Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Khi thi ca thành tôn giáo: Phạm Công Thiện

Nguyễn Mạnh Trinh
Phạm Công thiện, ông là ai? Có nhiều người đã hỏi như thế. Triết gia? Thiền sư? Thi sĩ? Văn sĩ ? Hay là một người lang thang rong chơi trong cuộc đời? Hay là nghệ sĩ với ước vọng thành một tài năng lớn của thế giới? Hoặc là một người đang trong cơn mộng du suốt cả đời?

Vào những năm thập niên 60 ở Sài gòn, Phạm Công Thiện xuất hiện như một hiện tượng. Sách vở của ông đã được đón đọc nồng nhiệt và trong giới sinh viên học sinh đọc sách của ông là một thời thượng. Họ thích nói về “Ý thức mới trong văn nghệ & triết học”. Họ tán thưởng “Ngày sinh của rắn”. Có người thú nhận thích đọc ông dù chẳng hiểu bao nhiêu. Và trong cái gọi là “họ” ấy có tôi. Một cậu sinh viên mê sách vở và tràn ứ mơ mộng lãng mạn.

Lúc đó, tôi đã nghĩ Phạm Công Thiện là một người viết phê bình như viết tùy bút và viết tùy bút như viết bằng thơ. Tóm lại, với tôi, ông là một thi sĩ dù ông làm thơ không nhiều lắm.

Đọc lại những bài viết về những nhà thơ của ông, tôi thấy điều đó tới bây giờ vẫn còn chính xác. Ông viết về thơ với cả tâm hồn mình, và với những thi sĩ, ông cũng đồng cảm trong cái chia sẻ không cùng của những sợi đàn rung cộng hưởng vì chung tần số.

Tôi đọc thử một đoạn viết về Cung Trầm Tưởng để dẫn tới thơ tình yêu của Appollinaire. Những trang sách cũ đã ố vàng của “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học”.


“... Tôi ngạc nhiên. Tim tôi máy động. Cung Trầm Tưởng là ai mà làm thơ tài hoa vậy. Tôi mơ màng. Tôi hình dung những chiếc lá rơi. Tôi nhìn thấy dòng sông Seine lững lờ trôi chảy. Kia là tả ngạn River Gauche… Kia là đường phố Aumont - Thieville và L’ Avenue des Ternes… Kia là những quán cà phê và những kẻ tứ chiếng giang hồ... Kia là cầu Mirabeau… Kia là mùa thu mưa rơi… kia là Pont Neuf. Ôi. Paris. Souvenir. Souvenir. Remember to remember…

Cung Trầm Tưởng làm tôi nhớ đến Appollinaire. Ừ, chỉ có Appollinaire mới có những dòng thơ bất tuyệt để làm sống lại Paris. Nói đến Paris là nói đến Kỷ Niệm, là nói đến Nghệ sĩ, là nói đến tình yêu và tuổi trẻ. Paris là thành phố của những kẻ tứ chiếng giang hồ, của những clochards, của những femmes de joie, của những Henry Miller, những Hemingway, những Gertrude Stein, những Picasso, những Appollinaire…

Mùa thu nơi đâu
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín dỏ trái sầu.

Cung Trầm Tưởng làm tôi nhớ đến Appollinaire:
J'ai cueilli ce brin de bruyère
L'automne est morte souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps Brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends

Cũng vào mùa thu, Cung Trầm Tưởng ngóng chờ người yêu ”kiên khổ phút giờ” và “chín đỏ trái sầu” ngóng chờ mong đợi như Appollinaire đã ngóng chờ mong đợi giữa hương thời gian và mùi lá cỏ
Odeur du temps Brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends

Trời đã tối hẳn rồi. Tôi bước vào giường nằm ngủ, mắt nhắm lại, những dòng thơ của Hàn, của Cung, của Appollinaire chan hòa thướt tha đưa tôi vào giấc ngủ triền miên...

Viết về thơ, theo như Phạm Công Thiện không phải là phê bình xếp loại mà phải là ca tụng khen ngợi thơ. Ông khẳng định ”Nói đến Thơ không khác gì nói đến Thượng Đế. Phê bình Thơ là làm việc phạm thánh là blasphème.

Những thi sĩ không phải là loài người họ là những Thiên Thần, những thánh hoặc những quỉ ma. Nếu ta không chấp nhận họ được thì ta phải im lặng; còn nếu chấp nhận họ thì ta phải ca tụng cho hết lời. Ta không được quyền có thái độ của học giả hoặc giáo sư hoặc nhà phê bình. Phải giết hết những nhà phê bình để cho Keats sống, để cho Chatterton đừng chết lúc mới 18 tuổi xanh.

Anh không thể cảm thơ của người ta thì anh hãy im lặng; còn nếu cảm được thì anh hãy thiết tha ca ngợi, đừng e dè giữ gìn gì cả. Không nên có những nhà phê bình thơ mà chỉ nên có những kẻ ca tụng thơ. Thơ là của riêng từng người; không có ai làm thầy ai cả. Phê bình văn nghệ ư? Buồn lắm…”

Thi sĩ ca tụng thi sĩ? Đúng quá rồi. Và trong cái bí nhiệm như của một tôn giáo, thi ca đã làm cho chúng ta luôn luôn mơ mộng và suy tư.

Như khi nhìn những con sông cạn cợt của quận Cam…

Không hiểu sao mỗi lần lái xe đi ngang qua những con sông cạn ở thành phố Westminster hay Santa Ana tôi lại thấy bồi hồi. Có một liên tưởng nào từ lòng sông tráng xi măng ở giữa chơ vơ một dòng nước chảy nhỏ nhoi cạn cợt. Cái cảm giác của thiên nhiên bị khuất phục ấy của một dòng nước mùa nắng nhắc tôi tới nguồn nước ào ào sục sôi sau những cơn mưa. Một thi sĩ đã viết :
“Ừ, ta bây giờ như sông cạn
Nước vũng làm sao thành biển khơi
Chí lớn dưng không thành chuyện vãn
Mỉm cười còn mất chuyện muôn đời…”

Có hay không, cái tượng hình của Dịch Kinh, hà trung vô thủy? Sông mà không có nước, có phải là sông không? Hay chỉ là gợi ý tới những đi mà không đến. Một câu thơ của Seamus Heaney, thi sĩ giải Nobel văn chương năm 1995 trong thi tập The Haw Lantern, chỉ có hai câu :
“The riverbed, dried up, half full of leaves.
Us, listening to a river in the trees.
(Lòng sông, cạn khô, một nửa phủ đầy những chiếc lá
Cho chúng ta, đang lắng nghe một dòng sông chảy trong cây)

Thi sĩ Phạm Công Thiện đã viết như sau về hình ảnh sông cạn rất thơ mộng này mà chúng ta nhiều khi ít quan tâm khi ngang qua trong nhịp đời hối hả mỗi ngày :
“… Tiếng nói của thơ là dòng nước tuôn chảy bất tận, dù lòng sông có cạn khô chăng nữa thì hồn sông vẫn chảy mãi trên cao… Sông đang chảy trên cây và trong cây lá, và sự lắng nghe ở đây đã nhập lưu (sơ ư văn trung / nhập lưu vong sở), không phải chúng ta lắng nghe dòng sông mà chính dòng sông đã chảy vào trong thi nhân, lòng sông khô cạn ở dưới đã nhập vào con sông chảy trên cây; lòng sông khô cạn nửa đầy những chiếc lá thả hồn rào rạt với sông lá trên cao (Hồ Dzếnh: ”có một nghìn cây rũ rượi buồn / Một nghìn sông rét vạn hoàng hôn. Vũ hoàng Chương “Đáy sông bừng dựng Lầu Thơ? Giấc mơ Hồ Điệp chẳng mơ cũng thành”… Tại sao phải làm thơ? Tại sao phải lắng nghe một lần như chưa từng biết nghe trọn đời? Tại sao phải nhìn thấy được một lần duy nhất như chưa từng biết thấy bao giờ? Thi nhân đã một lần nhìn thấy; còn chúng ta thì hãy lắng nghe một dòng sông chảy bất tận trong rặng cây rào rạt chiều hôm nay… “

Phạm công Thiện khi viết về kỷ niệm với nhà văn Võ Hồng, trong tập thơ Ngày Sinh Của Rắn có hai câu thơ, tả cảnh mà tả tình, đẹp một cách đơn giản như phong vị của những câu Hai-Ku:
“Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn
Cây khế đồi cao trổ hết bông”

Và, hình như từ hai câu thơ này, Võ Hồng đã viết truyện ngắn ”Hoa khế lưng đồi” như một cách thế đáp tạ người tri kỷ.


Trong một lá thư gửi cho tác giả “Hoài Cố Nhân”, thiền sư thi sĩ họ Phạm viết:
...”Anh V.H. ạ, anh có cần gì phải thuyết giảng philo? Tất cả những trang văn anh, những trang văn rất từ tốn khiêm nhượng kia đều tiềm tàng những tư tưởng triết học rất sống. Nó cao hơn philo nữa, bởi nó là sagesse của quả tim.

Và một Triệu trang giấy Triết Học cũng không đáng giá bằng một tiếng đập của con tim. Anh có nghe rõ chưa? Tôi muốn hét to lên như vậy.

Anh có nghe tim con người đập trong những trang “Xuất hành năm mới”, trong “Trận đòn hòa giải”? “Xuất hành năm mới” còn cảm động muôn vạn lần hơn những chuyện mà người ta cho rằng buồn nhất! Những đứa nhỏ Hằng, Hào, và Thủy trong “Xuất hành năm mới” và “Trận đòn hòa giải” là những hình ảnh đau thương nhất trên đời, là những hình ảnh tượng trưng cho tất cả những đứa trẻ ở trần gian này…”.

Phạm Công Thiện tâm sự như thế, dù trong ngôn ngữ của ông có một chút gì hơi phấn khích nhưng cũng khá thành thật.

Phạm Công Thiện là một khuôn dáng văn chương rất có ảnh hưởng với những lớp sinh viên học sinh ở miền Nam của thập niên 70, 80. Thời gian ấy, những cuốn sách như “Ý Thức Mới trong Văn Nghệ và Triết Học”, “Hố Thẳm của Tư Tưởng“, “Ngày Sanh của Rắn “,… là những cuốn sách cầm tay của giới trẻ. Từ tác phẩm của ông, mở ra nhiều những cánh cửa. Trước hết, ông là một người sáng tạo nhiều suy tư về cái Mới, về những ngã đường có thể khá lạ lùng đến khi kỳ dị nhưng hấp dẫn. Văn học sẽ phải có những thay đổi, nhất là trong hoàn cảnh một đất nước chiến tranh như Việt nam. Ngay cả khi làm thơ, thi sĩ như người của hành tinh lạ lạc đến, với ngôn từ khá lạ lùng như đoạn VI của tập “Ngày Sanh của Rắn”

“tôi chấp chới
đắng giọng
giữa tháng ngày mơ mộng
nốt ruồi của hương
hay nốt ruồi của rigvéda
tôi mửa máu đen
trên nửa đêm Paris
tôi giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăng
tôi thủ dâm thượng đế sinh ra loài người
cho quế hương nằm ở nhà thương điên của trí nhớ
mặt trời có thai!
Mặt trời có thai!
Sinh cho tôi một đứa con trai mù mắt “

Nếu bảo giải thích từng câu từng chữ thì có lẽ chính cả tác giả cũng lúng túng. Thơ là những hình ảnh rải rác, thoạt tưởng không liên quan với nhau nhưng trong trình tự cảm nhận lại có một ý nghĩa nào len vào bất chợt những liên tưởng. Có người cho rằng những từ ngữ như thủ dâm thượng đế, giao cấu mặt trời, mặt trời có thai... tạo ra cảm giác tức thì với hình tượng có hơi dung tục ấy. Đó là một cảm nhận. Nhưng, ngay ở thời điểm bây giờ, đọc lại câu thơ, chúng ta vẫn có thể bắt gặp được nét khai phá một cách rõ ràng. Thơ là một cái gì, khác thường lắm, có lúc rất gần cận cuộc sống mà có lúc lại xa nghìn trùng…

Tôi nhớ có lần nhà thơ Phạm Công Thiện nói chuyện với tôi về kinh nghiệm đọc thơ của ông. Lúc ấy, đêm đã khuya và ông có ngôn ngữ của một Lưu Linh đang trong cơn đồng thiếp. Ông đọc thơ Pháp, thơ Anh, thơ La tinh, thơ Việt Nam tiền chiến và hiện đại. Đọc xong rồi bình, hình như văn chương đã lôi ông vào một cơn mộng.

Nói về kinh nghiệm để có thể tiếp cận với thơ, ông đọc một bài thơ thật nhiều lần và sau mỗi lần đọc như thế đều tìm ra những cảm nhận khác nhau. Cảm nhận ấy bắt nguồn từ giây phút rất thiêng liêng để con người bắt gặp được những sáng ngời lộng lẫy. Sự kiện ấy James Joyce đã gọi là “a sudden spiritual manifestation” (biểu hiện tâm linh bất ngờ) hay “epiphany” (sự linh hiện). Tương tự, như Xuân Diệu : “phất phơ hồn của bông hường / trong hơi phiêu bạc còn vương máu hồng / nghe chừng gió thoáng qua song... “ đó, chính là hồn của thơ, của những giây phút linh hiện mà chỉ có những người tài tử cảm nhận được.

Ở Phạm công Thiện, cái chất thơ đã thành nét đặc thù tinh tế cho văn chương ông. Viết khảo luận, ông mang cái kiến thức rộng lớn tích tụ từ sách vở cùng với hồn thơ để thành những bước đi lãng mạn vượt qua những khô khan câu thúc. Là một triết gia, cái nhận thức để thành những trang giấy cũng có chút thi ca bồng bềnh vào để thành một triết gia thi sĩ. Cái chất lãng tử trong văn chương là một nét thấy rõ. Phạm Công Thiện viết :
“… tất cả đời sống văn xuôi tẻ nhạt, những công thức, những danh vọng, những khuôn mòn lối cũ, những địa vị xã hội, những mẫu mực khuôn xếp đã thụt lùi ra đằng sau, chỉ còn lại nước chảy của dòng sông và mây chiều của đại dương: mây ở trên cao trôi dưới dòng nước rong rêu của khe biển nhỏ. Thi nhân từ bỏ tất cả lại đằng sau lưng và bước tới trước băng qua cây cầu gỗ mong manh…”

Viết về thơ Seamus Heaney, nhưng trong dòng chữ có cảm khái riêng của một người mà thi ca đã thành máu xương da thịt cho đời sống. Viết những cuốn sách triết học giữa hồn thơ lai láng, cũng giống như viết những trang tùy bút mà chữ nghĩa đã thành những trân trọng nâng niu nhất. Cầm cây bút trong trạng thái tuy phong trần từng trải nhưng vẫn còn sót nét ngây thơ của một người tin tưởng vào những điều nghĩ rằng cần phải tìm kiếm được bằng suy tưởng. Với đời thường, ông sống như lạc lõng bất kể. Nhưng với văn chương, ông là người tinh tế và có can đảm rủ bỏ tất cả để đi lại những bước khởi đầu.

Nhà thơ Nguyên Sa đã có bài thơ vẽ lại chân dung của một nhà thơ tiêu biểu cho một phong cách sống đặc biệt của một người cũng đặc biệt trong một thời kỳ văn học mà sự khao khát những phương trời mới những vóc dáng mới đã thành động lực mạnh mẽ cho sáng tạo. Bài thơ “Nói chuyện phải quấy với Phạm Công Thiện:

“Người vào tịnh thất sống ba năm
cất tiếng không lời để nói năng
buổi sáng thinh không chiều tới chậm
tiền kiếp chen vô cạnh chỗ nằm
Ta muốn cùng người một tối nay
Đầu sông uống rượu cuối sông say
Người từ trên núi ta từ biển
Từ giấc mơ nào đã tới đây
Dưới bóng tường im, giữa nhạc không
Đời như phía trước bỗng mông lung
Thơ như hữu thể mà vô thể
Có cũng xong mà không cũng xong
Sáng dậy ta nhìn tục lụy ta
Những đi không tới đến không ngờ
Xóa luôn thì dứt nhưng tâm thức
Kinh Pháp Hoa nào dậy cách xa?
Trong chín ngàn âm có hải triều
Còn thêm một kiếp nữa phiêu lưu
Này người bỏ sóng sang thuyền tĩnh
Nhớ đứng chờ ta ở cõi siêu…”

Nhưng không phải tất cả thơ ông chỉ chuyên chở ý tưởng. Mà, còn chuyên chở cảm giác nữa. Thơ để mang tới những giây phút linh hiện, để người đọc thơ và làm thơ một giây phút tình cờ nào đó gặp nhau trong giao thoa cảm xúc. Có một bài thơ trong tập thơ mỏng về số trang nhưng dầy về ý tưởng, Ngày sanh của rắn, VIII, có những hình ảnh nối liền nhau để thành một chuỗi sinh động liên tưởng luôn biến dịch. Gió, như một cuộc hành trình đi qua đồi tây, đồi đông, đi qua những chặng thời gian tưởng ngắn như một sát na nhưng dài vô tận. Thế mà, trong cái lãng đãng tâm thức ấy, ngôn ngữ nhẹ nhàng như một hồi tưởng để níu kéo cảm nhận của người đọc trong một cảnh giới mơ hồ :

“Mười năm qua gió thổi đồi tây
tôi long đong theo bóng chim gầy
một sớm em về ru giấc ngủ
bông trời bay trắng cả rừng cây
Gió thổi đồi tây hay đồi đông
Hiu hắt quê hương bến cỏ bồng
Trong mơ em vẫn còn bên cửa
Tôi đứng trên đồi mây trổ bông
Gió thổi đồi thu qua đồi thông
Mưa hạ ly hương nước ngược dòng
Tôi đau trong tiếng gà xơ xác
Một sớm bông hồng nở cửa đông”

Với suy nghĩ của tôi, Phạm công Thiện là một thi sĩ nghệ sĩ. Klhông phải là cung cách một phù thủy chữ nghĩa hoa tay bùa chú vào hư vô để thành một văn phong khúc mắc khó hiểu. Mà, là một người ôm tất cả những rộng khắp vào lòng và đi vòng quanh để tìm chân lý. Cái tâm thức vốn tịch lặng của một người thâm cứu Phật Giáo pha trộn vào ý thức muốn nổi loạn phá bỏ cung cách cũ khiến văn chương trở thành một hành trình của một người luôn xông tới đằng trước và không dừng lại. Trong đời sống, phong cách du tử, làm những điều mình thích khiến ông thành một người luôn thấy đêm ngày là hoang vu...

Trần Tuấn Kiệt trong một bài viết trong “Tác Giả Tác Phẩm“, xuất bản cách nay gần bốn chục năm, cũng nói về chân dung người thi sĩ rất mực nghệ sĩ này:
“Sinh ngày 1-6-1941 tại Mỹ Tho. Trong gia đình, Thiện là người anh cả “Người anh không giúp ích gì được cho gia đình, nhìn thấy mọi người cha mẹ em út đang lâm vào cảnh sa sút túng bấn. Mà mình thì lận đận lao đao chẳng giúp ích được gì.”

Đó cũng là một lý do, khiến có lúc Thiện bỏ đi tu ngoài Nha Trang. Thiện đã có lần cùng chúng tôi đem bán từng va ly “Anh Ngữ Tinh Âm” của anh soạn để lấy tiền ăn bánh mì trong những lúc đói rách nhất. Mặc dầu lúc đó báo Phổ thông và Dân ta của Nguyễn Vỹ bán chạy, lương của Thiện trên mười lăm ngàn (bằng khoảng 150 ngàn đồng bây giờ mỗi tháng) tiền lãnh ra, Thiện đem uống rượu say rồi gọi tất cả đám trẻ nít đánh giày, các bọn bán báo nghèo đói lại phân phát tất cả cho chúng trong một khắc đã hết sạch. Qua ngày hôm sau, kiếm lại vài chục uống cà phê là sự thường…”

Có người cho ông là thần đồng, soạn “Anh Ngữ Tinh Âm“ lúc 16 tuổi. Có người cho ông là một triết gia, tư tưởng gia luôn luôn vật vã với suy tư. Có người cho ông có hiểu biết rộng, thông hiểu nhiều ngoại ngữ. Có người cho ông là một người đọc sách chuyên cần với óc thông minh và nhớ lâu không quên. Cũng như có người gọi ông là lãng tử, là một người thích gì làm nấy và luôn miệt mài trên con đường độc hành tìm kiếm những điều bất khả trong cuộc sống…

Với tôi, ông là một thi sĩ và là người viết về thi ca mà tôi yêu thích. Dù, ông “đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất” để tìm “ý thức mới trong văn nghệ và triết học“ qua “hố thẳm của tư tưởng“ để “im lặng hố thẳm“ và, cứ thế hành trình…

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Image

Chỉ còn là dư âm

Trần Việt Trình

(Danlambao) - Ông đã sắp đi hết một hành trình của kiếp người, cái còn lại an ủi ông phải chăng là những bài hát, những người yêu nhạc ông. “Không có thứ gì cả. Một đống tài liệu, các bài hát này với thời gian sẽ mất đi. Giờ ít người hát nhạc của tôi lắm, họ tội gì hát mãi những bài ca cũ. Những bài hát này chỉ là những dư âm còn lại”. Ông đã chọn và đổi hướng đi theo con đường sác tác chỉ đạo, nên đã không cống hiến được cho đời những bản nhạc để đời về sau, cũng như không lưu danh với đời tiếng bất khuất, khẳng khái, như những người bạn văn nghệ đồng thời của ông lúc trước như Hữu Loan, Phùng Quán, Hoàng Cầm...


Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ
Không gian trầm lắng như âu yếm ru ai trong giấc mơ
Mái tóc nhẹ rung, trăng vờn làn gió
Yêu ai anh nắn cung đàn đầy vơi đôi mắt xa vời

Trên đây là 4 câu mở đầu của một bài hát mà chỉ cần chớm hát lên ai cũng biết đó là bài Dư Âm. Bài hát do nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý sáng tác vào năm 1950.

Nhắc đến nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, ai cũng nhớ ngay đến ca khúc Dư Âm nổi tiếng đã in đậm trong lòng nhiều thế hệ yêu nhạc Việt Nam.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý sanh ngày 5 tháng 3 năm 1925. Là một nhạc sĩ nổi tiếng của Việt Nam, ông có nhiều sáng tác từ dòng nhạc tiền chiến đến dân ca, đến những ca khúc nhạc đỏ.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý sinh tại Vinh, Nghệ An, quê gốc ở xã Phú Cường, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Ông đến với âm nhạc không ngẫu nhiên mà nhờ chút năng khiếu bẩm sinh cùng với sự dìu dắt của nhiều người. Người đầu tiên mà ông chịu nhiều ảnh hưởng là cha của ông. Cha ông là một nghệ sĩ khá nổi tiếng thời bấy giờ, cầm đầu một phường bát âm ở miền quê Vĩnh Phú, thông thạo nhiều thứ như bát âm, chèo, chầu văn và hát ả đào. Người thứ hai là một ông đội kèn khố xanh dạy nhạc lý cho ông. Người thứ ba là một bà giáo người Pháp tên Nigon dạy cho ông những bài hát của Tino Rossi đang thịnh hành thời đó. Người thứ tư là một ông cha cố người Tây Ban Nha tên Bresson, cho ông vào dàn nhạc nhà thờ hát thánh ca, ở đó ông được dạy hòa âm và hát bè. Người thứ năm là một thầy dạy nhạc người Hoa tên Mạnh Hinh dạy cho ông chơi đàn guitar. Năm người này là những vị thày đã tạo dựng cho ông vốn âm nhạc lúc ban đầu.


Kể từ năm 1944, ông đi hát trong phòng trà ở Vinh để kiếm sống. Năm 1945, cùng với những người bạn thanh niên đầy nhiệt huyết cùng thời, ông tham gia phong trào Việt Minh. Ông sáng lập và xây dựng đoàn kịch thơ, kịch nói của Thanh niên Cứu quốc Nghệ An. Ông bắt đầu sáng tác vào năm 1947 khi là Trưởng phòng Thông tin tuyên truyền huyện Thanh Chương.

Năm 1948, Nguyễn Văn Tý sinh hoạt ở đoàn văn hóa tiền tuyến thuộc cục Quân huấn. Năm 1950, ông nhận nhiệm vụ đi xây dựng Đoàn Văn công của Sư đoàn 304 và được cử làm trưởng đoàn.

Năm 1949, lúc ông ở vào tuổi 26, trong một chuyến đi công tác về Quỳnh Lưu, qua sự giới thiệu của một người bạn, ông ghé thăm một gia đình có hai người con gái. Cô chị lúc ấy 22 tuổi, còn cô em 16 tuổi. Ông quen với cô chị. Trong một lần ngồi nói chuyện với cô chị, bất ngờ ông bắt gặp đôi mắt lay láy của cô em đứng tì tay lên vai chị nhìn ông không chớp mắt. Đôi mắt ấy đã làm cho ông rung động. Cảm nhận được ông thích em mình mà không thích mình, cô chị đã cấm không cho ông lui tới nhà nữa. Một đêm trăng sáng, lần ghé lại thăm nhà của họ lần cuối cùng, đang ngồi nói chuyện với cô chị ở ngoài sân thì cô em với mái tóc xõa ngang vai, vừa ngồi hong tóc, vừa ôm đàn guitar, hát khe khẽ ở phía xa. Cô bé hát những gì ông không nghe thấy, nhưng hình ảnh của cô gái đó đã theo ông về đơn vị. Ông không còn gặp lại họ nữa, sau lần cuối cùng vào cái đêm trăng sáng ấy.


Cảm xúc trào dâng. Một câu nhạc chợt vang lên trong đầu người nhạc sĩ. Ngay đêm đó, người nhạc sĩ ôm cây guitar, thì thầm hát lên những lời đầu tiên về tình yêu trong mộng ước. “Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ…” phát xuất từ hình ảnh ấy. Ông có cảm giác như có ai đó đang đọc cho ông chép ra những dòng nhạc dạt dào tuôn chảy. Bản nhạc Dư Âm ra đời trong hoàn cảnh đó. Đó là những cảm xúc thật từ một câu chuyện có thật.

Anh yêu tiếng hát êm như lời nguyền đẹp bao ước mơ
Anh như lầu vắng em như ánh trăng reo muôn ý thơ
Muốn nói cùng em đôi lời trìu mến....
Tim anh băng giá đang nhại ngùng câu năm tháng mong chờ

Hẹn em từ muôn kiếp trước
Nhớ em mấy thuở bạc đầu
Anh đã âu sầu vì đường tơ vương vấn
Em để cung đàn đưa anh về đâu?


Dư âm tiếng hát reo lên trong lòng anh bao nhớ nhung
Đê mê lòng nhớ đêm qua giấc mơ môi em hé rung
Anh muốn thành mây nương nhờ làn gió
Đưa anh tới cõi mơ hồ nào đây muôn kiếp bên nàng.

Tuy tình không tới, nhưng người nghệ sĩ lại để lại cho đời một tác phẩm để đời, và rồi ca khúc Dư Âm đã làm nổi danh cái tên Nguyễn Văn Tý từ đó.

Cái “vô duyên đối diện bất tương phùng” ấy lại là một tai họa cho người nhạc sĩ trẻ này. Ba năm sau trong một cuộc chỉnh huấn, Dư Âm được xem là một “dị phẩm”, bị đưa ra kiểm điểm.

Nắm giữ cương vị văn hóa tuyên truyền quan trọng như vậy mà ông lại sáng tác bài hát Dư Âm nổi tiếng quá, nhiều người biết quá, và ủy mị quá. Thế là ông bị phê bình, bị kiểm điểm và bị kỷ luật. Không chỉ bị kỷ luật, kiểm thảo mà ông còn phải đi khắp nơi để chỉ trích chính bài hát mà ông đã sáng tác. Ông thổ lộ “Tôi có đi, nhưng nói không được, vì nói tới đâu người ta lại cười đến đó”.

Sự kiện bị kiểm thảo này làm cho nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý choáng váng, bởi nó xảy ra không bao lâu sau lễ thành hôn của ông với ca sĩ Bạch Lê, em gái nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Niềm vui tân hôn chưa kịp thỏa thì một không khí u ám bao trùm với những câu hỏi dồn ép người nhạc sĩ, rằng vì sao bài hát Dư Âm lại được phổ biến ở “vùng bị địch tạm chiếm”, rằng nhạc sĩ đã nhận được gì của kẻ địch trả công cho?

Dư Âm tuy bị cấm ở miền Bắc trong những năm chiến tranh, trong vùng kháng chiến, nhưng lại rất nổi tiếng và được phổ biến nhiều ở miền Nam trước năm 1975. Trong những năm tháng ấy, nó được sử dụng sâu rộng trong đời sống và nhất là tầng lớp “tiểu tư sản” và học sinh sinh viên miền Nam. Bài hát này cũng đã được lồng trong phim “Kiếp hoa” chiếu ở vùng tự do. Về sau, ca khúc được lưu hành rộng rãi, trở thành một trong những bản tình ca được nhiều người yêu thích. Sau này, năm 1988, ông có viết thêm bài “Dư âm 2” mang tên “Một ánh sao trời” nhưng không được đón nhận nồng nhiệt như bài trước, không để lại chút dư âm nào.

Sau nhiều lần làm kiểm thảo, mọi chuyện vẫn cứ giằng co, rồi bị đào bới mãi làm cho người nhạc sĩ mệt mỏi, tuyệt vọng. Ông đành phó mặc cho số phận dun rủi, và xác quyết sẵn sàng chịu bị trừng phạt nếu có chứng cứ xác đáng. Một thời gian sau, có lẻ do không tìm ra bằng cớ gì rõ ràng để xử kỷ luật, cấp lãnh đạo thông qua bản kiểm điểm thành khẩn của ông. Nhưng rắc rối đến đó vẫn chưa kết thúc.

Năm 1955-1956, phong trào văn nghệ sĩ miền Bắc bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Dư Âm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý không còn là dư âm nữa mà lại một lần nữa gặp rắc rối. Đứa con tinh thần mang tên Dư Âm của ông lại bị đưa lên bàn mổ khi có người đưa tin cha của nó là một thành viên của Nhân Văn Giai Phẩm.

Số là tên ông xuất hiện trong ban biên tập của tạp chí Nhân Văn. Ông cãi chày cãi cối là do nhà thơ Đặng Đình Hưng vì quen biết và yêu mến nhau từ trước tự đưa tên ông vào mà không cho ông biết. Tình ngay ý gian hay tình gian ý gian không ai biết. Chỉ biết một điều là tên ông nằm chình ình ra đó, trên giấy trắng mực đen, làm sao giải thích? Người cộng sản đa nghi, không có còn buộc thành có, huống hồ là có! Ông cãi không lại. Rồi ông bị đưa ra kiểm điểm ở đình Ngọc Hà trước hàng trăm người. Lẽ dĩ nhiên, đó là sức ép buộc ông phải tự nguyện rút chân ra khỏi ban chấp hành Hội Nhạc sĩ ngay từ khóa đầu tiên.

Một điều đáng chú ý là lúc đó, năm 1957, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đang là một trong 5 người (Nguyễn Văn Tý, Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước và Văn Cao) được cử ra thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Lẽ tất nhiên là họ không hề quan tâm đến những thành tựu mà người nhạc sĩ đạt được, sau 4 năm phấn đấu, và sau lần chỉnh đốn tư tưởng trước đó.

Sau đó, dầu cho những người có trách nhiệm về chuyện oan trái này lên tiếng biện bạch cho ông, ông vẫn bị cho là có lập trường tư tưởng sai lầm.

Nguyễn Văn Tý không can trường như Hữu Loan “Tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được!”. Ông cũng không được khẳng khái như Phùng Quán “Yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét”. Ông chấp nhận chỉnh đốn bằng chuyến “đi thực tế”, thực chất là đi đày, lên Điện Biên Phủ 6 tháng liền, năm 1958. Bài “Tiếng hát bản Mèo” ra đời vào năm đó, nó đã mở đầu cho một cung cách sáng tác về đề tài xây dựng xã hội mới của ông.

Tuy vậy, sau đó ông vẫn gần như bị vô hiệu hóa, phải ngồi một chỗ làm những chuyện không đâu vào đâu như dịch sách âm nhạc. Mãi tới bốn năm sau ông mới được thoát khỏi bốn bức tường. Đế đánh đổi sự kềm kẹp ấy ông phải chịu đi đày ở Hưng Yên thêm một thời gian nữa dưới mỹ từ “đi thực tế”, theo chủ trương của cấp trên.

Theo lời khuyên của Lưu Hữu Phước, để khỏi bị chiếu cố, Nguyễn Văn Tý tránh né nhạc vàng, nhạc “ủy mị” để đổi hẳn sang lãnh vực nhạc dân ca, nhạc đỏ.

Trong 5 năm, từ 1962 đến 1967, ông đã lăn lộn với thực tế trên đồng ruộng để rồi cho ra đời những ca khúc đỏ như: “Chim hót trên cánh đồng đay”(1963), “Tiễn anh lên đường” (1964), “Múa hát mừng chiến công” (1966), “Bài ca năm tấn” (1967), …

Có thể nói, ông đã bỏ lại sau lưng dư âm một thời vang bóng và tạo nên một loạt những dấu ấn khác. Nguyễn Văn Tý đã lột xác, ông đã vẽ lên một chân dung âm nhạc mới, một gắn bó với cuộc sống đồng quê, một sức mạnh âm nhạc lạc quan cho quê hương đất nước.

Sau này trở về Hà Nội, ông vẫn sáng tác những ca khúc thấm đẫm chất dân ca với những giai điệu ngọt ngào như “Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa” (1973) hay “Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh” (1974). Thời điểm này, cái tên Nguyễn Văn Tý nổi lên như một ngôi sao tiên phong trong việc sáng tác âm nhạc dân gian, với những đề tài mới.

Sự nghiệp của ông sau đó được tôn vinh bởi Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học và nghệ thuật năm 2000 với những ca khúc “Mẹ yêu con”, “Vượt trùng dương”, “Bài ca năm tấn”, “Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa”, “Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh” và “Dáng đứng Bến Tre”. Trong cuộc đời hoạt động âm nhạc của ông sau đó, ông còn giành được một số giải thưởng khác.

Cuối cùng rồi nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý cũng xuôi Nam. Vào Sài Gòn năm 1976 và định cư ở đó từ đó đến nay.

Phong cách sáng tác của ông vẫn vậy. Những ca khúc của ông hậu 75 chuyên viết về quê hương, toàn là thể loại dân ca, nhạc đỏ và có tính tuyên truyền gồm những ca khúc như: “Người đi xây hồ Kẻ Gỗ” (1976), “Dáng đứng Bến Tre” (1980), “Về Thuận Hải” (1984), “Hát về thành phố biển dầu” (1984), …

Sài Gòn mê hoặc bước chân người nhạc sĩ. Nhưng khi nắng chiều của đời người đã chênh vênh, ông như bị bật ra khỏi chốn phồn hoa đô hội ồn ào náo nhiệt ấy. Cha mất, mẹ mất, vợ mất rồi con mất. Nỗi đau chồng chất khiến ông gần muốn ngã quỵ. Hai lần bị tai biến đã khiến ông bị liệt nửa người, gần như chỉ nằm một chỗ. Ngày ông phải uống hai liều thuốc hạ huyết áp và đủ loại thuốc men cho tuổi già.

Căn nhà của người nhạc sĩ về chiều nằm trên đường Trần Khắc Chân, quận 1, trong một con hẻm ồn ào. Căn nhà giờ lẻ bóng, lạnh lẽo. Ngoài kia song cửa là thế giới ồn ào, đông đúc, trong này là bốn bức tường cô độc, u hoài. Cho nên ông thèm lắm, ông thèm tiếng người. Trong lúc nhà ai lúc nào cũng cửa đóng then cài để tránh những âm thanh chát chúa xô bồ thì các cánh cửa nhà ông đều mở toang như để đón nó. Trong nhà, cái tivi lúc nào cũng mở. Dù rằng âm thanh ấy không dành cho riêng ông, ông vẫn dựa vào nó như một niềm an ủi, để bớt lẻ loi. Ông tâm tình: “Hết nằm lại ngồi. Hết xem tivi lại đọc báo để giết thời gian. Nhưng rồi ngày nào cũng thế nên chán lắm, buồn lắm”.

Đã lâu rồi nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý không còn sáng tác nữa. Nốt nhạc thỉnh thoảng vẫn bật ra trong đầu nhưng bệnh tật tuổi già khiến ông chỉ còn luyến tiếc. Bên góc giường, cây đàn organ cũ kỹ vẫn nằm im ỉm. Trên vách tường, cây đàn tì bà pha màu thời gian vẫn nằm im ỉm. Cũng trên vách tường, bản nhạc Dư Âm được đóng khung treo trang trọng.
Image Ngày nay, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, người nhạc sĩ với tuyệt phẩm Dư Âm làm mê đắm nhân gian, đã ở vào tuổi 87. Một đời làm nên tác phẩm đi vào lòng người, lúc cuối chiều, ông muốn neo mình giữa cuộc đời này. Thế nên, cứ chiều chiều, bên cạnh cái tivi không ngừng tiếng, người ta thấy có một nhạc sĩ già ngồi lặng lẽ trên bộ ghế cũ kỹ, đôi mắt vẫn ngóng qua song cửa như chờ đợi, nhớ nhung một điều gì. Có cái gì đó bẽ bàng, đắng ngắt đằng sau sự cô đơn, lẻ loi, buồn chán....

Trong thời gian thập niên 1990 ông vẫn sáng tác, khoảng hơn 20 bài, nhưng không có ca khúc nào nổi tiếng.

Đôi lúc chợt nghĩ lại những gian truân, trải qua trong những chuyến đi thực tế, ông tự rèn luyện ông trên con đường nghệ thuật, ông thay đổi phong cách sáng tác để hòa nhập, không ai biết được ông nghĩ gì về số phận đã đẩy ông dấn thân vào con đường sáng tác đó. Đó là sự dâng hiến cho sự nghiệp âm nhạc cách mạng của ông.

Như vậy ông đã sống gần nửa đời ông ở đất Sài Gòn. Sống giữa thành phố ồn ào náo nhiệt nhưng người nhạc sĩ thố lộ ông cảm thấy mình chưa hề hòa nhập với nó. “Với một người luôn giữ những cái cũ như tôi, ở thành phố này có nhiều khoảng trống lắm”, giọng ông buồn bã.

Giờ đây, ở vào cái tuổi gần cửu thập cổ lai hy, sau mười năm cam chịu với bệnh tật và nỗi buồn chia xa sau khi người vợ yêu quý của ông qua đời, ông sống lẻ loi một mình trong ngôi nhà nhỏ đơn sơ. Hằng đêm, ông đếm từng canh giờ, lắng nghe những chuyển động trong tâm hồn ông với bao ký ức tràn về. Canh một, canh hai, canh ba,... Những dư âm cuộc đời bỗng ngân vang trong tâm tưởng ông. Ông thầm hát lại bài ca cũ, với âm thanh trầm buồn, sưởi ấm những đêm buồn bã, cô đơn.

Ông đã sắp đi hết một hành trình của kiếp người, cái còn lại an ủi ông phải chăng là những bài hát, những người yêu nhạc ông. Những tưởng đối với nghệ sĩ, đó là điều quý nhất. Nhưng không. Ông buồn bã tâm sự: “Không có thứ gì cả. Một đống tài liệu, các bài hát này với thời gian sẽ mất đi. Giờ ít người hát nhạc của tôi lắm, họ tội gì hát mãi những bài ca cũ. Những bài hát này chỉ là những dư âm còn lại”.

Đúng vậy. Những bài hát chỉ là những dư âm còn lại. Tiếc rằng Nguyễn Văn Tý ngày trước đã “lầm đường lạc lối”, ông đã chọn và đổi hướng đi theo con đường sác tác chỉ đạo, nên đã không cống hiến được cho đời những bản nhạc để đời về sau, cũng như không lưu danh với đời tiếng bất khuất, khẳng khái, như những người bạn văn nghệ đồng thời của ông lúc trước như Hữu Loan, Phùng Quán, Hoàng Cầm,...

Dư Âm chỉ còn là dư âm. Tiếc thay!

9 tháng 10 năm 2012
Trần Việt Trình

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image


Khánh Ly: Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…
Gần đây dư luận bỗng nhiên xôn xao về sự kiện Khánh Ly mới được csvn “cấp giấy phép” cho về hát tại Việt Nam (Hà nội, Đà nẵng và Sài gòn) trong 2 tháng cuối năm 2012.

Các bài viết dài có ngắn có, các nhận định “Pro and Con” gởi tới các diễn đàn Việt ngữ một mặt thì bênh vực Khánh Ly, mặt khác tấn công Khánh Ly tới tấp. Mỗi ngày, từ đời tư (KL có mấy đời chồng, mấy con), đến tư cách (KL xù “show,” đòi tăng “cát-xê” vào phút chót) rồi quan điểm chính trị nồi chõ (KL về Việt Nam thì nói tốt cho cs, về Mỹ thì đả kích cs…) được triễn lãm miễn phí hàng loạt loại chuyện dài nhân dân tự vệ. Dân trên mạng đọc đến muốn ngán chè đậu luôn…

Để cho quý đọc giả ngán thêm một chút (!) Người viết xin liệng thêm một cục đá xanh rất xấu xí vào cái đống xà bần đang còn nóng này; Nhưng đặc biệt (?) lần này, có kèm theo cái nhìn riêng của một người gọi là có chút duyên được quen biết mợ Khánh Ly (nếu quý vị, muốn chưởi tui là “Ôi thôi. Lại ba cái vụ ‘thấy người sang bắt quàng làm họ,’ ” thì cũng đành chịu. Chẳng có chết thằng Tây nào!) lúc Khánh Ly còn nghèo rớt mồng tơi; chân ướt chân ráo, những ngày đầu tiên năm 1976, đến định cư ở Los Angeles từ Miami, Florida.

Đời sống của những ngày đầu trên đất tạm dung, Khánh Ly cũng như mọi người Việt tị nạn khác, không có cái gì là “huy hoàng,” là “diễm lệ” hết ráo. Người viết, một tay nghề rửa chén “full time,” sau giờ rửa chén, hưởn có dịp đôi ba lần tháp tùng ông anh họ của tôi đến thăm bà chị Khánh Ly (KL hơn tôi 5 tuổi) đang sống ở một cái “apartment” rất khiêm nhường một phòng ngủ nằm ngay giữa khu người Mễ nghèo ở Los Angeles. Những lúc như vậy, Khánh Ly tự than thở rất tự nhiên với tụi tui: “Bây giờ chị là ‘nữ hoàng eo-phe’ chứ không còn là ‘nữ hoàng chân đất’ nữa!” Khánh Ly đã có chỉ cho tôi xem một lô băng “cassettes” chất đống trong góc phòng ngủ do chính tay Khánh Ly mới vừa tự “sản xuất” với tiếng hát của “Nữ Hoàng eo-phe” cùng độc nhất tiếng đệm đàn “guitar” thùng bình bịch của Bác sĩ Billy Trung. Băng “cassettes” được thu với kỹ thuật trùm mềm và sang ra thành nhiều bản bằng tay cũng ngay “trên căn gác đìu hiu, chiều chủ nhật buồn” ọp a ọp ẹp này. Khánh Ly nhờ các chợ Việt, lúc đó năm 1976, cũng nhỏ xíu rất khiêm nhường của người Việt gốc Hoa ở Chinatown bán dùm để kiếm thêm chút tiền còm nuôi 3 đứa con thơ.

Về nhu cầu cần di chuyển loanh quanh vùng Los Angeles, San Diego, vì Khánh Ly không (chưa) biết lái xe cho nên Khánh Ly và các con phải nhờ các ông Nam Lộc, Jo Marcel, hoặc ông anh của tôi giúp cho một tay… Ông anh tôi độc thân tại chỗ loại “tứ cố vô thân tứ bề nhão nhéc” giống y như hoàn cảnh của tôi, mỗi lần chở Khánh Ly đi loanh quanh như vậy thường kéo tôi theo cho nó có số đông an toàn hơn… Thành ra tôi có cái duyên thỉnh thoảng nói chuyện trời ơi đất hỡi vô thưởng vô phạt với Khánh Ly… Cho đến khi Khánh Ly gặp Nguyễn Hoàng Đoan ở San Diego thì cái duyên lảng xẹc “thấy người sang bắt quàng làm họ” này như cánh vạc bay… Thật ra phải noái thêm một tí ở đây cho nó trọn phim bộ là nhờ sự quen biết “nhớn” với Khánh Ly từ trước này mà văn hào “Con ma vú dài” Nguyễn Hoàng Đoan, nguyên chủ báo Hồn Việt lúc bấy giờ, ban cho một “dốp” khiêm nhường nhưng có cái “tittle” dài lòng thòng nghe phát nản là “chuyên dziên xếp báo, dán nhãn, đóng bao bì, vác ra bưu điện part-time…” Sự nghiệp “xếp báo part-time” không có gì là vinh quang này rồi cũng lại phải theo cánh vịt quay luôn vì văn hào “ma vú dài” nhà ta cứ quên trả tiền công dù chỉ là tiền dưới lương tối thiểu hoài à… (Ậy! Alzheimer's Disease ở tuổi 30’s)

Trở lại vấn đề Khánh ly về Việt Nam. Trước khi nói chuyện “Khánh Ly về hay không về?” tôi đã đọc kỹ lại bản chính của cái gọi là “Giấy Chấp Thuận” số 691 từ Hòn (Cục) Nghệ Thuật Biểu Diễn - thuộc Bộ Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch của chính quyền csvn – ký tên đóng dấu son hẳn hòi rất long trọng đề ngày 24 tháng 9 năm 2012 của đồng chí Hòn trưởng Vương Duy Biên cho phép Khánh Ly về hát ở Việt Nam từ ngày 25 tháng 9 năm 2012 đến ngày 31 tháng 12 năm 2012; thì thấy rất rõ ràng một điều quan trọng là Khánh Ly đã nhờ Công ty Giải trí Đồng Dao (của cai thầu văn nghệ Nguyễn Ngọc Sơn ở Sài gòn) xin phép dùm. Bởi vì tờ giấy chấp thuận này có ghi rõ số thẻ thông hành Hoa kỳ (US Passport) của Khánh ly (số 460761186)… Theo bộ luật rất lẩm cẩm “con gà và quả trứng (nguyên nhân / hậu quả)” - Mỹ họ gọi là “cause and effect” - là nếu Khánh Ly tuyệt nhiên không có ý muốn về Việt Nam trình diễn thì không bao giờ có cái “Giấy Chấp Thuận” mắc dịch mắc gió này được ban hành ban tỏi làm quái gì cho nó làm lạc hướng các cao trào chống đối của dân chúng về bản án 26 năm tù đối với 3 “bloggers” với tội tày trời “chống phá đảng và nhà nước xhcn…”

Như vậy vấn đề ở đây thật ra cũng đơn giản thôi, không phải chuyện to tát loại mù sờ chân voi. Nói cách khác, không có gì là khó hiểu mà phải võ đoán. Cái chiệng đã đưa đến mọi sự bàn cãi bình loạn, thanh minh rồi thanh nga, phỏng vấn tới phỏng vấn lui… đã có một “chân lý” khá rõ không cần phải tốn thêm hơi thêm bia:

“Khánh Ly thật sự muốn đi về Việt Nam trình diễn…”
(Ái chà! “… nhưng sao đi mà không bảo gì nhau?” – Nguyên Sa)

Bây giờ là tuần lễ thứ hai của tháng 10/2012. Khánh Ly còn 1-2 tháng để tính chuyện phải quấy hoặc sửa soạn hành lý, Khánh Ly có vài lựa chọn loại “make or break” mà tôi lần lượt đề nghị ở phần dưới đây để mợ Khánh Ly, nếu hưởn, xem lại.

Thương nữ bất tri vong quốc hận

Câu thơ “bất hủ” này, gần đây được dư luận phần lớn nóng tính gắn liền nó với sự nghiệp cầm ca của Khánh Ly. Chúng như hai miếng Velcro cứ dính chặt vào nhau. Riêng cá nhân tôi, tôi thấy Khánh Ly không (chưa) đến nỗi là loại “thương nữ” thường tình như cái ý (xấu) của nó.

Như mọi người đều biết, Khánh Ly có liên hệ mật thiết với tên cộng sản Trịnh Công Sơn; nhưng trong những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975, Khánh Ly, là dân bắc kỳ di cư 54, đã can đảm và sáng suốt hơn TCS rất nhiều, quyết định không ở lại để làm thân “thương nữ 30 tháng 4” dang tay “nối vòng tay nhỏ” với TCS. Đến chiều 29-4-1975, Khánh Ly sau khi mất lien lạc với chồng (?) là Trung Tá Đỗ Hữu Tùng TĐ6 TQLC (có cả tin đã tử trận) từ Đà nẵng, đã quyết định bỏ tất cả của cải, tài sản rất lớn đem 3 đứa con rời quê hương; mặc dù Khánh Ly không biết trong một bối cảnh hoàn toàn xa lạ sắp đưa đến, tương lai, sự sống của mình và các con sẽ đi về đâu? Không biết mình còn có cơ hội tiếp tục con đường nghệ thuật hay không?

Đời sống mới trên đất tạm dung, từ con số không sát mặt đất, Khánh Ly cũng như mọi tầng lớp người Việt tị nạn cs khác, làm mọi việc tay chân để bắt đầu gầy dựng lại từ đầu. Khi đời sống của dân Việt tị nạn cs tạm ổn định, khi nhu cầu nghe nhạc Việt bắt đầu lên cao, Khánh Ly với vốn liếng sẵn có là giọng hát rất lôi cuốn và tên tuổi đã được biết đến, ưa chuộng từ trước 1975, đã thành công rất lớn cả về mặt nghệ thuật lẫn tài chánh…

Mặc dù đã có “Cách giang” về Việt Nam hai lần (1997 và 2000) với mục đích để thăm gia đình (?), Khánh Ly có lần tuyên bố này nọ với truyền thông cs với giọng điệu hàng hai muốn hiểu sao thì hiểu để không mất lòng giới chức cs (tuy có làm mất lòng một số người quốc gia ở hải ngoại!) nhưng ít nhất, Khánh Ly chưa có “xướng Hậu đình hoa” gì với cs trong nước (cũng có nghĩa là chưa hát “show” nào cho cs nghe) như các trường hợp rất ngán ngẩm, ê chề, vô liêm sỉ của đám thợ hót Hương Lan, Lệ Thu, Thanh Tuyền, Nguyễn Cao Kỳ Duyên, Ý Lan…

Riêng về trường hợp Khánh Ly đã “xướng Hậu đình hoa” với đám viên chức từ tòa lãnh sự csvn tại San Francisco (?) cùng với Nguyễn Cao Kỳ Duyên, cha con Tô Văn Lai của trung tâm Thúy Nga gần đây, trong một buổi tiệc Giáng Sinh năm 2009 tại Huntington Beach, California (Một buổi tiệc do một số công ty có quan hệ làm ăn với chính quyền Việt Nam tổ chức) thì Khánh Ly trả lời là : “Khánh Ly không thể soát ID’s của từng thính giả ở buổi họp mặt văn nghệ này;” Bình thân tôi vẫn tự xem là người chống cộng tới bến, nhưng lại cho là sự việc chỉ trích “Khánh Ly hát cho cs nghe” ở đây có vẻ hơi khắt khe; vì tôi thấy Khánh Ly trả lời cũng có phần phải: Khánh Ly không phải là người tổ chức buổi tiệc và không có thẩm quyền gì về việc cho (hay không cho) ai tham dự? Quý vị thủ tự đặt mình vào trường hợp tham dự này thì có lẽ thông cảm hơn…

Có con ngựa gỗ thành Troy (Trojan Horse)?

Trong cơ hội “cách giang” cuối năm 2012 lần này, Khánh Ly có một số thử thách quan trọng có một không hai trong cuộc đời Khánh Ly.


1- Về Việt Nam theo sự “chấp thuận” của cs… rồi “biểu diễn” cho những “show” mà cs sẽ “dàn dựng” trước; hát với những bài hát cs chỉ “cho phép;” sẽ nói những câu nói cs đã viết, sắp đặt sẵn. Các “show” sẽ bán vé giá cao đắt tiền chỉ có cán bộ cao cấp và tham nhũng cs mới đủ tiền mua (Ai là người có đủ tiền mua vé 100 - 500 đô la vào nghe Khánh Ly hát? Đồng bào kiếm được dưới 2 đô la một ngày thì moi tiền ở đâu ra để mua vé cỡ bạc trăm vào nghe Khánh Ly hát?) Hát “giúp vui” cho cs cao cấp; chiều theo ý của cs tất nhiên Khánh Ly sẽ hốt được một số bạc rất lớn; đồng thời cs sẽ thích chí gãi háng đồng loạt hót bài “như có boác hồ trong ngày vui…” vì bọn họ đã đạt được mục tiêu tuyên truyền cho chính sách gọi là “cởi mở” bịp bợm… Khi Khánh Ly trở lại Mỹ, Khánh Ly sẽ bị cộng đồng tị nạn phỉ nhổ, tẩy chay, xa lánh (như trường hợp Nguyễn cao cầy trước đây); xem tư cách Khánh Ly không hơn gì tư cách một con điếm: Chỉ vì một mớ đô la; không màng gì đến tình cảnh đất nước, đến sự đau khổ của đồng bào. Đúng y như Đỗ Phủ đời nhà Đường đã mô tả:

“Thương nữ bất tri vong quốc hận,
Cách giang do xướng Hậu đình hoa"

(Tạm dịch là: Kỹ nữ / gái điếm đâu biết hận vì mất nước;
Bên sông vẫn hát Hậu đình hoa – giúp vui cho giặc cướp nước).

Cái hoàn cảnh “xướng Hậu đình hoa” bẽ bàng như vậy sẽ tự nhiên vô hiệu hóa các lời nói giải thích hoa mỹ lơ lửng con cá vàng từ trước tới giờ của Khánh Ly. Nói tóm lại, tất cả sẽ đều là “talking cheap,” sẽ chỉ là ngụy biện. Khánh Ly sẽ tiêu biểu cho một cái “low life” sẵn sàng bán đắt bán rẻ tư cách, lương tâm với mục đích kiếm tiền cho đầy túi. Lúc đó người viết cũng xin đành chào thua, ốt dột; xin nhận lỗi với tất cả quý vị là đã cất công lên tiếng bênh vực cho người bất xứng.

2- Ngược lại, tôi lập lại nếu ngược lại, Khánh ly về Việt Nam theo một cách khác – không phải như lối “thương nữ bất tri vong quốc hận...” Tôi thách thức Khánh Ly là nếu về Việt Nam hát thì Khánh Ly sẽ hát cho đồng bào, cho quê hương nghe; Khánh Ly dám tổ chức những buổi hát ngoài trời miễn phí cho đồng bào, sinh viên, lính bộ đội cũng như lính cựu QLVNCH nghe như những ngày trước năm 1975 không? Và nhất là Khánh Ly sẽ dám gan lỳ hát bài “Gia tài của Mẹ” với lời lẽ hợp tình hợp cảnh như chưa có khi nào tốt hơn:

“Một ngàn năm nô lệ giặc tầu
một trăm năm đô hộ giặc tây
hai mươi năm nội chiến từng ngày
gia tài của mẹ, để lại cho con
gia tài của mẹ, là nước Việt buồn

Dạy cho con tiếng nói thật thà
mẹ mong con chớ quên màu da
con chớ quên màu da, nước Việt xưa
mẹ mong trông con mau bước về nhà
mẹ mong con lũ con đường xa
ôi lũ con cùng cha, quên hận thù

Một ngàn năm nô lệ giặc tầu
một trăm năm đô hộ giặc tây
hai mươi năm nội chiến từng ngày
gia tài của mẹ, một bọn lai căng
gia tài của mẹ, một lũ bội tình.”

Nếu được như vậy, Khánh Ly sẽ mãi mãi là một nữ anh thư trong lòng tôi và trong lòng những người dân Việt muốn đánh đổ chế độ toàn trị thối nát csvn. Sau khi từ Việt Nam trở lại Mỹ, Khánh Ly sẽ để lại ở Việt Nam con ngựa gỗ y như dân Hy lạp đã để lại ở thành Troy (trong câu chuyện cổ Hy lạp “Trojan Horse”)… Một ngày không xa các chiến sĩ vô hình trong con ngựa gỗ cũng vô hình này sẽ mở đồng loạt mở tất cả các cánh cửa dân chủ ở Việt Nam để đón các “thế lực thù địch” vào một lượt, đưa trọn nguyên con bầy lũ cs vào ống cống Gaddafi.

3- Một cách nhẹ nhàng tốt đẹp khac mà cũng là giải pháp “Bên ta vô sự; Bên địch chết hết – mặc dù không phải bắn một viên đạn nào!” Đó là Khánh Ly chính thức từ chối cái hòn bố lếu bố láo Biểu diễn Cứt gà của vi-xi theo cái “văn hóa cấp cao” của cs như Tạ Phong Tần vẫn đối thoạai với công an cs là:

“Tổ cha nhà chúng mày. Bà đâu có ngu như lợn mà dẫn xác về đó để cho lũ chúng mày bề hội đồng.”

Bây giờ, còn hai tháng để “tapis” cs ván bài chót… Khánh Ly đang nắm ưu thế, trên đà thắng vì các con cờ then chốt, các câu trả lời đều nằm gọn trong tay Khánh Ly... Má ơi! 67 tuổi rồi còn gì! Đừng để lũ Việt cộng đểu giả lươn lẹo đốt hết những ngày còn lại của đời mình trong chỉ trong một chuyến đi gọi là “được chấp thuận về hót…”

Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…

Trần Văn Giang
Ngày 8 tháng 10 năm 2012

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Image

Nhạc sĩ Trần Trịnh vừa trút hơi thở cuối vào lúc 5g25 chiều nay, thứ tư ngày 10 tháng 10 năm 2012 tại nhà thương UCI Medical. Lúc Ông ra đi, có 2 con trai là Tùng Trần và Ngọc Trần bên cạnh. Chị ruột Ông (vợ cố giáo sư Nguyễn Đình Hòa) từ Pala Anto (miền Bắc Cali) cùng 2 con gái có bay xuống thăm em trai cách đây mấy ngày. Ca sĩ Mai Lệ Huyền trước khi đi xa 15 ngày, đã kịp vào thăm Ông lần cuối và Phương Hồng Quế cũng như TQB đã có những đoạn phim thu hình rất xúc động.
Trước đây, vợ cố nhạc sĩ Nhật Ngân đã mua sẵn cho nhạc sĩ Trần Trịnh miếng đất cạnh ngay nơi chôn chồng mình, nhưng 2 tuần cuối cùng này, có lẽ biết mình khó qua, Ông yêu cầu được thiêu để tro cốt 2 vợ chồng được gần nhau. Tang lễ phần tụng niệm sẽ do các thầy của chùa Liên Hoa phụ trách.
Nhạc sĩ Trần Trịnh ra đi, để lại 2 đứa con trai chưa ai lập gia đình, và hoàn cảnh 2 cháu hiện nay cũng gặp nhiều khó khăn về kinh tế. Mọi chia buồn an ủi xin gọi về cho cháu Tùng Trần (con trai lớn của nhạc sĩ Trần Trịnh): (714)612-4840

Nhạc Sĩ Trần Trịnh, tên thật là Trần Văn Lượng, sinh năm 1937 tại Hà Nội. Vào Nam năm 1945.
Học Nhạc với Thầy Remy Trịnh Văn Phước (Tiến sĩ âm nhạc tại Roma), vì vậy ông lấy tên là Trần Trịnh.
Tác phấm đầu tay của ông là "Cung Đàn Muôn Điệu", phổ biến năm 1954.
Tác phẩm nổi tiếng "Chuyến Xe Về Nam" được phổ biến năm 1955.
Ông đã phổ bài thơ "Hai Sắc Hoa Ti Gôn" của T.T.KH. vào năm 1957.
Từ năm 1958-1968, ông tạm ngưng sáng tác để nghiên cứu về nhạc.
Năm 1968, ông sáng tác bản "Lệ Đá", lời của Hà Huyên Chi. Cùng năm ấy, ông điều khiển chương trình Đại Hợp Tấu và Hợp Xướng "Đống Đa" trên Đài Truyền Hình.
Cộng tác với Nhạc sĩ Nhật Ngân và Nhạc sĩ Lâm Đệ, lấy tên chung là TRỊNH LÂM NGÂN, với những tác phẩm nổi tiếng như: " Xuân Này Con Không Về", "Mùa Xuân Của Mẹ", "Thu Xuân Trên Rừng Cao", "Qua Cơn Mê", "Yêu Một Mình"...
Ca khúc "Tiếng Hát Nửa Vời", sáng tác năm 1975.
Ông đến Hoa Kỳ năm 1995 và hiện định cư tại California. Tác phẩm mới nhất năm 2006: Chiếc Lá Cuối Cùng, phổ bài thơ "La Dernière Feuille".



Nhạc sĩ TRẦN TRỊNH - Hôm qua & hôm nay...

Bài Nguyễn Việt
Khi viết về nhà thơ Hà Huyền Chi với các lời trong ca khúc “Lệ Đá”, chúng ta cũng không quên nhạc sĩ Trần Trịnh là cha đẻ những nốt nhạc cho nhạc phẩm này.

Theo chúng tôi biết hiện giờ nhạc sĩ Trần Trịnh sống rất khó khăn bên trời Mỹ và sau đây có ít dòng viết về ông.
Nhạc sĩ Trần Trịnh tên thật Trần Văn Lượng, sinh năm 1937 tại Thái Lan nhưng trưởng thành tại Hà Nội và vào Nam vào năm 1945. Ông theo học tại trường Trung Học Taberd Sài Gòn, và học nhạc lý với thầy Remi Trịnh Văn Phước (tiến sĩ âm nhạc tại Roma) tại trường này, nên lấy bút danh là họ của 2 người thành tên Trần Trịnh từ đó.

Theo lời kể của nhạc sĩ Trần Trịnh, cho biết âm nhạc đã quyến rũ từ lúc ông đang theo học chương trình Pháp tại trường Taberd suốt 10 năm ròng, từ 1945 cho đến 1955, và đậu bằng Tú Tài 2 thời Pháp trong thời gian này. Nhưng niềm đam mê âm nhạc của ông đã gặp trở ngại, bố mẹ ông đã không đồng ý cho ông đi theo ngành này. Mặc dù bố ông là một nhân viên của tòa đại sứ Pháp theo tây học, nhưng cụ vẫn mang tính phong kiến, không mấy cảm tình với cuộc đời nghệ sĩ cho rằng “xướng ca vô loại”. Còn mẹ ông, một phụ nữ người Lào - vợ sau của bố ông - cũng chẳng khuyến khích cậu con út trong 3 người con của bà theo đuổi ước mơ.

Dù vậy nhạc sĩ Trần Trịnh đã đến với lãnh vực sáng tác, khi còn theo học những giờ nhạc lý do thầy Rémi hướng dẫn, và về sau ông còn theo thầy qua Chủng viện Taberd bên Thanh Đa, được thầy huấn luyện về âm nhạc trong suốt 9 năm từ năm 1958 đến năm 1967. Nên ông đã có được một căn bản vững vàng về nhạc pháp cũng như về nghệ thuật sử dụng piano.

Sáng tác đầu tiên của nhạc sĩ Trần Trịnh là “Cung Đàn Muôn Điệu” viết năm 1950, năm ông được 14 tuổi. Đến năm 17 tuổi nhạc phẩm này mới được nhà xuất bản An Phú nhận phổ biến; năm 1956 lại được nhà xuất bản Diên Hồng đem tái bản. Sau này được dùng làm nhạc chuyển mục trong một chương trình tân nhạc cùng với bài “Chuyến Xe Về Nam” (do nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành năm 1955). Cũng trong năm1956, ông lại cho ra thêm một nhạc phẩm khác mang tên “Viết Trên Đường Nở Hoa”.

Sau khi đậu bằng Tú Tài 2 Pháp, năm 1955 nhạc sĩ Trần Trịnh được gia đình gửi lên Đà Lạt để vừa học vừa làm tại Nha Kiến Trúc. Năm 1957, ông đi quân dịch, đã viết bài “Đôi Mươi”. Đến năm 1958, ông phổ thơ bài “Hai Sắc Hoa Ti Gôn” của thi sĩ T.T.KH. đây cũng là một bản nhạc rất ăn khách lúc bấy giờ.

Tuy nhiên, người yêu nhạc biết đến tên tuổi của nhạc sĩ Trần Trịnh vẫn là bài “Lệ Đá” do ông sáng tác nhạc năm 1968 được nhà thơ Hà Huyền Chi đặt lời.

Ngoài nhạc phẩm điển hình này, ông còn là tác giả của nhiều nhạc phẩm đặc sắc khác, mà trong số có rất nhiều bài là đồng sáng tác với hai người bạn nghệ sĩ là Nhật Ngân và Lâm Đệ ký dưới bút danh Trịnh Lâm Ngân trong những thập niên 60 và 70. Cả ba từng quen nhau trong Ban văn nghệ thuộc TT huấn luyện Quang Trung. Trong bộ ba, Trần Trịnh và Nhật Ngân phụ trách viết nhạc và lời, còn Lâm Đệ phụ trách phần thâu thanh và phát hành.
Trong thời gian này, bộ ba đã sáng tác một số lớn những bài hát với âm hưởng dân tộc như : Xuân này con không về, Mùa xuân của mẹ, Qua cơn mê, Yêu một mình, Hai trái tim vàng, Chiều qua phà Hậu giang, v.v… Không chỉ là người sáng tác nhạc, nhạc sĩ Trần Trịnh còn là một trong những nhạc sĩ có nhiều gắn bó với các phòng trà khiêu vũ trường tại Sài Gòn lúc đó.
Vào những năm học cuối cùng với thầy Rémi, ông bắt đầu đi tìm việc tại các phòng trà trong vai trò nhạc công sử dụng đàn piano. Khởi đầu cộng tác với một phòng trà nhỏ tên Lệ Liễu. Sau vào làm tại phòng trà Bồng Lai trên đường Nguyễn Trung Trực – Lê Lợi. Và dần dần được mời cộng tác với tất cả những phòng trà và khiêu vũ trường khác tại Sài Gòn.

Nhận biết được khả năng âm nhạc của Trần Trịnh, đài truyền hình đã giao ông phụ trách một chương trình ca nhạc vào năm 1967, từ đó ông trở thành nhạc trưởng của ban văn nghệ Đống Đa, cùng với ban Vũ Thành và Tiếng Tơ Đồng, là 3 ban văn nghệ có giá trị nghệ thuật vào giai đoạn đó.

Trong một lần tham gia công tác văn nghệ tại Bình Long vào năm 1964, nhạc sĩ Trần Trịnh quen với Mai Lệ Huyền, lúc đó là ca sĩ nghiệp dư trong ban văn nghệ của tỉnh do nhạc sĩ Bắc Sơn làm trưởng ban. Thời kỳ này Mai Lệ Huyền đang sống cùng cha mẹ ở đây.

Sau khi trở về, hai người thường thư từ qua lại và dần dần có những tình cảm đậm đà. Trần Trịnh đề nghị Mai Lệ Huyền về Sài Gòn để được gần gũi và tiện việc “lăng-xê” hơn. Mai Lệ Huyền nhận lời, và chỉ sau một thời gian cả hai đã trở thành vợ chồng trong năm 1964, có cùng nhau một con gái tên Lệ Trinh, sinh năm 1965, hiện cũng là một ca sĩ đang còn ở Sài Gòn.

Sau khi thành vợ chồng, nhạc sĩ Trần Trịnh đã giới thiệu Mai Lệ Huyền đi hát ở tất cả những phòng trà khiêu vũ trường ông cộng tác. Cũng khởi đầu tại phòng trà Lệ Liễu, vì nhận thấy giọng hát của Mai Lệ Huyền thích hợp với thể loại nhạc tươi vui, vì thế ông cùng với nhạc sĩ Nhật Ngân sáng tác loại nhạc kích động để vợ trình diễn song ca cùng Hùng Cường như Gặp nhau trên phố, Vòng hoa yêu thương, Hai trái tim vàng, v.v...

Trong khi đó nhạc sĩ Trần Trịnh không thể đi vì song thân ông đã cao tuổi. Vào năm 1977, ông còn ở lại quê hương và lập gia đình lần thứ hai. Người vợ sau đã cho ông 3 người con trai. Nhưng người con đầu lòng bị thiệt mạng trong lúc tắm sông với bạn bè. Người thứ nhì hiện đang phục vụ trong binh chủng hải quân Mỹ, có khả năng sử dụng kèn trumpet. Người con út cũng rất thích nhạc nhưng không có khuynh hướng đi theo con đường của ông.

Sau 1975 còn ở lại quê hương, nhạc sĩ Trần Trịnh không còn sáng tác nhạc, chỉ chú trọng đến việc cộng tác với hết đoàn hát này đến đoàn cải lương hay gánh xiếc khác để mưu sinh. Khởi đầu ông cộng tác với đoàn cải lương Cửu Long cùng với tay trống Phùng Trọng và vài nhạc sĩ khác. Mãi đến năm 1982, khi các phòng trà được phép hoạt động, ông về làm nhạc trưởng tại phòng trà Đệ Nhất Khách Sạn là nơi ông đã từng giữ vai trò then chốt về chương trình từ khi mới khai trương vào đầu thập niên 70.

Liên tục ông làm tại phòng trà Đệ Nhất sau là các vũ trường, suốt gần 10 năm liền, rồi sang cộng tác với vũ trường Maxim's vào năm 1991. Nhưng chỉ hơn 3 năm, ông đã gặp một tai nạn xe cộ khiến bị thương nặng ở chân nên phải xin nghĩ việc.

Image
Nhạc Sĩ Nguyễn Hiền (accordeon), Nhạc Sĩ Trần Trịnh (keyboard) và ban nhạc Star Band:
Eric, Trần Minh, Châu Hiệp, Lý Văn Quý, Phạm Gia Cổn, Thanh Hùng, vào 2005.
Vào tháng 10/1995 nhạc sĩ Trần Trịnh đi Mỹ theo diện ODP (đoàn tụ gia đình) do người chị ruột bảo lãnh. Nhưng chỉ sau 3 tháng ở San Francisco, gia đình ông quyết định dời xuống Orange County, bởi ở đây có môi trường hoạt động âm nhạc và ông dự định sẽ có cơ hội phát triển hơn ở San Francisco.

Nhưng thật sự hoạt động của nhạc sĩ Trần Trịnh chỉ duy trì được ở mức trung bình do tình trạng băng đĩa từ Việt Nam càng ngay càng đổ qua ào ạt khiến nhiều trung tâm âm nhạc và trình diễn cũng như các nghệ sĩ độc lập phải chùn bước trước trước sự cạnh tranh đáng ngại này. Bởi vậy, khả năng âm nhạc của ông cũng đã không còn được sử dụng.

Hiện nay ông chỉ chú tâm vào việc nghiên cứu nhạc và đã sáng tác thêm một số bản nhạc, trong số những bài này có Trái sầu đầy và Một đoá bâng khuâng màu e ấp. Ngoài ra, một số bản nhạc mang lời Anh ngữ do ông sáng tác được Hilltop Records Hollywood giới thiệu vào albums, có những bản Forget Me Not, The Stars Band, Crying Rocks, mà gần đây nhất là bài Forever Love vào năm 2008 trong album “The Best of Hilltop.”

Tuy không còn nhiều hứng thú trong việc sáng tác, nhưng gần đây nhạc sĩ Trần Trịnh đã bất chợt tìm lại được nguồn rung cảm khi thưởng thức lại bài thơ La Dernière Feuille (Chiếc lá cuối cùng) của thi sĩ Théophile Gauthier, liền sau đó ông đã phổ nhạc cho bài thơ bất hủ này. Nhạc phẩm “Chiếc Lá Cuối Cùng” cũng chính là nhạc phẩm cuối cùng trong cuộc đời sáng tác của ông.

Cuộc sống hiện nay của nhạc sĩ Trần Trịnh rất vất vả, vợ ông vừa qua đời sau nhiều năm chống chọi với căn bệnh ung thư ác nghiệt và bản thân ông sức khoẻ cũng suy giảm nhiều. Hiện nay ông chỉ sinh hoạt với ban nhạc Stars Band...

Nguyễn Việt

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Cái chết và hoài vọng của một nhà thơ

Viên Linh


Trong vòng non một năm nay, giới văn nghệ hải ngoại rời bỏ cõi đời theo một nhịp độ có hơi gấp gáp.
Trước đó, trong sự im lặng, vắng tiếng, vắng hình, độc giả có thể đoán chừng nhà văn nhà thơ họ hâm mộ
đang hoàn tất một tác phẩm nào đó, sau rồi mới biết là không có tác phẩm nào được hoàn tất.

Image
Nhà thơ Phan Phong Linh (1911-1956), chết với hoài vọng dở dang. (Hình và tài liệu của Viên Linh)

Có thể là có, mà sự đoán chừng không được trả lời, hay chưa được trả lời. Bây giờ là tháng 10, 2012, đúng tháng này năm ngoái, ngày 11 tháng 10, 2011, người ra đi là thi sĩ Hà Thượng Nhân (1922-2011). Hơn 3 tháng sau đến lượt thi sĩ Cao Tiêu (1929-2012). Hai vị ra đi ở tuổi bát tuần, kể là đại thọ, để lại sự thương tiếc cho hầu hết thi văn giới, vì các ông là những bậc trưởng thượng, và suốt đời sống trong thi ca, báo giới, nhiều người biết tên biết tuổi, hơn nữa lại còn được quen biết, thân thuộc, hay làm việc với ông trong các ngành sinh hoạt như: giáo dục, thi ca, trong và ngoài báo giới, đài phát thanh quốc gia hay đài quân đội.

Thế nhưng sau đó, ba bốn người trẻ hơn liên tiếp lìa đời: các nhà văn Tuấn Huy, Nguyễn Mộng Giác, Ðịnh Nguyên, và mới đây nhất: Nguyễn Chí Thiện. Cả bốn người này đều là cư dân Quận Cam, nhiều năm sinh sống và viết lách ở Little Saigon. Ðó là chúng tôi không kể tới nghệ sĩ Lữ Liên, mất vào tháng 7 vừa qua, một đại lão nghệ sĩ thọ 95 tuổi. Chúng ta đang nói về những nhà văn mới ra đi, với ước đoán là họ có để lại những hoài vọng nào chăng, vì so với mức trường sinh trong đời sống ở Hoa Kỳ, thì ra đi vào tuổi vừa 70 là có hơi sớm, và trên 60 là còn quá trẻ.

Người viết bài này còn nhớ khoảng giữa thập niên '50, nhà thơ Phan Phong Linh mất ở tuổi 45, “ấm ức” vì hoài vọng không thành. Ông là con trai của danh sĩ Phan Mạnh Danh, tác giả hai thi tập nổi tiếng: Bút Hoa và Xuân Mộng. Phan Phong Linh xuất hiện trong Nhóm Thế Kỷ ở Hà Nội hồi 1951, 52 với những Triều Ðẩu, Trúc Sĩ, Bùi Xuân Uyên, Tạ Tỵ, Thạch Trung Giả. Các nhà văn nhà thơ nổi tiếng này khi đặt chân tới Saigon đã gây dựng ngay được một tờ nhật báo khét tiếng: tờ Tự Do. Họ cũng thành lập được nhà xuất bản Tự Do, cho ra đời nhiều tác phẩm giá trị. Hợp lại thành quả của Tự Do, với danh hiệu gọi là Cơ sở Báo chí và Xuất bản Tự Do, giới đồng nghiệp lớp sau và các độc giả của hai mươi năm văn học miền Nam hẳn còn nhớ những tác giả qui tụ quanh cơ sở đó: Tam Lang, Mặc Ðỗ, Ðinh Hùng, Như Phong, Mặc Thu (Ban chủ trương với tên năm người này in trên mặt báo) và phía sau là Phan Phong Linh (1911-1956), Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Ðỗ Thúc Vịnh, Thanh Lãng, Vi Huyền Ðắc, Phạm Mạnh Viện, Nguyễn Duy Cần, Phạm Việt Tuyền và cũng cơ sở này đã giới thiệu với độc giả tác phẩm của “giới trẻ” lúc đó: Dòng Sông Ðịnh Mệnh của Doãn Quốc Sỹ (1959, in lần đầu, sau mới nhập Sáng Tạo và in lại 1963), và Mưa Ðêm Cuối Năm của Võ Phiến (in lần đầu 1958, sau mới lập Thời Mới và in lại 1962). Sách âm nhạc có Nhạc sỹ Danh tiếng Hiện đại của Lê Hoàng Long, 1959.

Nói về Tự Do như thế để thấy rằng Phan Phong Linh đã chết đột ngột chỉ 2 năm sau khi Tự Do được thành lập, và hoài vọng của ông là một hoài vọng không thành, hay chỉ mới bắt đầu. Ðó là hoài vọng sưu tập, phẩm bình những bài thơ viết về các danh lam thắng cảnh của đất nước, nhan đề là “Thắng Cảnh Việt Nam qua Thi Ca.” Ông sửa soạn viết năm 1952, sách đang in thì ông mất. Trong sách ông viết về hoài vọng của mình như sau: “Từ lâu chúng tôi đã có ý định sưu tập những tài liệu lịch sử, địa lý nói về những thắng cảnh của nước ta. Những tài liệu đó xét ra rất cần thiết vì không gì bẽ bàng bằng đứng trước những cảnh đẹp của đất nước mà không hiểu ai xây dựng nó và xây dựng từ bao giờ, trong hoàn cảnh nào. Không ai chối cãi được rằng những thắng cảnh, thứ nhất là những lâu đài miếu mạo là những vết tích ghi bước tiến hóa của cả một dân tộc qua từng thời đại một. Những vết tích ấy quí báu là nhường nào, không lẽ ta không tìm hiểu để làm tăng lòng yêu mến mà cố sức giữ gìn lấy nó dù rằng có phải hy sinh đến cả máu xương.”

Tiếc thay ông mới chỉ hoàn tất cuốn đầu, khổ lớn dầy non 200 trang, thì mất vì bệnh gan tái phát. Chính vì thế bạn ông mới viết đó là một cái chết ấm ức. Nhà văn Bùi Xuân Uyên viết “Tưởng Niệm” Phan Phong Linh có những dòng như sau: “Với Phan Phong Linh, kết toán trọn đời có lẽ còn lại hai chữ: ấm ức. Những người đã gặp Phan Phong Linh trong năm 1955 và đầu Xuân 1956 có ai ngờ nổi anh chẳng còn bao nhiêu ngày để sống... Những người thân của anh quên sao nổi cái dáng người tuy thấp nhưng cân đối ấy, lanh lẹ trong cử động và vững vàng trong dáng đi. Chiếc xe máy cũ kỹ của anh đã chạy dọc ngang trên khắp nẻo đô thành (Saigon) bất kỳ vào giờ phút nào để đưa anh đi tìm bạn văn nghệ.” Nhưng cuộc đời văn nghệ ấy không uổng. Phan Phong Linh đã để lại một tác phẩm giá trị cho đời sau. Ông đã trích dẫn thơ của hàng trăm thi sĩ khi nói đến hàng trăm thắng cảnh của đất nước, nhất là những thắng cảnh lịch sử và các nhân vật lịch sử. Xin tạm kể các thắng cảnh trong sách của ông: Ðền Mị Châu, Ðền Hùng Vương, vịnh tượng Ngô Thời Sĩ, Hồ Hoàn Gươm, Tây hồ, Văn Miếu, Loa thành, chợ Kỳ Lừa, Bạch Ðằng Giang... Còn nhiều lắm, không thể kể hết trong một trang báo, và trong mỗi thắng cảnh, Phan Phong Linh trích thơ của nhiều người, như Tam Lang, Phan Mạnh Danh, Nghẻ Dụ, Nhàn Văn Ðình, Ba Giai, Tản Ðà, Liễu Hạnh, v.v...

Ông cũng kêu gọi độc giả hãy thay ông để viết về những thắng cảnh ông không biết, hay không tìm được những bài thơ vịnh liên hệ. Người viết bài này xin chuyển đến bạn đọc lời kêu gọi đó: “Những vị lịch lãm nhiều, kiến văn rộng, đã từng biết những danh lam thắng cảnh chúng tôi chưa từng được biết [hãy] hăng hái làm thay chúng tôi công việc này... thì là một điều mà chúng tôi mong mỏi vô cùng.” (Phan Phong Linh, Thay Lời Tựa)

Xin kết bằng một bài thơ của chính Phan Phong Linh “Tổng luận truyện Mị Châu Trọng Thủy”:


Oán trách làm chi truyện đã rồi
Ân tình hai chữ nước buông xuôi
Nỏ rùa móng đổi lòng chua xót
Lông ngỗng tay gieo ruột rối bời.

Thân phó giếng trong làn gió thoảng
Máu loang cát trắng bóng trăng soi
Mấy nghìn năm cũ thiên bi sử
Bên hiếu bên tình lẽ vẹn đôi?


(P.P.L., Saigon 1956)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Nobel văn chương 2012, một giải thưởng nhiều tranh cãi
Nguyễn Hưng Quốc


Image
Nhà văn Mạc Ngôn

Giải Nobel văn chương năm nay được trao cho Mạc Ngôn, nhà văn Trung Quốc. Không có giải thưởng nào làm hài lòng mọi người. Tranh cãi ngay sau khi giải thưởng được công bố là chuyện bình thường. Tuy nhiên, lần này, những tranh cãi không tập trung vào chất lượng nghệ thuật mà chủ yếu vào thái độ chính trị của người được giải. Hơn nữa, những tranh cãi ấy chủ yếu là giữa những người Trung Quốc với nhau.

Sinh năm 1955 trong một gia đình nông dân tại Sơn Đông, Mạc Ngôn lớn lên trong giai đoạn Cách mạng văn hóa tàn khốc của Mao Trạch Đông; một giai đoạn hẳn đã để lại cho ông nhiều kinh nghiệm cay đắng. Nhưng ông nhanh chóng vượt qua chúng để thích ứng với không khí chính trị ở Trung Quốc: Ông đi bộ đội, học ở Học viện nghệ thuật Quân Giải phóng và trở thành một cán bộ khá cao cấp trong Cục chính trị thuộc Bộ Tổng tham mưu quân đội. Hiện nay ông là Phỏ chủ tịch Hội nhà văn Trung Quốc.

Với những chức vụ như thế, rất dễ hiểu, Mạc Ngôn được xem là một công thần của chế độ. Nhiều người cho là ông hèn. Không chừng chính cái bút hiệu ông chọn cũng nói lên điều đó: Mạc Ngôn, trong chữ Hán, có nghĩa là không nói. Trong một bài phỏng vấn đăng trên tờ báo El Pais bằng tiếng Tây Ban Nha năm 2008, ông kể:

“Tôi chọn cái bút hiệu ấy để nhớ những năm tôi không thể nói lời nào với ai khác. Đó là những ngày hỗn loạn của Cách mạng văn hóa, khi trong làng của tôi lúc nào người ta cũng xung đột với nhau. Bố tôi là một nông dân, nhưng gia đình tôi sống khá thoải mái; ông sợ tôi nói năng bậy bạ có thể gây phiền phức cho gia đình. Bởi vậy, ông bảo tôi đừng nói gì cả; cứ làm như một thằng câm.”

Chọn bút hiệu Mạc Ngôn vì một bài học sợ hãi từ bố. Nhưng sau đó, Mạc Ngôn lại nâng sự khuất phục lên thành một thứ chủ nghĩa anh hùng. Trong bài nói chuyện tại Hội chợ sách Frankfurt năm 2009, ông kể chuyện: một hôm, Beethoven và Goethe đang đi dạo trên đường phố thì gặp một nhà quý tộc đi ngược chiều; Beethoven tiếp tục rảo bước, còn Goethe thì ngả mũ chào. Mạc Ngôn nói tiếp:

“Lúc còn nhỏ, tôi nghĩ Beethoven thật vĩ đại. Nhưng, khi lớn tuổi, tôi nhận ra là việc làm của ông thật dễ dàng, trong khi đó, làm như Goethe thì có thể cần nhiều can đảm hơn.”
Trong các bài báo bằng tiếng Anh tôi đọc được, không thấy ai dẫn thêm lý do tại sao Mạc Ngôn lại cho việc Goethe ngả mũ chào một nhà quý tộc mà ông không thích lại là một hành vi can đảm.

Tuy nhiên, khó có thể nói cách hành xử của Mạc Ngôn tại Hội chợ sách Frankfurt năm 2009 ấy là can đảm khi ông và các cán bộ khác bỏ ra khỏi phòng hội nghị phản đối khi một số nhà văn lưu vong người Hoa chuẩn bị lên phát biểu.

Cũng không can đảm chút nào khi, khá gần đây, cùng với một số cây bút khác, ông chép tay lại bài nói chuyện về văn nghệ của Mao Trạch Đông tại Diên An năm 1942 để làm thành một “ấn bản đặc biệt” để tưởng niệm cái biến cố đầy tai tiếng ấy. Đó chính là cương lĩnh văn học nghệ thuật chật hẹp và đầy tính giáo điều đã gây tai họa cho văn học Trung Quốc cũng như cho cả văn học Việt Nam trong suốt cả hơn nửa thế kỷ.

Càng không can đảm chút nào khi, thay vì lên án chế độ kiểm duyệt gắt gao ở Trung Quốc, Mạc Ngôn, trong nhiều bài phát biểu và phỏng vấn khác nhau, luôn luôn tìm cách biện hộ cho nó.

Ví dụ, trong bài phỏng vấn trên báo Times năm 2010, ông cho kiểm duyệt là chuyện chả có gì đáng làm ầm ĩ vì “ở nước nào cũng có một số sự kiềm chế đối với việc viết lách.”
Lúc khác, ông lại phát biểu: “Tôi tin các hạn chế hay kiểm duyệt là điều tốt cho việc sáng tạo văn chương” vì “một trong những vấn đề lớn nhất của văn chương là thiếu sự tinh tế.” Kiểm duyệt sẽ khiến nhà văn tìm cách “chôn sâu tư tưởng của mình và chỉ gửi gắm chúng qua các nhân vật trong tiểu thuyết”.

Có lúc, trước sự phê phán của nhiều người, ông tìm cách biện minh:

“Một nhà văn nên bày tỏ sự phê phán hay bất bình của mình trước các góc tối trong xã hội cũng như những sự xấu xa trong bản tính của con người, tuy nhiên, chúng ta không nên dùng một kiểu diễn tả giống nhau. Vài người có thể sẽ xuống đường gào thét, nhưng chúng ta cũng nên bao dung đối với những người trốn trong phòng kín và dùng văn chương để bày tỏ ý kiến.”

Với nhiều người, đó chỉ là một cách nói. Họ vẫn cho Mạc Ngôn chọn con đường dễ dãi và an toàn nhất trong một chế độ độc tài và độc ác. Bởi vậy, những người phản đối giải Nobel dành cho ông kịch liệt nhất chính là các đồng hương và đồng bào của ông.

Cách đây mấy ngày, chỉ nghe tin đồn phong thanh là Mạc Ngôn có tên trong danh sách được chọn, nhà văn Yefu đã tuyên bố: “Giải Nobel không nên trao cho một nhà văn chỉ biết ca tụng chế độ chuyên chế. Đó là một nguyên tắc thiết yếu.”

Sau khi giải Nobel được công bố, nghệ sĩ Ngải Vị Vị phát biểu: “Đối với một nhà văn đương đại, tránh né các vấn đề rõ ràng của cuộc đấu tranh của ngày hôm nay là một cái gì không thể bàn cãi được. Tôi không thể tách rời văn chương ra khỏi cuộc đấu tranh của dân tộc.”

Rồi ông nói thêm: “Tôi không chê trách Ủy ban giải Nobel, nhưng [quyết định trao giải cho Mạc Ngôn] đã gửi một tín hiệu phản ánh một khẩu vị thật kém cỏi (bad taste).”

Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi nhà cầm quyền Trung Quốc sẽ sử dụng giải Nobel văn chương dành cho Mạc Ngôn như một công cụ để tuyên truyền không những cho chính sách văn học nghệ thuật của họ mà còn để củng cố vị thế nước lớn của họ: Họ đã mạnh về kinh tế và quân sự, nay, họ còn chứng tỏ cả sức mạnh trong cái giới nghiên cứu thường gọi là “quyền lực mềm” mà một siêu cường quốc cần có.

Nên nhớ đây là giải Nobel đầu tiên mà Trung Quốc hoan hỉ đón nhận. Trước, giải Nobel văn chương dành cho Cao Hành Kiện (năm 2000) không làm họ ưng ý: một phần vì, lúc ấy Cao Hành Kiện đã vào quốc tịch Pháp, do đó, không còn là nhà văn Trung Quốc nữa; phần khác, về tư tưởng, ông tự xem mình và cũng được mọi người xem là một cây bút ly khai. Giải Nobel hòa bình trao cho Lưu Hiểu Ba (năm 2010), một tù nhân lương tâm đang bị Trung Quốc giam giữ lại càng làm cho Trung Quốc giận dữ.

Chỉ có món quà dành cho Mạc Ngôn là ngọt ngào.

Cho những tên cai ngục.

***
Chú thích: Tất cả các trích dẫn ở trên đều được đăng rải rác trong các bài viết về Mạc Ngôn trên các báo: The New York Times, The Washington Post, Los Angeles Times, Telegraph, The Wall Street Journal, Global Times, v.v. ngày 11/10/2012.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Phạm Thiên Thư - Người Tu Sĩ Lãng Mạn

Sài Gòn có một quán café "Hoa vàng", trước kia còn gọi là "Động hoa vàng". Quán nằm ở Ngã Tư Bảy Hiền, trang nhã, tĩnh mịch và rất nên thơ. Khách thường là những người đứng tuổi. Ai vào, nếu để ý một tí sẽ thấy một “lão nông” ngồi lặng lẽ ở góc nhà. Đó chính là thi sĩ Phạm Thiên Thư, tác giả của những bài thơ nổi tiếng được Phạm Duy phổ thành những tình khúc bất hủ.

Ngày xưa Hoàng Thị…

Mỗi khi căn phòng vang lên giai điệu mượt mà "Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ, anh theo Ngọ về...", ông lại nhắm mắt, ngồi bất động như một vị thiền sư, thả hồn về những dĩ vãng xa xưa...Ngày ấy, trên con đường trải nắng vàng, cậu học trò lặng lẽ theo sau cô gái tên Ngọ đi học về, nàng mặc áo dài trắng, tay ôm cặp, mái tóc xoã ngang vai... Chàng si tình, để lại những vần thơ xót xa và lung linh mãi đến sau này...

“…Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dấu lau lách buồn…
…Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Trao vội chùm hoa
Ép vào cuối vở…”


Có thể nói rằng, vào những năm của thập kỷ 70, bài thơ "Ngày xưa Hoàng Thị.." là một tuyệt tác. Sau khi Phạm Duy phổ nhạc, tác phẩm đã trở thành một hiện tượng tại miền Nam. Thanh Thúy là ca sĩ đầu tiên thể hiện thành công bài hát này. Lúc bấy giờ, trên các báo phát hành ở Sài Gòn, người ta thường nghi vấn và đặt dấu hỏi, nhân vật chính trong "Ngày xưa Hoàng Thị" là ai? Một vài người tự nhận là mình, số khác lại bình thơ rồi cho rằng nhân vật chính trong thơ là cô A hoặc cô B nào đó... Đến khi các phóng viên gặp Phạm Thiên Thư hỏi chuyện, ông nói rằng, người đẹp trong ca khúc là cô Hoàng Thị Ngọ, nhưng không hiểu tại sao nhiều người thời bấy giờ vẫn không tin ?

Quê ông ở Kiến Xương, Thái Bình nhưng lại sinh ra ở Lạc Viên, Hải Phòng. Năm 1954, khi mới 14 tuổi, ông theo cha mẹ di cư vào miền Nam, cư ngụ tại khu Tân Định, Sài Gòn. Đó là một căn nhà nhỏ nằm đằng sau chợ Tân Định cách trường Trung học Văn Lang, nơi ông học, gần một cây số. Học xong Tú tài, Phạm Thiên Thư theo học trường Phật học Vạn Hạnh, chọn cửa Phật làm chốn dừng chân và gửi hồn vào cõi Thiền.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư, người đã thi hóa Kinh Phật, ông xuất hiện trong làng thơ như một người tu sĩ, rao giảng Phật Pháp bằng thi ca như Kinh Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ, Chiêu Hồn Ca, Đoạn Trường Vô Thanh,..Thơ Phạm Thiên Thư nửa đời, nửa đạo, tâm linh khác thường, làm cho độc giả lãng đãng và ngẩn ngơ:

“...Em làm trang tôn kinh
Anh làm nhà sư buồn
Đêm đêm buồn tụng đọc
Lòng chợt nhớ vương vương
Đợi nhau từ mấy thuở
Tìm nhau cõi vô thường
Anh hóa thân làm mực
Cho vừa giấy yêu đương...”
(Pháp Thân)


Thế giới thi ca Phạm Thiên Thư giúp chúng ta khám phá thêm những cửa ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên. Bài thơ "Ngày xưa Hoàng Thị..." ra đời trong lúc ông mới chập chững bước vào làng thơ nên nhiều người nghĩ đó là bài thơ đầu tay. Thật ra, bài thơ đầu tiên chính là bài "Vết chim bay", lúc ông mới 24 tuổi, còn nương náu ở cửa chùa.

Ngày ấy, có một nữ sinh thường vào sân chùa tìm nơi tĩnh lặng để học bài. Cô đẹp và thánh thiện như ánh sáng của Quan Thế Âm Bồ Tát, Phạm Thiên Thư đem lòng thương mến. Hai người quen nhau độ mươi ngày, một buổi chiều như bao buổi chiều khác, ông ngồi ở hiên chùa đợi mãi nhưng chẳng thấy bóng dáng cô. Nàng ra đi chẳng một lời từ biệt để lại sự đơn côi và nuối tiếc cho chàng trai mới lớn. Mười năm sau, khi trở lại chùa xưa, tình cờ nhìn thấy nét phấn trắng ghi tên hai đứa vẫn còn trên gác chuông, lòng bâng khuâng chuyện cũ, Phạm Thiên Thư đã viết nên bài thơ này:

"Ngày xưa anh đón em.
Nơi gác chuông chùa nọ.
Con chim nào qua đó.
Còn để dấu chân in...
Anh một mình gọi nhỏ.
Chim ơi biết đâu tìm...”


Tình yêu trong thơ Phạm Thiên Thư thánh thiện, nhẹ nhàng và kín đáo. Chút bẽn lẽn, khẽ chạm mà không dám “tay trong tay” vì sợ tình sẽ tan biến thành khói sương. Đạo Phật ảnh hưởng và tạo nên một không gian ái tình riêng trong thơ Phạm Thiên Thư. Nó làm cho người đời ngỡ ngàng, đắm say trong thế giới thi ca huyền diệu của thi sĩ.

Theo ông, Hoàng Thị Ngọ trong bài thơ "Ngày xưa Hoàng Thị" chỉ là kỷ niệm, một mối tình thoảng nhẹ vu vơ thời trai trẻ. Trong những năm Tú tài , ông đã để ý một cô bạn học cùng lớp tên là Hoàng Thị Ngọ, cô gái đó quê gốc Hải Dương và ở gần nhà ông. Sau này, Phạm Thiên Thư tìm lại cố nhân nhưng người hàng xóm cho biết, bà Ngọ đã bán nhà và dọn đi nơi khác từ lâu.

Ngày ấy, mỗi khi xếp hàng vào lớp, cô gái đứng ở đầu hàng bên nữ, nổi bật, mái tóc dài xoã trên bờ vai mảnh dẻ. Ông chỉ im lặng ngắm nhìn. Khi tan trường, cô gái một mình trên đường về nhà, ông lại là kẻ lẽo đẽo theo sau: "Cô ấy ôm cặp đi trước, tôi đi theo nhưng không dám lên tiếng. Trong bóng chiều tà, ánh nắng hắt qua hàng cây, cô ấy lặng lẽ bước, gây cho tôi những cảm xúc bâng khuâng khó tả. Cứ thế, tôi chỉ biết lặng lẽ đi theo sau cô ấy hàng ngày, giấu kín những cảm xúc của mình không cho bất cứ ai biết". Và một lần đắm chìm trong cảm xúc ấy, ông đã cầm bút viết lên bài thơ "Ngày xưa Hoàng Thị".

Những năm sau này, mỗi khi đi ngang lại con đường của một thuở yêu đương, hình ảnh cô gái với mái tóc xoã ngang vai lại hiện về trong ông:

"Em tan trường về.
Đường mưa nho nhỏ.
Chim non giấu mỏ.
Dưới cội hoa vàng..”


Giờ đây, Hoàng Thị Ngọ đã định cư ở Mỹ. Hơn 50 năm, nơi phương trời xa xôi, cô nữ sinh ngày ấy có còn nhớ…

“…Tìm xưa quẩn quanh
Ai mang bụi đỏ
Dáng em nho nhỏ
Trong cõi xa vời
Tình ơi! Tình ơi!”


Một lần, có người hỏi ông "Thế khi nào mọi người mới biết tới những bài thơ của bác?" Phạm Thiên Thư trả lời: "Ấy là khi chúng tôi nhờ nhạc sỹ Phạm Duy phổ nhạc 10 bài Đạo ca do tôi viết lời, Phạm Duy gặp và tình cờ đọc được tập thơ của tôi. Tôi cũng không nghĩ Phạm Duy lại thích bài thơ Ngày xưa Hoàng thị đến thế, ông đề nghị phổ nhạc bài thơ đó. Dĩ nhiên được một nhạc sỹ nổi tiếng như Phạm Duy để ý đến bài thơ của mình thì có gì hạnh phúc bằng. Và tôi cũng bất ngờ nghe lại bài thơ của mình khi đã phổ nhạc. Nhạc sỹ đã tôn bài thơ lên rất nhiều qua những giai điệu nhạc bay bổng".

Cha Phạm Thiên Thư tuy làm nghề bốc thuốc Bắc nhưng thỉnh thoảng vẫn làm thơ. Ông còn nhớ, cha ông đã từng đạt giải Nhì về thơ do một tờ báo ở Hà Nội tổ chức. Phạm Thiên Thư làm thơ để trải lòng mình chứ không làm thơ chuyên nghiệp. Vì vậy mãi đến năm 1968, ông mới tự xuất bản tập thơ đầu tiên, chủ yếu để tự đọc, tặng một số bạn bè thân. Thật ra, trong cuộc đời sáng tác, Phạm Thiên Thư chẳng muốn ai biết về mình.
Thoáng hương qua

Năm 1964, nhà thơ Phạm Thiên Thư xuống tóc, đi tu ở một ngôi chùa với Pháp danh là Thích Tuệ Không. Trong 9 năm tu hành (1964 -1973), ông đã chứng kiến một cuộc tình giữa chú tiểu và một cô bé Phật tử. Chàng 16 tuổi và nàng cũng ngần tuổi đấy. Tình yêu vừa chớm như những bông hoa nở sớm sau sân chùa. Cứ mỗi lần, chú tiểu đánh chuông, cô bé đứng bên nhìn và tụng niệm. Trong những lời khấn nhỏ ấy, cô nguyện cầu cho 2 đứa được bên nhau mãi mãi...

Ðầu xuân em lễ chùa này
Có búp lan vàng khép nép
Vườn trong thoáng làn hương bay
Bãi sông lạc con bướm đẹp


Mùa xuân quen nhau, mùa hạ cùng em đi lễ... Rồi mùa thu, mùa đông, hai người vẫn yêu thương tha thiết, bốn mùa hẹn nhau trong ngôi chùa cổ, có lò hương với làn trầm nghi ngút:

Vào hạ em lễ chùa này
Trên đồi trái mơ ửng chín
Lò hương có làn trầm bay
Vờn trên bờ tóc bịn rịn


Chiến tranh loạn lạc, cuối mùa đông năm ấy, cô bé chết trong lúc chạy trốn những cuộc hành quân. Trong mưa bay và gió lạnh, chú tiểu gạt nước mắt đưa tiễn người yêu trong chiếc áo quan đơn sơ và mộc mạc như chính tình yêu của họ:

Sang đông em lễ chùa này
Ngoài sân có mưa bụi bay
Hắt hiu trong cành gió bấc
Vườn chùa rụng cánh lan gầy
Cuối đông đưa em tới đây
Trong lòng áo quan gỗ trắng
Tóc em tợ óng làn mây
Cội hoa tưởng ai trầm lặng


Gia đình đưa xác cô an táng sau chùa, nơi những bông hoa vẫn còn nở. Mỗi buổi chiều, chú tiểu đến bên mộ, thắp hương và ngồi mãi cho đến khi hoàng hôn buông xuống...

Em vừa nằm xuống đất này
Vườn trong có bông đào nở
Con bướm chập chờn hương bay
Quơ sợi râu vàng bỡ ngỡ
Nắm đất nào vừa lấp mộ
Có con chim hót đầu cành
Tiếng tan trên giòng suối xanh
Nước ơi sao buồn nức nở


Mỗi cuộc tình đều có những kết thúc khác nhau. Có người đến đỉnh cao của hạnh phúc, tràn ngập niềm hân hoan vô bờ bến. Có kẻ rơi xuống vực sâu của bất hạnh, ôm lấy đơn côi trong im lặng và nước mắt. Cho dù âm dương cách biệt ngàn trùng, tình yêu ấy vẫn tươi đẹp, sáng lung linh và huyền diệu. Cõi người vẫn tin rằng, họ vẫn yêu thương nhau, con tim vẫn thổn thức một lời hò hẹn từ kiếp trước.Và như thế, trong ánh sáng huyền diệu của Phật Pháp, họ không còn bên nhau nữa nhưng tình yêu vẫn lóng lánh như những giọt sương còn đọng lại trên những bông hoa nở sớm sau sân chùa.
Câu chuyện hoàn toàn có thật, Phạm Thiên Thư xúc động và sáng tác bài thơ nổi tiếng: "Thoáng hương qua". Sau này, Phạm Duy phổ thành nhạc phẩm “Em lễ chùa này” và ca khúc đã đi vào lòng người cho mãi đến giờ. Sau này, Phạm Duy còn phổ nhạc thêm một số bài thơ tình khác của ông như: Đưa em tìm động hoa vàng, Gọi em là đoá tình sầu,...Tất cả những ca khúc này đều nổi tiếng và được mọi người biết đến.

Sau 1975, Phạm Thiên Thư lui về ở ẩn. Từ năm 1976 đến 1981, để mưu sinh, Phạm thi sĩ mở quán hớt tóc ở Lăng Cha Cả. Giai đoạn (1981 - 1983), ông bán tạp hoá, rượu thuốc, trà đá... ở đường Lý Chính Thắng. Sau 1983, Phạm Thiên Thư nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn dưỡng sinh PHATHATA (Pháp - Thân - Tâm). Sau đó, ông được bác sĩ, nghệ sĩ Trương Thìn, Viện trưởng Viện Y học dân tộc mời về cộng tác với Viện. Trong suốt thời gian này, Phạm Thiên Thư thỉnh thoảng cho đăng báo những bài thơ ngắn. Đôi lần, giới văn nghệ sĩ lại gặp ông đến dự họp ở Hội Nhà văn Sài Gòn. Thời gian sau này, Phạm Thiên Thư thực sự trở lại và hoà nhập với văn đàn khi trường ca "Đoạn Trường Vô Thanh" của ông được tái bản một cách trang trọng.

Thế giới thi ca Phạm Thiên Thư giúp chúng ta khám phá thêm những cửa ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên. Mùa xuân năm Nhâm Thìn (2012), Phạm Thiên Thư đã giao lưu với khán giả Đà Nẵng trong chương trình thơ - nhạc mang tên “Động Hoa Vàng” tại Nhà hát Trưng Vương. Với sự dàn dựng công phu và góp mặt của nhiều ca sĩ trẻ, cuộc đời, thi ca và âm nhạc của người tu sĩ lãng mạn này lại tái hiện một lần nữa trong lòng người hâm mộ.

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Image

Khánh Ly, ở hay về? Thương và ghét!
Huy Phương
Truyền thông trong nước hôm 24 và 25 tháng 9 đã đưa tin, Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn đã cấp phép cho nữ ca sỹ Khánh Ly về nước diễn từ giờ cho đến hết tháng 12, qua các thành phố tại Hà Nội, Ðà Nẵng và Saigon vào tháng 11, 2012 tới do công ty giải trí Ðồng Dao tổ chức.

Chuyện ca sĩ hải ngoại về hát ở Việt Nam thì đâu có gì lạ mà làm ầm ĩ, nhưng quả thật tin Khánh Ly về đã gây xôn xao dư luận và giới truyền thông đã dành nhiều trang báo, bản tin, có những tin tức và ý kiến khác nhau về chuyện này.

Về hay không về?

Trên nhiều trang web cộng đồng người Việt tại California, đã đăng bản tin: “Khánh Ly không hát tại Việt Nam trong tháng 11”. Theo bản tin thì Khánh Ly vẫn chưa biết gì về tin sẽ về Việt Nam biểu diễn. Hơn nữa, “từ nay đến tháng 11, kéo dài đến Tết Âm lịch, Khánh Ly hoàn toàn chuyên tâm cho chương trình CD & DVD Thánh Ca dâng Mẹ và Thiên Chúa, kỷ niệm 50 năm ca hát, thực hiện tại Nhà Thờ Kiếng tại quận Cam, California” hay “tháng 11 rất bận rộn với các chương trình hát cho nhà thờ ở Hawaii, rồi sang hát tại Châu Âu”...

Trong khi đó đài BBC loan báo Khánh Ly sẽ về hát ở Việt Nam qua các cuộc phỏng vấn những người quen biết xa gần với ca sĩ này.

Chuyện về của Khánh Ly, theo chính quyền trong nước: “Bằng quyết định này, chúng tôi muốn thể hiện chính sách cởi mở của nhà nước, tạo điều kiện cho những nghệ sĩ nay muốn hướng về tổ quốc, có thể trở về biểu diễn cho đồng bào mình, ngay trên quê hương mình.”

Với nhạc sĩ Phạm Duy, người đã về sống ở Việt Nam, phủ nhận tất cả sự vinh danh và yêu mến của hải ngoại, mấy năm sau “hồ hởi” cầm tờ CMND và hộ khẩu để chụp hình đăng báo thì khẳng định: “Ðây cũng là bằng chứng hùng hồn của chính sách đại đoàn kết dân tộc!”

Khánh Ly mà không phải là ai khác!

Chuyện về hát ở Việt Nam đâu còn là chuyện lạ: Chế Linh, Thanh Tuyền, Ðức Huy, Duy Quang, Elvis Phương, Lệ Thu, Ý Lan... và vô số các ca sĩ khác đã về Việt Nam, mà ít ai quan tâm bình luận. Trách chi thương nữ! Ngay cả Như Quỳnh, con gái của một cựu sĩ quan miền Nam đã được định cư tại Mỹ theo chương trình “H.O.,” hiện nay cũng đã có mặt tại Saigon để hát trong đêm chung kết Tiếng Hát Truyền Hình 2012. Ca sĩ cũng là một nghề, nghề thì cần làm việc để nuôi thân, thế thôi! Ngày xưa họ còn ngại, bây giờ chính phủ CSVN đã bật đèn xanh: “Tạo điều kiện cho những nghệ sĩ nay muốn hướng về tổ quốc” thì còn gì phải e dè. Nhưng khi có nguồn tin Khánh Ly về hát trong nước thì thiên hạ ầm ĩ.

Chuyện này có thể giải thích: “Người ta yêu và quý mến tên tuổi Khánh Ly hơn những người khác và không một ca sĩ nào đồng thời, hay cho đến bây giờ có thể so sánh với ca sĩ Khánh Ly, trước và sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản, trong cũng như ngoài nước!”

Vì khán giả quá thương yêu Khánh Ly, thương yêu nên mới giận hờn, trách móc, bàn luận... Chúng ta có thể hiểu điều này, nếu mọi người thờ ơ, chẳng hề quan tâm khi thấy những Ðức Huy, Chế Linh hay cả Lệ Thu về hát ở trong nước!

Khi yêu ai chúng ta thường muốn nhân vật đó làm, suy nghĩ theo ý chủ quan của mình, từ con cái, bạn bè cho đến những nhân vật thần tượng. Khi không vừa ý, điều đó thường mang lại khổ đau cho mình, thương trở thành ghét, yêu trở nên giận hờn, trách móc.

Có thể hiểu trong ba điều:

1. Người ca sĩ nào lại không yêu sân khấu và tiếng vỗ tay của khán giả, nên trình diễn trước đám đông là sự sống cần thiết của ca sĩ. Thời gian và tuổi tác sẵn sàng đào thải, không ai là “vượt thời gian” hay “muôn năm” cả! Vậy thì làm được gì thì làm, đừng để mọi sự trở nên muộn màng.

Trong nước từ ngày thay đổi chế độ, tiếng hát ngày xưa là nỗi thương nhớ khôn nguôi, Khánh Ly là cố nhân của những ngày tháng của kỷ niệm đã xa. Mà không phải là người cũ, người mới, những người đi từ miền Bắc đến Ðông Âu, những người Cộng Sản “đặc” từ rừng về, cũng muốn nghe và gặp Khánh Ly. Vậy thì Khánh Ly sẽ về.

2. Ai lại không yêu quê hương, xứ sở. Bỏ quê hương, xứ sở ra đi là một điều bất đắc dĩ, như cây nhổ rễ để mang đi trồng ở một vùng đất khác. Tuổi trẻ còn nhựa sống sinh lực, nhưng tuổi già thì héo hon. Chúng ta phải đau đớn lắm qua những tháng ngày sống xa quê hương. Là một người Việt tha hương, Khánh Ly cũng thế, vậy thì Khánh Ly sẽ về.

3. Ta thì nói: “Ðồng tiền là huyết mạch,” Tây thì cho là “Money First”. Trên đời này không thiếu người đã làm những việc gian dối, dơ bẩn, phi pháp để kiếm tiền, trong khi đó, người ca sĩ cũng như những người tử tế, lương thiện kiếm tiền bằng tài năng và sự lao động cực nhọc của mình, thì đâu có gì là đáng trách. Hiểu theo nghĩa đó, vậy thì Khánh Ly sẽ về.

Chỉ tiếc rằng tiếng hát Khánh Ly đã đồng hành với những nỗi thăng trầm của người tỵ nạn, khán giả đã thổn thức với Khánh Ly trong “Ðêm Chôn Dầu Vượt Biển,” “Sài Gòn ơi, vĩnh biệt!” “Ðêm nhớ về Sài Gòn,” “Chút quà cho quê hương,” “Người di tản buồn,” “Ai về xứ Việt”. Hình như về “lập trường” Khánh Ly đã tuyên bố “Ði thì cùng đi, về thì cùng về!” Bây giờ chúng ta có thể xoay trở ý nghĩa của câu nói này theo nghĩa: “Bây giờ bao nhiêu ca sĩ hải ngoại đã về hát ở Việt Nam, đã đến lúc Khánh Ly ‘cùng về!’”

Giấy “cho phép về hát” đã có, hộ chiếu đã có, địa điểm trình diễn đã có, dư luận cũng có phần thuận lợi, tôi tin chắc rằng Khánh Ly sẽ về hát ở Việt Nam, không phải trong nay mai, mà khi bài báo này đến tay bạn đọc, chưa chừng Khánh Ly đã có mặt ở Hà Nội rồi! Thắc mắc của riêng tôi là trong các địa điểm trình diễn không có Huế, quê hương của Trịnh Công Sơn, quê hương của những “mẹ già lên núi tìm xương con về,” quê hương của những “mộ bia đều như nấm!” Phải chăng vì Huế xưa nay đã quá nghèo, thuộc loại “chân đất” không đủ khách hạng sang cho một buổi trình diễn của “nữ hoàng” Khánh Ly. Theo tôi đó là một điều đáng tiếc.

Tôi chỉ xin một điều. Khánh Ly thường thích nói nhiều trước khi hát. Nói đến chuyện yêu quê hương, nguồn cội thì cứ nói, nhưng chớ nói điều gì đi ngược lại chính con người mình trước đây và gây tổn thương cho những người đã vì chế độ Cộng Sản mà bỏ nước ra đi, bằng cách này hay cách khác, đang hiện diện ở ngoài đất nước, quê hương Việt Nam hôm nay; làm đau lòng những người đang hy sinh tranh đấu để thay đổi chế độ hiện hữu ở Việt Nam.

Thấp hèn hay cao cả, tất cả đều tự do mình làm ra, không ai có thể thay đổi được nhân cách của mình!

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Sài Gòn Ngày Xưa

Văn Quang –
Viết từ Sài Gòn

“Văn hóa không tên” tạo nên linh hồn của Sài Gòn xưa

Buổi sáng thứ sáu vừa qua (11-10-2012), tôi được một ông bạn điện thoại đến rủ ra Givral uống cà phê. Tôi rất ngạc nhiên vì từ hơn 2 năm nay Givral nằm trong thương xá Eden đã bị đập phá tan tành để… làm một cái gì đó, chắc cũng “vĩ đại” như tòa nhà Vincom chiếm trọn khu vườn hoa trước mặt. Mỗi lần đi ngang qua đường Đồng Khởi, tôi không thể nào quên đó là đường Tự Do xưa kia… của chúng tôi. Nhìn toàn bộ khu tứ giác Eden chỉ còn là đống gạch vụn với những hàng rào kiên cố xung quanh cứ như nhìn thấy… cái gọi là “trại cải tạo”. Thì ra, sau hơn 12 năm, cái “trại cải tạo” ấy vẫn cón ám ảnh tôi ngay cả trong vô thức, đôi khi ngay cả trong giấc mơ. Thế nên mỗi khi đi qua khu Eden bì tàn phá đó, tôi bỗng cúi đầu, chẳng muốn nhìn lâu và cũng chẳng muốn tìm hiểu xem trong thời gian tới, nó sẽ mọc lên cái gì. Tôi cứ nghĩ Gival đã thuộc hẳn về quá khứ, như những người bạn tôi ra lò hòa thiêu, không bao giờ gặp lại.

Ông bạn thấy tôi khựng lại, ông giải thích:

– Nó mở lại Givral hôm qua (10-10-2012) ở chỗ cũ rồi ông ạ. Cũng điểm tâm, cà phê như xưa. Ra ngồi xem cho biết, nhớ lại chút kỷ niệm xưa.

Nghe bùi tai, tôi đồng ý ngay. Dù biết rằng ra đó ngồi sẽ rất ngậm ngùi nhớ bạn, nhờ tình, nhớ thời trai trẻ, nhớ đủ thứ… trong cái không gian ấy.

Cái “trục văn hóa không tên”

Nói đến Gival là nhớ đến La Pagode, Brodard… chắc chắn những người đã từng sống, từng ghé qua Sài Gòn chưa ai quên. Nhất là những văn nghệ sĩ, nhà báo, dân biểu, thường ngồi ở đấy làm nơi trao đổi tin tức nghề nghiệp. Còn một số lớn khách du lịch, sĩ quan, quân nhân, công tư chức làm việc tại “thủ đô” miền Nam và các bạn trẻ Sài Gòn thập niên 60-75 cũng hay lui tới nơi này. Một địa điểm trung tâm thành phố, rất thuận tiện cho mọi việc, từ hẹn hò, mua sắm vài thứ, đợi giờ vào rạp chiếu phim, hoặc chỉ đi “bát phố” mà hồi đó chúng tôi gọi là đi “hittuking”, tức là đi “hít tủ kính” chứ không mua bán gì. Hơn thế, thương hiệu bánh ngọt Gival rất nổi tiếng, thu hút nhiều khách sành ăn. Mấy bà đi ngang qua Lê Lợi - Tự Do ghé vào mua vài cái bánh mang về cho chồng con là chuyện bình thường.

Gival, La Pagode, Brodard đã trở thành một cái “trục văn hóa không tên” phảng phất mà rất sâu đậm trong cái hồn của Sài Gòn.

Sau năm 1975, Gival vẫn còn sống cho đến khi khu này bị “giải tỏa”, nhưng khách không còn “chọn lọc” như thời xưa. Khách hàng đủ mọi loại, ông Tây bà Đầm, ông Hàn Quốc bà Đài Loan, chân dài đẹp, chân dài xấu, nghệ sĩ thập cẩm ra vô thong thả và giá cả cũng vào loại trung bình, không “mềm” cũng không “cắt cổ”.

Givral ngày ấy… bây giờ

Trong khi ông bạn tôi tìm chỗ gửi xe, tôi đứng trên đường Lê Lợi nhìn qua khung kính vào nhà hàng Gival mới. Nó vẫn ở cái góc Lê Lợi – Đồng Khởi, mấy cái cửa kính lớn vẫn cho khách có thể nhìn ngắm hai mặt đường phố và tất nhiên khách đường phố cũng có thể chiêm ngưỡng những khách hàng “đẳng cấp” ngồi bên trong.

Điếu đáng tiếc nhất là cái cột to tướng đúng vào góc đẹp nhất che lấp mất tầm nhìn nơi cửa chính trước kia, làm cho không gian có vẻ như chật chội hơn, không thể nhìn thẳng ra nhà hát lớn, khách sạn Continental với phong cách rất Tây và khách sạn Caravelle cùng cái vòng xoay và những con đường chảy vào giữa lòng thành phố.

Chúng tôi bước vào nhà hàng với một vẻ lạ lẫm. Những chiếc bàn ghế mới toanh, những bộ salon kê hai bên góc khá đẹp. Tất cả đều mang dáng vẻ sang trọng như bất cứ một nhà hàng cà phê, điểm tâm “có hạng” nào ở những thành phố lớn.

Khoảng 9g sáng, khách đã chiếm hết số bàn trong tiệm. Số còn lại ngồi rải rác quanh chiếc comptoir hình móng ngựa. Những người hoàn toàn xa lạ ngồi riêng biệt, chẳng ai nhìn ai. Cái không khí ấy khiến tôi không thể quên những ngày xưa. Tuy ngồi khác bàn nhưng chúng tôi vẫn có thể biết xung quanh mình có những ai.

Bàn bên kia là bốn năm anh ký giả chuyên làm tin hành lang Quốc Hội, bàn góc trái là mấy ông dân biểu Hạ Nghị Viện thời Đệ Nhị Cộng Hòa đang say sưa bàn về những “ý kiến” đã và đang chuẩn bị lên diễn đàn. Bàn giữa nhà là mấy “dân chơi” quen mặt, có lẽ ngồi đợi người đẹp… Thỉnh thoảng một cái gật đầu, một cái vẫy tay, một ánh mắt thân thiện. Sự gần gụi, quen thuộc ấy chính là cái linh hồn của Gival trước 1975. Bây giờ không tìm lại được nữa.

Cái “trục văn hóa” từ La Pagode, Givral đến Brodard khác nhau thế nào?

Nằm chung trên đường Tự Do xưa, có ba quán café cùng nổi tiếng như nhau. Bắt đầu từ nhà hàng La Pagode ở góc Lê Thánh Tôn – Tự Do, qua vài nhà hàng đến tiệm sách Xuân Thu, đến hành lang Eden, trong đó có rạp Ciné Eden từ hồi… cựu hoàng Bảo Đại mới lên ngôi. Đến góc đường này là Givral nằm đối diện với khách sạn Continental, sát bên trụ sở Hạ Nghị Viện (nhà hát lớn TP cũ), nhìn chéo sang phải là khách sạn Carvelle sinh sau đẻ muộn. Đi quá chút nữa là nhà hàng Brodard.

Ba tiệm cùng nằm trên một con đường rất gần nhau, chỉ cách khoảng trên dưới 100m và gần như có kiểu kinh doanh giống nhau. Nhưng thật ra, nếu để ý kỹ, khách hàng thường chia làm 3 loại khác nhau. Ở đây tôi chỉ kể riêng về mặt “sinh hoạt văn hóa”.

Trước hết phải kể đến nhà hàng La Pagode, tôi cho là “cổ kính” nhất. Ngay từ những năm 1953, khi tôi mới biết taxi là “cái giống gì” (bởi ở miến Bắc hồi đó chưa có taxi), tôi đã biết La Pagode. Hồi đó Pagode còn bày hàng ghế salon bọc da ra ngoài hành lang, theo lời ông Nguyên Sa thì nó giống hệt nhiều nhà hàng ở Paris. Ngồi ở đây thoáng đãng. Khách đến thường chỉ dùng một ly cà phê, ngồi từ chiều đến tối mịt. Phía trong có một bàn đánh “tin” dành cho khách giải trí chứ không có mục đích cờ bạc kiếm tiền. Ông Hoàng Hải, anh ruột của cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, có thể kể là một “nhà vô đich’ về môn giải trí này. Chúng tôi chỉ cần mua một chục cái jeton, như đồng xu, bỏ vào khe là chơi triền miên. Cứ sắp hết lại kêu ông ông Hoàng Hải “cứu giá”, bonus lại đổ xuống hàng đống jeton tha hồ chơi.

Từ đâu có “Radio Catinat”

Khách hàng của La Pagode hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ. Cứ vào buổi chiều, sau giờ tan sở là tụ tập lại đây. Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp các anh Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Đình Toàn… Quá nhiều, tôi không thể nhớ hết. Thật sự cái nhu cầu chính là đến đây gặp nhau, để… nói dóc, “bình loạn” vài cái tin văn nghệ, thời sự chính trị cho vui thôi. Cả ba nhà hàng này với những cái “loa ngầm, loa không ai kiểm chứng” nên có thời người ta gọi những tin tức ấy là “radio catinat” (bởi con đường Tự Do, thời Pháp được đặt tên là đường Catinat). Tuy nhiên cũng có những nguồn tin “bí mật quốc gia” rất chính xác bên cạnh những nguồn tin chẳng bao giờ là sự thật. Nó cứ nhập nhằng như thế nên “radio Catinat” chưa chắc đã là “láo toét” như nhiều người kết tội nó. Vậy tạm gọi Pagode dành cho giới viết lách gặp nhau, xả stress.

Quyền lợi hỗ tương giữa phóng viên và các ông “nghị”

Còn Givral đông nhất và đáng kể nhất vào mỗi buổi sáng. Phóng viên trẻ thường tụ tập ở nhà hàng này vì nó ở ngay trước trụ sở Hạ Nghị Viện, các ông dân biểu thường ra ngồi giải lao tại đây và “thảo luận” đủ thứ chuyện bên lề. Và chuyện bên lề bao giờ cũng hấp dẫn hơn chuyện trong nghị trường. Chuyện “bí mật quốc gia”, chuyện phe nhóm, “gia nô” và không “gia nô”, chuyện tình bà nghị ông nghị…, cứ nghe mấy ông này là có đủ tin “giật gân” trong ngày. Cánh phóng viên thường bắt mối rất chặt chẽ với các ông bà dân biểu và nghị sĩ thượng hạ nghị viện. Thật ra họ có quyền lợi “hỗ tương”, anh cho tôi tin, báo tôi yểm trợ lập trường của anh. Trong số những phóng viên VN còn có một số phóng viên người Mỹ, Pháp từ khách sạn Continental trước mặt ghé sang. Hoặc cũng có một số phóng viên người Việt làm cho các đài truyền hình, truyền thanh nước ngoài săn tin tại đây.

Nhà thơ hàng đầu VN thường hẹn hò ở Givral

Có một nhà thơ hàng đầu VN thời đó là thi sĩ Đinh Hùng, bình thường ông hay ngồi ở La Pagode, nhưng khi “hữu sự” ông lại ngồi ở Givral. Dáng người “thanh thoát” nhỏ nhắn rất thư sinh. Lúc nào ông cũng chải chuốt, complet, cravate, đầu chải mượt gọn gàng, tay luôn xách chiếc cặp da, ông còn giữ nguyên vẻ đỏm dáng, lịch lãm của “công tử Hà Nội” những năm 50. Ông thường hẹn gặp những người ái mộ ở đây. Tôi để ý thấy hầu hết là những nữ độc giả rất trẻ, đẹp. Khi ông ngồi cùng 3-4 cô, khi ông lại rù rì với một người đẹp duy nhất. Đúng là ông có số đào hoa và dù đã ngoại ngũ tuần nhưng trái tim vẫn còn rất trẻ. Những lúc nhìn ông “say” như thế, tôi có cảm tưởng như ông cũng giống như những cậu trai 20 ngồi bên cô gái 18. Ông sống thật với rung cảm của mình. Có lẽ vì vậy thơ ông bao giờ cũng mang cái óng mượt, thần thoại rất đặc trưng. Có thể, Givral chính là nơi bắt ngưồn cho những cánh thơ thăng hoa của cảm xúc này.

Hôm nay ngồi ở Givral, hình bóng anh Đinh Hùng vẫn quanh quẩn đâu đây. Nhớ lại, khi tôi viết truyện dài “Đời chưa trang điểm”, tiêu đề này chính là đã mượn trong câu thơ “đời chưa trang điểm mà xuân đã về” của anh. Lúc gặp nhau, anh Đinh Hùng nói với tôi: “Ừ, cái tít ấy có vẻ tiểu thuyết lắm, cứ lấy xài đi, đóng thuế cho tớ một cuốn thôi”. Mới đây mà đã hơn nửa thế kỷ rồi anh Đinh Hùng ơi!

Brodard với những “dân chơi”

Còn nhà hàng Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, nhìn sang bên kia là vũ trường Tự Do của ông Cường lùn và chị “tài pán” Nhựt, bà chị này hành nghề cai quản các em “ca nhe” từ vũ trường Ritz Hà Nội vào Nam. Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”. Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những anh hùng “hảo hớn” như Khê - Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ. Các “đại gia, tiểu gia” thời đó không nhiều, chỉ vỏn vẹn một số ông dược sĩ, tu bíp, doanh nhân có “xế bốn bánh” đủ để chở các em đi ăn đêm. Thỉnh thoảng một vài em vũ nữ, thường là loại có hạng như Lệ Hằng, Thủy Điên, Mỹ Khùng… ở mấy cái vũ trường gần đó như Tự Do, Mỹ Phụng, Olympia cũng la cà vào đây tán dóc.

Ba nhà hàng ấy là 3 sắc thái riêng biệt làm nên cái trục “văn hóa không tên”, cái linh hồn của Sài Gòn, khó phai mờ trong ký ức của những người Sài Gòn.

Còn một địa chỉ nữa ở gần chợ Bến Thành là nhà hàng Thanh Thế, nơi này là chỗ gặp nhau của những ký giả thể thao như đàn anh Huyền Vũ, Thiệu Võ và một số những nhà báo miền Nam.

Tai nạn nghề nghiệp tại Givral, chuyện bây giờ và chuyện ngày xưa

Nhắc đến Givral và gần đây có câu chuyện về tin “siêu hot” trên nhiều tờ báo ở VN, tôi chợt nhớ đến câu chuyện cũng gần giống như thế xảy ra giữa mấy anh phóng viên với nhau ngay tại nhà hàng Givral hồi xưa. Xin ghi lại chuyện vừa xảy ra trước.

Hẳn bạn đọc còn nhớ câu chuyện “tin không nổi” mới xảy ra vài tuần trước. Ngày 18-9, VOV online, một trang thông tin trên mạng của VN, đã đăng tải thông tin với nội dung rất kỳ cục về “quan hệ” bố chồng nàng dâu. Sau khi VOV online đăng thông tin này, rất nhiều báo, trang thông tin điện tử ở VN đã trích nguồn tin này, có báo còn vẽ rắn thêm chân cho tình tiết thêm phần “thật” và tăng độ “gay cấn” lên cao. Xin nhắc lại câu chuyện có thể kể là chuyện ly kỳ quái đả nhất thế kỷ tại VN. Trang mạng này đưa tin nguyên văn như sau:

“Bố chồng “yêu” con dâu, cùng phải đi cấp cứu

Ông A (58 tuổi) có quan hệ tình dục với cô con dâu (36 tuổi). Trong khi thực hiện hành vi vô đạo đức này, người con dâu bị chứng co thắt âm đạo làm cho bố chồng không tách rời ra được

Chiều 18.9, Phó Giáo sư, tiến sĩ Tạ Văn Trầm - Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa trung tâm tỉnh Tiền Giang xác nhận, vừa quyết định chuyển 2 bệnh nhân (cư ngụ ở xã Tân Trung, thị xã Gò Công) lên tuyến trên điều trị trong tình trạng “dính” nhau. Điều đáng nói là 2 bệnh nhân này là bố chồng và con dâu.

Trước đó, trong lúc người con trai đi làm ở TP.Hồ Chí Minh, ông A (58 tuổi) có quan hệ tình dục với cô con dâu (36 tuổi).

Trong khi thực hiện hành vi vô đạo đức này, người con dâu bị chứng co thắt âm đạo làm cho bố chồng không tách rời ra được, được đưa đi cấp cứu ở Bệnh viện Đa khoa trung tâm tỉnh”.

Thật ra đây chỉ là nguồi tin do BS Tạ Văn Trầm - Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa trung tâm tỉnh Tiền Giang nói vui với bạn bè thôi. Hoàn toàn không có thật. Sau đó vài ngày, sáng 22-9 trang báoVOVonline đã phải xin lỗi:

“Ngày 18-9, VOV online đã đăng tải thông tin với nội dung về quan hệ bố chồng nàng dâu. Tuy nhiên qua xác minh, phóng viên viết tin này đã có sai sót khi chỉ dựa trên một nguồn tin không chính xác, thiếu thẩm định lại, dẫn đến tin đưa không đúng sự thật. VOV online chân thành cáo lỗi cùng bạn đọc”.

Chuyện ở Givral thời xưa

Thưa bạn, chuyện này làm tôi nhớ đến câu chuyện có thật ở Givral hồi xưa, do anh Hồng Dương kể lại. Khi đó anh là phóng viên của Đài Phát Thanh Quân Đội phụ trách tin tức nghị trường thuật lại. Hầu như ngày nào anh cũng ngồi với cánh phóng viên ở Givral. Trong số những phóng viên đi săn tin có một ông, lớn hơn vài tuổi. Ông này thích “mần văn nghệ đủ thứ”, làm thơ, viết văn, nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học kiêm luôn nghề săn tin. Ông lại thích tỏ ra hiểu biết hơn người, coi mình là cái rốn của vũ trụ nên anh em không ưa. Ông nói và viết nhiều hơn những gì ông biết. Ông chỉ đọc chừng 10 cuốn sách nhưng phê bình đến cả trăm văn nghệ sĩ. Chứng tỏ ông chỉ nghe lỏm chứ không biết đâu là đúng đâu là sai.

Một lần anh em đang ngồi tán dóc, thấy ông (xin giấu tên, tạm gọi là ông XY ) đi tới. Mọi người đều im bặt. Ông XY đoán chắc có tin gì hay, tụi nó giấu mình. Ông hỏi, nhưng anh em không ai nói câu nào, ông càng nghi. Sau cùng ông lựa một anh có vẻ “thật thà” nhất gặng hỏi cho được cái tin “bí mật” kia. Anh phóng viên “thật thà” bèn bịa ngay ra một “tình sử” tiết lộ cho đàn anh XY. Tôi không nhớ rõ là chuyện gì, nhưng đại khái là thứ tin tức động trời như kiểu tin “bố chồng dính lẹo với nàng dâu”.

Ông XY tức khắc viết bản tin đăng trên báo hàng ngày. Ông chủ nhiệm bị thiên hạ gọi đến tòa soạn hỏi tới tấp và có nhiều phản ứng rất gay gắt. Ông chủ nhiệm báo này cũng giống như ông chủ nhiệm VOV phải đi xác minh. Cánh phóng viên nói hoàn toàn không có tin này. Chủ nhiệm đành đăng lời “cáo lỗi cùng bạn đọc” và chỉ còn cách cho anh phóng viên nằm nhà làm việc vặt.

Cái bẫy của mấy ông bác sĩ

Trở lại chuyện ngày nay trên VOV, tôi thấy có dư luận chê trách BS Tạ Văn Trầm - Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa trung tâm tỉnh Tiền Giang nói bậy. Nhưng suy luận cho cùng, tôi nghĩ đây cũng chỉ là chuyện ông BS Trầm thấy anh PV kia hay nghe lóm, viết văng mạng nên ông ta cùng bạn bè ghét mặt, bèn dăng cái bẫy, bịa chuyện “bố chồng nàng dâu”, cho anh ta nghe lỏm, cũng giống như cái bẫy của mấy anh bạn phóng viên ngồi ở Givral hồi xưa thôi. Chẳng có lý do gì một BS phó giám đốc BV lại nói một chuyện không hề có như vậy. Thiếu gì chuyện để mấy ông tu bíp nói dỡn với nhau, sao lại nhè lúc anh phóng viên có mặt mà “khui” ra chuyện kỳ quái kia, phải không bạn? Bài học này quả là đắt giá cho những người cầm bút chuyện nghiệp và không chuyên nghiệp.

Tôi kể lại chuyện cũ, chuyện mới để bạn đọc dễ dàng so sánh hai chuyện có cùng một nguyên nhân không.

Không thể tìm lại dĩ vãng

Tóm lại, trong bài này, tôi chỉ muốn thông tin đến bạn đọc một nét “văn hóa xưa” vừa được khơi gợi lại giữa TP Sài Gòn. Nhưng với tôi, nó chỉ còn cái tên Givral của thời xa xưa thôi. Tất cả đều khác trước, giá cả lại quá cao không phù hợp chút nào với cánh phóng viên VN. Nó sẽ chỉ còn thích hợp với khách du lịch ghé ngang qua TP này.

Dù sao cũng xin gửi đến bạn đọc nặng lòng với những hoài niệm cũ, với Sài Gòn xưa, một cái gì đã mất đi không thể tìm lại được.

Văn Quang –
Sài Gòn 19-10-2012

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Bài học ca dao

Trần Giao Thủy

Vài nhận định
Địa danh Thọ Xương


● Tại miền bắc, Thọ Xương là một địa danh lâu đời, là Vĩnh Xương từ đời nhà Lê, sau đến nhà Mạc đổi thành Thọ Xương và giữ tên đó đến nhà Nguyễn.

Năm 1882 Pháp chiếm Hà Nội. Năm 1884 triều đình Tự Đức ký hòa ước Giáp Thân với Jules Patenôtre công nhận sự bảo hộ của Pháp ở Trung Kỳ (Annam) và Bắc Kỳ (Tonkin). Ngày 19/07/1888, chính phủ Pháp thành lập thành phố Hà Nội trước khi triều đình Đồng Khánh có chỉ dụ ngày 01/10/1988 cắt Hà Nội làm nhượng địa cho Pháp. Đến năm 1889 các huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm, và Thanh Trì trở thành ngoại thành Hà Nội cho đến 1915 thì ngoại thành Hà Nội đổi thành huyện Hoàn Long thuộc tỉnh Hà Đông.(11)

Huyện Thọ Xương xưa ngày nay là quận Hoàn Kiếm, quận Hai Bà Trưng và một phần quận Đống Đa, thành phố Hà Nội [BTTK mở].

Như vậy địa danh Thọ Xương ở Hà Nội có từ những năm thuộc thế kỷ 16 và được dùng cho đến triều Nhà Nguyễn [1802-1888] và trong thời bảo hộ và thuộc địa của Pháp đến năm 1915.

● Đồi Long Thọ (thành phố Huế) - Long Thọ ở tọa độ 16°26'56"N, 107°33'12"E [http://wikimapia.org] là địa danh thuộc làng Nguyệt Biều, nay thuộc phường Thuỷ Biều thành phố Huế, tại đây có đồi Long Thọ; Theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, cuối Quyển I, trong mục nói về Đền miếu ở Kinh sư có ghi về đình Long Thọ Cương:

“Ở xã Nguyệt Biều thuộc huyện Hương Thủy, gò gối bờ phía nam sông Hương, đối diện với núi Thiên Mụ ở bên kia sông, trước gọi là kho Thọ khang thượng. Tương truyền trước kia trên gò có nhà, từng rước tử cung Anh tông, Hiển tông, Túc tông và Thế tông để tạm ở đấy. Sau trải qua loạn lạc, nhà bị bỏ, đầu niên hiệu Gia Long đổi tên là Thọ Xương. Năm Minh Mệnh thứ 5 đổi tên là Long Thọ Cương, dựng nhà bát giác ở trên gò và cho tên hiện nay, lại dựng bia ghi việc để lưu thắng tích.”

Như vậy, tên của đồi Long Thọ thuộc phường Thuỷ Biều thành phố Huế, ở bờ nam sông Hương gần như đối diện với chùa Thiên Mụ ở bờ bắc, có từ năm 1824 [Giáp Thân]. Tên trước đó là Thọ Xương có từ năm 1802 [Nhâm Tuất]. Một cách khác, địa danh Thọ Xương ở Huế là tên dùng trong 22 năm đầu thế kỷ 19.
Image
Bản đồ đồi Long Thọ và chùa Thiên Mụ bên sông Hương (Huế)
Nguồn ảnh: Wikimapia.org


○ Chùa Thiên Mụ

Cũng theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Quyển I, trong mục nói về Đền miếu ở Kinh sư ghi về chùa Thiên Mụ như sau:

“[...] Ở trên gò xã An ninh về phía tây ngoài Kinh thành. Trước kia trên gò vẫn có chùa thờ Phật, sau nhân loạn lạc bỏ nát. Đến băm Gia Long thứ 14 dựng lại, [...]

Thái tổ Gia Dụ Hòang Đế năm Tân Sửu 44, chúa Thượng đến xã Hà Khê, nay là xã An Ninh (thấy đồng bằng nổi đất cao như hình con rồng ngoảnh đầu trong lại, phia trước trông ra sông cái, phía sau liền với hồ, phong cảngh đẹp tố, nhân hỏi người địa phương, họ nói gò này rất thiêng. Tương truyền, ngày trước có người trông thấy một mụ già mặc áo đỏ quần xanh, ngồi trên gò: “phải có chân chúa đến dựng chùa ở đây mà thu góp khí thiêng để giữ vững long mạch”. Nói xong thì biến mất nên gọi là núi Thiên Mụ. Chúa Thượng bèn dựng chùa gọi là chùa Thiên Mụ.” [Ghi trên cột hoa biểu ở nhà bia trước chùa trên bờ sông Hương].

Nhà Nguyễn truy tôn Chúa Nguyễn Hoàng là Thái tổ Gia Dụ Hòang Đế (1558-1613). Trong 55 cai trị Thuận-Quảng của Nguyễn Hoàng chỉ có một năm Tân Sửu 1601. Như vậy Chùa Thiên Mụ xây từ 1601, đầu thế kỷ 17.

○ Đền Quán Thánh hay đền Trấn Vũ

Đền Quán Thánh / Trấn Vũ được xây dựng vào đầu thời nhà Lý [1009 – 1028], đầu thế kỷ 11.

○ Trấn Vũ - Thọ Xương và Thiên Mụ - Thọ Xương: câu ca dao và câu hò Huế

Câu “Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương” chỉ có thể đã trở thành ca dao sau thế kỷ thứ 16 sau khi đã có huyện Thọ Xương và đền Quán Thánh (xây từ thế kỷ thứ 11) tại Thăng Long.

Còn thời điểm ra đời của câu “Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương” sớm và hợp lý nhất là trong khoảng đầu thế kỷ 19 [1802-1824] khi “Thọ Xương” là tên ngôi nhà trên ngọn đồi ở hữu ngạn sông Hương nhìn sang Chùa Thiên Mụ [xây từ 1601] bên kia sông. Sớm và hợp lý nhất vì trước 1802, trên đồi nơi đó là nhà kho “Thọ khang thượng” và sau 1824 là đồi mang tên Long Thọ Cương. Cùng vần “ương” với “Thọ Xương” là “Thọ Khương” hay “Thọ Cương” đều là những tên cùng địa điểm vào thời điểm trước và sau “Thọ Xương”.

Bài thơ “Hà thành tức cảnh” trong đó có câu “Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương” của Dương Khuê sáng tác ở thời đại của tác giả, cuối thế kỷ 19.

Trong “Mười ngày ở Huế” Ông Phạm Quỳnh đã lầm lẫn khi viết, “[...] Chùa Thiên Mụ là một chốn danh lam, có cái tháp bẩy từng, ở ngay trên bờ sông Hương, làng Thọ Xương thì ở bờ bên kia.”

Khi bài “Mười ngày ở Huế” đăng trên Nam Phong Tạp chí vào năm 1918 thì ở bên kia bờ sông Hương đối diện chùa Thiên Mụ không có làng nào tên là “Thọ Xương”.

Do đó sau đây là những sự kiện có thể xảy đã ra.

Một là, Dương Khuê làm bài thơ “Hà thành tức cảnh” với câu “Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương” khi hoàn toàn không biết đến sự hiện hữu từ trước của những câu ca dao của người dân Hà Nội hay câu hò “Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương” của người dân đất Thần kinh.

Hai là, cả bài ca dao có câu “Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương” là văn học dân gian ở thế kỷ 20 đã dựa vào thơ của Dương Khuê cùng “hiệu đính” câu đầu tiên của bài thơ từ “Phất phơ cành trúc trăng tà” thành “Gió đưa cành trúc la đà”.

Ba là, Dương Khuê mượn câu ca dao Hà Nội [có thể đã có] từ thế kỷ 16 – ở gần nơi ông lớn lên và làm quan, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình – hơn là mượn câu hò [có thể đã có sớm nhất] từ đầu thế kỷ 19 ở tận kinh thành Huế để đưa vào thơ của mình ở cuối thế kỷ 19.

Ông Phạm Quỳnh nhớ lầm “Thọ Xương” là tên làng thay vì tên căn nhà trên đồi bên sông Hương là chuyện lạ vì ngọn đồi hay căn nhà đó, đối diện chùa Thiên Mụ, mang tên Long Thọ [cương] từ năm 1824, nghĩa là đã có lịch sử gần 100 năm. Cái lạ này khiến người ta có thể nghĩ rằng ông Phạm Quỳnh còn có cái lầm thứ hai trong “Mười ngày ở Huế” là nghe lầm “Thọ Cương” thành “Thọ Xương”. Nếu không có hai cái lầm đó có thể Phạm Quỳnh đã ghi, “Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Cương” [...]

Ký sự “Mười ngày ở Huế” của Phạm Quỳnh tuy có nhầm lẫn vừa nêu nhưng ít nhất đó là chứng từ câu “Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương” viết bằng chữ quốc ngữ lần đầu tiên xuất hiện, năm 1918.

Mặt khác, câu “Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương” bằng chữ quốc ngữ xuất hiện trong bài thơ của Dương Khuê ở bộ sách 3 tập “Văn Đàn Bảo Giám”(12) xuất bản lần đầu từ năm 1926 đến năm 1938. Đây cũng là khỏang thời gian tác giả Vũ Quốc Thúc nghe được bài ca dao “Gió đưa cành trúc ... Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương...” ở Hà Nội. Đến những năm 1952-1956 Phan Phong Linh [1911-1956] xác định một lần nữa về bài thơ của Dương Khuê trong cuốn “Thắng Cảnh Việt Nam qua Thi Ca”(13), đang in khi ông qua đời. Sau nữa, câu “Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương” xuất hiện sau câu “Phất phơ cành trúc trăng tà” trong “Dương Gia Phả Ký” vào năm 1973.

Học lại bài ca dao đã giúp người viết biết tác giả bài thơ “Hà Nội tứ cảnh” hay “Hà thành tức cảnh” là Dương Khuê trong văn học chữ quốc ngữ khoảng 1930-1940, cùng thời với lúc bài ca dao “Gió đưa cành trúc ... Tiếng chuông Trấn Vũ...” trở thành phổ biến ở Hà Nội. Bài ca dao “Gió đưa cành trúc ... Tiếng chuông Trấn Vũ...” có thể đã có trong văn chương truyền khẩu trước đó.

Hai câu “Gió đưa cành trúc ... Tiếng chuông Thiên Mụ...” đã đi vào văn học chữ quốc ngữ từ năm 1918 qua Phạm Quỳnh và Nam Phong Tạp Chí. Tương tự, dân gian ở Huế có thể đã có câu hò “Gió đưa cành trúc...” từ trước.

Như thế, hậu sinh sống ở thế kỷ 21 này cứ xem ca dao Gió đưa cành trúc la đà / Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương là tài sản văn học dân gian của Huế và bốn câu trong đó có Gió đưa cành trúc la đà / Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương là ca dao của người Hà Nội có lẽ là ổn hơn cả. Riêng bài thơ “Hà thành tức cảnh” thì không còn nghi ngờ gì nữa, từ hơn 80 năm nay văn học sử đã ghi tác giả là Dương Khuê.

Sau hết, là đôi dòng về hai câu “Gió đưa cành trúc la đà” (ca dao Hà Nội) và “Phất phơ cành trúc trăng tà” (Dương Khuê, Hà Thành tức cảnh). Không nhằm đi sâu vào những ý ẩn dụ của bài thơ “Hà Thành tức cảnh” như tác giả Dương Thiệu Tống - hậu duệ của Dương Khuê - đã viết trong “Tâm trạng của Dương Khuê và Dương Lâm” (14), ở đây chỉ bàn đến hai câu thơ trên phương diện tả cảnh.

Có thể đại đa số trong dân gian khi đọc bài thơ “Hà Thành tức cảnh”, chỉ coi đây là một bài thơ tả cảnh. Vì thế, nhận thấy câu sáu đầu tiên có thể gây vấn đề không thống nhất về mặt thời gian với những câu sau. Vấn đề ở đây là hai chữ “trăng tà” ở câu đầu không hợp với khung cảnh của canh gà (câu hai), “khói tỏa ngàn sương” (câu ba) và “nhịp chày” là những hình ảnh và sinh hoạt buổi sớm mai quanh Hồ Tây ở Hà Nội.

Theo văn chương bình dân và bác học thì “trăng tà” thường dùng tả cảnh về đêm. Thí dụ, trong bài nhạc “Hàn Mạc Tử”, Trần Thiện Thanh viết, “Đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa”. Hay như bản dịch tiếng sang Việt bài thơ nổi tiếng của Trương Kế, “Phong kiều dạ bạc”:

“Trăng tà chiếc quạ kêu sương [...] Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San” (Bản dịch “Phong kiều dạ bạc” của Nguyễn Hàm Ninh.)

Có thể vì thế dân gian hậu thế đã mạn phép [tác giả] để “hiệu đính” câu thơ. Cành trúc mà phất phơ ắt phải có gió. Và cho trúc là đà trên mặt hồ vừa thơ mộng vùa hợp vận với “canh gà” theo sau. Do đó “Phất phơ cành trúc trăng tà” đã trở thành “Gió đưa cành trúc la đà”, câu mở đầu của một bài ca dao nổi tiếng khắp nước không khác gì với câu “Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi”, thơ của Bàng Bá Lân bỗng thành câu ca dao “Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”.

Người viết tin rằng những người làm thơ, như Dương Khuê và Bàng Bá Lân, không phiền hà khi thấy thơ của mình đã trở thành ca dao, tài sản chung của cả nước.


--------------------------------------------------------------------------------

(11) TTXVN và Vietnam+, Địa giới Hà Nội thời Pháp xâm lược, tạm chiếm. Trang Thăng Long - Hà Nội. http://hanoi.vietnamplus.vn.
(12) Trần Trung Viên, Văn Đàn Bảo Giám. Dương Bá Trạc đề tựa. Tản Đà đề tựa 1934
Trần Tuấn Khải duyệt lại. Nam Ký Hán-Việt văn biểu. Hư Chu hiệu đính 1968. Trần Vy Hoàng sắp xếp lại năm 1998.
(13) Trần Tiễn Sum, “Tiếng chuông Thiên Mụ hay tiếng chuông Trấn Vũ”, 2010 (California) và Viên Linh, “Cái chết và hoài vọng của một nhà thơ”, Người Việt, October 10, 2012.
(14) “Có người đã sửa đổi câu thơ này là ‘Gió đưa cành trúc la đà’, nhưng có lẽ là sai vì làm mất đi ý nghĩa ẩn dụ của toàn câu mà chỉ có ý nghĩa tả cảnh mà thôi.” Nguồn: Dương Thiệu Tống, Tâm trạng của Dương Khuê và Dương Lâm, Nxb. Khoa học Xã hội, HN, 2005.

Post Reply