Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Buổi chiều đi chơi với Thạch Lam

nguyễn tường giang

- cuối cùng rồi con cũng đã về
- vâng, con đã về dù có hơi chậm
- cũng chẳng sao, bao nhiêu là đổi thay
- vâng, cũng là một đời người

Tôi nhìn ra phiá sau ông, bầu trời hơi đục, có vẻ hiu hắt của mùa thu. Một dải núi thấp nhấp nhô cắt những đường viền mờ ảo, tím nhạt. Tôi hơi rùng mình, một cơn gió lạnh lùa qua. Ông đứng sững giữa khoảng không, trống và rộng, bàn tay phải để trên cằm, một ngón tay, ngón tay trỏ, tựa trên đầu mũi cao và thẳng. Đôi mắt sâu và đen nhìn bâng quơ ra phía trước, nhưng không chủ đích, tựa như ông nhìn một hình ảnh nào rất xa xôi trong quá khứ, không có ở nơi này. Tôi cúi xuống loay hoay gỡ những bông cỏ may bám vào gấu quần, đã lâu lắm, có thể hơn năm mươi năm, tôi mới gặp lại những bông cỏ may trên cánh đồng - thời thơ ấu nghèo nàn của những năm tản cư cùng anh chị và mẹ, như những nhân vật không có thật ở một xóm Đìa xa xôi vùng Nhã Nam, Yên Thế -thời đó ông đã chết rồi. Lúc tôi ngửng lên chợt thấy ông cao hơn tôi cả một cái đầu, dáng vẻ thanh tú và ung dung. Tôi cảm thấy ngượng vì thân thể đẫy đà của mình, tự hỏi nếu ông còn sống đến tuổi tôi, người ông có nặng nề như vậy không.

Khi tôi đến thăm anh Đạo ở phố Đinh Liệt, anh không có nhà. Đó là một cửa hiệu nhỏ bán quần áo trẻ con, trời đã vào cuối thu, đã thấy những cái áo len nho nhỏ rất xinh xắn treo ở gần cửa ra vào, một cái áo len của Gió Lạnh Đầu Mùa. Chị Đạo mời tôi một ly trà chờ cô con gái đi tìm bố về “ bố cháu chỉ đi quanh quẩn đâu đây thôi “. Thật là một đời sống thanh bình. Một cửa hàng nhỏ, những mầu sắc ấm cúng của mặt hàng, người vợ ngồi pha một ấm trà tiếp khách, cô con gái vui vẻ với một nụ cười rất có duyên đi tìm bố về. Đó chỉ có thể là một cảnh vật trong một phim ảnh thời tiền chiến (tôi và một người bạn nhạc sĩ đã bao lần dự tính làm phim Đôi Bạn của Nhất Linh). Nhất định đó không thể là cảnh thật, bất cứ ở nơi nào, bất cứ ở đâu vào đầu thế kỷ 21. Từ một đời sống rất chộn rộn đầy lo âu bên Mỹ, tôi bàng hoàng ngồi đây, thời gian như ngừng lại, và tôi thấy có thể Thạch Lam đang tản bộ ở ngoài kia, ngắm nghía những tấm bảng kẻ tên các cửa hiệu của Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường. Anh Đạo vào, chúng tôi chào nhau và không cần giới thiệu chúng tôi có cảm tưởng như đã quen biết từ lâu.

Câu chuyện bắt đầu từ gần một năm nay. Khi anh Việt, con bác Tam (Nhất Linh) đến ăn giỗ Thạch Lam –chúng tôi dù hoàn cảnh thế nào vẫn tiêp tục giữ truyền thống giỗ tết trong gia đình kể từ ngày mẹ chúng tôi mất đi. Anh Việt kể lại việc đi tìm mộ ông nội chúng tôi, một cách rất tình cờ và may mắn ở Cẩm Giàng. Rồi mộ của Thái, con thứ của Nhất Linh, đã tìm lại được dù mộ được di chuyển từ một nghĩa trang ở Hà Nội đến Sơn Tây trong thời kỳ chiến tranh, mộ vẫn giữ được tấm bia cũ tên khắc thô sơ bằng tay. Lân la câu chuyện, tôi hỏi thăm các chi tiết và hy vọng sẽ có đầu mối để có thể tìm được ngôi mộ của cha tôi, trước đó đã được bốc và chôn ở nghiã trang Hợp Thiện. Đó là một ngày u ám, những năm đầu của nửa thế kỷ trước, tôi thấy mấy người phu đào mộ mò lên từ một hố nước những khúc xương, có khúc còn dính thịt và được rửa sạch bằng rượu ta. Tôi vẫn còn nhớ như in cảnh mẹ tôi khóc thảm thiết khi tìm được một mảnh vải chưa tan đi cùng năm tháng và một vài lọn tóc được vớt lên. Tất cả được xếp lại ngay ngắn trong một cái tiểu sành, hai đầu nhô lên những góc nhọn, nhưng tuyệt nhiên tôi không còn nhớ được hình thù và những chữ khắc trên tấm mộ bia.

Anh Đạo đã viết một lá thư trong việc tìm ngôi mộ mới của cha tôi. Mộ đã được chuyển lên nghĩa trang Yên Kỳ/Sơn Tây. Hình như tất cả các ngôi mộ ở Hà Nội đều được chuyển lên Yên Kỳ trong thời kỳ chiến tranh. Chỉ có một vấn nạn là đã có hai ngôi mộ cùng tên Nguyễn Tường Lân, một ngôi mộ được xác định vị trí trong sổ sách của ban quản lý nghĩa trang Hà Nội ở Phùng Hưng, là nơi giữ sổ sách chính các mộ được di chuyển từ Hà Nội đến nghĩa trang Yên Kỳ và một ngôi mộ cùng tên trong sổ sách của ban quản lý tại Yên Kỳ lại xác định một vị trí khác, không ăn khớp với nhau. Cả hai ngôi mộ đều là mộ vô danh, không có bia và đều được anh Đạo chụp ảnh gửi cho tôi. Đó là lý do thúc đẩy tôi phải về Hà Nội gặp anh Đạo, và hy vọng từ đó có thể tìm ra manh mối giải quyết vấn đề.

Tôi và anh Đạo ngồi nói chuyện với nhau, chuyện gần chuyện xa, chuyện những tháng ngày anh đã trải qua ở miền Bắc sau 1954 và những ngày sau khi chiến tranh chấm dứt năm 1975. Chúng tôi tuy lần đầu gặp nhau mà như đã có nhiều kỷ niệm để chia sẻ. Cha anh Đạo đã bị bắt và mất tích từ năm 1948, cùng với anh ruột của Nhất Linh là Nguyễn Tường Cẩm ở Thường Tín/Hà Đông. Cha anh là thư ký riêng của Nhất Linh trong những ngày hoạt động. Từ sau hết chiến tranh, anh Đạo đã bỏ rất nhiều công sức để đi tìm xác của người cha mất tích. Anh đã xây sẵn một ngôi mộ cạnh ngôi mộ của mẹ anh, ngôi mộ còn để hòm trống chờ mong được hài cốt về. Anh Đạo đã kể cho tôi nghe những khó khăn và các phương thức tìm kiếm, những câu chuyện về linh cảm tưởng như không có thực, những ngày tháng đào nát cả một khu ruộng hay vùng đất nghi ngờ là có chôn xương cốt của cha anh. Rồi anh thở dài, cho rằng sự thất bại là vì trong gia đình có nhiều sự chống đối. Người em trai của anh, một họa sĩ, đã phản đối việc đi tìm hài cốt của người cha mất tích “không lẽ anh mang về một cái xương bò để thờ tôi cũng phải lậy hay sao”. Trong gia đình tôi cũng có một vài ý kiến không đồng nhất về việc đi tìm lại mộ của cha tôi. Chúng tôi bàn đến những giải pháp khác biệt, như hãy để yên những cái gì đã qua, như một giải pháp tĩnh lặng của nhà Phật – hay một cách rất khoa học là thử nghiệm DNA, nếu có thể lấy được một mảnh xương hay sợi tóc. Phương cách này bị người chị tôi nhắc nhở về chuyện “động mồ động mả “, là một việc rất kiêng kỵ của nhiều người Việt Nam miền Bắc. Tôi có cãi lại “ mộ cậu cũng được di chuyển từ Hà Nội đến Sơn Tây thì sao “, anh chị tôi đều đồng ý là di chuyển vì chiến tranh và do người khác làm thì không sao. Tôi đưa ra phương án là nếu không giải quyết được khi tôi ở Hà Nội thì xây cả hai mộ để hương khói, có khi lại làm phúc cho một người, rồi sau đó sẽ tìm cách xác định cho chính xác. Sau buổi nói chuyện hôm đó với anh Đạo, anh cho biết là phương thức thử nghiệm DNA có thể gặp nhiều khó khăn. Anh có giới thiệu một vài người dùng linh cảm, nhưng thời gian chờ đợi rất lâu, tôi không thể ở lại Hà Nội được. Chúng tôi hẹn ngày mai “đi lại từ bước đầu” để xác định sự khác biệt trong sổ sách của Hà Nội và Sơn Tây. Tôi vẫn có linh cảm là sẽ có một sự việc gì xẩy ra và công việc sẽ trôi chảy. Tôi về khách sạn với một nỗi buồn rất nhẹ nhàng, ngày mai tôi sẽ gặp cha tôi.

Anh Đạo ngồi chờ tôi ở dưới cửa hàng, trong tay anh có một bao ny lông để sẵn vài cái phong bì. Chúng tôi dự tính sẽ đến trụ sở nghĩa trang Hà Nội ở Phùng Hưng để xét lại vị trí của ngôi mộ trong sổ ở đây. Anh nói với tôi: "lần trước tôi không biết bên anh có quyết tâm hay không nên tôi chỉ hỏi sơ sài, nên không được tận mắt nhìn cuốn sổ". Rồi anh hỏi tôi có sẵn một số tiền để vào phong bì. Tôi hiểu ngay đó là tiền trà nước rất phổ thông bây giờ. Anh cũng đề nghị mua sẵn một số hoa quả, vàng hương để cúng khi lên nghĩa trang Yên Kỳ. Tôi giao anh một số tiền nhờ anh cứ dùng tự do cho mọi việc trôi chẩy. Cô con gái rất có duyên và mau mắn chạy đi lo việc mua vàng hương, cậu con rể liên lạc thuê xe cộ để lên Yên Kỳ. Chị Đạo nói cũng sẽ đi theo. Chưa biết công việc xoay chuyển ra sao, nhưng tôi rất cảm động về sự chân tình của một gia đình nền nếp cổ, của một thời rất xa xưa. Anh Đạo đèo tôi trên xe máy đến trụ sở Phùng Hưng. Văn phòng ban quản lý nằm bên cạnh và có lẽ là một phần của ngôi chùa cổ, chúng tôi đi qua hành lang bên có xắp xếp rất nhiều cỗ đại quan, sơn son thếp vàng chói lọi. Tôi nghĩ đến những cỗ quan tài bằng gỗ quý, hồng tâm nằm lặng lẽ ở một căn phòng các gia đình quyền thế, chờ đợi mang đi một thân thể nhẹ như tơ của những người bình thản chờ đợi cái chết, không như bây giờ… người ta cứ hốt hoảng cả lên! Văn phòng nhỏ chỉ đủ chỗ cho hai cái bàn và hai kệ tủ, một tấm sơ đồ nghĩa trang Yên Kỳ với các khu đánh số treo trên tường, có một hai người đến trước chúng tôi. Tôi và anh Đạo ngồi chờ trên băng ghế hẹp kê sát tường. Khi đến lượt, anh Đạo chào người coi sóc giấy tờ, ngồi xuống mép bàn và nhẹ nhàng để phong bì phía trước. Tôi đứng cạnh anh, nhìn lơ đãng như một người đi theo, không có công việc gì. Người trưởng ban chỉ vào khoảng 30-40 tuổi, gầy gò và có khuôn mặt thiếu cởi mở, tôi nghĩ có thể là vì thói quen nghề nghiệp. Anh tên Đức. Khi anh Đạo trình bầy lại vấn đề, anh Đức nói sõng: thì tôi đã đưa số ngôi mộ lần trước rồi, anh còn lôi thôi gì đây. Với một sự bình tĩnh và nhẹ nhàng tôi hiếm thấy ở Mỹ, anh Đạo vẫn từ tốn: vâng, xin anh cứ cho chúng tôi coi lại sổ một lần nữa cho chắc, có cả con ông Nguyễn Tường Lân ở đây. Sau một hồi dùng dằng qua lại, anh Đức mở tủ hồ sơ tìm một cuốn sách khổ lớn, bìa dầy, trông rất cũ như đã được mở ra đóng lại nhiều lần. Khi đến trang có tên Nguyễn Tường Lân và số ghi địa chỉ ngôi mộ, tôi xin phép được chụp ảnh. Sau vài giây đắn đo, anh Đức đồng ý cho tôi chụp trang sổ có ghi tên Nguyễn Tường Lân, khu E 18, mộ 86. Tôi chợt thấy ở đầu tên có ghi số 586 bằng chữ rất nhỏ. Tò mò hỏi thì được biết là số được viết lên các tiểu sành khi di chuyển để không lẫn lộn. Anh Đức nói: mặc dù là cao điểm của thời chiến tranh nhưng chúng tôi cũng rất cẩn thận. Tôi quên hỏi không biết đó là khoảng thời gian nào, thời gian người dồn về Hà Nội quá đông, hay cần đất cho nhu cầu quân sự, hay thời gian Mỹ ném bom…nhưng dù sao đó cũng là một việc làm tốt, nếu không thể để yên mồ mả như xưa. Bài toán đố đã có đáp số, nhưng tôi và anh Đạo vẫn giữ vẻ bình thản và cám ơn anh Đức. Tôi có xin chụp ảnh anh để làm kỷ niệm nhưng bị từ chối, tôi chỉ xin phép chụp sơ đồ nghĩa trang Yên Kỳ để việc tìm mộ dễ dàng hơn. Ra đến ngoài, anh Đạo mới than phiền: “tay này chơi sỏ mình, lần trước anh ta coi sổ rồi viết số ngôi mộ đưa cho tôi, không cho tôi coi tận mắt. Vì không đưa tiền nên thiếu đi một con số”. Rồi anh vui vẻ nói với tôi: ”thế là cả hai sổ đều ăn khớp, cụ linh thiêng thật”. Chúng tôi rời trụ sở Phùng Hưng một cách rất hồ hỡi, đến nỗi mấy bà bán hàng bên đường phải kêu lên: “hai ông già muốn chết hả”, rồi hai ba giọng vang vang nhắc nhở: “đi ngược chiều rồi”. Vừa lúc đó đèn xanh bật lên, một đợt xe máy chạy ào ào như đâm vào chúng tôi.

Đường lên Yên Kỳ, Sơn Tây đã được tu bổ nên xe chạy rất thoải mái. Những cánh đồng, bờ cây bụi cỏ hai bên đường và làng mạc xa xa đều gợi cho tôi một cảm giác man mác, như tôi chưa bao giờ rời bỏ quê hương này. Tôi hỏi anh Đạo về những địa danh bên đường nghe và đọc nhiều nhưng chưa bao giờ đi qua. Tôi đã về Hà Nội đôi ba lần, nhưng lần nào đi ra ngoài miền quê tôi cũng thấy bồi hồi, xúc động. Khi gần đến Yên Kỳ, những khu đồi đang được khai phá và san bằng để làm thêm nghĩa trang, trông như những khu đất được khai phá để xây thêm khu gia cư mới ở Mỹ. Rồi những ngôi mộ được xây cất ở hai bên đường, mái ngói xanh đỏ tựa như những mái nhà san sát ở các tỉnh đông dân bên Tầu, nhìn từ trên cao xuống. Những sự việc sau đó đều tuần tự diễn ra như dự tính của anh Đạo, chúng tôi gặp anh Song là người sẽ xây ngôi mộ cho cha tôi, chúng tôi vào uống nước (như một thủ tục phải có) ở một quán nước nhỏ lộ thiên trước cổng nghĩa trang, mời những anh phu đào mộ điếu thuốc lá thơm, một điếu hút, vài điếu bỏ túi. Những anh phu đào mộ trông mặt rất cô hồn, con mắt nào cũng có tia máu đỏ, không biết là vì rượu nhiều hay vì đêm ngày phải tiếp xúc với cõi bên kia. Anh Song đèo tôi và anh Đạo vào văn phòng của ban quản lý nghĩa trang, trà nước, phong bì và sổ sách. Người coi văn phòng mới vừa ngủ trưa, mặt lờ đờ còn hôi mùi rượu, căn phòng chập choạng không đủ ánh sang dù là giữa ban ngày, tập sổ đã cũ bằng giấy học trò. Chúng tôi so tên và số mộ, đúng là ăn khớp với số mộ dưới Phùng Hưng, ghi số hàng và số mộ đếm từ bên trái. Nghĩa trang nào cũng mang một vẻ quạnh hiu, huống chi nghĩa trang Yên Kỳ rất lớn, nằm trên cả một ngọn đồi san phẳng. Phần trước của nghĩa trang, đa số các mộ đã có gia đình nhận nên xây cất mộ phần rất khang trang, với nhiều mô hình, không biết khi còn sống ra sao nhưng bây giờ thì ngôi mộ nào cũng vững chắc, đồ sộ, mái ngói xanh đỏ, nạm bạc nạm vàng. Về phiá cuối của nghĩa trang, nhìn xa xa là các giải núi thấp, mờ mờ như trong sương, các ngôi mộ vô danh nhiều hơn là mộ có chủ, thấp lè tè, cỏ hoang mọc lấn các lối đi. Khu đất có ngôi mộ của cha tôi nằm trong vùng hoang dã đó, chỉ có một tấm bảng nhỏ kẻ chữ đỏ xác định vị trí. Tôi đi dạo quanh các ngôi mộ, từng hàng xếp so le, có nhiều ngôi mộ đã gần như chìm xuống bằng mặt đất, chỉ còn chút bờ xi măng nhú cạnh lên. Có một trục trặc nhỏ trong khi xác định vị trí của ngôi mộ, vì số hàng và số mộ ở trong sổ không phù hợp với số mộ đếm từ ngôi mộ đầu ở khu đó, tôi và anh Đạo lại phải trở đi trở lại văn phòng ban quản lý, xem xét từng ghi chú và tên tuổi các ngôi mộ lân cận đã có xây bia và có tên, rồi đếm ngược đếm xuôi để xác quyết đâu là ngôi mộ của cha tôi. Cuối cùng khi đã định được ngôi mộ, anh Đạo mới nhỏ nhẹ chỉ cho tôi hàng chữ Nguyễn Tường Lân anh đã đánh dấu bằng phấn mờ, thì ra anh đã lên đây nhiều lần và tìm dùm mộ cha tôi. Tôi đưa tấm ảnh chụp ngôi mộ này anh gửi cho tôi -vì lúc đó vẫn chưa ăn khớp với sổ ở Phùng Hưng. Anh chỉ cho tôi một tia sáng mặt trời chiếu vào ngôi mộ (có thể là artifact khi chụp). Anh nói: “khi tôi nhìn ánh sáng chiếu vào ngôi mộ này, tôi có linh cảm đó là mộ của cụ”. Tôi vốn là một bác sĩ, có nhiều tinh thần khoa học, nhưng trên đời này có biết bao chuyện khoa học không hoặc chưa giải thích nổi. Tôi vẫn tin ở đời này, người ta chỉ cần một tấm lòng, và tấm lòng của tôi ngày hôm nay là gặp lại được cha tôi: ”Thạch Lam, cha tôi trong trí tưởng”. Chúng tôi dọn cỏ, cúng hoa quả, thắp hương. Tôi dùng một hòn đá nhỏ khắc vào mặt trước bờ xi măng: Thạch Lam Nguyễn Tường Lân -1910-1942, và đó cũng là mẫu cho tấm bia xây mộ, giản dị và nhẹ nhàng. Tôi cứ đi quanh quẩn mãi, thắp hương cho các mộ phần chung quanh, như ngày nào mẹ tôi dẫn chúng tôi đi tảo mộ ngày Thanh Minh, một ngày đã rất xa. Buổi tối, khi về gần Hà Nội, những đụn rơm được đốt trên cánh đồng toả khói nặng nề, không khí có vẻ đông đặc và ẩm, ánh sáng của lửa hiu hắt chập chờn, tôi nghĩ đến phong hỏa đài của thời chiến quốc, đến những mái nhà rơm rạ bị đốt cháy thời tiêu thổ kháng chiến, đến ánh lửa lập lòe như ma chơi trên nghĩa địa khi tôi chạy trốn Tây càn quét, tất cả đã xa rồi một thời chiến tranh tàn khốc. Tôi chợt rùng mình, bây giờ đã hết chiến tranh. Người tài xế đổi sóng phát thanh trên xe, người tôi mê đi, chương trình bắt vào phần cuối của bài bình văn: truyện ngắn Hai Đứa Trẻ của Thạch Lam. Tôi thấy lại cái âm u, buồn tẻ của một phố huyện nhỏ và tiếng còi tầu cùng những ánh sáng của toa tầu, tôi thấy lại cô tôi và cha tôi ngồi vẩn vơ bên cạnh ngọn đèn hoa kỳ, tôi thấy lại cả một thời thơ ấu của tôi, không có cha tôi.

Khi còn nhỏ tôi thường có những giấc mơ. Tôi vẫn có trong trí tưởng một buổi sáng nào đó, khi cha tôi đã quần áo chỉnh tề, với trên tường chiếc mũ phớt nhạt mầu, cầm một cuốn sách đang đọc dở, hay một tờ báo đầu ngày để đi đến tòa báo, tôi chạy theo ông. Có thể đó là một ngày ông cảm thấy vui vẻ, hay cảm thấy không phải với thời gian ít ỏi dành cho các con, ông cho tôi đi theo. Tôi nắm tay ông đi men theo con đường nhỏ lên bờ đê Yên Phụ. Tôi mặc một cái áo trắng cộc tay bỏ trong quần sọc, đi một đôi săng đan cao su, nắm chặt tay ông như sợ ông sẽ biến đi, cha tôi cười và bế tôi trên tay. Tôi vẫn không thể tưởng tượng nổi tôi sẽ làm gì trong tòa báo nhỏ bé, chạy loanh quanh dưới các gầm bàn đã cũ, hay loay hoay nhặt nhạnh những trang giấy in mẫu để sửa. Mẹ tôi thường kể rằng cha tôi hay ngồi đánh cờ tướng với bạn bè ở tòa soạn khi rảnh rỗi, ông đánh cờ khá cao, như anh Đ. tôi bây giờ cũng nổi tiếng là một người đánh cờ rất sắc nước. Hoặc ông với cây đàn tranh để lên bàn, lơ đãng và thanh thản gẩy lên những thanh âm theo cảm hứng, một bản cò lả hay nam ai. Thi sĩ Huy Cận, khi tôi gặp ông năm 95 để tìm kiếm một số kỷ niệm về cha tôi, đã kể với tôi rằng, có lần ông đến tòa báo tìm cha tôi, khi nghe tiếng đàn tranh vọng ra, đã đứng nép vào bên cửa để nghe, chỉ dám gõ cửa khi tiếng đàn đã dứt. Ông nói với tôi: ”cha anh đánh đàn rất hay”, rồi ông vội vã lật vài trang sách khoe tôi về những kỷ niệm ông viết về cha tôi: ”Tôi đã từng quen Thạch Lam, con người mảnh khảnh tưởng như chỉ một làn gió có thể đẩy đi, một thân hình tưởng như chỉ làm bằng cảm giác, cái khối cảm giác ấy đã hóa thân vào văn anh”.

Có những sự việc giống nhau một cách rất tình cờ. Khi tôi bằng tuổi ngày ông mất, tôi cũng đã có ba con, ông: một gái hai trai, tôi: một trai hai gái. Nhưng sự giống nhau đã ngừng ở đây. Khoảng ba bốn
năm trước đó, vì một sự thôi thúc mạnh mẽ không giải thích được, tôi quyết tâm bỏ nghề bác sĩ và lao đầu vào nghiệp văn chương. Sau khi đã xông xáo vào các hoạt động chính trị với tất cả lòng nhiệt thành của tuổi hai mươi, tôi và một số bạn bè cùng Thế Uyên hoạt động hăng say với cơ sở là nhóm văn hóa Thái Độ, đa số là làm báo chui, bất hợp pháp và vận động chính trị trong giới các sĩ quan trẻ, hy vọng sẽ đem lại một xã hội chủ nghĩa không cộng sản. Dĩ nhiên đó chỉ là một ảo tưởng, và một ảo tưởng rồi cũng sẽ tan vỡ. Tôi cũng còn nhớ một lần, đã rất lâu, tôi đến thăm bác Tam (Nhất Linh) ở chợ An Đông, hỏi thăm bác với tinh thần bác cháu trong gia đình, khi tôi sắp ra về, ông có nói với tôi: ”bác rất thương cậu cháu, nếu cháu có định làm gì thì nhớ đừng bao giờ dính vào chính trị”. Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu bác Tam tôi, ngày xưa, có một lần nào nói với cha tôi câu đó, hay bằng một hình thức tế nhị hơn, đã không lôi kéo cha tôi vào các hoạt động đảng phái – tình thương cho một đứa em yếu đuối hay sợ bà nội tôi buồn, để lại đứa em được bà mẹ thương yêu đặc biệt hơn trong gia đình. Năm tôi 32 tuổi, tôi và một số bạn bè đã chủ trương một tập san thuần túy văn chương: Tập San Văn Chương, chủ yếu chỉ có phê bình và sáng tác. Tôi lập nhà xuất bản Thạch Ngữ với tôn chỉ: sách đẹp, đúng chính tả và có giá trị thời gian. Nhưng chiến sự đã đưa tôi đến một ngã khác, đã lôi tôi ra khỏi “giấc mộng văn chương”. Cho đến bây giờ, tôi vẫn tự hỏi phải chăng tấm lòng yêu văn chương của tôi không phải là thực tâm, mà sự thúc đẩy và dằn vặt chỉ vì tôi sinh ra trong một gia đình văn chương. Nếu sự thật là như thế, sao đến bây giờ tôi vẫn thấy cuộc đời tôi thiếu thốn một cái gì rất mơ hồ, một cái gì đáng lẽ tôi phải làm nhưng tôi đã không làm…Tôi vẫn mơ có một buổi chiều nào tôi cùng cha tôi thơ thẩn trên một con đường ở Hà Nội, một con đường từ đê Yên Phụ đến Cổ Ngư, hay một ngã rẽ vào vườn hoa hàng Đậu, chúng tôi cùng 32 tuổi, cùng nói với nhau các chuyện đời thường, chuyện vợ con, cuộc sống và bạn bè, và chuyện văn chương. Tôi sẽ có dịp hỏi cha tôi có phải khi ông viết truyện dài Ngày Mới chỉ là một lời tạ lỗi với người mẹ, một người mẹ có lẽ rất buồn và không bằng lòng về đứa con bà yêu quý nhất đã tự ý lấy một người vợ lớn tuổi hơn mình, lại rất nghèo và không có danh phận – các đứa con khác đều nghe lời bà, có danh phận và có vợ thuộc gia đình khá giả. Cha tôi có lẽ có một tâm hồn rất yếu đuối, rất thương người và hy sinh cả cuộc đời để chăm chút đến những số phận nhỏ bé nhưng đáng quý, một tâm tình nhân bản và hiền dịu biết bao. Tôi có thể kể cho ông những khó khăn ông để lại cho vợ con vào thời kỳ bắt đầu của súng ống và hận thù, của những cái nghèo đói thật sự mà ông đã phơi bầy trên nhiều trang sách. Tôi có thể nói với ông rằng ông đã không lầm khi chọn mẹ tôi làm vợ và che chở cho bà khi ông còn sống, và chúng tôi cũng rất biết ơn cái gia sản tinh thần ông để lại, trước bao nhiêu khó khăn dập vùi của cuộc sống, chúng tôi vẫn có những ngày như hôm nay. Tôi có thể kể bao nhiêu chuyện xẩy ra từ ngày ông mất đi… nhưng có hề chi, vì tôi biết rằng, ông sẽ nhẹ nhàng nói với tôi: không có chuyện gì là sai hay phải, là xấu hay tốt, khi người ta cư xử với nhau bằng một tấm lòng.

Gió đã bắt đầu lạnh và buổi chiều đã về.

Ông nhìn tôi một cách dịu dàng rối hỏi:
- con có vẻ có nhiều điều bận tâm.

Tôi nhìn ông, nhìn vào đôi mắt sâu và buồn. Tôi có biết bao nhiêu điều để nói, những chuyện riêng tư của gia đình, của anh chị tôi. Tôi muốn kể với ông về các cháu, chắt và cả chít nữa của ông. Nhưng ông còn trẻ quá, không biết ông có hiểu. Đứa con đầu lòng của tôi bây giờ cũng đã sống hơn ông năm năm, vẫn còn lông bông chưa vợ con. Thời thế đã khác rồi, nhưng tôi vẫn cảm thấy ông sống trọn vẹn hơn chúng tôi. Tôi vẫn mơ tưởng đến cái thời ông sống, vẫn hoài hủy đi tìm kiếm ông, bởi vì, tôi chưa bao giờ có ông. Còn ông, ông có nhớ chăng đến đứa trẻ ông chỉ để mắt nhìn thoáng qua, rồi gạt tay cho mẹ tôi mang đi chỗ khác, trước khi ông làm một chuyến đi xa, rất xa. Tôi nói với ông: ”không, con không có điều gì bận tâm cả”. Ông giơ tay định vỗ vai tôi, rồi chợt ngừng lại:”chiều rồi, chắc con phải về Hà Nội kẻo tối”. Đến bây giờ tôi chợt nhớ ra là tôi lại sắp mất ông, tôi bật khóc và ôm chặt lấy ông.

Hai tay tôi ôm vào khoảng không.

05/10/2004
nguyễn tường giang

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Tri Ân Người Bảo Trợ
Nguyễn Duy-An

Tôi rời nông trại của người bảo trợ mấy ngày trước Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) năm 1984 vì không muốn một mình ngồi nhìn cảnh gia đình 9 người con và gần 20 đứa cháu nội ngoại của họ sum họp quây quần vào dịp lễ. Sau khi chở tôi đến trạm xe "bus" ở thành phố Pittsburgh, trước khi quay về, ông William McCarthy (người bảo trợ) đã trao cho tôi một bao thơ khá dày rồi ôm tôi vào lòng nói nhỏ:

- John... Con đi bình an. Đây là món quà nho nhỏ của anh chị em trong gia đình đóng góp để giúp con trong bước đầu. Con cứ đi, nhưng nếu có gì bất trắc, hãy trở về nghe con. Trở về bất cứ lúc nào... Mãi mãi con là đứa con thứ mười của gia đình ta.

Tôi siết chặt vòng tay, nghẹn ngào thốt lên trong tiếng nấc: "Daddy!"
Đây là lần đầu tiên trong đời tôi cảm nhận được tình phụ tử qua giọng nói, vòng tay và nhịp đập từ trái tim của một người không phải là cha tôi. Tôi bồn chồn xúc động, bịn rịn không muốn lên xe... Có lẽ tôi đã sai khi quyết định ra đi.
Biết tôi bị giao động, ông William McCarthy từ từ nới rộng vòng tay ôm, đặt hai tay lên vai tôi, rồi ôn tồn nói:

- Con cứ đi đi... Con đã liều mình xuống tầu vượt biển để đi tìm một ước mơ, chẳng lẽ con quên rồi sao? Chúng ta sẽ còn gặp lại, phải không? Hoặc giả như con không đạt được ước mơ của mình, cứ trở về, không sao hết. Chúc con thượng lộ bình an.

Nói rồi ông vội vàng quay gót ra xe. Nếu lúc đó ông William McCarthy nói "ở lại" chắc chắn tôi sẽ không còn đủ can đảm ra đi. Bần thần! Hụt hẫng! Băn khoăn! Tôi đứng lặng người như một kẻ mất hồn! Ngay khi vừa chợt tỉnh cơn mê, tôi chỉ muốn quay trở về với gia đình người bảo trợ rồi mọi sự tính sau nhưng ông William McCarthy đã lái xe đi mất tự lúc nào.

Cuối tháng 7, 1984 tôi rời trại tỵ nạn lên đường đi định cư tại nông trại của người bảo trợ với hai bộ quần áo và một mớ sách vở, giấy tờ vặt vãnh... Hôm nay tôi rời nông trại ra đi với hai "valise" xếp đầy quần áo mới và một túi xách đựng bao nhiêu thứ nhu yếu phẩm, từ dao cạo râu, xà bông tắm, giầy dép... Ngay cả quần áo lót, bà Mary McCarthy cũng sắm thêm cho tôi 18 bộ vì "cuộc sống ở thành phố lớn rất bận rộn, có khi cuối tuần cũng không có giờ để giặt nên con cần phải có cái mà thay đổi!" Gần 4 tháng trời sống chung với ông bà bảo trợ, ăn ở không mất tiền, mỗi ngày lại còn được trả lương 20 Dollars mặc dầu tôi chỉ làm "thợ vịn" cho ông bà chứ không tự mình làm được việc gì nên hồn trong nông trại. Ngay cả việc lái máy cày tôi cũng phải học cả tháng nhưng chưa bao giờ điều khiển cho nó chạy ngay hàng thẳng lối được.

Tối hôm trước ông bà đã cho tôi thêm một ngàn, bây giờ lại còn trao cho tôi một bao thơ do anh chị em trong gia đình đóng góp... Ân tình này làm sao tôi quên được. Tôi là một người xa lạ, khác chủng tộc, không cùng mầu da ngôn ngữ, nhưng được gia đình người bảo trợ đón nhận như một đứa con trong gia đình.
Tạ ơn. Tôi xin tạ ơn và khắc ghi vào tâm khảm tấm lòng cao trọng của đại gia đình ông bà McCarthy. Tôi biết mình sẽ không bao giờ có thể đền đáp được những ân tình gia đình người bảo trợ đã dành cho tôi trong những ngày đầu sống kiếp tha hương nơi xứ lạ quê người. Chính lúc tôi cất bước ra đi cũng là lúc tôi nhận thức được rằng ngoài gia đình cha mẹ ở Bình Giả, Việt Nam tôi còn có thêm một gia đình mới ở một nông trại cách xa thành phố Pittsburgh, tiểu bang Pennsylvania khoảng 100 cây số về hướng Tây Bắc. Tôi tự hứa với lòng mình rằng tôi sẽ trở về, dù thành công hay thất bại tôi cũng phải trở về! Tôi phải trở về để được một lần chính thức nói lời TRI ÂN với "cha mẹ" và anh chị em trong gia đình mới của tôi.

Ngày tháng lặng lẽ qua mau... Tôi hòa nhập vào cuộc sống mới, vừa làm vừa học nên mãi đến 3 năm sau tôi mới có dịp trở về nông trại. Tôi trở về lúc xế chiều vào đúng ngày Lễ Tạ Ơn năm 1987 để "sum họp gia đình" lần cuối ở nông trại vì "cha mẹ" tôi đã quyết định bán nông trại và sẽ về hưu tại thành phố Youngstown, tiểu bang Ohio để ở gần với gia đình người con trưởng. Ngày đón tôi về nông trại lần đầu tiên chỉ có ông bà và người con trai út tên Michael đang nghỉ hè ở nhà. Ngày tôi ra đi, chỉ còn hai ông bà ở lại nông trại; và hôm nay tôi trở lại, đại gia đình tổng cộng 40 người, gồm con cái, dâu rể, và các cháu quây quần chào đón "đứa con lạc loài" là tôi.

Michael liến thoắng kể lại chuyện hiểu lầm ngôn ngữ ngày đón tôi ở phi trường Pittsburgh cho cả nhà nghe... Hôm đó, sau khi máy bay hạ cánh, tôi chờ những hành khách khác ra hết rồi mới lững thững mang túi xách ra sau cùng. Vừa ra khỏi cửa máy bay, Michael tới hỏi tôi "Are you Duy?" nhưng tôi nghe không rõ, cứ tưởng anh ta hỏi "How are you doing?" nên trả lời ngắn gọn "Fine, thank you" rồi chạy vội vào nhà vệ sinh.

Sau khi trở ra, tôi kiếm cái ghế trống bình tĩnh ngồi chờ vì hôm trước tôi bị lỡ chuyến bay ở Seattle nên tới trễ mất một ngày, và có thể hãng máy bay và hội USCC không kịp thông báo giờ giấc và chuyến bay mới cho người bảo trợ tới đón... Mãi gần một tiếng sau, Michael chạy đến nói gì đó với mấy người làm việc cho hãng máy bay United Airlines, rồi có tiếng loa phóng thanh gọi tên tôi mấy lần nhưng tôi chỉ nghe được mấy tiếng "refugee" (người tỵ nạn) và "sponsor" (người bảo trợ) nên tôi bước đển quầy bán vé đưa hồ sơ Cao Uỷ cho họ xem. Vừa nhìn thấy túi hồ sơ có tên tôi viết bên ngoài, Michael nắm chặt tay tôi rồi gọi cha mẹ đến nhận người. Michael cứ thắc mắc sao lúc nãy anh ta hỏi tôi lại không nhận mà chỉ nói "thank you" rồi bỏ đi. Hóa ra khi đọc tên Nguyễn Duy-An trong giấy tờ bảo lãnh, Michael không biết gọi làm sao nên đoán là "đu hay đoai" gì đó và giọng nói của những người Mỹ ở vùng Pittsburgh cũng rất khó nghe nên tôi hiểu lầm. Sau đó Michael lại kể thêm chuyện tôi phải "năn nỉ" xin miếng bánh mì đầu tiên khi mới được đón về nông trại vì tôi không thể nào nuốt nổi tô cơm nấu bằng gạo "Uncle Ben" trộn lẫn với bơ, đậu xanh, và nhiều thứ khác nữa, trông như một tô cám heo con!

Cả nhà ân cần thăm hỏi tôi đủ chuyện, từ nơi ăn chốn ở tới việc học hành, việc đi làm thêm vào ban đêm... và cũng hỏi xem tôi đã có người yêu Việt Nam hay chưa, mặc dầu thỉnh thoảng chúng tôi vẫn viết thơ, gọi điện thoại thăm hỏi và kể cho nhau nghe đủ chuyện. Vào cuối bữa tiệc "Tạ Ơn", sau khi mỗi người chúng tôi đã nói lên tâm tình biết ơn "cha mẹ" và anh chị em trong gia đình, "cha tôi" trịnh trọng đứng lên, với tay lấy một tập hồ sơ lớn để lên bàn rồi dõng dạc tuyên bố:

- Như các con biết, nông trại này đã sang tên cho người khác, và tuần sau cha mẹ sẽ dọn vào nhà mới ở Youngstown để an dưỡng tuổi già. Số tiền bán cái nông trại này, tuy không lớn lắm nhưng cũng không phải là nhỏ. Cha mẹ đã sắp xếp đầy đủ tiền sinh hoạt cho tới ngày nhắm mắt xuôi tay, phần còn lại, cha mẹ chia đều ra 10 phần cho các con, kể cả John. Bây giờ cha mẹ trao lại cho các con.
Tôi bật khóc nức nở không nói nên lời. Người anh lớn trong gia đình đại diện anh chị em xin ông bà giữ lại vì tương đối ai cũng "an cư lạc nghiệp" và khi nào có ai trong gia đình gặp khó khăn thì giúp cho người đó, nhưng ông bà không chịu, cứ bắt mọi người phải nhận. Chị Peggy, người con thứ hai trong gia đình, một nữ tu thuộc dòng Thừa Sai Bác Ái của Mẹ Têrêsa xin được dâng cúng phần của chị vào quỹ của nhà dòng để giúp người nghèo. Tôi cũng xin được đóng góp theo chị...





Mấy ngày sau chúng tôi lại lần lượt ra đi, kẻ trước người sau giơ tay vẫy chào "vĩnh biệt" nông trại, cái nôi đầu tiên của đại gia đình chúng tôi. Trước khi tôi lái xe trở về Virginia, ông bà bảo trợ cứ dặn đi dặn lại là phải báo tin cho ông bà biết khi tôi ra trường, lập gia đình... để ông bà sắp xếp tới tham dự và chúc mừng. Sau khi tôi đề máy xe chuẩn bị sang số, ông lại "dúi" vào tay tôi một bao thơ: "Con cầm lấy đi đường đổ xăng, ăn uống và mua quà gởi về giúp cha mẹ con bên nhà. Phần ta chia cho con, con đã dâng cúng cho nhà dòng hết rồi còn đâu... Thôi, con đi bình an!"

Mấy tháng sau tôi nhận được hung tin ông qua đời vì tai nạn xe hơi trong một cơn bão tuyết ở Youngstown. Sau khi ông mất, bà "mất trí" nên anh chị em chúng tôi phải gởi bà vào dưỡng trí viện!

Ông bà bảo trợ của tôi không còn nữa! Tôi từ giã nông trại ra đi vào dịp Lễ Tạ Ơn và cũng đã trở về gặp lại "cha mẹ" và anh chị em lần cuối ở nông trại vào dịp Lễ Tạ Ơn. Tôi đã một thân một mình rời bỏ quê cha đất tổ ra đi sống đời tỵ nạn nơi xứ lạ quê người, nhưng tôi may mắn được gia đình ông bà McCarthy đón nhận như một người con trong gia đình. Khi tôi đến với hai bàn tay trắng, ông bà đã "cho" tôi tất cả, từ vật chất tới tinh thần như một đứa con ruột thịt của ông bà. Ngày tôi ra đi, ông bà đã lo toan sắm sửa đầy đủ mọi thứ cho tôi đi "ở riêng" và lúc nào cũng quan tâm lo lắng, an ủi, khích lệ và nhất là cho tôi một chỗ dựa tinh thần rất vững chắc để tôi có đủ can đảm dấn thân hội nhập vào xã hội Hoa Kỳ, và nếu thất bại "cứ trở về" vì lúc nào ông bà cũng dang rộng vòng tay chờ đón tôi trở về như một đứa con trong gia đình.

Mỗi lần Lễ Tạ Ơn trở về tôi lại nhớ "cha mẹ" và những ngày sống ở nông trại thật nhiều. Tôi chưa làm được một chút gì để gọi là đền đáp hay trả ơn người bảo trợ của mình. Niềm mơ ước của ông bà là được đến chung vui với tôi ngày ra trường hay lập gia đình cũng không được toại nguyện! Tạ ơn. Tôi xin tạ ơn và khắc ghi vào tâm khảm hai chữ "TRI ÂN" người bảo trợ của tôi cho đến trọn đời.

Nguyễn Duy-An

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Ông Xếp Mỹ
Nguyễn Duy An
Được sự đồng ý của ông Bernard Callahan, tôi viết lại những dòng này để bày tỏ lòng quý mến và ngưỡng mộ của tôi dành cho ông nhân dịp ông chính thức về hưu vào mùa hè năm nay.
Ông Bernard Callahan là người Vice President đã nhận tôi vào làm việc tại National Geographic vào đầu tháng 8 năm 1998;
hơn 2 năm sau, khi tôi được chọn làm Vice President, chúng tôi đã trở thành “peers” rất tương đắc;
và từ đầu năm 2006 ông trở thành nhân viên rất đắc lực của tôi sau khi Hội Đồng Quản Trị bổ nhiệm tôi làm Senior Vice President tại National Geographic.
Image
Hình tác giả Nguyễn Duy An đang phát biểu với sự trân trọng, ngưỡng mộ của những người bạn chung sở làm.

Hơn 13 năm trước…

Sau hai vòng phỏng vấn với một vài vị phó chủ tịch và bốn năm giám đốc ở National Geographic, ông Bernard Callahan nói với tôi trước khi chia tay:

- Với kinh nghiệm của anh và những gì National Geographic đang cần để vượt qua những trở ngại kỹ thuật của năm 2000 (Y2K), tôi sẵn sàng nhận anh về làm giám đốc kỹ thuật; tuy nhiên, anh phải trở lại để gặp bà Sandy Gill là Senior Vice President. Bà ta xuất thân là một “nhà báo” nên anh phải tuỳ cơ ứng biến. Tôi đã cố gắng hết sức nhưng không làm sao giải thích cho bà ta hiểu được là chúng ta phải thay đổi lại toàn bộ máy móc từ “mainframe” tới “client-server”, từ “Token Ring” qua “CAT-5”… Bà ta đã từ chối hai ba ứng viên cũng rất khá, tuy không bằng anh, chỉ vì họ lúng túng không làm sao giải thích cho bà ta hiểu được tầm quan trọng của vấn nạn Y2K.

Chính nhờ những lời dặn dò của ông Callahan nên trong lúc chờ ngày hẹn để gặp bà Sandy Gill, tôi ngồi suy đi nghĩ lại nhiều lần tìm cách giải quyết vấn đề một cách “rất bình thường” thay vì lập luận theo “khoa học kỹ thuật!” Qua kinh nghiệm mấy năm dạy những lớp sử dụng máy điện toán dành cho người lớn tuổi vào ban đêm ở trường đại học cộng đồng gần nhà, tôi hiểu được phần nào nỗi khó khăn của một người “bình thường” khi phải đương đầu với những từ ngữ chuyên môn trong ngành điện toán… vì đối với họ, học mấy thứ đó còn khó hơn học tiếng La-Tinh! Đã hơn một lần tôi phải sử dụng những danh từ đơn giản, tìm những thí dụ thiết thực với đời sống hằng ngày để giúp “học sinh” hiểu rõ hơn những định nghĩa mông lung trong ngành điện toán. Tôi đọc lại “sổ tay dạy học” gom góp những câu hỏi “vớ vấn” của học trò và những câu trả lời phần lớn do những học sinh lớn tuổi khác đã dùng để giúp bạn học dễ dàng hiểu được “ngôn ngữ thời @” để làm hành trang đi phỏng vấn.

Những hình ảnh “cực độc” của National Geography Magazine (NGM). Số đầu tiên phát hành vào năm 1888, phát hành hàng tháng với 34 thứ tiếng khác nhau, và số lượng 8.1 triệu độc giả trên thế giới, riêng ở Hoa Kỳ mỗi tháng có tới khoảng 5 triệu người đọc.
Image

Image

Image

Image

Tới ngày hẹn, sau vài câu chào hỏi xã giao, bà Sandy Gill bảo thư ký gọi ông Bernard Callahan tới văn phòng cùng ngồi “dự thính” và làm “thông dịch viên” khi cần thiết vì bà tự nhận ngay từ đầu là mặc dầu làm “xếp lớn” nhưng bà không biết gì về điện toán cả!

Ông Bernard Callahan vào văn phòng, vừa bắt tay vừa nói nhỏ với tôi: “Cố lên nhé. Nhớ đừng sử dụng từ ngữ chuyên môn. Anh phải nói làm sao để bà ta không cần hỏi lại tôi là anh thắng, bằng không thì…!”

Bà Sandy Gill bắt đầu cuộc phỏng vấn với một câu “nhập đề lung khởi” nhưng rất thực tế:

- Anh nhìn phía sau bàn giấy của tôi đi… Một cái TV, hai cái màn hình điện toán, một cái để xem hồ sơ tài chánh, một cái nữa để xem Email nhưng tôi vẫn cứ phải dùng bút đỏ để sửa bài rồi giao cho thư ký đánh máy lại. Thế cũng chưa đủ vì Bernard và mấy người giám đốc dưới quyền của ông ta còn xin thêm mấy triệu để thay đổi “infrastructure”, nào là “server, switches and routers” rồi “client-server” và “database” gì đó… Tôi biết cái giới hạn trong máy điện toán về việc chỉ dùng 2 con số để ghi năm nên phải thay đổi để có thể ghi cả 4 số, nhưng cái đó là chuyện nhỏ, phải không? Tại sao phải thay đổi toàn bộ như vậy? Tôi biết dùng mấy cái máy mới này tốt hơn dùng máy đánh chữ và như thế cũng được rồi, cần gì phải tiêu nhiều tiền như vậy? Tôi thấy mấy sợi dây cáp nối máy vào bờ tường vẫn còn rất tốt và chẳng bao giờ bị đứt cả, tại sao lại phải thay dây mới? Bernard cũng đã nhiều lần phân tích nhưng tôi cũng chỉ hiểu mù mờ vì đối với tôi dây cáp là dây cáp chứ việc gì phải đổi từ “Token Ring” sang “CAT-5” làm gì cho tốn tiền. Anh nghĩ sao?

Tôi vừa nghe vừa cố nhớ những câu hỏi của bà Sandy Gill và tính nhẩm trong đầu là để thấu hiểu những vấn đề bà ta vừa nêu lên, sinh viên phải theo học ba bốn lớp chuyên môn ở đại học thì làm sao tôi giải thích cho bà ta hiểu được trong cuộc phỏng vấn chỉ giới hạn khoảng một hai giờ đồng hồ! Tuy nhiên, nhờ ông Bernard Callahan đã “gà” trước nên tôi đã chuẩn bị sẵn sàng và từ từ giải thích:

- Trước hết, tôi xin cám ơn bà đã cho tôi cơ hội này. Tôi xin đan cử một vài hình ảnh cụ thể làm thí dụ để giải thích những thắc mắc của bà. Thế này nhé… Theo như tôi được biết thì ở đây ai cũng được trang bị máy điện toán cá nhân (personal computer) nhưng có lẽ chưa tận dụng hết khả năng của máy vì nhiều lý do khác nhau. Bây giờ chúng ta cứ tưởng tượng rằng National Geographic vừa trang bị cho hơn 2 ngàn nhân viên ở đây mỗi người một chiếc xe hơi mới để đi làm, nhưng khổ nỗi chúng ta chỉ có khoảng 6 trăm chỗ đậu xe. Thêm vào đó, hai con đường L và M đều là đường một chiều, và trong giờ cao điểm thì con đường 17 cũng trở thành một chiều nên mọi người cứ phải chạy lòng vòng mấy lần mới quẹo vào được con đường nhỏ Desales xếp hàng đậu xe! Nhưng rồi làm sao chúng ta có thể chèn nhét hơn 2 ngàn chiếc xe vào 6 trăm chỗ đậu được, đúng không? Do đó, để giải quyết vấn đề, có lẽ chúng ta phải nới rộng bãi đậu xe, xin chính phủ mở lớn những con đường chung quanh sở để không bị tắc nghẽn, nhất là trong giờ cao điểm. Bà vẫn hiểu những gì tôi nói chứ?

- Tốt… nhưng cái đó có dính dáng gì tới việc Bernard muốn tiêu mấy triệu để mua máy móc gì không vậy?

- Vâng, có đấy. Bây giờ bà hãy so sánh chiếc máy điện toán cá nhân trên bàn của bà và các nhân viên trong sở như những chiếc xe tôi vừa nêu trên. Chúng ta có máy rồi nhưng chưa có “server”, chưa có “database” thì cũng như có xe nhưng không lái lên sở được vì không có chỗ đậu. Và rồi, nếu chúng ta có chỗ đậu rồi cũng chưa đủ nếu không mở rộng con đường nhỏ Desales và xin phép mở thêm lối khác để vào “garage” thì mỗi sáng nhân viên cứ phải xếp hàng dài dài chờ đợi… Những sợi dây cáp bà thấy vẫn còn tốt như còn đường Desales nhưng cần phải “mở rộng”, đó chính là sự khác biệt giữa “Token Ring” và “CAT-5”. Thêm vào đó, sau khi mở rộng mấy con đường chung quanh sở và số lượng xe cộ ra vào tăng lên gấp ba bốn lần, chúng ta phải làm thêm bảng “stop”, đèn xanh, đèn đỏ… nếu không sẽ xảy ra nhiều tai nạn giao thông, đúng không? Trong chuyên môn, đó chính là việc làm của mấy cái “switches and routers” mà ông Bernard Callahan đề nghị phải mua đó, thưa bà.

Bà Sandy Gill cười lớn rồi quay sang ông Bernard Callhan:

- Hay quá! Sao mấy tháng nay ông không nghĩ ra cách này để giải thích cho tôi và Hội Đồng Quản Trị?

- Thật tình tôi cũng rất ngạc nhiên và thích thú với kiểu so sánh của anh John… Đó chính là lý do tại sao hôm trước tôi trình với bà anh John là “the right person for the job!”

Sau đó, chúng tôi chỉ ngồi nói chuyện trời trăng mây nước, rồi tập cách phát âm họ “Nguyễn” bằng tiếng Việt, chuyện tôi đi vượt biên, chuyện làm thiện nguyện ở đảo rồi làm sao tôi được định cư ở Mỹ… cho tới hết giờ hẹn và bắt tay ra về. Bà Sandy Gill bảo ông Bernard Callahan tiễn tôi xuống nhà rồi trở lại gặp bà để thảo luận. Lúc đi thang máy xuống nhà, ông Bernard Callhan bảo tôi: “Anh thắng lớn rồi đó!”

Lúc tôi về tới nhà đã có “message” trong điện thoại của phòng nhân sự nhắn tôi liên lạc với họ để thảo luận về vấn đề lương bổng và ngày nhận việc. Chính ông Bernard Callahan cũng gọi và để lời nhắn bảo tôi cứ việc “nêu giá” vì bà Sandy Gill đã nói với ông ta và phòng nhân sự là “bằng bất cứ giá nào cũng phải nhận anh vào làm việc với chức vụ Director, Infrastructure Planning & Management để giải quyết vấn nạn Y2K và chuẩn bị đưa National Geographic tiến xa hơn trên siêu xa lộ thông tin.”

Tôi đã nhận lời về làm cho National Geogaphic dưới quyền ông Bernard Callahan.

Mùa hè năm 2000, trước khi về hưu, bà Sandy Gill, qua sự gợi ý của ông Bernard Callahan, đã đề nghị với Hội Đồng Quản Trị thăng chức cho tôi làm Vice President phụ trách Information Technology để lo về những kỹ thuật mới trong khi ông Bernard Callahan phụ trách những vấn đề hành chánh và tiếp tục bảo trì những hệ thống máy móc do nhóm của tôi đã đưa vào hoạt động. Trong buổi họp và tiệc trà mừng tôi được thăng chức, ông Bernard Callahan đã mời tôi lên sân khấu đứng bên cạnh ông rồi phát biểu trước mặt toàn thể nhân viên và Hội Đồng Quản Trị:

- Có lẽ nhiều người trong hội trường này không thể phân biệt được trách nhiệm và bổn phận của tôi và anh John khác nhau hay giống nhau ra sao. Mấy năm trước, trong lúc bà Sandy Gill và tôi phỏng vấn anh John, tôi đã học được nơi anh một cách giải thích khoa học kỹ thuật rất ấn tượng và độc đáo… Hôm nay tôi sẽ dùng thử, và nếu quý vị không hiểu thì “ông thầy của tôi đây” sẽ tiếp lời và tôi bảo đảm quý vị sẽ hiểu ngay lập tức. Như quý vị biết, từ hôm nay anh John sẽ “ngồi ngang hàng” với tôi trong công việc, và cả hai chúng tôi đều lo về “khoa học kỹ thuật” cho National Geographic, nhưng nếu không khéo, chúng tôi sẽ dẫm chân lên nhau và công việc sẽ không tốt. Vậy thì vai trò của hai chúng tôi khác nhau ở chỗ nào? Xin thưa… Anh John và nhân viên của anh ta sẽ làm công việc của những kiến trúc sư, còn nhóm của tôi là những người thợ xây và trang trí nội thất. Cả hai nhóm chúng tôi sẽ tay trong tay xây lại “tòa nhà khoa học kỹ thuật” của National Geographic mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Có ai không hiểu hay thắc mắc gì không?

Cả hội trường vỗ tay vang dội. Ông chủ tịch Hội Đồng Quản Trị cũng vui vẻ lên tiếng:

- Thật là may mắn cho chúng ta vì Sandy và Bernard kiếm được một người không những rất giỏi về kỹ thuật mà lại còn biết thông dịch những từ chuyên môn ra ngôn ngữ bình thường cho chúng ta dễ hiểu… Có lẽ vì John đã quen dịch qua dịch lại giữa tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp, và hình như cả tiếng La-Tinh nữa thì phải nên anh ta dịch “ngôn ngữ điện toán” ra tiếng Anh rất dễ hiểu và lại còn dạy cho Bernard nữa mới là tuyệt vời chứ. Tôi bảo đảm với mọi người là nếu không có anh chàng gốc Việt này thì hôm nay Bernard sẽ nói là anh John sẽ lo về “Information Technology” còn ông ta phụ trách “Systems Administration”, và hầu hết chúng ta lại mù tịt vì không biết họ sẽ làm chuyện gì ở National Geographic!

Từ đó, chúng tôi chung vai sát cánh bên nhau ứng dụng khoa học kỹ thuật mới trong tất cả các lãnh vực chuyên môn của National Geographic, từ việc chụp hình, quay phim, in ấn sách báo cho tới việc trực tiếp truyền hình những cuộc thám hiểm ở sa mạc, ở bắc cực và nam cực hay trong các rừng già Phi Châu cho tới lòng đại dương sâu thẳm. Ông Bernard Callahan luôn luôn nhắc nhở nhân viên là họ phải trở thành “hậu phương vững mạnh” để nhóm của tôi an tâm “ngoài tiền tuyến” và chính nhờ sự hỗ trợ tích cực của ông mà nhóm của tôi có thêm nhiều thì giờ nghiên cứu để sử dụng những phương tiện máy móc tối tân trong những chương trình mới của National Geographic. Chúng tôi làm việc tương đắc tới nỗi có nhiều người nói về ông Bernard Callahan và tôi là “like father like son!”

Giữa tháng 12 năm 2005, ông chủ tịch Hội Đồng Quản Trị gọi tôi lên văn phòng chỉ mấy phút trước cuộc họp “all hands” tổng kết cuối năm. Tôi vừa bước vào cửa, ông Bernard Callahan và 3 vị phó chủ tịch khác cùng đứng lên nói lớn: “Chúc mừng xếp mới!” Ông chủ tịch hội Hội Đồng Quản Trị đứng lên bắt tay và mời tôi ngồi rồi thong thả nói:

- John. Chúc mừng anh. Tôi muốn cho anh biết tin vui trước khi thông báo với tất cả nhân viên là “Board of Trustees” đã đề bạt anh lên chức vụ Senior Vice President từ ngày 1 tháng 1 năm 2006, và đây là những “vice presidents” sẽ làm việc trực tiếp dưới quyền anh, kể cả Bernard. Từ nay, ngoài vấn đề khoa học kỹ thuật, anh phụ trách luôn mấy nhóm lo việc in ấn sách giáo khoa, đặc biệt là chương trình huấn luyện giáo viên dạy tiếng Anh cho người ngoại quốc ở Á Châu, những cuộc thám hiểm cho học sinh “the JASON project”, và cung cấp phương tiện cho những “vấn đề quốc tế (international projects)”… Chúng tôi tin chắc anh sẽ làm tốt và quý vị ngồi đây cũng rất vui khi được làm việc dưới quyền anh. Thôi, chúng ta đi ra hội trường kẻo trễ.

Tôi bàng hoàng xúc động không nói lên lời! Tất cả những vị phó chủ tịch dưới quyền tôi đều làm cho National Geographic lâu năm hơn tôi, nhiều kinh nghiệm hơn tôi, và tuổi đời cũng lớn hơn tôi. Ông Bernard Callahan nói nhỏ với tôi: “Anh rất xứng đáng. Đừng lo, cần gì cứ nói một tiếng!”

Trong lúc phát biểu cảm tưởng trong cuộc họp, ông Bernard Callahan đã khẳng định với tất cả nhân viên rằng ông và những phó chủ tịch khác rất vui khi được làm việc dưới quyền tôi, và điều này “không có nghĩa là chúng tôi đi xuống nhưng là anh John đi lên, và anh ta xứng đáng được như vậy!”

Và cũng từ đó, ông Bernard Callahan luôn luôn tôn trọng và hỗ trợ tôi trong công việc. Ông đã trở thành nhân viên đắc lực nhất của tôi. Chính ông đã lôi kéo và thuyết phục những người khác dẹp tan mọi nghi ngờ hoặc đố kỵ và còn hãnh diện vì xếp của mình xuất thân là một người tỵ nạn đã từng bước đi lên bằng đôi tay, trí óc và con tim của mình. Phần tôi, lúc nào tôi cũng quý mến và kính trọng ông như một người đi trước, một người hướng dẫn và giúp đỡ tôi vững bước trong công việc “quản trị” ở National Geographic. Ông chính là “Role Model” của tôi.

Trước ngày chính thức về hưu, ông Bernard Callahan đã xin với ông chủ tịch Hội Đồng Quản Trị rằng ông muốn tôi là người đại diện National Geographic đọc “diễn văn đưa tiễn” trong ngày trọng đại của ông vì hôm đó tất cả vợ con và cháu chắt của ông đều có mặt, và ông muốn họ được nghe một “ông xếp” nói bằng trái tim chứ không phải chỉ bằng miệng lưỡi. Và đó chính là lý do tôi “đặt tên” cho bài diễn văn hôm đó là “From the Heart… on Mr. Callahan’s Retirement” để đăng lên trang tin nội bộ. Tôi xin viết lên đây bài diễn văn hôm đó để một lần nữa bày tỏ lòng quý mến và ngưỡng mộ của tôi dành cho ông Bernard Callahan:


From the Heart… on Mr. Callahan’s Retirement

Ladies and gentlemen,
The Callahan Family and distinguished guests,

It’s indeed an honor and privilege for me to be here to speak on behalf of National Geographic Society in this special ceremony for Mr. Callahan’s retirement.

Fourteen years of service is not long in comparison with over 123 years of the National Geographic history. Working at National Geographic for 14 years is short if we compare it with those who have been here for more than thirty or forty years. However, within this period of time, Mr. Callahan has contributed a significant list of achievements as written in the testimonial.

Bernard,

You and I have shared many ups and downs in the thirteen years I have worked at National Geographic. In August 1998, you hired me as the director of Infrastructure Planning & Management. A few years later, when the Information Technology group was created, we became peers; and in 2006, when the Information Systems, Information Technology and other divisions were consolidated, I became your supervisor; however, I always look to you as my role model. I always respect you as my superior and my mentor. Together, we always try to do the best for the Society.

In conclusion, I would like to quote a statement from another Vice President about our working relationship: “The success of the Information Systems and Technology division through so many reorganizations and changes in its focus could never be achieved without the unyielding loyalty and respect that Bernard and John have always shared with each other.”

Bernard,

Today, you have reached a new milestone of your life. You are retired. I respectfully wish you the best, and may the Lord’s blessings rest upon you always.

Thank you very much.

Nguyễn Duy-An (John)

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

TIN TỨC VỀ NGÀY 23 tháng 12/2012


Thưa quý anh . Trước tin đồn ngày 23.24 và 25 tháng 12 nầy có sự đổi vòng quay cuả trái đất . Chú rể cuả tôi đang làm việc tại NASA có bài nói về sự kiện đó Mời xem để
khỏi hoang mang . Thanh Lương .


Tận Thế
Bạn hiền,
Sáng hôm nay BTL tôi nhận được email của bố vợ, nhờ trả lời cho một người bạn của ông cái thắc mắc bên dưới:
Anh có con rể làm ở Nasa có biết tin nầy không hay TIN VỊT

NASA dự đoán một màu đen sẽ bao trùm vào các ngày 23 đến 25 tháng 12 năm 2012 trong suốt quá trình điều chỉnh vũ trụ.
Các nhà khoa học Mỹ NASA dự đoán có sự thay đổi vũ trụ. Trái đất bao trùm một màu đen tối trong ba (03) ngày từ ngày 23 - 25 Tháng 12. năm 2012. Đây không phải là “chấm dứt thế giới”, đây là sự điều chỉnh đầu tiên của vũ trụ, mặt trời và trái đất. Trái đất sẽ thay đổi từ chiều kích không gian thứ ba như hiện nay đến chiều kích bằng 0, sau đó chuyển đổi tiếp đến chiều kích vô định. Trong giai đoạn chuyển tiếp này, toàn bộ vũ trụ sẽ phải đối mặt với một sự thay đổi lớn, chúng ta sẽ thấy một thế giới hoàn toàn mới.
BTL tôi vội hồi âm ngay cho bố vợ và cái bác nêu câu hỏi thắc mắc, và BTL tôi trả lời vắn tắt đó là tin vịt! Trả lời xong, BTL tôi thắc mắc cái nguồn tin trên xuất phát từ đâu, đi một vòng trên mạng thì tìm ra ngay, và đây là mẫu tin tiếng Anh được lan truyền trên thế giới ảo:

NASA predicts total blackout on 23-25 Dec 2012 during alignment of Universe.
US scientists predict Universe change, total blackout of planet for 3 days from Dec 23 2012.

It is not the end of the world, it is an alignment of the Universe, where the Sun and the earth will align for the first time. The earth will shift from the current third dimension to zero dimension, then shift to the forth dimension. During this transition, the entire Universe will face a big change, and we will see a entire brand new world.
Nếu bạn hiền đem so sánh với mẫu tin tiếng Việt thì bạn hiền phải công nhận với BTL tôi là người thông dịch viên Việt Nam này dịch rất chuẩn, chính xác, và… tầm bậy! Thông dịch hay chuyển ngữ đôi khi còn phải vận dụng bộ não, chứ không thể dịch từng chữ một. Để BTL tôi nêu một vài ví dụ ở đây. “Không gian thứ ba” và “chiều kích bằng 0” là cái quái gì? Tại sao không nói là không gian ba chiều và không gian không chiều. Có lẽ bạn hiền cũng thắc mắc như BTL tôi: không gian không chiều là cái gì? Các vật thể trên vũ trụ đều có kích thước, chiều ngang, chiều đứng, và chiều sâu. Nếu không có chiều nào hết thì có nghĩa là trái đất này bị triệt tiêu rồi! Mà đã bị triệt tiêu rồi thì làm sao có cái vụ sau đó chuyển qua một chiều vô định được? Ahem! Cái từ “chiều kích vô định” này cũng do nhà thông dịch (hạch) này ném vào, chứ bản tiếng Anh ghi là “forth dimension”. Chữ “forth” này dịch làm sao nhỉ? BTL tôi không dám dịch bậy sợ bị gọi là dịch hạch cho nên để đó cho bạn hiền muốn nghĩ sao cũng được. Tuy nhiên, chắc chắn không phải là chiều kích vô định rồi. Cũng có một mẫu tin tiếng Anh khác, trong đó ghi là “fourth dimension” có nghĩa là không gian thứ tư. Hừm! cái không gian bốn chiều này thì các nhà vật lý trên thế giới đã nghĩ ra từ thời khai thiên lập địa, và chiều thứ tư đó là chiều “thời gian”.
Nãy giờ nói lòng vòng ba cái vụ dịch vật làm BTL tôi quên bàn đến tại sao có cái tin vịt này. Hư thực thế nào? Bản tin có đem NASA vào, mà BTL tôi thì đi làm cho NASA được 23 năm giời, bây giờ bị hỏi mà không biết thì quê lắm! Thật ra thì BTL tôi cũng chẳng hơn gì bạn hiền, chỉ cần bấm bàn phím, nhấp con chuột mấy phát, lướt web vào trang chủ của NASA thì biết ngay. Tuy có một điều mà BTL tôi có thể trả lời ngay cho bạn hiền, cũng như đã trả lời ngay cho ông bố vợ và bạn của ổng hồi sáng nay, là ở trong hãng không nghe đá động gì đến cái vụ tiên đoán của NASA hay một thế giới mới gì hết ráo. Công việc vẫn bình thường, cuối tháng 12 này BTL tôi có mấy cái dự án phải làm gấp rút cho kịp thời hạn, không có thời giờ ngồi đó mà tán dóc chuyện màu đen kín trời.
Như vậy thì nguồn tin vịt này cậy đâu mà dám bảo là NASA tiên đoán? Sự thật thì, theo thông tin trên mạng, tất cả phát xuất từ một đoạn video do ông giám đốc NASA Charles Bolden phát biểu với các nhân viên NASA sau khi xảy ra các thiên tai ở Mỹ, trong đó ông nhấn mạnh các nhân viên nên chuẩn bị tinh thần và điều kiện cần thiết cho bản thân và gia đình phòng khi gặp thiên tai. Mấy cái video này trong hãng BTL tôi nhận được hàng tuần qua email mà có bao giờ thèm mở ra xem. Xem lại cái video đó, BTL tôi thấy ông Bolden hoàn toàn không đề cập gì đến chuyện màu đen bao trùm (total blackout), thế mà có kẻ dám cả gan đem gán ghép rồi đổ thừa NASA tiên đoán ngày tận thế. Láo thật!
Còn về cái vụ dời trục (polar shift), thật ra thì cũng có nhưng chúng ta cần hiểu rõ chuyện này, đừng có nhầm lẫn chuyện dời trục với chuyện đổi ngược vòng quay của trái đất. Theo bản tin NASA thì chuyện các châu lục bị di dời do sự biến đổi của lực từ trường là có thể xảy ra, chẳng hạn như Vùng Nam Cực từng nằm gần đường xích đạo hồi cách đây mấy triệu năm. Tuy nhiên chuyện đó không có ăn nhập gì đến chuyện trái đất đổi ngược vòng xoay, thế mà có một số website chuyên tuyên bố tin tận thế dám láo toét đánh lận con đen. Chuyện thay đổi vòng xoay, theo các nhà khoa học, nếu có xảy ra thì phải đến vài triệu năm nữa mới có.
Vì thế, nếu bạn hiền mà sống được vài triệu năm nữa thì hãy lo sốt vó đến chuyện tận thế đi là vừa.
oOo
BTL
Trái Đất, ngày 15 tháng 11, 2012

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

TIỂU THƠ

Phạm Tín An Ninh

Rầm!
Tôi và hai thằng bạn vừa rà thắng xe đạp trước rạp Tân Tân để vào xem phim "Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ" thì bị một chiếc Vélo Solex húc từ đằng sau tới. Cả ba thằng ngã xuống đất. Riêng tôi còn bị cái xe của thằng bạn đè lên bụng đau muốn nín thở. Mới loi ngoi bò dậy, chưa kịp phủi bụi trên áo quần thì nghe tiếng quát tháo:
- Ê! Bộ ba "chàng ngự lâm pháo thủ" mù cả hà. Dừng ngựa mà chẳng coi chừng phía đàng sau! Đáng đời!

Vừa ngượng vừa tức giận bởi tự dưng bị húc té nhào giữa thanh thiên bạch nhật và trước bao nhiêu nguời đẹp, chưa kịp nắm cổ áo cho một trận, thì bị thủ phạm tiếp tục tấn công phủ đầu. Đúng là cà chớn. Nhưng nhìn lên thì.. à.. cả ba thằng khựng lại: đối phương là một cô gái, tuồi ô mai, tóc còn thắt bím, ngồi trên Vélo, vòng tay trước ngực, trề môi, rồi trợn đôi mắt to như hai cái đèn "ô tô":
- Số còn hên đó. Cái vélo không bị hư gì. Tiểu thơ tha cho đó. Lần sau liệu hồn!
Nói xong cô bé nguýt một cái rồi rồ ga chạy mất tiêu.

Dù chưa bao giờ bị thầy Bửu Cân phán cho cái tội "con nhà không có lư hương", bọn tôi cũng phải chửi thề một tiếng cho hả giận. Thằng Cường, đứa hiền lành ít nói nhất trong bọn tôi, xăn tay áo, xổ nho trước:
- Đ.M., con gái nhà ai trông đẹp thế mà đanh đá như bà chằn. Phải mà con trai thì biết tay tao.

Đúng là cô bé khá xinh, nhất là đôi mắt thật to và đôi môi mộng đỏ, dù có trề lên ngạo nghễ, cũng vẫn đáng yêu ghê lắm. Tôi nghĩ vẩn vơ như thế khi theo người soát vé dẫn tới chỗ ngồi. Trong rạp tối mò. Ba thằng chúng tôi vào trễ. Trên màn ảnh đang chiếu phim thời sự: Tổng thồng Ngô Đình Diệm đang kinh lý Ban Mê Thuột (nhưng không thấy cảnh ông bị ám sát hụt).
Suốt buổi hôm ấy, mắt nhìn lên màn ảnh, mà tâm trí tôi thì chỉ thấy có đôi mắt cô bé, trừ khi nào có tiếng súng nổ của ba chàng ngự lâm, tôi mới giật mình trở lại với truyện phim đôi ba phút.

Cha tôi nói đúng. Hồi mới ba tuổi, tôi đã khóc đến cả tháng trời khi mẹ tôi mất, ông bảo rồi sau này tôi sẽ là một thằng đa sầu đa cảm. Và hôm nay, dường như tôi bắt đầu biết tương tư đây.

Nha Trang cũng chẳng lớn hơn cái thành phố núi Pleiku là bao nhiêu, để ông nhà thơ nào đó "đi dăm phút trở về chốn cũ", vậy mà cả mấy tháng rồi, tôi chưa gặp lại cô bé, mặc dù thời ấy Nha Trang đã có khá nhiều vélo solex, đủ làm tôi nhìn theo muốn ngoẹo cổ. Tôi nghĩ, chắc là cô bé từ đâu đến chơi. Trông nước da trắng hồng, có thể là từ Đà Lạt xuống thăm ai đó rồi lại biến mất như một nàng tiên trong cổ tích.

Quê tôi ở ngoài Vạn Giã. Vào Nha Trang học, ở nhà ông chú, trước ở gần rạp ciné Moderne của ông Bác Ái, sau này dọn lên gần Ty Thông Tin. Chú tôi, ngoài làm chủ tiệm bán mọi vật dụng về điện, còn thầu các công trình điện. Ông bà chỉ có một cô con gái rượu, cưng như trứng mỏng, nên mọi thứ ngược xuôi giao dịch ông cần tới tôi. Để tôi lên tinh thần, bỏ bớt cái tật ham chơi và lười biếng có lẽ từ khi còn trong bụng mẹ, ông thường bảo: "Cháu còn nhỏ mà coi bộ có khả năng thương mại. Cố gắng theo chú học hỏi, sau này dám qua mặt tao nữa đó ". (Cái này thì ông nói trật lất. Vì sau này tôi trở thành lính đánh giặc, nên cả đời có buôn bán được cái gì đâu).

Cả năm cứ mong tới mùa hè là tôi dọt về quê thăm cha tôi và chơi với mấy thằng bạn nối khố, rủ nhau ra con sông quê, ngày bơi lội, tối cắm câu, ngủ ngoài trời mà đua nhau đếm thử có bao nhiêu vì sao, tìm đâu là dải Ngân Hà có cái Cầu Ô Thước của Ngưu Lang Chức Nữ. Coi bộ vui và lãng mạn hơn ở trong cái thành phố Nha Trang này nhiều. Vậy mà mùa hè này tôi bị ông chú tôi giữ lại, sau khi thuyết phục được ông già tôi, bảo là để cho tôi tập làm quen với thương trường(!). Tôi nghe mà phát sợ, cứ như là sắp sửa bị ông đẩy tôi ra giữa chốn sa trường!

Bài học đầu tay là tôi xách cặp theo ông, đi dự một cuộc họp với mấy ông thầu khoán khác, trong một công trình "hợp tác mỗi bên cùng có lợi". Nơi họp là một ngôi biệt thự khá đẹp nằm trên con đường Duy Tân có gió reo sóng vỗ.

Tôi rụt rè theo sau ông chú, bước vào phòng khách. Nhiều người đã có mặt. Ông nào trông cũng bệ vệ, đặc biệt có một ông mặc quân phục, oai phong cao lớn, mà coi bộ mọi người ai cũng nễ trọng. Nghe nói chuyện một hồi tôi mới biết đó là ông đại tá Đỗ Cao Trí, chỉ huy quân trường Đồng Đế. Lúc ấy tôi còn nhỏ, đâu có biết gì nhiều về lính tráng, nhưng tôi có nghe nhiều người kể chuyện tình ông đại tá này với một bà dược sĩ nào đó có tiệm thuốc tây trên đường Độc Lập. Bà này mới vừa ly thân ông chồng dược sĩ, có ông bồ là đại úy phi công trẻ tuổi đẹp trai thường đèo bà trên chiếc vespa chạy vòng vòng ngoài bờ biển, mặc dù bà có chiếc xe hơi thể thao trọc mui duy nhất ở thành phố này. Tội nghiệp ông phi công, vừa mới bị ông đại tá này nói nhỏ bạn bè làm lớn bên Không Quân cho bay ra tận ngoài vùng 1 xa tít mịt mù. (Sau này ông phi công hào hoa lấy một cô ca sĩ có giọng hát buồn... vào hồn không tên nào đó). Nghe mấy ông bàn bạc, tôi mới biết buổi họp này là để bàn việc xây cất và chỉnh trang lại toàn bộ doanh trại của quân trường Đồng Đế, mà chú tôi và mấy ông bạn thầu khoán vừa mới trúng thầu.
Tôi ngồi sau lưng ông chú, ghi ghi chép chép cứ như là... phóng viên tập sự. Nửa buổi thì ngưng họp ăn cơm. Một bữa ăn thịnh sọan từ nhà hàng mang tới. Vì thuộc hàng con nít, nên tôi được ưu tiên ra sân sau ngồi chung với mấy anh tài xế và con cháu ông chủ nhà. Vừa bước ra, chưa kịp tìm chỗ ngồi, thì tôi giật mình, sững sờ đến mấy phút. Cô bé, cô tiểu thơ... vélo solex, tông bọn tôi trước rạp Tân Tân gần ba tháng trước, đang ngồi chễm chệ tự lúc nào trong cái ghế bành duy nhất bên bàn ăn.

Lấy lại bình tĩnh, tôi đến kéo chiếc ghế bên cạnh cô bé:
- Chào tiểu thơ, chàng ngự lâm pháo thủ bị xe tông... ngã ngựa có được phép ngồi đây không ạ?
Cô bé nhìn tôi tròn xoe đôi mắt. Đôi mắt mà tôi đã tìm kiếm hơn ba tháng nay, cứ tưởng đã biến mất khỏi Nha Trang, bỗng dưng bây giờ đang mở lớn hết cỡ trước mắt tôi. Tôi ngồi yên như bị thôi miên. Dường như vừa mới nhớ ra tôi, cô bé nhoẻn miệng cười:
- À, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ! Vous cứ tự nhiên.
Tôi ngạc nhiên, cô bé coi bộ tây này còn xổ cả tiếng nôm tiếng hán. Tôi nhủ lòng: Không phải vừa đâu nghe.

Vậy mà cái cuộc trùng phùng khá bất ngờ này lại đưa đẩy tôi đến một nấc thang danh vọng: làm gia sư cho cô bé. Nói gia sư cho oai phong, chứ hồi đó chì có mỗi chữ "dạy kèm" thôi chứ sư với siếc gì.

Số là sau này, khi thực hiện công trình, tôi thường theo chú tôi đến đây, cũng có nhiều lúc tôi đến một mình để trao giấy tờ và tham khảo ý kiến của ông chủ thầu, papa của nàng. Dần dà tôi quen thân với cả nhà. Gia đình trước sống ở Đà Lạt, làm chủ mấy cái hotel. Bà vợ bị chết bởi một tai nạn giao thông ngay trên đèo Ngọan Mục, ông già buồn quá không muốn mỗi ngày nhìn thấy bóng dáng bà vợ trong thành phố sương mù, nên dọn xuống Nha Trang, trở lại nghề thầu khoán gia truyền từ mấy đời trước. Ông bà chỉ có mỗi một cô con gái, nhưng trong nhà ông nuôi nhiều cháu và gia nhân. Gặp tôi nhiều lần, và qua chú tôi, ông già cô bé nghe nói tôi cũng gốc nhà quê, hiền lành chăm chỉ, nên nhờ tôi, cứ ba tối mỗi tuần ghé lại nhà kèm cô con gái cưng của ông về môn toán và Việt văn. Cô bé vừa từ trường Domaine de Marie ở Đà Lạt chuyển xuống lớp đệ ngũ trường Nữ Trung Học Nha Trang, đọc thơ Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc mà không hiểu bà Đoàn thị Điểm và ông Ôn Như Hầu nói cái gì trong đó... Môn toán thì tôi không biết vẽ rồng vẽ rắn, chứ cái môn Việt văn này coi bộ bao la trời biển quá, vẽ cái gì chẳng được.

Hôm đầu tiên, tiểu thơ vẫn còn cao điệu, gọi tôi là Thầy. Không biết là do lệnh của ông già, vì đề phòng tôi "tán bậy" con gái, nên phong cho tôi cái chức "bán tự vi sư nhất tự vi sư" để tôi biết phận mà giữ mình, hay là cô bé choc quê tôi không biết.

Thấy "diễn nôm điển tích" mấy câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc coi bộ không ăn khách, chẳng hấp dẫn nổi cô bé, tôi quay sang đọc thơ cho cô bé nghe. Hồi đó ở Võ Tánh có hai nhà thơ rất sớm nổi tiếng, mà dù là tên thật hay bút hiệu gì nghe cũng đẹp làm sao: Thanh Nhung và Cao Hoành Nhân, Tôn Nữ Nha Trang và Bùi Cao Hoành gì đó. Không biết có đúng hay không, nhưng tôi nghe bạn bè thêu dệt về cuộc tình lãng mạn của hai nhà thơ học trò vang bóng một thời này. Tôi chọn mấy bài thơ ướt át nhất của hai người đọc cho cô bé nghe. Và cũng lạ, không cần diễn nôm diễn nghĩa gì cả, cô bé không những hiểu rất nhanh mà còn cảm nhận đến độ lim dim đôi mắt... nhìn xa xăm.

Có một điều tôi quên nói: cô bé cũng thuộc dòng Tôn Nữ, cũng có một cái tên hay lắm: Tôn Nữ Giáng Vân. Nhưng tôi vẫn thích gọi cô bé là Tiểu Thơ, cái tên mà nàng đã tự xưng khi đụng tôi trước rạp Tân Tân. Hơn nữa tôi thấy cái tên này cũng hợp với cô bé lắm. Tôi nghĩ thầm, có lẽ nàng Tôn Nữ xứ Huế nào cũng đẹp và.. lãng mạn đa tình.

Các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, cô bé mê nhất là Hồn Bướm Mơ Tiên, nên thường bắt tôi kể lại cho nàng nghe. Mẹ nàng vốn là một phật tử ngoan đạo. Sau ngày bà chết, ba nàng cúng dường khá nhiều tiền để chỉnh trang hai ngôi chùa Tỉnh Hội, Hải Đức và cung thỉnh thêm nhiều tượng Phật. Cô bé thường theo cha lên chùa Hải Đức. Nàng bảo mỗi lần lễ Phật, nàng cứ tưởng tượng mình là "chú tiểu" Lan, nhưng lại rất sợ và bịt kín tai khi nghe có tiếng đại hồng chung, nên chắc không thể nào giả trai lên chùa tu được.

Một hôm cô bé nhất quyết bắt ông thầy phải làm cho cô bé một bài thơ. Nếu không thì không chịu học. Cái này thì đúng là tiểu thơ muốn hại "đời tư" của tôi đây. Mang tiếng là học ban C nhưng hồi giờ tôi có thơ với thẩn gì đâu, chỉ lâu lâu cùng với mấy thằng bạn trong lớp nghịch ngợm bày ra trò chơi nối vần một bài lục bát con cóc để ghẹo cô bạn nào đanh đá trong lớp. Vậy mà hôm ấy, không biết con tim nó ướt át đến cỡ nào, tôi phóng bút làm xong một bài thơ chưa đầy mười phút. Đọc qua nghe có mùi cải lương không chịu nổi, nhưng tôi cũng tự phục mình. Tôi đưa bài thơ cho nàng đọc:

Ngày tháng trôi dần theo nhớ thương
I như duyên nợ đã vấn vương
Nên tình mây nước cùng trăng gíó
Hẹn ở ngày mai một nẻo đường
YÊU vầng trăng sáng in cành lá
Và khúc nhạc lòng dâng đến hương
Ân ái giờ đây là mơ ước
Ngỡ một tâm tình một vấn vương


Cô bé đọc xong không biết có hiểu gì không, (mà thực ra bài thơ cũng có nghĩa gì đâu mà hiểu với không), gật gù khen và hỏi:
- Sao bài thơ không có tên?
- Có tên rồi đó mà tiểu thơ không thấy à?
Cô bé lật qua lật lại mảnh giấy:
- Tên với tựa gì đâu, không thấy. Trả lại thầy, không thèm.
Tôi cười, vuốt ve cô học trò:
- Thì Vân cứ ghép tất cả các mẫu tự đầu ở mỗi câu lại, sẽ thấy cái tựa liền.
Khổ thật, tôi còn phải giải nghĩa thêm mẫu tự là cái gì, thì cô ta mới tìm được cái tựa bài thơ. Cô bé đỏ mặt, vất mảnh giấy có bài thơ xuống đất :
- Không thèm chơi với Thầy nữa.

Nói là không thèm chơi, nhưng cũng kể từ hôm ấy cô bé thân thiết và gần gũi với tôi hơn. Ba nàng cũng thấy tin và quí ông gia sư nhóc tì này, vì thấy con gái cưng của mình chăm học, vui vẻ yêu đời hơn.

Mùa hè năm đó, cô bé theo tôi về nhà quê chơi, nhân tiện có cô con gái của ông chú tôi cùng về thăm quê nội. Dường như đó là lần đầu tiên cô bé ra một vùng quê. Không biết là gió nội hương đồng hấp dẫn cô bé, hay là suốt ngày dung dăng dung dẻ làm nũng làm nịu với "ông Thầy", cô bé ca hát líu lo và bảo là yêu... đồng quê ghê lắm. Và đó cũng là một mùa hè đẹp nhất, có ý nghĩa nhất trong đời học trò của tôi, dù ở quê tôi chẳng có cây phượng vĩ và cũng chẳng nghe có tiếng con ve sầu nào rên rỉ.

Hai năm sau, tôi rời Nha Trang vào Sài gòn học tiếp. Tôi buồn và tiếc nuối vì phải chia tay cái nghề gia sư với cô hoc trò nhỏ nhưng có đôi mắt thật to... của mình. Cô bé được ông già chở lên ga Nha Trang tiễn tôi đi. Tôi cũng cố làm ra vẻ "đi là chết ở trong lòng một ít", làm cô bé mủi lòng muốn khóc. Ông già cứ tưởng là nhờ ơn tôi mà cô bé vừa đậu cái bằng trung học kỳ rồi, nên cũng nắm chặt tay tôi, lì xì một mớ tiền và cám ơn rối rít...

Vậy mà cái tình yêu ấy (không biết có đúng là tình yêu hay không, nhưng cứ nói như thế cho nó lãng mạn và người lớn một chút) cũng làm cho lòng tôi xốn xang một dạo.
Sau đó chỉ có vài lần tôi nhận được thư cô bé, kể chuyện những bạn bè thân quen của cô bên trường Nữ, và chuyện chiếc máy bay phản lực rơi xuống bên cạnh rạp Tân Tân, nơi mà lần đầu tiên tôi biết cô bé nhờ chiếc vélo của cô tông tôi ngã xuống bên lề đường. Nhưng lần nào cũng kèm theo một bài thơ tình... con cóc.

Năm năm sau, khi cô bé đã trở thành người lớn và quên "ông Thầy" thích đọc thơ tình cho cô học trò... lim dim đôi mắt, thì cũng là lúc tôi hát khúc Biệt Kinh Kỳ, xếp bút nghiên theo việc kiếm cung.

Ra trường, tôi được bổ sung về một đơn vị lưu động trên vùng Cao nguyên gió lạnh mưa mùa. Năm 1972, tôi bị thương trong trận Mủa Hè Đỏ Lửa ở Kontum, được đưa về QYV Pleiku điều trị. Khi vết thương vừa lành, tôi nhận Sự Vụ Lệnh của đơn vì đề cử về Sài gòn trong đoàn "chiến sĩ xuất sắc" được Tổng Thống tiếp đón tại khu vườn Dinh Độc Lập. Thực ra là tôi có xuất với sắc cái gì đâu. Khi còn độc thân thì hăng máu lắm, chứ đã có vợ rồi thì cũng hơi lạnh cẳng, ngại cái cảnh "anh trở về dang dở đời em". Nhưng chiến tranh đang hồi ác liệt, nếu cử chiến sĩ xuất sắc thứ thiệt đi thì thiếu người đánh giặc giỏi, mà lại hao hụt quân số tác chiến, tôi đang trong tình trạng bất khiển dụng, nên cho tôi đi là nhất cử lưỡng tiện. "Chiến sĩ xuất sắc" được ưu ái đi bằng máy bay dân sự. Tại phi trường Pleiku bụi đỏ, tôi bất ngờ gặp lại Tiểu Thơ khi tôi vừa ngơ ngác bước lên máy bay Air Vietnam và khựng lại trước đôi mắt thật to của cô hôtesse de l’air đang mỉm cười chào khách. Trong chiếc áo dài màu thiên thanh, có thêu hai con rồng trên cổ áo, nàng đẹp như một nàng tiên. Khi chiếc máy bay DC 4 đã lấy lại thăng bằng trên cao độ, nàng đến ngồi chiếc ghế trống trước mặt tôi, quay ra sau trò chuyện. Trong chớp nhoáng, tôi biết là nàng đã có chồng. Anh ta là một phi công phản lực F5, thuộc dơn vị Biên Hòa. Hai người làm đám cưới hơn một năm. Tôi nghĩ, con gái đẹp thường chọn mấy ông không quân, vừa được tiếng có ông xã hào hoa, đi mây về gió, vừa khó trở thành góa phụ. Anh phi công nào phải vừa bô trai vừa tốt số lắm mới lọt được vào đôi mắt của Tiểu Thơ này. Tôi nghĩ như thế mà lòng thì cũng thấy một chút bâng khuâng.

Chỉ nói chuyện được vài câu, nàng ghi địa chỉ của tôi ở Sài gòn, rồi hẹn sẽ cùng đức lang quân ghé đón đi Maxim nghe Lệ Thu hát bài Kỷ Vật Cho Em. Tôi cười, bảo là rất sợ bài hát này, cái bài hát mà thằng lính nào nhát gan nghe xong là không còn muốn "đáo nhậm" đơn vị nữa.

Cuối cùng nàng đến có một mình, "ông xã" vừa mới biệt phái ra Vùng 1. Tối đó thay vì đến nhà hàng Maxim, nàng đưa tôi ra Quán Cái Chùa cho có vẻ nghệ sĩ một chút, mời "ông Thầy" uống cà phê có hương vị Tùng Đà Lạt - mà chủ nhân thường pha chế đặc biệt cho riêng nàng - để nhớ những ngày cô còn ở đó... Dường như khi đã lớn rồi, người ta lại muốn tìm về cái thời đi học. Hai đứa chỉ ngồi nhắc lại chuyện Nha Trang, chuyện mấy bài thơ con cóc, rồi chia tay không hẹn ngày tái ngộ. Thời chiến tranh mà, "cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi" biết đâu mà hẹn.

Tháng 3/1975, Nha Trang rồi cả Vùng 2 mất. Bao nhiêu năm sống chết với núi rừng Hoàng Triều Cương Thổ, tôi theo đơn vị chỉ còn một phần tư quân số "di tản" vào Vũng Tàu để tái bổ sung, rồi kéo xuống tham dự những trân đánh cuối cùng cô đơn và buồn tẻ ở những địa danh xa lạ: Bến Lức, Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An, nhằm ngăn chận địch quân đang tràn về vây hãm và pháo kích Sài Gòn.

Cũng như nhiều đơn vị khác, vào giờ thứ 25, chúng tôi đánh giặc không có "đại bàng". Lần cuối cùng tập họp anh em lại hô "tan hàng" mà không còn nghe "cố gắng" nữa, thì tôi mới biết là ông tướng tư lệnh đã có mặt trên đệ thất hạm đội Mỹ trước đó hai ngày rồi! Thôi thì, xưa nay người ta đã nói "nhất tướng công thành vạn cốt khô" mà. Cuối cùng thì miền Nam cũng thất thủ. Đám tụi tôi được người "anh em" chiến thắng mời vô trại cải tạo để được hưởng "chính sách khoan hồng của kách mệnh"!

Tám năm lưu đày từ nam ra bắc, cuộc đời thôi đành cứ như gởi theo những đám mây bay. Cái hạnh phúc bây giờ chỉ còn là những phút giây hồi tưởng. Mà hồi tưởng cũng phải "cảnh giác", chứ không khéo cũng bị cùm vì cái tội "luyến tiếc quá khứ". Bạn bè cùng cảnh luyến tiếc điều gì thì tôi không biết, nhưng riêng tôi lại tiếc nhớ cái tuổi học trò, và cái thời con tim mới biết yêu. Tôi lại nhớ đến Tiểu Thơ, đến đôi mắt tròn xoe của cô bé, và nhớ tới cái hạnh phúc làm "gia sư" của tôi còn hơn là nhớ tới mười mấy năm làm bạn với ông Nguyễn Bắc Sơn "ta vốn hiền khô - ta là lính cậu, đi hành quân rượu đế vẫn mang theo, mang trong đầu những ý nghĩ trong veo, xem chiến cuộc như tai trời ách nước". Tôi hình dung bây giờ chắc nàng đang hạnh phúc ở một chốn thiên đường nào bên nước Mỹ. Ông xã là không quân mà, lại đóng ở Biên Hòa nữa. Chỉ cần một lần cất cánh nhẹ nhàng là thay đổi cả cuộc đời.
Ra tù, trở lại thành phố xưa, tôi có cảm gíác Nha Trang sao bây giờ xa lạ quá, không còn là "hang động tuổi thơ" của bọn tôi ngày trước nữa. Nhưng rồi tôi cũng đâu có được phép ở lại cái thành phố này, mà phải về tạm trú ở quê tôi ngoài Vạn Giã. Ở đó tôi chỉ còn một bà cô già sống quạnh hiu trong ngồi nhà từ đường có mái ngói âm dương của ông bà nội. Cha tôi thì cũng đã chết cách đây sáu năm trong trại cải tạo Đá Bàn. Mồ mả còn chưa biết ở đâu. Nhưng rồi tôi còn có cái may, là gần như mỗi ngày tôi đều ghé lại Nha Trang một lần, bởi tôi được ông anh bà con cho tôi làm tài xế phụ kiêm lơ xe cho chiếc xe đò nhỏ của ông chạy đường Nha Trang – Tuy Hòa. Xe chạy bằng than và khách hầu hết là mấy bà đi buôn chuyến.

Một hôm tôi đang lui cui đứng trên mui, thì một bà khách kêu tôi nhấc hộ đội thúng của bà lên. Bà lấy hết sức đưa từng chiếc thúng lên, nhưng rồi lại bị sà xuống. Trong đôi thúng là những thỏi đường màu đen khá nặng. Tôi phải dùng một cây móc sắt đưa xuống, bảo bà móc vào để tôi kéo lên. Khi lấy sức kéo đôi thúng lên tôi bất ngờ gặp đôi mắt thật to và tròn xoe. Đôi mắt nhìn tôi tựa hồ như xoáy vào lòng tôi nhát dao đau buốt. Tôi nhảy xuống xe, nắm chặt đôi vai gầy còm của bà khách:
- Là em, là Tiểu Thơ đây à?
Nàng nhìn tôi, rồi nước mắt đầm đìa.
- Tiểu Thơ, à quên... Vân, làm sao mà em lại ra đến nỗi này.
Nàng cúi xuống im lặng, không nói một lời nào.
Ra đến Tuy Hòa, tôi gánh hộ nàng gánh đường giao cho một cái quán trong chợ, rồi mời nàng đi ăn cơm trưa. Tôi đang nóng lòng được biết về hoàn cảnh của nàng:
- Ông xã em bị kẹt ngoài Vùng 1 rồi mất tích luôn từ đó tới bây giờ. Em có đi hỏi một vài người bạn cùng phi đoàn, thì họ cho biết là anh ấy bị bắn rơi khi yểm trợ cho anh em Thủy Quân Lục Chiến rút về Đà Nẵng. Em chờ đợi xem anh có bị bắt cầm tù ở đâu không, nhưng đến bây giờ thì chắc chắn là anh đã chết thật rồi.
- Còn ba em đâu?
- Nhà cửa ba em bị tịch thu hết. Ông bị bắt đi cải tạo với lý do từng thầu xây cất doanh trại cho Mỹ trong phi trường. Chỉ một năm là ông chết.
- Vậy bây giờ Vân ở với ai?
- Em ở với con gái em. Nó gần mười tuồi rồi. Khi gặp anh ở Sài gòn là em vừa mang thai nó mà chưa biết. Mẹ con em được đền bù một căn nhà tôn nhỏ của thương phế binh hồi trước, nằm sau ga xe lửa.
Tôi nhét vào tay Vân tất cả số tiền mà tôi kiếm được hôm ấy, bảo nàng mua hộ tôi quà cho cháu gái.

Sau đó, tôi gặp lại nàng chỉ thêm hai lần nữa, vì ông anh họ tôi đã phải bán rẻ cái xe hơi cho người khác, bởi không dủ tiền sửa chữa mà còn cứ bị chính quyền trưng dụng đi chở lúa cho hợp tác xã, không trả một đồng nào. Cũng đúng vào lúc này, tôi tính chuyện vượt biên.

Tôi kể chuyện Tiểu Thơ cho vợ tôi nghe. Bây giờ tôi thương cô như một người em gái. Vợ tôi tốt bụng, thương mẹ con cô cũng như hoàn cảnh của chính mình, sẵn sàng cùng tôi giúp mẹ con nàng đi cùng chuyến vượt biên, do chính tôi tổ chức.

Một tuần trước khi ra đi, tôi vào Nha Trang tìm đến nhà nàng. Căn nhà khóa kín cửa. Tôi chờ đến tối mà chẳng thấy mẹ con cô trở về. Tôi gõ cửa căn nhà bên cạnh. Chủ nhà lại là một anh thương phế binh, nhờ mất cả hai chân nên không bị đuổi khỏi nhà… Anh cho biết là mẹ con nàng đã dọn đi đâu cả mấy tuần rồi, không thấy về nhà.

Trời thương, chuyến vượt biên cũng đến được bến bờ, nhờ một chiếc tàu chở dầu của Vương Quốc Na Uy vớt trên biển, trước khi cơn bão ập đến. Với ân tình này, vợ chồng tôi chọn Na Uy là nơi để gởi gấm phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con nhỏ dại.

Mùa hè năm 1989, vợ chồng tôi đưa hai cô con gái sang Mỹ học, nhân tiện ghé thăm và chia buồn gia đình ông anh họ, đi từ năm 78, định cư ở thành phố Sacramento, bắc Cali. Anh chị vừa có thằng con trai bị chết đuối khi theo cha đi câu ngoài biển.

Bao nhiêu năm gặp lại nhau, anh chị tiếp đón chúng tôi thật ân cần, nhưng không vui vì cái bàn thờ đứa con trai còn nghi ngút khói hương. Sáng hôm sau, anh chị đưa tôi đến nghĩa trang thăm mộ cháu rồi chở chúng tôi đến một ngôi chùa Sư Nữ ở gần đó, để bàn việc làm lễ cầu siêu cho cháu. Anh cho biết anh chị rất thân quen với Sư Bà trù trì, Bà rất quí anh chị không chỉ vì biết nhau từ lúc còn ở Nha Trang mà vì anh làm nghề thầu sửa chữa nhà cửa, nên cả ngôi chùa này phần lớn là do công sức của anh cúng dường.
Ngôi chùa không lớn lắm, khu chánh điện còn đang dang dở, nhưng vườn khá rộng và trồng nhiều loại hoa. Trong chùa tiếng tụng kinh, gõ mõ càng đượm không khí trang nghiêm. Chúng tôi được một cô phật tử mời ngồi uống trà và xin chờ chừng nửa tiếng, vì Sư Bà đang cúng ngọ.

Khi ông anh bà chị đứng bật dậy, chúng tôi chợt nhìn thấy Sư Bà vừa bước ra. Tôi ngạc nhiên vì Sư Bà còn trẻ và trông rất phương phi, nhất là hai tai thật to và dài xuống như tai các tượng Phật tôi thường nhìn thấy trong các ngôi chùa. Điều làm chúng tôi thú vị là bà rất vui vẻ cởi mở. Bà bảo bà cũng là dân Nha Trang nên rất mừng khi tiếp được người đồng hương từ tận bắc Âu đến viếng.

Sau một lúc hàn huyên, tôi biết được Sư Bà là người có trình độ học vấn cao. Bà có cử nhân Văn Khoa và đang học năm cuối cao học văn chương tại đại học Vạn Hạnh thì miền Nam thất thủ. Điều ngạc nhiên hơn là Sư Bà cho biết có khá nhiều ni cô gốc Nha trang đang tu ở chùa này, trong đó có con gái của ông chủ tiệm ảnh nổi tiếng một thời ở đường Phan Bội Châu mà ngày xưa tôi cùng đám bạn bè thường đến để chụp ảnh, con gái một bà chủ tiệm vàng trước Grande Pharmacie, và một vài ni cô nữa.

Bà còn bảo thật là tội nghiệp, có vài cô đã gặp bao nhiêu nghịch cảnh thương tâm trên biển Đông, chồng chết con chết, chỉ còn lại một mình. Ban đầu, Bà đưa về chùa cưu mang, rồi sau đó các cô xin được xuống tóc qui y luôn. Sư Bà mời chúng tôi ở lại dùng cơm chay cùng với Bà, nhân tiện bà giới thiệu với mấy ni cô gốc Nha Trang cho biết, bởi tôi cũng là một phật tử thuần thành.

Tôi theo ông anh bà chị xuống bếp phụ dọn cơm. Nhưng ông anh ngăn lại:
- Chú là người lạ, không nên vào bếp. Hôm nay chú thím là khách của Sư Bà mà.
Ngồi dọc theo chiếc bàn dài, gồm các ni cô và một vài phật tử, chỉ có chúng tôi là "dân sự". Sư Bà giới thiệu chúng tôi là đồng hương, những phật tử đến từ tận Bắc Âu. Tôi vừa đứng lên chấp hai tay trước ngực, bỗng bất ngờ bắt gặp đôi mắt thật to, tròn xoe của một ni cô ngồi ở phía cuối bàn. Ni cô cũng vừa nhìn tôi rồi cúi xuống. Đôi mắt đó với tôi có một cái gì thần giao cách cảm. Đúng. Trên thế gian này chỉ có Tiểu Thơ mới có đôi mắt ấy mà thôi

Dùng cơm xong, là đến giờ nghỉ trưa của Sư Bà. Chúng tôi cám ơn Sư Bà và xin được cúng dường một số hiện kim để trùng tu chánh điện.
Tôi từ giã Sư Bà, trong lúc mắt nhìn quanh như muốn tìm kiếm một điều gì. Nhưng tất cả chỉ có im lặng, ngoài tiếng chuông chùa ngân nga như chẳng bao giờ muốn tan đi trong không gian bao la vô tận.

Tôi bước ra khỏi cổng chùa. Chùa nằm trên một khu đất bằng phằng, nhưng sao tôi có cảm giác như mình đang lững thững bước xuống chân đồi. Tôi hình dung đến Ngọc vừa chia tay "chú tiểu" Lan lần cuối cùng ở chùa Long Giáng trong Hồn Bươm Mơ Tiên của nhà văn Khái Hưng, mà ngày xưa Tiểu Thơ đã bắt tôi phải kể đi kể lại bao nhiêu lần.

Phạm Tín An Ninh

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Image

NGUYỄN TẤT NHIÊN 20 NĂM TỪ GIÃ
CÕI HỒNG TRẦN

3/8/1992 -3/8/2012

Nhớ Nhiên… cựu học sinh Ngô Quyền – Biên Hòa

“…Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ
Phải ê chề cho tóc bạc với thời-gian
Phải đau theo từng hớp rượu tàn
Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định…”

(Trích trong bài : “Giữa Trần Gian Tuyệt Vọng” – 1972).

Phải chăng là một điềm báo khi thi-sĩ họa bút viết bài thơ này lúc tròn 20 tuổi ? Đúng 20 năm sau anh ra đi từ giã cõi hồng trần : ngày 3 tháng 8, năm 1992… Hưởng dương 40 tuổi. Và hôm nay: 3 tháng 8, năm 2012 ngày giỗ thứ 20 của Nguyễn-Tất-Nhiên đa tài – bạc mệnh; tôi có duyên may viết về anh thay cho lời tạ-ơn thống-thiết; vì thi-sĩ đã để lại cho hàng triệu nhân-sinh những bài thơ tình tuyệt-tác, những dấu ấn thời-gian không bao giờ phai nhạt của một đời người. Từ những ngày khoác áo trắng Trưng-Vương, chúng tôi đã len-lén thầy-cô truyền tay nhau trong giờ học những vần thơ :

“…Em hãy ra bờ sông nhìn nắng trải
Nhớ cho mình dáng dấp một người yêu
(Lỡ dòng đời tóc có điểm muối tiêu
Còn giây phút chạnh lòng như … mới lớn) …

Tình cứ đuổi theo người như chiếc bóng
Người thì không bắt bóng được bao giờ
Anh muốn khóc trong buổi đầu niên học
Bởi yêu em nên sầu khổ dịu dàng.”

(Nên Sầu Khổ Dịu Dàng – 1970) “…

Cô Bắc Kỳ nho nhỏ
tóc “demi-garcon”
chiều đạp xe vô chợ.
mắt như trời bao dung

anh vì mê mải ngó
nên quên thù đám đông !
đời chia muôn nhánh khổ
anh tận gốc gian nan

cửa chùa tuy rộng mở
tà đạo khó nương thân
anh đành xưng quỉ sứ
lãnh đủ ngọn dao trần !

qua giáo đường kiếm Chúa
xin được làm chiên ngoan
Chúa cười rung thánh giá
bảo : đầu ngươi có sừng !

đời chia muôn nhánh khổ
anh tận gốc gian nan…”

(Đám Đông – 1973).

Nguyễn Tất Nhiên sinh ngày 30 tháng 5, năm 1952 tại quận Đức-Tu, tỉnh Biên-Hòa. Gia-đình có bốn người con trai : Nguyễn-Hoàng-Hải (tên thật của Nguyễn-Tất-Nhiên), Nguyễn-Hoàng-Đệ (đã mất thưở nhỏ), Nguyễn-Hoàng-Nam và Nguyễn-Hoàng-Thi (hiện cùng Cha-Mẹ sống ở California. Hoa-Kỳ).

Anh là học-sinh tại trường Ngô-Quyền từ năm 1963-1970. Biên Hòa lúc xưa có hai trường trung-học lớn : tư-thục Khiết-Tâm (của cố linh mục An-Tôn Lê-Hoàng-Yến) và trường công-lập Ngô Quyền.

Theo nguồn từ Link : http://www.tinmoi.vn/tiet-lo-moi-tinh-d ... 87004.html

“… Qua kho tàng thơ Nguyễn Tất Nhiên, người ta biết đến mối tình của thi-sĩ với một cô gái tên Bùi-Thị-Duyên, dân miền Bắc vào định cư trong Nam. Tình yêu này của Hải dành cho Duyên cả trường trung học Ngô-Quyền ai cũng biết.

“…Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc
nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền
nhớ dịu dàng nhưng thầm ý khoe khoang
nhớ duyên dáng, ngây thơ…mà xảo quyệt !

ta sẽ nhớ dặn lòng nên tha thiết
nên vội vàng tin tưởng chuyện vu vơ
nên yêu đương bằng khuôn mặt khờ khờ
nên hùng hổ…để đợi giờ thua thiệt !…”

Tình đơn phương hay tình dang dở khiến người ta nghĩ đến nhau nhiều. Những vần thơ đã sống cùng thời gian để rồi người con gái tên Duyên đã thành một biểu tượng và có một vị-trí rất đặc biệt trong thơ Nguyễn-Tất-Nhiên. Bài : “Khúc Buồn Tình – Thà Như Giọt Mưa” (do Hoàng-Thi phổ nhạc sau này) (1) thi-sĩ đã thấy “người từ trăm năm về khơi tình động”. Yêu nhưng không thể đến gần, bởi Duyên cứ cách xa… “trùng trùng gió lộng”.

Một người bạn của Nguyễn Tất Nhiên đã hỏi tại sao lại “Thà Như Giọt Mưa” thì anh trả lời hết sức cắc cớ : “Ai biểu Duyên không yêu tôi thì tôi xin làm giọt mưa… để được khô trên mặt nàng”. “…Thà như giọt mưa vỡ trên mặt Duyên thà như giọt mưa khô trên mặt Duyên để ta nghe thoáng tiếng mưa vội đến những giọt run run ướt ngọn lông măng …. khiến người trăm năm đau khổ ăn năn khiến người tên Duyên đau khổ muôn niên.”

Cô gái xứ Bắc mang tên Bùi-Thị-Duyên ngày nào, nay sống tại Michigan, Hoa Kỳ. Sau này, qua lời kể của những người quen; Duyên đã nhớ lại những kỷ niệm thật đẹp của tuổi học trò áo trắng và tâm-sự rằng : “Tụi này học chung với nhau từ năm đệ tứ. Nhưng lúc đó, tôi ngây thơ chưa nghĩ gì hết, còn Hải nghĩ gì thì tôi không biết. Gặp nhau, biết nhau từ lúc 14, 15 tuổi. Tôi được tặng một quyển thơ nghe nói là có ba bản chính. Một bản của Hải, một bản cho tôi và một bản cho ai tôi quên mất rồi. In ra khoảng chừng 100 quyển thôi. Tôi biết sự hình thành quyển thơ này, tất cả bạn bè trong lớp ai cũng biết, nhưng đó là chuyện hồi nhỏ… Dĩ nhiên là phải xúc động bởi nguyên một quyển thơ viết cho tôi. Nhưng tôi đã nói với anh ấy ngay từ đầu là mình làm bạn thôi ! Nếu có ý gì đó thì tôi không gặp nữa. Về sau Hải phải công nhận là muốn làm bạn, để còn được tiếp tục gặp nhau. Chắc anh ấy cũng quý tôi lắm !”… (ngưng trích).

Âu cũng là một cơ-duyên khi tôi gặp và quen với thân-mẫu cùng bào-đệ của cố thi-sĩ vào năm 1998, trong một buổi thâu hình đại nhạc hội tại Vancouver (Canada) cho “Mây Productions”. Một năm sau đó, tôi về Việt-Nam làm từ-thiện với các Soeur dòng “Nữ-Tử-Bác-Ái” (Daughter of Charity) đã được dịp đến thăm mộ, đốt nhang cầu-nguyện cho Nguyễn-Hoàng-Đệ (em kế Nguyễn-Tất-Nhiên) cùng ghé xem ngôi nhà xưa của cố thi-sĩ tại Biên-Hòa. Sau hôm ấy, tôi tìm đến Nghĩa-Trang Quân-Đội để đọc kinh cầu cho linh-hồn các tử-sĩ Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa; đi giữa những hàng mộ hoang-tàn không nhan, không khói của các chiến-sĩ vô-danh. Chợt nhớ đến bài thơ “Chiều Mệnh Danh Tổ-Quốc” của Nguyễn-Tất-Nhiên mà rơi lệ :

“Người yêu tôi khóc ngất
Chiều quân đội nghĩa trang
Rạt rào hơi gió nóng
Cho đau tà áo tang

Người yêu tôi khóc ngất
Chiều quân đội nghĩa trang
Ngập ngừng hơi xác ướp
Bay pha mùi áo nhang

Người yêu tôi khóc ngất
Trước quan tài sĩ quan
Trước hai chàng lính đứng
Thao diễn nghỉ lạnh lùng

Người yêu tôi khóc ngất
Trung úy thản nhiên cười
Lồng trong khung ảnh đẹp
Dựng sau bình bông tươi

Sự vinh thăng bất ngờ
Là đem theo nước mắt
Là danh dự xót xa
Là một lần đắp mặt

Một lá cờ quốc gia …
Chiều quân đội nghĩa trang
Chiều mệnh danh tổ quốc
Có muôn ngàn câu kinh

Có muôn ngàn tiếng khóc
Có chuyến xe nhà binh
Đưa “Thiên Thần” xuống đất
Còn ai, còn ai chăng ?

Mua cờ bằng tính mệnh
Cho tôi đừng biết tên
Cho tôi đừng nhận diện
Cho tôi đừng chứng kiến

Xác “thiên thần” rã manh
Người yêu tôi khóc ngất
Chiều quân đội nghĩa trang
Vài dặm bụi lang thang ... (1971)

Rồi đến đầu tháng 8 năm 2000, ca-nhạc-sĩ Nguyễn-Hoàng-Thi, Mẹ anh và tôi tổ chức một buổi đi tảo mộ Nguyễn-Tất-Nhiên tại nghĩa-trang Westminster Memorial Park, khu Little Saigon – California. Tôi còn nhớ tự tay mình đã đi mua một ly café đen đá không đường (là thức uống thi-sĩ rất thích lúc sinh thời), một bao thuốc lá và bó hoa huệ trắng đến thăm nơi an nghỉ ngàn thu của anh lần đầu. Tôi đã không cầm được nước mắt khi nghe kể về những năm cuối đời vô cùng nghiệt-ngã, giống y hệt những lời thơ Nguyễn-Tất-Nhiên đã viết trong bài “Hai Hàng Me Đường Gia-Long” – 1973 : “Đời, vốn không nương người thất thế, Thì thôi, ô nhục cũng là danh !”

Trong “Link”: http://chutluulai.net/forums/showthread.php?p=14516 Tác-giả Nguyễn-Mạnh-Trinh ghi nhận rằng: “… Cái bi thiết của một người nuôi nhiều mơ mộng nhưng thực tế lại mênh mông những bóng tối thẳm sâu. Cuộc sống như trải dài từ những nợ này đến nợ khác, để thi sĩ phải tự than thân “Ta mấy kiếp vẫn là ta mắc nợ”. Nợ tình, nợ đời, thành những câu thơ bi thiết, thành những tâm tình đầy dằn vặt thảm thê. Thơ, là nỗi niềm tràn ra từ những lời ân hận, những cấu xé của thâm tâm…

Lạ lùng, thơ như trải ra trước những phận số, nói trước những bi đát trong đời Nguyễn-Tất-Nhiên. Làm thơ trong ngày sinh-nhật của người yêu sắp cưới thành vợ, sao lại có những câu như lời sám hối :

“Khổ đau oằn nặng sinh thời
yêu ai tôi chỉ có lời thở than
có môi hôn trộm vội vàng
khiến em hoảng hốt trong cơn tình đầu

nụ cười giữ được bao lâu
nhân sinh là một dòng sầu miên man
sông dài rồi cũng chia phân
tình bao nhiêu lớn cũng tàn phai thôi

tôi đam mê siết thân người
hay đâu đá tảng đeo đời trăm năm
em gầy guộc, em mong manh
em chưa đủ sức long đong cùng chàng

em ngây thơ đến rỡ ràng
em chưa đủ lượng khoan hồng thứ dung
em tội nghiệp, em tủi thân
Em chưa tự chủ kịp ngăn lệ tràn

lôi người té sấp. Gian nan
lỗi tôi, ừ đó, muôn phần lỗi tôi !”

Khi thành vợ thành chồng rồi hai người ly thân, Nguyễn-Tất-Nhiên buồn bã (vì xa vợ và hai người con trai còn thơ bé) mang đời sống tình cảm của một phận số không may… Những bài thơ của chia ly, nhớ thương và của những nỗi niềm ăn năn thống hối. Như trong bài “Minh Khúc, 90.” Nói lên những não lòng, nỗi niềm bời bời trong tim trong óc. Tôi đọc và vì nghĩ tim mình không phải là gỗ đá nên cũng thấy một phút se long :

“Đường không gian – đã phân ly
đường thời gian – đã một đi không về
những con đường mịt sương che
tôi vô định lái chuyến xe mù đời

cu tí ngủ gục đâu rồi ?
Băng sau, ngoái lại, bời bời nhớ con !
Đường trăm năm – nát tan lòng
Đường ngàn năm – hận, xin đừng trả nhau !

Những con đường cuối năm nào
Cho tôi tìm lại cành đào ba sinh
Khi em lễ mễ với tình
Thắp nhang tạ tội sinh thành con đi

Đường chung đôi – đã chia đời
Đường chia đôi – vẫn hơi người quẩn quanh
Chim đêm hót tiếng đau tình
Đau tim tôi chở lòng thành kiếm em.”

(Westminster, CA, 2.1.1990)

Chiếc xe, có phải là nơi chốn mà chàng thi sĩ thở hơi thở cuối cùng rồi đi vào miên-viễn. Nơi đó, trong một phút thảng thốt, nhìn lại băng sau để thấy “bời bời nhớ con”. Cũng chiếc xe ấy, đã có lúc chung đường chung đôi mà bây giờ thì chia đời … vạn dặm… Nguyễn Tất Nhiên, muôn thuở vẫn là một người xa lạ với cuộc sống dưới đất và gần gũi với trăng sao trên trời. Và, cũng phải có một lúc, để trở về với nơi chốn thân quen, mà bất hạnh cũng nở hoa kết trái giống như hạnh phúc. Cái kinh nghiệm khổ đau của kiếp người có phải là một ấn chứng để tâm hồn vượt lên trên bão dông, để ngôn ngữ yêu nhau vẫn còn dù đã nhiều nghịch cảnh.

Theo tôi, Nguyễn Tất Nhiên là một thi sĩ thực sự mang đời sống mình làm ví dụ cho một trường hợp của khoan dung và từ ái ?…” (Ngưng trích).

Ngày 7 tháng 8, năm 1992. Bốn ngày sau khi Nguyễn-Tất-Nhiên lìa đời nơi sân chùa Việt-Nam (đường Magnolia, thành-phố Garden Grove. California). Ký-giả Lily Dizon của nhật báo Los Angeles đã đăng bài tường-trình trong trang tin địa-phương với nhan đề : “Popular Local Poet Nhien Tat Nguyen Dead : Obituary: His melancholic Vietnamese verse intertwined religion and romantic love. An apparent suicide ends a poor and painful life.”

Link: http://articles.latimes.com/1992-08-07/ ... antic-love

Nguyễn-Tất-Nhiên sau những năm tháng dài lang thang như kẻ Homeless không cửa, không nhà; (trên xe anh lúc nào cũng có những bịch khoai tây sống để khi đói thì dùng). Ngày 3 tháng 8, 1992 Nguyễn-Tất-Nhiên đã tự chọn cho mình một phương cách rời bỏ loài người cùng cuộc đời ô-trọc : “Mỗi một người một lý lẽ bất an, Mỗi cái chết có một hình thức khác… 20 năm rồi, chàng đã về cùng bụi cát trùng khơi, mà sao những lời thơ còn vương vấn mãi cõi dương-trần, để người đời như tôi mỗi lần nhớ tới thơ anh phải bàng-hoàng, phải thống-khổ, cảm-nhận đến tận cùng nỗi cam-chịu của một kiếp người :

“Sớt Cho Ai Một Chút Buồn.
Sao Ta Không Nỡ Nên Thầm Cạn Ly”. “…
Sao thiên thu không là thiên thu ?
nên những người yêu là những ngôi mồ

tôi đứng một mình trong nghĩa địa
và chắc không đành quên khổ đau !…”

(Thiên-Thu – 1970)

Chiều nay, lang thang trên hè phố xứ người. Tôi thấy tim mình bỗng nhớ quắt-quay; nhớ thơ tình Nguyễn-Tất-Nhiên, nhớ anh Nguyễn-Hoàng-Hải; dù chưa bao giờ được diện-kiến thi-sĩ trong đời : “…Cây xanh nói với lòng đường, Mỗi khi vắng bóng ta thường nhớ nhau. . .” Xin mượn bài thơ “Minh Khúc 9” của chính anh để tặng cho tất-cả những ai đã, đang hoặc chưa từng biết về cố thi-sĩ Nguyễn-Tất-Nhiên :

“Đong tình đong nghĩa cho nhau
Trái tim nhân loại dù sao cũng còn
Đâu đây, đâu đó bên đường
Có thêm một tấm lòng thương tấm lòng

Nợ đời trả kiếp chưa xong
Ai đem đổ biển đổ sông nợ tình
Cho nhau nhiều ít chân thành
Cũng như hương hỏa ba sinh

vẫn còn Sẻ chia khúc ruột đoạn trường
Kẻo vua Lê trách chàng Trương phũ phàng
Nợ đời trả chút văn chương
Nợ tình, ừ, trả con đường em đi

Sống không trách móc không về
Qua sao trách bậu lỗi nghì trúc mai
Chỉ xin sợi vắn sợi dài
tóc mai nhắn gió thương hoài ngàn năm

bữa qua qua bỗng đau lòng
nhớ hôm bậu hát bài đừng xa nhau..”

(Westminster, CA 27 tháng 4, năm 1990).

Đinh Mỹ Chơn –
CHS Ngô quyền – Biên Hòa

(1)/- có lẽ người viết sai tên người nhạc sĩ đã phổ nhạc “Thà như giọt mưa” là Phạm Duy. Hoặc sau này có thêm nhạc sĩ Hoàng Thi cũng phổ nhạc bài thơ này ?

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Nha Trang ngày về.
Phạm Thành Châu
1

Bài hát "Nha Trang Ngày Về" của nhạc sĩ Phạm Duy, hắn nghe không chán. Hắn như thấy rõ một anh chàng thất tình đang ngồi ở bãi biển ngó mong, nhớ lại thời cùng "người yêu trong cánh tay", cũng trên bãi biển này, bây giờ không biết người yêu ở đâu?! Với hắn, đi học ở Nha Trang, rồi yêu một cô nữ sinh Nha Trang, nên nghe bản nhạc, hắn cũng buồn man mác. Bây giờ hắn đã về Nha Trang và cũng ra bãi biển ngồi "một mình trên bãi khuya" để tưởng niệm lại mối tình không còn nữa. Nhưng khổ nỗi, mối tình của hắn chỉ là đơn phương nên không thể có người yêu trong cánh tay, và giây phút ngồi một mình trên bãi khuya, hắn chẳng có gì để tưởng nhớ, để tiếc nuối, để buồn rầu. Nói rõ ra, hắn không có kỷ niệm, vì thế, hắn ngồi trên bãi khuya một lúc là phát chán, lại sợ công an đến hỏi thăm hoặc mấy tên đầu gấu đến trấn lột. Việt kiều được nhìn như những tên mán mà túi áo, túi quần đầy ắp đô la.

Thời đi học, hắn có yêu một nữ sinh, nhưng em không yêu hắn, em yêu một tên khác, dù vậy, hắn vẫn cứ yêu em. Năm bảy lăm, hắn may mắn cùng gia đình đi thoát. Ở Mỹ, hắn vẫn mơ tưởng đến em. Hiện nay, hắn đã tốt nghiệp đại học, làm lương khá, hắn về thăm bà con ở quê rồi lên Nha Trang tìm em. Nhưng đã ba hôm rồi mà hắn không biết em đang ở nơi nào? Nhà em, tiệm buôn trước chợ Nha Trang, bây giờ cửa sắt đóng im ỉm.

Một buổi sáng, hắn ra ngồi trước thềm nhà em, tức là cái tiệm buôn ngày trước, hy vọng em ra vào, hắn sẽ đến chào hỏi. Trước kia hắn vẫn thường la cà vào tiệm này chỉ để ngắm trộm em chứ không dám nói chuyện. Cái lối lúng túng, ngập ngừng của thằng học trò mới lớn trước người đẹp tố cáo hắn si mê em, em không đáp lại nhưng vẫn tử tế lịch sự. Bây giờ hắn nghĩ, có đô la là có tình yêu, hắn sẽ mạnh dạn, tự tin khi gặp em. Nhưng khi cửa mở, hắn nghe những người trong nhà nói chuyện với nhau bằng giọng Bắc Kỳ bảy lăm thì hắn biết ngay, gia đình em đã bị đánh tư sản, nhà cửa đã bị tịch thu. Đương nhiên cả gia đình phải đi kinh tế mới. Cái tổ chim bị người ta phá thì mấy con chim phải bay tứ tán! Biết em ở nơi nào?

Nha trang thay đổi quá nhiều, cả đến tên đường cũng thay đổi. Ngày trước, hắn ở dưới quê lên tỉnh trọ học, không quen biết nhiều, nay bạn bè chẳng thấy đứa nào, thế nên hắn cứ lơ ngơ như chó mất chủ. Chỉ còn vài hôm nữa là hắn phải từ biệt Nha Trang, về Sài Gòn, chuẩn bị lên máy bay về Mỹ thì hắn gặp lại em. Chỉ tình cờ thôi. Buổi tối đó, hắn lang thang vơ vẩn trên đường phố rồi ghé vào một quán cà phê. Quán chỉ loe hoe vài người khách. Thường thì hễ không có khách, chủ bèn kêu nhân viên ra ngồi cho bớt vắng vẻ, thấy đông, người ta mới vào. Thế nên, khi hắn vào một góc quán, gọi một ly cà phê rồi ngồi chống cằm lắng nghe mấy chị đàn bà tụ tập bàn bên cạnh chuyện trò. Cô, bà nào cũng thế, hết chuyện mình đến chuyện người, nói sa đà quên cả thế gian. Hắn chú ý nghe một cô được gọi tên là Hạnh, nói.

Bịnh viện ở đây không đủ máy móc, phương tiện, phải vào Sài Gòn mới mổ được, nhưng tốn lắm, năm, bảy triệu chưa chắc đủ. Mà không mổ, e khó qua khỏi.

Trong ánh đèn lờ mờ, hắn nhận ra cô Hạnh, người hắn muốn tìm, nhưng hắn vẫn yên lặng, trả tiền và ra về.

Sáng hôm sau hắn lại đến. Quán đông người, ồn ào tiếng người nói, tiếng nhạc, khói thuốc mù trời. Hắn không thấy cô Hạnh đâu. Lúc trả tiền, hắn hỏi cô thu ngân.

- Cô Hạnh không làm ban ngày ở đây hả chị?

Cô này không đẹp, có lẽ không được chàng nào nhìn đến nên trông quạu quọ.

- Con Hạnh chỉ làm buổi tối thôi.

- Ban ngày cô ấy làm ở đâu?

- Nó phải ở nhà lo việc nhà. Con còn nhỏ, chồng bịnh hoạn.

Lúc nhận tiền thối, hắn để lại một tờ bạc lớn, coi như tiền "típ" nên cô không còn trả lời nhát gừng nữa.

- Tôi với cô Hạnh là bạn học tuy khác lớp, sau này tôi vào Sài Gòn sinh sống nên không rõ cô ra sao, chồng con thế nào?

- Chồng nó là thằng bồ lúc còn đi học, sau đi sĩ quan. Năm bảy lăm sập tiệm, ai cũng lo thất thần, chỉ mình hắn chạy đi tìm thằng bồ. Chồng thì nói làm gì, đây chỉ mới đám hỏi thì mạnh ai nấy lo. Vậy mà hắn vô tuốt bịnh viện Cộng Hòa đón thằng chồng chưa cưới cụt chân về. Hắn kể, lúc đó quân giải phóng vô, đuổi hết thưong binh "ngụy" ra, họ bò lết đầy đường, máu me tùm lum, ai không bò ra được thì bị "cách mạng" bắn "bùm" một phát rồi đem vất xuống hố, may hắn vô kịp, thằng chồng chưa cưới vừa mới bị thương, nằm một đống, cục cựa không được nói gì bò đi.

- Kể ra cô ấy cũng chung tình.

- Thì chung tình mới thành cái của nợ suốt đời. Sau giải phóng, hai bên nhà trai, nhà gái đều bị đánh tư sản, phải đi kinh tế mới, lên núi, vô rừng mà sống, dân thành phố mà bắt cuốc đất trồng khoai thì chỉ có nước chết đói. Mới mò về được mấy năm nay. Thằng chồng què ra vá xe đạp còn hắn thì đến đây làm, vừa rồi nghe nói bị bịnh tim, phải mổ xẻ sao đó, chịu chết chứ tiền đâu?

Giọng hằn học vô lý mà hắn thường nghe ở các cô gái lỡ thì.

- Khổ như thế thì đừng lấy chồng còn hơn.

Cô đồng ý ngay.

Ở một mình cho sướng, lấy chồng, rủi gặp thằng cà chớn chỉ thêm khổ.

Tôi nghe nói mấy chàng Việt kiều có tiền, dễ tìm người yêu lắm, có đúng vậy không?

- Đâu cần phải Việt kiều, cứ có tiền là có thể mua quả tim của bất cứ người đẹp nào. Vợ tổng thống Mỹ, vừa chết, thằng tỷ phú già khú đến dẫn về, đời mà!

Hắn khen.

- Chỉ có chị nói chuyện là hợp ý tôi.

Chuyện trò đến đấy hắn ra về.

2

Tối đó hắn lại đến, ngồi ở một góc tối trong quán. Khi cô Hạnh mang cà phê đến, hắn hỏi.

- Cô có phải tên Hạnh không?

- Dạ phải? Sao anh biết em?

- Trước bảy lăm, tôi thường đến tiệm buôn của gia đình cô.

Cô nhìn hắn chăm chú rồi "À" lên một tiếng.

- Em nhớ ra rồi! Anh là anh Hồng. Anh học trên em một lớp. Mà anh ở đâu mới về Nha Trang phải không?

- Tôi ở Mỹ, về thăm Việt Nam, độ vài hôm nữa phải vô Sài Gòn chuẩn bị lên đường.

Cô tò mò.

- Nghe nói mấy người ở Mỹ giàu lắm?

- ít có người nào gọi là giàu, nhưng đồng đô la ở Việt Nam quá lớn nên tiêu xài thoải mái, thấy thế người ta bảo là giàu.

Rồi hắn hỏi.

- Cô Hạnh làm ăn, sinh sống ra sao?

Cô ngồi xuống bên cạnh làm ra vẻ chán nản.

- Buôn bán ế ẩm quá, không đủ sở hụi, em định bán quán cà phê này, tìm lập một quán nhậu, khá hơn. Nhưng khi hỏi được chỗ thì lại không đủ tiền. Vay nợ chỉ lo trả tiền lời cũng đủ chết.

Hắn biết cô chỉ là người làm công ở đây thôi nhưng vẫn hỏi.

- Nếu lập quán nhậu, phải tốn bao nhiêu?

Cô mừng rỡ nhưng cố bình tỉnh.

- Anh có định cho em mượn tạm không? Rồi em sẽ trả lại anh sau. Lập quán nhậu lời lắm. Hay là anh em mình hùn hạp làm ăn. Anh bỏ vốn, em bỏ công ra, mình chia lời.

Vài hôm nữa tôi về Mỹ rồi, làm sao chia lời được. Tôi cho vay. Hạnh cần bao nhiêu?

- Em chỉ cần bốn năm trăm đô là đủ, không kịp chung tiền, chủ sang cho người khác, mất dịp may uổng lắm. Quán đông nghẹt khách, chiều nào cũng ngồi tràn ra đường!

- Được rồi, tối nay tôi chờ Hạnh ở ngã tư đằng kia, Hạnh về lúc mấy giờ?

- Em về khuya, nhưng em sẽ ra gặp anh sớm, độ mười giờ, anh chờ em ở đó nghe.

- Đồng ý nhưng tôi nói trước cho Hạnh chuẩn bị tinh thần. Hạnh nhận tiền tôi thì tôi cũng được món quà gì chứ, phải không?

Cô sửng người, nhưng bình tĩnh lại.

- Anh muốn món quà gì em cũng chịu cả, vì em cần tiền gấp lắm.

- Món quà đó chỉ riêng Hạnh có mà thôi. Nói thế Hạnh hiểu rồi. Suy nghĩ kỹ đi, lát nữa trả lời.

Lúc trả tiền hắn móc một nùi bạc để xuống mấy tờ mà không lấy tiền thối, lúc đó cô Hạnh mới tin hắn đúng là Việt kiều.

3

Hắn đi lang thang, ngơ ngáo, thấy gì cũng nhìn. Đến trước tiệm buôn xưa kia của gia đình cô Hạnh, hắn ngồi xuống thềm nhà. Hắn nhớ lại thời còn đi học, hắn si mê cô Hạnh, tối nào học bài một lát hắn lại đến trước nhà cô, ngồi ngay trên thềm, suy nghĩ vẩn vơ, tưởng tượng người đẹp của hắn đang ngồi học bài trên lầu. Hắn đã từng ước được biến thành cái ghế cho em ngồi, cái bàn cho em tì tay, được làm cái cặp để em ôm vào ngực mỗi khi đi học. Hắn biết (lúc bấy gìờ) tất cả chỉ là không tưởng, vì cô Hạnh đã có người yêu, nhưng hắn chỉ buồn và càng yêu cô thêm chứ không hề ghen tức.

Ngồi một lát, nhìn đồng hồ, hắn đứng dậy đi đến chỗ hẹn. Vừa đến nơi hắn đã thấy cô Hạnh xuất hiện. Từ xa, nhìn dáng đi, cô không thay đổi và gương mặt vẫn còn những nét cũ. Hắn lại nhớ đến ngày trước, nhiều lần hắn gặp cô đi trên đường phố, dáng uyển chuyển, gương mặt đẹp, sáng rỡ như đóa hoa, tóc bay trong gió. Hình ảnh đó vẫn còn trong tâm trí hắn. Nhưng lúc đó cô không quen thân gì lắm. Bây giờ mới chính thực là cô đến với hắn. Hắn không ngờ đồng tiền có sức mạnh đến cỡ đó. Mua được nguyên một con người, một người đẹp.

Khi cô đến gần hắn mới thấy rõ, cả người cô đã được phủ lên những nét phong sương, gian khổ. Mái tóc mượt mà ngày xưa, bây giờ lơ thơ, lùi xùi như không hề được chải gỡ. Cô dừng lại trước mặt hắn, hắn nhìn chăm chăm cô khiến cô bối rối. Hắn thấy cô quá ốm, hai má tóp lại, cổ như cao hẳn lên, cánh tay khẳng khiu như của người bịnh, chỉ bộ ngực là nổi rõ dưới áo, hắn đoán cô mới sinh con, còn căng sữa. Hắn bảo.

- Mình ra bãi biển đi, nói chuyện tiện hơn.

Cô ngập ngừng.

- Anh cho em đi sau anh được không?

Được chứ, nhưng đến bãi biển, tối và vắng người, mình đi bên nhau.

Cô đi sau hắn một quãng ngắn. Ra đến bãi biển, ánh sáng chỉ còn lờ mờ, hắn đi chậm lại, cô đi bên hắn. Rồi hắn kéo tay cô cùng ngồi xuống. Hắn nhớ lại trước đây hắn đã từng ra bờ biển buổi tối, ngồi một mình mơ mộng, ước ao có cô Hạnh bên cạnh.

Hắn yên lặng nhìn ra mặt biển mịt mù tối tăm, gió biển thổi mát lạnh, tiếng sóng vỗ nhè nhẹ vào bờ "Nha Trang ngày về... người yêu trong cánh tay" Hắn choàng tay qua vai cô Hạnh. Cô co rúm người lại. Hắn nghe cô thở gấp, rồi cô lặng lẽ khóc. Hắn hỏi.

- Sao Hạnh run dữ vậy?

- Em lạnh quá!

- Có cần tôi ôm Hạnh không?

- Không, không!

Cô nói giọng hoảng hốt. Hắn rụt tay lại, không còn ôm vai cô nữa. Rồi cả hai cứ ngồi yên lặng như thế, một lúc thật lâu, hắn hỏi.

- Hạnh cố nhớ lại cảm tưởng trước bảy lăm và cảm tưởng bây giờ. Hạnh thấy Nha Trang thế nào?

Cô lau nước mắt, suy nghĩ rồi nói.

Nha Trang không còn là của em nữa. Nhà cửa, đường phố, cây cối vẫn vậy, nhưng em thấy xa lạ quá. Trước kia hễ đi đâu xa Nha Trang, em nhớ, khi về em mừng rỡ, như gặp lại mẹ, gặp lại bạn thân. Bây giờ em dửng dưng, thấy nơi đâu cũng bao trùm không khí sợ hãi công an, sợ hãi cơ quan nhà nước. Từ khi bị cách mạng tịch thu nhà, không bao giờ em đi ngang nhà cũ của em. Hễ thấy nhà cũ của em là em khóc. Em nhớ mẹ em, nhớ ba em và các em của em. Nhớ những ngày hạnh phúc, vô tư trước ngày mất nước.

- Bây giờ các người đó ở đâu?

- Ba mẹ em đã mất rồi, mấy đứa em vẫn còn trên kinh tế mới. Chúng không muốn về lại Nha Trang... Chỉ nửa năm ở kinh tế mới, mẹ em đã lâm bịnh nặng. Những khi mê sảng, mẹ em cứ kêu lên "Tôi lạy các ông! Chúng tôi xin đi. Các ông đừng bắn. Tôi lạy các ông!" Chỉ vì nhà nước tịch thu tài sản mà ba mẹ em không chịu, cứ khóa của ở trong nhà, họ phải phá cửa, vô bắt cả nhà, bỏ lên xe, đưa lên kinh tế mới với hai bàn tay trắng.

Giọng cô đều đều, bình thản, như đang kể chuyện của người khác.

- Em đang ở Nha Trang mà lại nhớ Nha Trang kỳ lạ. Nha Trang ngày xưa của em.

- So với Cải Cách Ruộng Đất ngoài Bắc năm 54 - 56, họ nhân đạo hơn nhiều. Hạnh nên "cám ơn" họ. Nhưng ngay tại đây, tôi biết Hạnh còn sợ một loại người khác nữa. Đó là Việt kiều.

- Em không hiểu ý anh?

- Tôi ôm vai Hạnh, Hạnh sợ đến phát khóc.

- Không phải đâu, sợ anh thì ít, nhưng em khóc vì em đang nghĩ đến chuyện riêng của em, em lo buồn quá! Em rất cần anh giúp em.

Rồi cô tựa vào người hắn, như chiều lòng hắn, nhưng hắn đã đứng lên.

- Bây giờ mình về. Tôi cần Hạnh ra đây để hỏi rõ về quyết định của Hạnh, nếu Hạnh đồng ý, tối mai lúc mười giờ, tôi chờ Hạnh ở ngã tư lúc nãy, chúng ta sẽ đến một nơi, Hạnh sẽ nhận được tiền và tặng cho tôi món quà mà tôi thích, chắc Hạnh hiểu. Nếu không đến, là Hạnh từ chối.

Cô yên lặng một lúc.

- Em sẽ đến, chỉ sợ anh đổi ý thôi. Cố giúp em nghe anh!


4

Hắn giã từ cô, đi lẫn vào bóng tối. Chờ cho cô Hạnh đi một quãng xa, hắn đi theo, cố cho cô không thấy được hắn, dù đôi lúc cô quay nhìn phía sau. Cô đi vào một con hẻm tối om, tối đến độ hắn chỉ nhận được dáng cô lờ mờ phía trước. Rồi cô mở cửa bước vào một chái nhà, đóng cửa lại. Chái nhà rộng vài mét, dài độ năm mét, tựa vào vách tường của con hẻm. Hắn nép vào vách nhìn qua cửa sổ mắt cáo. Một ngọn đèn nhỏ leo lét để trên một cái bàn cũ đen thùi. Cạnh bàn là một chiếc giường, buông mùng, có người đang ngủ, đầu giường là một cặp nạng của người què. Một cái nôi, treo gần đấy, cũng buông mùng, hình như có em bé ở trong.

Cô để xách tay trên bàn, vén mùng chui nửa người vào giường, cúi xuống như hôn người nằm ngủ. Hắn lắng nghe nhưng không rõ tiếng đối đáp. Chợt có tiếng ọ ẹ trong nôi, cô chui ra, nắm tô nôi vừa đưa vừa như chuyện trò với đứa bé.

- Ngủ đi con, để mẹ và ba ăn cơm xong, sẽ cho con bú, từ chiều tới giờ, ba cho con uống nước cháo hoài, đâu bổ béo gì.

Rồi cô quay lại nói với người nằm trên giường.

- Lúc chiều em gặp con bạn Việt kiều, nó học cùng lớp với em lúc trước, vợ chồng nó về thăm Nha Trang. Nó hứa cho em mượn mấy trăm đô, mai mốt nó ghé đưa. Có tiền, em sẽ đưa anh vào Sài Gòn.

Có tiếng nói gì đấy. Cô bảo.

- Mẹ con em chỉ ở nhờ độ một tuần để săn sóc anh trong bịnh viện. Nếu họ khó khăn thì mẹ con em nằm ở hành lang bịnh viện. Nhiều người ở quê đưa người nhà nằm bịnh viện cũng phải sống như vậy, đâu có sao!





Cô nói với giọng nhỏ nhẹ, âu yếm và vui, rồi cô cất giọng ru con "Ầu ơ... Cầm con dao sắc, cắt một củ gừng. Bỏ vô nồi đất, sắc lại vài phân... Cái tay em bưng, cái chưn em bước. Mái tóc em xước, cái lược em rơi... Ầu ơ... Vừa đi vừa vái ông trời, cho chồng em lành bịnh ở đời với em"





Hắn lặng lẽ quay về.

5

Cô Hạnh y hẹn ra với hắn, cô vẫn xin đi sau hắn một quãng. Đường phố còn đông đúc người qua lại, đèn từ các cửa tiệm sáng ra đến ngoài đường. Đến một cửa hàng, hắn ghé mua một thùng sữa hộp, kẹp vào nách đi tiếp. Cô Hạnh vẫn lẽo đẽo theo sau. Đến một tiệm cơm sang trọng, hắn dừng lại chờ cô.

- Hạnh có định ăn cơm với tôi không?

- Cám ơn anh, em còn no.

- Thì mình vào đây uống nước.

- Dạ!

Cô và hắn ngồi đối diện.

- Thường thì Hạnh thích ăn gì ? Thịt hay là cá?

Cô cười buồn rầu.

- Lúc nhỏ em kén ăn lắm. Bây giờ, có gì để ăn đâu mà chọn lựa.

- Bên Mỹ ăn uống thừa mứa, mấy người Việt tỵ nạn cũng bắt chước đế quốc tư bản, không dám ăn thịt, sợ mập quá, sợ đứt gân máu chết bất tử. Để tôi gọi một ít thức ăn mang về.

Hắn ra dấu, bà chủ tiệm đến với tờ giấy, hắn kê một lô thịt quay, cá chiên, cá kho, thịt kho... Một lát người làm để trên bàn hai xách thức ăn, hắn trả tiền, cầm lấy, ôm thùng sữa, đi ra.

- Bây giờ Hạnh theo tôi.

Cô biến sắc, riu ríu đứng dậy, mặt cúi gầm, lẳng lặng theo hắn. Ra khỏi tiệm, hắn tiếp tục đi, đến một chỗ vắng, dưới mái hiên, hắn dừng lại chờ cô.

- Hạnh có thay đổi quyết định không? Bây giờ vẫn chưa muộn.

Cô lắc đầu, buồn thảm.

- Em chẳng còn con đường nào khác!

Hắn móc bóp rút mấy tờ trăm đô, đưa cô Hạnh.

- Xin lỗi Hạnh, tôi đã làm Hạnh sợ thất thần. Tôi không có ý xấu gì với Hạnh đâu, tôi muốn thử Hạnh và cũng muốn chiêm nghiệm một số ý nghĩ của tôi. Đây là tất cả số tiền tôi có, Hạnh cầm lấy. Tôi đã được biết chút ít về hoàn cảnh Hạnh. Tôi rất kính phục Hạnh, kính phục tấm lòng chung thủy của Hạnh. Chồng Hạnh là một người lính may mắn, sẽ rất hãnh diện và tri ân Hạnh. Tôi tin rằng miền Nam Việt Nam của chúng ta còn rất nhiều tấm lòng, trái tim như Hạnh. Trời sẽ không phụ lòng họ. Đất nước sẽ qua cơn hoạn nạn, chúng ta sẽ có dịp vinh danh những trái tim cao quí đó.

Cô Hạnh nhìn sững hắn. Rồi cô ôm mặt khóc nức nở. Hai vai cô rung lên.

- Em muốn quì xuống lạy anh để cám ơn anh đã cứu mạng chồng em.

Hắn vỗ vỗ lưng cô như dỗ dành đứa em gái.

- Nín đi! Người ta nhìn thấy kìa! Đây là địa chỉ của tôi ở Mỹ , cần gì Hạnh cứ gọi cho tôi. Tên tôi được thêm chữ thị ở giữa, vậy là chồng Hạnh sẽ nghĩ rằng tôi là bạn gái của Hạnh. Đàn ông rất tự ái, thà chết chứ họ không chịu nhờ vả người đàn ông nào mà họ không biết rõ, nhất là thông qua người vợ của mình. Đừng cho chồng Hạnh biết gì về tôi cả.

Cô lau nước mắt.

- Cám ơn anh, em chỉ cần chừng này là đủ.

- Dù sao cũng phải nhớ gọi tôi nếu có gì khẩn cấp mà không xoay sở được. Bây giờ Hạnh thử nói thật cho tôi nghe, giả như chuyện đó xảy ra, chồng Hạnh biết, Hạnh nghĩ sao?

Cô thở dài.

- Em đã cùng đường rồi, thân em có sá gì, phải cứu chồng em trước đã, sau đó ảnh có biết chuyện xấu xa của em, có bỏ em, em cũng cam lòng. Nhục nhã quá thì em tự tử.

- Thế thì Hạnh mất hạnh phúc rồi còn gì? Mục đích của Hạnh là cứu chồng để được sống bên chồng. Cứu được chồng rồi bị chồng bỏ! Cũng như không!

- Em không hiểu được thế nào là hạnh phúc, nhưng em đã đi khắp đình chùa, miếu võ, em khóc lóc, cầu lạy, năn nỉ các ngài làm sao cứu được chồng em khỏi bịnh, rồi sau đó có bắt hồn em đi, cho em chết thay chồng, em cũng vui lòng. Em thương chồng em lắm.

Cô nói xong, quên cả khóc, nhìn hắn cười. Giọng như tâm sự với bạn thân.

6

Rằm này em sẽ vô chùa, xin cạo đầu và ăn chay ba tháng để cám ơn Trời Phật phò hộ gia đình em được tai qua nạn khỏi và để cầu Phật độ trì cho người có lòng tốt như anh luôn được sức khỏe, may mắn.

Hắn buồn cười.

- Hạnh cầu Trời Phật từ bao giờ mà nói nghe như văn chương của mấy bà già trầu?

Cô đã trở lại vẻ tự nhiên.

- Từ lúc gặp anh, nghe anh nói, em vừa hi vọng vừa lo sợ. Em sợ đến nỗi không ngủ được, em cứ ôm chồng mà ứa nước mắt. Em không hiểu chuyện gì sẽ xảy ra cho em? Rồi em cứ van vái, Chúa, Phật, thần thánh, ma quỉ, cô hồn các đảng, những người khuất mặt, xin cứu chồng em, xin cứu em. Bây giờ em cũng đang khóc đây! Đừng cười em nghe!

Cô ngước nhìn hắn. Quả thật, cô cười mà nước mắt chảy dài trên má.

- Hai đứa đứng nói chuyện lâu quá, mà Hạnh thì vừa khóc vừa cười, người ta có thể hiểu lầm. Bây giờ Hạnh đi xích lô về.

Hắn gọi một chiếc xích lô, cô Hạnh lên ngồi. Hắn để mấy xách thức ăn, thùng sữa hộp dưới chân cô. Xe lăn bánh, cô xoay người lại phía sau, vẫy tay chào hắn. Bỗng cô ra dấu cho xe ngùng. Hắn tiến lại, cô thì thầm vào tai hắn.

- Năm trăm đô, thì anh mua gái tơ, sá gì nạ dòng như em. Bây giờ em mới nhớ lại, trước kia anh có yêu em. Anh thật... làm em thất kinh hồn vía!

Hắn cũng thì thầm.

- Đâu phải chỉ trước kia, bây giờ tôi vẫn yêu Hạnh. Hiếm người có được một trái tim như Hạnh.

Cô đưa tay lùa mái tóc ra phía sau. Hắn nhớ rõ, trước kia cô vẫn thường làm như thế. Cô lại nhìn hắn và cười khi chiếc xích lô lăn bánh.

Phạm Thành Châu

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image


Tưởng Niệm Bác sĩ Richard Teo (1972-2012)
Dưới đây là bản ghi lại cuộc nói chuyện của Bác sĩ Richard Teo, một triệu phú 40 tuổi và bác sĩ giải phẩu thẩm mỹ, bị ung thư phổi thời kỳ 4 đến chia sẻ với khóa nha D1 về kinh nghiệm sống của mình vào ngày 19/1/2012. Anh vừa qua đời cách đây vài ngày vào 18/10/2012.

Chào tất cả các em . Giọng tôi hơi bị khàn một chút, mong các em chịu khó nghẹ. Tôi xin tự giới thiêu, tôi tên là Richard và là một bác sĩ. Tôi sẽ chia sẻ vài suy nghĩ về cuộc sống của mình và rất hài lòng khi được các giáo sư mời đến đây. Hy vọng sẽ giúp các em cách suy nghĩ khi bắt đầu theo ngành để trở thành nha sĩ giải phẫu cũng như suy nghĩ về những việc chung quanh.

Từ lúc trẻ, tôi là một sản phẩm đặc trưng của xã hội ngày nay, một sản phẩm khá thành công mà xã hội đòi hỏi. Hồi nhỏ tôi lớn lên trong một gia đình có mức sống dưới mức trung bình . Tôi được bảo ban bởi người chung quanh và môi trường rằng thành công thì hạnh phúc . Thành công có nghĩa là giàu có . Với suy nghĩ này, tôi trở nên cực kỳ ganh đua ngay từ nhỏ .

Không những chỉ cần đi học ở trường giỏi, tôi cần phải thành công trong mọi lãnh vực- từ các hoạt động tập thể đến chạy đua, mọi điều . Tôi cần phải đoạt được cúp, phải thành công, phải được giải, giải quốc gia, mọi thứ. Tôi rất ganh đua . Tôi vào trường y và trở thành bác sĩ. Chắc một số em biết rằng trong ngành y, giải phẫu mắt là một trong những chuyên khoa khó vào nhất. Tôi cũng vào được và được học bổng nghiên cứu của NUS phát triển tia laser để chữa bịnh mắt .

Trong khi nghiên cứu tôi có hai bằng phát minh- một về dụng cụ y khoa và một về tia lasers. Nhưng các em có biết không, tất cả các thành tựu này không mang lại cho tôi sự giàu có . Sau khi hoàn tất MOH, tôi quyết định rằng theo đuổi ngành phẫu thuật mắt mất quá nhiều thời gian trong khi ra ngoài làm tư kiếm được nhiều tiền hơn . Nếu các em để ý, vài năm qua, ngành thẩm mỹ đang lên, kiếm được khối tiền . Vi` vậy tôi quyết định bỏ ngành giải phẫu mắt giữa chừng và nhảy qua mở trung tâm giải phẫu thẩm mỹ trong tỉnh .

Các em có biết, rất mâu thuẫn, một người có thể không vui vẻ khi trả $20 cho một bác sĩ tổng quát, nhưng cũng chính người đó không ngần ngại trả $10000 để hút mỡ bụng, $15000 cho sửa ngực, vv… và vv . Không cần phải suy nghĩ nhiều, phải không ? Tại sao lại muốn thành bác sĩ tổng quát mà không là bác sĩ thẩm mỹ ? Do vậy, thay vì chữa bịnh, tôi quyết định trở thành người sửa sắc đẹp Công việc làm ăn rất khấm khá . Bịnh nhân mới đầu chờ đợi một tuần, rồi 3 tuần, sau lên một tháng, 2 tháng, đến 3 tháng . Quá nhiều bịnh nhân . Tôi choáng váng . Tôi mướn một bác sĩ, hai bác sĩ, ba bác sĩ , rồi bốn bác sĩ . Chỉ trong vòng năm thứ nhất, chúng tôi đã lên hàng triệu phú . Nhưng chẳng thế nào là đủ vì tôi trở nên mê muội . Tôi bắt đầu khuếch trương tới Nam Dương, thu hút các “tai-tais” những người muốn có cuộc giải phẫu trong chớp mắt . Cuộc sống thật lên hương.

Tôi làm gì với mớ tiền dư thưà ? Cuối tuần tôi tiêu khiển ra sao ? Thông thường tôi đến tụ tập tại câu lạc bộ đua xẹ hơi . Tôi sắm riêng cho tôi một chiếc xe đua . Chúng tôi đến Sepang ở Mã Lai và đua xe. Cuộc sống của tôi là thế đó . Với mớ tiền măt, tôi sắm chiếc Ferrari. Lúc đó chiếc 458 chưa ra, chỉ có chiếc 430. Một người bạn học cũ của tôi làm ngân hàng . Anh ta mua chiếc màu đỏ mà anh mong muốn từ lâu . Tôi sắm chiếc màu bạc .

Tôi làm gì sau khi có chiếc xe ? Đến lúc mua nhà, xây cửa . Chúng tôi bắt đầu tìm kiếm đất để xây nhà nghỉ mát. Tôi đã sống cuộc đời như thế nào? Chúng tôi nghĩ rằng phải cần hòa nhập với những người giàu có, nổi tiếng. Chúng tôi bắt đầu giao tiếp với mỹ nhân, người giàu sang và danh tiếng, như hoa hậu thế giới hay người sáng lập mạng internet, ăn uống ở mọi nhà hàng kể cả nhà hàng nổi tiếng của đầu bếp Michelin.

Tôi đã có được mọi thứ trong cuộc sống, đến tột đỉnh của sự nghiệp và tất cả . Đó là tôi của một năm trước đây. Lúc ở trong câu lạc bộ thể thao, tôi nghĩ tôi đã chế ngự được mọi chuyện và đạt đến đỉnh vinh quang.

Nhưng tôi lầm. Tôi không chế ngự được mọi chuyện . Khoảng tháng 3 năm ngoái, đột nhiên tôi bắt đầu bị đau lưng . Tôi nghĩ chắc tại tôi thường vận động manh. Tôi đi đến SGH và nhờ bạn học làm MRI để xem chắc là không bị trật đốt sống hay thứ nào khác . Tối hôm đó, anh ta gọi tôi và cho biết tủy sống thay đổi trong cột sống của tôi . Tôi hỏi như thế nghĩa là sao ? Tôi biết nó có nghĩa như thế nào nhưng không thể chấp nhận sự thật . Tôi gần như muốn nói “anh nói thiệt sao ? ”, tôi đang sắp sửa chạy đi tập thể dục. Ngày hôm sau chúng tôi có nhiều khám nghiệm hơn- PET scans- và họ tìm thấy tôi đang ở thời kỳ thứ tư của ung thư phổi . Tôi nghĩ “từ đâu mà ra thế này ?” . Ung thư đã lan tới não, cột sống và nội tuyến . Các em biết, có lúc tôi hoàn toàn nghĩ mình đã chế ngự được tất cả , đã đạt đến tột đỉnh của cuộc sống, nhưng kế đó, tôi mất tất cả.

Đây là bản CT scan của phổi . Nhìn vào, mỗi chấm đều là nang ung thư. Và thật sự, tôi có cả chục ngàn nang trong phổi . Tôi được cho biết , ngay cả với hóa trị, tôi cũng chỉ còn được 3,4 tháng tối đa . Cuộc sống tôi bị nghiền nát , dĩ nhiên rồi, làm sao tránh khỏi ? Tôi chán nản, tuyệt vọng, tưởng rằng mình đã có mọi thứ trước đây .

Điều mâu thuẫn là mọi thứ tôi có được- sự thành công, cúp thưởng, xe cộ, nhà cửa, tất cả những thứ mà tôi nghĩ đã mang hạnh phúc đến cho tôi; khi tôi xuống tinh thần, tuyệt vọng, không mang đến cho tôi niềm vui. Tôi chẳng thể ôm chiếc Ferrari mà ngủ . Chuyện đó không thể xảy ra . Chúng không mang lại một sự an ủi nào trong mười tháng cuối cùng của cuộc đời tôi. Vậy mà tôi đã tưởng những thứ này là hạnh phúc; không phải vậy . Điều thật sự mang lại cho tôi niềm vui trong mười tháng cuối cùng là tiếp xúc với người thân, bạn bè, những người chân thành chăm sóc tôi, cười và khóc cùng tôi . Họ có thể nhìn thấy sự đau đớn, chịu đựng mà tôi phải trải qua . Đây thật sự mang lại hạnh phúc cho tôi . Những thứ tôi sở hữu, đáng lý ra mang lại hạnh phúc, nhưng không. Nếu có, tôi đã cảm thấy vui khi nghĩ đến .

Các em có biết, Tết sắp đến . Trước đây, tôi thường làm gì ? À, thì tôi thường lái chiếc xe hào nhoáng của mình một vòng, thăm viếng họ hàng, phô trương với bạn bè . Tôi tưởng đó là niềm vui , thật sự vui . Nhưng các em có nghĩ họ hàng, bạn bè tôi đang chật vật kiếm sống có thể chia sẻ niềm vui cùng tôi khi thấy tôi khoe khoang chiếc xe bóng loáng? Chắc chắn là không. Họ sống khó khăn, đi xe công cộng Thật sự những gì tôi làm chỉ khiến họ thêm ganh ghét, thậm chí có khi thành thù hận .

Những thứ này chúng ta gọi là đối tượng của sự ganh tị . Tôi khoe khoang để lấp đầy sự kiêu hãnh và cái tôi của mình . Chúng chẳng mang lại niềm vui cho bạn bè, người thân như tôi tưởng .

Để tôi chia sẻ với các em một câu chuyện khác . Khi tôi bằng tuổi các em, tôi ở khu King Edward VII . Tôi có một người bạn khá lạ lùng đối với tôi . Cô ta tên là Jennifer. Chúng tôi vẫn là bạn thân của nhau . Khi chúng tôi thả bộ, nếu cô ta thấy một con ốc sên trên đường, cô ta sẽ nhặt nó lên và đặt lại trong thảm cỏ . Tôi thắc mắc tại sao phải làm như thế ? tại sao phải để bẩn tay ? chỉ là một con ốc sên . Sự thật là cô ta đã cảm được cho con ốc có thể bị đạp nát chết . Đối với tôi, nếu không tránh đường thì đáng bị đạp nát, chỉ là luật tiến hóa thội. Đối ngược nhau quá, phải không ? .

Tôi được huấn luyện thành bác sĩ để có từ tâm, đồng cảm . Nhưng tôi không có . Sau khi tốt nghiệp y khoa, tôi làm việc ở khoa ung thư tại NYH . Hàng ngày, tôi chứng kiến cái chết trong khoa ung thư . Tôi nhìn thấy tất cả đau đớn mà bịnh nhân phải chịu đựng . Tôi thấy tất cả các thuốc giảm đau họ cứ vài phút phải bấm vào người . Tôi thấy họ vật lộn với hơi thở cuối, thấy tất cả . Nhưng đây chỉ là một công việc . Tôi đến bịnh xá mỗi ngày lấy máu, cho thuốc nhưng bịnh nhân có “thật” đối với tôi không ? Không . Tôi chỉ làm công việc và nóng lòng về nhà để làm việc riêng của mình .

Sự đau đớn, chịu đưng của bịnh nhân “thật” không ? Không . Dĩ nhiên là tôi biết tất cả các từ ngữ chuyên môn để mô tả về sự đớn đau mà họ phải trải qua, nhưng thật sự tôi không hề “cảm” được cho đến khi tôi trở thành bịnh nhân . Mãi đến bây giờ, tôi mới thật sự hiểu được cảm giác của họ. Nếu các em hỏi tôi, nếu được làm lại cuộc đời, tôi có muốn thành một người bác sĩ khác không. Tôi sẽ trả lời các em là Có. Vì bây giờ tôi thật sự hiểu đươc họ . Tôi phải trả giá đắt cho bài học này.

Ngay khi các em vào năm thứ nhất, bắt đầu hành trình để trở thành nha sĩ giải phẫu, cho phép tôi thử thách các em hai điều .

Hiển nhiên, tất cả các em ở đây sẽ bắt đầu đi làm tư . Các em sẽ thành giàu có. Tôi bảo đảm với các em rằng, chỉ trồng răng, các em kiếm được bạc ngàn, mớ tiền không tưởng đươc. Và thật ra, không có gì sai trái với thành công, giàu có, tuyệt đối không gì sai trái . Điều phiền toái duy nhất là nhiều người chúng ta, như bản thân tôi, không thể kiềm chế được .

Tại sao tôi nói như vậy ? Bởi vì càng tích tụ, càng có nhiều, tôi lại muốn nhiều hơn . Càng ham muốn, tôi càng trở nên mê muội. Như tôi đã đề cập trước đây, tôi muốn sở hữu nhiều hơn, đạt tới đỉnh vinh quang như xã hội muốn đào tạo chúng ta . Tôi trở nên mê muội đến nỗi mà chẳng còn việc gì thành vấn đề đối với tôi nữa . Bịnh nhân chỉ là một nguồn lợi tức và tôi vắt cạn từng xu từ họ .

Nhiều khi chúng ta quên đi mình cần phục vụ ai . Chúng ta lầm lạc đến nỗi chẳng phục vụ ai cả ngoài chính mình. Điều đó đã xảy ra với tôi. Dù là ở y hay nha khoa, tôi có thể nói với các em ngay bây giờ rằng, trong khi khám bịnh, đôi khi chúng ta khuyên bịnh nhân chữa trị bịnh không hẳn có, vùng xám không rõ rệt. Và ngay cả khi không cần thiết, chúng ta cũng nói thêm. Ngay tại thời điểm này, tôi biết ai là bạn tôi, chân thành lo lắng cho tôi và ai chỉ muốn làm tiền tôi bằng cách bán buôn “hy vọng” cho tôi. Chúng ta đánh mất lương tâm vì chúng ta chỉ muốn kiếm tiền .

Tệ hại hơn, tôi có thể kể cho các em nghe, vài năm vừa qua, chúng tôi đã nói xấu đồng nghiệp, “đối thủ” của chúng tôi và không hề thấy khó chịu. Nếu hạ thấp được họ xuống để nâng mình lên, chúng tôi làm. Điều đó đang xảy ra trong ngành y, nha và ở mọi nơi. Tôi thử thách các em không để đánh mất lương tâm mình . Tôi trả giá đắt cho bài học . Và tôi hy vọng các em sẽ không bao giờ phải như vậy .

Điều thứ nhì, nhiều người trong chúng ta muốn số lượng bịnh nhân, dù ở bịnh viên công hay tư. Tôi có thể kể cho các em nghe, khi tôi làm trong bịnh viện, với chồng hồ sơ bịnh lý, tôi chỉ muốn làm cho xong càng nhanh, càng tốt . Tôi chỉ muốn họ ra khỏi phòng khám bịnh của tôi càng nhanh, càng tốt vì có quá nhiều bịnh nhân. Thực tế là vậy . Đây chỉ là một công việc, một công việc thường nhật. Lúc đó, tôi có thật sự biết về cảm xúc của bịnh nhân của tôi như thế nào không? Không. Sự sợ hãi, nỗi lo âu của họ, tôi có thật sự hiểu điều gì họ đang trải qua không ? Không, mãi cho đến khi sự cố xảy ra với tôi . Tôi nghĩ rằng đây là một lỗi lầm lớn nhất trong xã hội của chúng ta .

Chúng ta được huấn luyện để trở thành lương y, nhưng chúng ta không cảm được cho bịnh nhân . Tôi không đòi hỏi các em phải xúc động, vì như vậy cũng không chuyên nghiệp, mà chỉ hỏi chúng ta có thật sự cố gắng tìm hiểu nỗi đau đớn của họ không ? Phần lớn là không, tôi có thể chắc chắn như vây. Do đó, tôi thử thách các em luôn đặt mình vào cương vị của bịnh nhân .

Bởi vì sự đau đớn, nỗi lo lắng, sợ hãi rất thực với họ mặc dù không thực đối với các em. Ngay hiện giờ, tôi đang chữa hóa trị lần thứ 5 . Tôi có thể cho các em biết nó rất kinh khủng . Hóa trị là thứ mà các em không muốn ngay cả kẻ thù của mình phải trải qua vì bị hành, đau đớn, ói mửa . Cảm giác khủng khiếp! Và bây giờ, với chút năng lực còn lại, tôi tìm đến các bịnh nhân ung thư khác vì tôi thật sự hiểu được họ đau đớn, chịu đựng như thế nào. Hơi muộn màng và ít ỏi !

Các em có cả tương lai sáng lạn phía trước với tất cả tài năng và nhiệt huyết. Tôi thử thách các em, ngoài bịnh nhân của mình, hiểu thêm rằng có nhiều người ngoài kia đang thật sự đau đớn, thật sự khó khăn, đừng nghĩ rằng chỉ có người nghèo mới phải khổ . Điều này không đúng . Những người nghèo khó vốn sẵn không có gì, họ dễ dàng chấp nhận . Do đó, họ hạnh phúc hơn các em và tôi . Nhưng có nhiều người đang đau khổ về tâm thần, thể xác, tình cảm, vật chất vv.vv.. Họ có thật . Chúng ta lựa chọn làm lơ hoặc chúng ta không muốn biết đến sự hiện hữu của họ .

Do đó đừng quên, khi các em được thành danh, với tay đến những người cần sự giúp đỡ. Bất cứ việc gì các em làm điều có thể mang đến sự khác biệt lớn cho họ . Bây giờ tôi ở vị trí của người tiếp nhận, tôi hiểu rõ, thấy khác khi có người thật sự chăm lo, khuyến khích mình. Nhờ vậy mà tôi vẫn có thể nói chuyện với các em hôm nay.

Tôi sẽ ngưng với lời sau, trong cuốn sách có tựa đề là “Những ngày thứ ba với Morris” . Có lẽ một số các em đã đọc cuốn này . Mọi người đều biết rằng sẽ có ngày phải chết, chúng ta ai cũng biết như vây. Nhưng sự thật, không ai tin, vì nếu tin chúng ta đã sống một cách khác. Khi tôi phải đối diện với cái chết, tôi lột bỏ mọi thứ, chỉ tập trung vào thứ thiết yếu. Thật trái ngược rằng, chỉ khi sắp chết thì mình mới biết nên sống như thế nào. Tôi biết điều này nghe bịnh hoạn nhưng đó là sự thật và tôi đang trải qua .

Đừng để xã hội bảo ban các em cách sống. Đừng để môi trường bắt các em phải làm gì . Điều này đã xảy ra cho tôi . Tôi tưởng như vậy là hạnh phúc . Tôi hy vọng các em suy nghĩ lại và sẽ tự quyết định cuộc sống của chính các em. Không phải do người khác bảo ban mà là các em quyết định, sống cho mình hay mang đến sự khác biệt cho đời sống của người khác . Hạnh phúc thật sự không có được khi chỉ sống cho mình . Sự thật không như tôi đã tưởng .

Quan trọng nhất, tôi nghĩ niềm vui sướng thật sự là khi biết Thượng Đế. Không phải là chỉ biết về Thượng Đế khi như khi các em đọc Kinh Thánh- mà là bản thân biết đến Thượng Đế, tiếp cận với Ngài. Đây là điều quan trọng nhất mà tôi học hỏi được.

Tôi xin tóm lược, trong cuộc sống, chúng ta biết sắp xếp thứ tự trước sau càng sớm, càng tốt . Đừng giống như tôi . Tôi không còn cách khác và đã phải trả giá đắt cho bài học . Tôi phải quay lại tạ ơn Thượng Đế vì Ngài đã cho tôi cơ hội sống- tôi gặp 3 tai nạn lớn trong quá khứ- tai nạn xe hơi đua . Tôi đua nhanh và xe muốn lật ngửa nhưng không hiểu sao vẫn sống sót. Mặc dù tôi được rửa tội, đây chỉ là hình thức, nhưng sự kiện xảy ra đã cho tôi cơ hội trở về với Chúa .

Vài điều tôi học được:

1) Tin tưởng vào Thượng Đế với cả tấm lòng . Điều này rất quan trọng.
2) Thương yêu và sống vì người khác, không chỉ cho bản thân mình .

Không có gì sai trái khi được giàu có cả . Tôi nghĩ hoàn toàn tốt vì được Thượng Đế ban ơn .

Nhiều người được hồng ân với sự giàu có nhưng vấn đề là chúng ta không biết kiềm chế . Có nhiều lại càng muốn có thêm . Tôi đã đi qua, lỗ đào càng sâu, chúng ta càng bị lún, đến nỗi chỉ biết phụng thờ của cải và quên cả việc chính . Thay vì phụng thờ Thượng Đế, chúng ta thờ phượng sự giàu có. Đây là bản năng con người và rất khó thoát khỏi .

Chúng ta thành danh, đi làm, hiển nhiên, bắt đầu gây dựng sự giàu có. Tôi nghĩ, khi giàu sang và có cơ hội đến, các em nên nhớ, tất cả những thứ này không thuộc về chúng ta . Chúng ta không thật sự sở hữu và có quyền hành . Những thứ này là quà tặng của Thượng Đế Remember that it’s more important to further His Kingdom rather than to further ourselves.

Tôi đã trải qua và tôi biết rằng sự giàu có thiếu đức tin sẽ thành trống rỗng . It is more important that you fill up the wealth, as you build it up subsequently, as professionals and all, you need to fill it up with the wealth of God.}

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Image


Con Lu nhà tôi
Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Trong ba chú chó mới sinh, bà dì ở Ðà Lạt cho tôi một con và được chọn ưu tiên. Cả ba đều là chó đực nên chỉ cần lựa con nào có bộ lông đẹp nhất là đủ. Khi tôi ngồi sà vào ổ của ba chú chó chưa mở mắt, chợt con có màu lông xám, hai đốm vàng trên lưng ngúc ngoắc đầu đánh hơi bò về phía tôi. Nó đưa cái mõm mũm mĩm, ươn ướt ủi vào bàn chân của tôi. Cái đuôi cũn cỡn ngoe nguẩy như loài chuột xạ...

Hai tuần lễ sau tôi ghé thăm dì. Bầy chó đã mở mắt đang ngậm vú mẹ. Khi nghe tiếng tôi trốc trốc, chú chó lông xám ấy bỏ vú mẹ bò vào lòng tôi. Dù màu lông không nổi bật như hai con kia nhưng tôi thích cái tính thân thiện của nó ngay từ giờ phút đầu.

Mang chó về nhà, con tôi chê màu lông nhớp nhem rồi tự động đặt tên là Lu. Dù mới một tháng tuổi, nhưng khi rời chó mẹ về nhà tôi, Lu ít khi kêu đêm như những chú chó con khác. Ban đầu cho Lu bú bằng bình sữa, rồi cho ăn sữa đặc đổ vào đĩa. Chỉ ba tháng sau là Lu lớn như thổi.

Lai lịch của dòng họ nhà Lu cũng ly kỳ lắm. Jolie là tên mẹ của Lu, giống chó xù Nhật Bản, nhỏ con, chân thấp, dáng đi lũn cũn. Nó hay qua nhà láng giềng đùa giỡn với anh chàng berger to con, tai vểnh, đôi chân sau vạm vỡ. Một hôm, lũ trẻ đến trước nhà Dì tôi kêu giật giọng rằng là con Jolie bị con chó berger của ông Tư Ðợi tha đi khắp khu vườn. Dượng tôi hốt hoảng chạy sang. Những tưởng con berger đã cắn chết con xù của nhà dượng.. Nào ngờ cảnh tượng lạ lùng rất khó tin đã xảy ra: Con berger lẹo với Jolie nhỏ hơn nó gấp mấy lần. Vì là phần kết thúc sau "cuộc mây mưa" của loài chó, cho nên hắn tha con cái còn mắc cứng phía sau đuôi. Hai chân sau của con Jolie bị treo hỏng trên cao chỉ còn cái mõm và đôi chân trước bị kéo lê trên đất. Nàng kêu toáng lên khiến chàng đâm hoảng na chạy khắp vườn như na cái đuôi của mình trở nên nặng chình chịch. Kết quả cuộc tình giữa hai "chủng tộc", nàng Jolie đẻ ra ba chú chó lai. Nhờ vậy mà đời con của nàng không còn mang dáng dấp thấp lè tè của loài chó xù nữa.

Con Lu lớn lên bộ lông ngày càng đẹp. Màu xám của mẹ pha màu vàng của bố mướt mượt như nhung. Hai đốm vá màu vàng đậm nằm hai bên hông, thoạt trông như yên ngựa. Dù không to con lớn xác như bố nhưng con Lu cũng vượt trội hơn đám chó nhà. Chân cao, dáng đi oai vệ như loài hổ. Hai vai rộng, u thịt nổi vồng lên khi nó bước đi. Cặp mắt ánh lên màu lửa như có thần lực. Ðàn chó hàng xóm gặp Lu là cụp đuôi chạy dài. Sau này, những lần đi săn giải trí loanh quanh ở những khu đồi còn an ninh, tôi mới nhận biết loài chồn, loài thỏ thấy Lu là hồn xiêu phách lạc, đứng chôn chân tại chỗ. Mỗi lần con tôi đi học về là dành nhau ôm Lu vào lòng. Tình cảm giữa chó và người không hề phân biệt. Ngoài cái khứu giác bẩm sinh độc đáo của loài chó có thể đánh hơi hàng mấy dặm, thính giác con Lu còn phân biệt được tiếng xe quen thuộc của tôi từ xa. Nó nghểnh mõm, ve vẩy đuôi chạy ra trước sân. Nhìn cử chỉ đó là nhà tôi đoán biết tôi sắp về đến nhà. Lu cạ vào chân tôi từ lúc xuống xe đến khi tôi vỗ về âu yếm nó mới chịu đi nơi khác. Lu cũng cảm nhận khá nhạy bén lúc tôi buồn bực hay giận hờn. Những lúc ấy nó nằm khoanh tròn nhìn tôi với ánh mắt buồn xo. Ðến khi tôi vui vẻ trở lại là Lu chạy đến cạ lưng vào người và liếm tay tôi như để hòa đồng niềm hân hoan với chủ.

*

Sau ngày "gẫy gánh 75", tôi lên đường trình diện ban Quân quản thị xã. Tôi mang theo mười ngày gạo cùng ít đồ dùng, từ biệt vợ con với bao âu lo trong lòng. Khi bước ra khỏi cửa, con Lu cứ luấn quấn cản bước chân, tôi trực nhớ đến nó liền cúi xuống ôm Lu vào lòng. Ánh mắt ươn ướt buồn thiu của nó nhìn tôi chẳng khác gì đôi mắt của vợ tôi rươm rướm lệ. Lu liếm vào mặt tôi như quyến luyến từ biệt chủ phải đi xa lâu ngày. Trong tù, nhớ lại ánh mắt con Lu, tôi hiểu ra rằng loài chó còn có một giác quan đặc biệt, cảm tính rất nhạy bén về thái độ và tâm trạng của người gần gũi nó. Những tưởng mười ngày nửa tháng rồi quay về, nào ngờ cách biệt gia đình với thời gian dài hun hút. Tôi nhớ con Lu cũng tương tự như nhớ các con tôi. Nỗi lo ngại của tôi là lương thực ngày một khó khăn làm sao vợ tôi chạy đủ bữa cho đàn con bốn đứa lại thêm miệng ăn con chó.

Một ngày nọ, nhà tôi lên trại tù thăm, cho biết chú Dương Thái Lân, con của bà cô Út tôi từ Bắc về Nam có ghé thăm gia đình. Chú ấy bảo con Lu có cốt tướng nòi săn, muốn xin nó về đơn vị nuôi để săn mồi cải thiện thịt tươi. Lân là vai em nhưng lớn tuổi hơn tôi nhiều. Ði bộ đội từ trước 1954, sau tập kết ra Bắc được sang Tiệp Khắc học ngành cầu đường. Hiện là thủ trưởng đơn vị Công binh sửa đường ở Cao nguyên. Vợ tôi nhất quyết không cho con chó, lấy lý do phải qua ý kiến của chồng.

Một hôm, quản giáo trại gọi tôi lên văn phòng ban giám đốc. Một anh bộ đội mặc áo quần đại cán ngồi trong phòng tiếp khách tay cầm một tờ tạp chí cuốn tròn. Anh cán bộ thấy tôi vào, liền hỏi:

- Nguyễn Tấn đấy à?

Tôi ngập ngừng:

-Thưa vâng.

-Tôi là Dương Thái Lân.

Tôi à lên một tiếng để tỏ rằng mình biết hắn là ai. Thực ra, qua 21 năm ở Bắc và mấy năm đi bộ đội Vệ Quốc Ðoàn làm sao tôi nhớ nỗi cái khuôn mặt ngày xưa của thằng em con bà cô Út. Ðưa tờ báo cuốn tròn cho tôi, hắn bảo:

- Ngày trước anh cũng viết sách, làm báo dữ dằn đấy nhỉ?

Tôi mở cuộn báo thì ra là tờ Bán nguyệt san Quyết Tiến. Ðó là tạp chí do tôi trách nhiệm biên tập trước 75 do cơ quan USAID của Hoa Kỳ yểm trợ ngân khoảng để in ấn phân phát cho các đơn vị Ðịa phương quân và Nghĩa quân.

Lân bảo:

- Tôi có đọc trong đó truyện dài "Nhật Ký Bích Phương" của anh viết đăng nhiều kỳ về Tết Mậu Thân 68. Viết bạo đấy chứ, theo đúng sách lược tuyên truyền chống cách mạng của Mỹ Ngụy.

Tôi giật mình và cảm thấy bất an.. Hắn đưa tay ra hiệu lấy lại cuốn tạp chí rồi lên tiếng:

- Tôi có ghé nhà thăm chị Tấn. Giai đoạn này mà trong nhà còn nuôi con chó kiểu tiểu tư sản. Anh không sợ cặp mắt của quần chúng hay sao?

Tôi than thở:

- Thời gạo châu củi quế, nhà tôi phải chạy gạo cho bốn miệng ăn, nhưng vì nuôi nó từ lúc mới sinh nên tình cảm gắn bó như thành viên trong gia đình.

Hắn ngắt lời:

- Tôi có đề nghị với chị cho tôi mang con chó đó về đơn vị để đỡ bớt khẩu phần ăn cho gia đình nhưng chị bảo phải qua ý kiến anh. Mới nhìn là tôi biết nó thuộc giống chó săn quý hiếm và có thể chống lại cả thú dữ.

Tôi bực mình trước cái lối điếm lỏi, nhưng cố nén giọng:

- Nếu chú thích con chó thì về hỏi nhà tôi, quyền quyết định ở bà ấy.

Tôi đứng lên chào hắn rồi đi thẳng xuống trại.

*

Ðến kỳ thăm nuôi sau, bà xã tôi báo tin chú Lân đến nhà bắt con Lu đi rồi. Bỗng dưng mắt tôi như nhòa sương, lòng xót thương con Lu vô hạn. Từ ngày vào tù, tôi nghi ngờ tất cả những gì người ta nói. Giờ đây Lân bảo đem Lu về nuôi hay ăn thịt chỉ có trời biết. Thấy mắt tôi rưng rưng ngấn lệ, vợ tôi an ủi:

- Lũ con mình cơm không đủ ăn mà phải nhường cho chó một ít, lòng em cũng xót xa lắm. Nó thiếu ăn nên cả đêm chạy rông kiếm mồi đến sáng mới về nhà. Lông nó ướt nhớp nháp, đầy bùn. Biết đâu có cơm bộ đội dư thừa thân nó sẽ mập ra. Mình có giữ lại một thời gian sau cũng bị người ta đập chết làm thịt thôi. Xã hội bây giờ thiên hạ ghiền thịt chó lắm, anh có biết không?

Hết giờ thăm nuôi, tôi đứng vào hàng. Nhìn đôi mắt nhòa lệ của vợ khiến lòng tôi xót xa vô cùng. Cả đêm hôm đó hình bóng con Lu cứ chập chờn trong giấc ngủ. Tôi mơ thấy đôi mắt buồn rười rượi của Lu nhìn tôi trong ngày ra đi như báo hiệu rằng nó không còn dịp gặp chủ nữa. Cái cảm giác man mác êm êm của lưỡi nó liếm vào mặt, vào cổ, giờ đây tôi vẫn không quên. Niềm tin gắng gượng nhỏ nhoi vào lời hứa của thằng em con bà cô là xin con Lu để canh chừng thú dữ và săn mồi. Vả lại, cái công khó của Lân đã lặn lội đường xa đến trại cải tạo để gặp tôi nên cũng an ủi phần nào.

Ba tháng sau, vợ tôi với khuôn mặt hớn hở báo với tôi con Lu không còn ở với chú Thái Lân nữa. Tôi ngạc nhiên hỏi dồn. Nàng kể:

- Cách đây một tuần lễ, chú ấy bất thần đột nhập vô nhà mình không giữ kẽ như những lần trước. Chú dáo dác nhìn trước nhà, nhìn sau nhà, cả cái phòng ngủ của vợ chồng mình chú cũng ghé mắt quan sát. Ðột nhiên Lân hỏi:

- Con Lu có chạy về đây không chị?

Em sững sờ hỏi:

- Nó ở với chú mà?

- Tức lắm chị ơi, Lân ngồi vào cái ghế đặt ngoài hiên, nói tiếp: "Trước khi đi công tác Hà Nội, tôi gởi Lu cho chị nuôi lo ăn hàng ngày. Không ngờ các đồng chí trong đơn vị lợi dụng lúc tôi vắng nhà, bắt con Lu làm thịt đánh chén. Chúng bỏ con chó vào bao bố dìm xuống nước. Khi mở bao ra con chó không còn thở nữa. Họ yên chí ngồi chờ nồi nước đang nấu cho thật sôi để cạo lông. Ca nước sôi đầu tiên tưới vào lưng con Lu, bất ngờ nó vùng dậy chạy đi mất dạng. Lập tức các đồng chí ấy cầm súng lùng sục các ven rừng nhưng chẳng thấy nó đâu nữa. Tôi yên chí con Lu sẽ trở lại nhà chị vì nó vừa khôn vừa có sức mạnh khác thường. Tôi đánh giá thành tích săn bắt mồi của con Lu rất cao. Nó thường xuyên bắt được chuột đồng, thỉnh thoảng chồn hoặc thỏ. Mình có chất tươi thêm vào bữa ăn nên tôi quý nó lắm. Kể xong, Lân đi ra xe xách vào một bao cát đựng đầy gạo, bảo:

- Ðây là số gạo tiêu chuẩn tôi đi công tác còn thừa, chị nhận cho các cháu bồi dưỡng và thêm phần cho con Lu. Nếu nó có trở về đây xin chị báo tin cho tôi biết.

Lân ra đi được một ngày.

Hôm sau, lúc chạng vạng tối, cả nhà đang ăn cơm, con Lu không biết từ đâu chạy xồng xộc vào nhà, mình nó ướt đẫm mồ hôi. Trên lưng một vết phỏng to bằng bàn tay lột hết lớp lông và đã bắt đầu làm mủ. Lũ con mình ôm con Lu vào lòng mừng rơi nước mắt. Cả nhà phải nhịn một phần cơm cho nó. Loáng cái là nó vét sạch đĩa cơm độn sắn. Lu ve vẩy đuôi, đưa lưỡi liếm từng người trong gia đình như để điểm lại những người thân. Mấy đứa con mang Lu ra giếng chà xát xà phòng, tắm rửa, bắt sạch ve vắt bám vào da. Em khui bình thuốc Peniciline rắc lên vết phỏng. Chờ đến tối, em mang Lu về gởi cho ông bà ngoại vì biết thế nào chú Lân cũng trở lại tìm chó. Ðêm đó, Lu cứ theo chân em đòi về, thằng Doãn phải ngủ nhà ngoại để giữ con Lu ở lại. Em vuốt ve vỗ về:

- Con phải ở lại đây với ngoại. Lu không được theo mẹ về nhà, người ta sẽ đến bắt con đi, biết hông?". Lu vểnh tai nghe lời em dặn nên ngoan ngoãn nằm trong lòng của Doãn mà không còn hậm hực đòi về nữa."

Từ đó, hễ thấy người nào mặc áo quần xanh lá cây vào nhà là Lu chui dưới gầm giường chìa đầu ra, nhe răng gầm gừ. Chỉ cần một cú giậm chân là đủ để nó phóng ra vồ ngay. Sau lần thoát chết, con Lu nghi ngờ hầu hết mọi người, chỉ trừ gia đình tôi và ông bà ngoại. Tính thân thiện của con Lu giờ đây không còn nữa. Loài chó rất trung thành với chủ nhưng khi bị một lần đối xử tàn nhẫn với nó là bỏ nhà đi luôn.

Gia đình ông bố vợ tôi tuy ở thị trấn nhưng vì là vùng đất đai đã tạo mãi từ trước khi trở thành thị tứ nên nhà cửa vườn tược rộng thênh thang. Tiếp giáp với vườn cây ăn trái là cánh đồng mía, nay thuộc hợp tác xã nông nghiệp. Lu không bao giờ ra trước đường phố mà chỉ lùng sục trong vườn cây, ruộng mía sau nhà tha hồ bắt chuột, chim chóc, rắn rít. Nó sống như một tử tù thoát ngục. Nó biết ngoài xã hội loài người đang nhìn nó một cách thèm thuồng. Họ chỉ chờ cơ hội là biến thân xác nó thành miếng nhừ, miếng mận.

Ngày ra tù, tôi vào thăm ông bà nhạc gia. Khi vợ chồng tôi vừa đến cổng nhà, con Lu đánh hơi được từ trong nhà phóng ra chồm lên người tôi. Với sức nặng của nó đã khiến tôi té ngồi xuống đất. Người nhà ngỡ con Lu tấn công kẻ lạ mặt nên vội la lên: "Bố đấy Lu, tránh ra!" Nhưng không. Nó xoải hai chân trước đứng trên đùi tôi rồi đưa lưỡi liếm trên khắp mặt mày, tai cổ của tôi. Qua cơn hốt hoảng vì cú ngã bất ngờ, tôi hiểu ra con Lu đang mừng chủ. Tôi liền ôm chầm lấy nó rồi người và chó lăn lộn trên nền sân xi-măng. Cha mẹ vợ tôi vui mừng thấy con rể được ra tù. Hàng xóm đứng nhìn cảnh người vật ôm nhau, họ không tránh khỏi xúc động trong lòng.

Sáu tháng sau, nhà tôi sắp xếp cho tôi và thằng con trai lớn một chuyến vượt biển. Tôi phải xin hộ khẩu ở nhà bà dì tận làng An Vĩnh gần mũi Ba-Tâng-Gâng. Tôi có tên trong tổ hợp đánh bắt cá bằng lưới mành với ông dượng và mấy người em bà con. Tôi dắt con Lu theo để tránh cặp mắt của láng giềng và tránh luôn chú Lân bất thần đến nhà bắt gặp nó. Trước một ngày tới điểm hẹn, vợ tôi dẫn thằng Doãn, con trai đầu lòng của tôi xuống nhà bà dì để chuẩn bị lên đường. Sáng hôm sau, nhà tôi mang con Lu lên xe lam trở về nhà.

Ðêm 30 tháng hai âm lịch, trời không trăng nhưng rừng sao trên trời đủ soi rõ đường đi trên bãi cát trắng lờ mờ. Hơi nước biển mát lạnh cùng với ngọn gió tây thổi lồng lộng làm cho đám người trốn trong các bờ bụi rét run cầm cập. Họ cố dõi mắt về hướng biển. Mười giờ... mười một giờ... đến mười hai giờ ba mươi khuya, ánh đèn pin từ gành đá chợt nháy sáng báo hiệu ghe con đã đến. Tốp đầu tiên gồm bốn người lần lượt tiến ra gành đá. Tiếp theo là hai cha con tôi cùng hai người ở cánh bắc cũng xuất hiện. Cuộc "ra quân" âm thầm nhưng đúng theo thứ tự ấn định. Còn mười phút nữa mới đến tốp cuối cùng. Bỗng, phía sau làng có tiếng chân người chạy rầm rập rồi tiếng súng nổ loạn xạ. Toán đầu quay trở lại chạy tản mác vào xóm. Hai người cánh bắc cũng thế. Riêng tôi chạy băng qua gành rồi luồn vào lùm cây đước. Thằng Doãn, trước khi đi tôi đã dặn dò kỹ lưỡng. Nếu họ bắt được là cứ khai đi một mình đừng để liên lụy đến Ba. Toán du kích chia nhau chạy lùng trong xóm. Một du kích đuổi theo Doãn, đến gần bìa làng hắn chộp được cổ con tôi. Thằng bé la toáng lên: "Thả tôi ra, thả tôi ra". Anh du kích xách thằng bé lên cao. Tay chân nó không ngừng giẫy giụa. Chợt, một bóng đen từ trong hàng dừa phóng ra nhảy chồm lên bám vào cổ anh du kích. Con chó! Tôi thầm kêu lên. Nó tấn công khá bất ngờ khiến anh ta đánh rơi cây súng và buông thằng nhỏ để đánh vật với con chó. Anh ôm đầu con chó nhưng răng chó càng lúc càng lún sâu vào cổ như con quỷ Dracula đang hút máu người. Hắn kêu cứu. Một lúc sau mới có đồng đội đến tiếp sức. Con chó cũng vừa nhả ra chạy vào trong xóm. Một loạt súng của người mới đến bắn đuổi theo. Tôi nghe tiếng ăng ẳng của chó từ trong xóm vọng ra. Một nghi ngờ thoáng qua, chẳng lẽ con Lu ? Nhưng tôi yên tâm ngay bởi con Lu đã được vợ tôi dẫn về nhà trong ngày hôm trước. Núp trong đám cây đước tôi quan sát đầy đủ cảnh chó và người vật nhau. Con chó xuất hiện trong bóng đêm chớp nhoáng như loài sói vồ mồi. Hình ảnh con chó ngoạm cổ anh du kích, tôi liên tưởng đến ma cà rồng đội lốt chó để hút máu người. Nhưng dù ma hay chó tôi cũng thầm cảm ơn nó đã giải cứu cho con tôi và giải thoát được bao nhiêu người.

Tôi về đến nhà lúc tờ mờ sáng nhờ chiếc xe Honda thồ đi kiếm khách sớm. Tắm rửa thay áo quần xong, chợt nhớ đến con chó. Tôi hỏi vợ:

- Con Lu đâu?

Bà ấy bảo:

- Khi xe lam vừa đến ngả ba quốc lộ, con Lu vọt xuống xe chạy ngược theo con đường về hướng biển. Em nghĩ nó trở lại với anh và con. Nếu có điều gì không may xảy ra cho nó thì em biết làm sao bây giờ. Tôi nhìn vợ buông tiếng thở dài:

- Thôi rồi!

Tôi nghĩ ngay đến tiếng kêu đau đớn của chó vang lên sau tiếng súng. Con Lu có thể chết vì loạt đạn bắn theo. Tôi cảm thấy đau xót vô cùng.

Chờ trời tối hẳn, dì tôi mướn xe Honda thồ đưa Doãn về với chúng tôi. Vợ tôi ôm con vào lòng, khóc thút thít:

- Giờ con đã thoát được về đây với mẹ cùng các em. Từ nay trở đi, đói no, chết sống mẹ nhất quyết không để gia đình ta chịu cảnh phân ly.

Doãn nhìn tôi hỏi:

- Ba có thấy con Lu không?

Chẳng đợi tôi trả lời, Doãn quả quyết:

- Lúc ông du kích buông con ra, trước khi chạy trốn, con có quay lại nhìn thấy con Lu đang ngoạm cổ ông ấy.

- Như vậy là con Lu đã chết vì loạt đạn, không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi kết luận. Các con tôi đứa nào cũng rưng rưng nước mắt. Tôi an ủi:

- Dù sao thì mình đã dành tình thương và chăm sóc Lu như con trong gia đình. Nó có chết cũng là cái chết có ý nghĩa, một nghĩa cử vô cùng cao quý của loài chó không khác gì con người.

*

Cả nhà đang say ngủ. Ðột nhiên, tôi nghe tiếng cào sột soạt vào cánh cửa trước. Im ắng một hồi lâu, tiếng cào lại nổi lên lần nữa. Ghé mắt nhìn ra ngoài, tôi chẳng thấy gì cả. Chỉ có bóng đêm bao trùm và sương mù dày đặc phủ đầy trời. Tôi thiếp đi một chốc. Tiếng sột soạt nổi lên lần thứ ba. Lần nầy lâu hơn và ở ngay cánh cửa hông. Tôi vội bật đèn lên, hé cửa nhìn ra. Hốt hoảng, tôi kêu lên:

- Em ơi, con Lu trở về.

Cửa mở toang, Lu đi khập khiễng vào nhà. Tôi ôm Lu vào lòng và nước mắt tôi tuôn trào. Tôi khóc vì vui mừng và khóc vì thương nó quá đỗi. Bầy con tôi xúm vào quấn quýt bên Lu. Máu khô bê bết trên mông và đùi trái của nó. Một viên đạn ghim vào đùi sau, rất may là không đụng xương. Tôi rửa sạch vết thương bằng rượu cồn, xoa thuốc đỏ rồi băng kín vết thương lại.

Từ năm 1986 chính sách đổi mới, thị trấn quê tôi bắt đầu có sinh khí trở lại. Chẳng bao lâu sau, nơi đây buôn bán sầm uất. Cửa hàng tư nhân được mở ra tranh đua cùng với cửa hàng quốc doanh. Ðời sống có phần dễ thở hơn.

Sau trận chiến biên giới Việt Trung năm 1979, Dương Thái Lân và cả đơn vị công binh được điều động đến vùng thượng du Bắc Việt. Vì thế con Lu sống thoải mái với chúng tôi không còn lo lắng gì nữa.

Ðến tháng 7 năm 1991, gia đình tôi lên đường đi Mỹ theo diện tỵ nạn HO8. Con Lu cũng vừa tròn 18 tuổi. Nó đã quá già chỉ lẩn quẩn trong nhà. Nhưng khi có khách đến là nó vẫn không quên chạy vào gầm giường.

Ngày gia đình tôi vào Sài Gòn để lên máy bay, tôi cho Lu theo đến ga xe lửa cùng với bà con đưa tiễn. Khi còi tàu hụ từ xa, Lu đứng dậy sủa vang cả khu vực nhà ga. Trước khi lên tàu, mỗi người trong gia đình chúng tôi đều thay nhau ôm Lu vào lòng, rưng rưng, lưu luyến. Khi tiếng còi báo hiệu tàu chuyển bánh, con Lu nhìn đoàn tàu rồi tru lên một tràng dài. Ðây là tiếng tru lần đầu tiên trong cuộc đời 18 năm của nó. Tôi rùng mình. Tiếng tru thật áo não tưởng chừng như lời trối trăng vĩnh biệt của Lu nhắn gởi.

Khi qua Mỹ rồi, chúng tôi được thư nhà cho biết, con Lu không chịu về nhà nữa. Nó lẩn quẩn ở khu vực nhà ga cho đến một ngày vào mùa Ðông rét buốt, Lu nằm chết bên đường rầy xe lửa, nơi mà chúng tôi đã ôm hôn nó trước khi bước lên tàu.

Hay tin Lu chết, con tôi ôm nhau khóc. Nước mắt chảy ròng ròng như khóc thương một người thân đã ra đi vĩnh viễn. Riêng tôi thầm nghĩ: "Cũng may là nó đã quá già yếu, thân chỉ còn da bọc xương nên được chết toàn thây. Dù muốn dù không nhân viên nhà ga cũng phải chôn xác Lu ở một nơi nào đó trong lòng đất. Ðất mãi mãi ấp ủ thân xác nó và ngàn vạn năm sau biết đâu bộ xương của Lu sẽ hóa thạch tồn tại mãi trên mảnh đất Việt Nam ."

Tôi khóc âm thầm trong đêm như khóc cho đứa con của tôi còn để lại quê nhà nay không còn nữa. Suốt mấy đêm liền tôi nghĩ về Lu như nghĩ về một con người quả cảm và thủy chung.

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Image

Paris By Night 49 -
Chúng Ta Đi Mang Theo Quê Hương





Paris By Night 59 -
Cây Đa Bến Cũ



Post Reply