Cà Phê...Vịt
Moderator: khieulong
Sau lưng một vạt nắng
uyen_btx Tôi kéo lê chiếc va-li theo con phố. Ngày trước đây chỉ là con đường gồ ghề, lắm ổ gà ổ vịt. Nay nó bằng phẳng hơn nhiều. Tạo cho người đi cảm giác thăng bằng. Không bấp bênh, chuếnh choáng nữa. Rồi tôi dừng lại trước quán cà phê ấy với sự bàng hoàng. Cảm giác cơ bản vẫn thế, nhưng cái ấm áp ngày xưa đã hư hao ít nhiều. Cảnh vật ở đây cũng thay đổi. Cái quán nhỏ nằm san sát những ngôi nhà ngói lụp xụp. Chỉ duy có cái bảng điện ghi tên quán. Nay trở nên rộng lớn. Chiếm lĩnh một góc phố. Từ ngoài vào trong đều chong đèn lung linh. Xung quanh là giàn hoa tigôn leo mềm mại. Người ra vào không còn là những vị khách ăn mặc xuềnh xoàng. Họ lộng lẫy và sang trọng. Đủ để mọi người có thể gán vào cái mác “Quý Tộc”. Chỉ mới ba năm thôi, tất cả như vừa trải qua một cơn bão. Nó cuốn mọi thứ cũ kĩ đi mất. Chỉ để lại một nơi giữa lòng phố thân quen hai chữ… “Xa Lạ”.
Tôi ngồi bệt xuống vỉa hè. Bất giác đưa bàn tay vân vê lên nền gạch. Như tìm cái thân quen ở những bậc vỉa hè xi-măng trám sạn. Nhưng cái tôi tìm được là cái trơn nhẵn hoàn toàn. Cảm giác láng mịn của những ô gạch đủ màu sắc làm dấy lên trong tôi cái lạ lẫm. Nước mắt nóng hổi rơi dài trên đôi gò má. Tôi chẳng biết mình khóc vì điều gì. Lúc này đây, tôi không còn đủ sức mạnh để đối diện với mọi thứ. Đối diện với nỗi cô đơn. Tôi chợt nhớ Bình Nguyên da diết. Cậu bạn thuở “cái bánh cũng chia đôi” của tôi. Bình Nguyên thông minh và biết làm người khác vui. Từ cái điều nhỏ nhặt, hay trong những tình huống “éo le” nhất. Nếu bây giờ cậu ở đây, mỉm cười rồi bảo với tôi: “Mọi thứ ổn cả thôi!” Thì có lẽ, lòng tôi sẽ bình yên đôi chút.
*
Nhà trọ xập xệ, xuống cấp ngày trước tôi sống cũng được cải tiến phần nào. Nó được nâng cấp thành khách sạn đầy đủ tiện nghi. Bác chủ già sức khỏe yếu đi nhiều. Đôi mắt không còn tinh anh nữa. Cũng không còn nhận ra tôi. Thời gian ba năm làm tôi trưởng thành và thay đổi không ít. “Làm sao còn có thể nhận ra một con bé mười bảy tuổi nhà quê của ba năm trước nữa!” Tôi buông nụ cười nhẹ tênh trước suy nghĩ của mình. Thì ra, thời gian có sức công phá thật mạnh mẽ.
Lúc tôi tỉnh giấc trời đã chập choạng tối. Đèn đường thắp sáng. Ánh vàng dịu nhẹ làm vẻ cổ kính mà hiện đại nơi đây trở nên lung linh, huyền ảo. Tôi khoác chiếc áo bông mỏng, dạo phố đêm. Người qua kẻ lại tấp nập. Họ thích thú ghé các gian hàng đủ màu sắc kia, chọn cho mình những món đồ xinh xắn. Dù là thế, chúng không đủ sức hấp dẫn với tôi. Sinh nhật năm tôi mười sáu. Bình Nguyên tặng tôi chiếc kẹp nơ hồng mà cậu để dành tiền ăn cả nửa tháng trời mới mua được. Tôi lại chê bai đủ điều. Nào là “tóc tớ ngắn kẹp lên không đẹp, “tớ ghét màu hồng lắm, sến chết đi được” hay “nó chẳng hợp với kiểu của tớ”. Vậy mà cậu ấy chỉ bình thản đáp: “Tớ thấy đẹp được rồi. Cậu không thích thì cứ vứt đi”. Rồi cứ thế giận cả tuần liền. Cho đến khi tôi chịu cài nó lên tóc.
Dòng suy nghĩ của tôi chấm dứt. Cũng là khi tôi thấy mình đã đứng trước “Paradise”- quán cà phê ban chiều . Ý thức mách bảo tôi đến đây. Tôi sẽ gặp được Bình Nguyên, nên cứ đi thôi! Chần chừ một lúc, tôi bước theo dòng người tiến vào trong. Ngồi vào vị trí mà tôi cho là yên tĩnh nhất. Gọi thức uống và vài món ăn nhẹ. Rồi chậm rãi, đưa mắt quan sát xung quanh. Mọi thứ ở đây làm tôi ngỡ ngàng. Nó hệt như cái tên vậy- một Thiên Đường chính hiệu.
*
Xộc lên mũi tôi là hương cà phê nồng nàn. Hương kem tươi mát. Vị rượu cay xè. Kèm bản nhạc làm tôi lâng lâng. Phải thú thật tôi rất ít nghe nhạc. Nhưng bản nhạc này lại nằm trong số ít tôi đã nghe. Hồi xửa xừa xưa, Bình Nguyên chở tôi đi học bằng xe đạp. Cậu ấy lúc nào cũng vừa đạp vừa hát. Giọng trầm đặc trưng của con trai, chẳng cao vút và trong veo. Nhưng lại để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc. Sau này, khi nhận được học bổng du học. Mỗi khi cô đơn, tôi thường lên mạng tìm bài hát ấy để nghe. Nó làm tôi cảm thấy vững tâm hơn trong những ngày mưa nắng thất thường. Những ngày bộn bề giữa guồng quay cuộc sống.
Nốt nhạc cuối cùng vang lên. Dòng cảm xúc đứt quãng kéo tôi về với thực tại. Tôi ngồi đây đã hơn một tiếng đồng hồ. Càng về đêm, chỗ này càng tấp nập người ra kẻ vào. Tôi gắng mở to mắt đến mức có thể để quan sát đám đông trong ánh đèn mờ ảo. Lúc ẩn lúc hiện. Cậu ấm cô chiêu, đầu vàng đầu đỏ. Rồi tất tật nhân viên. Tất cả đều nằm gọn trong tầm mắt tôi. Vậy thì… Nguyên à! Cậu ở đâu?
*
Những bản nhạc tiếp theo sôi nổi hơn, khuấy động hơn. Âm thanh từ bốn bức tường dội đến làm tôi choáng váng, thần thái mơ hồ. Tôi ra ngoài, hít hà không khí trong lành. Không còn mùi thuốc lá xè xè xông lên mũi, lên mắt. Vậy mà khóe mắt vẫn cay.
Dáng người ấy cao hơn tôi một cái đầu. Bộ vest đen hàng hiệu cầu kì, xe hơi đời mới, đồng hồ vàng nạm vài hạt kim cương loe lóe trong đêm. Tất cả những món đồ xa hoa khác. Dù là có lấp đầy trên người của cậu ta. Tôi vẫn có thể nhận ra. Đó là Bình Nguyên. Không thể lẫn.
- Này, Bình Nguyên ơi! Bình Nguyên…- Tôi mặc kệ phố người ồn ã. Vừa chạy vừa hét toáng tên cậu trong sung sướng.
Cậu ấy quả thật đẹp trai, lịch lãm hơn trước rất nhiều. Tôi đã đứng trước mặt Bình Nguyên.
Năm phút trôi qua trong yên lặng.
Mười phút trôi qua trong yên lặng…
Tôi vẫn đang nhìn thật kĩ khuôn mặt kia. Quen thuộc thật. Những đường nét tạo nên sự ấn tượng. Mà sao đôi mắt lạ quá! Chẳng chút cảm xúc thân quen. Bình Nguyên nhìn tôi như thể “tôi biết cô ấy”. Nhưng vẻ mặt lạnh lùng đến kinh ngạc.
- Nguyên à! Đi thôi, mọi người đang đợi đấy!- Tôi nghe thấy tiếng nói phát ra từ đằng ấy. Là một người phụ nữ trung niên. Bà ta đáng tuổi mẹ tôi ấy chứ! Nếu bà còn sống.
Hình ảnh nhòa đi trước mắt. Cảnh đổi, buồn một chút. Vì vốn dĩ nó là điều thân thương. Lòng người thay đổi đau gấp bội. Vì đó là niềm tin, tình cảm chân thành mà sâu sắc trong cuộc sống. “Bình Nguyên! Tim tớ không thấy nhói- nó đã vỡ tung.”
*
Tôi suy nghĩ… rồi lại suy nghĩ. Cuối cùng là cả đêm không ngủ. Đôi mắt thâm xì, sưng to xấu xí. Bất kể là hôm qua đã thấy gì. Tôi sẽ trở lại “Paradise” để tìm cậu ấy. Một lần, thẳng thắn nói chuyện, xóa bỏ nghi ngờ. Tôi mang theo tâm trạng bừng bừng như lửa, đầy khí thế. Mong sẽ nghe những lời nói chân thành từ cậu. Mong rằng Bình Nguyên sẽ mang đến làn nước mát dập tắt ngọn lửa trong lòng tôi.
Tôi vào nhà vệ sinh. Tung nước, vỗ vỗ lên mặt lấy can đảm. Mặc dù tiếng nước ào ào là thế. Những tạp âm xung quanh, tiếng tĩnh điện đang chạy, kể cả những lời bàn tán của những cô gái ở đây. Rõ mồn một, truyền vào tai tôi.
- Tiếc quá mày nhỉ? Anh Nguyên đẹp trai thế kia, có tài nữa. Tại sao lại phải đi bám váy con mụ đó chứ!
- Thế mày không biết đồng tiền nó có sức mạnh lắm sao?- Tiếp đó, tôi nghe tiếng cười khẩy, hắt ra thật nhẹ lọt vào gió mong manh.
Đến khi bước ra ngoài. Tôi vẫn còn ám ảnh bởi nụ cười của cô ta. Nụ cười mang âm điệu vừa rõ vừa nhạt. Nụ cười mang đầy vẻ khinh thường. Đồng tiền có thể mua được tất cả. Mua được tình cảm, lòng thành và lòng tự trọng của một con người chăng? Đó không phải là bạn làm ăn của cậu như tôi nghĩ, bạn bè thân thiết lại càng không. Thật không thể chối bỏ các suy nghĩ "cậu ta đúng là đồ xấu xa" của tôi. Bởi vì... họ là tình nhân cơ đấy! Tôi giận.Rồi quy chụp tất cả những thói xấu của đàn ông, của những kẻ đặt đồng tiền lên hàng đầu. Và chẳng có cuộc nói chuyện nào diễn ra sau đó. Tôi đặt vé máy bay về trong ngày nhưng đã hết. Chỉ còn chuyến bay vào chiều hôm sau. Dù sớm hay muộn, tôi cũng sẽ về. Đến và đi, chuyện trên đời vẫn thường xảy ra thôi!
*
Bảy giờ ba mươi sáng, khách sạn.
Cơn đau dạ dày kéo dài suốt đêm qua. Tôi cố ôm trọn nó vào trong. Gắng sức chịu đựng đến bứt rứt cả người. Bác chủ khách sạn tốt bụng đưa thuốc cho tôi uống nhưng không đỡ hơn là bao. Vậy là sáng ra, tôi đành phải đến bệnh viện để khám. Mặc dù đó là nơi tôi không thích nhất. Vì cái mùi thuốc nồng choáng ngợp của nó. Vì khi đến đó, tôi thấy vô số con người. Muôn vàn bộ mặt của cuộc sống. Người bệnh nhẹ có, bệnh nặng cũng có. Sự đối lập ở kẻ giàu có và những người nghèo khó. Điều đó làm tôi ác cảm với số phận.
Tôi xoa xoa cái bụng đói meo sau khi bị bác sĩ “mắng” cho một trận ra trò. Tôi bật cười khi nghĩ đến những lời nói ban nãy của ông bác sĩ già vui tính. Nó làm tôi thoải mái vô cùng. Cảm thấy nụ cười nơi khóe môi đã dãn ra đôi chút. Nhìn đồng hồ đã gần trưa. Tôi rảo bước nhanh hơn. Tôi cần nghỉ ngơi một chút và sắp xếp đồ đạc để kịp chuyến bay chiều nay.
Lúc đi qua dãy hành lang cuối cùng- khu cấp cứu. Tôi thấy cái dáng người hơi quen. Tiếng nói cũng quen thuộc nốt. Tôi quay đầu tìm đến chỗ phát ra tiếng la. Tôi thấy cậu. Một Bình Nguyên mà tôi đã quen: giản dị, chân thực như chính cậu, như ngày xưa.
*
Qua ô kính thật nhỏ trước phòng phẫu thuật. Tôi biết người đang nằm ở kia. Đang đứng trước ranh giới giữa sự sống và cái chết là mẹ cậu. Cậu ngồi trên băng ghế, khóc thật to như khi lúc nhỏ bị mẹ đánh đòn. Nhưng tôi biết, cảm giác bây giờ đau hơn vô số lần. Tuyệt nhiên là không phải nỗi đau thể xác. Nỗi sợ hãi khi mẹ cầm roi mây. Mà là cái đau trong đợi chờ và giằng xé. Nỗi sợ mất mát đi người mình yêu thương. Tôi ngồi xuống bên cạnh, mọi giận dỗi như bay đi hết. Bình Nguyên bắt đầu nấc lên thành tiếng.
- Tớ bị bà ta lừa, Mai Trâm ạ! Bà ta bảo nếu tớ đồng ý làm mọi thứ cho bà ta. Bà ta sẽ cứu lấy mẹ tớ.
- Thế tại sao mẹ cậu lại thế này?
- Bà ta lật lọng. Chỉ trả tiền viện phí. Nhưng mẹ tớ cần phẫu thuật.
- Này, sao cậu không bảo tớ! Có còn là bạn bè của nhau không đấy!- Tôi bắt đầu mếu máo theo tên ngốc bên cạnh, siết chặt bàn tay hắn kể lể.- Năm tớ đi du học, không yên tâm về mẹ phải sống một mình. Cậu động viên tớ phải giữ vững ước mơ. Cậu sẽ chăm sóc bà thay tớ. Lúc bà mất, một đứa sống qua ngày nhờ học bổng như tớ không thể về lo toan mọi việc. Vẫn là cậu một tay giúp đỡ. Thế mà chuyện như vậy lại ngại nhờ đến tớ. Còn bảo là bạn bè của nhau?
Tôi lấy một phần số tiền mình dành dụm bao năm qua để trả tiền phẫu thuật cho bác gái. Phần còn lại đưa cậu lập nghiệp. Làm một cơ ngơi cho riêng mình. Và dĩ nhiên là cho mượn. Vì cái tôi của cậu ấy rất lớn. Sẽ chẳng chịu nhận giúp đỡ của tôi một cách đơn giản như thế. Cuối cùng, tôi vẫn sẽ quay về Pháp. Tiếp tục cuộc sống của mình ở đấy. Nếu nói ra thật mâu thuẫn. Tôi đã được quá nhiều khi trở về đây! Cậu ấy lại như xưa: mộc mạc, chân thành, đầy nhiệt huyết. Vẻ mặt ấy không còn gắng gượng nét lạnh lùng, xòa cười theo ý thức. Và có thể, cái tình cảm tôi đã lầm tưởng là tình yêu ấy. Đơn thuần chỉ là tình bạn đẹp. Có sóng gió, có dấu vết của thời gian, có sự đồng cảm lại càng bền vững. Rồi có ngày tôi sẽ trở lại. Để tiếp tục một tình bạn, một tình yêu với người mình quý mến.
*
Máy bay cất cánh, bỏ lại sau lưng những vạt nắng lung linh. Bỏ lại sau lưng mọi xúc cảm xưa cũ. Đơn giản, tôi đã tìm thấy tình cảm thân thương nhất. Bình Nguyên- cậu ấy là hương ngọt ngào. Cái hương thoáng qua mà đậm sâu vô tận. Ai trong số chúng ta cũng không thể mạnh mẽ trọn vẹn. Vì ta cần nhiều lắm những yêu thương. Vạn vật xung quanh dần trở nên nhỏ bé. Lu mờ dưới lớp mây bông xốp. Hẹn gặp lại cậu. Vào một ngày đầy nắng và gió.
uyen_btx Tôi kéo lê chiếc va-li theo con phố. Ngày trước đây chỉ là con đường gồ ghề, lắm ổ gà ổ vịt. Nay nó bằng phẳng hơn nhiều. Tạo cho người đi cảm giác thăng bằng. Không bấp bênh, chuếnh choáng nữa. Rồi tôi dừng lại trước quán cà phê ấy với sự bàng hoàng. Cảm giác cơ bản vẫn thế, nhưng cái ấm áp ngày xưa đã hư hao ít nhiều. Cảnh vật ở đây cũng thay đổi. Cái quán nhỏ nằm san sát những ngôi nhà ngói lụp xụp. Chỉ duy có cái bảng điện ghi tên quán. Nay trở nên rộng lớn. Chiếm lĩnh một góc phố. Từ ngoài vào trong đều chong đèn lung linh. Xung quanh là giàn hoa tigôn leo mềm mại. Người ra vào không còn là những vị khách ăn mặc xuềnh xoàng. Họ lộng lẫy và sang trọng. Đủ để mọi người có thể gán vào cái mác “Quý Tộc”. Chỉ mới ba năm thôi, tất cả như vừa trải qua một cơn bão. Nó cuốn mọi thứ cũ kĩ đi mất. Chỉ để lại một nơi giữa lòng phố thân quen hai chữ… “Xa Lạ”.
Tôi ngồi bệt xuống vỉa hè. Bất giác đưa bàn tay vân vê lên nền gạch. Như tìm cái thân quen ở những bậc vỉa hè xi-măng trám sạn. Nhưng cái tôi tìm được là cái trơn nhẵn hoàn toàn. Cảm giác láng mịn của những ô gạch đủ màu sắc làm dấy lên trong tôi cái lạ lẫm. Nước mắt nóng hổi rơi dài trên đôi gò má. Tôi chẳng biết mình khóc vì điều gì. Lúc này đây, tôi không còn đủ sức mạnh để đối diện với mọi thứ. Đối diện với nỗi cô đơn. Tôi chợt nhớ Bình Nguyên da diết. Cậu bạn thuở “cái bánh cũng chia đôi” của tôi. Bình Nguyên thông minh và biết làm người khác vui. Từ cái điều nhỏ nhặt, hay trong những tình huống “éo le” nhất. Nếu bây giờ cậu ở đây, mỉm cười rồi bảo với tôi: “Mọi thứ ổn cả thôi!” Thì có lẽ, lòng tôi sẽ bình yên đôi chút.
*
Nhà trọ xập xệ, xuống cấp ngày trước tôi sống cũng được cải tiến phần nào. Nó được nâng cấp thành khách sạn đầy đủ tiện nghi. Bác chủ già sức khỏe yếu đi nhiều. Đôi mắt không còn tinh anh nữa. Cũng không còn nhận ra tôi. Thời gian ba năm làm tôi trưởng thành và thay đổi không ít. “Làm sao còn có thể nhận ra một con bé mười bảy tuổi nhà quê của ba năm trước nữa!” Tôi buông nụ cười nhẹ tênh trước suy nghĩ của mình. Thì ra, thời gian có sức công phá thật mạnh mẽ.
Lúc tôi tỉnh giấc trời đã chập choạng tối. Đèn đường thắp sáng. Ánh vàng dịu nhẹ làm vẻ cổ kính mà hiện đại nơi đây trở nên lung linh, huyền ảo. Tôi khoác chiếc áo bông mỏng, dạo phố đêm. Người qua kẻ lại tấp nập. Họ thích thú ghé các gian hàng đủ màu sắc kia, chọn cho mình những món đồ xinh xắn. Dù là thế, chúng không đủ sức hấp dẫn với tôi. Sinh nhật năm tôi mười sáu. Bình Nguyên tặng tôi chiếc kẹp nơ hồng mà cậu để dành tiền ăn cả nửa tháng trời mới mua được. Tôi lại chê bai đủ điều. Nào là “tóc tớ ngắn kẹp lên không đẹp, “tớ ghét màu hồng lắm, sến chết đi được” hay “nó chẳng hợp với kiểu của tớ”. Vậy mà cậu ấy chỉ bình thản đáp: “Tớ thấy đẹp được rồi. Cậu không thích thì cứ vứt đi”. Rồi cứ thế giận cả tuần liền. Cho đến khi tôi chịu cài nó lên tóc.
Dòng suy nghĩ của tôi chấm dứt. Cũng là khi tôi thấy mình đã đứng trước “Paradise”- quán cà phê ban chiều . Ý thức mách bảo tôi đến đây. Tôi sẽ gặp được Bình Nguyên, nên cứ đi thôi! Chần chừ một lúc, tôi bước theo dòng người tiến vào trong. Ngồi vào vị trí mà tôi cho là yên tĩnh nhất. Gọi thức uống và vài món ăn nhẹ. Rồi chậm rãi, đưa mắt quan sát xung quanh. Mọi thứ ở đây làm tôi ngỡ ngàng. Nó hệt như cái tên vậy- một Thiên Đường chính hiệu.
*
Xộc lên mũi tôi là hương cà phê nồng nàn. Hương kem tươi mát. Vị rượu cay xè. Kèm bản nhạc làm tôi lâng lâng. Phải thú thật tôi rất ít nghe nhạc. Nhưng bản nhạc này lại nằm trong số ít tôi đã nghe. Hồi xửa xừa xưa, Bình Nguyên chở tôi đi học bằng xe đạp. Cậu ấy lúc nào cũng vừa đạp vừa hát. Giọng trầm đặc trưng của con trai, chẳng cao vút và trong veo. Nhưng lại để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc. Sau này, khi nhận được học bổng du học. Mỗi khi cô đơn, tôi thường lên mạng tìm bài hát ấy để nghe. Nó làm tôi cảm thấy vững tâm hơn trong những ngày mưa nắng thất thường. Những ngày bộn bề giữa guồng quay cuộc sống.
Nốt nhạc cuối cùng vang lên. Dòng cảm xúc đứt quãng kéo tôi về với thực tại. Tôi ngồi đây đã hơn một tiếng đồng hồ. Càng về đêm, chỗ này càng tấp nập người ra kẻ vào. Tôi gắng mở to mắt đến mức có thể để quan sát đám đông trong ánh đèn mờ ảo. Lúc ẩn lúc hiện. Cậu ấm cô chiêu, đầu vàng đầu đỏ. Rồi tất tật nhân viên. Tất cả đều nằm gọn trong tầm mắt tôi. Vậy thì… Nguyên à! Cậu ở đâu?
*
Những bản nhạc tiếp theo sôi nổi hơn, khuấy động hơn. Âm thanh từ bốn bức tường dội đến làm tôi choáng váng, thần thái mơ hồ. Tôi ra ngoài, hít hà không khí trong lành. Không còn mùi thuốc lá xè xè xông lên mũi, lên mắt. Vậy mà khóe mắt vẫn cay.
Dáng người ấy cao hơn tôi một cái đầu. Bộ vest đen hàng hiệu cầu kì, xe hơi đời mới, đồng hồ vàng nạm vài hạt kim cương loe lóe trong đêm. Tất cả những món đồ xa hoa khác. Dù là có lấp đầy trên người của cậu ta. Tôi vẫn có thể nhận ra. Đó là Bình Nguyên. Không thể lẫn.
- Này, Bình Nguyên ơi! Bình Nguyên…- Tôi mặc kệ phố người ồn ã. Vừa chạy vừa hét toáng tên cậu trong sung sướng.
Cậu ấy quả thật đẹp trai, lịch lãm hơn trước rất nhiều. Tôi đã đứng trước mặt Bình Nguyên.
Năm phút trôi qua trong yên lặng.
Mười phút trôi qua trong yên lặng…
Tôi vẫn đang nhìn thật kĩ khuôn mặt kia. Quen thuộc thật. Những đường nét tạo nên sự ấn tượng. Mà sao đôi mắt lạ quá! Chẳng chút cảm xúc thân quen. Bình Nguyên nhìn tôi như thể “tôi biết cô ấy”. Nhưng vẻ mặt lạnh lùng đến kinh ngạc.
- Nguyên à! Đi thôi, mọi người đang đợi đấy!- Tôi nghe thấy tiếng nói phát ra từ đằng ấy. Là một người phụ nữ trung niên. Bà ta đáng tuổi mẹ tôi ấy chứ! Nếu bà còn sống.
Hình ảnh nhòa đi trước mắt. Cảnh đổi, buồn một chút. Vì vốn dĩ nó là điều thân thương. Lòng người thay đổi đau gấp bội. Vì đó là niềm tin, tình cảm chân thành mà sâu sắc trong cuộc sống. “Bình Nguyên! Tim tớ không thấy nhói- nó đã vỡ tung.”
*
Tôi suy nghĩ… rồi lại suy nghĩ. Cuối cùng là cả đêm không ngủ. Đôi mắt thâm xì, sưng to xấu xí. Bất kể là hôm qua đã thấy gì. Tôi sẽ trở lại “Paradise” để tìm cậu ấy. Một lần, thẳng thắn nói chuyện, xóa bỏ nghi ngờ. Tôi mang theo tâm trạng bừng bừng như lửa, đầy khí thế. Mong sẽ nghe những lời nói chân thành từ cậu. Mong rằng Bình Nguyên sẽ mang đến làn nước mát dập tắt ngọn lửa trong lòng tôi.
Tôi vào nhà vệ sinh. Tung nước, vỗ vỗ lên mặt lấy can đảm. Mặc dù tiếng nước ào ào là thế. Những tạp âm xung quanh, tiếng tĩnh điện đang chạy, kể cả những lời bàn tán của những cô gái ở đây. Rõ mồn một, truyền vào tai tôi.
- Tiếc quá mày nhỉ? Anh Nguyên đẹp trai thế kia, có tài nữa. Tại sao lại phải đi bám váy con mụ đó chứ!
- Thế mày không biết đồng tiền nó có sức mạnh lắm sao?- Tiếp đó, tôi nghe tiếng cười khẩy, hắt ra thật nhẹ lọt vào gió mong manh.
Đến khi bước ra ngoài. Tôi vẫn còn ám ảnh bởi nụ cười của cô ta. Nụ cười mang âm điệu vừa rõ vừa nhạt. Nụ cười mang đầy vẻ khinh thường. Đồng tiền có thể mua được tất cả. Mua được tình cảm, lòng thành và lòng tự trọng của một con người chăng? Đó không phải là bạn làm ăn của cậu như tôi nghĩ, bạn bè thân thiết lại càng không. Thật không thể chối bỏ các suy nghĩ "cậu ta đúng là đồ xấu xa" của tôi. Bởi vì... họ là tình nhân cơ đấy! Tôi giận.Rồi quy chụp tất cả những thói xấu của đàn ông, của những kẻ đặt đồng tiền lên hàng đầu. Và chẳng có cuộc nói chuyện nào diễn ra sau đó. Tôi đặt vé máy bay về trong ngày nhưng đã hết. Chỉ còn chuyến bay vào chiều hôm sau. Dù sớm hay muộn, tôi cũng sẽ về. Đến và đi, chuyện trên đời vẫn thường xảy ra thôi!
*
Bảy giờ ba mươi sáng, khách sạn.
Cơn đau dạ dày kéo dài suốt đêm qua. Tôi cố ôm trọn nó vào trong. Gắng sức chịu đựng đến bứt rứt cả người. Bác chủ khách sạn tốt bụng đưa thuốc cho tôi uống nhưng không đỡ hơn là bao. Vậy là sáng ra, tôi đành phải đến bệnh viện để khám. Mặc dù đó là nơi tôi không thích nhất. Vì cái mùi thuốc nồng choáng ngợp của nó. Vì khi đến đó, tôi thấy vô số con người. Muôn vàn bộ mặt của cuộc sống. Người bệnh nhẹ có, bệnh nặng cũng có. Sự đối lập ở kẻ giàu có và những người nghèo khó. Điều đó làm tôi ác cảm với số phận.
Tôi xoa xoa cái bụng đói meo sau khi bị bác sĩ “mắng” cho một trận ra trò. Tôi bật cười khi nghĩ đến những lời nói ban nãy của ông bác sĩ già vui tính. Nó làm tôi thoải mái vô cùng. Cảm thấy nụ cười nơi khóe môi đã dãn ra đôi chút. Nhìn đồng hồ đã gần trưa. Tôi rảo bước nhanh hơn. Tôi cần nghỉ ngơi một chút và sắp xếp đồ đạc để kịp chuyến bay chiều nay.
Lúc đi qua dãy hành lang cuối cùng- khu cấp cứu. Tôi thấy cái dáng người hơi quen. Tiếng nói cũng quen thuộc nốt. Tôi quay đầu tìm đến chỗ phát ra tiếng la. Tôi thấy cậu. Một Bình Nguyên mà tôi đã quen: giản dị, chân thực như chính cậu, như ngày xưa.
*
Qua ô kính thật nhỏ trước phòng phẫu thuật. Tôi biết người đang nằm ở kia. Đang đứng trước ranh giới giữa sự sống và cái chết là mẹ cậu. Cậu ngồi trên băng ghế, khóc thật to như khi lúc nhỏ bị mẹ đánh đòn. Nhưng tôi biết, cảm giác bây giờ đau hơn vô số lần. Tuyệt nhiên là không phải nỗi đau thể xác. Nỗi sợ hãi khi mẹ cầm roi mây. Mà là cái đau trong đợi chờ và giằng xé. Nỗi sợ mất mát đi người mình yêu thương. Tôi ngồi xuống bên cạnh, mọi giận dỗi như bay đi hết. Bình Nguyên bắt đầu nấc lên thành tiếng.
- Tớ bị bà ta lừa, Mai Trâm ạ! Bà ta bảo nếu tớ đồng ý làm mọi thứ cho bà ta. Bà ta sẽ cứu lấy mẹ tớ.
- Thế tại sao mẹ cậu lại thế này?
- Bà ta lật lọng. Chỉ trả tiền viện phí. Nhưng mẹ tớ cần phẫu thuật.
- Này, sao cậu không bảo tớ! Có còn là bạn bè của nhau không đấy!- Tôi bắt đầu mếu máo theo tên ngốc bên cạnh, siết chặt bàn tay hắn kể lể.- Năm tớ đi du học, không yên tâm về mẹ phải sống một mình. Cậu động viên tớ phải giữ vững ước mơ. Cậu sẽ chăm sóc bà thay tớ. Lúc bà mất, một đứa sống qua ngày nhờ học bổng như tớ không thể về lo toan mọi việc. Vẫn là cậu một tay giúp đỡ. Thế mà chuyện như vậy lại ngại nhờ đến tớ. Còn bảo là bạn bè của nhau?
Tôi lấy một phần số tiền mình dành dụm bao năm qua để trả tiền phẫu thuật cho bác gái. Phần còn lại đưa cậu lập nghiệp. Làm một cơ ngơi cho riêng mình. Và dĩ nhiên là cho mượn. Vì cái tôi của cậu ấy rất lớn. Sẽ chẳng chịu nhận giúp đỡ của tôi một cách đơn giản như thế. Cuối cùng, tôi vẫn sẽ quay về Pháp. Tiếp tục cuộc sống của mình ở đấy. Nếu nói ra thật mâu thuẫn. Tôi đã được quá nhiều khi trở về đây! Cậu ấy lại như xưa: mộc mạc, chân thành, đầy nhiệt huyết. Vẻ mặt ấy không còn gắng gượng nét lạnh lùng, xòa cười theo ý thức. Và có thể, cái tình cảm tôi đã lầm tưởng là tình yêu ấy. Đơn thuần chỉ là tình bạn đẹp. Có sóng gió, có dấu vết của thời gian, có sự đồng cảm lại càng bền vững. Rồi có ngày tôi sẽ trở lại. Để tiếp tục một tình bạn, một tình yêu với người mình quý mến.
*
Máy bay cất cánh, bỏ lại sau lưng những vạt nắng lung linh. Bỏ lại sau lưng mọi xúc cảm xưa cũ. Đơn giản, tôi đã tìm thấy tình cảm thân thương nhất. Bình Nguyên- cậu ấy là hương ngọt ngào. Cái hương thoáng qua mà đậm sâu vô tận. Ai trong số chúng ta cũng không thể mạnh mẽ trọn vẹn. Vì ta cần nhiều lắm những yêu thương. Vạn vật xung quanh dần trở nên nhỏ bé. Lu mờ dưới lớp mây bông xốp. Hẹn gặp lại cậu. Vào một ngày đầy nắng và gió.
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Bùi Minh Quốc, tiếng thét trong thơ
Ðinh Quang Anh Thái
Nhà thơ Bùi Minh Quốc vừa chấp bút mấy vần thơ và từ Ðà Lạt gửi cho thân hữu qua mạng Internet:

Nhà thơ Bùi Minh Quốc. (Hình: Trần Triết)
Ðảng... chỉ tay,
Quốc Hội... giơ tay,
Mặt Trận... vỗ tay,
Chính Phủ... ra tay,
Doanh nghiệp nhà nước... ngửa tay,
Công an... còng tay,
Tội phạm... bắt tay,
Báo chí... chùn tay,
Trí thức... phẩy tay,
Ðồng đội... cụt tay,
Quan chức... đầy tay,
Dân... trắng tay.
Nhà thơ Bùi Minh Quốc đã nhiều lần uất ức gào lên trong thơ của ông:
Tổ quốc hỡi tình chi đau đớn mãi
Con yêu người, ngục tối nuốt trời xanh
Ôi tổ quốc vào tay quỷ dữ
Tiếng hát tự do uất nghẹn khắp thân mình.
Bùi Minh Quốc không chỉ dũng cảm trong thơ, ông còn là người nhất mực thủy chung với lý tưởng ông hằng đeo đuổi, là góp phần mưu tìm hạnh phúc, tự do, no ấm cho con người và đất nước Việt Nam. Bùi Minh Quốc chưa hề chịu khuất phục trước cường quyền. Tháng 12 năm 1995, khi công an Hà Nội chặn bắt Hà Sĩ Phu ngay giữa thủ đô, với tội danh gán ghép cho nhà trí thức này là “có hành vi chiếm đoạt tài liệu bí mật của nhà nước,” Bùi Minh Quốc lập tức phổ biến một lá thư ngỏ, trong đó có đoạn như sau:
“Ðàn áp tự do tư tưởng, dù với cớ này hay cớ nọ, có thể gây ra sự e ngại ở một số người vào một lúc nào đó, nhưng quyết không thể dập tắt được nhu cầu tự do tư tưởng - đồng thời là tự do ngôn luận - rất thiêng liêng của con người. Nhu cầu ấy đang tăng lên mạnh mẽ trong nhân dân. Người trí thức Việt Nam nhất định không thể tiếp tục chịu mãi nỗi nhục phải ngậm miệng gác bút trước những kẻ miệng hô ‘cởi trói’, ‘đổi mới tư duy’, ‘dân biết, dân bàn’ mà tay lại giơ còng sắt.”
Bùi Minh Quốc còn có bút hiệu là Dương Hương Ly, sinh năm 1940 tại Hà Tây. Ông làm thơ ngay từ thủa nhỏ và nổi tiếng rất sớm. Bùi Minh Quốc và vợ là Dương Thụy Xuân Quỳ thuộc vào thế hệ của những người gắn liền với “huyền thoại” mà giới lãnh đạo cộng sản Hà Nội gọi là “các văn nghệ sĩ hy sinh cho cuộc kháng chiến chống Mỹ,” nhưng thực chất chỉ là cuộc xâm chiếm miền Nam, đưa cả nước quy về một mối dưới chế độ toàn trị của đảng cộng sản. Bà Dương Thụy Xuân Quỳ cũng là một nhà thơ nổi tiếng. Bà đã hy sinh trong chiến tranh, để lại một người con gái tên là Dương Ly Hương. Bùi Minh Quốc dùng tên con gái làm bút hiệu của mình.
Sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, Bùi Minh Quốc ở lại miền Nam và công tác tại Quảng Nam với chức vụ phó chủ tịch Hội Văn Nghệ tỉnh, đồng thời là tổng biên tập Tạp chí Ðất Quảng. Năm 1987, Bùi Minh Quốc chuyển công tác vào Ðà Lạt làm chủ tịch Hội Văn Nghệ tỉnh Lâm Ðồng, và là tổng biên tập Tạp chí Langbian. Cuối năm 1988, cùng với nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự và nhà thơ Hữu Loan, Bùi Minh Quốc thực hiện một chuyến đi xuyên Việt, từ Ðà Lạt qua các tỉnh miền Trung, ra Hà Nội, nhằm vận động giới trí thức và văn nghệ sĩ đấu tranh cho tự do dân chủ. Sau vụ này, Tiêu Dao Bảo Cự và Bùi Minh Quốc bị khai trừ khỏi đảng cộng sản, còn nhà thơ Hữu Loan bị quản thúc trên đất Bắc. Công an Ðà Lạt còn gọi Tiêu Dao Bảo Cự và Bùi Minh Quốc lên điều tra nhiều lần, thậm chí còn bắt trình diện mỗi ngày. Tình trạng này kéo dài hơn một năm.
Năm 1997, cũng vào một ngày của Tháng Tư, Bùi Minh Quốc và hai người khác tại Ðà Lạt là nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự và nhà trí thức Hà Sĩ Phu bị quản chế tại gia bởi Nghị định 31CP do Võ Văn Kiệt, thủ tướng của nhà nước cộng sản Hà Nội ban hành. Nghị định cho phép công an bắt giam người 2 năm mà không cần đưa ra tòa xét xử.
Cho tới nay, công an vẫn thường trực theo dõi nhà của Bùi Minh Quốc và Hà Sĩ Phu ở Ðà Lạt. Tiêu Dao Bảo Cự hiện đã dọn về sống với vợ con ở Sài Gòn.
Bùi Minh Quốc làm thơ rất nhiều. Những bài thơ do ông sáng tác thời chiến tranh đã là một dấu ấn rất lớn cho một thời kỳ quê hương máu lửa. Bùi Minh Quốc sống và viết, lúc nào cũng hừng hực ngọn lửa nhiệt thành. Tập thơ gần đây nhất của ông mang tên “Thơ vụt hiện trong phòng thẩm vấn” được phổ biến lén lút trong nước, nhưng lại được biết đến nhiều trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Nhiều người tại quê nhà đã bị công an khám nhà chỉ vì bị ngờ là có cất giấu tập thơ nói trên của Bùi Minh Quốc.
“Thơ vụt hiện trong phòng thẩm vấn” bao gồm nhiều bài, được Bùi Minh Quốc sáng tác trong hai năm 1995 và 1997. Tiếng thơ Bùi Minh Quốc trong tập này là những lời gào thét, uất ức trước những o ép, trấn áp của đảng cộng sản đối với bản thân ông và những tiếng nói dân chủ khác tại Việt Nam. Thơ ông còn phản ảnh tình trạng tụt hậu thê thảm của đất nước và đồng thời nói lên khát vọng của người dân được sống đời tự do. Ðiển hình là bài tựa đề “Cay đắng thay,” Bùi Minh Quốc viết:
Cái guồng máy nhục mạ con người
Mang bộ mặt hiền lành của người cuốc đất
Ù lì quay
Quay
Thao thao bài đạo đức
Liệu có ai còn ngây?
Cay đắng thay
Trọn tuổi xuân ta hiến dâng cuồng nhiệt
Lại đúc nên chính cỗ máy này.
Bài thơ “Cay đắng thay” chất chứa nỗi chua chát, ngậm ngùi của một người bẽ bàng nhận thấy thực tế không giống với mơ ước. Một người khác, cũng từng thuộc hàng ngũ khai quốc công thần của chế độ cộng sản, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong đảng - để rồi vì chống đảng mà bị khai trừ - là cố Trung tướng Trần Ðộ cũng đã thốt ra những nhận định khủng khiếp về cái thiên đường mà ông đã bỏ cả tuổi trẻ để những mơ xây dựng:
Những mơ xóa ác ở trên đời
Ta phó thân ta với đất trời
Ác xóa đi, thay bằng cực thiện
Tháng ngày tiến hóa, ác luân hồi!
Bùi Minh Quốc không chỉ là nhà thơ, ông còn là người viết tham luận, và qua thể văn này, người đọc thấy Bùi Minh Quốc rất thiết tha với khát vọng bức thiết hiện nay của dân tộc Việt Nam, là được sống trong dân chủ tự do và no ấm. Trong bài tham luận tựa đề “Dân chủ hóa và trách nhiệm của nhà văn,” Bùi Minh Quốc phát biểu quan điểm của ông đối với tình trạng hiện nay của đất nước. Một đoạn trong bài như sau:
“Trong hành trình mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã tự khẳng định là một dân tộc tuyệt vời về lòng dũng cảm, về đức hy sinh, về sự cần cù, kiên gan, bền chí. Một dân tộc như thế, một đất nước như thế, không thể không đủ sức đủ tài tự tạo cho mình cuộc sống xứng đáng, sau bao nhiêu năm xương máu mồ hôi nước mắt đã đổ ra thấm đẫm từng tấc đất.
Nhưng nhiều năm qua, tôi và nhiều bạn bè của tôi thấy hiện lên hàng ngày trước mắt mình một bức tranh xã hội làm nhức nhối tâm can. Ba lực lượng trụ cột làm nên của cải vật chất và tinh thần cho xã hội là công nhân, nông dân và trí thức, thì cả ba đều phải chịu một cuộc sống khốn đốn kéo dài. Vậy những thành phần nào của xã hội được hưởng đời sống dễ chịu? Ðó là thiểu số những kẻ lợi dụng địa xã hội và chủ nghĩa thăng quan phát tài làm lẽ sống và những kẻ cơ hội luôn uốn lưỡi trở cờ để kiếm chác. Liên kết với hai loại người nói trên là đội quân thường trực những kẻ làm ăn bất chính, cực kỳ tháo vát trong việc khai thác triệt để những kẽ hở đầy rẫy của một cơ chế phi tự nhiên, tập trung, quan liêu, bao cấp.
Cơ chế đó nẩy sinh trong mảnh đất của sự ấu trĩ, có tác dụng nhất thời trong hoàn cảnh chiến tranh, nhưng một thời gian dài đã bị ngộ nhận như một tất yếu bền vững, không gì thay thế được và không được phê phán. Sự tồn tại của cơ chế đó đã gây biết bao tai họa cho đất nước, mà tai họa lớn nhất là nó đã tạo ra một hệ thống giá trị giả, và nguy hiểm hơn, hệ thống giá trị giả này lại luôn luôn được xác định ở vị trí chính thống. Trong kinh tế là giá giả, lương giả, lãi giả; trong chính trị là tình trạng dân chủ hình thức; và trong tư tưởng là tình trạng cấp phát các giáo điều.
Cơ chế nói trên còn tạo ra một thứ quan hệ ngày càng phổ biến là quan hệ ban phát xin xỏ và móc ngoặc, là chỉ huy phục tùng. Hệ thống giá trị giả dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội, đặc biệt nghiêm trọng là nó đã làm ô nhiễm nặng nề đời sống đạo đức và tinh thần mà hậu quả chưa biết đến khi nào mới khắc phục nổi, vì nó đã ngấm vào thế hệ trẻ.”
Nỗi đau của Bùi Minh Quốc có lẽ được bày tỏ rõ ràng nhất trong bài thơ tựa là “Bài thơ Tháng Tám.” Sau đây là một đoạn trích từ bài thơ này:
Dân tộc từng sống chết chẳng so đo
Quyết không làm nô lệ
Sao hôm nay người đành cam chịu thế
Mặc thân phận mình dưới ách gian tà
......
Tôi lại đi, lầm lũi cuộc hành trình
Chỉ có thế thôi!
Thơ
Với cường quyền
Ðối mặt
Sống trong tôi là triệu người đã khuất
Ðang thét đòi món nợ: TỰ DO.
Ðinh Quang Anh Thái
Nhà thơ Bùi Minh Quốc vừa chấp bút mấy vần thơ và từ Ðà Lạt gửi cho thân hữu qua mạng Internet:
Nhà thơ Bùi Minh Quốc. (Hình: Trần Triết)
Ðảng... chỉ tay,
Quốc Hội... giơ tay,
Mặt Trận... vỗ tay,
Chính Phủ... ra tay,
Doanh nghiệp nhà nước... ngửa tay,
Công an... còng tay,
Tội phạm... bắt tay,
Báo chí... chùn tay,
Trí thức... phẩy tay,
Ðồng đội... cụt tay,
Quan chức... đầy tay,
Dân... trắng tay.
Nhà thơ Bùi Minh Quốc đã nhiều lần uất ức gào lên trong thơ của ông:
Tổ quốc hỡi tình chi đau đớn mãi
Con yêu người, ngục tối nuốt trời xanh
Ôi tổ quốc vào tay quỷ dữ
Tiếng hát tự do uất nghẹn khắp thân mình.
Bùi Minh Quốc không chỉ dũng cảm trong thơ, ông còn là người nhất mực thủy chung với lý tưởng ông hằng đeo đuổi, là góp phần mưu tìm hạnh phúc, tự do, no ấm cho con người và đất nước Việt Nam. Bùi Minh Quốc chưa hề chịu khuất phục trước cường quyền. Tháng 12 năm 1995, khi công an Hà Nội chặn bắt Hà Sĩ Phu ngay giữa thủ đô, với tội danh gán ghép cho nhà trí thức này là “có hành vi chiếm đoạt tài liệu bí mật của nhà nước,” Bùi Minh Quốc lập tức phổ biến một lá thư ngỏ, trong đó có đoạn như sau:
“Ðàn áp tự do tư tưởng, dù với cớ này hay cớ nọ, có thể gây ra sự e ngại ở một số người vào một lúc nào đó, nhưng quyết không thể dập tắt được nhu cầu tự do tư tưởng - đồng thời là tự do ngôn luận - rất thiêng liêng của con người. Nhu cầu ấy đang tăng lên mạnh mẽ trong nhân dân. Người trí thức Việt Nam nhất định không thể tiếp tục chịu mãi nỗi nhục phải ngậm miệng gác bút trước những kẻ miệng hô ‘cởi trói’, ‘đổi mới tư duy’, ‘dân biết, dân bàn’ mà tay lại giơ còng sắt.”
Bùi Minh Quốc còn có bút hiệu là Dương Hương Ly, sinh năm 1940 tại Hà Tây. Ông làm thơ ngay từ thủa nhỏ và nổi tiếng rất sớm. Bùi Minh Quốc và vợ là Dương Thụy Xuân Quỳ thuộc vào thế hệ của những người gắn liền với “huyền thoại” mà giới lãnh đạo cộng sản Hà Nội gọi là “các văn nghệ sĩ hy sinh cho cuộc kháng chiến chống Mỹ,” nhưng thực chất chỉ là cuộc xâm chiếm miền Nam, đưa cả nước quy về một mối dưới chế độ toàn trị của đảng cộng sản. Bà Dương Thụy Xuân Quỳ cũng là một nhà thơ nổi tiếng. Bà đã hy sinh trong chiến tranh, để lại một người con gái tên là Dương Ly Hương. Bùi Minh Quốc dùng tên con gái làm bút hiệu của mình.
Sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, Bùi Minh Quốc ở lại miền Nam và công tác tại Quảng Nam với chức vụ phó chủ tịch Hội Văn Nghệ tỉnh, đồng thời là tổng biên tập Tạp chí Ðất Quảng. Năm 1987, Bùi Minh Quốc chuyển công tác vào Ðà Lạt làm chủ tịch Hội Văn Nghệ tỉnh Lâm Ðồng, và là tổng biên tập Tạp chí Langbian. Cuối năm 1988, cùng với nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự và nhà thơ Hữu Loan, Bùi Minh Quốc thực hiện một chuyến đi xuyên Việt, từ Ðà Lạt qua các tỉnh miền Trung, ra Hà Nội, nhằm vận động giới trí thức và văn nghệ sĩ đấu tranh cho tự do dân chủ. Sau vụ này, Tiêu Dao Bảo Cự và Bùi Minh Quốc bị khai trừ khỏi đảng cộng sản, còn nhà thơ Hữu Loan bị quản thúc trên đất Bắc. Công an Ðà Lạt còn gọi Tiêu Dao Bảo Cự và Bùi Minh Quốc lên điều tra nhiều lần, thậm chí còn bắt trình diện mỗi ngày. Tình trạng này kéo dài hơn một năm.
Năm 1997, cũng vào một ngày của Tháng Tư, Bùi Minh Quốc và hai người khác tại Ðà Lạt là nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự và nhà trí thức Hà Sĩ Phu bị quản chế tại gia bởi Nghị định 31CP do Võ Văn Kiệt, thủ tướng của nhà nước cộng sản Hà Nội ban hành. Nghị định cho phép công an bắt giam người 2 năm mà không cần đưa ra tòa xét xử.
Cho tới nay, công an vẫn thường trực theo dõi nhà của Bùi Minh Quốc và Hà Sĩ Phu ở Ðà Lạt. Tiêu Dao Bảo Cự hiện đã dọn về sống với vợ con ở Sài Gòn.
Bùi Minh Quốc làm thơ rất nhiều. Những bài thơ do ông sáng tác thời chiến tranh đã là một dấu ấn rất lớn cho một thời kỳ quê hương máu lửa. Bùi Minh Quốc sống và viết, lúc nào cũng hừng hực ngọn lửa nhiệt thành. Tập thơ gần đây nhất của ông mang tên “Thơ vụt hiện trong phòng thẩm vấn” được phổ biến lén lút trong nước, nhưng lại được biết đến nhiều trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Nhiều người tại quê nhà đã bị công an khám nhà chỉ vì bị ngờ là có cất giấu tập thơ nói trên của Bùi Minh Quốc.
“Thơ vụt hiện trong phòng thẩm vấn” bao gồm nhiều bài, được Bùi Minh Quốc sáng tác trong hai năm 1995 và 1997. Tiếng thơ Bùi Minh Quốc trong tập này là những lời gào thét, uất ức trước những o ép, trấn áp của đảng cộng sản đối với bản thân ông và những tiếng nói dân chủ khác tại Việt Nam. Thơ ông còn phản ảnh tình trạng tụt hậu thê thảm của đất nước và đồng thời nói lên khát vọng của người dân được sống đời tự do. Ðiển hình là bài tựa đề “Cay đắng thay,” Bùi Minh Quốc viết:
Cái guồng máy nhục mạ con người
Mang bộ mặt hiền lành của người cuốc đất
Ù lì quay
Quay
Thao thao bài đạo đức
Liệu có ai còn ngây?
Cay đắng thay
Trọn tuổi xuân ta hiến dâng cuồng nhiệt
Lại đúc nên chính cỗ máy này.
Bài thơ “Cay đắng thay” chất chứa nỗi chua chát, ngậm ngùi của một người bẽ bàng nhận thấy thực tế không giống với mơ ước. Một người khác, cũng từng thuộc hàng ngũ khai quốc công thần của chế độ cộng sản, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong đảng - để rồi vì chống đảng mà bị khai trừ - là cố Trung tướng Trần Ðộ cũng đã thốt ra những nhận định khủng khiếp về cái thiên đường mà ông đã bỏ cả tuổi trẻ để những mơ xây dựng:
Những mơ xóa ác ở trên đời
Ta phó thân ta với đất trời
Ác xóa đi, thay bằng cực thiện
Tháng ngày tiến hóa, ác luân hồi!
Bùi Minh Quốc không chỉ là nhà thơ, ông còn là người viết tham luận, và qua thể văn này, người đọc thấy Bùi Minh Quốc rất thiết tha với khát vọng bức thiết hiện nay của dân tộc Việt Nam, là được sống trong dân chủ tự do và no ấm. Trong bài tham luận tựa đề “Dân chủ hóa và trách nhiệm của nhà văn,” Bùi Minh Quốc phát biểu quan điểm của ông đối với tình trạng hiện nay của đất nước. Một đoạn trong bài như sau:
“Trong hành trình mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã tự khẳng định là một dân tộc tuyệt vời về lòng dũng cảm, về đức hy sinh, về sự cần cù, kiên gan, bền chí. Một dân tộc như thế, một đất nước như thế, không thể không đủ sức đủ tài tự tạo cho mình cuộc sống xứng đáng, sau bao nhiêu năm xương máu mồ hôi nước mắt đã đổ ra thấm đẫm từng tấc đất.
Nhưng nhiều năm qua, tôi và nhiều bạn bè của tôi thấy hiện lên hàng ngày trước mắt mình một bức tranh xã hội làm nhức nhối tâm can. Ba lực lượng trụ cột làm nên của cải vật chất và tinh thần cho xã hội là công nhân, nông dân và trí thức, thì cả ba đều phải chịu một cuộc sống khốn đốn kéo dài. Vậy những thành phần nào của xã hội được hưởng đời sống dễ chịu? Ðó là thiểu số những kẻ lợi dụng địa xã hội và chủ nghĩa thăng quan phát tài làm lẽ sống và những kẻ cơ hội luôn uốn lưỡi trở cờ để kiếm chác. Liên kết với hai loại người nói trên là đội quân thường trực những kẻ làm ăn bất chính, cực kỳ tháo vát trong việc khai thác triệt để những kẽ hở đầy rẫy của một cơ chế phi tự nhiên, tập trung, quan liêu, bao cấp.
Cơ chế đó nẩy sinh trong mảnh đất của sự ấu trĩ, có tác dụng nhất thời trong hoàn cảnh chiến tranh, nhưng một thời gian dài đã bị ngộ nhận như một tất yếu bền vững, không gì thay thế được và không được phê phán. Sự tồn tại của cơ chế đó đã gây biết bao tai họa cho đất nước, mà tai họa lớn nhất là nó đã tạo ra một hệ thống giá trị giả, và nguy hiểm hơn, hệ thống giá trị giả này lại luôn luôn được xác định ở vị trí chính thống. Trong kinh tế là giá giả, lương giả, lãi giả; trong chính trị là tình trạng dân chủ hình thức; và trong tư tưởng là tình trạng cấp phát các giáo điều.
Cơ chế nói trên còn tạo ra một thứ quan hệ ngày càng phổ biến là quan hệ ban phát xin xỏ và móc ngoặc, là chỉ huy phục tùng. Hệ thống giá trị giả dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội, đặc biệt nghiêm trọng là nó đã làm ô nhiễm nặng nề đời sống đạo đức và tinh thần mà hậu quả chưa biết đến khi nào mới khắc phục nổi, vì nó đã ngấm vào thế hệ trẻ.”
Nỗi đau của Bùi Minh Quốc có lẽ được bày tỏ rõ ràng nhất trong bài thơ tựa là “Bài thơ Tháng Tám.” Sau đây là một đoạn trích từ bài thơ này:
Dân tộc từng sống chết chẳng so đo
Quyết không làm nô lệ
Sao hôm nay người đành cam chịu thế
Mặc thân phận mình dưới ách gian tà
......
Tôi lại đi, lầm lũi cuộc hành trình
Chỉ có thế thôi!
Thơ
Với cường quyền
Ðối mặt
Sống trong tôi là triệu người đã khuất
Ðang thét đòi món nợ: TỰ DO.

Thơ văn của nỗi thống khổ kiếp người, Hồ Dzếnh. Năm 1943, vào lúc thịnh thời của thơ mới, nhà xuất bản Á Châu cho ra đời một tập thơ khá lạ: Tập thơ “Quê Ngoại” của Hồ Dzếnh với lời giới thiệu: "Lần đầu tiên, thi ca Việt Nam được tô điểm một cách trau chuốt bằng ngọn bút linh diệu của một nhà thơ ngoại quốc..." Thực ra, nói nhà thơ ngoại quốc là chưa chính xác lắm, nhà thơ Hồ Dzếnh tên thật là Hà Triệu Anh, một người có cha Tàu, mẹ Việt. Ông viết về đất nước quê hương của mẹ: Quê Ngoại. Tập thơ ra đời đã là một viên châu ngọc của thi ca Việt Nam. Nhiều bài thơ đã trở thành bất tử và ngôn ngữ ấy đã biểu hiện được tâm tình một thời của dân tộc Việt Nam.
Tạp chí Tri Tân đã có nhận xét: “Tên tuổi của người Minh Hương ấy, văn học quốc ngữ không nề hà gì mà chẳng đón tiếp, như đã đón tiếp bao nhiêu những nhà văn hữu tài khác..." Trong tập thơ ấy, người yêu thơ đã tìm ra được rất nhiều những bài thơ tuyệt tác. Có những bài thơ được phổ nhạc và trở thành quen thuộc đến nỗi như là một ngôn ngữ thường hằng và sống động. Những câu thơ thật quen thuộc và hình như lúc nào cũng tiềm tàng những cuộc sống riêng, những tâm tư riêng, nên đã thành những ấn tượng không thể phai nhòa trong cảm quan người nhận. Như trong "Cảm xúc":
Cô gái Việt Nam ơi!
Nếu chữ hy sinh có ở đời,
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực,
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi.
Câu thơ ấy, hình như có nhiều người nói và viết, đến nỗi tưởng như là của chung, và có nhiều người không biết mình đã nói hoặc viết của Hồ Dzếnh. Hay những câu thơ được phổ nhạc. Tuyệt vời! Như trong "Ngập ngừng":
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân
ngó trên tay, thuốc lá cháy rụi dần...
Tôi nói khẽ: Gớm làm sao nhớ thế…
…Tôi sẽ trách - cố nhiên! - nhưng rất nhẹ
nếu trót đi, em hãy gắng quay về
tình mất vui khi đã vẹn câu thề
đời chỉ đẹp những khi còn dang dở
thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ
cho nghìn sau... lơ lửng với nghìn xưa…
Hay trong "Mùa thu năm ngoái":
Trời không nắng cũng không mưa
chỉ riu riu rét cho vừa nhớ nhung
chiều buồn như mối sầu chung
lòng im nghe thoảng tơ chùng chốn xa
đâu hình tàu chậm quên ga
bâng khuâng gió nhớ về qua lá dày...
hoặc "Màu cây trong khói":
Trên đường về nhớ đầy
chiều chậm đưa chân ngày
tiếng buồn vang trong mây
chim rừng quên cất cánh
gió say tình ngây ngây
có phải sầu vạn cổ
chất trong hồn chiều nay?
Tôi là người lữ khách
màu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây
Những câu thơ đã được nhạc tháp cánh và gây được xao động cho người đọc, người nghe. Những bản nhạc tới bây giờ nghe lại, trải ra một không gian bàng bạc thương nhớ. Mà tình cảm thương nhớ thì ở bất cứ thời gian, không gian nào cũng giống nhau, cho nên cảm xúc cũng vẫn y nguyên, không vì thời gian mà phai phôi. Hồ Dzếnh vẽ tranh không bằng đường nét, không bằng màu sắc hiện thực, nhưng chính bằng cái tâm cảm của một nỗi buồn mà hiện hữu có lẽ từ rất lâu, từ lúc con người còn thuở sơ khai hoang dã…
Trong "Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến", tác giả Nguyễn Tấn Long đã trích dẫn nhận xét của nhà văn Mai Thảo, một lời khen tặng nồng nhiệt và đầy cảm tính:
"Trong cái thế giới ngột ngạt, bít bưng, tức thở ra của những tháp ngà tiền chiến như những phần mộ lạnh buốt, thơ Hồ Dzếnh hơn cả Xuân Diệu, và theo tôi, hơn cả Nguyễn Bính đầu mùa, là những xâu chuỗi lanh lảnh nhạc vàng, gõ vui từng nhịp nắng trên mênh mang đài trán thanh niên. Tôi nhớ mãi cái cảm giác của tôi, 20 tuổi, tiếp nhận một tập thơ cốm mới đậm đà, một tập thơ mười tám cái xuân đầy, đọc mỗi câu tưởng tượng như có mật, có đường ngọt trong cổ. Thơ Hồ Dzếnh tiền chiến là cái trạng thái ngu ngơ, trong suốt nhất của một tiếng thơ mà chủ đề là tình yêu và ánh sáng. Ngó thật kỹ, ‘Quê Ngoại’ không hằn một vết nhăn. Với tôi, một tập thơ đầu tay phải như thế. Phải có cái khí thế vạm vỡ của sống như một lao vào, cái vóc dáng của yêu như một kín trùm dào dạt..."
Thơ Hồ Dzếnh là của niềm tâm cảm gờn gợn trong lòng, của nỗi nhớ mong về những cảnh thổ cũ, quê quán xưa. Không gian ấy rất mơ hồ, những nét phác họa đôi khi chỉ dệt bằng cảm giác, bằng những nét bút vờn của ảo ảnh tạo thành. Cảnh vật cũng bình thường, không có gì khác lạ, nhưng khi đã chuyên chở những tâm ý thì lại khác hẳn, nó vời vợi chiều sâu và hun hút độ dày.
Trời không nắng cũng không mưa
chỉ riu riu rét cho vừa nhớ nhung.
Có một chút gì không tròn vẹn. Không mưa, không nắng, nhưng lại có nỗi lạnh lẽo của nhớ nhung. Hình như người và cảnh cùng thở chung với nhau một nhịp tim, của những lỡ làng, lửng lơ, lơ lửng… Năm 1942, Hồ Dzếnh in "Chân trời cũ". Một gia đình dòng tộc người Minh Hương được phác thảo lại trong những thiên truyện ngắn rất gần với những trang tự thuật. Nhân vật xưng tôi, có khi là chính bóng dáng của tác giả, tuy được phác họa trong sự cố ý làm mờ nhạt đi để những nhân vật khác nổi bật lên. Một người cha người Hán giang hồ đi sang xứ người lập nghiệp, gặp người mẹ Việt và thành một tiểu gia đình mà số phận họ buộc trói theo dòng đời trôi nổi. Người mẹ Việt là hình bóng muôn đời của sự hy sinh, là gà mẹ xòe cánh ra ấp ủ đàn con giữa những đe dọa của cuộc đời. Rồi những người thân của nhân vật xưng tôi: chú Nhì, người anh cả, đứa cháu đích tôn, cô em Dìn, chị đỏ Đương, người chị dâu Trung Hoa, ông anh hai trụy lạc,… tất cả sống trong một xã hội mà những lề thói, những phong tục là những sợi dây buộc chặt vào một đời sống mà sự thiếu thốn và nghèo khổ luôn luôn lai vãng… Trong "Chân trời cũ", chúng ta thấy một đời sống cũ đã qua nay trở lại từ cái tâm hoài cổ, từ những suy tư bắt nguồn từ sự nâng niu những kỷ niệm khó quên của một đời người. Và, vì sống ở xứ sở bên mẹ, nên quê ngoại lại gần gũi hơn và chan chứa tình cảm.
Nhà văn Thạch Lam, trong đề tựa của "Chân Trời Cũ", đã viết những dòng giới thiệu mà về sau này, Hồ Dzếnh đã coi như người tri kỷ, hiểu được cả những góc cạnh thâm cảm của ông:
"...Tác giả đã đau khổ trong cuộc sống, và chúng ta nhận thấy ông ưa thích quay về dĩ vãng, để lại khiến những đau khổ cũ trở dậy và thêm sắc mắc hơn nữa. Cho nên những truyện ông kể cho chúng ta nghe đều có một mầu sắc riêng, đều nhuộm một tiếc hận thấm thía. Ông chỉ kể những chuyện ấy thôi, nhưng mà đủ có mực thước để khỏi thành ra phô phang, và cũng đủ rung động để độc giả cảm thấy sự thành thực, sự ‘đã sống’ của những chuyện đó.
“Những nhân vật mà ông trình bày đều linh động cả. Mỗi người đều có bản ngã riêng, và chúng ta nhận thấy - tình cờ hay là số mệnh? - người nào cũng mang một tâm hồn đau khổ. Người mẹ, người con cả, người con thứ cho đến cô Yên, cái cô gái nuôi đặc biệt Việt Nam, vẫn sống trong một gia đình không phải của mình, để mà chịu đựng bao nhiêu vất vả và bất công, tuy có được người mẹ nuôi biết thương đến. Cái đời sống tối tăm và lặng lẽ ấy không đi đến đâu cả, và tác giả để chúng ta thấy cảm thương qua số phận một dân số nghèo khó ở các tỉnh đông đúc hay nghèo nàn, cuộc sinh hoạt khó khăn trên những đồng ruộng bạc màu…"
Cái chung nhất của thơ và văn Hồ Dzếnh chính là nỗi đau đớn của kiếp người. Trong bài thơ lục bát "Tặng vợ tôi khi còn sống" có câu thơ viết trong buồn khổ tận cùng:
Mùa đời rụng hết vàng xanh
nỗi đau thương cũ nay thành máu thơ...
"Máu thơ" của những mảnh đời lận đận, của những lời thống thiết khi một người chồng vừa mất vợ bồng bế đứa con mới sinh còn đỏ hỏn đi xin sữa để nuôi con. "Máu thơ" của người bị lôi cuốn vào trong tâm bão thời cuộc, có tâm hồn nghệ sĩ, muốn mang tâm não và tài sức vào bút mực để lại cho đời nhưng không toại chí. Mỗi ngày làm anh thợ đúc thép, đạp xe từ Hà Nội qua cầu Long Biên tới Gia Lâm, nhà văn ấy, nhà thơ ấy có nhớ lại một thời tung hoành trường văn, trận bút trong nỗi chạnh lòng…? Năm 1993, ở hải ngoại, nhà xuất bản Thanh Vân lại in tập hồi ký "Quyển truyện không tên" và tập thơ "Quê Ngoại II". Tập hồi ký ấy khá ngắn, nhưng chất chứa cả một biển khơi tâm tư của người viết. Hồ Dzếnh mượn lời của đứa con vừa bốn tháng rưỡi tuổi vừa mất mẹ, để nói lên cái tâm cảm và hoàn cảnh của mình. Thời gian mà ông kể lại trong khoảng năm 1947-1950 và không gian là vùng khu tư Thanh hóa, nơi cả gia đình bé nhỏ vì không sống nổi ở vùng đồng bằng phải đi lên vùng ngược mưu sinh, nhưng rốt cuộc nghèo khó và bệnh tật đã đẩy họ trở về.
Đọc những trang hồi ký, độc giả có nhiều lúc rơi nước mắt. Tình cảnh như thế là tận cùng. Hãy thử tưởng tượng chỉ trong vòng vài tháng, người thơ phải gạt nước mắt đau đớn chôn đưa con trai đầu lòng và người vợ bất hạnh. Chôn đứa con trai, với tất cả gia sản nghèo nàn: "Con búp bê đất mất đầu, hai đôi tất bằng vải, cái kèn tu huýt, đôi dép cao su mòn đế và hai bộ quần áo đã sờn rách..." và khi tống táng vợ: "Đây không phải là một buổi liệm. Bởi nếu là liệm thì phải tắm rửa thay quần áo mới. Mẹ tôi không có một mảnh vải nào cả. Để cho người chết đỡ tủi – người chết có tủi không? – cha tôi cổi chiếc áo cánh ướt trên người, đắp lên vợ..."
"Quyển truyện không tên" kể toàn là những chuyện đau lòng. Người mẹ cho con bú mà không đủ sữa vì thiếu dinh dưỡng, đứa con nhay đến nỗi có một chút máu vương ở miệng đứa bé, hoặc cảnh đứa bé húc mãi vào vú mẹ để bú mà không được, hoặc là tình cảm thê thảm, người cha bồng đứa con vừa bốn tháng rưỡi đi xin sữa, sau khi người mẹ đã chết vì thiếu thuốc thang. Tất cả, những thảm kịch được kể lại với gờn gợn một chút gì phẫn hận. Lúc chiến tranh, có khi còn có nhiều thảm cảnh khác, nhưng tác giả có khi đi sâu vào suy tư để thấy được những nguyên do của thảm kịch. Thời thế đảo điên, văn chương cũng chẳng hứa hẹn điều gì tốt đẹp tươi sáng...
"...Chiến cuộc chỉ mới bước vào năm thứ hai. Còn lâu, còn gian nan, còn gay go mới đến ngày đoàn tụ. Sinh kế đã cảm thấy khắc khổ ở mọi lớp người, trước viễn tượng chiến tranh gần như vô cùng tận. Gánh gia đình, từ ngày có thêm tôi, mới bắt đầu nặng nhọc. Nếu đời là một thiên lệ sử, thì ngay buổi tôi sinh ra, những dòng chữ khắc khổ đã thành hình. Tôi sinh ra giữa một kỷ nguyên khác lạ, kỷ nguyên của những con đường thênh thang bị phá vỡ, cầu đổ sụp, nhà cửa tiêu tan, xe cộ mất lối. Người đô thị tản mạn lên rừng xanh, những cô gái xinh tươi của cuộc đời nhung lụa biến thành những cô hàng nước, những bèo bọt phong trần. Cuộc đổi đời đó thật là vĩ đại và kinh khủng, lay chuyển hết mọi tầng lớp, giai cấp, san phẳng hết mọi chênh lệch vì sang giàu. Nếu chỉ có một trạng thái biến đổi đó thôi thì chưa đến nỗi gay gắt. Đằng này, buồn thế hệ gặm nhấm vào từng lòng người, cái phẫn uất cay chua nhào thành một loại cảm giác kỳ dị, gán lên cuộc sống một hình thức sượng sần khó tả. Cái gì dở, trái, đều được văn chương mới mang danh bằng những tiếng kêu ròn: tiểu tư sản, phong kiến. Muốn vào trong cái thế giới vừa tân tạo hôm qua, con người bắt buộc phải qua một lớp lột xác, hay ít nhất, cũng phải có ý thức lột xác. Thành ra, có nhiều lúc con người băn khoăn tự hỏi mình, sao lại phải điêu đứng như vậy, và nếu mình cứ giữ thành phần của mình thì đã sao chưa? Nhưng tiểu tư sản lại là một chất nhựa - độc vì người ta bảo thế - đã nuôi lớn một lớp sống trước để cho lớp sống sau này lên án. Sau này, món ăn đã khác, tư tưởng đã thay, loạt nhân sinh như tằm ăn lên, đã gặp đúng hoàn cảnh đón tiếp. Còn cái loạt trước, mới đến rầy rà. Máu là máu cũ, ngũ tạng đều thấm lớp men chua, lời nói, tâm tình sặc sụa những lãng mạn. Cha tôi rơi đúng vào cái ngã ba đó. Tôi cũng sinh nhằm vào thời đó. Một cái cũ đã chắt chiu, ôm ấp một cái mới, trong khi cái mới xung quanh vẫn tìm cách đào thải những nếp sống trái ngược, tôi thấy là cả một chuyện kỳ..."
Tô Hoài trong hồi ký "Chiều chiều" cũng phân bua về trường hợp Hồ Dzếnh bị từ chối, không được nhận việc làm gần gũi với văn chương, mà phải qua Gia Lâm làm thợ, cam chịu số phận của một công nhân:
"….Hồ Dzếnh đã dịch và in một tiểu thuyết Nhật cho nhà xuất bản Thanh Niên. Nhà xuất bản muốn nhận Hồ Dzếnh vào làm. Những cơ quan có trách nhiệm xem xét thấy có thời gian Hồ Dzếnh làm đại diện bên Nhật của báo Thần Chung ở Sài Gòn. Mọi việc báo và xuất bản của các cơ quan khác, chẳng mảy may bàn đến hội, nhưng đến lúc có trắc trở thì bù nhìn chúng tôi được khiêng ra trả lời. Tôi có đọc một bài báo Trần Thanh Địch viết về Hồ Dzếnh, có câu trách hội cái sự này. Và Hồ Dzếnh sau đó, đi đường gặp tôi, coi như không nhìn thấy…"
Và một đoạn khác cũng của Tô Hoài:
"Rồi chuyện tập kết giữa hai miền. Trong số người miền Nam ra miền Bắc, hoặc miền Bắc vào miền Nam có những anh em văn nghệ sĩ. Những văn nghệ sĩ ở miền Bắc thường tập trung ở Hà Nội, đã vào Sài Gòn với con số không ít. Trong số đông này không có Hồ Dzếnh. Không chỉ thế, Dzếnh còn là một trong số những anh em văn nghệ đi tuyên truyền giải thích, bằng nhiều hình thức, đối với anh em đồng nghiệp đang hoang mang giữa đi hay ở, để giữ chân họ lại. Và sau năm 1954, trong Đại Hội Văn Nghệ toàn quốc, việc anh được bầu vào ban chấp hành Hội Văn Học Nghệ Thuật trong khóa đầu tiên là chuyện không lạ... Đầu năm 1956, tôi ở trong đoàn văn công Cải Cách ruộng đất liên khu Tư ra Hà Nội, chuyển công tác sang nhà xuất bản Thanh niên. Cơ quan này đang thiếu một cán bộ biên tập có tay nghề, nhờ tôi tìm một người. Tôi nghĩ đến hồ Dzếnh, và giới thiệu qua đôi nét về khả năng anh. Đồng thời, tôi đến nói chuyện với Dzếnh thì anh rất vui. Đôi cái giấy tờ thủ tục làm xong ngay đó. Một cán bộ trong nhà xuất bản liền sang hội Nhà Văn, hỏi sơ qua một lời về Hồ Dzếnh cho tròn trách nhiệm. Nhưng một vị ở đây đã tỏ vẻ ngập ngừng. Vị ấy bảo rằng: "Hãy thong thả chút đã…!" và thế là xong. Nghĩa là không xuôi. Một lời nói. Không có công văn. Không có chữ ký. Không có khuôn dấu. Tôi đến tìm Hồ Dzếnh và nói lại mọi sự việc. Anh có hơi đổi sắc mặt một tí tẹo, nhưng miệng vẫn cười. Một cái cười cam chịu, nhẫn nhục. Xem như đây chỉ là chút "không may" được nhích thêm vào chuỗi dài không may trong đời mình. Thế là cuối cùng, Dzếnh trở thành một công nhân. Thực thụ là người thợ cầm búa qua nhiều năm tháng…"
Nhưng có người lại nghĩ khác đi. Hồ Dzếnh bị trù úm vì đã viết bài thơ "Nhớ Nguyễn Sơn", một tướng tư lệnh liên khu Tư rất có cảm tình và giúp đỡ văn nghệ sĩ rất nhiều. Nhóm Nhân văn Giai Phẩm, khi tướng này mất, cũng viết nhiều bài Khóc Nguyễn Sơn và cùng đăng với bài của Hồ Dzếnh. Lữ Giang viết: "Anh có nhiều cảm tình với tướng Nguyễn Sơn, nhà quân sự rất yêu văn nghệ sĩ, nên bài báo Nhớ Nguyễn Sơn của anh cũng được chú ý..."
Và vì "được chú ý" nên muôn năm vẫn phải lao động chân tay, quai tay búa để thay cho cầm bút, như thế còn lòng dạ nào để sáng tác nữa? “Quyển truyện Không Tên” mang rất nhiều tâm tư của Hồ Dzếnh. Mảnh đời đau thương biểu lộ, ngoài tấn thảm kịch còn lồng trong những suy tư về văn nghệ, về thế thái nhân tình, về cái buộc trói của chính trị vào văn hóa. Có lúc, ông cũng muốn cầm bút như kiểu theo dòng của cung cách "quốc doanh". Nhưng những bài thơ ấy, chỉ là những âm vang mất biệt không dấu tích. Như bài thơ "Bến nước Thanh Trì", "Khúc hát cầu phao", "Ngày ấy xuân về"… Dù cố gắng đi theo "Cách mạng", nhưng ông viết rất khó khăn và hầu như bỏ bút để kiếm sống. Ông chua chát: "Con mắt thời đại đã khác. Nó sắc và to, không có rèm mi nào dịu. Tôi, tôi ưa nhìn thực tại với chút bóng dịu dàng, dẫu là chút bóng mơ mộng..." Chán nản cực độ hơn: "Nào hành lý vợ con, nào áo quần tư tưởng. Mắt ta đã mù. Lưng ta đã mỏi... Con người văn nghệ ngậm kín nỗi đau lòng…" Kỳ quặc thay là cái chế độ mà "tác phẩm của một cá nhân tuy được mang tên mình, phải có xen vào công trình tập thể..." Có lúc, nhà thơ bi quan như muốn quyên sinh:
Nằm đây tưởng chuyện ngàn sau
lung linh nến cháy hai đầu áo quan
gió lìa cành lá không vang
tin ta vĩnh quyết trần gian hững hờ.
Đời sống toàn bi thảm, những đoạn đường trần chông gai bít lối, nên cái đau đớn, cái nỗi niềm như cũng bị khâm liệm theo. Người nằm trong ba tấc đất nhưng vẫn còn đó nỗi đau nhân sinh:
Ngậm ngùi nhớ trắng rừng mai
cảm thương sông nước ghi bài điếu tang
ngựa gầy bóng gió mênh mang
cờ đen lối cũ, cây vàng nẻo xa
ta nằm trong ván trông ra
tủi thân vì thấy người hoa vẫn cười
ta toan… giận dỗi xa đời
chợt hay: khăn liệm quanh người vẫn thơm
nát thân không nát nổi hồn
lẩn trong cái chết vẫn còn cái đau.
Ở hải ngoại, nhà xuất bản Thanh Vân in tập thơ Quê Ngoại II – Tiếng hát Thiên nga. So với tập thơ đầu thì tập này chỉ có giá trị từ những kỷ niệm đời của Hồ Dzếnh, in thơ lại như một cách thế để tưởng niệm. Phần nhiều những bài thơ là để tặng riêng cho hai bà vợ: bà Hồng Phúc và bà Hồng Nhật. Có nhiều bài thật cảm động như bài tặng bà Nguyễn Thị Hồng Nhật:
Mình vừa là chị là em
tấm lòng người mẹ, trái tim bạn đời
mai này tới phút chia đôi
hai ta ai sẽ là người tiễn nhau?
Xót mình đã lắm thương đau
Tôi xin làm kẻ đi sau đỡ mình
Cuộc đời đâu phải phù sinh
Nước non chan chứa nghĩa tình mình ơi!
Viết về bài thơ này, Mai Quốc Liên đã bình như sau:
"...Thật là cổ kim chưa có một bài thơ nào lớn như vậy. Tôi có dẫn lời ông Viên Mai bình một bài thơ hay ngày xưa, nói rằng ‘lời tuy giản dị nhưng đọc lên làm người nghe biến cả thần sắc và dù cho Đỗ Phủ, Lý Bạch sống dậy cũng phải cúi đầu…”
Thật vậy, bài thơ này là kết tinh tình cảm giữa anh chị trong mấy chục năm chia sẻ, gắn bó, thăng trầm, và là lời nói sau cùng vĩnh biệt người bạn đời. Nó là viên ngọc của văn chương. Lời giản dị mà thốt tự đáy lòng làm người đọc ứa nước mắt. Hôm tôi đọc xong thì liền có mấy nữ sinh viên Đại Học Y Khoa dự ở đó mượn để chép lại. Đặc biệt câu cuối của bài thơ thật là một triết lý phù sinh rất lớn lao: "Cuộc đời đâu phải phù sinh, nước non chan chứa nghĩa tình mình ơi!" Có một người bạn trẻ tri kỷ được Hồ Dzếnh làm thơ tặng. Đó là nhà văn Nguyễn Minh Châu, người đã viết "Ai điếu cho một giai đoạn văn học minh họa". Một bài "Cầu Giát" viết bên giường bệnh bạn và bài "Cỏ Lau" viết nhân ngày giỗ đầu bạn. Trong "Cầu Giát " có những câu:
Cái đẹp thiêng liêng đích thực
nỗi đau truyền kiếp văn chương?
Anh bạn đi tìm chân mỹ
bao giờ tới đích hành hương... ?
Và trong "Cỏ Lau":
Giã từ nhé, Nguyễn Minh Châu
trang văn tâm huyết chiều sâu ân tình...
Phần đông những bài thơ trong Quê Ngoại II đều tặng bà Hồng Phúc, có bài chân thành cảm động, như bài “Giản dị”:
Em ăn, em nói, em cười
Kiếp này không có hai người như em
Kinh thành quần nhiễu, hàng len
Em tôi áo trắng, quần đen sơ sài
Ai mà để ý vào ai
Quần đen lẩn bóng áo gai lẩn mầu
trên đời hai đứa yêu nhau
Quần đen hóa đẹp, áo sầu hóa vui
Tình là hạnh phúc chia đôi
Hương lan kẽ đá trăng soi dặm trường
Đừng mong ước cả thiên đường
Hãy xin lấy nửa tấc vườn vắng hoa!
Khi cuối đời, Hồ Dzếnh dự trù sẽ viết "Chân trời Mới" về xã hội hiện tại để đối chiếu với "Chân trời Cũ" thuở xa xưa. Nhưng, dự định vẫn chỉ là dự định…. Có lý do sức khỏe nhưng cũng có lý do là với tâm thức như thế, khó lòng mà viết được một chân trời sáng lạn... Từ những tác phẩm đã in cũng như những di cảo được phổ biến, thơ và văn Hồ Dzếnh như những tiếng than tận trong phế phủ, bị trầm uất và nén tới tận đáy lòng. Đau đớn đã hòa vào trong máu huyết để mỗi câu văn, mỗi lời thơ là những giọt máu hồng thành mực cho ngòi bút..

Khánh Ly- Nguyễn Hoàng Đoan có còn tình người?
Trở lại vấn đề Khánh Ly, nếu nói về tài năng, thì Khánh Ly là một trong những giọng hát hàng đầu của Việt Nam, kể từ khi nền tân nhạc ra đời vào những năm giữa thập niên 60 của thế kỷ trước và cho đến nay.
Không chỉ thành công vượt bực với nhạc Trịnh Công Sơn, đã gắn liền với tên tuổi bà ta, mà Khánh Ly còn đi vào lòng người với dòng nhạc tiền chiến của Văn Cao, Phạm Duy, Tô Vũ, Đoàn Chuẩn… Tiếc thay, tài năng đó, hoàn toàn đi ngược lại với những gì Khánh Ly thể hiện trong cuộc sống.
Năm 1975, Khánh Ly đã ly dị với người chồng thứ hai là Đại úy biệt kích Mai Bá Trác bằng một kỷ niệm còn ăn sâu trong ký ức của người Sài Gòn dạo đó: Trận đánh ghen của Đại úy Trác và Trung tá Thủy quân lục chiến Đỗ Hữu Tùng (ai không tin cứ hỏi Khánh Ly).
Sau đó, trên đường di tản, Khánh Ly gặp Nguyễn Hoàng Đoan, một nhà báo Sài Gòn, được biết đến nhờ phóng sự không biết xếp vào loại nào: “Con ma vú dài” trên báo Hòa Bình. Lúc bấy giờ, Khánh Ly được coi là độc thân, còn Nguyễn Hoàng Đoan thì chạy trốn vợ là nhà báo Lam Thiên Hương và hai con gái để ra đi một mình cho rảnh tay.
Từ đó, họ thành vợ chồng với nhau. Điều này cũng là chuyện bình thường. Nhưng không bình thường một chút nào cả, khi suốt gần 40 năm qua, Lam Thiên Hương vẫn ở vậy, một mình lủi thủi nuôi hai con, giờ đã ngoài tuổi 40 trong cơ cực túng thiếu, có lúc không đủ cơm ăn, phải nhờ vả bè bạn. Ba mẹ con đùm bọc lấy nhau trong nghèo khó, không nỡ rời nhau nên không cô nào có được tấm chồng!
Chính xác là suốt 37 năm dài đó, Nguyễn Hoàng Đoan chỉ có 3 lần gửi tiền về phụ giúp, mỗi lần được 1.000 USD, và gần 10 năm nay thì bặt vô âm tín. Theo lời của Lam Thiên Hương, cặp Khánh Ly - Nguyễn Hoàng Đoan thủ đoạn ngay cả với con cái.
Trong ba lần gởi tiền về đó, Lam Thiên Hương có ký nhận, và Khánh Ly - Nguyễn Hoàng Đoan đã lấy giấy ký nhận đó phô trương với nhiều người, họ thường xuyên gởi tiền về để nuôi con?!
Từ lâu, nhiều bạn bè từ Mỹ về, khuyên mẹ con Lam Thiên Hương đừng trông mong gì nữa, hãy lo làm ăn mà nuôi thân. Họ nói: “Nguyễn Hoàng Đoan cũng không đến nỗi tệ như thế, nhưng do Khánh Ly không muốn ông ta dính líu đến con riêng, nên đành chịu!”
Điều này rất khả tin, vì năm 1996, nhân chuyến về Việt Nam đầu tiên của vợ chồng Khánh Ly - Nguyễn Hoàng Đoan, họ chỉ gặp 2 con gái riêng của Đoan một lần duy nhất, trong một khoảng thời gian rất ngắn. Bà “dì ghẻ” Khánh Ly lên tiếng: “Ba và dì về đây rất bận rộn. Hơn nữa đi đâu cũng có công an theo dõi nên không tiện gặp các con thêm lần nữa”. Thế là chia tay! Thử hỏi: Nếu thật có công an theo dõi mà thấy cha con gặp nhau thì đã sao? Âu cũng chỉ là cái cớ!
Đi là biệt tăm, biệt tích. Gần 10 năm trước đây, biết mẹ con Lam Thiên Hương quá khổ, một người bạn tên là Huỳnh Thành Mỹ, đã cho đăng trên một tờ báo Việt Ngữ tại California, lá thư kêu cứu của bà ta, nhờ bạn bè cứu giúp.
Đến lúc đó, Nguyễn Hoàng Đoan, rồi Khánh Ly mới liên tục gọi điện thoại cho Lam Thiên Hương với lời lẽ ngọt ngào: “Báo chí bên này chuẩn bị đánh anh và Khánh Ly vì chuyện em và hai con. Em liệu chừng liên hệ với họ ngưng lại, giúp anh. Lúc nào anh cũng nghĩ đến em và các con!”
Chỉ yêu thương bằng lời thôi, chứ một đồng xu cũng không có. Ông Huỳnh Thành Mỹ phải bỏ tiền túi và vận động vài bạn bè gởi cho Lam Thiên Hương 300 USD. Gần đây, Lam Thiên Hương bị bỏng nặng, hai con gái thì công việc làm không ổn định. Thấy hoàn cảnh quá bi đát, một nữ ca sĩ thường xuyên đi về giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã đến gặp Khánh Ly - Nguyễn Hoàng Đoan nói rõ sự tình, nhưng bị cả hai từ chối với lý do: Không có tiền!
Người nữ ca sĩ đó, với tình người chan chứa đã bỏ ra 200 USD để giúp đỡ mẹ con Lam Thiên Hương, như bà đã từng giúp đỡ nhiều lần. Người con gái lớn của Nguyễn Hoàng Đoan là Nguyễn Hoàng H.G thì coi như mình không có cha. Còn cô gái út Nguyễn Hoàng Đoan T… nhiều lần nói với bạn bè của cha mẹ còn ở lại Việt Nam bằng dòng nước mắt: “Mỗi lần nhớ ba, con gọi điện thoại sang Mỹ, mà gặp mẹ Khánh Ly bắt máy, mới nghe tiếng bà là cúp ngay. Còn may mắn gặp ba thì ba chỉ nói vài câu qua loa, rất lạnh nhạt, rồi viện lý do bận công việc và cũng cúp!”
Lam Thiên Hương từng đặt câu hỏi với một vài người quen thân của Khánh Ly – Nguyễn Hoàng Đoan từ Mỹ về: “Tại sao ông Đoan đã bảo lãnh hết anh em ruột ở Hố Nai sang Mỹ định cư mà những năm khó khăn, bà ta yêu cầu ông Đoan bảo lãnh một trong hai con gái thì bị từ chối?” Câu trả lời:”Khánh Ly ích kỷ nên không muốn!”. Có người còn nặng nề hơn: Khánh Ly quá độc ác!”
Chỉ bấy nhiêu thôi, cũng đủ cho bất cứ ai còn có chút lương tâm đánh giá về tấm lòng của Khánh Ly - Nguyễn Hoàng Đoan. Họ cư xử với con cái như thế thì làm sao có thể độ lượng với cuộc đời. Nhất là với Khánh Ly, người thường nói đến nhân nghĩa, theo kiểu đầu môi, chót lưỡi.

MỘT BÀI THƠ TUYỆT VỜI
Nominated by UN as the best Poem Written by an African Kid
When I born, I black
When I grow up, I black :
When I go in Sun, I black
When I scared, I black
When I sick, I black
And when I die, I still black
And you white fellow
When you born, you pink
When you grow up, you white
When you go in sun, you red
When you cold, you blue
When you scared, you yellow
When you sick, you green
And when you die, you grey
And you calling me colored??
__________
Bài thơ được tổ chức UN b́nh chọn là bài thơ hay nhất . Bài thơ được viết bởi một đứa bé Châu Phi
Khi tôi sinh ra, tôi màu đen
Khi tôi lớn lên, tôi màu đen
Khi tôi đi dưới mặt trời, tôi màu đen
Khi tôi sợ, tôi màu đen
Khi tôi đau, tôi màu đen
Và khi tôi chết, tôi cũng màu đen
.
Anh nói rằng anh trắng
Khi anh sinh ra, anh màu hồng
Khi anh lớn lên, anh màu trắng
Khi anh đi dưới mặt trời, anh màu đỏ
Khi anh lạnh, anh màu xanh
Khi anh sợ, anh màu vàng
Khi anh đau, anh màu tái (lục)
Và khi anh chết, anh màu xám
Và tại sao anh lại nói tôi là da màu !
Vì bài này quá đơn giản để dịch, v́ quá nghẹn ngào mà dịch, quá cảm phục dưới cái nh́ìn tinh tế và cách lập luận logic của một đứa bé mà dịch,
và thật sự bất ngờ trước những câu chữ thật đơn giản nhưng sức chứa đựng truyền tải thật phi thường mà dịch.
Cho nên nói khi chưa biết làm thơ th́ì thấy vần điệu là hay, khi mới biết làm thơ th́ì thấy chữ nghĩa được tu từ đẻo gọt là hay,
khi làm thơ được rồi thì́ thấy quan sát, đột phá, đổi mới là hay... Rồi cho đến một khi nào đó thì́ thấy tất cả đều là vô nghĩa.
Chỉ cọ̀n lại tấm lòng với cảm xúc đích thực của chính ḿình tuôn chảy ra một cách tự nhiên, thoát khỏi sự ràng buộc của ngôn từ - thi tứ,
thoát khỏi sự gọt nắn, o bế của chức danh, tuổi tác, đẳng cấp, giới tính..khi đó mới thực sự đúng nghĩa là Thi Ca.

Thanh Sang: Một giọng ca “trời sầu đất thảm”
Lê Phước Các giọng nam ca mùi thì có rất nhiều, nhưng giọng thiên phú mà khi cất lên là “trời sầu đất thảm” thì có lẽ giọng ca Thanh Sang phải được xếp hàng số một. Bên cạnh giọng ca trời cho, Thanh Sang còn để đời với nhiều vai diễn thuộc hàng kinh điển của sân khấu cải lương.
Trong làng cải lương, không ai không biết đến nghệ sĩ Út Bạch Lan với giọng ca được mệnh danh là “Sầu nữ". Không phải những giọng ca nữ khác không u buồn, nhưng nói về độ mùi mẫn bi ai thì rõ ràng không ai vượt qua được Sầu nữ Út Bạch Lan. Còn nếu nhìn vào các giọng ca nam, ca mùi thì có rất nhiều, nhưng giọng thiên phú mà khi cất lên là “trời sầu đất thảm” thì có lẽ giọng ca Thanh Sang phải được xếp hàng số một. Bên cạnh giọng ca trời cho, Thanh Sang còn để đời với nhiều vai diễn thuộc hàng kinh điển của sân khấu cải lương.Bỏ đời ngư phủ theo nghiệp cầm ca
Nghệ sĩ Thanh Sang tên thật Nguyễn Văn Thu, sinh năm 1943 tại xã Phước Hải, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu. Gia đình ông làm nghề chài lưới, rất nghèo khổ, lại đông con, mà ông lại là con trai một, nên cái gánh nặng gia đình tự nhiên trở thành một áp lực vô hình đè nặng lên ông, để phải tìm mọi cách đổi đời cho gia đình bớt khổ.
Nếu ai có dịp về Phước Hải sẽ không khỏi ngậm ngùi khi nói tiếng chia tay với vùng duyên hải thơ mộng này. Núi non hùng vĩ đứng bên bờ biển bao la của vùng Phước Hải đã kết tinh thành một giọng ca buồn miên man nhưng đầy khí khái của cậu bé tên Thu.
Thuở nhỏ, Thanh Sang học ca vọng cổ theo tiếng đờn của danh cầm Văn Vĩ trên đài phát thanh, 12 giờ khuya hằng đêm mà ông nghe ké được từ nhà hàng xóm. Khi biết ca rồi, ông bèn năn nỉ mấy thầy đờn tập giùm những lúc họ rỗi rảnh. Về diễn xuất cũng vậy, vẫn theo đà của thế hệ vàng, nghề ca hátđược truyền theo kiểu nghề dạy nghề, Thanh Sang ngồi cánh gà coi riết rồi thuộc hết thảy các vai tuồng, kể cả vai nữ. Để rồi lại “trông mong” có nghệ sĩ nào bị đau ốm để được lên đóng thế.
Mới hơn 14 tuổi ông đã bắt đầu theo nghiệp tổ. Cái áp lực khi ấy đối với ông nặng lắm, bởi đã bỏ nghề cá và bỏ xứ theo nghiệp hát ca thì phải làm sao có chút đỉnh thành công, nếu không thì còn mặt mũi nào dám trởlại nhìn mặt xóm làng. Áp lực nặng đến mức mà Thanh Sang từng ví chuyến đi của mình như : “Kinh Kha qua sông Dịch”.
Con đường khởi nghiệp của Thanh Sang cũng lắm gian nan. Ông kể, chờ hoài mà mấy anh kép chánh không chịu bệnh, chỉ có kép phụ bị làm khó làm dễ rồi xin nghỉ để mới được cho đóng thế vai phụ. Những vai phụ đầu tiên của chàng trai tuổi đôi mươi lại là vai lão. Lúc trẻ tên tuổi Thanh Sang gắn với vai lão nhiều hơn.
Đúng như câu “Tái ông thất mã”, cuộc đời mà, trong cái rủi thì ắt hẳn có cái may, cũng chính nhờ đóng vai lão mà Thanh Sang đã đạt đến đỉnh cao vinh quang khi đoạt Huy chương vàng giải Thanh Tâm vào năm 1964, giải thưởng cải lương danh giá nhất tính đến hiện tại. Vai diễn đưa Thanh Sang đến với giải thưởng cao quí này là vai Tạ Tốn trong vở “Cô Gái Đồ Long”.
Đây là một vai diễn rất khó, vì người diễn bị mất đi một vũ khí diễn xuất lợi hại nhất của người nghệ sĩ trên sân khấu, đó là đôi mắt, do Tạ Tốn là một nhân vật mù. Hơn nữa đây là một nhân vật có tuổi, mà lại cùng với bao sóng gió của cuộc đời, Tạ Tốn lại càng trở nên già nua với ngổn ngang tâm sự. Như tổ nghiệp đã cố tình sắp đặt, giọng ca của Thanh Sang rất hợp với nhân vật Tạ Tốn này: giọng ca u buồn, đong đầy tâm sự, nhưng luôn có một xung lực phi thường, cách diễn của Thanh Sang lại rất chừng mực, nên đã thể hiện xuất sắc vai diễn này.
Có vẻ ban tổ chức của giải Thanh Tâm đã có lý khi quyết định trao huy chương vàng cho Thanh Sang, vì đến hiện tại vai Tạ Tốn vẫnđược xem là “vai của Thanh Sang”, bởi chưa thấy ai đóng qua được. Sự có lý của ban tổ chức giải Thanh Tâm còn được khẳng định thêm, khi năm 1964 cùng với Thanh Sang thì nữ nghệ sĩ Lệ Thủy cũng nhận giải thưởng cao quí này. Và đến hiện tại, hai nghệ sĩ này đã thật sự vượt mong đợi của những người trao giải với những thành công không thể nào rực rỡ hơn nữa trên sân khấu cải lương.
Thanh Sang -Thanh Nga: Đôi bạn diễn “xưa nay hiếm”
Thanh Sang từng tâm sự rằng, khi còn trẻ thì được giao đóng vai già, còn khi lớn tuổi lại được chọn đóng vai kép trẻ. Quả thật vậy, và sự chọn lựa này của các đạo diễn dành cho Thanh Sang không phải là không có lý, bởi cái vai già ông đóng khi trẻ cũng thành công, mà cái vai trẻ ông đóng khi già cũng lại rất thành công.
Nói về vai kép chính trẻ trung đầu tiên của Thanh Sang phải nhắc đến vai Đông Nhật trong vở Tuyết Phủ Chiều Đông. Đây cũng là một cơ duyên, bởi khi ấy ở đoàn Ngọc Kiều của ông bầu Hoàng Kinh, anh kép chánh Hùng Cường vừa đánh người phải đi hầu tòa, nên Thanh Sang được chọn thế vai cho Hùng Cường, và con đường kép chánh của Thanh Sang bắt đầu từ đó.
Thế nhưng,để gọi là thành công rực rỡ, tức tạo được dấu ấn trong lòng người mộ điệu cải lương, thì phải chờ đến khi Thanh Sang về đoàn Thanh Minh -Thanh Nga của bà Bầu Thơ, mẹ của cố nghệ sĩ Thanh Nga. Ở đó, tổ nghiệp dường như đã có ý đền đáp cho thái độ làm nghệ thuật nổi tiếng nghiêm túc của bà Bầu Thơ bằng cách ban cho đoàn hát của bà một đôi Kim Đồng Ngọc Nữ Thanh Sang -Thanh Nga.
Đôi bạn diễn thành công đến mức mà đến hiện tại, dù có bình luận thế nào, tranh cãi ra sao, thì hễ nhắc đến Thanh Sang người ta lập tức nghĩ ngay đến Thanh Nga, mà hễ bàn về Thanh Nga thì lại nghĩ ngay đến Thanh Sang. Cả hai đều có giọng trầm buồn, đầy nội lực, cách ca cách diễn rất chừng mực, cách làm nghệ thuật rất nghiêm túc, nên sự ăn ý trên sân khấu đã đạt đến mức hoàn hảo.
Năm 1978, Thanh Nga bất hạnh qua đời, sự ra đi này là một tổn thất không gì bù đắp nổi đối với sân khấu cải lương, bởi đó là sự ra đi của một nữ nghệ sĩ tài sắc lưỡng toàn được mệnh danh là Nữ hoàng sân khấu. Thế nhưng mất mát cho cải lương còn ở chỗ: sự ra đi của Thanh Nga cũng khiến cho sân khấu cải lương mất một đôi bạn diễn thuộc hàng “xưa nay hiếm”.
Trần Minh -Thanh Sang: Ca nội tâm, diễn chân phương
Vỡ tuồng Bên Cầu Dệt Lụa đã mang đến hai hình tượng thuộc hàng đẹp nhất cho sự thủy chung son sắt. Nếu Thanh Nga xuất sắc với vai nàng tiểu thư Quỳnh Nga dám vượt khuê môn đến chăn tằm dệt vải bên cầu để lấy tiền cho người chồng hứa hôn lên kinh ứng thí, thì Thanh Sang cũng đáp lại bằng vai diễn để đời với một hàn sĩ Trần Minh, bị nhạc trượng tương lai ruồng bỏ do chê gia thế bần hàn, đến độ mẹ ruột bị hành hạ đến uất ức mà mang bệnh chết.
Trong nghịch cảnh ấy, lòng thù hận của Trần Minh đối với nhạc trượng đã được hóa giải bằng tấm chân tình của người vợ hứa hôn Quỳnh Nga. Để rồi, khi đỗ trạng nguyên, bị vua dùng quyền uy tối thượng ép chàng phải cưới công chúa, Trần Minh đã từ chối cái ngôi phò mã cao sang, thậm chí sẵn sàng chấp nhận cái chết để giữ cho vẹn thủy toàn chung với người vợ tào khang Quỳnh Nga ở quê nhà.
Lớp diễn Trần Minh đối đáp với vua và công chúa giữa trào đình là một lớp diễn xuất thần của Thanh Sang. Nét khẳng khái, sự quyết liệt, cách đối đáp chân thật mà uyên bác, thâm thúy mà giản đơn đã được Thanh Sang thể hiện một cách nhẹ nhàng, tinh tế: nhẹ nhàng vì Thanh Sang có lối diễn chừng mực không phô trương, tinh tế vì Thanh Sang biết khai thác tối đa thế mạnh của giọng ca đầy nội tâm để biểu đạt hết cái thần của nhân vật.
Một nét đáng chú ý trong lớp diễn này, nhất là đoạn Trần Minh ca hai câu vọng cổ đối đáp với vua khi vua mang gươm lệnh ra dọa nếu Trần Minh từ chối ngôi phò mã thì sẽ phải mất đầu: đây là một lớp diễn rất khó. Khó trước tiên là về cách diễn xuất phải làm sao bộc lộ được sự quyết liệt từ chối nhưng phải giữ được đạo quân thần, chứ không phải từ chối của một kẻ bình dân, mà là từ chối của bậc trạng nguyên có ăn có học.
Cái khó thứ hai mà cũng là cái khó chính, đó là lời bài ca trong lớp diễn. Hai câu vọng cổ mà Trần Minh ca đối đáp với vua hàm chứa rất nhiều điển tích, mà phải chi điển tích là những câu chuyện dài thì còn có thể nắm cốt chuyện mà nhớ, đằng này lại liên quan đến một loạt các tên tuổi lấy từ Đông Chu Liệt Quốc bên Tàu. Chẳng hạn như đoạn đối thoại có những lời như sau:
“Muôn tâu, thánh như Ngũ đế, nhân như Tam Vương, mạnh như Ô Hoạch, dõng như Mạnh Bôn Hạ Dục mà còn phải chết, trên đời có ai thoát khỏi chết đâu mà thần phải sợ”.
Chúng ta thấy, dẫu là người có học cao, khi ca đoạn này cũng phải học thật kỹ, nếu không khi đang ca trong lòng bản vọng cổ, không có thời gian đâu mà suy nghĩ nhiều, nên việc nói nhanh mà nhầm lẫn tên là rất khả dĩ. Ấy thế nhưng ở Thanh Sang cách diễn xuất rất tự nhiên, cách ca rất trôi chảy, lời ca trong nét diễn, nét diễn trợ lời ca, cho thấy đó thật sự là một Trạng Nguyên thuộc lào kinh sử, chứ không phải là một anh kép hát đang vừa ca vừa vắt óc nhớ lời hoặc ca một cách vô hồn, không hiểu gì về tên những nhân vật mà minh đề cập.
Xuất thân hàn vi nên Thanh Sang không được ăn học nhiều, nhưng Thanh Sang luôn chịu khó tự trao dồi kiến thức, và khi ca diễn ông có thể hiểu trọn vẹn những tích tuồng mà mình tham gia đóng. Trong giới cải lương, Thanh Sang được mệnh danh là người có hiểu biết rộng, thông tuệ nhiều thứ. Thế mới thấy được sự phấn đấu phi thường đáng trân trọng của nghệ sĩ Thanh Sang, một sự phấn đấu mà không phải những ngườiđược xem là trí giả đôi khi còn không có. Thế mới thấy thế hệ nghệ sĩ trẻ sau này nên soi vào đó để tự trao dồi, trao dồi không chỉ kiến thức chuyên môn, mà còn cả những kiến thức sử xanh cần thiết.
Lớp diễn để đời khác trong tuồng Bên Cầu Dệt Lụa là đoạn Trần Minh đỗ trạng nguyên xong về lại quê xưa, nhưng xin phép vua không làm lễ vinh quy bái tổ rình rang như thông lệ, mà lại chọn cách xếp cờ êm trống, mặc áo cơ hàn mang bầu rượu nhạt đến tìm gặp người bạn tri giao là hàn sĩ Nhuận Điền. Nghệ sĩ Thanh Tú thủ vai Nhuận Điền đã cùng Trần Minh -Thanh Sangđể lại cho đời một tình bạn tri âm tri kỷ đúng nghĩa.
Đặc biệt, khi Nhuận Điền ngạc nhiên thấy Trần Minh đã là trạng nguyên mà còn mang rượu mua ở quán nghèo tại quê hương đến mời bạn, Nhuận Điền hỏi: “Giờ đã là trạng nguyên rồi mà còn uống được rượu quán nghèo nơi xóm cũ à?”,Trần Minh -Thanh Sang vô vọng cổ câu 5 để trả lời: “Uống chớ đại huynh, tuy rượu quán nghèo mà nồng nàn hương vị, xin kính cẩn nâng ly mời tri kỷ, mượn chén rượu ngày xưa cho tròn vẹn… thâm ….tình”. Giọng ca Thanh Sang trầm ấm, trữ tình, chứa đầy tâm sự, nên chỉ với bốn chữ: “Uống chớ đại huynh” thôi thì người nghe cũng có thể hiểu được trọn vẹn nổi lòng của nhân vật rồi. Chỉ bốn chữ đơn giản như thế mà đến giờ phút này, đã có không ít nghệ sĩ trích lại đoạn nói trên, nhưng chưa thấy ai đạt đến trình độ: “Bốn chữ nói lên tất cả” như Thanh Sang.
Thế nhưng, trong vở tuồng Bên Cầu Dệt Lụa, khi nhắc đến Quỳnh Nga -Trần Minh, người mộ điệu nghĩ ngay đến đoạn Quỳnh Nga đến tiễn Trần Minh lên đường lai kinh ứng thí. Nàng mang đến cho chàng gói hành trang, lộ phí, mà điều đáng quý là tất cả những thứ đó đều do tự tay nàng làm ra sau khi rời khỏi lầu son gác tía trong phủ quan huyện của cha nàng để đến dựng quán bán vải bên cầu. Ý nghĩa nhất lúc này đó là chiếc áo ngự hàn mà nàng đã thức suốt bao đêm để dệt bằng “tơ tâm sự”. Thanh Nga ca hai câu vọng cổ để trao gói hành trang, thì Thanh Sang sau đó cũng ca hai câu vọng cổ đáp tạ chân tình. Đoạn ca này cả hai đã thật sự đạt trình độ thượng thừa về ca diễn. Đặc biệt về ca, tất cả những tình cảm cần thể hiện đãđược đôi nghệ sĩ ngọc ngà này của sân khấu cải lương đưa hết vào trong lời ca.
Đáp lại Quỳnh Nga -Thanh Nga, Trần Minh -Thanh Sang đã ca như vầy: “Quỳnh Nga ơi nhận vật trao tay ta nghẹn ngào muốn khóc, rừng rực lửa yêu đương ta nguyện cùng ai thề giữ vẹn chữ …chung…tình”. Những chữ “Quỳnh Nga ơi nhận vật trao tay ta nghẹn ngào muốn khóc” được Thanh Sang đưa hết tình cảm vào đó. Với giọng ca đầy nội lực và nội tâm của Thanh Sang, chỉ với mấy chữ mở đầu này cũng đủ để khán giả cảm được sự rưng rung nước mắt trong lòng của bậc trượng phu Trần Minh, không cần phải xem thêm động tác gì nữa.
Giọng ca của Thanh Sang rất thích hợp cho những vai nội tâm cao, đây là một ưu thế của ông, nên ông đã triệt để khai thác, và khai thác một cách xuất sắc cho đoạn ca này. Nhiều nghệ sĩ thế hệ sau ca diễn lại đoạn này, nhưng do giọng ca thiếu nội lực, do không có được làn hơi đầy nội tâm như Thanh Sang, hoặc do diễn hơi bị lố, nên chưa thấy có ai thể hiện xuất thần đoạn này như Thanh Sang.
Thành công của Thanh Sang trong Bên Cầu Dệt Lụa đến mức mà khán giả miền Tây thường biết đến tuồng cải lương này qua tên Trần Minh Khố Chuối, và hình tượng một Trần Minh nghèo khổ hiếu học, vẹn thủy toàn chung đã đi vào đời sống thường nhật của người Nam Bộ, bởi rất thường khi gặp một người nam nghèo khổ có chí học hành thì nhiều người gọi ngay đó là “Trần Minh khố chuối”.
Thi Sách -Thanh Sang: Đỉnh cao của nét diễn bi hùng
Một vai diễn để đời nữa của Thanh Sang là vai Thi Sách trong vở Tiếng Trống Mê Linh cũng đóng cặp với Nữ hoàng sân khấu Thanh Nga. Nếu trong vai Trưng Trắc, Thanh Nga đã tạo ra những đỉnh cao nghệ thuật mà cho đến giờ này chưa nữ nghệ sĩ cải lương nào vượt qua, thì Thanh Sang cũng đã “gây khó dễ” cho thế hệ sau với vai Thi Sách, bởi đến hiện tại chưa thấy ai tiếp bước một cách xứng tầm cho vai diễn này. Và hễ nhắc đến Thi Sách trong Tiếng Trống Mê Linh là người mộ điệu nghĩ ngay đến Thanh Sang.
Lớp diễn để đời cho cả hai nghệ sĩ bậc thầy này là lớp Trưng Trắc -Thanh Nga tế sống Thi Sách -Thanh Sang trước cửa thành Luy Lâu. Số là Thi Sách bị Tô Định bắt đem lên giàn hỏa để uy hiếp buộc Trưng Trắc lui quân. Thế nhưng, vận mệnh non sông chỉ còn ở trận đánh đó thôi, chỉ còn ở thời cơ đó thôi. Nợ nước tình nhà đè nặng lên vai Trưng Trắc. Thanh Nga đã xuất thần trong lớp diễn tế sống chồng với hai câu vọng cổ thuộc hàng “quỷ khốc thần sầu”. Thi Sách -Thanh Sang cũng không hề lép vế với bạn diễn. Trên giàn hỏa, Thi Sách-Thanh Sang khảng khái khuyên vợ đặt việc nước trước tình nhà để tấn binh diệt giặc. Thanh Sang cũng đã ca hai câu vọng cổ thuộc hàng “thần sầu quỷ khốc”.
Cả hai đã gặp nhau ở một điểm, mà lại là điểm quyết định cho giá trị thật sự của vai diễn, đó là: sự bi hùng. Trưng Trắc -Thanh Nga tế sống chồng trước ba quân nên không thể “bi lụy” được, còn Thi Sách -Thanh Sang lên tiếng khuyên vợ trước ba quân cũng phải dằn niềm riêng mà quyết chí vì nghĩa lớn của dân tộc.
Như đã nói, thế mạnh của Thanh Sang là có một giọng ca biểu lộ nội tâm rất tốt, bởi vậy Thanh Sang đã vận dụng thế mạnh này một cách tuyệt vời cho vai Thi Sách và đặc biệt là cho đoạn trên giàn hỏa.
Trong đoạn ca kêu gọi Trưng Trắc-Thanh Nga tiến quân, Thi Sách -Thanh Sang ca như vầy: “Ta cám ơn tất cả đã tạm đình binh để kéo dài mạng sống cho ta dù trong phút giây ngắn ngủi. Nhưng nàng hãy ra lệnh cho nghĩa binh anh dũng hãy nổi trống đồng lên. Hãy nổi trống tấn công đi…”. Sáu chữ “Hãy nổi trống tấn công đi” của Thi Sách -Thanh Sang âm vang, uy vũ, nhưng lại rất chan chứa tâm tình. Uy vũ vì là lời ra lệnh với tư cách chủ tướng dành cho thuộc cấp, chan chứa thâm tình vì thuộc cấp chẳng ai khác là người vợ tào khang, bảo vợ tấn binh tức đồng nghĩa với việc âm dương hai ngã, nhưng biết làm sao hơn khi mà “Sống thác là chuyện đi về, hợp tan là trò dâu bể. Tất cả đều không có đáng kể. Mà điều đáng lo là sự trường tồn của dòng dõi Hùng Vương”.
Nội tâm bi hùng đó đã được thể hiện một cách trên cả tuyệt vời qua giọng ca đầy nội tâm của Thanh Sang. Và sáu chữ “Hãy nổi trống tấn công đi” thật đơn giản, dễ ca, nhưng mỗi khi nghe Thanh Sang ca sáu chữ này, người nghe ắt hẳn không khỏi giật mình về “độ bi hùng” trong giọng ca Thanh Sang. Để đạt được trình độ bi hùng thượng thừa như Thanh Sang trong vai Thi Sách thì đến hiện tại chưa thấy có ai.
Một giọng ca “trời sầu đất thảm”
Thanh Sang có giọng trầm, đầy nội lực, man mác u buồn nhưng không bi lụy. Như đã nói, đây là một giọng ca rất thích hợp cho các vai có nội tâm cao. Nói về ca vọng cổ, thì giọng ca này cũng đúng cái bản chất của bài ca vọng cổ: “Chân phương hoa lá”. Tức ca vọng cổ là phải ca chân phương, không điệu đà thái quá, không làm dáng dư thừa, mà phải có sao ca vậy, giống như câu hò lời ru Nam Bộ, mộc mạc mà ngọt ngào, ru hồn người nghe một cách dịu êm. Thế nhưng, chân phương không có nghĩa chết cứng, mà phải biết dùng giọng ca trời cho và sự điêu luyện trong nhịp nhàng, cùng với cách sắp chữ, nhấn nhá để tạo hoa lá cho bài hát, qua đó tạo dấu ấn riêng cho mình.
Đâu phải ngẫu nhiên mà giọng ca Út Trà Ôn đi vào huyền thoại. Nghe Út Trà Ôn ca, ta thấy ngay đó là một giọng ca chân phương, nhưng những cung bậc tình cảm đa dạng của cuộc đời đã được nghệ sĩ bậc thầy này đưa vào bài ca trọn vẹn. Bởi thế mà, đến hiện tại, cái mỹ danh Vua ca vọng cổ vẫn thuộc về Út Trà Ôn.
Lúc thiếu thời, Thanh Sang mê giọng ca Út Trà Ôn và thường bắt chước ca theo. Khi theo nghề, lối ca Thanh Sang bị ảnh hưởng nhiều bởi Út Trà Ôn, từ cách sắp chữ, đưa hơi, nói chung là rất chân phương và hoa lá. Thế nhưng, Thanh Sang được trời phú cho một giọng ca rất riêng, cùng với sự phấn đấu không ngừng, Thanh Sang đã tạo được nét riêng cho mình. Cũng như các nghệ sĩ thành danh thế hệ vàng của sân khấu cải lương, giọng ca của Thanh Sang không nhầm lẫn với ai được, không cần nhìn, chỉ cần nghe cất hơi là người mộ điệu biết ngay đó là Thanh Sang.
Giọng Thanh Sang trầm, buồn man mác, một cái buồn mà người nghe không cảm thấy bị ngột mà là bị lây từ từ, để rồi càng nghe càng thấy thấm, mà thấm từ từ, nói chung là buồn, buồn lắm. Đây là một điểm đáng chú ý nhất trong giọng ca Thanh Sang, mà thiết nghĩ trong giới nam nghệ sĩ, chỉ có Thanh Sang mới được trời phú cho một giọng ca đạt đến “độ sầu” như vậy. Nghe Thanh Sang ca vọng cổ ta dần cảm được cái gọi là “trời sầu đất thảm”.
Nếu nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan được mệnh danh là“Sầu Nữ”, thì xin tặng cho Thanh Sang hai chữ: “Sầu nam”. Sầu nam ở đây không có nghĩa là Thanh Sang chuyên đóng vai bi, vai sầu, mà là giọng ca của Thanh Sang cũng giống như giọng ca Út Bạch Lan, dù rằng một nam một nữ, nhưng cả hai giọng ca đều có một “ma lực” gieo rắc u sầu để người nghe không sầu theo cũng không được.
Thanh Sang không ca lẻ vọng cổ nhiều, nhưng đã ca thì ca lấy chắc. Chúng ta chỉ cần nghe lại một số bài cũng đủ thấy được độ sầu của giọng ca Thanh Sang: Mồ em Phượng (Viễn Châu), Nhớ mẹ hiền (Viễn Châu), Người đánh đàn trên bắc Mỹ Thuận (Viễn Châu).
Năm 2001, Thanh Sang bị bệnh nặng tưởng không qua khỏi, sau đó phải vắng bóng trên sân khấu sáu bảy năm trời. Đến năm 2007, được bạn bè và đồng nghiệp cổ vũ, giúp đỡ, Thanh Sang đã tổ chức live show mang tên: “Năm mươi năm một tình yêu nghệ thuật” tại Nhà hát lớn thành phố Hồ Chí Minh, do Cải lương chi bảo Bạch Tuyết làm đạo diễn. Lần “tái xuất giang hồ này” của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn càng khẳng định tính nghiêm túc trong nghề nghiệp của Thanh Sang. Được biết, khi ấy dù mọi người lo lắng sức khỏe không cho phép ông hát được trọn vẹn trên sân khấu, nhưng ông kiên quyết không hát nhép, và tuyên bố ca trực tiếp thì dù có chết trên sân khấu cũng được.
Ôi đáng kính thay một tấm lòng vì nghệ thuật! Nếu tất cả nghệ sĩ đều có một tấm lòng như thế thì cải lương chắc hẳn sẽ không bị cho là khủng hoảng như bây giờ, bởi như không ít người thường nói, không phải khán giả bỏ cải lương, mà có nhiều nghệ sĩ đang bỏ và đang giết lần mòn cải lương vậy.
Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện bệnh nặng
QUẬN CAM, CA 1-10 (NV) - Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, tác giả tập thơ Hoa Ðịa Ngục,
bệnh nặng và đang ở trong một bệnh viện ở thành phố Santa Ana, quận Cam, California.

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện (bên phải) gặp dịch giả Huỳnh Sanh Thông (bên trái) tại thành phố New Haven, Connecticut, hồi Tháng Tư 2005.
(Hình: Quang Phu Van - Vietnam Literature Project)
Sáng sớm ngày Thứ Tư 26 Tháng Chín 2012, ông cảm thấy ngộp thở nên được đưa gấp vào bệnh viện. Tại đây, bệnh viện điều trị chứng nhiễm trùng đường phổi nhưng ông vẫn thấy đau ở ngực. Một số xét nghiệm cả về tim mạch, chụp phim và lấy mẫu phổi (biopsy) truy tìm ung thư cũng đã được thực hiện.
Tuy nhiên, những tin tức cho đến sáng ngày Thứ Hai 1 Tháng Mười 2012 thì xét nghiệm mẫu phổi chưa rõ ràng để kết luận là ông bị ung thư hay không trong khi ông vẫn thấy đau và cần thuốc giảm đau.
Mấy ngày đầu, ông nói rất khó, không ra lời, nhưng nay đã có thể nói tương đối dễ dàng.
Mười giờ sáng Thứ Hai, Linh Mục Cao Phương Kỷ đã làm các nghi thức cần thiết để ông trở thành một tín đồ Công Giáo theo ước nguyện trước sự chứng kiến của ông bà Bác Sĩ Trần Văn Cảo, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Trang, bà Lâm Thiên Hương, nhà văn Trần Phong Vũ.
Ông Nguyễn Chí Thiện từng gặp cha Chính Vinh, cha Nguyễn Văn Lý trong nhà tù CSVN.
Nhân cách và cái chết của cha Chính Vinh tại nhà tù Cổng Trời (tỉnh Hà Giang) được nhiều người viết hồi ký kể lại trong đó có ông Kiều Duy Vĩnh. Ông Vĩnh là một trong rất ít người thoát chết trở về sau nhiều năm bị giam ở trại Cổng Trời, mới qua đời hồi Tháng Bảy vừa qua và cũng đã chịu các phép bí tích để trở thành tín đồ Công Giáo.
Những kỷ niệm cũng như nhân cách của cha Chính Vinh, Linh Mục Lý đã gây ấn tượng sâu sắc thúc đẩy nhà thơ Nguyễn Chí Thiện chọn đức tin Công Giáo và lấy tên thánh là Thomas More.
Vào năm 1980, người ta thấy xuất hiện ở hải ngoại một tập thơ không có tên tác giả, xuất bản bởi “Ủy Ban Tranh Ðấu cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam”. Tập thơ mang tựa đề “Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực” mà tác giả là “Ngục sĩ” hay khuyết danh. Ít tuần lễ sau, tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong đưa ra một ấn bản cùng một nội dung nhưng với tựa đề “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam”.
Tựa đề tập thơ Hoa Ðịa Ngục có từ khi Yale Center for International & Area Studies ấn hành bản Anh ngữ Flowers From Hell do ông Huỳnh Sanh Thông dịch. Sau người ta mới biết tác giả tập thơ là Nguyễn Chí Thiện.
Những bài thơ của ông trong tập Hoa Ðịa Ngục gây xúc động sâu xa trong tâm thức người đọc về cái đói, sự đày đọa ác độc, sự gian ác của chế độ Cộng Sản đối với con người.
Tập thơ thoát ra khỏi Việt Nam khi nhà thơ lén lút mang tới Tòa Ðại Sứ Anh tại Hà Nội và được Giáo Sư Patrick J. Honey thuộc đại học London sang Việt Nam Tháng Bảy năm 1979 và mang về. Kèm trong tập thơ 400 trang viết tay này là lá thư mở đầu với lời ngỏ:
“Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải chịu đựng một cái chết dần mòn và đau đớn trong gông cùm cộng sản, tôi xin ông vui lòng cho phổ biến những bài thơ này trên mảnh đất tự do của quý quốc. Ðó là kết quả 20 năm làm việc của tôi, phần lớn được sáng tác trong những năm tôi bị giam cầm.”
Ông Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1939 tại Hà Nội. Ông có một người anh là sĩ quan cao cấp VNCH đang ở sống ở tiểu bang Virginia, hai người chị ở Việt Nam.
Ông bị tù tổng cộng 27 năm qua nhiều nhà tù miền Bắc, đặc biệt là nhà tù nổi tiếng Cổng Trời. Lần ra khỏi tù sau cùng của ông là ngày 28 Tháng Mười 1991.
Khi ông chạy vào Tòa Ðại Sứ Anh Quốc ở Hà Nội đưa tập thơ và xin tị nạn chính trị, viên chức tòa đại sứ chỉ nhận tập thơ để chuyển ra ngoại quốc và cho biết họ không giúp ông tỵ nạn chính trị được. Bước ra khỏi trụ sở Tòa Ðại Sứ Anh thì ông bị công an CSVN bắt giữ liền.
Nhờ sự can thiệp đặc biệt của nhiều nhân vật quốc tế, ông đã được chế độ Hà Nội thả cho đi Mỹ định cư Tháng Giêng 1995.
Ông đã đem kinh nghiệm về chế độ Cộng Sản, kinh nghiệm tù đày trình bày với các cộng đồng người Việt khắp nơi từ Hoa Kỳ, Canada, Âu Châu và Úc Châu.
Tập thơ Hoa Ðịa Ngục đã được dịch ra Anh, Pháp, Ðức và Hòa Lan ngữ.
Sau khi đến Mỹ, năm 2001 ông cho xuất bản tập truyện Hỏa Lò. Tập truyện Hai Chuyện Tù được ông xuất bản năm 2008. (TN)
QUẬN CAM, CA 1-10 (NV) - Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, tác giả tập thơ Hoa Ðịa Ngục,
bệnh nặng và đang ở trong một bệnh viện ở thành phố Santa Ana, quận Cam, California.

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện (bên phải) gặp dịch giả Huỳnh Sanh Thông (bên trái) tại thành phố New Haven, Connecticut, hồi Tháng Tư 2005.
(Hình: Quang Phu Van - Vietnam Literature Project)
Sáng sớm ngày Thứ Tư 26 Tháng Chín 2012, ông cảm thấy ngộp thở nên được đưa gấp vào bệnh viện. Tại đây, bệnh viện điều trị chứng nhiễm trùng đường phổi nhưng ông vẫn thấy đau ở ngực. Một số xét nghiệm cả về tim mạch, chụp phim và lấy mẫu phổi (biopsy) truy tìm ung thư cũng đã được thực hiện.
Tuy nhiên, những tin tức cho đến sáng ngày Thứ Hai 1 Tháng Mười 2012 thì xét nghiệm mẫu phổi chưa rõ ràng để kết luận là ông bị ung thư hay không trong khi ông vẫn thấy đau và cần thuốc giảm đau.
Mấy ngày đầu, ông nói rất khó, không ra lời, nhưng nay đã có thể nói tương đối dễ dàng.
Mười giờ sáng Thứ Hai, Linh Mục Cao Phương Kỷ đã làm các nghi thức cần thiết để ông trở thành một tín đồ Công Giáo theo ước nguyện trước sự chứng kiến của ông bà Bác Sĩ Trần Văn Cảo, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Trang, bà Lâm Thiên Hương, nhà văn Trần Phong Vũ.
Ông Nguyễn Chí Thiện từng gặp cha Chính Vinh, cha Nguyễn Văn Lý trong nhà tù CSVN.
Nhân cách và cái chết của cha Chính Vinh tại nhà tù Cổng Trời (tỉnh Hà Giang) được nhiều người viết hồi ký kể lại trong đó có ông Kiều Duy Vĩnh. Ông Vĩnh là một trong rất ít người thoát chết trở về sau nhiều năm bị giam ở trại Cổng Trời, mới qua đời hồi Tháng Bảy vừa qua và cũng đã chịu các phép bí tích để trở thành tín đồ Công Giáo.
Những kỷ niệm cũng như nhân cách của cha Chính Vinh, Linh Mục Lý đã gây ấn tượng sâu sắc thúc đẩy nhà thơ Nguyễn Chí Thiện chọn đức tin Công Giáo và lấy tên thánh là Thomas More.
Vào năm 1980, người ta thấy xuất hiện ở hải ngoại một tập thơ không có tên tác giả, xuất bản bởi “Ủy Ban Tranh Ðấu cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam”. Tập thơ mang tựa đề “Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực” mà tác giả là “Ngục sĩ” hay khuyết danh. Ít tuần lễ sau, tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong đưa ra một ấn bản cùng một nội dung nhưng với tựa đề “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam”.
Tựa đề tập thơ Hoa Ðịa Ngục có từ khi Yale Center for International & Area Studies ấn hành bản Anh ngữ Flowers From Hell do ông Huỳnh Sanh Thông dịch. Sau người ta mới biết tác giả tập thơ là Nguyễn Chí Thiện.
Những bài thơ của ông trong tập Hoa Ðịa Ngục gây xúc động sâu xa trong tâm thức người đọc về cái đói, sự đày đọa ác độc, sự gian ác của chế độ Cộng Sản đối với con người.
Tập thơ thoát ra khỏi Việt Nam khi nhà thơ lén lút mang tới Tòa Ðại Sứ Anh tại Hà Nội và được Giáo Sư Patrick J. Honey thuộc đại học London sang Việt Nam Tháng Bảy năm 1979 và mang về. Kèm trong tập thơ 400 trang viết tay này là lá thư mở đầu với lời ngỏ:
“Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải chịu đựng một cái chết dần mòn và đau đớn trong gông cùm cộng sản, tôi xin ông vui lòng cho phổ biến những bài thơ này trên mảnh đất tự do của quý quốc. Ðó là kết quả 20 năm làm việc của tôi, phần lớn được sáng tác trong những năm tôi bị giam cầm.”
Ông Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1939 tại Hà Nội. Ông có một người anh là sĩ quan cao cấp VNCH đang ở sống ở tiểu bang Virginia, hai người chị ở Việt Nam.
Ông bị tù tổng cộng 27 năm qua nhiều nhà tù miền Bắc, đặc biệt là nhà tù nổi tiếng Cổng Trời. Lần ra khỏi tù sau cùng của ông là ngày 28 Tháng Mười 1991.
Khi ông chạy vào Tòa Ðại Sứ Anh Quốc ở Hà Nội đưa tập thơ và xin tị nạn chính trị, viên chức tòa đại sứ chỉ nhận tập thơ để chuyển ra ngoại quốc và cho biết họ không giúp ông tỵ nạn chính trị được. Bước ra khỏi trụ sở Tòa Ðại Sứ Anh thì ông bị công an CSVN bắt giữ liền.
Nhờ sự can thiệp đặc biệt của nhiều nhân vật quốc tế, ông đã được chế độ Hà Nội thả cho đi Mỹ định cư Tháng Giêng 1995.
Ông đã đem kinh nghiệm về chế độ Cộng Sản, kinh nghiệm tù đày trình bày với các cộng đồng người Việt khắp nơi từ Hoa Kỳ, Canada, Âu Châu và Úc Châu.
Tập thơ Hoa Ðịa Ngục đã được dịch ra Anh, Pháp, Ðức và Hòa Lan ngữ.
Sau khi đến Mỹ, năm 2001 ông cho xuất bản tập truyện Hỏa Lò. Tập truyện Hai Chuyện Tù được ông xuất bản năm 2008. (TN)

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện qua đời, thọ 73 tuổi
Tuesday, October 02, 2012 8:53:34 AM
QUẬN CAM, CA 2-10 (NV) - Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, tác giả tập thơ Hoa Ðịa Ngục, vừa qua đời lúc 7 giờ 17 phút sáng Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012, tại một bệnh viện ở thành phố Santa Ana, quận Cam, California, thọ 73 tuổi.
Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện vào bệnh viện vào sáng sớm ngày 26 Tháng Chín, 2012. Tại đây, bệnh viện điều trị chứng nhiễm trùng đường phổi nhưng ông vẫn thấy đau ở ngực. Một số xét nghiệm cả về tim mạch, chụp phim và lấy mẫu phổi (biopsy) truy tìm ung thư cũng đã được thực hiện.
Tuy nhiên, cho đến sáng ngày Thứ Hai, 1 Tháng Mười 2012 thì bệnh trở nặng. Mười giờ sáng Thứ Hai, Linh Mục Cao Phương Kỷ đã làm các nghi thức cần thiết để ông trở thành một tín đồ Công Giáo theo ước nguyện trước sự chứng kiến của ông bà Bác Sĩ Trần Văn Cảo, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Trang, bà Lâm Thiên Hương, nhà văn Trần Phong Vũ.
Nhà văn Trần Phong Vũ, người kề cận, chăm sóc nhà thơ Nguyễn Chí Thiện trong những ngày ở bệnh viện, đã vuốt mắt cho nhà thơ sau khi ông qua đời.
Người anh của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đáp máy bay từ Virginia tới Quận Cam sáng nay cũng không kịp gặp mặt em trước khi mất.
* Người tù 27 năm
Ông Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1939 tại Hà Nội. Ông có một người anh là sĩ quan cao cấp VNCH đang ở sống ở tiểu bang Virginia, hai người chị ở Việt Nam.
Ông bị tù cộng sản tổng cộng 27 năm qua nhiều nhà tù miền Bắc, đặc biệt là nhà tù nổi tiếng Cổng Trời. Lần ra khỏi tù sau cùng của ông là ngày 28 Tháng Mười 1991.
Khi ông chạy vào Tòa Ðại Sứ Anh Quốc ở Hà Nội đưa tập thơ và xin tị nạn chính trị, viên chức tòa đại sứ chỉ nhận tập thơ để chuyển ra ngoại quốc và cho biết họ không giúp ông tỵ nạn chính trị được. Bước ra khỏi trụ sở Tòa Ðại Sứ Anh thì ông bị công an CSVN bắt giữ liền.
Nhờ sự can thiệp đặc biệt của nhiều nhân vật quốc tế, ông đã được chế độ Hà Nội thả cho đi Mỹ định cư Tháng Giêng 1995.
Ông đã đem kinh nghiệm về chế độ Cộng Sản, kinh nghiệm tù đày trình bày với các cộng đồng người Việt khắp nơi từ Hoa Kỳ, Canada, Âu Châu và Úc Châu.
Tập thơ Hoa Ðịa Ngục đã được dịch ra Anh, Pháp, Ðức và Hòa Lan ngữ.
Sau khi đến Mỹ, năm 2001 ông cho xuất bản tập truyện Hỏa Lò. Tập truyện Hai Chuyện Tù được ông xuất bản năm 2008.
Ông Nguyễn Chí Thiện từng gặp cha Chính Vinh, cha Nguyễn Văn Lý trong nhà tù CSVN.
Nhân cách và cái chết của cha Chính Vinh tại nhà tù Cổng Trời (tỉnh Hà Giang) được nhiều người viết hồi ký kể lại trong đó có ông Kiều Duy Vĩnh. Ông Vĩnh là một trong rất ít người thoát chết trở về sau nhiều năm bị giam ở trại Cổng Trời, mới qua đời hồi Tháng Bảy vừa qua và cũng đã chịu các phép bí tích để trở thành tín đồ Công Giáo.
Những kỷ niệm cũng như nhân cách của cha Chính Vinh, Linh Mục Lý đã gây ấn tượng sâu sắc thúc đẩy nhà thơ Nguyễn Chí Thiện chọn đức tin Công Giáo và lấy tên thánh là Thomas More.
Tác giả Hoa Địa Ngục
Vào năm 1980, người ta thấy xuất hiện ở hải ngoại một tập thơ không có tên tác giả, xuất bản bởi “Ủy Ban Tranh Ðấu cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam”. Tập thơ mang tựa đề “Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực” mà tác giả là “Ngục sĩ” hay khuyết danh. Ít tuần lễ sau, tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong đưa ra một ấn bản cùng một nội dung nhưng với tựa đề “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam”.
Tựa đề tập thơ Hoa Ðịa Ngục có từ khi Yale Center for International & Area Studies ấn hành bản Anh ngữ Flowers From Hell do ông Huỳnh Sanh Thông dịch. Sau người ta mới biết tác giả tập thơ là Nguyễn Chí Thiện.
Những bài thơ của ông trong tập Hoa Ðịa Ngục gây xúc động sâu xa trong tâm thức người đọc về cái đói, sự đày đọa ác độc, sự gian ác của chế độ Cộng Sản đối với con người.
Tập thơ thoát ra khỏi Việt Nam khi nhà thơ lén mang tới Tòa Ðại Sứ Anh tại Hà Nội và được Giáo Sư Patrick J. Honey thuộc đại học London sang Việt Nam Tháng Bảy năm 1979 và mang về. Kèm trong tập thơ 400 trang viết tay này là lá thư mở đầu với lời ngỏ:
“Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải chịu đựng một cái chết dần mòn và đau đớn trong gông cùm cộng sản, tôi xin ông vui lòng cho phổ biến những bài thơ này trên mảnh đất tự do của quý quốc. Ðó là kết quả 20 năm làm việc của tôi, phần lớn được sáng tác trong những năm tôi bị giam cầm.” (TN)

Khánh Ly biểu diễn tại Việt Nam? Tình, tiền và những nghịch lý
Lê Diễn Đức Trước hết khoan vội vã nghĩ về nghĩa bóng với ý xấu nào đó trong tựa đề bài viết của tôi. Những từ ngữ trong tựa đề có vẻ giật gân nhưng tôi chỉ muốn nói tới ngữ nghĩa đen đích thực của nó.
Tình…
Lên đường về Việt Nam (VN), trong hành trang của mình, Khánh Ly mang nặng chữ tình theo nghĩa rộng. Tình yêu quê hương; tình cảm với một quá khứ sống động thời tuổi trẻ ở miền Nam; tình yêu âm nhạc, nghệ thuật; tình cảm dành cho quần chúng hâm mộ trong nước; tình bằng hữu, đồng nghiệp; và những băn khoăn trước thái độ không mấy hài lòng của một bộ phận trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản (CS), mà Kánh Ly là một thành viên không thể tách rời.
Tôi chưa bao giờ có cái nhìn khắt khe với bất kỳ ai từ nước ngoài về thăm VN. Là người Việt ly hương, mong được trở về quê nhà, dù dưới bất kỳ lý do nào, làm ăn hay thăm thân, tôi đều cho là nguyện vọng chính đáng. Điều cần đánh giá là thái độ và việc làm của họ trong thời gian ở VN, cách ứng xử với nhà cầm quyền của chế độ CSVN, một chế độ mà họ đã tự nguyện trốn chạy, muốn đoạn tuyệt, dù đã phải đối diện với nhiều hiểm nguy, mất mát, thậm chí cả mạng sống.
Tôi cũng giữ quan điểm đúng mức, trung dung trong việc các ca sĩ từ nước ngoài về VN biểu diễn hay từ trong nước qua Mỹ, như là chuyện bình thường. Tôi đã chứng kiến người Việt ở Mỹ vui vẻ chào đón các ca sĩ từ miền Bắc qua như Hồng Nhung, Mỹ Linh, Thanh Lam, Thu Hà, Thu Phương, v.v… Một số người cưới vợ, lấy chồng, sống hoà hợp và bình đẳng trong cộng đồng. Những trường hợp bị chống đối dường như rất ít và thường có lý do chính đáng, như Đàm Vĩnh Hưng, hay Hồng Vân. Chỉ khi thật sự đặt mình vào hoàn cảnh của những người căm ghét chế độ CS vì chế độ này đã gây ra bao nhiêu tai ương, tội ác cho họ và thân nhân, hiện vẫn đang tiếp tục chà đạp công lý và quyền tự do ở trong nước, thì mới có thể thông cảm và chia sẻ cho sự chống đối này.
Khánh Ly không phải là người đầu tiên trong giới ca nhạc hải ngoại về VN và chắc chắn không phải là nguời cuối cùng. Trước Khánh Ly đã có Elvis Phương, Hương Lan, Chế Linh, Tuấn Ngọc, v.v… cũng là những ca sĩ đã được nhìn nhận ở đỉnh cao trong làng ca nhạc VN ở nước ngoài.
Khánh Ly thường nói “VN luôn nằm trong trái tim“, chân thật và giản dị như với bao người VN khác sống xa đất nước. Trong thâm tâm, tôi mong muốn Khánh Ly bình yên, thanh thản về nước, thực hiện nguyện vọng chờ đợi từ rất lâu của mình và mang tiếng hát về VN cho những người hâm mộ.
Khi nói đến dòng tân nhạc miền Nam trước năm 1975 và của người Việt hải ngoại sau năm 1975, ca sĩ Khanh Lý phải là một trong những người nằm ở vị trí hàng đầu, có thể xem là ca sĩ số một, thể hiện xuất sắc nhất, có hồn nhất các nhạc phẩm của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Khánh Ly không chỉ nổi tiếng với người miền Nam trước và sau năm 1975, mà tên tuổi và giọng ca của Khánh Ly đã vượt không gian, thời gian đến với hàng triệu người miền Bắc yêu thích các ca khúc trữ tình, những “bài hát da vàng” của dòng nhạc Trịnh.
Bỏ qua mọi định kiến, yêu, ghét, khó ai phủ nhận được Trịnh Công Sơn là khuôn mặt tài năng nổi bật trong di sản âm nhạc hiện đại của Việt Nam. Nếu toàn bộ tác phẩm của ông là đứa con nghệ thuật, thì Khánh Ly, có thể nói, do duyên phận và định mệnh, là một nửa cơ thể của đứa con tinh thần và nghệ thuật đó.
Hạnh phúc nhất của nguời nghệ sĩ chính là lòng mến mộ và quý trọng của đông đảo công chúng. Tôi không nhìn qua lăng kính chính trị hẹp hòi để đồng nghĩa chuyến lưu diễn của Khánh Ly tại VN với cách suy diễn dễ dãi, thiếu thiện chí như là sự phục vụ, hát cho chế độ CS nghe. Trong hoàn cảnh nào người nghệ sĩ cũng hạnh phúc khi thấy tiếng hát của mình có ý nghĩa cho cuộc sống, tài năng nghệ thuật có cơ hội thể hiện, cống hiến cho những người ái mộ, dù chỉ là một số nào đó trong những hoàn cảnh nghiệt ngã.
Công chúng hôm nay đến với Khánh Ly dường như chắc chắn không phải đến với giọng ca của một nữ ca sĩ đã ở tuổi 67. Họ đến với Khánh Ly trong con người bằng da bằng thịt, trong hình ảnh của huyền thoại “Nữ hoàng chân đất”, “Nữ hoàng sân cỏ” với chất giọng trời cho “không giống ai”, “giọng ca thật như nói”, truyền cảm đặc sắc tâm tư của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua những nhạc phẩm của ông.
Tôi tin rằng, từ Sài Gòn, Đà Nẵng, tới Hà Nội, bằng những lời ngợi khen công khai của số ít, hoặc bằng suy nghĩ của số đông thầm lặng, nhưng với tất cả công chúng, Khánh Ly là đứa con của miền Nam, là biểu tượng của một nền văn hoá và âm nhạc tự do của Việt Nam Cộng Hoà, mà nếu không có nó, sẽ đồng nghĩa với không có nghệ sĩ Khánh Ly nổi tiếng hôm nay. Nó cũng tương tự như hình ảnh của Phó thủ tướng Đức Philipp Rösler. Nếu không được trưởng thành và hưởng một nền giáo dục tốt đẹp của nước Đức dân chủ tự do, trong chế độ CSVN một cậu bé mồ côi sẽ khó vượt qua được thân phận của “con sãi ở chùa lại quét lá đa”.
Một hình ảnh đẹp và tự hào như thế của Việt Nam Cộng Hoà, trước công chúng, ngay trong lòng chế độ CS, giữa Hà Nội và Sài Gòn, há chằng phải là tuyệt vời sao!
Nếu không về lúc này, khi còn có thể hát, nguyện vọng của Khánh Ly trở lại hát trên quê nhà sẽ thui chột tỷ lệ nghịch với sự tăng lên của tuổi tác, là điều đáng tiếc cho cuộc đời của một nghệ sĩ tài hoa. Ca sĩ Thanh Tuyền cũng đã nói: “Khánh Ly đã 67 tuổi rồi. Cũng mong được về nước để hát trên mảnh đất quê hương mình. Chị ấy muốn về trước khi quá muộn”- (Giaoducnet.vn).
Tiền…
Có người vội vã nhận định về chuyến lưu diễn của Khánh Ly tại Việt Nam: “Money first!”.
Tôi được biết, tour diễn của Khánh Ly sẽ được công ty Đồng Dao trả tiền cát-xê rất cao. Ngoài bao ăn ở đi lại, mỗi show của Khánh Ly được trả 20 ngàn đôla. Cho cả tour diễn tại Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn, Khánh Ly sẽ thu được từ 100 ngàn tới 200 ngàn đôla, phụ thuộc vào số lượng show lớn nhỏ có thể thực hiện. Với mặt bằng cát-xê chung hiện nay, Khánh Ly nằm mơ không có được một số tiền lớn như thế ở Mỹ trên sàn diễn. Nó không chỉ hấp dẫn mạnh mẽ với Khánh Ly, một người không phải thuộc giới giàu có, mà với tất cả.
Khi đồng ý chi một số tiền lớn như trên, công ty Đồng Dao, nhà tổ chức, hẳn đã phải tính toán rất kỹ thành quả từ show diễn của Khánh Ly, ý thức rất rõ ca sĩ Khánh Ly sẽ cuốn hút số lượng người xem như thế nào. Số tiền lớn này có sức mạnh cám dỗ là đương nhiên. Có ai không thích tiền? Nhưng Khánh Ly hoàn toàn xứng đáng nhận nó, vì nó là thành quả lao động nghệ thuật mà Khánh Ly đã phải làm việc miệt mài và tích luỹ trong suốt 50 năm qua.
Cho nên, nếu nói “Money first!“. Câu trả lời là: “Thì đã sao, why not!“. Đồng tiền kiếm được bằng lao động lương thiện và minh bạch, thì có gì phải lăn tăn!
Nghịch lý…
Nhưng tất cả xem ra không đơn giản trong hỗn mang của các nghịch lý.
Trước hết phải nhìn nhận Khánh Ly là “persona non grata” của chế độ CSVN.
Khánh Ly đã hai lần bỏ chạy khỏi chế độ CS, lần đầu lúc còn bé theo gia đình vào Nam năm 1954, khi CSVN cai trị ở miền Bắc, và lần thứ hai di tản qua Mỹ, năm 1975, sau khi Sài Gòn bị thất thủ và CSVN cai trị trên cả nước.
Tâm trạng của Khánh Ly trong hai lần chạy trốn chế độ CS có thể mô tả qua nhạc phẩm “Xin đời một nụ cười” của nhạc sĩ Nam Lộc:
“Tôi bước đi
Vì không muốn làm kẻ tội đồ,
Vì tôi muốn lại kiếp con người
Muốn cuộc đời có những nụ cười
Tự Do ơi, Tự Do, em đổi bằng thân xác
Vì hai chữ Tự Do ta mang đời lưu vong”…
Trong thời gian sống ở Mỹ, Khánh Ly đã tham gia rất nhiều chương trình văn nghệ chống cộng của hội đoàn người Việt. Với những nhạc phẩm “Đêm Việt Nam” của Hà Thúc Sinh, “Ai trở về xứ Việt” của Phan Văn Hưng, “Đêm Chôn Dầu Vượt Biển“của Châu Đình An, “Hát trên những xác người” của Trịnh công Sơn, v.v… Khánh Ly không làm nhà cầm quyền căm ghét mới là lạ.
Khánh Ly cũng đã từng tuyên bố “Tôi chỉ về khi không còn chế độ cộng sản nữa mà thôi”, theo tờ “Giaoducnet.vn” ngày 7/8/2012 trong bài “Sự tráo trở của Khánh Ly“.
Lời tuyên bố của Khánh Ly rồi cũng nhạt nhoà theo những đổi thay và các biến động của thời gian. Khánh Ly đã về VN hai lần trong năm 1996 và 2000, về chơi thăm thú, chứ không phải về biểu diễn. Nhưng Khánh Ly duờng như bị “cấm cung” tại Đệ Nhất Khách Sạn, quận Tân Bình, gần sân bay Tân Sơn Nhất, đi lại bị an ninh theo dõi, kiểm soát ngặt nghèo.
Cuối năm 1994, nhân chuyến lưu diễn Âu châu của các ca sĩ hải ngoại, trong đó Khánh Ly là nhân vật trung tâm, những bạn hữu tổ chức ở Đức đã phối hợp với chúng tôi ở Ba Lan, lần đầu tiên mời đoàn qua Ba Lan. Đại sứ quán CSVN tại Ba Lan lúc ấy đã ra chỉ thị cấm nghiên cứu sinh, đảng viên đi xem. Chúng tôi thuê Cung Văn hoá làm nơi biểu diễn, nằm ở trung tâm thủ đô Warsaw, thời cộng sản là nơi tổ chức các đại hội đảng hoặc hội nghị nhà nước. Cung Văn hoá chứa được khoảng ba nghìn chỗ ngồi hôm ấy kín hết. Bất chấp lệnh cấm của toà đại sứ quán CSVN, tôi nhìn thấy một số nghiên cứu sinh quen biết ngồi trong đám đông. Còn cộng đồng người Việt tại Ba Lan đã dành cho các ca sĩ hải ngoại sự chào đón nồng ấm lạ thường. Khánh Ly nói chưa bao giờ được hát trên một sân khấu sang trọng như thế. Khánh Ly bị khán thính giả cuồng nhiệt “hành hạ” hát theo yêu cầu liên tiếp và tặng không biết cơ man nào là hoa, đến mức ba quầy bán hoa tại chỗ hết sạch, chúng tôi đã phải chạy ra ngoài tìm nguồn cung cấp thêm.
Sự kiện này cho thấy nhà cầm quyền CSVN không ưa thích Khánh Ly không chỉ trong nước mà còn vượt ra cả ngoài biên giới VN. Nhưng bên cạnh đó cho thấy dân miền Bắc cũng rất ái mộ ca sĩ này, bỏ qua mọi khác biệt về môi trường sống và nhãn quan chính trị.
Sự chuẩn bị cho cuộc hành trình về VN lần này chẳng mấy dễ dàng. Nguyện vọng của Khánh Ly về VN biểu diễn được nói đến gần hai năm nay. Lẽ ra nếu “cơm lành canh ngọt”, Khánh Ly đã có thể về cùng chuyến với ca sĩ Chế Linh hồi cuối năm 2011, nhưng Khánh Ly chưa được nhà cầm quyền chấp thuận.
Trong số những người có công vận động nhà cầm quyền cấp giấy phép biểu diễn tại VN cho Khánh Ly, trước hết phải kể đến Nguyễn Công Khế, cựu Tổng biên tập báo Thanh Niên. Ở đây cũng nói thêm, ông Khế là người được em gái của Trịnh Công Sơn, ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh, trao lại bản quyền của các tác phẩm nổi tiếng của anh trai mình, trả ơn ông Khế đã cứu chồng thoát án tử hình trong một vụ án. Trong chuyến lưu diễn của Khánh Ly, Nguyễn Công Khế sẽ được công ty Đồng Dao trả một số tiền bản quyền không nhỏ. Tất nhiên để lobby cho Khánh Ly, ông Khế không chỉ múa may bằng tay và nước miếng với các quan chức CS có thẩm quyền. Thế là ơn nghĩa sòng phẳng, có đi có lại, trong sự ràng buộc của cả cuộc chơi.
Với những nghịch lý nêu trên, từ việc nhà cầm quyền CSVN đồng ý cho Khánh Ly về VN biểu diễn, xuất hiện nhiều giả thiết, những ý kiến ủng hộ, chống đối cũng là hiển nhiên.
Giống như các trường hợp của Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Duy, những người đã làm cho rất nhiều người trong cộng đồng tị nạn CS trên thế giới thất vọng, sự có mặt của nghệ sĩ Khánh Ly trên sân khấu tại Việt Nam, mặc nhiên nằm trong mong muốn của nhà cầm quyền CSVN cho chính sách tuyên truyền “đoàn kết dân tộc”, “cởi mở” và nghị quyết 36 lừa mị và dối trá.
Khánh Ly về nước đúng vào thời điểm nhà cầm quyền CSVN đang sử dụng bàn tay sắt bóp nghẹt dã man nhất quyền tự do tư tưởng và bày tỏ chính kiến ôn hoà, bằng bản án 39 năm tù và quản chế cho ba bloggers Điều Cày, Tạ Phong Tần, Anh Ba Sài Gòn, trong ngày 24/9 vừa qua. Một đồng nghiệp miền Nam của Khánh Ly, nhạc sĩ Việt Khang, đang ngồi tù chỉ vì viết những khúc ca yêu nước, chống bành trướng xâm lược Trung Quốc và lên án sự đàn áp tàn nhẫn, côn đồ của công an CSVN đối với những người tham gia biểu tình yêu nước. Hơn 150 ngàn chữ ký của cộng đồng người Việt gửi Tổng thống Barack Obama kêu gọi can thiệp trả tự do cho Việt Khang và các nhà tranh đấu dân chủ khác đang bị giam cầm, cũng như lời kêu gọi của chính ông và nhiều chính phủ các nước, của các tổ chức bảo vệ tự do báo chí, nhân quyền, đã chẳng mảy may động lòng trắc ẩn của những tên đao phủ CS Ba Đình.
Lời kết
Trong ngổn ngang của tình, tiền và những nghịch lý, về VN biểu diễn, ca sĩ Khánh Ly phải đối diện với bộ máy kiểm duyệt của chế độ, bên cạnh những mưu đồ, cạm bẫy khó lường khác, chắc chắn không bao giờ Khánh Ly có thể sống và thể hiện như một nghệ sĩ của tự do – nguồn cảm hứng quan trọng nhất của người nghệ sĩ. Tôi chia sẻ tâm tình của Khánh Ly rằng, “nhập gia tuỳ tục”, vì chẳng thể nào khác, nhưng muốn hay không, mặc nhiên đây là sự thoả hiệp trên thế yếu, chấp nhận tinh thần tự do, khai phóng của nguời nghệ sĩ bị cầm tù!
Dù thế nào đi nữa, kể cả trên thế yếu, tôi mong rằng, Khánh Ly sẽ cố gắng giữ toàn vẹn hình ảnh của mình, hình ảnh cao đẹp của một biểu tượng văn hoá, nghệ thuật tự do của miền Nam, của Việt Nam Cộng Hoà, một quốc gia tuy không còn trên thực tế, nhưng đã tạo nên đứa con âm nhạc Khánh Ly. Rất nhiều người lính đã hy sinh xương máu cho sự tự do ấy, trong đó có người yêu của Khánh Ly. Nếu khác đi, môt bên sẽ là sự hả hê của những kẻ đã thành công lợi dụng hình ảnh Khánh Ly cho mục đich tuyên truyền bịp bợm, một bên khác là hàng triệu con tim trong cộng đồng người Việt tị nạn CS trên thế giới, đau buồn vì vết thương sau 37 năm chưa lành bị khoét sâu thêm.
Là người của công chúng, Khánh Ly giờ đây không thể thay đổi quá khứ và rũ bỏ nó, càng không thể cho phép bản thân chỉ sống cho riêng mình!
Lucius Seneca, nhà hiền triết La Mã, nghệ sĩ hài đương thời, một tên tuổi lớn của văn học La Mã, đã nói: “Nhiều người quan tâm đến danh tiếng, nhưng ít người chú trọng tới lương tâm“.
Hy vọng rằng Khánh Ly sẽ đứng vào số nhiều vế trước và cả số ít vế sau của câu danh ngôn.
Xin cho tôi được bỏ vào hành trang của Khánh Ly lời ca của nhạc phẩm “Ai trở về xứ Việt“:
“Ai trở về xứ Việt
Ta gửi về theo một ít tự do
Tự do, tự do và nhiều lắm, nhiều nhớ thương tha thiết
Đến cửa ngục tù chia bớt chút buồn lo”…
Được biết Khánh Ly là tay chơi phé có hạng ở California. Ván bài về VN kỳ này khó khăn và phức tạp hơn hai kỳ trước nhiều. Tôi hy vọng và tin rằng Khánh Ly không để hở bài và sẽ thắng.
Đừng ngộ nhận về bản chất độc ác, dối trá và cách cư xử tráo trở, bạc như vôi của chế độ CS và cũng đừng ảo tưởng về bất kỳ sự thay đổi bản chất nào của nó! Đừng để phạm sai lầm để rồi hối tiếc khi đã ở vào mùa Thu của cuộc đời, ca sĩ Khánh Ly ạ!
© 2012 Lê Diễn Đức

Mùi Cơm Sôi Cạn Nước Mảnh vườn sau nhà Dung càng lúc càng buồn bã và hoang vắng trước mắt Ngọc. Cũng nơi này, vào những ngày cuối tuần trước đây, thường có sự hiện diện của dì Út với giọng nói rộn rã của dì khoe những trái bí mới ra, những bụi cần dày đặc, những ngọn rau lang mọc dài hay những trái ớt chín phổng; cho nên Ngọc hầu như chẳng bao giờ để ý đến những vạt nắng mong manh trên hàng giậu và vẻ yên ả của trời chiều. Bây giờ, sự vắng bóng của dì trong cái thinh lặng của không gian đã làm nàng thẫn thờ chẳng khác gì tâm trạng của những người đang ngồi quanh chiếc bàn tròn trên sàn gỗ. Vợ chồng Thi Dung, vợ chồng Danh Như và Hòa, chồng nàng, không ai nói với ai lời nào. Họ cùng nàng im lặng dồn mắt về phía dì Chín và lắng nghe giọng kể buồn đều của bà:
- Bả đang ngồi xếp áo quần với dì ở chỗ ghế sô pha tự dưng té quỵ xuống thảm. Dì tưởng bả bị trượt trên tấm vải trơn nên tụt xuống thảm; ai dè đợi lâu lắc mà không thấy bả ngồi dậy nên lật đật chạy lại đỡ bả. Dì hì hục một hồi mà không kéo bả lên ghế sô pha được nên phải gọi hai con Annie và Lilly đến phụ thêm. Con Annie nói là để nó gọi xe ambulance nhưng bả khoát tay ra hiệu không cho, cứ nói bị trúng gió thôi, đừng gọi. Nghe lời bả, dì tìm đồng bạc cắc và chai dầu xanh để cạo gió cho bả. Cạo gió đâu đó xong xuôi mà thấy bả vẫn cứ nằm xụi lơ chứ không thuyên giảm chút nào nên dì bèn gọi con Như và thằng Danh. May sao thằng Danh vừa đi làm về nên qua liền.
Danh tiếp lời:
- Em nghe dì Chín báo, tưởng đâu bà ngoại Út chỉ bị trúng gió thông thường. Ai dè đến nơi, thấy bà nằm ngay đơ nên em gọi chín một một ngay. Tụi cấp cứu đến khám chút xíu là lật đật chở bà đi liền làm em hoảng quá lái xe chạy theo tụi nó. Cũng may là em bám kịp xe của tụi nó chứ tụi nó lái nhanh lắm, đèn vàng, đèn đỏ gì tụi nó cũng bang. Mà tụi nó bang thế nào em cũng bang thế ấy chứ nhất định không bỏ. Ông tài xế xe Ambulance thấy vậy ngừng lại, cảnh cáo em là không được chạy theo xe ổng vì nguy hiểm và em không được phép. Em nói đại là nếu không cho em chạy theo thì em không biết bà Út ở đâu để tìm nên cuối cùng ổng đành phải để cho em chạy theo.
- Giờ dỉ ở đâu? Hòa hỏi
- Ở bệnh viện S. tại Bethesda đó anh! Thi đáp.
- Em thấy dỉ ra sao? Ngọc hỏi.
- Dì không nói năng gì được chị ơi. Nằm im lìm không nhúc nhích gì được. Thi trả lời với giọng buồn bã. Người ta nói dỉ bị Strock.
Dì Chín thở dài:
- Phải chi nghe lời con Annie gọi Ambulance lúc đó thì đâu đến nỗi. Cũng tại bả cản mà bây giờ mới bị trở nặng như vậy! Lúc đó dì cũng lấy làm lạ là sao bả bị trúng gió mà người bả nặng như đá. Ba bà cháu hè nhau khiêng bả từ thảm lên ghế sô pha có ba bốn gang tay thôi mà khiêng muốn chết.
Dung chép miệng:
- Chẳng biết cớ gì mà dỉ bị Strock? Em chỉ quan tâm đến bệnh tim của dỉ nên dặn tụi nhỏ để ý nếu thấy bà Út mệt là gọi chín một một ngay. ai dè dỉ còn bị chứng này nữa.
- Chắc tại mấy con cá khô mặn. Từ lúc dỉ đi Việt Nam về lần nào em sang đây cũng thấy dỉ ăn cơm với cá khô. Như nhẹ nhàng góp lời.
- Đúng rồi! Cá gì mà mặn quá chừng mà ngày nào cũng ăn. Nói dỉ ăn món khác,dỉ không nghe. Ăn mặn kiểu đó không cao máu cũng bị strock, chứ sao mà tránh khỏi! Thi cằn nhằn.
Dì Chín phụ thêm:
- Thì tao cũng đã nói bả rồi mà bả đâu có nghe tao! Không biết thèm cách gì mà ác nghiệt nên mới bị như vậy. Nhưng mà giờ có bàn tán đến đâu chăng nữa thì mình cũng chẳng làm được gì hơn cho bả đâu. Thằng Hòa,con Ngọc chưa thăm bả thì ngày mai tới đây đi với thằng Thi con Dung. Chiều nào đi làm về tụi nó cũng vào thăm bả hết, không phải lo lắng quá như vậy. Còn giờ để tao vô lấy gỏi vịt với cháo cho tụi bây ăn.
Dứt lời, dì Chín đi vào bếp. Dung và Như vội vã đứng lên, đi theo sau. Một lát sau, họ trở lại với bốn chiếc đĩa đầy thức ăn và tuần tự đặt chúng trên chiếc bàn tròn. Những đĩa cải bắp trộn làm tăng nỗi cảm xúc bồi hồi đang dâng lên trong lòng Ngọc. Món gỏi trộn gồm cải bắp cải trắng, rau răm xanh,đậu phọng vàng đâm nhỏ và ớt đỏ xắt lát, cùng vớ các loại thịt gà, thịt vịt hay đồ biển là món ăn đặc thù mà dì Út thường tiếp đãi cho những ngườ mà dì gọ là con cháu trong những buổi chiều thứ bảy hay chủ nhật. Bởi quen với hương vị chua chua và ngòn ngọt, cay cay và beo béo của món ăn này, Ngọc thường ứa nước bọt khi nàng thấy sự tương phản mà hài hòa của các màu sắc trong món ăn; thế mà, vị giác ấy hôm nay hoàn toàn biến mất trong vòm miệng khô đắng của nàng.Càng nhìn chúng, nàng cảm thấy bùi ngùi thương nhớ dì Út hơn.
* * *
Ngọc quen dì Út từ khi ở chung cư Park Road tại vùngg Tây Bắc của Hoa Thịnh Đốn. Giống như dì Chín và đa số người Việt trong chung cư này, dì Út được Mỹ bảo lãnh theo diện gia đình có con lai; tuy nhiên, hai người con và cháu đi cùng dì đến Mỹ đều dọn ra ở riêng nơi khác nên dì phải ở ké với dì Tư, một gia đình cũng có con lai trước phòng Ngọc. Dì Út thuê chỗ này cốt để đặt một chiếc giường và đồ đạc do hội bảo trợ cho chứ ít khi ở. Khi Hùng, người con trai lai của dì lấy vợ ở bang khác và Như, đứa cháu gái của dì, lấy chồng và chung sống với gia đình chồng, dì nhận việc làm ngay. Công việc của dì là giữ trẻ và dì phải ở lại nhà chủ để vừa làm công việc nhà vừa giữ con cho họ. Chủ của dì chỉ cho dì nghỉ hai lần trong tháng. Họ thường chở dì về chung cư vào tối thứ sáu rồi đón đi chiều chủ nhật của những tuần đầu và cuối của mỗi tháng. Cách hai tuần, dì Út được về lại chung cư một lần nhưng chẳng bao giờ dì nghỉ ngơi, coi vô tuyến hay phim bộ như những người đồng trang lứa. Dì thường đi chợ Việt Nam hay chợ Đại Hàn gần đó mua sắm rồi về nấu nướng luôn tay. Sau khi xong việc, dì đem thức ăn đến phòng của những người Việt quen biết để biếu đồng thời thăm viếng họ. Gia đình Ngọc không được Mỹ bảo lãnh theo diện gia đình có con lai nhưng vẫn được có phần thức ăn dì nấu cho như chè đậu ván, xôi đậu xanh, bánh ít dừa đậu phọng mỗi khi dì đến viếng. Có lẽ do Ngọc thường chăm chú lắng nghe lời tâm sự của dì và thường dịch giấy tờ giùm dì nên dì không bỏ sót lần ghé thăm nào khi về chung cư. Có lần dì nói với Ngọc là dì xem những người có con lai là bà con giòng họ với dì bởi cha của những người này cũng là người Mỹ như cha của người con lai của dì. Dì nói là dì thường lui tới gia đình dì Chín nhất trong khu chung cư bởi vì tính tình dì Chín đàng hoàng ngay thẳng và vì dì Chín có Thi, đứa con rể lai đen. Dì nói là mỗi lần dì nhìn Thi, dì đỡ nhớ Hùng, đứa con lai của dì. Nhờ tiếp xúc với dì Út, Ngọc quen biết thêm nhiều người trong khu chung cư nàng ở và gửi được đứa con Út của nàng cho dì Chín giữ giùm. Qua giao tiếp với nhiều người đồng hương trong chung cư, Ngọc cảm thấy tình cảm mình gắn bó với họ ngày càng sâu đậm và không hế muốn dọn ra khỏi nơi đây khi chồng nàng gợi ý mua nhà.
Không khác gì quan niệm của dì Út, nàng thực sự xem nơi mình đang sinh sống như một cái làng kiểu mới của người Việt và những người sống ở đó như bà con cật ruột của nàng. Sự tụ quần của các gia đình người Việt ở đây cho nàng cảm giác như đang ở trên đất nước của mình và nguôi ngoai nỗi nhớ quê hương. Có lẽ có cùng tâm trạng không muốn xa rời nhau mà khi có điều kiện tài chính, vợ chồng Thi dung, và vợ chồng Danh Như đồng tâm với vợ chồng nàng mua nhà tại một nơi mà ba gia đình có thể giao tiếp với nhau thường xuyên. Họ đã chọn Silver Spring của Maryland là nơi định cư và nhà nọ cách nhà kia chừng năm hay mười phút lái xe. Sau khi tậu được căn nhà có bốn phòng rộng rãi, vợ chồng Dung Thi mời dì Út về ở chung để bầu bạn cùng dì Chín. Họ cho dì ở một căn phòng dưới tầng hầm cạnh phòng khách nơi đặt bar rượu và có cửa ra vào thông ra vườn sau.
Dì Út lúc bấy giờ không còn đi giữ trẻ vì được hưởng trợ cấp tàn tật. Dì được trợ cấp này vì đôi mắt của dì bị hỏng nặng theo xác nhận của bác sĩ. Thực tế, dì vẫn thấy lờ mờ nhờ cặp kính thuốc đặc biệt cho nên dì chẳng từ bỏ những việc làm theo sở thích của mình. Thú vui của dì là chăm tỉa vườn rau hoa quanh nhà của Dung Thi và làm những món ăn Việt Nam như bánh ít, bánh dừa, chè trôi nước, chuối chưng, xôi đậu, và các món ăn mặn khác cùng với dì Chín. Cả hai thường quấn quít bên nhau khi nấu nướng, thăm vườn hay uống cà phê tâm sự chuyện đời. Họ thường mở những băng hình mà họ thâu khi về thăm Việt Nam rồi kể cho nhau nghe những người bà con giòng họ và con cái của họ. Đến nhà Thi Dung, Ngọc thường được xem băng thâu hình của dì Chín và của dì Út cho nên nàng biết mặt hết cả những người thân của họ dù chưa từng gặp ai và cả quanh cảnh nhà cũ và mới của họ ở Việt Nam. Khi dì Út gới thiệu căn nhà mà dì mới xây cho chồng dì, Ngọc vừa cảm kích cái nghĩa vợ chồng mà dì dành cho ông bằng số tiền dành dụm từ công việc giữ trẻ cực khổ của dì, vừa cảm thấy vui khi biết dì đã tạo cho ông một chỗ ở tương đối đầy đủ và tiện nghi nơi quê nhà. Ngọc nhớ là khi còn ở chung cư Park Road, dì thường kể cho nàng nghe về tình cảnh của người đàn ông này luôn. Khi chìa cho nàng coi tấm hình căn nhà tranh xiêu vẹo, dì rưng rưng nói là dì phải để ông ở lại một mình trong cảnh hiu quạnh và khổ sở vì ông không chịu rời bỏ xóm làng. Dì còn cho biết là dì phải ra đi với đứa con riêng của dì vì tương lai của nó và để dì có cơ hội làm việc ở Mỹ để giúp ông. Dì nói là dì có cả thảy ba đời chồng. Người chồng đầu tiên chết trận đã để lại cho dì bốn đứa con với tình cảnh góa bụa và nghèo nàn. Để tìm nơi nương tựa, dì đã lập gia đình với người đàn ông Mỹ và có thêm một đứa con trai là Hùng. Người chồng thứ hai của dì có chức vị rất cao trong quân đội Mỹ và hết lòng thương yêu dì cũng như con riêng lẫn con ruột của ông nhưng dì không muốn rời bà con chòm xóm nên nhất quyết từ chối chuyện theo ông về nước trước biến cố năm 1975. Dì nói là số dì rất đào hoa, cho nên cảnh đói nghèo sau ngày đất nước thống nhất và luật mỗi gia đình chỉ có hai con không thể ảnh hưởng đến số phần này. Vào năm 1980, dì đã quyết định bước thêm một bước nữa và có thêm một người con gái với người chồng thứ ba. Khi dì kể chuyện, Ngọc thường chăm chú như đang nghe chuyện tiểu thuyết hấp dẫn. Những tình tiết của câu chuyện có khi làm nàng ngắt lời bằng những câu hỏi nhưng thường thì nàng yên lặng để nghe dì nói. Cái yên lặng lâu nhất của nàng là khi nàng nghe dì thổ lộ về số vốn mà dì nhờ đứa cháu trai bà con của dì gửi ngân hàng Việt Nam. Nàng phân vân không hiểu sao dì lo lắng chuyện lâu dài và xa xôi đến độ phải gửi vốn liếng về tận Việt Nam nhưng không dám hỏi. Nàng chỉ đoán rằng dì muốn về lại Việt Nam để trọn nghĩa vợ chồng với người chồng thứ ba của dì và dùng số tiền lời ngân hàng từ vốn liếng của mình cho sự chi tiêu của cả hai sau này. Đáng tiếc thay, dì khó có thể thực hiện ý nguyện của mình trong tình trạng bại xụi hiện thời. Nghĩ đến đó, Ngọc trở nên chán chường vì cho rằng những gì thuộc về nhân định ít khi được thành hình dưới bàn tay của thượng đế. Dù sao, nàng cảm thấy yên tâm khi nghĩ đến chương trình chăm sóc sức khỏe và trợ cấp tàn tật mà dì Út hiện đang nhận được từ chính phủ Mỹ. Cho dù dì ở phòng cấp cứu, nội khoa hay khu chữa bệnh nào của bệnh viện thì các chi phí này đều sẽ được chính phủ Mỹ thanh toán chi trả. Ngoài ra, dì còn có tiền trợ cấp tàn tật hàng tháng để chi dùng trong những chuyện cần thiết.
** *
Chiều tối ngày thứ hai hôm ấy Ngọc đã cùng chồng nàng, vợ chồng Thi Dung và vợ chồng Danh Như đến bệnh viện S. thăm dì Út. Cùng họ, nàng đã ghé phòng cấp cứu, tới phòng chỉ dẫn, lên lầu bốn rồi đi dọc theo hành lang dài để đi sang một khu cao ốc khác của bệnh viện. Sau khi lân la hỏi thăm các nhân viên làm việc và các cô y tá quanh đó, nàng cùng họ được đưa đến phòng điều trị khẩn cấp nơi dì Út đang nằm trên chiếc giường nệm cao trắng trong chiếc chăn mỏng cùng màu. Khác với thế nằm bất động và ngay ngắn của người mắc chứng tai biến mach máu não trong sự tưởng tượng của Ngọc, dì Út trước mắt nàng, nằm lệch một bên giường với nhiều sợi dây từ bình dịch truyền và máy đo tim.
Chiếc khăn phủ màu trắng chỉ che hai phần tấm thân trần của dì chốc chốc nhấp nhô theo cử động bên trong. Có lẽ dì biết thân thể mình đang nửa kín nửa hở mà ra sức dùng tay hay chân trong đó đẩy chiếc khăn phủ kín người hơn. Khuôn mặt nặng nề của dì toát lên nỗi thất vọng khi dì nhận ra người đến gần nơi mình nằm mà sự cố gắng không được hiệu quả. Khi nghe Ngọc nói: “dì Út ơi ! Tụi con tới thăm dì nè!” ánh mắt dì thoáng vẻ mừng rỡ trên khuôn mặt đã mất hết vẻ tươi vui thường có. Những thớ thịt trên má, trên môi, trên mí mắt của dì hoàn toàn bị chảy nhão và cái miệng hay cười của dì bị méo lệch về một bên. Cố gắng nhếch môi, dì nói:
“ Mấy đứa đó hả?”
“ Dạ tụi con tới thăm bà đây. Bà khỏe được chút nào không bà ngoại Út?” Danh mau mắn đáp.
Nghe tiếng đàn ông, dù đàn ông chỉ là con cháu, chiếc khăn phủ dì Út phập phồng nhấp nhô lên xuống nhiều hơn. Có lẽ do ái ngại nên dì dùng tay hất chiếc khăn lên trên phần hở trần. Khốn thay, dì càng dốc lực bao nhiêu thì chiếc khăn càng lúc càng trệ xuống và vùng ngực trần của dì lộ rõ ra bấy nhiêu. Hiểu ý dì, cả ba người đàn ông, Hoàn, Thi và Danh tảng lờ đi quanh phòng trong lúc Dung, Như và Ngọc kéo các mép chăn ngay ngắn và che lên tận cổ của dì.
Ngọc bàn:
“ Hay là mình khiêng dì Út vào giữa giường đi Dung, Như. Chứ thấy dì nằm xéo kiểu này thấy khó chịu quá. Chắc dì không thấy thoải mái khi nằm như vầy đâu.”
Miệng nói, tay làm, nàng lòn hai cánh tay vào trong tấm chăn rồi gọi hai người đàn bà kia cùng làm theo mình. Khi luồn đôi bàn tay dưới đôi chân dì Út để cùng Dung và Như dịch dì Út vào bên trong, nàng nhận ra là dì chỉ mặc mỗi chiếc tả và nằm trên một tấm lót. Hai người đàn bà này cũng nhận ra điều này khi họ cùng cố gắng sức chuyển dịch. Thấy họ loay hoay mãi mà không thể nào suy suyển dì được chút nào nên cả Hòa, Danh và Thi đều phải phụ tay vào. Ba người đàn ông này đã ghì cái giường thật chặt, tém gọn những sợi dây vào trong bàn tay và nắm cả chăn lẫn người để cùng đặt dì nằm ngay ngắn ở chính giữa giường. Trong khi di chuyển dì với vẻ khó nhọc, Ngọc chợt nhớ lời dì Chín. Khi nghe dì Chín tả sức nặng của dì Út sau khi đột quỵ, nàng nghĩ đó chỉ là lối nói phóng đại. Còn hiện tại nàng trải qua thực tế hết sức thật và phủ phàng. Mơ hồ suy đoán những bắp thịt nhũn xụi đã gây cho dì Út một sức nặng kinh hồn và sức nặng này đã tạo sự vất vả và khó khăn cho người chăm sóc dì, Ngọc thấy lòng vô cùng buồn chán và thất vọng.
“ Tao muốn đi cầu mà nãy giờ xuống giường không được. Mắc cầu lâu rồi mà không dám đi.” Miệng dì Út nhấp từng chữ như đứa trẻ mới tập nói.
“ Trời ơi! Đến nước này mà dì còn ngại gì nữa? Dì muốn tiêu hay tiểu gì cứ việc đi đi! Chứ như vầy làm sao dì xuống giường? Làm sao dì kéo mấy cái dây và cái máy này vào phòng cầu được chớ?” Dung cằn nhằn.
“Y tá ở đây có lương tâm lắm bà à. Họ thông cảm cho người bệnh lắm cho nên bà muốn tiêu tiểu gì thì cứ đi chứ đừng ngại. Với lại bà có tã lót mà ngại gì?” Có mắc thì đi đi, tụi con dọn cho!” Như khuyên
Dì Út không trả lời ai. Im lặng một lúc dì hỏi:
“ Ai ngồi bên đó vậy?”
“ Dạ , anh Hòa đó dì.” Ngọc đáp.
“ Không phải. Tao nói thằng nhỏ nào đang ngồi bên kia vẫy tay đó kìa.”
“Thằng nhỏ nào đâu?” Ngọc hỏi với đôi mắt ngạc nhiên.
“ Thằng đó đó!” Dì Út hất mặt về phía cửa sổ.
“ Dạ đâu có thằng nhỏ nào ỏ đây đâu bà. Mấy đứa nhỏ của con ở nhà với bà n¶i hết rồi.” Như nói
“ Má con muốn đi thăm dì lắm mà phải ở nhà trông mấy đứa nhỏ nên không thăm dì được. Để hôm khác con chở má con vào thăm dì.” Dung tiếp lời.
“ Vậy thằng nhỏ đó có phải là con của con Ngọc thằng Hòa không?” Dì Út hỏi với vẻ ngơ ngác.
“ Dạ đâu có đâu dì. Mấy đứa nhỏ con của con cũng ở nhà cả.” Ngọc đáp.
“ Tụi con đi nhiều người quá, sợ mấy người ở bệnh viện không cho vào nên không đem đứa nhỏ nào theo hết dì à.” Hòa phụ thêm.
“ Tụi con định luân phiên vào thăm dì mà không ngờ cô y tá cho vào thăm hết đó chớ!” Thi nói.
“ Thôi đừng ở đây lâu. Về lo cho mấy đứa nhỏ đi mấy con!” Dì Út nói với giọng như người máy hết pin. Mắt dì từ từ nhíu lại và dì nói bằng sự cố gắng hết sức:” Về đi mấy con. Về nhà với mấy cháu đi.”
“ Chắc thuốc thấm nên dì Út buồn ngủ rồi. Mình cũng nên về thôi.”
“ Vậy thì con về để Út nghỉ. Hôm nào tụi con vào thăm Út nữa nghe!”
“ Bà Út ráng tĩnh dưỡng để về nhà sớm với tụi con nghe bà Út!”
Mỗi người chào mỗi cách còn Ngọc không nói gì khi ra khỏi phòng. Nỗi thất vọng hoàn toàn chế ngự trong lòng nàng. Đây là lần đầu tiên nàng trông thấy tận mắt người bị chứng tai biến mạch máu não. Với sự chứng kiến của mình, nàng không hề tin là dì Út có thể bình phục và về nhà dễ dàng như lời chúc phúc của mọi người. Hơn thế, nàng còn lo lắng tình trạng nửa mê nửa tỉnh của dì khi dì nói về thằng bé nào đó trong căn phòng.
* * *
Sau lần thăm đầu tiên, Ngọc đã cùng chồng nàng đến bệnh viện S. thăm dì Út thêm hai lần nữa. Trong hai lần thăm này, Ngọc không còn thấy máy đo tim trong phòng nhưng dì Út vẫn còn được truyền nước biển. Dì trông có vẻ linh lợi hơn lần thăm đầu nhưng khuôn mặt vẫn còn nét nặng nề và chiếc miệng vẫn bị méo lệch. Mặc dù nói rất chậm, dì không ngừng kể cho Ngọc những gì xảy ra trong những ngày trong phòng điều trị. Sau khi nói đến sực chăm sóc tận tâm của các y tá, dì buồn rầu cầm cánh tay trái nâng lên bỏ xuống rồi than:
“ Không hiểu sao mà giờ cánh tay này không thể đưa lên được. Cả cái ống chân trái cũng vậy. Dì cố gắng hoài mà chẳng nhích nó lên được chút nào.”
Ngọc khuyên:
“ Những người bị tai biến mạch máu não đếu bị như vậy hết đó dì. Hoặc là họ bị liệt bên phải, hoặc là họ bị liệt bên trái tùy bán cầu não nào bị hủy hoại. Có người còn bị liệt toàn thân hay bị mất mạng nữa. Dì chỉ bị một bên và được chửa trị cấp thời nên không đến nỗi nào đâu. từ từ bác sĩ cũng giúp dì khôi phục lại sức khỏe mà. Họ đã chữa nhiều chắc có nhiều kinh nghiệm, dì đừng lo.”
Dì Út chép miệng:
“ Bệnh gì chứ bệnh này dì thấy cực cho y tá quá! Thấy tụi nó chăm sóc mình mà mình vừa thấy thương vừa thấy tội làm sao!”
Đăm chiêu một lúc dì nói tiếp:
“ Cực chẳng đã bị như vậy nên phải chịu chứ không biết làm sao đây! Dì định nói Dung đưa dì tiền để dì biếu cho mấy cô y tá vài chục mà không biết họ có chịu nhận cho không. Đưa cho họ thì cũng lo họ bị la vì tội nhận tiền của người bệnh cho nên dì không biết làm sao.”
“ Con có thể cho dì mượn tiền biếu cho mấy cô y tá nhưng con không hiểu là dì có nên làm thế không. Bởi vì cán sự xã hội trong bệnh viện này biết dì có trợ cấp tàn tật và hết lòng giúp dì làm hồ sơ để chuyển dì đi đến bệnh viện dưỡng lão V thì các bác sĩ và y tá ở đây cũng biết hoàn cảnh của dì rồi. Họ làm cho dì vì thương dì và vì lòng nhân đạo chứ không nghĩ đến sự đền đáp ơn đâu. Dì đừng lo lắng nữa mà gây thêm bệnh!”
Ngọc đã hết lòng khuyên nhủ dì Út như thế, nhưng nàng suy nghĩ hoài cụm từ “ Cực chẳng đã...” mà dì đề cập. Trước đây, dì Út thường lập đi lập lại nhiều lần câu” Cực chẳng đã dì mới nhờ hai con như thế này chứ dì chẳng muốn làm phiền hai con đâu. Dì biết hai đứa con bận lắm!” khi dì nhờ chồng nàng hay nàng dịch giấy tờ, làm đơn từ, hay đi đây đó với dì để thông dịch giùm. Ngọc hiểu sự day dứt của dì và những chữ “Vạn bất đắc dĩ” mà dì thường đề cập. Nàng còn hiểu là nếu vì hoàn cảnh mà một cá nhân không có khả năng hay hạn chế trong một lãnh vực nào đó, sẽ lấy làm áy náy khi phải nhờ vả hay hỏi sự giúp đỡ của ai đó nhiều lần. Theo sự suy nghĩ của Ngọc, không biết tiếng Anh có thể coi là một sự bất lực về ngôn ngữ của một người di dân trong việc giao tiếp với người bản xứ. Tuy nhiên, sự không có khả năng sự dụng ngôn ngữ khác với tiếng mẹ đẻ chỉ là một hạn chế nhỏ trong những hạn chế và bất lực khác của con người. Bất lực đối với việc điều khiển thân thể sẽ khiến cho những người cần trợ giúp vất vả tinh thần nhiều hơn. Một người trước đây từng nhanh nhẹn và tháo vát như dì Út bỗng trở nên bất lực trong việc đi đứng nằm ngồi cầm nắm, thì sự chán nản càng khủng khiếp hơn và to lớn hơn. Qua tâm tình, Ngọc hiểu nỗi khổ tâm của dì do ảnh hưởng quan niệm xưa của người Việt. Trong quan niệm này, cha mẹ giá yếu thường nhờ vả vào con ruột, đặc biệt là con gái ruột. Người già, nếu chẳng may không có con gái hay không có đứa con nào, phải nhờ vào sự giúp đỡ của bà con hàng xóm thì sự phụ thuộc của họ trở thành một nỗi bận tâm và day dứt khôn nguôi. Bởi vì lường trước tình trạng khó khăn của tuổi già ở xứ người, và tình trạng không biết tiếng Anh của mình trong khi chạy vạy vào sự giúp đỡ của người bản xứ, dì Út đã quyết định dùng số tiền mà dì tạo nên từ việc làm khổ nhọc của mình dành cho những ngày cuối đời tại quê hương. Giờ đây, dự định của dì hoàn toàn bất thành và cái dự phòng không làm phiền người lạ trở thành nỗi bận lòng khi hàng ngày dì nhận sự chăm sóc từ những người y tá. Mường tượng mình là dì, một người chỉ bị liệt nửa người và trí óc vẫn còn sáng suốt, đang nhận sự thay tã, rửa ráy, lau chùi hay đút mớm của những người mà đáng ra chỉ làm công việc thuộc về y khoa, Ngọc vừa thông cảm tâm trạng của dì Út, vừa cảm thấy ngao ngán. Tuy nhiên, nàng đã hết lòng an ủi dì để dì không phải bận trí thêm.
** *
Nỗi lo âu của dì Út càng lớn hơn khi dì được chuyển đến viện dưỡng lão V. Dì nói với Ngọc ngay trong lần thăm đầu tiên tại đây:
“Khi không mắc chứng bệnh này để phải làm phiền mấy đứa y tá. Có chân, có tay mà không đi được, không làm gì được để phải phiền tụi nó dì thiệt không biết phải làm sao.”
Liếc sang người điều dưỡng nam đang dọn những thức ăn thừa, Ngọc hỏi:
“Có phải mấy người điều dưỡng nam trong viện dưỡng lão này cũng chăm sóc chuyện tiểu tiện cho dì phải không?”
“Đúng vậy đó. Thấy nó chăm sóc mình mà dì ngại gì đâu!”
“Thì dì cứ nghĩ ảnh là con ruột của mình để khỏi áy náy!” Ngọc định an ủi dì bằng lời như thế nhưng khi nghĩ con trai dì không bao giờ chăm sóc dì như những người điều dưỡng tại đây nên nàng nói trớ đi:
“Đó là phận hành của y tá và điều dưỡng mà dì! Họ làm quen rồi không suy nghĩ gì đâu dì ơi! Bác sĩ đỡ đẻ ở đây cũng toàn đàn ông không, có sao đâu! Tại mình quen lối Việt Nam, làm gì cũng nhất nhất phải là đàn bà làm cho đàn bà nên phải bận tâm thôi.”
Không nghe dì Út trả lời, Ngọc đành gợi chuyện tiếp:
“Nói vậy, anh hồi nãy vừa cho dì ăn đó hả?”
“Ừ! Thằng đó tội lắm. Hôm trước dì cố gắng bò xuống giường để đi tiểu nào ngờ bị té nó phải đỡ dì lên. Nó la dì qua trời. Nó bắt dì bấm chuông khi có việc cần chứ không được xuống giường nữa. Nó mới khuyên dì ráng ăn để khỏi bệnh đó chớ, mà dì không ăn được nên bảo nó đem đi. Mấy thức ăn này mà phải có mấy đứa con của con ở đây chắc tụi nó thích ăn lắm. Còn dì không muốn ăn tí nào.”
“Dù cho dì không muốn ăn cũng ráng ăn chứ nhịn hoài làm sao khỏi bệnh? Mà mấy đứa con của con đang đứng ở đây chứ ở nhà đâu mà dì nói 'phải có mấy đứa con của con ở đây'? Tụi nó vừa chào dì mà dì không nhớ sao?”
Dáo dác nhìn quanh một lúc, dì Út nhìn ba đứa con trai của Ngọc đang đứng yên lặng bên cha bên cạnh tấm màn chắn ngang giữa hai chiếc giường, nói với giọng ngạc nhiên: “Ủa? Vậy mấy đứa nhỏ đứng đây nãy giờ đó hả? Vậy mà bà có biết đâu!” Rồi dì nhìn thẳng vào mặt Ngọc: “Hồi nãy thì tao thấy một thằng nhỏ đứng ngoài kia gọi tao ra ngoài đó chơi mà tao có đứng dậy nổi đâu mà đi chơi với nó.”
Theo hướng dì Út, Ngọc chỉ thấy rừng cây hiện ra trong khung kính của cửa sổ. Vì phòng dì ở tầng một và giường của dì được kê gần sát cửa sổ hướng mặt về phía sau của khu dưỡng lão, Ngọc có thể thấy rõ ràng một rừng cây hun hút vào tận phía trong sâu. Ngơ ngác nhìn sang chồng và ba đứa con trai, Ngọc chưa biết đáp lời ra sao, đã nghe dì Út nói tiếp:
“Còn bữa trước nữa tao thấy một ông cỡ trung trung cũng rủ tao đi chơi.”
Lần này, đôi mắt của Ngọc trố ra, nghi ngại nhìn dì út. Nàng ngờ chứng stroke ảnh hưởng nửa bộ óc của dì đã khiến cho sự nhận biết của dì không được như bình thường. Dù vậy, nàng vẫn hỏi cho có chuyện:
“Vậy thằng nhỏ và ông trung trung đó là người Việt hay người Mỹ hả dì?”
“Người Mỹ?”
“Hai người Mỹ đó nói gì mà dì biết là họ mời dì đi chơi?”
“Họ nói 'Come here' thì dì hiểu tiếng Mỹ chớ! Tụi nó còn ngoắt tay kêu dì đi nữa kìa! Cứ lâu lâu là có người đến gọi dì đi chơi. Có bữa dì còn thấy một bà Mỹ gọi dì nữa. Dì nói dì không đi được mà cứ đứng ngoắt tay chờ dì đi.”
“Ngoài đó toàn cây cối không hà dì. Chắc dì thấy mấy cô điều dưỡng trong này rồi cứ tưởng ai thôi.”
“Không phải điều dưỡng đâu con. Mấy người điều dưỡng mặc đồ màu xanh lá cây dì biết mà. Còn mấy người này mặc đồ thường như mình thôi. Không biết bệnh viện này ở chỗ nào mà người ta thân thiện dữ vậy!”
“Viện dưỡng lão chứ không phải bệnh viện dì à! Con không ngờ trong khu dân cư này có viện dưỡng lão. Từ nhà con đến đây chỉ qua con đường cái lớn G. rồi vào mấy con đường nhỏ thôi. Người ta chọn địa điểm này cho viện dưỡng lão cũng hay. Chỗ này ở cuối đường yên tịnh và thuận lợi”
“Hình như chỗ này có nhiều người Việt Nam ở lắm phải không con?”
“Con không nghĩ vậy đâu dì. Viện dưỡng lão này tuy không cách khu dân cư ở bao lăm nhưng cũng tách biệt hẳn trong khu rừng cây này. Mà sao dì nghĩ ở đây có nhiều người Việt Nam ở.”
“Vì dì ngửi có mùi cơm sôi cạn nước. Đó! Con có nghe mùi cơm sôi cạn nước không?” Hít hà dì nói thêm: “Thơm quá! Con ngửi thử coi!”
Trong vô thức Ngọc hít vào như lời yêu cầu, mùi khoai tây nghiền thoang thoảng trong mùi lành lạnh của máy điều hòa. Giờ này chắc những người điều dưỡng vẫn còn cho những người bệnh ăn ở những phòng cạnh bên. Sự bại liệt hình như đã khiến cho khứu giác của dì Út nhạy bén hơn dù nhận định mùi vị hoàn toàn khác với thực tế. Nàng nghĩ có lẽ ước muốn đã gây ra sự sai lệch này. Bất giác Ngọc nhìn những trái cam trên chiếc tủ cạnh giường của dì. Người Việt thường đem theo sữa hay bánh trái biếu người bệnh. Khác với phong tục tặng hoa cho người bệnh của người Mỹ, họ cho rằng bánh trái là những món thiết thực hơn. Có lẽ vẫn còn ảnh hưởng với cảnh bóc cam, gọt táo của những người thăm và chăm người bệnh ở Việt Nam, chính vợ chồng nàng cũng theo tập tục này. Còn giờ đây khi nhìn những túi trái cây Ngọc hiểu rằng chẳng có ai bên cạnh chăm dì Út để chăm từng phút từng giây hay ngồi gọt từng trái táo hay tách từng miếng cam cho. Và chính lúc này Ngọc hiểu món quà gì thiết thực dành cho người bệnh như dì Út. Nàng gợi ý với giọng thương cảm:
“Dì Út có thích ăn cơm không? Nếu thích thì con đem cơm cho dì.”
“Có chớ. Dì muốn nói với con và hai đứa Như, Dung đem cho dì cơm mà thấy đứa nào cũng bận nên không dám. Lần sau có thăm dì thì mang cho dì chút cơm.”
“Ô!Tại con không biết chứ mà biết trước thì hôm nay con đem cho dì rồi. Thôi để lần tới con đem cơm cho dì nghe. Dì nói cho con biết là dì muốn ăn cơm với gì, con sẽ làm ngay. Có phải dì thích ăn cơm với canh chua và cá kho không?”
“Cho dì ăn với món gì cũng được miễn là có cơm thôi.”
** *
Ngọc đã đem cơm cho dì Út trong những lần thăm tiếp đó. Mỗi buổi chiều đi làm về, vừa nấu xong bữa cơm chiều cho gia đình, nàng lo go cơm vào viện dưỡng lão cho dì ngay. Cũng may là nhà của nàng khá gần viện dưỡng lão V. nên sau năm phút lái xe, nàng có thể giữ cho dì thức ăn còn nóng ấm. Hôm đem thức ăn cho dì, Ngọc được cô nhân viên thường trực ở đây báo cho nàng biết là dì Út đã được chuyển lên lầu hai. Có lẽ cô ta cũng thường viếng bệnh nhân tại đây trong những lúc rỗi rảnh nên biết rõ từng người và đã vui vẻ kể cho nàng hay sự tiến triển khả quan của sức khỏe dì khi nàng ký tên vào giờ thăm bệnh nhân. Theo lời hướng dẫn của cô, nàng dùng thang máy lên đến phòng số bảy. Tại đây, nàng ngạc nhiên vui mừng khi thấy dì Út ngồi tươi tỉnh trên chiếc giường nệm trắng trong lúc người nhân viên điều dưỡng đang chuẩn bị cho dì dùng thức ăn chiều. Cũng may là Ngọc đến kịp lúc nên dì Út có dịp thưởng thức các món ăn do nàng làm. Dì Út nói:
“Con để chén cơm trên đùi dì nè. Dì tự múc ăn được, khỏi cần đút.”
Ngọc hỏi với giọng ngạc nhiên:
“Dì tự đút ăn được rồi sao?”
“Mấy ngày nay mấy người y tá tập cho dì tự đút ăn. Mỗi lần đến giờ ăn, họ đỡ dì ngồi lên, chuẩn bị thức ăn trước mặt dì cho dì tự xúc.”
“Vậy thì để con sẻ cá vào chén cơm cho dì. Dì dùng chiếc muỗng này xúc cơm nhé!”
Chỉ trên đùi, dì Út nói:
“Con để đây đi! Dì làm được”
“Để con kê cái khăn này trong lòng dì rồi chèn cái chén này vào giữa đã! Làm như vầy dì múc cơm dễ hơn. Có gì cái khăn này còn hứng thức ăn đổ chứ cơm cá giây trên quần, trên giường thì khổ.”
Thau láu nhìn từng động tác của Ngọc cho đến khi nàng hoàn tất, dì Út run run dùng chiếc muỗng nhựa xúc cơm. Có lẽ do xúc động khi nhìn lại những hạt cơm quen thuộc, khuôn mặt dì toát lên một vẻ hết sức trịnh trọng khi đút vào miệng những muỗng cơm đầu tiên. Nhìn dì nhai cơm như thể đang ăn thức ăn hiếm quý, Ngọc cảm thấy niềm thương cảm dâng trào. Tuy nhiên, nàng đã giấu cảm xúc của mình bằng những câu nói đùa:
“Dì ăn cơm mà không dùng đũa là mất nửa vị giác ngon rồi chứ không phải con nấu dở đâu nghe dì! Còn cá kho này không ngon như dì kho đâu.”
“Ngon lắm chứ sao không ngon con! Đây mới thực sự là được ăn cơm, chứ mấy ngày trước, mỗi lần ngửi mùi cơm sôi cạn nước là nhớ cơm mà có đâu để ăn. Đồ ăn Mỹ không thiếu thứ gì mà dì ăn không được mới khổ! Mà sao con biết dì thích cá kho keo vậy? Kho kiểu này chắc là mÃt công lắm phải không con?”
“Có tốn công gì đâu dì ơi! Con bắt hai ba lò cùng một lúc rồi làm thật lẹ để chạy vào đây thăm dì thôi. May là con đến đúng lúc chứ con mà chờ nhà ăn xong rồi vào đây thì dì đã ăn xong. Lúc đó, có ngon mấy cũng không còn thấy ngon nữa! Con đâu biết ở trong này họ cho ăn sớm quá vậy!”
“Chắc tại họ phải lo cho nhiều người quá nên phải cho ăn sớm như vậy đó con.”
“Vậy thì con biết lúc nào đem thức ăn chiều vào cho dì rồi.”
Sau lần đó, Ngọc thường đến vào lúc viện dưỡng lão vào trước buổi bữa ăn chiều của bệnh nhân. Biết lịch của nàng, dì Út hiểu là khi nàng không có mặt trước giờ ăn, có nghĩa là nàng không thể đến và dì phải dùng thức ăn trong viện dưỡng lão. Dù vậy, càng ngày dì Út càng ít ăn chiều trong viện dưỡng lão bởi vì không chỉ có Ngọc mà Như và Dung cũng đem cơm cho dì nữa. Vào những ngày thứ bảy chủ nhật dì có thêm nhiều quà bánh và thức ăn của những người đến thăm viếng. Những người Việt còn cư ngụ tại chung cư Park Road và những người mua nhà ở Virginia đã liên lạc, loan tin, rồi họp nhau đến thăm dì vào cuối tuần luôn. Mỗi lần như thế căn phòng của dì ồn ào tiếng nói, tiếng cười của người Việt đến nỗi người bệnh nằm cùng phòng phải phàn nàn. Ngọc cũng thường đưa con đến thăm dì Út vào những ngày cuối tuần. Mỗi lần như thế, nàng thắc mắc về sự dễ dãi của viện dưỡng lão đối với sự cho phép thăm viếng người bệnh dông đúc cùng một thời gian. Nàng đoán có lẽ những người nhân viên thông cảm sự cô đơn của những người già và người bệnh ở đây cho nên họ không quan tâm đến sự giới hạn của người thăm. Hay, có lẽ họ chưa từng trải nghiệm sự viếng thăm đông đúc như thế.
** *
Càng vào thăm dì Út, Ngọc càng thấy các sinh hoạt của dì Út tiến triển tốt lên. Mặc dù căn bệnh không thể chữa trị hoàn toàn dứt hẳn, dì đã từ từ phục hồi những chức năng hoạt động của người bình thường. Dì đã có thể vào phòng vệ sinh với sự dắt dìu của người y tá và chiếc nạng đặc biệt để tự chăm sóc cho mình. Ngoài ra, dì còn tham dự những sinh hoạt của viện dưỡng lão với những người bệnh khác. Lần thăm đó, Ngọc không thấy dì Út và cả người cùng phòng với dì trên giường của họ, nên tìm hỏi, và được biết họ có cuộc họp trên lầu ba. Theo sự chỉ dẫn, Ngọc đi cùng với chồng nàng tìm đến nơi. Tại đây, Ngọc thấy rất nhiều người, hoặc già hoặc bệnh ngồi trên những chiếc xe lăn, quây quần từng nhóm trò chuyện. Ngọc không biết họ đã họp về vấn đề gì, sinh hoạt như thế nào, và tiến trình ra sao; nhưng khi nhìn những đĩa trái cây được xắt nhỏ và những đĩa bánh quy còn thừa trên chiếc bàn vuông Ngọc đoán những người bệnh đã được những người quản lý viện dưỡng lão V. tạo điều kiện cho gặp mặt, ăn uống và trò chuyện với nhau. Khi vợ chồng nàng len lỏi vào trong những chiếc xe lăn để đến bên chiếc xe của dì Út, nàng đã nhận rất nhiều tia nhìn chào đón như thán phục. Những ánh mắt toát lên sự hài lòng đối với việc chứng kiến cảnh người quan tâm đến người, đồng thời tỏ ra sự chia vui với dì Út. Không những họ, ba người nhân viên của viện đang có mặt tại đó cũng niềm nở với vợ chồng nàng. Một người đàn bà có nước da nâu sáng, vẻ như người tổ chức buổi họp, mời cả hai ngồi, bảo dùng thức ăn, rồi nói rằng họ có thể đưa dì Út về phòng để tâm tình riêng tư.
Ngọc cùng chồng đẩy xe lăn đưa dì Út về phòng theo ý muốn của dì. Trên đường, dì hân hoan nói:
“Thấy tụi nó đưa dì lên đây dì sợ các con vào thăm mà dì không gặp được, nhưng dì không biết nói với tụi nó làm sao để dặn tụi nó chỉ các con lên đây.”
Ngọc đáp:
“Dì đừng lo, tụi con không thấy dì trong phòng thì tụi con hỏi tìm thôi. Cho dù họ chuyển dì đi đâu chăng nữa chúng con cũng tìm thăm dì cho bằng được mà!”
Hòa phán:
“Con thấy họ tổ chức cho những người bệnh họp mặt như thế cũng hay! Mỗi tháng một lần, mọi người được gặp gỡ trong những ngày như thế này cũng có ý nghĩa lắm. Nhưng mà, để dời tất cả người bệnh ở đây lên phòng họp trên ấy nhân viên ở đây cũng vất vả lắm.”
Ngọc chép miệng:
“Cứ thấy họ tận tình giúp đỡ người bệnh mà thương. Người ta cứ đồn bậy là y tá trong viện dưỡng lão thường đánh hay đối xử tệ hại với bệnh nhân; còn chứng kiến tận mắt sự tận tâm giúp người bệnh của họ mới thấy họ như những thiên thần. Qua cung cách làm việc của họ con cảm nhận được tình thương mến và sự thông cảm sâu sắc của họ đối với người già yếu bệnh hoạn như thế nào.Có thể là họ nghĩ chẳng may như thế khi già yếu thì cũng được đối xử tử tế như vậy.”
Dì Út hớn hở khoe:
“Mấy ngày nay, sáng nào dì cũng được một cô y tá đẩy xe lăn đưa ra sân tập. Cổ bắt dì chống nạng để tập đứng lên rồi tập đi. Hôm nào cổ cũng tập dì đi qua lại khoảng nửa giờ đồng hồ. Có hôm cổ thấy dì đi cứng cáp hơn những lần trước, bắt dì gắng đi thêm, dì nói dì mệt quá đi không nổi nữa vậy mà cô nói cố gắng tập thêm cho mau tiến bộ. Thế là dì đành phải nghe lời, nhưng dì mới bước thêm vài bước nửa là xỉu xuống, bất tỉnh không biết trời trăng gì nữa. Lúc dì tỉnh lại, thấy cổ ôm dì khóc quá chừng. Cổ còn hôn dì và nói 'sorry' nhiều lần nữa. Thấy cổ coi mình như mẹ mà dì cũng ứa nước mắt theo. Sau này cổ biết dì có chứng bệnh tim nên không bắt dì tập nhiều. Mỗi lần dì nói mệt là cổ cho ngừng ngay.”
Hòa nói:
“Cách làm việc ở đây là vậy đó dì! Người ta làm gì cũng tiếp tục với những bước kế tiếp cho đến khi hoàn thành chứ không bỏ ngang. Có thể nói quyền lợi của con người ở đây được tôn trọng đến mức tối đa là vậy. Mình may mắn lắm mới được ở trên đất nước này!”
Ngọc trầm ngâm:
“Vậy mà con cứ tưởng họ chuyển người già đến viện dưỡng lão cho ăn, nuôi ở là xong; con đâu ngờ họ còn đưa dì đi tập mỗi ngày như thế. Như vậy cô y tá mà dì nói là therapist đó dì à!”
“Dì không biết nó là ai nhưng tuần nào nó cũng đến đây đưa dì đi tập hai ba lần. Nó nói dì phải tập như vậy mới tự dùng cái nạng được. Dì còn được một con nhỏ y tá khác chở đi cắt tóc làm móng tay chân nữa.”
Ngọc reo lên:
“Ủa? Hèn chi con thấy dì có mái tóc mới! Con không nghĩ ra người nào ở đây cắt tóc cho dì mà chưa kịp hỏi.”
“Nhờ cô y tá Mỹ đen đó con. Cô này đưa dì đi gội đầu cắt tóc làm móng tay chân. Còn cô y tá đưa dì đi tập là Mỹ trắng.”
“Rồi cô đưa dì đi gội đầu lấy tiền đâu mà trả cho dì?”
“Dì không biết. Chắc viện dưỡng lão đưa cổ tiền trả cho dì.”
Hòa chen vào:
“Không phải đâu dì. Tiền đó từ tiền bệnh của dì đó. Chắc cán sự xã hội trong viện dưỡng lão này đã làm thủ tục trích phần nào tiền bệnh của dì để chi trả cho các dịch vụ này.”
Ngọc lại reo lên:
“Ô! Tuyệt quá! Họ chăm sóc dì cẩn thận và tử tế như thế này khác gì người nhà tận tình với thân nhân bị bệnh của mình đâu! Còn hơn thế nữa đó! Con thật là mừng khi thấy dì tươm tất như thế này.”
“Tụi y tá ở đây lo cho dì không thiếu thứ gì con ơi! Tụi nó lấy bộ đồ mà con Dung đem vào đây cho dì ghi tên dì kỹ lưỡng chớ sợ lộn với người khác nữa đó. Rồi tụi nó giặt giũ, xếp cất và thay cho dì thường xuyên. Cũng nhờ vậy mà dì mới được sạch sẽ thơm tho như vầy đó chớ!”
** *
Mặc dù đồng hương thăm viếng thường xuyên và nhân viên của viện dưỡng lão chăm sóc dì Út tận tình, dì Út không từ bỏ ý định trở về sống ở quê hương trong những ngày cuối đời. Khi gặp Hùng trong lần thăm duy nhất sau bốn tháng trời, dì đã hối thúc anh lo giấy tờ đưa về Việt Nam. Có lẽ vì không gặp con trai của mình suốt thời gian dài trên giường bệnh khiến cho dì lo sợ là anh ta không thể có cơ hội thăm dì lần thứ hai và không còn có cơ hội được anh đưa về Việt Nam nữa. Thế rồi, theo lời khẩn thiết yêu cầu của dì, Hùng đã nhờ người báo cho viện dưỡng lão tiến hành thủ tục xuất viện trong lúc lo mua vé máy bay. Những người quản lý trong viện dưỡng lão đã đưa dì Út đi tái khám rồi tìm xin xe lăn cho dì làm phương tiện di chuyển cho chuyến đi. Sau vài ngày hoàn thành thủ tục xuất viện, và lấy được vé máy bay, dì Út nhờ người báo sở Trợ Cấp An Sinh Xã Hội ngưng nhận trợ cấp tiền bệnh. Bạn bè quen biết gần xa của dì ở vùng Hoa Thịnh Đốn đều sửng sốt khi nghe tin về chuyến đi không bao giờ trở lại của dì. Khi tập trung trong viện dưỡng lão trước ngày dì lên đường, mọi người hỏi thầm với nhau trong hoang mang:
“Sao dỉ lại muốn về Việt Nam đột ngột vậy? Ở đây được chữa trị đầy đủ mà sao lại bỏ đi?”
“Lại còn bỏ tiền bệnh nữa chớ! Có dễ xin được tiền này đâu! Không biết tiếng Anh, phải nhờ người thông dịch đi tới đi lui làm đơn từ giờ lại bỏ?”
“Trở về Việt Nam thì dễ rồi nhưng có được toại nguyện như mình nghĩ không là chuyện khác. Đi được mà muốn trở lại không được mới khổ đó!”
Ngọc đã không bàn luận gì khi nghe những lời xầm xì xung quanh. Nàng nghĩ dì Út kiên định việc về sống ở quê hương vì dì tin tưởng số vốn lẫn lời trong ngân hàng Việt Nam do người cháu đứng tên giùm. Nhớ lại lời tâm sự của dì trước đây, nàng hiểu là dì rất lạc quan với số vốn ngầm mà dì có và giá sinh hoạt thấp ở Việt Nam. Chúng sẽ tạo cho dì có cuộc sống đầy đủ đến cuối đời mà không phải lo lắng gì. Dù biết được nguyên nhân như thế, Ngọc vẫn còn lo lắng.Nàng hỏi:
“Dì Út có suy nghĩ chín chắn trước khi bỏ tất cả ở đây để trở về Việt Nam chưa? Chứ lỡ có gì, dì muốn qua đây làm lại tất cả những gì đang có mà không được thì rất khổ.”
“Dì đã nghĩ kỹ lắm rồi con à! Chẳng lẽ cứ nhờ vả mấy đứa y tá ở viện dưỡng lão này hoài cho đến chết? Để dì về cho con cháu dì bên đó chăm sóc dì! Tụi nó mà đưa đi châm cứu thì dì đi đứng được bình thường như xưa. Nhược bằng không chữa được bệnh, dì cũng ở Việt Nam luôn. Dù sao, có chết ở quê hương cũng vẫn hơn.”
Hòa gật gù:
“Dì tính vậy cũng phải. Bởi vì hiện tại thì viện dưỡng lão này còn giữ dì chăm sóc nhưng nếu dì khỏe hơn, hoặc lứa tuổi của dì lớn hơn và họ muốn chuyển dì đến chỗ xa hơn, mà 'con cháu' bận rộn với công việc làm không thể đến thăm nom dì thường xuyên được thì rất là khổ.”
Lý do của sự quả quyết được giải bày hết sức rõ ràng và xác đáng nên những người đến tiễn không còn to nhỏ, bàn ra bàn vào hay thắc mắc gì nữa. Bùi ngùi nói chia tay, người nào cũng dấm dúi cho dì Út một ít tiền làm quà trên đường về quê. Dung và Như đã mua đầy đủ những thứ mà dì yêu cầu trong hai chiếc va li. Vật dụng mà họ mua cho dì nhiều nhất là những bịch tã. Hôm ấy căn phòng của dì ồn ào hơn bao giờ hết, nhưng người đàn bà Mỹ trắng nằm cùng phòng với dì không phàn nàn một lời nào. Có lẽ bà này cũng đã biết hôm ấy là ngày cuối của dì trong căn phòng của hai người
** *
Tết Dương Lịch năm ấy, vợ chồng Dung Thi mời tất cả đồng hương quen biết ở chung cư Park Road đến nhà dự tiệc Tất Niên. Ngọc rất vui mừng khi được dịp gặp lại những người quen biết cũ và chuyện trò huyên thuyên với họ. Chưa nhập tiệc, dì Chín đã đem ra khoe những cái bánh tét mà bà vừa nấu chín. Trông thấy chúng, Ngọc nhớ cảnh dì Út cùng với dì Chín gói bánh chưng, bánh tét trong những ngày cuối của năm trước nên hỏi ngay:
“Dạo này dì có tin gì của dì Út không dì Chín? Lâu quá con không đến đây được để hỏi thăm dì Út dạo này ra sao?”
“Bà Út hả? Trời ơi! Nghe bả về đó khổ lắm con ơi! Mấy bà ở Park Road đang bàn chuyện góp tiền gửi về cho bả đó!”
“Sao vậy hả dì? Chớ còn số vốn mà dì Út gửi cho người cháu dì ở ngân hàng Việt Nam thì sao?”
“Ôi chao! Nghe đâu thằng đó đưa bả vào bệnh viện Chợ Rẫy mấy lần rồi nói hết tiền. Dì Công mới kể là giờ bả khổ ghê lắm. Nằm liệt trên giường một mình một chỗ chứ không được chăm sóc chu đáo như ở bên này đâu.”
Ngọc quay sang mẹ của Danh:
“Dì nghe tin dì Út ra sao hả dì Công?”
Dì Công đáp:
“Thì dì mới kể cho dì Chín là dì Út về đó chẳng được như bên này nhưng bả đã quyết về bển để chết thì đành phải chịu thôi.Nghe nói mấy đứa con của dỉ giận mẹ chuyện không tin tưởng mình mà gửi tiền cho cháu nên tỏ ra lơ là, ít lui tới. Còn ông chồng dỉ thì già quá có chăm sóc dỉ được gì đâu. Nghe nói đứa con trai riêng của ổng đem về nhà nuôi rồi. Còn đứa con gái Út của dỉ ở với dỉ nhưng nó thì phải lo việc buôn bán, đồng áng chứ có rảnh được đâu mà cận kề cả ngày. Nghe nói là dỉ nằm liệt một chỗ không được đỡ lên thường xuyên nên bị lở loét cả lưng.Trời thì nóng nực và đầy muỗi nên lúc nào cũng phải bỏ mùng sùm sụp, tối tăm tội nghiệp lắm!”
Ngọc hỏi:
“Hùng kể cho dì nghe hả?”
Dì Công lắc đầu:
“Không có, thằng Hùng nó đưa dỉ về rồi sang Boston ở luôn ở trển. Con Như gọi về gia đình nó hỏi thăm dỉ hoài nên biết tin tường tận lắm. Hôm nay thứ bảy nên con Như làm nail về trễ lắm. Chặp nữa nó tới, hỏi nó là biết rõ hơn.”
Dì Công vừa dứt lời, vợ chồng Danh Như mở cửa bước vào khiến Thi nói đùa:
“Phải chi hỏi tiền hỏi bạc như thế này thì đỡ biết mấy!”
Danh vọt miệng trong lúc để dép ngoài cửa để bước vào:
“Chuyện gì? Chuyện gì mà tiền với bạc?”
“Chuyện tiền nong gì đâu! Đang nhắc đến vợ ông thì vợ ông tới. Phải chi hỏi tiền đâu mà tiền có ngay như vậy thì đỡ biết mấy!”
Như hỏi:
“Chuyện gì mà hỏi tui?”
Thi hất hàm sang Ngọc:
“Chị Ngọc đang hỏi Như về dì Út kìa!”
Ngọc nhìn Như lo lắng hỏi:
“Em nghe tin dì Út thể nào?”
Chào mọi người có mặt trong phòng khách xong, Như đến ngồi cạnh Ngọc, nói:
“Bà Út về cũng được con cháu chăm sóc nhưng khổ lắm chị à! Bởi vì chỗ bà ở tận trong miệt vườn sâu trong chợ Cờ Đỏ của huyện Thốt Nốt, Hậu Giang, cho nên mỗi lần đưa bà đi khám bệnh là con cháu bà phải chuyển bà xuống xuồng chạy cả tiếng rồi lên bờ đi qua mấy con hẻm, ra đến lộ cái mới đón xe đưa lên bệnh viện ở thành phố.
“Vậy mấy đứa con cháu của dỉ không sử dụng chiếc xe lăn mà viện dưỡng lão ở đây cho hay sao?”
“Có chớ chị! Nhưng mà, họ chỉ dùng nó ở trong nhà chứ đường hẻm ở xóm nhà bà Út sình lầy lún bánh đâu có đẩy được! Còn khi muốn đem nó theo thì phải khiêng lên xuồng, lên xe đò rồi đến chỗ nào đường bằng phẳng mới đẩy.”
“Chị cũng nghi là dì về đó khổ rồi!”
“Dạ đúng vậy đó chị! Vì bà nằm một chỗ không được ai đưa tập đi như bên này nên chỗ đốt xương cụt của bà bị lở. Với lại, chỗ nhà bà ở nóng nực và nhiều muỗi nên cũng rất bất tiện cho dù con gái Út của bà có sắm cho bà một chiếc quạt máy.”
Dì Tâm chép miệng:
“Đã nói là hãy suy nghĩ cho kỹ trước khi tính chuyện về mà bả đâu có nghe. Bây giờ mình phải làm sao?”
Dì Anh nói:
“Mình gom tiền về giúp chỉ là thiết thực nhứt chứ biết làm gì hơn! Mấy người trong chung cư Park Road đã góp được chừng này rồi. Ai muốn góp thêm thì góp. Sẵn có con Ngọc đây mình nhờ nó viết thư, ghi tên từng người cụ thể rồi đưa con Như gửi về cho chỉ cho rồi. Chị Chín làm ơn cho tờ giấy với cây viết để con Ngọc viết thơ cho chỉ đi!”
Nhận tập giấy từ tay dì Chín, Ngọc ghi ngày tháng, lời thăm hỏi rồi liệt kê thứ tự tên từng người và số tiền họ gửi tặng cho dì Út theo lời báo của dì Anh. Trong lúc đọc lại bức thư mình vừa viết, nàng nghe dì Hoa nói:
“Tôi nghe nói bả có viết thơ nhờ thằng Hùng chuyển đến thằng Hòa và con Ngọc hỏi bộ Xã Hội xin sang đây lại được không. Mà tôi không nhớ thằng Hùng gửi lá thơ ấy cho ai ở ngoài chung cư Park Road.”
Ngọc thảng thốt nói cho dì Hoa và mọi người có mặt trong phòng khách lúc ấy biết là vợ chồng nàng chưa nhận được lá thơ nào của dì Út rồi vội vã nhìn sang Như, hỏi:
“Có thực là dì Út muốn sang lại đây không Như?”
“Dạ có. Bà Út có ý định hỏi chị và anh Hòa xin cho bà sang lại đây, nhưng không được thì thôi. Vì bà cũng biết là đã đi về và đã cắt tất cả giấy tờ và trợ cấp rồi, xin trở lại đây rất khó khăn.”
Không hỏi gì thêm, Ngọc cúi mặt xuống, vờ đọc lại bức thư chưa hoàn tất. Lòng đau như cắt, nàng than thầm:
“Dì Út ơi! Làm sao con xin cho dì sang lại đây được nữa? Con biết giờ này dì khổ lắm nhưng con đâu có thể làm gì cho dì được nữa đâu!”
Cung Thị Lan

