QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Hình trại tù CS

Post by phu_de »

Vài tấm hình trại tù Cộng Sãn (trích từ Hồi Ký Tắm Máu Đen của Hoàng Phong Linh-Võ Đại Tôn)

Image

Image

Image

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Re: Hình trại tù CS

Post by linhgia »

Suppose...


Poetic English version of a poem in
Vietnamese by Tran Trung Dao


Suppose I have one day to live only
Blessed with peace, may that day be!
Free of hatred, struggle and jealousy!
Just one day in the tender arms of Mommy!

Suppose I can call just one time only
In this foreign country, I will call Vietnam loudly
O, Motherland! Four thousand years of up and down !
After all those vicissitudes, you are still here, somehow!

Suppose I am given the opportunity to sing only one time
I will bow, then the National Anthem, I will vocalize
To commemorate all those who, for the country, have died
And our yellow flag that, with our forefathers' blood is imbibed.

Suppose I am given only one time to write
I will not hesitate to write the word LOVE
O, men! please stop all the killing and massacre
After twenty years, hatred and revenge have piled!

Suppose I can draw one time only
I will draw the map of my S shaped country
With all the mountains, rivers, and islands at sea.
How marvelous is the beauty of Vietnam scenery!

Suppose I can cry but only one time
I will cry bitterly for myself, may I ?
With dust on shoulders, I wander in my Bohemian life
I will fly thousands of miles with the clouds in the sky.

HOAI VAN TU



Nếu


Nếu tôi chỉ được một ngày để sống
Xin một ngày được sống thật bình yên
Không ghen ghét, không hận thù, tranh chấp
Một ngày thôi trong tay mẹ dịu hiền

Nếu tôi chỉ được một lần để gọi
Giữa quê người xin gọi lớn Việt Nam
Ôi tổ quốc, bốn ngàn năm hưng phế
Vẫn còn đây qua mấy độ thăng trầm

Nếu tôi chỉ được một lần để hát
Tôi sẽ nghiêng mình hát khúc quốc ca
Xin mặc niệm bao nhiêu người đã chết
Ngọn Cờ Vàng thắm máu của ông cha

Nếu tôi chỉ được một lần để viết
Tôi chẳng ngại ngùng viết chữ thương yêu
Ngừng tay lại, hỡi ai còn chém giết
Hai mươi năm thù hận đã thêm nhiều

Nếu tôi chỉ được một lần để vẽ
Tôi sẽ vẽ hình chữ S thân thương
Từ hải đảo đến núi rừng sông biển
Đất trời ta, dáng đứng đẹp phi thường

Nếu tôi chỉ được một lần để khóc
Xin một lần được khóc cho riêng tôi
Hạt bụi vướng trên vai đời du tử
Tôi bay đi nghìn dặm áng mây trời.

Tran Trung Dao

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

VIẾT CHO NGÀY QUÂN LỰC 19/06

Đào Vũ Anh Hùng

Ha`ng na(m, chu'ng ta la`m le^~ ky? nie^.m Nga`y Qua^n Lu+.c 19-6\. Nga`y Qua^n
Lu+.c na(m nay dda'nh da^'u 30 na(m ke^? tu+` bie^'n co^' bi tha?m 30-4-75,
nga`y mie^`n Nam tha^n ye^u cu?a chu'ng ta ro+i va`o tay co^.ng sa?n\. Ba
mu+o+i na(m tro^i qua trong ddau ha^.n kho^ng nguo^i cu?a ta^m tra.ng?

Canh ba.c chu+a cho+i ma` he^'t vo^'n
Co+` co`n nu+o+'c dda'nh pha?i dda`nh thua
(tho+ Thanh Nam)

30 tha'ng Tu+, nga`y chu'ng ta kho^ng ai que^n ddu+o+.c\. Nga`y ma` nhie^`u
ngu+o+`i me^.nh danh la` nga`y Quo^'c Ha^.n, nga`y Ly Hu+o+ng, nga`y Tang cu?a
Da^n To^.c? Nhu+ng du` cho go.i la` nga`y gi` ddi nu+~a, 30-4-75 chi'nh la`
ca'i mo^'c tho+`i gian dda'nh da^'u mo^.t khu'c quanh ddau thu+o+ng cu?a li.ch
su+?\. DDa'nh da^'u ddo.an ddo+`i lu+u la.c chia li`a cu?a mo^~i chu'ng ta\.
DDa'nh da^'u ne^`n Tu+. Do Da^n Chu? cu?a mie^`n Nam bi. a^m mu+u bu+'c tu+?\.

Nga`y 30-4 do ddo' mang mo^.t y' nghi~a ra^'t lo+'n lao\. Nha^'t la` ddo^'i
vo+'i nhu+~ng ngu+o+`i ti. na.n chu'ng ta ? nhu+~ng ai kho^ng coi nu+o+'c My~
na`y la` cho^'n thie^n ddu+o+`ng, kho^ng coi nga`y 30-4-1975 la` ca'i ?co+ may?
thu+.c hie^.n ddu+o+.c gia^'c mo^.ng lo+'n trong ddo+`i la` ddu+o+.c dda(.t
cha^n le^n dda^'t My~, hu+o+?ng thu. nhu+~ng tie^.n nghi va^.t cha^'t cu?a
nu+o+'c My~ - thi` nga`y ddo' ca`ng mang y' nghi~a nga^.m ngu`i ddau ddo+'n
ho+n, nhu+ nha` tho+ Thanh Nam dda~ buo^ng lo+`i tho^'ng thie^'t:

Mo^.t na(m ngu+o+`i co' mu+o+`i hai tha'ng
Ta tro.n na(m da`i mo^.t tha'ng Tu+?

Tha'ng Tu+ la` tha'ng ddau buo^`n\. Nga`y 30 tha'ng Tu+ la` nga`y tu?i nhu.c,
tang thu+o+ng, dden to^'i cu?a chung ngu+o+`i Vie^.t Quo^'c gia\. Nga`y ta
muo^'n que^n kho^ng ddu+o+.c\. Nga`y ta pha?i kha('c co^'t ghi ta^m\. Pha?i
nho+'\. Pha?i la^'y la`m da^'u mo^'c dde^? dde^'m ddo+`i ta tu+` buo^?i ddo'
bao na(m tro^i no^?i\? Nga`y na`y la` nga`y tang to'c u buo^`n va^.n ha.n cu?a
toa`n kho^'i da^n to^.c\. Nga`y ngu+o+`i pha?i xa ngu+o+`i, gia ddi`nh ddang
so^'ng bi`nh ye^n bo^~ng la^m ca?nh xa^?y dda`n tan nghe'?

Sau 30 tha'ng 4, nhu+~ng ngu+o+`i cu+.u chie^'n binh VNCH la.i co' nga`y Qua^n
Lu+.c 19 tha'ng 6 dde^? buo^`n ra^`u hoa`i nie^.m va` suy tu+, tie^'c nho+'
mo^.t tho+`i dda~ go'p pha^`n ti'ch cu+.c trong cuo^.c chie^'n dda^'u ba?o ve^.
mie^`n Nam, tie^'c nho+' mo^.t ddo+`i dda~ ddem tuo^?i thanh xua^n hie^'n da^ng
cho ly' tu+o+?ng quo^'c gia, da^n to^.c\. The^' he^. chu'ng ta dda~ ddi nhu+~ng
bu+o+'c trua^n chuye^n tre^n con ddu+o+`ng qua' kho^? va` qua' nho.c nha(`n mong
ddem la.i thanh bi`nh, ha.nh phu'c cho da^n Vie^.t nhu+ng vi` va^.n so^' ha^?m
hiu dda^'t nu+o+'c, chu'ng ta ca(.m cu.i ddi hoa`i va^~n kho^ng to+'i ddi'ch va`
cuo^'i cu`ng, ddem tha^n phie^u ba.t\...

Bi`nh lua^.n gia qua' co^' Pha.m Kim Vinh cho ra(`ng ?Chie^'n tranh Vie^.t Nam
la` cuo^.c chie^'n ke'o da`i, dda^~m ma'u va` ta`n kho^'c nha^'t trong li.ch
su+? chie^'n tranh cu?a nha^n loa.i?\. Cuo^.c chie^'n mang nhie^`u ti'nh cha^'t
bi tha?m va` ha`i hu+o+'c, cho to+'i ba^y gio+` va^~n ddu+o+.c no'i to+'i va`
ga^y nhie^`u tranh ca~i so^i no^?i\. No' bi tha?m, bo+?i the^' gio+'i co' y'
muo^'n phu? nha^.n chi'nh nghi~a cuo^.c chie^'n dda^'u dde^? tu+. ve^. cu?a
nha^n da^n Nam Vie^.t Nam\. No' ha`i hu+o+'c, bo+?i sau khi co^.ng sa?n dda'nh
chie^'m mie^`n Nam, ca'i dda'm nha^n loa.i khie^'p nhu+o+.c ddo' dda~ cu'i
dda^`u tru+o+'c ba.o lu+.c, phu. hoa. vo+'i co^.ng sa?n, bo^i nho. VNCH, quo^'c
gia dda~ tu+`ng ddu+o+.c ho. tuye^n du+o+ng la` ?Tie^`n DDo^`n Cho^'ng Co^.ng?
cu?a The^' gio+'i Tu+. do\.

Du+ lua^.n ddo' dda~ nhu.c ma. Qua^n lu+.c VNCH he`n nha't kho^ng chi.u chie^'n
dda^'u, VNCH hoa`n toa`n le^. thuo^.c no+i ngu+o+`i My~ ne^n mie^`n Nam mo+'i
su.p ddo^? de^~ da`ng va` nhanh cho'ng nhu+ va^.y\. DDa^y la` thu+' du+ lua^.n
ngu xua^?n, thie^'u lu+o+ng tri, vo^ tra'ch nhie^.m va` dda^`y a'c y'\. Ho.
dda~ nha('m ma('t, co^' ti`nh kho^ng chi.u ti`m hie^?u tu+o+`ng ta^.n su+. hy
sinh cu`ng kha? na(ng chie^'n dda^'u tuy.e^.t vo+`i cu?a qua^n lu+.c Vie^.t Nam
Co^.ng Ho`a, kho^ng chi.u hie^?u mo^.t ddie^`u gia?n di., ra(`ng ?Ne^'u qua^n
lu+.c VNCH nha't he`n, kho^ng chi.u chie^'n dda^'u, thi` ai, su+'c ma.nh na`o,
binh lu+.c na`o, phe'p ma^`u na`o dda~ giu+~ ddu+o+.c mie^`n Nam trong bao
nhie^u na(m dda^'t nu+o+'c so^i bo?ng bo+?i chie^'n tranh ta`n kho^'c, tu+` 1954
to+'i 1975\? Trong suo^'t ho+n hai mu+o+i na(m da`i ddo', ne^'u kho^ng co' su+.
chie^'n dda^'u du~ng ca?m, kha('c kho^? va` kie^n tri` cu?a ngu+o+`i li'nh VNCH,
cha('c cha('n mie^`n Nam Vie^.t Nam dda~ bi. co^.ng sa?n tho^n ti'nh tu+` la^u
ro^`i, ngay tu+` ca'i go.i la` ?to^?ng co^ng ki'ch, to^?ng kho+?i nghi~a? Te^'t
Ma^.u Tha^n 1968, hay tu+` nhu+~ng tra^.n dda'nh kho^'c lie^.t la`m ru'ng
ddo^.ng the^' gio+'i va`o mu`a he` binh bie^'n 1972\. Ne^'u kho^ng co' su+.
chie^'n dda^'u dda^`y du~ng ca?m, hu+~u hie^.u va` kie^n tri` cu?a ngu+o+`i
li'nh VNCH, la`m sao qua^n ddo^.i My~ co' the^? ru't ra kho?i ca'i go.i la`
?vu~ng la^`y Vie^.t Nam? mo^.t ca'ch de^~ da`ng va` an toa`n nhu+ va^.y\?

Trong li.ch su+? Vie^.t Nam cu~ng nhu+ trong li.ch su+? nha^n loa.i cu~ng dda~
co' nhu+~ng cuo^.c no^.i chie^'n\. Nhu+ng kho^ng co' cuo^.c tu+o+ng ta`n na`o
ke'o da`i qua' la^u, lie^n tu.c va` dda^~m ma'u, cu+o+`ng ddo^. ta`n pha' kho^'c
lie^.t cu`ng su+. to^?n tha^'t ve^` nha^n ma.ng cho ca? hai mie^`n le^n dde^'n
con so^' kinh khu?ng nhu+ chie^'n tranh Vie^.t Nam\. Ke^? ca? trong hai ky`
the^' chie^'n, chu+a mo^.t tho+`i dda.i na`o trong li.ch su+?, ngu+o+`i da^n
Vie^.t nam o+? ca? hai mie^`n Nam Ba('c pha?i nha^.n chi.u nhu+~ng no^~i ddau
thu+o+ng ba^'t ha.nh nhu+ trong cuo^.c chie^'n vu+`a qua\.

Chu'ng ta, nhu+~ng ngu+o+`i li'nh VNCH dda~ tu+`ng tru+.c tie^'p la(n mi`nh va`o
binh lu+?a, nhu+~ng ngu+o+`i li'nh dda~ thu+.c su+. ca^`m su'ng va` chie^'n
dda^'u, dde^`u co' the^? kha(?ng ddi.nh ra(`ng, qua^n lu+.c chu'ng ta kho^ng
he^` thua vi` ke'm tinh tha^`n chie^'n dda^'u\. Su+. su.p ddo^? ve^` qua^n su+.
la` do nhu+~ng quye^'t ddi.nh sai la^`m va` suy ye^'u ve^` chi'nh tri.\. Ne^'u
go.i la` ?thua?, chu'ng ta dda~ thua tra^.n tu+` nhu+~ng nguye^n nha^n sa^u a^?n
kha'c\. Chu'ng ta dda~ bi. ca'i dda'm nha^n loa.i he`n nha't va` ngu xua^?n
ddo' ba^'t co^ng tru't ddo^? le^n dda^`u chu'ng ta tra'ch nhie^.m\. Nhu+~ng
nguye^n nha^n kho+?i tu+` sau hai cuo^.c the^' chie^'n, toa`n the^' gio+'i run
ra^?y phu.c ho^`i, ba('t tay xa^y du+.ng la.i nhu+~ng co^ng tri`nh bi. ta`n
pha'\. The^' gio+'i tu+` nga`y ddo', me^.t mo?i va` so+. ha~i chie^'n tranh,
so+. bi. nhie^~m vi tru`ng co^.ng sa?n, dda~ tro+? ne^n u+o+n he`n, i'ch ky?, ve
vuo^'t co^.ng sa?n, ddo^'i xu+? ba^'t co^ng, nho`m ngo', de` bi?u, che^ tra'ch,
quy ke^'t ta^'t ca? mo.i lo^~i la^`m ve^` phi'a chu'ng ta, tru't ddo^? ta^'t ca?
ga'nh na(.ng le^n ddo^i vai ngu+o+`i li'nh VNCH, ba('t chu'ng ta pha?i tra'ch
nhie^.m nga(n cha(.n su+. ba`nh tru+o+'ng cu?a co^.ng sa?n\.

Trong khi ddo', nu+o+'c Vie^.t Nam ba^'t ha.nh dda~ na^?y sinh ra ga~ ho. Ho^`,
mo^.t thu+' ?nha^n ta`i che^'t tie^.t? cu?a da^n to^.c, cuo^`ng ti'n va` ta`n
ddo^.c, tham vo.ng va` mu+u mo^, ba^'t lu+o+ng va` hie^'u sa't, vong ba?n va`
phi nha^n, vo^ lua^n va` vo.ng ngoa.i, ta^.n tu.y to^n tho+` chu? nghi~a cu?a
ga~ Ma'c, ga~ Le^, xo^ dda^?y da^n to^.c Vie^.t Nam va`o cuo^.c tu+o+ng ta`n
tha?m kho^'c\.

Tu+` ca'i tho+`i ddie^?m pha?i ghi nho+' va` dda'ng nguye^`n ru?a ddo', nha^n
da^n Vie^.t Nam o+? ca? hai mie^`n dda~ pha?i co`ng lu+ng chi.u ddu+.ng, kho^ng
ngo'c dda^`u le^n ddu+o+.c dde^? tha^'y a'nh ma(.t tro+`i, dde^? ddi va` ddu+'ng
song ha`ng, hu+o+?ng co+n gio' la`nh thi.nh vu+o+.ng cu`ng mo.i da^n to^.c tu+.
do tre^n the^' gio+'i\. Da^n to^.c Vie^.t Nam la` na.n nha^n tha?m kho^? trong
cuo^.c chie^'n tranh pha'-hoa.i-ta^.n-ti`nh-va`-tuye^.t-ky~ cu?a bo.n ngu+o+`i
ngu do^'t\. ?Chi'nh vi` su+. cu+o+ng-quye^'t-ngu-do^'t va` ngu-do^'t-kie^n-tri`
ma` chu'ng dda~ ba'n ddu+'ng dda^'t nu+o+'c, ba'n ddu+'ng ca? linh ho^`n dda^'t
nu+o+'c?, nhu+ ca'ch no'i cu?a nha` va(n Doa~n Quo^'c Si~\.

Nha` va(n Phan Nha^.t Nam cu~ng dda~ ke^u le^n tie^'ng ke^u ai oa'n, ?Chie^'n
tranh na`o cu~ng ddem la.i nhu+~ng ddo^? vo+~, tan hoang, gieo ma^`m ddo^.c a'c
va` ga^y ne^n bao su+. hu?y die^.t\. Nhu+ng dda^y la` cuo^.c chie^'n the^
tha?m, to^`i te^. va` tu?i ho^? nha^'t cu?a da^n to^.c Vie^.t Nam?\. Trong
cuo^.c chie^'n vo^ nghi~a, dai da(?ng va` ta`n ba.o to^.t ddo^. na`y, ngu+o+`i
li'nh VNCH dda~ ga'nh chi.u tro.n ve.n ca'i pha^`n na(.ng ne^`, ba^'t co^ng,
thua thie^.t va` ddau ddo+'n nha^'t\. Cuo^.c tu+o+ng tranh ro~ ra`ng kho^ng
ddo^`ng ca^n ddo^`ng su+'c va` bi. bo^.i pha?n tra('ng tro+.n nhu+ng ngu+o+`i
li'nh Vie^.t Nam va^~n tha?n nhie^n cha^'p nha^.n\. Nhu+~ng ddo+`i trai tre?
que^n bo? ha.nh phu'c, ti`nh ye^u, tu+o+ng lai, su+. nghie^.p cu`ng nhu+~ng thu'
vui rie^ng dde^? bu+o+'c va`o cho^'n cu`ng hung cu+.c hie^?m, dda^`y ra^~y gian
lao kho^? nho.c va` bi. vo^ o+n, ba.c dda~i nhu+ng ho. va^~n la^`m li` chi.u
ddu+.ng va` du~ng ca?m xo^ng pha tra^.n ma.c, tru+.c die^.n ke? thu`, ddo^? mo^`
ho^i, xu+o+ng ma'u, lao tha(?ng va`o lu+?a dda.n, pho'ng mi`nh va`o no^~i che^'t
cho gia?i dda^'t mie^`n Nam ddu+o+.c to^`n ta.i va` ngu+o+`i da^n mie^`n Nam
ddu+o+.c so^'ng co`n\.

Li'nh va` vo+. con li'nh\. Vo+. con li'nh va` nhu+~ng ngu+o+`i li'nh VNCH la`
hie^.n tha^n cu?a nhu+~ng hy sinh qua' su+'c lo+'n lao\. Lo`ng qua? ca?m va`
nhu+~ng hy sinh ky` vi~ ddo' chu+'ng minh ddu+o+.c ba(`ng nhu+~ng chie^'n
tha('ng cu. the^?, nhie^.m ma^`u, vu+o+.t cao, vu+o+.t xa va` o+? tre^n ta^'t
ca? mo.i suy nghi~ ta^`m thu+o+`ng cu?a nhu+~ng con ngu+o+`i kho^ng co' chie^`u
da`i li.ch su+? bo^'n nga`n na(m dde^? hie^?u the^' na`o la` ti`nh ye^u thu+o+ng
dda^'t nu+o+'c cu`ng mo^'i tu+. ha`o da^n to^.c\.

Nhu+ Ma^.u Tha^n o+? Hue^'\. Mo^.t dda.i ddo^.i Ha('c Ba'o qua^n so^' 270
ngu+o+`i, co`n la.i vo?n ve.n 19 ngu+o+`i sau nhie^`u nga`y giao tranh, dda~ anh
du~ng chie^'m la.i Ky` DDa`i, ddu+a la' co+` va`ng nga.o nghe^~ tung bay tre^n
ddi?nh ngo.n\. Nhu+ An Lo^.c, vo+'i 52 nga`y tu+? thu?, thi.t da dda^'t nu+o+'c
tu+`ng pha^n vuo^ng qua(`n qua.i na^?y tung du+o+'i co+n mu+a pha'o, nga`y va`
dde^m\. Kho^ng mo^.t no+i na`o tre^n the^' gio+'i nha^.n chi.u mo^.t cuo^.c
ta^'n co^ng a'c lie^.t, kinh hoa`ng nhu+ An Lo^.c\. Chi? trong dde^m 11 ra.ng
12 tha'ng 5, 1972, tu+` 3 gio+` dde^'n 6 gio+` sa'ng, An Lo^.c co qua('p run
ra^?y hu+'ng chi.u lie^n tu.c 8 nga`n tra'i pha'o va` ho?a tie^'n cu?a co^.ng
sa?n? The^' ma` An Lo^.c va^~n ddu+'ng vu+~ng, va^~n to^`n ta.i\. Ca'i qua^.n
ly. nho? be' ddo' dda~ du+o+.c ghi danh trong qua^n su+? Vie^.t Nam va` trong
chie^'n su+? The^' gio+'i\.

Va`o nhu+~ng gio+` phu't ha^'p ho^'i cu?a mie^`n Nam, tra^.n chie^'n cuo^'i
cu`ng o+? Xua^n Lo^.c cu~ng la` mo^.t ky` ti'ch dde^? nha^n loa.i ngu+o+~ng
phu.c\. Su+ ddoa`n 18 Bo^. Binh, mo^.t Su+ ddoa`n ddu+o+.c coi la` kho^ng ma^'y
xua^'t sa('c cu?a qua^n lu+.c, dda~ anh du~ng giu+~ vu+~ng tuye^'n pho`ng ngu+.,
cha(.n ddu+'ng ddu+o+.c su+. ta^'n co^ng a`o a.t cu?a 5 su+ ddoa`n co^.ng sa?n
vo+'i xe ta(ng va` dda.i pha'o 130 ly hu`ng ha^.u\. Nhu+ng bie^?n ngu+o+`i cu?a
Va(n Tie^'n Du~ng dda~ pha?i ddu+'ng khu+.ng la.i, pha?i bo? ro+i Xua^n Lo^.c,
ddi dduo+`ng kha'c vo`ng ve^` Saigon, dde^? la.i ha`ng nga`n xa'c che^'t\. Jean
Lacouture, mo^.t nha` ba'o Pha'p co' lu+o+ng ta^m dda~ nho? ro+i nu+o+'c ma('t
khi tu+o+`ng thua^.t tra^.n Xua^n Lo^.c va` tha?ng tho^'t ke^u le^n, ?Ca'i Qua^n
lu+.c ddo' qua? tha^.t la` gan da. va` anh hu`ng\. Ho. chie^'n dda^'u vo^ cu`ng
ngoa.n mu.c va` to^i tha^.t lo`ng ki'nh phu.c??

Nhie^`u ky' gia? Ta^y phu+o+ng cu~ng he^'t lo+`i ca ngo+.i nhu+~ng cuo^.c
chie^'n dda^'u ddo+n le?, ta.o ne^n thie^n anh hu`ng ca bi tra'ng trong nga`y
cuo^'i cu`ng cu?a Tha'ng Tu+ DDen\. Nhu+ cuo^.c cho^'ng cu+. cu?a Thie^'u Sinh
Qua^n o+? Vu~ng Ta^`u\. Cu?a nhu+~ng ddo+n vi. Nha?y Du` o+? khu La(ng Cha
Ca?\. Cu?a anh em Bie^.t Ki'ch 81 o+? Bo^. To^?ng Tham Mu+u\. Cu?a ca'c
chie^'n si~ Bie^.t DDo^.ng Qua^n o+? do^'c Ca^`u Xa Lo^.\. Cu?a nhu+~ng Sinh
Vie^n Si~ Quan Vo~ Bi. DDa` La.t trong qua^n phu.c dda.i le^~ no+i mo^.t go'c
pho^' thu? ddo^? ra^'t nhie^`u si~ quan, ha. si~ quan, binh si~ QLVNCH va`
Ca?nh sa't Quo^'c gia dda~ tu+. sa't ta^.p the^? vi` tuye^.t vo.ng va` pha^~n
no^. tru+o+'c cuo^.c dda^`u ha`ng nhu.c nha~ cu?a Du+o+ng Va(n Minh\. Chu+a
ke^? dde^'n su+. tua^~n tie^'t cu?a ca'c tu+o+'ng Nguye^~n Khoa Nam, tu+o+'ng
Le^ Va(n Hu+ng, tu+o+'ng Pha.m Va(n Phu', tu+o+'ng Tra^`n Va(n Hai, tu+o+'ng Le^
Nguye^n Vy~ va` nhu+~ng si~ quan chi? huy ca'c ddo+n vi. ta'c chie^'n kha'c?

Ba mu+o+i na(m dda~ tro^i qua\. Ngu+o+`i ta no'i hoa`i dde^'n con so^' 58 nga`n
li'nh My~ che^'t va` ma^'t ti'ch tre^n chie^'n tru+o+`ng Vie^.t Nam\. Vie^.t
co^.ng ddu+a ra con so^' to^?n tha^'t nha^n ma.ng la` mo^.t trie^.u 400 nga`n
bo^. ddo^.i cu?a chu'ng\. Phi'a Vie^.t Nam Co^.ng Ho`a, kho^ng ai truy cu+'u
dde^? ddu+a ra mo^.t con so^' chi'nh xa'c, bao nhie^u binh si~ cu?a chu'ng ta
tu+? tra^.n, bao nhie^u ddo^`ng ba`o, ca'n bo^. chi'nh quye^`n cu?a chu'ng ta
bi. sa't ha.i trong cuo^.c chie^'n\? Chu'ng ta bi. the^' gio+'i co^' ti`nh bo?
que^n\. Bi. co^.ng sa?n dde^ tie^.n tra? thu`, dda^`y ddo.a ngu+o+`i so^'ng
trong tra.i tu` ca?i ta.o va` qua^.t mo^` ngu+o+`i che^'t dde^? tho?a ma~n ca'i
ta^m ddi.a man ro+. cu?a loa`i lang so'i\.

Nha^n ky? nie^.m Nga`y Qua^n Lu+.c, chu'ng ta, nhu+~ng ngu+o+`i li'nh chie^'n
VNCH cu~, ha~y cu`ng nhau chie^m nghie^.m, kho^ng pha?i dde^? ?tu+. cho mi`nh
la` nhu+~ng ngu+o+`i ma^'t nu+o+'c ti`m ca'ch phu.c quo^'c, hay dde^? tu+.
nha^.n la` nhu+~ng ngu+o+`i tha^'t tra^.n ti`m ca'ch tra? thu`, phu.c ha^.n..?
Va` ca`ng kho^ng the^? la` ?nhu+~ng ngu+o+`i Quo^'c gia dda~ ddu+o+.c ?ddie^`u
kie^.n ho'a? dde^? xem cho^'ng co^.ng la` cu+'u ca'nh?? nhu+ mo^.t so^' ngu+o+`i
trong chi'nh ha`ng ngu~ chu'ng ta ? ddau ddo+'n thay ? dda~ ho`a nhi.p vo+'i ke?
ddi.ch, co^ng khai si? nhu.c qua^n ddo^.i\.

Chu'ng ta ha~y do~ng da.c no'i tha(?ng cho nhu+~ng con ngu+o+`i ddo', thu` cu~ng
nhu+ ba.n, bie^'t ra(`ng ly' tu+o+?ng va` cu+'u ca'nh cu?a ngu+o+`i li'nh chu'ng
ta kho^ng pha?i la` thu` va` oa'n\. Ly' tu+o+?ng Quo^'c gia Da^n to^.c la`
mo^.t ti`nh ca?m tu+. nhie^n, thie^ng lie^ng cao ca? trong trong tra'i tim con
ngu+o+`i, kho^ng the^? ddem ?ddie^`u kie^.n ho'a? nhu+ thi' nghie^.m va`o loa`i
cho' cu?a Palov, nhu+ thu? ddoa.n ta^?y na~o phi nha^n cu?a co^.ng sa?n\. Ly'
tu+o+?ng va` cu+'u ca'nh ddo' bao gio+` cu~ng la` chu toa`n u+o+'c vo.ng ddem
la.i ddo+`i so^'ng thanh bi`nh an la.c, ddem la.i tu+. do da^n chu?, no a^'m va`
ha.nh phu'c cho toa`n da^n\. Ke? na`o xa^m pha.m dde^'n phu'c lo+.i va` u+o+'c
vo.ng ddo' cu?a da^n to^.c, chu'ng ta co' bo^?n pha^.n nga(n cha(.n, du` ddo'
la` co^.ng sa?n hay ba^'t cu+' mo^.t the^' lu+.c na`o kha'c\.

Chu'ng ta, nhu+~ng ngu+o+`i li'nh VNCH so^'ng co`n sau cuo^.c chie^'n va` thoa't
kho?i ba`n tay dde^ tie^.n cu?a ke? thu`, xin ha~y nghi~ nho+' dde^'n anh em
ddo^`ng ddo^.i, ho^`i nie^.m va` tri o+n nhu+~ng ngu+o+`i dda~ na(`m xuo^'ng cho
chu'ng ta ddu+o+.c so^'ng\. Ha~y cu`ng nhau ddo^'t le^n mo^.t ngo.n lu+?a, soi
sa'ng mo^.t nie^`m tin, giu+~ vu+~ng tinh tha^`n va` y' chi', la`m sa'nh danh
Qua^n lu+.c, la`m ro~ ra`ng Chi'nh nghi~a Quo^'c gia va` ha~y ve~ la.i cha^n
dung ddi'ch thu+.c cu?a ngu+o+`i li'nh VNCH, nhu+~ng ngu+o+`i con ye^u cu?a
dda^'t nu+o+'c, du` dda~ ddi va`o mie^`n Vi~nh cu+?u nhu+ng hi`nh a?nh cu`ng
nhu+~ng chie^'n co^ng va^~n ha(`ng ha(`ng so^'ng ma~i trong lo`ng da^n to^.c
Vie^.t Nam ta\.

Chu'ng ta ha~y cu`ng nhau chie^u nie^.m que^ hu+o+ng, chie^u nie^.m ho^`n tie^n
lie^.t va` khi' thie^ng so^ng nu'i, ca^`u mong so+'m co' mo^.t nga`y vinh hie^?n
tro+? ve^` nhi`n la.i que^ cha dda^'t to^?, nhu+ trong lo+`i Hi.ch Bi`nh Ngo^:

??Giang so+n tu+` nay mo+? ho^.i
Xa~ ta('c tu+` nay vu+~ng be^`n
Nha^.t nguye^.t ho^'i ro^`i la.i minh
Kie^`n kho^n bi? ro^`i la.i tha'i
Ne^`n va.n the^' xa^y ne^n cha(n cha('n
The.n nghi`n thu ru+?a sa.ch la`u la`u
DDo' la` nho+` tro+`i dda^'t to^? tie^n kho^n thie^ng che cho+?
Va` giu'p ddo+~ cho chu'ng ta va^.y??

Đào Vũ Anh Hùng

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Re: Hình trại tù CS

Post by linhgia »

Mời qui vị nghe nhạc nhớ em gái Trà Mi

[video width=500 height=400]http://www.trinhnu.net/VHNT/Nhac/video/ ... iTraMi.wmv[/video]

Giang già

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Cá Cắn Câu Biết Đâu Mà Gỡ

LÝ ĐẠI NGUYÊN
Năm 1975, nước Mỹ với Tổng Thống Cộng Hòa Gerald R. Ford dứt khoát phủi tay khỏi Miền Nam Việt Nam bao nhiêu, thì sau 30 năm; năm 2005, nước Mỹ với Tổng Thống Cộng Hòa George W. Bush quyết tâm trở lại toàn cõi Việt Nam bấy nhiêu. Khiến cho chính giới và dư luận Mỹ thường xuyên phải nhắc nhở với chính quyền Bush là đừng quên Việt Cộng vẫn đang đàn áp Tôn Giáo, vẫn còn bị đặt trong tình trạng của các nước "cần quan tâm đặc biệt" - CPC - về Tự Do Tôn Giáo. Xem ra Chính Sách Ngoại Giao của Mỹ đối với riêng Việt Nam chẳng còn là "cây gậy và củ cà rốt" cố hữu nữa, mà chỉ toàn là "củ cà rốt" thôi. Nhìn từ mặt nổi thì cây gậy đúng là không được dùng trong trường hợp này. Nhưng biết đâu trong mỗi "củ cà rốt" lại chẳng có một lưỡi câu thần kỳ nào khác. Mà miếng mồi cũng là lưỡi câu hấp dẫn nhất, biết đớp vào là sẽ dính chấu, mà tất cả cộng đảng Việt Nam từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, đều hăm hở giành nhau đớp lia lịa, đó là "tờ giấy mầu xanh" của nước Mỹ độc quyền phát hành.

Con Người sinh ra có đôi bàn tay linh hoạt, thì bất cứ thứ móc câu nào cũng không thể làm khó nổi. Nhưng với thứ lưỡi câu tình cảm, danh dự, hoặc bằng thứ giấy xanh mỏng manh mà vạn năng của Dollars, một khi đã đớp vào, thì dù có bị giật đau tới rách mép, cũng không dễ gì chịu nhả ra. Chỉ có như vậy người mới bị biến thành cá, đúng với câu ca dao bóng bẩy của ông bà ta xưa "cá cắn câu biết đâu mà gỡ". Cộng Đảng Việt Nam hiện nay, tuy không bị tình cảm và danh dự chi phối, mà họ đâu có tình cảm và danh dự ! Nhưng đã bị đặt vào thế không biết đường gỡ thứ lưỡi câu hấp dẫn của Hoa Kỳ. Có lẽ phe sẵn sàng tiếp nhận Mỹ và phe lớn tiếng chống việc "Ngoại Giao Thắm Thiết" với Mỹ hiện nay, trong nội bộ cộng đảng Việtnam, đều là những kẻ ngậm nhiều mồi dollars hơn ai hết. Họ cùng dư biết khi ngoại giao thắm thiết với Mỹ là phải chấp nhận theo luật chơi minh bạch, hợp pháp của thị trường kinh tế tự do, trong một nước dân chủ trọng pháp, không thể chơi luật rừng tùy tiện được nữa. Những kẻ lãnh đạo bất tài, thất đức chắc chắn bị mất thế, cộng đảng tham nhũng dần dần mất quyền. Khi các quyền công dân được phục hồi, quyền tư hữu được nhìn nhận. Các tổ chức xã hội dân sự xuất hiện và trưởng thành, nhằm bảo vệ hữu hiệu quyền tự do, tự chủ, tự quyết định vận mệnh của toàn dân.

Việc Phan Văn Khải, Thủ Tướng Cộng Sản Việt Nam sang Mỹ, mà cơ quan quyền lực cao nhất của đảng là Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương không họp để đưa ra quyết sách - ít ra là trên danh nghĩa, hòng che mắt thiên hạ- nhằm chỉ đạo cho Phan Văn Khải sang Mỹ tìm sự thỏa hiệp với TT Bush. Như vậy là Bộ Chính Trị, hay là nhóm lãnh đạo thực quyền tại Hànội đã quyết định tất cả. Lẽ đương nhiên là sự thỏa hiệp "bang giao toàn diện" giữa Mỹ và Việt, đã đựơc các viên chức hai bên của Chính Phủ Việt - Mỹ thảo luận kỹ và chấp nhận từ trước ngày Khải gặp TT Bush. Bởi thế một khi cái mà Việt Cộng gọi là "bang giao trưởng thành" đánh dấu bởi cuộc gặp giữa TT Bush và Th T Khải ngày 21-6-2005 tại Washington, cùng những ký kết giữa Việt, Mỹ, nếu muốn đem ra thực hiện tại Việt Nam thì trên nguyên tắc, phải được Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương đồng thuận, đưa vào thành Cương Lĩnh của Đại Hội Cộng Đảng X, 2006, thì mới có giá trị trong giai đoạn mới. Thế mà Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương không đựơc quyền biết tới. Vậy liệu sau chuyến đi Mỹ của Phan Văn Khải, Ban Chấp Hành Trung Ương nếu không đồng ý có dám ngang nhiên liệng bỏ những điều Khải cam kết với TT Bush, và những văn bản đã ký kết với Mỹ hay không ? Nếu không thì kể như vai trò tối cao quyết định của Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương, và Cộng Đảng Việt Nam đã chấm dứt. Trong hoàn cảnh ấy, Đại Hội Cộng Đảng X , mà chưa tự hủy bỏ, thì cũng chỉ được xem đây là cơ hội để cho những gì Mỹ, Việt đã thỏa thuận phải đem ra áp dụng. Rồi từ đây Cộng Đảng tự phân hóa thành nhiều đảng trong bàn cờ chính trị Dân Chủ Việt Nam. Âu đấy cũng là màn chót của "Diễn Biến Hòa Bình" mà Mỹ đã thực hiện từ 10 năm qua. Như vậy, quyển sách mà tác giả Nguyễn Tiến Hưng đặt tên là "Khi Đồng Minh Tháo Chạy", nhằm lên án sự phản bội của Mỹ đối với Việt Nam Cộng Hòa đã trở thành vô hiệu trong "Diễn Biến Hòa Bình" mất rồi. Nếu cuốn sách được đưa ra trước đây 10 năm thì may ra nhóm lãnh đạo Hànội, mới rút đựơc kinh nghiệm làm bạn với Mỹ nguy hiểm ra sao ? Để kiên trì chống Mỹ tới cùng. Còn bây giờ thì đã quá muộn, "cá cắn câu biết đâu mà gỡ".

Chẳng cần đợi tới ngày chung cuộc đó, ngay bây giờ những biểu hiện đã cho thấy Cộng Đảng đang phân ra làm nhiều mảnh. Mảnh Võ Nguyên Giáp . Mảnh Võ Văn Kiệt. Mảnh Lê Khả Phiêu và nhiều khuynh hướng đang manh nha xuất hiện. Các khuynh hướng ấy đều nhằm vào tử huyệt của đảng mà điểm tới là vấn đề tham nhũng, và vấn đề lòng thòng, mà Bộ Chính Trị vô phương giải quyết, đó là số phận của nhóm Lê Đức Anh và Tổng Cục II. Từ khi Lê Đức Anh lập ra Tổng Cục II, thì quyền hành thống nhất của đảng đươc đặt dưới sự sinh sát của cơ quan Mật Vụ này. Tổng Cục II là linh hồn quân đội, coi luôn an ninh quốc nội, hải ngoại, và các tập thể xã hội đen, làm kinh tế lậu. Là cánh tay nối dài của Mật Vụ Trung Cộng. Khống chế luôn Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng. Cánh Võ Nguyên Giáp dù chưa đánh đổ hoàn toàn nổi Lê Đức Anh và Tổng Cục II. Nhưng có công dụng là hạ uy thế của nó trước dư luận trong ngoài nước. Cô lập nó trong sinh hoạt đảng, chính phủ và quân đội. Phục hồi được phần nào sự quyết định của giới lãnh đạo đảng trong cuộc gọi là "bang giao trưởng thành" với Mỹ. Nhưng mất nó là đảng cũng mất luôn quyền khống chế đảng viên, chỉ còn Công An khống chế dân chúng. Nhưng Công An cấp dưới lại không cần biết tới lệnh lạc của Trung Ương, khiến Bộ Trửơng Công An Lê Hồng Anh đã gởi đơn lên Bộ Chính Trị xin nghỉ hưu - theo tin của Đài Phát Thanh Á Châu Tự Do 10-06-2005- Xem vậy đủ thấy vận mệnh của cộng đảng đã được an bài bởi "diễn biến hòa bình" với thứ vũ khí vạn năng là đồng Dollars.

LÝ ĐẠI NGUYÊN, Little Saigon 14-06-2005
Last edited by khieulong on Fri Jun 17, 2005 7:02 am, edited 1 time in total.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Cá Cắn Câu Biết Đâu Mà Gỡ

LÝ ĐẠI NGUYÊN
Năm 1975, nước Mỹ với Tổng Thống Cộng Hòa Gerald R. Ford dứt khoát phủi tay khỏi Miền Nam Việt Nam bao nhiêu, thì sau 30 năm; năm 2005, nước Mỹ với Tổng Thống Cộng Hòa George W. Bush quyết tâm trở lại toàn cõi Việt Nam bấy nhiêu. Khiến cho chính giới và dư luận Mỹ thường xuyên phải nhắc nhở với chính quyền Bush là đừng quên Việt Cộng vẫn đang đàn áp Tôn Giáo, vẫn còn bị đặt trong tình trạng của các nước "cần quan tâm đặc biệt" - CPC - về Tự Do Tôn Giáo. Xem ra Chính Sách Ngoại Giao của Mỹ đối với riêng Việt Nam chẳng còn là "cây gậy và củ cà rốt" cố hữu nữa, mà chỉ toàn là "củ cà rốt" thôi. Nhìn từ mặt nổi thì cây gậy đúng là không được dùng trong trường hợp này. Nhưng biết đâu trong mỗi "củ cà rốt" lại chẳng có một lưỡi câu thần kỳ nào khác. Mà miếng mồi cũng là lưỡi câu hấp dẫn nhất, biết đớp vào là sẽ dính chấu, mà tất cả cộng đảng Việt Nam từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, đều hăm hở giành nhau đớp lia lịa, đó là "tờ giấy mầu xanh" của nước Mỹ độc quyền phát hành.

Con Người sinh ra có đôi bàn tay linh hoạt, thì bất cứ thứ móc câu nào cũng không thể làm khó nổi. Nhưng với thứ lưỡi câu tình cảm, danh dự, hoặc bằng thứ giấy xanh mỏng manh mà vạn năng của Dollars, một khi đã đớp vào, thì dù có bị giật đau tới rách mép, cũng không dễ gì chịu nhả ra. Chỉ có như vậy người mới bị biến thành cá, đúng với câu ca dao bóng bẩy của ông bà ta xưa "cá cắn câu biết đâu mà gỡ". Cộng Đảng Việt Nam hiện nay, tuy không bị tình cảm và danh dự chi phối, mà họ đâu có tình cảm và danh dự ! Nhưng đã bị đặt vào thế không biết đường gỡ thứ lưỡi câu hấp dẫn của Hoa Kỳ. Có lẽ phe sẵn sàng tiếp nhận Mỹ và phe lớn tiếng chống việc "Ngoại Giao Thắm Thiết" với Mỹ hiện nay, trong nội bộ cộng đảng Việtnam, đều là những kẻ ngậm nhiều mồi dollars hơn ai hết. Họ cùng dư biết khi ngoại giao thắm thiết với Mỹ là phải chấp nhận theo luật chơi minh bạch, hợp pháp của thị trường kinh tế tự do, trong một nước dân chủ trọng pháp, không thể chơi luật rừng tùy tiện được nữa. Những kẻ lãnh đạo bất tài, thất đức chắc chắn bị mất thế, cộng đảng tham nhũng dần dần mất quyền. Khi các quyền công dân được phục hồi, quyền tư hữu được nhìn nhận. Các tổ chức xã hội dân sự xuất hiện và trưởng thành, nhằm bảo vệ hữu hiệu quyền tự do, tự chủ, tự quyết định vận mệnh của toàn dân.

Việc Phan Văn Khải, Thủ Tướng Cộng Sản Việt Nam sang Mỹ, mà cơ quan quyền lực cao nhất của đảng là Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương không họp để đưa ra quyết sách - ít ra là trên danh nghĩa, hòng che mắt thiên hạ- nhằm chỉ đạo cho Phan Văn Khải sang Mỹ tìm sự thỏa hiệp với TT Bush. Như vậy là Bộ Chính Trị, hay là nhóm lãnh đạo thực quyền tại Hànội đã quyết định tất cả. Lẽ đương nhiên là sự thỏa hiệp "bang giao toàn diện" giữa Mỹ và Việt, đã đựơc các viên chức hai bên của Chính Phủ Việt - Mỹ thảo luận kỹ và chấp nhận từ trước ngày Khải gặp TT Bush. Bởi thế một khi cái mà Việt Cộng gọi là "bang giao trưởng thành" đánh dấu bởi cuộc gặp giữa TT Bush và Th T Khải ngày 21-6-2005 tại Washington, cùng những ký kết giữa Việt, Mỹ, nếu muốn đem ra thực hiện tại Việt Nam thì trên nguyên tắc, phải được Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương đồng thuận, đưa vào thành Cương Lĩnh của Đại Hội Cộng Đảng X, 2006, thì mới có giá trị trong giai đoạn mới. Thế mà Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương không đựơc quyền biết tới. Vậy liệu sau chuyến đi Mỹ của Phan Văn Khải, Ban Chấp Hành Trung Ương nếu không đồng ý có dám ngang nhiên liệng bỏ những điều Khải cam kết với TT Bush, và những văn bản đã ký kết với Mỹ hay không ? Nếu không thì kể như vai trò tối cao quyết định của Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương, và Cộng Đảng Việt Nam đã chấm dứt. Trong hoàn cảnh ấy, Đại Hội Cộng Đảng X , mà chưa tự hủy bỏ, thì cũng chỉ được xem đây là cơ hội để cho những gì Mỹ, Việt đã thỏa thuận phải đem ra áp dụng. Rồi từ đây Cộng Đảng tự phân hóa thành nhiều đảng trong bàn cờ chính trị Dân Chủ Việt Nam. Âu đấy cũng là màn chót của "Diễn Biến Hòa Bình" mà Mỹ đã thực hiện từ 10 năm qua. Như vậy, quyển sách mà tác giả Nguyễn Tiến Hưng đặt tên là "Khi Đồng Minh Tháo Chạy", nhằm lên án sự phản bội của Mỹ đối với Việt Nam Cộng Hòa đã trở thành vô hiệu trong "Diễn Biến Hòa Bình" mất rồi. Nếu cuốn sách được đưa ra trước đây 10 năm thì may ra nhóm lãnh đạo Hànội, mới rút đựơc kinh nghiệm làm bạn với Mỹ nguy hiểm ra sao ? Để kiên trì chống Mỹ tới cùng. Còn bây giờ thì đã quá muộn, "cá cắn câu biết đâu mà gỡ".

Chẳng cần đợi tới ngày chung cuộc đó, ngay bây giờ những biểu hiện đã cho thấy Cộng Đảng đang phân ra làm nhiều mảnh. Mảnh Võ Nguyên Giáp . Mảnh Võ Văn Kiệt. Mảnh Lê Khả Phiêu và nhiều khuynh hướng đang manh nha xuất hiện. Các khuynh hướng ấy đều nhằm vào tử huyệt của đảng mà điểm tới là vấn đề tham nhũng, và vấn đề lòng thòng, mà Bộ Chính Trị vô phương giải quyết, đó là số phận của nhóm Lê Đức Anh và Tổng Cục II. Từ khi Lê Đức Anh lập ra Tổng Cục II, thì quyền hành thống nhất của đảng đươc đặt dưới sự sinh sát của cơ quan Mật Vụ này. Tổng Cục II là linh hồn quân đội, coi luôn an ninh quốc nội, hải ngoại, và các tập thể xã hội đen, làm kinh tế lậu. Là cánh tay nối dài của Mật Vụ Trung Cộng. Khống chế luôn Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng. Cánh Võ Nguyên Giáp dù chưa đánh đổ hoàn toàn nổi Lê Đức Anh và Tổng Cục II. Nhưng có công dụng là hạ uy thế của nó trước dư luận trong ngoài nước. Cô lập nó trong sinh hoạt đảng, chính phủ và quân đội. Phục hồi được phần nào sự quyết định của giới lãnh đạo đảng trong cuộc gọi là "bang giao trưởng thành" với Mỹ. Nhưng mất nó là đảng cũng mất luôn quyền khống chế đảng viên, chỉ còn Công An khống chế dân chúng. Nhưng Công An cấp dưới lại không cần biết tới lệnh lạc của Trung Ương, khiến Bộ Trửơng Công An Lê Hồng Anh đã gởi đơn lên Bộ Chính Trị xin nghỉ hưu - theo tin của Đài Phát Thanh Á Châu Tự Do 10-06-2005- Xem vậy đủ thấy vận mệnh của cộng đảng đã được an bài bởi "diễn biến hòa bình" với thứ vũ khí vạn năng là đồng Dollars.

LÝ ĐẠI NGUYÊN, Little Saigon 14-06-2005

Guest

Post by Guest »

[quote="khieulong"]VIẾT CHO NGÀY QUÂN LỰC 19/06

Đào Vũ Anh Hùng


Xin chép lại cho dễ đọc


Hàng năm, chúng ta làm lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực 19-6. Ngày Quân Lực năm nay đánh dấu 30 năm kể từ biến cố bi thảm 30-4-75, ngày miền Nam thân yêu của chúng ta rơi vào tay cộng sản. Ba mươi năm trôi qua trong đau hận không nguôi của tâm trạng…



Canh bạc chưa chơi mà hết vốn

Cờ còn nước đánh phải đành thua

(thơ Thanh Nam)



30 tháng Tư, ngày chúng ta không ai quên được. Ngày mà nhiều người mệnh danh là ngày Quốc Hận, ngày Ly Hương, ngày Tang của Dân Tộc… Nhưng dù cho gọi là ngày gì đi nữa, 30-4-75 chính là cái mốc thời gian đánh dấu một khúc quanh đau thương của lịch sử. Đánh dấu đọan đời lưu lạc chia lìa của mỗi chúng ta. Đánh dấu nền Tự Do Dân Chủ của miền Nam bị âm mưu bức tử.



Ngày 30-4 do đó mang một ý nghĩa rất lớn lao. Nhất là đối với những người tị nạn chúng ta – những ai không coi nước Mỹ này là chốn thiên đường, không coi ngày 30-4-1975 là cái “cơ may” thực hiện được giấc mộng lớn trong đời là được đặt chân lên đất Mỹ, hưởng thụ những tiện nghi vật chất của nước Mỹ - thì ngày đó càng mang ý nghĩa ngậm ngùi đau đớn hơn, như nhà thơ Thanh Nam đã buông lời thống thiết:



Một năm người có mười hai tháng

Ta trọn năm dài một tháng Tư…



Tháng Tư là tháng đau buồn. Ngày 30 tháng Tư là ngày tủi nhục, tang thương, đen tối của chung người Việt Quốc gia. Ngày ta muốn quên không được. Ngày ta phải khắc cốt ghi tâm. Phải nhớ. Phải lấy làm dấu mốc để đếm đời ta từ buổi đó bao năm trôi nổi? Ngày này là ngày tang tóc u buồn vận hạn của toàn khối dân tộc. Ngày người phải xa người, gia đình đang sống bình yên bỗng lâm cảnh xẩy đàn tan nghé…



Sau 30 tháng 4, những người cựu chiến binh VNCH lại có ngày Quân Lực 19 tháng 6 để buồn rầu hoài niệm và suy tư, tiếc nhớ một thời đã góp phần tích cực trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam, tiếc nhớ một đời đã đem tuổi thanh xuân hiến dâng cho lý tưởng quốc gia, dân tộc. Thế hệ chúng ta đã đi những bước truân chuyên trên con đường quá khổ và quá nhọc nhằn mong đem lại thanh bình, hạnh phúc cho dân Việt nhưng vì vận số hẩm hiu đất nước, chúng ta cặm cụi đi hoài vẫn không tới đích và cuối cùng, đem thân phiêu bạt...



Bình luận gia quá cố Phạm Kim Vinh cho rằng “Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến kéo dài, đẫm máu và tàn khốc nhất trong lịch sử chiến tranh của nhân loại”. Cuộc chiến mang nhiều tính chất bi thảm và hài hước, cho tới bây giờ vẫn được nói tới và gây nhiều tranh cãi sôi nổi. Nó bi thảm, bởi thế giới có ý muốn phủ nhận chính nghĩa cuộc chiến đấu để tự vệ của nhân dân Nam Việt Nam. Nó hài hước, bởi sau khi cộng sản đánh chiếm miền Nam, cái đám nhân loại khiếp nhược đó đã cúi đầu trước bạo lực, phụ hoạ với cộng sản, bôi nhọ VNCH, quốc gia đã từng được họ tuyên dương là “Tiền Đồn Chống Cộng” của Thế giới Tự do.



Dư luận đó đã nhục mạ Quân lực VNCH hèn nhát không chịu chiến đấu, VNCH hoàn toàn lệ thuộc nơi người Mỹ nên miền Nam mới sụp đổ dễ dàng và nhanh chóng như vậy. Đây là thứ dư luận ngu xuẩn, thiếu lương tri, vô trách nhiệm và đầy ác ý. Họ đã nhắm mắt, cố tình không chịu tìm hiểu tường tận sự hy sinh cùng khả năng chiến đấu tuỵệt vời của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, không chịu hiểu một điều giản dị, rằng “Nếu quân lực VNCH nhát hèn, không chịu chiến đấu, thì ai, sức mạnh nào, binh lực nào, phép mầu nào đã giữ được miền Nam trong bao nhiêu năm đất nước sôi bỏng bởi chiến tranh tàn khốc, từ 1954 tới 1975? Trong suốt hơn hai mươi năm dài đó, nếu không có sự chiến đấu dũng cảm, khắc khổ và kiên trì của người lính VNCH, chắc chắn miền Nam Việt Nam đã bị cộng sản thôn tính từ lâu rồi, ngay từ cái gọi là “tổng công kích, tổng khởi nghĩa” Tết Mậu Thân 1968, hay từ những trận đánh khốc liệt làm rúng động thế giới vào mùa hè binh biến 1972. Nếu không có sự chiến đấu đầy dũng cảm, hữu hiệu và kiên trì của người lính VNCH, làm sao quân đội Mỹ có thể rút ra khỏi cái gọi là “vũng lầy Việt Nam” một cách dễ dàng và an toàn như vậy?



Trong lịch sử Việt Nam cũng như trong lịch sử nhân loại cũng đã có những cuộc nội chiến. Nhưng không có cuộc tương tàn nào kéo dài quá lâu, liên tục và đẫm máu, cường độ tàn phá khốc liệt cùng sự tổn thất về nhân mạng cho cả hai miền lên đến con số kinh khủng như chiến tranh Việt Nam. Kể cả trong hai kỳ thế chiến, chưa một thời đại nào trong lịch sử, người dân Việt nam ở cả hai miền Nam Bắc phải nhận chịu những nỗi đau thương bất hạnh như trong cuộc chiến vừa qua.



Chúng ta, những người lính VNCH đã từng trực tiếp lăn mình vào binh lửa, những người lính đã thực sự cầm súng và chiến đấu, đều có thể khẳng định rằng, quân lực chúng ta không hề thua vì kém tinh thần chiến đấu. Sự sụp đổ về quân sự là do những quyết định sai lầm và suy yếu về chính trị. Nếu gọi là “thua”, chúng ta đã thua trận từ những nguyên nhân sâu ẩn khác. Chúng ta đã bị cái đám nhân loại hèn nhát và ngu xuẩn đó bất công trút đổ lên đầu chúng ta trách nhiệm. Những nguyên nhân khởi từ sau hai cuộc thế chiến, toàn thế giới run rẩy phục hồi, bắt tay xây dựng lại những công trình bị tàn phá. Thế giới từ ngày đó, mệt mỏi và sợ hãi chiến tranh, sợ bị nhiễm vi trùng cộng sản, đã trở nên ươn hèn, ích kỷ, ve vuốt cộng sản, đối xử bất công, nhòm ngó, dè bỉu, chê trách, quy kết tất cả mọi lỗi lầm về phía chúng ta, trút đổ tất cả gánh nặng lên đôi vai người lính VNCH, bắt chúng ta phải trách nhiệm ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản.



Trong khi đó, nước Việt Nam bất hạnh đã nẩy sinh ra gã họ Hồ, một thứ “nhân tài chết tiệt” của dân tộc, cuồng tín và tàn độc, tham vọng và mưu mô, bất lương và hiếu sát, vong bản và phi nhân, vô luân và vọng ngoại, tận tụy tôn thờ chủ nghĩa của gã Mác, gã Lê, xô đẩy dân tộc Việt Nam vào cuộc tương tàn thảm khốc.



Từ cái thời điểm phải ghi nhớ và đáng nguyền rủa đó, nhân dân Việt Nam ở cả hai miền đã phải còng lưng chịu đựng, không ngóc đầu lên được để thấy ánh mặt trời, để đi và đứng song hàng, hưởng cơn gió lành thịnh vượng cùng mọi dân tộc tự do trên thế giới. Dân tộc Việt Nam là nạn nhân thảm khổ trong cuộc chiến tranh phá-hoại-tận-tình-và-tuyệt-kỹ của bọn người ngu dốt. “Chính vì sự cương-quyết-ngu-dốt và ngu-dốt-kiên-trì mà chúng đã bán đứng đất nước, bán đứng cả linh hồn đất nước”, như cách nói của nhà văn Doãn Quốc Sĩ.



Nhà văn Phan Nhật Nam cũng đã kêu lên tiếng kêu ai oán, “Chiến tranh nào cũng đem lại những đổ vỡ, tan hoang, gieo mầm độc ác và gây nên bao sự hủy diệt. Nhưng đây là cuộc chiến thê thảm, tồi tệ và tủi hổ nhất của dân tộc Việt Nam”. Trong cuộc chiến vô nghĩa, dai dẳng và tàn bạo tột độ này, người lính VNCH đã gánh chịu trọn vẹn cái phần nặng nề, bất công, thua thiệt và đau đớn nhất. Cuộc tương tranh rõ ràng không đồng cân đồng sức và bị bội phản trắng trợn nhưng người lính Việt Nam vẫn thản nhiên chấp nhận. Những đời trai trẻ quên bỏ hạnh phúc, tình yêu, tương lai, sự nghiệp cùng những thú vui riêng để bước vào chốn cùng hung cực hiểm, đầy rẫy gian lao khổ nhọc và bị vô ơn, bạc đãi nhưng họ vẫn lầm lì chịu đựng và dũng cảm xông pha trận mạc, trực diện kẻ thù, đổ mồ hôi, xương máu, lao thẳng vào lửa đạn, phóng mình vào nỗi chết cho giải đất miền Nam được tồn tại và người dân miền Nam được sống còn.

Lính và vợ con lính. Vợ con lính và những người lính VNCH là hiện thân của những hy sinh quá sức lớn lao. Lòng quả cảm và những hy sinh kỳ vĩ đó chứng minh được bằng những chiến thắng cụ thể, nhiệm mầu, vượt cao, vượt xa và ở trên tất cả mọi suy nghĩ tầm thường của những con người không có chiều dài lịch sử bốn ngàn năm để hiểu thế nào là tình yêu thương đất nước cùng mối tự hào dân tộc.



Như Mậu Thân ở Huế. Một đại đội Hắc Báo quân số 270 người, còn lại vỏn vẹn 19 người sau nhiều ngày giao tranh, đã anh dũng chiếm lại Kỳ Đài, đưa lá cờ vàng ngạo nghễ tung bay trên đỉnh ngọn. Như An Lộc, với 52 ngày tử thủ, thịt da đất nước từng phân vuông quằn quại nẩy tung dưới cơn mưa pháo, ngày và đêm. Không một nơi nào trên thế giới nhận chịu một cuộc tấn công ác liệt, kinh hoàng như An Lộc. Chỉ trong đêm 11 rạng 12 tháng 5, 1972, từ 3 giờ đến 6 giờ sáng, An Lộc co quắp run rẩy hứng chịu liên tục 8 ngàn trái pháo và hỏa tiến của cộng sản… Thế mà An Lộc vẫn đứng vững, vẫn tồn tại. Cái quận lỵ nhỏ bé đó đã dược ghi danh trong quân sử Việt Nam và trong chiến sử Thế giới.



Vào những giờ phút hấp hối của miền Nam, trận chiến cuối cùng ở Xuân Lộc cũng là một kỳ tích để nhân loại ngưỡng phục. Sư đoàn 18 Bộ Binh, một Sư đoàn được coi là không mấy xuất sắc của quân lực, đã anh dũng giữ vững tuyến phòng ngự, chặn đứng được sự tấn công ào ạt của 5 sư đoàn cộng sản với xe tăng và đại pháo 130 ly hùng hậu. Nhưng biển người của Văn Tiến Dũng đã phải đứng khựng lại, phải bỏ rơi Xuân Lộc, đi đuờng khác vòng về Saigon, để lại hàng ngàn xác chết. Jean Lacouture, một nhà báo Pháp có lương tâm đã nhỏ rơi nước mắt khi tường thuật trận Xuân Lộc và thảng thốt kêu lên, “Cái Quân lực đó quả thật là gan dạ và anh hùng. Họ chiến đấu vô cùng ngoạn mục và tôi thật lòng kính phục…”



Nhiều ký giả Tây phương cũng hết lời ca ngợi những cuộc chiến đấu đơn lẻ, tạo nên thiên anh hùng ca bi tráng trong ngày cuối cùng của Tháng Tư Đen. Như cuộc chống cự của Thiếu Sinh Quân ở Vũng Tầu. Của những đơn vị Nhảy Dù ở khu Lăng Cha Cả. Của anh em Biệt Kích 81 ở Bộ Tổng Tham Mưu. Của các chiến sĩ Biệt Động Quân ở dốc Cầu Xa Lộ. Của những Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt trong quân phục đại lễ nơi một góc phố thủ đô… rất nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ QLVNCH và Cảnh sát Quốc gia đã tự sát tập thể vì tuyệt vọng và phẫn nộ trước cuộc đầu hàng nhục nhã của Dương Văn Minh. Chưa kể đến sự tuẫn tiết của các tướng Nguyễn Khoa Nam, tướng Lê Văn Hưng, tướng Phạm Văn Phú, tướng Trần Văn Hai, tướng Lê Nguyên Vỹ và những sĩ quan chỉ huy các đơn vị tác chiến khác…



Ba mươi năm đã trôi qua. Người ta nói hoài đến con số 58 ngàn lính Mỹ chết và mất tích trên chiến trường Việt Nam. Việt cộng đưa ra con số tổn thất nhân mạng là một triệu 400 ngàn bộ đội của chúng. Phía Việt Nam Cộng Hòa, không ai truy cứu để đưa ra một con số chính xác, bao nhiêu binh sĩ của chúng ta tử trận, bao nhiêu đồng bào, cán bộ chính quyền của chúng ta bị sát hại trong cuộc chiến? Chúng ta bị thế giới cố tình bỏ quên. Bị cộng sản đê tiện trả thù, đầy đọa người sống trong trại tù cải tạo và quật mồ người chết để thỏa mãn cái tâm địa man rợ của loài lang sói.



Nhân kỷ niệm Ngày Quân Lực, chúng ta, những người lính chiến VNCH cũ, hãy cùng nhau chiêm nghiệm, không phải để “tự cho mình là những người mất nước tìm cách phục quốc, hay để tự nhận là những người thất trận tìm cách trả thù, phục hận..” Và càng không thể là “những người Quốc gia đã được “điều kiện hóa” để xem chống cộng là cứu cánh…” như một số người trong chính hàng ngũ chúng ta – đau đớn thay – đã hòa nhịp với kẻ địch, công khai sỉ nhục quân đội.



Chúng ta hãy dõng dạc nói thẳng cho những con người đó, thù cũng như bạn, biết rằng lý tưởng và cứu cánh của người lính chúng ta không phải là thù và oán. Lý tưởng Quốc gia Dân tộc là một tình cảm tự nhiên, thiêng liêng cao cả trong trong trái tim con người, không thể đem “điều kiện hóa” như thí nghiệm vào loài chó của Palov, như thủ đoạn tẩy não phi nhân của cộng sản. Lý tưởng và cứu cánh đó bao giờ cũng là chu toàn ước vọng đem lại đời sống thanh bình an lạc, đem lại tự do dân chủ, no ấm và hạnh phúc cho toàn dân. Kẻ nào xâm phạm đến phúc lợi và ước vọng đó của dân tộc, chúng ta có bổn phận ngăn chặn, dù đó là cộng sản hay bất cứ một thế lực nào khác.



Chúng ta, những người lính VNCH sống còn sau cuộc chiến và thoát khỏi bàn tay đê tiện của kẻ thù, xin hãy nghĩ nhớ đến anh em đồng đội, hồi niệm và tri ơn những người đã nằm xuống cho chúng ta được sống. Hãy cùng nhau đốt lên một ngọn lửa, soi sáng một niềm tin, giữ vững tinh thần và ý chí, làm sánh danh Quân lực, làm rõ ràng Chính nghĩa Quốc gia và hãy vẽ lại chân dung đích thực của người lính VNCH, những người con yêu của đất nước, dù đã đi vào miền Vĩnh cửu nhưng hình ảnh cùng những chiến công vẫn hằng hằng sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam ta.



Chúng ta hãy cùng nhau chiêu niệm quê hương, chiêu niệm hồn tiên liệt và khí thiêng sông núi, cầu mong sớm có một ngày vinh hiển trở về nhìn lại quê cha đất tổ, như trong lời Hịch Bình Ngô:



“…Giang sơn từ nay mở hội

Xã tắc từ nay vững bền

Nhật nguyệt hối rồi lại minh

Kiền khôn bỉ rồi lại thái

Nền vạn thế xây nên chăn chắn

Thẹn nghìn thu rửa sạch làu làu

Đó là nhờ trời đất tổ tiên khôn thiêng che chở

Và giúp đỡ cho chúng ta vậy…”



Đào Vũ Anh Hùng

Guest

Post by Guest »

khieulong wrote:VIẾT CHO NGÀY QUÂN LỰC 19/06quote]

Đào Vũ Anh Hùng


Xin chép lại cho dễ đọc


Hàng năm, chúng ta làm lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực 19-6. Ngày Quân Lực năm nay đánh dấu 30 năm kể từ biến cố bi thảm 30-4-75, ngày miền Nam thân yêu của chúng ta rơi vào tay cộng sản. Ba mươi năm trôi qua trong đau hận không nguôi của tâm trạng…



Canh bạc chưa chơi mà hết vốn

Cờ còn nước đánh phải đành thua

(thơ Thanh Nam)



30 tháng Tư, ngày chúng ta không ai quên được. Ngày mà nhiều người mệnh danh là ngày Quốc Hận, ngày Ly Hương, ngày Tang của Dân Tộc… Nhưng dù cho gọi là ngày gì đi nữa, 30-4-75 chính là cái mốc thời gian đánh dấu một khúc quanh đau thương của lịch sử. Đánh dấu đọan đời lưu lạc chia lìa của mỗi chúng ta. Đánh dấu nền Tự Do Dân Chủ của miền Nam bị âm mưu bức tử.



Ngày 30-4 do đó mang một ý nghĩa rất lớn lao. Nhất là đối với những người tị nạn chúng ta – những ai không coi nước Mỹ này là chốn thiên đường, không coi ngày 30-4-1975 là cái “cơ may” thực hiện được giấc mộng lớn trong đời là được đặt chân lên đất Mỹ, hưởng thụ những tiện nghi vật chất của nước Mỹ - thì ngày đó càng mang ý nghĩa ngậm ngùi đau đớn hơn, như nhà thơ Thanh Nam đã buông lời thống thiết:



Một năm người có mười hai tháng

Ta trọn năm dài một tháng Tư…



Tháng Tư là tháng đau buồn. Ngày 30 tháng Tư là ngày tủi nhục, tang thương, đen tối của chung người Việt Quốc gia. Ngày ta muốn quên không được. Ngày ta phải khắc cốt ghi tâm. Phải nhớ. Phải lấy làm dấu mốc để đếm đời ta từ buổi đó bao năm trôi nổi? Ngày này là ngày tang tóc u buồn vận hạn của toàn khối dân tộc. Ngày người phải xa người, gia đình đang sống bình yên bỗng lâm cảnh xẩy đàn tan nghé…



Sau 30 tháng 4, những người cựu chiến binh VNCH lại có ngày Quân Lực 19 tháng 6 để buồn rầu hoài niệm và suy tư, tiếc nhớ một thời đã góp phần tích cực trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam, tiếc nhớ một đời đã đem tuổi thanh xuân hiến dâng cho lý tưởng quốc gia, dân tộc. Thế hệ chúng ta đã đi những bước truân chuyên trên con đường quá khổ và quá nhọc nhằn mong đem lại thanh bình, hạnh phúc cho dân Việt nhưng vì vận số hẩm hiu đất nước, chúng ta cặm cụi đi hoài vẫn không tới đích và cuối cùng, đem thân phiêu bạt...



Bình luận gia quá cố Phạm Kim Vinh cho rằng “Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến kéo dài, đẫm máu và tàn khốc nhất trong lịch sử chiến tranh của nhân loại”. Cuộc chiến mang nhiều tính chất bi thảm và hài hước, cho tới bây giờ vẫn được nói tới và gây nhiều tranh cãi sôi nổi. Nó bi thảm, bởi thế giới có ý muốn phủ nhận chính nghĩa cuộc chiến đấu để tự vệ của nhân dân Nam Việt Nam. Nó hài hước, bởi sau khi cộng sản đánh chiếm miền Nam, cái đám nhân loại khiếp nhược đó đã cúi đầu trước bạo lực, phụ hoạ với cộng sản, bôi nhọ VNCH, quốc gia đã từng được họ tuyên dương là “Tiền Đồn Chống Cộng” của Thế giới Tự do.



Dư luận đó đã nhục mạ Quân lực VNCH hèn nhát không chịu chiến đấu, VNCH hoàn toàn lệ thuộc nơi người Mỹ nên miền Nam mới sụp đổ dễ dàng và nhanh chóng như vậy. Đây là thứ dư luận ngu xuẩn, thiếu lương tri, vô trách nhiệm và đầy ác ý. Họ đã nhắm mắt, cố tình không chịu tìm hiểu tường tận sự hy sinh cùng khả năng chiến đấu tuỵệt vời của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, không chịu hiểu một điều giản dị, rằng “Nếu quân lực VNCH nhát hèn, không chịu chiến đấu, thì ai, sức mạnh nào, binh lực nào, phép mầu nào đã giữ được miền Nam trong bao nhiêu năm đất nước sôi bỏng bởi chiến tranh tàn khốc, từ 1954 tới 1975? Trong suốt hơn hai mươi năm dài đó, nếu không có sự chiến đấu dũng cảm, khắc khổ và kiên trì của người lính VNCH, chắc chắn miền Nam Việt Nam đã bị cộng sản thôn tính từ lâu rồi, ngay từ cái gọi là “tổng công kích, tổng khởi nghĩa” Tết Mậu Thân 1968, hay từ những trận đánh khốc liệt làm rúng động thế giới vào mùa hè binh biến 1972. Nếu không có sự chiến đấu đầy dũng cảm, hữu hiệu và kiên trì của người lính VNCH, làm sao quân đội Mỹ có thể rút ra khỏi cái gọi là “vũng lầy Việt Nam” một cách dễ dàng và an toàn như vậy?



Trong lịch sử Việt Nam cũng như trong lịch sử nhân loại cũng đã có những cuộc nội chiến. Nhưng không có cuộc tương tàn nào kéo dài quá lâu, liên tục và đẫm máu, cường độ tàn phá khốc liệt cùng sự tổn thất về nhân mạng cho cả hai miền lên đến con số kinh khủng như chiến tranh Việt Nam. Kể cả trong hai kỳ thế chiến, chưa một thời đại nào trong lịch sử, người dân Việt nam ở cả hai miền Nam Bắc phải nhận chịu những nỗi đau thương bất hạnh như trong cuộc chiến vừa qua.



Chúng ta, những người lính VNCH đã từng trực tiếp lăn mình vào binh lửa, những người lính đã thực sự cầm súng và chiến đấu, đều có thể khẳng định rằng, quân lực chúng ta không hề thua vì kém tinh thần chiến đấu. Sự sụp đổ về quân sự là do những quyết định sai lầm và suy yếu về chính trị. Nếu gọi là “thua”, chúng ta đã thua trận từ những nguyên nhân sâu ẩn khác. Chúng ta đã bị cái đám nhân loại hèn nhát và ngu xuẩn đó bất công trút đổ lên đầu chúng ta trách nhiệm. Những nguyên nhân khởi từ sau hai cuộc thế chiến, toàn thế giới run rẩy phục hồi, bắt tay xây dựng lại những công trình bị tàn phá. Thế giới từ ngày đó, mệt mỏi và sợ hãi chiến tranh, sợ bị nhiễm vi trùng cộng sản, đã trở nên ươn hèn, ích kỷ, ve vuốt cộng sản, đối xử bất công, nhòm ngó, dè bỉu, chê trách, quy kết tất cả mọi lỗi lầm về phía chúng ta, trút đổ tất cả gánh nặng lên đôi vai người lính VNCH, bắt chúng ta phải trách nhiệm ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản.



Trong khi đó, nước Việt Nam bất hạnh đã nẩy sinh ra gã họ Hồ, một thứ “nhân tài chết tiệt” của dân tộc, cuồng tín và tàn độc, tham vọng và mưu mô, bất lương và hiếu sát, vong bản và phi nhân, vô luân và vọng ngoại, tận tụy tôn thờ chủ nghĩa của gã Mác, gã Lê, xô đẩy dân tộc Việt Nam vào cuộc tương tàn thảm khốc.



Từ cái thời điểm phải ghi nhớ và đáng nguyền rủa đó, nhân dân Việt Nam ở cả hai miền đã phải còng lưng chịu đựng, không ngóc đầu lên được để thấy ánh mặt trời, để đi và đứng song hàng, hưởng cơn gió lành thịnh vượng cùng mọi dân tộc tự do trên thế giới. Dân tộc Việt Nam là nạn nhân thảm khổ trong cuộc chiến tranh phá-hoại-tận-tình-và-tuyệt-kỹ của bọn người ngu dốt. “Chính vì sự cương-quyết-ngu-dốt và ngu-dốt-kiên-trì mà chúng đã bán đứng đất nước, bán đứng cả linh hồn đất nước”, như cách nói của nhà văn Doãn Quốc Sĩ.



Nhà văn Phan Nhật Nam cũng đã kêu lên tiếng kêu ai oán, “Chiến tranh nào cũng đem lại những đổ vỡ, tan hoang, gieo mầm độc ác và gây nên bao sự hủy diệt. Nhưng đây là cuộc chiến thê thảm, tồi tệ và tủi hổ nhất của dân tộc Việt Nam”. Trong cuộc chiến vô nghĩa, dai dẳng và tàn bạo tột độ này, người lính VNCH đã gánh chịu trọn vẹn cái phần nặng nề, bất công, thua thiệt và đau đớn nhất. Cuộc tương tranh rõ ràng không đồng cân đồng sức và bị bội phản trắng trợn nhưng người lính Việt Nam vẫn thản nhiên chấp nhận. Những đời trai trẻ quên bỏ hạnh phúc, tình yêu, tương lai, sự nghiệp cùng những thú vui riêng để bước vào chốn cùng hung cực hiểm, đầy rẫy gian lao khổ nhọc và bị vô ơn, bạc đãi nhưng họ vẫn lầm lì chịu đựng và dũng cảm xông pha trận mạc, trực diện kẻ thù, đổ mồ hôi, xương máu, lao thẳng vào lửa đạn, phóng mình vào nỗi chết cho giải đất miền Nam được tồn tại và người dân miền Nam được sống còn.

Lính và vợ con lính. Vợ con lính và những người lính VNCH là hiện thân của những hy sinh quá sức lớn lao. Lòng quả cảm và những hy sinh kỳ vĩ đó chứng minh được bằng những chiến thắng cụ thể, nhiệm mầu, vượt cao, vượt xa và ở trên tất cả mọi suy nghĩ tầm thường của những con người không có chiều dài lịch sử bốn ngàn năm để hiểu thế nào là tình yêu thương đất nước cùng mối tự hào dân tộc.



Như Mậu Thân ở Huế. Một đại đội Hắc Báo quân số 270 người, còn lại vỏn vẹn 19 người sau nhiều ngày giao tranh, đã anh dũng chiếm lại Kỳ Đài, đưa lá cờ vàng ngạo nghễ tung bay trên đỉnh ngọn. Như An Lộc, với 52 ngày tử thủ, thịt da đất nước từng phân vuông quằn quại nẩy tung dưới cơn mưa pháo, ngày và đêm. Không một nơi nào trên thế giới nhận chịu một cuộc tấn công ác liệt, kinh hoàng như An Lộc. Chỉ trong đêm 11 rạng 12 tháng 5, 1972, từ 3 giờ đến 6 giờ sáng, An Lộc co quắp run rẩy hứng chịu liên tục 8 ngàn trái pháo và hỏa tiến của cộng sản… Thế mà An Lộc vẫn đứng vững, vẫn tồn tại. Cái quận lỵ nhỏ bé đó đã dược ghi danh trong quân sử Việt Nam và trong chiến sử Thế giới.



Vào những giờ phút hấp hối của miền Nam, trận chiến cuối cùng ở Xuân Lộc cũng là một kỳ tích để nhân loại ngưỡng phục. Sư đoàn 18 Bộ Binh, một Sư đoàn được coi là không mấy xuất sắc của quân lực, đã anh dũng giữ vững tuyến phòng ngự, chặn đứng được sự tấn công ào ạt của 5 sư đoàn cộng sản với xe tăng và đại pháo 130 ly hùng hậu. Nhưng biển người của Văn Tiến Dũng đã phải đứng khựng lại, phải bỏ rơi Xuân Lộc, đi đuờng khác vòng về Saigon, để lại hàng ngàn xác chết. Jean Lacouture, một nhà báo Pháp có lương tâm đã nhỏ rơi nước mắt khi tường thuật trận Xuân Lộc và thảng thốt kêu lên, “Cái Quân lực đó quả thật là gan dạ và anh hùng. Họ chiến đấu vô cùng ngoạn mục và tôi thật lòng kính phục…”



Nhiều ký giả Tây phương cũng hết lời ca ngợi những cuộc chiến đấu đơn lẻ, tạo nên thiên anh hùng ca bi tráng trong ngày cuối cùng của Tháng Tư Đen. Như cuộc chống cự của Thiếu Sinh Quân ở Vũng Tầu. Của những đơn vị Nhảy Dù ở khu Lăng Cha Cả. Của anh em Biệt Kích 81 ở Bộ Tổng Tham Mưu. Của các chiến sĩ Biệt Động Quân ở dốc Cầu Xa Lộ. Của những Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt trong quân phục đại lễ nơi một góc phố thủ đô… rất nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ QLVNCH và Cảnh sát Quốc gia đã tự sát tập thể vì tuyệt vọng và phẫn nộ trước cuộc đầu hàng nhục nhã của Dương Văn Minh. Chưa kể đến sự tuẫn tiết của các tướng Nguyễn Khoa Nam, tướng Lê Văn Hưng, tướng Phạm Văn Phú, tướng Trần Văn Hai, tướng Lê Nguyên Vỹ và những sĩ quan chỉ huy các đơn vị tác chiến khác…



Ba mươi năm đã trôi qua. Người ta nói hoài đến con số 58 ngàn lính Mỹ chết và mất tích trên chiến trường Việt Nam. Việt cộng đưa ra con số tổn thất nhân mạng là một triệu 400 ngàn bộ đội của chúng. Phía Việt Nam Cộng Hòa, không ai truy cứu để đưa ra một con số chính xác, bao nhiêu binh sĩ của chúng ta tử trận, bao nhiêu đồng bào, cán bộ chính quyền của chúng ta bị sát hại trong cuộc chiến? Chúng ta bị thế giới cố tình bỏ quên. Bị cộng sản đê tiện trả thù, đầy đọa người sống trong trại tù cải tạo và quật mồ người chết để thỏa mãn cái tâm địa man rợ của loài lang sói.



Nhân kỷ niệm Ngày Quân Lực, chúng ta, những người lính chiến VNCH cũ, hãy cùng nhau chiêm nghiệm, không phải để “tự cho mình là những người mất nước tìm cách phục quốc, hay để tự nhận là những người thất trận tìm cách trả thù, phục hận..” Và càng không thể là “những người Quốc gia đã được “điều kiện hóa” để xem chống cộng là cứu cánh…” như một số người trong chính hàng ngũ chúng ta – đau đớn thay – đã hòa nhịp với kẻ địch, công khai sỉ nhục quân đội.



Chúng ta hãy dõng dạc nói thẳng cho những con người đó, thù cũng như bạn, biết rằng lý tưởng và cứu cánh của người lính chúng ta không phải là thù và oán. Lý tưởng Quốc gia Dân tộc là một tình cảm tự nhiên, thiêng liêng cao cả trong trong trái tim con người, không thể đem “điều kiện hóa” như thí nghiệm vào loài chó của Palov, như thủ đoạn tẩy não phi nhân của cộng sản. Lý tưởng và cứu cánh đó bao giờ cũng là chu toàn ước vọng đem lại đời sống thanh bình an lạc, đem lại tự do dân chủ, no ấm và hạnh phúc cho toàn dân. Kẻ nào xâm phạm đến phúc lợi và ước vọng đó của dân tộc, chúng ta có bổn phận ngăn chặn, dù đó là cộng sản hay bất cứ một thế lực nào khác.



Chúng ta, những người lính VNCH sống còn sau cuộc chiến và thoát khỏi bàn tay đê tiện của kẻ thù, xin hãy nghĩ nhớ đến anh em đồng đội, hồi niệm và tri ơn những người đã nằm xuống cho chúng ta được sống. Hãy cùng nhau đốt lên một ngọn lửa, soi sáng một niềm tin, giữ vững tinh thần và ý chí, làm sánh danh Quân lực, làm rõ ràng Chính nghĩa Quốc gia và hãy vẽ lại chân dung đích thực của người lính VNCH, những người con yêu của đất nước, dù đã đi vào miền Vĩnh cửu nhưng hình ảnh cùng những chiến công vẫn hằng hằng sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam ta.



Chúng ta hãy cùng nhau chiêu niệm quê hương, chiêu niệm hồn tiên liệt và khí thiêng sông núi, cầu mong sớm có một ngày vinh hiển trở về nhìn lại quê cha đất tổ, như trong lời Hịch Bình Ngô:



“…Giang sơn từ nay mở hội

Xã tắc từ nay vững bền

Nhật nguyệt hối rồi lại minh

Kiền khôn bỉ rồi lại thái

Nền vạn thế xây nên chăn chắn

Thẹn nghìn thu rửa sạch làu làu

Đó là nhờ trời đất tổ tiên khôn thiêng che chở

Và giúp đỡ cho chúng ta vậy…”



Đào Vũ Anh Hùng

Guest

Post by Guest »

VIẾT CHO NGÀY QUÂN LỰC 19/06

Đào Vũ Anh Hùng


Xin chép lại cho dễ đọc


Hàng năm, chúng ta làm lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực 19-6. Ngày Quân Lực năm nay đánh dấu 30 năm kể từ biến cố bi thảm 30-4-75, ngày miền Nam thân yêu của chúng ta rơi vào tay cộng sản. Ba mươi năm trôi qua trong đau hận không nguôi của tâm trạng…



Canh bạc chưa chơi mà hết vốn

Cờ còn nước đánh phải đành thua

(thơ Thanh Nam)



30 tháng Tư, ngày chúng ta không ai quên được. Ngày mà nhiều người mệnh danh là ngày Quốc Hận, ngày Ly Hương, ngày Tang của Dân Tộc… Nhưng dù cho gọi là ngày gì đi nữa, 30-4-75 chính là cái mốc thời gian đánh dấu một khúc quanh đau thương của lịch sử. Đánh dấu đọan đời lưu lạc chia lìa của mỗi chúng ta. Đánh dấu nền Tự Do Dân Chủ của miền Nam bị âm mưu bức tử.



Ngày 30-4 do đó mang một ý nghĩa rất lớn lao. Nhất là đối với những người tị nạn chúng ta – những ai không coi nước Mỹ này là chốn thiên đường, không coi ngày 30-4-1975 là cái “cơ may” thực hiện được giấc mộng lớn trong đời là được đặt chân lên đất Mỹ, hưởng thụ những tiện nghi vật chất của nước Mỹ - thì ngày đó càng mang ý nghĩa ngậm ngùi đau đớn hơn, như nhà thơ Thanh Nam đã buông lời thống thiết:



Một năm người có mười hai tháng

Ta trọn năm dài một tháng Tư…



Tháng Tư là tháng đau buồn. Ngày 30 tháng Tư là ngày tủi nhục, tang thương, đen tối của chung người Việt Quốc gia. Ngày ta muốn quên không được. Ngày ta phải khắc cốt ghi tâm. Phải nhớ. Phải lấy làm dấu mốc để đếm đời ta từ buổi đó bao năm trôi nổi? Ngày này là ngày tang tóc u buồn vận hạn của toàn khối dân tộc. Ngày người phải xa người, gia đình đang sống bình yên bỗng lâm cảnh xẩy đàn tan nghé…



Sau 30 tháng 4, những người cựu chiến binh VNCH lại có ngày Quân Lực 19 tháng 6 để buồn rầu hoài niệm và suy tư, tiếc nhớ một thời đã góp phần tích cực trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam, tiếc nhớ một đời đã đem tuổi thanh xuân hiến dâng cho lý tưởng quốc gia, dân tộc. Thế hệ chúng ta đã đi những bước truân chuyên trên con đường quá khổ và quá nhọc nhằn mong đem lại thanh bình, hạnh phúc cho dân Việt nhưng vì vận số hẩm hiu đất nước, chúng ta cặm cụi đi hoài vẫn không tới đích và cuối cùng, đem thân phiêu bạt...



Bình luận gia quá cố Phạm Kim Vinh cho rằng “Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến kéo dài, đẫm máu và tàn khốc nhất trong lịch sử chiến tranh của nhân loại”. Cuộc chiến mang nhiều tính chất bi thảm và hài hước, cho tới bây giờ vẫn được nói tới và gây nhiều tranh cãi sôi nổi. Nó bi thảm, bởi thế giới có ý muốn phủ nhận chính nghĩa cuộc chiến đấu để tự vệ của nhân dân Nam Việt Nam. Nó hài hước, bởi sau khi cộng sản đánh chiếm miền Nam, cái đám nhân loại khiếp nhược đó đã cúi đầu trước bạo lực, phụ hoạ với cộng sản, bôi nhọ VNCH, quốc gia đã từng được họ tuyên dương là “Tiền Đồn Chống Cộng” của Thế giới Tự do.



Dư luận đó đã nhục mạ Quân lực VNCH hèn nhát không chịu chiến đấu, VNCH hoàn toàn lệ thuộc nơi người Mỹ nên miền Nam mới sụp đổ dễ dàng và nhanh chóng như vậy. Đây là thứ dư luận ngu xuẩn, thiếu lương tri, vô trách nhiệm và đầy ác ý. Họ đã nhắm mắt, cố tình không chịu tìm hiểu tường tận sự hy sinh cùng khả năng chiến đấu tuỵệt vời của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, không chịu hiểu một điều giản dị, rằng “Nếu quân lực VNCH nhát hèn, không chịu chiến đấu, thì ai, sức mạnh nào, binh lực nào, phép mầu nào đã giữ được miền Nam trong bao nhiêu năm đất nước sôi bỏng bởi chiến tranh tàn khốc, từ 1954 tới 1975? Trong suốt hơn hai mươi năm dài đó, nếu không có sự chiến đấu dũng cảm, khắc khổ và kiên trì của người lính VNCH, chắc chắn miền Nam Việt Nam đã bị cộng sản thôn tính từ lâu rồi, ngay từ cái gọi là “tổng công kích, tổng khởi nghĩa” Tết Mậu Thân 1968, hay từ những trận đánh khốc liệt làm rúng động thế giới vào mùa hè binh biến 1972. Nếu không có sự chiến đấu đầy dũng cảm, hữu hiệu và kiên trì của người lính VNCH, làm sao quân đội Mỹ có thể rút ra khỏi cái gọi là “vũng lầy Việt Nam” một cách dễ dàng và an toàn như vậy?



Trong lịch sử Việt Nam cũng như trong lịch sử nhân loại cũng đã có những cuộc nội chiến. Nhưng không có cuộc tương tàn nào kéo dài quá lâu, liên tục và đẫm máu, cường độ tàn phá khốc liệt cùng sự tổn thất về nhân mạng cho cả hai miền lên đến con số kinh khủng như chiến tranh Việt Nam. Kể cả trong hai kỳ thế chiến, chưa một thời đại nào trong lịch sử, người dân Việt nam ở cả hai miền Nam Bắc phải nhận chịu những nỗi đau thương bất hạnh như trong cuộc chiến vừa qua.



Chúng ta, những người lính VNCH đã từng trực tiếp lăn mình vào binh lửa, những người lính đã thực sự cầm súng và chiến đấu, đều có thể khẳng định rằng, quân lực chúng ta không hề thua vì kém tinh thần chiến đấu. Sự sụp đổ về quân sự là do những quyết định sai lầm và suy yếu về chính trị. Nếu gọi là “thua”, chúng ta đã thua trận từ những nguyên nhân sâu ẩn khác. Chúng ta đã bị cái đám nhân loại hèn nhát và ngu xuẩn đó bất công trút đổ lên đầu chúng ta trách nhiệm. Những nguyên nhân khởi từ sau hai cuộc thế chiến, toàn thế giới run rẩy phục hồi, bắt tay xây dựng lại những công trình bị tàn phá. Thế giới từ ngày đó, mệt mỏi và sợ hãi chiến tranh, sợ bị nhiễm vi trùng cộng sản, đã trở nên ươn hèn, ích kỷ, ve vuốt cộng sản, đối xử bất công, nhòm ngó, dè bỉu, chê trách, quy kết tất cả mọi lỗi lầm về phía chúng ta, trút đổ tất cả gánh nặng lên đôi vai người lính VNCH, bắt chúng ta phải trách nhiệm ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản.



Trong khi đó, nước Việt Nam bất hạnh đã nẩy sinh ra gã họ Hồ, một thứ “nhân tài chết tiệt” của dân tộc, cuồng tín và tàn độc, tham vọng và mưu mô, bất lương và hiếu sát, vong bản và phi nhân, vô luân và vọng ngoại, tận tụy tôn thờ chủ nghĩa của gã Mác, gã Lê, xô đẩy dân tộc Việt Nam vào cuộc tương tàn thảm khốc.



Từ cái thời điểm phải ghi nhớ và đáng nguyền rủa đó, nhân dân Việt Nam ở cả hai miền đã phải còng lưng chịu đựng, không ngóc đầu lên được để thấy ánh mặt trời, để đi và đứng song hàng, hưởng cơn gió lành thịnh vượng cùng mọi dân tộc tự do trên thế giới. Dân tộc Việt Nam là nạn nhân thảm khổ trong cuộc chiến tranh phá-hoại-tận-tình-và-tuyệt-kỹ của bọn người ngu dốt. “Chính vì sự cương-quyết-ngu-dốt và ngu-dốt-kiên-trì mà chúng đã bán đứng đất nước, bán đứng cả linh hồn đất nước”, như cách nói của nhà văn Doãn Quốc Sĩ.



Nhà văn Phan Nhật Nam cũng đã kêu lên tiếng kêu ai oán, “Chiến tranh nào cũng đem lại những đổ vỡ, tan hoang, gieo mầm độc ác và gây nên bao sự hủy diệt. Nhưng đây là cuộc chiến thê thảm, tồi tệ và tủi hổ nhất của dân tộc Việt Nam”. Trong cuộc chiến vô nghĩa, dai dẳng và tàn bạo tột độ này, người lính VNCH đã gánh chịu trọn vẹn cái phần nặng nề, bất công, thua thiệt và đau đớn nhất. Cuộc tương tranh rõ ràng không đồng cân đồng sức và bị bội phản trắng trợn nhưng người lính Việt Nam vẫn thản nhiên chấp nhận. Những đời trai trẻ quên bỏ hạnh phúc, tình yêu, tương lai, sự nghiệp cùng những thú vui riêng để bước vào chốn cùng hung cực hiểm, đầy rẫy gian lao khổ nhọc và bị vô ơn, bạc đãi nhưng họ vẫn lầm lì chịu đựng và dũng cảm xông pha trận mạc, trực diện kẻ thù, đổ mồ hôi, xương máu, lao thẳng vào lửa đạn, phóng mình vào nỗi chết cho giải đất miền Nam được tồn tại và người dân miền Nam được sống còn.

Lính và vợ con lính. Vợ con lính và những người lính VNCH là hiện thân của những hy sinh quá sức lớn lao. Lòng quả cảm và những hy sinh kỳ vĩ đó chứng minh được bằng những chiến thắng cụ thể, nhiệm mầu, vượt cao, vượt xa và ở trên tất cả mọi suy nghĩ tầm thường của những con người không có chiều dài lịch sử bốn ngàn năm để hiểu thế nào là tình yêu thương đất nước cùng mối tự hào dân tộc.



Như Mậu Thân ở Huế. Một đại đội Hắc Báo quân số 270 người, còn lại vỏn vẹn 19 người sau nhiều ngày giao tranh, đã anh dũng chiếm lại Kỳ Đài, đưa lá cờ vàng ngạo nghễ tung bay trên đỉnh ngọn. Như An Lộc, với 52 ngày tử thủ, thịt da đất nước từng phân vuông quằn quại nẩy tung dưới cơn mưa pháo, ngày và đêm. Không một nơi nào trên thế giới nhận chịu một cuộc tấn công ác liệt, kinh hoàng như An Lộc. Chỉ trong đêm 11 rạng 12 tháng 5, 1972, từ 3 giờ đến 6 giờ sáng, An Lộc co quắp run rẩy hứng chịu liên tục 8 ngàn trái pháo và hỏa tiến của cộng sản… Thế mà An Lộc vẫn đứng vững, vẫn tồn tại. Cái quận lỵ nhỏ bé đó đã dược ghi danh trong quân sử Việt Nam và trong chiến sử Thế giới.



Vào những giờ phút hấp hối của miền Nam, trận chiến cuối cùng ở Xuân Lộc cũng là một kỳ tích để nhân loại ngưỡng phục. Sư đoàn 18 Bộ Binh, một Sư đoàn được coi là không mấy xuất sắc của quân lực, đã anh dũng giữ vững tuyến phòng ngự, chặn đứng được sự tấn công ào ạt của 5 sư đoàn cộng sản với xe tăng và đại pháo 130 ly hùng hậu. Nhưng biển người của Văn Tiến Dũng đã phải đứng khựng lại, phải bỏ rơi Xuân Lộc, đi đuờng khác vòng về Saigon, để lại hàng ngàn xác chết. Jean Lacouture, một nhà báo Pháp có lương tâm đã nhỏ rơi nước mắt khi tường thuật trận Xuân Lộc và thảng thốt kêu lên, “Cái Quân lực đó quả thật là gan dạ và anh hùng. Họ chiến đấu vô cùng ngoạn mục và tôi thật lòng kính phục…”



Nhiều ký giả Tây phương cũng hết lời ca ngợi những cuộc chiến đấu đơn lẻ, tạo nên thiên anh hùng ca bi tráng trong ngày cuối cùng của Tháng Tư Đen. Như cuộc chống cự của Thiếu Sinh Quân ở Vũng Tầu. Của những đơn vị Nhảy Dù ở khu Lăng Cha Cả. Của anh em Biệt Kích 81 ở Bộ Tổng Tham Mưu. Của các chiến sĩ Biệt Động Quân ở dốc Cầu Xa Lộ. Của những Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt trong quân phục đại lễ nơi một góc phố thủ đô… rất nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ QLVNCH và Cảnh sát Quốc gia đã tự sát tập thể vì tuyệt vọng và phẫn nộ trước cuộc đầu hàng nhục nhã của Dương Văn Minh. Chưa kể đến sự tuẫn tiết của các tướng Nguyễn Khoa Nam, tướng Lê Văn Hưng, tướng Phạm Văn Phú, tướng Trần Văn Hai, tướng Lê Nguyên Vỹ và những sĩ quan chỉ huy các đơn vị tác chiến khác…



Ba mươi năm đã trôi qua. Người ta nói hoài đến con số 58 ngàn lính Mỹ chết và mất tích trên chiến trường Việt Nam. Việt cộng đưa ra con số tổn thất nhân mạng là một triệu 400 ngàn bộ đội của chúng. Phía Việt Nam Cộng Hòa, không ai truy cứu để đưa ra một con số chính xác, bao nhiêu binh sĩ của chúng ta tử trận, bao nhiêu đồng bào, cán bộ chính quyền của chúng ta bị sát hại trong cuộc chiến? Chúng ta bị thế giới cố tình bỏ quên. Bị cộng sản đê tiện trả thù, đầy đọa người sống trong trại tù cải tạo và quật mồ người chết để thỏa mãn cái tâm địa man rợ của loài lang sói.



Nhân kỷ niệm Ngày Quân Lực, chúng ta, những người lính chiến VNCH cũ, hãy cùng nhau chiêm nghiệm, không phải để “tự cho mình là những người mất nước tìm cách phục quốc, hay để tự nhận là những người thất trận tìm cách trả thù, phục hận..” Và càng không thể là “những người Quốc gia đã được “điều kiện hóa” để xem chống cộng là cứu cánh…” như một số người trong chính hàng ngũ chúng ta – đau đớn thay – đã hòa nhịp với kẻ địch, công khai sỉ nhục quân đội.



Chúng ta hãy dõng dạc nói thẳng cho những con người đó, thù cũng như bạn, biết rằng lý tưởng và cứu cánh của người lính chúng ta không phải là thù và oán. Lý tưởng Quốc gia Dân tộc là một tình cảm tự nhiên, thiêng liêng cao cả trong trong trái tim con người, không thể đem “điều kiện hóa” như thí nghiệm vào loài chó của Palov, như thủ đoạn tẩy não phi nhân của cộng sản. Lý tưởng và cứu cánh đó bao giờ cũng là chu toàn ước vọng đem lại đời sống thanh bình an lạc, đem lại tự do dân chủ, no ấm và hạnh phúc cho toàn dân. Kẻ nào xâm phạm đến phúc lợi và ước vọng đó của dân tộc, chúng ta có bổn phận ngăn chặn, dù đó là cộng sản hay bất cứ một thế lực nào khác.



Chúng ta, những người lính VNCH sống còn sau cuộc chiến và thoát khỏi bàn tay đê tiện của kẻ thù, xin hãy nghĩ nhớ đến anh em đồng đội, hồi niệm và tri ơn những người đã nằm xuống cho chúng ta được sống. Hãy cùng nhau đốt lên một ngọn lửa, soi sáng một niềm tin, giữ vững tinh thần và ý chí, làm sánh danh Quân lực, làm rõ ràng Chính nghĩa Quốc gia và hãy vẽ lại chân dung đích thực của người lính VNCH, những người con yêu của đất nước, dù đã đi vào miền Vĩnh cửu nhưng hình ảnh cùng những chiến công vẫn hằng hằng sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam ta.



Chúng ta hãy cùng nhau chiêu niệm quê hương, chiêu niệm hồn tiên liệt và khí thiêng sông núi, cầu mong sớm có một ngày vinh hiển trở về nhìn lại quê cha đất tổ, như trong lời Hịch Bình Ngô:



“…Giang sơn từ nay mở hội

Xã tắc từ nay vững bền

Nhật nguyệt hối rồi lại minh

Kiền khôn bỉ rồi lại thái

Nền vạn thế xây nên chăn chắn

Thẹn nghìn thu rửa sạch làu làu

Đó là nhờ trời đất tổ tiên khôn thiêng che chở

Và giúp đỡ cho chúng ta vậy…”



Đào Vũ Anh Hùng[/quote]

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tâm Sự Phan Nhật Nam
Năm em lên ba, bố tôi bỏ lại người vợ trẻ và hai đứa con thơ lên đường tập kết. Tôi hơn em sáu tuổi. Chín tuổi con nhà nghèo khôn lắm, tôi đủ khôn để thấy khuôn mặt mẹ buồn hiu hắt, những tiếng thở dài và những giọt nước mắt âm thầm của mẹ trong đêm. Chín tuổi, tôi đã biết mình là người nam độc nhất trong gia đình, đã biết ẩm bồng đút cơm cho em và vỗ về em mỗi khi em khóc. Chín tuổi, tôi đã biết tắm rửa, thay áo thay quần cho em, cõng em đi chơi và dỗ cho em ngủ. Mỗi ngày, trời sập tối mẹ mới gánh hàng về, ba mẹ con ngôì ăn cơm bên ngọn đèn dầu, tôi và em hỏi han, an ủi mẹ. Mẹ kể cho chúng tôi nghe chuyện chợ búa như đang nói chuyện với người lớn, tôi ngồi nghe, nhìn đôi vai gầy của mẹ, nhìn mái tóc và đôi bàn tay khô của mẹ, mà thấy thương mẹ vô cùng.

Tôi phải bỏ học ở nhà hai năm để trông chừng em. Mẹ có một sạp bán rau cải ở chơ. Cồn. Gọi là sạp chứ thực ra chỉ là một ô đất nhỏ, sáng mẹ ra đi thật sớm, lúc trời còn mờ sương, buổi trưa mẹ về nhà lo cho chúng tôi ăn, nằm nghỉ ít phút rồi trở dậy sửa soạn cho chuyến chợ chiều. Một tuần bảy ngày, mẹ đi đi về về trong nỗi cô đơn. Năm em vừa tròn năm tuổi thì mẹ cho em vào mẫu giáo, tôi cũng trở lại trường, đám bạn cũ của tôi nay đã hơn tôi hai lớp, ngồi xung quanh tôi bây giờ là những khuôn mặt lạ, kém tôi hai, ba tuổi. Tôi là học trò lớn nhất và học khá nên được làm trưởng lớp. Gần cuối năm học lớp nhì, tôi nói với mẹ lên xin thầy Hiệu trưởng cho tôi được thi nhảy tiểu học. Thầy bằng lòng. Tôi cắm cúi học luyện thi và kết qủa là tôi đã đỗ được bằng tiểu học năm đó.

Vào lớp đệ thất trường Trần quốc Tuấn, tôi tiếp tục học ngày, học đêm, năm đệ ngũ tôi thi nhảy một lần nữa lấy bằng trung học. Đến niên học đệ tam thì tôi đã bắt kịp đám bạn cũ, tôi hân hoan nhập bầy chung với đám bạn ngày xưa. Đây là giai đoạn mà tôi cần tiền để mua sách học và may thêm quần áo, thời tiểu học và trung học đệ nhất cấp thì mặc sao cũng được, nhưng bây giờ đã lên đệ nhị cấp rồi, đã bắt đầu biết đỏ mặt khi nhìn những đứa con gái trường nữ, thỉnh thoảng đã biết theo bạn tập uống cafe, phì phà điếu thuốc. Tiền mẹ cho không đủ, tôi bắt đầu công việc kèm trẻ tư gia để kiếm thêm tiền. Học trò của tôi là mấy cô cậu đệ thất đệ lục, nghĩa là cũng chỉ bé thua tôi vài tuổi.

Ba mẹ con tôi vẫn ngày ngày đi về căn nhà nhỏ, căn nhà vẫn không thay đổi một chút nào từ ngày bố bỏ mấy mẹ con để ra đi. Hết năm đệ tam, tôi nộp đơn thi Tú Tài phần nhất. Tôi đậu bình thứ. Một lần nữa, mọi người ngạc nhiên, nhưng tôi biết sức học của mình, tôi biết mẹ buôn bán tảo tần, tôi thấy những năm tháng gần đây mẹ trở bệnh hoài, mỗi sáng mẹ lục đục dậy thật sớm nấu cơm để dành cho anh em tôi, rồi lặng lẽ mang đôi quang gánh lên vai, những tối ngồi trâm ngâm bên ánh đèn dầu nhìn anh em tôi học bài và những đêm khuya mẹ trở mình húng hắng ho. Tôi thương mẹ và em đến ứa nước mắt, và càng thương mẹ thương em, tôi càng học như điên, như cuồng. Tôi ước gì Bộ Giáo dục cho tôi thi hai bằng tú tài cùng một lúc. Nhìn mái tóc mẹ đã lớm chớm sợi bạc, nhìn lưng mẹ mỗi ngày mỗi như còng xuống, nhìn hai vai gầy của mẹ mà lòng quặn đau, và cứ thế, tôi vùi đầu vào sách vở...

Em đã bắt đầu tuổi lớn, đã bắt đầu tuổi mộng mơ con gái, đã bắt đầu bước vào "tuổi ngọc", nhưng tội nghiệp, biết nhà mình nghèo, biết mẹ mình buôn thúng bán bưng, biết anh mình vẫn chiều chiều đi kèm trẻ kiếm thêm tiền và cặm cụi học đốt giai đoạn cho chóng thành tài. Biết thế nên em ít khi nào xin mẹ, xin anh tiền may áo mới, hai chiếc áo dài trắng đủ cho em thay đổi. Em lớn lên thiếu tình của bố, nên tôi "quyền huynh thế phụ". Nhiều lúc nhìn mẹ, nhìn em, tôi vẫn không hiểu tại sao bố lại đành đoạn dứt áo ra đi.

Tôi thi đỗ Tú Tài toàn phần năm 18 tuổi, và ra Huế học Đại học Văn khoa. Mẹ ở một mình với em ở Đà nẳng. Mỗi cuối tuần, tôi theo xe đò về thăm mẹ và em, đến sáng thứ hai trở lại trường. Ở Huế, tôi tiếp tục công việc kèm trẻ tư gia. Với số tiền nhỏ nhoi kiếm đuợc, tôi phụ mẹ một ít nuôi em. Qua sinh nhật thứ 13 của em mấy tháng, một chiều mẹ bỏ buổi chợ, về nhà than nhức đầu, tưởng là cảm nhẹ, mẹ sai em cạo gió và nấu cho mẹ bát cháo hành. Khuya đó mẹ lên cơn sốt, lảm nhảm nói mê, sáng hôm sau em nghỉ học chở mẹ vào nhà thương và nhờ người nhắn tin ra cho tôi ở Huế.

Lật đật trở vào Đà nẳng bằng chuyến xe đò chót. Trời tối đã lâu, không kịp ăn uống, từ bến xe tôi đi thẳng đến bệnh viện. Trong căn phòng nhỏ, dưới ánh đèn vàng mờ đục, mẹ nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, còn em đang ngồi ngủ gà ngủ gật cạnh giường. Đứng yên lặng nhìn mẹ xanh xao bất động, và khuôn mặt thơ dại của em, trong giấc ngủ hai khoé mắt vẫn còn long lanh giọt lệ, tôi nghe lòng mình quặn thắt. Đánh thức em dậy, em ngơ ngác dụi mắt vài giây. Nhận ra tôi, em nhào tới ôm chầm và oà lên khóc, em cho hay là từ lúc đưa mẹ vào đây, mẹ chỉ tỉnh lại một vài phút vào khoảng giữa trưa, sau đó mẹ hôn mê trở lại. Tôi an ủi em, rồi cùng em ra văn phòng bệnh viện. Cô y tá trực cho hay mẹ bị đứt một tỉnh mach ở đầu. Tôi bàng hoàng như bị ai nện một nhát búa vào ngực. Cô y tá bùi ngùi nhìn em, đôi mắt xót xa... Tối đó, anh em tôi cùng ở lại với mẹ, em mệt mỏi, nên chỉ một thoáng là đã ngủ say. Trong giấc ngủ mệt nhọc, thỉnh thoảng em ú ớ mẹ ơi, mẹ ơi rồi nức lên mấy tiếng. Tôi nghe như dao cắt trong lòng. Suốt đêm không ngủ, tôi cứ ngồi nhìn mẹ nằm im lìm và bên chân mẹ em ngủ chập chờn. Tôi tự nhủ thầm với mình đừng khóc, đừng khóc... nhưng sao nước mắt vẫn cứ trào ra, một tay ve vuốt bàn tay xanh xao của mẹ, một tay nắm lấy bàn tay nhỏ bé của em, tôi để mặc cho hai giòng nước mắt chảy nhạt nhoà trên má.

Mẹ thở hơi cuối cùng lúc năm giờ sáng, mẹ không tỉnh lại để trăn trối với hai con một lời gì. Mẹ đi trong yên lặng. Tôi nắm bàn tay mẹ và thấy tay mẹ lạnh dần. Tôi đánh thức em dậy. Hai anh em hôn lên trán mẹ giả từ. Em vuốt mắt mẹ. Mắt mẹ nhắm hờ. Em ôm chặt hai tay mẹ, ủ vào lòng mình miệng kêu lên nho nhỏ: mẹ ơi, mẹ ơi... Em khóc lặng lẽ, áp mình vào ngực mẹ nước mắt em tuôn ràn rụa làm ướt đẩm cả vạt áo me bạc màu. Những tiếng kêu nghẹn ngào của em như những viên đạn bắn thẳng vào tim, tôi ngồi bất động nhìn mẹ, nhìn em, lòng đau như muối xát. Tội nghiệp mẹ tôi, tội nghiệp em tôi. Em mới mười ba tuổi...

Chôn mẹ xong, tôi bỏ học. Còn lòng dạ nào mà học nữa. Nhưng em thì phải trở lại trường. Bán đi căn nhà nhỏ xiêu vẹo và gom tóm tất cả vốn liếng của mẹ để lại, tôi đưa hết số tiền cho mẹ của Minh, một người bạn thân tôi. Minh có Hân, cô em gái cùng tuổi, cùng lớp với em. Tôi gửi em đến đó ở và đi học với Hân, cũng may, bố mẹ Minh coi anh em tôi như con. Tôi dặn dò em đủ điều. Số tiền tôi gởi cho me. Minh đủ để trả tiền ăn ở của em trong hai ba năm. Tôi còn đưa thêm cho em một ít để em mua sách vở, may áo quần, tiêu vặt. Tôi ôm em và hứa với lòng, hứa với vong hồn mẹ là sẽ lo lắng, sẽ bảo bọc em cho đến trọn đời.

Tôi vào trường Võ Bị Đà Lạt năm 20 tuổi, lương sinh viên sĩ quan ít ỏi, tôi tiết kiệm không dám xài nhiều, để dành gởi về cho em mỗi tháng. Tôi dặn em viết thư mỗi tuần kể cho tôi nghe chuyện học hành. Tôi bắt em hứa là không bao gi dấu tôi một điều gì dù nhỏ bé. Em ngoan ngoãn vâng lời. Mỗi năm tôi được về phép một lần, hai anh em quấn quýt không rời. Tôi đưa em đi thăm mẹ. Chúng tôi lặng yên cầm tay nhau quỳ bên mộ mẹ, nước mắt lưng tròng. Em lớn lên và ngày càng giống mẹ. Cũng khuôn mặt và cái nhìn nhẫn nhục, cũng đôi mắt xa xăm buồn hiu hắt. Bình thường em rất ít nói, có lẽ không cha, mồ côi mẹ quá sớm và anh lại ở xa đã làm em rụt rè. Cũng may, bên cạnh em vẫn còn có Hân. Lễ mãn khoá của tôi, em và Hân cùng lên tham dự, lúc này, em đã thi đổ vào trường Sư phạm Qui Nhơn, hai năm nửa em sẽ trở thành cô giáo, tôi hãnh diện giới thiệu em và Hân với các bạn mình. Nhìn dáng em thẹn thùng e ấp, tôi thấy lòng mình rạt rào thương em. Tôi thầm gọi mẹ, mẹ ơi, hai con của mẹ đã trưởng thành và đã nên người.

Ra trường, tôi chọn binh chủng nhảy dù, có lẽ cũng chỉ vì tôi thích màu mũ đỏ. Em vào học và ở nội trú trong trường sư phạm. Tôi thấy mình yên tâm hơn. Mỗi tháng, tôi vẫn gửi về cho em một nửa tiền lương lính của mình để trả tiền phòng, tiền ăn. Tôi biết con gái cần nhiều thứ hơn con trai, như áo quần, son phấn... Em vẫn viết thư cho tôi mỗi tuần như em đã làm trong mấy năm qua. Em kể chuyện học hành, chuyện bạn bè, em lo sợ là tôi đi tác chiến nhở có ngày bố con gặp nhau ở chiến trường, làm sao nhận ra nhau, em không nói thêm, nhưng tôi cũng hiểu, tên đạn vô tình, nếu nhỡ....

Hai năm em học Sư Phạm trôi qua thật nhanh. Em bây giờ đã là một cô giáo trẻ. Em được đổi về dạy tại một trường tiểu học gần thị xã Phan Rang. Em thuê nhà chung với hai cô giáo khác. Mỗi ngày ba cô giáo ngồi xe lam đi đến lớp, chiều về cả ba cùng quây quần nấu nướng. Em viết thư cho tôi và khoe có quen với Tuấn, một sĩ quan Hải quân đồn trú ở Phan Rang. Em khen Tuấn hiền lành, ít nói. Em kể thêm là Tuấn chỉ còn có mỗi một mẹ già. Chiến tranh ngày thêm khốc liệt, đơn vị tôi hành quân liên miên, có khi cả năm chúng tôi mới được về hậu cứ một lần. Tôi bị thương hai lần trong cùng một năm.

Tôi dấu em, không cho em biết sợ em lo lắng. Trong những tuần lể nằm bệnh viện và ở hậu cứ dưỡng thương, tôi bắt đầu viết bài đăng trên các báo và tạp chí. Tôi kể lại những trận đụng độ kinh hoàng giữa đơn vị tôi và giặc Cộng, tôi kể lại những "kỳ tích" của bạn tôi, của Mễ, của Lô... Sau một lần bị thương nhẹ ở tay, tôi lấy mấy ngày phép ra Phan Rang thăm em. Em mừng rỡ ôm lấy anh, nhưng khi thấy cánh tay băng bột em xót xa bật khóc. Tôi an ủi em là biết đâu sau chuyến bị thương này tôi sẽ được về làm việc hậu cứ. Ngày hôm sau, nghe tin, Tuấn đến thăm. Thoạt nhìn, tôi đã có cảm tình với Tuấn, đúng như em nói, Tuấn trông rất hiền lành. Trong suốt tuần lể ở Phan Rang, em vẫn phải đi dạy, nhưng may là có Tuấn, mỗi ngày Tuấn tới chở tôi đi ăn sáng, trưa Tuấn và tôi lang thang ra chợ bạ gì ăn đó đợi giờ ba cô giáo đi dạy học về. Buổi tối, em đi ngủ sớm, Tuấn ngồi lại nói chuyện với tôi cho tới khuya. Bên ly cafe, tôi kể cho Tuấn nghe chuyện của mình. Những hình ảnh yêu dấu, xót xa như một cuộn phim củ quay chầm chậm. Tôi rưng rưng kể lại ngày mẹ mất. Tuấn lấy tay chùi mắt, trong đêm tối, tôi thấy mắt Tuấn long lanh...

Bảy ngày phép cũng trôi nhanh. Tôi trở về Sài Gòn, lòng cảm thấy vui và nhẹ nhàng vì đã có dịp gặp Tuấn. Tôi tin Tuấn sẽ không làm khổ em. Ba tuần sau, tôi nhận được thư Tuấn, trong thư Tuấn kể về gia đình (mặc dù tôi đã nghe em kể trong các lá thư). Tuấn muốn tiến tới với em. Tuấn xin phép được đưa mẹ Tuấn đến gặp tôi. Tuấn hứa là sẽ săn sóc và thương yêu em. Đọc thư Tuấn tôi ứa nước mắt vì mừng. Mừng cho em may mắn không gặp những trắc trở trên đường tình ái, mừng cho em gặp được một người chồng hiền hậu.

Tôi viết thư cho em và Tuấn, bảo hai em lo thế nào cho tiện, chỉ cố làm sao cho giản đơn vì cả hai đứa cùng nghèo. Bốn tháng sau, Tuấn và em làm đám cưới, nhà gái ngoài tôi còn có thêm mấy thằng bạn trong đơn vị, ông hiệu trưởng, thầy cô giáo và rất đông học trò. Nhà trai ngoài mẹ Tuấn, mấy gia đình anh chị họ còn thêm một số bạn bè Hải quân cùng đơn vị. Nhìn em súng sính trong bộ đồ cưới, tươi cười đứng bên cạnh Tuấn, tôi gọi thầm mẹ ơi, mẹ ơi, về đây dự đám cưới của em.

Tôi theo đơn vị lội thêm hai năm nửa ở vùng giới tuyến, thì "tai nạn" xảy ra. Trong một lúc nóng giận vì thấy ông xếp của mình sao ngu và bẩn quá, tôi không giữ được lời và đã xúc phạm đến ông, kết quả là tôi bị đưa ra hội đồng kỷ luật và tống ra khỏi binh chủng nhảy dù.

Sau một thời gian ba chìm bảy nổi, tôi đổi về cục Tâm Lý Chiến, thời gian này tôi đã khá nổi tiếng, những bút ký chiến trường về Tết Mậu Thân, Bình Long. An Lộc... đã làm vinh danh binh chủng cũ của tôi. Tôi được giải thưởng văn học với bút ký "Mùa hè đỏ lửa". Tiền thưởng và tiền bán sách tôi gửi hết cho em. Tuấn và em dùng tiền này mua được một căn nhà nhỏ ở ngoại ô Phan Rang, gần trường em dạy. Mới ngày nào đó còn thẹn thùng nấp bên vai Tuấn mà bây giờ em đã mấy con. Mỗi dịp rãnh rỗi tôi lại ra Phan Rang ở chơi với em, với cháu. Tôi ôm cháu, hôn vào hai má phúng phính, hít vào phổi mùi thơm của trẻ thơ mà thấy lòng mình dịu lại, những cay đắng, cực nhọc của đời theo tiếng cười lanh lãnh dòn tan của cháu mà bay xa, bay xa. Tôi nhìn hai vợ chồng em, nhìn bầy cháu nhỏ lẫm chẫm quây quần bên chân mẹ mà lòng vừa vui mừng vừa hãnh diện. Tôi ao uớc mẹ tôi nhìn thấy được cảnh này.

Biến cố tháng 4/75 tới như một định mệnh oan nghiệt, cả Tuấn và tôi đều phải ra trình diện cải tạo. Em ở lại một mình với một bầy con nhỏ, đứa lớn nhất chưa đầy sáu tuổi và đứa nhỏ nhất còn nằm trong bụng mẹ. Trong trại, tôi cứ đứt ruột nghĩ về em và bầy cháu nhỏ. Mẹ của Tuấn đã qúa già, làm sao lo phụ với em đây. Rồi em còn phải lo lắng về số phận chồng, số phận anh. Tôi quay quắt như như ngồi trên đống lửa, tôi nghĩ đến lời hứa với vong hồn mẹ hôm nào mà lòng đau như xé, con đã thất hứa với mẹ, mẹ ơi, con đang ở đây tù tội thì làm sao lo được cho em... Năm 76 tôi bị đưa ra Bắc. Tôi mất liên lạc với em và Tuấn từ tháng 5/75. Làm sao em biết tôi ở đâu mà thư từ thăm gửi. Không biết em có biết Tuấn ở đâu không, trại tù mọc lên như nấm từ Nam ra Bắc. Hồi còn ở trong Nam, từ Trảng lớn, qua Suối máu , đâu đâu tôi cũng cố dò hỏi tin Tuấn nhưng vô hiệu. Tù nhân đông quá... Trại cải tạo Sơn La, sau đợt cho viết thư về gia đình đầu tiên, ba tháng sau tôi nhận được thư em.Thư em đến tay tôi vào giữa năm 77. Hơn 2 năm 1 tháng tôi mới nhìn lại nét chữ của em. Run run bóc thư, mắt tôi cay nồng, nhạt nhoà. Em cho hay là Tuấn đang cải tạo ở Long Thành, Tuấn có thư về và cho biết vẫn bình an, mẹ Tuấn dạo này yếu lắm vì cụ đã quá già, em vẫn đi dạy, hai cháu nhỏ ở nhà với bà nội, hai cháu lớn theo mẹ vào trường, em cho hay đứa con gái út em đặt tên Tâm, Trần thị Minh Tâm, cháu sinh ngày 12 tháng 9 năm 75, gần 4 tháng sau ngày bố cháu và bác cháu vào tù.

Gần cuối thư, em báo tin là bố còn sống và hồi đầu năm 76 có tìm đến gặp em, làm sao bố tìm ra địa chỉ thì em không biết, nhưng hôm ấy bố đến, bố tự giới thiệu tên mình. Em ngỡ ngàng, ngày bố ra đi em mới tròn ba tuổi, hơn hai mươi năm sau gặp lại làm sao em nhận được, bố xoa đầu đám cháu ngoại đang trố mắt nhìn nguời đàn ông lạ, bố hỏi về anh, về Tuấn, khi em hỏi lại bố là làm sao để biết anh và Tuấn đang bị giam giữ ở trại cải tạo nào, bố lắc đầu không nói gì. Bố cho hay là bố đang có gia đình ở Bắc, ngoài ấy bố có thêm hai trai và hai gái. Đứa trai lớn nhất thua em bốn tuổi. Bố mang vào cho em hai mươi ký gạo và một chục cam. Bố ở chơi một ngày rồi bố trở về Hà nội. Lúc bố về em có tặng bố cái radio-cassette của anh cho ngày nào. Bố thích lắm, bố hứa sẽ đến thăm anh trong trại tù. Từ hồi trở ra Bắc dến giờ bố chưa liên lạc lại với em, và em cũng không có địa chỉ của bố ở ngoài ấy.

Tôi đọc thư lòng thấy phân vân, tôi cũng như em, không hình dung ra nổi bố tôi hình dáng mặt mũi ra sao, hai mươi mấy năm, tôi tưởng bố tôi đã chết. Tháng 12 năm 77, tại trại cải tạo Sơn La, bố đến thăm tôi. Đứng trong văn phòng viên sĩ quan trưởng trại một người đàn ông trung niên, tóc muối tiêu và gương mặt xương. Bộ áo quần dân sự khá thẳng thớm, và sự lễ phép của tên đại úy truởng trại tiết lộ về điạ vị không nhỏ của người này. Thấy tôi vào, viên trưởng trại quay qua nói nhỏ một câu gì đó rồi bước ra ngoài. Tôi im lặng đứng nhìn người đàn ông xa lạ. Bố đến bắt tay tôi, tự xưng tên mình, bố gọi tôi bằng anh, bố kể là đã gặp em ở Phan Rang, bố hỏi tôi học tập thế nào, bố không hề nhắc đến mẹ, có lẽ ông đã biết về cái chết của mẹ. Bố nói là có đọc văn tôi. Tôi ngồi yên nghe bố nói, sau cùng, bố đứng dậy, móc trong xách ra một gói nhỏ bảo đó là đường và thuốc lá, trao cho tôi, khuyên tôi cố gắng học tập tốt để sớm được khoan hồng. Tôi nhìn vào mắt bố, lòng thấy dững dưng. Tôi bắt tay bố rồi về lại lán mình. Đó, cuộc hội ngộ của bố con tôi sau hơn hai mươi năm là thế đấy. Chắc cuộc tái ngộ giữa bố với em cũng tẻ nhạt như thế. Có cái gì đó ngăn cách, có cái gì đó phân chia, có cái gì đó tôi không hiểu và không diễn tả được. Bây gi tôi hiểu vì sao cái tin quan trọng đến thế mà em lại chỉ đề cập một cách ngắn ngủi ở cuối thư. Lần đó là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi gặp bố trong suốt 13 năm lang thang trong các trại tù biệt giam miền Bắc.

Tháng 12/78, chuyển trại lên Yên Bái, tôi nhận thêm được hai lá thư của em, trong bức thư gần nhất, em viết vào tháng 8/78. Em cho hay tình trạng rất khó khăn, phụ cấp đi dạy không đủ nuôi một mẹ già và bốn con thơ, em đã bán lần mòn hết những đồ trang sức và luôn cả những đồ vật trong nhà. Em vẫn chưa đi thăm nuôi Tuấn được một lần nào. Không thể để bốn cháu nhỏ ở nhà cho bà nội vì cụ bây giờ đã quá yếu, mỗi buổi ăn, Uyên, cháu lớn phải đút cho bà. Ngoài ra, mỗi tối, từ lúc chạng vạng em và Hoàng, hai mẹ con phải ra đầu ngõ, ngồi bán bắp nướng đến khuya để kiếm thêm tiền đong gạo. Em than là dạo này mất ngủ, sức khoẻ yếu lắm, em sợ nhở có mệnh hệ nào... Tôi thẩn thờ cả buổi vì bức thư em, ngày xưa tôi chỉ lo cho có mỗi mình em, còn bây giờ em phải lo cho bốn đứa con thơ và một mẹ già, kể luôn người chồng và ông anh đang tù tội là bảy, bảy cây thập giá đời đang đè nặng lên đôi vai gầy guộc, nhỏ bé của em. Tôi viết thư về an ủi, khuyên em cố gắng, tôi vỗ về em là có thể Tuấn sẽ được tha về sớm với em, với cháu, vì Tuấn đi hải quân và lon còn thấp, không có tội với "cách mạng" nhiều. Rồi tôi viết thêm cho em hai ba lá thư nữa mà vẫn không thấy hồi âm. Lòng tôi cồn cào, nóng như lửa đốt, những ngày dài tù tội, tôi không nghĩ đến cái đói, cái khổ của mình mà chỉ nghĩ đến em và mấy cháu, không biết giờ này, em và bốn cháu thơ dại đang có gì ăn ?

Tháng 6/79, một sáng trên đường lên rừng đốn nứa, tôi nghe loáng thoáng câu chuyện giữa các bạn tù. Họ nghe từ các bà vợ đi thăm nuôi kể lại, rằng ở Phan Rang có một chị có chồng đang đi cải tạo, chị chết đi, để lại bốn con thơ, đứa bé nhất mới lên ba, còn đứa lớn nhất chưa đầy chín tuổi. Tội nghiệp, họ hàng nội ngoại không có một ai. Tôi bỗng dưng thấy lạnh toát cả sống lưng, lại gần hỏi thêm thì người bạn tù cho hay là nghe nói chị ấy làm nghề cô giáo, có chồng sĩ quan hải quân đang đi tù cải tạo ở đâu đó trong Nam. Người chồng, trung úy hải quân trước cũng đóng ở Phan Rang. Trần Nguyên Tuấn, hải quân trung uý Trần nguyên Tuấn. Tôi thấy đất trời đảo lộn, tôi thấy mặt trời nổ tung trong óc, tôi hụt hơi, miệng há hốc đứng như trời trồng giữa núi rừng Yên Bái, bên cạnh tôi tiếng nguời nói lao xao. Tôi không nghe gì hết, tai tôi lùng bùng, mắt tôi mờ đi, tôi đang nhìn thấy xác em nằm co quắp trên manh chiếu, bốn đứa cháu của tôi, cháu Minh Tâm chưa đầy ba tuổi đang lấy tay lay lay xác mẹ, cháu lớn Thu Uyên chưa đủ chín tuổi đang ôm chân mẹ khóc lóc ủ ê, hai đứa kia, Hoàng và Châu ngơ ngác đứng nhìn. Trời tháng 6 mùa hè Yên bái mà sao tôi thấy thân mình lạnh buốt. Tôi tê dại, tôi hoá đá, tôi không còn cảm xúc, tôi muốn hét lên cho tan vỡ cả vũ trụ này. Trong lung linh màu nắng vàng buổi trưa Yên Bái, tôi thấy bóng em nhập nhoà, chập chờn. Em của tôi, đứa em côi cút của tôi...

Mũi súng AK thúc vào cạnh sườn, người vệ binh chắc cũng ngạc nhiên không hiểu sao bỗng dưng tôi đứng như trời trồng giữa lộ. Anh quắc mắt nhìn tôi dò hỏi, tôi không nói gì, im lặng nhập vào dòng tù. Nước mắt chảy dài trên hai má hóp, tôi bước đi như kẻ mộng du...

Lê Lang
diễn giải văn xuôi
dựa theo bài thơ "Em Tôi" của Phan Nhật Nam

Post Reply