Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Image

Chân dung "con tự do" Vũ Văn Hiển

Dân Làm Báo gửi đến các bạn chân dung của "con tự do". Tên thật của nó, vì cơn sóng thần Tsunami phản hồi tràn lan khắp nơi trên mạng, làm Dân Làm Báo "bị" quên mất rồi! Những hình này chụp thời "con tự do" cùng công an lẫn công an giả dạng côn đồ ngăn cản, trấn áp blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải xuống đường cùng đồng bào Sài Gòn biểu tình chống Trung Quốc xâm chiếm biển đảo.


"Con tự do" lúc bấy giờ giả dạng thường dân, đứng làm anh hùng núp sau một chị dân phố để "nhẹ nhàng" xin anh Điếu Cày về nhà nghĩ cho khỏe, mọi chuyện đã có đảng và nhà nước lo.

Image Trước đây "con tự do" thường xuyên liên hệ với anh Điếu Cày để vòi vĩnh tiền bạc, nhiều lần ăn nhậu cũng đều gọi anh Điếu Cày ra để "hỏi thăm". Từ khi anh Điếu Cày viết blog, "con tự do"đã tìm cách tránh tất cả những liên quan, tránh liên hệ với anh Điếu Cày để không bị "té ghế". Nhưng các đảng viên của phường sống rất... tình cảm đồng chí, bọn họ đã khai đích danh "con tự do" cho những ông quan to. Đó cũng là lý do tại sao những lần biểu tình, bọn họ đều điều "con tự do" đi thuyết phục, thậm chí đe dọa anh Điếu Cày.

Ban đầu "con tự do" (đeo chìa khóa) cùng với trưởng phường lúc đó là Trần Song Nam mặc sắc phục ra đe dọa Điếu Cày nhưng thất bại.
Image "Con tự do" bèn trở về phường khoát áo côn đồ thường phục cùng với các chú côn đồ khác và các chị phụ nữ già kéo ra xin anh Điếu Cày làm ơn đi về.

Image Về sau này anh Điếu Cày kể chuyện lại khi người thân thăm anh trong tù rằng công an vẫn tiếp tục nắm cổ "con tự do" vào trong tù để "động viên" anh Điếu Cày "nhận tội".

Cũng vì không tránh được liên lụy từ anh Điếu Cày nên "con tự do" đã phải tìm cách chứng minh thật mạnh mẽ với quan to rằng "con này" không liên can, sẵn sàng đàn áp thẳng tay với gia đình anh Điếu Cày - bằng cách lớn tiếng chửi bới tục tĩu, đe dọa về việc mưu sinh trên địa bàn có "con" ấy quản lý, dọa "đánh chết" hay "bẻ cổ chết", cổ vũ dân phòng và công an phường hỗ trợ côn đồ tự phát đánh đập lột quần áo của con anh Điếu Cày, cướp tư trang của các bạn bè anh Điếu Cày đi tham dự tòa.
Image Những tấm hình này đã do blogger Anhbasaigon Phan Thanh Hải chụp.

Dân Làm Báo
danlambaovn.blogspot.com

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Làn Sóng CS Tỵ Nạn CS

Tác giả : Vi Anh
Mới đọc qua tựa bài ắt có người thắc mắc, hỏi “ủa sao kỳ lạ vậy, Cộng sản mà lại đi tỵ nạn CS, bỏ nước ra đi hàng loạt thành phong trào”. Nhưng bình tâm tìm hiểu thí thấy chuyện tưởng như đùa mà lại có thật. Những con số vô hồn, những sự kiện lạnh lùng, những thông tin, nghị luận độc lập nói lên sự thật. Rất có, có rất nhiều, rất phổ biến thành phong trào người ở xứ CS bỏ nước ra đi tỵ nạn CS. Đang xảy ra thành phong trào, thành thời trang ở hai chế độ CS còn sót lại lớn nhứt ở Á châu: Trung Cộng và Việt Cộng.

Dưới nhiều hình thức nhưng tựu trung là hoặc là chánh thức cho người nhà dùng tiền xin nhập cư với visa đầu tư, visa du học rồi lấy vợ hay chồng ở lại, hoặc là chuyển tìền lậu ra ngoại quốc đề tẩu tán tài sản - theo phong tục của rất Tàu “nhứt con nhì của”. Nhưng chỉ một mục tiêu chuẩn bị nơi “hạ cánh an toàn”, nói theo kiểu Thủ Tướng VNCS nhận định về làn sóng này.

Hơn ai hết những người CS là những người biết rõ không thể cứu sống một xác chết là chủ nghĩa CS sau khi các nước CS Đông Âu và Liên xô đột quị, chết bất đắc kỳ tử. Việc lợi dụng cái xác ướp đó, “lộng kiếng” hình để lấy tư tưởng Hồ chí Minh, Mao trạch Đông để tiếp tục độc chiếm quyền hành, làm giàu cho cá nhân, gia đình và phe đảng bằng cách chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng “xã hội chủ nghĩa” nhưng giữ cái đuôi lòng thòng xã hội chủ nghĩa của con nòng nọc khiến nó không chuyển hóa thành con cóc, con nhái để có thế thấy trời cao đất rộng được.

Hơn ai hết những người CS biết xã hội CS là một xã hội bế tắc, tranh giành quyền lợi, chức vụ thường theo qui luật ai thắng ai, một mất một còn, “thịt nhau” bằng nhiều thủ đoạn chớ không tương nhượng.

Còn những người ăn theo CS thừa biết làm ăn với CS, CS “vỗ béo” đến mức độ nào đó để ăn chia, khi biết “mánh” rồi hay khi “bể mánh”, chuyện đổ bể, là CS “thịt” liền để bịt đầu mối và trừ hậu hoạn. Vụ Bí Thư Tỉnh Ủy Trùng Khánh ở TC bị lột tất cả chức vụ, vợ bị tù hình sự, tay em giám đốc công an và nội chính hét ra lửa bị 15 năm tù hình sự nói lên sư thối nát và hạ nhau trong nội bộ đảng nhà nước của TC.

Vụ Bầu Kiên ở VNCS rất thân thế với Thủ Tướng Dũng bị phe Tổng Bí Thư Trọng và Chủ Tịch Nước Sang “chơi sát ván”, bắt bỏ tù. Những phụ tá của ngân hàng tư lớn hàng thứ tư ở VN của y cũng bị bắt, cho thấy kinh tế và tài chánh trong chế độ CS rất bấp bênh, lúc nào cũng có thể bị phe đảng gây bất ổn.

Nên cán bộ, đảng viên CS và những người ăn theo có lý do để tỵ nạn CS. Tài sản, gia đình, con cháu mà để trong chế độ CS là rất bất ổn, phiêu lưu, như giao trứng cho ác vậy. Nên họ tìm đường thoát thân, tẩu tán tài sản là chuyện cố nhiên.

Những con số sau đây do báo chí, khảo cứu ngoại quốc, độc lập về làn sóng chào TC bằng chân, chuyển con, chuyển của sang các nước tự do, dân chủ, số lượng quá nhiều, qua nhiều hình thức.

Một chuyên gia về TC sự vụ, Jonathan Manthorpe cho biết 90% trung ương ủy viên Đảng CS ở TC đã âm thầm đưa một phần gia đình và tẩu tán đa số tài sản ra ngoại quốc.

Còn giới ăn theo TC, thì 60% nộp hồ sơ xin di dân, theo thủ tục nhập cư đầu tư, đem vào nửa triệu Mỹ Kim và lập cơ sở thu nhận khoảng 10 nhân công, một thủ tục các nước tiền tiến ở Tây Âu, Bắc Mỹ thường qui định.

Du sinh từ TC chiếm tỷ lệ cao nhứt ở Mỹ, Canada, Pháp, Đức và Úc. Tập Cận Bình, Phó Chủ tịch TC, Tổng bí thư đảng là Giang Trạch Dân và Triệu Tử Dương, Bạc Hy Lai bí thư Trùng Khánh đều có con cháu học ở Mỹ.

Một thông tín viên của BBC, John Sudworth mới đây ngày 22/8/12 từ Thượng Hải tường thuật "có một thứ hàng xuất khẩu từ Trung Quốc mà dường như hiện nay không ai ngăn cản nổi – đó là các triệu phú". "Hầu hết họ nghĩ rằng tôi có quá nhiều tiền ở đây. Rồi sẽ tới ngày chính phủ thay đổi chính sách và lấy lại hết".

Hồ sơ di trú công cộng của Mỹ cho biết số visa đầu tư để định cư EB-5 mà Mỹ cấp cho dân TC tăng như hoả tiễn: năm 2006, chỉ có 63 visa; năm 2011 lên 2.408 visa; và trong năm 2012, nửa năm đã 3.700 visa.

Ở Úc cũng tăng nhanh, năm 2011 di dân Trung Quốc vào Úc nhiều hơn dân Anh, đảo ngược truyền thống người Anh là sắc dân nhập cư Úc nhiều nhứt.

Ở Pháp cũng tăng, di dân dầu tư của TQ mua gần hết vườn nho làm rượu chát ở Bordeaux, Bourgogne.

Còn tại VNCS, “thầy sao trò vậy”. Trong nhiệm kỳ 4 năm đại sứ của Mỹ Michael Michalak, Ông tự hào về tỷ lệ sinh viên VN du học Mỹ tăng lên 400%. Niên học 2011-12, báo trong nước VNExpress cho biết “số lượng sinh viên Việt Nam học tập tại các trường đại học và cao đẳng Mỹ lên tới gần 15.000 người trong năm học hiện tại, đưa Việt Nam lên thứ 8 trong danh sách các nước có nhiều sinh viên học tại Mỹ”. Đặc biệt VNCS chơi rất trội cho học sinh du học và cho đem “bảo mẩu” theo. Số học sinh du học Mỹ cho mẹ hay người bảo trợ theo, học trung tiểu học hoàn toàn miển phí không ít.

Chắc chắn số sinh viên học sinh du học Mỹ này không phải là dân con nhà nghèo, học giỏi được học bổng du học. Đại đa số là du học tự túc bằng tiền của gia đình. Học phí Mỹ mắc nhứt thế giới. Chỉ có con cháu của cán bộ đảng viên CS có quyền và tiền và của những đại gia ăn theo CS giàu sụ mới du học Mỹ tự túc nổi.

Một số lớn ở lại quản tri, giám sát tài sản của cha mẹ giao cho người thân sở tại làm ăn. Một số “mua chồng, mua vợ” để thành công dân Mỹ. Họ có tiền nên có cả chục cách để ở lại Mỹ. Nhưng chỉ một mục tiêu là tạo nhịp cầu cho cha mẹ hạ cánh sau khi thu vén cuối đời.

Con gái của TT Dũng Nguyễn Thanh Phượng đã từ chức các công ty ngon ăn, dọn đường di tản chiến lược. Nhưng liệu người chồng Mỹ gốc Việt có chịu trả tài sản đứng tên thay cho gia đình cha vợ không.

Nhưng đâu phải một mình TT Dũng tẩu tán tài sản, gởi giấu ở ngoại quốc. Tin bán chánh thức khó có thể phối kiểm (vì là đồ lậu), số tài sản, đúng ra là ngoại tệ mạnh, các lãnh tụ Đảng Nhà Nước VC gởi giấu ở ngoại quốc nhiều lắm.

Ông John Shapiro, một cựu chiến binh Hoa kỳ sau 3 tuần lễ thăm VN để tính chuyện làm ăn buôn bán, cho biết các tai to mặt bự của Đảng Nhà Nước VNCS, vợ con, bà con tứ thân phụ mẫu đều có công ty. Và Đảng Nhà Nước CSVN cho phép các công ty được chuyển ngân ra nước ngoài lên nửa triệu đô la. Một hình thức rửa tiền một cách hợp pháp. VNCS có 700 đảng viên CSVN có tài sản từ 100 đến 300 triệu đô la, và khoảng 2000 đảng viên có tài sản từ 50 đến 100 triệu đô la. Hầu hết có tẩu tán ra ngoại quốc cho thân nhân của đảng viên cao cấp ở nước ngoài làm sở hữu chủ. Ông Shapiro cho một thí dụ điển hình vợ bé của tổng cục trưởng phản gián làm ăn rất lớn ở Âu châu, em ruột của trung tướng VC, tổng cục phó tổng cục phản gián đang kinh doanh rất lớn ở Nam Cali, vợ con của Giám đốc Kinh tế và thân nhân của Đỗ Mười thủ đắc những tài sản nhiều triệu đô la ở Vancouver, Canada và cả ở New York, Houston.

Câu lạc bộ dân chủ cho biết "Một nguồn tin tuyệt mật của một nhân vật cao cấp của Bộ Công an cho biết từ tháng 2/2005 số tiền khổng lồ mà các quan chức cao cấp VN gửi tại ngân hàng Thụy sĩ. Cụ thể như Cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh hơn 2 tỉ USD cộng 7 tấn vàng; Cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười 2 tỉ USD;

Đương kim Bộ trưởng Quốc Phòng Phạm văn Trà 2 tỉ USD cộng 3 tấn vàng; Cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu 500 triệu USD;

Đương kim Chủ tịch nước Trần Đức Lương 2 tỉ USD;

Đương kim Thủ tướng Phan văn Khải hơn 2 tỉ USD;

Đương kim Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn tấn Dũng hơn 1 tỉ USD; Đương kim Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh 1,3 tỉ USD;

Đương kim chủ tịch Quốc hội Nguyễn văn An hơn 1 tỉ USD;

Cựu phó ủy ban thể dục thể thao Quốc gia Lương quốc Đống 500 triệu USD; Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn mạnh Cầm hơn 1 tỉ USD; Cựu Thứ trưởng thường trực Bộ Thương mại Mai văn Dậu hơn 1 tỉ USD.”

Bản tin gọi là tuyệt mật vừa rồi của Câu lạc bộ dân chủ chưa thấy ai kiểm chứng được, nhưng nếu đúng tới 1/5 các con số đó cũng là kinh khủng rồi.

Chỉ ở Thụy sĩ thôi mà hàng mấy chục tỷ rồi. Còn bao nhiêu ngân hàng các nước lớn ở Tây Âu, Bắc Mỹ nữa. Từ năm 2005 mà cả mấy chục tỷ ở Thụy sĩ rồi, cho đến bây giờ 2012 gần 7 năm sau, con số đô la gởi ngoại quốc của những người như TT Dũng nghe nói đã lên đến 19 tỷ rồi.

Cán bộ đảng viên lớn và các đại gia ăn theo của TC và VC làm đủ cách, đủ kiểu để tẩu tán hai của quí trong đời theo truyền thống Trung Hoa ”nhứt con, nhì của” ra các siêu cường để cất dấu hầu có nơi hạ cánh an toàn. Nhưng họ quên một điều, từ TT Marcos của Phi luật tân, đến Suharto rất thân với Mỹ nhưng sau khi bị nhân dân lật đổ, số tiền bất chánh, gởi lậu đó đâu có được hưởng. Tất cả bị chánh quyền mới kiện đòi các ngân hàng trả lại cho ngân sách quốc gia.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Chính quyền Cộng sản Việt Nam có tôn trọng tự do tôn giáo không? Phạm Quế Dương

(Danlambao) - Lâu nay thường thấy chính quyền Mỹ xếp hạng Việt Nam là nước vi phạm nhân quyền, không tôn trọng tôn giáo. Chính quyền cộng sản Việt Nam phản ứng rất mạnh mẽ. Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao thường có lời lẽ quyết liệt.

Thực tế thì thế nào?

Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 13/8/2012 có đăng bài “Cứu di tích cổ trong phố Hà Nội” của tác giả Nguyễn Phương Liên. Tôi rất khâm phục tác giả dám nói lên sự thật về thái độ đối với tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam và hoan nghênh báo Nhân Dân đã nói lên một sự thật,

Về phần tôi, tham gia Việt Minh từ tháng 4/1945. Tháng 9/1945 nhập ngũ. Đi đánh Pháp, đánh Mỹ, đánh Tàu, 2 lần bị thương. Năm 1990 nghỉ hưu mới biết các cụ ở làng tôi, làng Tử Dương, xã Tô Hiệu, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông cũ (nay về Hà Nội) có mối băn khoăn day dứt về một ngôi đền của làng mình.

Từ năm 1767, thời vua Lê Cảnh Hưng, các cụ làm ăn ở Hà Nội đã chung tay xây dựng ngôi đền “Tử Dương Vọng Đình” ở số 8 phố Hàng Buồm Hà Nội, thờ Tuệ Trung Thượng sỹ - anh cả của Đức Thánh Trần Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn - Song, sau khi tiếp quản Hà Nội, ngôi đình đã bị một cán bộ của Thông Tấn xã chiếm đoạt. Cả 4 ngôi nhà trong khuôn viên Tử Dương Vọng Đình là hương hỏa của đình cho thuê để lấy tiền cúng lễ cũng bị Nhà nước Cộng Sản chiếm bán cho dân nhập cư vào Hà Nội.

Những năm chiến tranh, tất cả đều hướng vào chiến trường, sau 1975 dân làng mới đặt vấn đề đòi lại đình. Ngày 24/12/1984, Hội đồng Giám định di tích có văn bản gửi cho dân làng xác định là di tích. Các cụ ở làng còn giữ được đầy đủ Địa bạ từ thời chính quyền Pháp xác định ngôi Đình và 4 căn nhà của làng, còn giữ được giấy tờ nộp thuế của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Bà con dân làng làm đơn xin các cấp từ chính phủ xuống Thành phố, Quận, Phường, tất cả dân làng ký tên song không được giải quyết. Ngày 04/4/1994 Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức hội thảo về ngôi đình. Sách “ Đường phố Hà Nội.”, Nhà xuất bản Hà Nội, xuất bản năm 1979 có viết về Đình này. Ngoài ra còn có nhiều bài khảo cứu giá trị khác: “Cần bảo tồn di tích ngôi đình số 8 Hàng Buồm Hà Nội.” của Tạp chí Xưa và Nay, số tháng 9/1994; bài “ Về đạo sắc “ Tử Dương Thần Từ.” sớm nhất hiện còn “ của Tạp chí Hán Nôm, số tháng 1/1995; bài “1000 năm Thăng Long còn lại những gì?” của báo Hà Nội mới cuối tuần số ra ngày 21/5/1996; bài “Xôn xao về một ngôi đình” của Tạp chí Khoa học và Tổ Quốc số tháng 4/1995; bài “Tử Dương Vọng Đình đang bị lấn chiếm” do Đài Vô tuyến Truyền hình Việt Nam phát ngày 28/6/1996; bài “ Làng Tía và Tử Dương Vọng Đình” do Đài Tiếng nói Việt Nam phát ngày 28/8/1996; bài “Nỗi niềm trăn trở ở Tử Dương” của Nhà xuất bản Văn Hóa- Thông tin, Tháng chạp năm Bính Tý, in trong sách “Làng Tử Dương qua di sản văn hóa Hán Nôm”.

Bà con xin gặp chính quyền Thành phố, Thành phố bảo xuống Quận, Quận bảo xuống Phường. Cơ quan hành chính không giải quyết bảo sang Tòa án. Sang Tòa án nộp án phí đầy đủ. Tòa án lại bảo sang chính quyền.

Ngôi đình từ lâu đã bị phá hủy, biến hóa thành cửa hàng bánh kẹo!

Tôi được bà con dân làng bầu là Trưởng ban liên lạc đồng hương ở Hà Nội, theo bà con, dẫn đầu là các cụ đi đòi đình rất vất vả bao lâu vẫn không được. Ngày 28/12/2002, tôi bị công an bắt. Ngày 14/7/2004, tôi bị đưa ra Tòa án Nhân dân Hà Nội xét xử. Bản cáo trạng ghi tội danh: “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”, tù 19 tháng.

Xin bà con xem xét chính quyền Cộng Sản có tự do tôn giáo không.

Phạm Quế Dương

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Image

Hội nghị Trung Ương 6 khai mạc sớm bất thường

* Hội nghị Trung Ương 6 - Chiến trường cho các phe quyết 'sống mái'

Danlambao - Lúc 13 giờ trưa nay, Thông Tấn Xã Việt Nam đột ngột loan tin về việc sáng 1/10/2012, Hội nghị Ban Chấp hành TW Đảng khóa 6 khai mạc sớm bất thường. Trước đó, đã có nhiều nguồn tin rò rỉ cho biết hội nghị 6 sẽ diễn ra vào khoảng 15/10. Chính vì vậy, tin hội nghị quan trọng của Đảng khai mạc sớm bất thường, trước cả nửa tháng khiến dư luận hoàn toàn bất ngờ.

Trong phát biểu khai mào cho cuộc đấu đá sắp diễn ra, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng dường như đã có lời cảnh báo đối với các ủy viên mức độ nghiêm trọng của hội nghị. Ông Trọng nhấn mạnh đây sẽ là kỳ hội nghị trung ương Đảng họp dài ngày nhất, bàn về nhiều nội dung nhất.

Hội nghị Trung Ương 6 được hứa hẹn sẽ bàn về các vấn đề 'Quy hoạch cán bộ cấp chiến lược'. Nói rõ hơn thì đây sẽ là cuộc đấu đá, đổi chác để nắm giữ các vị trí chóp bu trong Đảng và Nhà nước. Chủ đề này được xem là nguyên nhân chính khiến các ủy viên được triệu tập sớm bất thường vào hôm nay.

Cũng trong lời phát biểu của mình, ông Trọng lạm dụng thêm nhiều màn xảo thuật ngôn từ để tránh nói đến các cuộc đấu đá chính trị ngày càng gay gắt trong Đảng. Ông Trọng khẳng định hội nghị lần này 'chưa thể bàn về nhân sự quy hoạch cụ thể' mà chỉ đưa ra tiêu chuẩn để lựa chọn các vị trí chóp bu.

Sau hàng loạt các phát biểu vô nghĩa đến mức ngớ ngẩn, TBT Nguyễn Phú Trọng cũng trấn an các phe phái: vấn đề 'quy hoạch cán bộ cấp chiến lược' sẽ được thực hiện vào nhiệm kỳ tới, 2016-2021, và 'các nhiệm kỳ tiếp theo'. Tuy nhiên, điều này vẫn chưa có gì chắc chắn, bởi nếu các tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ được 'nhất trí cao', không chừng vấn đề sẽ được mang ra áp dụng ngay tại hội nghị.

Trên thực tế, việc triệu tập hội nghị đột ngột cho thấy rõ việc các phe phái trong Đảng quyết 'sống mái' với nhau ngay tại hội nghị lần này.

Dự kiến, các ủy viên trung ương tham dự hội nghị 6 cũng sẽ được Bộ chính trị báo cáo về quá trình kiểm điểm 'phê và tự phê' đối với các cá nhân trong hàng ngũ chóp bu Đảng. Nội dung này nhằm mục đích chính là nhắm vào hồ sơ tham nhũng và quá trình sai phạm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Một số dự đoán cho rằng: cùng với vấn đề 'quy hoạch cán bộ cấp chiến lược', các báo cáo kiểm điểm khi mang ra bàn thảo trước hội nghị có khả năng dẫn đến một cuộc 'đảo chính' ngay trong hội nghị 6 mà không cần chờ đến nhiệm kỳ tới vào năm 2016. Điều này khá hợp lý, vì đến năm 2016 thì Đảng Cộng Sản chắc gì còn tồn tại?

Hội nghị dự kiến sẽ diễn ra nửa tháng, từ 1 đến 15/10, đủ thời gian cho các bên chuẩn bị tung chiêu, hình thành thế trận quyết 'sống mái' với nhau.


Trang Blog Cầu Nhật Tân nhanh chóng đưa tin kèm theo bình luận rằng : Hội nghị 6 bất thường lần này nhằm tránh lập lại vết xe đổ của Hội nghị 12 vào năm 2001, thời điểm mà Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu đã bị các đối thủ lật đổ.

Blog Cầu Nhật Tân cũng cho rằng việc triệu tập hội nghi đột ngột lần này là để tránh không cho 'bàn tay vô hình' có đủ thời gian tập hợp lực lượng, mua chuộc lá phiếu.

"Lệnh triệu tập các Ủy viên TƯ về ngay Hà Nội được phát ra khẩn cấp, nhiều Ủy viên Trung ương rất bị động và bất ngờ. Họ chỉ có đủ thời gian để sắp xếp việc đi lại. Hàng không VN đã được Văn phòng TƯ Đảng đề nghị thực hiện “nhiệm vụ chính trị” dành ưu tiên cao nhất cho các đại biểu TƯ về Hà Nội.

Đặc biệt, nhiều thành viên Chính phủ cũng bị bất ngờ. Hai trường hợp Ủy viên Trung ương là thành viên Chính phủ, trước đó, đã xin Bộ Chính trị đi công cán nước ngoài, nay bị “phanh” lại và buộc phải hủy lịch công tác đột ngột.

Việc tổ chức nơi ăn ở, làm việc và đi lại của các đại biểu cũng được bố trí và tính toán rất kỹ lưỡng nhằm tránh mọi bất trắc xảy ra trong thời gian Hội nghị cũng như đảm bảo các Ủy viên Trung ương có thể làm chủ ý kiến của mình", Blog Cầu Nhật Tân cho biết.

Trong một bài phân tích mới đây trên Danlambao nói về diễn biến các cuộc chiến trong Đảng, tác giả Trần Phong cho biết: Trước hội nghị, liên minh 'cung vua' của TBT Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã gửi đến tận tay các ủy viên trung ương Đảng tập tài liệu nói về sự yếu kém và tham nhũng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Tập tài liệu dày 313 trang giấy, khổ A4 do Tổng cục 2 bí mật in ấn. Những trang đầu tiên của tập tài liệu do đích thân TBT Nguyễn Phú Trọng viết lời mở đầu, kèm theo bút tích. Những trang cuối tập tài liệu là hình ảnh nhà thờ họ hoàng tráng của TT Nguyễn Tấn Dũng.

Chi tiết thêm về Hội nghị Trung ương hiện chưa được công khai, tuy nhiên mọi động thái rò rỉ ra bên ngoài sẽ được xem xét kỹ lưỡng.

* Trong một diễn biến khác, tối qua, 30/09/2012, đài truyền hình Quốc gia Việt Nam (VTV) tiếp tục đăng một bài phóng sự vu cáo Danlambao và các trang blog chính trị. Đây là lần thứ 3 VTV tổ chức đấu tố Danlambao.

Phóng sự tối 30/09 không có gì đặc biệt, ngoài việc lần này hình ảnh trang nhà Dân Làm Báo được công khai xuất hiện trước 90 triệu dân Việt Nam. Điều đáng nói là đoạn phóng sự được phát rộng rãi trước khi Hội nghị 6 diễn ra chỉ 12 tiếng đồng hồ.

Quảng cáo không công? Hay thủ đoạn đấu tố, vu khống để lập công dâng Đảng chăng?

Danlambaodanlambaovn.blogspot.com

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Nhìn Miến Điện Mà Đau Khổ Cho Việt Nam

Tác giả : Vi Anh
Nhìn Miến Điện với Bà Aung San Suu Kyi tù nhân 20 năm và TT Thein Sein thừa kế chế độ độc tài quân phiệt chúa ngục của Bà, cùng công du Mỹ đã phối hợp vận động cho quyền lợi quốc gia dân tộc mà buồn khổ, đau thương cho quốc gia dân tộc Việt Nam.

Việt Nam một quốc gia dân tộc uy hùng, to lớn hơn Miến Điện, dưới chế độ độc tài đảng trị toàn diện của Đảng CS, suốt gần 38 năm, nước VN vẫn còn chậm tiến về kinh tế, lạc hậu khoa học, và nhứt là bê bối về tự do, dân chủ, nhân quyền, là tiêu chí thiết yếu của văn minh Nhân loại.

Một chân lý chánh trị bất khả tranh cãi, là không có một đảng phái chánh trị, không có một chế độ cai trị nào cao quí, mạnh mẽ, bền vững hơn quốc gia dân tộc. Khi bộ óc quốc gia, trái tim dân tộc, khi người lãnh đạo bất phân thân chính hay đối lập yêu nước, thương dân, thì khó khăn, bế tắc, thử thách kinh tế chánh trị, an ninh, quân sự, đối nội đối ngoại nào cũng có thể vượt qua được vì lúc bấy giờ sức mạnh của quốc gia dân tộc trở thành một.

Điều này có thể thấy rõ qua chuyến công du thành công vượt mức và xuất sắc của hai nhân vật của Miến Điện: Bà Aung San Suu Kyi một tù nhân 20 năm và TT Thein Sein là một cựu tướng lãnh thừa kế chế độ quân phiệt từng là chúa ngục của Bà.

Trong chuyến công du Âu châu trước, Bà Aung San Suu Kyi được nhân dân và chánh quyền các nước hoan nghênh Bà như một quốc khách. Hào quang của Bà toả sáng như đoá hoa sen tượng trưng cho bồ đoàn của Phật Giáo mà người dân xem gần như là quốc giáo của Miến Điện. Giải khôi Nguyên Nobel Hoà Bình Suu Kyi được tặng trước đây Bà không đi nhận vì không muốn xa rời đồng bào, xuất ngoại là nhà cầm quyền quân phiệt tống khứ luôn, không cho trở về nước được cũng như khi chồng chết ở Anh, Bà cũng không đi Anh thọ tang. Bà bám trụ, cùng chịu niềm đau nỗi khổ với đồng bào, suốt 20 năm tù và quản chế tại gia.

Nhưng khi nhà cầm quyền quân phiệt thức tỉnh thấy rõ độc tài là lụn bại, suy tàn, nên đổi mới chánh trị. Bà và đối lập gồm những người từng đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền Miến Điện ra ứng cử dân biểu. Đối lập do Bà lãnh đạo tinh thần thắng trên 90%.

Bà không nhận một chức gì trong chánh phủ của TT Thein Sein. Bà chỉ làm dân biểu, như một dân biểu có thể nói lãnh tụ tinh thần của khối đối lập có bốn mươi mấy người, trong khi quyền đa số còn thuộc về dân biểu thân chính bầu thời quân phiệt kiên định.

Nhưng hầu hềt các nước Liên Âu và Âu châu gỡ cấm vận toàn phần cho Miến Điện, lập bang giao và giao thương lại với Miến Điện.

Mỹ là nước Miến Điện rất cần sự yểm trợ kinh tế, chánh trị, bao che trước đà bánh trướng và trả thù vặt của TC giáp ranh, đã bao năm bao che quân phiệt bòn vét cạn kiệt tài nguyên của Miến Điện. Nhưng Mỹ còn dè dặt với Miến Điện. Dù Ngoại Trưởng Mỹ thăm Miến Điện tay bắt mặt mừng với Bà như hai bạn gái tâm giao, lập bang giao, cho công dân Mỹ đầu tư, nhưng Mỹ không bỏ cấm vận toàn phần. Mỹ muốn gỡ cấm vận từ từ dể thúc đẩy tiến trình dân chủ hoá. Trong đó cái kẹt nhứt là cấm không cho tổng thống và chủ tịch quốc hội của chế độ Miến Điện đến Mỹ.

Thế là một cuộc hoà ca giữa hai người Miến Điện yêu nước thương dân, đặt quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên hết. TT Miến Điện Thein Sein muốn xuất hiện trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc họp ở New York, với một nước Miến Điện đang dân chủ hoá. Mà New York là thuộc lãnh thổ nước Mỹ.

Thế là Bà Aung San Suu Kyi không nề hà đóng vai mở an ninh lộ trình chánh trị, ngoại giao cho TT Thein Sein công du Mỹ. Dù Mỹ dành cho Bà Suu Kyi danh dự và long trọng như một quốc khách (Đại sứ Mỹ ở Miến Điện đi Mỹ cùng Bà, Ngoại Trưởng Mỹ đích thân tiếp, TT Obama cũng thế, Quốc Hội trao Huy chương Vàng, huy chương cao quí nhứt của Quốc Hội Mỹ đã tặng từ lâu mà Bà chưa nhận), chương trình công du của Bà, Bà sắp xếp khéo léo để không làm lu mờ sự xuất hiện của TT Thein Sein.

Ở nước nhà TT Theim Sein trả tự do cho 500 tù chánh trị chót, quá họp ý với điều kiện ngoại giao của Mỹ. Bà Suu Kyi âm thầm vận động Bộ Ngoại Giao Mỹ, TT Mỹ gỡ cấm vận. Ngưng cấm nhập cảng vào Mỹ hàng hoá của Miến Điện và ngưng cấm nhập cảnh vào Mỹ đối với tổng thống và chủ tịch quốc hội Miến Điện. Bãi bỏ đầu giúp cho chánh phủ dân chủ hoá của TT Thein Sein thêm thế lực trước sự chống đối của phái bảo thủ, tướng lãnh.

Bãi bỏ thứ hai liên quan đến chuyến công du của TT Thein Sein, là bải bỏ một biện pháp ô nhục đối với chánh phủ Miến Điện do Mỹ đã trừng phạt Miến điện khi xưa.

Đó là hợp tác hài hòa, nhuần nhuyễn của chính phủ và đối lập Miến Điện, rất hợp lòng dân, ý chánh phủ Mỹ.

Thế là Tổng thống Miến Điện, một cựu tướng lãnh, thừa kế chế độ ngục tù nhờ người tù 20 năm vì quyền lợi quốc gia dân tộc, vì lòng yêu nước thương dân Miến Điện đã giúp cho TT Thein Sein có thể đường hoàng đến New York, và đi ra ngoài chu vi Liên Hiệp Quốc.

Nên trước đại hội đồng LHQ, TT Miến Điện Thein Sein, vóc dáng người nhỏ bé, hãnh diện ngẩng cao đầu, đại diện cho nhân dân và chánh quyền Miến Điện, hùng hồn phát biểu tại Liên Hiệp Quốc, nói về những cải tổ đã thay đổi đất nước ông. Ông hết lời ca ngợi những nỗ lực chuyển hoá dân chủ của Bà và của nhân dân Miến Điện.

Bên lề đại hội Ông còn tuyên bố sẵn sàng tuân theo ý quốc dân để Bà Aung San Suu Kyi làm tổng thống nếu dược dân chúng bỏ phiếu cho Bà. Bài diễn văn và lời tuyên bố của Ông được các cơ quan truyền thông quốc tế loan tải khắp năm châu, bốn biển như một thành tựu lớn của Nhân Quyền. Và dân chúng Miến Điện vô cùng mừng và tự hào về quốc gia dân tộc của mình.

Con đường trước mắt của hai người Miến Điện nữ và nam yêu nước thương dân này không ắt bằng phẳng.Nhưng “Nếu đường đời bằng phẳng cả thì anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Cộng đồng người Miến hải ngoại không đồng ý lắm việc Bà Suu Kyi vận động gỡ cấm vận toàn phần, muốn lấy đó để kích hoạt dân chủ hoá chế độ độc tài quân phiệt đang chuyển hoá.

Phía TT Thein Sein cũng bị nhiều áp lực nội bộ của quân đội Miến từng nắm quyền độc tài nhiều thập niên. Việc Mỹ bãi bỏ lệnh cấm nhập cảng hàng Miến Điện vào Mỹ tạo sức mạnh của chánh phủ đổi mới đồi vơi phe bảo thủ.

Còn ở nước nhà VN, gần 38 năm VN bị nằm trong gọng kềm CS.

Qua bao nhiêu đại hội đảng CS, bầu cử quốc hội, tình hình nhân dân VN bị trị vẫn nghèo, vẫn khổ, vẫn bị áp bức bóc lột, giang sơn gấm vóc VN vẫn bị mất đất, mất biển, mất đảo vào tay TC.

Và tình hình Đảng CS, một chủ nghĩa ngoại lai, vẫn thống trị, vẫn độc tài đảng trị toàn diện trên quốc gia dân tộc VN. Đau buồn, khổ nhục thay của quốc gia dân tộc VN!

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Cơn sóng đòi tự do dân chủ

Ngô Nhân Dụng

Lịch sử nền tư pháp Việt Nam sẽ ghi tên cô Tạ Phong Tần, anh Nguyễn Văn Hải, tức Ðiếu Cày, và anh Phan Thanh Hải, như những nạn nhân tiêu biểu của tình trạng tòa án làm nô lệ cho chính trị. Ðặc biệt, ở đây là chính trị thuộc cấp độ thấp nhất.

Trong phiên tòa diễn ra chỉ có vài giờ trong buổi sáng Thứ Hai ngày 24 tháng Chín, tòa án xử ông Nguyễn Văn Hải 12 năm tù, cô Tạ Phong Tần 10 năm tù và ông Phan Thanh Hải bốn năm tù. Cả ba người còn sẽ tiếp tục bị quản chế với thời hạn lần lượt năm năm, ba năm và ba năm.

Luật sư của ông Ðiếu Cày vừa nói rằng chính quyền không đưa ra được chứng cứ nào trong phiên xử để kết tội ba blogger này về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước;” tòa không cho ông Nguyễn Văn Hải chất vấn những người làm chứng; và cũng không cho luật sư tranh luận với phía công tố là Viện Kiểm Sát.

Trong bản lên tiếng đòi trả tự do cho ba nhà báo mạng (blogger), bà Catherine Ashton, đại diện của Liên Hiệp Châu Âu, nhấn mạnh là những bản án tù từ bốn đến 12 năm là quá nặng nề đối với các ông Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và cô Tạ Phong Tần.

Ðây cũng là nhận xét chung của những người từng theo dõi các cuộc tranh đấu cho dân chủ tự do ở Việt Nam. Ba nhân vật trên chưa bao giờ đòi lật đổ chế độ cộng sản. Họ cũng không tham dự một vụ bạo động nào. Tất cả chỉ lên tiếng nhắc nhở đồng bào phải bảo vệ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; và tham dự các cuộc biểu tình với mục đích đó. Ông Phan Thanh Hải từng chủ trương trang mạng (blog) AnhBaSaigon; cô Tạ Phong Tần, vốn là một sĩ quan công an, đã lập ra blog Công Lý và Sự Thật; ông Nguyễn Văn Hải đã nổi danh với blog Ðiếu Cày. Trong tháng trước, thân mẫu của cô Tạ Phong Tần, ở Bạc Liêu, đã tự thiêu phản đối công an dọa nạt, sách nhiễu gia đình bà. Công an đã ép bà và các con phải kết tội cô con gái đang bị tù; nhưng cả gia đình từ chối nên họ bị dọa sẽ mất kế sinh nhai và sẽ bị đuổi đi nơi khác sống. Việc tự thiêu của bà Ðặng Thị Kim Liêng là hành động tuyệt vọng của một người dân Việt Nam bị đẩy tới bước đường cùng, không khác gì việc anh Ðoàn Văn Vươn dùng chất nổ chống cự bọn tham nhũng cướp đất của anh ở Hải Phòng.

Tại sao Ðảng Cộng Sản Việt Nam lại kết án ba blogger nặng hơn hẳn các nhà tranh đấu dân chủ đã bị đưa ra tòa trước đây? Những bản án họ đã dành cho Linh Mục Nguyễn Văn Lý, các luật sư Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Ðịnh, Cù Huy Hà Vũ, ông Trần Huỳnh Duy Thức, và các thành viên những Ðảng Thăng Tiến, Ðảng Dân Chủ Nhân Dân, Ðảng Việt Tân, cùng các đảng và nhóm khác không lâu tới 10 và 12 năm như vậy. So sánh với những hành động của các nhà tranh đấu dân chủ trên thì ba nhà báo mạng Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải đáng lẽ chỉ bị kết án hai, ba năm tù vì hành động của họ không chống đối chính quyền cộng sản hoặc có ảnh hưởng mạnh hơn.

Tất nhiên, lý do duy nhất là tòa án chịu áp lực chính trị của đảng cộng sản. Nhưng lý do chính trị nào khiến đảng cộng sản quyết định như thế? Ai cũng nghĩ đến sức ép của sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội. Ba nhà báo tự do không đòi cải tổ chính trị ở Việt Nam, cũng không kêu gọi lật đổ chế độ cộng sản; nhưng họ đã chống chính sách bành trướng của Trung Cộng. Họ đều nhắm vào việc Trung Cộng chiếm Hoàng Sa năm 1974, đánh Trường Sa năm 1988; và kêu gọi mọi người Việt Nam đòi lại chủ quyền dân tộc. Ai cũng còn nhớ hình ảnh Ðiếu Cầy, Tạ Phong Tần trong những cuộc biểu tình đòi chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa.

Nhưng liệu Bắc Kinh có cần tạo áp lực trên Cộng Sản Việt Nam về những chuyện như xử án ba nhà báo hay không? Có thể họ không cần, và chưa chắc đã muốn. Mục tiêu cuối cùng của họ là làm sao đảng Cộng Sản Việt Nam phải ép cả nước phải im lặng chịu đựng mối nhục mất đất. Họ có những khí cụ mạnh hơn để thực hiện mục tiêu đó, và đã đạt được nhiều rồi. Bản án quá nặng cho ba nhà báo tự do sẽ chỉ gây cho nỗi oán hận của người Việt thêm nặng nề, bất lợi cho Bắc Kinh. Ba nhà báo không tác động dân chúng mạnh bằng những nhà trí thức và thanh niên đã tổ chức các cuộc biểu tình ở Hà Nội trước sứ quán Trung Quốc.

Một lý do khác được giải thích là những bản án nặng này cốt nhắm vào dư luận của đồng bào trong và ngoài nước, cùng chính phủ các nước Tây phương. Họ muốn chứng tỏ rằng các lời lên tiếng đòi trả tự do cho ba nhà báo và kết tội cộng sản vi phạm nhân quyền chỉ gây tác dụng ngược, khiến cho ba nhà báo tự do phải chịu những bản án nặng nề. Ðây có thể là một thông điệp, báo tin cho các chính phủ khác và người Việt trong và ngoài nước từ nay hãy giảm bớt các lời nói và hành động kết tội họ; nếu không thì chính những người được bênh vực sẽ lãnh hậu quả.

Nhưng lối giải thích này khó đứng vững. Dư luận lên án chính quyền cộng sản về tất cả những vụ vi phạm nhân quyền, không riêng đối với ba nhà báo tự do này. Ông Obama hay bà Clinton lên tiếng đòi trả tự do cho ông Ðiếu Cầy, cô Tạ Phong Tần, vì đó là việc họ phải làm, dù đó là người Việt Nam hay người Congo. Lên án chính sách vi phạm quyền làm người vì nguyên tắc; không ai có thể thể giảm bớt hành động chống đàn áp chỉ để mua sự an toàn cho các nạn nhân. Chính những người can đảm đứng lên tranh đấu như Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, hoặc trước đó là Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Ðịnh, Cù Huy Hà Vũ, vân vân, họ cũng chỉ làm bổn phận đối với đất nước. Họ hãnh diện và sẵn sàng chấp nhận hậu quả. Không ai trong số những vị trên lại đánh đổi lấy sự an thân của mình, muốn thế giới bên ngoài giảm áp lực buộc Cộng Sản Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền.

Cho nên, cuối cùng chúng ta chỉ thấy một thứ ảnh hưởng chính trị trên người xử án ở Sài Gòn trong bản án nặng nề này là cuộc tranh giành quyền lực ngay trong nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam.

Như chúng ta đều biết, những tay đầu sỏ trong chế độ đang công khai chống phá lẫn nhau. Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang đang tìm cách giảm bớt quyền hành của Nguyễn Tấn Dũng. Họ chống nhau bằng các hành động và lời nói, một cách công khai hoặc dùng những thủ đoạn ngấm ngầm. Bản án dành cho ba nhà báo tự do không phải do những cấp thừa hành quyết định. Nếu cấp thừa hành quyết định thì chắc chắn họ sẽ “theo lệ cũ,” ra lệnh cho tòa án phạt tù ba năm hoặc năm năm. Khi tăng số năm tù lên tới 10 hay 12 năm, những người phụ trách giật dây tòa án sẽ phải xin chỉ thị riêng. Chỉ thị riêng có thể do một trong những người cấp gần nhất với Bộ Chính Trị đưa ra. Trong lúc ba tay đầu sỏ Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang đang tìm các kẽ hở của nhau để tấn công thì cả ba người hay đám tay chân của họ thấy phải tỏ ra cứng rắn hơn, để chứng tỏ họ vẫn đặt quyền lợi của đảng cộng sản lên trên hết. Trong cuộc tranh giành quyền lực của mấy người lãnh đạo cộng sản, các nhà báo tự do đã trở thành nạn nhân. Nhưng các bản án dành cho họ đã làm cho dư luận thế giới khinh thường cả nước Việt Nam.

Bà Catherine Ashton đã lên tiếng yêu cầu chính quyền Hà Nội trả tự do ngay tức khắc cho ba nhà tự do báo trên mạng. Bà nhắc nhở chính quyền cộng sản là tất cả mọi con người phải có quyền tự do phát biểu. Cộng Sản Việt Nam phải chứng tỏ họ tuân thủ những công ước quốc tế mà họ đã cam kết thi hành như bản Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, và Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị.

Ðại Sứ Quán Mỹ tại Hà Nội đã lên tiếng yêu cầu “Chính phủ Việt Nam phải trả tự do cho Ðiếu Cày và các blogger Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần.” Lấy trường hợp Ðiếu Cày làm tiêu biểu, họ nhấn mạnh, “ông bày tỏ quan điểm chính trị của mình một cách ôn hòa,” là một quyền tự nhiên của mọi con người, được ghi rõ trong những bản văn mà chính quyền Hà Nội đã ký kết tôn trọng và bảo đảm thi hành. Thông cáo của sứ quán Mỹ phê phán phiên tòa và bản án đã vi phạm hai quyền tự do căn bản ghi trong công ước quốc tế, là quyền tự do ngôn luận và quyền được xét xử theo đúng thủ tục pháp lý của loài người.

Những lời nhắc nhở trên cho thấy cả thế giới kết án hành động đàn áp tự do ngôn luận của chính quyền cộng sản ở nước ta. Hành động biến tòa án thành một công cụ chính trị, những bản án bất công đang làm nhục cả dân tộc trước mặt thế giới văn minh.

Trong một bài thơ gửi ra ngoài trước phiên tòa, nhà báo Ðiếu Cầy viết:

Sóng biển trào dâng đòi tự do dân chủ,

Sóng cuốn phăng đi thành lũy lũ độc tài.

Ðó là những lời tiên đoán. Một chế độ khinh thường dân sẽ không thể nào tồn tại được. Cơn sóng đòi tự do dân chủ sẽ cuốn phăng đi thành lũy cuối cùng của bọn độc tài.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Ngọn lửa tâm can Nguyễn Chí Thiện

Ngô Nhân Dụng


Nguyễn Chí Thiện đã nhìn thấy Cái Ác. Và anh đã gọi thẳng tên nó ra. Có lẽ vì tên anh là Chí Thiện, cho nên suốt đời anh lo vạch mặt Cái Ác.

Không bao giờ nghỉ. Anh là người chững chạc. Một người thành thật, hồn nhiên, có tư cách, đáng kính trọng. Anh luôn luôn khích lệ, góp ý kiến, không chờ được hỏi, không khách sáo.

Gặp nhau hôm hội Bắc Ninh ở đây, anh chỉ cho mấy chỗ sai chính tả trong bài tôi viết về quá trình “Hán hóa miền Nam Trung Quốc.” Tôi nói với anh đó là một bài trong cuốn sách đang viết giở về thời Bắc thuộc; với câu hỏi chính là vì sao dân Việt Nam bị đô hộ một ngàn năm vẫn không mất nước; anh đề nghị ngay: Nếu vậy thì anh phải đề cập đến những thắc mắc như thế này, thế này...

Lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau là ngày giỗ Ðỗ Ngọc Yến vừa qua, tôi đã nhờ anh đọc hộ hơn trăm trang bản thảo cuốn sách; như anh đã hứa. Năm 1995, Ðỗ Ngọc Yến gõ cửa phòng, báo tin “Có khách;” mở cửa ra, không ngờ thấy anh Nguyễn Chí Thiện đang cười tươi, đưa tay ra bắt: “Tôi muốn gặp ông vì tuần trước mới ngồi ở Hà Nội với mấy anh ấy, nghe ông nói trên đài BBC.” Anh kể tên mấy người bạn cùng nghe đài, những người tôi đã nghe tên mà chưa bao giờ gặp. Gặp anh, giống như gặp một người từ thế giới bên kia. Từ đó, chúng tôi là bạn.

Một lần Giáo Sư Trần Quốc Vượng đã hỏi tôi và bạn Nguyễn Hữu Chung: “Các cậu có biết tại sao những người đồng canh, đồng tuế lại dễ thân nhau hơn không?” Và ông trả lời: “Vì họ cùng chịu những hoạn nạn giống nhau. Cùng trải qua những cuộc cách mạng, những cuộc chiến tranh, những nạn đói như nhau ...” Tôi cùng tuổi với anh Nguyễn Chí Thiện. Nhưng quả thật, chúng tôi trải qua những kinh nghiệm cuộc đời khác hẳn nhau. Năm 1954, mẹ tôi đã dẫn các con vào Nam. Sau cuộc di cư, cuộc đời của anh và tôi đã đi theo những con đường khác.

Năm chúng tôi sống ở tuổi 20 thì nhiều thanh niên ở miền Nam và miền Bắc cũng nuôi những hy vọng giống nhau. Trong bài thơ Ðồng Lầy, anh viết:


“Ngày ấy, tuy xa mà như còn đấy
Tuổi hai mươi, tuổi bước vào đời
Hồn lộng cao, gió thổi chơi vơi
Bốn phía bao la chỉ thấy
Chân mây, rộng mới tuyệt vời!
... Tuổi hai mươi tuổi của không ngờ.
Không sợ!

Viển vông đẹp tựa bài thơ
Mơ ước
Ðợi chờ
Vĩ đại.”

Nhưng sau đó, Nguyễn Chí Thiện đã gặp Cái Ác. Ðã nhìn thấy rõ mặt Cái Ác. Anh gọi đích danh Cái Ác. Từ đó, định mệnh của anh là vạch mặt chỉ tên Cái Ác. Nguyễn Chí Thiện đã vạch tội Cái Ác trong những trò giáo giở:

Tuổi hai mươi mắt nhìn đời trẻ dại
Ngỡ cờ sao rực rỡ.
Tô thắm màu xứ sở yêu thương
Có ngờ đâu giáo giở đã lên đường.

Năm 22 tuổi tôi làm nghề dạy học, vẫn làm thơ, mơ mộng yêu đương, còn anh đã vào tù vì vạch mặt chỉ tên Cái Ác. Năm 25 tuổi ở miền Nam chúng tôi đang đi biểu tình đả đảo Hiến Chương Vũng Tàu, nuôi hy vọng xây dựng một chế độ tự do dân chủ; còn anh được tự do chưa đầy một năm thì lại bị bắt giam hơn 11 năm nữa. Năm 1965 chúng tôi đi làm trại công tác xã hội, cùng các sinh viên, học sinh đi giúp đồng bào nông thôn; còn anh đã nhìn thấy, như trong bài thơ Ðất Này:

Ðất này chẳng có niềm vui
Ngày quệt mồ hôi, đêm chùi lệ ướt
Trại lính, trại tù người đi không ngớt
Người về thưa thớt dăm ba...
Trẻ con đói xanh như tàu lá
... Buồn tất cả
Chỉ cái loa là vui!”

Ở một nơi mà cả nước phải suy tôn “Cha Già Dân Tộc,” Nguyễn Chí Thiện vạch ra:

Mi ngu si, mi chăng biết gì!
Cha mẹ mi là dân tộc Việt
Anh chị mi là dân tộc Việt
Mi ngủ với ai mà là cha già của họ, hỡi Hồ Ly!

Cái Ác không phải chỉ hiện hình trong một con người gian trá, mà trong cả một chế độ, một chủ nghĩa, một guồng máy. Cái Ác lớn đẻ ra nhiều Cái Ác nhỏ.

Ðạo lý tối cao của xứ đồng lầy.
Là lừa thầy phản bạn
Và tuyệt đối trung thành vô hạn.
Với Ðảng, với Ðoàn, với lãnh tụ thiêng liêng.

Hạt thóc, hạt ngô phút hóa xích xiềng.
Họa phúc toàn quyền của đảng.
Chúng trưởng sinh trong đêm tối nhiều năm.
Nên chúng tưởng màu đen là ánh sáng!

Ếch nhái vẫn đồng thanh đểu cáng
Chửi bới mặt trời, ca ngợi đêm đen.

Năm 1980 Nguyễn Chí Thiện đã viết những lời phê phán mà ngày nay các nhà tranh đấu cho dân chủ ở nước ta cũng lên tiếng tố giác. Vì sau hơn 30 năm cuộc sống đất trước mặt vẫn như vậy:

“Mấy cái đầu
Mấy cái đầu bé tẹo
Quản lý nước, nước nghèo
Cai trị dân, dân khổ
Chỉ được cái lỳ ra, không xấu hổ!”

Nguyễn Chí Thiện đã chỉ rõ mặt Cái Ác. Anh đã dùng cả cuộc đời anh để vạch trần Cái Ác. Cái Ác của Lê Nin đã được nhập khẩu vào nước ta. Một bài thơ viết năm 1983, khi cả nước bị nạn đói, ở Thanh Hóa có người đã chết đói:

“Ðể mãi mãi được làm chúa tể
Ðể đánh bật đào tung gốc rễ
Giá trị tinh thần đạo lý bền sâu
Ðể bắt dân đen quỵ gối, cúi đầu
Ngậm đắng, nuốt sầu
Chịu trói!

Biện pháp hàng đầu: cái đói!
Biện pháp nhiệm mầu: cái đói!
Khi người ta đói
Xin đừng có nói văn hoa
Cùng đạo lý cao xa!
Vì những lời hay ý đẹp
Cái dạ dầy lép kẹp không nghe!
Ðể bắt nó nghe
Ðể bắt nó làm
Phải có trại giam, cái cùm, khẩu súng
Cùng muôn thủ đoạn gian hùng
Dồn ép nó lâm vào thế kiệt cùng
Không thể cựa!

Bắt nó phục tùng, hóa thành trâu ngựa
Phải tuân theo
Mọi yêu cầu của chế độ hùm beo!
Lúc đó, ăn uống mới ban cho một tí!
Tem phiếu mới phân chia từng tí!
Lê nin nói vô cùng có lý
Khi căn dặn bọn tay chân đồng chí:
“Không kỷ luật nào bằng kỷ luật đói, chớ nên quên”
Còn chúng ta cũng chớ nên quên
Phải ghi nhớ điều này:

Khống chế dạ dầy là chiến lược dài lâu
Chiến lược hàng đầu của đảng!”

Nguyễn Chí Thiện dùng thơ như một vũ khí chiến đấu với Cái Ác:

Thơ của tôi không phải là thơ
Mà là tiếng cuộc đời nức nở

Nhưng anh cũng ca ngợi công dụng của thơ. Anh Nguyễn Thanh Hải, mới bị kết án tù 12 năm, chắc sẽ thích thú những câu thơ viết năm 1972, Nguyễn Chí Thiện đã tiên tri, nhắc đến biệt hiệu Ðiếu Cầy của anh:

Nhà thơ có khả năng biến chiếc điếu cày thành bất tử
Biến đám cầm quyền nghiêng ngả non sông
Thành lũ hề nhố nhế lông bông

Phải sống với Cái Ác một nửa cuộc đời, nhưng Nguyễn Chí Thiện vẫn nói lên những tiếng của hy vọng:

Dù thể xác lao tù héo khô muốn đổ
Dù đau lòng dưới năm tháng vùi chôn
Ta đã sống và không xấu hổ
Vì ta cứu giữ được linh hồn

Nguyễn Chí Thiện đã ra đi. Một nạn nhân của Cái Ác nhưng vẫn giữ được tâm hồn Thiện. Những ai gần gũi anh chắc đều thấy anh tính tình hồn nhiên, giản dị. Tôi chưa nghe anh nói xấu về một người nào bao giờ, trừ Cái Ác. Tôi rất mừng trước khi qua đời anh đã tìm thấy một tôn giáo. Ðứng trước ngưỡng cửa giữa sự sống và sự chết, một niềm tin sẽ giúp anh ra đi trong bình an. Nguyễn Chí Thiện từ nay sẽ không còn bị Cái Ác quấn lấy nữa. Nhưng Ngọn Lửa Tim Gan của anh sẽ còn cháy mãi trong lòng chúng ta:

Vang mãi vô hạn
Tiếng lòng chứa chan!
Sáng mãi vô hạn
Ngọn lửa tâm can !

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Tính Thiện - Sự Thật Chỉ Là Một
Phan Nhật Nam


Lời người viết: Người Bạn Trần Phong Vũ đã viết đủ trong “Nghĩ về Nguyễn Chí Thiện” (NV số 8339 ngày 6 tháng 10/2008), nhưng Trần Huynh chưa đề cập đến những “chung quanh, đằng sau Nguyễn Chí Thiện”, bài nầy vì thế năm 2008 được viết nên để bổ túc. Và hôm nay, Ngày 2 Tháng 10, Năm 2012, Thi sĩ đã ra đi về cõi Vĩnh Hằng Trong Vinh Hiển Hồng Ân Thiên Chúa. Những cáo buộc trước kia về Nguyễn Chí Thiện THẬT/GỈA lộ nguyên trạng chỉ là biểu hiện của Sự Ác. Người viết nhận thấy cần phải lên tiếng thêm một lần – Lần Cuối cùng bởi SỰ THẬT LỚN NHẤT LÀ CÁI CHẾT. NGUYỄN CHÍ THIỆN VƯỢT QUA, LÊN CAO SỰ ÁC NHƯ DANH T ÍNH CAO QUÝ CỦA ÔNG.


I. Diễn tiến tổng quát: Tình hình sinh hoạt chính trị, văn hóa, xã hội vùng Nam Cali lâu lâu bùng vỡ một vài sự kiện bất thường có tính cách định kỳ, và điểm rõ nét nhất có thể kết luận đối với loạt hiện tượng nầy là tính dân chủ của những hình thức sinh hoạt ấy – Người Việt tự do bày tỏ ý kiến của mình về người/việc xẩy ra trong cộng đồng hải ngoại – Tốt, xấu chúng ta chưa thể đánh giá, chỉ biết đấy là một hiện tượng thường trực, chung nhất.

Khởi đầu từ tháng 9 và hiện đang kéo dài,.. một nhân vật đã gây nên bàn cãi qua các diễn đàn trên hệ thống NET mà danh tính xuất hiện thường xuyên trên trang nhất (và chiếm toàn phần 2, 3 trang trong) của Báo SàigònNhỏ (Nhật báo lẫn Tuần báo) đấy là Nguyễn Chí Thiện. Trước và song song với vụ việc nầy, ông thường có mặt nơi các diễn đàn, hội thảo chính trị.. Trở nên là đối tượng nhận được sự hoan nghêng, chào đón nồng nhiệt, lâu dài nhất so với những nhân vật được đám đông biết đến (cho dù là công dân, viên chức của VNCH) suốt từ thời gian ông đến đất Mỹ, 1995 đến nay, 2008. Nhưng đồng thời cũng gặp phải những chống đối do từ những cá nhân, tổ chức khác - Diễn tiến chống đối nầy có thể tóm tắt theo thứ tự giai đoạn và mang những hình thái, lý do như sau:

1. Giai đoạn 1995-1996: Sự chống đối, phủ nhận đầu tiên khởi từ người, tổ chức của báo Vạn Thắng (Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử Lê Tư Vinh, Washington DC giữ chức chủ nhiệm); hoặc những người viết như Duy Xuyên (Houston, Texas) với những lý do:

11. Nguyễn Chí Thiện có mặt nơi đất Mỹ (từ 1/11/1995) kia là một “cán bộ (tình báo) cộng sản” giả dạng. Người và tổ chức kể trên “khẳng định”: Có một Nguyễn Chí Thiện “thật”, tác giả tập thơ Vô Đề/Tiếng Vọng Từ Đáy Vực/Hoa Địa Ngục, nhưng người ấy đã bị (cộng sản) giết chết trong trại tù ở miền Bắc Việt Nam, và Nguyễn Chí Thiện “giả” hiện nay thay thế.

12. Tập thơ mang những tiêu đề khác nhau: Vô Đề/Tiếng Vọng Từ Đáy Vực/Hoa Địa Ngục.. trên có xuất xứ (từ tinh thần và nội dung) của Huyết Hoa, Đạo Trường Ngâm của Nhà Cách Mạng Thái Dịch Lý Đông A - Nguyễn Hữu Thanh (không rõ năm sinh), nhân vật lịch sử đã gia nhập tổ chức Phục Quốc của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để; thành lập Đại Việt Duy Dân tại Trung Hoa, 1941-1942; bị cộng sản giết năm 1946 cùng lần với nhiều thành viên Duy Dân. Phong trào còn lại những cán bộ cốt cán: Phạm Xuân Ninh, Giám đốc Thanh Niên Thể Thao Bắc Việt (1947); Lê Quang Luật, Đại Biểu Chính Phủ (1954); Nghiêm Xuân Thiện, chủ nhiệm báo Thời Luận (Sàigòn, 1963); Ngọc Hoài Phương, Chủ Nhiệm Báo Hồn Việt (CA) hiện nay lúc ấy giữ nhiệm vụ thư ký tòa soạn. Cao điểm của tố cáo nầy là một bài viết của Giáo sư Trần Ngọc Ninh đăng trên báo Vạn Thắng về sự mạo danh của NCT (dụng thơ của họ Lý). Sau đó, giáo sư TNNinh đã có lời đính chính về sự nhầm lẫn của mình.

13. Nhóm nầy đánh giá, Hoa Địa Ngục II (Hạt Máu Thơ), US.1996 chỉ là những “bài vè” (cốt để) nối kết giòng thơ “đánh tráo, giả danh” kể trên #12
Chúng tôi gọi nhóm nầy là “Nhóm chống đối/Lý Lịch/Chính Trị/Văn Học”.
2. Giai đoạn 2001-2008. Sau một thời gian im lặng khi báo Vạn Thắng không còn hoạt động, những thành viên gốc quân đội (Bạn thân, cùng khóa sĩ quan, cùng đơn vị nhảy dù với người viết-PNN) dần rời bỏ tổ chức. Những năm 2001, 2006.. vấn đề NCT dần trở lại khi ông ra mắt Hỏa Lò (Tập Truyện, NXB Cành Nam, TH/XB/MĐHK, VA, US. 2001), và quan trọng hơn là Hoa Địa Ngục Toàn Tập (NXB Cành Nam, TH/XB/MĐHK, VA, US.2006). Lần nầy, phía chống đối tấn công với ý hướng mới: Chấp nhận có một Nguyễn Chí Thiện “thật” do, từ lý lịch gia đình, cá nhân, nhưng vẫn không là “Nguyễn Chí Thiện thật của Hoa Địa Ngục (I) – Và thời điểm, sự kiện đưa tập thơ Vô Đề/Hoa Địa Ngục vào Sứ Quán Anh ngày 16/7/1979 cần phải được xác chứng lại để minh định: Ai là tác giả đích thực của những giòng thơ bi tráng hào hùng kia.

Năm 2008 vấn đề trở nên quan trọng hơn qua loạt bài của người viết tên là Trần Thanh, phổ biến trên hệ thống NET và gởi đến tòa sọan SGN (Garden Grove, Ca) khiến Chủ biên Hoàng Dược Thảo chú ý, dẫu “không hiểu tại sao có hiện tượng (xét lại thật hay giả)” nầy - Đào Nương, Những điều nên nói “Chuyện Dài..Ông Nguyễn Chí Thiện”, SGN số #14; 9/4/2008. Từ khởi đầu “không biết từ đâu” của ngày (9/4) trở thành biếm nhẻ “Thi Sĩ hay “Vè Sĩ” qua bài viết của Triệu Lan mà người chủ biên dẫu “không biết rõ xuất xứ” nhưng đánh giá, “những dẫn chứng (của người viết nầy-TL) thì rất xác đáng và hiện thực”. Và mong nhận được bài trả lời của ông NCT – Một người mà Đào Nương không xa lạ và (không) ác cảm gì. Báo số #21; 9/13. Sự cáo buộc không ngừng ở phạm vi chữ nghĩa (Thi sĩ/Vè sĩ -Thơ hay/Thơ dở), tiến tới đánh giá tư cách, tính hạnh của người gọi là “Thi sĩ/Vè sĩ” kia với xác định: “ông Nguyễn Chí thiện là một người gian dối, không lương thiện”; “Thi sĩ/Vè sĩ” thật chân tướng là “Láo Sĩ”. SGN số #32; ngày 9/28. Và cuối cùng, qua bài viết liên tiếp trong những số báo 32, 33, 34, 35, 36, 37.. với lời mời (mang nội dung, tinh thần có tính cách bắt buộc): Ông Nguyễn Chí Thiện (phải) chấp nhận một cuộc “giảo nghiệm chữ viết” để làm sáng tỏ một “Nghi Án Văn Học” – Ai là tác giả thực sự của Vô Đề/Hoa Địa Ngục/Tiếng Vọng Từ Đáy Vực – Tập thơ mà ông Nguyễn Chí Thiện (“thật” của hôm nay) đã đưa vào Tòa Đại Sứ Anh tại Hà Nội ngày 16/7/1979 mà hiện đã được Bộ Ngoại Giao Anh hoàn trả (Tổng Thư Ký Đinh Quang Anh Thái, Việt Tide, Westminster, Ca mang lại tại địa chỉ 4117 McFadden, Santa Ana 92714 #410 trao tận tay cho Ông Nguyễn Chí Thiện –PNN). Cuối cùng, vấn đề được bạch hóa không phải là văn học, thơ phú nữa, Nguyễn Chí Thiện “hiện nguyên hình với dấu ấn trên trán “Made in Yết Kiêu –Triệu Lan; SGN # 257; 10/4” – Có nghĩa, NCT là một cán bộ tình báo cộng sản được huấn luyện ở Trung tâm phản gián Yết Kiêu, Hà Nội. Hơn thế nữa, anh ông Thiện, Trung Tá Nguyễn Công Giân, Phòng II/BTTM/QLVNCH theo phát hiện “mới nhất” đã đi Hà Nội hai lần, 1958 và 1972 (ĐN, SGN # 37; 10/4). Và toàn bộ bài viết về, của NCT.. “sáng hôm nay (10/5) trên Web Site của giáo sư Dan Ruffy (ĐH/Yale), và giáo sư Jean Libby (ĐH/Berkely) đã bị xóa đi.. NCT hẳn đã biết số phận mình sẽ ra sao vì, “tôi (ĐN) nghĩ giới hữu trách Hoa Kỳ đã biết ai là giả ai là thật rồi..” (Bold, Italic trong nguyên bản).

Song song cùng lần với vụ việc (nêu trên) của SGN, có những bài viết khác trên hệ thống NET (tháng 8, 9/2008) điễn hình với Tôn Nữ Hoàng Hoa (Texas), Thế Huy (Pháp).. qua phân tích kỹ thuật làm thơ, tu từ, tượng trưng, hư cấu của Nguyễn Chí Thiện trong Hoa Địa Ngục (I), so với Hoa Địa Ngục (II, Hạt Máu Thơ).. Những người nầy đồng kết luận: Nguyễn Chí Thiện “thật” đang hiện diện (giữa cộng đồng) nhưng không thể là “tác giả của Hoa Địa Ngục (I) – Tác phẩm nầy “phải” là của một tác giả Vô Danh.
Chúng ta có thể gọi khuynh hướng chống đối trên đây là: “Nhóm chống đối/Văn Học/Chính Trị”.

3. Nhóm chống đối/Thuần túy chính trị. Ngoài hai nhóm chống đối kể trên, có những người viết khác, như Nguyễn Văn Chức (Houston, Texas); Đặng Văn Nhâm (Đan Mạch).. cũng thường xuyên nhập trận với những phê phán nặng nề về quan điểm, thái độ, hành vi chính trị của NCT. Những tác giả nầy không chú ý đến yếu tố lý lịch cá nhân, những nội dung (thơ, truyện) do NCT viết nên nhưng đồng có chung một quy kết nhất định (bất khả tương nghị): Nguyễn Chí Thiện là cán bộ “cộng sản nằm vùng”, hoặc là một tên “trá hàng” trong hàng ngũ cộng đồng người Việt hải ngoại do Hà Nội bí mật gài vào qua thủ tục nhập cư hợp pháp ở Mỹ. Cách quy chụp nầy không trưng một bằng chứng cụ thể nào, thiếu tính lý luận, cố ý tấn công, mạt sát cá nhân NCT nên chúng tôi sẽ không đề cập trong bài viết nầy.

Tóm lại, do có những quan hệ cụ thể (tinh thần và vật chất) với Nguyễn Chí Thiện trong một thời gian gian dài (từ 2001), và nay ông ta đã rời khỏi nơi trú ngụ chung (4117 McFadden, Santa Ana 92714 #410 từ 7/2008), nên chúng tôi nhận thấy đã đến lúc có đủ yếu tố khách quan để khỏi mang tiếng “cố ý bênh người cùng nhà” – Đồng thời cũng do quan niệm “phải nói lên những điều nên nói..” như báo SàigònNhỏ hằng chủ trương thực hiện giữa “Người Việt Nam không cộng sản”. Lời cuối cùng, dẫu có thể dư thừa nhưng cũng phải xác định thêm một lần: Chúng tôi không ám chỉ, quy chụp những đối tượng nhắc đến trong bài viết là “cộng sản/cộng sản nằm vùng/ tay sai cộng sản” như thói quen quy kết, chụp mũ rất đáng chê trách trong cung cách sinh hoạt chính trị thiếu tính dân chủ và lòng tự trọng (trọng mình và trọng người) thường xẩy ra giữa những cá nhân/tổ chức người Việt”.. Mà chỉ do nhu cầu cần làm sáng tỏ những vấn đề từ những cá nhân/cơ quan nầy đặt nên. Chúng tôi không thực hiện lần “binh hay chống” một cá nhân tên gọi Nguyễn Chí Thiện – Nhưng xử dụng chữ nghĩa, tài liệu (hiện có) để trình bày về Một Sự Thật – Và Sự Thật luôn là điều Hợp Lý.

Và thật lòng mong muốn sau bài viết nầy; lần trình chiếu hai Talk Show của Chu Tất Tiến (đã thâu hình) trên hệ thống SBTN (Đề cập đến người/việc liên quan sự kiện NCT); lần hoàn tất thủ tục Giảo Nghiệm Chữ Viết do Chuyên Viên Giám Tự dự trù (nếu được) thực hiện giữa Ông Nguyễn Chí Thiện và Báo Sàigòn Nhỏ - Vấn đề ắc sẽ có một kết luận chung nhất, cuối cùng - Nguyễn Chí Thiện, Ông là Ai? Ai là Thực Tác Giả của tập thơ Vô Đề/Hoa Địa Ngục (I)/Tiếng Vọng Từ Đáy Vực?Lần đưa tập thơ vào Tòa Đại Sứ Anh (16/7/1979) đã (thực) xẩy ra như thế nào? Và tại sao ĐÃ xẫy ra hiện tượng chống đối hôm nay? Tất cả để dồn sức mạnh tổng hợp của Cộng Đồng Hải Ngoại vào những mục tiêu: Hệ thống gọi là cộng sản hiện cầm quyền tại Hà Nội (qua hiện tượng đàn áp Khu Nhà Chung Thái Hà); Và cấp thiết hơn nữa là sự đe dọa (rất có khả năng ) đến từ Bắc Kinh với đất, biển quê hương càng ngày càng bị đe dọa, thâu hẹp lại.. Mong lắm thay.

II. Nguyễn Chí Thiện,

Người Có Thực giữa những người chịu khổ nạn không chấp nhận chế độ cộng sản

1. Về lý lịch, gia cảnh:

11. Nguyễn Chí Thiện, sinh năm 1939, chánh quán Thôn Thượng Thọ, Xã Mỹ Thọ, Huyện Bình Lục, Tỉnh Hà Nam, con Cụ Đồ Nguyễn Công Phụng. Điều nầy được xác nhận không phải ai khác mà là chính người đã mạt sát NCT thậm tệ qua bài đăng trên NET ngày 4/10/08 - Đặng Văn Nhâm: “Đúng, tên Nguyễn Chí Thiện là thật, thật 100%.. Nhưng..” ĐVNhâm xác nhận với Nguyễn Thanh Hùng (Dallas, TX), người thân cận “mầy tao chi tớ” với ĐVN, cũng là người cùng quê với NCTh từ tấm bé. Xác nhận còn nói rõ: “Nó (NCT) thua mầy với tao sáu tuổi (Sinh 1939- pnn)”. NCThiện và NTHùng vẫn giữ nguyên liên lạc (qua điện thoại), hoặc gặp mặt (Lần NCT ra mắt sách Hỏa Lò tại Hội Quán Little Sàigòn, 5/2006). NTHùng là người đọc bài văn tế Chiến Sĩ Trận Vong trong buổi lễ Ngày Tù Nhân Chính Trị VNCH tại Dallas, 4 tháng 10, 2008 vừa qua.

12. NCT sinh tại Phố Lò Đúc (Hà Nội), năm 1957 theo gia đình dọn hẳn về Hải Phòng. Nhưng không phải chỉ đến 1957 NCT mới đi Hải Phòng, cuối năm 1954 đã một lần xuống đấy để đưa người bạn thiếu thời đi Nam: Nguyễn Ngọc Bội (Giáo sư văn hóa Võ Bị Đà Lạt trước 1975); hiện ngụ tại Westminster, CA.

2. Về liên hệ nơi trại tù:

21. Đợt tù đầu tiên (1961-1964/Trại Phú Thọ) do Án Lệnh Tập Trung Cải Tạo (Ba năm/Một lệnh tập trung) bắt đầu áp dụng cho toàn Miền Bắc (vẫn tiếp áp dụng cho cả nước sau 1975) từ Sắc Lệnh “An Ninh Tổ Quốc” - Biện pháp chuyên chế (bắt giam người vô thời hạn không cần án lệnh của tòa) được thi hành sau Đại Hội 3 Trung Ương Đảng (5/1960), tiến tới lần thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (20/11/1960). Lần đi tù nầy gặp Nguyễn Văn Phổ (Con Cụ Nguyễn Văn Vĩnh – Một trong bốn nhà văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ: Phạm Quỳnh-Nguyễn Văn Vĩnh-Phạm Duy Tốn-Nguyễn Văn Tố); Trần Thiếu Bảo, NXB Minh Đức, Hà Nội, nhà in ấn hành Nhân Văn-Giai Phẩm.

22. Lần tù thứ hai (1966-77/Phần lớn thời gian bị giam ở Trại Thanh Phong, Yên Bái), chung với các bạn tù:
- Cụ Vũ Thế Hùng (Nhân sĩ Hà Nội trước 1954); thân phụ Linh Mục Vũ Khởi Phụng (hiện tại là một trong những vị chủ chăn ở Thái Hà); Bà Vũ Triều Nghi (hiện là cư dân San José, Ca). Bà VTNghi đã về VN sau 1991 thăm cụ VTHùng, gặp NCThiện, Phùng Cung.
- Các bạn văn, Phùng Cung, Vũ Thư Hiên (Tù miền Bắc thuộc diện “chống đối văn hóa”)
- Các biệt kích miền Nam, Nguyễn Hữu Luyện, Đặng Chí Bình, Lưu Nghĩa Lương, Lê Văn Bưởi (người biệt kích kiên cường vượt sông Bến Hai ra Bắc từ 6/1961).. Những người thuộc “Nhóm BK – đọc là Bê-Ka/Biệt Kích” sau 1977 chuyển về Trại 5 Lam Sơn, Thanh Hóa (Tại trại nầy, người viết (Pnn) lần đầu nghe chuyện kể về NCT: “Đi tù do tội bị “nghi” làm thơ chống đối chế độ (Diện văn hóa)”; chưa xẩy ra vụ việc đưa thơ vào Toà Đại Sứ Anh, 16/7/1979”. Buổi Hội Ngộ Biệt Kích Quân (7/7/2007) tại nhà hàng Emerald Bay (Fountain Valley, Ca), NCT được mời phát biểu về Tinh Thần/Khí Phách của Người Lính Biệt Kích (DVD Đại Hội Biệt Kích ND), ngồi cùng bàn khách danh dự với các ông Vũ Quang Ninh, Nguyễn Hữu Luyện. BK/LNLương (hiện ngụ tại 4117 McFadden, Santa Ana 92714 # 19) vẫn thường giúp đở, đưa đón NCT trong các sinh hoạt hằng ngày do quý trọng phẩm chất, tư cách của NCT thực chứng nơi trại giam từ 30 hơn năm trước.

23. Lần đi tù thứ ba (1979-1991). Lần đi tù nầy chuyển qua nhiều trại: Hỏa Lò (Hà Nội);Thanh Phong, Thanh Cẩm (Thanh Hóa); Thanh Liệt (Hà Đông).. Tại trại Ba Sao (Nam Hà), Hà Nam Ninh, NCT ở tù chung với Linh Mục Nguyễn Văn Lý (Cha Lý chuyển đến trại nầy ngày 8/1/1988 từ trại Thanh Cẩm chung cùm tay (hai người một cùm) với người viết-Pnn)

3. Về diễn tiến thủ tục nhập cư vào Mỹ:

31. 11/1995, Nguyễn Chí Thiện đến Mỹ do vận động của Bác Sĩ Norobu Masuoka (Hiện ở San José, Đặc phái viên của chính phủ Mỹ phụ trách những tù nhân đặc biệt), người đã thành công đưa được Thiếu Tá Nguyễn Quý An, (phi công trực thăng bị thương nặng mất hai tay khi cố cứu viên phi công Mỹ); nhà văn Đặng Chí Bình qua Mỹ trong dịp Tết 1993/1994. Đặng Chí Bình, điễn hình thành phần biệt kích bị bắt trước 1968 (không được trao trả theo điều khoản của Hiệp Định Paris 1973 vì khi xâm nhập ra Bắc họ phải giải ngũ khỏi QL/VNCH) chỉ đến Mỹ được bởi kết quả từ vận động nầy (Trước đợt vận động quy mô của Sedgwick Tourison để đưa toàn bộ Biệt Kích Quân VN qua Mỹ). Và cụ thể hơn hết, Đại Tá Norobu Masuoka là người đã vận động đưa Trung Tá Bùi Quyền qua Mỹ gặp Tổng Thống Bush (Bố). Trung Tá Quyền, thủ khoa Khóa 16 Trường Võ Bị Đà Lạt, nguyên tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 ND, Lữ Đoàn Phó Lữ Đoàn 2 Dù cho đến Ngày 30 Tháng 4, 1975. Trung Tá Quyền có người con chung khóa phi hành với cựu Tổng Thống Bush (con) ở Texas.

32. Hồ sơ nhập cư INS do người anh ruột thiết lập - Trung Tá Nguyễn Công Giân, Sĩ Quan Quân Báo/Phòng 7/BTTM/QLVNCH, Khóa 4 Thủ Đức (1954). Ông Giân cùng khóa với Cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng (NCTh đã nhiều lần cùng người anh đến thăm viếng TrTướng NQTrưởng khi người còn sinh tiền); gia đình Trung Tá Giân hiện ngụ tại 11XX Alabama, Hendron, VA 20170. Và cuối cùng, Trung Tá Giân là bạn đồng nhiệm sở tình báo với Đại Tá Lê Đạt Công, Trưởng Phòng 2/Quân Đoàn III- Nhạc phụ của chính cá nhân người viết–PNN.

Từ những yếu tố khách quan, cụ thể kể trên kéo dài từ năm sinh 1939 dài đến hôm nay (2008) với chứng kiến/sống cùng của những bạn hữu thời thơ ấu: Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Ngọc Bội; những bạn văn: Phùng Cung, Nguyễn Hữu Đang, Vũ Thư Hiên; bạn tù: Phan Hữu Văn, Vương Long, Kiều Duy Vĩnh (Sĩ quan Quân Đội Quốc Gia bị tập trung cải tạo sau 1954 ở miền Bắc); Nguyễn Hữu Luyện, Lưu Nghĩa Lương, Đặng Chí Bình.. (Biệt Kích VNCH bị bắt trước 1975); Võ Đại Tôn (sau 1975); LM Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Hữu Lễ (Những người tù lương tâm miền Nam bị tù sau 1975).. Và trong thời gian 13 năm nơi hải ngoại (tính đến tháng 8/2008) giữa cộng đồng Người Việt khắp trên thế giới, với những nhân vật thuộc giới văn hóa, chính trị toàn cầu – Nguyễn Chí Thiện thật sự (đầy đủ) xác chứng với chúng ta – Ông là một điễn hình của Lương Tâm, Bản Lãnh Việt Nam tranh đấu cho Tự Do và Dân Chủ.

Cuối cùng, nếu như những yếu tố trên chưa thuyết phục được sự công nhận về chứng chỉ, lý lịch, việc làm của Nguyễn Chí Thiện, chúng tôi xin trình bày biện pháp, yếu tố pháp lý, sự kiện thực tế hầu có kết thúc quyết định vấn đề nầy.

- Xin thông báo đến đến cơ quan FBI về lần nhập cư bất hợp pháp của một “cán bộ (tình báo văn hóa) cộng sản” giả danh Nguyễn Chí Thiện, vì luật pháp Mỹ vẫn còn rất nhiều ràng buộc đối với đảng viên đảng cộng sản khi nhập cư, lúc thiết lập chứng chỉ Thường Trú Nhân, khi tuyên thệ vào quốc tịch. Trong những ngày tới, chúng ta, cư dân tỵ nạn cộng sản của Tiểu Bang California sẽ chuẩn bị đối phó với Dự Luật SB 1322 nhằm hủy bỏ những điều khoản “Cấm hoạt động cộng sản trong trường học.”

- Giáo sư Jean Libby, Đại Học Berkely (CA) đã hoàn tất phần giảo nghiệm hình ảnh của Nguyễn Chí Thiện qua so sánh giữa những bức hình: Một của Nguyễn Chí Thiện tuổi thanh niên (Phụ bản bìa tập thơ Hoa Địa Ngục I) và những ảnh chụp năm 2006 do chính bà bấm máy. Bản kết quả giảo nghiệm thực hiện bởi Viện Giảo Nghiệm Stutchman, 421 Walnut Street, #120, Napa, CA 94559 kết luận: “Có 8 điểm dị biệt đặc thù phân bố trên mặt và trên tai của người đàn ông trong hai tấm hình #1 và #2 và hình in trên bìa sách. Căn cứ trên sự xét đoán, so sánh, và phân tích của bản thân cá nhân, thì tôi có nhận định rằng: Người đàn ông trong những tấm hình chỉ là một người” (Chúng tôi đính kèm bản kết văn quả giảo nghiệm. Về những tấm hình giảo nghiệm, NCT đã trình bày trong một cuộc họp báo chính thức ở khách sạn Ramada, Garden Grove, CA. Pnn).

Cuộc giảo nghiệm do đích thân giáo sư Jean Libby lập thủ tục tiến hành (Ngày 3 Tháng 8/2006), vì dẫu rất mến mộ tư cách cá nhân cũng như tài năng của NCT nhưng do tinh thần làm việc thực tế, chính xác của người Mỹ, bà muốn có bảo đảm về lý lịch Nguyễn Chí Thiện (nhỡ sau nầy có những tranh tụng về pháp lý – Như hiện nay đang xẩy ra với vụ việc SGN) trước khi Đại Học Yale tiến hành việc in Hỏa Lò dịch sang Anh Ngữ. Cũng bởi, người Mỹ với tính thuần lý và tâm lý thực tiễn, họ không nghĩ một con người như thế mà sống sót sau 27 năm tù.. Lại là tù cộng sản Việt Nam, mà không những chỉ sống sót mà còn viết văn, làm thơ. Nghi ngờ cũng hợp lý đối với những người (dẫu) có hảo ý khác. Và nếu người viết không lầm đó cũng là ý hướng đầu tiên của Báo SàigònNhỏ với Chủ Nhiệm Hoàng Dược Thảo, nhưng qua đến tháng 10/2008 vấn đề tập thơ và sự việc đã được (hay bị) đẩy đi quá xa theo một hướng khác. Chúng tôi trình bày tiếp theo sau.

III. Nguyễn Chí “Thật”/Sống Sót và Nguyễn Chí Thiện “Giả”/Thơ Văn

Khi bắt đầu bài viết, chúng tôi có ý nghĩ, sự việc sẽ được giải tỏa toàn diện khi NCT trình bày bản thảo viết tay (mà bản thân đã xem qua tại nhà riêng, 4117 McFadden #410, Santa Ana trước ngày ông Thiện dọn ra) nhận được từ tay Đinh Quang Anh Thái (7/2008) trước một cử tọa đông đảo thuộc giới truyền thông báo chí (lẽ tất nhiên có tham dự của SGN). Ý nghĩ nầy càng thêm cụ thể khi bài viết của Tràn Phong Vũ được phổ biến (Người Việt, 10/6; trên hệ thống NET, 10/4).. Nhưng sự việc không còn giới hạn trong phạm vi thơ văn nữa (Về vấn đề “Ai là tác giả “thật” của Thơ Vô Đề”) mà đã qua một lĩnh vực khác với những khẳng định về tư cách, hành vi chính trị của NCT với những phát hiện mới của SGN (ĐN (nt, #37). Bài viết nầy cần phải viết thêm phần ba để nêu rõ hơn về diễn tiến của Người (NCT) và Việc (Thơ Vô Đề). Nếu những luận cứ cáo buộc trình bày sau đây mâu thuẫn với nhau (Thật/Giả chen lẫn) là do: 1/Những người (tố cáo) viết nhiều “nội dung/cách thức” khác (biệt) với nhau cho dù cùng nhắm đến một đối tượng duy nhất: NCT và Tập Thơ Vô Đề. 2/Bài họ viết tại những thời điểm khác nhau. 3/Những người nầy trích giải “Thơ Vô Danh/Vè NCT” do những mục đích khác nhau. Chúng tôi (Pnn) chỉ là người ghi lại.

Sau đây là những cáo buộc căn cứ từ lời Thơ (Có lúc được xem như là “thật” của NCT; có lúc được gọi là của Vô Danh) Tất cả đồng có mục đích chung kết với ba cáo buộc (không rơi vào một trường hợp nầy thì (phải) rơi vào một “xác định” khác): 1/Đấy là một Nguyễn Chí Thiện “giả”. 2/Nếu là Nguyễn Chí Thiện “thật” thì (lại) mang tội dùng Thơ “thật” của Vô Danh. 3/Nếu là thơ “thật” của NCT “thật” thì thơ đó (phải) gọi là “Vè” Tóm lại NCT (hiện sống) trước sau chỉ là một “cán bộ tình báo cộng sản trá hình”, làm vè cốt để đóng trọn vai trò của một “Thi Sĩ tên gọi Vô Danh (?) kiên cường chống cộng mà nay đã bị giết chết/hoặcbiến mất đâu đó từ một lúc nào không ai xác định (1979?) – Một thi sĩ có ba điều Không: Không tính danh/Không xuất xứ/Không có liên hệ với bất cứ ai đang còn sống, đang viết báo”. Không một ai trong số những kẻ dựng nên vấn nạn Thật/Giả nầy đã một lần nghe, thấy, biết gì về một KẺ VÔ DANH GỌI LÀ NGUYỄN CHÍ THIỆN (THẬT) ấy. Ông Vô Danh xin hãy một lần lên tiếng để nhận lại tất cả những gì mà Nguyễn Chí Thiện (Giả) đã mạo danh ông để chiếm đoạt.

Chúng ta cùng lượt qua những luận cứ cáo buộc.

31: Cáo buộc thứ nhất về xuất xứ: Báo Vạn Thắng (Lê Tư Vinh Chủ nhiệm), thời điểm 1995, 1996 cho rằng, Nguyễn Chí Thiện là “cán bộ tình báo cộng sản giả dạng”mạo Thơ Huyết Hoa, Đạo Trường Ngâm của Thái Dịch Lý Đông A. Cáo buộc nầy không thể đứng vững vì Nhà Cách Mạng Lý Đông A bị cộng sản giết từ 1946. Thơ của họ Lý mang không khí lãng mạng, hùng tráng cổ điển: Ta về đây đứng bên bờ thác Nậm. Mặc heo may hun hút gió hờn oan.. Thơ (“tạm” gọi là) của NCT thì đề cập đến thời sự: Khi Mỹ chạy bỏ Miền Nam cho cộng sản.. Cả nước thu về một mối. Một mối hận thù. Một mối đau thương (1975). Hoặc miêu tả thực tế đời sống lao tù: Thơ của tôi không phải là thơ.. Tiếng cửa nhà giam đen ngòm khép mở.. (1970)

32: Cáo buộc thứ hai về thể chất: Thơ (cứ xem như “thật” của NCT) nhưng lại không phù hợp với thực tế thể chất của NCT (hiện sống): Thơ của tôi không có gì là đẹp.. Như cướp vồ, cùm kẹp, máu ho lao.. Căn cứ vào những giòng thơ nầy, có những tố cáo từ nhiều người: 1/TNHHoa (Houston, TX): Nguyễn Chí Thiện không ho lao, NCT khoẻ mạnh, béo tốt.. 2/Trần Thanh: Nghi vấn về sức khoẻ (Ông Thiện dỏm rất khoẻ mạnh chớ không bị ho lao..) ĐN trích đăng NĐNN: SGN số # 14; 9/4). 3/Triệu Lan: “thi sĩ, văn sĩ, vè sĩ” Nguyễn Chí Thiện “mang bệnh” ung thư phổi, ho lao, ung thư và bị “tù” 27 năm.. nhưng khi NCT bước chân xuống Hoa Kỳ ngày1/11/1995 trông Thiện phương phi, khoẻ mạnh, với y phục thời trang veston, áo pullover.. như một “lãnh tụ” phường tuồng.. (SGN # 527; 10/4).. Chúng tôi có thể trích dẫn thêm nhiều cáo buộc về “thể chất” về NCT “dỏm” nữa, những nghĩ đã đủ.
Những suy diễn cáo buộc trên không đúng vì: 1/NCT thật có bị bệnh phổi nhưng ĐÃ CHỮA TRỊ XONG cơ quan IOM mới cho nhập cảnh Mỹ. Y chứng NCT còn sẹo ở phổi, phải chữa trị tiếp trong thời gian ở DC (1995/1996). Và lần ra đi 2 tháng 10 năm 2012 nầy y chứng đã xác nhận do phổi bị thoái hóa, đóng xơ cứng do di căn từ lao phổi trước kia. 2/Những từ ngữ “trào máu; ho lao; gông cùm; cùm kẹp..” thường dùng để chỉ tình trạng tồi tệ về thể chất bị đầy ải mà bất cứ ai khi mô tả, nói về ngục tù cộng sản cũng đều xử dụng đến. 3/Thơ không là hồ sơ y bạ, tiểu thuyết cũng thế.. Nhất Linh viết Bướm Trắng với nhân vật chính bị bệnh lao không bắt buộc văn hào họ Nguyễn phải có bịnh phổi. Thanh Tâm Tuyền viết Ung Thư; Solzhenitsyn viết Cancer Ward, chẳng lẽ phải mắc bệnh ung thư? Họa chăng chỉ riêng trường hợp Hàn Mặc Tử với căn bịnh nan y của ông. Quách Thoại chết năm 28 tuổi (1957) vì bệnh lao, nhưng không hề viết một câu thơ liên quan đến máu me, lao phổi mà chỉ viết nên những lời thơ hùng tráng: Trước mặt là cộng sản. Sau lưng là nội thù. Một mình tôi đứng giữa..4/Thơ (tiểu thuyết cũng thế) không bắt buộc phản ảnh đúng tình cảnh, sinh hoạt thực tế vật chất, tinh thần của người viết nên những nội dung văn, thơ ấy.. Tìm đâu ra một một người gọi là Từ Hải như Nguyễn Du mô tả: Râu hùm hàm én.. Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.. Nguyễn Du lại càng không phải dạng hình hùng vĩ nầy. Vũ Trọng Phụng là nhà văn mực thước, cổ điển, ông không dính dấp gì đến những nhân vật quỷ quái của Số Đỏ. 5/Nguyễn Chí Thiện không là người “khoẻ mạnh, phương phi”.. Những tỉnh từ nầy phải kể về Đại Úy Biệt Kích Nguyễn Hữu Luyện (tù 21 năm, 4 tháng, 14 ngày); tù hơn 16 năm: Thiếu Tướng Tư Lệnh Lê Minh Đảo, Trung Tá Tình Báo Trần Duy Hinh (Hãy nhìn Nhà Văn Thảo Trường, chiến hữu rất đáng hãnh diện của tất cả Người Lính VNCH. Không ai có thể nghĩ rằng đấy là người đã qua hẳn bên kia cái chết tại trại tù Hàm Tân, 1988). Những người tù tồn tại bền bỉ (trong nhà giam cộng sản) không do từ sức mạnh cơ bắp, nhưng từ chiếc đầu nung lửa ý chí của họ. Chỉ có những kẻ hèn kém mới ngã gục, quy hàng trước đói khổ của lao tù do cai ngục cộng sản dựng nên (Kẻ ấy là ai, cuối bài, phần kết luận chúng tôi sẽ chỉ ra, trước đây ở Trại Z30D, Hàm Tân, Thuận Hải). Và cuối cùng, NCT ăn mặc bảnh bao (suy diễn ra do được tình báo cộng sản cung cấp?!).. Chỉ với vài đồng, một, hai chục, chứ không cần phải bạc trăm, bước vào những khu Outlet, hoặc cơ sở bán đồ Clearance, Goodwill.. Tất cả sẽ có đủ. Chúng ta có thể hiểu, kẻ viết nên những cáo buộc mang tính săm soi nhỏ nhặt nầy đang ở Anh, ở Pháp nơi Tây Âu tàn lụi, hết là những “cường quốc thực dân”.

33. Cáo buộc về mâu thuẩn thân thế, tuổi tác, thời điểm sáng tác. Phần nầy, những người nêu cáo buộc căn cứ những câu.. “Tuổi hai mươi, tuổi bước vào đời.. Tuổi đôi mươi nhìn đời thơ dại.. Ngỡ cờ sao rực rỡ..” nên đề quyết rằng: Phải hai mươi tuổi mới làm những câu thơ hàm xúc ấy trong dịp xẩy ra sự kiện 2/9/1945 – Năm 1945 NCT mới 6 tuổi (sinh 1939) – Vậy, Thơ ấy phải do Tác Giả (tên gọi là) Vô Danh. Quả thật, chúng tôi vô cùng não nề khi viết đến những giòng nầy bởi đang phải nói với những con người “quái đản”, đề cập những câu chuyện tầm phào, kiểu cải cọ lý sự những anh tổng lý bang bạnh đâu từ nông thôn miền Bắc đầu thế kỷ 20.. Bởi, Thơ không hề là Bản Biên Niên sự kiện chính trị, quân sự, xã hội, ngay cả tiểu thuyết lịch sử cũng không hẳn là phải thế. Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902-1977) viết sách Vua Quang Trung đâu phải là người đã tham dự xung trận Hà Hồi (1789); Vũ Hoàng Chương mô tả giờ phút hiễn linh Thượng Tọa Thích Quảng Đức hóa thân trong lửa không hề có mặt tại ngã tư Lê Văn Duyệt-Phan Đình Phùng, Sàigòn ngày 11/6/1963. Solzhenitsyn sinh 1918 viết August 1914 để gióng lên phần khởi đầu của cách mạng vô sản 1917. Cũng thế, bản thân cá nhân có đủ thẫm quyền (nếu muốn) để viết về Di Cư 1954 dẫu rằng năm ấy còn trong tuổi thiếu niên đang ở Đà Nẵng. Cáo buộc như thế để làm gì? Viết hai ba trang báo dựng nên những cái gọi là “luận chứng”: Ở Hà Nội năm 1959 không thể có sinh hoạt (qua hồi tưởng của NCT).. Mùa hè ăn bánh tôm bên Hồ Tây. Cô bạn ngồi bên như nàng tiên vậy.. để viết lung tung trong một loạt bài viết tố cáo càng ngày càng lộ cách mạ lý, vu khống, chụp mũ (sẽ nói ra ở phần kết luận tiếp theo sau). Hoặc “phân tích”: “Ở đất Bắc, thời đó (trước 1954 -pnn) người thanh niên có học, gia đình nề nếp, biết uống rượu, có bạn gái phải là tuổi trên dưới 20..” (Thế Huy, SGN #33; 10/01). Trời đất, vậy phải trình ra Bằng Lái Xe (nếu ở Mỹ), hoặc Chứng Chỉ Căn Cước (VN) trước khi viết thơ về rượu, người bạn gái sao? Chúng tôi có thể nêu danh tính hằng loạt bằng hữu (những người sinh khoảng trước, sau 40) đã ăn bánh tôm, có bạn gái, cùng đi chơi bờ hồ (trước 1954) ở Hà Nội.. để thời gian sau có thể viết về kỷ niệm nầy bất cứ ở đâu, ngay bây giờ năm 2008 ở Mỹ. Và cũng không cần nữa, ai cấm Dương Nghiễm Mậu viết “Quảng Trị, Đất Đợi Về (1972)” và Nguyễn Mạnh Trinh viết “Huế, nơi tôi chưa tới..” khi Phí Ích Nghiễm đang ở Sàigòn và NMTrinh biệt phái hành quân chỉ ở Pleiku. Và cô gái Đi Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp vừa đủ 15 tuổi; hai cô Kiều của Nguyễn Du chỉ mới đến “tuần cập kê”.. Vậy chẳng lẻ những thiếu nữ lẫy lừng trong văn học, thi ca nầy không là con nhà nềnne61p hay sao? Và dù là người trong chế độ cộng sản đi chăng nữa, Dư Thị Hoài vẫn còn khả năng/đầy đủ quyền tự do sáng tác để viết nên những câu thơ thăm thẳm cảm tính, ăm ắp thương yêu: Một lần như đêm nay. Sau phút giây. Êm đềm trên ghế đá. Anh không cài lại khuy ngực áo cho em.. (Văn Nghệ, Hà Nội; Số tháng 7/1988) Thế nên không ai có thể truy kết: Dư thị Hoài không là “con nhà nề nếp” vì đã viết .

34. Cáo buộc về thay đổi thể thơ: Trước (Thi Sĩ Vô Danh) làm thơ dài câu, có nhạc điệu, thi tính cao, khẩu khí hùng tráng.. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó. (1968); Sau nầy (“Vè Sĩ” NCT) chỉ có những câu ngắn như vè.. Dầu đầu bạc. Dù đói rạc. Dù lực tàn. Vẫn bền gan.. (1988). (Thế Huy, SGN #33; 10/01). Chúng tôi có nhận xét từ kinh nghiệm 40 năm cầm bút, đọc sách: Thơ hay/Thơ dở không có nguyên tắc cố định nào để xét nghiệm; người làm thơ một đời chỉ để lại vài câu được đời sau nhớ đến. Anh cũng không thể buộc người khác đồng ý với cách anh bình giải về thơ của một người thứ ba cho dù anh có đủ tư cách của người phê bình văn học lão luyện được xác chứng bởi độc giả qua tác phẩm, quá trình hoạt động trong lĩnh vực văn hóa. Anh càng không có một khả năng nào buộc người khác phải viết và diễn đạt THƠ (của người ta) theo “quan điểm chính trị” của anh?! Ở đâu phát sinh quyền “ngự sử văn nghệ” nơi thế kỷ 21 mà thực chất chỉ là loại “chữ nghĩa” mang ác tâm từ những người gọi là “kẻ nghiên cứu ti tiểu” nầy. Nhưng, NCT cũng đã “làm vè” từ 1970.. Vợ con có thể bỏ. Cha mẹ có thể từ. Cộng sản thời sinh tử.. Vậy đây là thơ hay vè? Tôi chúng xin trả lời ngay theo ý các anh: Thơ của Vô Danh/Vè của NCT. Xin mách thêm: Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền cũng làm rất nhiều vè khi đi tù vác nứa ở Yên Bái. Chúng tôi ngừng trò vui nơi đây để đề cập đến một màn hài hước cuối cùng..

35. Cáo buộc từ khi ra hải ngoại (1995) không còn (khả năng) làm thơ. Cáo buộc nầy được lập đi lập lại bởi nhiều người do căn cứ trên thực tế: NCT viết tập truyện Hỏa Lò (2006) thay vì tiếp tục làm thơ – Vậy thơ Vô Đề hùng tráng trước kia chỉ là của Tác Giả (tên gọi) Vô Danh – Khẳng định nầy có tính chung quyết. Chúng tôi bổ tức thêm vào luận chứng nầy những cớ chứng: Sau những câu Thơ Lịch Sử: Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư. Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư.. Danh Tướng Lý Thường Kiệt không làm một câu thơ nào nữa! Và nơi vùng Nam Cali nầy, chúng ta phải trả lời sao về trường hợp các Thi Sĩ (Thật Thi Sĩ) tên gọi Trần Dạ Từ, Trần Thị Thu Vân, Đỗ Quý Toàn, Hoàng Khởi Phong, Nguyễn Đình Toàn.. ba mươi ba năm không (tiếp tục) làm thơ nơi đất Mỹ?! Và sau đỉnh cao Ta Về thì Tô Thùy Yên hình như cũng cất bút.. Như vậy là thế nào? Và không những đối với Thơ, những bạn của chúng ta, Vũ Thành An, Từ Công Phụng.. những giòng nhạc trữ tình bất diệt của Miền Nam đã viết gì về tình yêu sau mấy mươi năm ở Mỹ? Và trái lại, chỉ khi trên đất Mỹ, vào buổi cuối đời Mai thảo, Võ Phiến mới làm thơ.. Vậy trước kia họ là ai? Chúng tôi không đủ cố gắng để kéo dài thêm màn khôi hài rất nhạt do những kẻ tiểu tâm, trí đoản.

IV. Kết Luận. Trước khi bài viết kết thúc, chúng tôi xin trưng một tài liệu liên quan đến vụ việc (NCT/Giả/Thật/Thi Sĩ/Vè Sĩ) và một đề nghị. Tài liệu ấy là: Chứng Thư của Chuyên Viên Khảo Nghiệm Thủ Bút Dorothy Brinkerhoff (Trung Tâm Giảo Nghiệm Quốc Gia) Văn Phòng 4316 Boyar Ave, Long Beach, CA90807 gởi đến Ông Joe Nguyễn (Giáo sư, Nhà báo Nguyễn Sỹ Hưng) 3024 East Anaheim, Long Beach, Ca 90804. Chứng Thư có kết luận như sau: “Căn cứ vào những điểm tương đồng trọng yếu giữa tài liệu cần giảo nghiệm trong Văn Bản A và những mẫu ghi chép trong Văn Bản B, theo ý kiến của cá nhân tôi, người viết (cần được minh chứng) viết Văn Bản A và những ghi chép trong Văn Bản B có những điểm tương đồng thích ứng với nhau và chỉ do một người viết.” Chứng Thư Giảo Nghiệm Thủ Bút do Nhà báo, Nhà giáo Nguyễn Sỹ Hưng yêu cầu trung tâm giảo nghiệm thực hiện từ tháng 11/1995 căn cứ trên hai văn bản: Bản A gồm Lá Thư viết bằng Pháp Ngữ trang đầu tập thơ đưa vào Toà Đại Sứ Anh ở Hà Nội ngày 16/7/1979, và photocopy bản viết tay bài thơ Đồng Lầy, bài thơ Trang 21/Đánh số 34. Bản B là photocopy thư viết tay ký tên Chí Thiện gởi đồng bào hải ngoại 11/1995, tuần lễ thứ hai sau khi đến Mỹ của người có tên Nguyễn Chí Thiện. Nhà báo, Nhà giáo Nguyễn Sỹ Hưng do tính thận trọng đã giảo chứng thủ bút của NCT để có xác tín đối với lý lịch, căn cước của một cá nhân đã lập kỳ tích đáng nễ phục: Tồn tại sau 27 năm tù cộng sản với một ý chí tuyên dương Con Người Tự Do. Nhà giáo Nguyễn Sỹ Hưng giữ kín giảo nghiệm nầy do lòng kính trọng đối với Nguyện Chí Thiện – Đầu tháng 10/2008 ông giao lại cho NCT nhân vụ Báo SGN yêu cầu giảo nghiệm mẫu chữ viết của Thi sĩ/Vè sĩ/NCT Thật/Giả..

Và tiếp đề nghị như đã một lần đề nghị đối với vụ việc giảo nghiệm hình ảnh..Nếu như Chứng Thư Giảo Nghiệm chữ viết nêu trên không đủ yếu tố khả tín để thuyết phục vấn nạn: “Ai viết tập thơ Vô Đề? Vô Danh ông là ai?” thì những người không đồng ý về quyền sở hữu (tập thơ) của NCT xin hãy tập trung tất cả tài liệu có được (về NCT/giả/Vô Danh/thật) gởi đến những cơ quan như Trung Tâm Văn Bút Quốc Gia Pháp, Hòa Lan, Mỹ để những nơi nầy thu hồi những giải thưởng, bằng khen đã phát cho NCT về những văn phẩm đã bị chiếm đoạt từ một tác giả Vô Danh. Cũng cần phải nêu rõ những yếu tố lý lịch, quá trình sáng tác, sản phẩm thành văn của tác giả Vô Danh nầy để các cơ quan hữu trách kia có chứng cớ hành xữ với Nguyễn Chí Thiện giả mạo. Chúng tôi trình bày với ý hướng truy cầu Sự Thật mà Báo Sài Gòn Nhỏ đã nêu ra khi đặt vấn đề từ ngày 4 tháng 9, 2008 nơi trang nhất số báo 14.
Nhưng đến đây, phần cuối của bài viết, tất cả sự việc như trên đã hóa ra điều vô ích! Bởi chúng tôi dần tìm ra/thấy được/biết rõ con người thủ vai trò đạo diễn, diễn viên, khán giả của vỡ kịch “tình báo/văn học gọi là Nguyễn Chí Thiện” mà từ phần đầu bài viết bản thân đã nói lên lời nghi ngại. Nhân vật “sợi chỉ hồng xuyên suốt” kia là Việt Thường Trần Hùng Văn, đầu mối của Triệu Lan, Trần Thành, Nam Nhân, Thế Huy, Trọng Tín..v.v.. mà Nguyễn Chí Thiện chỉ là một “Cái Cớ/Cái Cớ xứng đáng nhất”. Và SàiGònNhỏ là một phương tiện/Phương tiện hữu hiệu nhất với 16 trung tâm phát hành toàn nước Mỹ, ba hệ thống xuất bản, nhật báo, tuần báo, và nguyệt san với những cây bút chủ lực, chuyên nghiệp (gồm số đông thân hữu, huynh đệ của người viết, PNN) - Chủ Nhiệm Hoàng Dược Thảo đến đây hẳn hiểu tại sao tôi im lặng đến bài viết nầy trong năm 2008.

V- Hậu Từ: Chúng ta phải nói rõ về Trần Hùng Văn. Đấy là người đã từng giữ chức phụ tá chủ biên, phụ trách một trang mục của Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng cộng sản Việt Nam. Báo Nhân Dân có chức năng hành chánh như một Bộ, trực thuộc Ban Tuyên Huấn Trung Ương đảng. THVăn là người Hoa chính gốc có người anh là Trần Đại Văn (Sẽ nói chi tiết về người anh nầy, bạn của Nguyễn Chí Thiện). Văn nằm vùng trong Báo Nhân Dân đến năm 1978 (trước lần Tàu đánh VN, 2/1979) thì bị lùa vào trại giam đồng loạt với tất cả những ai có liên hệ đến người Hoa theo chủ trương của Hà Nội; tất cả người gốc Hoa thì bị ghép vào tội “gián điệp thuộc Cục Tình Báo Hoa Nam”. Trong những trại tù đã ở sau giai đoạn 1979 nơi miền Bắc, người viết đã có dịp chung phòng kiên giam, nghe chuyện về những thành phần nầy như Nguyễn Đại Giang, Lê Sĩ Thăng, Thiếu Tá Nhẫn (Trại 5 Lam Sơn, Thanh Hóa); hoặc những người Hoa như Mã Nhì, Lý Trường Trân (Trại Thanh Cẩm, Thanh Hóa). Năm 1988, tôi từ miền Bắc chuyển vào Trại Z30D (Hàm Tân), tiếp nhận coi thư viện trại do chính Trần Hùng Văn phụ trách trước khi được thả. Ra tù, tôi đến chơi nhà NgĐHải, số 8 Lê Lợi, Sàigòn gặp lại THVăn nơi đây. Gặp lại THVăn, kiểm chứng thêm những thành tích do chính đương sự kể lại lúc ở Trại Z30D.. Bắt tình với một nữ cán bộ công trại, đi ngủ với đồ lót của nữ cán bộ nầy úp lên mặt nên bị giam kỹ luật; trong phòng giam kỹ luật đã lớn tiếng chưởi Hồ Chí Minh rất có bài bản nên đã thu phục lòng kính phục của những sĩ quan VNCH cùng bị giam ở trại Z30D Tài năng và khả năng “chưởi” HCM của THVăn là một điều có thật –Tại sao chưởi? Chưởi để làm gì.. Là những điều sẽ được soi rõ ngay sau đây. Những điều do THVăn kể cũng như nghe lại từ những sĩ quan VNCH nơi trại Z30D cuối cùng được hiểu ra như một cách KHỔ NHỤC KẾ rất quen thuộc của người Hoa. Giới tình báo người Hoa lại là những chuyển viên hàng đầu trong nghệ thuật dụng kế sách nầy. Với kế sách “khổ nhục” áp dụng tinh vi nầy, không loại trừ khả năng vận động của Hoa cộng trong hàng ngũ Việt cộng. Đến hôm nay thì điều nầy đã được dẫn chứng cụ thể với cảnh trẻ con Hà Nội đón Tập Cận Bình với cờ 6 ngôi sao; phó thủ tướng Hoàng Trung Hải là một người Hoa chính gốc. Kế sách khổ nhục của Trần Hg Văn thâu được kết quả trông thấy: Y ra khỏi trại có ngay hộ khẩu thường trú ở apartment trước tiệm Brodard, Đường Đồng Khởi hay là Tự Do trước 1975 và được qua Anh trongmo65t thời gian ngắn. Tại Anh, Văn áp dụng kế sách và khả năng cũ với mục tiêu “chưỡi” HCM. Y chưởi rất thật và rất đúng bởi hai lý do: Báo thù cho anh, Trần Đại Văn phải tự tử vì không chịu nỗi đòn thù của cộng sản Hà Nội trong giai đoạn sau chiến tranh 2/1979; lễ tang của TĐVăn được tổ chức tại Chùa Châu Long, Hà Nội. Mục tiêu thứ hai là để thực hiện chiến lược: KHÔNG AI NGHE, NÓI VỀ HOÀNG-TRƯỜNG SA – Mục tiêu mà Trung Cộng-Việt Cộng hiện nay, 2012 đang áp dụng ở bước cuối cùng. Một danh tính của Nhà Thơ Nguyễn Chí Thiện được đánh đổi bởi mục tiêu chiến lược nầy thì quả thật cũng xứng đáng. Một điều cuối cùng: THVăn đã dựng nên một nhân vật gọi là “VÔ DANH” rất toàn hảo – Bởi đấy chính là Nguyễn Chí Thiện chứ không ai khác, bởi chính y ta đã nhiều lần từ Anh qua Pháp gặp ông Thiện để nói về thơ văn, cuộc sống tại Hà Nội trước kia khi ông Thiện từng có giao tình với cả hai: Trần Đại Văn và người em là..Việt Thưởng, tức Nam Nhân, tức Lý Quân, tức Trần Thành.. toàn là tên Tàu cũng như Vương Đông Hải, Thầu Chín, Tống Văn Sơ, Lý Thụy.. của Hồ chí Minh mà nhân viên tình báo cục Hoa Nam tên gọi là Trần Hùng Văn hiểu rõ hơn ai hết.
Ngày về trời của Người Thi sĩ Chiến Đấu cho Quyền Con Người tôi viết lại bài nầy để những kẻ đánh phá Nguyễn Chí Thiện phải biết ngừng tay trước Sự Ác.

California, Ngày 2 Tháng 10, 1012
Phan Nhật Nam

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Có những cái quên mang trọng tội với lịch sử
Nguyễn Văn Trần
Từ khi có đảng cộng sản xuất hiện và cướp chính quyền, những người Việt Nam yêu nước và lương thiện hầu như không có chỗ đứng trên đất nước.

Lẽ phải và sự thật lịch sử theo đà phát triển của lực lượng cộng sản ngày càng bị khuynh đảo, bôi xóa, tiếm đoạt để chỉ còn thứ lịch sử của đảng cộng sản làm ra. Thảm hại hơn là trong lúc đó vì ảnh hưởng tuyên truyền của cộng sản và mặt khác, một nhóm người vì muốn đem lại chánh nghĩa cho việc truất phế Vua Bảo Đại với khẩu hiệu ” bài phong đả thực “, đã làm cho những người Việt Nam không cộng sản quên hoặc phủ nhận một số sự kiện lịch sử, điều này dỉ nhiên, đã góp thêm phần củng cố ” tính tất yếu lịch sử ” cho vai trò của cộng sản cướp chánh quyền để làm cộng sản trên cả nước.

Trong những cái quên đó, có thể kể ra hai cái quên hay phủ nhận cực kỳ thảm hại cho lịch sử dân tộc, đó là Bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 11 tháng 3 năm 1945 và Chiếu Thoái vị ngày 25 tháng 8 năm 1945 tại Ngọ môn đài của Hoàng Đế Bảo Đại. Ý nghĩa của hai văn kiện lịch sử này rất đáng được trân trọng vì giá trị lịch sử to lớn của nó.

Nay, sau khi cái ồn ào rỗng tuếch về ngày “Lễ Độc lập 2 tháng 9 ” ở Hà nội đã lắng đọng, chúng tôi muốn nhắc lại Chiếu Thoái vị của Hoàng Đế Bảo Đại .

Đại Hiến chương Anh

Người ta biết qua “Đại Hiến chương của Anh”, tức “La Grande Charte” hay “Magna Carta Libertatum” như một sự kiện quan trọng về quyền lợi của dân được nhà vua tôn trọng.

Khái niệm khởi đầu cho chế độ pháp trị ở Âu châu. Nhưng thật ra, dân ở đây chưa phải là người dân tay lấm chân bùn, thợ thuyền lao động như ngày nay ta biết, mà là tấng lớp chư hầu của nhà vua. Tức các ông Hoàng bà Chúa, những nhà quí tộc. Những người này mới được gọi là thần dân và mới có tài sản.

Đại Hiến chương là một bản văn gồm 63 điều do tầng lớp chư hầu tranh thủ được ở nhà vua “Jean sans Terre” ngày 15 tháng 6 năm 1215 sau một cuộc nội chiến ngắn, quân phiến loạn chiếm lấy được thành phố Luân-đôn. Các chư hầu bất mãn những đòi hỏi thái quá của nhà vua về nghĩa vụ quân sự và nghĩa vụ tài chánh.

Bản “Đại Hiến chương về những quyền Tự do của Anh” bảo đảm quyền tự do cá nhân. Nó giới hạn sự chuyên quyền của nhà vua và thiết lập quyền an ninh nhân thân thành luật để ngăn cản sự bắt bớ bỏ tù một cách tùy tiện. Bản văn thiết lập sự kiểm soát thuế vụ do Đại Hội đồng của Triều đình đảm trách.

Đại Hiến chương được làm mới lại suốt thời Trung cổ và qua suốt hai thế kỷ XVII và XVIII. Tới đầu thế kỷ XIX, một số điều khoản được hủy bỏ trong luật của Anh.

Ảnh hưởng của Đại Hiến chương ra ngoài nước Anh, có thể nhận thấy ở bản Hiến pháp Huê kỳ và bản Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền.

Hiến pháp của các quốc gia theo “common law ” đều chịu ảnh hưởng Đại Hiến chương nên bản văn do đó trở thành một tài liệu về luật pháp quan trọng hơn hết trong lịch sử dân chủ ngày nay. Nhứt là nó đánh dấu một Nhà nước chuyên chế bước qua một Nhà nước pháp trị chỉ do quyền hạn của nhà vua bị giới hạn.

Về tầm vóc, bản Đại Hiến chương chỉ giới hạn quyền lực của nhà vua để nhờ đó những quyền lợi của lớp chư hầu được tôn trọng mà trở thành một bản văn lịch sử mở ra chế độ dân chủ Âu châu. Tính vĩ đại của bản văn không ở tự thân của bản văn mà do con người đã biết đánh giá bản văn, biết khai thác giá trị bản văn và biết đề cao và bảo vệ nó, trân quí nó.

Chiếu thoái vị của Hoàng Đế Bảo Đại

Về tầm vóc, có thể nói Chiếu thoái vị của Hoàng Đế Bảo Đại lớn hơn nhiều. Ngài đánh đổi ngai vàng gần 400 năm của Triều Nguyễn với tư cách “Công dân một nước Độc lập”. Và Ngài làm Công dân cho tới ngày cuối đời, kể cả lúc trở lại Chánh quyền thành lập “Quốc gia Việt Nam”.

Có giá trị lớn về sự mất mát và tinh thần chấm dứt chế độ quân chủ để thật sự mở ra một đất nước Độc lập, Dân chủ .

Nhựt đảo chính Pháp tại Đông Dương ngày 9.3.1945. Bảo Đại tiếp thu nền độc lập của Viêt Nam từ Nhựt với nhận định chính đáng: “Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên Bộ thượng thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải đứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó mọi việc ” (Le Dragon d’Annam, Plon, Paris, 1980), tuyên bố hủy bỏ các hiệp ước bất bình đẳng đã ký với Pháp trước đây và thành lập Chánh phủ Trần Trọng Kim ngày 16.4.1945 để thể hiện một Việt Nam độc lập.

Nhựt hoàng đầu hàng vô điều kiện ngày 15.8.1945, Thủ tướng Trần Trọng Kim từ chức. Hai hôm sau, ngày 17 tháng 8, Việt Minh biến cuộc biểu tình của 20.000 người được Tổng hội Công chức phát động trước Nhà Hát Lớn Hà Nội để ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim thành một cuộc biểu tình tuần hành đòi Độc lập. Lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện, với vài tên cộng sản cầm súng bắn chí choét chỉ thiên. Thế là ngày 19 tháng 8,Việt Minh huênh hoang tuyên bố cướp chính quyền trong một “cuộc binh biến” mà chúng gọi là “Cách Mạng Tháng Tám”, “Cách mạng mùa Thu” hay “Tổng Khởi Nghĩa”.

Vua Bảo Đại công bố ngày 25 tháng 8 năm 1945 Chiếu thoái vị, chính thức chấm dứt Nhà Nguyễn và chế độ quân chủ ở Việt Nam. Bản Tuyên ngôn được vua Bảo Đại soạn với sự trợ giúp của hoàng thân Vĩnh Cẩn trong đêm 22 tháng 8, 1945 tại điện Kiến Trung, hoàng thành Huế. Sáng hôm sau, khi đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận đến cung điện để tiếp thu bàn giao, lúc đầu Bảo Đại đưa bản Tuyên ngôn cho Trần Huy Liệu. Nhưng Trần Huy Liệu hội ý với Cù Huy Cận và tâu với Bảo Đại rằng:

“Thưa Hoàng thượng, nhân danh dân tộc Việt Nam, chúng tôi nhận bản văn này rất nhẹ nhàng, không câu nệ. Nhưng, chúng tôi kính xin Hoàng thượng cho tổ chức một buổi lễ vắn tắt, trong đó xin Hoàng thượng công khai tuyên bố cho mọi người biết.”

Theo lời yêu cầu của Trần Huy Liệu, Đại diện Chánh phủ Dân chủ Cộng hòa ở Hà Nội, chiều ngày 25 tháng 8, 1945, Bảo Đại mặc trào phục và đọc bản Tuyên ngôn Thoái vị trước hàng ngàn người tụ họp vội vã trước cửa Ngọ Môn (sđd), như sau:
Image
Bảo Đại- Vị hoàng đế cuối cùng của Việt Nam
Vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam,
Vì nền độc lập của Việt Nam,

Để đạt hai mục đích ấy, Trẫm tuyên bố sẵn sàng hy sinh tất cả, và ước mong rằng sự hy sinh của Trẫm đem lại lợi ích cho Tổ quốc.

Nhận định rằng sự đoàn kết của toàn thể đồng bào chúng ta vào giờ phút này là một sự cần thiết cho Tổ quốc chúng ta, ngày 23 tháng 8, Trẫm đã nhắc lại cho toàn thể nhân dân ta là: Ở giờ phút quyết định này của Lịch sử, đoàn kết có nghĩa là sống, mà chia rẽ là chết.

Chiếu đà tiến dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta, Trẫm e ngại rằng một sự tranh chấp giữa miền Bắc với miền Nam khó tránh được, nếu Trẫm đợi sau cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định thoái vị. Trẫm hiểu rằng, nếu có cuộc tranh chấp đó, đưa cả nước vào sau hỗn loạn đau thương, thì chỉ có lợi cho kẻ xâm lăng.

Trẫm không thể không ngậm ngùi khi nghĩ đến các tiên đế đã chiến đấu trên bốn trăm năm để mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa đến Hà Tiên. Trẫm không khỏi tiếc hận là trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm không thể làm gì đem lại lợi ích đáng kể cho đất nước.

Mặc dù vậy, và vững mạnh trong sự tin tưởng của mình, Trẫm đã quyết định thoái vị, và Trẫm trao quyền cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa.

Trước khi từ giã ngai vàng, Trẫm chỉ có ba điều muốn nói:

–Thứ nhứt: Trẫm yêu cầu tân chính phủ phải giữ gìn lăng tẩm và miếu mạo của hoàng gia.

–Thứ hai: Trẫm yêu cầu tân chính phủ lấy tình huynh đệ đối xử với các đảng phái, các phe nhóm, các đoàn thể đã chiến đấu cho nền độc lập của đất nước, mặc dù không theo cùng đường hướng dân chủ của mặt trận, như vậy có thể giúp cho họ được tham gia vào sự kiến thiết đất nước, và chứng tỏ rằng tân chế độ đã được xây dựng trên tình đoàn kết dứt khoát của toàn thể nhân dân.

–Thứ ba: Trẫm yêu cầu tất cả các đảng phái, các phe nhóm, tất cả các tầng lớp xã hội cũng như toàn thể hoàng gia phải đoàn kết chặt chẽ để hậu thuẫn vô điều kiện cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa, hầu củng cố nền độc lập quốc gia.

Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị.

Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta.

Việt Nam độc lập muôn năm,
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm,


Huế, điện Kiến Trung ngày 25 tháng 8 năm 1945.


Theo hồi ký của Bảo Đại (sđd), bản tuyên ngôn được đọc trong sự yên lặng hoàn toàn. Mọi người có mặt trong buổi lễ đều ngẩn ngơ, bàng hoàng:

“Tôi quan sát các khán giả hàng đầu. Tất cả các vẻ mặt đều tỏ vẻ ngạc nhiên cùng cực. Nam và nữ đều ngẩn ngơ. Bản tuyên ngôn thoái vị của tôi như tiếng sét đánh xuống ngang đầu họ. Họ lặng người đi.

Trong một bầu không khí bực dọc, tôi trao nhanh ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho Trần Huy Liệu, mà chính ông ta cũng có cảm tưởng như tự trên mây rơi xuống. Trong khi tôi hồi cung, đám đông tan rã, không một tiếng kêu”.

Thế mà Nguyễn Minh Triết trong Lễ 2/9/2010 dám tuyên bố: “Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là thắng lợi của trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần đấu tranh quật cường của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng; là sự lựa chọn của chính nhân dân dân Việt Nam của lịch sử dân tộc Việt Nam …”.
Lực lượng võ trang của Hồ Chí Minh lúc đó được mấy ngoe, đánh với ai? Nên nói lại cho rõ ” Hồ Chí Minh chỉ cướp Chánh quyền của Chánh phủ Trần Trọng Kim sau khi Cụ từ nhiệm”. Tức Việt minh vào ngôi nhà, cửa đã mở sẳn mà chụp lấy đồ đạc.

Qua Chiếu thoái vị, ai cũng thấy Hoàng Đế Bảo Đại quả thật là người yêu nước và lương thiện. Suốt thời gian ở ngai vàng và qua làm Quốc trưởng, Ngài giữ được hai bàn tay không dấy máu của dân. Nên Ngài mất thanh thản với tuổi thọ 84, an táng ở Paris.

Phái đoàn Đại diện Chánh phủ Hồ Chí Minh ở Hà Nội, qua cách tiếp nhận Chiếu thoái vị ở Hoàng Đế Bảo Đại, mặc nhiên đã long trọng cam kết chấp hành những yêu cầu của Hoàng Đế. Nhưng họ đã lật lọng. Vì người cộng sản chỉ có mục tiêu, chớ không có vấn đề đạo đức lương thiện. Mục tiêu của họ là cướp giựt Chánh quyền cho bằng được để thực thi chế độ cộng sản mà Hồ Chí Minh đã nhận lãnh vai trò ở Staline và Mao-trạch-đông.

Nhưng người Việt Nam chân chính, lương thiện, tức không cộng sản, phải biết trân quí bản văn thoái vị của Hoàng Đế Bảo Đại vì giá trị to lớn lịch sử dân tộc. Lịch sử không có dối trá. Lịch sử là công bằng.

© Nguyễn Văn Trần

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Image

Tội nặng hơn tham nhũng

Nguyễn Thanh Giang
(Danlambao) - Từ ngày 16 tháng 01 năm 2012, khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW: “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã gần một năm trời, nhưng thử hỏi nhân dân đã thấy được những gì ngoài sự náo loạn chính trường bởi các sự kiện: Chủ tịch Hội đồng Quản trị Nguyễn Đức Kiên và Tổng Giám đốc Lý Xuân Hải của Ngân hàng ACB cùng nhiều người liên can bị bắt; GSTS Trần Xuân Giá, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch – Đầu tư bị khởi tố... Các trang web Dân làm báo, Quan làm báo, Biển Đông bị truy bức...

Bởi vậy, trả lời phỏng vấn đài RFA hôm mồng 2 tháng 10 vừa rồi, giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học đã đánh giá: “...sau những chuyện như vừa rồi thì người ta thấy chuyện phê và tự phê chỉ làm mất thời giờ mà không đi đến kết quả nào cả... cho đến hiện nay thì chưa có gì để chứng tỏ cuộc chấn chỉnh nội bộ này đưa lại kết quả cả. Điều này làm mất lòng dân, và khi một Đảng lãnh đạo mất lòng dân thì đó là thách thức lớn nhất...”

Cũng qua bài phỏng vấn này, giáo sư Tương Lai cho rằng Nghị quyết Trung ương 4 đã đặt vấn đề không trúng: “... nguy cơ lớn nhất là gì, là tình hình của thế lực ngoại xâm hoành hành ngoài Biển Đông với tất cả những thủ đoạn trắng trợn, vừa nham hiểm, chưa thấy tập trung sức đối phó. Trong khi đó lại tập trung vào chấn chỉnh nổi bộ... Cái thách thức lớn nhất của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay là làm sao lấy lại được lòng tin của dân. Nếu lấy lại được lòng tin của dân thì mới tính đến chuyện phê và tự phê, rồi chống tham nhũng, rồi loại bỏ một số không nhỏ những Đảng viên thoái hóa biến chất. Vấn đề của Đảng hiện này là uy tín của Đảng xuống quá thấp”.

Trong bài thơ “Khi quốc sách chìm trong quốc nạn”, tiến sỹ Trần Nhơn, nguyên thứ trưởng Bộ Thủy Lợi thì cảnh báo rằng: bên cạnh thảm họa “Giặc tham nhũng lũng đoạn “triều đình”/ Quan liêu, lãng phí: bạn đồng minh”, đất nước còn đứng trước nguy cơ lớn hơn “Thái thú đỏ độc quyền “yêu nước”/ Rước voi giày mả tổ cầu vinh”.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong bài viết giải bày tâm can nhân ngày Quốc khánh cũng đồng ý rằng hiện nay không chỉ có một bầy sâu đang lũng đoạn triều đình mà ở đó còn có kẻ âm mưu cõng rắn cắn gà nhà, rước voi giày mả tổ.

Bầy sâu thì dễ dàng nhận ra nhưng thử hỏi ai là kẻ âm mưu rước voi giày mả tổ cầu vinh? Dẫu ông Chủ tịch Nước và ông Thứ trưởng không tiện nói ra nhưng hẳn không ít người không nhận biết được.

Không biết với động cơ gì nhưng TBT Nguyễn Phú Trọng đang dóng dả những lời lẽ rất kích động.

Phát biểu trong buổi dự Hội nghị kiểm điểm tự phê bình và phê bình của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội, ông nói đây là đợt “sinh hoạt Đảng mang ý nghĩa thiêng liêng” và “không được phép làm chiếu lệ...” Như hốt hoảng, ông còn nói, nguy cơ đang “đe dọa sự sống còn của chế độ” gồm cả “tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”.

Trong diễn văn rất dài ngày 27.2 ông tỏ ra như là day dứt lắm: “Bây giờ trong Đảng cũng có sự phân hóa giàu - nghèo, có những người giàu lên rất nhanh, cuộc sống cách xa người lao động; liệu rồi người giàu có nghĩ giống người nghèo không? Nhà triết học cổ điển Đức L.Foiơ Băc đã từng nói rằng, người sống trong lâu đài nghĩ khác người ở trong nhà tranh. Mai kia Đảng này sẽ là đảng của ai? Có giữ được bản chất là đảng cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc không? Thực tế đã có bộ phận suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”.

Thử hỏi, ai đã làm cho “trong Đảng cũng có sự phân hóa giàu - nghèo, có những người giàu lên rất nhanh”?.

Chính là Đảng!

ĐCSVN lúc rất tả khuynh, lúc rất hữu khuynh. Từ chỗ “trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ” để tôn vinh cái nghèo và hô hoán chỉ cần “mo cơm, quả và với tấm lòng cộng sản” đến khi chợt tỉnh, người ta lại thúc giục nhau “Đảng viên phải biết làm giàu”. Báo Nhân Dân số ra ngày 15 tháng 6 năm 1994 còn đưa ra quy định giàu có là một trong 5 tiêu chuẩn để được bầu vào cấp ủy. Ngày ấy, không kìm được sự sửng sốt tôi đã dám thẳng thắn chỉ trích chủ trương càn rỡ đó trong bài viết “Mấy suy nghĩ nhỏ về hiện đại hóa, công nghiệp hóa” (in trong cuốn “Khát vọng ngàn đời”).

Vậy thì ý nghĩa thiêng liêng của đợt sinh hoạt Đảng lần này có phải để nhắm xóa sự phân hóa giàu-nghèo trong Đảng không? Hay là cao cả hơn, có phải là cuộc đấu tranh giữa phe chống tham nhũng và phe tham nhũng không?

Thấy vậy mà không phải vậy. Người ta không chủ yếu nhằm vào chống tham nhũng và chắc chắn không thể diệt được tham nhũng.

Giữa tháng 6.2012 TBT Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành bản “Kết luận Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Trong đó xác nhận chính thức “Thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban”.

Phải chăng Chính phủ không làm được thì Đảng sẽ làm được? Ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không làm được thi ông TBT Nguyễn Phú Trọng sẽ làm được?

Hẳn là rất ít người tin như vậy. Thậm chí cho rằng sẽ ngược lại.

Về tài và quyền thì có lẽ ông NPT không bằng ông NTD. Phải chăng ông NPT có đức hơn ông NTD? Nếu điều ấy là thật đi nữa thì cũng không thể lấy đức ra mà diệt tham nhũng được.

Vả chăng, như tôi đã nhiều lần khẳng định: muốn chống được tham nhũng phải chống cái nguyên nhân đẻ ra tham nhũng.

Nguyên nhân tệ nạn tham nhũng vào loại hàng đầu thế giới ở Việt Nam chính là do đường lối, chủ trương, chính sách của ĐCSVN có nhiều điểm chưa đúng. Đảng đã tạo ra hai chùm phôi tham nhũng rất lớn. Một là: chủ trương đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Hai là: Doanh nghiệp nhà nước là chủ đạo. Hai chùm phôi này được nuôi dưỡng trong cái bao thai đường lối “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Chính phủ có bất tài, có hư hỏng cũng chỉ là “người” chăn dắt tham nhũng. Đảng mới là “người” đẻ ra tham nhũng.

Tham nhũng đang như con sâu (chủ trương đương lối) đục ruỗng thân cây mà lại chỉ lo đi vặt mấy cái lá úa (cá nhân tham nhũng) thì vặt đến bao giờ cho hết và làm sao mà cứu được cây khỏi tàn tạ!

Không phải cuộc chiến chống tham nhũng. Cũng không phải cuộc sát phạt giữa 4Sang và 3Dũng.

Nếu là cuộc chiến chống tham nhũng thì nên nhiệt liệt hoan nghênh. Nếu là cuộc sát phạt giữa hai “vua nhà mình” thì cũng đành khoanh tay đứng nhìn và lo làm việc khác. Chỉn e, đây lại là một cuộc chiến tranh ủy nhiệm nữa!.

Hiện tượng trang web Quan Làm Báo xuất hiện gần như đồng thời với Nghi quyết TƯ 4 đã làm nẩy sinh nhiều câu hỏi chưa lý giải được. Hẳn Quan Làm Báo không phải là của dân (bọn kẻ thù, bọn phản động). Phải chăng, đây chính là cơ quan ngôn luận phục vụ Nghị quyết TƯ 4.

Nhân dân thì thường suy tư về nhiều lĩnh vực và có nhiều nỗi bức xúc chứ không chỉ chủ yếu chĩa mũi nhọn vào hai nhân vật: Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Văn Hưởng. Ít người có dịp tiếp xúc và biết đến Nguyễn Văn Hưởng để mà trút căm hờn lên đầu nhân vật này đến mức cay cú như Quan Làm Báo. Chỉ một số người biết Nguyễn Văn Hưởng là tiến sỹ đã từng du học ở Đức, ở Hoa Kỳ và tỏ ra thân Phương Tây, trong khi kho tư liệu cung đình sử dụng ở Quan Làm Báo thì chỉ tình báo mới có được và cái giọng lơ lớ, phát âm sai khiến người ta nghĩ đến mấy chú chệt.

Tiếc rằng ở Việt Nam, tình báo Hoa Nam đã cắm sâu không chỉ trong xã hội mà cả các cấp lãnh đạo xã, huyện, tỉnh, trung ương, bộ chính trị... nên đã lung lạc được nhận thức, làm cho không chỉ thường dân mà cả các nhà lãnh đạo, các thức giả nhìn nhận không đúng một số vấn đề và một số nhân vật. Đối với Việt Nam, tình báo Hoa Nam tỏ ra quá giỏi, hơn hẳn CIA. Cho nên gần đây Quốc hội và Chính phủ Hoa Kỳ đã có một vài hành xử không thích hợp với Việt Nam trong trạng huống này.

Chắc là không sai lầm khi cho rằng đây là cuộc chiến ủy nhiệm giữa phe thần phục Trung Quốc với phe thân Hoa Kỳ và Phương Tây.

(Tôi nói thần phục Trung Quốc chứ không nói thân Trung Quốc. Thân Trung Quốc là nên và cần, nhưng thần phục Trung Quốc là ngu dại và tội lỗi).

Do thần phục Trung Quốc mà ta đã bị xâm lăng một phần lãnh thổ và lãnh hải, đã chịu một phần ách đô hộ về chính trị-tư tưởng (mang tên tầm cao chiến lược), về kinh tế (khai thác bauxite Tây Nguyên, titan ven biển, thắng thầu nhiều hợp đồng béo bở, tạo khoản nhập siêu khổng lồ …) …

Cha ông xưa đã thông minh, dũng cảm vứt bỏ ách đô hộ ngàn năm của Tàu, chính quyền Cộng sản hết đưa nhân dân ta đi làm lính lệ cho Trung Quốc lại quàng vào cổ đất nước cái ách-đô-hộ-từ-xa ngày một nặng, một sâu. Cái nấc sâu Thành Đô chưa biết bao giờ mới gỡ được, nay có nguy cơ lại đang chui vào một nấc sâu mới nữa!

Tội này nặng gấp triệu lần tham nhũng. Dưới ách đô hộ của bọn ngoại bang tham tàn này nhân dân ta không chỉ vẫn phải gánh chịu nạn tham nhũng nội tộc mà còn nạn tham nhũng, bóc lột của ngoại bang tàn tệ, cay đắng nhiều lần hơn.

Mong cho bên nào thắng? Cần gạt bỏ ai bây giờ?

Số phận tổ quốc ta đang bị đặt trên một cỗ xe “định hướng vào chỗ chết” (theo tướng Trần Độ). Cỗ xe này vận hành trên bốn bánh xe cọc cạch. Thay được cả thì tốt biết bao.

Nếu có tự do tư tưởng, tự do ngôn luận thì sẽ được thấy biểu hiện nhiều nhân tài hoàn toàn xứng đáng. Trong hoàn cảnh éo le như hiện nay có thể tạm chấp nhận mấy gương mặt sáng giá hơn như Phạm Quang Nghị, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Quang A, Lê Đăng Doanh, Trần Huỳnh Duy Thức …

Cần hết sức thận trọng khi thay thế một hay một cặp bánh xe nào. Tháo bỏ bánh bên này xe sẽ đổ về một phía. Tháo bánh bên kia xe sẽ rơi xuống vũng lầy Trung Quốc.

Trong bài "Chỉnh đảng - Âm mưu gì của Nguyễn Phú Trọng và Trung Quốc" đăng trên Dân Làm Báo ngày 3/3/2012, nhà báo Nguyễn Nghĩa đã tỏ ra am tường khi cảnh báo: "Chỉnh đảng là sự sắp xếp lại hàng ngũ ĐCS VN nhằm đưa các phần tử thân TQ lên các vị trí then chốt trong chính phủ, nhà nước VN, ĐCS VN, nhằm đảm bảo cho cuộc chiến dành ảnh hưởng tại Châu Á của TQ với Hoa Kỳ có được hậu thuẫn từ VN, nhằm làm cho VN luôn yếu bởi các tài nguyên khoáng sản của Biển Đông sẽ lọt hoàn toàn vào tay TQ, nhằm tăng cường an ninh cho TQ từ phía Biển Đông..."

Tai họa rùng rợn nhất sẽ xảy ra nếu vô phúc hai chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước được gom vào tay một kẻ thần phục Trung Quốc.

Khẩn khoản mong bài viết này được quý độc giả tìm mọi cách chuyển giúp ngay tới 173 ủy viên Trung ương Đảng đang họp Hội nghị Trung ương 6 và tất cả các vị đại biểu Quốc hội sắp họp nay mai.

Người viết xin chân thành cảm ơn.

Hà Nội 6 tháng 10 năm 2012
Nguyễn Thanh Giang

Post Reply