Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Thế hệ bánh mì kẹp

Yên Hà

Tôi ra đời giữa hai cuộc chiến, giữa một trăm năm đô hộ giặc Tây và hai mươi năm nội chiến từng ngày. Sau đó, tôi được đi du học và tôi đã sống “vô tư lự” bên trời Âu sung túc trong khi khói lửa vẫn ngập trời nơi quê nhà.

Giờ đây, bom đạn đã ngừng tiếng nhưng một lần nữa, gia đình tôi đã phải cuốn gói rời bỏ quê hương và mấy triệu người Việt Nam bỗng nhiên phải sống tản mác trên toàn thế giới như những cây bị bật rễ, ở những chốn dung thân như Mỹ, Gia Nã Ðại, Pháp, Úc,...

Phần mất mát vẫn còn đó, nguyên vẹn, ít ra đối với bố mẹ chúng tôi và chúng tôi, thế hệ đầu của những người di dân. Một thế hệ “nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi,” lơ lửng giữa không gian quê hương, chơi vơi giữa thời gian thế hệ, lạc lõng trong tâm tư văn hóa. Một thế hệ “bánh mì kẹp.”
Kẹp giữa hai quê hương

Những người di dân này, ngày hôm nay mang sổ thông hành Mỹ, Pháp, Úc... nhưng vẫn chỉ là Mỹ (Pháp, Úc...) giấy, phần đông tiếng Mỹ (Pháp, Úc...) vẫn còn ba xí ba tú, miệng vẫn hôi mùi nước mắm chứ không hôi hamburger hay camembert, vẫn không có bạn bè Mỹ (Pháp, Úc...) mà chỉ sống quanh quẩn với nhau, tụ tập nơi những thương xá, chợ búa Á Ðông, hay rủ nhau “party,” ăn uống, karaoke với nhau.

Những người Mỹ (Pháp, Úc..) gốc Việt này đã đi tìm một nơi nương tựa để sống “tạm bợ” nơi xứ người mà trong thâm tâm còn cố tưởng tượng như mình đang sống ở quê nhà, và lúc nào có dịp, có phương tiện là lại vù về Việt Nam, một số để “hưởng thụ,” nhưng phần lớn vẫn vì nhớ nhà.
Tôi không nhớ ai đã có nói: “Ma patrie, c'est là où je suis heureux” (Quê hương tôi là nơi chốn tôi sống hạnh phúc). Tôi muốn tin ông lắm, tôi cũng muốn tự an ủi mình lắm nhưng tiếng gọi của cội nguồn réo rắt lắm, ông ơi. Tôi cứ ngỡ quê hương là nơi chôn nhau, cắt rốn, là nguồn, là cội, là gốc, là rễ cơ mà?

Ở hải ngoại, đương nhiên chúng tôi được tự do, phần đông được ăn sung, mặc sướng, đủ tiền mua nhà, chăm lo cho con cái ăn học, đi shopping hay du ngoạn đây đó... Ðời sống này, nhiều đồng bào ta nơi quê nhà mong mỏi có được, và tôi thừa hiểu chúng tôi “hạnh phúc” hơn rất nhiều người lắm. Tôi không dám than thân, trách phận hay phân bì với ai cả, chẳng qua nơi đây, tôi chỉ nói lên tâm sự u uẩn những người tha hương chúng tôi mà thôi.
Nhất là trong trường hợp tôi, hiện đang mang hai quốc tịch Pháp và Mỹ, sống bên Mỹ nhưng tim vẫn còn “vọng Nam,” tâm vẫn còn hướng về Pháp, đôi khi vẫn nhớ về khung trời Bỉ Quốc. Những nơi tôi đã sống, làm sao tôi có thể xóa quên được?

Quê hương như người mẹ đã bụng đau,dạ chửa cho tôi ra đời, nuôi nấng, dạy dỗ tôi nên người, và quê hương thứ hai, thứ ba là những bà mẹ đã mở rộng vòng tay, đón nhận tôi khi tôi không còn chỗ đứng dưới ánh mặt trời.
Ơn nghĩa này, chúng tôi không quên (từ ngày sang Mỹ, năm 19 75 , bố mẹ tôi năm nào cũng gửi chút quà Giáng Sinh cho gia đình ông sĩ quan Mỹ đã giúp nhà tôi sang Mỹ, và sau khi bố tôi mất, mẹ tôi vẫn tiếp tục gửi, mặc dù người ân nhân này đã mấy lần đề nghị nên thôi gửi quà).

Tôi cảm quí những bà “mẹ nuôi” lắm, tôi lại càng xót thương Mẹ Việt Nam , quê hương đau khổ. Ôi, quê hương tôi đâu? Mỹ, Pháp, Úc...? Hay vẫn là Việt Nam muôn thuở?
Kẹp giữa hai nền văn hóa
Ngày hôm nay, tôi đã lục tuần nhưng tôi đã chỉ được sống ở quê nhà có mười tám năm. (Tôi đã mất mát quá nhiều rồi.)

Bao nhiêu năm tháng sống bên Pháp, bên Bỉ, đã rèn đúc tôi với một lối suy luận, một cách ăn nói, một cách cư xử xã giao, một nền văn hóa mà tôi hãnh diện mang bên cạnh văn hóa của mình. Qua bao năm tháng đó, tiếng Pháp đã dần dà trở thành tiếng tôi thông dụng nhất, ngay cả để diễn tả những tâm trạng sâu thẳm nhất của mình.

Tuy nhiên, bao nhiêu năm tháng đó chỉ có thể thấm vào cái vỏ bên ngoài, chỉ có thể thay đổi hình dạng và cử chỉ của tôi, chỉ có thể tạo nơi tôi những sở thích ăn mặc, đi đứng, nói chuyện, chỉ có thể tạc lên cái “Tôi” bên ngoài.
Tất cả những năm tháng đó không hề thay đổi nước da hay sắc tóc tôi (tóc tôi chỉ có thể bạc trắng với thời gian), không hề lay chuyển âm điệu tiếng mẹ đẻ của tôi, không hề làm suy sút kho tàng văn hóa tổ tiên tôi hay nền giáo dục bố mẹ tôi.

Nước Pháp đã ban thêm cho tôi một nền văn hóa, nhưng không hề thay thế nền văn hóa của tôi. Nhưng có lẽ đó cũng là nỗi khổ tâm của tôi, nỗi khổ tâm của những người di dân trong thế hệ đầu? Cây cối làm sao sống thiếu gốc rễ? Con người ta làm sao sống thiếu cội nguồn? Làm sao tôi có thể vui sướng bên ngoài khi bên trong trống vắng?

Tôi có thể thích pot au feu hay bouillabaisse nhưng bao giờ tôi cũng vẫn thèm một tô phở đặc biệt, tái nạm gầu gân sách sụn. Tôi có thể mê một chai Saint Emilion hay một chai Volnay nhưng tôi vẫn nhớ hương vị mấy chai la ve “33” của “Brasseries et Glacières d'Indochine” (BGI).

Tôi có thể viết tiếng Pháp giỏi hơn người Pháp trung bình, nhưng tim tôi bao giờ cũng rung động khi tôi được đánh dấu hỏi, dấu ngã.
Tôi có thể thích xem phim “action” Mỹ hay nghe Claude Barzotti hát nhưng tôi vẫn thích xem phim bộ... Ðại Hàn (Việt Nam tôi làm gì có phim hay?), nhưng tôi vẫn thấy thấm thía hơn khi tôi nghe nhạc Việt, tôi vẫn truyền cảm hơn khi hát tiếng Việt. Tôi có thể ngoảnh lại nhìn một cô đầm tóc vàng, mắt xanh nhưng tôi chỉ có thể hạnh phúc với người đàn bà gọi tôi bằng “Mình ơi!”
Chỉ vì đó là văn hóa dân tộc nằm trong máu, trong xương tủy tôi, vì đó là giáo dục bố mẹ, ông bà tôi đã truyền lại cho tôi, vì đó là vết tích của mấy ngàn năm lịch sử.

Chỉ vì tôi là người Việt Nam .
Kẹp giữa hai thế hệ

Bố mẹ chúng tôi và chúng tôi cùng một làn sóng di cư (cho dù trong số chúng tôi có những người đã đi trước) nhưng hai điều khổ tâm cũng có điều khác biệt.

Quả thật vậy, chúng tôi vẫn cùng một nền văn hóa với bố mẹ, cùng một nền giáo dục do cha ông truyền lại. Bố mẹ chúng tôi vẫn được sống với chúng tôi như lúc còn ở Việt Nam, với nền tảng Phật Lão Khổng, cùng một nhân sinh quan, cùng một đạo làm người. Chúng tôi vẫn nói tiếng Việt với bố mẹ, tiếp tục yêu thương, kính nể bố mẹ, để tiếp tục lưu truyền phong tục, tập quán.
Trong khi chúng tôi giờ bắt buộc phải chấp nhận văn hóa con cháu chúng tôi như một văn hóa ít nhiều là ngoại Việt.

Vì sự lưu truyền đó sẽ gián đoạn từ đây: Con cái chúng tôi đã bắt đầu nói một thứ tiếng khác và những điều chúng tôi cố gắng răn dạy con cái khó lọt qua được màng lưới thế giới bên ngoài.

Tôi đã được chứng kiến một cảnh tượng mà tôi không bao giờ quên được. Hôm đó, một người bạn có tổ chức một buổi tiệc họp mặt với hơn sáu mươi bạn hữu để ăn uống, hát hò, nhẩy đầm. Về khuya, chúng tôi tạm ngưng chương trình để ăn một bát cháo gà cho ấm bụng và lấy sức chơi tiếp. Lúc đó, đứa con trai chủ nhà từ trên lầu đi xuống với mấy đứa bạn, bật máy truyền hình lên và nằm xem, ngay giữa sàn nhẩy. Chúng tôi đã bị “chiếm đất” và đợi một lúc, không thấy tình hình biến chuyển, quan khách lần lượt xin kiếu từ.

Tôi á khẩu. Làm sao tôi có thể tưởng tượng được cảnh này, với nền giáo dục của tôi? Hôm đó, tôi đã chợt hiểu cái nếp “độc tài” của con trẻ trong cái quốc gia tự do nhất thế giới này. Nhưng điều tôi phân vân nhất là trong tình trạng đó, hai vị chủ nhà, nghĩa là bố mẹ cậu trai trẻ đó, không hề lên tiếng can thiệp, hầu như làm ngơ, không nhìn thấy điều gì cả.

Trong khi tôi, đầu đã bạc phơ mà mỗi lần sang thăm nhà, Mẹ bảo tôi cạo râu hay đi cắt tóc là tôi vui vẻ làm ngay, chỉ để vâng lời Mẹ, để cho Mẹ vui. Ngược lại,bên Mỹ này, con gái mới mười lăm tuổi đã đánh mắt, thoa son đi học, bố mẹ nói gì được khi trong trường, bạn bè chung quanh đều như vậy, vả lại có thầy bà nào cấm cản đâu? Bên này, con cháu đi xâm mình (tattoo) hay đục vòng sắt vào môi, vào mắt (piercing) thì bố mẹ nào, ông bà nào ngăn cản được?

Nhà chúng tôi lúc trước không giầu có gì nên không bao giờ dám phí phạm bất cứ gì, ăn cơm phải vét sạch từng hạt, trong khi con trẻ bên này lấy cho đầy đĩa nhưng không ngần ngại đổ tuốt nửa đĩa thức ăn khi chúng cảm thấy no.
Tôi đã tận mắt thấy những bố mẹ phải khóc tức tưởi khi bị lũ con xúm vào “mắng.” Ngày nay, bố mẹ nào dám đánh con mà không sợ chúng nó gọi “911”?
“Trời làm một trận lăng nhăng, ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông.” Ngày nay,thế giới đảo lộn và chúng tôi đi lộn đầu, để con cái trèo đầu, trèo cổ thôi.
Lúc trước còn ở bên Pháp, tôi vẫn cố gắng mỗi năm lấy máy bay sang thăm bố mẹ, và giờ đây sống bên Mỹ, tôi vẫn đi thăm Mẹ (vì không cùng tiểu bang) và ngoài ra, còn phải đi Pháp thăm con. Hóa ra, chúng tôi ở trên thì lo cho bố mẹ, ở dưới thì lo cho con cái (ở bất cứ tuổi nào);ở trên thì bị bố mẹ mắng, ở dưới thì bị con trách!

Xung đột cả thế hệ lẫn văn hóa
Nói như vậy không phải để trách mắng con cái. Ðâu phải do lỗi chúng nó nếu chúng nó không nói được tiếng mẹ đẻ? Ðâu phải do lỗi chúng nó nếu chúng nó sinh sống tại hải ngoại? Ðâu phải do lỗi chúng nó nếu chúng nó hòa mình với môi trường bên ngoài nhiều hơn là với môi trường gia đình (nhất là trong cái tuổi thành niên này)?

Tôi đã có nghe những đứa trẻ nói với bố mẹ: “Bố mẹ đừng trông mong chúng con trở thành người Việt. Văn hóa của bố mẹ không phải là văn hóa của chúng con. Chúng con là người Mỹ!” Phũ phàng thay, đau lòng thay, nhưng chúng nó làm sao hiểu được văn hóa chúng ta khi chúng nó sống trong một thế giới mà nền tảng là “tự do” và “đồng đô la”? Làm sao chúng nó có thể nghe lời bố mẹ trong khi sự thật bên ngoài hầu như khác hẳn?
Có lẽ chính chúng nó có lý. Bổn phận cha mẹ là giúp con cái thành công cuộc đời chúng nó chứ không phải cuộc đời cha mẹ, giúp chúng nó thành công ngoài đời, trong môi trường chúng nó đang sống chứ không phải môi trường bố mẹ chúng đã sống. Sống ở đâu mà không theo văn hóa nơi đó thì chỉ có thất bại,mà đâu có cha mẹ nào muốn con mình thất bại khi ra đời, cho nên đành ngậm cay, nuốt đắng mà thôi.

Ðây không phải chỉ là vấn đề xung đột thế hệ (thời điểm nào chả có vấn đề này, cho dù không“gây cấn” như vậy), mà còn rắc rối thêm vấn đề xung đột văn hóa nữa. Làm sao bố mẹ và con cái có thể hiểu nhau và chấp nhận nhau khi đôi bên không cùng một nền tảng, cùng những đặc quan,cùng một nhân sinh quan?

Nỗi buồn u uẩn
Dĩ nhiên tôi không dám vơ đũa cả nắm, không dám nói gia đình Việt Nam bên hải ngoại nào cũng như trên, nhưng có lẽ phần đông là như thế (?).Nói lên vài điểm cho dễ hiểu, nhưng vấn đề không giản dị như vậy và tôi không có khả năng phân tích nhiều hơn.

Dù sao đi nữa,đây cũng chỉ là nỗi buồn u uẩn, ám ảnh tôi từ bao lâu nay,trong mối liên hệ với tâm hồn, với văn hóa, với gốc rễ của mình.
Tôi không tức giận, không chua chát. Tôi chỉ cảm thấy buồn, tôi không luyến tiếc quá khứ, chỉ là tôi cảm thấy buồn.

Vướng mắc giữa hai quê hương, giữa hai nền văn hóa, giữa hai thế hệ, chúng tôi là một thế hệ “bánh mì kẹp” (đôi khi còn là“bánh bao” nữa). Ngoảnh nhìn lại chỉ còn kỷ niệm, nhìn về đàng trước thì tương lai đã bít kín.
Nhưng thôi, đã biết là mình vướng mắc,l à mình “chấp ngã” (như lời Phật dậy) thì chỉ còn có nước “phá chấp,” nghĩa là “buông,” là chấp nhận.
Vả lại, cha mẹ chúng tôi không có vấn đề này, con cháu chúng tôi không có vấn đề này, chỉ có chúng tôi mới có vấn đề này. Ngày nào cái thế hệ chúng tôi đi hết rồi thì vấn đề này sẽ không còn ai bàn đến nữa.

Chúng tôi chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp, một thế hệ bị mất mát, bị hy sinh để dân tộc di dân chúng tôi có thể lật qua một trang sử mới. Ðể đời sau, con cháu chúng tôi có hy vọng thành công trên đất người, đi tiếp con đường mà chúng tôi đã không đi hết.
Ðược như vậy, chúng tôi cũng sẽ mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn Trời Phật, xin cảm ơn phúc đức ông bà.

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Cái khúc đuôi nguy hiểm
Nguyễn Hưng Quốc

Mấy tháng vừa qua, đọc báo chí tiếng Anh trên thế giới, hầu hết các tin tức liên quan đến Việt Nam đều là những tin buồn. Trong số các tin buồn ấy, buồn nhất là hai tin này: Một, vi phạm nhân quyền và chà đạp lên tự do với “thành tích” trấn áp các nhà báo và blogger độc lập, hết lòng lo lắng cho vận mệnh của đất nước. Hai, sự khủng hoảng về kinh tế với hết thất bại này đến thất bại khác.

Chúng ta đã bàn nhiều về việc vi phạm nhân quyền. Ở đây chỉ xin nói về sự thất bại trong kinh tế.

Trước đây, có lúc người ta đánh giá khá cao chiều hướng và tốc độ phát triển của kinh tế Việt Nam. Người ta cho đó là sự thành công đứng hàng thứ hai ở châu Á, chỉ sau Trung Quốc. Một số người còn hy vọng Việt Nam sẽ trở thành một con hổ mới trong khu vực.

Gần đây, dường như mọi ý kiến ấy đều thay đổi. Người ta nhận thấy trong phép màu kinh tế Việt Nam đã xuất hiện những vết nứt (“cracks appear in Vietnam’s economic miracle”).

Cái người ta từng tưởng là hổ, té ra chỉ là một con mèo ướt (“From Tiger to Pussycat: How Vietnam’s Economy Got Off Track”).

Từ chỗ ngưỡng mộ, bây giờ người ta nhìn Việt Nam như một tấm gương xấu đối với các nền kinh tế mới phát triển (“Vietnam is a bad example to newly emerging markets”).

Trong số các nguyên nhân dẫn đến sự thất bại ấy, có hai nguyên nhân được nhiều người nói nhất:

Thứ nhất là sự bất lực của nhà cầm quyền trong cả hai khía cạnh lãnh đạo cũng như quản lý kinh tế. Ruchir Sharma, tác giả cuốn Breakout Nations và là một chuyên gia kinh tế thuộc Trung tâm Quản trị Đầu tư Morgan Stanley ở New York, xem Việt Nam như một điển hình cho những sự thất bại của một nước nhỏ trên đường hiện đại hóa. Điển hình ở chỗ: các nhà lãnh đạo ở đó hoàn toàn không được chuẩn bị và cũng không có năng lực quản lý nguồn đầu tư dồi dào từ khắp nơi trên thế giới đổ vào.

Với số tiền như từ trên trời rớt xuống ấy, người ta xây dựng hết dự án này đến dự án khác không một chút cân nhắc. Cuối cùng, hết dự án này đến dự án khác lần lượt thất bại. Dân chúng không những không được hưởng mà còn phải còng lưng ra gánh những món nợ kếch sù do những sự thất bại ấy gây ra.
Thứ hai là nạn tham nhũng. Lớn ăn lớn; nhỏ ăn nhỏ. Tài nguyên và tài sản quốc gia, như nước, cứ chảy ào ào vào túi riêng của những người có quyền lực, từ trung ương xuống địa phương. Tham nhũng không những làm thất thoát ngân sách quốc gia. Tham nhũng còn đẻ ra vô số những trò lừa bịp dẫn đến sự thất bại trong các dự án kinh tế mà nhà nước xây dựng. Tham nhũng cộng với bất tài và bất lực càng làm cho những sự thất bại ấy càng trầm trọng thêm.

Tôi cho cả hai nguyên nhân trên đều gắn liền với khúc đuôi của phương châm xây dựng kinh tế của Việt Nam từ giữa thập niên 1980 đến nay: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Không còn hoài nghi gì nữa, nửa đầu của phương châm ấy, “kinh tế thị trường”, đã làm thay đổi hẳn bộ mặt của Việt Nam trong mấy chục năm vừa qua. Nếu vào năm 1986, Việt Nam là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới với thu nhập bình quân trên đầu người chỉ dưới 100 đô la thì, vào năm 2010, với thu nhập bình quân đầu người khoảng 1.130 đô la, Việt Nam đã được xem là nước có thu nhập trung bình, dù thuộc loại thấp (lower middle-income country). Chỉ số người nghèo, trước, là 58% dân số; bây giờ chỉ còn khoảng 14.5%.

Bất cứ ai rời Việt Nam trước năm 1985 và về nước lại sau đó đều dễ dàng nhìn thấy những thay đổi lớn lao trong đời sống và mức sống của dân chúng. Trường hợp tôi, chẳng hạn. Tôi vượt biên giữa năm 1985. Mười một năm sau, năm 1996, lần đầu tiên về lại Việt Nam, tôi thấy mọi thứ đều khác hẳn. Trước, với chính sách ngăn sông cấm chợ, mọi thứ đều khan hiếm, ai cũng sống một cách thiếu thốn và khốn khổ. Thịt heo, thịt bò, muốn mang từ quê lên thành phố, dù chỉ một hai ký, cũng giấu giấu giếm giếm, có khi ngay trong đồ lót. Sau, việc buôn bán được tự do, hàng hóa tràn ngập khắp nơi, nhà cửa bà con và bạn bè tôi khang trang hơn hẳn.

Nhưng “kinh tế thị trường” chỉ phát huy tác dụng đến một mức nào đó. Từ năm bảy năm nay, tất cả những sự phát triển được xem là diệu kỳ đã chững lại. Nguyên nhân, dù không sành về kinh tế học, cũng rất dễ thấy: từ cái được gọi là “định hướng xã hội chủ nghĩa” nêu trên.

Định hướng ấy vừa duy trì quyền lãnh đạo gần như tuyệt đối của nhà cầm quyền trong các lãnh vực kinh tế vĩ mô vừa nuôi dưỡng vô số những công ty, xí nghiệp rồi tập toàn kinh tế quốc doanh không có chức năng gì khác ngoài việc thua lỗ và tạo cơ hội cho bọn tham nhũng hoành hành. Tất cả các vụ vỡ nợ hàng trăm triệu đến hàng tỉ đô la trong mấy năm vừa qua đều thuộc thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Một số người cho họ sẵn sàng chấp nhận những sự yếu kém của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa để đạt được một mục tiêu cao hơn và lý tưởng hơn: duy trì sự bình đẳng trong xã hội. Sự thật ngược lại: thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa ấy chỉ làm nảy sinh ra một bọn tư bản mới giàu có một cách bất chính và bất lương từ tài sản của nhà nước và nhân dân.

Để thoát khỏi sự thất bại và khủng hoảng hiện nay, chỉ có một cách duy nhất: ngắt bỏ cái khúc đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” trong phương châm xây dựng kinh tế Việt Nam.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Những căn nhà ma
Mùa Halloween đã đến ở Hoa Kỳ. Dịp lễ lạ kỳ dành cho những hình ảnh ma quái có nguồn gốc từ thời cổ châu Âu, nhưng đã trở thành một công nghiệp trị giá 6 tỷ rưỡi đôla ở nước Mỹ này, phần lớn qua doanh số bán kẹo và trang phục. Trong dịp Halloween này, “ngôi nhà ma” được dựng lên làm trò giải trí hàng năm ở các thành phố chính, trong đó có Houston, nơi thông tín viên VOA Greg Flakus đã tham quan hậu trường để viết bài tường thuật sau đây.

Trong tâm lý con người, có một cái gì đó khiến người ta thích thú khi bị khiếp sợ.

Trong mùa Halloween từ 26 năm qua, những người đi tìm cảm giác mạnh ở Houston đã đến Screamworld và trả tiền để được khiếp sợ.

Một trò gây tác động khiếp hãi là có những vật nhẩy chồm vào người mình trong bống tối.

Tạo một bối cảnh rùng rợn cũng làm tăng cảm giác chờ đợi xem điều gì sẽ xảy ra.

Tỷ như khi đi qua ngôi nhà có ma này, người ta không biết được là sẽ gặp chuyện gì, hay ai ra đón mình.

Các nữ khán giả đua nhau thốt lên những câu như, “Phát khiếp lên được.”“Ôi, sợ quá.”

Người chủ và cũng là người điều hành của Screamworld, ông Jim Fetterly đã thiết kế tất cả các màn giải trí để làm khách hàng của ông khiếp hãi. Ông nói:

“Gây bất ngờ chỉ một giây thôi, là ta cũng có thể khiến họ phát khiếp và mọi người lại thích thế.”

Screamworld có dùng một số thiết bị máy móc, nhưng theo ông Fetterly thì con người gây sợ hãi nhiều hơn:

“Phải có các diễn viên giỏi. Họ là người gây những cơn khiếp sợ mà khách hàng khao khát.”

Ðể làm được như thế, Screamworld tuyển dụng hàng chục người để đóng vai thây ma hiện hồn, hay ác quỷ.

Phần lớn các diễn viên là sinh viên học sinh hay những người làm việc khác ban ngày, vì thế họ có rất ít thời giờ để chuẩn bị trước khi mở màn.

Anh Chris White ban ngày làm trong ngành kỹ thuật thông tin, điều khiển toán hóa trang cho biết:

“Chúng tôi có khoảng 2 tiếng đồng hồ để hóa trang cho từ 50 đến 75 người.”

Kết quả cải dạng có thể gây sửng sốt.
Nhưng các diễn viên còn phải vận dụng tài năng và kinh nghiệm.

Anh chàng này đóng vai thây ma hiện hồn:

“Nếu các bạn đã từng học hợp xướng hay ca hát, thì các bạn được dạy là phải dùng âm bụng chứ không dùng thanh quản. Bạn chết rồi mà.”

Một cô gái mặt đầy máu me nói:

“Mình phải nhập vai, tưởng tượng là cha mẹ mình đã chết, có lẽ mình đã giết họ.”

Diễn viên Tristran Baldwin nói vai thây ma hiện hồn leo tường đã giúp anh được chọn đóng trong các phim kinh dị:


“Phát huy vai của mình hàng đêm giúp tôi vào nghề diễn viên, vì thế tôi đang xây dựng được một cái gì đó. Tôi đã đóng vai thây ma được 5 năm rồi mà.”

Nhưng các diễn viên và người chủ Jim Fetterly chỉ có chưa đầy 2 tháng mỗi năm để thu tiền nhờ mùa hấp dẫn khách ở Screamworld. Ông Fetterly nói:

“Tôi phải nói với các bạn rằng thực là điên rồ bởi vì toàn bộ kế sinh nhai chỉ dựa vào tiền kiếm được trong 6 tuần lễ.”

Nhưng Jim Fetterly và dàn diễn viên của ông cũng làm nghề này vì thích thú công việc làm cho người khác thích thú:

“Hãy làm họ chết khiếp đi rồi rút về hang ổ của mình!”

( VOA )

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Image

Mưa, nhớ mưa, Vũ trung tùy phím (phiếm)

Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi...

Có lẽ Đặng Thế Phong cảm xúc từ một cơn mưa thu ở miền bắc mà tôi chưa bao giờ thấy dù đã bao lần qua xứ ấy. Tôi hình dung những giọt mưa của nhạc sĩ hơi to hơn các hạt mưa phùn li ti của mùa đông xuân, đủ để thánh thót ngoài hiên, chứ không lộp độp mái tôn trên ngôi nhà tôi ở Gò Vấp, dù cũng là thu, giữa thu nữa.

Sài Gòn tháng chín là giữa mùa mưa, mưa ầm ầm, rào rạt, ‘mưa thu’ Sài Gòn. Nhưng đôi khi giữa phố xá đông người, tôi lại không cảm thấy cái ầm ầm của nó nữa, mà chỉ ràn rạt tiếng quất trên hàng ngàn chiếc áo mưa giữa dòng đời bon chen. Chỉ ở những nơi hơi hoang vắng như tịnh cốc của tôi ở Thảo Điền, đứng trên balcon mà đón mưa thì mới chìm được trong cái ầm ầm của cơn mưa Sài Gòn.

Ở những con đường hơi xa xa, thời chưa đông người lắm, thì mưa Sài Gòn lại hơi vô duyên ở cái khoảnh khắc sau mưa, khi hàng ngàn ống máng xối đổ nước thẳng xuống đường làm kẻ bộ hành vội vã sau mưa vừa đi vừa tránh, vừa lầm bầm. Mà không phải tại mưa vô duyên, mà bởi những kẻ mới hãnh tiến sống trong các khu nhà đó, cứ lấy cái lợi nhanh chóng của mình làm trọng.

Chính trong cơn mưa Sài Gòn mà ý muốn gột rửa dưới mưa như Krishnamurti trở nên mãnh liệt nhất. Gột rửa như đưa trẻ tôi ngày xưa hớn hở trong cơn mưa dưới mái hiên nhà, không cần xà bông tắm hay dầu gội như con tôi bây giờ sau trận tắm mưa thích chí trên sân thượng. Cơn mưa bên xứ Ấn gió mùa của krishnamurti không xa lắm Sài Gòn, hẳn Đức Phật cũng đã đến Phù Nam, Champa,...dưới những trận mưa mùa.

Những trận mưa mùa chắc chẳng thay đổi sau hai ngàn năm dù Phù Nam chỉ còn là phế tích. Tôi nhớ trận mưa ân sủng cho dân làng Mỹ Tú, Cần Thơ, sau những tháng hạn dậy đầy phèn. Những chiều mưa làm nhòe ánh điện vàng vọt của thị xã Bạc Liêu cũ kỹ. Nhưng chúng cũng giận dữ cuốn phăng những bãi tắm bờ tây Phú Quốc như muốn nhắc con người đừng chống lại thiên nhiên, đừng rững mỡ trên cái thuần khiết của tự nhiên, mà hãy nhuần nhị như những túp nhà lá đẫm nước bên bờ vịnh Tô Châu.

Ngoài những giọt mưa thu của nhạc sĩ họ Đặng, mưa miền bắc đã có trong tôi trước khi tôi gặp nó từ những cơn Gió đầu mùa của Thạch Lam. Những cơn mưa dai dẳng làm mình phát bực, nhưng lại không có thi vị nào bằng ủ trong tay cốc nâu nóng mà nhìn màn mưa mờ mờ của Hồ Tây. Nhưng cơn mưa xứ bắc nó không làm mình có cái ý muốn gột rửa, mà làm mình co lại, mà tự vệ, như những viên đá ong vùng Đoài trân mình dưới làm mưa rét cắt da, ướt sũng những ngấn lệ của mùa hè, như những hòn đá vôi xám đẹp não nùng trong một chiều mưa lạnh vùng đông bắc, vô hình vô ảnh trên mặt nước lặng ngắt vô thanh. Những cơn mưa dài rả rích trên vùng núi kéo theo những dòng nước đỏ ngầu giận dữ cuốn hết mọi thứ. Tôi đã gặp những cơn mưa như vậy ở Điện Biên Phủ, ở Lai Châu, những cơn mưa cuốn hết cả quả đồi ở Yên Bái. Những màn mưa không thấy đường đi giăng ngang khu nhà thổ trung tâm Sapa. Và những cơn mưa quệt nguyên một màu xám trên vùng châu thổ.

Những cơn mưa miền trung dài ngày kèm theo giông tố tôi gặp lần đầu tiên ở Nha Trang. Trong những ngày mưa như vậy cô bạn thân nhìn kẻ tha hương lắc đầu ái ngại “mưa miền trung mà, lê thê lắm”. Tôi thấm thía hơn cái lê thê ấy trong những ngày chờ mưa ở Vĩ Dạ, chẳng thấy nắng, chẳng thấy hàng cau. Có lúc mong cho xe chạy nhanh một cách nguy hiểm qua đèo Hải Vân đang lê thê mưa mà về bờ nam hửng nắng. Nhưng đôi lúc mong cơn lê thê ấy kéo dài mãi để tà áo trắng còn ướt át trên cầu Tràng Tiền, mong cho cơn lê thê ấy đóng băng vĩnh viễn trên gác chuông chùa Thiên Mụ, cho ai kia thờ thẫn từ bờ Nguyệt Biều ngó sang. Nhưng mưa miền trung cũng là những buổi sáng náo loạn chờ bão ở Cửa Đại, những ngày nước ngập ngang người ở thị xã Tam Kỳ, con đường thiên lý trở thành con đập tràn mong manh. Rồi mưa trên cao nguyên, những trận mưa rừng mà giờ đây chắc chỉ còn là quá vãng, trùm kín một màu đen kịt trong hẽm núi, dòng suối ầm ầm tối đen bên vách đá đen đầy đe dọa.

Tôi...nghe mưa gần, lại nhớ mưa xa... những ngày mưa đông dài đầy sương mù, không sấm sét miền bắc California. Mong cho nó qua nhanh mà ngắm đào lê trắng hồng những triền đồi xuân. Những sớm mưa đông Paris ướt át, qua cửa kính mờ của khách sạn thấy người bộ hành vội vã đi nhanh vào ga điện ngầm. Cơn mưa lất phất mùa đông Lyon rơi trên những váng băng mỏng trên sông Rhone. Tôi mơ màng tưởng tượng những cơn mưa trên thành Brest của Jaques Prevert, nó có giống cơn mưa nhẹ sáng hôm ấy ở Rennes? Tôi nhớ những cơn mưa trên biển Bắc, mỗi nơi một xúc cảm khác nhau. Mưa làm cho tòa thị chính Hambourg như nặng nề thêm với màu xanh xám. Mưa làm tăng nỗi buồn các bé gái chết oan bên bức tường đá đen ở Brussels với những tràng hoa dập nát. Nhưng mưa biển Bắc cũng nhẹ nhàng bên làng chài Volendam cổ kính.

Dường như những cơn mưa làm cho gã giang hồ thực sự trở thành giang hồ, hắn không nhớ là mình đang ở đâu. Trong cơn mưa nồng nực mà không vần vũ của bình nguyên Houston, hắn nhớ cơn mưa mùa hè mà lạnh giá vùng Bay James bên Canada, mưa lạnh trên tuyết, trên những lều hải ly giữa đầm lầy. Trong cơn mưa hè ngọt ngào trên dòng Danube năm ấy, khi gã lặng nhìn cầu Elizabeth chìm trong bụi nước, bên kia sông là khối nhà màu nâu của Parliament, hắn nhớ tới những cơn mưa hiếm hoi lạnh giá mùa đông trên bờ Địa Trung Hải, thành Alexandria. Cột đá đen hình ngọn lửa kỷ niệm sự biến 1956 loáng nước nhắc hắn nhớ một chiều mưa Đà Lạt.

Ông giáo người Senegal có lần cảm hứng nói với hắn trong cơn mưa hiếm như vàng vùng sa mạc: “L'eau est le plus précieux cadeau du Dieu.” Hắn lại mong được gột rửa như krishnamurti trong cơn mưa rào thuở hoa niên.

Mưa 29/9/2012

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Chó Nào Cũng Là Chó:
HNTƯ 6: Kết cục vui vẻ cho đảng, buồn cho những ai thích hóng hớt
TTHN

Kết quả của Hội nghị Trung ương 6 đã rõ ràng, một kết quả không khác gì so với các nhà phân tích bình luận chính trị, các chuyên gia có kinh nghiệm đã đánh giá. Có thể nó tạo nên mối thất vọng cho người dân, nhất là các thành phần hóng hớt hay các thế lực thù địch của đảng. Vì nếu kết quả mà như mong muốn của người dân, bọn hóng hớt hay các thế lự thù địch của đảng, thì đảng có mà cạp đất mà ăn hay sao? Nếu thế thì hóa ra đảng và chính quyền thực hiện đúng tinh thần của Hiến pháp, nước Cộng hòa XHCN Việt nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân à? Đừng có mà suy nghĩ phản động nhé!

Bởi vì phế truất Thủ tướng thì là hành động mang tính đảo chính, sẽ trở thành một tiền lệ xấu chưa từng có trong lịch sử của các đảng cộng sản. Nghĩa là hôm nay phe ông mần tôi, thì sẽ có lúc mai mốt phe tôi sẽ mần lại. Mà đã chấp nhận công khai sự đấu đá phe nhóm thì đâu còn là tính tập trung dân chủ và sự lãnh đạo toàn diện của đảng. Mọi quyết định của HN TƯ 6 phải đảm bảo tính nghuyên tắc và đảm bảo sự đoàn kết trong đảng. Mà nói như cụ Hồ thì sự đoàn kết trong đảng được ví như con ngươi của mắt mình. Xin hỏi độc giả có bao giờ mà các bác tự chọc vào mắt mình hay không?

Sẽ có người hỏi thế hóa ra HN TƯ 6 vô tích sự, ban lãnh đạo đảng và 175 vị Uỷ viên TƯ đảng đã lừa dân, phụ lòng mong mỏi của đông đảo bọn "phản động" và các thế lực thù địch .

Xin thưa không phải như vậy, cái mà mục tiêu của toàn đảng trong HN TƯ 6 lần này không phải là hạ bệ bất cứ một ai, bất kỳ một đồng chí lãnh đạo nào. Đừng có tin cái bọn Quan làm "pháo" của tình báo Hoa Nam với chủ đích xúi dục hòng để Ngao - Cò đánh nhau để ngư ông đắc lợi. Vấn đề đạt được lớn nhất trong HN TƯ 6 là hoàn thiện thể chế giám sát, kiểm soát quyền lực đối với chức danh Thủ tướng. Giảm bớt quyền lực Thủ tuớng, chuyển một số bộ sang để Chủ tịch nước phụ trách. Đặc biệt là tăng cường quyền lực của đảng bằng việc hình thành 02 ban: Ban Nội chính TƯ và Ban Kinh tế TƯ.

Về nhân sự thì đ/c Thủ tướng chuyển sang đảm nhận chức vụ "Tưởng thú", tưởng thú nghĩa là tưởng là thú vị nhưng bây giờ hoàn toàn không thú vị chút nào, một khi đ/c Nguyễn Bá Thanh Bí thư Đà nẵng sẽ được bầu bổ xung vào Bộ Chính trị (vì còn khuyết 01 ghế) phụ trách vấn đề Chống tham nhũng, đồng chí Trần Văn Minh P. Ban Tổ chức TƯ sẽ về lại Đà nẵng giữ chức Bí thư. Và đặc biệt là đ/c Nguyễn Bá Thanh sẽ là người soi 'kỹ" Thủ tướng, cho tới hết nhiệm kỳ. Và sau cùng đồng chí Thủ tướng được quyền hạ cánh an toàn về đuổi gà cho vợ. Chứ không được phép tiếp tục ngồi nhòm cái ghế TBT như dự kiến trước đây, sau khi đ/c Lú nghỉ giữa nhiệm kỳ.

Kết quả có 129/175 ý kiến ủng hộ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp tục điều hành Chính phủ, tức là tương đương 74% hay chính xác là ~73,71% là kết quả của vòng bỏ phiếu sau cùng lúc 18h45 ngày 13.10.2012 là hoàn toàn chính xác. Cứ xem mấy ông Vua, Quan làm pháo im re thì biết, chứ chả cần các đ/c UVTƯ đã được phép liên lạc ra bên ngoài sau khi bỏ phiếu xong, điều mà 12 ngày trước đó bị cấm triệt để.

Đi bộ đội thì phải chấp nhận làm thương binh, ai tin vào tin đồn bậy bạ nhiều thì phải chấp nhận thất vọng là chuyện bình thường.

Thế nhỉ các đồng chí trong Chi bộ TTHN. Còn đồng chí nào lăn tăn nữa hay không?

(TTHN)

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Image

Đề nghị Thủ tướng ra lệnh kịp thời thông tin: THẰNG ĐÓ LÀ THẰNG NÀO?

Dân Làm Báo -

Ban chấp hành Trung ương quyết định “không thi hành kỷ luật đối với tập thể Bộ Chính trị và một đồng chí trong Bộ Chính trị”. Tập thể 14 đứa đầy tớ trong BCT thì nhân dân đã "thời gian quá nửa đời người, và ta đã tỏ tường rồi" (*). Vậy còn một đồng chí trong BCT là thằng nào - thưa Thủ tướng?


Trong công văn 7169/VPCP-NC xử lý Danlambao, Thủ tướng nêu rõ:

1. Giao Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo các cơ quan cung cấp thông tin khách quan, đúng sự thật về tình hình các mặt của đất nước ta, nhất là các vấn đề mà dư luận quan tâm;...

2. Báo Nhân Dân, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường cung cấp thông tin kịp thời, chính xác.

Cho đến giờ phút này vẫn không thấy Bộ Thông tin và Truyền thông, Báo Nhân Dân, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, các cơ quan thông tin đại chúng cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, khách quan, đúng sự thật vấn đề mà đảm bảo với Thủ tướng rằng dư luận rất quan tâm: một đồng chí trong Bộ Chính trị - Thằng đó là thằng nào!. (Xin lỗi Thủ tướng, nhân dân là chủ, gọi đầy tớ bằng thằng chắc cũng ổn, nhất là thằng đồng chí vi phạm kỷ luật thì không gì ổn hơn)

Nay yêu cầu đồng chí ra lệnh nghiêm chỉnh thực thi tinh thần của công văn 7169 để tiếp tục gia tăng uy tín của một Thủ tướng xuất sắc nhất Á Châu.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Bao Giờ Xác Ném Khỏi Lăng: Tượng Hồ bị dân quăng ở vào đống rác !
Sáng chủ nhật đi ăn phở, vợ bảo anh ơi người ta vứt cái tượng bác Hồ to lắm ở đống rác. Lật đật chạy về lấy cái máy ảnh. Chụp xong nhìn lại rồi ngẫm nghĩ về câu chuyện gìn giữ, tuyên truyền và chuyển giao những giá trị xã hội. Vẫn nhớ mãi câu chửi của bà cụ " Tiên sư chúng nó chứ! cơ quan đấy cháu ạ!" Mình cũng không biết nói gì hơn, chỉ giúp được bà quay tượng Bác lại với đời rồi về.

Chụp lại vài hình ảnh để kỷ niệm
Image

Image

Image

Image

Image

(Fb HĐB)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Hội nghị Trung ương 6: Trái núi và con chuột
Wednesday, October 17, 2012 5:42:41 PM

Bùi Tín (Blog VOA)

Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) đã kết thúc. Và quả như mọi người đã tiên đoán, “trái núi đã sinh ra con chuột nhắt.” Cuộc tắm gội chỉ là vờ vịt qua loa, xong lại còn bôi nước hoa cho nhau, sau khi 2 nhóm đối lập đã chịu hòa giải nhân nhượng, vì họ sợ nhân dân, sợ công luận, sợ lẽ phải, sợ công bằng và pháp luật. Họ làm như thế để tránh tình trạng sụp đổ, không thì chết cả nút.

Phát biểu trong phiên họp bế mạc hội nghị chiều ngày 15 tháng 10, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng cho biết Bộ Chính Trị (BCT) xin được hưởng kỷ luật khiển trách về trách nhiệm chính trị, nhưng Ban Chấp Hành Trung Ương (BCHTW) nương tay không nỡ: BCHTW cũng nhận lỗi lầm trước toàn đảng, nhưng rồi mọi sự xí xóa, thể tất cho nhau. Thế gọi là hòa cả làng. Là vui vẻ cả. Mọi người đều yên vị.

Ngoài biện pháp màu mè có một không hai đó, còn có một nét rất hề là hội nghị không dám nêu tên một người, chỉ nói là “một ủy viên Bộ Chính Trị,” tuy họ thừa biết rằng cả nước cũng như mọi người Việt Nam ở hải ngoại có quan tâm theo dõi tình hình trong nước đều rõ “ủy viên” này là ai.

Trong suốt thời gian diễn ra Hội nghị BCHTW lần thứ 6, đã có khối người nín thở, chờ đợi, hy vọng. Vì được quảng cáo, tuyên truyền cực kỳ hấp dẫn. Nào là quan trọng chưa từng có, kéo dài chưa từng có, sẽ bàn cãi đến nơi đến chốn những vấn đề then chốt: đánh giá thực trạng kinh tế-xã hội, vấn đề ruộng đất trong Luật Ðất Ðai, đổi mới nền giáo dục quốc dân, sắp xếp lại các tập đoàn quốc doanh, chuẩn bị lớp lãnh đạo thế hệ mới, tự phê và phê bình chân thành không khoan nhượng từng cá nhân trong 200 ủy viên trung ương chính thức và dự khuyết, đặc biệt là 14 ủy viên BCT, sẽ có thi hành kỷ luật và pháp luật nghiêm, không ngoại trừ ai và cũng sẽ có thể có thay đổi nhân sự quan trọng.

Ðã có những nhận định trái ngược nhau. Có người cho rằng Hội nghị Trung ương này rất là bất thường, đột ngột triệu tập sáng Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012 (ngày quốc khánh Trung Quốc), kéo dài 15 ngày, đầy ắp công việc lớn, có giá trị như một đại hội đảng, có thể bằng một cuộc cách mạng. Nhưng cũng có người cho rằng sẽ lại “Vũ Như Cẫn” mà thôi, khi mà họ những người lãnh đạo đảng vẫn một mực kiên trì chủ nghĩa Mác, kiên trì chuyên chính vô sản, kiên trị độc quyền đảng trị, kiên trì quốc doanh là chủ đạo của nền kinh tế.

Có những điều chắc chắn. Cuộc họp tuy dài, nhưng chỉ thực tế tập trung vào vấn đề nhân sự ở chóp bu, ai đi ai ở, thuộc phe nào phái nào. Còn những vấn đề thật sự hệ trọng của quốc gia, như hiện tình kinh tế xã hội gay gắt, vấn đề ruộng đất và sở hữu đất đai, nền giáo dục của đất nước, các tập đoàn kinh tế lớn nhất suy sụp... thì chẳng có ai bàn cãi đến nơi đến chốn. Vẫn sẽ là treo lơ lửng, cứ dò dẫm mà đi.

Vấn đề lớn hơn là vì sao số phận đất nước ta, nhân dân ta lại phải nằm trong tay của 200 vị mà nhân dân ta không hề lựa chọn và bầu ra, họ chỉ được lựa chọn bởi BCT gồm 14 ông vua tập thể, mà 14 người này cũng không do nhân dân tuyển lựa nốt. Trong cuộc họp này, tài năng các vị ra sao đều ghi rõ trong 313 trang giấy bị giữ kín, e rằng nhân dân mà tỏ tường thì các vị sẽ bị mời về vườn hết.

Vấn đề mấu chốt cuối cùng qua cuộc họp Trung ương lần thứ 6 (khóa XI) là Quốc Hội hiện tại do đảng chọn dân bầu lại bị chính họ khinh thường và phủ định một cách ngạo mạn, tự họ thách thức điều ghi trong Hiến Pháp hiện hành: “Quốc Hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam.” Theo họ, mọi sự đã có đảng lo thì họp Quốc Hội làm gì nữa? Mọi sự đã có Thiên triều bảo hộ. Mọi sự vẫn như cũ. Quốc Hội coi như không có quyền hành gì.

Tuy nhiên, phần lớn nhân dân tinh đời cho rằng những người có chức có quyền sẽ chỉ gầm gừ, đánh võ mồm với nhau, để cuối cùng là cò kè bớt một thêm hai, thỏa hiệp với nhau vì trăm nỗi sợ. Họ sợ phơi bày tội lỗi ra hết của nhau thì còn gì là thể thống, sợ kỷ luật nghiêm thì còn ai để cầm quyền, sợ của gian phải trả lại cho dân, cho công quỹ thì đau và tiếc; nhà cửa, biệt thự, vàng bạc, kim cương, chứng khoán, ngoại tệ, tài khoản trong và ngoài nước ê hề, nay bị niêm phong, cuộc biệt ly sẽ đau hơn hoạn.

Trừ phi có một cá nhân hay một nhóm trong cuộc nổi trội hẳn lên về trí tuệ, nhân cách, phất cờ chính nghĩa dân tộc, trái tim đập nhịp chung với nhân dân nghèo khổ, vụt đứng dậy được triệu triệu công dân suy tôn và bảo vệ, như Vaclav Havel, như Lech Walesa, như Gorbachev hay Yeltsin ở Ba Lan, Tiệp Khắc, Liên Xô hồi nào. Hay như bà Aung San Suu Kyi ở Miến Ðiện hiện nay. Chuyện như thế trong nước ta có vẻ như còn ở tương lai. Chưa thấy bóng dáng nào, hơi hướng nào như vậy.

Hội nghị 6 như thế là đã xong, và mọi việc đã được thảo luận và giải quyết ổn thỏa như Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định trong bài phát biểu bế mạc. Hay ít ra là những người lãnh đạo Việt Nam hiện nay muốn tin như thế, hy vọng như thế. Nhưng nhân dân lương thiện đâu chịu hòa cả làng. Dân đen bị moi túi, cả xã hội bị móc túi hàng mấy trăm ngàn tỷ đồng để họ chia chác giữa các nhóm tư bản thân hữu thì làm sao mà chịu hòa được.

Giữa cơn khủng hoảng gay gắt về niềm tin, họ lại đổ thêm dầu vào ngọn lửa đấu tranh đòi công lý và công tâm. Họ khiêu khích thêm nhân dân lương thiện, khiêu khích một bộ phận đảng viên còn nhân cách. Họ đang đón chờ những phản ứng mạnh mẽ, sâu sắc, trầm tĩnh, đàng hoàng của nhân dân đang thức tỉnh.

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Ăn gian và ăn cướp

Nguyễn Hưng Quốc
Bản chất quyền lực của con người là tương đối. Chỉ có quyền lực của thiên nhiên, và sau thiên nhiên, theo niềm tin của nhiều người, Thượng Đế, mới tuyệt đối.

Nhưng những người có quyền bao giờ cũng nuôi tham vọng tuyệt đối hóa quyền lực của mình, giống như Thượng đế, nên, ngay từ xưa, đã biết ăn cắp quyền lực của Thượng đế, bằng triết lý về thiên mệnh, xem vua chúa như những đấng con Trời, thay Trời mà hành đạo. Sau, với sự phát triển của văn minh và khoa học, tư tưởng thần quyền, và cùng với nó, ý niệm thiên mệnh, càng lúc càng yếu. Con người chỉ còn đối diện với con người. Quan hệ giữa con người là một thứ quan hệ tương tác, do đó, cần có sự thỏa hiệp. Mà thỏa hiệp là tương đối hóa quyền lực. Khi sự thỏa hiệp ấy được thiết chế hóa, nó biến thành dân chủ.

Tuy nhiên, không phải ai cũng chấp nhận sự thay đổi ấy. Nhiều người vẫn khư khư theo đuổi tham vọng tuyệt đối hóa quyền lực. Có điều, không thể sử dụng tư tưởng thiên mệnh được nữa, người ta lại chơi trò ăn gian với khái niệm sứ mệnh.

Ai giao cho sứ mệnh ấy? Câu trả lời: Lịch sử.

Nhưng lịch sử là gì? Tự bản chất, lịch sử bao giờ cũng là một trò ăn gian, hoặc nếu không, cũng chứa đựng đầy nguy cơ ăn gian.

Trên lý thuyết, người ta cho lịch sử là những thực tế đã xảy ra. Nhưng ở đây là có hai điều:

Một, không có ai có khả năng bao quát toàn bộ hiện thực, toàn bộ những gì đã xảy ra cả. Người ta phải chọn lựa. Mà chọn lựa là chủ quan: khi chọn lựa, người này dùng tiêu chí này, người khác dùng tiêu chí khác. Bởi vậy, có khi, nếu không muốn nói là nhiều khi, cùng một hiện thực và trong cùng một giai đoạn, nhưng “lịch sử” của người này hoặc nhóm này với “lịch sử” của người kia hoặc nhóm kia khác hẳn nhau.

Hai, cái gọi là lịch sử không phải chỉ bao gồm các sự kiện, ngay cả tổng số các sự kiện. Lịch sử còn bao gồm cả ý niệm về xu hướng vận động. Cái xu hướng ấy không có sẵn. Nó là một sự diễn dịch. Những cái gọi là biện chứng pháp lịch sử, từ xã hội nguyên thủy đến chế độ phong kiến rồi chế độ tư bản và, sau cùng, chế độ cộng sản cũng chỉ là một sự diễn dịch. Bất cứ sự diễn dịch nào cũng là của con người, với hai đặc điểm chính: một, nhằm phục vụ cho con người, cụ thể hơn, một nhóm người nào đó; và hai, hàm chứa những nguy cơ bất toàn và sai lầm của con người.

Bởi vậy, nhân danh sứ mệnh lịch sử để tuyệt đối hóa quyền lực bao giờ cũng là một sự ăn gian đồng thời là ăn cướp: ăn cướp phần quyền của người khác; và ăn gian với khái niệm sứ mệnh cũng như khái niệm lịch sử.

Trong một thời gian khá dài, những trò ăn gian và ăn cướp như vậy tồn tại một cách mạnh mẽ ở nhiều nơi. Dưỡng tố của chúng chính là huyền thoại. Hết huyền thoại giải phóng giai cấp đến huyền thoại giải phóng dân tộc và, cuối cùng, lớn hơn, huyền thoại giải phóng nhân loại. Những huyền thoại ấy giúp vỗ béo một số người trong khi đẩy vô số người khác xuống tận đáy của sự cùng khổ và thống khổ. Nhưng huyền thoại, dù được nuôi dưỡng khéo léo đến mấy, cuối cùng cũng tan vỡ. Sự tan vỡ ấy xảy ra, trên phạm vi thế giới, một cách đồng loạt và ào ạt vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990.

Nhưng vẫn chưa hết ăn gian và ăn cướp. Năm ngoái, 2011, một trận bão cách mạng, một lần nữa, lại quét sạch một số bọn ăn gian và ăn cướp ở Trung Đông và Châu Phi. Một số kẻ đã đền tội.

Tiếc, những làn sóng ấy chưa lan đến Việt Nam, nơi vẫn còn đầy những bọn ăn gian và ăn cướp.

Ở đây, tôi chỉ nói nói đến chuyện ăn gian khái niệm và ăn cướp quyền lực. Chúng ta chưa nói đến những thứ ăn gian và ăn cướp khác. Thật ra, khi đã ăn gian và ăn cướp khái niệm và quyền lực, người ta có thể ăn gian và ăn cướp mọi thứ khác.

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Image

MẶT NẠ .

Nhà đông người, nhưng không ồn ĩ, vì người ta đang tập trung trước giờ hấp hối của một trong những người thân của họ. Hơn thế, người hấp hối lại danh giá, nổi bất nhất và là niềm tự hào xưa nay của cả dòng họ. Một ông quan. Quan xưa đã ghê gớm, quan cách mạng bây giờ còn ghê gớm hơn.

Với nét mặt đau buồn hoặc cố gượng đau buồn, người ta khe khẽ trao đổi với nhau đôi câu thường thấy trong những trường hợp thế này. Những lời hỏi thăm, an ủi chiếu lệ. Những cái chép miệng, thậm chí cả những giọt nước mắt.

Bà vợ và cô con gái đã lớn của người hấp hối luôn đi lại trong căn phòng chật cứng, mời nước, mời thuốc và thi thoảng nói đôi lời, cũng rất chiếu lệ.
Người hấp hối nằm ở phòng bên, trên chiếc giường rộng trải vải trắng toát. Trong phòng không có ai vì bác sĩ yêu cầu để ông được yên tĩnh, dẫu chỉ một chốc.

Đó là một người đàn ông da ngăm đen, khá gầy nếu xét qua đôi tay và đôi chân trần lộ ra dưới lớp vải. Nhưng nếu nhìn mặt thì đó là một người có khuôn mặt đầy đặn, hồng hào, có thể nói rất ưa nhìn, dẫu ít nhiều xa lạ. Nhìn nó, người ta chẳng biết nó đang khen hay chê mình, đang cười, dửng dưng hay thậm chí đang khóc. Thành ra, khuôn mặt đầy đặn có vẻ cởi mở ấy rốt cục vẫn kín mít và vô cảm. Ông còn trẻ, chưa đến sáu mươi nhưng đã là một cán bộ cấp cao, rất cao, và chắc chắn sẽ còn lên cao nữa nếu không bị căn bệnh ung thư quái ác này cản đường.
Khuôn mặt mở mà kín đáo, thân thiện mà vô cảm ấy của ông giữ vai trò quyết định trên con đường thăng tiến.
Ở phòng ngoài, bà mẹ bảo cô con gái:
“Con vào với bố đi. Đừng để bố một mình”.
Cô gái, một sinh viên năm cuối trường Ngoại Giao, lẳng lặng làm theo lời mẹ. Vừa mở cửa, cô chợt nghe có tiếng gì đấy rơi, kêu đánh keng giữa sàn nhà đá cẩm thạch. Trên giường, người hấp hối nằm đầu ngoẹo sang một bên. Cái vật rơi ấy chắc từ người ông. Cô vội chạy lại và thấy bố đã chết. Đúng lúc định kêu lên gọi mẹ thì cô phát hiện thấy một điều rất khác thường.

Đó là khuôn mặt bố cô. Nó không còn hồng hào, dễ mến và đầy đặn như vốn có. Thay vào đó là một khuôn mặt xa lạ, xấu, gian hiểm, gầy và đen xạm như đôi chân và tay. Cô ngạc nhiên không tin vào mắt mình, đến mức không biết phải làm gì. Bất chợt cô nhìn xuống sàn nhà và thấy cái gì đấy mỏng, bằng kim loại. Mặt nạ! Chiếc mặt nạ bố cô vẫn đeo suốt đời mình. Có lẽ giờ chết không cần nữa, nó mới rơi xuống. Cô cúi xuống cầm nó trên tay, không phải không thoáng lo sợ và ghê tởm.
Lưỡng lự một chốc, cô sửa đầu bố nằm thẳng rồi vội vàng đặt nó lên mặt ông. Khuôn mặt ông lại ửng hồng, cởi mở và đôn hậu. Nó nhìn cô với vẻ hài lòng.

Trong tiếng khóc thút thít, tiếng chia buồn và tiếng những bước chân cuống quít, người ta liệm người chết vào quan tài. Tiếp đến là dòng người xếp hàng để nói lời vĩnh biệt, bày tỏ lòng thương xót và kính trọng với chiếc mặt nạ nằm sau ô kính nhỏ.

Hà Nội, 18.7.1011

Post Reply