Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Chiến tranh Trung Việt xảy ra hay không?

Lê Dủ Chân
(Danlambao) - Với tình hình tranh chấp lãnh thổ hiện nay, chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam có xảy ra không? Đây là câu hỏi nhức nhối không riêng gì của những người lãnh đạo tại Bắc Kinh, tại Hà Nội mà của cả nhân dân hai nước Việt Trung.

Trước hết mọi người ai cũng biết rằng, nếu chiến tranh xảy ra thì kẻ phát động chiến tranh dứt khoát phải là Trung Quốc bởi vì căn cứ vào bản chất chính trị của nhà cầm quyền Việt Nam cũng như dựa vào thế và lực đang có thì Việt Nam hoàn toàn không muốn và không có khả năng gây nên một cuộc chiến đối đầu với Trung Quốc. Thực tế này cả thế giới và ngay cả Trung Quốc, Việt Nam đều thấy rõ.

Từ trước đến nay những luận điệu tuyên truyền của hệ thống truyền thông báo đài Bắc Kinh cho rằng Việt Nam "gây hấn" là những cáo buộc hàm hồ vô căn cứ chỉ làm trò cười cho nhân dân hai nước Việt Trung và quốc tế.

Để phát động chiến tranh với Việt Nam đương nhiên những người cầm đầu tại Bắc Kinh phải biết rằng thế giới hôm nay không còn trong bối cảnh của thời phong kiến, vào thời điểm mà chiến tranh giữa các quốc gia được nhìn nhận như một sự kiện cục bộ giữa hai bên tham chiến không phải là vấn đề của các nước lân bang và thế giới bên ngoài.

Cục diện thế giới đã thay đổi, hoàn cảnh, vị trí của Việt Nam và Trung Quốc hiện nay đối với quốc tế hoàn toàn không giống như trong những thập niên 70, 80 và bản chất của cuộc chiến nếu xảy ra hôm nay giữa Trung Quốc và Việt Nam là cuộc chiến tranh giành lãnh thổ, lãnh hải với mục đích kinh tế, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của nhiều quốc gia trong vùng cũng như trên toàn thế giới.

Những người lãnh đạo tại Bắc Kinh thừa khôn ngoan để hiểu rằng trong thế kỉ 21 loại quyền lực có thể đem lại lợi ích chính đáng và lâu dài cho một cường quốc đó là quyền lực mềm (soft power). Sự tương quan lực lượng quân sự cũng như tính hủy diệt của vũ khí nguyên tử trong thế kỷ này bắt buộc những nhà lãnh đạo trên thế giới hiểu rằng bất cứ quốc gia nào chủ trương xử dụng quyền lực cứng (hard power) để giành lợi ích bất chính cho mình thì quốc gia đó sẽ bị hủy diệt, Trung Quốc không thể là một ngoại lệ.

Với tham vọng trở thành một trong những cường quốc hàng đầu trên thế giới, hơn nước nào hết Trung Quốc cần thời gian, sự ổn định và lòng tin của nhân dân trong nước cũng như tại những khu vực mà Trung Quốc đang muốn vươn tới. Asia, trong đó có Việt Nam là một trong những khu vực ưu tiên hàng đầu mà Trung Quốc cần có sự ổn định và lòng tin để bành trướng thế lực của mình ra bên ngoài. Với vị trí chiến lược của mình, Việt Nam và Asia là cửa ngỏ để Trung Quốc đi vào thế giới, nếu chiến tranh xảy ra cánh cửa này khép lại Trung Quốc muôn đời chỉ là một quốc gia lục địa, giấc mộng cường quốc chỉ là chân trời xa thẳm.


Việt Nam hiện nay là 1 trong 4 nước có đường lối chính trị rập khuôn theo Trung Quốc. Hơn thế nữa tập đoàn lãnh đạo Việt Nam là đồng chí là anh em của tập đoàn lãnh đạo Trung Quốc. Họ chẳng khác gì những tên tay sai bộ hạ trung thành của Bắc kinh, mọi đường lối chính sách của Việt Nam đều do Bắc Kinh chỉ đạo qua châm ngôn 16 chữ vàng và 4 tốt. Tập đoàn lãnh đạo Bắc kinh sẽ không điên rồ đến nỗi đem quân đi đánh kẻ đã thần phục mình. Một chiến lược gia dù tầm thường nhất cũng thấy được rằng trong tình trạng bang giao giữa hai nước Việt Trung hiện nay thì con đường tối ưu để Trung Quốc xử lý đối với Việt Nam là "bất chiến tự nhiên thành".

Từ những nhận định trên, nếu Trung Quốc dùng vũ lực tấn công Việt Nam cho dù thắng trận, nhất thời chiếm được toàn bộ quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và kiểm soát được Biển Đông (chỉ riêng đối với Việt Nam) thì họ sẽ được và mất những gì?

Việt Nam dù nhỏ và yếu nhưng một khi chiến tranh xảy ra trở thành kẻ đối đầu thì chắc chắn không để yên cho Trung Quốc an nhiên sử dụng lãnh thổ của mình. Chiếm thì dễ nhưng giữ được hay không đó là vấn đề cần phải bàn tính. Muốn giữ được lâu dài Trung Quốc phải phát động chiến tranh toàn diện trên đất liền và trên Biển Đông để xóa sổ Việt Nam. Điều này nằm ngoài khả năng của Trung Quốc nếu không muốn nói rằng con đường này sẽ đưa Trung Quốc đến sụp đổ toàn diện.

Vì mất một phần đất nước, Việt Nam sẽ chấp nhận chiến tranh lâu dài nhưng Trung Quốc thì không thể vì chiến tranh với Việt Nam mà hủy đi tham vọng cường quốc của mình.

Thời đại ngày nay là thời đại sống chung hòa bình, bất cứ quốc gia nào ỷ vào sức mạnh quân sự để bành trướng lãnh thổ của mình, làm trở ngại giao thương quốc tế, vi phạm các hiệp định quốc tế nhất định sẽ bị Liên Hiệp Quốc và thế giới lên án và trừng phạt.

Do tham vọng bành trướng lãnh thổ, hiện nay Trung Quốc là một nước đang có nhiều kẻ thù (Nga, Ấn, Phi, Nhật, Hồi, Mông, Mãn, Tạng...) liệu họ có dám vì lợi ích từ Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông mà trở thành kẻ địch của thế giới hay không? nhất là đối với Mỹ và đồng minh của Mỹ nằm sát cạnh Trung Quốc như Nam Hàn, Phi, Nhật, Việt Nam, Ấn Độ... Sức mạnh của Trung Quốc còn rất xa để có thể làm được việc này. Sự tồn tại của đảo quốc Đài Loan từ năm 1949 đến nay đã xác định cho luận điểm này.

Khi mở một cuộc tấn công vào Việt Nam, Trung Quốc mặc nhiên trở thành một quốc gia nguy hiểm đối với các nước lân bang trong khối Asia. Niềm tin mà Trung Quốc đã xây đựng được đối với họ lâu nay sẽ tan tành như mây khói.

Để bảo vệ quốc gia của mình, con đường duy nhất của các quốc gia đó là liên kết lại với nhau và ngã hẳn về phía Hoa Kỳ để đối trọng với Trung Quốc do vậy dù muốn dù không Trung Quốc sẽ trở thành một quốc gia bị cô lập.

Dù chiếm được Hoàng Sa và Trường Sa nhưng các quốc gia có tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo này như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, Taiwan có để cho Trung Quốc có được tự do và rảnh tay để khai thác tài nguyên ở đó hay không? Chắc chắn là không và chiến tranh có thể kéo dài mãi cho đến khi nào Trung Quốc bỏ mộng xâm lăng của mình.

Riêng các cường quốc như Mỹ, Ấn, Nhật, Úc có khoanh tay đứng nhìn khi thấy quyền lợi thiết thực và nền an ninh quốc gia của họ bị đe dọa một khi Biển Đông lọt trong tay Trung Quốc? Những tuyên bố và động thái trong thời gian gần đây của các quốc gia này cho thấy họ sẽ không ngồi yên để nhìn Trung Quốc múa gậy rừng hoang.

Thể chế chính trị hiện nay tại Việt Nam và Trung Quốc đang nương tựa nhau để tồn tại trong thế "môi hở răng lạnh" do đó nếu nói eo biển Malacca (*) là tử huyệt cho sự vươn lên của Trung Quốc thì Dân Chủ ở Việt Nam là tử điểm của chế độ cộng sản độc tài độc đảng tại Bắc Kinh.

Một khi có chiến tranh xảy ra với Trung Quốc, Việt Nam dưới sức ép nhân dân trong nước và trên thế giới, để có được sự đoàn kết của toàn dân, để có được sự ủng hộ của quốc tế, bắt buộc chế độ cộng sản độc tài độc đảng hiện nay hoặc phải tự thay đổi hoặc bị lật đổ để trở thành một nước tự do dân chủ.

Nếu Việt Nam trở thành một nước tự do dân chủ thì nền độc tài của Trung Quốc khó mà tồn tại trước sự đòi hỏi của nhân dân Trung Hoa và loài người văn minh trên thế giới, đó là kết quả mà tập đoàn lãnh đạo tại Bắc Kinh không bao giờ mong muốn. Đây chính là giá trị đích thực của câu nói "môi hở răng lạnh " mà nhân dân hai nước Việt Trung trong thời đại cộng sản được tuyên truyền.

Tóm lại: Chiến tranh xâm lược chỉ là phương tiện cuối cùng phải dùng để đạt đến mục đích chính trị và kinh tế. Phát động một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô với Việt Nam, Trung Quốc không những không nhận được lợi lộc gì về hai phương diện này mà ngược lại sẽ nhận lấy những hậu quả vô cùng tai hại cho chính sách, cho chế độ của họ hiện nay. Như vậy liệu chiến tranh Trung Việt có xảy ra như một số lời đe dọa ngu xuẩn vô trách nhiệm của một số báo chí Trung Quốc trong thời gian gần đây hay không?

Xin trả lời: Kẻ sợ chiến tranh là Trung Quốc không phải là Việt Nam.

Lê Dủ Chân

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Ngoại giao Obama:
Quá khứ và tương lai

Chu Chi Nam
(Danlambao) - Trong thời gian tranh cử tổng thống vừa qua, ông Romney, đại diện đảng Cộng hòa và nhiều nhà báo, bình luận chính sách ngoại giao của ông Obama, từ Phi châu tới Âu châu, qua Trung Đông và Á châu, đã hoàn toàn thất bại. Riêng tôi, tôi không nghĩ như vậy, không phải vì ngày hôm nay ông Obama đã thắng cử, mà trước đó, tôi đã nhiều lần bày tỏ về chính sách ngoại giao của Obama, và tôi cho rằng chính sách này đã thành công và còn mang nhiều hứa hẹn trong tương lai, nhất là đối với vùng châu Á Thái bình dương, nhất là cuộc tranh hùng Mỹ - Trung cộng.


I) Quan niệm của những người cho rằng chính sách ngoại giao trong nhiệm kỳ đầu của Obama là thất bại

Thật vậy, những người này cho rằng, cao điểm của chính sách ngoại giao của Obama là 2 bài diễn văn tại Prague, thủ đô Tiệp khắc, vào ngày 6/04/2009, kêu gọi giải trừ võ khí nguyên tử; và diễn văn vào ngày 4/06/2009, kêu gọi đối thoại giữa thế giới Tây phương và Hồi giáo.

Tiếp sau đó là Giải Nobel Hòa Bình mà ông đã được trao tặng. Nhưng thực tế chúng ta thấy gì: Chương trình thì to lớn, mộng tưởng thì vĩ đại, nhưng thực hiện thì chẳng được bao nhiêu.

Những người chỉ trích Obama, họ nêu ra từng điểm một:

Về vấn đề Do Thái và Palestine thì là dẫm chân tại chỗ, để đến nỗi bà Ngoại trưởng Do Thái nói bóng nói gió là Obama ngây thơ, khi muốn nói chuyện với Iran.

Về Iran thì nước này vẫn tiếp tục tìm cách chế bom nguyên tử.

Tại Trung Đông, những cuộc cách mạng dân chủ tại Tunisie, Ai cập, Lybie, thì kết quả ra sao? Đó là những tổ chức Hồi giáo cực đoan, như tổ chức Anh Em Hồi giáo (Frères musulmans) ở Ai cập lên nắm chính quyền. Ở Lybie cũng vậy, và họ cho rằng đây là nguyên do xa đưa đến cái chết của ông Đại sứ và một vài người Hoa kỳ tại nước này.

Đối với Phi châu, mặc dầu là cùng màu da, nhưng ông Obama trong nhiệm kỳ qua lại ít chú ý đến lục địa này.

Về A Phú Hãn và Irak, mặc dầu có rút quân, nhưng tình hình tại 2 xứ này rất bất ổn, tổ chức Hồi giáo cực đoan có thể cướp chính quyền ở 2 nước vào bất cứ lúc nào.

Đối với Á châu cũng vậy, vào 2 năm đầu Obama không có 1 đường lối ngoại giao rõ rệt. Chính vì vậy mà nước Tàu, trong Hội Nghị về ô nhiễm môi trường ở Stockhom, đã trở nên kênh kiệu với ông, qua thái độ của Thủ tướng Trung cộng.

II) Quan niệm ngược lại

Quan niệm ngược lại, đảng Dân chủ của Obama trả lời lại cũng từng điểm một:

Về Do Thái và Palestine, đây không phải từ Obama, mà gần như cả nửa thế kỷ nay, bao nhiêu tổng thống Hoa kỳ, từ Dân chủ tới Cộng Hòa, đều bất lực, vì sự "cứng đầu" của cả 2 bên, hễ thuyết phục được bên này, thì bên kia không chịu. Kinh nghiệm là dưới thời Bill Clinton, nhiệm kỳ 2, ông đã dồn hết nỗ lực cố giải quyết vấn đề này, hòa bình gần như đã tới, chỉ trên ngòi bút. Tuy nhiên cũng thất bại.

Về Iran, việc kiểm soát những lò hạt nhân vẫn tiến hành và đây không phải chỉ có Hoa kỳ, mà còn có cả Âu châu và Tổ chức Kiểm soát Nguyên tử quốc tế.

Về Trung Đông, đây là một thành công rất lớn của chính sách ngoại giao của Obama. Không ai chối cãi rằng nếu không có Hoa Kỳ đứng đằng sau, qua những tổ chức Vô chính phủ (NGO), phần lớn được trợ giúp bởi Bộ Ngoại giao Hoa kỳ, thì những cuộc cách mạng dân chủ không thể xảy ra ở những nước Tunisie, Ai cập, Lybie.

Chuyện chính đó là mang lại dân chủ cho những nước này, cho phép dân được bầu chọn tự do những người mình thích. Ngay cả trường hợp họ bầu chọn những tổ chức Hồi giáo cực đoan, nhưng đây là lựa chọn của họ. Hơn thế nữa, không lẽ cứ cô lập hoài những tổ chức này hay sao, càng cô lập, càng dễ đưa đến chỗ họ trở nên cực đoan, khủng bố, miễn sao họ không làm hại đến quyền lợi Hoa kỳ và hòa bình thế giới.

Đấy lại chưa nói đến sự việc là sau bất cứ cuộc cách mạng nào cũng có một thời kỳ bất ổn. Chẳng hạn như cuộc cách mạng Pháp 1789, rất là bất ổn sau đó. Nhưng những kết quả nó mang lại cho dân Pháp và cho cả thế giới ngày hôm nay không ai có thể phủ nhận.

Về khủng bố, kết quả to lớn của chính sách ngoại giao Hoa kỳ là đã giết được trùm khủng bố Ben Laden, người mà chính ông Georges Bush bỏ nhiều công lao, thời giờ mà không đưa đến kết quả.

Về Á châu, công nhận 2 năm đầu của nhiệm kỳ thứ nhất, Obama hơi lơi là Á châu, nhưng 2 năm sau, nhất là nhờ bà Ngoại trưởng Hillary Clinton và ông Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates, thì Obama lại chú ý mạnh đến châu Á thái Bình Dương.

Không có vị Tổng thống Hoa Kỳ nào dám kết án Trung cộng là một đại cường quốc vô trách nhiệm, ngoại trừ ông.

III) Chính sách ngoại giao tương lai của Obama

Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đặt trọng tâm ở châu Á Thái bình dương đã được minh chứng qua việc, mặc dầu trong tình trạng khủng hoảng kinh tế, phải thắt lưng buộc bụng, rút giảm ngân sách, trong đó có ngân sách quốc phòng, giảm trong 10 năm là 500 tỷ, mỗi năm 50 tỷ; nhưng đặc biệt về ngân sách quốc phòng dành cho châu Á lại tăng, cũng như Hoa kỳ sẽ dồn 60% lực lượng hải quân cho vùng này.

Thêm vào đó, vừa mới thắng cử, Obama đã đi viếng thăm Miến điện, muốn nuôi dưỡng mầm mống dân chủ tại xứ này; và tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Đông Nam Á họp ở Cam Bốt. Trong chuyến viếng thăm này, Hoa kỳ muốn lập một vòng đai kinh tế, như vòng đai quân sự đã được làm trước đây, để bao vây Trung cộng.

Đó là Hiệp hội Bạn những Quốc gia xuyên Thái bình dương (Trans – Pacific – Partnership – TPP).

Thái Lan, nhân chuyến công du này đã bày tỏ ý muốn gia nhập.

Obama muốn hoàn thành cuộc đàm phán về hội TPP này trước năm tới, dựa trên căn bản trao đổi thương mại công bằng, lưỡng lợi và minh bạch. Đây là một chính sách kinh tế, ngoại giao, thương mại nhắm vào ngay “ Sân sau “ của Trung cộng. Và một khi Hiệp hội này ra đời, thì Hoa Kỳ không ngần ngại gì mời Trung Cộng tham gia, có nghĩa là bắt Trung cộng phải chơi trò ngay thẳng, có trách nhiệm, không thể kìm giá đồng Nhân dân tệ thấp hơn đồng $ từ 15 tới 20% trên thị trường và ép lương công nhân, vi phạm nhân quyền, đối xử tàn tệ với thợ thuyền, để có giá thành rẻ, để xuất cảng.

Hiệp hội này không những có những nước Á châu, trong đó có Nhật, mà có cả Mễ tây cơ, Gia nã đại cũng muốn tham dự.

Từ đây, một câu hỏi đến với chúng ta: Vậy thì cuộc tranh hùng Mỹ - Trung cộng sẽ không thể nào tránh khỏi?

Câu trả lời của tôi là không tránh khỏi.

Chỉ có cuộc tranh hùng này diễn ra dưới hình thức nào? – Quân sự, chính trị, kinh tế, thương mại.

Về quân sự thì tôi nghĩ Hoa kỳ sẽ tìm mọi cách để tránh, chỉ xảy ra trong tình trạng bắt buộc. Tuy nhiên vì là một đại cường quốc, nên Hoa Kỳ phải tiên đoán tất cả mọi trường hợp, ngay cả trường hợp xấu nhất là phải dùng đến quân sự.

Theo Tôn Tử, một lý thuyết gia Tàu cách đây cả 2 500 năm:

“ Phàm trong chiến tranh, thượng sách là công tâm, trung sách là công lương, hạ sách mới đến công thành.”

Công tâm là dùng chính trị, chiến tranh tâm lý. Công lương là dùng chiến tranh kinh tế. Công thành là dùng quân sự.

Mặc dầu là người Tàu, nhưng tư tưởng quân sự của Tôn Tử đã được các nhà chính trị, ngoại giao và những viện nghiên cứu chiến lược, những trường sĩ quan quân sự Hoa Kỳ nghiên cứu rất kỹ lưỡng. Ngay cả tổng thống G. Bush, thường có quyển sách này trên bàn, theo tiết lộ của người thân và giới báo chí.

Không ai có thể chối cãi rằng chiều hướng lịch sử nhân loại sẽ đi từ hình thức tổ chức nhân xã độc tài qua hình thức dân chủ, tốt đẹp hơn, tôn trọng con người, tôn trọng nhân quyền, mà ngày 10/12/2012 chúng ta làm lễ kỷ niệm 64 năm ngày khai sinh Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.

Nói một cách giản tiện, đó là lịch sử nhân loại sẽ đi tới thể chế dân chủ, dẹp bỏ mọi chế độ độc tài, và trong đó mô hình dân chủ Hoa kỳ là một trong những mô hình có sức thuyết phục nhất.

Ngược lại Trung cộng vẫn lùng bùng trong chế độ độc tài, nói đúng hơn là chế độ cộng sản, mặt trái của chế độ độc tài phong kiến.

Ngay từ điểm đầu trong cuộc tranh hùng này, Trung cộng đã thua.

Thật vậy, điều quan trọng cho một con người và ngay cả cho một xã hội, một quốc gia, dân tộc là quan niệm về triết lý và đạo đức, nền tảng căn bản để dựng lên cơ cấu chính trị và kinh tế xã hội.

Ở điểm căn bản này, Trung cộng đã sai lầm, dựa trên căn bản lý thuyết Mác xít và tư tưởng Mao. Lý thuyết này với quan niệm duy vật biện chứng và duy vật sử quan mà Marx cho rằng là khoa học, nhưng ngày hôm nay ai cũng biết là nó hoàn toàn phản khoa học, hơn nữa nó còn phản tự nhiên, phản con người và phản kinh tế (1). Ở đây chúng ta không cần dài dòng, chúng ta chỉ cần thấy quan niệm “ Bãi bỏ quyền tư hữu “ của Marx là hoàn toàn phản kinh tế, mặc dầu ông cho rằng lý thuyết của ông là lấy kinh tế làm đầu.

Và sau đó, người cộng sản cho rằng có khoa học riêng biệt của giai cấp vô sản, mà theo lời của nhà văn Mạc Ngôn, nhà văn hàng đầu của Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Trung cộng: “Nếu như khoa học của giai cấp vô sản chờ đợi một giống mới qua việc bắt lừa giao phối với thỏ, thì khoa học của giai cấp vô sản này chỉ là một bãi cứt chó” (Mạc Ngôn – Báu vật của đời – Theo VN Thư quán trên Internet)

Tư tưởng của Mao thì hoàn toàn chống lại tư tưởng của Khổng Tử. Mao cho rằng “Khổng Tử là con chó giữ nhà cho bọn phong kiến.” Thế mà ngày hôm nay chính quyền và đảng Cộng sản Trung cộng vừa tôn thờ Mao, vừa tôn thờ Khổng. Có phải đây là một điều nghịch lý không?

Ngày hôm nay, mặc dầu Trung cộng phát triển kinh tế, nhưng đó là sự phát triển bệnh hoạn, bị bệnh ung thư. Nói như nhà văn Mạc Ngôn, giải Nobel văn học vừa qua, năm 2012, trong quyển “Báu vật của đời”, thì: “Anh thấy thành phố dơ nanh vuốt, phát triển với tốc độ của ung thư ác tính” (Chương 8, viết thêm). Hay: “Cô nghĩ, Đảng đem bắn bỏ được rồi. Mọi người đều tham, tối mắt vì tiền, cuối cùng bị đồng tiền cắn chết” (Cũng Chương 8, viết thêm).

Từ đó chúng ta thấy, Trung cộng trong cuộc tranh hùng Mỹ - Trung, từ đầu đã thua ngay từ căn bản, vì dựa trên một căn bản triết lý sai lầm, không có một căn bản đạo lý vững chắc, con người chỉ tối mắt vì tiền, chạy theo tiền đến nỗi cắn xé nhau, nhất là Bộ Chính Trị, Trung Ương Đảng và cán bộ cao cấp thượng tầng.

Không phải tình cờ, một nhà báo, kiêm bình luận gia chính trị, đã nói: “Nước Tàu hiện nay sau Đại hội đảng thứ 18 vừa qua, giống như nước Tàu vào cuối thời nhà Thanh.”

Thật vậy, người ta còn nhớ cuối thời mãn Thanh, cũng tham nhũng, thối nát, cắn xé nhau trên thượng tầng, hai phe bảo thủ và cải cách đánh nhau, tất nhiên phe bảo thủ thắng, phe cải cách thua với cái chết của vua Quang Tự và phe cải cách, vào năm 1908, chỉ một ngày sau là cái chết của bà Thái Hậu Nhiếp chánh Từ Hi, phe bảo thủ. Có giả thuyết cho rằng bà đã đầu độc Quang Tự, rồi sau đó uống thuốc độc tự vẫn.

Đây vẫn là một bí hiểm của lịch sử Tàu. Nước Tàu vẫn còn bí hiểm cho tới ngày hôm nay, vì chế độ cộng sản còn bí hiểm, ác ôn, côn đồ, vô danh dự, hạ cấp hơn cả trăm lần chế độ phong kiến. Ngay cả Mạc Ngôn tả người cán bộ cộng sản, trong quyển truyện vừa nói trên, qua hình ảnh Tôn bất Ngôn, thì là một người vừa câm, vừa què, vừa ác ôn.

Sau khi Quang Tự chết, Phổ Nghi lên ngôi, do sự xắp xếp của bà Từ Hi. Nhưng chỉ 3 năm sau, thì nhà Mãn Thanh sụp đổ.

Cụ Trần trọng Kim, trong quyển Việt Nam Sứ lược có viết rằng “nhìn lịch sử, từ cổ chí kim, từ đông sang tây, những triều đại, đế quốc sụp đổ là tự mình đánh mình, làm yếu mình trước, rồi ngoại quốc đến xô đổ thêm vào.”

Bà Hillary Clinton, ngoại trưởng Hoa Kỳ cũng đã tuyên bố “Trung cộng sẽ sụp đổ. Họ đang lo lắng và ngăn chặn lịch sử. Đó là việc làm vô ích. Họ không thể làm được điều đó. Nhưng họ đang cố duy trì, kìm hãm càng lâu càng tốt. Họ đang làm trò cười cho thế giới.”

Phải chăng trong tương lai, chúng ta sẽ thấy Hoa Kỳ sẽ phụ vào xô đổ đế quốc Trung Cộng?

Paris ngày 11/12/2012

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Nhật xuất kích tám máy bay chiến đấu đuổi máy bay Trung Quốc

Hùng Khương
- Ngoại trưởng Nhật Bản cho biết một máy bay của chính phủ Trung Quốc vào ngày 13.12 đã xâm nhập vào vùng mà Nhật Bản xem là không phận trên vùng quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư ở biển Hoa Đông. Theo bộ quốc phòng Nhật Bản, vụ việc này khiến quân đội Nhật phải xuất kích tám máy bay F-15. Đây là lần đầu tiên trong năm nay máy bay Trung Quốc xâm phạm không phận trên vùng Senkaku/Điếu Ngư. Cùng ngày, cảnh sát biển Nhật Bản cho biết bốn tàu tuần tra của Trung Quốc cũng đã vào vùng. Tàu tuần tra Nhật Bản đã dùng loa yêu cầu các tàu Trung Quốc rời khỏi khu vực, nhưng tàu Trung Quốc đã phớt lờ các lời kêu gọi này. Gần đây nhất, vào ngày 11.12 hai tàu tuần tra Trung Quốc đã ngang nhiên tiến vào khu vực các đảo tranh chấp với bảng điện tử gắn trên tàu có nội dung yêu cầu người Nhật rút ngay khỏi vùng lãnh hải Trung Quốc.
Image
Chiếc máy bay Trung Quốc này đã xâm nhập không phận quanh đảo Senkaku/Điếu Ngư. Ảnh: Lực lượng Tuần duyên Nhật Bản.



Quan hệ Nhật – Trung trở nên xấu đi sau khi Nhật Bản mua lại của tư nhân các đảo nhỏ ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. “Mặc cho các cảnh báo liên tục của chúng tôi, các tàu của chính phủ Trung Quốc vẫn tiến vào vùng lãnh hải của chúng tôi trong ba ngày liên tiếp”, người đứng đầu nội các Nhật Bản, ông Osama Fujimura cho báo giới biết. Tuy nhiên, Trung Quốc lại nói rằng các chuyến bay của máy bay Trung Quốc là hoàn toàn bình thường và yêu cầu Nhật Bản ngừng xâm phạm lãnh hải và không phận quanh các đảo nói trên.

Sự cố trên xảy ra chỉ vài ngày trước kỳ bầu cử hạ viện của Nhật Bản, mà đảng Dân chủ Tự Do (LDP) đang thắng thế, hứa hẹn sự trở lại nắm quyền của cựu thủ tướng Shinzo Abe. Là người có quan điểm cứng rắn đối với vấn đề tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư, ông Shinzo Abe đã hứa sẽ tăng ngân sách quốc phòng, kể cả ngân sách cho tuần duyên, nếu trở lại ghế thủ tướng vào ngày 26.12. Trong khi đó, tổng thống Mỹ Barack Obama trong chuyến thăm đến khu vực châu Á trong tháng 11 đã kêu gọi lãnh đạo các nước trng khu vực này kiểm soát căng thẳng trong các vùng đang tranh chấp. Không đứng về phía nào giữa các bên tranh chấp, nhưng đã ký hiệp ước an ninh với Nhật Bản từ năm 1960, Mỹ khẳng định rằng sẽ trợ giúp Nhật Bản nếu nước này bị tấn công.

Philippines cũng đang hướng đến khả năng tăng cường hợp tác quân sự với cả Mỹ và Nhật Bản để đối phó với Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp biển đảo. Trả lời phỏng vấn báo Financial Time của Anh vài ngày trước, ngoại trưởng Philippines, ông Albert del Rosario mới đây nhấn mạnh trong tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, Philippines ủng hộ việc một Nhật Bản hiện đại hóa quân sự và trở thành một đối trọng với một Trung Quốc đang gia tăng phát triển quân sự. “Chúng tôi rất chào đón điều đó. Chúng tôi trông đợi các yếu tố cân bằng trong khu vực và Nhật bản có thể là một yếu tố cân bằng quan trọng”, ông Albert del Rosario phát biểu. Bộ trưởng Ngoại giao Philippines còn nói rằng, hơn hết trong tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc đất nước ông sẽ tìm kiếm sự hỗ trợ từ Mỹ và Nhật Bản. Vào tháng 7.12, Philippines và Nhật Bản đã ký thoả thuận củng cố hợp tác quân sự.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Văn hóa đi trước kinh tế

Ngô Nhân Dụng

Chế độ cộng sản cuối cùng sẽ chấm dứt. Ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc.

Khí thế của người dân qua các cuộc biểu tình đòi chấm dứt tham nhũng, lạm quyền ở Trung Quốc mỗi năm xẩy ra hàng trăm ngàn vụ; và các cuộc biểu tình đòi chấm dứt thái độ nhu nhược trước ngoại xâm hoặc hệ thống tham nhũng lạm quyền cướp đất ngày càng gia tăng ở Việt Nam; cho thấy quá trình suy sụp của chế độ cộng sản đã bắt đầu rồi. Cuối cùng đảng cộng sản ở cả hai nước sẽ phải chịu thua dân. Việc lật đổ một chính quyền thối nát là điều cần thiết. Nhưng sau đó, công việc quan trọng và khó khăn hơn nhiều, là đưa quốc gia tiến tới trên con đường phát triển.

Năm 1986 dân chúng Manila đã thành công, lật đổ Tổng Thống Ferdinand Marcos. Người dân Philippines đã đòi lại quyền quyết định vận mạng của mình. Cuộc cách mạng tạo được một khí thế mới trong lòng người dân; hơn mười năm sau dân Manila còn biểu tình nhiều lần nữa. Họ đã thúc đẩy, bắt buộc guồng máy chính quyền phải công khai minh bạch hơn, các cuộc bầu cử cấp địa phương và toàn quốc cũng sạch sẽ hơn.

Dân chúng biểu tình cũng có thể lật đổ cả chế độ; không những thay thế nhóm người cai trị mà còn tạo nên một cơ cấu mới và cung cách mới khi sử dụng quyền hành.

Nhu trong các cuộc Cách Mạng Nhung năm 1989; hoặc Mùa Xuân Á Rập vào năm ngoái.

Người dân Philippines, dân Ba Lan, dân Tiệp đã tiến xa hơn việc thay đổi chế độ hoặc thay đổi chính quyền. Thành công quan trọng nhất là sau đó các nước này đã bắt đầu phát triển kinh tế. Quá trình này từng diễn ra ở Á Ðông trong những thập niên 1970-1980. Trong những năm đó, sinh viên và công nhân đình công, bãi khóa ở Nam Hàn; và các nhóm chính trị đối lập vận động xuống đường ở Ðài Loan đòi chấm chấm dứt các độc quyền kinh tế. Những chế độ độc tài ở hai nước này phải nhượng bộ, bắt đầu tiến trình dân chủ hóa, và sau đó nền kinh tế cất cánh, tiếp tục phát triển từ đó tới nay.

Liệu người dân các nước Ai Cập, Tunisie, Lybia, sau khi được giải phóng có thể thực hiện được những bước tiến như Nam Hàn và Ðài Loan hay không? Phải chờ khoảng mười năm, hai mươi năm nữa mới biết được kết quả. Thay đổi thể chế chính trị, thay đổi chính sách kinh tế; đó là những điều kiện cần thiết đặt nền móng cho công cuộc phát triển. Nhưng các phép lạ kinh tế ở Á Ðông còn có thêm một yếu tố khác thúc đẩy. Vì trong thời gian đó, tại các nước này văn hóa cũng hồi sinh. Những phong trào phục hưng văn hóa bắt đầu khi người dân một nước phát khởi một niềm tự hào vào quá khứ, một niềm tin tưởng vào tương lai, tạo nên khí thế tinh thần mạnh mẽ. Phát triển không phải chỉ là một hiện tượng kinh tế.

Từ đầu thế kỷ 20, ở nước ta Phan Châu Trinh đã thúc giục đồng bào phải nâng cao dân trí và phấn chấn dân khí. Tới nay, chúng ta vẫn chưa thực hiện được những mục tiêu đó. Trong khung cảnh hiện nay, hai công việc đó còn khẩn thiết nhiều hơn nữa. Nước ta đang chạy đuổi sau chân các nước đã phát triển ở vùng Á Ðông, đang cố gắng làm sao có thể phát triển lên ít nhất ngang với họ?

Phân tích quá trình phát triển ở thế giới thứ ba (Third-World Development, 1989), Giáo Sư Nguyễn Quốc Trị đã thấy việc phát triển thành công hay thất bại tùy thuộc mối tương quan chính trị giữa người dân và chính quyền. Nếu giới lãnh đạo được dân tin cậy và chấp nhận, thì quốc gia sẽ phát triển nhanh hơn. Nhưng mối tương quan đó lại tùy thuộc những giá trị tinh thần, thuộc phạm vi văn hóa. Nguyễn Quốc Trị, nguyên viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, nhấn mạnh việc “phục hưng văn hóa” là một “nhu cầu tuyệt đối” để các nước nghèo có thể xây dựng những định chế chính trị được dân chúng tin cậy, dựa vào đó kinh tế có thể phát triển. Ông khẳng định, “Không một xã hội nào có thể tồn tại nếu thiếu một nền tảng tinh thần.” Ông đã minh chứng với các trường hợp Nam Hàn và Singapore; cả hai thành công trong quá trình phát triển nhờ họ biết phục hoạt các giá trị truyền thống, điều hợp với những giá trị mới tiếp thụ từ Tây phương.

Theo Nguyễn Quốc Trị điều đáng lo nhất đã làm các quốc gia nghèo thất bại trong việc phát triển là tình trạng suy sụp về tinh thần. Mọi người hết tin tưởng vào nhau vì các giá trị nền tảng đã tan rã. Nền tảng xã hội suy đồi vì hệ thống các giá trị, định chế cổ truyền bị gạt bỏ, mà chưa có những giá trị mới để lấp vào khoảng trống đó. Chất keo văn hóa trong quá khứ từng gắn bó mọi người trong một mạng lưới gồm quyền lợi và nghĩa vụ, đã biến mất. Trong khi đó, người ta chưa tập được để sống với những giá trị và định chế phù hợp với cơ cấu kinh tế mới. Những điều tệ hại từng bị đè nén trong nếp sống cũ nay được thả lỏng, có cơ hội nẩy sinh. Người ta lại du nhập những biến chứng xấu nhất vẫn đi kèm theo hệ thống kinh tế tư bản thời sơ khai. Lớp người cai trị chỉ lo củng cố quyền hành và tạo thêm cơ hội trục lợi; còn người dân bị trị thì trở thành thụ động, sợ sệt, hoặc thờ ơ, chỉ biết lo cho cá nhân và gia đình mình.

Trong nền văn hóa các nước Á Ðông ngày xưa, truyền thống tôn trọng quyền hành vẫn đi kèm với tinh thần trách nhiệm của người nắm quyền; xã hội thấm nhuần một niềm tin tưởng hỗ tương, tạo nên một thế cân bằng, bình trị trong nhiều thế kỷ. Xã hội suy đồi khi người ta chỉ giữ lại và đề cao thói quen kính trọng quyền hành mà bỏ qua những trách nhiệm tương ứng, quyền hành không bị giới bạn bằng luật pháp và các định chế lập cân bằng. Khi đó quyền bính được biến thành một khí cụ để trục lợi; rồi lợi lộc lại được sử dụng để mua chuộc người khác nhằm củng cố quyền bính. Bản hợp đồng xã hội truyền thống bị xóa đi, đưa tới một xã hội phi luân lý (anomie), thượng vô đạo quỹ, hạ vô pháp thủ.

Các nước nghèo thất bại trên đường phát triển vì thiếu những nền tảng văn hóa. Ðời sống kinh tế có thể thay đổi rất nhanh, còn văn hóa thì chuyển biến rất chậm. Khi du nhập lối làm kinh tế tư bản thì người ta sử dụng lợi lộc và lòng tham như động cơ thúc đẩy. Dần dần, việc kiếm tiền được đề cao như một giá trị, người có tiền được kính trọng, tư lợi trở thành mục tiêu chính trong đời. Những giá trị cổ truyền trước kia vẫn dùng để kiềm chế lòng tham và óc vị kỷ đã tan loãng trong khung cảnh kinh tế mới chỉ biết trục lợi.

Trong khi đó, xã hội chưa đủ thời giờ tạo được những thói quen tôn trọng luật pháp và tôn trọng các ý kiến bất đồng. Chưa đủ thời giờ tập luyện cung cách sống dân chủ. Mà đó là những nền tảng văn hóa ra đời và phát triển cùng với kinh tế tư bản ở Âu Châu. Hậu quả của tình trạng trống rỗng văn hóa này là óc duy lợi, duy vật, vị kỷ và các thủ đoạn gian trá được thả lỏng sinh sôi nẩy nở. Người ta không còn bị ràng buộc bởi các quy tắc đạo lý, dù cũ hay mới; mà các ràng buộc bằng pháp luật lại chưa được thiết định hoặc chưa trở thành thói quen. Như Mạnh Tử mô tả, khi người trên không có đạo lý nào để theo, người dưới không có luật lệ nào ràng buộc (thượng vô đạo quỹ, hạ vô pháp thủ), thì một quốc gia khó tồn tại được. Niềm tín nhiệm chung giữa người với người, là chất keo sơn gắn liền xã hội, dần dần bị xoi mòn. Người cầm quyền không hy vọng được dân tin theo mà khuất phục, cho nên phải dùng bạo lực đe dọa, hoặc dùng lợi lộc để mua chuộc, vì họ không có cách nào khác. Niềm tín nhiệm chung mất, xã hội tan rã nhanh hơn. Tình trạng trống rỗng văn hóa là lý do khiến nhiều nước nghèo trong thế giới thứ ba thất bại trên con đường phát triển. Nguyễn Quốc Trị đã nêu ra các nhận xét trên trước năm 1989, hơn 20 năm sau chúng ta vẫn còn chứng kiến nhiều nước đang sống trong tình trạng khủng hoảng văn hóa; trong đó có nước Việt Nam.

Muốn phát triển trong thế kỷ này, cần xây dựng một niềm tin tưởng chung, một niềm tin được mọi người Việt Nam cùng nhau chia sẻ. Tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc thì mới sẵn sàng dấn bước tới tương lai. Năm 1945 đã nổi lên một phong trào phục hoạt văn hóa khi toàn dân nức lòng cùng theo đuổi một mục tiêu giành độc lập, ai ai cũng tin tưởng vào khả năng xây dựng tương lai độc lập, tự do, hạnh phúc. Cơ hội đó đã bỏ mất khi lầm lẫn chỉ đề cao những chia rẽ, đối nghịch, người Việt coi người Việt là kẻ thù. Muốn xây dựng tương lai, phải bắt đầu với một phong trào văn hóa hồi sinh; để mọi người Việt Nam có thể chia sẻ một niềm tin tưởng và một mối hy vọng. Tin vào khả năng dũng mãnh của dân tộc có thể vượt qua mọi chướng ngại. Tin vào khả năng tiếp thụ và chuyển hóa các giá trị của văn minh nhân loại. Chúng ta tin là dân tộc Việt không bao giờ chịu thua.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Ông Sang cảnh báo: Coi chừng “chạy” trong bỏ phiếu tín nhiệm!


Image
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại buổi tiếp dân sáng 15-12 -
Ảnh: VIỄN SỰ

Chia sẻ với người dân, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói cùng với kê khai tài sản, việc bỏ phiếu tín nhiệm nghe ra rất đáng hoan nghênh. Nhưng đó chỉ mới là một vế...

"Vế sau phải coi chừng là chạy đi vận động, mà vận động ở đây là vận động nháy nháy, móc ngoặc với nhau, được anh được tôi. Đó là chuyện không lành mạnh” - Đây là cảnh báo của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại buổi tiếp công dân ở Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM sáng 15-12.

Không dân chủ kiểu giả dối

Lời cảnh báo này của Chủ tịch nước xuất phát từ những âu lo của nhiều cử tri về vấn đề trách nhiệm của những người đứng đầu. Ông Nguyễn Linh - cử tri P.4, Q.3 - bày tỏ với Chủ tịch nước: “Nhiều bộ trưởng trước Quốc hội nhận lỗi, nhưng khi hỏi sẽ giải quyết khắc phục thế nào lại nói “phải cả hệ thống chính trị vào cuộc”. Như vậy thì trách nhiệm của cá nhân ở đâu, sao cứ ỷ lại vào hệ thống chính trị”.

"Nếu mình cứ thụ động, chỉ trách cứ không mà không làm gì thì mọi thứsẽ xấu đi. Phải hết sức mạnh dạn suy nghĩ, hiến kế, đề xuất hết sức thẳng thắn đầy trách nhiệm, không nên e dè"
Chủ tịch nước TRƯƠNG TẤN SANG


Chia sẻ nỗi lo lắng này, Chủ tịch nước cho rằng sẽ không có kiểu nhận trách nhiệm chung chung, đổ qua đổ lại nữa mà sẽ làm rõ lời hứa, việc sửa sai của từng cá nhân đã đến đâu. Trách nhiệm, uy tín ấy của cá nhân sẽ được làm rõ qua việc bỏ phiếu tín nhiệm. Ông trấn an bà con bằng lời chân thành: “Tôi cũng nhức đầu lắm. Nhưng lần này đã đổi mới tư duy tức là để dân có ý kiến trước (Quốc hội bỏ phiếu - NV), Đảng có ý kiến sau”. Theo Chủ tịch nước, nếu Đảng “có ý kiến” trước thì sẽ khó cho Nhà nước, khó cho đại biểu. “Rồi sẽ có người nói Đảng có ý kiến như thế này các vị đại biểu nên chú ý... thì lại thất bại nữa” - Chủ tịch nước nói. Chủ tịch nước khẳng định sẽ kiểm soát chặt chẽ trong quá trình lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm để việc làm này thực chất thật sự.

Đề cập việc bầu cử, Chủ tịch nước nói phải dẹp kiểu bầu cử “dân chủ giả dối”. “Gợi ý, kiểu số 1, số 3, số 5 đậu nhé. Thôi tiêu nữa rồi, bầu chi nữa, dẹp đi cho khỏi tốn tiền của của nhân dân. Đó là loại dân chủ giả dối, mà dân trước sau người ta cũng phiền” - Chủ tịch nước khẳng định. Ông nói bầu cử, bỏ phiếu kiểu đó chỉ làm dân nghi ngờ, còn người thất cử thì bức bối vì không công bằng. Tự nhiên tạo sóng gió trong nội bộ mình, đất nước mình.

Đề cập vấn đề kiểm điểm theo nghị quyết trung ương 4, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói nghị quyết đã chỉ ra có nhiều vụ việc trong những năm gần đây xử lý chưa triệt để, đầu voi đuôi chuột nên chắc chắn sẽ phải đưa ra vài vụ nổi bật, làm triệt để cho lòng dân được yên. “Phải cố gắng làm thế nào để có chuyển biến trong nhiệm kỳ, để các kỳ sau tiếp tục. Chứ không thôi thế này thì lòng dân không yên thực sự. Mấy ông kẹ sai phạm cứ mang ra mà trị, chứ thế này không được đâu, cứ dung dưỡng nhau là chết” - Chủ tịch nước khẳng định.

Không ai xây đất nước thay mình

Hai cử tri Phạm Thị Nga ở P.Bến Thành (Q.1) và Lê Trọng Nhường ở P.8 (Q.4) đã dành rất nhiều thời gian để bày tỏ với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhiều vấn đề khúc mắc trong hệ thống pháp luật, kinh tế tụt dốc và bức xúc về bộ máy công quyền. Chia sẻ nỗi ưu tư này, Chủ tịch nước nói: “Người ta chỉ mất 25, 30 năm là xong công nghiệp hóa rồi, còn mình bằng ấy thời gian vẫn chưa ăn thua gì”.

Câu chuyện thời sự và gần gũi nhất được Chủ tịch nước viện dẫn chính là hình ảnh về đất nước Myanmar sau chuyến thăm chính thức đầu tháng 12 vừa qua. “Họ cũng còn dè dặt như mình thời mới mở cửa... Nhưng đường sá người ta ngon lành. Nguồn nhân lực người ta cũng khá tốt, đa số đều giỏi tiếng Anh. Ruộng đồng của người ta gấp đôi gấp ba lần mình. Phải nói rằng sự chuẩn bị của người ta ghê gớm. Họ sẽ hoàn toàn thay đổi, sẽ rất là nhanh, rất là nhanh!” - Chủ tịch nước thông tin. Rồi dùng ngay hình ảnh người láng giềng Trung Quốc với chỉ tiêu GDP đầu người năm 2020 được hướng đến là 11.000 USD/năm, Chủ tịch nước muốn người dân nhìn vào thực tế: “Lúc bây giờ loay hoay GDP của mình cũng mới gần 3.000 USD, khó ăn khó nói lắm. Mà cái này đâu có giấu giếm gì được”.

Kết lại những thông tin ấy, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho rằng đang có một cuộc chạy đua về xây dựng đất nước rất ghê gớm, mà nếu đất nước vẫn cứ loay hoay thì rất gay go. “Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mình thì mình làm. Không ai vào đây để xây dựng Đảng mình, chế độ mình đâu. Nếu người ta vào, cùng lắm là những lời hữu nghị người ta nói vài câu rồi về...” - Chủ tịch nước nhắc nhở.

Kiểm tra việc chạy huân chương, đánh bóng danh hiệu

Đây là báo cáo của ông Huỳnh Thành Lập - trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM - với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, sau khi có nhiều ý kiến cử tri phản ảnh tình trạng chạy huân chương, chạy danh hiệu anh hùng lao động để đánh bóng danh hiệu, thậm chí là chạy chức, chạy quyền. Việc này đã được Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM tập hợp báo cáo bằng văn bản trước kỳ họp vừa qua.

Tại buổi tiếp dân, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã giao Viện KSND TP.HCM và UBND Q.4 giải quyết nhanh và báo cáo với Chủ tịch nước các vấn đề khiếu nại, các tiêu cực trong cơ quan tố tụng và những phản ảnh mà người dân trình bày. Chủ tịch nước cũng hứa sẽ yêu cầu các cơ quan chức năng giải quyết sớm những vướng mắc về chế độ cho các thương binh bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam trong chiến tranh; truy tặng danh hiệu và có chế độ xứng đáng cho những người có công lao trong chiến tranh nhưng đã qua đời hoặc hi sinh.

VIỄN SỰ - ĐỨC THANH

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Làm xúc xích ngân sách

Ngô Nhân Dụng
Người Mỹ thường khuyên nhau không nên chứng kiến người khác đang làm hai công việc. Thứ nhất là không nên coi cảnh người ta đang nhồi xúc xích trong xưởng thịt; coi rồi có thể suốt đời không muốn ăn xúc xích nữa.

Thứ hai là đừng theo dõi cảnh đại biểu Quốc Hội đang làm luật. Vì sẽ thấy họ tranh cãi, giằng co, đả kích nhau nặng lời; rồi thấy họ ngồi xuống kì kèo mặc cả với nhau từng chữ, từng câu, từng con số. Khác với món xúc xích, khi các đạo luật được biểu quyết xong rồi, dù thích hay không dân cũng phải nuốt.

Trong mấy tháng nay, Hành pháp và Quốc hội Mỹ đang chuẩn bị một mẻ xúc xích mới; một đạo luật về ngân sách. Hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đang tấn công lẫn nhau, ai cũng lớn tiếng để thuyết phục dân chúng Mỹ nghe ý kiến của mình. Nước Mỹ đang đứng “Trên bờ vực thẳm tài chánh công,” (Fiscal Cliff); vì nếu ngày 31 tháng 12 năm 2012 Quốc hội và Hành pháp không đi tới một thỏa hiệp thì tất cả mọi người bị tăng thuế trong khi chính phủ phải cắt hầu hết các món chi tiêu. Bên nào cũng nghĩ rằng thế nào đối phương cũng phải nhượng bộ để thỏa hiệp với mình, nếu không chính bên kia sẽ phải chịu trách nhiệm đẩy kinh tế cả nước xuống vực.

Ðiều bất đồng ý kiến chính là chuyện tăng thuế và giảm chi; để ngân sách tiến tới cân bằng, sau hơn mười năm khiếm hụt vì thuế thu thì ít mà chi tiêu thì nhiều. Bên Dân Chủ lập chủ trương phải giữ suất thuế thấp hiện nay cho mọi người (98% dân đóng thuế) nhưng nên tăng thuế những người giầu (lợi tức từ 250,000 đô la một năm hay nhiều hơn), buộc họ trở lại đóng thuế như trước đạo luật cắt giảm của Tổng Thống Bush năm 2001. Bên Cộng Hòa muốn giữ nguyên cả đạo luật đó, đề nghị chỉ bỏ các lỗ hổng trong luật thuế để thu được nhiều hơn. Về khoản chi thì hai bên đồng ý phải giảm chi tiêu nhưng mỗi bên muốn giảm những khoản khác nhau.

Từ nay cho tới ngày đó, dân chúng Mỹ sẽ được chứng kiến các đại biểu Quốc hội và ông tổng thống làm xúc xích. Màn đầu trong hoạt cảnh này đã diễn ra trong cả tháng qua; các nhà chính trị dùng diễn đàn truyền thông, báo chí để chứng tỏ mình cứng rắn, bảo vệ lập trường đến cùng; tố cáo đối thủ ngoan cố, thiếu thiện chí thỏa hiệp. Màn thứ hai sẽ bắt đầu khi họ ngưng nói, hoặc bớt nói. Họ bắt đầu mặc cả kín với nhau; và không cho công chúng biết chi tiết bên nào nhường bước nào để được nhượng bộ lại cái gì. Không còn ai tuyên bố lớn tiếng trước nhà báo nữa; để chứng tỏ bên mình muốn bàn chuyện “đứng đắn” chứ không phải chỉ “làm chính trị.” Nếu cuộc mặc cả thành công, trước ngày 31 tháng 12 dân Mỹ sẽ biết họ không bị rơi vào vực thẳm tài chánh công chi! Nếu không, màn thứ ba sẽ diễn ra, mỗi bên sẽ đổ tội bên kia gây ra đổ vỡ!

Việc thỏa hiệp không dễ dàng. Phía Dân Chủ do Tổng thống Barack Obama lãnh đạo; nhưng bên cạnh ông còn có hai lãnh tụ đảng ở hai viện. Ông Obama sẽ không phải ra tranh cử nữa, nhưng các đại biểu khác đều biết chính họ đang bị các cử tri theo dõi, nếu “lập trường nghiêng ngả” thì hai năm nữa có thể bị cử tri của mình bỏ rơi. Bên Cộng Hòa có Chủ tịch Hạ viện John Boehner đứng đầu; nhưng ông cũng không thể một mình quyết định. Vì trong đảng ông cũng nhiều người không đồng ý. Năm ngoái, ông Boehner đã có lúc bước gần tới một thỏa hiệp với Tòa Bạch Ốc, nhưng phút chót phải bỏ, vì bị rất nhiều người phản đối. Họ chống tăng thuế, chống vay nợ; vì phần lớn là các đại biểu mới đắc cử năm 2010, nhờ phong trào Tea Party hỗ trợ. Nếu như năm ngoái ông Boehner cứ tiến tới, cứ thỏa hiệp với ông Obama thì bên Cộng Hòa đã đạt được nhiều điều mà năm nay họ phải cố gắng đòi hỏi lại. Sau cuộc bầu cử tháng trước, vị thế của Tổng thống Obama mạnh hơn.

Năm ngoái, Tổng thống Obama mới bị thấm đòn vì đảng Dân Chủ thất bại lớn trong cuộc bỏ phiếu bầu Quốc hội năm 2010; cho nên ông đưa ra đề nghị tăng số thu của chính phủ thêm 1,200 tỷ đô la trong 10 năm, bằng cách lấp các lỗ hổng mà không cần tăng suất thuế. Năm nay, ông Obama “tăng giá,” đề nghị số thu phải thêm 1,600 tỷ đô la. Năm nay, ông Boehner lúc đầu chỉ đồng ý tăng số thu lên 800 tỷ thôi, con số ông đã đưa ra năm ngoái. Tất nhiên, bên Dân Chủ kêu con số 800 tỷ thấp quá, không đủ lấp vào khoảng khiếm hụt ngân sách. Trong cuộc tranh cử vừa qua, ông Obama nhấn mạnh phải tăng suất thuế của người giầu trong khi giữ nguyên suất thuế cho những người lợi tức từ 250,000 đô la trở xuống. Bên Cộng Hòa cũng phải công nhận đa số dân Mỹ ủng hộ chủ trương này; nếu chống găng quá họ sẽ bị mang tiếng là chỉ bênh vực quyền lợi của người giầu.

Ðầu tuần này, có dấu hiệu hai bên cùng bước vào màn thứ hai. Hai ông Obama và Boehner đã gặp riêng nhau vào hôm Chủ Nhật. Dấu hiệu lạc quan nhất là cả hai đồng ý không tiết lộ các chi tiết trong các cuộc trao đổi đó. Các nhà quan sát thấy hai phía có thể bắt đầu tìm cách thỏa hiệp. Ông Boehner vẫn từ chối không chịu tăng suất thuế nhà giầu. Ông có thể thỏa mãn, nếu bãi bỏ các lỗ hổng miễn trừ sẽ đủ để gia tăng số thu. Ông Obama đòi tăng thuế nhà giầu, ông cũng sẽ được toại nguyện nếu việc lấp các lỗ hổng sẽ khiến người giầu phải đóng thuế nhiều hơn người nghèo. Dân biểu Eric Cantor năm ngoái đòi nếu muốn lấp các lỗ hổng thuế khóa thì phải cắt một số chi tiêu lớn tương đương; năm nay ông không đặt điều kiện đó nữa.

Năm ngoái, ông Boehner không được tự do hành động; vì lo bị các đồng viện Cộng Hòa chống đối. Trong một tháng qua, ông Boehner đã củng cố vị thế của mình được vững hơn; cho nên cũng dám thỏa hiệp nhiều hơn; biết rằng những đại biểu Cộng Hòa khó chống lại ông sau khi đảng mất một số ghế nghị sĩ và dân biểu trong kỳ bỏ phiếu tháng trước.

Năm ngoái, khi bàn về dự luật ngân sách, lãnh tụ Cộng Hòa ở Hạ Viện Eric Cantor và Chủ tịch Ủy ban Ngân sách Paul Ryan đều chống lại các thỏa hiệp của ông Boehner, nhất định không chịu tăng thu mà đòi chỉ giảm chi thôi. Năm nay cả hai ông này đã dịu giọng; tuy vẫn không chịu tăng suất thuế các người giầu phải trả nhưng đồng ý số thu có thể tăng lên theo cách khác, là giảm bớt những khoản miễn trừ khi khai thuế, áp dụng cho người giầu cũng như giới trung lưu.

Các dân biểu Cộng Hòa cứng rắn nhất cũng thay đổi, sau khi đối diện với thực tế là dù chiếm đa số tại Hạ viện, quyền hành của họ có giới hạn. Sau hai năm họ đã biểu quyết nhiều dự luận rất bảo thủ, theo chủ trương của Tea Party; nhưng khi đưa lên Thượng viện thì các dự luật đó không bao giờ được ngó tới. Một năm trước đây, các dân biểu bảo thủ đều chống lại việc triển hạn việc cắt giảm thuế an sinh xã hội mà những người đi làm phải đóng cho quỹ hưu bổng, mặc dù các người lãnh đạo của họ trong Hạ viện đã đồng ý. Lúc đó, dư luận bên ngoài đã nổi lên công kích thái độ quá cứng rắn này; sau cùng họ phải nhượng bộ. Năm ngoái, sau khi ông Boehner đã thỏa hiệp với Tòa Bạch Ốc để nâng cao mức trần của nợ công, vẫn có 66 dân biểu Cộng Hòa bỏ phiếu chống vì áp lực của Tea Party. Một số dân biểu này mới thất cử, người ta thấy thái độ cứng rắn không được lợi gì cả.

Dân biểu bảo thủ Southerland, tiểu bang Florida, mới bước vào chính trị lần đầu khi ra tranh cử năm 2010 và thắng lớn. Gia đình ông giầu có sau ba đời kinh doanh với các tang nghi quán. Từ khi lên làm dân biểu, ông vẫn công khai xung đột với giới lãnh đạo đảng trong Hạ viện; khiến họ phải dựa vào ông mỗi khi muốn giải hòa với các dân biểu bảo thủ khác. Vào đầu năm 2012, ông Southerland được cử đứng đầu việc thương thảo với các nghị sĩ Dân Chủ trên Thượng viện về một dự luật về xây dựng thêm xa lộ. Ông Southerland đã tiến tới thỏa hiệp, rồi phải đóng vai thuyết phục các đại biểu bảo thủ khác đồng ý với mình. Sau đó, ông được trao cho phụ trách các vấn đề giao thông, vận tải! Ông Southerland thú nhận: “Chúng tôi tới Washington với ý định thay đổi thế giới theo cách nhìn của mình. Bây giờ biết là không thể bắt thế giới thay đổi nhanh theo tốc độ mà chúng tôi muốn.”

Chủ tịch Hạ viện John Boehner đã kiên nhẫn chờ các đồng viện của ông trong đảng Cộng Hòa thay đổi thái độ. Nhưng có lúc ông cũng dùng “biện pháp mạnh.” Ðầu tháng 12 vừa rồi, ban lãnh đạo đảng trong Hạ viện đã buộc ba dân biểu bảo thủ ra khỏi mấy ủy ban “ngon” nhất mà họ đang được dự. Họ là những người hay bỏ phiếu chống lại các người lãnh đạo đảng trong Hạ viện. Mất chỗ ngồi trong các ủy ban tức là mất quyền biểu quyết về các dự luật thuộc phạm vi của ủy ban, trước khi đưa ra diễn đàn Hạ viện. Mất chỗ ngồi ở đó thì cũng không còn cơ hội giành lấy những quyền lợi cho cử tri thuộc đơn vị của mình; tức là mất cơ hội “kiếm điểm” với dân để vận động tranh cử kỳ tới! Việc giới lãnh đạo “đuổi” các dân biểu ra khỏi các ủy ban ít khi xẩy ra, ông Boehner chứng tỏ ông dám có hành động kỷ luật để thống nhất lập trường trong đảng!

Vì thế từ nay ông Boehner có thể đứng ra thương thuyết với Tòa Bạch Ốc; biết rằng khi đưa ra bỏ phiếu thì dù có một số dân biểu Cộng Hòa phản đối, họ cũng không chiếm đa số. Trong tuần này có tin ông Boehner chấp nhận tăng số thu lên 1,200 tỷ đô la; một bước nhượng bộ lớn. Sau cùng, hai bên Hành pháp và Hạ viện có thể sẽ cắt đôi giữa hai con số 1,600 của Tổng thống Obama và 1,200 của đảng Cộng Hòa trong Hạ viện.

Nhưng việc thỏa hiệp vẫn không dễ dàng. Vì điều khó khăn nhất là khi bàn đến chi tiết, hai bên vẫn còn là họ phải đồng ý thu thêm những khoản thuế nào và khi cắt những khoản chi thì trong dân chúng ai sẽ phải hy sinh.

Thí dụ, hai bên đã đồng ý sẽ lấp các lỗ hổng trừ thuế để tăng số thu, nhưng không bất đồng trong chi tiết. Nếu bãi bỏ hết việc trừ thuế trên tiền lãi trả khi vay nợ mua nhà, thì người giầu cũng như nghèo đều phải đóng thêm thuế. Nhưng cũng có thể định giới hạn, chỉ áp dụng khoản miễn trừ này cho món tiền lãi từ 35,000 hoặc 50,000 đô la trở xuống thôi, thì chỉ có những người có nhà lớn, vay nợ nhiều mới chịu ảnh hưởng, họ sẽ phải đóng thêm thuế.

Về việc cắt chi cũng vậy; hai bên đã đồng ý phải giảm bớt chi tiêu trong các chương trình hưu bổng, Social Security và y tế, Medicare, Medical; nhưng mỗi bên muốn cắt theo một lối. Về quỹ hưu bổng, năm ngoái Tổng thống Obama không chịu để tỷ lệ tăng tiền hưu liễm thấp hơn tỷ lệ lạm phát mỗi năm. Năm nay ông tỏ ý chấp nhận. Về y tế, ông Obama muốn giảm chi phí bằng cách cắt bớt khoản tiền trả cho các bệnh viện và trả giá thuốc thấp hơn, không muốn giảm số dịch vụ cung cấp cho những người được hưởng Medicare. Bên Cộng Hòa chú trọng cắt bớt chi phí trong chương trình Medicaid (MediCal ở California). Các công ty dược phẩm và bệnh viện sẽ phản đối nếu mức lời bị giảm. Các bệnh viện sẽ chứng minh rằng nếu lợi nhuận sút kém thì họ sẽ phải giảm bớt nhân viên, bỏ bớt nhiều dịch vụ y tế đắt tiền, tức là sau cùng các bệnh nhân cũng vẫn phải chịu thiệt thòi.

Nước Mỹ đã trải qua hơn 10 năm thu quá ít, tiêu quá nhiều. Muốn tránh không rơi xuống vực thẳm tài chánh thì thế nào cũng có một số người chịu thiệt; người thiệt nhiều hơn, người ít hơn, không người này thì người khác. Nhóm nào cũng muốn bảo vệ quyền lợi của mình. Hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ phải lo bảo vệ quyền lợi các cử tri đã ủng hộ họ. Dù thỏa hiệp theo cách nào, các nhà chiến tranh cũng không thể quên nếu không có lá phiếu của dân Mỹ thì họ chẳng được ngồi đó mà tranh luận, mặc cả với nhau. Họ vừa thảo luận, vừa nghĩ đến cuộc tranh cử sắp tới. Món xúc xích mà họ sản xuất ra sẽ phải chứa đủ thứ mùi vị của các ý kiến và lập trường dị biệt trong ba trăm triệu dân Mỹ.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Công An Bạn Dân?

Tác giả : Trần Khải

Nhân viên ngành an ninh các nước trên nguyên tắc phải là bạn dân. Đó là điều gần như hiển nhiên, không cần giaỉ thích, vì nhiệm vụ an ninh, cảnh sát, công an, mật vụ... là để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ đời sống và tài sản người dân, và để hỗ trợ những bước tiến cần thiết để thăng tiến dân quyền, nhân quyền cho mọi thành phần trong nước.

Khẩu hiệu “cảnh sát là bạn dân” hình như đưa ra thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Lúc đó, Miền Nam không ai nhìn cảnh sát như người xa lạ, vì cũng toàn là cậu Tám, chú Tư trong xóm. Những người mà dân Miền Nam sẵn sàng tới níu áo, nhờ làm giúp chuyện này, chuyện kia.

Nhưng thời này tại VN thì hết rồi, vì đúng là đổi đời rồi: ngay tới chuyện lên phường xin đóng dấu vào giấy tờ, cũng là điều hết sức ngaị ngần, vì tới cửa quan là ngồi chờ mệt nghỉ, chưa thấy phong bì là chưa thấy nhúc nhích.

Sự lương thiện một thời của cảnh sát Sài Gòn biến đâu rồi? Đâu có phải vì công an là từ Thanh Nghệ Tĩnh, hay Hà Nam Ninh vào là bị hỏng? Bởi vì bản chất đồng bào mình dù ở Thanh Nghệ Tĩnh, Hà Nam Ninh... thì lúc nào cũng chất phác, dễ thương, hồn nhiên... Vậy thì sao lại hỏng? Có phải vì chế độ làm ra như thế?

Bản tin ABC News mới kể một chuyện cho thấy cảnh sát Mỹ có cơ hội nắm trong tay 25,000 đôla mà nhân vật “chính chủ” không hề hay biết, nhưng rồi đã xử thế rất mực lương thiện, đúng tác phong bạn dân.

Một phụ nữ tại thị trấn Hartford, Conn., đã cầm một khẩu súng tiểu liên xưa cổ tới trạm cảnh sát, để đưa vào kho theo chương trình “cảnh sát mua lại súng dân,” và rồi được thông báo rằng khẩu súng này có trị giá từ 20,000 tới 25,000 đôla.

Phụ nữ xin ẩn danh này đã thừa kế khẩu súng từ người cha quá cố, người đã mang súng này về từ Châu Âu làm kỷ niệm một thời tham chiến trong Thế Chiến 2.

Hai cảnh sát chỉ huy chương trình “cảnh sát mua lại súng dân” là chuyên gia vũ khí, thông báo phụ nữ này rằng khẩu súng đó là kiểu Nazi Assault Rifle (Súng Tác Chiến Quốc Xã), đợt đầu loại này, xưa từ năm 1944.

Súng này có tên gọi là Sturmgewehr 44, có nghĩa là “súng giông bão,” và là loại súng tấn công hiện đaị đầu tiên, sau đó thay thế bằng kiểu AK 47 vào năm 1947 bởi các chuyên gia Nga, thiết kế theo mô hình kiểu súng Đức này, theo lời Lewis Crabtree, một trong 2 cảnh sát này nói với

ABC News.

Cảnh sát John Cavanna thì nói, súng này hiếm lắm, vì chỉ xuất hiện có thời gian ngắn thôi. Thực tế, vì năm 1945 là Đức Quốc Xã bị đứt phim rồi.

Cảnh sát nói chương trình mua súng lại bởi vì nhiều người dân có súng trong nhà vì nhiều lý do, chợt thấy rằng không an toàn, hay là khi có trẻ em ưa nghịch, hay là họ không biết sử dụng súng.

Chương trình này nhận súng và không cần hỏi tên hay lai lịch người nộp súng, “và chúng tôi tặng họ thẻ quà trị giá 50 đô hay 100 đô để xài ở tiệm Wal-Mart.”

Cavanna nói, như trường hợp phụ nữ này, bố chết và không biết phải làm gì với súng này, nhưng “Nếu súng này có đạn sẵn và đang để trong tủ, chỉ cần đụng nhầm chỗ là súng nổ liền.”

Ông nói súng Sturmgewehr 44 có thể bắn liên tục 500 viên đạn trong vài phút đồng hồ. Nhưng khi phụ nữ này nộp súng, thì khẩu này đã hỏng, cần sửa chữa mới bắn được, mà phải là loại đạn đặc biệt.

Phụ nữ này nói là sẽ bán khẩu súng này cho người mua cổ vật, nhưng sẽ gửi tạm ở đồn cảnh sát.

Hẳn nhiên, nếu ở Việt Nam là không có chuyện như thế. Chỉ cần công an hù dọa vài tiếng, phụ nữ này sẽ rất là vui mừng nếu được công an tha cho về nhà.

Như trường hợp mới mấy tháng trước, 315 người dân vào rừng tìm trầm, bị 3 công an chĩa súng tịch thu, hứa là sẽ chia 50% sau khi bán được số kỳ nam, nhưng rồi đã xù luôn, quên luôn...

Cướp trắng trợn mồ hôi nước mắt của 315 người vậy sao? Trời ạ, cướp trắng trợn tài sản của 90 triệu dân, rút ruột ngân hàng, rút ruột Vinashin, Vinalines... còn an toàn hạ cánh. Nói gì tới vài trăm người.

Báo Thanh Niên ngày 21-11-2012 có bản tin:

“Dân khởi kiện công an tịch thu kỳ nam

Các ông Bùi Văn Khánh, Bùi Hữu Thảo và Thái Tùng (cùng ở xã Sơn Trung, H.Khánh Sơn, Khánh Hòa), đại diện cho 315 người tìm trầm tại khu rừng Gộp Ngà, xã Sơn Trung vừa làm đơn khởi kiện 3 sĩ quan Công an H.Khánh Sơn, vì cho rằng công an đã không thực hiện lời hứa chia lại 50% sau khi tịch thu số kỳ nam của người tìm trầm trong đêm 26.9 (Thanh Niên đã phản ảnh).

Trước đó, các ông Khánh, Thảo, Tùng cũng đã làm đơn tố cáo một số cán bộ Công an Khánh Sơn ăn chặn kỳ nam họ đào được ở khu vực trên. Đến ngày 15.11, Công an Khánh Sơn có công văn trả lời, cho rằng đơn kiến nghị của người dân đòi chia tiền bán kỳ nam là không có căn cứ. Ngay sau đó, các ông Khánh, Thảo, Tùng đã có đơn kháng nghị gửi cơ quan chức năng tỉnh Khánh Hòa, cho rằng họ không đòi chia tiền riêng mà đòi để chia cho tất cả 315 người tham gia đào trầm đêm 26.9.

Họ đã chứng kiến những người đào được kỳ nam, công an nổ súng và dùng roi điện uy hiếp nên phu trầm đã giao kỳ nam cho công an, để ăn chia 50/50 theo lời hứa từ công an. Được biết, sau khi có đơn tố cáo vụ ăn chặn nói trên, các cán bộ liên quan đến việc nhận tiền của người tìm trầm đã giao nộp hơn 1 tỉ đồng cho cơ quan chức năng.”(hết trích)

Con số 1 tỷ đồng là tương đương 48 ngàn đôla Mỹ. Đó chỉ mới là tiền giao nộp thôi, thực tế còn cac1 khoản tiền mà cán bộ công an ém kỹ thì không ai rõ. Thế là cướp của dân, chứ không phải là bạn gì hết.

Trên trang blog ở đài VOA, nhà báo Bùi Tín trong bài viết ngày 22-11-2012 với tưạ đề “Vì sao công an thành đại họa của dân?” ghi nhận:

“Sáng thứ hai 12/11/2012, tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng, ngay trước trụ sở Phủ thủ tướng, một số bà con dân oan từ Bình Dương và Thanh Hóa tụ tập đưa kiến nghị và đơn kiện nhân cuộc họp Quốc hội đang diễn ra. Một lực lượng công an hùng hậu đã được huy động đến đàn áp. Theo nhân chứng trong cuộc là bà Trần thị Huỳnh Mai đến từ Bình Dương, vài chục công an hùng hổ cầm dùi cui xông vào chửi bới, đánh đập bà con, dật xé biểu ngữ. Cụ Hà Thị Nhung, 76 tuổi, từ Thanh Hóa ra, lớn tiếng đọc những câu vè chống tham nhũng đã bị một nhóm công an xông đến xô ngã và đánh vào chỗ hiểm. Cụ ngất tại chỗ. Nhóm công an hèn nhát bỏ chạy tuy chúng có sẵn xe có thể chở cụ đi cấp cứu. Cụ Nhung tắt thở sau đó.

Cụ Lê Hiền Đức, một nhà giáo nổi tiếng liêm khiết và bênh vực dân oan, từng được giải thưởng quốc tế về «chống tham nhũng, lành mạnh hóa xã hội», cũng có mặt ngay sau đó và lên tiếng nói rõ trường hợp giết người của nhóm công an trước cơ quan chính phủ và cơ quan Trung ương đảng CS ngay sát đó. Cụ Hà Thị Nhung vốn là cán bộ, từng được thưởng huân chương Kháng chiến hạng hai, bị bọn cường hào CS điạ phương hiếp đáp, tịch thu sổ lương hưu, nhiều lần khiếu nại suốt 3 năm nay vẫn không được giải quyết. Lần này cụ đấu tranh quyết liệt khi được tin kỳ họp Quốc hội lần này tỏ rỏ ý chí chống tham nhũng. Không ai ngờ cụ đã bỏ mình mang theo nỗi hờn căm và oan khiên chồng chất do hành động côn đồ của những người tự gọi là Công an Nhân dân.” (hết trích)

Như thế, tới đây, đúng là công an sát dân, không thể nói khác hơn được.

Thấy tiền là lấy, thấy khiếu kiện là hành hung, ra tay đàn áp sẵn sàng đánh dân tới bỏ mạng... Thời nào mà như thế, hỡi thiên đường xã hội chủ nghĩa này?

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tại sao bước tới bờ vực tài chánh?
Ngô Nhân Dụng

Người ngoại cuộc nhìn tình trạng kinh tế Mỹ đứng trên bờ vực phải thấy rất khó hiểu. Chỉ vì các đại biểu Quốc Hội không thể đồng ý với nhau về ngân sách, ông tổng thống và đảng đối lập cũng không thỏa hiệp.

Tại sao họ chia rẽ mãi như vậy? Ðáng lẽ họ có thể đã giải quyết vấn đề này từ năm 2010, khi đến thời điểm phải bàn có nên triển hạn các đạo luật cắt thuế của Tổng Thống Bush năm 2001 hay không. Nếu năm đó mỗi bên nhường một tí, thì kết quả cũng không khác gì những điều mà họ có thể thỏa thuận trong năm 2012 hay 2013. Nếu có trì hoãn, họ vẫn có cơ hội thỏa hiệp trong năm 2011, khi bàn chuyện nâng mức trần nợ quốc gia. Ai cũng biết cuối cùng thì bên Dân Chủ phải nhường một chút, chịu cắt các khoản chi trong các chương trình y tế, hưu bổng; và bên Cộng Hòa cũng sẽ phải nhịn một chút, buộc các người giầu đóng thêm thuế. Vậy mà hai đảng cứ giằng co không ai nhịn ai một bước; suốt hai năm trời.

Nguyên nhân gây ra tình trạng trên là chính dân Mỹ cũng càng ngày càng “chia phe” gay gắt, không ai chịu nhường ai, ở trong Quốc Hội cũng như trong dân chúng, các cử tri bỏ phiếu. Người ta gọi là tình trạng “phân cực chính trị.”

Nhiều nhà chính trị cũng bực mình, bỏ đi. Ðầu năm 2010, Nghị Sĩ Evan Bayh tuyên bố ông sẽ không ra tranh cử nữa, sau hai nhiệm kỳ (12 năm) đại diện tiểu bang Indiana ở Thượng Viện. Ông nêu lý do: Chán không khí phe đảng trùm lên cả Quốc Hội. Ông Bayh thuộc đảng Dân Chủ, nhưng đại diện một tiểu bang rất bảo thủ, tất nhiên ông phải có những quan điểm rất trung dung. Nhưng trong Quốc Hội Mỹ, số người trung dung như ông ngày càng khan hiếm. Năm 2012, lại thêm một nghị sĩ tiểu bang Maine tuyên bố bà chán cảnh phe phái căng thẳng trong Thượng Viện nên thôi không ra ứng cử nữa.

Bây giờ còn rất ít nhà chính trị trung dung. Nếu có, họ khó được bầu vào trong Quốc Hội. Bước khó khăn đầu tiên là họ khó được cử tri trong đảng họ đưa ra tranh cử đại diện cho đảng. Nhiều nghị sĩ, dân biểu thâm niên đã bị cử tri đảng họ gạt ra lề, để chọn một người mới tranh cử thay. Có khi vì cử tri không chấp nhận thái độ ôn hòa của họ, trong một lần bỏ phiếu nào trước đó. Mà khi đã sống lâu năm trong Quốc Hội thì thế nào cũng phải có lúc tỏ ra ôn hòa, thỏa hiệp, để cho công việc chạy. Nếu không Quốc Hội sẽ lâm vào bế tắc, như khi tất cả cùng đứng trên bờ vực, thi gan xem anh nào chịu thua, nháy mắt trước.

Tình trạng chia rẽ hiện rõ trong cuộc bầu cử tổng thống và Quốc Hội tháng trước. Cuối cùng, Tổng Thống Barack Obama đắc cử trên nhiều tiểu bang hơn ứng cử viên Cộng Hòa Mitt Romney; nhưng khi tính tổng số phiếu bầu toàn quốc thì ông Obama chỉ hơn ông Romney chừng 4%. Tìm hiểu cách bỏ phiếu của các cử tri thuộc hai đảng, sẽ thấy ông Obama chỉ được phếu của 6% các cử tri Cộng Hòa, còn ông Romney được 7% các cử tri Dân Chủ ủng hộ. Hơn 90% cử tri mỗi đảng không muốn bước qua hàng rào để bỏ phiếu cho “phe bên kia.” Trước đây 30 năm dân Mỹ không chia rẽ, phân cực chính trị đến như vậy. Năm 1980, Tổng Thống Reagan đắc cử, với tỷ số cũng chỉ hơn đối thủ khoảng 4 hay 5% số phiếu. Nhưng ông Reagan, đảng Cộng Hòa, được tới 27% các cử tri Dân Chủ ủng hộ! Người đảng này có thể bỏ phiếu cho ứng cử viên đảng khác, vì ủng hộ chương trình tranh cử, chứ không phải chỉ ủng hộ người cùng đảng. Có lẽ như vậy thì đời sống chính trị coi lành mạnh hơn. Tinh thần bè phái hiện đang làm ô nhiễm cả không khí chính trị. Không khí đó che lấp trí phán đoán, người bên này không chịu nhìn kỹ, tìm hiểu quan điểm của người bên kia. Giống như một người tự che mắt mình lại, vì không muốn nhìn cái gì trái ý mình.

Hai đảng lớn ở Mỹ không thể bắt buộc các đại biểu của họ phải bỏ phiếu theo một đường lối chung. Cá nhân mỗi đại biểu hoàn toàn tự do bỏ phiếu, họ chỉ lo trách nhiệm với các cử tri đơn vị đã bầu cho mình thôi.

Trong suốt hai năm các đại biểu cãi cọ, giằng co, đưa cả nước đến bên bờ vực, tất nhiên cả Quốc Hội mất uy tín. Từ năm ngoái, hơn ba phần tư dân Mỹ cho biết họ không còn tín nhiệm Quốc Hội. Nghe vậy thì tưởng đến năm nay, khi các đại biểu phải tái tranh cử, họ sẽ bị dân loại bỏ gần hết. Nhưng kết quả ngược lại! Sau cuộc bỏ phiếu vừa qua, phần lớn các đại biểu Quốc Hội vẫn tái đắc cử! Tại sao kết quả lại trái ngược với dư luận dân chúng như vậy? Nhìn kỹ thì hiểu: Khi người dân bày tỏ ý kiến chán ngán Quốc Hội, họ đang nghĩ đến các đại biểu thuộc đảng đối lập với mình; chứ chưa chán đại biểu của mình hay cùng phe với mình. Thế là đa số cử tri vẫn bỏ phiếu cho đại biểu cũ!

Tinh thần phe phái đó lộ rõ trong hầu hết các đơn vị bầu cử. Có 234 dân biểu Cộng Hòa đắc cử kỳ vừa qua. Trong 234 đơn vị đó, chỉ có 15 đơn vị là đa số dân ủng hộ ứng cử viên tổng thống đảng Dân Chủ Obama. Phía bên kia cũng vậy. Có 201 đơn vị đã bầu đại biểu Dân Chủ lên, mà trong số đó chỉ có chín đơn vị ứng cử viên Cộng Hòa Romney chiếm được đa số. Nghĩa là số người dân bỏ phiếu cho ứng cử viên cả hai đảng xuống rất thấp. Họ được gọi là những cử tri “độc lập,” bỏ phiếu vì thích chương trình chính trị của mỗi ứng cử viên, chứ không phải vì cùng phe đảng.

Số cử tri “độc lập” này xuống thấp, cho nên số tiểu bang gọi là “ngang ngửa” (swing) giữa hai đảng cũng xuống thấp. Một tiểu bang gọi là ngang ngửa khi không biết trước chắc chắn đa số dân sẽ bầu cho ai; ứng cử viên tổng thống của hai đảng phải giành phiếu gay gắt. Kết quả thắng bại ở những tiểu bang đó thường chênh lệch với một tỷ lệ rất nhỏ, bên nào cũng thấy hy vọng, tìm cách giành từng lá phiếu một. Năm 1960, Tổng Thống Kennedy đắc cử tại 20 tiểu bang với tỷ lệ chênh lệch rất nhỏ. Ðó là những tiểu bang ngang ngửa, chênh lệch dưới 5% đã quyết định thắng bại. Ðến năm 2000, chỉ còn 12 tiểu bang với mức chênh lệch ngang ngửa như vậy.

Năm nay, mặt trận ngang ngửa chỉ diễn ra tại bốn tiểu bang. Ngày xưa, các tiểu bang như California, Illinois, Missouri, Tennessee đều được xếp vào loại ngang ngửa. Bây giờ đã khác hẳn, hai tiểu bang hoàn toàn Cộng Hòa, hai nơi khác chỉ bỏ phiếu cho ứng cử viên tổng thống Dân Chủ. Hậu quả là các ứng cử viên tổng thống không cần bỏ quá nhiều thời giờ hay chi tiêu vận động vào những tiểu bang biết chắc mình sẽ thắng hay sẽ thua.

Tình trạng “Ðứng Trên Bờ Vực” là hậu quả của hiện tượng phân cực trong tâm lý chính trị dân Mỹ. Nhiều cử tri chọn đứng về phía Ðỏ (Cộng Hòa) hay Xanh (Dân Chủ) rồi, họ chỉ bỏ phiếu theo lựa chọn đó. Qua mấy kỳ bầu cử gần đây, các tiểu bang xanh càng xanh thêm, các tiểu bang đỏ thì càng đỏ hơn. Cuộc bầu cử Quốc Hội cũng vậy. Nhiều đơn vị xanh bây giờ xanh rờn, các đơn vị khác đã đỏ càng đỏ thẫm! Cho nên nhiều ứng cử viên thắng cử với tỷ lệ áp đảo, đè bẹp đối thủ. Cuộc bầu cử tháng trước, có 42 đại biểu Cộng Hòa và 83 đại biểu Dân Chủ thắng lớn, được trên 70% số phiếu! Cử tri trong 125 đơn vị này nghiêng hẳn về một đảng, gọi là các “đơn vị an toàn.” Những người đại diện cho các đơn vị an toàn sẽ thấy bổn phận đầu tiên của họ là phải trung thành với các cử tri đơn vị mình. Chuyện thỏa hiệp vì mục đích “quốc gia đại sự” là thứ yếu, có khi còn có hại cho sự nghiệp chính trị của họ.

Cho nên nhiều đại biểu Quốc Hội khó thỏa hiệp với phe đối lập, vì lúc nào cũng lo trách nhiệm với các cử tri đã bỏ phiếu cho mình; những người đã tin vào chương trình và khẩu hiệu tranh cử của mình. Nhượng bộ nhiều quá sẽ bị cử tri kết tội “hứa cuội!” Tệ hơn nữa, có thể sẽ bị một đối thủ cùng đảng tố cáo là mình “phản bội!” Họ lo hai năm nữa đến lúc bỏ phiếu lại, ngay trong đảng sẽ có nhiều người xuất hiện đòi thay mình ra ứng cử!

Tình trạng trên là hậu quả của hệ thống bỏ phiếu ở Mỹ, nếu hệ thống không thay đổi thì sẽ cứ tiếp tục như vậy. Có hai thủ tục và luật lệ đặc biệt gia tăng tình trạng phân cực này. Thứ nhất là thủ tục chọn người đại diện đảng ra tranh cử, gọi là những cuộc bầu cử sơ bộ. Trong các cuộc bỏ phiếu sơ bộ chỉ các người ghi danh vào một đảng mới được bỏ phiếu, thì một nhóm người năng động nhất, hăng hái nhất có thể khuynh loát những người khác, họ ủng hộ ai thì người đó chắc sẽ thắng. Mà những người hăng hái này thường cũng là những người quá khích nhất. Họ làm cho một đơn vị đã đỏ càng đỏ hơn, nếu xanh thì sẽ xanh hơn.

Thứ hai là luật lệ phân định đơn vị bầu cử ở các tiểu bang thường cho các nghị viện tiểu bang quyền ấn định ranh giới. Nếu một đảng kiểm soát nghị viện tiểu bang, thì họ có quyền vẽ ranh giới làm sao để trong mỗi đơn vị sẽ tập trung vừa đủ đa số cử tri ủng hộ đảng họ; nếu chưa đủ thì xén một khu phố của một đơn vị khác ghép vô cho phe mình được hơn 50%.

Thí dụ, ở một tiểu bang có 100 cử tri, và các cuộc bầu cử trước cho thấy khoảng 50 người thường bỏ phiếu cho đảng A, 50 cho đảng B. Tiểu bang chia ra 20 đơn vị bầu cử, mỗi đơn vị khoảng 5 người. Ðến kỳ hạn có thể phân chia lại các đơn vị, đảng A đang kiểm soát nghị viện. Họ có thể tìm cách phân chia địa giới mỗi đơn vị sao để trong 16 đơn vị thế nào cũng có 3 cử tri đảng A, 2 cử tri còn lại là đảng B. Kết quả là đảng A cầm chắc sẽ thắng trong 16 đơn vị bầu cử. Còn lại 4 đơn vị, đảng B sẽ thắng vì được gần 100% cử tri ủng hộ! Lối phân chia đơn vị bầu cử như thế khiến cho tấm bản đồ phân chia các đơn vị bầu cử thấy nó méo mó, xô xếch, không giống ai cả. Nhiều người muốn thay đổi luật lệ này, nhưng rất khó, vì chính các đại biểu cũng là những người có quyền thay đổi luật. Họ được lợi nhờ cách chia đơn vị đang sử dụng, lẽ nào họ muốn đổi.

Ở California, một đề án đã được đưa cho dân bỏ phiếu, quyết định từ nay nghị viện không nắm quyền phân chia các đơn vị bầu cử; trao cho một ủy ban độc lập quyết định, ủy ban này gồm các thẩm phán không thiên vị đảng nào. Ðây là một thí nghiệm mới mẻ, nhưng phải nhiều năm mới biết kết quả ra sao. Nếu kết quả tốt, chắc dân chúng các tiểu bang khác cũng đòi theo. Khi đó, mới hy vọng gỡ bỏ được cảnh nhiều đơn vị bầu cử quá “an toàn” cho một đảng, lúc nào họ cũng thắng. Mà đó là một trong những nguyên do lớn gây ra tình trạng dân Mỹ càng ngày càng phân cực chính trị.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Cấm Dân Có Súng

Tác giả : Vi Anh
Cấm dân sỡ hữu súng, là điều chánh quyền dân cử Mỹ phải làm ngay. Nếu không những vụ thảm sát ở trường học và tự sát bằng súng giết hại công dân Mỹ tỷ lệ cao nhứt thề giới sẽ còn dài dài.

Thực vậy, thật không thể tưởng tượng được trên đời này lại có một thanh niên mới 20 tuổi, mà võ trang ba cây súng, một tiểu liên, hai súng ngắn, bắn nát mặt mẹ mình, rồi chạy đến một trường tiểu học nơi mẹ thường dạy, không nói một lời xả súng bắn một hơi giết 20 học sinh, và 6 viên chức trong đó có vị hiệu trưởng. Như cuộc thảm sát ở trường Sandy Hook, Thành Phố Newtown, tiểu bang Connecticut, vào ngày 14-12- 2112.

Thật tàn bạo hơn dã thú ăn thịt người, cọp beo, rắn độc cũng không giết mẹ. Thật dữ tơn, phi nhơn hơn trò chơi điện tử giết người máu đổ thịt rơi mà đạo diển hoang tưởng, bạo hành nhứt cũng khó có thể, không dám làm ra để tạo hấp dẫn bán cho chạy, kiếm tiền nhiều.

Nhưng chuyện không có thể tưởng tượng được đó lại xảy ra ở Hoa Kỳ, đệ nhứt siêu cường thế giới. Không phải chỉ mới xảy ra lần đầu, mà xảy ra nhiều lần, nhiều nơi, nhiều vụ, khắp bốn phương tám hướng của Hoa Kỳ.

Ngoài vu nói trên với Adam Lanza mới 20 tuổi, đã dùng ba khẩu súng, giết mẹ, rồi giết 20 học sinh từ 5 đến 10 tuổi và 6 nhân viên trường xong rồi tự sát, còn nhiều vụ tương tự nữa ở Mỹ. Năm 1999 xảy ra vụ xả súng tại Trường phổ thông Columbine ở Littleton, Colorado khiến 15 học sinh thiệt mạng. Năm 2007, 32 sinh viên và nhân viên trường bị tàn sát ở Trường đại học Kỹ thuật Virginia.

Ba cây súng mà Adam Lanza dùng để tàn sát mẹ và 20 học sinh và 6 nhân viên nhà trường là súng của người mẹ mua một cách hợp pháp để ở nhà và giữ nhà.

Nước Mỹ dân số ltrên 300 triệu người nhưng có 200 triệu cây súng. Và số người chết bằng súng nhưng không phải do chiến tranh ở Mỹ tỷ lệ cao nhứt thế giời. Năm 2009, ở Mỹ có 31,000 nạn nhân chết vì súng và 18,000 vụ tự tử bằng súng.

Vụ thảm sát ở trường Sandy Hook, thành Phô Newtown, tiểu bang Connecticut, vào ngày 14-12- 2112 mới đây làm rúng động Mỹ và thế giới. Tổng thống Obama nhiều lần chảy nước mắt khi chia buồn, coi như quốc tang, ra lịnh cơ quan treo cờ rũ.

Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-Moon nói đó là một «hành động hận thù». Tổng thống Pháp François Hollande và Thủ tướng Anh David Cameron đã gửi thư chia buồn với Mỹ.

Truyền thông đại chúng Mỹ nói chung xúc động, lần đầu tiên đặt vấn đề cấm mua bán vũ khí tại Mỹ. Báo Guardian kêu gào bằng tựa hàng đầu: "Nếu không phải là bây giờ thì khi nào là thời điểm thích hợp để bàn về kiểm soát súng đạn".

Thị trưởng New York, ông Michael Bloomberg, người có lập trường độc lập, kêu gọi TT Obama nhanh chóng «đưa một dự luật cấm vũ khí» qua Quốc hội.

TT Obama với tư cách là người cha của hai con gái, ông Obama gọi vụ xả súng "là một tội ác ghê tởm" và thề sẽ thúc đẩy những hành động thiết thực, bất chấp các vấn đề chính trị, để ngăn chặn những vụ xả súng không xảy ra trong tương lai. "Chúng ta đã phải chịu đựng quá nhiều bi kịch như thế này trong những năm qua". Tổng thống Obama ra lệnh tất cả các cơ quan nhà nước phải hạ cờ xuống, coi đây là một quốc tang.

Đã đến lúc người Mỹ nói chung không phân biệt Cộng Hoà hay Dân Chủ, bảo thủ hay cấp tiến, đen, trắng, vàng, trên tất cả là người Mỹ phải biến đau thương thành hành động: bãi bỏ điều 2 Hiền Pháp, cấm người dân, vì an ninh và trật tự của nước Mỹ, vì an toàn cho sinh mạng người dân Mỹ nhứt là trẻ em vô tội, phải cấm mua bán và sỡ hữu vũ khí trong xã hội Mỹ. Dù thủ tục tu chỉnh hiến pháp khó khăn, nhiêu khê, dai dẵng, dông dài đến đâu đi nữa; dù thế lực chống đối của những tay làm súng, bán súng mạnh thế nào đi nữa; dù binh đoàn vận động hành lang của giới sản xuất súng và mua bán súng có tung bao nhiêu tiền, tình, thế đề vận động chống đi nữa -- những người đại diện dân cử, những công dân có trách nhiệm với tương lai nước Mỹ cũng phải vượt qua.

Nếu không sẽ bị mang tiếng là vô trách nhiệm với người dân và tiền đồ của nước Mỹ. Nếu bất động là đồng loã với bọn gian ác coi đồng tiền lời làm và bán súng quí hơn mạng sống của trẻ em đầu xanh vô tội mà bị tàn sát một cách oan uổng, bời súnng của những tay tài phiệt, đại gia này làm và bán ra.

Đứng trên phương diện thực tiễn và học lý, đã biết Hiền Pháp Liên bang Mỹ điều số 2 có qui định người dân có quyền võ trang súng đạn để phòng thân và bảo vệ quốc gia. Quyển hiến định này những nhà lập hiến ghi vào hiến pháp vì tình hình mới lập quốc, công dân Mỹ còn đang khai khẩn nhiều vùng đất mới, cần có súng để giữ nước, giữ nhà là hợp lý, hợp tình. Nhưng bây giờ tình hình hoàn toàn khác, nước Mỹ “bốn phương phẵng lặng hai kinh vững vàng”. Việc bảo quốc an dân của quân đội, cảnh sát, biên phòng, nhân viên công lực rất hữu hiệu. Không có kẻ phạm pháp, kẻ thù nào đụng tới nước Mỹ mà không bị quân lực, cảnh lực Mỹ lôi ra ánh sáng công lý - chết hay sống như TT Bush nói.

Điểu 2 của Hiến Pháp bây giờ coi như lỗi thời. Nó đang bị các nhà sản xuất, mua bán, súng và binh đoàn vận động hành lang của họ, vì họ, do họ cộng với một số nhà báo và công dân bảo thủ núp dưới danh nghĩa và hình thức hiến pháp để lợi dụng, chống lại việc tu chỉnh hay hủy bỏ điều 2 ấy - hoàn toàn vì quyền lợi riêng của họ.

Một vấn đề ai cũng thấy cần làm ngay để tránh cho người Mỹ nhứt là học sinh, sinh viên đầu xanh vô tội khỏi chết oan. Không lý do gì không làm. Ước nguyện, mong muốn của đa số người dân Mỹ chánh trực là muốn quí vị Thượng Nghị sĩ, Dân biểu liên bang sớm bắt tay vào việc hủy bỏ điều 2 Hiến Pháp để các tiểu bang xét phê chuẩn.

Thủ tục sẽ khó khăn, rườm rà, lâu dài, nhiều áp lực chống đối đó. Nhưng luật kể cả hiến pháp là luật cao nhứt cũng do con người làm, mà ngươi làm được là sửa được, miễn quyết làm, quyết chí, bền lòng chặt dạ phục vụ nhân dân. Chánh quyền Mỹ theo hiến pháp là chánh quyền của dân, vì dân, do dân. Trước một tai hoạ lập đi lập lại liên tục, trầm trọng mà dân biểu, nghị sĩ, tổng thống không làm là có tội với nhân dân, là đồng lõa với điều ác./.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Chất lượng cuộc sống người dân TP.HCM: Giàu, nghèo đều khóc

Lê Quỳnh
(SGTT.VN) - Trong cùng một cái bánh thu nhập thì 20% người giàu được “xơi” tới 60%; người khá giả được “xơi” 16,6%; người nghèo chỉ 4,3%... Tuy vậy, dù giàu hay nghèo thì họ đều đang cùng có một đời sống u ám, phập phồng; trên 90% người dân đồng ý “đạo đức xã hội ngày càng kém đi, ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng”.

Trên đây là những thông tin được đưa ra tại hội thảo khoa học Chất lượng cuộc sống người dân TP.HCM trong bối cảnh kinh tế hiện nay, do viện Nghiên cứu phát triển tổ chức hôm qua 20.12.


Bức tranh chất lượng sống u ám

Theo TS Nguyễn Hữu Nguyên, trung tâm Nghiên cứu kinh tế miền Nam, TP.HCM hiện có hơn 10 triệu người dân, với 20 nhóm ngành nghề. Dù khác nhau về thu nhập và nhu cầu hưởng thụ, nhưng họ đều cùng bị ba yếu tố tác động đến chất lượng cuộc sống, gồm: kinh tế suy giảm; môi trường xã hội, ô nhiễm môi trường sống và cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, xét đến cùng, so với nhóm người thu nhập cao và trung bình, thì nhóm người nghèo và nhóm yếu thế bị tác động, tổn thương nhất bởi cả ba yếu tố trên.

Theo đó, hầu như tất cả tiêu cực xã hội đều ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hàng ngày của họ, vì họ không có tiền để “bôi trơn” nên gặp rất nhiều phiền hà khi cần giải quyết vấn đề liên quan đến pháp luật, thủ tục hành chính, giấy tờ, chứng nhận. Cũng vì không có các tiện nghi tốt để khắc phục và thích nghi nên nhóm người này cũng phải chịu ô nhiễm môi trường, khói bụi, tiếng ồn, ngập úng ở tất cả các không gian sống, từ đi lại trên đường phố đến nơi làm việc, cư trú và nghỉ ngơi.

90% người dân đồng ý “đạo đức xã hội ngày càng kém đi, ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng”. Ảnh: Trần Việt Đức

Còn nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Thuỵ Diễm Hương, trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM cho thấy: “đời sống tinh thần và vật chất của người công nhân nhập cư đang ở mức “rất thấp”. 58% công nhân thu nhập từ 2 – 3 triệu đồng; gần 40% thu nhập dưới 2 triệu đồng; trong đó trên 34% chi tiêu ở mức thấp dưới 1 triệu đồng/tháng; trên 40% chi tiêu từ 1-2 triệu đồng/tháng. Trên 70% công nhân sống nhà trọ với điều kiện chật hẹp, thiếu ánh sáng, nước sạch... Môi trường làm việc cũng không đảm bảo, với trên dưới 40% phải làm việc trong điều kiện nóng nụi, tiếng ồn, thậm chí nguy hiểm... Đời sống văn hoá công nhân thì “không phim ảnh, sách báo, giải trí, kết bạn...”

Tuy nhiên, bức tranh chất lượng sống u ám này còn được các nhà khoa học cho thấy ở tầng lớp người giàu, thu nhập cao. Nghiên cứu của TS Lê Thị Mai, trường đại học Tôn Đức Thắng cho thấy, nhóm doanh nhân trên địa bàn thành phố hiện nay dù thu nhập cao nhưng chất lượng sống đang ở mức xung đột lớn ở thời gian, công việc và hành vi. Họ đều dễ bị căng thẳng, áp lực cao do những xung đột công việc ở môi trường làm việc đa văn hoá, gồm những nhóm xã hội khác nhau hướng đến những giá trị khác nhau. ThS Phạm Thanh Thôi, trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM cho biết, nghiên cứu ở khu Phú Mỹ Hưng liên tục trong ba tháng cho thấy “người giàu cũng khóc”. Dù đời sống vật chất người dân ở đây cao nhưng đời sống tinh thần của họ lại nhiều vấn đề, khổ sở, từ chất lượng cuộc sống gia đình đến đời sống văn hoá...

Ra đường là sợ

Theo bà Nguyễn Thị Dân, sở Lao động – thương binh và xã hội TP.HCM, quản lý Nhà nước hiện quá yếu kém, tương tự là vấn đề an sinh xã hội. “Ngày xưa đời sống tinh thần chúng tôi tốt lắm, mọi người yêu thương, đùm bọc nhau, tin tưởng nhau. Nhưng nay ra đường là sợ, an ninh trật tự không đảm bảo, dân e dè với nhau; cơ chế chính sách kinh tế, xã hội đáng ra phải đảm bảo nhưng hiện không thuyết phục và trúng lòng dân”, bà Dân nói.

Theo bà Hồ Tố Anh, học viện Chính trị hành chí khu vực 2, vấn đề hạn chế trong hưởng thụ những giá trị văn hoá, nghệ thuật của người dân hiện nay đang là một thiệt thòi lớn trong việc nâng cao nội lực, nuôi dưỡng đời sống tinh thần, tâm hồn cho cá nhân. “Người công dân đô thị đang thiếu cả tri thức và kỹ năng tiếp cận văn hoá, nghệ thuật. Đặc biệt là sự chênh lệch quá xa giữa các quận trung tâm với quận huyện vùng ven như: Thủ Đức, quận 9, 12, Cần Giờ, Nhà Bè, Củ Chi, Hóc Môn...”, bà Anh kết luận.
36% người dân hài lòng với công việc hiện tại

Nghiên cứu của GS Bùi Thế Cường chỉ ra một bức tranh rất buồn: “trong cùng một cái bánh thu nhập thì 20% người giàu được “xơi” tới 60% cái bánh; người khá giả được “xơi” 16,6%; người nghèo chỉ 4,3%... trên 90% người dân đồng ý “đạo đức xã hội ngày càng kém đi, ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng... “Chỉ 36% người dân hài lòng với công việc hiện tại, dưới 50% hài lòng với cuộc sống gia đình... TP.HCM đang ở mô hình nào theo bình đẳng xã hội?”, là câu hỏi mà ông Cường day dứt đặt ra.

TS Lê Thanh Tùng, đại học Tôn Đức Thắng cho biết: "chất lượng đời sống đi lên chỉ khi thu nhập khả dụng (gồm yếu tố tiêu dùng và tiết kiệm) phải đi lên. Nhưng nghiên cứu lại cho thấy tiêu dùng ở thành phố đang ở mức 1,9 (trong khi thế giới chỉ ở mức 1), còn tiết kiệm lại đang ở mức âm. Thu nhập 1 đồng, nhưng tiêu dùng quá 1 đồng. Đây là điều rất bất thường. Chưa kể sức mua ở hộ gia đình trên địa bàn thành phố đang cạn kiệt."

Đồng tình với nhận định chất lượng cuộc sống người dân ngày càng đi xuống, ông Huỳnh Công Hùng, trưởng ban Văn hoá, HĐND thành phố cho rằng: "quản lý quy mô của thành phố đang có vấn đề. Những vấn đề xã hội hiện nay nếu không được nghiên cứu thì khó đảm bảo cho an sinh, an ninh xã hội."

Lê Quỳnh

Post Reply