Trần Khải
Việt Nam cần có dân chủ và nhân quyền.Đơn giản là thế.
Đó là cách cư xử tử tế, là thái độ tôn trọng đồng bào mình, nơi mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền lên tiếng trước những hưng vong của đất nước -- chứ không phải kiểu cai trị độc đảng miệt thị rằng dân tộc này còn thấp dân trí và rằng đất nước này cần kềm kẹp để biết thế nào là thiên đường xã hội chủ nghĩa.
Quốc Hội khóa này có ai nói được tiếng nói đó không?
Hình như chỉ mới chút xíu thôi, chỉ nói dè dặt thôi. Đó là nhận xét của một số trí thức quốc nội.
Trên trang Bbauxite VN (http://boxitvn.blogspot.com) qua bài viết tựa đề “Khát vọng của cả dân tộc” của Kỹ sư Doãn Mạnh Dũng, đã cho thấy có một vài tiếng nói trong Quốc Hội yêu cầu cần có dân chủ trực tiếp (phổ thông đầu phiếu), yêu cầu lập Tòa án Bảo Hiến, yêu cầu trưng cầu dân ý về Hiến Pháp (gọi là quyền phúc quyết), yêu cầu phải cho dân quyền làm chủ đất đai.
Bài viết như sau:
“Sáng ngày 16/11/2012, anh bạn tôi – người Hà Nội – vốn là bạn học cùng khóa với tôi hồi lớp 10, năm 1964-1965 ở Trường Phổ thông III, Hà Nội B – gọi điện thoại bảo tôi nên tìm mua ngay tờ báo Tuổi trẻ. Ngay trang nhất có bài “Khẳng định mạnh mẽ quyền con người”
Tôi thật sự bất ngờ và đồng thời cảm thấy hạnh phúc khi đọc đi đọc lại những lời phát biểu vàng ngọc của các vị đại biểu Quốc hội sau:
Đại biểu Trần Thị Quốc Khánh (Hà Nội):
- “…tôi cho rằng cần quy định rõ quyền dân chủ trực tiếp, đó là quyền bầu trực tiếp Chủ tịch nước”.
Đại biểu Phạm Thị Mỹ Lệ (Bình Phước) cũng cho rằng:
- "… nên thành lập Hội đồng Hiến pháp hoặc có thể thành lập cơ quan tách khỏi Quốc hội, như thành lập Tòa án Hiến pháp, bởi Quốc hội là cơ quan ban hành Hiến pháp, pháp luật nên không thể vừa đá bóng vừa thổi còi".
Đại biểu Ya Duck (Lâm Đồng):
- "đề nghị quy định rõ nhân dân có quyền phúc quyết Hiến pháp".
Đại biểu Triệu Là Pham (Hà Giang) đề nghị:
- Quy định rõ trong Hiến pháp quyền được sở hữu tư liệu sản xuất là đất đai của con người.
Những đề nghị của các vị dù rằng còn lẻ loi nhưng các vị đã tặng cho cả dân tộc những tia sáng đầu tiên để có thể hy vọng và mong chờ một mùa xuân mới.
Mọi sự yếu kém của xã hội Việt Nam hôm nay về kinh tế, đạo đức cũng như sức mạnh bảo vệ biển đảo… đều bắt nguồn từ những quy chuẩn trong quản trị xã hội mà nền tảng của nó là Hiến pháp. Chính sự tùy tiện từ bỏ Hiến pháp lập nước 1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa các mâu thuẩn nội bộ Việt Nam vào vòng xoáy ngày càng gay gắt.
Người Việt Nam rất cần một bản Hiến pháp tiến bộ để con người có thể thương yêu con người, mọi người có thể bình đẳng trong mưu sinh và làm giàu ngay trên Tổ quốc Việt Nam.
D.M.D.”
Tại sao những quyền đơn giản như thế, hầu hết thế giới đều có, riêng tại Việt Nam thì không?
Cũng trên mạng Bauxite VN ngày 21-11-2012, một lá thư của bà Ngô Thị Hồng Lâm, ký ngày 18-11-2012 đề gửi ông Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang, để nêu lên chuyện cô Anna Huyền Trang tố cáo rằng, vào lúc 10h30 sáng ngày 30.10.2012, cô cùng 1 người bạn trai đang đi dạo ở công viên 30/4, tới trước Dinh Độc Lập (cùng với bao người dân khác trong thành phố) thì Công an bỗng ngăn lại xét hỏi giấy tờ riêng cô Anna Huyền Trang và bạn của cô, ngay sau đó dùng bạo lực bắt cóc cô và bạn của cô lên xe chờ sẵn, cả hai cùng bị đưa về đồn công an phường Cầu Kho quận 1, Sài Gòn, chia ra 2 nơi khác nhau để tra vấn.
Lá thư của bà Ngô Thị Hồng Lâm nói rằng “Ở đồn công an này, công an đã hiện nguyên hình là những tên mafia tấn công dân lành bằng cách nhục mạ, sỉ nhục xúc phạm những người công giáo và còn thách đố nhau "cưỡng hiếp" cô gái này trắng trợn giữa thanh thiên bạch nhật...”
Thư viết thêm:
“Còn người bạn trai của Anna Huyền Trang thì họ cũng đưa về cùng đồn CA phường Cầu Kho, (giam ở một phòng khác). Đưa vào đến nơi, các công an viên liền đánh phủ đầu nhằm tạo áp lực, gây hoang mang và răn đe với ý đồ (mày hãy ngoan ngoãn trả lời những câu hỏi của bọn tao, nếu không là no đòn).
Người bạn ấy hỏi các công an viên: “Tại sao lại đánh tôi, tôi làm điều gì sai, các anh không tôn trọng pháp luật à? Tại sao lại bắt tôi một cách vô cớ như vậy?”
Thì một công an viên giọng nói côn đồ trả lời: “Bọn tao thích đánh thì bọn tao đánh, thích bắt ai là bọn tao bắt. Pháp luật là bọn tao, bọn tao là pháp luật”.
Các công an viên xúm nhau khống chế, lấy giấy tờ tùy thân, điện thoại, khám xét người và lục tung balo cá nhân của bạn ấy. Lấy được chiếc điện thoại rồi họ bắt đầu lục lọi trong máy và lần mò ra facebook account của bạn này sau đó truy cập vào in các bài viết từ facebook ra, cứ mỗi bài thì họ lại hỏi có phải bài này của mày không? Kèm với câu hỏi là một trận đánh đấm túi bụi của công an với người công dân bạn của Anna Huyền Trang.
Đến tối thì họ thả anh ta về và theo đến tận nơi tạm trú của anh, dùng sức ép đe dọa buộc người chủ nhà phải chấm dứt việc cho anh thuê trọ và buộc anh phải đi ra khỏi nơi trọ ngay trong đêm tối 30/10/2012...
...Là một người (có chồng là 1 cựu tù chính trị Côn Đảo 20 năm) đã nhiều năm làm công tác về nhà tù, công việc đã cho tôi có nhiều cơ hội hỏi chuyện những cựu nữ tù cùng các cán bộ cách mạng từng bị giam trong nhà tù của chế độ Sài Gòn, thì hầu hết các chị đều khẳng định: không hề có chuyện hãm hiếp cưỡng dâm nữ tù của những nhân viên ở Trung tâm Thẩm vấn quốc gia ở cấp Trung ương [Chính phủ Việt Nam Cộng hòa] đối với chị em phụ nữ . Mặc dù tính mạng chị em nằm trong tay họ, nhưng họ làm việc rất đúng pháp luật của 1 quốc gia có nền pháp trị.
Tôi được biết giới chức cao cấp hữu quyền trong ngành Cảnh sát Quốc gia Việt Nam Cộng hòa thường đi giám sát bất ngờ công việc giam nhốt và điều tra can phạm Việt Cộng. Những hành vi của giới thuộc cấp vi phạm nội lệnh ban hành đều bị nghiêm trị đích đáng.
Tất nhiên tư thế đối kháng giữa 2 bên tham chiến là điều hiển nhiên, tôi không bàn luận trong thư này gửi Ông.
Vẫn còn đây tên tuổi của những nữ tù Trương Mỹ Hoa, Nguyễn Thị Lập Quốc, Võ Thị Thắng, Hồng Nhật. v.v... là những nhân chứng sống của sự xử sự minh bạch, công minh, thi hành nghiêm túc luật pháp quốc gia của Chính quyền Sài Gòn, không hề có chuyện cưỡng hiếp đối với những nữ tù chính trị. Càng không có chuyện các nữ cảnh sát quốc gia Việt Nam Cộng hòa lột trần truồng các can phạm Việt Cộng để khám xét nhu các nam, nữ cảnh sát công an ở Đồn Công an phường Cầu Kho đã lột áo và lột quần của Anna Huyền Trang để nhục mạ cô ấy...”(hết trích)
Cũng cần ghi nhận thêm về tình hình pháp trị “before and after 1975” (trước và sau 1975) qua lời cựu sinh viên đấu tranh Hạ Đình Nguyên qua bài tựa đề “Phương Uyên, tôi có thể làm gì cho em?” đã kể lại:
“...Tôi nhớ tại Tối Cao Pháp viện, Tổng thống VNCH – Nguyễn Văn Thiệu, đã đích thân đến Tòa án can thiệp, tranh luận tay đôi với Viện trưởng Nguyễn Minh Tiết, rằng cần phải kết án 21 SV trong số 42 SVHS đã bị bắt vừa qua là Việt Cộng, vì có bằng chứng minh bạch. Ông Viện trưởng Tiết đã cương quyết bác bỏ, vì sự tra tấn dã man là bằng chứng của ép cung, lời cung đã khai không còn giá trị. Thế là hầu hết đã được trả tự do ngay sau phiên tòa. Trong đó có một số anh chị có vai trò trong tổ chức Thành đoàn Cộng Sản. Dù các anh chị ấy có lập trường kiên định, một lòng trung thành với con đường lý tưởng đã chọn, song không khỏi ghi nhớ về tính cách của một vị quan tòa, và nguyên tắc, dù chưa phải là thực chất của một thể chế dân chủ, nhưng ở đó có một số điểm tựa để cho người dân tin cậy, là hệ thống luật pháp về dân sự, dù thời điểm đó đang là chiến tranh.”(hết trích)
Và bây giờ, có nói về nhân quyền hay dân chủ, cũng là dè dặt nói, dù là trong tòa nhà Quốc Hội, tại sao vậy? Có phải vì các đại biểu Quốc hội đều biết rằng Đảng CSVN cai trị với bàn tay sắt, sẽ bóp nghẹt mọi tiếng nói dị biệt? Bóp nghẹt, bất kể rằng, khát vọng dân tộc là dân chủ và nhân quyền...
Ai chống nhân dân và phá nhà nước? Nguyễn Hưng Quốc (VOA)
Nhà cầm quyền Việt Nam, từ đảng đến chính phủ, thường chơi trò ăn gian. Hình thức ăn gian phổ biến, lộ liễu và trắng trợn nhất là ăn gian trong lãnh vực chữ nghĩa. Trong lãnh vực chữ nghĩa, hai chữ hay bị ăn gian nhiều nhất là: Nhân dân và nhà nước.
Nhân dân, trên nguyên tắc, là toàn bộ những người mang quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, với nhà cầm quyền Việt Nam, chữ nhân dân vừa bị lạm dụng một cách bừa bãi lại vừa bị bóp méo một cách tùy tiện.
Lạm dụng ở chỗ: Cái gì cũng nhân dân. Quân đội nhân dân. Công an nhân dân. Ủy ban nhân dân. Nhà sách nhân dân. Rồi chính quyền nhân dân. Ở điểm này, chúng ta thấy ngay sự khác biệt giữa Việt Nam (cũng như các nước theo chế độ cộng sản khác) và các quốc gia dân chủ ở phương Tây: Ở phương Tây, người ta rất hiếm khi dùng chữ “nhân dân”. Lý do là nó quá mơ hồ. Mơ hồ đến độ nó không có một nội dung cụ thể nào cả.
Nhớ, cách đây mười mấy năm, có một nữ giáo sư từ Việt Nam sang thăm một trường đại học Úc ở Melbourne. Buổi tối, một giáo sư Úc tại trường đại học ấy mời chị cùng một số bạn bè nữa, trong đó có tôi, đi ăn ở một tiệm Việt Nam. Giữa bữa ăn, chị giáo sư từ Việt Nam xin phát biểu. Chị cám ơn trường đại học đã mời chị sang thăm. Chị cám ơn các giáo sư trong trường đã tiếp đãi chị một cách nồng hậu. Và chị, một cách hết sức trang trọng, nhờ vị giáo sư Úc có mặt trên bàn tiệc, chuyển lời cám ơn của chị đến “nhân dân Úc” về việc chào đón chị, người khách từ một nước xa xôi như Việt Nam. Lúc ấy, người bạn của tôi, một giảng viên về thông ngôn và phiên dịch, đang giúp dịch lời phát biểu của chị sang tiếng Anh cho các vị khách Úc hiểu, bỗng đâm ra lúng túng thấy rõ. Nhưng rồi anh cũng dịch. Vị giáo sư người Úc nghe xong, không giấu được một nụ cười kín đáo và ý nhị. Ðến lúc về, ở bãi đậu xe, vị giáo sự ấy đùa với chúng tôi, sau lưng chị giáo sư nọ: “Mấy ông bày tôi cách chuyển lời cám ơn đến ‘nhân dân Úc’ đi chứ!”
Vì khái niệm ‘nhân dân’ rất mơ hồ, nhà cầm quyền tha hồ bóp méo nó theo bất cứ hướng nào mà họ thích. Họ tuyên bố họ được nhân dân tín nhiệm và ủy thác cho trách nhiệm lãnh đạo nhân dân dù họ chưa bao giờ tổ chức bất cứ một cuộc bầu cử nào cho đàng hoàng, tự do và minh bạch. Họ cũng thường xuyên tuyên bố nhân dân ủng hộ các chính sách của họ dù họ không hề tổ chức bất cứ một cuộc trưng cầu dân ý, thậm chí, một cuộc thăm dò dư luận nào cả. Khi người dân, dù đông đảo, lên tiếng phê phán hay phản đối họ, họ đạp vào mặt, cho đó không phải là... nhân dân.
Nhân danh nhân dân, họ trấn áp ngay chính nhân dân. Mở miệng là phục vụ nhân dân, nhưng trên thực tế, họ sẵn sàng chà đạp lên nhân dân. Mọi quyết định của cái chính phủ được gọi là “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” ấy bao giờ cũng được thông qua từ một nhóm nhỏ của Bộ Chính Trị, gồm 14 người, hoặc rộng hơn một chút, Ban chấp hành trung ương, 175 người. Dường như, với họ, chỉ có những người ấy mới là nhân dân.
Chữ nhà nước cũng thế. Một trong những tội danh họ thường sử dụng để trấn áp những người đối lập, thậm chí, chỉ độc lập với họ là tội “chống phá nhà nước”.
Nhưng nhà nước là gì và là ai?
Chữ ‘nhà nước’ có thể dịch sang tiếng Anh bằng hai chữ: State và government. Nhưng trong tiếng Anh, hai khái niệm này khác nhau. Thứ nhất, khái niệm ‘state’ bao gồm bốn yếu tố chính: Dân chúng, lãnh thổ, chủ quyền và chính phủ. Như vậy, government chỉ là một trong bốn thành tố tạo nên state. Thứ hai, state thì trường cửu trong khi government thì chỉ tạm thời, có thể thay đổi, hơn nữa, cần và nên thay đổi. Thứ ba, state bao gồm toàn bộ công dân, trong khi government thì chỉ bao gồm các cán bộ được ăn lương. Thứ tư, state là một khái niệm trừu tượng trong khi government rất cụ thể với những bộ máy và nhân sự cụ thể. Thứ năm, state gắn liền với yếu tố chủ quyền và quyền lực của nó được xem là tuyệt đối và vô giới hạn. Trong khi đó government không có chủ quyền: Quyền lực của government là do hiến pháp quy định, giới hạn trong từng nhiệm kỳ. Thứ sáu, do tính phổ quát, tất cả state đều giống nhau trong khi government lại thay đổi trong cả thời gian lẫn không gian với những thể chế khác nhau.
Trong bản tiếng Anh của các bản án tại Việt, người ta dịch tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” lúc là “anti-government propaganda” lúc thì là “anti-state propaganda”. Nhưng dưới mắt người nói tiếng Anh trong các chế độ dân chủ, cả hai đều vô nghĩa.
Thứ nhất, nếu “tuyên truyền chống phá nhà nước” là anti-government thì tại sao lại buộc tội những người làm việc đó? Ở các nước dân chủ, do chủ trương government là cái nên và cần thay đổi nên không ai cấm việc tuyên truyền “anti-government” cả. Tổ chức lật đổ government bằng bạo động thì dĩ nhiên bị cấm và bị nghiêm trị. Nhưng tuyên truyền thì xin cứ tự nhiên. Ðó là cái quyền của công dân. Tất cả các đảng đối lập được bảo vệ, thật ra, là để làm cái việc anti-government ấy. Ở Úc, đảng đối lập, do Tony Abbot lãnh đạo, suốt ngày cứ ra rả lên án Thủ Tướng Julia Gillard là phản phúc (trong việc lật đổ cựu Thủ Tướng Kevin Rudd), là nói láo (hứa rồi không làm), là bù nhìn của các thế lực đen tối trong đảng Lao Ðộng. Không sao cả. Ở Mỹ, trước cuộc bầu cử ngày 6 tháng 11 năm 2012, đảng Cộng Hòa, đại diện là Mitt Romney, lúc nào cũng lên án Tổng Thống Barack Obama là dẫn đất nước theo một hướng hoàn toàn sai, là đã gây nên khủng hoảng kinh tế và nạn thất nghiệp trầm trọng, là bất lực trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế, v.v. trong các diễn văn cũng như trong các quảng cáo trên radio và truyền hình. Không sao cả. Chả có ai bị bắt vì tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” cả.
Thứ hai, nếu “tuyên truyền chống nhà nước” là anti-state thì lại càng nghịch lý và phi thực.
Phi thực ở chỗ không ai có thể “anti-state” - hiểu theo nghĩa là chống lại một phức thể bao gồm cả dân chúng lẫn lãnh thổ, chính phủ và chủ quyền quốc gia bằng một vài bản nhạc như Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, bằng một số bài báo như Cù Huy Hà Vũ, Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải, một lá truyền đơn như Nguyễn Phương Uyên... Càng phi thực và phi lý hơn nữa khi nội dung của các bản nhạc, bài báo và truyền đơn ấy là chống lại sự áp bức của công an, sự độc tài của Nguyễn Tấn Dũng hay sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam một cách ngang ngược của Trung Quốc. Nguyễn Tấn Dũng chỉ có thể buộc tội những người chống đối ông, kể cả tờ báo mạng Quan Làm Báo gần đây, nếu ông, cũng như Vua Louis XIV của Pháp, người tương truyền từng tuyên bố: “Ta là nhà nước” (L'État, c'est moi / I am the state).
Buộc tội “anti-state” cho những người dân như Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải, Nguyễn Phương Uyên, Cù Huy Hà Vũ, v.v. nghịch lý ở chỗ: Họ là người dân; họ không thể chống lại chính họ vì trong khái niệm “state” có cả khái niệm dân chúng.
Người ta chỉ có thể có hành động “anti-state” nếu người ta ở bên ngoài. Thuộc nước khác. Từ bên ngoài, người ta mới có thể chà đạp lên người dân, cướp đoạt lãnh thổ, xâm phạm chủ quyền của một nước được. Hành động “anti-state” thường bao gồm hai hình thức chính: Xâm lược và khủng bố. Ở trong nước, người ta chỉ có thể có hành động “anti-state” khi người ta tiếp tay (ví dụ dưới hình thức làm gián điệp hay tay sai) với người nước ngoài để xâm lược hay để khủng bố đất nước của chính mình. Trong trường hợp đó, thứ nhất, họ tự động ly khai khỏi dân tộc, tự xem mình là người lạ với dân chúng; và thứ hai, phải dựa vào một thế lực từ bên ngoài.
Hiểu theo nghĩa đó, tất cả những người đã bị tòa án Việt Nam kết tội là “chống phá nhà nước”, anti-state, đều vô tội. Ðó là điều họ không làm. Và không đủ sức để làm.
Những kẻ thực sự thỏa hiệp với nước ngoài để chia cắt lãnh thổ Việt Nam, dâng hiến chủ quyền của đất nước và chà đạp lên số phận của dân chúng mới là những kẻ “anti-state”.
Liệu có thể thay đổi sự chia rẽ 50/50 của nước Mỹ sau bầu cử?
Thông thường, trong nền dân chủ ở Mỹ, kết quả của một cuộc tổng tuyển cử được coi là sự kiện chấm dứt một giai đoạn tranh cãi, chia rẽ ý kiến trong suốt thời kỳ vận động từ bầu cử sơ bộ cho tới buổi sáng ngày đầu phiếu. Nhưng cuộc tổng tuyển cử ngày 6 tháng 11 vừa rồi vẫn còn để lại những hậu chấn còn nặng nề hơn cả kết quả cuộc bầu cử giữa George W. Bush của đảng Cộng Hòa và Al Gore của đảng Dân Chủ, dù rằng lần này Tổng Thống Barack Obama đã chiến thắng mà các nhà phân tích cho rằng đây là một chiến thắng “landslide” (lở đất) hơn đối thủ tới 100 phiếu cử tri đoàn và bỏ xa thống đốc Romney về số phiếu phổ thông.
Người ta có nhiều cách giải thích lý do dẫn đến chiến bại của Mitt Romney. Có những nhà phân tích còn cho rằng lần tổng tuyển cử này, Barack Obama là con ngựa về ngược vì họ căn cứ vào giai đoạn “xuống điểm” của Obama sau cuộc tranh luận đầu tiên với Romney diễn ra tại Colorado và phần lớn đều tiên đoán rằng Obama sẽ không được tái cử. Theo tin của hầu hết phóng viên các tờ báo lớn ở Mỹ có mặt trên chuyến bay “Believe in America” của Mitt Romney từ Florida trở về nhà riêng của ông ở Boston, tiểu bang Massachusetts nơi trước đây ông từng là một thống đốc thành công ông Mitt Romney đã chỉ soạn trước bài diễn văn chiến thắng. Trong khi đó, khi quay trở lại nhà riêng ở Chicago buổi chiều trước ngày đầu phiếu, Tổng Thống Barack Obama phải soạn sẵn trước 2 bài diễn văn: Một là mừng chiến thắng hai là bài diễn văn nhìn nhận sự thất bại và từ giã cử tri. Tại sao tôi ăn cơm mới mà cứ nói đến chuyện cũ trong khi bầu cử đã qua rồi? Lý do cũng không có gì khó giải thích.
Tôi thiết tưởng nếu chịu khó vào đọc các trang Op-Ed (tạm gọi là trang Diễn Đàn) trên các tờ báo Mỹ ở quận Cam, ở New York, ở Washington hay Chicago, chúng ta sẽ thấy mối quan tâm của dân chúng Mỹ là sự chia rẽ vẫn tiếp tục sau cuộc bầu cử và sau đó mới đến mối quan tâm vấn đề tăng thuế và tăng thuế bao nhiêu đối với những người giầu có ở Hoa Kỳ. Một độc giả tên là John Miller viết trên trang Op-Ed của tờ The Boston Globe rằng đi trên đường phố người ta vẫn còn nhìn thấy những khẩu hiệu đại loại như “Revive America”, tạm dịch là “Hãy làm hồi sinh nước Mỹ”. Ngay cả cái khẩu hiệu này cũng đã bị giải thích theo những cách nhìn khác nhau tùy theo lăng kính và vị trí của mỗi người. Nếu khẩu hiệu này xuất hiện vào thời kỳ dân chúng Mỹ đang phải tranh đấu để thoát ra khỏi hoàn cảnh Đại Suy Thoái năm 2009 thì có thể được hiểu là lời thúc giục hãy làm cho kinh tế Mỹ phục hồi. Nhưng nếu đặt vào hoàn cảnh của Đại Hội Đảng Cộng Hòa ở Tampa và nếu nhìn vào thành phần sắc dân trong đại hội này thì khẩu hiệu “Revive American” đối với những người Mỹ không phải là da trắng gốc Âu có thể coi là một lời đe dọa phải đưa nước Mỹ trở lại thời kỳ cuối thể kỷ 19 đầu thế kỷ 20, thời kỳ mà những ông địa chủ da trắng đang đẩy mạnh chủ thuyết nước Mỹ phải hoàn toàn da trắng. Mối hoài nghi về ý nghĩa của khẩu hiệu này gia tăng sau khi đảng Cộng Hòa khởi sự cuộc vận động với chiêu bài “biến Obama thành Tổng Thống một nhiệm kỳ”. Thực tế, ngọn cờ đầu của đảng Cộng Hòa trong cuộc vận động đã có thể khích động và làm hài lòng những người Mỹ da trắng giầu có hay những người Mỹ đang bị ảnh hưởng của tỷ lệ thất nghiệp cao. Người ta thấy phần lớn cuộc vận động của Mitt Romney nhắm vào hai điểm nói trên và ông đã đạt được một số thành công.
Chẳng hạn, chuyện vu cáo của nhà tỷ phú Donald Trump về giấy khai sinh của Tổng Thống Barack Obama tuy đã được làm sáng tỏ trên báo chí và truyền thông, nhưng vẫn còn được ông nhà giầu nhưng “đầu rỗng” này khơi lại vào vài ngày cuối trước khi cử tri đến phòng phiếu. Tại sao? Vì trên đất nước Mỹ vẫn còn nhiều người Mỹ chưa từng bước ra khỏi dãy núi Appalachian hay vùng Corn Belt tin rằng ông Obama không được sinh ra ở Hoa Kỳ. Tôi gợi lại những dữ kiện trên không ngoài mục đích bày tỏ mối quan tâm cùng với các đồng hương của tôi về những hậu chấn sau cuộc bầu cử. Cho đến buổi sáng khi tôi viết bài báo này, trên e-mail của tôi vẫn thấy những forwards bài dịch của một tác giả người Việt Nam từ nguyên tác của một bài viết bằng Anh ngữ về cái gọi là “giấy khai sinh tại Kenya của Barack Obama”, một tài liệu mà chỉ cần đọc đoạn đầu cũng thấy đây là kết quả của sự chế biến, ngụy tạo và bóp méo và độc giả không có cách nào kiểm chứng. Rồi lại cái tin liên quan đến việc “quĩ tranh cử của Obama còn dư nhiều quá nên bây giờ đem cấp cho mỗi người lãnh tiền già 800 đô la với lệ phí khai vào form xin lãnh là 80 đô la”. Tôi vốn tính thận trọng nên không vội nói tin này vô căn cứ, nhưng nguồn tin không xuất phát từ một thông cáo báo chí của Cơ Quan Xã Hội mà lại qua một nguồn tin từ Sở Thuế. Nhưng tôi hoài nghi và cuối cùng suy đi nghĩ lại, tôi cho rằng đây là một tin “không đúng sự thật và có hậu ý” ít ra cũng cho đến bây giờ. Việc đem tiền của quĩ tranh cử để phát không cho giới người già không đóng thuế, những người mà phía ông Mitt Romney cho rằng phần lớn họ bỏ phiếu cho ông Obama như vậy có hợp lý không và liệu Tổng Thống Obama có thể chấp nhận chuyện “của người phúc ta” hay sự thực đây chỉ là tin chế ra nhằm giảm uy tín kết quả cuộc bầu cử và kết quả thắng lợi của Obama? Tại sao một chuyện hệ trọng như vậy mà không do một bộ sở quan nào phụ trách các vấn đề xã hội trực tiếp thông báo? Hoặc đây cũng chỉ là loại tin thất thiệt cá tháng Tư trước đây cũng đã từng được lưu truyền rằng người cao niên HO có thể lãnh một lần 30,000 đô la và có thể về Việt Nam sống? Cho nên, thái độ cần có của đồng hương là không nên vội vã và trong thời đại tin học này chỉ cần một cú điện thoại vào Sở Xã Hội địa phương hay tiểu bang là biết ngay hư thực mà thôi.
Ngoài ra, hiện nay các rạp chiếu phim đang trình chiếu phim nhan đề là “Lincoln”, một phim lịch sử mô tả lại những khó khăn chính trị khi vị Tổng Thống thứ 16 của Hoa Kỳ giải phóng cho nô lệ cũng như vào thời kỳ trước đó. Thời kỳ ấy đảng Dân Chủ còn là một đảng có thể nói là bảo thủ cực đoan. Đảng này đã phải thay đổi theo chiều gió của sự thay đổi ở nước Mỹ, nhất là sự thay đổi về thành phần chủng tộc trong dân số Hoa Kỳ khi người nhập cư vào Hiệp Chủng Quốc ngày càng đông. Tổng Thống Lincoln đã gặp khó khăn trong thời kỳ giải phóng nô lệ như thế nào thì ngày nay Tổng Thống Obama cũng gặp khó khăn vì mầu da của ông như thế, chỉ có điều sự chống đối vì chủng tộc được biểu lộ một cách tinh vi hơn trong thời đại này mà thôi.
Thống Đốc Mitt Romney thực ra có khuynh hướng khá ôn hòa, bởi vì nếu không ôn hòa sẽ không thành công được ở một tiểu bang có khuynh hướng cấp tiến như tiểu bang Massachusetts, nhất là nếu người ta nhìn lại nội dung của đạo luật Cải tổ Y Tế của tiểu bang này. Nó không khác bao nhiêu so với đạo luật Cải tổ Y Tế mà phía Cộng Hòa gọi là Obamacare. Tuy nhiên, những nhà làm luật Cộng Hòa thuộc Quốc Hội tiểu bang Massachusetts phần đông được mô tả là Cộng Hoà theo khuynh hướng ôn hòa, nghĩa là phía Dân Chủ có thể thương lượng được. Do đó mà đạo luật Cải tổ Y Tế ở tiểu bang Massachusetts mới được thông qua. Trái lại, huynh hướng bảo thủ cực đoan trong đảng Cộng Hòa trong năm bầu cử 2012 lại rất mạnh. Mục tiêu bất biến và không thể thương lượng được của họ là đẩy Obama ra khỏi tòa Bạch Ốc và cực lực bảo vệ quyền lợi của giới giầu có trong đó có những đại công ty bảo hiểm và những nhà tỷ tỷ phú.
Trong khi đó lập luận của Barack Obama về việc tăng thuế nhắm vào giới giầu là một lập luận khó đảo ngược được vì: Trong thời kỳ không suy thoái và chưa gặp khó khăn về nợ nần, giới giầu có đã hưởng lợi từ việc giảm thuế trong suốt 8 năm của Tổng Thống Bush, nay đất nước gặp khó khăn, họ phải đóng góp thêm để trả nợ quốc gia và cân bằng ngân sách. Chính phía Cộng Hòa đã thấy rõ mũi tấn công khó tránh này nên đã có lúc một vài nhà lập pháp thuộc đảng Cộng Hòa đã coi quan điểm của Obama là quan điểm xã hội, lấy của người giầu chia cho người nghèo. Hạ Viện do đảng Cộng Hòa kiểm soát trở thành “Congress of No” cũng là vì những nhà lãnh đạo bảo thủ cực đoan trong đảng này muốn các thành viên của họ tại Hạ Viện không được thỏa hiệp bất cứ đề nghị nào của đảng Dân Chủ. Do đó, Romney đã bị kẹt không thể xoay chuyển được và người bị kẹt vì quan điểm cứng nhắc mang tính đảng dễ trở thành người hay thay đổi. Khi sự thuận lý không còn là một sức mạnh trong đầu, Thống Đốc Mitt Romney bị đẩy vào trong tình trạng bị động. Cho đến những giờ phút chót, các cuộc thăm dò của Reuters/Ipsos cho thấy ông có thể bị thua ở Florida và Ohio, Thống đốc Mitt Romney vẫn không tin. Nhất là, khi chiến lược gia cốt lõi của đảng Cộng Hòa rất có thế lực như Karl Rove lại còn tin chắc như đinh đóng cột là Mitt Romney sẽ thắng ở ít nhất 6 trong số 9 tiểu bang tranh chấp, trong đó có Ohio, Florida và North Carolina. Nhưng thực tế đã ngược hẳn lại. Ông ta chỉ thắng được ở North Carolina và Indiana.
Một tuần lễ sau cuộc bầu cử, những thống kê cho phép người ta tin rằng trong khối cử tri độc lập và chưa quyết định, Thống Đốc Mitt Romney chỉ thắng phiếu của đàn ông da trắng gốc Âu, còn thua ở khối cử tri quan trọng đang làm thay đổi nước Mỹ: Cử tri phụ nữ, cử tri gốc da mầu, cử tri gốc Hispanic, cử tri gốc Á châu và giới cử tri trẻ tuổi. Thất cử của Thống Đốc Mitt Romney ngoài những ảnh hưởng có tính chất tâm lý còn là một lời báo động cho đảng Cộng Hòa về sự chia rẽ 50/50 của người dân Mỹ và đồng thời là lời khuyến cáo mạnh mẽ cho những chiến lược gia của đảng Cộng Hòa rằng đất nước ngày nay đang thay đổi rất mạnh và nếu đảng Cộng Hòa không chịu thay đổi, họ sẽ thất bại nữa vào năm 2016.
Trong nhiệm kỳ cuối cùng của vài trò Tổng Thống về đối nội cũng như đối ngoại, Barack Obama là người không còn gì để mất. Ông ta nói thẳng rằng ông sẽ cương quyết hơn để giải quyết những gì còn tồn tại từ nhiệm kỳ đầu. Thái độ của ông khi mời các lãnh tụ Quốc Hội của hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa vào tòa Bạch Ốc trong tuần rồi để giải quyết điều được gọi bằng nguyên ngữ tiếng Anh là “Fiscal Cliff” hay còn gọi cách khác là “bức tường tài chánh” trong đó có vấn đề thuế xuất mới khi thuế xuất hiện nay hết hạn vào cuối Tháng 12 đã cho thấy rất rõ điều đó. Đồng thời qua lời tuyên bố sau cuộc họp của Chủ tịch Hạ Viện John Boehner, người ta có thể thấy một vài tín hiệu đảng Cộng Hòa đang “dịu giọng” nhiều so với thời gian trước ngày bầu cử. Dấu hiệu kế tiếp là trong Đại Hội các Thống Đốc Cộng Hòa, khi còn cố vớt vát với những lời tuyên bố cay cú về khối cử tri gốc thiểu số và gốc Á châu, cựu Thống Đốc Mitt Romney đã bị hội nghị phản đối ngay. Tại hội nghị này, đã xuất hiện lời kêu gọi đảng Cộng Hòa phải mở con đường chinh phục khối cử tri phụ nữ, khối cử tri gốc Hispanic, gốc Phi châu và gốc Á châu. Lời kêu gọi còn hàm ý là đừng có hoang tưởng mà giữ mãi ý niệm hẹp hòi về một nước Mỹ phải do người da trắng gốc Âu kiểm soát.
Năm nay, Ngoại trưởng Hillary Clinton sẽ không còn phục vụ trong chính phủ Obama nhiệm kỳ 2 nữa. Có nhiều phần trăm là Bộ Trưởng Quốc Phòng Leon Panetta cũng vậy. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là tuy chưa có gì chính thức rằng bà Susan Rice, một nhà ngoại giao da mầu có thành tích tại Bộ Ngoại Giao và đang là Đại sứ Hoa Kỳ tại LHQ sẽ được bổ nhiệm để thay thế bà Hillary Clinton trong chức vụ Ngoại Trưởng nhưng bà đã bị những thượng nghị sĩ Cộng Hòa trong đó có John McCain và Lindsey Graham kịch liệt chống đối. Thượng Nghị Sĩ McCain đe dọa thẳng thừng rằng ông sẽ vận động mọi cách để bác bỏ đề nghị bà Susan Rice làm Ngoại Trưởng. Nhưng ngược lại, dư luận phía các thượng nghị sĩ Dân Chủ hiện đang kiểm soát Thượng Viện đều cho rằng các thượng nghị sĩ Cộng Hòa McCain hay Graham nói thì nói thế chứ “đụng” vào Susan Rice không phải là dễ dàng như lời Tổng Thống Obama đã tuyên bố. Tại sao Tổng Thống Barack Obama dám quả quyết điều này? Cũng dễ hiểu, bởi vì trước hết bà Susan Rice là một phụ nữ và là một phụ nữ giỏi, thứ hai bà là gốc da mầu. Đảng Cộng Hòa hiện nay lại đang phải đối phó với vấn đề làm thế nào mở con đường chinh phục khối cử tri gốc da mầu và cử tri phụ nữ trong năm bầu cử 2016. Vấn đề là liệu đảng Cộng Hòa có muốn hồ sơ về việc bổ nhiệm bà Susan Rice vào ghế ngoại trưởng, nếu có, sẽ trở thành một khúc xương khó nuốt cho những ứng cử viên Cộng Hòa vào năm 2016 hay không khi họ cần thuyết phục phụ nữ bỏ phiếu cho họ. Hiện nay ở Thượng Viện đã có tới 20 thượng nghị sĩ là phụ nữ, ở Tối Cao Pháp Viện có tới 3 người. Đây cũng là một con số mà các chiến lược gia của cả đảng Dân Chủ lẫn Cộng Hòa cần chú ý vế ý nghĩa của cơn gió thay đổi của nước Mỹ.
Sự kiện trên làm tôi nhớ lại rằng trong nhiệm kỳ 2 của Tổng Thống George W. Bush, khi ông Bush muốn bổ nhiệm bà Condoleezza Rice Cố Vấn An Ninh Quốc Gia vào chức vụ Ngoại Trưởng thay thế tướng Colin Powell, bà Rice cũng bị các thượng nghị sĩ Dân Chủ chống kịch liệt. Nhưng cuối cùng vì tương lai của đảng trong cuộc bầu cử năm 2008, đã có 30 thượng nghị sĩ của đảng Dân Chủ nối gót các thượng nghị sĩ Cộng Hòa chuẩn thuận cho bà Condoleezza Rice.
Từ những dữ kiện trên, tôi tin rằng chuyện chia rẽ 50/50 trong dư luận Mỹ là điều không thể tránh được vì sự thương tổn của chính đảng nhất quyết đẩy ông tổng thống da đen ra khỏi quyền lực mà kết quả đã ngược lại. Cho nên, nếu thực sự các chiến lược gia đảng Cộng Hòa muốn thay đổi đường lối của đảng để thuyết phục hơn hầu chiếm lại chiếc ghế Tổng Thống vào năm 2016, sự chia rẽ 50/50 sẽ nhạt dần. Nếu ngược lại, sự chia rẽ cũng sẽ tiếp tục nhưng đến một lúc nào đó những người cưỡng lại ngọn gió thay đổi cũng không thể cưỡng lại được nữa mà phải thay đổi với phần xấu nhất rơi vào tay mình. Cho đến nay rõ ràng đường lối tranh cử của các ứng cử viên của cả Cộng Hòa lẫn Dân Chủ phải theo đuổi là đến trước cử tri và hỏi họ xem họ “muốn” ứng cử viên làm những gì chứ không phải câu hỏi liệu các ông các bà có “ủng hộ” ứng cử viên hứa làm ra chương trình này, chương trình nọ hay không. (V.A)
Tác giả : Vi Anh
Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) năm nay 2012 là lễ Tạ Ơn thứ 37 của người Mỹ gốc Việt. Tạ Ơn năm nay người Mỹ gốc Việt vô cùng cảm động nhớ công ơn nhân dân và chánh quyền Mỹ đã cứu khổn phò nguy người Việt trên đường tìm tự do, ty nạn CS và tạo cơ hội cho người Mỹ gốc Việt phát triễn thành một cộng đồng vững mạnh, năng động, thăng tiến cần lao đồng tiến xã hội trong xã hội đa văn hóa, đa chủng tộc của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Thực vậy, người Mỹ gốc Việt làm sao không cảm động khi đọc lại những dòng chữ đầy tình nghĩa này của nhân dân và chánh quyền dân cử Mỹ. Năm 1975, Mỹ có ban hành đạo luật Indochina Migration and Refugee Act, có: “Tổng thống Hoa Kỳ sẽ làm bất cứ điều gì để mở rộng cánh cửa đón người tị nạn đến từ 3 quốc gia Đông Dương. Các viên chức trách nhiệm tại Mỹ đưa ra tất cả mọi phương tiện để giúp cho người dân tị nạn định cư. Phải nỗ lực làm giảm những đau khổ kinh hoàng của người tị nạn đến từ Đông Nam Á.”
Ít có một sắc dân nào nhập cư Mỹ có một lý lịch pháp lý, một căn cước tỵ nạn chánh trị, tỵ nạn CS rõ ràng như người Việt ở Mỹ.
Ba thập niên sau thôi, người Việt ở Mỹ thành một sắc dân thăng tiến rất mau trong xã hội đa sắc tộc, đa văn hoá và đa nguyên của Mỹ. Theo kết quả điều tra dân số năm 2010 của US Census Bureau, Cộng Đồng Người Mỹ Gốc Việt có 1,548,449 người, là một cộng đồng lớn hàng thứ tư trong khối người Mỹ gốc Á châu trong xã hội Mỹ. Tỷ lệ tăng dân số khá cao, trong 10 năm tăng khoảng nửa triệu người, cụ thể là 425,921 người, tức 38% dân số của người Mỹ gốc Việt. Cộng đồng Mỹ gốc Việt là một tập thể năng động, một cộng đồng trẻ hơn so tuổi trung bình toàn quốc. Người Mỹ gốc Việt là sắc dân nói tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ ở nhà nhiều hơn các sắc dân khác, kể cả người gốc Mễ. 68% là người sinh ra từ ngoài nước Mỹ nhưng 73% đã vào quốc tịch Mỹ. Người Mỹ gốc Việt quần cư nhiều nhứt tại 10 quận mà ba quận đông người gốc Việt nhứt là ở TB California. Cali là tiểu bang có nhiều người Mỹ gốc Việt nhứt, nhì Texas, ba Washington State.
Lợi tức trung bình đồng niên là $59,000 so với $62,000 toàn quốc. Chỉ có 12% người Mỹ gốc Việt sống dưới mức nghèo khó của liên bang (năm 2011, mức đó là $22,350 dành cho một gia đình 4 ngưới).
65% gia đình Mỹ gốc Việt làm chủ căn nhà mình đang ở, so với 66% của toàn quốc. Cộng đồng Mỹ gốc Việt có trên 229,000 cơ sở thương mại, kinh doanh, doanh thu $28.8 tỷ một năm. Người Mỹ gốc Việt rất năng động chánh trị, ghi danh đi bầu đông và cao nhứt so với các sắc tộc Á châu khác.
2010 mà đã như vậy, bây giờ 2012, với tỷ lệ sanh suất, sỡ hữu nhà cao, đậu đại học cao đó, thì hai năm sau, mức thăng tiến của cộng đồng người Việt ở Mỹ tăng lên nhiểu hơn nữa.
Về tiến trình hình thành, cộng đồng người Mỹ gốc Việt là một cộng đồng chánh yếu tỵ nạn chánh trị, qua một cuộc di tản vô tiển khóang hậu, kéo dài nhiều năm, vượt biên bằng nhiều cách, làm rúng động lương tâm nhân lọai, được định cư tại nhiều quốc gia tự do, dân chủ.
Cộng đồng người Việt ở nhiều nước cảm thấy thuộc về nhau, cùng chung nguồn gốc, lý tưởng dân tộc, nhân bản và, di sản là tự do, dân chủ, nhân quyền, liên lạc, nối kết nhau thành như một Việt Nam Hải ngọai.
Cộng đồng người Việt ở Mỹ là cộng đồng lớn nhứt ở hải ngọai, chiếm phân nửa dận số người Việt hải ngọai. Cộng đồng người Việt ở Mỹ lớn mạnh là do công lao của cả ba lớp người nhập lại, già, trung, trẻ chụm. Thế hệ thứ nhứt và một rưởi gạt nước mắt rời đất nước ra đi, mất tất cả: sự nghiệp, tài sản, quê cha, đất tổ, họ hàng, bè bạn. Và thế hệ thứ hai may mắn hơn, đến Mỹ còn tuổi học trò hay sanh trên đất Mỹ được hưởng nhiều cơ hội tiến thân. Nhưng cả ba lớp người ấy người Mỹ gọi là Vietnamese Americans, người Mỹ gốc Việt, và xếp vào trong khối sắc tộc thiểu số Asian Amereicans, người Mỹ gốc Á châu, đã đến Mỹ trước đó rất lâu.
Chữ Vietnamese Americans nhắc nhớ nguồn gốc VN, hồn thiêng sông núi Việt Nam, sắc tộc VN, căn cước pháp lý tỵ nạn CS của người Mỹ gốc Việt. Một nước nhà xa nửa vòng Trái Đất, đang nằm dưới gông cùm CS. Một lý do chánh trị và chánh yếu để tỵ nạn CS.
Cái giá của tự do mà người Việt di tản ra đi để tìm tự do và phải trả -- rất cao, cao lắm. Mắc hơn cái giá mà dân Pilgrims đã phải trả khi xuống tàu Mayflowers vượt Đại Tây Dương đi tìm tự do tín ngưỡng. Vì trước khi ra đi người Pilgrims chỉ bị mất quyền tự do tín ngưỡng, vẫn còn có quyền sống, đi không cần trốn; còn người Việt mất tất cả: quyền tự do tín ngưỡng, quyền sống như một Con Người, mất quê hương, mất quyền công dân ngay trên quê cha đất tổ, xứ sở, đất nước ơng bà của mình để lại. Mất nước là mất tất cả!
Ra đi phải trốn tránh hơn tội đồ của chế độ CS. Quân, dân, cán chánh VN Cộng Hoà bị CS gán cho cái án “Ngụy quân, Ngụy quyền” đi tù cải tạo không biết ngày về nhưng không hề xét xử. Việt Nam Cộng Hòa của Miền Nam về kinh tế bị “cào bằng” cho ngang hàng với Miền Bắc xã hội chủ nghĩa qua bao nhiêu đợt đổi tiền, đánh tư sản.
Vì lẽ đó quân dân cán chính VNCH phải tìm đường sống trong cái chết: vượt biên tỵ nạn CS. Phong trào Thuyền Nhân VN chấn động lương tâm Nhân loại và bàng hoàng Thế giới Tự do. Không có tắm máu nhưng quá nhiều lệ rơi, căm hận, chết dần chết mòn vì CS Hà nội.
Mỹ là nước nhận và giúp cho người Việt tỵ nạn CS định cư nhiều nhứt. Do vậy đối với người Mỹ gốc Việt, ơn nghĩa của nước Mỹ dang tay ra cứu khổn phó nguy lớn lắm. Ơn của nhân dân, chánh quyền Mỹ đối với người Mỹ gốc Việt lớn lắm. Và người Việt, do bản chất trọng nghĩa nặng tình, cảm thấy bổn phận ơn đền nghĩa trả rất lớn.
Người Mỹ gốc Việt “Tạ Ơn Mỹ” đã cứu khổn phò nguy người Việt khi sa cơ thất thế. Trên thế giới này ít có nước nào sau gần 37 năm chiến tranh mà còn đưa những người con em của những quân dân cán chính VN Cộng Hoà đồng minh đến để giúp đỡ và tiếp tục đều đều cho những người định cư ở Mỹ bảo lãnh con cái qua để đoàn tụ gia đình. Và ngay bây giờ Mỹ vẫn giúp những người bất dồng chánh kiến, đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN được định cư Mỹ, nếu bị CS Hà nội trù dập.
Người Mỹ gốc Việt “Tạ Ơn Mỹ” đã giúp đỡ cho người Việt hoà nhập nhanh chóng vào cuộc sống của xã hội Mỹ nhưng không gò ép, đồng hoá người Việt thành “Mỹ Da Vàng”.
Người Mỹ gốc Việt “Tạ Ơn Mỹ” đã giúp người Việt ăn nên làm ra, an cư lạc nghiệp, tự do theo đuổi hạnh phúc của mình theo ý mình.
Người Mỹ gốc Việt “Tạ Ơn Mỹ” đã giúp giương cao ngọn cờ nền Vàng Ba Sọc Đỏ phất phới tung bay khắp cả chục tiểu bang, cả trăm thành phố, quận hạt và đang trên đà lan rộng ra ở nước Mỹ. Một sự thừa nhận về pháp lý cũng như thực tại như biểu tượng, chánh nghĩa, khát vọng tự do, dân chủ của người Mỹ gốc Việt.
Người Mỹ gốc Việt “Tạ Ơn Mỹ” đã đưa vấn đề Nhân Quyền VN vào chánh quyền liên bang. Biền Nhân quyền VN thành trở ngại trung tâm trong bang giao giữa Hà nội và Washington DC. Mỹ luôn luôn đối thọai nhân quyền và lên tiếng bảo vệ nhân quyền VN, làm CS Hà nội rất bối rối.
Sau cùng, người Mỹ gốc Việt cũng như người Mỹ nói chung còn một Đại Trọng Ơn phải trả, một chánh nghĩa phải hoàn thành. Đó là ơn hai quốc gia dân tộc Mỹ, Việt đồng minh từng chiến đấu sát cánh bên nhau trong một chiến trường, trong Chiến tranh VN. Một cuộc chiến chưa thực sự chấm dứt; một kỳ vọng chưa đạt; một chánh nghĩa chung chưa thành; tự do, dân chủ, nhân quyền VN chưa có.
58.000 quân nhân Mỹ, 300.000 quân nhân Việt và nhiều rất nhiều thường dân VN hy sinh và gấp ba lần số đó đã để lại một phần thân thể, chưa ngậm cười nơi chín suối. Ám ảnh Chiến tranh VN ngày xưa và đấu tranh cho chánh nghĩa tự do, dân chủ, nhân quyền VN ngày nay chưa giải tỏa.
Người Mỹ và người Việt chỉ thua CS Bắc Việt một trận chiến (une bataille, battle) 30-4-1975, chớ không thua một cuộc chiến tranh (une guerre, war), Chiến Tranh VN. Kể cả người Mỹ lẫn người Việt phải tiếp tục chiến đấu và chiến thắng cho tự do, dân chủ, trong trận chiến sau cùng. Để Tạ Đại Ơn ấy, và để khép vĩnh viễn lại trang sử Chiến tranh VN và xoá đi ám ảnh hội chứng VN.
Đại Ơn ấy chỉ có thể trả xong khi người Mỹ lẫn người Việt cùng đấu tranh thành công cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN. Những giá trị đó cũng là lý tưởng lập quốc và chuẩn mực sinh hoạt dân chủ của Mỹ. Ngày tạ đại ơn đó là ngày chế độ CS Hà nội độc tài, đảng trị không còn nữa, Và chánh quyền VN mới sau một cuộc bầu cử trong sạch, dân chủ, tự do – sẽ đại diện cho nhân dân và chánh quyền VN đích thân đến Quốc Hội Mỹ cám ơn nhân dân và chánh quyền Mỹ đã giúp cho VN có dân chủ tự do và nhân quyền.
Ngày đáp đại nghĩa đó là ngày lãnh đạo quốc gia Mỹ, đại diện nhân dân và chánh quyền Mỹ đích thân đến Quốc hội VN mới cám ơn nhân dân và chánh quyền vì dân, do dân, của quốc gia dân tộc VN đã giúp cho Mỹ xoá đi vĩnh viễn ám ảnh, hội chứng Chiến tranh VN và hoàn thành sứ mạng tự do, dân chủ có tính lịch sử lập quốc và truyền thống xã hội của Mỹ. Đó cũng là ngày Tết lớn nhứt của người Việt trong ngoài nước đoàn tụ nhau sau bao nhiêu năm xa cách dưới mái nhà VN, trong vòng tay trìu mến của Mẹ VN./.
Đây là bài diễn văn hay nhất và chính xác nhất đề cập đến Quyền Làm Người dưới trái đất nầy.
Tổng Thống đã phân tích rõ ràng, mạch lạc 4 quyền căn bản nhất của con người trong thế giới hôm nay.
Ông kêu gọi Thế Giới nắm lấy 4 quyền tự do căn bản:
1- Tự do Ngôn Luận.
2- Tự do Thờ Phượng.
3- Tự do thoát khỏi sự bức bách của nhu cầu vật chất.
4- Tự do thoát khỏi sự Sợ Hải .
Bốn quyền tự do nầy củng cố lẫn nhau và bạn không thể thực hiện một mà không thực hiện tất cả chúng... Phát biểu của Tổng thống Obama Tại Đại học YANGON
Người dịch: Huỳnh Phan
Rangoon, Miến Điện 19-11-2012
TỔNG THỐNG OBAMA: Cảm ơn các bạn (Vỗ tay). Myanmar Naingan, Mingalaba! [Xin chào đất nước Myanmar](Tiếng cười và vỗ tay) Tôi rất vinh hạnh có mặt ở đây, tại trường đại học này và là Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ đến thăm đất nước của các bạn.
Tôi đến đây vì tầm quan trọng của đất nước các bạn. Các bạn sống ở ngã tư đường của Đông và Nam Á. Các bạn tiếp giáp với hai quốc gia đông dân nhất hành tinh. Các bạn có một lịch sử lâu dài hàng ngàn năm và có khả năng giúp xác định vận mệnh của khu vực phát triển nhanh nhất này trên thế giới.
Tôi đến đây vì vẻ đẹp và sự đa dạng của đất nước các bạn. Tôi đã thấy chỉ mới ngày hôm nay bảo tháp vàng Shwedagon, và đã xúc động bởi ý tưởng vượt thời gian của lòng từ bi (metta) – niềm tin rằng thời gian của chúng ta sống trên trái đất này có thể được xác định bằng sự khoan dung và tình yêu. Và tôi biết vùng đất này vươn từ các khu dân cư đông đúc của thành phố cổ này cho đến bản quán của hơn 60.000 làng quê, từ các đỉnh núi của dãy Himalaya, các khu rừng của bang Karen vươn tới hai bờ sông Irrawady.
Tôi đến đây vì lòng ngưỡng mộ của tôi đối với trường đại học này. Chính ở nơi đây, tại ngôi trường này, cuộc phản đối chế độ thực dân đầu tiên đã được tổ chức. Chính ở nơi đây, Aung San đã biên soạn một tạp chí trước khi lãnh đạo phong trào độc lập. Chính ở nơi đây, U Thant đã học được những con đường của thế giới trước khi dẫn dắt thế giới tại Liên Hiệp Quốc. Ở đây, việc học tập nghiên cứu đã phát triển mạnh trong thế kỷ qua và sinh viên đứng lên đòi các quyền cơ bản của con người. Bây giờ, cuối cùng Quốc hội của các bạn đã thông qua một nghị quyết đem lại sức sống mới cho trường đại học này và nó phải giành lại sự vĩ đại của mình, bởi vì tương lai của đất nước này sẽ được xác định bằng việc giáo dục thế hệ trẻ.
Tôi đến đây vì lịch sử giữa hai nước chúng ta. Một thế kỷ trước, các nhà buôn và các nhà truyền giáo Mỹ đã đến đây để tạo dựng các mối quan hệ về niềm tin, thương mại và tình hữu nghị. Và trên đất nước này trong chiến tranh thế giới thứ II, các phi công của chúng tôi đã bay tới Trung Quốc và nhiều binh lính của chúng tôi đã hy sinh mạng sống của họ. Cả hai nước chúng ta đều thoát khỏi Đế quốc Anh, và Mỹ là một trong những nước đầu tiên công nhận Liên minh độc lập Miến Điện. Chúng tôi tự hào đặt một Trung tâm Mỹ tại Rangoon và xây dựng các trao đổi qua lại với các trường học như thế này. Và qua nhiều thập kỷ của sự khác biệt, người Mỹ đã thống nhất trong tình cảm của mình đối với đất nước người dân này.
Trên hết, tôi đến đây vì niềm tin vào phẩm giá con người của Mỹ. Trong nhiều thập kỷ qua, hai nước chúng ta đã trở thành người xa lạ. Nhưng hôm nay, tôi có thể nói với bạn rằng chúng tôi luôn luôn vẫn hy vọng về người dân của đất nước này, về các bạn. Các bạn đã cho chúng tôi hy vọng và chúng tôi chứng kiến lòng can đảm của các bạn.
Chúng tôi thấy các nhà hoạt động mặc đồ trắng tới thăm gia đình các tù nhân chính trị vào chủ nhật và các nhà sư mặc áo vàng (saffron) biểu tình một cách ôn hòa trên đường phố. Chúng tôi được biết những người dân bình thường đã tổ chức các đội cứu trợ để ứng phó với một cơn bão, và được nghe tiếng nói của các sinh viên và nhịp đập của các nghệ sĩ hip-hop thể hiện tiếng nói tự do. Chúng tôi cũng biết những người lưu vong và người tị nạn không bao giờ mất liên lạc với gia đình hoặc quê quán của họ. Và chúng tôi được gợi cảm hứng từ phẩm giá kiên cường của Daw Aung San Suu Kyi, khi bà chứng minh rằng không có con người nào thực sự có thể bị bỏ tù nếu hy vọng còn cháy bỏng trong trái tim họ.
Khi tôi nhậm chức tổng thống, tôi đã gửi một thông điệp tới những chính quyền cai trị bằng sự sợ hãi. Tôi đã nói, trong bài phát biểu mở đầu, “Chúng tôi sẽ chìa tay ra nếu quý vị sẵn sàng thả lỏng nắm tay của quý vị”. Và hơn một năm rưỡi qua, một sự chuyển đổi nhanh chóng đã bắt đầu, khi một chế độ độc tài trong năm thập kỷ qua đã nới lỏng sự kìm kẹp của mình. Dưới quyền Tổng thống Thein Sein, mong muốn thay đổi đã được đáp ứng bởi một chương trình cải cách. Hiện nay một lãnh đạo dân sự đang đứng đầu chính phủ, và Quốc hội đang khẳng định chính mình. Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ vốn từng bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, đã đứng lên trong cuộc bầu cử, và bà Aung San Suu Kyi là một đại biểu Quốc hội. Hàng trăm tù nhân lương tâm đã được trả tự do, và lao động cưỡng bức đã bị cấm. Các thỏa thuận ngừng bắn bước đầu đã đạt được với quân đội các nhóm sắc tộc, và các luật mới tạo điều kiện cho một nền kinh tế cởi mở hơn.
Vì thế, hôm nay, tôi giữ lời hứa của mình và mở rộng tình thân hữu. Bây giờ nước Mỹ đã có Đại sứ tại Rangoon, cấm vận đã được nới lỏng, và chúng tôi sẽ giúp xây dựng lại một nền kinh tế có thể tạo ra cơ hội cho người dân, và có tác dụng như một động lực tăng trưởng cho thế giới. Nhưng cuộc hành trình đáng chú ý này chỉ mới bắt đầu, và còn nhiều điều phải tiếp tục. Cải cách được đưa ra từ trên cùng của xã hội phải đáp ứng nguyện vọng của những công dân hợp thành nền tảng của nó. Những đóm lửa lung linh của sự tiến bộ mà chúng ta đã thấy không phải bị tắt đi – chúng phải được sáng thêm, chúng phải trở thành một sao Bắc Đẩu soi sáng cho mọi người dân của đất nước này.
Và thành công của các bạn trong nỗ lực đó thì quan trọng đối với Hoa Kỳ, cũng như đối với tôi. Mặc dù chúng ta ở những nơi khác nhau, chúng ta cùng có những giấc mơ chung: được chọn lựa lãnh đạo của chúng ta, được chung sống hòa bình với nhau, được hưởng một nền giáo dục và có một cuộc sống tốt, yêu thương gia đình và cộng đồng của chúng ta. Đó là lý do tại sao tự do không phải là một ý tưởng trừu tượng, tự do chính là điều làm cho tiến bộ loài người có thể xảy ra, không chỉ ở các thùng phiếu, mà còn trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
Franklin Delano Roosevelt, một trong những Tổng thống vĩ đại nhất của Mỹ, đã hiểu rõ sự thật này. Ông xác định cứu cánh của Mỹ là điều gì đó hơn cái quyền bỏ phiếu. Ông hiểu dân chủ không chỉ là việc đi bầu.
Ông kêu gọi thế giới nắm lấy bốn quyền tự do cơ bản: tự do ngôn luận, tự do thờ phượng, tự do thoát khỏi sự bức bách của nhu cầu vật chất, và tự do thoát khỏi sự sợ hãi. Bốn quyền tự do này củng cố lẫn nhau, và bạn không thể hoàn toàn thực hiện một mà không thực hiện tất cả chúng.
Vì vậy, đó là tương lai mà chúng ta tìm kiếm cho chính mình, và cho tất cả mọi người. Và đó là những gì tôi muốn nói chuyện với các bạn hôm nay.
Trước tiên, chúng tôi tin vào quyền tự do bày tỏ để tiếng nói của những người dân bình thường có thể nghe được thấy, và các chính phủ phản ánh ý chí của họ – ý chí của nhân dân.
Tại Hoa Kỳ, hơn hai thế kỷ, chúng tôi đã làm hết sức mình để giữ lời hứa này cho tất cả các công dân của chúng tôi – giành được tự do cho những người bị bắt làm nô lệ, mở rộng quyền bầu cử cho phụ nữ và người Mỹ gốc châu Phi, bảo vệ các quyền của người lao động được có tổ chức.
Và chúng tôi nhận ra rằng không có hai quốc gia nào đạt được những quyền đó theo đúng cùng một cách, nhưng đất nước của các bạn sẽ mạnh hơn nếu biết dựa trên sức mạnh của toàn dân là điều không có gì bàn cãi. Đó là điều cho phép các quốc gia thành công. Đó là điều mà cải cách đã bắt đầu làm.
Thay vì bị đàn áp, quyền của người dân được tụ họp với nhau bây giờ phải được tôn trọng đầy đủ. Thay vì bị kiềm chế, bức màn kiểm duyệt các phương tiện truyền thông phải tiếp tục được tháo dỡ. Và khi các bạn thực hiện những bước này, các bạn có thể dẫn tới sự tiến bộ. Thay vì bị lờ đi, các công dân phản đối việc xây dựng đập Myitsone đã được lắng nghe. Thay vì bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, các đảng phái chính trị đã được phép tham gia. Các bạn có thể thấy tiến bộ đã được thực hiện. Như một cử tri đã nói trong các cuộc bầu cử quốc hội ở đây, “Cha mẹ và ông bà của chúng tôi chờ đợi điều này, nhưng không bao giờ thấy nó tới”. Và bây giờ bạn có thể nhìn thấy nó. Bạn có thể nếm mùi vị của tự do.
Và để bảo vệ tự do của tất cả các cử tri, những người nắm quyền phải chấp nhận những ràng buộc. Đó là những gì mà thể chế ở Mỹ được thiết kế để thực hiện. Hiện giờ, Mỹ có thể có quân đội mạnh nhất thế giới, nhưng nó phải chịu sự kiểm soát dân sự. Trên cương vị Tổng thống Hoa Kỳ, tôi đưa ra quyết định để quân đội thực hiện, không phải điều ngược lại. Là Tổng thống và Tổng Tư lệnh, tôi có trách nhiệm đó bởi vì tôi chịu trách nhiệm đối với nhân dân.
Ngược lại, bây giờ trên cương vị Tổng thống, tôi không thể chỉ việc áp đặt ý chí của tôi lên Quốc hội – Quốc hội Hoa Kỳ – mặc dù đôi khi tôi ước mình có thể làm điều đó. Ngành lập pháp có quyền hạn riêng và đặc quyền riêng của nó, và do đó, họ kiểm soát quyền lực của tôi và cân bằng quyền lực của tôi. Tôi bổ nhiệm một số quan toà, nhưng tôi không thể bảo họ phán quyết như thế nào, bởi vì tất cả mọi người ở Mỹ từ một đứa bé đang sống trong nghèo đói cho tới tôi, Tổng thống Hoa Kỳ – đều bình đẳng trước pháp luật. Và một quan toà có thể đưa ra quyết định về việc liệu tôi có tôn trọng luật pháp hay vi phạm pháp luật. Và tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước luật đó.
Và tôi mô tả hệ thống của chúng tôi tại Hoa Kỳ bởi vì đó là điều mà các bạn phải vươn tới trong tương lai mà các bạn xứng đáng được hưởng – một tương lai trong đó dù chỉ một tù nhân lương tâm cũng là quá nhiều. Bạn cần phải vươn tới một tương lai ở đó pháp luật thì mạnh hơn so với bất kỳ nhà lãnh đạo đơn lẻ nào, bởi vì nó chịu trách nhiệm đối với người dân. Các bạn cần phải vươn tới một tương lai mà không có trẻ em nào bị biến thành một người lính và không có phụ nữ bị bóc lột, và trong đó luật pháp bảo vệ họ ngay cả khi họ đang dễ bị nguy khốn, ngay cả khi họ yếu đuối, một tương lai trong đó an ninh quốc gia được củng cố bởi một quân đội phục vụ dưới quyền chỉ huy dân sự và Hiến pháp bảo đảm rằng chỉ có những người do dân bầu mới có thể cai trị.
Trên hành trình đó, Mỹ sẽ nâng đỡ các bạn từng bước trên đường- bằng cách sử dụng sự trợ giúp của chúng tôi để làm xã hội dân sự mạnh lên, bằng cách lôi kéo quân đội của các bạn nâng cao tính chuyên nghiệp và quyền con người, và bằng cách hợp tác với các bạn khi các bạn nối kết sự tiến bộ của các bạn hướng tới dân chủ với phát triển kinh tế. Vì vậy, thúc đẩy cuộc hành trình đó sẽ giúp bạn theo đuổi quyền tự do thứ hai – niềm tin rằng tất cả mọi người cần được tự do, thoát khỏi sự thúc bách bởi các nhu cầu vật chất.
Đánh đổi ngục tù của sự bất lực bằng nỗi đau của một dạ dày trống rỗng là chưa tương xứng. Nhưng lịch sử cho thấy rằng các chính phủ của dân, do dân và vì dân là mạnh hơn rất nhiều trong việc tạo ra sự thịnh vượng. Và đó là quan hệ đối tác mà chúng tôi tìm kiếm với các bạn.
Khi những người bình thường có tiếng nói về tương lai của họ, thì đất của bạn không dễ bị tướt đoạt. Và đó là lý do tại sao cải cách phải bảo đảm rằng người dân của quốc gia này có thể có hầu hết những quyền sở hữu cơ bản đó – quyền sở hữu mảnh đất mà các bạn sống trên đó và làm việc ở đó.
Khi tài năng các bạn được cởi trói, thì cơ hội sẽ được tạo ra cho tất cả mọi người. Mỹ đang bãi bỏ lệnh cấm các công ty kinh doanh tới làm ăn ở đây, và chính phủ các bạn đã bãi bỏ các hạn chế về đầu tư và đã thực hiện các bước mở cửa nền kinh tế. Và bây giờ, khi nhiều của cải hơn đổ vào đất nước của các bạn, chúng tôi hy vọng và mong rằng nó sẽ nâng nhiều người lên hơn. Không thể chỉ giúp những người ở tầng lớp trên, mà còn phải giúp tất cả mọi người. Và kiểu tăng trưởng kinh tế đó, tất cả mọi người trong đó đều có cơ hội – nếu bạn làm việc chăm chỉ, bạn có thể thành công – đó là điều làm cho một nước thay đổi nhanh chóng khi phát triển.
Tuy nhiên, kiểu tăng trưởng đó chỉ có thể được tạo ra nếu tham nhũng bị bỏ lại phía sau. Để đầu tư dẫn đến cơ hội, cải cách phải thúc đẩy ngân sách minh bạch và công nghiệp do tư nhân làm chủ.
Lãnh đạo bằng cách nêu gương, Mỹ khẳng định rằng các công ty của chúng tôi đáp ứng các tiêu chuẩn cao về sự cởi mở và minh bạch nếu họ làm ăn ở đây. Và chúng tôi sẽ làm việc với các tổ chức như Ngân hàng Thế giới để trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ và thúc đẩy một nền kinh tế cho phép các doanh nghiệp, doanh nhân nhỏ phát triển mạnh và cho phép người lao động giữ lấy những gì họ kiếm được. Và tôi rất hoan nghênh quyết định mới đây của chính phủ các bạn tham gia vào tổ chức mà chúng tôi gọi là Quan hệ Đối tác Chính phủ mở rộng của chúng tôi, để người dân có thể kỳ vọng về sự chịu trách nhiệm và biết được chính xác các khoản tiền được chi tiêu như thế nào và hệ thống chính phủ vận hành ra sao.
Trên hết, khi tiếng nói của các bạn được chính phủ nghe thấy, có nhiều khả năng các nhu cầu cơ bản của các bạn sẽ được đáp ứng. Và đó là lý do vì sao cải cách phải vươn tới cuộc sống hàng ngày của những người đang đói và những người đang bệnh, và những người sống không có điện, nước. Và ở đây, nước Mỹ cũng sẽ thực hiện phần của mình trong việc hợp tác với cácbạn.
Hôm nay, tôi tự hào thành lập lại phái bộ USAID của chúng tôi ở đất nước này, đó là cơ quan dẫn đầu về phát triển của chúng tôi. Và Hoa Kỳ muốn làm một đối tác trong việc giúp đất nước này vốn từng là vựa lúa châu Á, tái lập năng lực nuôi sống người dân, chăm sóc người bệnh, giáo dục trẻ em, và xây dựng thể chế dân chủ khi các bạn tiếp tục con đường cải cách.
Đất nước này nổi tiếng với nguồn tài nguyên thiên nhiên, và chúng phải được bảo vệ chống lại khai thác bừa bãi. Và chúng ta hãy nhớ rằng trong một nền kinh tế toàn cầu, nguồn tài nguyên lớn nhất của một nước là người dân. Vì vậy, qua việc đầu tư vào các bạn, quốc gia này có thể mở cánh cửa cho sự thịnh vượng hơn thêm nhiều – bởi vì mở khóa tiềm năng của một quốc gia phụ thuộc vào việc trang bị năng lực cho tất cả mọi người, đặc biệt những người trẻ.
Đúng như giáo dục là chìa khóa cho tương lai của nước Mỹ, nó cũng sẽ là chìa khóa cho tương lai của các bạn. Và vì vậy chúng tôi mong muốn hợp tác với các bạn, như chúng tôi đã và đang làm với nhiều nước láng giềng của các bạn, để mở rộng cơ hội và đào sâu thêm các trao đổi qua lại giữa các sinh viên của chúng ta. Chúng tôi muốn sinh viên từ đất nước này đến Hoa Kỳ học hỏi chúng tôi, và chúng tôi muốn sinh viên Mỹ đến đây học hỏi các bạn.
Và sự thật này dẫn tôi đến quyền tự do thứ ba mà tôi muốn thảo luận: sự tự do thờ thờ phượng – tự do thờ phượng như các bạn muốn, và quyền của các bạn đối với phẩm giá con người cơ bản.
Đất nước này, cũng giống như đất nước của tôi, được thiên nhiên phú cho sự đa dạng. Không phải mọi người đều giống nhau. Không phải tất cả mọi người đến từ cùng một khu vực. Không phải tất cả mọi người thờ phượng theo cùng một cách. Tại các thành phố và thị trấn của các bạn, có đền, chùa, nhà thờ [đạo Ki tô] và nhà thờ đạo Hồi đứng cạnh nhau. Hơn một trăm nhóm sắc tộc đã là một phần của câu chuyện của các bạn. Tuy nhiên, trong đất nước này, chúng tôi đã nhìn thấy một số cuộc nổi dậy kéo dài nhất thế giới, đã làm mất vô số mạng sống và xé rời nhiều gia đình và cộng đồng , và ngăn chặn con đường phát triển.
Không có quá trình cải cách nào thành công mà không có hòa giải dân tộc. (Vỗ tay) Bây giờ các bạn có một thời khắc của cơ hội đáng kể để chuyển các cuộc ngừng bắn thành một giải pháp lâu dài, và theo đuổi hòa bình ở nơi mà các mâu thuẫn vẫn còn nán lại, kể cả ở bang Kachin. Những nỗ lực này phải dẫn đến một nền hòa bình công chính và lâu dài hơn, bao gồm cả việc trợ giúp nhân đạo cho những người có nhu cầu, và một cơ hội cho những người di tản trở về quê.
Hôm nay, chúng ta nhìn vào vụ bạo động gần đây tại bang Rakhine vốn đã gây ra quá nhiều đau khổ, và chúng ta thấy sự nguy hiểm của tình trạng căng thẳng tiếp tục ở đó. Đã quá lâu, người dân của bang này, kể cả sắc dân Rakhine, phải đối mặt với cái nghèo và sự khủng bố nghiền nát. Nhưng không có sự biện minh nào cho hành động bạo lực chống lại người dân vô tội. Và người Rohingya giữ cho chính họ – giữ bằng chính họ cùng một phẩm giá như các bạn, và tôi giữ.
Hòa giải dân tộc sẽ cần thời gian, nhưng vì lợi ích chung của nhân loại, và vì tương lai của đất nước này, cần phải ngăn chặn sự kích động và ngăn chặn bạo lực. Và tôi hoan nghênh việc chính phủ cam kết giải quyết các vấn đề của sự bất công và tinh thần trách nhiệm, và tiếp cận trợ giúp nhân đạo và quyền công dân. Đó là một tầm nhìn mà thế giới sẽ ủng hộ khi các bạn tiến về phía trước.
Mọi quốc gia đều vật vã trong việc xác định quyền công dân. Mỹ đã có cuộc tranh luận lớn về những vấn đề này, và những cuộc tranh luận đó vẫn tiếp tục cho đến ngày nay, bởi vì chúng tôi là một quốc gia của những người nhập cư – những người đến từ mọi nơi trên thế giới. Nhưng những gì chúng tôi đã học được ở Mỹ là có một số nguyên tắc mang tính phổ quát, áp dụng cho tất cả mọi người dù hình dáng các bạn ra sao, dù các bạn đến từ đâu, dù các bạn đang theo tôn giáo nào. Quyền của người được sống mà không bị các mối đe dọa rằng gia đình của họ có thể bị tổn hại hoặc nhà ở của họ có thể bị đốt cháy chỉ vì họ là ai hoặc họ đến từ đâu.
Chỉ có người dân của đất nước này cuối cùng có thể định nghĩa sự hợp nhất của các bạn, có thể định nghĩa một công dân của đất nước này có nghĩa là gì. Nhưng tôi có niềm tin rằng khi các bạn làm điều đó, các bạn có thể nhận được sự đa dạng này như là một điểm mạnh chứ không phải là một điểm yếu. Đất nước của các bạn sẽ mạnh hơn vì có nhiều nền văn hóa khác nhau, nhưng các bạn phải nắm bắt cơ hội đó. Các bạn phải nhận ra thế mạnh đó.
Tôi nói điều này bởi vì đất nước của tôi và cuộc sống của riêng tôi đã dạy cho tôi về sức mạnh của sự đa dạng. Hoa Kỳ là một quốc gia của những người theo đạo Kitô, người Do Thái, người đạo Hồi, đạo Phật, đạo Ấn và người không có đạo. Câu chuyện của chúng tôi được định hình bằng mọi ngôn ngữ, làm giàu bằng mọi nền văn hóa. Chúng tôi có những người có gốc gác từ mọi miền trên thế giới. Chúng tôi đã nếm trải vị cay đắng của cuộc nội chiến và sự phân biệt, nhưng lịch sử của chúng tôi cho chúng tôi thấy rằng sự thù hận trong lòng con người có thể vơi đi, các lằn ranh giữa các chủng tộc và các bộ tộc sẽ phai dần. Và những gì còn lại là một sự thật đơn giản: e pluribus unum [từ nhiều thành một]- đó là những gì chúng tôi nói ở Mỹ. Từ số nhiều đó, chúng tôi là một quốc gia và chúng tôi là một dân tộc. Và sự thật đó , lặp đi lặp lại, làm cho sự hợp nhất của chúng tôi mạnh mẽ hơn. Nó đã làm cho đất nước chúng tôi mạnh mẽ hơn. Nó là một phần trong những điều đã làm nước Mỹ vĩ đại.
Chúng tôi đã sửa đổi Hiến pháp để mở rộng các nguyên tắc dân chủ mà chúng tôi yêu mến. Và tôi đứng trước các bạn hôm nay với cương vị Tổng thống của quốc gia mạnh nhất trên trái đất, nhưng thừa nhận rằng màu da của tôi đã từng bị từ khước quyền bầu cử. Và như thế điều đó sẽ cho bạn một ý thức nào đó rằng nếu đất nước của chúng tôi có thể vượt qua sự khác biệt thì các bạn cũng có thể. Mỗi người bên đất nước này là một phần của câu chuyện của các bạn, và các bạn nên nắm giữ điều đó. Đó không phải là nguyên nhân của sự yếu kém, đó là sức mạnh – nếu bạn nhận ra nó.
Và điều đó dẫn tôi đến quyền tự do cuối cùng mà tôi sẽ thảo luận hôm nay, và đó là quyền của tất cả mọi người được sống (tự do) thoát khỏi sự sợ hãi.
Trong nhiều cách, sợ hãi là lực cản ngăn chặn giữa con người và những ước mơ của họ. Sợ sự xung đột và vũ khí chiến tranh. Sợ một tương lai khác lạ với quá khứ. Sợ những thay đổi sắp xếp lại trật tự xã hội và nền kinh tế của chúng ta. Sợ những người trông có vẻ khác ta, hoặc đến từ một nơi khác lạ, hoặc thờ phượng theo một cách khác. Trong một vài giai đoạn đen tối nhất, lúc bà Aung San Suu Kyi bị cầm tù, bà đã viết một bài về thoát khỏi sự sợ hãi. Bà nói sợ mất mát làm hỏng những người nắm lấy nó – “Sợ mất quyền lực làm hủ bại những người sử dụng nó, và sợ bị trừng phạt quyền lực làm đồi bại những ai phụ thuộc quyền lực”.
Đó là nỗi sợ hãi mà bạn có thể để lại đằng sau. Chúng ta thấy rằng cơ hội ở các nhà lãnh đạo đang bắt đầu hiểu rằng quyền lực đến từ việc thoả mãn những hy vọng của dân, chứ không phải những sợ hãi của dân. Chúng tôi nhìn thấy điều đó ở những công dân khẳng định rằng lần này phải khác, rằng lần này thay đổi sẽ đến và sẽ tiếp diễn. Như bà Aung San Suu Kyi đã viết: “Sợ không phải là trạng thái tự nhiên của con người văn minh”. Tôi tin điều đó. Và hôm nay, các bạn đang cho thế giới thấy rằng sự sợ hãi không phải là trạng thái tự nhiên của cuộc sống ở đất nước này.
Đó là lý do vì sao tôi có mặt ở đây. Đó là lý do vì sao tôi đến Rangoon. Và đó là lý do vì sao những gì xảy ra ở đây rất quan trọng – không những đối với khu vực này mà còn đối với cả thế giới. Bởi vì các bạn đang bước vào một cuộc hành trình có khả năng truyền cảm hứng cho rất nhiều người. Đây là một thử nghiệm liệu một quốc gia có thể chuyển sang một vị thế tốt đẹp hơn.
Hoa Kỳ là một quốc gia Thái Bình Dương, và chúng tôi thấy tương lai của chúng tôi cũng ràng buộc với những quốc gia và các dân tộc này ở phía Tây của chúng tôi. Và khi nền kinh tế của chúng tôi hồi phục, chính đây là nơi mà chúng tôi tin rằng chúng tôi sẽ tìm thấy sự tăng trưởng to lớn. Khi chúng tôi kết thúc cuộc chiến tranh đã chi phối chính sách đối ngoại của chúng tôi trong một thập kỷ, khu vực này sẽ là một trọng tâm cho những nỗ lực của chúng tôi để xây dựng một nền hòa bình thịnh vượng.
Ở đây trong khu vực Đông Nam Á, chúng tôi nhìn thấy tiềm năng cho sự hội nhập giữa các quốc gia và người dân. Và với cương vị Tổng thống, tôi đã nắm lấy ASEAN vì lý do vượt ngoài thực tế là tôi đã sống một khoảng thời thơ ấu của tôi tại khu vực này, ở Indonesia. Bởi vì với ASEAN, chúng tôi thấy các nước đang trên đà phát triển – các nước đang lớn mạnh, và các nền dân chủ đang trỗi dậy; các chính phủ đang hợp tác với nhau; tiến bộ đang xây dựng trên sự đa dạng khắp các đại dương, các đảo, các cánh rừng và thành phố, các dân tộc thuộc mọi chủng tộc và mọi tôn giáo. Đây là những gì thế kỷ 21 nên như thế nếu chúng ta có đủ can đảm bỏ qua một bên sự khác biệt của chúng ta và đi tới phía trước với một ý thức quan tâm và tôn trọng lẫn nhau.
Và ở đây tại Rangoon, tôi muốn gửi một thông điệp tới khắp châu Á: Chúng ta không cần phải vạch rõ bằng ngục tù của quá khứ. Chúng ta cần phải nhìn về tương lai. Đối với lãnh đạo Bắc Triều Tiên, tôi đã đưa cho một sự chọn lựa: hãy dẹp bỏ vũ khí hạt nhân và chọn con đường hòa bình và tiến bộ. Nếu quý vị làm như thế thì quý vị sẽ thấy có một bàn tay rộng mở từ Hoa Kỳ.
Vào năm 2012, chúng ta không cần phải bám vào sự phân chia Đông, Tây, Nam, Bắc. Chúng tôi hoan nghênh sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc, láng giềng phía Bắc của các bạn, và Ấn Độ, láng giềng phía Tây của các bạn. Liên Hiệp Quốc – Hoa Kỳ sẽ làm việc với bất kỳ quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, muốn đóng góp cho một thế giới hòa bình và thịnh vượng hơn; công chính và tự do hơn. Và Hoa Kỳ sẽ làm bạn với bất kỳ quốc gia nào tôn trọng các quyền của công dân mình và có trách nhiệm về luật pháp quốc tế.
Đó là đất nước, đó là thế giới mà bạn có thể bắt đầu xây dựng ở đây tại thành phố lịch sử này. Quốc gia này vốn bị cô lập quá nhiều, có thể cho thế giới thấy sức mạnh của một khởi đầu mới, và chứng minh một lần nữa rằng cuộc hành trình tới dân chủ đi đôi với phát triển. Tôi nói điều này trong khi biết rằng vẫn còn có vô số người trên đất nước này, những người không được hưởng những cơ hội mà nhiều bạn ngồi đây được hưởng. Có hàng chục triệu người sống không có điện. Có những người tù lương tâm vẫn đang chờ đợi được thả ra. Có những người tị nạn và di tản trong các trại mà ở đó hy vọng vẫn còn là điều gì đó xa xôi khó với tới.
Hôm nay, tôi nói với các bạn, và tôi nói với tất cả mọi người có thể nghe tiếng nói của tôi – rằng Hoa Kỳ ủng hộ các bạn, kể cả những người đã bị lãng quên, những người bị tước đoạt, những người đang bị tẩy chay, những người nghèo khổ. Chúng tôi mang câu chuyện của các bạn trong đầu của chúng tôi và hy vọng của các bạn trong tim của chúng tôi, bởi vì trong thế kỷ 21 với sự lan toả của công nghệ và việc phá vỡ các rào cản, tuyến đầu của tự do nằm bên trong phạm vi các quốc gia và các cá nhân, không chỉ nằm giữa chúng.
Như một cựu tù nhân đã nói với đồng bào của ông: “Chính trị là công việc của các bạn. Nó không chỉ dành cho [các] nhà chính trị”. Và chúng tôi có một thành ngữ ở Hoa Kỳ rằng văn phòng quan trọng nhất trong một nền dân chủ là văn phòng công dân – không phải Tổng thống, Chủ tịch QH, mà là công dân. (Vỗ tay).
Vì vậy, cuộc hành trình này có thể có vẻ bất thường và khó khăn, đầy thử thách và đôi khi bực bội nhưng cuối cùng, các bạn, các công dân của đất nước này, là những người phải xác định tự do có nghĩa là gì. Các bạn là những người sẽ phải nắm bắt tự do, bởi vì một cuộc cách mạng thực sự của tinh thần bắt đầu trong mỗi trái tim của chúng ta. Nó đòi hỏi các loại can đảm mà rất nhiều nhà lãnh đạo của các bạn đã thể hiện.
Con đường phía trước sẽ được đánh dấu bằng những thách thức rất lớn, và sẽ có những người chống lại sức mạnh của sự thay đổi. Nhưng tôi đứng đây với sự tự tin rằng những gì đang xảy ra ở đất nước này là không thể đảo ngược, và ý chí của người dân có thể nâng đất nước này lên và tạo nên một ví dụ tuyệt vời cho thế giới. Và các bạn sẽ có Hoa Kỳ là một đối tác với các bạn trên cuộc hành trình dài đó. Vì vậy, cezu tin bad de [Xin cám ơn các bạn]. (Vỗ tay).
Ngô Nhân Dụng
Trong bài nói chuyện với sinh viên Ðại Học Rangoon tại thủ đô nước Miến Ðiện (Myanmar), Tổng Thống Barack Obama nói: “Hoa Kỳ là một quốc gia Thái Bình Dương và chúng tôi quan niệm tương lai nước mình gắn bó với các quốc gia và dân tộc ở phía Tây đại dương này.
Và khi kinh tế nước chúng tôi hồi phục, đây là nơi chúng tôi sẽ tìm được triển vọng phát triển lớn lao. Trong lúc đang chấm dứt những cuộc chiến tranh đè nặng trên chính sách ngoại giao của nước tôi trong hàng chục năm, vùng đất này sẽ là trung tâm điểm cho những nỗ lực của chúng tôi để xây dựng một nền hòa bình phồn thịnh.”
Chuyến công du đầu tiên của ông Obama sau khi tái đắc cử cho thấy mối quan tâm của ông đối với khu vực Á Ðông. Ông cũng nhấn mạnh đến vùng Ðông Nam Á, với “triển vọng hòa hợp giữa các quốc gia và các dân tộc.” Ông nói, “Trong khối ASEAN chúng ta thấy hình ảnh các quốc gia đang phát triển, những chế độ dân chủ đang thành hình...” Ông nói: “Ở đây, thành phố Rangoon, tôi muốn gửi một thông điệp cho toàn thể Á Châu: Chúng ta không nên bị tù hãm trong quá khứ. Chúng ta phải hướng về tương lai.”
Ðối với người dân Miến Ðiện, tương lai đã được hai người vạch ra: Tổng Thống Thein Sein và lãnh tụ đối lập, bà Aung San Suu Kyi. Khi nhắc tới các chế độ dân chủ đang đứng lên, ông Obama đã làm cho các thính giả người Miến hãnh diện. Họ đã mở đầu cuộc hòa giải giữa chính quyền quân phiệt và những người tranh đấu cho tự do dân chủ và bắt đầu các thay đổi định chế để xây dựng một nước Miến Ðiện mới. Ông Obama khuyên: “Cuộc cải tổ từ trên xuống cần phải đáp ứng với những khát vọng của người công dân từ nền tảng đưa lên.”
Obama nhắc đến cố Tổng Thống Mỹ Franklin Delano Roosevelt, người đã kêu gọi thế giới phải bảo đảm bốn quyền tự do căn bản: tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do không bị thiếu thốn, và tự do không sợ hãi. “Bốn quyền tự do đó hỗ trợ lẫn nhau, người ta không thể thực hiện một điều mà bỏ qua các điều khác.” Và để bảo đảm cuộc sống tự do dân chủ, “một quốc gia phải có bản Hiến Pháp bảo đảm rằng chỉ những người do dân chúng bầu lên mới được cai trị dân.” Ông mô tả dân chủ giống như một giấc mơ chung của tất cả mọi người: “Chúng ta đều mong ước: được lựa chọn lấy những người lãnh đạo; được hưởng một nền giáo dục và sống sung túc hơn; được thương yêu gia đình và cộng đồng quanh mình. Vì vậy tự do không phải là một khái niệm trừu tượng; tự do là điều chính yếu giúp cho loài người có thể tiến bộ - tự do không phải chỉ trong việc bỏ phiếu bầu, mà trong cuộc sống hàng ngày của mình.”
Với cách nói giản dị và cụ thể, ông tổng thống Mỹ đã khéo léo trình bày cho các sinh viên Ðại Học Rangoon hiểu thế nào là lối sống tự do dân chủ. “Trước hết, chúng tôi tin tưởng vào quyền tự do phát biểu để nghe được tiếng nói của người dân bình thường, và chính quyền phản ảnh khát vọng của dân. Thay vì bị đàn áp, từ nay quyền tự do hội họp của người dân phải được tôn trọng. Ngầm nhắc lại quá khứ độc tài quân phiệt cai trị nước Miến Ðiện trong nửa thế kỷ qua, ông Obama nêu lên mô hình dân chủ: “Hoa Kỳ là nước quân đội mạnh nhất thế giới, nhưng quân đội phải đặt dưới quyền chỉ huy của chính quyền dân sự. Tôi, là tổng thống, ra lệnh cho quân đội. Tôi gánh trách nhiệm đó vì tôi chịu trách nhiệm với dân chúng.”
Tiếp theo, ông nói một cách giản dị về quy tắc phân quyền: “Tôi là tổng thống nhưng tôi không thể buộc Quốc Hội phải theo ý mình - mặc dù có lúc tôi cũng muốn lắm. Ngành lập pháp có những quyền lực riêng của họ, nhờ thế họ kiểm soát quyền lực của tôi và tạo cân bằng với quyền lực của tôi. Tôi bổ nhiệm các vị thẩm phán, nhưng tôi không thể nào bảo họ phải phán quyết ra sao, bởi vì tất cả mọi người dân nước Mỹ - từ một trẻ em nghèo cho đến tôi, một người làm tổng thống - đều bình đẳng trước luật pháp. Một vị thẩm phán có thể phán xét chính tôi có theo luật hay là phạm luật. Và tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.”
Ông Obama trình bày viễn tượng kinh tế sẽ phát triển sau khi nước Miến Ðiện dân chủ hóa, nhưng ông cũng cảnh báo các mối rủi ro. Nhắc tới quyết định của chính quyền Mỹ ngưng cấm vận và chính quyền Miến Ðiện bắt đầu mở cửa, ông nói: “Khi các bạn được tự do sử dụng tài năng của mình, cơ hội sẽ tới cho tất cả mọi người. Và bây giờ, khi nhiều tiền bạc đổ vào trong nước các bạn, chúng tôi hy vọng và chúng tôi muốn thấy tất cả mọi người Miến Ðiện. Không thể để cho một thiểu số ở trên cùng được hưởng. Phát triển kinh tế chỉ đạt được nếu loại trừ được tham nhũng. Ðể cho các món tiền đầu tư tạo cơ hội cho tất cả mọi người, cuộc cải tổ phải đưa tới những quyết định ngân sách công khai và giới kinh doanh tư được hoạt động.”
Ông Obama có nhắc tới vụ một công ty Trung Quốc xây đập Myitsone bị đình chỉ sau khi dân biểu tình phản đối, và ca ngợi các tài nguyên phong phú của Miến Ðiện: “Xứ sở của các bạn đã nổi tiếng về những tài nguyên, nhưng các tài nguyên này phải được bảo vệ chống việc khai thác bóc lột.” Từ đó, ông chuyển sang tầm quan trọng của giáo dục: “Nhưng chúng ta không được quên điều là khi kinh tế toàn cầu hóa thì tài nguyên quan trọng nhất của một quốc gia là người dân nước đó. Ở nước Mỹ chúng tôi, giáo dục là chìa khóa cho tương lai, tôi thấy đó cũng là chìa khóa mở cửa tương lai quốc gia các bạn.”
Ông Obama đã khai triển về các quyền tự do căn bản như Tổng Thống Roosebelt nhắc đến. Khi bàn về quyền tự do không sợ hãi, ông đã dẫn lại một bài bà Aung San Suu Kyi viết trong lúc còn bị tù. Bà Suu Kyi viết rằng sợ hãi hủy hoại cả hai bên: Những người sợ mất quyền hành bị nỗi sợ làm hư hỏng, những người bị đè nén cũng bị nỗi sợ làm đồi trụy.” Aung San Suu Kyi cũng viết: “Sợ hãi không phải là tính tự nhiên của con người văn minh.” Ông Obama nói với các sinh viên: “Hôm nay tôi đứng đây, chính các bạn chứng tỏ cho cả thế giới thấy rằng sự sợ hãi không phải là bản cách sống tự nhiên của xứ sở này.” Ông ca ngợi “cuộc hành trình” dân chủ hóa của dân tộc Miến Ðiện có triển vọng sẽ “gây hứng khởi cho nhiều dân tộc khác.” “Tôi tin tưởng rằng nhiều điều đang diễn ra ở đất nước này sẽ không thể nào đảo ngược lại được; và ý chí của dân tộc Miến Ðiện sẽ nâng cao cả quốc gia lên để làm gương cho cả thế giới thấy.”
Tấm gương của dân tộc Miến Ðiện đang được mọi người Việt Nam nhìn với lòng ngưỡng mộ. Số phận hai dân tộc trước đây giống nhau: cùng sống dưới các chế độ độc tài khiến cho kinh tế tiến chậm nhất trong vùng Á Ðông. Nhưng dân Miến Ðiện đang nhìn thấy có tương lai, còn dân Việt Nam chưa biết ngày nào mới thoát. Ông Obama đã tới thăm Miến Ðiện mặc dù họ mới chỉ bắt đầu tiến trình dân chủ hóa chưa được hai năm. Ðiều đó chứng tỏ ông tin tưởng ở dân tộc Miến Ðiện, mà ông ghi nhận: “Hai nước chúng ta đều xuất phát từ trong Ðế quốc Anh; và Mỹ nằm trong số các quốc gia đầu tiên công nhận nước Miến Ðiện độc lập.”Cuộc viếng thăm của ông cũng là để giữ một lời hứa: Trong bài diễn văn nhậm chức năm 2009, ông Obama nhắc lại ông đã “gửi một thông điệp cho những chính quyền cai trị dân bằng sự sợ hãi.” “Tôi nói chúng tôi sẽ đưa bàn tay ra bắt nếu các ông chịu nới lỏng nắm đấm của các ông,” để giải thích tại sao ông đến nước Miến Ðiện để đưa bàn tay ra bắt tay.
Bản thông điệp tại Ðại Học Rangoon là thông điệp về tự do dân chủ. Ông Obama không trực tiếp nói với chính quyền các nước khác, nhưng ý kiến rất rõ ràng: Nếu các chính phủ độc tài chịu nới lỏng ách đè nén trên người dân thì nước Mỹ sẽ kết thân với tất cả các quốc gia tự do dân chủ. Ông còn nhắn nhủ cả chính quyền Trung Quốc: “Tôi hoan nghênh sự trỗi dậy trong hòa bình của Trung Quốc cũng như Ấn Ðộ. Hoa Kỳ sẽ cộng tác với bất cứ quốc gia nào, nhỏ hay lớn, nếu các quốc gia đó đóng góp vào một thế giới hòa bình hơn và thịnh vượng hơn, công bình hơn và tự do hơn. Hoa Kỳ sẽ là bạn của tất cả các quốc gia tôn trọng nhân quyền của các công dân nước họ và tôn trọng luật pháp quốc tế.”
Ai cũng biết rằng cuộc cải tổ chính trị ở Miến Ðiện đã phát khởi từ mối lo ngại của người dân nước này trước sự bành trướng ảnh hưởng của Bắc Kinh. Chính những người cai trị cũng nhìn thấy các hiểm họa trong việc di dân Trung Hoa, việc khai thác tài nguyên rừng, mỏ. Chính quyền Bắc Kinh cũng tìm cách mua chuộc các người lãnh đạo làm ung thối cả hệ thống cai trị, đặc biệt là trong những tỉnh vùng biên giới hai nước. Ðảng Cộng sản Việt Nam phải rút lấy một bài học từ Miến Ðiện. Phải trả lại các quyền sống dân chủ tự do cho 90 triệu người dân để kinh tế có cơ hội phát triển. Như ông Obama nhấn mạnh tại Rangoon: Chế độ Dân Chủ là một điều kiện cần để kinh tế phát triển.
Vi Anh
Bằng hành động đã in bản đồ hình lưỡi bò và phát hành sổ thông hành (passport) hay (hộ chiếu theo danh từ CS), Trung Cộng đã tuyên chiến với các nước trong vùng Á châu Thái Bình Dương, nhứt là Biển Đông.
Không còn nghi ngờ gì nữa, hành động tuyên chiến này, TC thể hiện sau lời tuyên bố của Chủ Tịch Đảng kiêm Chủ Tịch Nhà Nước, kiêm Chủ Tịch Quân Ủy trung ương của TC là Hồ cẩm Đào. Người lãnh đạo số 1 của đảng, nhà nước và quân đội của TC này trong đại hội đảng TC thứ 18 đã long trọng huấn thị và giao nhiệm vụ cho trung ương Đảng và Tập cận Bình và những lãnh đạo Đảng nối tiếp, là phải tiếp tục xác quyết chủ quyền trên các lãnh thổ đang tranh chấp với tư cách TC là một nước đang trở thành «cường quốc hải dương».
Thực vậy, sổ thông hành là căn cước, “chứng minh nhân dân” (danh từ CS) chánh quyền cấp cho công dân có quốc tịch, do Bộ Ngoại Giao thực hiện. Dù là thường trú nhân họp pháp cũng không được cấp passport mà chỉ được cấp giấy phép trở vào (re -entry permit) mà thôi. Còn đối với công chức, viên chức công tác ở ngoại quốc, sổ thông hành là giấy chứng nhận công tác ngoại giao dưới hình thức thông hành cộng vụ hay ngoại giao.
Nó rất quan trọng vì khi ra ngoại quốc người dân, người công chức chỉ sữ dùng số thông hành khi di chuyển, giao dịch với công tư sở nước sở tại, các sứ quán của nước nhà và các hảng máy bay của các nước.
Nên hầu hết các nước in danh xưng, quốc huy của nước mình trên bìa ngoài, bên trong là lý lịch cá nhân, có hình nhận dạng. Thời điện tử còn có mã số trong vạch đen. Đi ngang các trạm quan thuế, di trú máy rà đương nhiên ghi nhận.
Vì vậy có nhiều người Việt lớn tuổi ăn tiền SSI đi VN chơi quá một tháng, ra vào cổng trạm Quan Thuế và Di Trú tay cầm sổ thông hành Mỹ bìa xanh nước biển, in hình con ó trắng. Sĩ quan, di trú ở cổng vào ra dành cho công dân Mỹ chỉ giơ tay chào và khoác tay bảo đi thượng lộ bình an, không có xem xét số thông hành gì cả. Thế nhưng khi về Mỹ có khi bị Sở An Sinh Xã hội hỏi có đi ngoại quốc không. Nếu trả lời không thì cán sự nói y như rằng, đi và về ngày giờ nào. Và hỏi thêm tiền vé may bay lấy đâu ra mua. Nếu bảo con cháu, bè bạn cho cũng bị trừ vào tiền tháng của SSI vì tiền cho cũng là lợi tức ( income). Sở sẽ trừ vài chục một tháng, vì SSI theo tinh lý pháp chế Mỹ là tiền phu cấp thêm cho người lớn tuổi, lợi tức thấp, đủ sống sống ở Mỹ chớ không cấp để sống ở ngoại quốc. Nhứt là nước ngoài đó người nhập cư Mỹ chịu không nổi phải xin tỵ nạn như trường họp người Mỹ gốc Việt HO, thuyền nhân tỵ nạn CS với VNCS.
Số thông hành như thế là một giấy hết sức quan trong chứng minh nhân thân, lý lịch, công tác của công dân, công chức ở ngoại quốc và trong nước. Ứng cử vào chức dân cử ở Mỹ mà không có quốc tịch, không phải là công dân, tức người không đủ điều kiện xin passport là không được ứng cử.
Với một giấy chứng nhận quan trọng liên quan đến đối nội, đối ngoại cho công dân và công chức như vậy, mà TC in bản đồ hình lưỡi bò giành những vùng biển đảo của một số nước mà TC đang đơn phương tuyên bố chủ quyền -- rõ rệt là TC tuyên chiến với các nước bị TC lấn chiếm và tranh chấp lâu nay trên vùng biển Á châu Thái Bình Dương, từ Bắc xuống Nam qua Ấn độ, đạc biệt là vùng biển Đông Nam Á Thái Bình Dương.
Bị mất đảo mất biển nhiều nhứt, nặng nhứt là nước VN; bản đồ hình lưởi bò của TC liếm mất 80% Biển Đông của VN và hai quân đảo Hoàng sa và Trường Sa của VN. Phi luật tân bị chiếm vùng Bãi cạn Scarborough. Nhựt đang soi rọi xem coi vùng biển đảo của mình có bị hay không vì bản đồ quá nhỏ, dường như có dính hai dảo của Nhựt. Đài Loan soi rọi ra thấy bị chiếm hai thắng cảnh nổi tiếng của Đài Loan gồm Nhật Nguyệt đàm (hồ Thanh Thủy) và Thanh Thủy nhai (núi Thanh Thủy).Ấn Độ bị chiếm hai khu Aksai Chin và Arunachal Pradesh thuộc dãy Himalaya.
Với kiểu làm việc coi thường tập tục văn minh ngoại giao thế giới, với kiểu làm việc “bá quyền, bành trướng” lãnh thổ và lãnh hải, xâm chiếm của nhiều nước lân cận như vậy những phản ứng của thế giới, phản kháng của các nước trực tiếp bị xâm hại, chống TC -- thật là chính đáng, họp lý, họp tình.
Đây có thể là ngòi nổ của chiến tranh nếu các biện pháp ngoại giao chót không thành công. Không có vấn đề gì thấm thía lòng yêu nước của người dân, cắn rứt lương tâm dân chúng, tinh thần dân tộc cho bằng vấn đề giang sơn gấm vóc bị xâm lăng.
Lúc đó TC tuy là người Khổng Lồ nhưng chưa chắc thắng vì mãnh hổ nan địch quần hồ. Nhứt là trong thời TC trổi dậy thành một siêu cường kinh tế nhưng dân nghèo tỷ lệ cao trên thế giới và cư xử thiếu văn minh, gây nhiều kẻ thù trên thế giới. Đặc biệt là trong thời kỳ rất nhậy cảm, Mỹ chuyển trục quân lực và hải lực sang Á châu Thái Bình Dương, ai cũng thấy là Mỹ bao vây quân sự và kinh tế TC.
VN là nước bị TC xâm lấn biển đảo nhiếu nhứt qua cái bản đồ quái qủi này. Đã có phản ứng từ những người quân dân VN có nhiệm vụ biên phòng ở các tỉnh miền Bắc giáp giới với TC. Tin báo Tuổi Trẻ trong nước ngày Chủ Nhựt 25-12 cho biết, từ ngày thứ Sáu 23/11, một số trạm biên phòng của các tỉnh giáp giới với TC như Lào Cai, Móng Cái, Quảng Ninh đã "đóng dấu hủy hộ chiếu" có in hình đường 'lưỡi bò', đồ`ng thời đóng dấu thị thực vào tờ rời cho bốn công dân Trung Quốc này nhập cảnh Việt Nam.Dấu 'Hủy' có nghĩa hộ chiếu không có giá trị ở Việt Nam. Không rõ đây có phải là chủ trương của Nhà nước hay chỉ là 'sáng kiến' của một số đơn vị địa phương trong bối cảnh dư luận Việt Nam hết sức bực tức trước hành động TC.
VN không cô đơn. Các nước khác bị TC lấn chiếm biển đảo bằng bản đồ hình lưỡi bò trên số thông hành đang chiến đấu. Chiến đấu bằng hành động nhạy bén nhứt là Ân dộ. Ấn Độ phát hành visa (hộ chiếu) có hình bản đồ gồm bang Arunachal Pradesh và vùng Aksai Chin cho công dân Trung Quốc đến xin visa. Việc làm khôn khéo này đánh trực tiếp vào chánh quyền CS Bắc Kinh, mà không làm khó du khách TC, không thiệt hại ngành du lịch của Ấn độ, là một kỹ nghệ làm ra tiền mà không có khói ơ nhiễm môi sinh.
Phi luật tân, Đài Loan đều phản kháng TC qua đường lối ngoại giao. Hành động cụ thể như Ấn Độ và VN chưa thấy.
Lịch sử Việt Nam là một lịch sử chống xâm lăng liên tục, chống quân Tàu 1000 năm trong dòng sử 4000 năm. Anh hùng lịch sử VN đại đại đa số là anh hùng liệt nữ đánh quân Tàu.
CSVN đang nắm toàn diện chánh quyền VN. VN bị TC xấm lấn biển đảo nhiểu nhứt ở Đông Nam Á. Một là nhà cầm quyền CSVN sanh tử chống quân Tàu, bảo vệ giang sơn gấm vóc. Hai là trở thành tội đồ thiên cổ của lịch sử VN, khi tỏ ra nhu nhược như thông đồng mải quốc cầu vinh, cầu an để TC gấm nhấm đất nước ông bà VN để lại. Việc TC in hình bản đồ Biển Đông trên hộ chiếu của TC là một bằng cớ rõ ràng, như tướng Tàu tung quân qua đánh chiếm VN vậy.
VN không thể nói bằng miệng với TC nữa. Không hiếu chiến, không tấn công trước, nhưng VN phải dũng cảm phản công, phòng vệ chánh đáng như một quốc gia dân tộc kiên cường chống quân Tàu 1000 năm trong lịch sư 4000 ở Đông Nam Á, khiếnthế giới sử đánh giá rất cao.
VN không cô đơn. Đối ngoại, thế giới của đầu thế kỷ 21, Văn minh Nhân Loại, lương tri của Loài Người chánh trực không để cho một nước lớn đánh nước nhỏ đâu. Đối nội, chống quân Tàu xâm lược là con đường CS Hà nội trở về nguồn cội Việt, trở về với dân tộc VN, thống nhứt lòng dân, tái tạo lại nội lực dân tộc VN.
Công dân mạng thay đổi xã hội Ngô Nhân Dụng
Trong lục địa Trung Hoa hiện có 500 triệu người dùng Internet.
Tháng Tư năm ngoái, một bản tin đưa lên mạng Vi Bác (Sina.Weibo) cho biết một xe vận tải chở đầy chó đang đi trên đường cao tốc tới thành phố Trường Xuân, tỉnh Cát Lâm, chắc chỉ để làm thịt.
Các “công dân mạng” xúc động cùng hô hào đi cứu. Hàng trăm người đã ra xa lộ ngăn chiếc xe lại, họ mặc cả với người tài xế mua 520 chú khuyển với giá 115,00 nguyên, bằng 17,606 đô la, rồi trao cho các hội bảo vệ súc vật nuôi.
Tháng Tám năm nay, một quan chức đứng đầu Sở An Toàn Lao Ðộng tỉnh Thiểm Tây bị mất chức chỉ vì một tấm hình trên Internet. Bức hình cho thấy ông Dương Ðạt Tài (Yang Dacai) miệng tươi cười đang đứng bên đường ngắm cảnh tai nạn xe hơi, trong khi có 36 người chết. Ai coi cũng phẫn nộ. Các công dân mạng còn nêu ra chi tiết trên tay ông ta đeo một chiếc đồng hồ rất đắt tiền so với lương bổng của ông. Dương Ðạt Tài cũng lên mạng thanh minh, còn nói cái đồng hồ của ông chỉ đáng giá 55,000 nguyên, tương đương với 5,500 đô la. Ủy ban kỷ luật đảng ở tỉnh Thiểm Tây không những cách chức mà con điều tra xem ông ta làm gì mà đeo đồng hồ quý như vậy!
Năm trăm triệu công dân mạng là một “lực lượng xã hội” đáng kể. Họ có thể thay đổi nước Trung Hoa. Các lãnh tụ cộng sản biết điều đó. Và họ cũng tìm cách sử dụng sức mạnh xã hội này cho các mục tiêu của họ. Một cách lấy Internet làm vũ khí bài trừ tham nhũng. Vũ khí này đã được đem thử trong tuần qua trong việc cách chức một bí thư quận, thuộc thành phố Trùng Khánh. Nhưng theo diễn biến của câu chuyện thì động cơ đích thực của chiến dịch trên mạng không chắc đã vì công ích, mà còn do tranh chấp phe phái: Những người đang nắm quyền tấn công thêm những đòn mới trên phe cánh của một lãnh tụ đã bị ngã ngựa! Hiện tượng này không khác gì việc đã diễn ra ở Việt Nam, khi các lãnh tụ cao cấp dùng mạng Internet để phá lẫn nhau trước ngày họp hội nghị trung ương đảng gần đây.
Câu chuyện bắt đầu vào Thứ Ba tuần trước, khi một nhà báo đưa lên Vi Bác một đoạn phim dài 36 giây đồng hồ, trong đó có hình đôi trai gái đang ân ái. Có công dân mạng nhìn ra ngay người đàn ông đó là Lôi Chính Phú (Lei Zhengfu), 54 tuổi, đang giữ chức bí thư đảng ủy trong quận Bắc Bội (Beibei), thành phố Trùng Khánh. Sau ba ngày, Lôi Chính Phú bị cách chức và cuộc điều tra cho thấy cả một mạng lưới tham nhũng trong việc đấu thầu xây cất trong quận.
Ðoạn video trên là do một “ký giả công dân” Chu Thụy Phong (Zhu Ruifeng) ở Bắc Kinh gửi cho một mạng Internet ở Hồng Kông, một mạng chuyên nhận và phát đi các tin tức, tài liệu về tham nhũng ở Trung Quốc. Một ký giả khác, Kỷ Hứa Quang (Ji Xuguang) đã đưa phim lên mạng Weibo với lời chú giải. Ba ngày sau, đảng bộ cộng sản ở Trùng Khánh chính thức công nhận nhân vật nam trong phim là Lôi Chính Phú. Ban kỷ luật đảng đã cách chức Phú, với tội danh là “có nhân tình.” Tuy nhiên, làn sóng dư luận trên mạng đã khiến đảng cộng sản phải tuyên bố sẽ điều tra Lôi Chính Phú về các tội tham nhũng!
Ðảng bộ Trùng Khánh phải làm mạnh vì quá nhiều tin tức và ý kiến được loan truyền trên mạng. Nhà báo Chu Thụy Phong kể rõ là ông đã nhận được cuộn băng có cuốn phim dài 80 phút, do một người trong sở công an ở Trùng Khánh chuyển cho, cùng với những tài liệu khác trong đó có biên bản hỏi cung một nhà thầu xây cất. Nhà thầu này đã bị bắt năm 2009, cung khai rằng ông ta đã thuê nhiều cô gái, huấn luyện họ “bẩy chữ tám nghề” trước khi giới thiệu cho các quan chức trong đảng. Một cô gái họ Triệu được biếu cho Lôi Chính Phú, vì nhà thầu này từng bị Phú gạt ra ngoài nhiều lần. Một người anh hay em trai của Phú thường được trao cho các mối thầu lớn. Quận Bắc Bội là một ngoại ô giầu có phát triển rất nhanh tại Trùng Khánh, một thành phố 18 triệu dân. Phần lớn đất đai được đô thị hóa ở Bắc Bội vốn là đất trồng trọt của nông dân, bị quốc hữu hóa.
Cô Triệu, 18 tuổi, đã lén quay cuốn phim trên vào năm 2007, và sau đó ông nhà thầu được trúng nhiều mối lớn. Năm 2009, Lôi Chính Phú đã tự ý báo cáo đầu đuôi với sở công an Trùng Khánh do Vương Lập Quân cầm đầu, trong thời gian Bạc Lai Hy làm bí thư thành ủy. Ngay năm đó nhà thầu bị công an bắt, bị giam một năm, còn cô gái họ Triệu bị giữ một tháng.
Câu chuyện này được coi như chìm xuồng từ đó đến nay, kể cả sau khi Bạc Lai Hy bị mất chức, đang bị giam để truy tố, và bà vợ bị ra tòa kết án tử hình “treo” về tội giết người. Vương Lập Quân từng trốn vào tổng lãnh sự quán Mỹ ở Thành Ðô, sau đó đã bị tuyên án tù 15 năm vào Tháng Chín vừa qua. Lôi Chính Phú, một cán bộ trực tiếp dưới quyền Bạc Lai Hy, vẫn được ngồi yên hưởng lộc cho tới ngày Thứ Ba tuần trước. Bây giờ Phú bị cách chức vì phạm lỗi “có nhân tình,” một tội danh mà Bạc Lai Hy cũng bị truy tố! Các công dân mạng biết đây là thứ tội danh nhẹ nhất trong những tội lỗi của các quan chức cộng sản! Nhà báo công dân Chu Thụy Phong viết trên mạng là ông còn tài liệu và phim ảnh của năm quan chức khác ở Trùng Khánh, trong đó bốn người vẫn còn tại chức!
Một tuần sau khi đưa đoạn phim 36 giây lên mạng, Chu Thụy Phong vừa mới xin cảnh sát Bắc Kinh bảo vệ vì nhận được những lời dọa giết. Ai dọa giết Chu Thụy Phong? Chắc không phải là công an theo lệnh các lãnh tụ cộng sản. Họ đang muốn sử dụng những nhà báo công dân mạng. Không những cất chức nhanh chóng một bí thư quận ủy, đảng còn cho viết trên tờ Trung Quốc Nhật báo những lời kêu gọi “Nhà nước hãy coi Internet là đồng minh chống tham nhũng.”
Nhưng đằng sau vụ tiết lộ đoạn phim 36 giây này là một cuộc “đấu tranh nội bộ” giữa các phe cánh trong đảng Cộng Sản Trung Quốc. Sau khi Bạc Lai Hy bị hạ bệ, phe cánh của ông ta vẫn còn khắp nơi. Hơn một trăm cán bộ cao cấp và nhiều người được coi thuộc giới “trí thức” đã ký kiến nghị xin đảng giải oan cho Bạc Lai Hy. Tại Trùng Khánh, tay chân của Bạc Lai Hy vẫn còn, với túi tiền rất đầy, đủ để mua chuộc và kéo bè kéo cánh. Muốn đánh bật một bí thư quận, chính công an Trùng Khánh đã đưa hồ sơ, tài liệu mật cho một nhà báo để đưa lên mạng! Hành động cách chức Lôi Chính Phú nhanh chóng được báo chí của đảng cộng sản dùng để chứng tỏ là đảng tích cực chống tham nhũng! Ðiều này phù hợp với những lời tuyên bố của Hồ Cẩm Ðào trong đại hội đảng mới qua, mà Tập Cận Bình sau đó nhắc lại trong cuộc họp báo đầu tiên: Phải chống tham nhũng!
Trong phiên họp đầu tiên của Bộ Chính Trị mới, Tập Cận Bình cũng lập lại lời của Hồ Cẩm Ðào: Tham nhũng sẽ hủy diệt cả đảng lẫn quốc gia. Ông ta còn nêu lên thí dụ ở nhiều nước chính tham nhũng đã tạo ra bất ổn xã hội, đưa tới việc lật đổ hệ thống chính trị; mà không nói đích danh tới Cuộc Cách mạng Mùa Xuân Á Rập.
Việc tố giác và điều tra, truy tố bí thư quận ủy Lôi Chính Phú vừa tô hồng cho vai trò của Tập Cận Bình, vừa là một đòn đánh lên Bạc Lai Hy, trước khi đưa lãnh tụ phái vương tôn này ra tòa, cũng về các tội tham nhũng và có nhân tình! Những tội lỗi của Lôi Chính Phú sẽ được trình bày nằm trong một mạng lưới tham nhũng, lạm quyền do vợ chồng Bạc Lai Hy cầm đầu.
Màn hoạt cảnh đấu tranh nội bộ này không khác gì tình cảnh đã được người Việt Nam chứng kiến vào đầu mùa Hè năm nay. Những phe phái trong Bộ Chính Trị cộng sản Việt Nam cũng sử dụng mạng Internet để đấu đá lẫn nhau, theo một cung cách cạn tầu ráo máng, một mất một còn. Phe Nguyễn Tấn Dũng tố Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng, phe Trương Tấn Sang tố lại Nguyễn Tấn Dũng. Và tất cả những lời tố cáo đó đều nhắm làm nổi bật những tội lỗi mà người dân bình thường ai cũng biết: Tham nhũng, lạm quyền, lấy của công làm của tư, hèn yếu trước ngoại bang và tàn ác với người dân bị cướp đoạt ruộng vườn, tài sản. Cuối cùng, hai phe vẫn phải bám lấy nhau, vì không thể tiêu diệt nhau được. Bám lấy quyền hành là lẽ sống của các lãnh tụ cộng sản trong những ngày cuối cùng còn chiếm độc quyền cai trị để làm giầu cho bản thân, gia đình và bè phái.
Vì vậy người dân bình thường ở Trung Quốc nghi ngờ những động cơ đằng sau việc đưa lên mạng đoạn phim 36 giây. Một người ở Bắc Kinh nói với nhà báo: Ngoài vụ tham nhũng như ông Lôi Chính Phú này thì người dân thường chúng tôi đâu có ai đụng vô được? Chỉ có các ổng mới có thể đập lẫn nhau thôi! Người ta cũng biết rằng Bạc Lai Hy không phải là người duy nhất trong đám lãnh tụ cao cấp đã lạm quyền, tham nhũng. Lôi Chính Phú cũng không phải là người duy nhất trong đám cán bộ cấp trung làm bậy. Các công dân mạng ở Trung Quốc biết điều đó. Họ đang sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng Internet thay đổi xã hội Trung Hoa. Cuộc thay đổi diễn ra từ từ, nhưng nhất định sẽ thay đổi, không thể nào cưỡng lại được.
Sau vụ “cứu 520 chú khuyển” năm ngoái, các công dân mạng cũng tranh luận với nhau trên Internet. Nhiều người tỏ ra bất mãn vì bao nhiêu tiền lạc quyên để cứu mấy con chó, để được đưa lên ánh sáng, trong lúc hàng triệu người Trung Hoa đang đói khổ, thiếu thốn; dùng tiền đó cứu trợ các nạn nhân thiên tai còn ích lợi hơn. Nhưng nhiều người khác vẫn hoan nghênh nỗ lực của các công dân mạng cứu chó, và tình nguyện đóng góp thêm vào công tác này. Một ý kiến dung hòa, nói rằng việc cứu chó tuy nhỏ nhưng rất có ý nghĩa. Bởi vì đó là một hành động chứng tỏ xã hội Trung Hoa đã thay đổi, văn minh hơn. Một microblogger lấy tên là Cầu Gẫy thuyết phục mọi công dân mạng khác rằng hành động cứu 520 con chó là một biến cố cho thấy ý thức của người Trung Hoa đang lên cao trước các vấn đề chung của xã hội. Ðó là một dấu hiệu tiến bộ, văn minh. Khi ý thức bổn phận đối với xã hội được lên cao, người ta sẽ lo lắng cho số phận con người nhiều hơn!
Các công dân mạng ở Việt Nam cần hoạt động mạnh hơn để góp phần thay đổi xã hội nước ta. Ðầu thế kỷ trước, Phan Châu Trinh đã nêu những khẩu hiệu Nâng cao dân trí, Hưng phấn dân khí lên hàng đầu. Sau 100 năm các cầu đó vẫn còn nguyên! Internet là một phương tiện hữu hiệu trong công tác này. Phải đòi trả tự do cho Ðiếu Cầy, Tạ Phong Tần, Anh Ba Sài Gòn, và các blogger đang bị tù đầy vì sử dụng quyền thông tin trên mạng nâng cao dân trí và dân khí đồng bào!
Sáng Thứ Hai, 12 tháng 11, 2012, tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng, ngay trước trụ sở Phủ Thủ Tướng,
một số bà con dân oan từ Bình Dương và Thanh Hóa tụ tập đưa kiến nghị và đơn kiện nhân cuộc họp Quốc Hội đang diễn ra.
Nông dân khiếu kiện ngồi bên ngoài văn phòng Quốc Hội ở Hà Nội năm 2007. (Hình minh họa: Frank Zeller/AFP/Getty Images)
Một lực lượng công an hùng hậu đã được huy động đến đàn áp. Theo nhân chứng trong cuộc là bà Trần Thị Huỳnh Mai đến từ Bình Dương, vài chục công an hùng hổ cầm dùi cui xông vào chửi bới, đánh đập bà con, giật xé biểu ngữ. Cụ Hà Thị Nhung, 76 tuổi, từ Thanh Hóa ra, lớn tiếng đọc những câu vè chống tham nhũng đã bị một nhóm công an xông đến xô ngã và đánh vào chỗ hiểm. Cụ ngất tại chỗ. Nhóm công an hèn nhát bỏ chạy tuy chúng có sẵn xe có thể chở cụ đi cấp cứu. Cụ Nhung tắt thở sau đó.
Cụ Lê Hiền Ðức, một nhà giáo nổi tiếng liêm khiết và bênh vực dân oan, từng được giải thưởng quốc tế về “chống tham nhũng, lành mạnh hóa xã hội,” cũng có mặt ngay sau đó và lên tiếng nói rõ trường hợp giết người của nhóm công an trước cơ quan chính phủ và cơ quan Trung Ương đảng CS ngay sát đó. Cụ Hà Thị Nhung vốn là cán bộ, từng được thưởng huân chương Kháng Chiến hạng hai, bị bọn cường hào CS địa phương hiếp đáp, tịch thu sổ lương hưu, nhiều lần khiếu nại suốt 3 năm nay vẫn không được giải quyết. Lần này cụ đấu tranh quyết liệt khi được tin kỳ họp Quốc Hội lần này tỏ rõ ý chí chống tham nhũng. Không ai ngờ cụ đã bỏ mình mang theo nỗi hờn căm và oan khiên chồng chất. do hành động côn đồ của những người tự gọi là “công an nhân dân.”
Trước xã hội, trong mấy năm gần đây, lực lượng công an từ thoái hóa, suy đồi đã trở nên tận cùng đồi bại và hung dữ, trở nên một tai họa kiêu binh lớn cho lương dân. Tham quan ô lại và công an hung bạo là 2 thế lực đen tối câu kết với nhau trong một chế độ “hèn với giặc, ác với dân” ngày càng tàn phá tan nát xã hội Việt Nam, trở thành 2 tai họa quốc gia. Ðây là một nhận định phổ biến, chính xác và sâu sắc của hầu như toàn xã hội hiện nay.
Cuộc phê bình và tự phê bình của Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư đảng CS vừa qua lẽ ra phải nêu rõ tình hình cực kỳ ngiêm trọng trên đây để giải quyết tận gốc, cuối cùng chỉ làm trò cười cho thiên hạ, khi không trừng phạt, không thi hành kỷ luật một ai, xí xóa cho nhau mọi tội lỗi cũ trong cuộc họp của đảng, sau đó ép Quốc Hội phải tuân theo, theo kiểu hòa cả làng.
Tại Quốc Hội có 2 đại biểu Ðỗ Văn Ðương và Võ Thị Nhung hùa theo ý của lãnh đạo, đề ra “sáng kiến” tối om là cán bộ các cấp sẽ cùng nhau long trọng “tuyên hứa” - như là tuyên thệ - từ nay trở đi xin chừa, thôi, tuyệt nhiên không ăn bẩn nữa, làm cho công luận bật cười và nổi giận.
Ai cũng biết chống tham nhũng không thể đơn thuần dựa vào lời thề, lời hứa suông, như dân gian từng nói “thề như cá trê chui ống,” “hứa xong rồi lại nuốt lời như chơi.” Kinh nghiêm Ðông Tây, kim cổ đều cho biết lương tâm, đạo đức của con người phải kèm theo luật pháp và kỷ luật, tự giác phải được kèm theo răn đe, cưỡng chế. Chính ông tổ lý luận CS là Karl Marx chỉ ra bản chất tham lam của con người, rằng được lợi nhuận 20% là nó phấn chấn, lợi nhuận 50% là nó hăng hái, lợi nhuận 100% là nó liều lĩnh dù có thể bị tù đầy, lợi nhuận hơn 100% thì dù có thể lên máy chém nó cũng lao vào vơ vét. Càng giàu càng tham.
Công an là tai họa của dân, đó là kết luận của chính một số sĩ quan trẻ trong Bộ Công An mới đây, khi anh em tố cáo Ðại tướng Bộ trưởng Lê Hồng Anh, được anh em trong Bộ Công An gọi là ông Út Heo, Út Tạ, Út Hề hề, rất tự mãn do một ngày nhảy từ dân thường lên đại tướng, không một ngày luyện tập, không một buổi học hành chuyên môn, suốt 2 khóa ủy viên Bộ Chính Trị, 2 khóa Quốc Hội, im thin thít, không phát biểu một lần nào, không hề có ý kiến về bất cứ vấn đề gì. Chỉ biết hề hề, ăn ngon, ngủ kỹ, chuyên xem phim chưởng rồi nghe vọng cổ thâu đêm. Ông chuyên ưa thích lễ lạt, trao huân chương, phong cấp cho cấp dưới, còn những chuyện tày trời như công an giết chết người qua tra tấn hỏi cung, công an chửi bới đạp giày vào mặt dân thì ông hoàn toàn làm ngơ.
Nhưng ông Lê Hồng Anh đã không những không bị kỷ luật, còn được đưa lên làm ủy viên thường trực Ban Bí Thư Trung Ương đảng. Quá trình suy thoái của nhóm kiêu binh tham ô này vẫn được người kế nhiệm ông là Tướng Trần Ðại Quang thúc đẩy, khi ông này bị tố cáo khai man bằng thi, khai man 3 năm tuổi. Do đó mà việc đánh dân, chửi dân, giết dân, móc túi dân của đoàn quân “anh hùng Núp” kết hợp với xã hội đen vẫn cứ diễn ra tàn bạo, liều lĩnh hơn.
Vụ giết người ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng dù có được đưa ra tòa án thì cũng lại chỉ là trò hề. Vì chánh án tòa án tối cao vẫn là ông tướng công an Trương Hòa Bình, người đóng vai trung tâm đạo diễn các vụ án lớn, khi viên công an Vũ Văn Ninh giết ông Trịnh Xuân Tùng, cha cô Trịnh Kim Tiến, chỉ bị tù 4 năm, còn nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình bị tù đến 6 năm chỉ vì những bản nhạc và lời ca yêu nước. Và rồi các viên công an sát nhân sẽ được bí mật ra tù rất sớm.
Ông đương kim thủ tướng cũng từng là thứ trưởng Bộ Công An và nhiều chủ tịch tỉnh hiện cũng là tướng công an. Chế độ độc đảng cũng là chế độ công an trị.
Những bầy sâu trong ngành công an đang là đại họa của dân. Vụ giết bà cụ 76 tuổi Hà Thị Nhung đang là một dẫn chứng nóng hổi. Các ông bà nghị đang họp có ai đặt ra vấn đề này để giải quyết tận gốc hay không? Ðại họa này chính do một số sĩ quan trẻ - công an là bạn dân - ở ngay Bộ Công An và các tổng cục trong bộ lên tiếng cảnh báo.
Cái gì quý người ta thường ví như vàng. Đây là kiểu ví von truyền thống đã thành một thành ngữ của Việt Nam, và không chỉ của riêng Việt Nam, mà còn là chung của thế giới. Thậm chí ví von nghĩa bóng người ta cũng dùng đến vàng, như nguyên tắc vàng, ông bạn vàng, khu đất vàng, thời điểm vàng, đám cưới vàng ..v..v.. Còn ở Việt Nam hiện nay vấn đề gì nổi trội vì sự khó khăn, khó đoán biết, liên tục thay đổi thì người ta nói là “nóng như thị trường vàng” hoặc “điên như giá vàng”. Răng lại có cớ sự như rứa ở cái đất nước Việt Nam nghèo nàn lạc hậu này ?
Từ khi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam quyết định mở cửa và cởi trói cho nền kinh tế từ đầu thập niên 90 thế kỷ trước sau gần nửa thế kỷ vừa đóng cửa vừa lấy còng số 8 trói chặt nền kinh tế để đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa thì các nhà lãnh đạo vĩ đại của cộng sản hơi choáng váng vì thấy dân vẫn cất giấu được khá nhiều vàng. Lãnh đạo cộng sản tưởng rằng sau những vụ cướp vĩ đại mà họ đã làm như vụ Cải cách ruộng đất, Cải tạo tư sản, Cải tạo công thương nghiệp – là những vụ lớn, và vô vàn những vụ nhỏ mang tính chất thường xuyên mà các cấp địa phương, cấp nhỏ hơn đến nay vẫn làm hàng tháng, hàng ngày để cống nạp lên cấp to hơn, thì tưởng rằng vàng trong dân đã được moi gần cạn hết rồi. Ấy vậy mà đến cuối mùa hè năm 2008 khi lạm phát phi mã bộc lộ và thấm thía đến từng người dân để mở đầu cho thời kỳ suy thoái kéo dài đến tận bây giờ thì giá vàng tăng đến 60% chỉ trong vòng 2 tháng từ khoảng 1,8 triệu đồng/chỉ tăng vọt lên 2,9 triệu đồng/chỉ. Thành ngữ “điên như giá vàng” phổ biến từ đấy.
Ngộ nhất là mùa hè năm ấy ở trong tù, tù nhân khố rách chúng tôi cũng bàn tán xôn xao và theo dõi sát sao giá vàng từ sáng mở mắt dậy đến tận đêm có kẻng báo ngủ gõ đinh tai nhức óc, thì giá vàng hôm nay thế nào, lên bao nhiêu rồi cứ gắn chặt vào mồm vào miệng để hỏi nhau, kể cho nhau, buôn dưa lê với nhau. Đến bản tin tài chính trên tivi thì cả phòng im phăng phắc, các đôi tai lừa ve vẩy lắng nghe tin. Tự khắc mà chăm chú tập trung hết chỗ nói!
Tại thời điểm cuối năm 2008 đó việc giá vàng tăng vọt và sau đó không bao giờ hạ xuống nữa có nguyên nhân là do khi ấy hậu quả tai hại của nền kinh tế nội lực yếu, vốn phần lớn là đầu tư nước ngoài còn phần vốn trong nước lại chủ yếu là vốn đối ứng được chuyển từ “giá trị quyền sử dụng đất” góp vào, và nền kinh tế vừa được vu cho là kinh tế thị trường lại vừa được chỉ đạo dẫn dắt theo chủ nghĩa xã hội, có thể hiểu ngắn gọn là kinh tế tư bản kiểu cộng sản. Trong nền kinh tế này, cái phần thị trường lại chính là tư bản kiểu nguyên thủy man rợ mà chính phe cộng sản (Không biết họ có thực học và thực hiểu về kinh tế tư bản không?) luôn vu cho các nước tư bản là như thế: người bóc lột người, tàn phá thiên nhiên, khai thác tận diệt tài nguyên, lừa đảo chộp giật đủ kiểu. Phần định hướng xã hội chủ nghĩa thì là: kiên định quyết tâm bất chấp mọi thủ đoạn đảng cộng sản phải lãnh đạo mọi mặt nền kinh tế tức là tất cả các tổ chức kinh doanh sản xuất đều phải có sự cho phép của đảng cộng sản khi thành lập, khi đang hoạt động và ngay cả khi phá sản.
Ngoài ra, đảng cộng sản còn lãnh đạo tuyệt đối mọi tổ chức kinh doanh của nhà nước và áp đặt tất cả tổ chức kinh tế quốc doanh này phải là chủ đạo. Từ đó trút vô tội vạ vốn từ ngân sách nhà nước do nhân dân còm cõi lầm than đóng thuế vào các tập đoàn, tổng công ty nhà nước như vào một cái thùng không đáy để các thể loại nhân sự của những tổ chức kinh tế quốc doanh từ tổng giám đốc tới nhân viên bảo vệ đều 100% phải là con cháu người quen của các tầng tầng lớp lớp đảng viên cộng sản làm sếp to, sếp nhỏ của cơ quan ấy mới được vào làm. Cái nền kinh tế như thế, sau 20 năm sung sướng xả hơi vật vả kiếm tiền cho hả, cho bõ để bù lại gần 40 năm bị cùm, bị trói, bị bịt mắt ấy thì đến năm 2008 – như một kết thúc tất yếu, bộc lộ hết bản chất nửa dơi nửa chuột của mình ra và cả nước chính thức bước vào thời kỳ suy thoái thật sự do chính mình gây ra – chứ không do giọng điệu tuyên truyền láo lếu nhảm nhí ra rả đêm ngày là do suy thoái kinh tế thế giới nói chung ảnh hưởng đến Việt Nam. Suy thoái kinh tế thế giới nói chung ảnh hưởng đến Việt Nam đương nhiên là điều tất yếu, nhưng nó chỉ là một phần mà không phải là nguyên nhân chính khiến nền kinh tế Việt Nam như thế này.
Và khi ấy người dân lại càng tin, càng muốn cất trữ tài sản mà mình làm ra vào một thứ có giá trị bền vững và phổ biến nhất – là vàng. Ngoài ra cần phải nói thêm rằng người Việt Nam từ trước đến giờ vẫn có thói quen cất trữ tài sản vào vàng như vậy. Ấy là do trong lịch sử Việt Nam, có thể nói chưa bao giờ nước ta được lãnh đạo bởi những vị vua sáng suốt tài giỏi thương dân đến mức coi sự thịnh vượng và tiến bộ của dân chúng là thành công, vinh quang và hạnh phúc của người cầm quyền. Có thể nói gần như tất cả những vị vua của Việt Nam trong quá khứ và hiện nay nếu nói điều ấy thật lòng thì cũng chỉ ở mức muốn dân chúng đủ ăn đủ mặc để an phận làm con dân mà thôi.
Đến giữa năm 2011 thì nền kinh tế bắt đầu rơi vào vùng đáy của suy thoái và không ai biết được khi nào sẽ thoát khỏi suy thoái khi mà các dấu hiệu thì rất nhiều người thấy, và cũng nhiều không ít hơn số ấy là dự đoán của các chuyên gia hàng đầu của rất nhiều trường phái học thuật tài chính kinh tế, nhưng tựu trung lại cũng chỉ là vấn đề niềm tin và đạo đức, rằng “Khi nào mọi thứ trở lại/về giá trị thực của nó thì kinh tế sẽ phục hồi.”. Chân lý này thường bị quên trong nhiều trường hợp, và đặc biệt hay bị quên trong lĩnh vực kinh tế. Tất nhiên những lãnh đạo cộng sản chóp bu hoàn toàn nhận thấy rõ điều ấy, thậm chí còn nhận thấy trước dân chúng rất nhiều. Do đó, một mặt họ vẫn tiếp tục ngu dân, mỵ dân bằng những bài tuyên truyền nhảm nhí, một mặc ra sức thu vén tư lợi bất chính bằng việc in tiền khống. Không gì thu lợi được nhiều hơn từ bóc lột và tận thu cùng kiệt sức lực và tài sản của dân.
Và, vàng chính là thứ mà người dân tích lũy nhiều nhất công sức lao động của mình vào để tránh lạm phát ăn mòn tài sản của họ. Nhu cầu chính đáng này là phổ biến và bình thường ở một đất nước mà việc thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt và niềm tin của của người dân vào nền kinh tế và giá trị đồng tiền là rất kém. Do vậy, phải tìm mọi cách để lấy được vàng của dân ra, vì vàng thì chính quyền không sản xuất khống được như là việc in tiền-suy cho cùng cũng chỉ là tờ giấy, mà lại là giấy nội địa, loại giấy có mặt ông Hồ to tướng mà chỉ cần sang tới Thái Lan thôi đã chẳng ai thừa nhận, không còn chút giá trị nào.
Thế là Nghị định 24/2011 ra đời, hiệu lực tháng 5.2012 đến nay mới chỉ 6 tháng mà đã làm thất điên bát đảo thị trường vàng Việt Nam vốn đã không ổn định, thì nay nhờ có chính phủ trứ danh của ông Dũng mà trở nên quái đản dị thường chưa từng thấy. Xin điểm ngắn gọn vài hậu quả của chính sách chống vàng hóa trong giao dịch mua bán và ổn định thị trường vàng của chính quyền cộng sản Việt Nam:
- Hoàn toàn không có bất kỳ một dấu hiệu nào là thành công nhỏ nhoi trong việc chống vàng hóa trong các giao dịch mua bán;
- Hoàn toàn không có bất kỳ dấu hiệu nào là thị trường vàng được ổn định, mà chỉ có:
- Trước thì giá vàng trong nước cao hơn thế giới khoảng 500.000-1.000.000 đồng/lượng giờ thì đã cao hơn 3.000.000 đồng/lượng (*);
- Chỉ trong 5 tháng Ngân hàng nhà nước đã thu mua được 60 tấn vàng từ trong dân (*);
- Thị trường vàng trong nước không còn liên thông với thế giới, tức là không còn thể hiện sự liên quan bình thường với thị trường vàng thế giới, Việt Nam một mình một kiểu không giống ai;
- Nhãn hiệu vàng SJC bỗng dưng-bằng một mệnh lệnh hành chính nhà nước, trở thành thương hiệu vàng quốc gia, và tăng giá một cách kỳ lạ, trở nên kiêu kỳ và khó tính trong cả việc bán đi và mua lại vàng của chính mình sản xuất;
- SJC thu lợi số tiền khổng lồ mà không ai bên ngoài có thể thống kê được. Số lợi khổng lồ không chính đáng này đến từ chênh lệch giá vàng và việc mua rẻ, ép người dân phải bán lại giá rẻ có khi lên tới 500.000 đồng/lượng vàng cũ của chính mình sản xuất ra, với lý do mà bất kỳ một nhân viên thu mua vàng nào của SJC cũng luôn leo lẻo mỗi khi gặp khách đến bán vàng là “Túi chân không bị rách, có hơi ẩm, vàng méo, vàng xước, chữ/hoa văn chỗ nọ chỗ kia không rõ ..v..v.. Bớt 300.000 đồng/500.000 đồng (so với giá niêm yết). Không bán thì thôi.” Tự tin như đinh đóng cột! Tất nhiên nếu khách bán thì số tiền chênh lệch ấy nhân viên trực tiếp mua không “ăn” một mình, SJC cũng không thể “ăn” một mình, mà tất cả bọn họ từ kẻ lãnh đạo ăn trên ngồi tróc đêm ngày ủ mưu bày kế bóc lột dân ra lệnh, đến các đại gia giám đốc quản lý tập đoàn này, còn các nhân viên trực tiếp cấp dưới thì đương nhiên cũng có những phần thưởng theo khoán, theo chỉ tiêu, định mức thu mua.
- Thị trường vàng trở nên quái đản chưa từng thấy với chênh lệch giá giữa nhãn hiệu SJC cao hơn khoảng 5% so với vàng cùng loại của nhãn hiệu khác. Đây là một con số rất lớn đến mức kinh dị chưa từng có đối với mặt hàng đặc biệt này;
- Dân chúng đổ xô đi bán vàng nói chung, và riêng với các nhãn hiệu không phải là SJC;
- Nghị quyết 21/2011 của quốc hội yêu cầu bảo đảm giá vàng trong nước sát với giá vàng thế giới, thành vô nghĩa. Chính phủ hoàn toàn coi thường quốc hội...v..v..
Và cuối cùng thì không thể khác những điều như ông nghị Nguyễn Trí Dũng – Nhóm tư vấn chính sách vĩ mô – Ủy ban Kinh tế quốc hội nói “Nhu cầu tích lũy tài sản bằng vàng để tránh lạm phát bào mòn tài sản tích lũy là nhu cầu chính đáng của người dân. Trước kia ngân hàng chưa huy động vàng người dân vẫn tích lũy, nếu đồng tiền cứ mất giá thì người dân vẫn phải giữ vàng và sẽ tìm được cách giữ vàng.” (Báo Tuổi trẻ, thứ 7, 17.11.2012, page 7)
Vậy là sao? Tiếc là ông Trí Dũng này, nếu tôi đoán không nhầm, lại quá lịch sự không đúng chỗ, khi ông không nói thẳng ra rằng “nếu đồng tiền cứ mất giá thì người dân vẫn phải giữ vàng và sẽ tìm được cách giữ vàng, chính quyền đừng hòng moi được hết vàng của dân, nhá !”
Giả thuyết của tôi hoàn toàn phù hợp với phát biểu của ông nghị Nguyễn Văn Tuyết – Bà Rịa Vũng Tàu rằng “Thống đốc trả lời khôn cũng tốt nhưng đừng nghĩ là dân không biết gì.”.
Đúng vậy! Có thể dân – trong đó có tôi, chưa biết sự thật là gì (vì được che giấu quá kỹ), chưa biết tốt đẹp, thịnh vượng, văn minh là như thế nào nhưng chắc chắn chúng tôi biết rằng cái hiện tại của đất nước này, của chính quyền cộng sản Việt Nam này là độc tài, là gian dối, là ngu dốt. Vì vậy, mà tận sâu trong lòng người dân Việt Nam giờ đây quá chán ngán tất cả những gì cộng sản nói, bằng chứng là học sinh Việt Nam bây giờ coi môn lịch sử chỉ là môn học nhảm nhí, thậm chí không cần học, thậm chí ngay cả ông bộ trưởng giáo dục Việt Nam còn xưng xưng phát biểu rằng “50% học sinh thi tốt nghiệp trung học môn sử dưới 2 điểm, là bình thường.”
Kết thúc phần Vàng, xin trích 2 phát biểu:
- Ông nghị Trần Du Lịch phát biểu tại phiên chất vấn thống đốc Nguyễn Văn Bình sáng 13.11.2012 “Qua phần trình bày của thống đốc, dường như muốn tiêu diệt thị trường vàng, chứ không muốn bình ổn thị trường vàng.”
- Thống đốc Nguyễn Văn Bình “Sau 6 tháng thực hiện nghị định 24, nhà nước đã thu mua được 60 tấn vàng.” phát biểu cùng buổi sáng hôm ấy tại quốc hội.
Vô cùng sung sướng và mãn nguyện!
ĐÔ LA
Câu chuyện của đô la ở Việt Nam hiện nay cũng thú vị không kém câu chuyện của vàng. Chỉ khác là việc nhà nước thắt chặt việc mua bán ngoại tệ đã có từ rất lâu, nhưng làm thì đì đùng, vì thật ra là không làm nổi, không muốn làm. Chính thế mà nhiều người dân bị mất tiền oan khi đi mua bán ngoại tệ, vừa mất số tiền đem mua, bán, vừa bị phạt thêm một số tiền rất lớn, nên uất ức vô cùng. Giới công an, quản lý thị trường và nhất là các thể loại trinh sát liên ngành chỉ việc thỉnh thoảng phố hợp với nhau đi rình ở các hiệu vàng, các điểm mua bán ngoại tệ tư nhân mà ai cũng biết, rồi thích bắt ai là bắt, hoặc bắt theo chuyên án để vớ được quả “bẫm” mà chia nhau.
Việc thắt chặt mua bán ngoại tệ, mà chủ yếu là đô la khác với vụ quản lý vàng ở trên là chính quyền không thể bỗng dưng chọn một loại ngoại tệ nào để làm đối tượng siết được vì nó có sẵn rồi, chỉ vài loại như thế, như thế, mà mình lại chẳng thể tác động gì vào nó, không in khống được, không làm giả được, cũng không làm nó tăng hay giảm giá trị được, vậy phải làm cách nào đây để thu gom được thật nhiều ngoại tệ, càng nhiều càng tốt. Thế là chính quyền, với công cụ quyền lực trong tay, nghĩ ra ngay những mệnh lệnh hành chính cho đám lâu la bộ sậu hùng hổ thực thi.
Ngày 29.08.2011 Ngân hàng nhà nước ban hành thông tư 20 về mua bán ngoại tệ tiền mặt của cá nhân với tổ chức tín dụng được phép. Những quy định của thông tư cực kỳ nhiêu khê và còn có dấu hiệu của “nước đái chuột”. Mỗi ngày mỗi người được mua tối đa là 100 đô la cho một ngày đi công tác, du lịch, khám chữa bệnh, công tác, thăm viếng ..v..v.. và chỉ được mua tối đa cho 10 ngày, với điều kiện phải trình bày lý do bằng văn bản có các giấy tờ khác chứng minh kèm theo. Đối với doanh nghiệp thì khỏi phải nói về những nhiêu khê khốn khổ trong hành trình đi mua đô la của họ.
Ngược lại với thủ tục áp cho người mua ngoại tệ cực kỳ quan liêu, nhiêu khê, theo đúng cái cách mà chính quyền cộng sản này luôn đối xử với dân là “Chúng mày cần nhưng bọn ông đếch cần.”, thì dân tình ngây ngô được khuyến khích đem hết ngoại tệ ra mà bán cho ngân hàng, không hạn chế số lượng, thậm chí bán cả ngoài giờ và ngay tại nhà dân thì nhân viên ngân hàng cũng sẽ rất vui lòng vác bị đến mua luôn và ngay. Còn với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì thậm chí ngân hàng còn có sáng kiến và lạm quyền tự động giữ lại đô la của doanh nghiệp mà bên phía nước ngoài trả cho doanh nghiệp trước đó qua các LC tại ngân hàng và bắt doanh nghiệp muốn lấy được số tiền chính đáng của mình phải mất rất nhiều thời gian công sức cho các thủ tục quan liêu hành dân, đến mức gần như tất cả các doanh nghiệp đều phải cho nhân viên ngân hàng ăn của đút để giải quyết cho họ được rút ngoại tệ của họ ra
Xin nhắc lại chút ít rằng tất cả các ngân hàng nội địa Việt Nam dù là tư nhân (nguồn gốc thành lập) hay quốc doanh được cổ phần hóa thì đều có cổ đông lớn nhất là phe cánh, bè nhóm của các thể loại lãnh đạo chóp bu cộng sản.
Ví dụ: Ngày 31.08.2012, tại Huế, công an đã bắt 1 vụ mua bán ngoại tệ trái phép của ông Lộc – người bán 10.000 đô la Mỹ với bên mua là hiệu vàng Phước Lộc trên đường Mai Thúc Loan – tiền để mua là 209 triệu đồng. Người bán và mua bị tịch toàn bộ số tiền này, ngoài ra còn bị phạt mỗi người một số tiền khổng lồ là 80 triệu đồng.
Báo Thanh tra điện tử đăng ngày 17.10.2012, ngoài ra bài viết còn nhấn mạnh “Theo các điều tra viên, việc mua bán ngoại tệ trái phép này nhằm thu lợi bất chính. Do thủ đoạn, hành vi hết sức tinh vị nên lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ công an thành phố Huế đã phải mất nhiều thời gian mới bắt được.”
Ở Việt Nam, lên tiếng đòi tự do ngôn luận, viết báo đòi tự do lập hội, đi biểu tính đòi tự do yêu nước còn bị chính quyền vu cho là “để kiếm tiền, nhằm thu lợi bất chính” thì việc mấy người trên bị đối xử như tội phạm bắt quả tang, bị tịch thu hết cả tiền bạc, rồi còn bị xử phạt là cũng đúng thôi. Nhưng cái “đúng” này nên nhớ là đúng với nhu cầu ăn cướp, đúng với cách hành pháp hành dân, bẫy dân của chính quyền cộng sản Việt Nam, chứ hoàn toàn không phải là sự đúng đắn và phù hợp với nhu cầu thực tế và hành xử bình thường có đạo lý của xã hội và người dân Việt Nam. Bằng chứng là ai biết về vụ việc này ngay khi nó xảy ra và bây giờ khi kiểm chứng bài viết này thì chỉ đều thấy phẫn nộ chính quyền cộng sản Việt Nam là một lũ cướp đê tiện, và xót xa oán thán thay cho 2 công dân kia.
Khỏi phải nói sau 1 năm thực hiện thông tư 20 nêu trên, các ngân hàng đã moi được của dân bao nhiêu đô la! Ý quên, mua ạh !
ĐÀO TẨU
Khi quyết định đào tẩu, có 3 điều quan trọng phải nghĩ kỹ:
1- Đào tẩu sang nước nào?
2- Đào tẩu khi nào?
3- Đem theo gì khi đào tẩu?
Đối với lãnh đạo cộng sản cao cấp kiêm tư bản đỏ ở Việt Nam hiện nay thì các câu trả lời đương nhiên là:
1- Đào tẩu sang các nước tự do, dân chủ. Thật đáng tiếc cho họ các nước cộng sản ruột thừa anh em chi sống chí chết của họ lại chẳng có đồng chí nào là tự do, dân chủ cả, nên đành phải vác cái mặt trơ trẽn méo mó cô hồn dị hợm đào tẩu sang các nước tư bản giẫy chết vậy.
2- Đào tẩu khi thời điểm thuận lợi, nhất là việc chuẩn bị tài lực cho cuộc sống sau đào tẩu đã chuẩn bị xong. Nhưng ôi chao! Cái việc này lại hay bị kéo dài vì lòng tham của bọn chúng là vô đáy, với lại mọi sự trên đời này nào có mấy khi như ý mình. Sự không như ý ấy vừa đến từ những rủi ro hoàn toàn ngẫu nhiên, vừa đến từ tình đồng chí cộng sản – cái thứ tình mà ngày hôm trước còn ôm hôn nịnh bợ nhau không biết ngượng như mất trí thì ngay hôm sau đã có thể ra lệnh bắt nhốt nhau, đấu tố nhau và cả giết nhau nhân danh sự “cải tạo”.
3- Hành trang đem theo khi đào tẩu đương nhiên là một lý lịch mới (Con em cộng sản đi du học còn làm hẳn bộ lý lịch và cả cha mẹ mới, bất chấp tự trọng và tình cảm tự nhiên của con người, huống hồ là đào tẩu!) và thật nhiều, thật nhiều tiền và kim loại quý dễ quy đổi và sử dụng được như tiền.
Vậy, tiền ấy là tiền nào, kim loại ấy là kim loại gì mà ở đâu, lúc nào cũng có giá trị ổn định nhất so với các loại tiền và kim loại quý khác?
Ấy là vàng và đô la. Vàng ở đâu cũng là vàng. Đô la ở đâu cũng là đô la. Giá trị luôn được bảo toàn gần như tuyệt đối bằng nhau ở mọi nơi có sử dụng vàng và đô la trên thế giới này (Tất nhiên có thể có xê dịch chút ít, nhưng đảm bảo là rất ít!).
Do vậy, với một chính quyền đã thối nát đến tận cùng, nền kinh tế đã be bét, rách bơm không che giấu vào đâu được nữa, cộng sản chỉ còn trông mong vào sự khiếp sợ của ngươii dân mà nỗi sợ ấy đã được dày công gieo mầm nuôi dưỡng trọn vẹn 3 thế hệ trong hơn nửa thế kỷ qua, để vơ vét nốt được ngày nào hay ngày ấy, rồi đánh bài chuồn. Quá trình chuẩn bị đào tẩu đã được chuẩn bị chu đáo từ lâu dưới mọi hình thức mua bất động sản, chứng khoán, đầu tư trực tiếp kinh doanh, cho con cái du học, kết hôn với người có quốc tịch nước ngoài, đem đô la, vàng kiếm được bất hợp pháp ra gửi ở nước ngoài.
Vàng, đô la ấy kiếm thêm, moi thêm ở đâu ra bây giờ? Đầu tư nước ngoài đã chựng lại vì bộ mặt lật lọng tham nhũng phơi lộ bầy hầy nhớp nhúa đến nỗi tài nguyên thiên nhiên và giá lao động rẻ mạt cũng không còn hấp dẫn như trước nữa rồi. Dân thì cũng đã khôn ra một tí, có bị chính quyền lừa mỵ đến mấy cũng đã bình tĩnh hơn mà suy xét sáng suốt cất giữ bảo tồn tài sản của mình vào những thứ đáng quý và thực chất, và đặc biệt là có giá trị ổn định khi giao dịch toàn cầu.
Ấy là vàng và đô la.
Bỗng dưng lại tưởng tượng có một tên cộng sản tư bản đỏ nào đó lại dựng ngược lên “Ờh đấy! Bọn tao đào tẩu thì phải cần vàng, cần đô la chứ. Dở người mà mang theo tiền đồng Việt Nam để làm giấy lộn àh. Lũ dân đen chúng mày thì đi đâu, cứ yên tâm mà dùng tiền Việt, nhá! Có bao nhiêu vàng, đô hãy mang ra đây, ông có nhà máy ông in tiền đồng ông đổi cho. Chúng mày mà không đổi đúng đầu nậu nhà ông là ông tịch thu hết đấy, nhân danh nhà nước hẳn hoi, nhá! ”