Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Mùa đông Quý Châu lạnh quá! Ngoại ơi!
đoàn xuân thu

Hàng năm khi những ngón tay giá lạnh của mùa đông về, chạm lại vào thân thể những người vô gia cư, rét buốt! Những mảnh đời càng bất hạnh hơn trong nỗi cơ hàn. Cơ là đói. Hàn là lạnh, rét. Cơ hàn là đói lạnh. Khi bao tử rổng không, thì cái lạnh càng thêm khắc nghiệt!

Mùa đông năm nay có thể đến rất sớm ở Quý Châu, Trung Quốc, khi người viết đọc cái tin chua xót: 5 trẻ em vô gia cư Trung Quốc chết ngạt trong thùng rác đặt trên đường phố, làm gợi nhớ đến truyện ngắn xuất bản lần đầu năm 1845, Cô bé bán diêm (The Little Match Girl) của nhà văn Đan Mạch Hans Christian Andersen.

Câu chuyện về niềm hy vọng và ước mơ đã chết của em bé bán diêm trong đêm Thiên Chúa sắp chào đời!:
Image
…Que thứ nhất bật lên, hơ tay trên ngọn lửa ấm áp sáng bừng như cây nến nhỏ, em tưởng mình đang ngồi trước chiếc lò sưởi sắt to với chân đế và tháp trang trí bằng đồng. Lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất, chỉ còn lại trong tay em là nửa que diêm cháy dở.

Cô bé bật que diêm thứ hai, bức tường trước mặt bỗng trở nên trong suốt, bé nhìn thấy trong nhà là một bàn ăn phủ khăn trắng như tuyết với con ngỗng quay nhồi táo và mận khô đang bốc hơi nghi ngút. Và lạ kỳ chưa! con ngỗng bỗng từ trên đĩa nhảy xuống, lạch bạch tiến về phía em với dĩa và dao cắm ở ngực. Bỗng que diêm phụt tắt, chẳng còn gì ngoài bức tường dày tối tăm, ẩm ướt và lạnh lẽo ngay trước mặt.

Bé bật một que diêm nữa, và thấy mình đang ngồi dưới cây thông Noel trang hoàng dây nến và tranh rực rỡ. Với tay về phía cây thông, que diêm tắt lịm, em thấy ánh nến bay lên cao, cao mãi trông như những vì sao. Rồi một vì sao rơi xuống, "Ai đó đang từ giã cõi đời.", em bé nghĩ vì nhớ đến lời bà, người duy nhất yêu quý mình trên cõi đời này.

Cô bé bật que diêm thứ tư, ánh sáng bỗng bao trùm, giữa vầng sáng, bà đang đứng đó, mỉm cười hiền hậu và âu yếm. "Bà ơi!", em khóc nấc lên, "Bà mang cháu đi cùng nhé! Cháu biết bà sẽ rời bỏ cháu khi que diêm cháy hết, bà sẽ biến mất như chiếc lò sưởi ấm áp kia, như chú ngỗng quay và cây thông rực rỡ".

Em vội vàng cho cả gói diêm vào ngọn lửa, ánh sáng bừng lên còn hơn cả vầng dương và bà trông như chưa đẹp lão, cao lớn đến thế bao giờ. Bà ôm em trong vòng tay rồi cả hai cùng bay lên, trong ánh sáng và niềm hân hoan, xa dần mãi mặt đất, đến với Chúa, đến nơi không còn đói khát và nỗi khổ đau.

Rạng sáng hôm sau, người ta thấy cô bé đáng thương đang ngồi tựa vào tường, má ửng hồng, nụ cười nở trên môi. Em đã chết cóng, tay vẫn nắm chặt những que diêm, một nhúm đã cháy tàn…

ImageImage Hơn 150 năm sau, câu chuyện thương tâm ở xứ Đan Mạch xa xôi đã trở thành một sự kiện bi thảm ở Trung Quốc. Sáng thứ sáu, ngày 16, tháng 11, thành phố Bijie, tây nam tỉnh Quý Châu, nhiệt độ xuống tới 6 độ C, một người nhặt rác tình cờ phát hiện thi thể của 5 em nhỏ chết ngạt, vì thán khí, bên cạnh một đống than đang cháy dở trong thùng rác.

Các em đã chui vào cái thùng rác ngang 1.3m, dài 1.6m, trốn cái lạnh cắt da bằng cách đốt than lên để sưởi. Các em đóng cửa thùng rác lại, để tránh cơn gió Đông và các em đã đóng lại cuộc đời mình vĩnh viễn khi tuổi mới lên mười…

Cái chết bi thảm của 5 đứa trẻ làm bùng lên nỗi niềm căm giận từ dư luận; nên chính quyền tỉnh Quý Châu trước sự phẫn nộ của nhân dân đã ‘chỉ’ lung tung.

Một chính quyền của Bí thơ tỉnh ủy ‘Đổ Thừa!’. Tám quan chức ‘cắc ké, cò con’ bị sa thải hoặc đình chỉ chức vụ tối 19/11. Phải có ‘thằng’ nào chịu tội chớ với điều kiện không phải là ‘tao’. Vậy thôi!

Còn chính quyền Trung Ương của Ôn Thừa Tướng sao không thấy động tĩnh gì hết, chỉ im re?!

Mấy lần trước, khi đất nước Trung Quốc gặp thiên tai như động đất hay lũ lụt thì Ôn Thừa Tướng đều vội vã đi thăm nhưng không quên lận lưng theo chai dầu ‘Nhị Thiên Đường’ để nếu cần, thì xức vào mắt, mà khóc thương cho những cảnh đời bi thảm của quần chúng ‘nhân dân’ đang ‘nhăn răng’ ra vì đói khổ.

Ôn Thừa Tướng đã chia sẻ bữa cơm đạm bạc với những kẻ khốn cùng nên truyền thông Trung Quốc ‘đè’ Thừa Tướng ra, mà gắn cho cái tiếng thân thương ‘Ông Ngoại Ôn’ (Grandpa Wen)


Vậy mà mới đây cái ‘thằng’ nhà báo phản động ‘Thời Báo Nữu Ước’ (The New York Times) dám chạy tin rằng: tài sản chìm nổi của gia đình Ôn Thủ Tướng không thể nào đếm nổi. Vì mỏi miệng lắm, xéo quai hàm, mà chưa chắc đã đếm xong?!

Ôn Thừa Tướng tục danh là Ôn Gia Bảo, bảo vật của gia đình nên Ông Ngoại lên ngôi Thừa Tướng năm 2003 cho tới nay mà Gia Bảo của Ôn Thừa Tướng đã lên tới 2.7 tỉ đô la. Và tháng 11 năm 2012 là Ngoại xuống rồi, nếu không, chắc Gia Bảo còn nhiều…nhiều tỉ nữa.

Chắc tay Bạc Hy Lai, vì mất chức Bí Thơ Trùng Khánh, nên thù Ngoại, chơi xỏ bằng cách ‘xì’ thông tin tối mật này cho bọn phản động nước ngoài nhằm ‘bôi tro, trét trấu’ lên mặt Ngoại.

Nó nói rằng: má Ngoại tức bà “Cố’, 93 tuổi rồi, mà còn đầu tư vào công ty Bảo Hiểm Ping An 120 triệu đô Mỹ.

Còn phu nhân của ‘Ngoại’, tức Bà Ngoại, lợi dụng uy quyền của chồng mình để nhận hoa hồng ‘khủng’ trong việc mua bán kim cương.

Còn con trai của Ngoại, gọi là ‘Cậu’, là Xếp của công ty Unihub. Con gái của ‘Ngoại’, gọi là ‘Dì’, thì có cổ phần trong công ty vàng bạc đá quý Gallop.

Ôn Thừa Tướng đòi thưa ‘thằng’ báo New York Times, của con cọp giấy Mỹ, ra tòa về tội đặt điều, bêu xấu lãnh đạo!

Và có lẽ Ngoại bận ‘thưa’ mấy thằng phản động ‘Bạch Quỷ’ ra ba tòa quan lớn cho nó biết thân vì đặt điều láo khoét, nên ‘Ngoại’ quên bẳng đi lời kêu than thống thiết, không những của 5 em nhỏ chết thảm ở Quý Châu mà còn cả chừng 1.5 triệu em bé Trung Quốc đang lang thang trên nẻo đời cơ nhở khi mùa đông đã tới sát bên khung cửa.

Mùa đông Quý Châu, Mùa đông Trung Quốc năm nay lạnh quá! Ngoại ơi!

đoàn xuân thu

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image

Học Tiếng Việt Không Dễ...

Bạn thân,
Chúng ta đều biết rằng, học một ngôn ngữ tới nơi tới chốn không phải là dễ.

Dĩ nhiên, không nhất thiết phải trở thành một nhà ngữ học uyên bác, ngay cả khi chúng ta muốn trở thành một nhà văn trung bình cũng là chuyện khó.


Từ cách phát âm đa dạng, phức tạp của giọng Nam, giọng Bắc, giọng Trung... mà ngay cả giọng Miền Trung cũng đã dị biệt từ các giọng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Huế, Bình Định... huống gì là nói tới nghe cho đủ. Cũng y hệt như thời chúng ta học tiếng Anh, nghe ông thầy từ Mỹ về nói khác hẳn giọng ông thầy từ Anh Quốc du học về.

Có như thế mới khâm phục các nhà văn, nhà thơ... Họ là những người gìn giữ hồn chữ Việt.

Báo Người Đưa Tin mới đây đưa tin về chuyện “Du học sinh Lào “khóc, cười” khi học tiếng Việt...”

Khó thật, khó thật.

Bài viết kể nỗi gian nan:

“Về chuyện học ngoại ngữ, chính người Việt còn thốt lên câu "phong ba bão táp không bằng ngữ pháp tiếng Việt" thì du học sinh Lào "dở khóc, dở cười" khi học tiếng Việt là điều khó tránh.

Bạn có dịp đi đến những phiên chợ ở thành phố Sơn La (tỉnh Sơn La) sẽ được chứng kiến cảnh tượng những khách hàng là sinh viên Lào nói thì ít mà "khua tay, múa chân" thì nhiều. Vì ra chợ, theo kinh nghiệm "để đời" của du học sinh Lào, đó là nơi học tiếng Việt thực hành vừa đơn giản mà lại "vui" và hiệu quả nhất. Họ có những "bí quyết" học tiếng Việt độc đáo và không ít câu chuyện "dở khóc, dở cười" từ sự học tiếng Việt mà ra...

Mỗi năm, Việt Nam đón nhận hàng ngàn du học sinh Lào sang học tập, nghiên cứu sinh. Học tiếng Việt là điều khó khăn với tất cả người nước ngoài nhưng với những du học sinh Lào thì điều đó còn khó khăn gấp bội. Bởi tiếng Việt là ngữ hệ Latin, tiếng Lào thuộc hệ ngôn ngữ Tai-Kadai, chịu những ảnh hưởng của tiếng Phạn. Vì thế, những sinh viên Lào phải nỗ lực hơn rất nhiều để không những nghe, nói được tiếng Việt mà còn phải hiểu được tiếng Việt trong chuyên ngành đặc thù mà mình theo học. Thực tế, mỗi sinh viên Lào lại tự nghĩ ra cách riêng, nhanh nhất để học tiếng Việt...

...Nhắc đến những kỷ niệm đáng nhớ, anh Bun Chăm Khăm Phô Thong đến từ tỉnh Bó Kẹo, sinh viên K47, khoa Công nghệ Thông tin, trường cao đẳng Sư phạm Sơn La chia sẻ: "Lần đầu tiên bập bẹ tiếng Việt, thầy giáo đọc mẫu và chỉ vào bức tranh các loại hoa rồi bảo sinh viên đọc theo hướng dẫn của thầy, tên các loại hoa này. Một bạn xung phong đứng lên đọc lại các loại hoa như sau: "Hoa hỏng, hoa hợi, hoa cu, hoa đòi...". Thực ra tên các loài hoa theo thứ tự là hoa hồng, hoa huệ, hoa cúc, hoa đào. Lúc đó, giáo viên hướng dẫn chỉ biết cười trừ, còn sinh viên thì chưa hiểu "mô tê" gì...”

Khó thật, khó thật. Đó là chưa bàn tới chuyện chơi chữ. Ai bảo là dễ học nhỉ, nhất là khi ngôn ngữ là tinh hoa của văn hóa của một dân tộc.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image


Lại chuyện về Khánh Ly ! Quá hay ! mời xem....
Hoan hô tác giả Nguyễn Ngọc Phách ! lời thật hay mích lòng ! nhưng bao nhiêu lời thật của ông, chưa chắc khánh ly đã hiểu ! chỉ tiếc là đám ca sĩ già, hết thời trên đầu còn có tóc nhưng không có óc !!!


THỬ HỎI NẾU NĂM 1975 MỸ TỪ CHỐI KHÔNG CHO KHÁNH LY VÔ HOA KỲ THÌ KHÁNH LY SẼ CHỔNG ĐÍT LÊN TRỜI NGUYỀN RỦA MỸ ĐẾN ĐỘ NÀO ??!! LÚC ĐÓ LIỆU CÓ NÓI CÁI CÂU MẤT DẠY: NẾU LÀ NGƯỜI AI CŨNG MUỐN VỀ VN VỚI VIỆT CỘNG KHÔNG ???./- Mt68

***Trích 1 đoạn trong bài viết của Nguyễn Ngọc Phách Houston./- Mt68

Con người đấng tạo hoá tạo ra không hơn một con súc vật nhưng hơn chúng có bộ óc, biết suy nghĩ, biết tính toán và biết phải trái.
Bà ca sĩ Khánh Ly trong những năm tháng của 30 tháng tư năm 1975 có ai dí súng, có ai dùng dây thòng lọng tròng vào cổ kéo bà đi ra ngoại quốc? bà đã chen lấn, đã van xin để chạy thoát khỏi quê hương đang bị dép dâu, răng hô, mã tấu từ từ làm tan nát quê hương, Cô ca sĩ Thái Thanh là một bằng chứng, một nhân chứng đã từng tuyên bố : CÁI ĐAU KHỔ CỦA NGƯỜI CA SĨ KHÔNG ĐƯỢC HÁT CŨNG GIỐNG NHƯ MỘT CON CHIM KHÔNG ĐƯỢC HÓT.

Bà ca sĩ khánh ly trong những ngày sống trong trại tỵ nạn Fort Chafee của thành phố Fort Smith tiểu bang Arkansas lếch thếch một nách mấy đứa con thấy mà thương, những ngày cuối tuần trong trại tỵ nạn cũng tổ chức văn nghệ đấu tranh, văn nghệ tưởng nhớ đến quê hương điêu tàn, đến Sài Gòn hấp hối sắp bị đổi tên của một con quỷ đã chết, những giọt nước mắt ngắn, dài, những nghẹn ngào không hát nên lời,làm rung động lòng người ly hương, đấy lúc này Khánh Ly mới thật sự là một con người Việt Nam Tự Do.

Sau 37 năm no cơm ấm ........ kể từ ngày cái trung tâm Thuý Nga từ bên Pháp xin qua bên Mỹ cư ngụ tại Cali, từ ngày cô người mẫu Kỳ Duyên con ông Kỳ Cục bán rẻ linh hồn cho quỷ, bán rẻ anh em đồng đội, phản bội lại tập thể NGƯỜI Việt Tỵ Nạn trên thế giới, có ai nghe người ta gọi bằng Phó Tổng Thống, Thiếu Tướng hay hạ thấp xuống bằng ÔNG chưa?, hay mọi người gọi bằng một giọng khinh bỉ THẰNG, cũng kể từ ngày ấy VỢ hắn NGƯỜI khác xài, con gái kỳ cục bắt đầu học khoe mông khoe đùi rồi từ từ tiến bộ thêm được Tô Văn Lai dẫn dắt bước vào thế giới Đại Đồng; Công, Dung, Ngôn, Hạnh được thực thi ngược thay chồng như thay áo diễn tuồng, khi đã thuần thục bèn hướng dẫn ca sĩ Khánh Ly tập tành, ngượng ngập mặc áo bành tô khép nép trong khách sạn do bọn Lãnh Sự Quán San Fransico tổ chức thế là kể từ ngày đó mọi người bèn bỏ chữ mếm mộ là CÔ, Bà mà thành CON với giọng khinh bỉ !!!.

Một duộc thằng thằng, con con rủ rê nhau đi về đú đởn trên thân xác trẻ thơ, trên thân phận đoạ đầy của người Việt Nam từ Bắc vô Nam, chúng vui mừng ca hát, tổ chức hội hè tổ chức những đêm văn nghệ, trong những vũ trường nhầy nhụa thân xác tuổi trẻ Việt Nam, trong lúc mảnh đất quê hương đang mất dần vào tay kẻ thù truyền kiếp, như vậy chúng có phải là những con người mang cùng huyết thống máu đỏ da vàng cùng với chúng ta?.

Chuyện trước mắt kia kìa, Duy Quang sau thời gian theo cha là Phạm Duy già dịch ngụp lặn trong XÃ HỘI CHỦ NGHĨA bây giờ THÂN TÀN MA DẠI lại bò về xứ Mỹ tại đất Cali ngửa mũ xin tiền chữa bệnh UNG THƯ, tại sao không ai chịu học? có gì là lạ đâu vì CHÚNG KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI, chúng chỉ là những con SÚC VẬT không có óc suy nghĩ, mọi người đã thấy trong sủ sách, trong kinh nghiệm cuộc sống hàng ngày: CHẤT PHẾ THẢI CỦA CON NGƯỜI THẢI RA NGOÀI RẤT LÀ HÔI THỐI NHƯNG NHỮNG CON CHÓ (một loài SÚC VẬT) HỒ HỞI TRANH DÀNH NHAU ĐỚP HÍT.

Với hy vọng một ngày đẹp trời chúng ta sẽ không phải nghe Khánh Ly quay trở lại Mỹ ngửa nón xin tièn giống tên Duy Quang bây giờ; Bên Hoa Kỳ như quý vị đã biết : chất phế thải phải ở trong cầu tiêu, của trẻ sơ sinh phải ở trong thùng rác gói chặt cấm không được làm Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ CHUNG QUANH.

Nuôi vật Khánh Ly cũng có lúc mến tay, chúng ta cùng cầu nguyện thôi thì hãy ráng tạo phúc để kiếp sau không phải làm loài SÚC SANH nữa mà hãy làm người để hưởng phước. Lành thay,....Lành thay......


Nguyễn ngọc Phách

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Một thời Velosolex

Tạp ghi Huy Phương
Trong những hình ảnh được lưu lại của Sài Gòn năm xưa, hình ảnh một thiếu nữ mặc áo dài trắng đi chiếc Velosolex màu đen chạy trên đường phố, có lẽ là hình ảnh đem lại cho tôi nhiều kỷ niệm nhất, nhắc nhở lại một quãng thời gian dài đã xa, mà chính mình cũng đã gắn bó với chiếc xe này.

Sản phẩm Velosolex do hai nhà sản xuất Pháp là Maurice Goudard và Marcel Mennesson cho ra đời tại Paris năm 1946, sau khi Thế Chiến Thứ II chấm dứt. Velosolex đơn giản là một chiếc xe đạp với một động cơ treo trên tay lái. Ðộng cơ có một khối kim loại cứng, hình ống, nhám để cọ xát vào lốp bánh xe trước để đẩy bánh xe đi, do vậy bánh xe trước phải luôn luôn bơm hơi căng cứng. Người sử dụng khởi động bằng cách đạp xe cho có trớn vài mét, xong đẩy bộ máy rời “ghi đông” để khối kim loại tròn ép sát với bánh xe.

Xe chỉ chạy với tốc độ từ 15 mph đến 20 mph, và cũng tùy thuộc mặt đường. Xe không thể lên dốc, người sử dụng phải đạp phụ. Mỗi lần trời mưa, bánh xe bám bùn đất, Velosolex trở nên trơn trượt, rất khó khởi động, mặt khác, ổ gắn bu-gi của xe phơi ra ngoài, gặp trời mưa bị ẩm cũng khó nổ máy, do đó Velosolex chỉ dễ sử dụng trên những con đường khô ráo, bằng phẳng.

Bộ máy xe cho phép người lái treo lên tay lái, để bỏ động cơ và đạp Velo giống như bất kỳ chiếc xe đạp nào khác, trong trường hợp xe hết xăng hay máy trục trặc không nổ.

Khi một chiếc Velosolex hết thời, máy móc rệu rã, nó sẵn sàng vứt bỏ cái đầu máy thường ngày vẫn treo trước “ghi-đông” để gia nhập với hàng ngũ xe đạp “bình dân”.

Velosolex dầu sao cũng vang bóng một thời, ra đời từ năm 1946 và chính thức giã từ thế giới, tạm ngừng sản xuất tại Pháp vào năm 1988, chuyển qua Tàu và Hungary nhưng rồi cũng đi vào quá khứ, sau khi đã bán được hơn 7 triệu chiếc.

Chiếc xe Velosolex đầu tiên tôi có, mua năm 1960, sau khi ra đời, đi dạy học vài năm và chuẩn bị lập gia đình, tại một đại lý ở Huế, xe được chở từ Sài Gòn ra. Ở Việt Nam trong thời đó thì những ai có tiền, lương cao mới có thể mua Lambretta hay Vespa, còn khả năng chỉ có khá hơn xe đạp một bậc, thì sử dụng chiếc Velosolex. Thời giá của chiếc xe này vào năm 1960 là $8,500 trong khi lương độc thân của một công chức hạng trung khoảng $6,000. Ở Huế những lúc trời mưa to gió lớn, với những con đường bùn đất, đi xe Velosolex thật ra chẳng sung sướng gì, mà đôi khi còn là một cực hình khi bắt đầu khởi động cho máy nổ.

Khác hẳn với các thành phố lớn như Sài Gòn, Ðà Nẵng, đối với các tỉnh thuộc địa đầu giới tuyến sau khi chia cắt đất nước, hình ảnh chiếc Velosolex vẫn còn là cái gì rất mới lạ, nên khi bạn cỡi xe vào đường làng, phun khói trắng, có thể có những đứa trẻ tò mò chạy theo xem chiếc xe lạ lùng này.

Ba năm sau, nhận tờ giấy động viên trong tay, chiếc Velosolex chung nỗi buồn vui trong ba năm tròn phải từ giã tôi ra đi, để giúp chủ trang trải một số nợ nần.

Năm 1964, sau khi ở quân trường ra, được bổ nhiệm về một đơn vị ở Sài Gòn, thuê nhà ở khu Bình Hòa, trên chuyến xe buýt khởi hành từ rạp hát Thanh Vân-Gia Ðịnh đến Sở Thú - Sài Gòn mỗi ngày, bây giờ lại có thêm một ông chuẩn úy với bộ quân phục làm việc kaki vàng số 2, đội nón “casquette” mới tinh đi về. Ông thiếu tá chỉ huy đơn vị thương tình anh chuẩn úy mới ra trường, phải leo xe buýt mỗi ngày, nên cho mượn tiền, để lại mua một chiếc Velosolex! Chỉ trong vòng bốn năm, vật giá leo thang, năm 1964, cũng chiếc xe ấy đã tăng giá khoảng 30%. Chiếc xe Velo thứ hai này cuối cùng bị đào thải trước đợt xe Honda Dame cũ, đồ thải của Nhật, được nhập vào Việt Nam, ưu tiên cho lính tráng dưới thời ông Không Quân Trần Ðỗ Cung làm tổng cục tiếp tế.

Có thể nói Velosolex thuộc loại xe bình dân, không bì được với các ông bạn người Ðức mạnh mẽ như Goebel, Sachs, hay hai ông bạn người Ý hào hoa và sang trọng hơn, có mặt đồng thời là Lambretta và Vespa. Lambretta được phổ biến đi khắp thế giới qua Pháp, Ðức, Tây Ban Nha, Ấn Ðộ, Ðài Loan, Brazil, Columbia... và có tuổi thọ khá dài. Vespa trông thanh lịch và dễ thương hơn, nên trong bốn năm từ 1947 đến 1950, hãng Piaggio đã bán được hơn 90 nghìn chiếc, nhưng phải chờ khi Audrey Hepburn ôm eo Gregory Peck's trên chiếc Vespa lạng lách trong thành phố Roma, trong phim Vacances Romaines (Roman Holiday,) ra đời năm 1953, thì chiếc Vespa đã trở thành nổi tiếng, bán hơn 100 nghìn chiếc ngay trong năm đó.

Dáng mảnh khảnh của những chiếc Velosolex màu đen thong dong trên đường phố với cô thiếu nữ mang đôi găng tay trắng, đội nón lá, để tà áo bay bay là hình ảnh dễ thương của Sài Gòn, của một thời sinh viên đẹp đẽ. Những năm về sau khi chiến tranh càng khốc liệt, các loại xe phân khối lớn ồ ạt nhập cảng vào càng nhiều, những xa lộ được mở ra, khi ai cũng mê tốc độ, Velosolex đành chấp nhận số phận bị bỏ lại đằng sau.

Bây giờ người ta đang muốn phục chế lại những chiếc Velosolex, Vespa của ngày xưa không phải để dùng trên đường phố mà như là một vật kỷ niệm ghi dấu một thời.

Cô thiếu nữ với chiếc Velosolex trên đường phố Sài Gòn trong bức ảnh này, được chụp vào năm 1961. Tôi đoán chừng tuổi cô ngày đó khoảng chừng 20 đến 25. Bây giờ đã trên nửa thế kỷ trôi qua, nếu còn đâu trên cõi đời này, cô đã ngoại tuổi thất tuần. Chiếc Velosolex ngày đó chắc không còn tồn tại, nó chỉ là một bóng mờ dĩ vãng như những gì chỉ hiện diện một thời, nhưng có thể còn lưu lại trong trí nhớ của chúng ta mãi mãi.

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Một đời ta, ba đời nó” để nói rằng đời người dài nhưng những vật sở hữu thì dễ mất mát hay hư hao. Từ ấu thơ cho đến hôm nay, chúng ta đã dùng bao nhiêu chiếc xe, ở bao nhiêu ngôi nhà, dùng bao nhiêu đôi giày hay bộ quần áo. Nhưng cũng có đôi khi, ngôi nhà, con đường, tấm ảnh hay trang sách còn đó, nhưng “những người muôn năm cũ” đã không còn nữa!

Không thấy thi sĩ nào đem chiếc Velosolex vào thơ, tôi đành mượn đôi lời của nhạc sĩ Ngọc Lễ viết về xe đạp, để tạm thương nhớ một thời Velosolex:

“Quay đều, quay đều, quay đều, mối tình ngày xưa yêu dấu
Quay đều, quay đều, quay đều, thương hoài những vòng xe...”

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Image

Khi "Lão Lý" lắc đầu !
Ông Lý Quang Diệu là một nhân vật đặc biệt ở châu Á. Ông được người dân nước ông coi là Cha đẻ của quốc gia Singapore độc lập và phồn vinh. Tháng 9 này, sinh nhật lần thứ 88 của ông được kỷ niệm trên khắp nước kết hợp với kỷ niệm lần thứ 37 ngày lập quốc. Báo chí quốc tế lại có dịp ca ngợi đất nước nhỏ bé này là con mãnh hổ thần kỳ nhất trong 4 con hổ châu Á gồm có Singapore, Hồng Kông, Đài Loan và Nam Triều Tiên.

Năm 1965, tổng sản lượng của Singapore đạt gần 1 tỷ đôla, tính theo đầu người là 516 đôla/năm; năm 2010, 2 con số này đã vọt lên thành 223 tỷ và 44.000 đôla – có nghĩa là tổng sản lượng tăng hơn 200 lần và thu nhập bình quân đầu người tăng hơn 80 lần so với 37 năm trước. Thật là một kỷ lục phi thường. Nhân dịp này báo chí Pháp, Anh nêu bật nếp sống thật sự giản dị, gương mẫu của ông Lý Quang Diệu - hay “Lão Lý”, theo cách gọi thân mật của người dân. Ông không đồng ý việc tạc tượng, trưng ảnh ông, đặt tên ông cho các công trình. Ông vẫn ở căn nhà nhỏ, đi xe hơi loại rẻ. Con trai ông, Lý Hiển Long, dù là thủ tướng đương nhiệm, và con gái ông, bác sỹ Lý Vĩnh Linh, cũng theo nếp sống như thế, không có biệt thự, nhà nghỉ riêng, không có xe cộ, trang sức gì khác người. Triết lý sống của cả gia đình ông là thế, không lập dị, không đua đòi, xem sự thanh bạch là một điều đương nhiên để được sống an vui, hạnh phúc. Điều quan trọng đối với ông là dân Singapore sống tốt, sống sạch, xã hội sạch, môi trường sạch, lương tâm sạch.

Nhân dịp này ông Lý Quang Diệu có một số ý kiến đáng chú ý. Ông cho rằng Trung Quốc dù phát triển liên tục nhưng chứa nhiều nguy cơ mang tính bi kịch, và rằng Ấn Độ là nước châu Á gây ấn tượng mạnh nhất về chất lượng phát triển bền vững.

Về Singapore, «Lão Lý» nhân danh Bộ trưởng - Cố vấn cho chính phủ, tỏ ý vui mừng thấy lý tưởng của ông đã được nhà nước kiên trì thực hiện suốt gần 40 năm nay. Bài học lớn nhất, theo ông, là coi trọng giá trị của con người, đồng thời ngăn chặn ảnh hưởng thái quá của đồng tiền trong chính trị. Ông hiểu sâu sắc đồng tiền vừa là nguồn hạnh phúc, vừa là động lực tha hoá xã hội. Lãnh đạo giỏi là người điều hòa được mối mâu thuẫn này.

Ông Lý cho rằng trong xây dựng guồng máy cai trị và cải cách hành chính của nhà nước, vấn đề trung tâm là tuyển mộ được nhân tài có chất lượng cao nhất - ông gọi là nhân tài loại 1, tức là những người vừa có chuyên môn cao vừa có lối sống trong sạch. Thấp hơn một bậc là nhân tài loại 2, tức là những người sẽ làm suy yếu đất nước nếu được nắm giữ các chức vụ cao. Nếu chỉ là nhân tài vào loại 3 hay loại 4, nghĩa là tài kém đức suy thì sẽ mang lại tai họa cho đất nước. Ông cho rằng người lãnh đạo phải kiên quyết cảnh giác với thế lực đồng tiền trong chính trị, và rằng tệ mua quan bán tước và nạn bè phái là 2 tai họa lớn nhất cho một chế độ.

Ông Lý Quang Diệu từng sang Việt Nam nhiều lần, theo lời mời của chính quyền Việt Nam. Đó là chuyện của 15 năm trước, lúc đó Việt Nam bắt đầu chuẩn bị để được gia nhập WTO sau khi bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ, mở ra một triển vọng lớn. Ông chân thành góp ý xây dựng, san sẻ kinh nghiệm quý. Nhưng ông đã nản lòng và thất vọng. Mấy năm nay ông lại càng thất vọng hơn. Trả lời báo The Straits Times của Singapore hồi năm ngoái, ông nói về Ấn Độ, về Đài Loan, về Nam Triều Tiên; khi được hỏi về Việt Nam ông lắc đầu: «Nên quên đi, tôi đã nói hết với họ rồi, vô ích!”, rồi ông nói về Nhật Bản.

Nhớ lại, ông Lý từng tâm sự với nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt và các nhà báo Việt Nam về đề tài chống tham nhũng 15 năm trước. Ông nói rất giản dị: hãy nâng lương cho viên chức đủ sống để không ai cần ăn cắp, luật pháp phải thật nghiêm để kẻ tham sợ không dám tham nhũng, đạo đức trong xã hội phải được truyền bá để mọi người khinh và hổ thẹn đối với tệ nạn xấu xa này.

Tóm lại là 3 không: không cần, không dám, không nỡ.

Ông Lý kể chuyện đã tăng quỹ lương cho viên chức ra sao, trừng trị tệ “phong bì”, “đưa tiền dưới bàn ăn”, “huê hồng”, “tặng phẩm, biếu xén, quà cáp, sinh nhật …» ra sao, và nhân tài loại 1 là thế nào, có lương thiện, trong sáng mới thật sự tài giỏi có ích.

Ông Lý nản lòng, không muốn nhắc đến Việt Nam nữa vì ông biết lời ông đã như nước đổ đầu vịt. Giá như người ta nghe lời ông, quyết liệt diệt tham nhũng như đã hứa, thì 20% ngân sách hàng năm đã không bị xà xẻo, chia chác cho đám tham quan ô lại nhiều vô kể và hàng tỷ đôla đã không bị lãng phí vì bất tài và tham nhũng. Nếu 20% ấy được dành cho quỹ tiền lương - như ông Lý khuyên - thì cục diện kinh tế-chính trị-xã hội Việt Nam đã khác hẳn.

Trái ngược với lời khuyên răn trên, suốt 15 năm qua, quốc nạn tham nhũng ở nước ta trầm trọng thêm gấp bội, vì mọi người đều thấy cần phải tham nhũng, không tham nhũng không sống nổi; dám tham nhũng vì đã có ô, có lọng, có khe hở luật pháp để chạy án; và không ai còn biết xấu hổ khi ăn bẩn và đút lót vì mọi người đều tham gia, ta không ăn và đút là dại, là ngu đần, là thiệt. Trên ăn thì dưới cũng ăn, trên múc thì dưới cũng múc. Tôi ăn, anh ăn, chúng ta cùng ăn dù là ăn bẩn, thế là hòa. Trước cảnh này, có một người rất buồn, rất nản, đó là « Lão Lý» Singapore, người từng hy vọng làm một cố vấn tốt, có ích cho nước bạn.

Trong dịp mừng ông Lý Quang Diệu 88 tuổi, báo chí Đông Nam Á lại có dịp nói về những nét đẹp của Singapore. Ở đây phố xá, vĩa hè công cộng sạch nhất thế giới. Ở đây nhà vệ sinh công cộng nhiều và cũng sạch nhất thế giới. Mọi nhân viên hành chính công cộng không những luôn luôn nhã nhặn, nở nụ cười mà còn tận tình đáp ứng quyền lợi người dân. Đi khắp nơi, hầu như không có chen lấn, khạc nhổ, móc túi, xin tiền. Con người tôn trọng yêu thương con người.

Singapore có thu nhập đầu người cao nhất Đông Nam Á, 44.000 đôla / năm, gấp hơn 40 lần mỗi người dân Việt Nam hiện nay, ấy vậy mà họ vẫn nghe theo «Lão Lý». Đồng tiền là quý, là cần khi thu nhập chính đáng, nhưng phải luôn luôn cảnh giác; đồng tiền có thể tha hóa xã hội, tạo nên bất bình đẳng, cho nên cần luôn đặt giá trị con người và đạo lý làm người lên trên giá trị của đồng tiền. Từ đó đồng tiền sẽ là phương tiện, là công cụ quý của con người, phục vụ chứ không làm chủ con người. Chí lý thay!

Các bạn Singapore thường nói: « Chúng tôi quý ông già Lý, ‘Lão Lý’ của chúng tôi, vì ông không những là Cha đẻ của nước Singapore độc lập, ông còn là Kiến trúc sư của Singapore mới, phồn vinh, sạch sẽ từ trong ra ngoài, một xã hội hài hòa, ổn định, hòa bình, được bạn bè khắp nơi quý trọng, giữa một thế giới đang có nhiều hỗn loạn và khủng hoảng.

Quả thật “Lão Lý” là Nhân tài số 1, trong số Nhân tài loại 1 thời hiện đại của nước Singapore mới. Nhân dân Singapore tinh đời và hạnh phúc thật.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Image

Những chú chó con ở cửa hiệu


Một cậu bé xuất hiện trước cửa hàng bán chó và hỏi người chủ cửa hàng: “Giá mỗi con chó là bao nhiêu vậy bác?”

Người chủ cửa hàng trả lời: “Khoảng từ 30 tới 50 đô la một con!”

Cậu bé rụt rè nói: “Cháu có thể xem chúng được không ạ?”

Người chủ cửa hàng mỉm cười rồi huýt sáo ra hiệu. Từ trong chiếc cũi, năm chú chó con bé xíu như năm cuộn len chạy ra, duy có một chú bị tụt lại sau khá xa. Ngay lập tức, cậu bé chú ý tới chú chó chậm chạp, hơi khập khiễng đó. Cậu liền hỏi: “Con chó này bị sao vậy bác?”

Ông chủ giải thích rằng nó bị tật ở khớp hông và nó sẽ bị khập khiễng suốt đời. Nghe thế, cậu bé tỏ ra xúc động: “Đó chính là con chó cháu muốn mua”.

Chủ cửa hàng nói: “Nếu cháu thực sự thích con chó đó, ta sẽ tặng cho cháu. Nhưng ta biết cháu sẽ không muốn mua nó đâu”.

Gương mặt cậu bé thoáng buồn, cậu nhìn thẳng vào mắt ông chủ cửa hàng và nói: “Cháu không muốn bác tặng nó cho cháu đâu. Con chó đó cũng có giá trị như những con chó khác mà. Cháu sẽ trả bác đúng giá. Thực ra, ngay bây giờ cháu chỉ có thể trả bác 2 đô la 37 xu thôi. Sau đó, mỗi tháng cháu sẽ trả dần 50 xu được không ạ?”

“Bác bảo thật nhé, cháu không nên mua con chó đó”, người chủ cửa hàng khuyên. “Nó không bao giờ có thể chạy nhảy và chơi đùa như những con chó khác được đâu.”

Ông vừa dứt lời, cậu bé liền cúi xuống vén ống quần lên, để lộ ra cái chân trái tật nguyền, cong vẹo được đỡ bằng một thanh kim loại. Cậu ngước nhìn ông chủ cửa hàng và khẽ bảo: “Chính cháu cũng chẳng chạy nhảy được mà, và chú chó con này sẽ cần một ai đó hiểu và chơi với nó.”

Chuyện tiếp theo...
Cậu bé và con chó nhỏ Cậu bé, với chiếc chân trái phải mang khung thép trong suốt bốn tháng qua, về đến nhà, trên tay ôm một chú cún con. Chú cún này bị tật ở xương hông, nên chỉ có thể đi được những bước khập khiễng.

Việc cậu bé chọn mua một chú cún bị tật khiến bố mẹ cậu vừa ngạc nhiên, vừa xót xa vì thương cảm. Nhưng điều khiến họ ngạc nhiên hơn nữa, đó là từ ngày có người bạn mới, cậu bé như trở thành một con người khác, lúc nào cũng tươi vui, tràn đầy hy vọng.

Ngay từ ngày đầu tiên đón chú cún về nhà, cậu bé đã cùng mẹ đến gặp bác sĩ thú y để tìm ra cách chữa trị tốt nhất cho cún con. Bác sĩ khuyên rằng, nếu cậu bé chịu khó xoa bóp, kéo căng chân cún đều đặn mỗi sáng và dắt chú đi dạo ít nhất một dặm mỗi ngày thì các cơ xung quanh chiếc hông bị vẹo của cún con sẽ dần trở nên mạnh khỏe. Cơ may trở lại bình thường của cún con là hoàn toàn có thể và tùy thuộc rất nhiều ở cậu bé.

Mặc dù chú cún cứ rên rỉ khó chịu mỗi lần cậu bé xoa bóp chân cho chú, và dù cậu luôn cảm thấy chân trái đau nhức mỗi khi dẫn cún đi dạo, nhưng trong suốt hai tháng trời, cả hai đã nghiêm túc tập luyện theo chế độ phục hồi dành riêng cho họ. Vào tháng thứ ba, cả hai đã có thể đi được ba dặm mỗi sáng trước khi cậu bé đến trường mà không hề cảm thấy đau chân tí nào.

Vào một sáng thứ bảy, khi cả hai đang trên đường trở về sau buổi tập như thường lệ, thì bất thình lình, một chú mèo nhảy ra khỏi bụi cây bên đường khiến cún con hết sức hoảng hốt. Chú nhảy chồm lên, giật tung dây xích ra khỏi cổ rồi phóng như tên bắn ra giữa dòng xe cộ. Cún con va phải một chiếc ô tô, bị hất tung lên vệ đường. May mắn thay, chú chó vẫn còn thoi thóp thở. Ghì chặt người bạn nhỏ yêu thương vào lòng, cậu bé đi nhanh về nhà, không để ý thấy khung thép bên chân trái của mình đã boong ra tự lúc nào.

Mẹ cậu tất tả đưa chú chó đến viện thú y. Trong khi cậu bé đang lo lắng chờ đợi bên ngoài, mẹ cậu ôm cậu vào lòng, nghẹn ngào nói trong nước mắt:

- Con không để ý thấy điều gì ư? Con đã có thể đi lại bình thường được rồi đấy!

- Sao lại như vậy được hả mẹ? - Cậu bé ngạc nhiên.

- Con trai của mẹ, con bị viêm tủy xương - Người mẹ giải thích. - Căn bệnh này khiến chân con ngày càng yếu, nhưng nó không thực sự là một căn bệnh nan y nếu con quyết tâm vượt qua nỗi đau đớn và tích cực tập luyện hàng ngày. Con biết điều ấy, nhưng con lại không tin vào chính mình. Con luôn chống cự không để bố mẹ giúp con điều trị, cả bố và mẹ cũng thực sự không biết mình nên làm gì nữa. Nhưng chú cún con đã làm thay đổi mọi thứ. Kỳ diệu thay, khi con giúp chú chó, con cũng đang tự giúp chính mình để trở nên mạnh mẽ và trưởng thành hơn.

Ngay lúc đó, cánh cửa phòng mổ hé mở. Bác sĩ thú y bước ra tươi cười thông báo:

- Cháu có thể yên tâm, chú chó của cháu sẽ sớm khỏe lại thôi!

Chuyện xảy ra ngày hôm đó đã để lại trong cậu bé một bài học sâu sắc, đó là khi cho đi cũng chính là lúc chúng ta nhận được; lúc quên mình là lúc chúng ta tạo nên những điều kỳ diệu của cuộc sống.

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image

HÃY ĐỂ CHO DÂN CÁI LAI QUẦN (!?)

Khi Vương Đình Huệ đặt chân vào “nhà đỏ” rồi ngồi lên ghế Bộ trưởng Tài chính, ít người biết ông, vì trước đó ông làm trong ngành kiểm toán chả mấy khi xuất hiện trước công chúng. Chỉ đến khi Vương Đình Huệ tuyên bố với nhóm doanh nghiệp xăng dầu: “Chúng tôi điều hành thị trường xăng dầu không vì quyền lợi của 11 doanh nghiệp đầu mối xăng dầu, mà vì lợi ích chung của gần 90 triệu dân!” thì tiếng tăm ông mới nổi.

Bấy giờ, tương phản với một gương mặt ngây ngô như trẻ con, bộc lộ tính hiếu thắng, của Bộ trưởng giao thông vận tải Đinh La Thăng, là một gương mặt điềm đạm, kín đáo của Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ. Nhiều bài báo ca ngợi, có bài đặc tả tuổi thơ kém may mắn của Vương Đình Huệ, nhằm cắt nghĩa tính quyết đoán, và tố chất làm công bộc cho dân của ông. Những em học sinh ngây thơ, và cả những vị giám đốc doanh nghiệp từng trải, đã viết thư ngỏ cho Bộ trưởng Vương Đình Huệ, người coi ông là thần tương, kẻ hy vọng ông có thể cứu nguy cho doanh nghiệp! Người ta kháo nhau, đây chính là gương mặt sáng giá trong hàng bộ trưởng nhiệm kỳ này.

Nhưng rồi giá xăng dầu tăng liên tục, Vương Đình Huệ vẫn cho là hợp tình, giá điện nhảy “Lam ba đa”, vẫn cho là hợp lý, và mới đây ông ra sức chứng minh rằng, chính sách thuế của Việt Nam "ưu viêt", là khoan sức dân, là làm cho nhà nước thất thu hàng chục, hàng trăm ngàn tỷ, thì hình như ông đã quên lời tuyên bố vì lợi ích của gần 90 triệu dân rồi!?

Thật tức cười khi Vương Đình Huệ lấy tỷ lệ thuế thu nhâp doanh nghiệp Việt Nam so sánh với tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp Mỹ, rồi bảo rằng thuế Việt Nam nhẹ hơn thuế Mỹ!
Đã nhiều lần người ta lên tiếng cảnh tỉnh các chính khách nước nhà cẩn thận khi sử dụng phép so sánh, kẻo bia miệng tiếng đời, mà hình như các vị vẫn bỏ ngoài tai. Còn nhớ 51 năm trước, nhà thơ chính trị Tố Hữu huyênh hoang “trông Bắc, trông Nam trông cả địa cầu” không đâu bằng Viêt Nam “Chào 61 đình cao muôn trượng!” làm người ta nhổ bọt. Cứ tưởng cái thời những gì của CNXH đều tốt, những gì của tư bản đều xấu, kém: “Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ / Trăng Trung Quốc tròn hơn mặt trăng nước Mỹ” đã vĩnh viễn bị chôn vùi, thì mới đây bà phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan còn lại huyênh hoang hơn cả Tố Hữu rằng “chế độ xã hội chủ nghĩa chúng ta dân chủ gấp vạn lần chế độ tư bản chủ nghĩa!”. Thời trước dối trá dễ vì bưng bít được thông tin, bây giờ cố tình bưng bít cũng không nổi!

Vì vậy khi Bộ trưởng Vương Đình Huệ so sánh thuế Việt Nam với thuế Mỹ, rồi thuộc cấp của ông là Thứ trưởng Vũ Thị Mai phụ họa “Thuế như vậy là khoan sức dân lắm rồi” thì mọi người ngán ngẩm bảo nhau: “Vương Đình Huệ cũng không hơn Đinh La Thăng!”

Nước Mỹ, dù trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay, thu nhập bình quân đầu người (GDP) vẫn đạt 47.094 đô la , trong khi Việt Nam đến năm 2014 may ra mới đạt 1.811 đô la. Phải chăng Vương Đình Huệ không biết sự chênh lệch một trời một vực ấy, hay ông cố tình lờ đi, chì so sánh một vế để lừa dân ?

Ai cũng biết, khoan thư sức dân được phản ảnh bằng tỷ lệ thu ngân sách nhà nước trên tổng sản phẩm quôc nội, tỷ lệ càng cao thì khoan thư sức dân càng thấp. Hiện tại , tỷ lệ đó ở Trung Quốc 17,3%, Thái Lan và Malaysia 15,5 %, Philipines 13%, Indonesia 12,1% , Mỹ 11% và Ấn Độ 7,8%, trong khi Việt Nam 28%.

Việt Nam đã và đang duy trì chính sách bảo hộ thuế, thuế chồng lên thuế, bắt doanh nghiệp và người dân phải gánh chịu tỷ lệ thuế trên GDP gấp 1,4 đến 3 lần so với các nước trong khu vực. Thuế cao cộng lãi suất ngân hàng ngất ngưởng, khiến các doanh nghiệp không còn nguồn lưc tích lũy đầu tư dẫn đến suy kiệt. Chỉ trong nửa đầu năm 2012 đã có hơn 200.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa phá sản và ngừng hoạt động, kéo theo gần một triệu người thất nghiệp. Bức tranh sỉn màu ấy phản ảnh trung thực chính sách tài chính Việt Nam: Thuế và phí bủa vây, bóp nghẹt mức thu nhập ngày càng teo tóp của người dân và doanh nghiệp, làm cho cuộc sống nghẹt thở.

Thử hỏi, trên thế giới có nơi nào nhiều loại phí như Việt Nam? Và ngược dòng lịch sử, khi thưc dân Pháp đô hộ dân ta, có bao giờ thuế chồng thuế, phí chồng phí như bây giờ?

Hãy nhìn bản thống kê các loại phí giành cho phương tiện giao thông đường bộ, một phương tiện ảnh hưởng trực tiếp đến cái ăn, cái mặc của mỗi người dân, để thấy nó nặng nề và vô lý cỡ nào ? Phí trước bạ, phí đăng kiểm, phí xăng dầu, phí bình ổn giá xăng dầu, phí bảo hiểm, phí bảo trì đường bộ, phí ô nhiễm môi trường. Nếu nay mai phí lưu hành và phí vào nội đô được áp dụng, sẽ là chín loại phí.

Nhưng nào đã hết nợ! Mỗi khi lưu thông trên mỗi cung đường, còn phải bỏ tiền đề vượt qua một cái barie của trạm thu phí BOT. Những trạm thu phí BOT nhan nhản trên các tuyến đường còn gập gềnh ổ gà, ổ trâu, mà mỗi trạm bán vé từ 10 đến 200.000 đồng tùy cung đoạn và phương tiện lưu thông. Muốn xe chạy nhanh hơn, êm hơn một chút trên đường cao tốc, thì giá đắt đỏ gấp ba lần. Ví dụ, chỉ vài chục cây số đường cao tốc Sài Gòn – Trung Lương, phải bỏ ra 320.000 đồng mua vé.

Nhưng như thế vẫn chưa hết tội! Mỗi phương tiện lưu thông còn phải chi tiền mãi lộ cho cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông, như một thứ luật bất thành văn, như một loại phí bắt buộc, được hạch toán vào giá thành sản phẩm.

Bây giờ lại mới phát sinh một thứ phí nữa, “ưu tiên” cho bà con nông dân, với cái tên mỹ miều là “ nhà nước và nhân dân cùng làm”. Đó đóng góp xây dụng hệ thống giao thông liên thôn xóm, trường tiểu hoc, bệnh xá, nâng cấp di tích văn hóa. Trung ương khuyến khích địa phương làm bằng được. Các cấp chính quyền, các ban ngành đoàn thể báo cáo với trung ương, rằng đó là kết quả của công tác vận động quần chúng, là người dân tự nguyện, là sự đồng thuận(!?) Sự thực đâu phải thế ! Có rất ít người tự nguyện, mà sự thật là người dân phải góp tiền, góp thóc theo tỷ lệ , bổ trên từng hộ, từng đầu người. Hãy thử về một vùng quê hỏi xem, người dân nào không chịu đóng góp vào những công trình “nhà nước và nhân dân cùng làm” ấy có sống nổi với chính quyền thôn xã ?


Nước Mỹ, với chế độ tư bản chủ nghĩa, tất nhiên không "ưu việt" bằng chế độ xã hội chủ nghĩa như nước ta! Nhưng, người Mỹ ngoài mức thuế phải đóng theo luật, không phải đóng bất kỷ khoản phí vô lý nào. Và khi người dân đóng thuế thì nhà nước nước phài lo cho dân từ A tới Z. Trẻ con được ăn học từ nhỏ đến hết phổ thông trung học không mất tiền, không phải chạy trường chạy lớp, không phải học thêm, học kèm; phụ huynh không phải lo bồi dưỡng thầy cô, và nhà trường không có bất kỳ khoản phụ thu nào. Người lớn, không phân biệt công chức, tư chức hay thường dân, mất việc được hưởng trợ cấp thất nghiệp, khi nghỉ hưu được lĩnh lương, mức thấp nhất cho một người mới có thẻ xanh, nghĩa là chưa chính thức làm công dân Mỹ, cũng được 400 đô la/tháng, bảo đảm được nhu cầu cân fthiết nhất trong cuộc sống. Người dân Mỹ đóng thuế là để bảo trì cuộc sống hiện tại và tương lai của chính họ, còn người dân Việt Nam đóng thuế, đóng phí để nuôi ai?

Ông Đinh La Thăng bào rằng: “Việc đóng phí thể hiện sự yêu nước nên người dân phải thấy hạnh phúc và tự hào” (!?) . Cái cách hô hoán theo thói quen của một anh cán bộ phong trào đó chỉ làm người ta thêm tức cười. Cũng như những lời nói, việc làm của người được coi là có trình độ chuyên môn như Vương Đình Huệ làm cho người ta không nghĩ ông vô tình, mà là ông đang quay lưng lại với nhân dân!

Chưa có bằng chứng nào về việc Vương Đình Huệ tình nguyện hay bị một nhóm lợi ích nào khống chế, nhưng những chính sách thuế, phí và giá do ông hoạch định và bảo vệ đang đè nặng lên đầu lên cổ người dân, nó trái ngược với lời ông đã nói là vì lợi ích của gần 90 triệu dân.

Một bà má Nam Bộ, từng chỉ huy đội quân tóc dài thời kháng chiến đã nói với người viết bài này: “Tụi tao trước kia theo gương Út Tịch, còn cái lai quần cũng đánh giặc, để bây giờ tụi bay thu luôn cả cái lai quần của bà hay sao” (!?).

Với chính sách tân thu, triệt thu ngân sách hiện tai, không phải khoan cưu sức dân mà là “ khoan” thủng ruột dân.

Lời trăn trối của Trần Hưng Đạo với vua Trần Anh Tông, như còn văng vẳng: “ Nay lúc bình, thời phải khoan cưu sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc, ấy là thượng sách để giữ nước!”

Người dân bình thường không có được lời cao ý sâu, như bậc Thánh nhân, chỉ khuyên Vương bộ trưởng một lời mộc mạc: Hãy để cho dân cái lai quần, nhỡ khi “ bộ phận không nhỏ đe dọa sự an nguy của chế độ” người dân còn lo đánh giặc!

Minh Diện
http://bvbong.blogspot.com/2012/12/hay- ... -quan.html

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

'Vương quốc lừa dối'

Tạp ghi Huy Phương


“Có một thời mà người ta nói dối ngay cả trong giấc mơ!”
Nhà văn Ba Lan StanisBaw Jerzy Lec (1909-1966)

Ngày 22 Tháng Mười Một, 2012, tại Anh, người ta đã tổ chức cuộc thi để chọn người vô địch nói dối của thế giới. Cuộc thi kéo dài hai giờ ở quán rượu Bridge Inn, tỉnh Cumbria, các thí sinh có 5 phút để kể một câu chuyện nói dối gây đủ lý do để thuyết phục ban giám khảo. Giới chính trị và luật sư không được tham dự cuộc thi này, vì họ là những người sở trường nói dối có thành tích.

Câu nói dối đơn giản được xem là hay nhất, được truyền tụng là của một vị giám mục vùng Carlisle: “Cả đời tôi chưa bao giờ nói dối!”

Cuộc thi được sáng lập để tưởng nhớ một điền chủ tại địa phương tên Will Ritson sống ở thế kỷ 19, nổi tiếng là người ba xạo. Cuộc thi này do một công ty sản xuất bia địa phương tổ chức, trong dịp này, công ty đã sản xuất một loại bia đặc biệt mang tên “Người nói dối trắng trợn hay nhất” để kỷ niệm cuộc thi.

Nói dối để vui chơi, đùa giỡn, nhiều khi không hại đến ai, nhưng làm chính trị mà nói dối sẽ giết biết bao nhiêu người. Ðặc tính đó, những con người cộng sản và chế độ cộng sản phải là những tay vô địch. Họ không nói dối một người hay một nhóm người mà nói dối cả một dân tộc, nói dối nhiều thế hệ bằng cách sửa lại lịch sử, đạp lên sự thật để có lợi cho mình. Những người nói dối đoạt chức vô địch trong cuộc thi trên, theo tôi là “đồ bỏ,” mà phải kể đến những tay dối trá trứ danh là Hồ Chí Minh hay những người trong Bộ Chính Trị của nhiều đời cộng sản.

Cuộc nói dối được chấm giải nhất phải trao cho Hồ Chí Minh và đồng lõa trong Bộ Chính Trị vì họ đã dối được, không phải vài người mà cả nước, luôn cả những thế hệ tiếp nối.

Trước ngày 19 Tháng Năm, 1948, khi có tin Ðô Ðốc Pháp D'Argenlieu viếng thăm Hà Nội, nhưng Bộ Chính Trị không biết cách gì để huy động quần chúng treo cờ mừng “khách quý.” “Bác” chỉ cần hỏi một câu “xuất thần:” “Các chú biết ngày mai là ngày gì không?” Các chú đang ngớ người ra thì “bác” phán: “Ngày mai là ngày sinh nhật bác!”

Thế là cả Hà Nội tưng bừng treo cờ mừng sinh nhật “bác.” (*)

Những truyện ký tên Trần Dân Tiên, T. Lan; những chuyện “cây đuốc sống” Lê Văn Tám, những nhân vật Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Bé,... đều là những chuyện láo khoét có hạng, được ghi vào sử sách cộng sản, xem như những chuyện thật, cả nước cần phải học tập, trong đó chuyện “học tập theo gương đạo đức Hồ Chí Minh” là một chuyện dối trá nhất.

Hậu quả của sự nói dối này là bây giờ cả nước đều quen thói dối trá, lừa lọc.

Một trong 13 lý do vì sao ông du khách Craig Heimburgur ghét Việt Nam (reason-to-hate-Viet Nam)” là: “Tôi ghét sự gian dối ở Việt Nam (I hate Vietnam's lies.) Tôi thật sự mệt mỏi bởi bị lừa lọc. Nó giống như trở thành một thói quen lừa lọc của người dân xứ này!”

Trong bài tham luận dự định đọc trong kỳ Ðại Hội Nhà Văn Việt Nam, nhà văn Trần Mạnh Hảo đã can đảm nói sự thật: “Ông cha chúng ta đã đánh thắng giặc Hán, Ðường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh,... để bảo tồn đất nước. Tất cả các thứ giặc trên cộng lại cũng không ghê gớm bằng giặc nói dối đang tàn phá tổ quốc ta, giống nòi ta.”

Nền giáo dục của quốc gia cần đào tạo con người lương thiện, đào tạo cho lớp người “tổ quốc mong cho mai sau” nhưng dưới chế độ cộng sản, cũng theo ý kiến của Trần Mạnh Hảo: “Ðạo đức trong giáo dục Việt Nam hôm nay đồng nghĩa với dối trá: thầy dối trá thầy, trò dối trá trò, quản lý giáo dục báo cáo láo cốt lấy thành tích, nạn mua bán bằng, bán đề thi, mua quan bán tước đang là đại họa của nền giáo dục. Hầu hết sách giáo trình, sách giáo khoa... là sách đạo văn. Cán bộ có chức có quyền đua nhau làm thạc sĩ, tiến sĩ... lấy bằng thật nhưng học giả.”

Ngay cả ông Trần Quốc Thuận, phó chủ nhiệm Văn Phòng Quốc Hội CSVN, đã trả lời phỏng vấn của báo Thanh Niên: “Cơ chế hiện nay tạo kẽ hở cho tham nhũng vơ vét tiền của của nhà nước... Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là tiền, dù số tiền bị mất lên đến hằng trăm tỉ, mà cái lớn nhất bị mất là đạo đức. Chúng ta hiện sống trong một xã hội mà chúng ta phải nói dối với nhau để sống. Nói dối hằng ngày trở thành thói quen, rồi thói quen đó lặp lại nhiều lần thành đạo đức mà cái đạo đức đó rất mất đạo đức.”

Phần ông Nguyễn Khải, đại tá, đại biểu Quốc Hội, phó tổng thư ký Hội Nhà Văn CSVN, thì phát biểu can đảm hơn, bộc bạch hết lòng mình vì chính ông đã ở trong gan ruột cộng sản: “Người cộng sản nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói dối không hề biết xấu hổ và không hề run sợ. Người dân vì muốn sống còn cũng đành phải dối trá theo!”

Ba mươi sáu triệu người chết vì nạn đói hay bị bạo hành tại Trung Quốc trong suốt bốn năm (1958-1961) là kết quả của chủ nghĩa lừa bịp láo khoét trong những năm cầm quyền của Mao Trạch Ðông. Ðảng Cộng Sản Trung Quốc tuyên truyền hay đến nỗi bao thế hệ thanh niên lúc ấy đều tin rằng: “Mao Chủ Tịch là một vị thần, chủ nghĩa cộng sản là thiên đường và phần còn lại của thế giới chỉ là địa ngục.” Thảm họa cho dân Trung Quốc chính là hậu quả của chủ trương tập thể hóa và “bước đại nhảy vọt.”

Ðàn em Việt Nam, theo ký giả Dennis Prager, trong một bài xã luận hàng tuần, cho rằng chế độ Cộng Sản Việt Nam đã đem lại cái chết vô nghĩa cho hai triệu người Việt Nam vì những lời dối trá lịch sử. Lời nói dối chính là câu trả lời của Cộng Sản Việt Nam, cũng như hầu hết mọi lời nói dối của cộng sản, và đã được khối thiên tả không cộng sản trên thế giới lặp lại. Lời nói dối này đã (và vẫn tiếp tục đang) được dạy tại hầu hết các viện đại học ở phương Tây, và đã (và vẫn tiếp tục đang) được hầu hết mọi phương tiện truyền thông trên địa cầu truyền tải: Lời nói dối đó là Cộng Sản Việt Nam (tức là Bắc Việt), và Việt Cộng chỉ tranh đấu giải phóng cho Việt Nam khỏi tay ngoại bang do sự xâm lăng của Hoa Kỳ.

Ông cho rằng: “Hoa Kỳ tranh đấu để giải phóng các nước, không phải để cai trị họ. Sự thật là, chính đảng Cộng Sản Việt Nam chứ không phải Hoa Kỳ, mới là những kẻ muốn kiểm soát người dân Việt. Nhưng lời dối trá lại được tuyên truyền lan rộng khắp nơi và hiệu nghiệm đến mức đa số mọi người trên thế giới - trừ những người Mỹ hậu thuẫn cho cuộc chiến đó và thuyền nhân người Việt và những người Việt khao khát tự do - cứ tin rằng Hoa Kỳ nhập trận là để thành lập “đế quốc Mỹ” trong khi Cộng Sản Việt Nam thì tranh đấu cho tự do của người Việt.” (PBD dịch)

Cho nên, chúng ta phải hiểu rằng, “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” là một khẩu hiệu dối trá, biện minh cho sự xâm lăng và áp đặt sự cai trị của đảng cộng sản lên cả nước.

Trong một cuốn phim do Romania sản xuất năm 1968, được chiếu tại Bắc Việt, nhất là trong các trại tù tập trung trên đất Bắc, mà nhiều người tù còn nhớ mãi, mang tên “Trẻ Mãi Không Già,” trong đó có một đoạn nói đến “Vương Quốc Lừa Dối,” nơi mà những người nói sự thật đều bị ném đá, đã khiến khán giả liên tưởng ngay đến đất nước cai trị bởi đảng cộng sản Việt Nam hiện nay.

Không phải vô cớ mà người Việt Nam đã có thành ngữ “Nói dối như vẹm” (Nói nhanh hai tiếng “Vê Em” (VM-Việt Minh: viết tắt của Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh Hội). Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) thì được hiểu rằng “Xạo Hết Chỗ Nói,” và chúng ta cũng chưa quên câu: “Ðừng nghe những gì cộng sản nói...” vì họ chỉ nói những điều dối trá!

Dân chúng cũng thường gọi cộng sản là “Anh Ba,” xin chớ vội mừng! Ðó là Ba Láp, Ba Hoa, Ba Xàm và Ba Xạo! Tôi nghĩ độc giả, nếu có thời giờ, có thể lục trí nhớ tìm ra vài mươi tiếng “Ba” nữa!

(*) Theo lời kể của kịch tác gia Bửu Tiến

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Một lời thú nhận thật thà

Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)

Trong những năm gần đây, trong giới lãnh đạo Việt Nam, ông Trương Tấn Sang nổi bật hẳn lên như một người cầm ngọn cờ đầu
trong công cuộc chống tham nhũng. Tôi không biết gì về chuyện ông có tham nhũng hay không,
có lợi dụng chức quyền của mình để làm giàu cho bản thân và cho gia đình hay không.

Image
Văn phòng tập đoàn quốc doanh Vinashin của Việt Nam ở Hà Nội. Tập đoàn này nổi tiếng vì những thương vụ làm ăn thua lỗ
và có dấu hiệu tham nhũng có hệ thống. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Với những chuyện ấy, thú thực, tôi hoàn toàn mù tịt. Tôi không có điều kiện để tìm hiểu và cũng không mấy tò mò tìm hiểu. Tôi chỉ biết, qua các bài tường thuật trên báo chí trong nước, thời gian gần đây, khi tiếp xúc với dân chúng, ông hay nhấn mạnh một số điểm:

Một, ông thừa nhận tham nhũng là một hiện tượng phổ biến, không phải chỉ là một con sâu, mà là cả một bầy sâu, sau đó, ấn tượng hơn, ông tuyên bố: đó là cả một tập đoàn sâu.

Hai, ông cũng thừa nhận nạn tham nhũng ấy là một đại họa của đất nước: Một con sâu đã làm rầu nồi canh; cả một bầy sâu thì đất nước còn gì nữa?

Ba, ông dõng dạc tuyên bố là ông quyết tâm chống tham nhũng. Ông hứa hẹn là “Khi thấy mình nhu nhược thì tôi sẽ làm đơn xin nghỉ [...]Thậm chí khi về quê, tôi sẽ trả lại nhà cho Ðảng. Nhà tôi nhỏ thôi, 51 mét vuông, khi về hưu dứt khoát tôi không lấy một mét vuông đất nào.”

Và bốn, ông kêu gọi mọi người cùng quyết tâm chống tham nhũng.

Về ba điểm đầu, trên nguyên tắc, không có gì đáng bàn. Làm lãnh tụ, nói năng như thế cũng phải. Nó phản ánh đúng, dù chỉ một phần, thực trạng của đất nước. Và, nó dễ làm mát lòng dân, những người từ lâu đã là nạn nhân hoặc ít nhất chứng nhân của nạn tham nhũng vốn đang hoành hành và tàn phá đất nước ở mọi cấp với mức độ rất đáng sợ.

Vấn đề là: Họ có làm được những gì họ nói hay không? Trước, Hồ Chí Minh đã nói đến chuyện chống tham nhũng. Rồi Lê Duẩn. Rồi Trường Chinh. Rồi Nguyễn Văn Linh. Rồi bao nhiêu đời tổng bí thư và chủ tịch nước đã nói về cái vấn đề mà người ta cho là quan trọng và khẩn cấp ấy. Trong bài “Thế bao giờ mục đích chính là bắt sâu?” nhà văn Nguyễn Quang Lập nhắc lại một nhận định của ông Lê Khả Phiêu, lúc đang còn là tổng bí thư, khi nói về tham nhũng: “Thực trạng đã nặng lắm rồi, như căn bệnh ung thư.” Từ mấy chục năm nay, đảng Cộng sản Việt Nam chống lại tập đoàn sâu hay cái căn bệnh ung thư tham nhũng ấy ra sao? Ông Trương Tấn Sang thừa nhận “Chưa làm được bao nhiêu.”

Bởi vậy, điểm thứ tư ở trên mới là quan trọng: Làm sao để chống tham nhũng? Trong các bài phát biểu gần đây, ông Trương Tấn Sang nói đến hai biện pháp chính:

Thứ nhất, thông qua cơ chế, đặc biệt với quyết định Quốc Hội và các Ủy Ban Nhân Dân sẽ bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người lãnh đạo cao cấp nhất từ trung ương xuống địa phương. Ông hứa hẹn: “Nếu làm tốt, đúng đắn, có hiệu quả chắc chắn sẽ xoay chuyển tình thế.”

Có lẽ tự biết là chả mấy ai tin tưởng vào cái cơ chế ấy (xin lưu ý chữ “Nếu” trong câu trên), ông Trương Tấn Sang chuyển sang biện pháp thứ hai: Khuyến khích dân chúng tích cực tố giác tham nhũng.

Nhưng ở đây lại có hai vấn đề: một, làm cách nào để bảo đảm việc tố giác ấy sẽ được giải quyết thỏa đáng và có hiệu quả; và hai, làm sao để tránh tình trạng những người tố giác khỏi bị trù dập?

Ðó là hai vấn đề được dân chúng phát biểu nhiều nhất trong các buổi ông Trương Tấn Sang tiếp xúc với cử tri.Với hai vấn đề ấy, ông Trương Tấn Sang nêu lên hai biện pháp giải quyết:

Thứ nhất, ông tin vào sức mạnh của đám đông. Ông kêu gọi: “Bà con làm ơn làm phước mạnh dạn, thẳng thắn chỉ ra kẻ tham nhũng, kẻ suy thoái, biến chất trong một bộ phận lớn có chức có quyền”. Rồi ông nhắn nhủ: “Nếu người dân không tin chính quyền địa phương hoặc phát hiện nhưng không ai giải quyết thì hãy gửi đơn cho chúng tôi.” Ông khẳng định: “Một người có thể bị trù úm, mươi người có thể bị trù úm, nhưng cả dân tộc này cùng chống tham nhũng thì không có gì phải sợ.”

Thứ hai, ông tin tưởng vào lý tưởng và đạo đức. Ông kể: “Tôi biết có anh em thân cô, thế cô bị trù úm. Tôi nói thật, cá nhân chúng tôi trong quá trình làm cách mạng cũng từng bị trù dập. Họ dùng công cụ là không cho mình lên chức, lên lương.” Nhưng rồi ông đề ra ngay liệu pháp: “Mình không cần những thứ đó thì người ta không còn công cụ nào để khống chế mình.”

Hai biện pháp ấy không có gì mới mẻ. Và cũng không có gì bảo đảm là có hiệu quả. Chúng chỉ là những lời kêu gọi suông. Tuy nhiên, vấn đề là: Khi sử dụng hai biện pháp ấy, ông Trương Tấn Sang, với tư cách chủ tịch nước và ủy viên Bộ Chính Trị, một trong ba bốn người được xem là có quyền lực nhất nước, tự thú nhận là mình đã bất lực. Tại sao ông cần dân chúng tố giác tham nhũng trong khi bằng chứng của tham nhũng đã rành rành, sờ sờ, tràn lan ra đấy? Ở khắp nơi. Một số chính phủ ngoại quốc, đặc biệt là Nhật và Úc, đã từng nêu lên nhiều trường hợp tham nhũng ở Việt Nam với những bằng chứng không thể chối cãi được, tại sao ông không sử dụng chúng để trừng trị tham nhũng? Ông nói đến sức mạnh của lý tưởng và đạo đức, hai yếu tố giúp người ta vượt qua sự sợ hãi khi đương đầu với tham nhũng, nhưng tại sao chính ông lại vẫn chỉ dám nói đến “đồng chí X” nào đó thay vì thẳng thắn vạch mặt chỉ tên cái kẻ đứng đầu trong các tập đoàn tham nhũng tại Việt Nam?

Mà không phải chỉ một mình ông Trương Tấn Sang. Cả Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng cộng sản cũng bó tay.

Tất cả đều bất lực.

Ông Trương Tấn Sang, khi hăng hái hô hào chống tham nhũng, đã thừa nhận sự bất lực ấy.

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Image

Mùa lễ lạt
Tạp ghi Quỳnh Giao
Người viết này không là nhà ngôn ngữ nên xưa nay cứ hay dùng một danh từ kép là “lễ lạc” để nói về hội hè vui tươi trong các dịp lễ. Chữ “lạc” chẳng có ý nghĩa là vui vẻ lạc quan hay sao? Nhưng người thông thái thì dạy rằng phải dùng chữ “lễ lạt”, với hai ý nghĩa là lễ hội và quà tặng. Có người anh trong nhà còn chỉ ra nhiều nghĩa của chữ “lạt” này là nhạt nhẽo, lơ là, như nét không đậm mà nhạt, và ăn cơm mà kiêng món mặn thì gọi là ăn lạt.

Ðược học hỏi như vậy thì dại gì mà mình không nghe?

Huống chi là trong thâm tâm, khi thấy âm nhạc tưng bừng nổi lên sau lễ Tạ Ơn của Hoa Kỳ thì lại thấy buồn buồn và rất cảm với chữ lễ hội lạt lẽo! Vì vậy, xin nói về “Mùa Lễ Lạt”, vừa đúng chữ lại vừa hợp tình.

Ngẫm lại thì tiếng Việt mình quả thật phong phú mà rắc rối cho những ai không thiết tha với chữ nghĩa! Nếu buông một tiếng “buồn” thì là buồn thật sự. Nhưng nếu nói “buồn buồn”, thì lại có nghĩa là hơi buồn thôi, một nỗi buồn man mác, bâng khuâng. Cũng thế, màu tim tím thì phải lạt hơn màu tím.

Bây giờ mới xin vào chuyện.

Với người Việt chúng ta tại Hoa Kỳ, sau lễ Tạ Ơn là một chuỗi dài lễ hội, lễ Giáng Sinh, rồi Tết Dương Lịch, vừa xong thì mình chuẩn bị Tết Nguyên Ðán, đến khi mệt nhoài thì được nhắc nhở là sắp đến mùa khai thuế. Cho nên, khác với người Mỹ, nhiều độc giả của chúng ta rất thông cảm với chữ lễ lạt.

Khi còn ở quê nhà, Noel là cơ hội cho nhiều cặp tình nhân trẻ, đi lễ nửa đêm với quần áo đẹp và hưởng một chút lãng mạn của thời tiết mát mẻ vùng nhiệt đới. Quanh năm nóng bức, thì thú vị là lúc được mặc áo len! Trẻ con nhà nghèo ở Việt Nam làm gì có quà Noel và cũng không tin ở trên đời có một ông già Noel. Chúng có thể tin trên cung trăng có chú cuội vì nói dối mà bị đày lên đó ở với chị Hằng.

Viết đến đây lại nhớ kỷ niệm xưa khi mới sang Mỹ năm 1975. Ðến Trung Thu, vừa mới nhắc đến lồng đèn của trẻ thơ ở quê nhà, thì cháu gái ở nhà mới lên 5 liền hỏi Mẹ: Mẹ ơi, cái ông Việt Nam ở trên “moon” có còn không? Câu nói pha tiếng Việt tiếng Mỹ làm cả nhà cười ầm vì cái ông Việt Nam đó là chú Cuội. Cười xong bỗng lại bồi hồi. Vẫn là vầng trăng xưa, nhưng quê hương thì đã mất cùng rất nhiều kỷ niệm.

Khi mới sang, chưa biết không khí lễ lạt của Mỹ, cũng chưa quen cái tục lệ cho quà và mở quà Giáng Sinh, mình chỉ thấy buồn buồn khi nghe nhạc mùa lễ. Vì càng nghe nhạc lại càng nhớ nhà và ngậm ngùi năm xưa vì mình chỉ “vui như Tết” khi mùng Một được mặc áo để mừng tuổi ông bà cha mẹ và được lì xì những tờ giấy bạc mới tinh.

Ở nhà ngày xưa cũng hát nhạc Giáng Sinh vào dịp Noel. Ca khúc hay hơn hết và được hát nhiều hơn hết là “Silent Night” của Franz Gruber mà lời Việt của Hùng Lân là tuyệt đẹp. Người thầy dạy nhạc lý hay nhất nước của nhiều thế hệ đã viết lời từ trang trọng như sau:

Ðêm thánh vô cùng, giây phút tưng bừng

Ðất với Trời se chữ Ðồng

Ðêm nay Chúa con thân thánh tôn thờ

Canh khuya giáng sinh trong chốn hang lừa

Ơn châu báu không bờ bến

Biết tìm kiếm của chi đền...


Tinh tú trên trời, sông núi trên đời

Vua, thánh thần, mau kết lời

Cao sao hóa công đã khéo an bài

Sai con hiến thân để cứu nhân loài

Hang chiên máng rêu tạm trú

Bốn bề tuyết sương mịt mù...


Bài “Ðêm Thánh Vô Cùng” có sự trang nghiêm của một bài kinh.

Dù không theo đạo Công Giáo, nhiều người cũng thấy lòng chùng lại và hướng tâm hồn đến một cõi thiêng liêng nào đó để nguyện cầu cho người khác. Nếu Thiên Chúa đã dâng hiến người con của mình để cứu chuộc nhân loại thì loài người cũng nên suy ngẫm về nghĩa cử cao cả này.

Nhưng sau giây phút bồi hồi đó, trên màn ảnh truyền hình Hoa Kỳ chúng ta lại thấy khác. Chỉ vì “Ðêm Thánh vô cùng, mua sắm tưng bừng” là một thực tế của nước Mỹ. Mọi dịp lễ, dù linh thiêng hay phù phiếm đều tạo ra cơ hội thương mại. Mà chuyện ấy cũng có cái lý riêng. Nếu lễ lạt cuối năm mà vắng ngắt thì các thương xá của chúng ta sẽ đầy bảng “For Lease”. Có cơ sở bị phá sản, nhân viên và gia đình mất việc và nghe nhạc tưng bừng lại rưng rưng nước mắt.

Một khía cạnh khác lại còn Mỹ hơn và mới hơn nữa là từ nhiều năm nay, một số người tự xưng là tiến bộ của xã hội này còn muốn xóa chữ Giáng Sinh trong mùa lễ! Không được trưng bày Chúa Hài Ðồng trong hang đá bên máng cỏ và cũng chẳng được nhắc đến Thiên Chúa. Chính là cái óc cực đoan quá khích đó mới thật sự tạo ra “lễ lạt”. Không có Thiên Chúa thì quả là một cái lễ rất nhạt.

Post Reply