trong ba ngày, thị trường chứng khoán tại Việt Nam mất giá trị khoảng $5.62 tỉ. Cổ phiếu của ngân hàng ACB mất đến 20% trị giá. Thiên hạ nối đuôi nhau rút tiền ra khỏi ACB và nói chung cả hệ thống ngân hàng. Tin tức cho hay, chỉ trong bốn ngày, từ 21 đến 24 tháng 8, Ngân Hàng Nhà Nước đã phải bơm tới 23,310 tỉ đồng (tương đương khoảng $1.12 tỉ) nhằm cung ứng cho hệ thống ngân hàng thương mại khỏi sụp đổ.
Các tội trạng của bầu Kiên và ông Lý Xuân Hải mới chỉ được đề cập tổng quát, cần chờ thêm ít ngày nữa, người ta hy vọng hệ thống báo đài nhà nước mới bật mí các “phi vụ” của hai người này, để thiên hạ biết rõ hơn.
Nhưng bầu Kiên, người xưa nay được mô tả là một nhân vật thân cận với ông thủ tướng và con gái của ông, là Nguyễn Thanh Phượng, thì không thể dễ dàng bị đạp cho ngã ngựa. Phải có một áp lực nào đó đủ mạnh mới làm nổi.
Theo nhận định của hãng thông tấn AFP, ông Nguyễn Tấn Dũng là người thủ tướng thâu tóm được nhiều quyền lực nhất, mạnh nhất trong số các thủ tướng trong chế độ độc tài đảng trị ở Việt Nam. Ông Dũng là một trong những người cổ võ cho kế hoạch thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam “tiến lên xã hội chủ nghĩa đầu ngô mình sở” theo kiểu lập những tập đoàn kinh tế nhà nước thật mạnh, bắt chước các tập đoàn kinh tế của Nam Hàn.
Tuy nhiên, khi có chỗ dựa ngon lành và nguồn tiền bất tận, đám tay chân của ông Dũng lợi dụng cơ hội để tham nhũng, ăn cắp của công, biến các tập đoàn, tổng công ty quốc doanh thành những “sân sau” toàn là “lời giả, lỗ thật.” Vinashin, Vinalines, tập đoàn điện lực EVN, tập đoàn Than-Khoáng Sản TKV và những đại gia khác, khi bới ra đều chỉ là những núi rác khổng lồ che phủ bên ngoài bằng cái vỏ hào nhoáng.
Nhờ khéo léo dụ dỗ, và khi thấy mức tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hàng năm hơn 7%, giới đầu tư ngoại quốc hăm hở dồn đến Việt Nam. Trong đó, ngân hàng Standard Chartered Bank của Anh mua 15% cổ phần của ACB. Nhưng năm ngoái, có lúc lạm phát lên hơn 23%, xuất cảng giảm sút nghiêm trọng, nền kinh tế Việt Nam sáu tháng đầu năm nay chỉ đạt 4.4%. Ðầu tư ngoại quốc vào Việt Nam giảm mất 30% so với cùng thời kỳ nửa đầu năm ngoái. Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam người ta chỉ biết là rất cao, rất nguy hiểm, nhưng không ai biết đích thực bao nhiêu vì sự thật luôn luôn được che đậy.
Người gián tiếp đả kích người cầm đầu guồng máy kinh tế tài chính (ông Dũng) là Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang. Nhiều hơn một lần, ông chủ tịch nước đả kích ông thủ tướng về các sai trái trong guồng máy điều hành đất nước.
Trong bài diễn văn đọc ngày 23 tháng 8, ông Trương Tấn Sang nói về “những đổ vỡ, kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước,” về cái thứ luật lệ đã đẻ ra những vụ chống đối ở Tiên Lãng (Hải Phòng), Văn Giang (Hưng Yên), Vụ Bản (Nam Ðịnh).
Một đất nước được điều hành bởi những “nhóm lợi ích” chỉ chú ý tới đặc quyền đặc lợi của mình cho nên “như cái chăn ấm vô tình kéo sang bên này thì bên kia lạnh.”
AFP thuật lời nhận định của ông Carl Thayer, chuyên viên các vấn đề Việt Nam của Học Viện Quốc Phòng Hoàng Gia Úc, cho rằng một giai đoạn mới về đấu đá tranh giành quyền lực đang diễn ra ở thượng tầng đảng CSVN. Theo ông “chiến trường” chính là cải cách kinh tế và sự trung thực bao gồm luôn cả hệ thống quốc doanh và ngân hàng cũng như phải trừ diệt các ổ tham nhũng nằm ở khắp nơi.
Ông Thayer cho rằng hai ông Trương Tấn Sang và Nguyễn Phú Trọng (tổng bí thư đảng CSVN) đang lập lại những kêu gọi đánh tham nhũng vốn là một trong những đe dọa chính có khả năng “chôn” đảng độc tài này. Nhưng có vẻ như không đủ thế.
Những cuộc biểu tình ở Văn Giang, Vụ Bản, tiếng súng hoa cải chống đối ở Tiên Lãng tuy làm chế độ giật mình nhưng không được hưởng ứng nhanh chóng và đồng loạt nên không có tác dụng lật được chế độ.
Khi vụ Vinashin bùng nổ hồi năm 2010, một số đại biểu đòi bỏ phiếu bất tín nhiệm ông thủ tướng ở Quốc Hội thì những người này vài tháng sau bị cưa ghế. Ông Dũng chỉ ra trước Quốc Hội nói vài lời “nhận trách nhiệm” là xong. Nay bầu Kiên, tay chân của ông Dũng, có bị đánh ngã cũng vẫn không đủ làm té ông thủ tướng.
Bầu Kiên sẽ không phải là người cuối cùng bị lôi vào tù trong cuộc đấu đá quyền lực ở Hà Nội, theo ý kiến ông Thayer.
HÀ NỘI (NV) - Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa. Không phải chỉ người Việt Nam ở trong nước nhìn thấy những dấu hiệu bất bình thường
ít khi lộ diện ở thượng tầng quyền lực đảng CSVN, giới chuyên gia ngoại quốc theo dõi chuyện Việt Nam cũng nhìn thấy ngay sự việc.
Ông Nguyễn Ðức Kiên, tức bầu Kiên, người có nhiều cổ phần tại một số ngân hàng ở Việt Nam, được coi là nhân vật thân cận
với Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, bị bắt ngày 21 tháng 8 với cáo buộc kinh doanh tài chính “bất hợp pháp.”
(Hình: STR/AFP/Getty Images)
Ngày Thứ Ba, 21 tháng 8, ông Nguyễn Ðức Kiên, tức bầu Kiên, cựu phó chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị Ngân Hàng Á Châu (ACB), người có nhiều cổ phần tại một số ngân hàng thương mại tại Việt Nam, bị bắt giam với cáo buộc kinh doanh tài chính “bất hợp pháp.” Ba ngày sau, ông Lý Xuân Hải, tổng giám đốc ACB, bị bắt theo với cáo buộc “cố ý làm trái các quy định về quản lý tài chính...”
Những tin đồn đãi râm ran từ nhiều tháng qua về một số người trong hậu trường thâu tóm một số ngân hàng, trong đó nổi lên những tên như bầu Kiên, Trầm Bê, Nguyễn Thanh Phượng, Nguyễn Văn Hưởng, lũng đoạn thị trường tài chính tại Việt Nam.
Ðằng sau những tên tuổi vừa kể là “ông bầu” Nguyễn Tấn Dũng, tức đương kim thủ tướng.
Việc bắt giữ bầu Kiên và Tổng Giám Ðốc Lý Xuân Hải gây rúng động cả nước. Thị trường chứng khoán hoảng loạn. Người có tiền ký thác tại ngân hàng ACB và một số ngân hàng khác dính tới tên bầu Kiên hoảng loạn.
Chỉ trong ba ngày, thị trường chứng khoán tại Việt Nam mất giá trị khoảng $5.62 tỉ. Cổ phiếu của ngân hàng ACB mất đến 20% trị giá. Thiên hạ nối đuôi nhau rút tiền ra khỏi ACB và nói chung cả hệ thống ngân hàng. Tin tức cho hay, chỉ trong bốn ngày, từ 21 đến 24 tháng 8, Ngân Hàng Nhà Nước đã phải bơm tới 23,310 tỉ đồng (tương đương khoảng $1.12 tỉ) nhằm cung ứng cho hệ thống ngân hàng thương mại khỏi sụp đổ.
Các tội trạng của bầu Kiên và ông Lý Xuân Hải mới chỉ được đề cập tổng quát, cần chờ thêm ít ngày nữa, người ta hy vọng hệ thống báo đài nhà nước mới bật mí các “phi vụ” của hai người này, để thiên hạ biết rõ hơn.
Nhưng bầu Kiên, người xưa nay được mô tả là một nhân vật thân cận với ông thủ tướng và con gái của ông, là Nguyễn Thanh Phượng, thì không thể dễ dàng bị đạp cho ngã ngựa. Phải có một áp lực nào đó đủ mạnh mới làm nổi.
Theo nhận định của hãng thông tấn AFP, ông Nguyễn Tấn Dũng là người thủ tướng thâu tóm được nhiều quyền lực nhất, mạnh nhất trong số các thủ tướng trong chế độ độc tài đảng trị ở Việt Nam. Ông Dũng là một trong những người cổ võ cho kế hoạch thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam “tiến lên xã hội chủ nghĩa đầu ngô mình sở” theo kiểu lập những tập đoàn kinh tế nhà nước thật mạnh, bắt chước các tập đoàn kinh tế của Nam Hàn.
Tuy nhiên, khi có chỗ dựa ngon lành và nguồn tiền bất tận, đám tay chân của ông Dũng lợi dụng cơ hội để tham nhũng, ăn cắp của công, biến các tập đoàn, tổng công ty quốc doanh thành những “sân sau” toàn là “lời giả, lỗ thật.” Vinashin, Vinalines, tập đoàn điện lực EVN, tập đoàn Than-Khoáng Sản TKV và những đại gia khác, khi bới ra đều chỉ là những núi rác khổng lồ che phủ bên ngoài bằng cái vỏ hào nhoáng.
Nhờ khéo léo dụ dỗ, và khi thấy mức tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hàng năm hơn 7%, giới đầu tư ngoại quốc hăm hở dồn đến Việt Nam. Trong đó, ngân hàng Standard Chartered Bank của Anh mua 15% cổ phần của ACB. Nhưng năm ngoái, có lúc lạm phát lên hơn 23%, xuất cảng giảm sút nghiêm trọng, nền kinh tế Việt Nam sáu tháng đầu năm nay chỉ đạt 4.4%. Ðầu tư ngoại quốc vào Việt Nam giảm mất 30% so với cùng thời kỳ nửa đầu năm ngoái. Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam người ta chỉ biết là rất cao, rất nguy hiểm, nhưng không ai biết đích thực bao nhiêu vì sự thật luôn luôn được che đậy.
Người gián tiếp đả kích người cầm đầu guồng máy kinh tế tài chính (ông Dũng) là Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang. Nhiều hơn một lần, ông chủ tịch nước đả kích ông thủ tướng về các sai trái trong guồng máy điều hành đất nước.
Trong bài diễn văn đọc ngày 23 tháng 8, ông Trương Tấn Sang nói về “những đổ vỡ, kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước,” về cái thứ luật lệ đã đẻ ra những vụ chống đối ở Tiên Lãng (Hải Phòng), Văn Giang (Hưng Yên), Vụ Bản (Nam Ðịnh).
Một đất nước được điều hành bởi những “nhóm lợi ích” chỉ chú ý tới đặc quyền đặc lợi của mình cho nên “như cái chăn ấm vô tình kéo sang bên này thì bên kia lạnh.”
AFP thuật lời nhận định của ông Carl Thayer, chuyên viên các vấn đề Việt Nam của Học Viện Quốc Phòng Hoàng Gia Úc, cho rằng một giai đoạn mới về đấu đá tranh giành quyền lực đang diễn ra ở thượng tầng đảng CSVN. Theo ông “chiến trường” chính là cải cách kinh tế và sự trung thực bao gồm luôn cả hệ thống quốc doanh và ngân hàng cũng như phải trừ diệt các ổ tham nhũng nằm ở khắp nơi.
Ông Thayer cho rằng hai ông Trương Tấn Sang và Nguyễn Phú Trọng (tổng bí thư đảng CSVN) đang lập lại những kêu gọi đánh tham nhũng vốn là một trong những đe dọa chính có khả năng “chôn” đảng độc tài này. Nhưng có vẻ như không đủ thế.
Những cuộc biểu tình ở Văn Giang, Vụ Bản, tiếng súng hoa cải chống đối ở Tiên Lãng tuy làm chế độ giật mình nhưng không được hưởng ứng nhanh chóng và đồng loạt nên không có tác dụng lật được chế độ.
Khi vụ Vinashin bùng nổ hồi năm 2010, một số đại biểu đòi bỏ phiếu bất tín nhiệm ông thủ tướng ở Quốc Hội thì những người này vài tháng sau bị cưa ghế. Ông Dũng chỉ ra trước Quốc Hội nói vài lời “nhận trách nhiệm” là xong. Nay bầu Kiên, tay chân của ông Dũng, có bị đánh ngã cũng vẫn không đủ làm té ông thủ tướng.
Bầu Kiên sẽ không phải là người cuối cùng bị lôi vào tù trong cuộc đấu đá quyền lực ở Hà Nội, theo ý kiến ông Thayer.
Ngoài hoa kỳ không ai đủ khả năng
Đương đầu với thế lực hung hăng trung cộng
LÝĐẠINGUYÊN
Một sự kiện chính trị có ý nghĩa biểu tượng của giai đoạn mới tại Việtnnam. Ngày 17/08/2012, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Hoakỳ tại Việtnam, ông David Shear và phái đoàn đã có chuyến thăm và thảo luận với hai nhân vật tiêu biểu của khối người “Không Chấp Nhận Chế Độ Cộng Sản Việtnam” tại Saigòn. Khác với những người phản tỉnh, phản kháng, hay là đối lập với nhà cầm quyền Hànội đương nhiệm, mà các viên chức Mỹ thường gặp. Đó là vị lãnh đạo Đại Khối Dân Chúng Phật Tử Việtnam, Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất - Một Giáo Hội Truyền Thống Dân Lập – Bị cấm sinh hoạt. Ngài đã bị Đảng và Nhà Nước Việtcộng đàn áp cầm tù nhiều năm, nay còn đang bị quản chế dài hạn tại Thanh Minh Thiền Viện. Hai là người sáng lập Cao Trào Nhân Bản, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, cựu tù nhân lương tâm, vẫn còn bị giam lỏng tại gia. Đại sứ David Shear được mô tả là đã tái khẳng định lập trường của Mỹ về Nhân Quyền và Dân Chủ Hóa Việtnam với 2 vị nói trên.
Thực ra Hoakỳ đã nhập nội Việtnam, biến Mỹ thành một đối tác không thể thiếu của Việtnam, cả về kinh tế lẫn hợp tác quốc phòng đã được nâng lên tầm cao. Nhưng về mặt chính trị, Mỹ- Việt vẫn không thể là Đồng Minh của nhau, dù tình thế ở Biển Đông hiện nay, Việtnam rất cần trở thành Đồng Minh Chiến Lược của Mỹ, để được “Đứng Trong Chiếc Dù An Ninh” của Mỹ, như Philippines, Nam Hàn, Nhật Bản, Đàiloan…nhằm ngăn thế lực xâm lăng, bành trướng của Trungcộng. Sở dĩ các nước trên đây dễ dàng là Đồng Minh của Mỹ, vì họ là các nước Dân Chủ, còn Việtnam vẫn chỉ là một nước Cộng Sản Độc Tài Toàn Trị, nên dù muốn và cần, chính quyền Mỹ cũng không thể qua mặt Quốc Hội và Công Luận Mỹ để viện trợ Quân Sự, hay là bán những võ khí sát thương tối tân cho một nước Cộng Sản, vẫn còn là Đồng Chí trung thành với Trung Cộng, một cường quốc đầy tham vọng Đế Quốc Bành Trướng hiện nay được.
Nhưng vì nhu cầu chuyển trục chiến lược toàn cầu của Mỹ từ Tây sang Đông, Hoakỳ rất cần có Việtnam đủ mạnh, rồi cùng với khối Asean có sức hóa giải tham vọng bành trướng của Bắc Kinh. Chính vì vậy mà chính quyền Mỹ đã từng bước dùng kinh tế, tài chánh, văn hóa và cả quốc phòng, nhằm kéo Việtnam từ từ ra khỏi sự lệ thuộc trực tiếp vào Trung cộng. Nhưng Việtcộng vì tham nhũng, ngu dốt, độc ác đã tự biến thành kẻ thù của toàn dân, rồi nhìn đâu cũng thấy toàn là kẻ địch cần phải tiêu diệt, nên đảngViệt cộng vẫn phải dựa vào Trung Cộng để Vi Phạm Nhân Quyền một cách có hệ thống, trầm trọng. Cuối cùng Hoa Kỳ buộc phải đặt điều kiện duy nhất cho Việtcộng là phải thực sự tôn trọng nhân quyền của chính dân chúng mình thì Mỹ mới có thể tiếp giúp toàn diện cho Việtnam về mặt võ lực được. Ngoài các Thượng Nghị Sĩ Mỹ gợi ý, đặt ưu tiên về Nhân Quyền để cung cấp võ khí cho cộng sản Việtnam, ngày 01/ 02//2012, trợ lý ngoại trưởng Mỹ, đặc trách Á châu- Thái Bình Dương, Kurt Campbell tới thăm Việtnam đã nhấn mạnh rằng: “Muốn Hoakỳ và Việtnam tiến đến một tầm cao mới thì cần phải có những bước có ý nghiã về phiá Việtnam, là giải quyết quan ngại về Nhân Quyền, những thách thức có hệ thống liên hệ đến tự do bày tỏ ý kiến và tự do tổ chức”.
Trung cộng có thể rộng tay để yên cho chính phủ Hànộì trở thành đối tác kinh tế, liên hệ quốc phòng rộng rãi với Mỹ, còn về mặt Nhân Quyền thì đây là tử huyệt của Việtcộng và cũng là tử huyệt của Trungcộng, nên Trungcộng không những cố vấn cho Việtcộng, mà còn có thể trực tiếp hợp tác với các cơ quan an ninh đảng và chính quyền các cấp để thẳng tay đàn áp nhân quyền, một cách có hệ thống và theo quán tính căm thù của người cộng sản nữa. Thế nên mặc cho chính phủ, chính giơí, dư luận Hoakỳ, và công luận Quốc Tế có lớn tiếng lên án Việtcộng đàn áp bỏ tù hàng loạt những nhà đấu tranh cho dân chủ, những blogger đòi tự do ngôn luận, công bằng và công lý cho toàn dân. Dù rằng hàng năm Hoa Kỳ và Việtcộng có các cuộc đối thoại thường xuyên về nhân quyền, nhưng cũng chỉ để nói cho qua chuyện. Rõ ràng là Trung cộng đang dùng mối sợ hãi của bọn tay sai Việtcộng về việc “Tôn Trọng Nhân Quyền” để cản trở mối bang giao Mỹ - Việt. Phải chăng ông đại sứ Mỹ tại Việtnam, người trực tiếp thực hiện chính sách Mỹ tại Việtnam đang phá thế “cản chân Mỹ của Trungcộng” bằng cách đến nói trực tiếp với các thế lực của toàn dân Việtnam, qua vị lãnh đạo tinh thần tôn giáo và người đứng đầu một phong trào chính trị, để khẳng định rằng: “Đường lối của Hoakỳ là nhất quán: Quan hệ Kinh Tế, Quân Sự phải đi kèm với Dân Chủ và Nhân Quyền”.
Trong cuộc phỏng vấn của phóng viên Ỷ Lan, Đài RFA, Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ chân tình lên tiếng: “Tôi cũng nói với ông Đại Sứ, và ông cũng đồng ý, về vấn đề Biển Đông: Bây giờ ngoài Hoa kỳ ra thì không ai có khả năng đương đầu với thế lực hung hăng của Trung Quốc hiện giờ. Nói cho đúng ra thì (Mỹ) cũng có quyền lợi ở Biển Đông. Nếu Biển Đông mất thì cũng kẹt cho Hoakỳ. Sự lưu thông ở Biển Đông nhất định là trở ngại. Thành ra Hoakỳ có giúp Viêtnam thì cũng như tự giúp mình nữa thôi. Chứ không chỉ toàn giúp Việtnam không”. “Ông chủ tịch Trương Tấn Sang nói, trước đây có một vài con sâu, bây giờ có cả một bày sâu. Bây giờ để cho nó phát triển ra một đoàn sâu thì chết. Như vậy là ông chủ tịch nước đã thấy vấn đề, đã thấy vấn đề rồi chắc chắn cũng phải lo. Lo không cái gì hơn là thật sự bắt tay với Hoakỳ. Ngoài Hoakỳ ra không thể nhờ ai được đâu. Bây giờ thực sự muốn giao thiệp lâu dài, kết bạn lâu dài là phải Dân Chủ Hoá chứ không còn con đường nào khác. Trước sau gì rồi cũng phải dân chủ hoá”.
Dân chủ hóa là việc phải tới với Việtnam và tới với Toàn Cầu. Nhưng khi chính quyền còn trong tay bọn Việtcộng thì họ vẫn tìm mọi cách để kéo dài thời gian cầm quyền của họ, được bao nhiêu, hay bấy nhìêu. Hiện nay đảng Việtcộng đang phát động phong trào “Phê Bình và Tự Phê Bình’ để Thanh Trừng Đảng Viên từ Bộ Chính Trị đổ xuống. Nhưng tuyệt đối họ không nhắc tới Đại Họa Trung Cộng đang Bành Trướng ở Biển Đông và Tàm Thực Trên Toàn Cõi Việtnam. Như vậy rõ ràng, cánh thân Trung Cộng đang nắm quyền uy của đảng, nhân danh “Chống Tham Nhũng”, “Củng Cố Đảng” để làm tay sai cho Trungcộng, nhằm chống chủ trương Dân Chủ Hóa Việtnam, Đông Nam Á và Toàn Cầu, chống kế hoạch chuyển trọng tâm chiến lược toàn cầu của Mỹ từ Tây sang Đông để ngăn Bành Trướng Trung Cộng, buộc Trung Hoa phải Dân Chủ Hoá để trở thành một cường quốc có trách nhiệm với Hoà Bình, An Ninh Á Châu và Toàn Thế Giới. Đây là thách thức hàng đầu của Hoakỳ trong lúc này, và đó cũng là ý nghĩa của cuộc gặp và thảo luận của ông đại sứ Mỹ, David Shear với Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ và chính tri gia, Bs Nguyễn Đan Quế ở Saigòn.
Đương đầu với thế lực hung hăng trung cộng
LÝĐẠINGUYÊN
Một sự kiện chính trị có ý nghĩa biểu tượng của giai đoạn mới tại Việtnnam. Ngày 17/08/2012, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Hoakỳ tại Việtnam, ông David Shear và phái đoàn đã có chuyến thăm và thảo luận với hai nhân vật tiêu biểu của khối người “Không Chấp Nhận Chế Độ Cộng Sản Việtnam” tại Saigòn. Khác với những người phản tỉnh, phản kháng, hay là đối lập với nhà cầm quyền Hànội đương nhiệm, mà các viên chức Mỹ thường gặp. Đó là vị lãnh đạo Đại Khối Dân Chúng Phật Tử Việtnam, Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất - Một Giáo Hội Truyền Thống Dân Lập – Bị cấm sinh hoạt. Ngài đã bị Đảng và Nhà Nước Việtcộng đàn áp cầm tù nhiều năm, nay còn đang bị quản chế dài hạn tại Thanh Minh Thiền Viện. Hai là người sáng lập Cao Trào Nhân Bản, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, cựu tù nhân lương tâm, vẫn còn bị giam lỏng tại gia. Đại sứ David Shear được mô tả là đã tái khẳng định lập trường của Mỹ về Nhân Quyền và Dân Chủ Hóa Việtnam với 2 vị nói trên.
Thực ra Hoakỳ đã nhập nội Việtnam, biến Mỹ thành một đối tác không thể thiếu của Việtnam, cả về kinh tế lẫn hợp tác quốc phòng đã được nâng lên tầm cao. Nhưng về mặt chính trị, Mỹ- Việt vẫn không thể là Đồng Minh của nhau, dù tình thế ở Biển Đông hiện nay, Việtnam rất cần trở thành Đồng Minh Chiến Lược của Mỹ, để được “Đứng Trong Chiếc Dù An Ninh” của Mỹ, như Philippines, Nam Hàn, Nhật Bản, Đàiloan…nhằm ngăn thế lực xâm lăng, bành trướng của Trungcộng. Sở dĩ các nước trên đây dễ dàng là Đồng Minh của Mỹ, vì họ là các nước Dân Chủ, còn Việtnam vẫn chỉ là một nước Cộng Sản Độc Tài Toàn Trị, nên dù muốn và cần, chính quyền Mỹ cũng không thể qua mặt Quốc Hội và Công Luận Mỹ để viện trợ Quân Sự, hay là bán những võ khí sát thương tối tân cho một nước Cộng Sản, vẫn còn là Đồng Chí trung thành với Trung Cộng, một cường quốc đầy tham vọng Đế Quốc Bành Trướng hiện nay được.
Nhưng vì nhu cầu chuyển trục chiến lược toàn cầu của Mỹ từ Tây sang Đông, Hoakỳ rất cần có Việtnam đủ mạnh, rồi cùng với khối Asean có sức hóa giải tham vọng bành trướng của Bắc Kinh. Chính vì vậy mà chính quyền Mỹ đã từng bước dùng kinh tế, tài chánh, văn hóa và cả quốc phòng, nhằm kéo Việtnam từ từ ra khỏi sự lệ thuộc trực tiếp vào Trung cộng. Nhưng Việtcộng vì tham nhũng, ngu dốt, độc ác đã tự biến thành kẻ thù của toàn dân, rồi nhìn đâu cũng thấy toàn là kẻ địch cần phải tiêu diệt, nên đảngViệt cộng vẫn phải dựa vào Trung Cộng để Vi Phạm Nhân Quyền một cách có hệ thống, trầm trọng. Cuối cùng Hoa Kỳ buộc phải đặt điều kiện duy nhất cho Việtcộng là phải thực sự tôn trọng nhân quyền của chính dân chúng mình thì Mỹ mới có thể tiếp giúp toàn diện cho Việtnam về mặt võ lực được. Ngoài các Thượng Nghị Sĩ Mỹ gợi ý, đặt ưu tiên về Nhân Quyền để cung cấp võ khí cho cộng sản Việtnam, ngày 01/ 02//2012, trợ lý ngoại trưởng Mỹ, đặc trách Á châu- Thái Bình Dương, Kurt Campbell tới thăm Việtnam đã nhấn mạnh rằng: “Muốn Hoakỳ và Việtnam tiến đến một tầm cao mới thì cần phải có những bước có ý nghiã về phiá Việtnam, là giải quyết quan ngại về Nhân Quyền, những thách thức có hệ thống liên hệ đến tự do bày tỏ ý kiến và tự do tổ chức”.
Trung cộng có thể rộng tay để yên cho chính phủ Hànộì trở thành đối tác kinh tế, liên hệ quốc phòng rộng rãi với Mỹ, còn về mặt Nhân Quyền thì đây là tử huyệt của Việtcộng và cũng là tử huyệt của Trungcộng, nên Trungcộng không những cố vấn cho Việtcộng, mà còn có thể trực tiếp hợp tác với các cơ quan an ninh đảng và chính quyền các cấp để thẳng tay đàn áp nhân quyền, một cách có hệ thống và theo quán tính căm thù của người cộng sản nữa. Thế nên mặc cho chính phủ, chính giơí, dư luận Hoakỳ, và công luận Quốc Tế có lớn tiếng lên án Việtcộng đàn áp bỏ tù hàng loạt những nhà đấu tranh cho dân chủ, những blogger đòi tự do ngôn luận, công bằng và công lý cho toàn dân. Dù rằng hàng năm Hoa Kỳ và Việtcộng có các cuộc đối thoại thường xuyên về nhân quyền, nhưng cũng chỉ để nói cho qua chuyện. Rõ ràng là Trung cộng đang dùng mối sợ hãi của bọn tay sai Việtcộng về việc “Tôn Trọng Nhân Quyền” để cản trở mối bang giao Mỹ - Việt. Phải chăng ông đại sứ Mỹ tại Việtnam, người trực tiếp thực hiện chính sách Mỹ tại Việtnam đang phá thế “cản chân Mỹ của Trungcộng” bằng cách đến nói trực tiếp với các thế lực của toàn dân Việtnam, qua vị lãnh đạo tinh thần tôn giáo và người đứng đầu một phong trào chính trị, để khẳng định rằng: “Đường lối của Hoakỳ là nhất quán: Quan hệ Kinh Tế, Quân Sự phải đi kèm với Dân Chủ và Nhân Quyền”.
Trong cuộc phỏng vấn của phóng viên Ỷ Lan, Đài RFA, Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ chân tình lên tiếng: “Tôi cũng nói với ông Đại Sứ, và ông cũng đồng ý, về vấn đề Biển Đông: Bây giờ ngoài Hoa kỳ ra thì không ai có khả năng đương đầu với thế lực hung hăng của Trung Quốc hiện giờ. Nói cho đúng ra thì (Mỹ) cũng có quyền lợi ở Biển Đông. Nếu Biển Đông mất thì cũng kẹt cho Hoakỳ. Sự lưu thông ở Biển Đông nhất định là trở ngại. Thành ra Hoakỳ có giúp Viêtnam thì cũng như tự giúp mình nữa thôi. Chứ không chỉ toàn giúp Việtnam không”. “Ông chủ tịch Trương Tấn Sang nói, trước đây có một vài con sâu, bây giờ có cả một bày sâu. Bây giờ để cho nó phát triển ra một đoàn sâu thì chết. Như vậy là ông chủ tịch nước đã thấy vấn đề, đã thấy vấn đề rồi chắc chắn cũng phải lo. Lo không cái gì hơn là thật sự bắt tay với Hoakỳ. Ngoài Hoakỳ ra không thể nhờ ai được đâu. Bây giờ thực sự muốn giao thiệp lâu dài, kết bạn lâu dài là phải Dân Chủ Hoá chứ không còn con đường nào khác. Trước sau gì rồi cũng phải dân chủ hoá”.
Dân chủ hóa là việc phải tới với Việtnam và tới với Toàn Cầu. Nhưng khi chính quyền còn trong tay bọn Việtcộng thì họ vẫn tìm mọi cách để kéo dài thời gian cầm quyền của họ, được bao nhiêu, hay bấy nhìêu. Hiện nay đảng Việtcộng đang phát động phong trào “Phê Bình và Tự Phê Bình’ để Thanh Trừng Đảng Viên từ Bộ Chính Trị đổ xuống. Nhưng tuyệt đối họ không nhắc tới Đại Họa Trung Cộng đang Bành Trướng ở Biển Đông và Tàm Thực Trên Toàn Cõi Việtnam. Như vậy rõ ràng, cánh thân Trung Cộng đang nắm quyền uy của đảng, nhân danh “Chống Tham Nhũng”, “Củng Cố Đảng” để làm tay sai cho Trungcộng, nhằm chống chủ trương Dân Chủ Hóa Việtnam, Đông Nam Á và Toàn Cầu, chống kế hoạch chuyển trọng tâm chiến lược toàn cầu của Mỹ từ Tây sang Đông để ngăn Bành Trướng Trung Cộng, buộc Trung Hoa phải Dân Chủ Hoá để trở thành một cường quốc có trách nhiệm với Hoà Bình, An Ninh Á Châu và Toàn Thế Giới. Đây là thách thức hàng đầu của Hoakỳ trong lúc này, và đó cũng là ý nghĩa của cuộc gặp và thảo luận của ông đại sứ Mỹ, David Shear với Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ và chính tri gia, Bs Nguyễn Đan Quế ở Saigòn.
Báo Trung Quốc cáo buộc Mỹ gây rối khu vực
Truyền thông Trung Quốc khẳng định chuyến thăm châu Á sắp tới của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton
là nhằm "kiềm chế" Bắc Kinh và cáo buộc Washington gây rắc rối trong khu vực.

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton sắp có chuyến thăm châu Á. Ảnh minh họa: AP
Bài bình luận do Tân Hoa xã đăng tải hôm qua trước thềm chuyến công du khu vực của bà Clinton đã bày tỏ những quan ngại về "chính sách chuyển trọng tâm sang châu Á" của Mỹ.
Bài báo có đoạn: "Một mục tiêu trong chuyến công du của bà Clinton là nhằm kiềm chế tầm ảnh hưởng đang lên của Trung Quốc, song trọng tâm trong chiến lược của Mỹ là nhằm bảo vệ địa vị thống trị cũng như quyền bá chủ của Washington tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương".
Ngoài ra, bài bình luận còn cáo buộc Mỹ âm mưu hưởng lợi từ các tranh chấp lãnh thổ giữa các nước châu Á và khiến các nước khác xa lánh Trung Quốc.
"Cách tiếp cận của Washington là không có lợi cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp cũng như sự ổn định và hòa bình trong khu vực. Mỹ âm mưu hưởng lợi từ việc khuấy động các tranh chấp giữa các nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, qua đó Washington muốn khôi phục quyền bá chủ trong khu vực", bài báo nêu rõ.
Bài báo còn nhận định rằng Mỹ cần chấp nhận sức mạnh của họ đang mai một và khẳng định rằng Washington đã "không khôn ngoan" khi coi Trung Quốc là đối thủ.
Trong chuyến công du châu Á lần thứ ba kể từ tháng 5, bà Clinton dự kiến sẽ cảnh báo Trung Quốc cùng các nước láng giềng của Bắc Kinh về việc sử dụng vũ lực trong bối cảnh căng thẳng leo thang về tranh chấp trên biển. Bà Clinton cũng sẽ tới thủ đô Bắc Kinh vào tuần tới để gặp người đồng cấp Trung Quốc Dương Khiết Trì.
Truyền thông Trung Quốc khẳng định chuyến thăm châu Á sắp tới của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton
là nhằm "kiềm chế" Bắc Kinh và cáo buộc Washington gây rắc rối trong khu vực.

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton sắp có chuyến thăm châu Á. Ảnh minh họa: AP
Bài bình luận do Tân Hoa xã đăng tải hôm qua trước thềm chuyến công du khu vực của bà Clinton đã bày tỏ những quan ngại về "chính sách chuyển trọng tâm sang châu Á" của Mỹ.
Bài báo có đoạn: "Một mục tiêu trong chuyến công du của bà Clinton là nhằm kiềm chế tầm ảnh hưởng đang lên của Trung Quốc, song trọng tâm trong chiến lược của Mỹ là nhằm bảo vệ địa vị thống trị cũng như quyền bá chủ của Washington tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương".
Ngoài ra, bài bình luận còn cáo buộc Mỹ âm mưu hưởng lợi từ các tranh chấp lãnh thổ giữa các nước châu Á và khiến các nước khác xa lánh Trung Quốc.
"Cách tiếp cận của Washington là không có lợi cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp cũng như sự ổn định và hòa bình trong khu vực. Mỹ âm mưu hưởng lợi từ việc khuấy động các tranh chấp giữa các nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, qua đó Washington muốn khôi phục quyền bá chủ trong khu vực", bài báo nêu rõ.
Bài báo còn nhận định rằng Mỹ cần chấp nhận sức mạnh của họ đang mai một và khẳng định rằng Washington đã "không khôn ngoan" khi coi Trung Quốc là đối thủ.
Trong chuyến công du châu Á lần thứ ba kể từ tháng 5, bà Clinton dự kiến sẽ cảnh báo Trung Quốc cùng các nước láng giềng của Bắc Kinh về việc sử dụng vũ lực trong bối cảnh căng thẳng leo thang về tranh chấp trên biển. Bà Clinton cũng sẽ tới thủ đô Bắc Kinh vào tuần tới để gặp người đồng cấp Trung Quốc Dương Khiết Trì.
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Biển Ðông: Quyền lợi kinh tế và tinh thần dân tộc
Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)
Cách đây mấy năm, trong một cuộc gặp gỡ quanh bàn tiệc ở Úc, có người nêu lên vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa,
một cán bộ khá cao cấp và có học thức đến từ Hà Nội, nhún vai đáp: “Ðó chỉ là mấy hòn đảo hoang nhỏ xíu thôi mà!”
Rồi ông lái câu chuyện sang hướng khác.

Một người tham gia biểu tình tại Hà Nội đưa bảng khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/GettyImages)
Có lẽ vì lịch sự, không ai quay lại câu chuyện ấy nữa. Tất cả đều quen biết nhau cả. Gần đây, đọc các blogs trong nước, tôi lại bắt gặp câu nói tương tự từ các cán bộ cao cấp trong nước, cũng liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa: “Ồ, mấy cái đảo ấy toàn cát, chỉ có chim ỉa, chứ có gì đâu mà làm ghê vậy!”
Mới biết đó là quan điểm thật. Nếu không phải đảng và chính quyền thì ít nhất cũng của một số, có lẽ không ít, cán bộ cao cấp trong bộ máy đảng và chính quyền Việt Nam.
Quả thật, về phương diện diện tích, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không có gì đặc biệt.
Hoàng Sa gồm khoảng 30 đảo, bãi đá, hòn đá và cồn, nhưng tất cả đều rất nhỏ. Lớn nhất là đảo Phú Lâm cũng chỉ dài chưa tới 4 cây số và rộng chưa tới 3 cây số. Còn đảo Hoàng Sa thì chỉ dài có 900 mét và rộng khoảng 700 mét, diện tích tổng cộng chỉ khoảng .3 cây số vuông, kể cả vòng san hô chung quanh. Các đảo khác cũng tương tự, khoảng 1/3 cây số vuông, như Hoàng Sa. Còn những cái gọi là cồn hay hòn thì có khi chỉ là những mỏm san hô nổi lên trên mặt nước.
Trường Sa lớn hơn, gồm đến gần 140 đảo, đá và bãi. Nhưng tất cả cũng đều rất nhỏ. Gộp chung lại, tất cả chỉ có diện tích khoảng 11 cây số vuông. Trong số đó, được chú ý nhất là đảo Song Tử Ðông rộng 250 mét, dài 900 mét; đảo Song Tử Tây rộng 300 mét, dài 700 mét; đảo Thị Tứ rộng 550 mét, dài 700 mét; đảo Sinh Tồn, được biết nhiều qua bài thơ “Ðợi mưa trên đảo Sinh Tồn” của Trần Ðăng Khoa, chỉ rộng có 140 mét và dài khoảng 400 mét. Ðã nhỏ, hầu hết các đảo ấy đều thiếu nước ngọt trầm trọng. Do đó, dân cư rất thưa thớt. Hầu hết những người hiện diện trên các đảo đều là bộ đội.
Tuy nhiên, ở đây có mấy điều cần chú ý. Thứ nhất, Trung Quốc không phải chỉ muốn chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Họ còn muốn chiếm ít nhất là 80% tổng diện tích của biển Ðông. Thứ hai, đảo không phải chỉ là những hòn đá hay thửa đất nổi trên mặt biển mà còn bao gồm tất cả các nguồn tài nguyên thiên chứa chất dưới chúng cũng như dưới đáy biển chung quanh chúng. Và thứ ba, không nên quên điều quan trọng này: ngoài ý nghĩa địa lý, dân cư và kinh tế, các hòn đảo và vùng biển chung quanh chúng còn có ý nghĩa chiến lược quân sự quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn vong, hoặc ít nhất, sự phát triển của quốc gia.
Thứ nhất, đứng về phương diện kinh tế, biển Ðông và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có mấy ý nghĩa chính. Một, đó là nguồn cung cấp cá và hải sản quan trọng, chiếm khoảng 7-8% tổng sản lượng cá biển và hải sản trên cả thế giới. Riêng với Việt Nam, đó là nguồn cung cấp cá biển và hải sản duy nhất cho cả 90 triệu dân (chưa nói đến chuyện xuất cảng) và là nguồn sinh kế của cả mấy chục ngàn ngư dân nằm dọc theo các tỉnh duyên hải. Hai, đó cũng là một trong những bồn dầu khí lớn nhất thế giới. Trữ lượng dầu khí ở đó, theo sự ước lượng của Mỹ, lên đến khoảng 28 tỉ thùng, đủ để cung cấp cho cả thế giới trong vòng một năm; theo Trung Quốc, lạc quan hơn, khoảng 200 tỉ thùng, đủ cung cấp cho cả thế giới khoảng sáu năm rưỡi.
Thứ hai, về phương diện chiến lược, biển Ðông là một trong những con đường hàng hải quan trọng nhất thế giới. “Mỗi ngày có khoảng từ 150-200 tàu các loại qua lại biển Ðông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5,000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30,000 tấn trở lên. 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng biển Ðông. Lượng dầu lửa và khí hóa lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama. Hàng năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập cảng và khoảng 45% khối lượng hàng hóa xuất cảng của Nhật được vận chuyển qua biển Ðông. Trung Quốc có 29/39 tuyến đường hàng hải và khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập cảng, 70% lượng dầu mỏ nhập cảng được vận chuyển bằng đường biển qua biển Ðông.”
Trên con đường hàng hải quan trọng ấy, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đặc biệt là Trường Sa, có vị trí như một cái yết hầu, từ đó, người ta có thể kiểm soát tất cả các tàu bè qua lại. Bởi vậy, nhiều nhà nghiên cứu chiến lược mới khẳng định: quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được toàn bộ biển Ðông. Mà khống chế biển Ðông cũng là khống chế hầu hết các nước ở Châu Á và tất cả các quốc gia giàu có trên thế giới, những nước có quan hệ thương mại với Châu Á.
Cả hai khía cạnh kinh tế và chiến lược nói trên đều khá hiển nhiên. Hầu như ai cũng thấy. Nhưng biển Ðông và các hòn đảo trên biển Ðông còn có ý nghĩa thứ ba này nữa, cũng quan trọng không kém: nó gắn liền với tinh thần dân tộc.
Không có quốc gia nào, dù cởi mở đến mấy, có thể phát triển hùng mạnh mà không dựa trên tinh thần dân tộc. Với những nước đang phát triển, khi kinh tế và văn hóa chưa ở độ cao của toàn cầu hóa, tinh thần dân tộc lại càng mạnh và lại càng cần thiết: nó là yếu tố thiết yếu để nối kết mọi người lại với nhau, để nhắm đến một mục tiêu và một lý tưởng chung; nó cũng là nguồn động lực để gây sức mạnh, giúp mọi người chịu đựng được gian khổ hầu thúc đẩy đất nước ngày một tiến bộ. Nói theo các nhà nho cách mạng ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20, đó chính là hồn nước. Ý thức dân tộc ấy xem bất cứ cái gì thuộc lãnh thổ của mình, dẫu chỉ là những hòn đảo nhỏ nhoi và xa xôi, đều là những gì thiêng liêng được đánh đổi bằng xương máu của tổ tiên trong cả hàng ngàn năm, hoặc ít nhất, hàng trăm năm nay.
Ðối diện với những di sản thiêng liêng ấy, người ta phải có trách nhiệm bảo vệ, có khi ngay cả bằng xương máu của chính mình. Hồ Chí Minh, người sáng lập đảng Cộng sản và lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều thập niên, hiểu rất rõ điều đó khi, ngay những năm đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp, chiêu dụ các thanh niên: “Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.” Chưa nói đến các hậu ý chính trị và thực chất của cái gọi là “giữ lấy nước” của Hồ Chí Minh, chỉ xét đến bình diện ngữ nghĩa, câu nói ấy phản ánh đúng sự suy nghĩ của những người bình thường: việc bảo vệ đất nước là một nhiệm vụ đối với lịch sử và với tổ tiên.
Không phải chỉ với người Việt Nam. Khi người Nhật và người Triều Tiên kiên quyết chống đối Trung Quốc để bảo vệ những hòn đảo xa lắc, không có người ở và cũng không có triển vọng chứa đựng bất cứ tài nguyên thiên nhiên nào, họ cũng đều hành xử trong tinh thần như thế. Những hòn đảo ấy chỉ có giá trị tượng trưng cho chủ quyền quốc gia. Vậy thôi. Nhưng dù vậy, họ vẫn giữ một cách đầy quyết tâm, bất chấp mọi hậu quả.
Người Việt Nam vẫn thường tự hào về truyền thống yêu nước và bất khuất của mình. Không ai có thể chấp nhận xem những vùng biển quan trọng như thế và những hòn đảo đã từng thấm đẫm máu của cha anh mình như thế, chỉ là những mảnh đất hoang đầy cứt chim như lời một số cán bộ cao cấp tuyên bố.
Nói như vậy không những ngu xuẩn mà còn vô liêm sỉ.
Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)
Cách đây mấy năm, trong một cuộc gặp gỡ quanh bàn tiệc ở Úc, có người nêu lên vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa,
một cán bộ khá cao cấp và có học thức đến từ Hà Nội, nhún vai đáp: “Ðó chỉ là mấy hòn đảo hoang nhỏ xíu thôi mà!”
Rồi ông lái câu chuyện sang hướng khác.

Một người tham gia biểu tình tại Hà Nội đưa bảng khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/GettyImages)
Có lẽ vì lịch sự, không ai quay lại câu chuyện ấy nữa. Tất cả đều quen biết nhau cả. Gần đây, đọc các blogs trong nước, tôi lại bắt gặp câu nói tương tự từ các cán bộ cao cấp trong nước, cũng liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa: “Ồ, mấy cái đảo ấy toàn cát, chỉ có chim ỉa, chứ có gì đâu mà làm ghê vậy!”
Mới biết đó là quan điểm thật. Nếu không phải đảng và chính quyền thì ít nhất cũng của một số, có lẽ không ít, cán bộ cao cấp trong bộ máy đảng và chính quyền Việt Nam.
Quả thật, về phương diện diện tích, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không có gì đặc biệt.
Hoàng Sa gồm khoảng 30 đảo, bãi đá, hòn đá và cồn, nhưng tất cả đều rất nhỏ. Lớn nhất là đảo Phú Lâm cũng chỉ dài chưa tới 4 cây số và rộng chưa tới 3 cây số. Còn đảo Hoàng Sa thì chỉ dài có 900 mét và rộng khoảng 700 mét, diện tích tổng cộng chỉ khoảng .3 cây số vuông, kể cả vòng san hô chung quanh. Các đảo khác cũng tương tự, khoảng 1/3 cây số vuông, như Hoàng Sa. Còn những cái gọi là cồn hay hòn thì có khi chỉ là những mỏm san hô nổi lên trên mặt nước.
Trường Sa lớn hơn, gồm đến gần 140 đảo, đá và bãi. Nhưng tất cả cũng đều rất nhỏ. Gộp chung lại, tất cả chỉ có diện tích khoảng 11 cây số vuông. Trong số đó, được chú ý nhất là đảo Song Tử Ðông rộng 250 mét, dài 900 mét; đảo Song Tử Tây rộng 300 mét, dài 700 mét; đảo Thị Tứ rộng 550 mét, dài 700 mét; đảo Sinh Tồn, được biết nhiều qua bài thơ “Ðợi mưa trên đảo Sinh Tồn” của Trần Ðăng Khoa, chỉ rộng có 140 mét và dài khoảng 400 mét. Ðã nhỏ, hầu hết các đảo ấy đều thiếu nước ngọt trầm trọng. Do đó, dân cư rất thưa thớt. Hầu hết những người hiện diện trên các đảo đều là bộ đội.
Tuy nhiên, ở đây có mấy điều cần chú ý. Thứ nhất, Trung Quốc không phải chỉ muốn chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Họ còn muốn chiếm ít nhất là 80% tổng diện tích của biển Ðông. Thứ hai, đảo không phải chỉ là những hòn đá hay thửa đất nổi trên mặt biển mà còn bao gồm tất cả các nguồn tài nguyên thiên chứa chất dưới chúng cũng như dưới đáy biển chung quanh chúng. Và thứ ba, không nên quên điều quan trọng này: ngoài ý nghĩa địa lý, dân cư và kinh tế, các hòn đảo và vùng biển chung quanh chúng còn có ý nghĩa chiến lược quân sự quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn vong, hoặc ít nhất, sự phát triển của quốc gia.
Thứ nhất, đứng về phương diện kinh tế, biển Ðông và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có mấy ý nghĩa chính. Một, đó là nguồn cung cấp cá và hải sản quan trọng, chiếm khoảng 7-8% tổng sản lượng cá biển và hải sản trên cả thế giới. Riêng với Việt Nam, đó là nguồn cung cấp cá biển và hải sản duy nhất cho cả 90 triệu dân (chưa nói đến chuyện xuất cảng) và là nguồn sinh kế của cả mấy chục ngàn ngư dân nằm dọc theo các tỉnh duyên hải. Hai, đó cũng là một trong những bồn dầu khí lớn nhất thế giới. Trữ lượng dầu khí ở đó, theo sự ước lượng của Mỹ, lên đến khoảng 28 tỉ thùng, đủ để cung cấp cho cả thế giới trong vòng một năm; theo Trung Quốc, lạc quan hơn, khoảng 200 tỉ thùng, đủ cung cấp cho cả thế giới khoảng sáu năm rưỡi.
Thứ hai, về phương diện chiến lược, biển Ðông là một trong những con đường hàng hải quan trọng nhất thế giới. “Mỗi ngày có khoảng từ 150-200 tàu các loại qua lại biển Ðông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5,000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30,000 tấn trở lên. 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng biển Ðông. Lượng dầu lửa và khí hóa lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama. Hàng năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập cảng và khoảng 45% khối lượng hàng hóa xuất cảng của Nhật được vận chuyển qua biển Ðông. Trung Quốc có 29/39 tuyến đường hàng hải và khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập cảng, 70% lượng dầu mỏ nhập cảng được vận chuyển bằng đường biển qua biển Ðông.”
Trên con đường hàng hải quan trọng ấy, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đặc biệt là Trường Sa, có vị trí như một cái yết hầu, từ đó, người ta có thể kiểm soát tất cả các tàu bè qua lại. Bởi vậy, nhiều nhà nghiên cứu chiến lược mới khẳng định: quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được toàn bộ biển Ðông. Mà khống chế biển Ðông cũng là khống chế hầu hết các nước ở Châu Á và tất cả các quốc gia giàu có trên thế giới, những nước có quan hệ thương mại với Châu Á.
Cả hai khía cạnh kinh tế và chiến lược nói trên đều khá hiển nhiên. Hầu như ai cũng thấy. Nhưng biển Ðông và các hòn đảo trên biển Ðông còn có ý nghĩa thứ ba này nữa, cũng quan trọng không kém: nó gắn liền với tinh thần dân tộc.
Không có quốc gia nào, dù cởi mở đến mấy, có thể phát triển hùng mạnh mà không dựa trên tinh thần dân tộc. Với những nước đang phát triển, khi kinh tế và văn hóa chưa ở độ cao của toàn cầu hóa, tinh thần dân tộc lại càng mạnh và lại càng cần thiết: nó là yếu tố thiết yếu để nối kết mọi người lại với nhau, để nhắm đến một mục tiêu và một lý tưởng chung; nó cũng là nguồn động lực để gây sức mạnh, giúp mọi người chịu đựng được gian khổ hầu thúc đẩy đất nước ngày một tiến bộ. Nói theo các nhà nho cách mạng ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20, đó chính là hồn nước. Ý thức dân tộc ấy xem bất cứ cái gì thuộc lãnh thổ của mình, dẫu chỉ là những hòn đảo nhỏ nhoi và xa xôi, đều là những gì thiêng liêng được đánh đổi bằng xương máu của tổ tiên trong cả hàng ngàn năm, hoặc ít nhất, hàng trăm năm nay.
Ðối diện với những di sản thiêng liêng ấy, người ta phải có trách nhiệm bảo vệ, có khi ngay cả bằng xương máu của chính mình. Hồ Chí Minh, người sáng lập đảng Cộng sản và lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều thập niên, hiểu rất rõ điều đó khi, ngay những năm đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp, chiêu dụ các thanh niên: “Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.” Chưa nói đến các hậu ý chính trị và thực chất của cái gọi là “giữ lấy nước” của Hồ Chí Minh, chỉ xét đến bình diện ngữ nghĩa, câu nói ấy phản ánh đúng sự suy nghĩ của những người bình thường: việc bảo vệ đất nước là một nhiệm vụ đối với lịch sử và với tổ tiên.
Không phải chỉ với người Việt Nam. Khi người Nhật và người Triều Tiên kiên quyết chống đối Trung Quốc để bảo vệ những hòn đảo xa lắc, không có người ở và cũng không có triển vọng chứa đựng bất cứ tài nguyên thiên nhiên nào, họ cũng đều hành xử trong tinh thần như thế. Những hòn đảo ấy chỉ có giá trị tượng trưng cho chủ quyền quốc gia. Vậy thôi. Nhưng dù vậy, họ vẫn giữ một cách đầy quyết tâm, bất chấp mọi hậu quả.
Người Việt Nam vẫn thường tự hào về truyền thống yêu nước và bất khuất của mình. Không ai có thể chấp nhận xem những vùng biển quan trọng như thế và những hòn đảo đã từng thấm đẫm máu của cha anh mình như thế, chỉ là những mảnh đất hoang đầy cứt chim như lời một số cán bộ cao cấp tuyên bố.
Nói như vậy không những ngu xuẩn mà còn vô liêm sỉ.
Tân đặc phái viên về Syria gây sức ép với Assad
Đặc phái viên mới của Liên Hợp Quốc và Liên đoàn Arab về tình hình Syria hôm qua tuyên bố
với chế độ của Tổng thống Bashar al-Assad rằng thay đổi là nhu cầu cấp bách và cần thiết tại quốc gia này.

Một chiến binh đối lập tại Syria bắn về phía binh sĩ chính phủ qua lỗ trên tường một ngôi nhà ở thành phố Aleppo hôm 1/9. Ảnh: AP.
Trong ngày đầu tiên trên cương vị đặc phái viên của Liên Hợp Quốc và Liên đoàn Arab về Syria, ông Lakhdar Brahimi, cựu ngoại trưởng Algeria, kêu gọi cả chính phủ và phe đối lập chấm dứt bạo lực tại Syria. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng lực lượng trung thành với ông Assad phải chịu trách nhiệm lớn hơn trong nỗ lực chấm dứt xung đột.
“Tôi kêu gọi các bên ở Syria ngừng giao chiến. Dĩ nhiên, lời kêu gọi của tôi hướng về phía chính phủ Syria. Nhiệm vụ của các chính phủ, trong mọi tình huống và mọi quốc gia, là bảo đảm an ninh và sự ổn định cho người dân. Thay đổi tại Syria đang là một nhu cầu cấp bách và cần thiết. Chính phủ phải đáp ứng những yêu cầu hợp pháp của người dân”, Brahimi nói với kênh truyền hình al-Arabiya.
Giới phân tích cho rằng ông Brahimi đưa ra những lời lẽ như thế tại trụ sở Liên Hợp Quốc để buộc chính phủ Syria giảm các hoạt động quân sự - một điều kiện cần thiết để ông thực hiện sứ mệnh kiến tạo hòa bình một cách thuận lợi hơn.

Ông Lakhdar Brahimi. Ảnh: nato.int.
Người tiền nhiệm của ông Brahimi, cựu tổng thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan, đã từ chức vào ngày 2/8 do kế hoạch hòa bình của ông không thể ngăn chặn bạo lực tại Syria. Brahimi thừa nhận ông chưa có ý tưởng nào để bạo lực chấm dứt và cũng chưa quyết định thời điểm mà ông sẽ tới Syria trên cương vị mới.
“Tôi chẳng có ý tưởng gì mới ngoài việc kêu gọi chấm dứt bạo lực và khởi động một tiến trình chính trị để mang lại hòa bình và ổn định cho nhân dân Syria”, ông phát biểu.
Chiến sự đang diễn ra tại các căn cứ không quân của chính phủ Syria hôm 1/9. Các nhà hoạt động xã hội cho biết, phe đối lập chiếm một căn cứ không quân ở Deir el-Zour, một tỉnh ở phía đông Syria và gần biên giới Iraq. Trong khi đó, giao tranh tại thành phố Aleppo, trung tâm thương mại của Syria, trở nên ác liệt hơn do chính phủ Syria điều động của máy bay lẫn bộ binh để tấn công phe đối lập.
Diễn biến mới nhất tạiAleppo cho thấy quân đội Syria vẫn chưa giành lại quyền kiểm soát hoàn toàn thành phố từ các chiến binh đối lập dù binh lính chính phủ có ưu thế vượt trội về vũ khí. Phe đối lập bắt đầu tràn vào Aleppo từ gần 5 tuần trước.
Việt Linh
Đặc phái viên mới của Liên Hợp Quốc và Liên đoàn Arab về tình hình Syria hôm qua tuyên bố
với chế độ của Tổng thống Bashar al-Assad rằng thay đổi là nhu cầu cấp bách và cần thiết tại quốc gia này.

Một chiến binh đối lập tại Syria bắn về phía binh sĩ chính phủ qua lỗ trên tường một ngôi nhà ở thành phố Aleppo hôm 1/9. Ảnh: AP.
Trong ngày đầu tiên trên cương vị đặc phái viên của Liên Hợp Quốc và Liên đoàn Arab về Syria, ông Lakhdar Brahimi, cựu ngoại trưởng Algeria, kêu gọi cả chính phủ và phe đối lập chấm dứt bạo lực tại Syria. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng lực lượng trung thành với ông Assad phải chịu trách nhiệm lớn hơn trong nỗ lực chấm dứt xung đột.
“Tôi kêu gọi các bên ở Syria ngừng giao chiến. Dĩ nhiên, lời kêu gọi của tôi hướng về phía chính phủ Syria. Nhiệm vụ của các chính phủ, trong mọi tình huống và mọi quốc gia, là bảo đảm an ninh và sự ổn định cho người dân. Thay đổi tại Syria đang là một nhu cầu cấp bách và cần thiết. Chính phủ phải đáp ứng những yêu cầu hợp pháp của người dân”, Brahimi nói với kênh truyền hình al-Arabiya.
Giới phân tích cho rằng ông Brahimi đưa ra những lời lẽ như thế tại trụ sở Liên Hợp Quốc để buộc chính phủ Syria giảm các hoạt động quân sự - một điều kiện cần thiết để ông thực hiện sứ mệnh kiến tạo hòa bình một cách thuận lợi hơn.

Ông Lakhdar Brahimi. Ảnh: nato.int.
Người tiền nhiệm của ông Brahimi, cựu tổng thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan, đã từ chức vào ngày 2/8 do kế hoạch hòa bình của ông không thể ngăn chặn bạo lực tại Syria. Brahimi thừa nhận ông chưa có ý tưởng nào để bạo lực chấm dứt và cũng chưa quyết định thời điểm mà ông sẽ tới Syria trên cương vị mới.
“Tôi chẳng có ý tưởng gì mới ngoài việc kêu gọi chấm dứt bạo lực và khởi động một tiến trình chính trị để mang lại hòa bình và ổn định cho nhân dân Syria”, ông phát biểu.
Chiến sự đang diễn ra tại các căn cứ không quân của chính phủ Syria hôm 1/9. Các nhà hoạt động xã hội cho biết, phe đối lập chiếm một căn cứ không quân ở Deir el-Zour, một tỉnh ở phía đông Syria và gần biên giới Iraq. Trong khi đó, giao tranh tại thành phố Aleppo, trung tâm thương mại của Syria, trở nên ác liệt hơn do chính phủ Syria điều động của máy bay lẫn bộ binh để tấn công phe đối lập.
Diễn biến mới nhất tạiAleppo cho thấy quân đội Syria vẫn chưa giành lại quyền kiểm soát hoàn toàn thành phố từ các chiến binh đối lập dù binh lính chính phủ có ưu thế vượt trội về vũ khí. Phe đối lập bắt đầu tràn vào Aleppo từ gần 5 tuần trước.
Việt Linh
-
nguyennam619
- Posts: 238
- Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am
Một chế độ rẻ rúng mạng người
Bùi Tín
(Nguồn: VOA) Ngày 30 tháng 8 là đúng một tháng sau cái chết bi thảm của cụ Ðặng Kim Liêng. Sáng sớm ngày 30 tháng 7 năm 2012, trước trụ sở tỉnh ủy CS tỉnh Bạc Liêu, một bà cụ tóc bạc tự đổ can dầu vào người rồi châm lửa tự thiêu, áo quần và da bị cháy đen từng mảng, cụ bất tỉnh.
Khi xe cấp cứu đưa cụ đến bệnh viện tỉnh gần đó, rồi chuyển cụ lên bệnh viện Chợ Rẫy-Sài Gòn thì cụ tắt thở ở giữa đường.
Cụ Ðặng Thị Kim Liêng, 64 tuổi, công dân tỉnh Bạc Liêu, là thân mẫu cô Tạ Phong Tần, một chiến sĩ dân chủ can trường, nổi tiếng với blog Công Lý và Sự Thật, từng cùng Blogger Ðiếu Cày - Nguyễn Văn Hải và Blogger Phan Thanh Hải - Anh Ba Sài Gòn lập nên Câu lạc bộ các Nhà Báo Tự Do, cả 3 đều đang ở trong nhà tù, chờ sẽ ra tòa vào ngày 7 tháng 8, 2012 tại quận I - Sài Gòn. Sau cuộc tự thiêu nói trên, chính quyền hoãn phiên tòa, không đưa ra lý do.
Ngay sau khi cụ Ðặng Thị Kim Liên tắt thở, cô Tạ Khởi Phụng, em gái cô Tạ Phong Tần và em trai Tạ Hòa Phú cùng toàn gia đình đứng ra chăm lo việc tang lễ và an táng cho Mẹ.
Cô Phụng cho các nhà báo và bà con biết rõ lý do tự thiêu của bà Mẹ. Một là đã mấy năm nay, láng giềng của gia đình đã cậy thế thân quen chính quyền lấn chiếm một dải đất của gia đình vốn đã rất chật hẹp, cản trở sinh hoạt gia đình. Cụ đã mang đơn rất nhiều lần đến tận trụ sở chính quyền quận và tỉnh, nhưng không hề có hồi âm. Nỗi buồn lớn hơn là cô Tạ Phong Tần bị bắt giam gần 1 năm, từ tháng 9 năm 2011 mà cụ không được đến thăm. Họ còn dọa dẫm là cô sắp ra tòa và có thể lãnh án hàng chục năm tù vì tội “âm mưu lật đổ chế độ”.
Cụ từng nói với con gái út và bà con trong họ hàng gần là cụ chỉ muốn tự thiêu để dùng mạng sống của mình nói lên nỗi oan ức và tận cùng phẫn uất của mình, may ra sẽ có thể mang lại công lý cho vụ án phi lý này, cứu cô con gái yêu và các bạn cô ra khỏi vòng lao lý, thức tỉnh kẻ cầm quyền tàn bạo, báo động cho xã hội về cuộc sống tận cùng oan ức và bế tắc của người dân.
Là một người đàn bà chất phác, ngay thật, ngoan đạo, cụ nói là làm. Cụ đã âm thầm mang can dầu đến trước trụ sở cường quyền và quyên sinh vì “Công lý và Sự thật”, như con gái cụ coi là phương châm sống của mình.
Chính quyền trung ương và địa phương đã có thái độ ra sao trước cái chết bi thảm của cụ Ðặng Thị Kim Liêng?
Ðể so sánh ta hãy xem trước hết bà con ta ở trong nước và công luận quốc tế đã có thái độ ra sao trước sự kiện cương nghị mà bi thảm này của một bà mẹ Việt Nam đáng kính.
Một loạt blog tự do trong nước như Dân Làm Báo, Anh Ba Sàm, Trí Nhân Média, Dân Luận... lập tức loan tin này từ tối 30 tháng 7, trang trọng lập bàn thờ cụ với di ảnh màu phóng to đóng khung, có bát hương, hoa quả viếng người đã khuất.
Các chiến sĩ dân chủ từ Hà Nội, Sài Gòn, Ðà Nẵng vào ngay Bạc Liêu để viếng và dự lễ an táng cụ. Ðúng ngày 7 tháng 8 - ngày tòa án từng dự định mở phiên xét xử rồi lại hoãn - anh chị em vẫn tập họp ngay trước tòa án Quận I Sài Gòn, mặc toàn đồ đen tỏ thái độ đòi tự do ngay cho 3 blogger của câu lạc bộ các Nhà Báo Tự Do và chia buồn cùng cô Tạ Phong Tần, còn đòi chính quyền cho phép cô về dự lễ an táng mẹ.
Các đài truyền thanh quốc tế tiếng Việt như VOA, BBC, RFI, RFA đều bình luận về cuộc tự thiêu của cụ Kim Liêng, coi cụ là nạn nhân bi thảm của bất công xã hội dưới chế độ phi dân chủ coi thường tính mạng và quyền sống của người dân. Các tổ chức nhân quyền quốc tế Amnesty International, Human Rights Watch, Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới từ Paris và ủy viên phụ trách nhân quyền quốc tế của Liên Hợp Quốc từ Thụy Sỹ cũng ra tuyên bố chia buồn sâu sắc với gia đình cụ Kim Liêng và đòi chính quyền Hà Nội trả tự do ngay cho 3 bloggers nói trên, đặc biệt là đòi họ phải cho cô Tạ Phong Tần về nhà dự lễ tang mẹ.
Ðáng chú ý là sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ở Washington D.C. cùng nữ Dân Biểu Loretta Sanchez từ Quốc Hội Hoa Kỳ đều ra tuyên bố về sự kiện bi thảm này, tỏ rõ sự đau buồn sâu sắc trước cái chết của cụ Kim Liêng và yêu cầu công lý và sự thật phải được làm sáng tỏ, các tuyên bố đều nhấn mạnh các blogger chỉ phát biểu chính kiến và thái độ chính trị của mình phải được tự do ngay. Huống gì tất cả đều là người yêu nước chống mọi hành động bành trướng xâm phạm lãnh thổ nước mình. Họ không hề phạm tội.
Thái độ của chính quyền từ trung ương đến cơ sở ra sao? Họ ngăn cản việc đưa thi hài cụ Kim Liêng về nhà. Họ bao vây gia đình cụ suốt mấy ngày đêm, ngăn cản bà con đến viếng thăm, phiền nhiễu mọi người đến phải khai báo lý lịch, ngăn nhiều bà con từ xa vào gặp gia đình. Chính quyền phường quận không một ai đến viếng, chia buồn, mặc dù cô Tạ Phong Tần vốn là một sĩ quan công an, một cán bộ của địa phương và cụ Kim Liêng từng đóng góp công sức cho nhiều công tác xã hội. Họ coi đây như là một gia đình thù địch của chính quyền.
Ở trung ương, thái độ của lãnh đạo, của Bộ Công An, ban tuyên huấn, báo chí, đài phát thanh còn tệ hơn nữa. Trước cái chết bi thảm của một bà mẹ 64 tuổi, bị dồn nén đến bước đường cùng do bất công của nhà đương quyền, người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao Lương Thanh Nghị lạnh lùng, ráo hoảnh nói chỉ một câu là: “Cái chết của bà Liêng đang được điều tra”. Chấm hết.
Không một xúc động. Không một lời chia buồn. Thậm chí không một lời tỏ ra tiếc rằng một sự kiện bi thảm đã xảy ra, một mạng người đã mất, không có cách gì cứu vãn nổi. Họ cũng không hé nửa lời về lý do vì sao hoãn phiên tòa và hoãn đến bao giờ. Câm như hến.
Tin từ trại giam cho biết, 4 ngày sau đó, cô Tạ Phong Tần mới biết tin mẹ mình đã qua đời. Cô gào khóc thảm thiết, vang động ra cả vùng xung quanh, yêu cầu được về nhà nhìn thấy mẹ một lần cuối. Nhưng cả hệ thống cầm quyền độc ác mất hết nhân tính, vẫn làm ngơ, giả điếc.
Còn Bộ Công An, cục quản lý trại giam, còn ngành tòa án, còn viện kiểm sát các cấp, còn hội Liên Hiệp Phụ Nữ... tất cả đều im re, câm như hến, coi như không có gì xảy ra. Và bà phó chủ tịch nước từng huênh hoang sẽ chú ý đến thân phận của người phụ nữ Việt Nam để không ai bị phân biệt đối xử. Cô Tạ Phong Tần là phụ nữ bị đối xử bất công đó, bà cụ Ðặng Thị Kim Liêng bị đối xử cực kỳ bất công đó, ý kiến bà phó chủ tịch nước nhận định ra sao? Sẽ làm gì để bênh vực họ? Hay chỉ nói mép, và quay mặt đi nơi khác?
Tất cả bộ sậu chính quyền đều vô cảm, bất nhân không cho cô Tạ Phong Tần về dự tang mẹ. Người ta có quyền hỏi ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, hay ông Thủ Tướng Dũng, hay ông Sang chủ tịch nước? Chỉ cần một tiếng nói của một trong những người này là đủ cho cô Tạ Phong Tần về nhìn thấy mặt bà Mẹ kính yêu một lần cuối. Người với người ít ra, bình thường ra là phải thế.
Cả một chế độ chính trị độc đảng tàn bạo với dân, thâm thù các nhà báo, đàn áp các blogger tự do dám nói lên sự thật, coi mạng sống của người dân như cỏ rác, một chế độ vô cảm, bất nhân đến như vậy - trước toàn dân và trước toàn thế giới - đã tự mình đánh rơi hoàn toàn tính chính đáng cầm quyền của mình vậy.
Bùi Tín
(Nguồn: VOA) Ngày 30 tháng 8 là đúng một tháng sau cái chết bi thảm của cụ Ðặng Kim Liêng. Sáng sớm ngày 30 tháng 7 năm 2012, trước trụ sở tỉnh ủy CS tỉnh Bạc Liêu, một bà cụ tóc bạc tự đổ can dầu vào người rồi châm lửa tự thiêu, áo quần và da bị cháy đen từng mảng, cụ bất tỉnh.
Khi xe cấp cứu đưa cụ đến bệnh viện tỉnh gần đó, rồi chuyển cụ lên bệnh viện Chợ Rẫy-Sài Gòn thì cụ tắt thở ở giữa đường.
Cụ Ðặng Thị Kim Liêng, 64 tuổi, công dân tỉnh Bạc Liêu, là thân mẫu cô Tạ Phong Tần, một chiến sĩ dân chủ can trường, nổi tiếng với blog Công Lý và Sự Thật, từng cùng Blogger Ðiếu Cày - Nguyễn Văn Hải và Blogger Phan Thanh Hải - Anh Ba Sài Gòn lập nên Câu lạc bộ các Nhà Báo Tự Do, cả 3 đều đang ở trong nhà tù, chờ sẽ ra tòa vào ngày 7 tháng 8, 2012 tại quận I - Sài Gòn. Sau cuộc tự thiêu nói trên, chính quyền hoãn phiên tòa, không đưa ra lý do.
Ngay sau khi cụ Ðặng Thị Kim Liên tắt thở, cô Tạ Khởi Phụng, em gái cô Tạ Phong Tần và em trai Tạ Hòa Phú cùng toàn gia đình đứng ra chăm lo việc tang lễ và an táng cho Mẹ.
Cô Phụng cho các nhà báo và bà con biết rõ lý do tự thiêu của bà Mẹ. Một là đã mấy năm nay, láng giềng của gia đình đã cậy thế thân quen chính quyền lấn chiếm một dải đất của gia đình vốn đã rất chật hẹp, cản trở sinh hoạt gia đình. Cụ đã mang đơn rất nhiều lần đến tận trụ sở chính quyền quận và tỉnh, nhưng không hề có hồi âm. Nỗi buồn lớn hơn là cô Tạ Phong Tần bị bắt giam gần 1 năm, từ tháng 9 năm 2011 mà cụ không được đến thăm. Họ còn dọa dẫm là cô sắp ra tòa và có thể lãnh án hàng chục năm tù vì tội “âm mưu lật đổ chế độ”.
Cụ từng nói với con gái út và bà con trong họ hàng gần là cụ chỉ muốn tự thiêu để dùng mạng sống của mình nói lên nỗi oan ức và tận cùng phẫn uất của mình, may ra sẽ có thể mang lại công lý cho vụ án phi lý này, cứu cô con gái yêu và các bạn cô ra khỏi vòng lao lý, thức tỉnh kẻ cầm quyền tàn bạo, báo động cho xã hội về cuộc sống tận cùng oan ức và bế tắc của người dân.
Là một người đàn bà chất phác, ngay thật, ngoan đạo, cụ nói là làm. Cụ đã âm thầm mang can dầu đến trước trụ sở cường quyền và quyên sinh vì “Công lý và Sự thật”, như con gái cụ coi là phương châm sống của mình.
Chính quyền trung ương và địa phương đã có thái độ ra sao trước cái chết bi thảm của cụ Ðặng Thị Kim Liêng?
Ðể so sánh ta hãy xem trước hết bà con ta ở trong nước và công luận quốc tế đã có thái độ ra sao trước sự kiện cương nghị mà bi thảm này của một bà mẹ Việt Nam đáng kính.
Một loạt blog tự do trong nước như Dân Làm Báo, Anh Ba Sàm, Trí Nhân Média, Dân Luận... lập tức loan tin này từ tối 30 tháng 7, trang trọng lập bàn thờ cụ với di ảnh màu phóng to đóng khung, có bát hương, hoa quả viếng người đã khuất.
Các chiến sĩ dân chủ từ Hà Nội, Sài Gòn, Ðà Nẵng vào ngay Bạc Liêu để viếng và dự lễ an táng cụ. Ðúng ngày 7 tháng 8 - ngày tòa án từng dự định mở phiên xét xử rồi lại hoãn - anh chị em vẫn tập họp ngay trước tòa án Quận I Sài Gòn, mặc toàn đồ đen tỏ thái độ đòi tự do ngay cho 3 blogger của câu lạc bộ các Nhà Báo Tự Do và chia buồn cùng cô Tạ Phong Tần, còn đòi chính quyền cho phép cô về dự lễ an táng mẹ.
Các đài truyền thanh quốc tế tiếng Việt như VOA, BBC, RFI, RFA đều bình luận về cuộc tự thiêu của cụ Kim Liêng, coi cụ là nạn nhân bi thảm của bất công xã hội dưới chế độ phi dân chủ coi thường tính mạng và quyền sống của người dân. Các tổ chức nhân quyền quốc tế Amnesty International, Human Rights Watch, Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới từ Paris và ủy viên phụ trách nhân quyền quốc tế của Liên Hợp Quốc từ Thụy Sỹ cũng ra tuyên bố chia buồn sâu sắc với gia đình cụ Kim Liêng và đòi chính quyền Hà Nội trả tự do ngay cho 3 bloggers nói trên, đặc biệt là đòi họ phải cho cô Tạ Phong Tần về nhà dự lễ tang mẹ.
Ðáng chú ý là sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ở Washington D.C. cùng nữ Dân Biểu Loretta Sanchez từ Quốc Hội Hoa Kỳ đều ra tuyên bố về sự kiện bi thảm này, tỏ rõ sự đau buồn sâu sắc trước cái chết của cụ Kim Liêng và yêu cầu công lý và sự thật phải được làm sáng tỏ, các tuyên bố đều nhấn mạnh các blogger chỉ phát biểu chính kiến và thái độ chính trị của mình phải được tự do ngay. Huống gì tất cả đều là người yêu nước chống mọi hành động bành trướng xâm phạm lãnh thổ nước mình. Họ không hề phạm tội.
Thái độ của chính quyền từ trung ương đến cơ sở ra sao? Họ ngăn cản việc đưa thi hài cụ Kim Liêng về nhà. Họ bao vây gia đình cụ suốt mấy ngày đêm, ngăn cản bà con đến viếng thăm, phiền nhiễu mọi người đến phải khai báo lý lịch, ngăn nhiều bà con từ xa vào gặp gia đình. Chính quyền phường quận không một ai đến viếng, chia buồn, mặc dù cô Tạ Phong Tần vốn là một sĩ quan công an, một cán bộ của địa phương và cụ Kim Liêng từng đóng góp công sức cho nhiều công tác xã hội. Họ coi đây như là một gia đình thù địch của chính quyền.
Ở trung ương, thái độ của lãnh đạo, của Bộ Công An, ban tuyên huấn, báo chí, đài phát thanh còn tệ hơn nữa. Trước cái chết bi thảm của một bà mẹ 64 tuổi, bị dồn nén đến bước đường cùng do bất công của nhà đương quyền, người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao Lương Thanh Nghị lạnh lùng, ráo hoảnh nói chỉ một câu là: “Cái chết của bà Liêng đang được điều tra”. Chấm hết.
Không một xúc động. Không một lời chia buồn. Thậm chí không một lời tỏ ra tiếc rằng một sự kiện bi thảm đã xảy ra, một mạng người đã mất, không có cách gì cứu vãn nổi. Họ cũng không hé nửa lời về lý do vì sao hoãn phiên tòa và hoãn đến bao giờ. Câm như hến.
Tin từ trại giam cho biết, 4 ngày sau đó, cô Tạ Phong Tần mới biết tin mẹ mình đã qua đời. Cô gào khóc thảm thiết, vang động ra cả vùng xung quanh, yêu cầu được về nhà nhìn thấy mẹ một lần cuối. Nhưng cả hệ thống cầm quyền độc ác mất hết nhân tính, vẫn làm ngơ, giả điếc.
Còn Bộ Công An, cục quản lý trại giam, còn ngành tòa án, còn viện kiểm sát các cấp, còn hội Liên Hiệp Phụ Nữ... tất cả đều im re, câm như hến, coi như không có gì xảy ra. Và bà phó chủ tịch nước từng huênh hoang sẽ chú ý đến thân phận của người phụ nữ Việt Nam để không ai bị phân biệt đối xử. Cô Tạ Phong Tần là phụ nữ bị đối xử bất công đó, bà cụ Ðặng Thị Kim Liêng bị đối xử cực kỳ bất công đó, ý kiến bà phó chủ tịch nước nhận định ra sao? Sẽ làm gì để bênh vực họ? Hay chỉ nói mép, và quay mặt đi nơi khác?
Tất cả bộ sậu chính quyền đều vô cảm, bất nhân không cho cô Tạ Phong Tần về dự tang mẹ. Người ta có quyền hỏi ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, hay ông Thủ Tướng Dũng, hay ông Sang chủ tịch nước? Chỉ cần một tiếng nói của một trong những người này là đủ cho cô Tạ Phong Tần về nhìn thấy mặt bà Mẹ kính yêu một lần cuối. Người với người ít ra, bình thường ra là phải thế.
Cả một chế độ chính trị độc đảng tàn bạo với dân, thâm thù các nhà báo, đàn áp các blogger tự do dám nói lên sự thật, coi mạng sống của người dân như cỏ rác, một chế độ vô cảm, bất nhân đến như vậy - trước toàn dân và trước toàn thế giới - đã tự mình đánh rơi hoàn toàn tính chính đáng cầm quyền của mình vậy.
Trung Cộng lại làu bàu
Tuesday, September 04, 2012 4:55:16 PM
Ngô Nhân Dụng Bà Hillary Clinton bỗng dưng làm cho Cộng sản Trung Quốc bị nhột. Một bài bình luận trên Tân Hoa Xã hỏi: “Tại sao bà Clinton lại công du đến một nước chỉ có 11,000 dân làm cái gì?”
Cái nước nhỏ bé đó là Cook Islands, thực ra dân số gần 20,000 người nhưng Từ điển Bách khoa bên Tàu chưa cập nhật. Một nước 20,000 dân thì không có lý do nào làm cho một nước 1,300,000,000 dân phải bị nhột và làu bàu chỉ trích nước Mỹ. Nhưng Tân Hoa Xã nhắc đến để báo động với dân Trung Hoa là chính quyền Mỹ vẫn tiếp tục đẩy mạnh bao vây Trung Quốc!
Chắc chắn khi đến quần đảo Cook, bà ngoại trưởng Mỹ sẽ không lên giọng giảng giải cho chính phủ nước này phải tôn trọng nhân quyền, cũng không khuyên bảo họ phải tôn trọng chủ quyền trên biển của lân bang. Quốc gia nhỏ bé này theo chế độ dân chủ đại nghị, quyền tư pháp độc lập với ông thủ tướng và Quốc Hội, theo truyền thống Anh quốc. Mỗi đảo trong số gần 20 hòn đảo lớn đều có hội đồng xã do dân bầu lên. Họ liên kết với New Zealand để được trợ giúp về kinh tế, nhận nữ hoàng New Zealand, tức là nữ hoàng Anh làm quốc trưởng. Trung Quốc cũng viện trợ cho chính phủ quần đảo Cook, đã xây tặng họ trụ sở cảnh sát toàn quốc, mà không biết có đặt máy nghe lén hay không!
Bài bình luận trên Tân Hoa Xã kể tội nước Mỹ đang bao vây Trung Quốc. Họ phân tích: “Nửa sau thế kỷ 20 và đầu thế kỷ này chiến lược của Mỹ đặt trọng tâm vào Châu Âu. Trong nhiệm kỳ của Tổng Thống George W. Bush thì ông dồn hết năng lực vào chiến tranh Afghanistan và Iraq. Nhưng trong hai năm qua chính quyền Barack Obama đã nâng cao khẩu hiệu Trở về Châu Á; năm ngoái ông Obama đã khẳng định điều đó trước Quốc Hội Australia, Úc Châu. Washington đã thắt chặt quan hệ quân sự với Nhật Bản, Nam Hàn, Úc và Philippines. Obama gia tăng số thủy quân lục chiến đồn trú ở bờ biển phía Bắc nước Úc. Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Leon Panetta tuyên bố thay đổi kế hoạch điều động hải quân. Trước kia là một nửa ở Châu Á; bây giờ là 60% sang Châu Á! Mỹ đã thao diễn quân sự với các nước Nhật Bản, Nam Hàn, Philippines, Thái Lan và cả Việt Nam! Trong thời gian Trung Quốc và Nhật Bản đang cãi nhau về quần đảo Ðiếu Ngư thì Mỹ đi tập trận trên biển với Hải Quân Nhật suốt 37 ngày! Năm ngoái, số vũ khí Mỹ bán cho nước khác đã lên tới hơn 66 tỷ đô la, phần lớn bán cho các nước Châu Á. Ðầu năm 2013 tới, lần đầu tiên Mỹ sẽ điều động tới Singapore những tầu chiến cận duyên (littoral combat ship, LCS).
Tân Hoa Xã còn nhắc lại từ năm 2009 chính quyền Obama đã cổ động cho một hiệp ước Hợp tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP, Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement), để lôi kéo các nước Á Ðông liên kết kinh tế với Mỹ chặt chẽ hơn.
Nhưng , theo cơ quan thông tấn Bắc Kinh thì thế lực kinh tế của Mỹ trong vùng đang thua Trung Quốc. Trung Quốc đã trở thành nước mua hàng của Nhật Bản nhiều nhất, chiếm 20% trong năm 2010; trong khi Mỹ chỉ còn mua 15% số hàng Nhật xuất cảng. Vì “ganh tị” nên Mỹ đang tìm cách chia rẽ Trung Quốc với các nước trong vùng; để hưởng lợi. Tất nhiên, theo Tân Hoa Xã thì Mỹ không có hy vọng thành công: Kinh tế Mỹ không đủ sức mạnh hay tài nguyên để ngự trị vùng Châu Á Thái Bình Dương!
Có lẽ nghe bấy nhiêu lời của Tân Hoa Xã cũng đủ. Một điều mà họ không nhắc tới là chính kinh tế Trung Quốc đang trên đà xuống dốc.
Tuần trước mục này đã trình bày những sự kiện và con số cho thấy nền sản xuất công nghiệp của Trung Quốc đang ứ đọng hàng hóa không bán được. Trên các mạng tư nhân của dân Trung Hoa ở lục địa đang truyền nhau một bài nhận định của Lý Tả Quân, một nhà kinh tế làm trong viện nghiên cứu chính phủ. Ông Lý Tả Quân nói chuyện trong nội bộ từ năm ngoái, nhưng bản báo cáo của ông vừa mới bị lọt ra ngoài ngày 21 Tháng Tám vừa qua.
Từ năm trước, Lý Tả Quân đã tiên đoán: “Kinh tế Trung Quốc sẽ lâm nguy” (Ông Lý dùng chữ “kinh tế nguy cơ”) và báo động các ngân hàng, các cấp chính quyền địa phương sẽ vỡ nợ vào năm 2013. Ðây là điều mà giới phân tích trong và ngoài Trung Quốc đã báo động từ lâu. Nhưng tình trạng mỗi ngày một xấu hơn. Các ngân hàng do nhà nước kiểm soát cho các công ty quốc doanh vay, khi các công ty này không bán được hàng thì họ cũng không trả được nợ. Các cấp chính quyền địa phương lâu nay thu tiền vào ngân sách phần lớn nhờ tịch thu đất ruộng của dân để đem bán lại cho các xí nghiệp với giá cao; đến lúc nguồn thâu đó sẽ cạn; trong khi họ cũng mang đầy nợ từ các ngân hàng.
Lý Tả Quân tiên đoán giữa năm 2013 thì tình trạng này sẽ đi tới mức chịu không nổi, phải phá sản. Trong năm 2012 nhóm lãnh đạo đương nhiệm Hồ Cẩm Ðào, Ôn Gia Bảo sắp chuyển giao ngôi vị cho Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường; cho nên guồng máy nhà nước cố giữ để không có chuyện nào xấu xẩy ra. Họ có tiền để tiếp tục đưa cho các ngân hàng bù vào chỗ nợ xấu không đòi được. Nhưng nhóm lãnh đạo mới sẽ khó giữ mãi chính sách đó. Chậm nhất là đến năm 2014 hay 2015 thì nhiều xí nghiệp cỡ trung và nhỏ, hầu hết các ngân hàng và cơ quan chính quyền sẽ vỡ nợ. Nhà kinh tế lão thành Mao Vu Thức đồng ý với Lý Tả Quân, cũng nói trên các mạng: “Rất có thể sẽ xảy ra đột biến.” Từ vấn đề kinh tế sẽ dẫn đến hàng loạt các vấn đề xã hội, uy quyền của đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ suy yếu.
Tuần trước, mục này đã báo tin chỉ số PMI của Trung Quốc sụt giảm, nhưng đầu tuần này còn tệ hơn nữa. PMI của HSBC là một chỉ số được Ngân hàng Hồng Kông Thượng Hải tính toán sau khi thu thập dữ kiện từ các nhà sản xuất công nghiệp, nhằm dự đoán tương lai của các ngành sản xuất (HSBC Purchasing Managers' Index™). Khi nào chỉ số PMI của một nước xuống dưới 50 tức là sản xuất công nghiệp đang xuống.
Trong Tháng Bẩy chỉ số này đã xuống tới 49.3, giữa Tháng Tám xuống 47.8; nhưng ngày Thứ Hai, 3 Tháng Chín, vừa qua HSBC cho biết chỉ số PMI trong toàn thể Tháng Tám chỉ còn là 47.6. Như vậy là trong suốt 11 tháng vừa qua chỉ số PMI của Trung Quốc liên tục nằm dưới 50. Ðiều đáng chú ý là chỉ số sản xuất công nghiệp của Trung Quốc vẫn xuống mạnh mặc dù đầu mùa Hè năm nay chính quyền Trung Cộng đã thả lỏng cho bơm thêm tiền vào để kích thích sản xuất! (Xin ghi thêm chỉ số PMI của HSBC tại Việt Nam; trong Tháng Bẩy là 43.6, Tháng Chín lên 47.9, tình trạng sản xuất công nghiệp tiếp tục giảm, vẫn dưới chỉ số 50, như các đồng chí vĩ đại).
Một hình ảnh dễ thấy nhất là ngành sản xuất thép, mà Trung Cộng đã bơm vào không biết bao nhiêu tỷ Mỹ kim để xây dựng nhà máy, rồi thép chế ra bán không được. Trong bốn tháng qua giá thép giảm gần 20%; trong nửa năm đầu tiền lời của các công ty thép giảm 96% so với sáu tháng đầu năm ngoái. Nhiều công ty thép đã tự xóa bỏ các hợp đồng mua sắt quặng. Nhưng các công ty của nhà nước vẫn được lệnh chính quyền, đặc biệt là chính quyền địa phương thúc đẩy phải cho máy chạy đều đều, dù sau khi chế ra thì hàng chỉ cất vào kho.
Tại sao họ lại có hành vi lạ lùng như vậy? Vì các cán bộ sẽ được thăng thưởng nếu “tổng số sản xuất lên.” Một triệu tấn thép chất đầy trong kho hay mười ngàn ngôi nhà xây xong bỏ trống; nhưng trị giá của tất cả những thứ đó vẫn được ghi trong số thống kê; đóng góp vào con số tổng sản lượng nội địa (GDP), cho thấy nó vẫn gia tăng! Năm nay, sau khi có giới lãnh đạo mới trong đảng Cộng sản, họ sẽ tính sổ các cán bộ coi anh chị nào đáng lên, anh chị nào phải xuống. Cho nên các quan địa phương càng phải “phấn đấu” cho nhà máy chạy.
Trong một nền kinh tế bình thường, khi hàng tồn kho gia tăng thì người ta biết kinh tế sắp suy yếu, phải giảm bớt sản xuất. Ở Trung Quốc thì hàng tồn kho cứ chất đống mãi cũng không sao, cho đến khi tức nước vỡ bờ!
Kinh tế Trung Quốc trên căn bản vẫn chưa phải kinh tế thị trường. Trên tạp chí Foreign Affairs tháng này, Giáo Sư Bùi Mẫn Hân (Minxin Pei), nhà kinh tế Trung Quốc sống ở Mỹ, nhận xét rằng: “Cảnh kinh tế trì trệ của Bắc Kinh không phải do chu kỳ kinh tế lên xuống, cũng không phải vì các nước khác bớt mua hàng. Căn bệnh của kinh tế bắt rễ sâu hơn. Ðó là vì guồng máy nhà nước phí phạm tài nguyên tiền vốn và chèn ép giới kinh doanh tư; vì từ trong hệ thống không nảy ra sáng kiến, phát minh; và vì một tầng lớp lãnh đạo tham lam chỉ nghĩ cách làm giầu cho chính họ và bảo vệ các đặc quyền của họ mãi mãi.”
Ðó là tình trạng thực của kinh tế Trung Quốc, dù nước Mỹ có trở lại vùng Á Ðông hay không; dù bà Hillary Clinton có thăm quần đảo Cook hay không. Chính quyền Trung Cộng phải luôn luôn gây ồn ào về chính sách “bao vây, ngăn cản” của chính quyền Mỹ vì đó là một cách nuôi tinh thần bài ngoại. Từ gần 200 năm nay, dân Trung Hoa đã có ác cảm với người da trắng. Khơi dậy tình tự thù ghét đó là để cho dân quên đi những bất công xã hội, môi trường ô nhiễm, và những vụ đấu đá chém giết nhau để tranh giành quyền lực trong nội bộ một đảng tham ô!
Dân Trung Quốc không được tự do tìm hiểu và thảo luận về nỗi khó khăn của chính nước họ. Hai tuần trước, ông Từ Hoài Khiêm (Xu Huaiqian), 44 tuổi, chủ biên tạp chí Ðại Ðịa của nhật báo Nhân Dân đã nhảy lầu tự vẫn. Trong blog của ông còn để lại một lời trối trăn: “Nỗi đau đớn của tôi là vì tôi dám suy nghĩ, nhưng lại không dám nói lên. Nếu dám nói ra, tôi cũng không dám viết. Mà nếu tôi dám viết, cũng không ai đăng!”
Tuesday, September 04, 2012 4:55:16 PM
Ngô Nhân Dụng Bà Hillary Clinton bỗng dưng làm cho Cộng sản Trung Quốc bị nhột. Một bài bình luận trên Tân Hoa Xã hỏi: “Tại sao bà Clinton lại công du đến một nước chỉ có 11,000 dân làm cái gì?”
Cái nước nhỏ bé đó là Cook Islands, thực ra dân số gần 20,000 người nhưng Từ điển Bách khoa bên Tàu chưa cập nhật. Một nước 20,000 dân thì không có lý do nào làm cho một nước 1,300,000,000 dân phải bị nhột và làu bàu chỉ trích nước Mỹ. Nhưng Tân Hoa Xã nhắc đến để báo động với dân Trung Hoa là chính quyền Mỹ vẫn tiếp tục đẩy mạnh bao vây Trung Quốc!
Chắc chắn khi đến quần đảo Cook, bà ngoại trưởng Mỹ sẽ không lên giọng giảng giải cho chính phủ nước này phải tôn trọng nhân quyền, cũng không khuyên bảo họ phải tôn trọng chủ quyền trên biển của lân bang. Quốc gia nhỏ bé này theo chế độ dân chủ đại nghị, quyền tư pháp độc lập với ông thủ tướng và Quốc Hội, theo truyền thống Anh quốc. Mỗi đảo trong số gần 20 hòn đảo lớn đều có hội đồng xã do dân bầu lên. Họ liên kết với New Zealand để được trợ giúp về kinh tế, nhận nữ hoàng New Zealand, tức là nữ hoàng Anh làm quốc trưởng. Trung Quốc cũng viện trợ cho chính phủ quần đảo Cook, đã xây tặng họ trụ sở cảnh sát toàn quốc, mà không biết có đặt máy nghe lén hay không!
Bài bình luận trên Tân Hoa Xã kể tội nước Mỹ đang bao vây Trung Quốc. Họ phân tích: “Nửa sau thế kỷ 20 và đầu thế kỷ này chiến lược của Mỹ đặt trọng tâm vào Châu Âu. Trong nhiệm kỳ của Tổng Thống George W. Bush thì ông dồn hết năng lực vào chiến tranh Afghanistan và Iraq. Nhưng trong hai năm qua chính quyền Barack Obama đã nâng cao khẩu hiệu Trở về Châu Á; năm ngoái ông Obama đã khẳng định điều đó trước Quốc Hội Australia, Úc Châu. Washington đã thắt chặt quan hệ quân sự với Nhật Bản, Nam Hàn, Úc và Philippines. Obama gia tăng số thủy quân lục chiến đồn trú ở bờ biển phía Bắc nước Úc. Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Leon Panetta tuyên bố thay đổi kế hoạch điều động hải quân. Trước kia là một nửa ở Châu Á; bây giờ là 60% sang Châu Á! Mỹ đã thao diễn quân sự với các nước Nhật Bản, Nam Hàn, Philippines, Thái Lan và cả Việt Nam! Trong thời gian Trung Quốc và Nhật Bản đang cãi nhau về quần đảo Ðiếu Ngư thì Mỹ đi tập trận trên biển với Hải Quân Nhật suốt 37 ngày! Năm ngoái, số vũ khí Mỹ bán cho nước khác đã lên tới hơn 66 tỷ đô la, phần lớn bán cho các nước Châu Á. Ðầu năm 2013 tới, lần đầu tiên Mỹ sẽ điều động tới Singapore những tầu chiến cận duyên (littoral combat ship, LCS).
Tân Hoa Xã còn nhắc lại từ năm 2009 chính quyền Obama đã cổ động cho một hiệp ước Hợp tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP, Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement), để lôi kéo các nước Á Ðông liên kết kinh tế với Mỹ chặt chẽ hơn.
Nhưng , theo cơ quan thông tấn Bắc Kinh thì thế lực kinh tế của Mỹ trong vùng đang thua Trung Quốc. Trung Quốc đã trở thành nước mua hàng của Nhật Bản nhiều nhất, chiếm 20% trong năm 2010; trong khi Mỹ chỉ còn mua 15% số hàng Nhật xuất cảng. Vì “ganh tị” nên Mỹ đang tìm cách chia rẽ Trung Quốc với các nước trong vùng; để hưởng lợi. Tất nhiên, theo Tân Hoa Xã thì Mỹ không có hy vọng thành công: Kinh tế Mỹ không đủ sức mạnh hay tài nguyên để ngự trị vùng Châu Á Thái Bình Dương!
Có lẽ nghe bấy nhiêu lời của Tân Hoa Xã cũng đủ. Một điều mà họ không nhắc tới là chính kinh tế Trung Quốc đang trên đà xuống dốc.
Tuần trước mục này đã trình bày những sự kiện và con số cho thấy nền sản xuất công nghiệp của Trung Quốc đang ứ đọng hàng hóa không bán được. Trên các mạng tư nhân của dân Trung Hoa ở lục địa đang truyền nhau một bài nhận định của Lý Tả Quân, một nhà kinh tế làm trong viện nghiên cứu chính phủ. Ông Lý Tả Quân nói chuyện trong nội bộ từ năm ngoái, nhưng bản báo cáo của ông vừa mới bị lọt ra ngoài ngày 21 Tháng Tám vừa qua.
Từ năm trước, Lý Tả Quân đã tiên đoán: “Kinh tế Trung Quốc sẽ lâm nguy” (Ông Lý dùng chữ “kinh tế nguy cơ”) và báo động các ngân hàng, các cấp chính quyền địa phương sẽ vỡ nợ vào năm 2013. Ðây là điều mà giới phân tích trong và ngoài Trung Quốc đã báo động từ lâu. Nhưng tình trạng mỗi ngày một xấu hơn. Các ngân hàng do nhà nước kiểm soát cho các công ty quốc doanh vay, khi các công ty này không bán được hàng thì họ cũng không trả được nợ. Các cấp chính quyền địa phương lâu nay thu tiền vào ngân sách phần lớn nhờ tịch thu đất ruộng của dân để đem bán lại cho các xí nghiệp với giá cao; đến lúc nguồn thâu đó sẽ cạn; trong khi họ cũng mang đầy nợ từ các ngân hàng.
Lý Tả Quân tiên đoán giữa năm 2013 thì tình trạng này sẽ đi tới mức chịu không nổi, phải phá sản. Trong năm 2012 nhóm lãnh đạo đương nhiệm Hồ Cẩm Ðào, Ôn Gia Bảo sắp chuyển giao ngôi vị cho Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường; cho nên guồng máy nhà nước cố giữ để không có chuyện nào xấu xẩy ra. Họ có tiền để tiếp tục đưa cho các ngân hàng bù vào chỗ nợ xấu không đòi được. Nhưng nhóm lãnh đạo mới sẽ khó giữ mãi chính sách đó. Chậm nhất là đến năm 2014 hay 2015 thì nhiều xí nghiệp cỡ trung và nhỏ, hầu hết các ngân hàng và cơ quan chính quyền sẽ vỡ nợ. Nhà kinh tế lão thành Mao Vu Thức đồng ý với Lý Tả Quân, cũng nói trên các mạng: “Rất có thể sẽ xảy ra đột biến.” Từ vấn đề kinh tế sẽ dẫn đến hàng loạt các vấn đề xã hội, uy quyền của đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ suy yếu.
Tuần trước, mục này đã báo tin chỉ số PMI của Trung Quốc sụt giảm, nhưng đầu tuần này còn tệ hơn nữa. PMI của HSBC là một chỉ số được Ngân hàng Hồng Kông Thượng Hải tính toán sau khi thu thập dữ kiện từ các nhà sản xuất công nghiệp, nhằm dự đoán tương lai của các ngành sản xuất (HSBC Purchasing Managers' Index™). Khi nào chỉ số PMI của một nước xuống dưới 50 tức là sản xuất công nghiệp đang xuống.
Trong Tháng Bẩy chỉ số này đã xuống tới 49.3, giữa Tháng Tám xuống 47.8; nhưng ngày Thứ Hai, 3 Tháng Chín, vừa qua HSBC cho biết chỉ số PMI trong toàn thể Tháng Tám chỉ còn là 47.6. Như vậy là trong suốt 11 tháng vừa qua chỉ số PMI của Trung Quốc liên tục nằm dưới 50. Ðiều đáng chú ý là chỉ số sản xuất công nghiệp của Trung Quốc vẫn xuống mạnh mặc dù đầu mùa Hè năm nay chính quyền Trung Cộng đã thả lỏng cho bơm thêm tiền vào để kích thích sản xuất! (Xin ghi thêm chỉ số PMI của HSBC tại Việt Nam; trong Tháng Bẩy là 43.6, Tháng Chín lên 47.9, tình trạng sản xuất công nghiệp tiếp tục giảm, vẫn dưới chỉ số 50, như các đồng chí vĩ đại).
Một hình ảnh dễ thấy nhất là ngành sản xuất thép, mà Trung Cộng đã bơm vào không biết bao nhiêu tỷ Mỹ kim để xây dựng nhà máy, rồi thép chế ra bán không được. Trong bốn tháng qua giá thép giảm gần 20%; trong nửa năm đầu tiền lời của các công ty thép giảm 96% so với sáu tháng đầu năm ngoái. Nhiều công ty thép đã tự xóa bỏ các hợp đồng mua sắt quặng. Nhưng các công ty của nhà nước vẫn được lệnh chính quyền, đặc biệt là chính quyền địa phương thúc đẩy phải cho máy chạy đều đều, dù sau khi chế ra thì hàng chỉ cất vào kho.
Tại sao họ lại có hành vi lạ lùng như vậy? Vì các cán bộ sẽ được thăng thưởng nếu “tổng số sản xuất lên.” Một triệu tấn thép chất đầy trong kho hay mười ngàn ngôi nhà xây xong bỏ trống; nhưng trị giá của tất cả những thứ đó vẫn được ghi trong số thống kê; đóng góp vào con số tổng sản lượng nội địa (GDP), cho thấy nó vẫn gia tăng! Năm nay, sau khi có giới lãnh đạo mới trong đảng Cộng sản, họ sẽ tính sổ các cán bộ coi anh chị nào đáng lên, anh chị nào phải xuống. Cho nên các quan địa phương càng phải “phấn đấu” cho nhà máy chạy.
Trong một nền kinh tế bình thường, khi hàng tồn kho gia tăng thì người ta biết kinh tế sắp suy yếu, phải giảm bớt sản xuất. Ở Trung Quốc thì hàng tồn kho cứ chất đống mãi cũng không sao, cho đến khi tức nước vỡ bờ!
Kinh tế Trung Quốc trên căn bản vẫn chưa phải kinh tế thị trường. Trên tạp chí Foreign Affairs tháng này, Giáo Sư Bùi Mẫn Hân (Minxin Pei), nhà kinh tế Trung Quốc sống ở Mỹ, nhận xét rằng: “Cảnh kinh tế trì trệ của Bắc Kinh không phải do chu kỳ kinh tế lên xuống, cũng không phải vì các nước khác bớt mua hàng. Căn bệnh của kinh tế bắt rễ sâu hơn. Ðó là vì guồng máy nhà nước phí phạm tài nguyên tiền vốn và chèn ép giới kinh doanh tư; vì từ trong hệ thống không nảy ra sáng kiến, phát minh; và vì một tầng lớp lãnh đạo tham lam chỉ nghĩ cách làm giầu cho chính họ và bảo vệ các đặc quyền của họ mãi mãi.”
Ðó là tình trạng thực của kinh tế Trung Quốc, dù nước Mỹ có trở lại vùng Á Ðông hay không; dù bà Hillary Clinton có thăm quần đảo Cook hay không. Chính quyền Trung Cộng phải luôn luôn gây ồn ào về chính sách “bao vây, ngăn cản” của chính quyền Mỹ vì đó là một cách nuôi tinh thần bài ngoại. Từ gần 200 năm nay, dân Trung Hoa đã có ác cảm với người da trắng. Khơi dậy tình tự thù ghét đó là để cho dân quên đi những bất công xã hội, môi trường ô nhiễm, và những vụ đấu đá chém giết nhau để tranh giành quyền lực trong nội bộ một đảng tham ô!
Dân Trung Quốc không được tự do tìm hiểu và thảo luận về nỗi khó khăn của chính nước họ. Hai tuần trước, ông Từ Hoài Khiêm (Xu Huaiqian), 44 tuổi, chủ biên tạp chí Ðại Ðịa của nhật báo Nhân Dân đã nhảy lầu tự vẫn. Trong blog của ông còn để lại một lời trối trăn: “Nỗi đau đớn của tôi là vì tôi dám suy nghĩ, nhưng lại không dám nói lên. Nếu dám nói ra, tôi cũng không dám viết. Mà nếu tôi dám viết, cũng không ai đăng!”
Móng vuốt Trung Quốc
Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA) Thông báo của Bộ Ngoại Giao Mỹ vào cuối tháng 8 vừa qua cho biết, ngày 30 tháng 8, Ngoại Trưởng Hillary Clinton bắt đầu chuyến công du đến sáu nơi: quần đảo Cook, Indonesia, Trung Quốc, Timor-Leste (còn gọi là East Timor hay Ðông Timor), Brunei (ở Việt Nam gọi là Bru-nây) và Nga.
Ðọc bản thông báo ấy, một số nhà bình luận chính trị không khỏi ngạc nhiên: Ủa, sao lại ghé thăm quần đảo Cook? Tất cả những nơi khác thì không sao. Người ta có thể hiểu được. Nhưng còn quần đảo Cook? Nó ở đâu nhỉ? Mà đến đó để làm gì nhỉ? Chi tiết phía dưới bản thông báo cho biết thêm: Bà đến dự cuộc hội nghị lần thứ 43 của Diễn Ðàn Nam Thái Bình Dương (South Pacific Forum). Ðến đây, lại thêm một ngạc nhiên nữa: Ủa, nhưng Diễn Ðàn Nam Thái Dương là gì vậy cà?
Tôi sống ở Úc, vẫn thường nghe tên quần đảo Cook cũng như diễn đàn ấy nhiều lần, nhưng thú thực, tôi cũng không quan tâm mấy. Chỉ biết đó là một vùng đất và một tổ chức rất nhỏ. Mà chúng nhỏ thật. Là một tổ chức liên chính phủ, được thành lập từ năm 1971, Diễn Ðàn Nam Thái Bình Dương bao gồm các nước: Úc, Tân Tây Lan, quần đảo Cook, quần đảo Marshall, quần đảo Solomon, Micronesia, Niue, Kiribati, Nauru, Samoa, Palau, Papua New Guinea, Vanuatu, Tonga, Tuvalu (không kể Fiji đã bị tạm đuổi ra khỏi diễn đàn vào năm 2009).
Ngoài Úc và Tân Tây Lan, tất cả các nước còn lại đều vô danh. Ðược biết nhiều, may ra, có Papua New Guinea. Ði máy bay từ Úc sang Mỹ, nếu chăm chú nhìn vào bản đồ trên màn ảnh trước mặt, người ta cũng có thể nhận ra được quần đảo Solomon. Hết. Mà thật. Trong số các nước ấy, chỉ có Papua New Guinea là tương đối lớn, với dân số 6 triệu người, trên một diện tích khá rộng, 462,840 cây số vuông. Nó được xem là quốc gia đa dạng về phương diện chủng tộc cũng như về phương diện văn hóa nhất trên hành tinh: có hàng trăm sắc tộc và có đến 841 ngôn ngữ khác nhau. Tuy nhiên, đó cũng là một quốc gia rất nghèo, thuộc loại nghèo nhất trên thế giới: Khoảng một phần ba dân số chỉ có thu nhập khoảng trên 1 đô la một ngày.
Ngoài Papua New Guinea, có năm quốc gia khác có trên 100,000 dân. Thứ nhất, quần đảo Solomon, tự trị từ năm 1976 và độc lập từ năm 1978, bao gồm cả hàng chục hòn đảo nhỏ, có dân số trên nửa triệu người. Thứ hai, Vanuatu gồm 82 hòn đảo với tổng diện tích trên 12,000 cây số vuông, có dân số trên 200,000 người. Thứ ba, Samoa, trước là thuộc địa của Tân Tây Lan, được độc lập từ năm 1962, chỉ có diện tích khoảng gần 3000 cây số vuông với dân số khoảng trên 180,000 người. Thứ tư, Tonga gồm 176 hòn đảo, nhưng chỉ có 52 hòn đảo là có cư dân; dân số chỉ khoảng trên 100,000 người. Thứ năm, Kiribati, với dân số khoảng trên 100,000 người, là quốc gia đầu tiên có nguy cơ biến mất trên trái đất do hiện tượng biến đổi khí hậu: tất cả các hòn đảo hiện nay họ đang sống có thể sẽ bị chìm dưới đáy biển. Tháng 6 năm 2008, chính phủ Kiribati đã chính thức xin Úc cho toàn bộ công dân của họ được quyền tị nạn nếu hiện tượng ấy xảy ra. Năm nay, họ bắt đầu thương lượng mua một số hòn đảo của Fiji để chuyển dân của họ đến ở.
Còn lại, các quốc gia khác đều có dưới 100,000 dân. Như quần đảo Marshall vốn bao gồm 1156 hòn đảo nhưng dân số chỉ có dưới 70,000 người. Quần đảo Cook, gồm 15 hòn đảo với tổng diện tích khoảng 240 cây số vuông nhưng dân số chỉ chưa tới 20,000 người (không kể khoảng gần 60,000 tự xưng là hậu duệ của người Maori thuộc quần đảo Cook hiện sống tại Tân Tây Lan). Nauru, với dân số dưới 10,000 người, được xem là quốc gia ít dân đứng hàng thứ nhì trên thế giới, chỉ sau Vatican. Tuvalu thì có trên 10,000 dân, chỉ nhiều hơn dân số Vatican và Nauru, trên một diện tích khoảng 26 cây số vuông, chỉ lớn hơn Vatican, Monaco và Nauru. Ðây cũng là một trong sáu quốc gia có nguy cơ bị nước biển nhấn chìm nhất. Niue chỉ có 260 cây số vuông với 1400 cư dân. Phần lớn dân Niue sống ở Tân Tây Lan. Tất cả các công dân Niue sống trên nước họ cũng mang quốc tịch Tân Tây Lan.
Nói chung, trong tổ chức Diễn Ðàn Nam Thái Bình Dương, Úc và Tân Tây Lan là hai quốc gia lớn mạnh nhất. Dân số Úc, dù thuộc loại rất ít trên thế giới (khoảng 22 triệu), đông gấp đôi tổng dân số của 15 quốc gia còn lại. Về kinh tế thì Úc lớn gấp năm lần các quốc gia ấy. Trừ quần đảo Marshall vốn dựa vào Mỹ, tất cả các quốc gia đảo còn lại trong Diễn Ðàn Nam Thái Bình Dương đều lệ thuộc vào nguồn viện trợ của Úc hoặc Tân Tây Lan. Rất nhiều nước thậm chí không có cả quân đội riêng. Mọi công việc quốc phòng cũng như ngoại giao, họ đều ủy thác cho Úc và Tân Tây Lan đảm nhiệm. Có khi ngay cả cảnh sát họ cũng không có đủ. Một số lần xảy ra biến loạn, họ đều nhờ cảnh sát Úc hoặc Tân Tây Lan can thiệp giùm.
Lâu nay, Úc và Tân Tây Lan vẫn xem các quốc gia đảo ở Nam Thái Bình Dương như là sân sau của mình. Mỹ chấp nhận điều đó. Hơn nữa, rất an tâm về điều đó. Với Mỹ, Úc và Tân Tây Lan bao giờ cũng là những đồng minh rất đáng tin cậy. Nhưng tại sao bây giờ ngoại trưởng Mỹ lại đến tham dự hội nghị của Diễn Ðàn Nam Thái Bình Dương?
Xin lưu ý: Ðây là lần đầu tiên, từ năm 1971 đến nay, mới có sự hiện diện của một ngoại trưởng Mỹ trong diễn đàn này. Cũng xin lưu ý điều nữa: Bà Hillary Clinton, với cương vị ngoại trưởng Mỹ, vô cùng bận rộn. Bà mới phá kỷ lục công du ra ngoại quốc nhiều nhất trong tất cả các ngoại trưởng Mỹ từ trước đến nay. Dĩ nhiên, không phải vì bà muốn đi nước ngoài. Mà vì cần. Mà thế giới hiện nay dường như ở đâu cũng cần sự có mặt của bà. Ở đâu cũng dầu sôi lửa bỏng. Ở đâu cũng đầy những vấn đề nhức nhối và khẩn cấp.
Vậy tại sao bà lại đến Diễn Ðàn Nam Thái Bình Dương? Tại sao bà phải đến quần đảo Cook, một nơi nghèo nàn, có thể coi như khỉ ho cò gáy. Nó nghèo đến độ chính phủ ở đó không có đủ xe hơi và chỗ ở cho phái đoàn của bà. Xe hơi, họ phải mượn thêm của tư nhân. Chỗ ở thì phải nhồi nhét mấy người vào một phòng. Tiện nghi thiếu thốn đủ điều.
Lý do chính, không được công khai nói ra, là: Trung Quốc.
Từ hơn mười năm nay, Trung Quốc đã thò tay đến các đảo quốc nhỏ nhoi và xa xôi này. Họ tung cả hàng trăm triệu đô la để viện trợ cho các nước ấy. Họ mua chuộc các chính khách cũng như dân chúng vốn còn rất chất phác ở đó. Trước đây, mục đích của những sự mua chuộc ấy là để cô lập Ðài Loan: yêu cầu các đảo quốc ấy không nhìn nhận Ðài Loan, không làm ăn buôn bán với Ðài Loan. Về sau, họ còn gây chia rẽ giữa các nước hoặc trong nội bộ từng nước, gây nhiều sự bất ổn trong khu vực. Ði xa hơn, họ muốn thuyết phục các đảo quốc ấy tách ra khỏi quỹ đạo của Úc, Tân Tây Lan và Mỹ. Nói cách khác, Trung Quốc muốn xem Nam Thái Bình Dương như là nơi tranh chấp quyền lực với Úc, Tân Tây Lan, và sau hai nước này, là với Mỹ. Ngoài sự tranh chấp ấy, họ còn nhắm đến hai mục tiêu khác. Về phương diện ngoại giao, tuy các đảo quốc này rất nhỏ, rất nghèo và rất yếu, nhưng dù sao họ cũng đều là thành viên của Liên Hiệp Quốc: mỗi nước có một lá phiếu riêng, bình đẳng với tất cả các nước khác. Trong các cuộc bầu cử, sự ủng hộ của họ cũng cần thiết như sự ủng hộ của bất cứ một quốc gia giàu mạnh nào khác. Về phương diện quân sự, các đảo quốc này nằm rải rác trên Thái Bình Dương: Tất cả đều có thể được biến thành những căn cứ quân sự cho một cuộc tranh chấp quốc tế về sau.
Úc và Tân Tây Lan từ lâu biết rõ điều đó. Mỹ, khi quyết định trở lại Châu Á-Thái Bình Dương, cũng biết rõ điều đó.
Ðiều họ biết rõ ấy có thể nói tóm gọn lại: móng vuốt của Trung Quốc đã bắt đầu giương ra khắp nơi.
Kể cả những nơi người ta ít chú ý nhất.
Bởi vậy Ngoại Trưởng Hillary Clinton mới đến tham dự cuộc hội nghị ở quần đảo Cook.
Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA) Thông báo của Bộ Ngoại Giao Mỹ vào cuối tháng 8 vừa qua cho biết, ngày 30 tháng 8, Ngoại Trưởng Hillary Clinton bắt đầu chuyến công du đến sáu nơi: quần đảo Cook, Indonesia, Trung Quốc, Timor-Leste (còn gọi là East Timor hay Ðông Timor), Brunei (ở Việt Nam gọi là Bru-nây) và Nga.
Ðọc bản thông báo ấy, một số nhà bình luận chính trị không khỏi ngạc nhiên: Ủa, sao lại ghé thăm quần đảo Cook? Tất cả những nơi khác thì không sao. Người ta có thể hiểu được. Nhưng còn quần đảo Cook? Nó ở đâu nhỉ? Mà đến đó để làm gì nhỉ? Chi tiết phía dưới bản thông báo cho biết thêm: Bà đến dự cuộc hội nghị lần thứ 43 của Diễn Ðàn Nam Thái Bình Dương (South Pacific Forum). Ðến đây, lại thêm một ngạc nhiên nữa: Ủa, nhưng Diễn Ðàn Nam Thái Dương là gì vậy cà?
Tôi sống ở Úc, vẫn thường nghe tên quần đảo Cook cũng như diễn đàn ấy nhiều lần, nhưng thú thực, tôi cũng không quan tâm mấy. Chỉ biết đó là một vùng đất và một tổ chức rất nhỏ. Mà chúng nhỏ thật. Là một tổ chức liên chính phủ, được thành lập từ năm 1971, Diễn Ðàn Nam Thái Bình Dương bao gồm các nước: Úc, Tân Tây Lan, quần đảo Cook, quần đảo Marshall, quần đảo Solomon, Micronesia, Niue, Kiribati, Nauru, Samoa, Palau, Papua New Guinea, Vanuatu, Tonga, Tuvalu (không kể Fiji đã bị tạm đuổi ra khỏi diễn đàn vào năm 2009).
Ngoài Úc và Tân Tây Lan, tất cả các nước còn lại đều vô danh. Ðược biết nhiều, may ra, có Papua New Guinea. Ði máy bay từ Úc sang Mỹ, nếu chăm chú nhìn vào bản đồ trên màn ảnh trước mặt, người ta cũng có thể nhận ra được quần đảo Solomon. Hết. Mà thật. Trong số các nước ấy, chỉ có Papua New Guinea là tương đối lớn, với dân số 6 triệu người, trên một diện tích khá rộng, 462,840 cây số vuông. Nó được xem là quốc gia đa dạng về phương diện chủng tộc cũng như về phương diện văn hóa nhất trên hành tinh: có hàng trăm sắc tộc và có đến 841 ngôn ngữ khác nhau. Tuy nhiên, đó cũng là một quốc gia rất nghèo, thuộc loại nghèo nhất trên thế giới: Khoảng một phần ba dân số chỉ có thu nhập khoảng trên 1 đô la một ngày.
Ngoài Papua New Guinea, có năm quốc gia khác có trên 100,000 dân. Thứ nhất, quần đảo Solomon, tự trị từ năm 1976 và độc lập từ năm 1978, bao gồm cả hàng chục hòn đảo nhỏ, có dân số trên nửa triệu người. Thứ hai, Vanuatu gồm 82 hòn đảo với tổng diện tích trên 12,000 cây số vuông, có dân số trên 200,000 người. Thứ ba, Samoa, trước là thuộc địa của Tân Tây Lan, được độc lập từ năm 1962, chỉ có diện tích khoảng gần 3000 cây số vuông với dân số khoảng trên 180,000 người. Thứ tư, Tonga gồm 176 hòn đảo, nhưng chỉ có 52 hòn đảo là có cư dân; dân số chỉ khoảng trên 100,000 người. Thứ năm, Kiribati, với dân số khoảng trên 100,000 người, là quốc gia đầu tiên có nguy cơ biến mất trên trái đất do hiện tượng biến đổi khí hậu: tất cả các hòn đảo hiện nay họ đang sống có thể sẽ bị chìm dưới đáy biển. Tháng 6 năm 2008, chính phủ Kiribati đã chính thức xin Úc cho toàn bộ công dân của họ được quyền tị nạn nếu hiện tượng ấy xảy ra. Năm nay, họ bắt đầu thương lượng mua một số hòn đảo của Fiji để chuyển dân của họ đến ở.
Còn lại, các quốc gia khác đều có dưới 100,000 dân. Như quần đảo Marshall vốn bao gồm 1156 hòn đảo nhưng dân số chỉ có dưới 70,000 người. Quần đảo Cook, gồm 15 hòn đảo với tổng diện tích khoảng 240 cây số vuông nhưng dân số chỉ chưa tới 20,000 người (không kể khoảng gần 60,000 tự xưng là hậu duệ của người Maori thuộc quần đảo Cook hiện sống tại Tân Tây Lan). Nauru, với dân số dưới 10,000 người, được xem là quốc gia ít dân đứng hàng thứ nhì trên thế giới, chỉ sau Vatican. Tuvalu thì có trên 10,000 dân, chỉ nhiều hơn dân số Vatican và Nauru, trên một diện tích khoảng 26 cây số vuông, chỉ lớn hơn Vatican, Monaco và Nauru. Ðây cũng là một trong sáu quốc gia có nguy cơ bị nước biển nhấn chìm nhất. Niue chỉ có 260 cây số vuông với 1400 cư dân. Phần lớn dân Niue sống ở Tân Tây Lan. Tất cả các công dân Niue sống trên nước họ cũng mang quốc tịch Tân Tây Lan.
Nói chung, trong tổ chức Diễn Ðàn Nam Thái Bình Dương, Úc và Tân Tây Lan là hai quốc gia lớn mạnh nhất. Dân số Úc, dù thuộc loại rất ít trên thế giới (khoảng 22 triệu), đông gấp đôi tổng dân số của 15 quốc gia còn lại. Về kinh tế thì Úc lớn gấp năm lần các quốc gia ấy. Trừ quần đảo Marshall vốn dựa vào Mỹ, tất cả các quốc gia đảo còn lại trong Diễn Ðàn Nam Thái Bình Dương đều lệ thuộc vào nguồn viện trợ của Úc hoặc Tân Tây Lan. Rất nhiều nước thậm chí không có cả quân đội riêng. Mọi công việc quốc phòng cũng như ngoại giao, họ đều ủy thác cho Úc và Tân Tây Lan đảm nhiệm. Có khi ngay cả cảnh sát họ cũng không có đủ. Một số lần xảy ra biến loạn, họ đều nhờ cảnh sát Úc hoặc Tân Tây Lan can thiệp giùm.
Lâu nay, Úc và Tân Tây Lan vẫn xem các quốc gia đảo ở Nam Thái Bình Dương như là sân sau của mình. Mỹ chấp nhận điều đó. Hơn nữa, rất an tâm về điều đó. Với Mỹ, Úc và Tân Tây Lan bao giờ cũng là những đồng minh rất đáng tin cậy. Nhưng tại sao bây giờ ngoại trưởng Mỹ lại đến tham dự hội nghị của Diễn Ðàn Nam Thái Bình Dương?
Xin lưu ý: Ðây là lần đầu tiên, từ năm 1971 đến nay, mới có sự hiện diện của một ngoại trưởng Mỹ trong diễn đàn này. Cũng xin lưu ý điều nữa: Bà Hillary Clinton, với cương vị ngoại trưởng Mỹ, vô cùng bận rộn. Bà mới phá kỷ lục công du ra ngoại quốc nhiều nhất trong tất cả các ngoại trưởng Mỹ từ trước đến nay. Dĩ nhiên, không phải vì bà muốn đi nước ngoài. Mà vì cần. Mà thế giới hiện nay dường như ở đâu cũng cần sự có mặt của bà. Ở đâu cũng dầu sôi lửa bỏng. Ở đâu cũng đầy những vấn đề nhức nhối và khẩn cấp.
Vậy tại sao bà lại đến Diễn Ðàn Nam Thái Bình Dương? Tại sao bà phải đến quần đảo Cook, một nơi nghèo nàn, có thể coi như khỉ ho cò gáy. Nó nghèo đến độ chính phủ ở đó không có đủ xe hơi và chỗ ở cho phái đoàn của bà. Xe hơi, họ phải mượn thêm của tư nhân. Chỗ ở thì phải nhồi nhét mấy người vào một phòng. Tiện nghi thiếu thốn đủ điều.
Lý do chính, không được công khai nói ra, là: Trung Quốc.
Từ hơn mười năm nay, Trung Quốc đã thò tay đến các đảo quốc nhỏ nhoi và xa xôi này. Họ tung cả hàng trăm triệu đô la để viện trợ cho các nước ấy. Họ mua chuộc các chính khách cũng như dân chúng vốn còn rất chất phác ở đó. Trước đây, mục đích của những sự mua chuộc ấy là để cô lập Ðài Loan: yêu cầu các đảo quốc ấy không nhìn nhận Ðài Loan, không làm ăn buôn bán với Ðài Loan. Về sau, họ còn gây chia rẽ giữa các nước hoặc trong nội bộ từng nước, gây nhiều sự bất ổn trong khu vực. Ði xa hơn, họ muốn thuyết phục các đảo quốc ấy tách ra khỏi quỹ đạo của Úc, Tân Tây Lan và Mỹ. Nói cách khác, Trung Quốc muốn xem Nam Thái Bình Dương như là nơi tranh chấp quyền lực với Úc, Tân Tây Lan, và sau hai nước này, là với Mỹ. Ngoài sự tranh chấp ấy, họ còn nhắm đến hai mục tiêu khác. Về phương diện ngoại giao, tuy các đảo quốc này rất nhỏ, rất nghèo và rất yếu, nhưng dù sao họ cũng đều là thành viên của Liên Hiệp Quốc: mỗi nước có một lá phiếu riêng, bình đẳng với tất cả các nước khác. Trong các cuộc bầu cử, sự ủng hộ của họ cũng cần thiết như sự ủng hộ của bất cứ một quốc gia giàu mạnh nào khác. Về phương diện quân sự, các đảo quốc này nằm rải rác trên Thái Bình Dương: Tất cả đều có thể được biến thành những căn cứ quân sự cho một cuộc tranh chấp quốc tế về sau.
Úc và Tân Tây Lan từ lâu biết rõ điều đó. Mỹ, khi quyết định trở lại Châu Á-Thái Bình Dương, cũng biết rõ điều đó.
Ðiều họ biết rõ ấy có thể nói tóm gọn lại: móng vuốt của Trung Quốc đã bắt đầu giương ra khắp nơi.
Kể cả những nơi người ta ít chú ý nhất.
Bởi vậy Ngoại Trưởng Hillary Clinton mới đến tham dự cuộc hội nghị ở quần đảo Cook.
TC Nhồi Sọ HS Hồng Kông
Tác giả : Vi Anh
Tính đến ngày 4 tháng Chín năm 2012 là đã gần suốt một tuần lễ, hàng chục ngàn học sinh, phụ huynh học sinh, và dân chúng Hồng Kông đã biểu tình tuần hành để chống đối CS Bắc Kinh áp đặt chương trình giáo dục gọi là “yêu nước” đối với các trung tiểu học ở Hông Kông. Nhưng thực chất đó là tài liệu tuyên truyền tẫy não và nhồi sọ theo kiểu đối với tù “cải tạo” đem áp dụng cho học sinh Hồng Kông. Chủ tịch đặc khu hành chính Hồng Kông do TC đề cử đã phải bãi bỏ chuyến đi Nga dự hội nghị APEC để đối phó với cuộc biểu tình lần thứ hai chống chương trình giáo dục mà CS Bắc Kinh định nhồi nhét chủ nghĩa CS vào đầu óc lớp đầu xanh tuổi trẻ Hồng Kông.
Đây không phải lần đầu tiên dân chúng Hồng Kông biểu tình chống chương trinh giáo dục tuyên truyền cho CS. Cuộc biểu tình thứ nhứt xảy ra vào ngày 29 tháng 07, có tới 90,000 người tham gia, kiên quyết phản đối kế hoạch của nhà cầm quyền CS Bắc Kinh đưa những bài học theo chữ dùng của CS trong kỹ thuật tuyên truyền dụng danh đạt quả, gọi là “tinh thần yêu nước Trung Quốc vào chương trình giáo khoa” cho học sinh Hồng Kông. Nhưng dân chúng Hồng Kông khẳng định đây là những bài bắt học có tính tuyên truyền “tẩy não”, “nhồi sọ” mà CS Bắc Kinh muốn áp đặt đối với học sinh con em mình của người dân ở Hồng Kông, dù CS Bắc Kinh thừa nhận Hồng Kông là một “đặc khu hành chánh tự trị dưới hình thức một quốc gia hai chế độ do chính TC công khai tuyên bố từ sau khi Anh trao trả Hồng Kông lại cho nhà cầm quyền CS Bắc Kinh.
Tin phân tích của thông tấn xã Pháp AFP cho biết CS Bắc Kinh tự động thêm vào chương trình giáo dục ở Hồng Kông một môn học riêng biệt dạy cho trẻ em Hồng Kông điều mà CS Bắc Kinh gọi là “tinh thần yêu nước, về một đất nước Trung Hoa rộng lớn, để tạo nên sự tự hào và gắn bó với Trung Hoa đại lục”. CS Bắc Kinh dự trù sẽ thí điểm môn này kể từ tháng 9/2012 để trở thành môn học bắt buộc kể từ năm 2015.
Cả thế giới đều biết, nhứt là dân Hồng Kông thừa biết cái kiểu tuyên truyền xảo thuật lập lờ đánh lận con đen. Quơ đũa cả nắm của CS Trung Quốc. CS đồng hoá yêu tổ quốc là tổ quốc xã hội chủ nghĩa đỏ lòm, yêu đất nước là yêu chế độ CS. Dân chủ tập trung của CS là dân chủ cái kiểu dời dấu phết trong khẩu hiệu tuyên truyền “đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ đất nước” thành một thực tế phũ phàng cướp cạn quyền làm chủ của người dân là CS độc tài đảng trị toàn diện: “đảng lãnh đạo nhà nước, quản lý nhân dân, làm chủ đất nước”. Dân Hồng Kông xuống đường bảo vệ không để cho con em mình bị CS tẩy não, nhồi sọ,cải tạo. Dân chúng Hồng Kông muốn con em mình được giáo dục với một chương trình khách quan và trung thực.
Chương trình giáo dục gọi là “yêu nước” của CS Bắc Kinh áp đặt cho học sinh Hồng Kông hoàn toàn có tính tuyên truyền, chớ không phải giáo dục. Trong khi văn minh cho Nhân Loại, giáo dục tiên tiến không chấp nhận đem tuyên truyền chánh trị đảng phái vào học đường, nhứt là đối với học sinh trung tiểu học. Người ta nhận thấy chương trình bài học “yêu nước” do CS Bắc Kinh áp đặt không trung thực và vô tư. Những sự kiện lịch sử như vụ thảm sát Thiên An Môn, hay là những tin liên quan đến nghệ sĩ Ngải Vị Vị hoàn toàn không có một chữ nào.
Trong kỳ biểu tình lần đầu, giới chức công quyền tay sai của CS Bắc Kinh ở Hồng Kông, tỏ ra cứng rắn với những người biểu tình. Nhà cầm quyền tay sai của CS Bắc Kinh phản bác mọi cáo buộc của người biểu tình và tuyên bố không hoãn ngày cải tổ chương trình giáo dục đã dự trù.
Nên ngày 1 tháng 9 năm 2012, dân chúng và phụ huynh học sinh Hồng Kông lại biểu tình lần thứ hai chống đối chương trình giáo dục “yêu nước” của CS Bắc Kinh áp đặt cho học sinh Hồng Kông. Dưới trời mưa nhiệt đới, mà cả 40,000 học sinh, sinh viên Hồng Kông và phụ huynh biểu tình trước cửa trụ sở chính quyền Hồng Kông. Một số sinh viên tuyên bố tuyệt thực. Tố cáo, lên án ý đồ của CS Bắc Kinh ra sức tẩy não, nhồi sọ, cải tạo học sinh, tại một khu vực chính CS Bắc Kinh thừa nhận là «dân biệt tự trị» mà TC đã ký với Anh khi trao trả vào năm 1997.
Trước khí thế và lòng kiên quyết của dân chúng Hồng Kông, Bộ Giáo dục của TC từ lục địa phải lên tiếng. Kỳ này phát ngôn viên của Bộ Giáo dục Trung Quốc tuyên bố chính phủ sẽ tiếp tục nghiên cứu tất cả các quan điểm khác nhau trong vấn đề này. Nhưng phát ngôn viên của Bộ không nói có bỏ môn học này hay không ở Hồng Kông.
Ô. Lương chấn Anh người do CS Bắc Kinh đề cử làm Chủ Tịch Hồng Kông hủy chuyến đi họp APEC ở Nga để giải quyết. Ông đồng ý gặp người biểu tình nhưng với điều kiện tiên quyết không thảo luận về việc không thi hành hay hoãn quyết định của CS Bắc kinh. Trong khi đó người biểu tình yêu cầu hoãn thi hành một năm.
Một vài hành động chống CS tẩy não, người biểu tình thực hiện gây nhiểu ấn tượng. Một người cha của học sinh chun dầu vào máy giặt để chống TC tẫy não học sinh con mình.
Nhiều người biểu tình bao quanh và hỗ trợ tinh thần ba sinh viên tuyên bố tuyệt thực 72 tiếng đồng hồ để tẩy chay hàng hoá TC, không ăn salades của TC.
Tài liệu mà dân Hồng Kông chống đối là một quyển sách giáo khoa 34 trang, mang tên “Người Trung Quốc Gương Mẩu.” Nhưng nội dung là dạy cho học sinh Hồng Kông chế độ TQ, mô tả chế độ độc đảng là “tiến bộ, vị tha và đoàn kết” chống lại “chế độ dân chủ đa đảng tây phương mà sự xung đột của các phe đảng đưa người dân đến cảnh lâm nguy”.
Ô. Fung Wai-wah, chủ tịch Nghiệp Đoàn Nhà Giáo ở Hồng Kông phát biều: cuốn sách đó chỉ chứa những thông tin đảng phái hay dối trá, ca ngợi TQ cộng sản, đầy khiêu khích đi ngược lại nguyên tắc giáo dục là học suy tư.” Đại đa số dân chúng và phụ huynh học sinh coi quyển sách và chương trình gáo dục CS Bắc Kinh buộc phải dạy thêm cho học sinh Hồng Kông, là “đồ quỉ quái”, TC muốn tẩy não, nhồi sọ và cải tạo học sinh là thành phần dễ gây ảnh hưởng. Dân Hồng Kông lên án CS Bắc Kinh nhộm đỏ học đường và nhuộm đỏ đầu xanh còn ngây thơ.
Nhà cầm quyền ủy trị của CS Bắc Kinh ở Hổng Kông tìm cách hoá giải, giải thích cuốn sách mà người biểu tình gọi là quỉ quái đó chì là cuốn chỉ dẩn cho giáo chức sỬ dụng và chánh quyền dành quyền tự do cho giáo chức áp dụng hay thêm bớt hay không.
Nhưng 7 triệu người dân không tin lời giải thích của chức sắc Hổng Kông và lời hứa công khai của TC kể cả qui chế tự trị của Hồng Kông vì không biết bao nhiêu lần TC qua nhiểu hình thức muốn áp đặt chế độ CS độc tài đảng trị toàn diện lên Hồng Kông như ở lục địa trên phương diện công quyền. Và trên phương diện tư tưởng TC muốn người dân Hồng Kông phải học hỏi theo kiểu CS, phải suy tưởng, ăn nói theo kiểu TC.
Người Hồng Kông biết tự do, dân chủ, nhân quyền không bao giờ chờ mà có, xin mà được; phải chiến đấu, tranh đầu mới có được. Nên các cuộc biểu tình sẽ còn xảy ra liên tục, với nhiều đề tài chống TC muốn áp dụng chế độ CS độc tài đảng trị toàn diện lên Hồng Kông./.
Tác giả : Vi Anh
Tính đến ngày 4 tháng Chín năm 2012 là đã gần suốt một tuần lễ, hàng chục ngàn học sinh, phụ huynh học sinh, và dân chúng Hồng Kông đã biểu tình tuần hành để chống đối CS Bắc Kinh áp đặt chương trình giáo dục gọi là “yêu nước” đối với các trung tiểu học ở Hông Kông. Nhưng thực chất đó là tài liệu tuyên truyền tẫy não và nhồi sọ theo kiểu đối với tù “cải tạo” đem áp dụng cho học sinh Hồng Kông. Chủ tịch đặc khu hành chính Hồng Kông do TC đề cử đã phải bãi bỏ chuyến đi Nga dự hội nghị APEC để đối phó với cuộc biểu tình lần thứ hai chống chương trình giáo dục mà CS Bắc Kinh định nhồi nhét chủ nghĩa CS vào đầu óc lớp đầu xanh tuổi trẻ Hồng Kông.
Đây không phải lần đầu tiên dân chúng Hồng Kông biểu tình chống chương trinh giáo dục tuyên truyền cho CS. Cuộc biểu tình thứ nhứt xảy ra vào ngày 29 tháng 07, có tới 90,000 người tham gia, kiên quyết phản đối kế hoạch của nhà cầm quyền CS Bắc Kinh đưa những bài học theo chữ dùng của CS trong kỹ thuật tuyên truyền dụng danh đạt quả, gọi là “tinh thần yêu nước Trung Quốc vào chương trình giáo khoa” cho học sinh Hồng Kông. Nhưng dân chúng Hồng Kông khẳng định đây là những bài bắt học có tính tuyên truyền “tẩy não”, “nhồi sọ” mà CS Bắc Kinh muốn áp đặt đối với học sinh con em mình của người dân ở Hồng Kông, dù CS Bắc Kinh thừa nhận Hồng Kông là một “đặc khu hành chánh tự trị dưới hình thức một quốc gia hai chế độ do chính TC công khai tuyên bố từ sau khi Anh trao trả Hồng Kông lại cho nhà cầm quyền CS Bắc Kinh.
Tin phân tích của thông tấn xã Pháp AFP cho biết CS Bắc Kinh tự động thêm vào chương trình giáo dục ở Hồng Kông một môn học riêng biệt dạy cho trẻ em Hồng Kông điều mà CS Bắc Kinh gọi là “tinh thần yêu nước, về một đất nước Trung Hoa rộng lớn, để tạo nên sự tự hào và gắn bó với Trung Hoa đại lục”. CS Bắc Kinh dự trù sẽ thí điểm môn này kể từ tháng 9/2012 để trở thành môn học bắt buộc kể từ năm 2015.
Cả thế giới đều biết, nhứt là dân Hồng Kông thừa biết cái kiểu tuyên truyền xảo thuật lập lờ đánh lận con đen. Quơ đũa cả nắm của CS Trung Quốc. CS đồng hoá yêu tổ quốc là tổ quốc xã hội chủ nghĩa đỏ lòm, yêu đất nước là yêu chế độ CS. Dân chủ tập trung của CS là dân chủ cái kiểu dời dấu phết trong khẩu hiệu tuyên truyền “đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ đất nước” thành một thực tế phũ phàng cướp cạn quyền làm chủ của người dân là CS độc tài đảng trị toàn diện: “đảng lãnh đạo nhà nước, quản lý nhân dân, làm chủ đất nước”. Dân Hồng Kông xuống đường bảo vệ không để cho con em mình bị CS tẩy não, nhồi sọ,cải tạo. Dân chúng Hồng Kông muốn con em mình được giáo dục với một chương trình khách quan và trung thực.
Chương trình giáo dục gọi là “yêu nước” của CS Bắc Kinh áp đặt cho học sinh Hồng Kông hoàn toàn có tính tuyên truyền, chớ không phải giáo dục. Trong khi văn minh cho Nhân Loại, giáo dục tiên tiến không chấp nhận đem tuyên truyền chánh trị đảng phái vào học đường, nhứt là đối với học sinh trung tiểu học. Người ta nhận thấy chương trình bài học “yêu nước” do CS Bắc Kinh áp đặt không trung thực và vô tư. Những sự kiện lịch sử như vụ thảm sát Thiên An Môn, hay là những tin liên quan đến nghệ sĩ Ngải Vị Vị hoàn toàn không có một chữ nào.
Trong kỳ biểu tình lần đầu, giới chức công quyền tay sai của CS Bắc Kinh ở Hồng Kông, tỏ ra cứng rắn với những người biểu tình. Nhà cầm quyền tay sai của CS Bắc Kinh phản bác mọi cáo buộc của người biểu tình và tuyên bố không hoãn ngày cải tổ chương trình giáo dục đã dự trù.
Nên ngày 1 tháng 9 năm 2012, dân chúng và phụ huynh học sinh Hồng Kông lại biểu tình lần thứ hai chống đối chương trình giáo dục “yêu nước” của CS Bắc Kinh áp đặt cho học sinh Hồng Kông. Dưới trời mưa nhiệt đới, mà cả 40,000 học sinh, sinh viên Hồng Kông và phụ huynh biểu tình trước cửa trụ sở chính quyền Hồng Kông. Một số sinh viên tuyên bố tuyệt thực. Tố cáo, lên án ý đồ của CS Bắc Kinh ra sức tẩy não, nhồi sọ, cải tạo học sinh, tại một khu vực chính CS Bắc Kinh thừa nhận là «dân biệt tự trị» mà TC đã ký với Anh khi trao trả vào năm 1997.
Trước khí thế và lòng kiên quyết của dân chúng Hồng Kông, Bộ Giáo dục của TC từ lục địa phải lên tiếng. Kỳ này phát ngôn viên của Bộ Giáo dục Trung Quốc tuyên bố chính phủ sẽ tiếp tục nghiên cứu tất cả các quan điểm khác nhau trong vấn đề này. Nhưng phát ngôn viên của Bộ không nói có bỏ môn học này hay không ở Hồng Kông.
Ô. Lương chấn Anh người do CS Bắc Kinh đề cử làm Chủ Tịch Hồng Kông hủy chuyến đi họp APEC ở Nga để giải quyết. Ông đồng ý gặp người biểu tình nhưng với điều kiện tiên quyết không thảo luận về việc không thi hành hay hoãn quyết định của CS Bắc kinh. Trong khi đó người biểu tình yêu cầu hoãn thi hành một năm.
Một vài hành động chống CS tẩy não, người biểu tình thực hiện gây nhiểu ấn tượng. Một người cha của học sinh chun dầu vào máy giặt để chống TC tẫy não học sinh con mình.
Nhiều người biểu tình bao quanh và hỗ trợ tinh thần ba sinh viên tuyên bố tuyệt thực 72 tiếng đồng hồ để tẩy chay hàng hoá TC, không ăn salades của TC.
Tài liệu mà dân Hồng Kông chống đối là một quyển sách giáo khoa 34 trang, mang tên “Người Trung Quốc Gương Mẩu.” Nhưng nội dung là dạy cho học sinh Hồng Kông chế độ TQ, mô tả chế độ độc đảng là “tiến bộ, vị tha và đoàn kết” chống lại “chế độ dân chủ đa đảng tây phương mà sự xung đột của các phe đảng đưa người dân đến cảnh lâm nguy”.
Ô. Fung Wai-wah, chủ tịch Nghiệp Đoàn Nhà Giáo ở Hồng Kông phát biều: cuốn sách đó chỉ chứa những thông tin đảng phái hay dối trá, ca ngợi TQ cộng sản, đầy khiêu khích đi ngược lại nguyên tắc giáo dục là học suy tư.” Đại đa số dân chúng và phụ huynh học sinh coi quyển sách và chương trình gáo dục CS Bắc Kinh buộc phải dạy thêm cho học sinh Hồng Kông, là “đồ quỉ quái”, TC muốn tẩy não, nhồi sọ và cải tạo học sinh là thành phần dễ gây ảnh hưởng. Dân Hồng Kông lên án CS Bắc Kinh nhộm đỏ học đường và nhuộm đỏ đầu xanh còn ngây thơ.
Nhà cầm quyền ủy trị của CS Bắc Kinh ở Hổng Kông tìm cách hoá giải, giải thích cuốn sách mà người biểu tình gọi là quỉ quái đó chì là cuốn chỉ dẩn cho giáo chức sỬ dụng và chánh quyền dành quyền tự do cho giáo chức áp dụng hay thêm bớt hay không.
Nhưng 7 triệu người dân không tin lời giải thích của chức sắc Hổng Kông và lời hứa công khai của TC kể cả qui chế tự trị của Hồng Kông vì không biết bao nhiêu lần TC qua nhiểu hình thức muốn áp đặt chế độ CS độc tài đảng trị toàn diện lên Hồng Kông như ở lục địa trên phương diện công quyền. Và trên phương diện tư tưởng TC muốn người dân Hồng Kông phải học hỏi theo kiểu CS, phải suy tưởng, ăn nói theo kiểu TC.
Người Hồng Kông biết tự do, dân chủ, nhân quyền không bao giờ chờ mà có, xin mà được; phải chiến đấu, tranh đầu mới có được. Nên các cuộc biểu tình sẽ còn xảy ra liên tục, với nhiều đề tài chống TC muốn áp dụng chế độ CS độc tài đảng trị toàn diện lên Hồng Kông./.

