Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Về buổi hàn huyên với Cung Trầm Tưởng tại Virginia

Trịnh Bình An

Chủ Nhật, ngày 28 tháng 10 năm 2012, tại nhà hàng Harvest Moon,Virginia (USA) người gốc Việt có dịp tụ hội trong một buổi “Ăn trưa và hàn huyên với thi sĩ Cung Trầm Tưởng nhân dịp phát hành thi tập ‘Một Hành Trình Thơ 1948-2008’”.

Từ lâu, dường như đã thành lệ, các buổi ca nhạc gây quỹ thường được tổ chức tại các nhà hàng còn các buổi ra mắt sách thường được tổ chức ở các trường học hay trung tâm văn hóa, nhưng buổi ra mắt sách của Cung Trầm Tưởng là một ngoại lệ. Có lẽ bắt đầu từ ý tưởng của Ban Tổ Chức nhằm tạo một bầu không khí vui tươi và ấm cúng giữa bạn yêu thơ và nhà thơ, vì thế buổi ra mắt sách trở thành một bữa cơm thân mật có văn nghệ giúp vui thay vì chỉ có các diễn giả cầm mích trên bục.

Ý tưởng này tỏ ra thành công khi số lượng khách tham dự lên đến trên 300, ngồi kín nhà hàng vốn thường là nơi tổ chức đám cưới. Chương trình gồm có: ăn trước, kế đến vừa ăn vừa nghe ca hát, ngâm thơ; sau cùng là hội thoại với nhà thơ Cung Trầm Tưởng.

Buổi trưa ai nấy đói bụng, món ăn nóng sốt lại rất hợp khẩu vị nên được mọi người chiếu cố nồng nhiệt. Ông Hoàng Song Liêm giới thiệu ông Cung Trầm Tưởng vì ông Liêm vừa là bạn ngày nhỏ, vừa là chiến hữu binh chủng Không quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và cũng là người làm thơ.
Image
(Từ trái) Cung Trầm Tưởng, Hoàng Song Liêm, Uyên Thao

Khách đến tham dự đa số là lớp người cỡ... Cung Trầm Tưởng, nghĩa là từ 55 đến 85. Người trẻ có mặt, đáng ngạc nhiên, lại là những ca nhạc sĩ trình diễn. Thấy những bạn trẻ ngâm thơ say sưa hẳn những người bậc cha chú không khỏi bồi hồi cảm mến, hy vọng vào một thế hệ con cháu không bỏ quên nguồn cội.
Bà con được dịp thưởng thức nhiều thi phẩm và nhạc phẩm (thơ phổ nhạc) của Cung Trầm Tưởng gồm có: Tiễn em, Kiếp sau, Vô vàn, Bên ni bên nớ, Mùa thu Paris, Chiều đông, Lũng kín, Ta còn yêu ta và Vạn Vạn Lý. Ban nhạc khá hùng hậu với keyboard, violon, sáo, guitar và piano. Được biết các nhạc sĩ và ca sĩ còn là những tình nguyện viên thường xuyên có mặt trong các sinh hoạt cộng đồng người Việt vùng Washington DC-Maryland-Virginia.

Phần ca nhạc tuy hậu hĩnh nhưng vì nằm trong một khuôn khổ thời giờ hạn hẹp của chương trình nên dẫn đến kết cục đáng tiếc: phần trò chuyện với Cung Trầm Tưởng thành ra quá ngắn. Chính nhà thơ đã phải cắt bỏ phần phát biểu của ông, còn phần Hỏi-Đáp với đồng hương cũng chẳng trọn vẹn, nhiều người không có dịp hỏi chuyện nhà thơ, như ông Lê Thiệp (1), đã giơ tay rồi nhưng đợi mãi vẫn không tới lượt.

Điều đáng tiếc khác là non nửa khách tham dự đã bỏ ra về trước khi tan tiệc. Hình ảnh một bữa tiệc chưa tàn mà đã vãn có cái gì đó vừa kỳ cục vừa chua chát. Với tư cách là người tham dự, người viết xin đưa ra một vài nhận xét như sau:

Trước hết, cần kể đến những người tổ chức. Phải công tâm mà nói buổi họp mặt có được là nhờ nhiệt tình của rất nhiều người, đó là những thành viên trong Ban Tổ Chức, những vị có tên được in trên giấy và cả những vị có tên nhưng không quản công lao lo lắng cho mọi việc từ nhỏ cho tới lớn như vẽ phông sân khấu, ngồi bán vé, cắm hoa trang trí, v.v. Tất cả đều nhằm tỏ lòng quý mến và biết ơn tới Cung Trầm Tưởng - người đã góp phần đưa thi ca miền Nam tiến lên giai đoạn cởi mở và phóng khoáng hơn.
Image
Cung Trầm Tưởng

Với một bữa cơm Tàu 7 món với đủ tôm, cá, gà, rau… người ít đi ăn bên ngoài cũng biết là số tiền 20 đôla một người chỉ vừa đủ chi trả cho nhà hàng. Người viết nghe lỏm được rằng BTC tuy biết vậy nhưng vẫn ráng giữ giá rẻ với mong mỏi số khách đến sẽ đông hòng làm vui lòng người đến tự phương xa. Các chi phí còn lại như trang trí sân khấu, in thiệp mời, quảng cáo… may mắn thay, đã được một số vị hảo tâm ủng hộ nên dù không lời nhưng cũng không đến nỗi bị lỗ.

Về phía ban văn nghệ và điều hợp chương trình. Ban nhạc và các nghệ sĩ – như đã nói ở trên – chứng tỏ một sự tập dượt hết sức công phu. Tuy nhiên, có một vài điểm cần để ý.

Thứ nhất, dù tài năng cách mấy, nghệ sĩ nghiệp dư không cách chi hát hay bằng… YouTube, nhất là những bài thiên hạ đã hát mòn cả dĩa của Cung Trầm Tưởng – Phạm Duy. Vì thế dù rất thưởng thức và ngưỡng mộ nhưng sau khi nghe ào ạt 3, 4 bài sẽ thành bão hòa và người nghe thấm mệt.

Thứ hai, phần giới thiệu của các diễn giả và phần giới thiệu từng bài hát quá dài cho một chương trình vỏn vẹn chỉ có 3 tiếng. Vả lại, người ta đến cốt là để nghe Cung Trầm Tưởng nói chứ không phải để nghe người khác nói (những người đó ở sẵn đây, muốn nghe lúc nào chả được). Thêm nữa ai nấy đều biết thơ Cung Trầm Tưởng rồi (nên mới đến chứ), đâu cần có người làm một màn báo cáo về cái hay cái đẹp của thơ họ Cung nữa, hay, buồn cười hơn, kể lể về cái đẹp của mùa thu… Virginia!

Thứ ba, phần các vị bỏ về sớm. Những người ấy hẳn có lý do, hoặc không đủ kiên nhẫn, hoặc đường xa (sợ) ướt mưa vì cơn bão Sandy chờn vờn sát nách. Người viết (cũng vô tình nghe lỏm được) rằng nhiều người đã ngỏ ý yêu cầu cắt ngắn phần ca nhạc nhưng khi thấy vẫn tiếp tục ca thì họ tự xử bằng cách ra đi. Thế nhưng, dù với lý do gì đi nữa thì kiểu chạy làng giữa chừng để lại cảnh “người bỏ ra về, ghế chỏng chơ” (2) vẫn là điều không nên làm.

Nhưng gì thì gì, “kép đẹp” Cung Trầm Tưởng vẫn tỏ ra vui như Tết từ đầu đến cuối. Ông chăm chú lắng nghe ngâm thơ, đàn hát. Đến bài Vạn Vạn Lý – một bài thơ phổ nhạc có tiết tấu hùng tráng – ông vỗ tay đệm theo và cuối cùng, đứng bật dậy tiến lên sân khấu bắt tay cám ơn ban nhạc.

Phần trò truyện với quan khách của nhà thơ cũng rất vui, rất thân tình.

Được biết, Cung Trầm Tưởng không hề biết đến cái com-pu-tơ là cái gì vì ông chưa bao giờ sử dụng email. Thật khó tưởng tượng ở thời đại iPad và ebook này lại có người không dùng đến keyboard và word trong việc sửa bản thảo. Trong suốt quá trình hoàn thành cuốn “Một Hành Trình Thơ”, mỗi lần cần chỉnh sửa, ông Uyên Thao phải in ra, gởi bằng đường bưu điện đến ông Tưởng, và rồi ông Tưởng sẽ đọc, sẽ sửa, và gởi lại qua “cánh chim” US Mail, để rồi ông Thao sẽ phải lui cui gõ lại vào máy; nói đó là một công trình quả cũng không ngoa.

Ấn tượng sâu đậm nhất qua một lần gặp Cung Trầm Tưởng là sự thoải mái, cởi mở và thẳng thắn của nhà thơ. Ở Cung Trầm Tưởng không hề có chút kênh kiệu hay làm ra vẻ bí ẩn của những “nhà” này, “lầu” nọ. Cung Trầm Tưởng nói thẳng (nhưng có vẻ buồn buồn) rằng vào tuổi ông thì chả cách gì làm thơ tình được nữa, và rằng người ta dù không thích lối thơ “trừu tượng” của ông nhưng cái nhìn siêu hình ở tuổi ông là cái không thể tránh khỏi. (3)
Image
Nguyễn Thị Thanh Bình

Sẽ thiếu sót nếu không nhắc đến một hạt sạn trong phần hàn huyên, nên chăng nếu gọi đó là “hiện tượng Nguyễn Thị Thanh Bình”? Đây là lần đầu tiên người viết được nhìn thấy nhân vật này. Một nhà thơ-văn trẻ, như lời đồn đại. Người viết đọc đâu đó thơ cô, khá cảm động với tấm lòng hướng về đất nước, nhưng thật không ngờ cô làm thơ đã dài mà nói cũng… dài luôn.

Cô Thanh Bình đứng lên đặt câu hỏi bằng cách kê khai một lô một lốc các thứ lục bát Du Tử Lê, Ngu Ý, hiện đại, hậu hiện đại, v.v và v.v . Cô nói dài tới mức thiên hạ bên dưới trợn mắt “oắt-đờ-heo”, thế rồi thiên hạ vỗ tay..., vậy mà cô vẫn nói, không ngừng. Rồi thiên hạ phải la to chị ơi, nói ngắn thôi. Cô tự xưng cô được cử làm đại diện cho giới (thơ) trẻ để đặt câu hỏi với giới (thơ) già. Cũng may, người ít tuổi (?) nhưng nói nhiều như cô hơi hiếm!

Tóm lại, buổi hàn huyên với Cung Trầm Tưởng tại nơi có mùa thu đẹp nhất nước Mỹ có phần đạt và phần chưa đạt, nhưng sự cố gắng to lớn của nhừng người tham gia tổ chức đã giúp cho mọi người có một buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật thoải mái, vui vẻ và đáng nhớ. Điều quý giá nhất là người đến tham dự có dịp có được cuốn “Một Hành Trình Thơ” với chữ ký của chính nhà thơ Cung Trầm Tưởng – người mà tên đã đi vào văn học sử Việt Nam.

Với những ai không có dịp trực tiếp nghe Cung Trầm Tưởng trò chuyện ngày hôm đó nên cảm thấy an ủi rằng họ vẫn có trong tay những gì tinh túy nhất của nhà thơ - “Một Hành Trình Thơ” (4) – để có lúc cầm lên, lật ra, đọc vài câu, lòng sẽ tràn ngập niềm vui vì thấy tiếng Việt ta sao mà đẹp đến thế.

Nguồn:
(1) – “Đọc Lững Thững Giữa Đời của Lê Thiệp” – Trịnh Bình An, DCVOnline.net
(2) – Thơ chế từ câu “Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không”, bài Đánh Đu của Hồ Xuân Hượng
(3) – “Nhà thơ Cung Trầm Tưởng ra mắt sách tại California” - YouTube
(4) – “Đọc Một Hành Trình Thơ của Cung Trầm Tưởng” – Trịnh Bình An, DCVOnline.net

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Ao Bà Om ở Trà Vinh

Nằm ngay cửa ngõ vào thành phố Trà Vinh, ao Bà Om tựa như “cô gái lễ tân”
giới thiệu cho du khách những nét đẹp đặc trưng của thành phố này.

Image
Ao Bà Om có hình vuông
Thành phố Trà Vinh vốn yên bình nằm bên bờ sông Cổ Chiên, một nhánh lớn của dòng Cửu Long đổ ra biển Đông. Trà Vinh thanh bình, đến nỗi nhiều du khách cảm thấy hoang vắng nếu đi dạo vào buổi tối. Nhắc đến Trà Vinh không thể không nghĩ đến những mái chùa Khmer cổ kính, những con đường rợp bóng cây dầu, cây me, cây sao... cổ thụ. Nhiều cây cối xanh mát, nên nhiều người ví von thành phố Trà Vinh như một “thành phố xanh”.

Những đặc điểm ấy của Trà Vinh đều xuất hiện ở ao Bà Om. Nằm ngay cửa ngõ vào thành phố, ao Bà Om tựa như “cô gái lễ tân” giới thiệu cho du khách những nét đẹp đặc trưng của thành phố Trà Vinh. Ao Bà Om cách trung tâm thành phố Trà Vinh khoảng 7km dọc theo quốc lộ 53 về phía Tây Nam, thuộc khóm 3, phường 8, thành phố Trà Vinh (trước đây là ấp Tà Cụ, xã Nguyệt Hóa, huyện Châu Thành).

Ao Bà Om còn gọi là ao Vuông, vì có hình vuông vức với mỗi chiều khoảng 500m. Ao rộng lắm, như một cái hồ thì đúng hơn. Quang cảnh quanh ao khoáng đãng, thơ mộng và yên tĩnh suốt cả ngày. Nước trong ao trong vắt, phẳng lặng được tô điểm bằng những đóa sen, bông súng. Bao quanh ao là những hàng cây dầu, cây sao cổ thụ cao vút vươn lên trời xanh; còn ở dưới đất thì trồi lên những rễ cây đủ hình thù lạ mắt, đặc sắc.

Hồ nước, hàng cây đã làm cho ao Bà Om tựa như một khu vườn rộng lớn, xanh ngát và mát rượi. Vì thế những đôi tình nhân, nhóm bạn trẻ hay gia đình đến đây hóng mát, vãn cảnh để tìm cảm giác thanh bình.

Quanh ao Bà Om, các cô gái Khmer, nước da ngăm đen đôi mắt sáng ngời, bán đậu phộng luộc, kem, cá viên chiên... Bên cạnh ao là Bảo tàng Văn hóa Khmer, nơi trưng bày những hiện vật trong cuộc sống người Khmer. Đối diện nhà bảo tàng là ngôi chùa Âng, một trong những ngôi chùa Khmer cổ nhất Trà Vinh. Và ngay như cái tên ao Bà Om cũng từ một tích truyện của dân tộc Khmer mà ra.

Chuyện kể rằng: Vị quan của xứ Thủy Chân Lạp cai quản ở đây muốn có một hồ nước để dùng trong mùa khô nên mới tổ chức cuộc thi đào ao chống khô hạn giữa hai bên nam, nữ. Trong một đêm bên nào đào ao nhanh, sâu và rộng hơn sẽ thắng. Bên nam ỷ sức mạnh trai tráng nên làm chểnh mảng, lo vui chơi ca hát. Còn bên nữ dưới sự chỉ huy của Bà Om, đã chăm chỉ đào xong ao trước khi mặt trời thức giấc. Và để trì hoãn quá trình đào ao của đối phương, Bà Om còn cho người đốt đèn treo cành cây để bên nam cứ tưởng là sao Hôm chưa lặn nên vô tư vui chơi, quên đào ao. Và ao do bên phái nữ đào vẫn còn đến ngày nay chính là ao Bà Om, trong khi ao của bên nam nằm kế bên quá nông, cạn nên sớm bị lấp mất.

Vào những ngày lễ tết hằng năm của dân tộc Khmer như lễ hội Ok Om Bok (rằm tháng mười âm lịch), nơi đây trở thành địa điểm sinh hoạt văn hóa náo nhiệt của cả một cộng đồng.

Từ câu chuyện truyền thuyết cho đến giá trị vật thể, văn hóa tinh thần của ao Bà Om đều có nét đặc trưng xứ Trà Vinh. Đến thăm ao Bà Om, không chỉ đơn thuần hóng cơn gió mát, ngắm vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên mà còn hiểu thêm một nền văn hóa đặc sắc của xứ Trà Vinh.

TRẦN NHƯ QUỲNH

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Cảm động người chồng xây 6000 bậc thang để cho vợ đi

Câu chuyện nổi tiếng có thật về tình yêu của hai ông bà lão ở Trùng Khánh, Trung Quốc đã khép lại ngày 30/10 vừa qua,
sau khi người vợ qua đời cách chồng 5 năm. Nhưng sẽ không ai có thể quên chuyện tình yêu vĩ đại đó.
50 năm trước, ở thôn Cao Than, thuộc huyện Giang Tân Trung Sơn, tỉnh Trùng Khánh, Trung Quốc chàng thôn dân Lưu Quốc Giang đã vô tình yêu một góa phụ hơn mình tới 10 tuổi - Từ Triều Thanh.

Cái thời xưa cũ ấy người ta cho anh ta là ngu dốt đã làm chuyện đại nghịch, xấu mặt người thân và xấu mặt cả thôn.

Nhưng những cản trở ấy không thể nào chia lìa được tình cảm lứa đôi, để tránh sự kỳ thị của người xung quanh,
Lưu Quốc Giang đành đưa người yêu vào tận sâu trong núi cao rừng thẳm, một đời tránh xa thị phi,
tránh để Triều Thanh thêm tổn thương trong cuộc sống.

Biết nơi chốn này là nguy hiểm, để đảm bảo cho người yêu mình an toàn khi đi ra ngoài
ông Lưu Quốc Giang đã mất một đời bận rộn xây một bậc thang dài xuyên suốt núi rừng.

Image

Bậc thang dài tới 6000 bậc đá, cheo leo từ độ cao 1500m so với mực nước biển tiến xuống văn minh,
người đời biết được liền đặt tên cho bậc thang này là “nấc thang tình yêu”.

Câu chuyện được lan truyền, đến năm 2006 cả Trung Quốc bình chọn câu chuyện này là “Câu chuyện tình yêu kinh điển Trung Hoa thời hiện đại”.

Đã hơn nửa thế kỷ bên nhau, ông lão Lưu Quốc Giang ngắm nhìn người bạn đời Từ Triều Thanh đầy thâm tình
khiến cho bất cứ ai thấy cũng ấm lòng, bởi một điều ông và vợ chính là minh chứng cho một tình yêu dũng cảm và tuyệt mỹ.

Image
Ảnh tư liệu năm 2006, một năm trước khi tuổi già và bệnh tật chia lìa tình yêu của hai người.
Từ Triều Thanh nhìn vợ ánh mắt trìu mến đầy thâm tình.


Lưu Quốc Giang lúc này đã hoàn thành hơn 6000 bậc thang dài nửa thế kỷ, mỗi ngày ông đều sửa chữa nó đảm bảo cho vợ đi được an toàn


Image
Hơn 50 năm dắt vợ đi trên những nấc thang này, không chỉ rất đẹp những nấc thang này còn mang đầy những tình cảm sâu nặng.


Image
Con trai của Lưu Quốc Giang và Trừ Triều Thanh lên núi thăm cha mẹ, anh coi bậc thang này thông thẳng tới trời xanh.


Image
Nuôi ong, nuôi gà, trồng rau, họ tự cung tự cấp sống cô lập giữa núi rừng.


Image
Mảnh giấy chứng nhận kết hôn nay đã mục nát, nhưng dù chỉ còn một chút vẫn chứa đựng bao hạnh phúc khiến cho hai cụ rạng ngời.

Image
Ngày 07 tháng 12 năm 2007 chồng qua đời, Từ Triều Thanh ngồi bất động bên linh cữu của người đã cùng mình hơn nửa cuộc đời.


Image
Tiếng pháo vọng lại, bà cụ thất thần nhìn ra cửa.

Image
Công cụ của Lưu Quốc Giang ngày còn sống vẫn dùng để xây nên những nấc thang thông thiên.

Image
Nước mắt không còn chảy được ngày chồng mất, nhưng nỗi buồn của bà cụ Từ Triều Thanh vẫn thấm sâu.

Qua đời ở tuổi 87, cuối cùng bà cũng đã theo người bạn đời của mình. Cảm động về câu chuyện này nhóm nhạc C Allstar của thành phố Hong Kong
đã sáng tác ra bài hát có tên là "Nấc thang thiên đường", mới được công bố đã đứng top nhiều tuần, giành được rất nhiều giải thưởng.
Câu chuyện này cũng được dựng thành phim năm 2010, đài truyền hình TVB công chiếu suốt một thời gian
khiến cho hàng triệu khán giả cảm động rơi lệ.

Image
6000 bậc thang mà ông Lưu Quốc Giang bỏ cả cuộc đời ra để xây cho vợ mình

Image
Ảnh chụp bà Từ Triều Thanh ở những ngày tháng cuối của cuộc đời, trên môi bà nở nụ cười mãn nguyện khi trong cuộc đời,
có một người chồng hết lòng yêu thương mình

Năm 2007 Lưu Quốc Giang qua đời, 5 năm sau cũng chính là ngày 30 tháng 10 vừa qua,
bà cụ Từ Triều Thanh cũng theo chồng tiếp tục một cuộc sống vĩnh hằng ở thế giới bên kia.
Câu chuyện tình yêu khép lại nhưng dư vị của nó để lại cho nhân gian không bao giờ tan biến,
con người qua đó mà có thêm một hy vọng về một tình yêu kiên định vĩnh hằng.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Hạnh Phúc Xót Xa
Tôi vô cùng ngạc nhiên, khi nhận được một thiệp mời đám cưới gởi qua đường bưu điện, danh tánh nhà trai, nhà gái và cả cô dâu chú rể đều xa lạ. Gần nửa giờ ngồi “điểm danh” tất cả bà con, bè bạn xa gần, vợ chồng tôi và mấy đứa con cũng chẳng tìm ra “tông tích” họ là ai. Nghe bạn bè kể lại, một số không ít người Việt mình thích có nhiều thực khách tham dự tiệc cưới của con cháu. Khách càng đông càng chứng tỏ được thế giá của gia đình. Vì vậy có người chỉ gặp ai ở đâu đó một lần thoáng qua, cũng có thể trở thành “quan viên” hai họ. Hơn nữa, ở cái vương quốc nhỏ bé và hiền lành này, muốn tìm ai, cứ việc mở cuốn điện thoại niên giám hoặc vào guleside gõ cái tên là có ngay số phone và địa chỉ. Cũng có thể là do một ông bà khách nào đó được mời nhưng hồi báo không thể tham dự được nên vợ chồng tôi được chọn để “điền vào chỗ trống cho có đầy đủ ý nghĩa” chăng?

Địa điểm tổ chức tiệc cưới là một nhà hàng Tàu sang trọng nằm ngoại ô thành phố Oslo, không xa nơi tôi ở. Ngày đám cưới còn hơn một tháng, nhưng lại đúng vào ngày mà vợ chồng tôi phải sang London thăm vợ chồng cô con gái và mừng thôi nôi thằng cu cháu ngoại. Vé máy bay đã “búc” rồi. Vợ chồng cô con gái cũng đã lấy hè để đón chúng tôi. Nên dù có biết cha mẹ hay cô dâu chú rể có tên trong thiệp mời chăng nữa, chúng tôi cũng không thể tham dự được, huống hồ lại là một người nào đó không quen. Thấy tôi phân vân, bà xã cầm tấm thiệp màu hồng vất vào kệ sách, lắc đầu bảo “forget it!”

Sáng thứ Bảy, một tuần sau đó, khi đang sửa soạn hành lý, nghe điện thoại reo, tôi bốc máy lên nghe, nhưng không thể nhận ra người bên kia đầu dây. Một người đàn bà, tự giới thiệu tên Bích, rất lễ phép khi hỏi đúng cả tên lẫn họ của tôi.

- Vâng, đúng là tôi, nhưng chị có thể nói rõ hơn về chị không ạ, vì xin lỗi tôi không nhớ ra.

- Em là Bích Kiều đây, Lê Thị Bích Kiều, mà khi mới sang Na-uy, anh làm thông dịch giúp em đó. Tên em trong thiệp mời đám cưới là Yvonne Bich, chắc anh chị đã nhận được. Em đổi tên này sau khi có quốc tịch Na-uy.
Tôi giật mình nhớ ra ngay. Mặc dù trong thời gian làm thông dịch, giúp khá nhiều bà con người Việt mới đến định cư, có biết bao nhiêu cái tên làm sao nhớ hết. Hơn nữa cũng đã hơn 25 năm rồi còn gì. Nhưng đặc biệt, Lê Thị Bích Kiều thì tôi không thể nào quên.


Sau khi thăm hỏi, Bích Kiều xin được đến thăm vợ chồng tôi vào lúc bốn giờ chiều. Cô bảo, gặp nhau sẽ có biết bao nhiêu điều muốn nói.
o O o
Thời gian còn ở trại tỵ nạn Bataan bên Phi Luật Tân, tôi may mắn được chọn làm phụ giảng cho các lớp học tiếng Nauy. Được thầy cô dạy kèm riêng, và nhờ phụ giúp mỗi ngày trong các lớp học cũng như làm thông dịch bất đắc dĩ cho những thuyền nhân mới đến đảo, nên tôi có một số vốn liếng tiếng Na-uy, một thứ ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với hầu hết người Việt nam lúc ấy. Và cũng nhờ cái vốn bì bõm này, khi sang định cư ở Na-uy, tôi được chọn làm thông dịch tạm thời cho Phòng Xã Hội và Sở Cảnh Sát thị xã, nơi gia đình tôi tạm cư. Thời gian này Na-uy nhận một số lượng khá đông thuyền nhân được tàu Na-uy vớt trên biển và một số trường hợp nhân đạo khác.

Nói là thông dịch chứ thực ra chỉ giúp bà con làm hồ sơ, khai lý lịch ở Sở Cảnh sát, xin trợ cấp ở Phòng Xã Hội, hoặc gặp bác sĩ, nha sĩ, hay vào bệnh viện khám và chữa bệnh. Cũng qua công việc này, tôi mới thấy rõ Na-uy là một quốc gia giàu lòng nhân đạo, mở rất rộng vòng tay, đối xử quá tốt với những người tỵ nạn mà họ cứu vớt, cưu mang. Công việc nhàn nhã mà lương bổng cũng khá, lại còn được cơ hội trau dồi ngôn ngữ mới, nên sau này, khi đã được chính thức nhận vào học và đi làm trong ngành ngân hàng bưu điện, tôi vẫn xin giữ cái “job” phụ này, nhưng chỉ làm thêm ngoài giờ hành chánh.

Tuy nhiên, bên cạnh những điều vui ấy, tôi cũng bị “tai nạn nghề nghiệp” không ít. Đặc biệt khi phải thông dịch cho những bà con mà tàu của họ bị bọn hải tặc tấn công. Nghe họ kể những cảnh nghiệt ngã, thương tâm trên biển, tôi vừa không nén được xúc động vừa ngại ngùng khi phải thông dịch lại bằng tiếng Na-uy. Hơn nữa lúc ấy tôi cũng chưa có đủ ngôn từ để diễn đạt những điều “tế nhị”.

Ngày ấy có một Viện Tâm Thần dành riêng cho người tỵ nạn, nằm trong Viện Đại Học Oslo, do bác sĩ Hauff, cũng là một giáo sư tâm lý học, điều hành. Ông là vị bác sĩ có lòng nhân hậu và rất tận tâm với nghề nghiệp. Những người tỵ nạn gặp điều không may, bị hải tặc đánh đập hãm hiếp, hay bị mất người thân trên đường vượt biển, đều được ông tận tình thăm nom, chăm sóc cũng như can thiệp Cơ quan Di Trú cho ưu tiên bảo lãnh gia đình và Sở Xã Hội cấp thêm nhiều phương tiện sinh hoạt, giải trí. Tôi sợ nhất là những lúc phải làm thông dịch để ông tâm tình, khuyên giải, an ủi nạn nhân, mà thời gian có khi kéo dài cả một vài ngày. Bởi vốn liếng tiếng Na-uy còn quá nghèo nàn, làm sao tôi có thể truyền đạt được những gì ông muốn nói. Có lần nghe ông dặn dò trước khi làm việc:

- Đây không phải một cuộc nói chuyện bình thường mà là một ca điều trị. Có điều, những bệnh nhân này chúng ta không chữa bằng thuốc mà chữa bằng ngôn ngữ.

Mà ngôn ngữ của tôi thuộc loại ăn đong, thì làm sao giúp ông chữa loại bệnh đặc biệt trầm kha này. Nhiều lần tôi xin từ chối, nhận mình không đủ khả năng, nhưng Phòng Xã Hội không tìm được người thông dịch khác, và bác sĩ Hauff cứ gật đầu bảo là ông tin tưởng ở tôi. Cuối cùng tôi phải yêu cầu ông nói thật chậm và dùng những từ ngữ tương đối đơn giản để tôi hiểu rõ, và nhất là không hiểu lầm, những gì ông nói.

o O o
Một hôm tôi được Văn Phòng Xã Hội cho biết, phải đi theo bà Kari Mette ra phi trường Fornebu đón một người tỵ nạn đặc biệt, được Na-uy nhận nhân đạo từ một trại tỵ nạn Thái Lan. Người này được đưa thẳng từ Thái Lan đến Na-uy, mà không qua trại tỵ nạn chuyển tiếp Bataan, như những người khác. Bà Kari Mette làm việc cho một nhà thờ công giáo, nhưng vì có nhiều khả năng và uy tín, nên được yêu cầu kiêm nhiệm đại diện cho Sở Tỵ Nạn trong khu vực thị xã.

Chúng tôi được vào tận cửa gate máy bay. Người mà chúng tôi đón hôm nay là một cô con gái trẻ, ngồi trên xe lăn, trên người choàng một tấm chăn mỏng, được một cô tiếp viên hàng không đẩy ra giao cho chúng tôi cùng túi hành lý nhỏ và một phong bì đựng hồ sơ có in huy hiệu Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ. Trông cô ta tiều tụy, xanh xao. Tôi giới thiệu và dịch vài lời chào mừng của bà Kari Mette. Khi đưa tay nhận bó hoa hồng từ bà Kari Mette, cô gật đầu, lí nhí hai tiếng cám ơn. Theo sau bà Kari Mette, tôi đẩy cô gái theo một lối đi riêng, không phải qua kiểm soát. Một chiếc xe tản thương và cô ý tá chờ sẵn bên ngoài. Khi phụ dìu cô gái lên nằm trên một băng ca trong xe, tôi mới biết là cô ta đang mang bầu. Theo yêu cầu của cô ý tá, tôi ngồi luôn trên xe tản thương, tháp tùng về bệnh viện. Bà Kari Mette lái xe chạy theo sau.

Ở phòng nhận bệnh, khi nghe bà Kari Mette nói chuyện với vị bác sĩ, tôi mới biết cô gái này có tên Lê thị Bích Kiều, 21 tuổi, bị hải tặc giam giữ ở một hoang đảo ngoài khơi Thái Lan gần một năm, trước khi được một lực lượng tuần cảnh phối họp với hải quân Thái cứu thoát. Cô ta đang mang thai hơn năm tháng, sức khỏe rất yếu. Việc ưu tiên phải làm là giúp cô sớm hồi phục sức khỏe và bảo vệ thai nhi.


Khi trả lời một số câu hỏi của bác sĩ, cô luôn nhìn tôi bằng đôi mắt thật buồn và ái ngại, Một vài câu hỏi cô ngại ngần không muốn trả lời. Tôi từ tốn bảo cô cứ yên tâm, nếu điều nào chưa muốn nói ra, cô không cần thiết phải trả lời, tôi sẽ liệu cách để nói lại với bác sĩ. Nhưng sau đó, tôi mới hiểu ra, người cô ngại chính là tôi chứ không phải ông bác sĩ. Mặc dù trước khi bắt đầu làm việc, tôi đã nói với cô là những người làm thông dịch như tôi đều phải ký giấy cam kết taushetsplikt (bổn phận bảo mật những điều tai nghe mắt thấy). Cô được y tá đưa vào phòng tắm rửa và thay áo quần bệnh viện. Khi trở ra, cô tươi tỉnh hơn, bây giờ nhìn kỹ tôi thấy cô có khuôn mặt khá xinh, dù đôi mắt thật buồn. Theo cô y tá đưa cô lên một phòng riêng ở tầng ba, tôi bảo y tá bật cao đầu chiếc giường và đỡ cô ngồi dậy theo yêu cầu của cô, dịch cho cô nghe những điều dặn dò của bác sĩ, hỏi cô thích ăn uống những gì để tôi nói lại với cô y tá, rồi chào cô ra về, sau khi chúc cô ăn ngon và tối nay có một giấc ngủ thật bình yên. Cô nhìn tôi, nói cám ơn rồi vội vàng cúi xuống. Thoáng qua đôi mắt, tôi biết cô băn khoăn lo lắng, khi phải ở lại một mình. Tôi ghi số điện thoại trên mảnh giấy nhỏ đưa cô y tá. Bảo là trường hợp bệnh nhân hay y tá cần điều gì, cứ gọi cho tôi.
Kể từ hôm ấy, ngoài bổn phận thông dịch tôi còn là người thân quen duy nhất của cô. Hôm nào cô ngỏ ý thèm các thức ăn Việt nam, tôi bảo bà xã tôi làm rồi mang đến cho cô, cùng mấy tờ báo Văn Nghệ Tiền Phong, và tập truyện của ông Duyên Anh mà cô thích đọc.

Những người may mắn đến được bến bờ tự do
Sau một tuần lễ, sức khỏe của cô khá hơn, nhưng y tá cho biết tâm trí chưa ổn định, cô thường giật mình thức giấc rồi la hét, khóc lóc lúc nửa đêm. Cứ vài ngày, bác sĩ Hauff từ Viện Tâm Thần đến thăm, cho cô quà, an ủi và khuyên cô hãy đọc sách, xem TV, cần nghĩ tới đứa bé sắp chào đời, dù gì nó cũng là giọt máu của mình. Có điều gì cần, hoặc cảm thấy nặng nề trong lòng, cô cứ nói ra mỗi lần ông đến thăm.

Cô không phải đến Sở Cảnh Sát để làm hồ sơ di trú như những người tị nạn khác, mà do yêu cầu của Sở Tỵ Nạn, vị trưởng phòng Cảnh sát ngoại kiều đã đích thân đến bệnh viện để gặp cô sáng hôm sau. Qua làm việc, tôi được biết cô gái sinh ra và lớn lên ở Đà Lạt. Trước 75, mẹ cô là cô giáo và cha là một sĩ quan cấp tá, bị mất tích tại Đà Nẵng khi Vùng I vvvvc d1i tản. Vượt biên từ Rạch Giá cùng vị hôn phu. Anh là con trai lớn của một người bạn cùng khóa Võ Bị với cha cô. Chiếc thuyền nhỏ chở theo 47 người, ra khơi ba ngày thì gặp hai chiếc ghe đánh cá của Thái Lan chặn lại. Cả bọn gần 20 tên mang dao búa và cả súng nữa, xông lên thuyền uy hiếp. Anh tài công bị giết đầu tiên bằng búa đánh vào đầu, một vài thanh niên khỏe mạnh có ý chống cự, liền bị chém chết. Chúng chia nhau lục soát trên tàu và trên từng người để cướp vàng bạc, đồng hồ. Trước khi rời khỏi thuyền, chúng phá hỏng máy, và bắt theo khoảng mười cô gái. Khi hai tên trong bọn kéo Kiều đi, người vị hôn phu của Kiều xông đến định giật lại Kiều, bị chúng bắn bị thương rồi đạp xuống biển, trước tiếng la khóc thất thanh của Kiều cùng những cô gái khác.
Vừa mới lên tàu, bọn hải tặc luân phiên hãm hiếp những cô gái bị chúng bắt theo. Tiếng van xin la khóc quyện vào âm thanh của những ngọn sóng dường như cũng đang thét gào phẫn nộ. Chỉ duy nhất có Kiều được thoát, không bị hiếp, nhưng bị cột cả hai tay vào phía sau phòng lái, và phải chứng kiến hành động dã man, bỉ ổi của bọn dã thú, cùng những khuôn mặt sợ hải đau đớn uất hận tột cùng của những cô gái nạn nhân.

- Tại sao cô lại được tha, không bị chúng hiếp? Anh cảnh sát ngạc nhiên hỏi.
- Làm sao được tha. Có lẽ thấy tôi có chút nhan sắc, nên tên thuyền trưởng dành riêng tôi cho hắn. Khi ấy hắn đang lái tàu! Cô gái sụt sùi.

Tối hôm ấy, cô đã bị cướp đi đời con gái. Qua một ngày kinh hãi, biết mình không thể chống cự, cô đã nằm im phó thác cho số phận. Trong khi thân xác bị dày vò, cô nghĩ đến cảnh người yêu vừa bị giết tức tưởi trưa nay, cắn chặt lưỡi giữa hai hàm răng ứa máu.

Tay thuyền trưởng hải tặc không đánh đập hành hạ cô như những cô gái khác. Hắn săn sóc, mang cho cô một tô cháo cá nóng, nhỏ nhẹ dỗ dành cô ăn, nhưng cô không thể nào nuốt nổi, dù bụng đang đói. Nằm thiếp đi cả một ngày trong phòng lái, khi nghe tiếng ồn ào gọi nhau của bọn hải tặc, giật mình thức dậy, cô thấy tàu cặp vào một hòn đảo.

Sau khi ra lệnh cho đám thuộc hạ quăng neo, tay thuyền trưởng cõng cô trên lưng, lội vào bờ. Cô ngạc nhiên rùng mình khi không thấy các cô gái khác. Số phận họ ra sao? Cô bịt kín hai tai, nhưng tiếng van xin kêu khóc hãi hùng của ngày hôm qua như muốn vỡ tung đầu óc. Cô tưởng tượng họ bị hiếp cho đến chết, rồi quăng xác xuống biển. Thật thảm thương tội nghiệp. Nhưng dù sao họ cũng không phải sống cả một đời thừa thãi trong nỗi dày vò, mặc cảm và vô vọng như cô. Biển xanh sẽ ôm ấp vỗ về cả thân xác lẫn linh hồn họ. Là cánh hoa tả tơi duy nhất còn sót lại sau một ngày đêm dông bão, cô ví mình chẳng khác nào rác rưởi tắp vào một nơi hoang vắng. Cô tự hỏi, đó có phải là điều may mắn?

Anh cảnh sát ngồi bất động nghe cô kể, thỉnh thoảng ngước mặt lên trần nhà để giấu những giọt nước mắt. Tôi thầm tội nghiệp cho anh ta, một người sinh ra và lớn lên trên một vương quốc an bình, giàu có, hà cớ gì phải khóc cho nỗi đau thương, bất hạnh của dân tộc tôi. Chúng tôi dừng lại khi thấy cô gái sụt sùi. Tôi đứng dậy đi lấy mấy tờ giấy soft cho cô lau nước mắt và mời cô một ly nước saft.

- Rồi đời sống của cô trên đảo ra sao trước khi cô được cứu thoát? Anh cảnh sát hỏi.
- Tôi được đưa vào một cái hang đá khá lớn, có sẵn một số thức ăn, nước uống và cả áo quần cùng nhiều vật dụng mà có lẽ bọn họ cướp được từ những lần trước.

Đó là một đảo hoang. Một trong những “hậu trạm”. Cứ bốn, năm hôm, có khi cả tuần lễ, bọn hải tặc trở về đây nghỉ ngơi đôi ngày, chia chác “chiến lợi phẩm”, rồi lại ra đi. Tiếp tục những chuyến làm ăn khác, hoặc vào bờ lấy thêm nhiên liệu, lương thực. Tay thuyền trưởng cao lớn, tóc phủ tới lưng, cả ngày chỉ mặc một cái quần short ố vàng, phơi tấm thân trần đen đúa với đầy những hình xâm. Không biết vì nghĩ là cô không hiểu tiếng Thái hay là bản tính ít nói, cả ngày hắn lầm lì, chỉ thỉnh thoảng mỉm cười. Hắn luộc tôm cá tươi ép cô ăn và bắt cô uống rượu. Miệng hắn lúc nào cũng nồng nặc mùi rượu. Đôi mắt đỏ ngầu. Rượu giúp hắn trở thành con hổ đói cuồng bạo trên tấm thân liễu yếu của cô. Hắn lột hết áo quần cô, làm nhiều cách hầu tạo kích thích, nhưng cả thân xác và tâm hồn cô đã trở thành gỗ đá, lạnh lùng, không còn cảm giác. Chỉ biết nhắm mắt chịu đựng đau đớn, để cho hắn ta mặc tình hành hạ.
Bọn họ ra đi từ lúc trời chưa sáng. Khi cô thức dậy chung quanh vắng lặng, ngoài tiếng sóng biển rì rào. Cảm giác da thịt rã rời. Phải ngồi khá lâu mới đứng dậy được. Cô chui ra khỏi hang, trèo xuống hốc núi tìm đường ra biển. Hôm nay trời nắng, biển êm. Nhìn biển mênh mông, trong gió nghe như có tiếng gọi tên mình, cô giật mình nghĩ tới người yêu và những cô gái đồng hành bất hạnh. Cô xăn quần lội xuống, vốc một vốc nước rửa mặt. Nước biển làm rát khóe mắt, nhưng giúp cô tỉnh táo. Bỗng cô nghĩ đến cái chết. Chỉ cần lội ra xa để cho sóng cuốn đi là cô sẽ gặp lại người tình ở đâu đó dưới đáy đại dương và sóng biển có thể rửa bớt phần nào nhơ nhớp trên tấm thân, mà bao nhiêu lần, mẹ đã ôm cô dặn dò phải cố giữ gìn, trước lúc từ biệt ra đi. Chợt nhớ tới mẹ, nhớ các em, cô đứng bất động nghe lòng dạ bồi hồi.

Gió từ biển khơi thổi tới như muốn an ủi vỗ về, giúp cô tìm lại một chút yên ả. Cô bước lên đi dọc theo bờ biển. Tiếp tục nghĩ đến mẹ và hai đứa em nhỏ dại. Giờ này không biết họ ra sao. Có biết mình đang lưu lạc trên một hoang đảo xa lạ giữa trời biển mênh mông với tấm thân hoen ố ê chề. Hay là vẫn đang hy vọng đứa con gái, người chị của mình đã đến được một xứ thiên đường nào, để có thể cứu sống cả gia đình đang ở bước đường cùng. Bao nhiêu vốn liếng chắt chiu dành dụm được, kể cả chiếc nhẫn cưới và sợi dây chuyền vàng mà bà ngoại đã đeo lên cổ mẹ ngày vu quy, cũng chỉ đủ gom góp mua một cây vàng, và phải năn nỉ lắm mới được đóng trước một nửa cho chủ tàu, nửa còn lại khi nào đến nơi sẽ trả. Sau ngày cha cô vĩnh viễn không về, cùng nhiều đồng đội gởi xác thân ở một nơi vô danh nào đó, rồi cả miền Nam đang trù phú, hạnh phúc một thời, bỗng dưng trở nên đói nghèo, chia ly tan tác, cũng như những gia đình sĩ quan công chức khác, mẹ con cô đã trải qua bao tháng năm cùng cực. Cô đã phải bỏ học, phụ mẹ buôn tảo bán tần, mà cả nhà vẫn bữa đói bữa no. Nghĩ đến tương lai mịt mờ của mấy đứa con, mẹ bàn với cô, chỉ còn cách duy nhất, là cô phải ra đi. Bao lần tìm được mối, nhưng lo cho thân gái dặm trường, có biết bao điều bất trắc, cuối cùng bà rất vui mừng khi có người yêu của cô, cũng là con của một người bạn cùng khóa với chồng, cùng đi với con gái. Trước ngày đi, hai gia đình gặp nhau, tổ chức một lễ đính hôn rất vội vàng, đơn giản.

Cô bước đi những bước vô hồn trên những bọt sóng xô bờ, hình dung tới tuổi ấu thơ và cả một thời cùng gia đình sống trong hạnh phúc. Nhớ mấy năm cha cô được đổi về làm huấn luyện viên trường Võ Bị Đà Lạt, nơi ông đã gặp mẹ cô, khi còn là một sinh viên sĩ quan trai trẻ, từng đứng trên đỉnh Lâm Viên với hào khí ngút trời. Nơi ông cùng bè bạn đồng môn, đã quỳ xuống vũ đình trường trong ngày mãn khóa, giữa không khí uy linh, đưa tay thề quyết bảo vệ núi sông. Cô cũng nhớ tới đám bạn bè một thời nhỏ dại. Không biết những cánh chim non hồn nhiên ngày ấy, giờ tản mác trôi dạt về đâu sau cơn bão lửa. Cũng như cô, tất cả đã mất rồi, cả một bầu trời xanh bao la với bao nhiêu ước vọng thuở nào. Không bao giờ còn tìm lại được!

Đầu óc mơ hồ, tưởng mình đang đi tìm dấu vết tuổi thơ bên bờ hồ Xuân Hương thơ mộng. Khi nghiêng mình để tìm ngôi nhà Thủy Tạ, nơi lần đầu hò hẹn người yêu, cô bỗng giật mình nhận ra tảng đá trên hoang đảo, nơi cô bị giam lỏng từ mấy hôm nay. Giấc mơ xưa ngắn ngủi vỡ tan như bọt biển. Ngồi bệt xuống cát, thẫn thờ gọi mẹ, gọi em, và gọi tên người tình. Cô gọi đến khan cả cổ, để chỉ nghe tiếng mình dội lại từ đại dương mênh mông xa thẳm, không tìm thấy chân trời. Cô đã bật khóc.

o O o
Tôi định đưa tay bảo cô ngừng kể, để tôi kịp dịch lại cho anh cảnh sát, đang hồi hộp ngồi chờ, nhưng chợt thấy cô cũng đang khóc. Anh cảnh sát đứng lên nháy mắt, làm dấu cho tôi cùng bước ra ngoài để cho cô được tự nhiên. Khi trở vào, anh cảnh sát nhờ tôi hỏi, nếu cô muốn bảo lãnh cho mẹ và các em còn ở Việt Nam, anh sẽ trình lên Sở Ngoại Kiều, lập hồ sơ cho cô được ưu tiên. Có thể trong vòng từ sáu đến tám tháng, cô sẽ được đoàn tụ với gia đình. Suy nghĩ một chập, cô lắc đầu:

- Em chưa chuẩn bị được tâm lý, không muốn mẹ và các em sẽ đau buồn vì những gì em đã trải qua, và nhất là cái thai trong bụng, em vẫn còn đang giấu mẹ. Chờ sinh đẻ xong, em mới bình tĩnh mà quyết định được. Mặc dù em rất nhớ mẹ và các em.

Ngần ngừ một lúc cô ngõ ý muốn được Phòng Xã Hội cho mượn một số tiền để gởi về giúp gia đình, sau này đi làm cô sẽ trả. Anh cảnh sát gật đầu, hứa sẽ nói việc này với Phòng Xã Hội. Anh bắt tay cô, chúc sớm bình phục, gặp nhiều may mắn, và hẹn sẽ trở lại thăm cô để xin hỏi thêm cô ít điều bổ túc hồ sơ.

Hai hôm sau, qua điện thoại từ Phòng Xã Hội, tôi đến nhận số tiền 10.000 kroner (khoảng 1.200 USD), để giao lại cho cô và yêu cầu cô ký tên vào biên nhận. Tôi cũng mang đến biếu cô mấy trái xoài chua, lần trước cô bảo là cô rất thèm. Gặp lại tôi, cô tỏ ra mừng rỡ. Lần đầu tiên tôi thấy cô nhoẻn miệng cười. Cô bảo cô rất buồn và thấy cô đơn, vì không có tôi cô chẳng biết nói chuyện cùng ai. Cô ngạc nhiên và thoáng một chút xúc động khi tôi đưa cho cô số tiền của Phòng Xã Hội, và bảo đó là tiền cô được cấp, chứ không phải mượn. Tôi giải thích thêm về những trợ cấp khác dành cho người tỵ nạn lúc ban đầu và hằng tháng sau này, cũng như trợ cấp việc sinh đẻ và nuôi con. Tôi bảo cô yên tâm, đừng bận tâm gì về chuyện tiền bạc. Cô càng vui và tỏ ra thân thiện hơn khi nghe tôi bảo trước đây tôi cũng là lính, sau gần 8 năm tù trở về, vợ con cũng khốn cùng như gia đình cô. Tôi kể chuyện gia đình tôi vượt biên nhưng may mắn được tàu Na-uy vớt, mới đến Na-uy tám tháng, nhưng mọi việc tạm thời ổn định. Cô nhớ tới cha cô, đôi mắt sáng lên và say sưa kể cho tôi nghe những ngày cô theo cha ra đơn vị, hoặc cùng mẹ vào trường Võ Bị tham dự các buổi lễ ra trường. Khi tôi đứng dậy cáo từ, cô viết tên và địa chỉ của mẹ cô, nhờ tôi gởi hết số tiền còn nguyên Những người may mắn đến được bến bờ tự do trong bì thơ về cho mẹ. Trong mắt cô sáng lên niềm vui.

Một lần cô ngỏ ý muốn học tiếng Na-uy để giết thì giờ. Tôi bảo là ở Na-uy vừa mới có cuốn tự điển Nauy-Việt, tôi sẽ liên lạc Phòng Xã Hội để xin cho cô. Hai hôm sau, tôi mang cuốn tự điển đến, chỉ cho cô cách sử dụng, nói và viết vài câu đơn giản. Cô khá thông minh nên hiểu rất nhanh. Cô còn nhờ tôi viết cho cô vài câu tiếng Na-uy. Trong đó có một câu cô bảo là lời một bản nhạc nào đó mà cô rất thích: “Ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa”.

o O o
Khi được biết là sẽ sinh con trai, cô vui lắm, nhưng ngay sau đó tôi thấy cô ngồi thẫn thờ, suy nghĩ mông lung. Gần tới ngày cô sinh, tôi xin phép cô cho bà xã tôi đến thăm, để hướng dẫn chỉ vẽ cho cô ít nhiều kinh nghiệm sinh đẻ mà vợ tôi đã trải qua. Hơn nữa, khi sinh đẻ, có một người đàn bà thân quen bên cạnh cũng an tâm. Biết cô ái ngại, nên tôi nói trước là vợ tôi hoàn toàn không biết gì về hoàn cảnh của cô, và tất nhiên tôi không hề tiết lộ điều gì. Tôi sẽ nói với vợ tôi là chồng cô còn ở trại tị nạn Thái Lan, sẽ được định cư sau. Ngần ngừ một lúc, cuối cùng cô gật đầu. Cuối tuần, vợ chồng tôi đến thăm. Vợ tôi mang đến cho cô một ít thức ăn Việt nam và mấy bộ áo quần con nít. Đàn bà dễ thông cảm với nhau, nhất là vợ tôi sinh mấy đứa con cũng không có mặt chồng, vì tôi bận tham dự hành quân, không về kịp. Tôi ra ngoài, để cho hai người đàn bà dễ nói chuyện sinh đẻ. Cô sinh vào ban đêm, lúc trời đã vào đông. Tuyết rơi kín cả khung trời. Vợ chồng tôi đến phòng sinh lúc cô đau bụng. Vợ tôi ở bên cạnh cô, còn tôi ngồi ngoài phòng đợi. May mắn là cô sinh rất nhanh. Khoảng hơn 30 phút, tôi đã nghe tiếng con nít khóc. Khi mọi việc đã xong, nghe tiếng vợ gọi, tôi bước vào chúc mừng cô. Thằng bé đang nằm trên ngực mẹ. Tôi thấy cô khóc. Không biết đó là những giọt nước mắt xót xa hay hạnh phúc.

Sau một tuần ở bệnh viện, mẹ con cô chuyển đến một khách sạn, được phòng xã hội mướn cho cô tạm trú một thời gian, vì chưa tìm được căn nhà thích hợp cho cô. Khách sạn khá sang trọng, nằm không xa bệnh viện, để tiện cho các y tá đến thăm và chăm sóc mẹ con cô.

Mấy ngày sau, tôi đến khách sạn cô ở. Không phải để thăm cô mà để làm thông dịch cho bác sĩ Hauff và nhân viên phòng xã hội. Họ mang đến cho con cô nhiều quà tặng. Ai cũng ngạc nhiên và thích thú khi thấy cô biết nói vài câu ngắn bằng tiếng Na-uy. Bác sĩ Hauff hỏi là cô có cần ông giúp điều gì nữa không, cô bập bẹ trả lời: “tôi sẽ nói với ông sau”. Tuy không đúng hẳn, nhưng mọi người đều hiểu được.

Ngày đầy tháng, vợ tôi nhớ và nhắc tôi đến thăm mẹ con cô. Chúng tôi ghé siêu thị chọn mua một món quà mừng thằng bé. Bấm chuông phòng, cửa không mở. Gõ nhẹ cũng không thấy lên tiếng. Tôi đến văn phòng khách sạn hỏi. Họ cho biết là cô vừa mới chuyển đi. Tôi gọi hỏi Phòng Xã Hội, họ cho biết là cô đã chuyển đi một thành phố rất xa, và theo yêu cầu của cô, họ không tiết lộ địa chỉ mới cho bất cứ một ai. Sau một thoáng ngạc nhiên, tôi chợt nhớ đến lời một bài ca nào đó mà cô đã nhờ tôi viết ra bằng tiếng Na-uy và chỉ cho cô đọc đi đọc lại nhiều lần: “ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa”.
Trên đường về, bà xã tôi thắc mắc tại sao cô lại chuyển đi sớm và không cho chúng tôi hay. Tôi lắc đầu, mặc dù tôi đã vừa mới hiểu ra.

Từ hôm ấy, tôi không bao giờ gặp lại cô. Vài lần nhớ tới cô, tôi định hỏi thăm qua một số người quen ở các thành phố khác, hoặc gọi cho Sở Tỵ Nạn. Nhưng rồi tôi quyết định không tìm, vì có lẽ cô không muốn gặp lại tôi, một người biết quá nhiều về cô.

o O o
Bích Kiều đến đúng giờ hẹn. Khi thấy chiếc taxi đỗ ngay
trước cổng nhà, vợ chồng tôi chạy ra đón. Tôi cũng nóng lòng muốn xem lại dung nhan của người con gái xinh đẹp nhưng găp phải điều bất hạnh của hai mươi lăm năm trước. Bây giờ chắc tuổi cũng đã 45, 46. Vợ chồng tôi ngạc nhiên khi thấy Bích Kiều vẫn còn trẻ đẹp. Cặp kiếng cận làm tăng nét tao nhã quí phái. Cô ôm chầm chúng tôi, rồi lấy kiếng xuống để chùi nước mắt.

- Không ngờ Kiều bây giờ còn đẹp hơn hồi xưa nhiều lắm. Sao đi có một mình ên còn ảnh thì giấu kỹ ở đâu rồi không cho trình diện?
Câu nói đùa của bã xã tôi làm cô bớt xúc động, nở nụ cười sau một thoáng thẹn thùng:
- Em vẫn còn độc thân mà! Hôm nay xuống đây nhờ anh chị làm mai đây.
Chúng tôi đi quanh khu vườn sau nhà. Bà xã muốn khoe mấy cụm hồng vàng vừa mới nở hoa, trước khi dắt tay cô bước vào phòng khách. Tôi mang nước ra mời và ngồi nghe hai người đàn bà nói chuyện trang điểm, phấn son xong mới lên tiếng:
- Vậy là Kiều đang ở Trondheim. Tôi thấy địa chỉ trong tấm thiệp cưới. Ngày ấy, tự dưng Kiều biến mất, làm bọn tôi cứ nghĩ là nàng trích tiên đã ngao ngán cảnh trần gian mà bay lại về trời rồi chứ. Cô cười bẽn lẽn:
- Hôm nay đến cũng để xin lỗi anh chị đây. Ngày ấy lòng em còn đau xót lắm, nên muốn đi đến một nơi thật xa, không muốn gặp bất cứ người Việt nào và nhất là những ai đã biết về mình. Mặc dù em rất thương quí và mang ơn anh chị.
Tôi cười:
- Tôi biết, nên chỉ thương chứ có nỡ lòng nào mà trách. Chắc Kiều còn nhớ cái câu tiếng Na-uy “Ngày mai tôi muốn bỏ đi thật xa” mà Kiều nhờ tôi viết ra và chỉ cho Kiều đọc đi, đọc lại bao nhiêu lần. Khi ấy Kiều bảo rất thích câu ấy trong một bài hát mà Kiều hay hát? Nhờ đó mà tôi hiểu được, nên không có ý tìm Kiều.
o O o
Đúng là cô đã đi thật xa, một hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi thành phố Ålesund. Ở đó không có một người Việt nào sinh sống. Chính quyền và dân chúng rất tốt. Mẹ con cô được chăm sóc chu đáo. Một năm sau cô bảo lãnh mẹ và hai cậu em sang đoàn tụ. Gia đình sống trong hạnh phúc. Đứa bé lớn lên trong vòng tay yêu thương của mọi người. Cháu được đặt tên Trần huy Bách, và trong giấy khai sanh có cha là Trần Huy Trác. Tên người vị hôn phu của Kiều. Anh đã bị chính cha ruột của thằng bé giết chết thảm thương rồi vất xác xuống biển. Kiều giấu kín mẹ và các em điều đau thương này, nên đến lúc qua đời, mẹ cô vẫn tin đứa cháu ngoại duy nhất của mình là con của Trác. Bà mất đột ngột sau cơn bệnh tim, khi sang Na-uy được mười sáu năm.

Được chính phủ trợ cấp, cho học bổng, và nhờ mẹ giúp trông con cùng mọi việc trong nhà, nên Kiều và hai em được đi học. Cả ba chị em đều xong đại học. Hai cậu em đang là kỹ sư, còn cô làm y tá trong bệnh viện. Khi hai cậu em được nhận vào trường NTH, một đại học kỹ thuật bách khoa nổi tiếng tại thành phố Trondheim, miền trung Na-uy, cả nhà đã di chuyển về đây sau sáu năm ở Ålesund. Cháu Huy Bách, con của Kiều cũng vừa tốt nghiệp ở trường này mùa hè năm ngoái.

- Vợ chồng tôi mừng cho Kiều, cho sự thành công của mẹ con Kiều cùng hai cậu em, và cũng xin chia buồn về việc bà cụ đã ra đi. Tiếc là chúng tôi không có dịp được gặp bà.
Đang vui, bỗng Kiều xúc động:
- Tất cả đều nhờ mẹ em. Cả một đời thiệt thòi, chịu đựng vất vả với con cháu. Em vẫn ân hận là em đã phải nói dối với bà về chuyện của cháu Bách.
- Tôi nghĩ Kiều làm như thế là đúng. Ít nhất là không làm đau lòng thêm những người ruột thịt vốn đã chịu quá nhiều nhục nhằn, khốn khổ. Tôi tin là bác ra đi thanh thản, không có trách gì Kiều về sự việc ấy đâu. Tôi nói để an ủi.

Bà xã tôi nãy giờ không hiểu hết những gì chúng tôi trao đổi, hỏi Kiều:
- Sao cô lại không giữ tên Kiều mà lấy tên Bích. Tôi thấy tên Bích Kiều đẹp lắm. Ngày xưa gần nhà tôi ở Nha Trang cũng có tiệm uốn tóc Bích Kiều. Mấy cô con gái đều đẹp. Tôi quen cả hai chị em.
- Dạ, em thấy cuộc đời nàng Kiều của ông Nguyễn Du sao mà ba chìm bảy nổi quá, mà dường như cũng đã vận vào em, em sợ nên đổi tên Bích, cũng là chữ lót của em.
Tôi cười phụ họa:
- Nàng Kiều nào cũng đã chết rồi. Bây giờ, đang ngồi trước mặt tôi là Bích. Một cô Bích hoàn toàn khác. Chúng tôi rất mừng được như vậy. Xin lỗi, đáng lẽ ra không nên gọi cô là Kiều nữa. từ bây giờ chúng tôi gọi tên Bích nghe.
- Có sao đâu anh. Hai đứa em của em cũng gọi em là chị Kiều mà. Ngoài gia đình, chỉ có anh chị là biết cái tên này của em. Chuyện xưa cũng đã qua rồi. Em muốn anh chị cứ gọi em là Kiều như ngày trước. Hơn nữa, em biết, ngày ấy anh chị cũng thương yêu cô Kiều đó lắm, phải vậy không?
Cả ba chúng tôi đều cười.

Kiều nhìn đồng hồ trên tường, khi nghe tiếng chuông báo giờ. Không biết vì không muốn nhắc lại chuyện cũ, hay là sợ không còn nhiều thời gian, cô bắt đầu một câu chuyện khác. Cô mở xách tay lấy ra mấy tấm ảnh đưa cho chúng tôi xem. Ảnh của Bách, con trai cô vừa chụp với cô vợ tương lai trong ngày lễ đính hôn hơn ba tháng trước. Một cô gái Việt nam. Cả hai cô cậu đều đẹp, mũi cao, đôi mắt to, vầng trán thoáng lên nét thông minh.
- Hai cháu rất xứng đôi vừa lứa! Vợ chồng tôi khen.

Cô cho biết cô dâu tương lai là một dược sĩ vừa mới tốt nghiệp, con gái út của vợ chồng một vị giáo sư trước 75, được con bảo lãnh sang Na-uy, và bây giờ lớn tuổi đã về hưu. Ông bà đang sống ở Oslo. Gia đình nề nếp, đạo đức, có năm người con, tất cả đều thành đạt. Cô nhờ vợ chồng tôi, tuổi tác ngang với cha mẹ cô dâu, đứng ra thay mặt nhà trai trong ngày đám cưới. Nhưng điều quan trọng hơn, theo cô, là để cho cháu Bách, và chính cô nữa, được tự tin, ấm áp hơn về phía gia đình mình. Bởi vợ tôi là người chứng kiến khi Bách ra đời, còn tôi là người đồng hương duy nhất biết rõ về Bách, về những tình huống để có Bách hiện diện trên thế gian này.
- Sự có mặt của anh chị trong ngày đám cưới cháu Bách, là một kỷ niệm thiêng liêng quý giá đối với mẹ con em. Bởi vì khi nhìn thấy anh chị, em sẽ có cảm giác như là đang có anh Trác bên cạnh. Xin lỗi anh chị, em cũng đã nói dối với cháu Bách, anh là người duy nhất ở Na-uy này biết chuyện Trác, và tội nghiệp, cháu Bách vẫn tin anh Trác là ba của nó. Em thường bắt gặp cháu đứng thật lâu trước tấm ảnh của anh Trác trên bàn thờ.
- Vậy nhỡ cháu Bách hỏi tôi về Trác, tôi biết nói gì với cháu?
Nghĩ ngợi một lúc, Kiều lên tiếng:
- Em chỉ nói với cháu Bách, là ngày xưa anh ở trong quân đội, nên biết ba của anh Trác là ông nội cháu, thế thôi. Chứ lúc ấy anh Trác còn nhỏ lắm. Em thiết tha mong anh chị giúp em. Vì trong lúc này, em cảm thấy thật lo sợ và cô đơn. Những hình ảnh hãi hùng ấy cứ tưởng đã quên được từ lâu rồi, vậy mà bây giờ nó lại hiện lên liên tục, ngay cả trong giấc ngủ của em. Thú thực, ban đầu em không có ý định gặp anh chị, nhưng càng gần ngày đám cưới cháu, em càng thấy lòng bất an. Cuối cùng bất ngờ em đã nghĩ đến anh chị, người đã biết tường tận hoàn cảnh của mẹ con em, bỗng dưng em thấy nhẹ nhàng, như vừa giải tỏa được những gì cứ phải chôn giấu, đè nặng mãi trong lòng.
Nhớ tới hai người em trai của cô, vợ tôi hỏi:
- Còn hai cậu em của cô bây giờ ra sao. Đã có gia đình riêng hay vẫn ở chung với cô?
- Cậu lớn sống chung với cô bạn gái người Na-uy hơn hai năm thì chia tay, còn cậu út vẫn chưa lập gia đình. Tuy nhiên, hai cậu đều ở riêng.
o O o
Cuối cùng, vợ chồng tôi quyết định hủy bỏ chuyến đi London. Phải gọi sang xin lỗi và giải thích cho vợ chồng cô con gái, bảo đây là một việc ba má cần làm để giúp cho những người bất hạnh có thể tìm lại ít nhiều hạnh phúc. Lễ thành hôn được tổ chức buổi sáng thứ Bảy. Chúng tôi đến khách sạn Royal Christiania khi trời vừa mới trải qua một cơn mưa hạ. Ánh nắng bắt đầu chói chang rọi qua những tàn cây tạo thành những vệt lung linh trên các bãi cỏ xanh điểm những chấm vàng rực rỡ của hoa løvetann đang mùa nở rộ. Họ nhà trai dùng khách sạn này, nơi mẹ con Kiều và hai cậu em đang ở mấy hôm nay, làm “điểm xuất phát”. Từ Trondheim xuống, nên họ chỉ có bốn người. Thêm một cậu người Na-uy ở Oslo, bạn học của Bách làm phụ rể. Vợ chồng tôi đến với hai cô con gái và ba đứa cháu, để bưng các mâm lễ vật, theo yêu cầu của Kiều.

Lần đầu tiên chúng tôi gặp Bách. Cậu bé ra đời vào một đêm đông tuyết giá, trong nỗi cô đơn và xót xa của mẹ, chỉ có vợ chồng tôi, hai người đồng hương xa lạ, có mặt và nghe tiếng khóc đầu đời, bây giờ là một thanh niên tuấn tú, có học, chân thật hiền lành. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là Bách nói tiếng Việt rất giỏi. Bất giác, tôi nhớ tới những điều Kiều kể với vị cảnh sát ngoại kiều trước kia trong bệnh viện. Đầu óc như mơ hồ có tiếng sóng biển thét gào phẫn nộ, và hình dung tới gã hải tặc Thái Lan có mái tóc phủ xuống lưng, trên người đầy những hình xâm với đôi mắt lúc nào cũng đỏ ngầu trong men rượu. Bỗng tôi giật mình với cảm giác như vừa làm điều phạm tội. Cố gắng hướng tâm trí tới những điều thánh thiện, tốt đẹp khác để xua đuổi hết những hình ảnh đen tối ấy vào giờ phút mọi người đang cần có niềm vui và hạnh phúc.

Lễ thành hôn đã diễn ra tốt đẹp. Ông bà sui của Kiều đều là nhà giáo, hiểu biết và tôn trọng nề nếp cũ. Mọi nghi thức hôn lễ theo tập tục do ông bà hướng dẫn khá tỉ mỉ. Con cháu đều thành đạt, lễ phép. Tôi mừng cho Kiều, và nhất là cho cháu Bách đã may mắn là con rể của gia đình này. Có lẽ thấu hiểu hoàn cảnh của Kiều với lòng mến mộ, sau khi lạy ông bà trên bàn thờ gia tộc, ông giáo hướng dẫn cô dâu chú rể đến dâng rượu và xin lạy mẹ của Bách hai lạy. Ông giải thích, một lạy cảm tạ công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ. Mất chồng từ khi còn rất trẻ, nhưng không bước thêm một bước nào nữa mà dành hết cuộc đời cho đứa con duy nhất của mình. Một lạy xin mẹ nhận thay cha, để hai con tưởng nhớ đến người cha bất hạnh, sớm lìa đời khi chưa thấy mặt con. Khi vợ chồng cháu Bách mời rượu, nói những lời cám ơn thật cảm động, Kiều âu yếm nhìn hai con, định nói điều gì, nhưng rồi nghẹn ngào, sau một lúc mới nở được nụ cười trong ràn rụa nước mắt. Tôi thấy lòng bâng khuâng. Thầm mong đó không phải là những giọt nước mắt xót xa mà là niềm vui của hạnh phúc. Không khí bỗng lắng xuống. Mọi người đều xúc động. Kiều ngước lên, đúng vào lúc tôi quay mặt đi để giấu những giọt nước mắt của chính mình.

Phạm tín An Ninh

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Sự nghiệp văn học Đinh Hùng
Mấy lời mở đầu

Vũ Hoàng Chương xem ông là thần tượng [32]. Đỗ Lai Thúy gọi ông là “người kiến trúc chiêm bao”[100]. Du Tử Lê thì bảo ông là “thi sĩ của thi sĩ”[53]… Còn nhà nghiên cứu – phê bình văn học Đặng Tiến thì cho rằng ông là “một trong các nhà thơ lớn của nền thi ca Việt Nam hiện đại” và gọi ông “là thi sĩ với tất cả nghĩa của danh từ” [104]… Ông là ai?

Ông là Đinh Hùng, cánh bướm nhỏ bay trong “cơn mê trường dạ”, một hiện tượng kì lạ và bí ẩn của nền văn học Việt Nam.

Sự kì lạ không chỉ toả ra từ những tác phẩm của ông mà còn đến từ cuộc đời của một người nghệ sĩ đã phải chịu quá nhiều bi kịch.

Còn nói là bí ẩn vì cho đến nay, quả thật, chúng ta vẫn biết quá ít về ông.

Hoài Thanh, Hoài Chân đã “bỏ sót” ông, khiến cho sự thiếu vắng cái tên Đinh Hùng trong Thi nhân Việt Nam đến nay vẫn còn là một câu hỏi lớn.

Và đã gần nửa thế kỉ trôi qua kể từ khi ông mất, cánh cửa dẫn vào thi giới Đinh Hùng vẫn còn khép kín.

Lúc sinh thời, Đinh Hùng sáng tác nhiều. Và không chỉ với thơ mà ở các thể loại khác, ông cũng gặt hái được nhiều thành công nhất định và được nhiều người yêu thích. Thế nhưng, nhắc đến Đinh Hùng là phải nhắc đến một nghịch lí. Đó là ông vẫn không được giới nghiên cứu – phê bình văn học nhiệt tình hướng ngòi bút của mình từ bấy cho đến nay dù ngay từ “giữa năm 1942, khi nhà Đời Nay cho in một tập giai phẩm và trong đó có Bài ca man rợ thì vị trí của Đinh Hùng trên thi đàn không còn ai chối cãi được nữa” [32]. Ngoài ra, ở thời điểm hiện tại, việc xuất bản các tác phẩm của Đinh Hùng cũng còn rất hạn chế. Điều này đã tác động không nhỏ đến việc phác thảo lại diện mạo của nền văn học Việt Nam thời bấy giờ cũng như gây nhiều trở ngại cho độc giả tìm đến những tác phẩm của ông.

Nhà nghiên cứu Đặng Tiến đã viết:

“Đinh Hùng là một trong các nhà thơ lớn của nền thi ca Việt Nam hiện đại, và trước khi lìa đời không được đọc một tác phẩm phê bình nào cho đàng hoàng dành cho thơ mình, cho cuộc đời mình dành trọn cho Thơ. Trong lịch sử văn học thế giới, một người viết tiểu thuyết hay kịch, có thể tự xác định vị trí, nhưng một nhà thơ khó mà quan niệm được chỗ đứng nếu không có môi giới của ngành lí luận văn học. Cái buồn của Đinh Hùng âu cũng là chung cho các thi sĩ Việt Nam, chỉ khác ở chỗ là Đinh Hùng đã mất sớm” [104].

Theo khảo sát của chúng tôi, tính đến thời điểm hiện tại, chỉ mới có một số lượng ít ỏi các bài viết về Đinh Hùng và tất cả chỉ dừng lại ở việc khái quát sơ lược về tiểu sử; phân tích và lí giải một số khía cạnh nhỏ trong thơ của ông chứ chưa đi vào nghiên cứu chuyên sâu và có tính hệ thống. Thêm nữa, việc nghiên cứu mảng văn xuôi- tiểu luận của Đinh Hùng đến nay vẫn còn đang bỏ ngỏ.

Viết về Đinh Hùng sớm nhất có lẽ là Du Tử Lê. Cuốn Năm sắc diện, năm định mệnh [54] của ông đã được xuất bản ở Sài Gòn vào năm 1965, ngay lúc Đinh Hùng còn tại thế. Quyển sách gồm có 5 chương, viết về năm gương mặt: Bùi Giáng, Đinh Hùng, Tô Kiều Ngân, Thanh Tâm Tuyền và Thế Phong. Trong đó, chương đầu tiên, tác giả đã ưu ái viết về Đinh Hùng. Có thể nói, tác giả đã cố gắng cung cấp nhiều thông tin quan trọng và thú vị về cuộc đời của thi sĩ qua việc thuật lại những kỉ niệm và bày tỏ những cảm nghĩ của mình với thái độ trân trọng. Tác giả kể hay, lôi cuốn người đọc cùng đi với mình qua những chặng đường đời của Đinh Hùng từ thuở nhỏ đến khi vào Nam, và sau đó là làm Trưởng ban Tao Đàn. Bên cạnh đó, Du Tử Lê, trong quyển sách trên, cũng đã cố gắng đi sâu vào phân tích hồn thơ Đinh Hùng và thể hiện sự cảm hiểu sâu sắc của mình:

Tôi nghĩ, nếu ai kia bảo Đinh Hùng đã lẩn trốn vào tháp ngà để tìm lấy cho mình những phút giây thần tiên, huy hoàng, rực rỡ, để đắm chìm linh hồn trong niềm hoan lạc hưởng thụ, trốn chạy những đau thương đổ vỡ của cuộc đời thì e có phần thiên lệch, bất công. (…) Đinh Hùng lẩn trốn thực trạng đau thương của thời thế bằng cách trầm mình trong thiên đường tình ái, nhưng chính tại cái cõi trú thanh sắc này, nhà thơ đã đau khổ thêm một lần nữa. Thế giới phấn hương, hoa bướm không những đã không giúp nhà thơ quên bớt, rời xa những dằn vặt, vò xé mà còn tạo thêm hoàn cảnh để thi nhân nhìn rõ đau thương, đày đoạ- Tôi muốn nói ở mảnh đất đắm đuối truy hoan này, Đinh Hùng càng thấu cảm cái mệnh số cơ đơn, cái mình lạc lõng, xa lạ hoang liêu hơn bao giờ.

Với chúng tôi, đây là một tài liệu hay và có nhiều giá trị.

Đinh Hùng mất vào năm 1967. Tin buồn ấy nhanh chóng lan rộng và gây chấn động giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ. Tạp chí Văn dành hẳn số 91, số đặc biệt để “Thương nhớ Đinh Hùng”. Đầu tiên cần nhắc đến bài viết của tác giả Ngê Bá Lí đã cung cấp tiểu sử sơ lược về Đinh Hùng giúp người đọc phần nào hình dung được những chặng đường đời đã qua của người thi sĩ tài hoa và bạc mệnh này [55].

Kế đến là bài Tiễn biệt Đinh Hùng của Nguyễn Quang Hiện. Tác giả đã bày tỏ: “Tôi nghĩ anh đã là một thi sĩ rất Á-đông theo nghĩa traditionnel nhất của danh từ. Anh đã sinh ra để làm thơ, và sống với thơ cho tới lúc chết” [48]. Còn Mặc Đỗ trong bài Con người tài hoa cũng đã không giấu giếm: “Nhận định trội nhất của tôi luôn luôn giữ được cho tới nay là Đinh Hùng, con người tài hoa, từ vóc dáng, nét bút tới giọng nói, từ buổi nhỏ đến ngày lìa đời, Đinh Hùng không ngớt biểu lộ tư chất tài hoa. Những ma chiết của đời sống cũng giúp con người biểu lộ tư chất tài hoa nữa!”.

Bên cạnh đó, Tạ Tỵ, người có mối quan hệ thân thiết với Đinh Hùng, cũng có bài Hoài cảm Đinh Hùng [112]. Chỉ vọn vẹn có ba trang nhưng Tạ Tỵ đã tái hiện và phác hoạ chân thực hình ảnh của một nhà thơ vừa nằm xuống.

Ngoài ra, không thể bỏ qua bài Lá thư chữ đỏ của Mai Thảo. Trong bài viết của mình, tác giả đã cung cấp nhiều thông tin về tác phẩm Đám ma tôi của Đinh Hùng mà chúng tôi sẽ đề cập đến ở phần sau. Và xin dẫn ra đây nhận định của Mai Thảo mà chúng tôi khá tâm đắc: “Chúng ta thấy rằng chính ở lúc rực rỡ nhất mà thơ tiền chiến trút thoát hơi thở, nó lên tới một đỉnh núi và rớt xuống, nó là một hành tinh tan vỡ, rất cao, tan vỡ vào hư không. Đinh Hùng cũng vậy. Tiếng thơ Đinh Hùng cũng đã tan vỡ và rất rực rỡ, từ một đêm tiền sử”[59].

Nhân cái chết của Đinh Hùng: nghĩ về thơ tượng trưng là bài viết của Phan Lạc Phúc. Người viết đã nêu ra được nhiều đặc điểm của thơ tượng trưng và cho rằng: “Tuy không đặt ý niệm trường phái rõ ràng như ở Pháp, nhưng ta tìm thấy khuynh hướng tượng trưng rõ rệt nơi các nhà thơ Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Huy Cận và gần gũi với chúng ta hơn là thi sĩ Đinh Hùng” [80].

Cũng trong số báo đặc biệt này, nhà phê bình văn học Đặng Tiến đã viết tiểu luận Vũ trụ Đinh Hùng [104] khá qui mô, chạm đến nhiều vấn đề thú vị khi đi vào phân tích chi tiết nhiều đặc điểm trong thơ Đinh Hùng cả về phương diện ngôn ngữ lẫn thi ảnh làm bật lên được cái thi giới riêng biệt, kì lạ của thi sĩ. Tác giả cho rằng: “(…) Thơ Đinh Hùng là một thi giới đã trưởng thành, một năng lực sáng tạo vượt ra khỏi thực tại”. Và chúng tôi xin trích dẫn tiếp ra ngay đây một nhận định rất đáng để suy nghĩ của nhà phê bình này: “Những bài thơ cuối cùng, Đinh Hùng vẫn còn giữ mực thước trong tác phẩm đầu tiên, hình thức thơ cũ. Bạn đọc trẻ cho là xưa quá; người đọc đứng tuổi cho rằng không truyền cảm bằng thơ Xuân Diệu, Huy Cận. Sự thật không đúng như vậy; so với các nhà thơ tiền chiến, nghệ thuật cấu tứ và tạo hình của Đinh Hùng vượt rất xa, đã dựng được một thế giới thi ca thuần nhất, song song với thực tế trong khi nhiều tác giả trong phong trào Thơ Mới chỉ mới tô điểm thực tế bằng văn vần”. Và phải nói rằng, Đặng Tiến rất tâm đắc với những gì mình đã viết vì mấy mươi năm sau, khi cuốn Thơ. Thi pháp và chân dung [105] của ông ra đời thì tiểu luận này đã được đưa vào và không sửa chữa gì ở phần nội dung, chỉ đổi tên thành Thi giới Đinh Hùng. Trong khả năng cho phép, chúng tôi sẽ trở lại lí giải những nhận định của tác giả này ở chương sau.

Chuyển sang tạp chí Nghiên cứu văn học, trong quá trình thu thập tư liệu, chúng tôi đã tìm thấy bài viết Tôi đọc: ‘Mê hồn ca’ của Đinh Hùng [109] của Phạm Việt Tuyền. Tác giả viết khá kĩ, đã chỉ ra thể thơ và phân tích sơ bộ cho từng bài trong 5 phần của tập thơ Đường vào tình sử. Nhìn chung, đây là một bài viết khá thú vị. Tác giả đã có nhiều nhận xét xác đáng, phần nào đã giúp cho độc giả hiểu thêm về hồn thơ Đinh Hùng.

Cùng năm này, trên tạp chí Bách khoa, Thế Nhân đã viết bài tường thuật lại buổi nói chuyện tưởng niệm Đinh Hùng, do Trung tâm Văn Bút Việt Nam tổ chức. Qua đó, ta thấy được những người yêu mến Đinh Hùng, cũng như thơ của ông, phần đông là những người trẻ tuổi.

Bước sang năm 1968, nhân một năm ngày mất của Đinh Hùng, tạp chí Văn lại dành ra một kì để đăng tải nhiều bài viết của nhiều tác giả tiếp tục ôn lại kỉ niệm và bày tỏ tình cảm tiếc thương nhà thơ vắn số.

Mai Thảo, trong bài Thơ, Đinh Hùng và hạnh phúc đã viết: “Riêng Đinh Hùng, anh đã đến được với nghệ thuật như tìm thấy một hạnh phúc. Thơ là hạnh phúc của Đinh Hùng. Với dòng thơ tiền chiến, Đinh Hùng là hạnh phúc của thơ. Cả hai phía đều nhận được tình yêu” [95].

Huy Quang, trong bài Tưởng niệm Đinh Hùng thì cho rằng: “Anh Đinh Hùng không có tuổi. Thơ của anh cũng không có tuổi vì nó đã chiếm một ngôi thứ vinh dự trong lịch sử thi ca” [82].

“Sự có mặt của một thi sĩ, có nghĩa ngang như một bất lực, một lỡ làng. Và, Đinh Hùng chính là người tượng trưng cho cái bất lực, lỡ làng đó”. Du Tử Lê đã nhận định như thế trong bài Đinh Hùng, người về muộn [53].

Và dẫu Đinh Hùng đã mất nhưng “tiếng thơ Đinh Hùng cũng vẫn sẽ còn vang động mãi” là điều mà Cao Tiêu đã khẳng định khi Khóc Đinh Hùng [106].

Thêm nữa, Trần Tuấn Kiệt có bài Những điều tôi nghĩ về Đinh Hùng [50] và Hoàng Hương Trang với bài Những kỉ niệm với Đinh Hùng [41] đã cung cấp cho chúng tôi nhiều thông tin khá thú vị trong việc tìm hiểu về cuộc đời của thi sĩ họ Đinh này.

Cảm nghĩ đầu tiên của tôi về thơ Đinh Hùng là bài viết của Bàng Bá Lân, một nhà thơ được vinh dự có mặt trong Thi nhân Việt Nam cho một thi sĩ đã không lọt vào được “con mắt thơ” của Hoài Thanh và Hoài Chân. Tác giả cho rằng: “Cái bóng dáng nhỏ nhoi gầy ốm đã khuất bóng trên đường đời; nhưng trên con đường văn nghệ, cái bóng dáng to lớn của người thơ man rợ vẫn hiên ngang đi mãi với “một mặt trời đẫm máu xuống sau lưng” như một vòng hào quang rực rỡ”[52]. Và cũng trong số báo này, bài Nhớ Đinh Hùng của Vũ Hoàng Chương đã trở thành một cứ liệu hết sức quan trọng cho chúng tôi và cho những nhà nghiên cứu văn học khác trong việc tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp của Đinh Hùng. Bởi lẽ, Vũ Hoàng Chương không chỉ là người nhà mà còn là một người bạn tri âm tri kỉ với nhà thơ. Sử dụng cứ liệu trên kết hợp với quyển Ta đã làm chi đời ta [35] chúng tôi đã tìm thấy nhiều thông tin đáng tin cậy giúp ích rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn này.

Cũng trong năm 1968, Nhà xuất bản Sống mới ở Sài Gòn đã cho ấn hành bộ sách Việt Nam thi nhân tiền chiến [72] của Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng. Phần viết về Đinh Hùng nằm ở quyển thứ ba (quyển hạ) của bộ sách. Nhìn chung, hai tác giả đã khái quát được cuộc đời và chỉ ra được nhiều đặc điểm nghệ thuật trong sáng tác của thi sĩ họ Đinh. Với chúng tôi, đây là một bộ sách hay, có nhiều giá trị không chỉ cho việc nghiên cứu sự nghiệp văn chương của Đinh Hùng và còn để tìm hiểu thêm về nhiều thi sĩ tiền chiến ở nước ta.

Viết nhân hai năm ngày mất của Đinh Hùng, kí giả Lô-Răng có bài Nhớ Đinh Hùng[58] còn Thục Vũ có bài Những ngày cuối cùng của Đinh Hùng. Cả hai bài viết đều được đăng trên tạp chí Văn, số 137. Và theo Thục Vũ thì:“(…) Đinh Hùng đã chiếm được một vị thế cao trong nền văn học hiện đại, không những vì chân tài, vì sự hy sinh tận tuỵ cho thi ca, mà còn bằng đức độ” [117].

Có lẽ không cần phải bàn cãi rằng Tạ Tỵ là một trong số ít những người viết về Đinh Hùng nhiều nhất. Năm 1970, quyển sách của ông mang tên Mười khuôn mặt văn nghệ: Lãng Nhân, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính, Đinh Hùng, Văn Cao, Sơn Nam, Mai Thảo, Nguyên Sa [113] đã được xuất bản. Bằng sự nhạy cảm và tinh tế của mình, Tạ Tỵ đã phác hoạ được chân dung của Đinh Hùng khá rõ nét và đưa ra nhiều nhận xét rất đáng chú ý. Với ông, “(…) Tiếng thơ của Đinh Hùng không thuộc về thứ tình cảm chung chung, mà toát ra tự ngôn ngữ làn ánh sáng diễm ảo, ở trong đó, từng nỗi băn khoăn, từng niềm ước vọng chạy xôn xao như tiếng thời gian đuổi nhau trên rừng cây trút lá. Đinh Hùng tự mình tạo nên sắc thái đặc biệt, rất đặc biệt, để ngụp lặn trong dòng mê cảm đó với khổ đau cũng như kiêu hãnh”. Và hơn thế nữa, Tạ Tỵ còn cho rằng: “Nói đến Đinh Hùng là nói đến cô đơn, là nói đến khát vọng. Nỗi cô đơn và niềm khát vọng đó in hằn trong kích thước thi ca mà Hùng đã dấn thân như người lính cảm tử”. Nếu không có sự cảm hiểu sâu sắc, Tạ Tỵ khó có thể viết được những dòng chữ trên. Với chúng tôi, đây là một tài liệu tốt, mở ra được nhiều đường hướng tiếp cận đối tượng nghiên cứu của luận văn.

Một tác giả khác cũng dành rất nhiều sự cảm mến, trân trọng cho Đinh Hùng là Trần Nhựt Tân. Năm 1971, trong cuốn Dư vang nghệ thuật [91], một cuốn tiểu luận lí thuyết phê bình thi ca, tác giả đã sử dụng nhiều câu thơ của Đinh Hùng để làm dẫn chứng cho những quan niệm nghệ thuật của mình và đánh giá rất cao người nghệ sĩ tài hoa này. Không chỉ dừng lại ở đó, năm 1974, một bài viết khác của Trần Nhựt Tân đăng trên Văn hoá tập san có tên Đinh Hùng trên lưng cánh chim dĩ vãng [89] đi sâu vào phân tích bài thơ Cánh chim dĩ vãng in trong tập Đường vào tình sử. Chúng tôi trích ra đây một đoạn văn tinh tế và sâu sắc của tác giả: “Nếu trở lại dĩ vãng mà chỉ thấy toàn là hư vắng và nhớ thương da diết thì chính vì Đinh Hùng đang thật sự sống lại với tình yêu tha thiết cũ. Người yêu bây giờ không còn nữa nhưng tình yêu là một chân lí nên vẫn còn đó, đang–có–đó, đang–hiện–hữu-trong–hư–vô: Anh trở lại con đường lên núi biếc, Thương mây bay từ đó vẫn cô đơn. Trở lại là sống-tại, sống-với-tình-xưa, là đang sống như một hiện tình ái: nỗi cô đơn của người thi sĩ thế là bắt đầu cho một bắt đầu…”. Bài viết sau đó được đưa vào cuốn Một phương pháp phân tách chủ đề văn chương [93]. Cũng chính trong quyển sách dày 323 trang này, Trần Nhựt Tân đã chạm đến nhiều khía cạnh và chỉ ra được nhiều ám ảnh nghệ thuật trong thơ Đinh Hùng mà chúng tôi sẽ đề cập đến ở chương sau. Và đáng tiếc nhất là chúng tôi đã không tìm được quyển Tôi đi hái Tim Đinh Hùng theo Địa bàn Không gian và Thời gian của nhà phê bình văn học này.

Sau năm 1975, theo chúng tôi, người viết về Đinh Hùng hay nhất là Đỗ Lai Thuý. Trong bài Đinh Hùng, người kiến trúc chiêm bao [100] in trong quyển Con mắt thơ (sau này là Mắt thơ 1), tác giả đã cung cấp nhiều thông tin về cuộc đời thi sĩ; làm nổi rõ nhiều đặc điểm trong thơ Đinh Hùng và đưa ra nhiều nhận định có giá trị, ví dụ: “(…) Thơ Đinh Hùng là một bước ngoặt lớn trong quá trình vận động của Thơ Mới: đây là sự chuyển hẳn sang thơ Tượng trưng. Bởi vậy, thơ Đinh Hùng khác hẳn với thơ Lãng mạn”. Và điều đáng chú ý nhất trong bài viết này là việc tác giả đã thẳng thắn đề cập đến việc Đinh Hùng lọt ra ngoài tầm mắt của Hoài Thanh: “(…) Tôi không hiểu còn những lí do nào khác nữa, nhưng tôi đoán chắc rằng Hoài Thanh đã không hiểu và không thích Đinh Hùng. Thị hiếu thẩm mỹ của tác giả Thi nhân Việt Nam chỉ dừng lại ở chủ nghĩa lãng mạn, bởi vậy những gì thuộc chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực thì ông không hiểu và không khoái. Trong Thi nhân Việt Nam, ông đã thừa nhận như vậy khi chọn Bích Khê và Hàn Mặc Tử” [33, tr.170]. Hơn thế nữa, ông còn đặt ra vấn đề: “(…) việc lấy Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam làm một tiêu chí đánh giá các nhà thơ trước năm 1945, như người ta vẫn làm tưởng cần được xem xét lại”. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong những chương sau.

Năm 1999, cuốn Chiêu niệm bốn nhà văn Sài Gòn: Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Tam Lang, Nguyễn Đắc Lộc [79] của Thế Phong được ra đời. Nhìn chung, tác giả đã cố gắng trong việc giới thiệu về thân thế, sự nghiệp và một số đặc điểm chính trong thơ Đinh Hùng. Một vài giai thoại, một số chi tiết thú vị về Đinh Hùng, chúng tôi đã kiểm chứng và sẽ sử dụng trong những phần sau của luận văn.

Năm 2006, bài viết Những sáng tạo trong thơ Đinh Hùng in trong Những gương mặt tiêu biểu thi ca Việt Nam [114] của Kiều Văn đã được ra mắt độc giả. Qua 6 trang sách, Kiều Văn đã cố gắng nêu ra một số sáng tạo độc đáo của thi nhân họ Đinh này. Tuy nhiên, với chúng tôi, bài viết này không có nhiều giá trị cho việc nghiên cứu của mình.

Bên cạnh đó, còn có Thế Phong với Lược sử văn nghệ Việt Nam [78]. Bài viết khá sơ sài trong việc so sánh và giải thích. Có nhiều thông tin tác giả cung cấp chưa chính xác và còn chủ quan.

Và mới đây, chúng tôi nhận được thông tin là đã có một luận văn cao học của Nguyễn Quan Nghiêm ở trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng viết về Thế giới nghệ thuật thơ Đinh Hùng. Tác giả đã chọn hướng tiếp cận theo lối thi pháp học và đối tượng của luận văn là hai tập thơ Đường vào tình sử và Mê hồn ca.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »


User avatar
tiendung
Posts: 348
Joined: Wed Dec 01, 2010 10:09 pm

Post by tiendung »

Image
Duy Trác: Tuổi Già Của Tôi


Năm 1992 gia đình tôi tới Mỹ, một quốc gia tự do và nhân đạo, với 13 nhân khẩu. Không ngờ, vốn chỉ là một ca sĩ tài tử và đã bị chính quyền Cộng Sản giam cầm và cấm hát suốt 17 năm, tôi vẫn được mộttrung tâm ca nhạc tiếng tăm mời sang Paris tổ chức một buổi hội ngộ với thính giả và thu những băng nhạc nghệ thuật.

Các thính giả đã vào cả hậu trường chào mừng tôi, buồn vui, mừng tủi. Tôi chỉ còn nhớ, và nhớ mãi, một câu chào, như mâu thuẫn và thật lòng: “Bác (hay chú) chẳng thay đổi gì cả, chỉ già đi nhiều thôi.”

Ồ! Tôi đã già đi! Chắc chắn rồi. Nhưng tôi đã không có thì giờ nghĩ đến. Làm sao có thì giờ nghĩ đến khi không biết ngày nào hết cảnh lao tù để về chung sức với vợ nuôi nấng 6 đứa con, 5 đứa cháu và một mẹ già đau yếu. Nhất là nỗi đau mất 3 đứa con và 7 đứa cháu trên biển cả. Nỗi đau quá lớn khiến mẹ đã té ngã và trở thành phế nhân với nửa người bất động.

Trong đời sống của mỗi con người, ai cũng có 3 giai đoạn: tuổi thơ, tuổi thanh xuân và tuổi già.
Riêng tôi tuổi thơ hầu như không có. Cha mẹ mất sớm, bị những người lớn tuổi trong đại gia đình hành hạ; năm 12 tuổi tôi đã bỏ đi sống một mình.
Tôi còn nhớ, hồi đó ở vùng kháng chiến Việt Bắc tôi thi vào trường Sư Phạm; với học bổng 18 kg gạo, 180 đồng tiền thức ăn, và 1 chai dầu dùng để thắp đèn học đêm. Nghỉ hè, trường không phát học bổng, tôi phải đi hái trà và đạp trà thuê. Cuối ngày lãnh tiền đủ đong được chút gạo, hái rau rừng làm thức ăn. Với đủ mọi hình thức kiếm tiền lương thiện,tôi đã phấn đấu học hành, làm việc với châm ngôn do mình đặt ra: không hận thù những người đã hành hạ mình và phải cố gắng học cho thành tài. Cả hai châm ngôn này tôi đã thực hiện đầy đủ và chân thành. Bỏ vùng Việt Bắc, trở về Hà Nội rồi di cư vào Nam, tôi đã cố gắng hoàn tất việc học, trở thành luật sư đồng thời lập gia đình năm 1961.

Ngẫm nghĩ lại, tuổi thơ không có, tuổi thanh xuân cũng không được bao nhiêu. Sau khi gia nhập Luật Sư Đoàn được 2 năm và lập gia đình được hơn 1 năm, vào năm 1962 tôi được gọi nhập ngũ. Dĩ nhiên, phục vụ đất nước trong thời chiến tranh là nghĩa vụ thiêng liêng của con dân một nước. Nhưng rời bỏ gia đình mới được hơn một tuổi, bỏ lại vợ và con thơ để làm nghĩa vụ người trai trong 13 năm rưỡi rồi tiếp theo là 11 năm tù đày trong các trại tù Cộng Sản; thì hỡi ôi tuổi thanh xuân của tôi đã mất hút tự bao giờ tôi cũng không còn nhớ được nữa. Ra tù và sang đến Mỹ năm 1992 thì tôi đã ở vào tuổi 56. Các thính giả có bảo là già đi nhiều thì cũng phải thôi. Tiếp tục vật lộn với đời sống để nuôi gia đình nên mối ưu tư về tuổi già, về những chăm sóc cho tuổi già được sống hợp lý, tốt đẹp cũng không phải là điều dễ dàng. André Maurois đã viết:

“Năm, sáu chục năm trời nếm trải những thành công và thất bại, hỏi ai còn có thể giữ được nguyên vẹn những điểm sung mãn thời trẻ? Đi vào hoàng hôn của cuộc đời như đi vào vùng ánh sáng đã điều hòa, ít chói chang hơn, mắt khỏi bị lóa bởi những màu sắc rực rỡ của bao ham muốn. Và như vậy già là một tất yếu của vòng đời, một chuyện đương nhiên khi người ta tính tuổi, cớ sao phải lãng tránh? Có trẻ thì có già, đó là nhịp điệu của vũ trụ, đâu cần phải khổ đau vì già? Trái lại, phải làm sao để có một tuổi già hạnh phúc.”
Trong thời gian tôi theo học tại trường Luật, có một người bạn đã gửi cho tôi một tấm thiệp giáng sinh trên đó có ghi toàn văn bản dịch của bài thơ “TUỔI TRẺ (YOUTH)” của Samuel Ullman. Lời lẽ bài tthơ thật là sâu sắc, đầy tinh thần lạc quan, nó ảnh hưởng sâu sa đến tôi trong mấy chục năm nay.

Mặc dầu nó được viết ra từ năm 1918, lúc tác giả đã 78 tuổi nhưng ý tưởng thật mới mẻ. Xin trích một vài câu tiêu biểu:
“Không một ai lại già cỗi đi vì những năm tháng trôi qua. Chúng ta già nua bởi vì ruồng bỏ lý tưởng của mình. Năm tháng có thể làm nhăn nhúm làn da của chúng ta, nhưng sự từ bỏ tinh thần hăng say, phấn khởi mới làm tâm hồn chúng ta héo hắt.”

Tướng Douglas Mc Arthur rất tâm đắc với bài thơ này và ông đã cho trưng bày bài thơ ngay tại phòng làm việc của ông ở Tokyo khi ông đang là Tư Lệnh Quân Đội Đồng Minh đặc trách công việc giải giới và phục hồi nước Nhật sau chiến tranh. Rồi vào năm 1946, tạp chí Reader’s Digest ấn bản tiếng Nhật đã phổ biến toàn văn bài thơ bất hủ này bằng Nhật ngữ. Nhân dân Nhật đã hân hoan đón nhận cái tín hiệu đầy lạc quan, tích cực và năng động của bài thơ không vần này. Cũng từ đó họ đã hăng say dấn thân vào việc tái thiết đất nước, khiến nước Nhật lấy lại được vị thế cường quốc về kinh tế, chính trị cũng như văn hoá như ta thấy ngày nay.

Sau đây là nguyên văn bài thơ:

YOUTH
By Samuel Ullman (1840-1925)

Youth is not a time of life; it is a state of mind;
it is not a matter of rosy cheeks, red lips and
supple knees; it is a matter of the will, a quality of
the imagination, a vigor of the emotions; it is the
freshness of the deep springs of life.
Youth means a temperamental predominance
of courage over timidity of the appetite, for
adventure over the love of ease. This offen exists in
a man of sixty more than a body of twenty. Nobody
grows old merely by a number of years. We grow
old by deserting our ideals.
Years may wrinkle the skin, but to give up
enthusiasm wrinkles the soul. Worry, fear, selfdistrust
bows the heart and turns the spirit back to
dust.
Sixty or sixteen, there is in every human
being’s heart the lure of wonder, the unfailing
child-like appetite of what’s next, and the joy of
the game of living. In the center of your heart and
my heart, there is a wireless station; so long as it
receives messages of beauty, hope, cheer, courage
and power from men and from the infinite, so long
are you young.
When the aerials are down, and your spirit is
covered with snows of cynicism and the ice of
pessimism, then you are grow old, even at twenty,
but as long as your aerials are up, to catch the
waves of optimism, there is hope you may die
young at eighty.

Năm 1992 tôi tới Mỹ với một tấm thân tàn vì bệnh hoạn, đói khổ, và tù đầy. Nếu không nhờ nền y tế tối tân và siêu việt của quốc gia này, tôi không còn sống tới ngày hôm nay. Từ bệnh cao huyết áp, tiểu đường, nghẽn mạch máu tim, cao mỡ v.v.., tôi đã phải vào bệnh viện 5 lần, thông tim 4 lần, stroke nhẹ 2 lần. Tôi phải liên tục dùng thuốc trong mười mấy năm nay, tốn kém của nhà nước bao nhiêu tiền của. Tôi đã cố gắng tập thể dục, ăn uống kiêng cữ, và nhất là tìm một môn luyện tập thân thể theo phương pháp đông phương thích hợp với tuổi già. Đấy là nguồn gốc cái duyên mà tôi tìm đến với môn Taichi.

Một lần trong một buổi phát thanh của đài VOVN, phỏng vấn các vị lãnh đạo TAEKWONDO thế giới, tôi đã hỏi ngắn gọn về môn Taichi thì nhận được những lời ngợi khen nồng nhiệt và có ý kiến rằng môn tập này mang ý nghiã sử dụng nguyên lý âm dương như một võ công. Muốn có được những lợi lạc của phương pháp Taichi thì cần có ý niệm về khí công. Một trong những điều căn bản cần nắm vững là phải biết thư giãn bản thân. Vì Taichi hầu như chỉ được tập luyện qua những động tác chậm cho nên ở bất cứ tuổi nào người ta cũng có thể luyện tập một cách dễ dàng.

Một lợi điểm phụ thuộc là có được khả năng tự vệ. Đấy cũng là quan điểm của võ phái Taekwondo. Các tài liệu khoa học theo tạp chí Science Daily gần đây có nêu 2 lợi điểm nổi bật trong việc tập thể dục theo phương pháp Taichi:
- Một là chữa các dạng viêm khớp
- Hai là gia tăng sức đề kháng nơi những người lớn tuổi

1/ Taichi giúp chữa viêm khớp:

Một công trình mới đây của viện nghiên cứu The George Institute International Health cho thấy Taichi có lợi rõ rệt đối với các chứng viêm khớp. Một số các nhà nghiên cứu đang tiến hành một cuộc thử nghiệm để xem phương pháp thể dục đó có hiệu quả gì đối với chứng đau nhức ở phần dưới của lưng hay không.

2/ Taichi giúp gia tăng sức đề kháng ở người lớn tuổi:

Tập thể dục theo Taichi đã được ít nhiều Tây hóa của một môn võ thuật Trung Hoa từ hơn 2000 năm trước với những nét đặc trưng như vận động chậm rãi trong tư thế trầm tư. Phương pháp này có khả năng tăng cường sức đề kháng nơi người cao niên chống các loại vi khuẩn gây nên các chứng nổi mần, nổi ngứa rất khó chiụ trên da, mà thuật ngữ y học tiếng Anh gọi là Shingles, theo như một nghiên cứu mới nhất của Đại học UCLA ở California.
Tôi không phải là một nhà nghiên cứu mà chỉ là một ông già nhiều bệnh đi tìm một môn tập có thể giúp mình giải thoát được phần nào những tật bệnh đã hành hạ mình từ bao năm nay. Do một cơ duyên tình cờ, tôi đã đến với hội TỪ BI PHỤNG SỰ. Hội do Thầy HẰNG TRƯỜNG sáng lập với mục đích phục vụ tha nhân về mặt tinh thần và thể lực. Trụ sở chính của hội đặt tại California nhưng Thầy HẰNG TRƯỜNG đã huấn luyện được hàng trăm huấn luyện viên hiện sinh sống tại nhiều thành phố lớn có đông người Việt cư ngụ. Hội mở ra các lớp tập mang tên CÀN KHÔN THẬP LINH phối hợp giữa 2 môn Taichi và Yoga. Yoga cũng là một môn tập rất lâu đời cuả người Ấn Độ mà lợi ích to lớn cuả nó thì ai cũng đã biết rõ. Sự phối hợp nhịp nhàng và chặt chẽ giữa Taichi và Yoga đã khiến những bài tập CÀN KHÔN THẬP LINH trở nên hiệu quả một cách tuyệt hảo. Thế là bao mong ước của tôi về môn Taichi không những đã được đáp ứng mà còn được đáp ứng một cách hoàn mỹ nữa nhờ có thêm Yoga.

Tôi theo tập lớp Càn Khôn Thập Linh này đã được hơn 2 năm và giờ đây những bệnh tật của tôi, không quá lạc quan là đã hết hẳn, nhưng hình như đã nằm yên để cho những ngày già của tôi được an bình. Ông Bác sĩ người Mỹ ở bệnh viện tim khám bệnh thường xuyên cho tôi 3 tháng 1 lần, nay đã hẹn 1 năm nữa mới phải trở lại. Có lần tái khám, ông ấy mỉm cười nói:
“Chẳng lẽ tôi hẹn ông 2 năm mới khám lại thì kỳ quá!”

Bây giờ các bệnh máu cao, mỡ cao, đường cao đều đã xuống. Hoạt động của tim cũng điều hòa. Có một điều này nữa, tôi không nói dối đâu. Tất cả các bằng hữu, người quen biết hay các fans âm nhạc khi gặp tôi đều có cùng một nhận xét là tôi trẻ ra nhiều, thậm chí còn trẻ hơn ngày tôi mới sang Mỹ năm 1992 nữa.

Tất cả các bạn già cùng tập Càn Khôn Thập Linh với tôi đều có kết quả như tôi, nhiều hay ít mà thôi.Ngày mới tập, mỗi thế tôi chỉ làm được 5, 7 lần là đã thấy mệt. Nay tôi có thể “múa” được 15, 20, thậm chí 25 lần vẫn thấy thoải mái. Thấm nhuần và mở rộng các quán tưởng của mỗi thế tập còn khiến người ta thấy yêu đời, yêu người, mở lòng mình ra vũ trụ, ra thế giới bên ngoài, nhân ái với hết thảy mọi loài nữa.

Qua bài viết này, trước hết tôi muốn gửi lời cảm ơn đến Thầy Hằng Trường, người đã bỏ bao công sức, bao thời gian, đi đến những vùng rất xa xôi trên đất nước Trung Hoa để tìm tòi, học hỏi mà sáng chế ra những thế tập qua tên gọi của những con vât tượng trưng cho sự nhẫn nại, sự hiền hoà, sự vượt khó v.v… Bài tập CÀN KHÔN THẬP LINH quả đã mang lại sức khỏe, sự tươi vui … cho những người tìm đến nó.

Lời cảm ơn tiếp theo tôi xin gửi đến toàn thể anh chị em Huấn Luyện Viên của hội TỪ BI PHỤNG SỰ đã chia sẻ với chúng tôi những kiến thức quí báu, đã hy sinh thời giờ, ngay cả tiền bạc để mang lại cho chúng tôi những bài tập bổ ích, những phòng tập thoải mái mát mẻ. Để kết thúc bài viết này tôi xin giới thiệu bài thơ vui, rất vui (do một người bạn gửi cho), dành cho những người tuổi hạc như tôi vậy.

SỬA LẠI GIÂY ĐỜN
Thanh Mai


60 chưa phải là già
60 là tuổi mới qua dậy thì
65 hết tuổi thiếu nhi
70 là tuổi mới đi vào đời
75 là tuổi ăn chơi
80 là tuổi yêu người yêu hoa
90 mới bắt đầu già
Đêm đêm vẫn cứ mặn mà yêu đương
100 có lệnh diêm vương
Cứ ở trên ấy yêu đương thỏa lòng
Bao giờ đạn hết lên nòng
Từ từ nằm xuống là xong một đời

Duy Trác
HOUSTON
7/9/2009

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Lá rụng nơi thiên đường!
- Này ông,
- Gì, để tôi ngủ thêm tí nào
- Dậy đi, chở tôi ra chợ hoa bằng xe đạp đi
- Sao hôm nay bà lại giở giời thế này. Ra mua cái vé tàu điện ngầm mà đi chợ... Bà lão thân yêu ơi, cho tôi ngủ thêm tí nữa thôi mà...?
Lèm bèm, năn nỉ đủ cách mà chả được, ông cũng đành dậy.

2 ông già bà cả đèo nhau trên cái xe đạp của thằng cháu. Thời buổi động 1 tí là người ta đi tàu ngầm, ô tô, 2 ông bà trên cái xe đạp làm bao nhiêu người đi bộ phải ngoái nhìn.
- Lát ông phải mua hoa tặng tôi nhé.
- Ừ, mua cho bà 1 củ khoai ngay đây.
- Ơ, tôi bảo mua hoa cho tôi mà.
- Mua cho bà củ khoai để bà ngồi ăn, đỡ ngồi réo sau lưng tôi nữa.
Gió thổi dìu dịu theo những bánh xe quay. Tia nắng vàng chảy tràn những con phố thân thuộc. Bà dựa vào lưng ông, tận hưởng cảm giác bình yên thư thái. Những kỉ niệm xưa ùa về trong tâm trí, mờ ảo nhưng vẫn thật lung linh ấm áp. Những lần đưa đón, hẹn hò, giận dỗi... Ông im lặng, có lẽ ông cũng đang nhớ lại thuở đẹp đẽ xưa kia.

2 ông bà ra chợ hoa, xong cũng chả mua gì. Ông thì không có hứng thú với hoa hoét, bà thì xem xem ngắm ngắm xong rồi cũng chả chọn hoa nào. Chợt ông bật cười:
- Cứ y như cách đây bốn chục năm ý nhỉ. Bà vẫn là cái đồ kiết xu như trước.
- Còn ông gạch ngói bốn mươi năm vẫn chẳng mòn.
Bà cười thật lớn. Nhưng thật sự bà đang cảm thấy rất mệt. Gần đây bà thường xuyên bị lả người và gầy đi rất nhiều. Chiếc lá vàng, chỉ chờ một cơn gió nhẹ để trở về với lòng đất...

Hôm nay là sinh nhật ông vì thế mà bà "giở giời" như vậy. Ở cái tuổi răng đã lung lay cả hàm thế này nói đến chữ “sinh nhật” có vẻ không hợp, và ở tuổi này thì còn ai mà nhớ đến ngày sinh nữa đâu. Nhưng bà có một linh cảm, có lẽ đây là lần sinh nhật cuối cùng của ông mà còn có bà ở bên...
- Cho ông hôm nay qua nhà mấy ông hàng xóm chơi điện tử đấy
- Thật á, bà lão hôm nay được ăn củ khoai xong nên tử tế hẳn

Bà dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng những món ăn ông thích nhất. Bà cũng ra hiệu bánh đặt một chiếc bánh gateau nho nhỏ. Cuối tuần, cả nhà đi vắng hết. Thế lại hay, bà muốn dành khoảng thời gian đặc biệt này với riêng mình ông. Đang chuẩn bị nốt nến để thắp bánh thì bà bỗng thấy tối sầm lại. Bà cố đi vào phòng, ra chiếc giường và nằm xuống nghỉ.
- Bà nó ơi, hôm nay tôi đánh thắng to nhé, các lão ấy bị tôi cho ăn hành tơi tả.

Không có tiếng trả lời, dự cảm chẳng lành, ông chạy ngay vào phòng của 2 người và thấy bà đang nằm đó. Trông bà rất yếu.
- Bà nó ơi, bà sao thế?
- Ông... tôi mệt lắm... Ông ra chỗ bếp mang bánh sinh nhật và nến vào đây.
Lúc này ông mới nhớ ra hôm nay là sinh nhật mình. Ông cảm thấy điều gì đó không ổn, nhưng ông không hỏi nữa và ra bếp lấy bánh vào.
- Giờ tôi mới nhớ ra hôm nay là sinh nhật tôi đấy. Bà cầu kỳ thế này. Bà nó ơi, bà nó thấy mệt lắm à, để tôi gọi bác sỹ đến xem nhé.
Bà mỉm cười.
- Ông ơi... Tôi thấy mình đã đến lúc lên thiên đường rồi.
- Bà nói gì thế, đừng nói nữa! Chỉ vớ vẩn.
Ông thấy sợ hãi khi nghe bà nói thế

- Ông để tôi nói... Tôi làm những món ông thích nhất... và có cả bánh gateau nữa... Sinh nhật của ông lần cuối cùng mà tôi có thể ở bên... Tôi cảm thấy thật hạnh phúc khi có ông bầu bạn từng ấy năm...... Ông ở lại mạnh khỏe và chăm lo cho con cháu nhé...
Nước mắt lăn dài. Ông biết là ngày này sẽ đến nhưng ông vẫn cảm thấy không trụ vững nổi khi đối mặt với giây phút đó. Ông cầm tay bà, run rẩy, và ông nói trong nước mắt.
- Bà lão ơi, làm sao tôi có thể ở lại mà không có bà...
- Tôi muốn... nghe... điều ước... trong sinh nhật... của ông...
Ông nghẹn ngào và tưởng chừng trái tim mình cũng đang rời khỏi cơ thể để đi theo người vợ thân thương.
- Gặp bà và chung sống với bà là mọi điều ước của tôi đã thành hiện thực rồi. Nếu có ước tôi chỉ ước được gặp bà sớm hơn, bà lão ạ.

Bà nở nụ cười cuối cùng và nhắm mắt...
Bà đã có một thiên đường ở trần thế này. Giờ chỉ là đi đến 1 thiên đường khác, và chờ ông ở đó...

Phan Kim Thanh

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Lê Trạch Lựu Và Nhạc Phẩm "Em Tôi"

Năm 1946 là năm tôi đi trại hè Sầm Sơn (05/1946), đi với đoàn Hướng Đạo, cùng nhiều đoàn khác, tập trung tại sân ga Hà nội. Tôi thoáng thấy một cô gái xinh xinh, dáng người phong nhã, có đôi mắt đẹp tuyệt vời. Không hiểu sao tôi thấy tôi như choáng váng, má tôi nóng bừng như lên cơn sốt; lần đầu tiên tôi thấy tôi có cái cảm giác lạ lùng này.

Nhà đoàn tôi « đóng trại » to lớn, rộng rãi, đó là những biệt thự nghỉ mát của bọn Pháp thuộc điạ bỏ lại, trước nhà là bãi biển mênh mông, sau nhà có một cái giếng. Trưa nào tôi cũng thấy cô gái ấy, đội nón, dưới nắng trang trang rũ áo, tôi ngồi bên cửa sổ nhìn cô ta. Thỉnh thoảng cô nàng ngửng đầu lên, vành nón che đôi mắt, nhưng tôi biết là cô ta đang nhìn tôi. Thú thật, tim tôi đập thình thình. Chao ơi, yêu đương là như vậy hay sao? Đây là một rung động đầu tiên, nào đâu tôi có biết cảm giác này từ thuở ra đời.

Về Hà nội tôi tìm nhà cô ta, vì có duyên nên tìm được ngay, cô ta ở gần nhà tôi. Bây giờ ta phải tìm biết tên cô ta nữa! Chiều nào tôi cũng đi qua nhà cô ta, để nhìn vào nhà, tìm lại đôi mắt đẹp. Tôi thấy có nhiều cậu trai cỡ bằng tuổi tôi đi qua đi lại trước cửa nhà, như tôi. Lúc đó tôi cũng thấy hơi hơi lo… sợ mất !
Nhưng may cho tôi, hồi ấy có một chú bé đi theo tôi hoài, hỏi ra là chú Mỹ, em cô Phượng. Trời ơi là trời, đất ơi là đất! Chúng tôi đi chơi với nhau. Một hôm, tôi viết một lá thư và mạnh dạn tôi hăng hái ra đi, nhưng chiều hôm đó tôi không thấy cô ta ra đứng ngoài cửa hóng mát. Rồi chiều hôm sau, chiều sau nữa. Thế rồi một chiều nào đó, tôi lại thấy cô ta đứng rũ tóc bên thềm.

Tìm đủ nghị lực, tôi sán gần cô ta, tay đưa lá thư, miệng lắp bắp một câu: « Phượng… Phượng cầm… cầm lấy cho… cho… tôi… tôi… lá thư này… » Rồi xong, tôi cắm đầu đi mất, không dám quay lại, sợ nhìn thấy hoặc cô ta xé lá thư, hoặc quẳng xuống lề đường… tôi sẽ mắc cỡ …
Để đỡ cho cái nặng nề đó, tôi tìm cách nói khéo với chú Mỹ, chú bằng lòng ngay. Thế là chú thành con chim xanh của tôi. Chiều nào chú cũng để một lá thư lên bàn. Bẩy tháng trời tôi viết đều đều, gần bẩy chục lá thư mà vẫn không thấy trả lời.

Tôi đau khổ quá không biết cô ta có yêu tôi không, tại sao cô ta không trả lời tôi, dù thuận dù không… Lúc bấy giờ tôi mới biết là tình yêu, thế nào là đợi chờ, là có nhiều đau khổ. Héo hon con người.

Thế rồi một hôm chú Mỹ tất tưởi chạy đến nhà tôi, đưa cho tôi một lá thư, hôm đó là một tuần trước ngày kháng chiến toàn quốc, tôi bồi hồi cầm lá thư, ở một góc có đề : Xin TRẠCH LỰU đừng giận KIM PHƯỢNG mà xé lá thư này…, tôi mở ra, đọc từng hàng chữ đều đều, tròn tròn, vuông vắn. Phượng nói yêu tôi từ ngay lúc đầu… nhưng muốn thử lòng tôi để xem tôi có phải là người đứng đắn rồi nói rằng ngày mai Phượng đi tản cư… ở Hà Ðông, cách làng tôi mấy làng… Tôi bàng hoàng như tỉnh một giấc mơ lâu dài chờ đợi từ bao nhiêu giờ, bao nhiêu phút. Thế là hai hôm sau, tôi đi bộ từ Hà nội qua làng tôi tới làng tạm trú của gia đình nàng, chúng tôi đi chơi dọc dòng sông Nhuệ cùng chú Mỹ, mẹ của Phượng, bà cụ nhìn chúng tôi âu yếm từ đằng xa …

đi chơi cùng nhau hết cả buổi chiều, tôi không dám cầm tay Phượng, tôi ân hận tới bây giờ.

Tôi trở về thành, thế rồi chiến tranh, ba năm sau tôi sang Pháp. Không rõ Phượng ở đâu, tôi vẫn nhớ Phượng hoài. Một hôm trong trường cái nhớ nó làm tôi điên đầu… trong giờ Etude cuối lớp có anh chàng TRẦN BÍCH LAN NGUYÊN SA đang đọc Socrate hay sao, bên phải gần cửa sổ HOÀNG ANH TUẤN… không biết hắn làm gì, chắc đang làm thơ, tôi cầm cây đàn bấm bấm… hai ngày sau thành bài EM TÔI… cả nhạc lẫn lời. Chủ nhật ra Paris, đường Volontaires, sau bữa cơm trưa, quây quần với nhau, trong đó có Anh Tuấn, Thi Liên, Thoa em gái Nguyên Sa về sau lấy Trần đình Hòa, Bội Liên đã nhận được bài tôi gửi tới trường, hồi đó cô ta có yêu tôi, nhưng tôi tránh vì cô ta con nhà giầu… , Bội Liên dạo nhac trên mấy phím ngà… Nhạc EM TÔI vang lên khắp cả căn phòng, tôi tê tái nghe nhạc tôi, tôi thấy là lạ, chưa quen… vì mỗi lần tôi đã nghe trong tôi hay nghe cây đàn bên tôi nói với tôi, bây giờ những ngón tay ngà chạy qua phím đàn đến với tôi, tôi như ngỡ ngàng đi vào cơn mê…

Thế rồi tôi chép lại nhạc và lời trên trang giấy học trò, trên những giòng như đã kẻ nhạc, tôi gửi tới nhà xuất bản TINH HOA…
Những tháng năm qua…



KHI «EM TÔI» ĐƯỢC NỔI TIẾNG , TÔI KHÔNG ĐƯỢC SỐNG CÙNG VỚI THỜI ĐẠI ĐÓ VÌ TÔI Ở XA , TÔI KHÔNG ĐƯỢC NHÌN NHẬN RÕ RÀNG THẾ NÀO LÀ MỘT BẢN HÁT ĐƯỢC NGƯỜI ĐỜI YÊU CHUỘNG… TRAI HAY GÁI, AI AI CŨNG TƯỞNG LÀ MÌNH CÓ MỘT NGƯỜI YÊU , HAY MÌNH ĐƯỢC YÊU , HAY MÌNH TƯỞNG TƯỢNG CHÍNH MÌNH LÀ CÔ GÁI ẤY , CÒN CẬU TRAI ĐƯỢC YÊU CÔ GÁI DỊU DÀNG, THƠ NGÂY, ÂU YẾM , MƠ MÀNG CHO NÊN AI AI CŨNG HÁT… CŨNG TƯỞNG LÀ MÌNH… CŨNG CẦM LẤY CÂY ĐÀN…

Rồi một hôm tôi tìm ra điạ chỉ của Phượng tôi viết về cho chú Mỹ, Mỹ trả lời tôi:
« Em nhận được thư anh, thế là anh vẫn mạnh, chị Phượng đợi anh trong một năm dài, thấy anh không về, tưởng anh chết, rồi ba năm sau chị Phượng để tang anh. Nhiều người đến hỏi chị, chị chỉ lắc đầu. Chị vẫn đợi anh, nhưng hôm qua chị Phượng đi lấy chồng, chị đã 26 tuổi rồi, ngày ngày thầy me thúc dục. »

Thế là tôi cắt đứt, để Phượng đi lấy chồng cho êm thấm, có bổn phận với chồng với con. Tôi không muốn ám ảnh Phượng nữa để cho nàng yên phận.

Sáu chục năm rồi vẫn nhớ em,
Nhớ ai rũ tóc đứng bên thềm,
Nhớ người giặt áo bên bờ giếng,
Nhớ nhiều, nhớ mãi, mãi không quên…

Sáu chục năm sau, tôi được biết tin một người bạn cùng trường năm xưa, anh Nguyễn Thiệu Giang viết cùng một tờ báo với tôi hồi đó cùng Thanh Nam, tôi có nhờ anh ta đến căn nhà cũ, anh nói Phượng không còn ở đấy nữa. Nhưng có cho tôi số phone, tôi gọi Phượng, đầu giây Phượng trả lời, tôi nói là tôi, cô ta nhắc đi, nhắc lại ba lần, anh LÊ TRẠCH LỰU hả, anh LÊ TRẠCH LỰU hả, như không tin là có thật, khi tôi bảo là tôi thì cô ta òa ra khóc.

Nói chuyện cùng nhau hơn nửa tiếng, sau những lúc ân cần hỏi han. Phượng có nói, anh ấy có theo đuổi Phượng trong bốn năm trời, Phượng bảo Phượng có người, anh ta cứ đeo đẳng, Phượng có nói với anh ấy chuyện Phượng và anh. Anh ta chịu là trong lòng Phượng có một người. Tôi xin thành thật cảm ơn Phượng, tình yêu Phượng cho tôi. những năm đợi chờ, đau khổ. Một lúc sau tôi hỏi Phượng: «Thế Phượng còn giữ mấy lá thư ấy không? » Tôi muốn tìm hiểu văn thời 16 tôi viết ra sao chắc là văn lủng củng lắm.
Phượng trả lời tôi:
« Em để vào trong một cái hộp, nó đi theo em tất cả mọi nơi, trong đó có cả tập ảnh chụp hồi đó, nhưng chồng em thấy lúc nào em cũng buồn, nói với em nên giấu nó đi một chỗ, khi nào vui thì hãy mở ra. Thế là ông ta bỏ vào đâu không rõ, mấy năm sau ông ta mất, tìm kiếm khắp nhà không ra. Em chỉ nhớ anh viết dài lắm… viết dài lắm… Hôm nọ em muốn tìm cái hình anh hồi đó, mà không thấy đâu. Tủi thân, em lại ngồi khóc, may rằng con, cháu em bữa đó tụi nó không có nhà…

Thu Tao Ngộ
Tháng mười năm 2009
LÊ TRẠCH LỰU

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Image

Tống biệt hành
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=-NBi2R4XR3

Thâm Tâm

Đưa người ta không đưa sang sông
Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong

Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng
ly khách ly khách con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại
ba năm mẹ già cũng đừng mong

Ta biết người buồn chiều hôm trước
bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay
Trời chưa mùa thu tươi lắm thay
em nhỏ thơ ngây đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay

Người đi ừ nhỉ người đi thực
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
chị thà coi như là hạt bụi
em thà coi như hơi rượu cay

Post Reply